Cung trăng được “hình thành” bởi vũ khúc “Nghê Thường” của cặp thần tiên Hậu Nghệ – Thường Nga, cũng là Chử Đồng Tử và Tiên Dung trong truyền thuyết Việt ở đầm Nhất Dạ đã một đêm bay lên trời hóa thành bất tử.
Từ xa xưa Trung Thu đã trở thành một lễ hội truyền thống của dân tộc Việt. Lễ hội này được tiếp nối qua nhiều thế hệ và cho đến nay vẫn vẹn nguyên sự háo hức, niềm ước vọng về những điều viên mãn, tròn đầy như ánh trăng ngày rằm tháng 8. Đối với Người Việt nói đến mặt trăng là nói đến chú Cuội, chị Hằng, cây Đa, Thỏ ngọc và Cóc vàng. Những hình tượng của cung trăng này mang ý nghĩa gì trong văn hóa Việt?
Bài văn giáng bút “Dạ Trạch tiên gia phú” của Thánh Chử do Tiến sĩ Chu Mạnh Trinh chép và khắc ở đình làng Quan Xuyên, xã Thành Công, huyện Khoái Châu, Hưng Yên.
1. Theo quan niệm phương Đông trong vòng tuần hoàn của Tứ tượng thì phía Đông là ban ngày, mùa Xuân, thần chủ là mặt Trời. Ngược lại rằm tháng 8 là giữa Thu, thuộc phía Tây, ban đêm, do mặt Trăng làm thần chủ. Chính vì thế Trung Thu trở thành ngày Tết của chị Hằng – thần mặt Trăng. Về chị Hằng, thần thoại Trung Hoa kể, Hậu Nghệ có vợ là Hằng Nga, là những vị thần bất tử sống trên thượng giới. Lúc đó, mười người con trai của Ngọc Hoàng biến thành mười mặt trời, làm cho mặt đất trở nên nóng bỏng và khô cằn. Hậu Nghệ, bằng tài bắn cung của mình, đã bắn hạ chín mặt trời, chỉ để lại một mặt trời. Ngọc Hoàng bèn trừng phạt, đày Hậu Nghệ và Hằng Nga xuống hạ giới. Thấy Hằng Nga rất đau khổ vì bị mất khả năng bất tử, Hậu Nghệ quyết định lên đường đi tìm thuốc trường sinh trong một cuộc hành trình dài và đầy gian khổ, nguy hiểm để hai người có thể trở lại cuộc sống bất tử. Hậu Nghệ đã gặp được Tây Vương Mẫu. Tây Vương Mẫu cho Hậu Nghệ một viên thuốc để trở thành bất tử. Hậu Nghệ mang viên thuốc về nhà và cất nó trong một cái hộp. Khi ông đi vắng, Hằng Nga tò mò mở chiếc hộp và vô tình Hằng Nga đã nuốt viên thuốc. Ngay lập tức Hằng Nga bay lên trời, bay mãi cho đến khi đến Mặt Trăng.
Thần thoại Hằng Nga – Hậu Nghệ trên đã chỉ rõ thế nào là thần bất tử trong quan niệm xưa. Khả năng bất tử là khả năng đặc biệt mà chỉ một số ít các vị thần mới có. Hậu Nghệ đã phải vượt muôn ngàn gian khổ mới đến gặp và xin được thuốc bất tử của Tây Vương Mẫu về. Khái niệm bất tử là mắt xích thú vị khi kết nối thần thoại Trung Hoa với tích cổ của người Việt. Trong tín ngưỡng dân gian thì Chử Đồng Tử được tôn là vị thần bất tử, đứng hàng thứ hai trong Tứ bất tử nước Nam.
Câu chuyện về Chử Đồng Tử và Tiên Dung công chúa được tóm tắt trong câu đối ở đền Đa Hòa (xã Bình Minh, Khoái Châu, Hưng Yên) như sau:
Hiếu thuận động tới trời, bãi Chử màn che thành kỳ ngộ. Thành chí thông tận thánh, Quỳnh Lâm gậy nón tiếp chân truyền.
Chử Đồng Tử vì hiếu thuận với cha nên đã kỳ ngộ gặp được Tiên Dung ở bãi Tự Nhiên. Sau đó nhờ thành tâm học đạo đã được tiên ông truyền cho phép màu ở núi Quỳnh Lâm. Phép màu của Chử Đồng Tử là ở cây gậy và chiếc nón thần.
Tam vị bất tử nhà Chử ở đền Đa Hòa
2. Xem chuyện Đầm Nhất Dạ có thể nhận ra nhiều điểm tương đồng với thần thoại Hậu Nghệ – Hằng Nga về tên gọi cũng như nội dung lịch sử. Cổ sử Trung Hoa cho biết sau khi Hạ Khải mất, con là Thái Khang lên nối ngôi. Thái Khang ham chơi bời, thích săn bắn, không quan tâm việc chính sự. Hậu Nghệ vốn là vua của nước Hữu Cùng, là một chư hầu của nhà Hạ. Hậu Nghệ thường đi theo phục vụ Thái Khang. Thấy Thái Khang bỏ bê triều chính, Hậu Nghệ nảy sinh ý định giành ngôi. Một hôm Thái Khang rời kinh đô đi săn ở đất Lạc. Hậu Nghệ bí mật tập kích kinh đô nhà Hạ, chiếm được kinh thành. Sau đó mang quân ra chặn bờ sông, phong tỏa lối về của Thái Khang. Thái Khang bị buộc phải lưu lạc đến hết đời.
Liên hệ giữa Chử Đồng Tử và Hậu Nghệ thấy rõ nhất là về ngôn ngữ và những yếu tố lịch sử. Có từ “chư hầu”, chỉ ra mối tương thông Chử – Hậu. Hậu Nghệ là một chư hầu đã làm gián đoạn nhà Hạ, đuổi Hạ Thái Khang lưu lạc nơi đất Lạc. Bốn mươi năm sau nhà Hạ phải tới Thiếu Khang mới lại trung hưng. Chử Đồng Tử đã lấy con gái vua Hùng mà không được phép nên vua Hùng tức giận, đem quân đến đánh vợ chồng Chử Đồng Tử – Tiên Dung, cho thấy có một cuộc đụng độ đã xảy ra vào thời này.
Trong thần thoại Trung Hoa, Hậu Nghệ có công bắn mặt trời, diệt các loài quái vật nên được nhân dân tôn thờ là thần Tông Bố, tổng quản các loài ma quỷ trong thiên hạ. Còn Chử Đồng Tử tu tiên, có được phép cải tử hoàn sinh đi cứu người, chữa bệnh, được tôn là Chử Đạo Tổ. Theo phép phiên thiết, “Tông Bố” đọc lướt là “Tổ”. Như vậy cách gọi Tông Bố Hậu Nghệ trùng cả họ và tên với Chử Đạo Tổ.
Lý do để Chử Đồng Tử là thần bất tử chính là ở phép cải tử hoàn sinh. Gậy và nón là hình ảnh của vuông – tròn, âm – dương. Thần tích ở Đa Hòa còn kể tại đây có vị thần Cá (thần Dí) đã vật chết voi của nhà vua, nhưng khi được yêu cầu làm voi sống lại thì không làm được, bởi “phép cải tử hoàn sinh chỉ có Tản Viên Sơn Thần và Đức thánh Chử Đồng Tử là làm được”. Điều này cho thấy không phải “thần” nào cũng có thể “cải tử hoàn sinh”. Chỉ có 2 vị thần bất tử là Tản Viên Sơn Thánh và Chử Đồng Tử là có phép thuật này.
Thần Cá ở đền Đa Hòa
3. Hậu Nghệ đi tìm thuốc trường sinh gặp Tây Vương Mẫu cho thuốc tiên. Hậu Nghệ nghĩa là vị Hầu ở xứ Nghệ, cũng là nơi tu hành của Chử Đồng Tử. Chử Đồng Tử đi vào đất Quỳnh Lâm (Nghệ An) gặp lão Phật Quang và được gậy nón, có khả năng cải tử hoàn sinh. Thần tích ở đền Đa Hòa còn kể Chử Đồng Tử lấy thêm một người vợ nữa là Tây Sa công chúa. Vị công chúa này là người có phép thuật, giúp Chử Đồng Tử chữa bệnh cho nhân dân. Ba người (Chử Đồng Tử, Tiên Dung, Tây Sa) dùng phép thuật của mình cứu dân, xây dựng lâu đài, để rồi một đêm cùng bay về trời. Câu đối ở đền Đa Hòa miêu tả lại chuyện này:
Cảnh hóa đó năm nào, đây bãi Tự Nhiên, một đêm thành đầm trạch. Kỳ duyên trùm thiên cổ, vợ chồng nhân gian, lên trời biến thần tiên.
Về mặt chữ nghĩa thì Hằng thông nghĩa với Thường nên Hằng Nga cũng là Thường Nga. Mặt khác trong Ngũ hành thì hành Hoả ở phía trên, hành Thủy ở phía dưới. 2 nhân vật Hậu Nghệ và Thường Nga làm thành một cặp đối ứng theo phép lưỡng lập. Trong đó, chữ “Nghệ” nghĩa là đỉnh cao, đối phản với “Thường”, tiếng Việt là bình thường, sàn sàn như nhau, không có gì nổi trội.
Về mặt trăng nổi tiếng nhất là tích cổ kể chuyện vua Đường Huyền Tông nằm mơ rong chơi trên nguyệt cung. Ông nghe thấy tiếng nhạc và các tiên nữ múa trong y phục mang sắc màu cầu vồng được làm bằng lông chim. Tiếng hát của tiên nữ vô cùng huyền diệu, điệu bộ thanh thoát, bay bổng. Sau khi tỉnh dậy, vua đã hồi tưởng lại giấc mơ và chép lại vũ điệu, nhạc khúc. Vũ khúc đêm trăng có tên Nghê Thường vũ y khúc. Nếu để ý, sẽ thấy Nghê Thường rất gần với Nghệ – Thường. Trong đó Nghệ là Hậu Nghệ, Thường là Thường Nga. Y phục lông chim mang sắc cầu vồng tức là năm sắc của Ngũ hành.
Gương đồng Nguyệt cung thời Đường
4. Ngũ tượng Trung Thu ngoài Hậu Nghệ – Thường Nga là trục trên dưới hay Nam – Bắc, thì trục Đông Tây được lập bởi hình ảnh Thỏ Ngọc và Cây Đa. Từ khoá Cây giúp nhận ra hành Mộc của phía Đông. Cuội có thể là biến âm của “cội”, nghĩa là “gốc”, ứng với câu “Thằng Cuội ngồi gốc cây Đa”. Hoặc cũng có thể đó là biến âm từ “cối” trong từ kép “cây cối”, “cối” có thể là từ Việt cổ cũng nghĩa là “cây” mà ngày nay không còn dùng nữa. Trên gương đồng cung trăng thời Đường thường thể hiện một cái cây lớn (cây Đa hay cây Quế) với một cái u to ở giữa thân. Liệu cái u này có phải là nói đến cái “cội” hay “cối” trong tên của chú Cuội không?
Cây Đa đã là hành Mộc phía Đông thì còn lại biểu tượng Thỏ Ngọc phải là tượng trưng của phía Tây. Dịch học Việt xác định phía Tây thuộc hành Thổ, nghĩa là đất đá khoáng vật nói chung (gồm cả Ngọc) và vì thế đối phản với thực vật ở phía Đông. “Thỏ” âm Hán Việt là “Thố”, chính là biến âm của “Thổ”. Phía Tây trong Ngũ hành có sắc Trắng, nên Thỏ trên cung trăng gọi là Bạch Thố. Như thế trong câu truyện dân gian về Trăng thu, Thỏ Ngọc cùng với Cây Đa đã tạo thành trục Đông Tây, hợp với trục trên dưới là Hậu Nghệ và Thường Nga, hoàn chỉnh mặt phẳng đứng trong không gian 2 chiều. Thỏ Ngọc có chiếc chày giã thuốc bất tử, tương ứng với Tây Sa công chúa, người vợ thứ hai của Chử Đồng Tử trong truyện Đầm Nhất Dạ.
Gương đồng Tiên nhân cưỡi thú thời Đường
Còn lại vị trí trung tâm của cung trăng được biểu hiện bằng chú Cóc vàng, tên chữ là Kim thiềm (Thiềm thừ). Mặt trăng cũng được gọi là Thiềm cung. Màu Vàng là màu của Trung cung trong Ngũ hành. “Con cóc là cậu ông Trời”. Hóa ra cậu ông Trời lại “ngự” ở chính cung trăng. Trên những chiếc gương đồng thời Đường có hình cung trăng có thể hiện Cóc vàng đang giơ cả 4 chân, như chỉ về 4 hướng. Bởi vì Cóc vàng ở Trung tâm, Nghệ – Thường ở hướng Nam – Bắc, Cây – Thỏ ở hướng Đông – Tây. Tất cả xếp thành một mô hình Ngũ hành đầy đủ, toàn mĩ trên Cung trăng.
Trong bài “Dạ Trạch tiên gia phú” lưu truyền ở vùng Khoái Châu, Hưng Yên, Thánh Chử đã giáng bút đề: “Tích cũ còn ghi trong sách khó tin. Gót tiên như áng mây trôi bất diệt”. Sách “Thái Bình hoàn vũ ký” chép: “Người Lạc Việt, cứ mùa thu tháng Tám thì mở hội, trai gái giao duyên, ưng ý thì lấy nhau”. Câu chuyện về cặp vợ chồng Chử Đồng Tử – Tiên Dung hay Hậu Nghệ – Thường Nga còn là biểu tượng cho sự kết hợp tròn đầy của âm dương, ngũ hành, là biểu tượng cho sự đoàn tụ và những khát vọng về viên mãn thường hằng, bất tử./.
Dưới thời vua Minh Mạng, nước Đại Nam của nhà Nguyễn đã mở rộng lãnh thổ hơn bao giờ hết. Khu vực Tây Bắc và một phần của Lào trước đó thuộc nước Bồn Man đã được sát nhập vào lãnh thổ Đại Việt vào thời Lê, với tên gọi là Trấn Ninh. Nhờ công lao mở nước ở phương Nam của chúa Nguyễn Hoàng mà miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ đã thuộc về nước Đại Nam. Một phần lớn đất ở Campuchia cũng thuần phục nhà Nguyễn, trở thành Trấn Tây Thành. Là một đế quốc bao trùm Đông Nam Á khi đó, Minh Mạng đã rất ý thức được vấn đề nguồn gốc người Việt. Vua nêu cao việc noi gương tổ tiên và các vị vua triều đại trước, mà việc đúc Cửu đỉnh để đặt làm tế lễ phụng sự ở Thế miếu là một điển hình, công khai với toàn thiên hạ về nguồn gốc và phạm vi lãnh thổ của triều đại.
Trong buổi lễ khánh thành cửu đỉnh, nhà vua cùng quần thần đến miếu tế cáo. Lễ xong, nhà vua dụ bảo các quan rằng: Trẫm xem xét đời xưa, đúc đỉnh theo hình các vật, nhưng đồ cổ [truyền lại] còn ít, những người biên chép ghi lại có chỗ không đúng, chép ra toàn là [hình dạng] của vạc nấu ăn, còn như đỉnh cao lớn và nặng, thì không những gần đây không có mà đến đời Tam đại cũng ít nghe thấy. Nay bắt chước người xưa mà lấy ý thêm bớt, đúc thành chín đỉnh to, sừng sững đứng cao, nguy nga kiên cố, không chút sứt mẻ, đáng làm của báu, con con cháu cháu, giữ mãi không bao giờ hết. Vậy thông dụ cho 31 trực tỉnh và Trấn Tây Thành đều được biết.
9 chiếc đỉnh to lớn sừng sững nay vẫn còn tại Thế miếu trong kinh thành Huế là một lời minh chứng cho thời kỳ huy hoàng của đế quốc Đại Namvà tư tưởng noi gương các đời Tam Đại của vua Minh Mạng.
Cao đỉnh trước Thế miếu ở Huế
Phỏng Chu Vương Bá đỉnh
Cũng thời vua Minh Mạng nhà Nguyễn, năm thứ 20, vua đã cho phỏng theo các đồ vật thời Tam Đại mà đúc nên 33 loại đồ vật, gọi là Cổ khí. Bài minh văn ngự chế đúc trên 1 chiếc đỉnh nói rõ chuyện này. Đỉnh này có tên ghi là đỉnh phỏng theo đỉnh của Chu Vương Bá, với chữ ngự đề:
Duy Minh Mạng nhị thập niên Kỷ Hợi, dư thụ thiên quyến hữu, hà thuận tuế phong, đạo tặc bính tức, niên cận tri thiên, viên pháp cổ chú khí, phàm tam thập tam loại, thử đỉnh kì nhất dã, dụng truyền lai hứa, ngã chi tử tôn, nhược năng thân hiền viễn nịnh, ái dân kính thiên, bốc niên thế viễn, thắng Chu gia khả, thiên hạ úy phục, Đại Nam nhật xương khả, vĩnh bảo dụng chi khả.
Dịch nghĩa: Năm Kỷ Hợi niên hiệu Minh Mạng thứ 20, ta được trời mến giúp, sông thuận, được mùa, trộm cắp trừ yên. Ta đã sắp đến tuổi biết mệnh trời (tuổi 50), bèn theo phép cổ mà đúc khí vật, tất cả 33 loại. Đỉnh này là một trong số 33 loại ấy, để truyền lại cho đời sau, sao cho biết gần gũi người hiền, tránh xa nịnh bợ, biết thương dân kính trời, thì đoán chừng là triều đại này bao năm có thể còn dài hơn cả nhà Chu, thiên hạ có thể sợ phục nước Đại Nam ngày càng thịnh vượng, mãi mãi có thể dùng bảo vật này.
Tên gọi Chu Vương Bá ở trên đỉnh khả năng là một vị vương thất thời Chu Vũ Vương. Vua Minh Mạng đặt bài minh khái quát các cổ khí ở chiếc đỉnh Chu Vương Bá vì có thể vua coi Gia Long là người lập nên nhà Nguyễn giống như Chu Văn Vương mở đầu nhà Chu. Còn bản thân Minh Mạng nối tiếp sự nghiệp, giống như Chu Vũ Vương nối tiếp Văn Vương. Trong Cửu đỉnh tại Huế có Cao đỉnh là dùng thờ Gia Long, và Nhân đỉnh dùng đặt đối diện ban thờ Minh Mạng.
Vị Vương Bá thời Chu Vũ Vương lập nhà Chu thì có khả năng là Bá Ấp Khảo, người con đầu của Văn Vương, anh của Vũ Vương. Bá Ấp Khảo đã hy sinh trong cuộc chiến chống lại Trụ Vương, để Vũ Vương sau đó hoàn thành đại nghiệp, phạt Trụ diệt Ân, lập nên vương triều thiên tử nhà Chu kéo dài hơn 800 năm.
Hình vẽ Phỏng Chu Văn Vương đỉnh
Chu Vương đỉnh
Một chiếc đại đỉnh lớn thật sự của thời Chu đúc bằng đồng, cao tổng cộng 53 cm, rộng tới 43 cm, nặng 12 kg. 2 quai đỉnh hình chữ U lớn, dày. Mặt ngoài mỗi quai có hình hai con rồng chầu mặt trời. Trên từng quai đỉnh có khắc 8 chữ Kim văn lớn: 周王作之子孫永用
Chu vương tác chi. Tử tôn vĩnh dụng
Dịch nghĩa: Chu Vương tạo vật này cho con cháu dùng mãi.
Chiếc đỉnh Chu Vương này có phần thân hình tròn, hơi dẹt. Thân đỉnh có 6 khía dọc chia đỉnh thành 6 múi. Mỗi múi có hình mặt thú thao thiết. 3 chân đỉnh lớn cũng có đúc nổi hình mặt thao thiết. Cả chiếc đỉnh nhìn trầm hùng, vững chắc, bề thế.
Đỉnh Chu Vương
Phần thân đỉnh có đúc chữ nổi xung quanh thân, là một bài minh chép bằng chữ kim văn. Chữ đúc lớn, nét chữ có phần giản lược. Bài minh này được lặp lại 3 lần (ba mặt một lời) và có một dòng 4 chữ như tiêu đề. Tất cả có 208 chữ đúc nổi trên thân đỉnh. Chia thành 52 dòng, mỗi dòng 4 chữ. Nội dung bài minh trên Chu Vương đỉnh như sau:
晳丕俎用
史戊寸公,作休子子門,休永寶對,賜旗吉待,匍正民初,曰盂玟有,
周命于若,胜又王宗,攸用佩帚,門生隹卑,邵宫名大,反吊夫死,
友君子師,厭永吉有, 考庚辟內,于其朋享,晳丕俎用
TÍCH PHI TRỞ DỤNG
Sử Mậu Thốn Công, tác hưu tử tử môn, hưu vĩnh bảo đối, tứ kỳ cát, đãi bồ chính dân, sơ viết Vu Mân, hữu Chu mệnh vu nhược, thắng hựu Vương tông, du dụng bội trửu, môn sinh chuy ti, thiệu cung danh đại, phản điếu phu tử, hữu quân tử sư, yếm vĩnh cát hữu, khảo canh tịch nội, vu kỳ bằng hưởng, tích phi trở dụng.
Chú giải:
Tích phi trở dụng: chữ Bất 不 ở đây đọc thông với chữ Phi 丕, nghĩa là to lớn. Trở là vật dùng tế lễ.
Sử Mậu Thốn Công: Chữ sử 史dùng thông với chữ 使. Mậu Thốn là tên một vị đại thần tước Công.
Tác hưu tử tử môn: làm ra khu nhà dùng cầu lành cho con cháu
Hưu vĩnh bảo: Bảo là đồ quý, ở đây chỉ chiếc đỉnh.
Bồ chính dân: Bồ nghĩa là vất vả. Ý nói việc cai quản dân nhiều khó nhọc.
Vu Mân: Nghĩa thường là đồ đựng bằng ngọc. Nhưng có thể ở đây chỉ Văn Vương, là vị vua khởi đầu nhà Chu. Vu Mân đọc thiết là Văn.
Dụng bội trựu: chữ “trựu” đọc không chắc chắn. Hiểu nghĩa chung là dùng đồ vật quý làm tín lễ.
Chuy ti: chữ đọc không chắc chắn. Suy theo nghĩa là chỉ việc phúc sinh được con cái.
Hữu quân tử sư: chỉ bậc thầy của vua, có lẽ là chỉ các bậc tiên vương.
Khảo canh: đọc thông nghĩa với “thọ khang”.
Diễn nghĩa bài minh trên Chu Vương đỉnh:
Dùng tế lễ lớn
Sai Mậu Thốn Công làm chiếc đỉnh quý đặt ở cửa lành cho con cháu, cùng ban cờ cầu phúc, để gắng sức cai quản nhân dân. Trước đây vua Văn có được mệnh thắng của nhà Chu, Vương tông lại dùng đồ tín lễ mà trong nhà sinh được điều lành, rạng danh cung lớn, dùng cúng điếu người đã mất, để cho bạn, quân, con, thầy có điều tốt đầy mãi, luôn trong mạnh thọ mà hưởng dụng như vậy, dùng cho tế lễ lớn.
Phần đầu bài minh Tích phi trở dụng
Chiếc đỉnh tông Chu Vương này có hình dạng tương đồng với đỉnh Cận 堇鼎, là chiếc đỉnh lớn thời đầu Tây Chu tìm thấy ở Bắc Kinh, Trung Quốc. Đỉnh Cận là một trong những trọng khí quốc gia của Trung Quốc, kích thước cao 62 cm, chỉ cao hơn chiếc đỉnh Chu Vương trên 9 cm. Trên đỉnh Cận có khắc chữ kể về một vị hầu tước tên Cận đi cống lễ vua Chu. Chiếc đỉnh Chu Vương mô tả ở trên như vậy cũng có niên đại xấp xỉ vào đầu thời kỳ Tây Chu, cách nay gần 3.000 năm.
Nội dung bài minh trên đỉnh Chu Vương khá tương đồng với bài minh của vua Minh Mạng đúc trên Phỏng Chu Vương Bá đỉnh. Bài minh có ý nghĩa là đúc đỉnh để truyền lại cho con cháu làm vật quý sử dụng trong việc tế lễ, thờ cúng tổ tiên, tang lễ, để nhờ đó cầu phúc, cầu mệnh trời cho triều đại được lâu dài, cai quản nhân dân.
Pháp cổ
Dụ chỉ đúc đỉnh của vua Minh Mạng nêu: Đỉnh là để tỏ ra ngôi vị đã đúng, danh mệnh đã tụ lại. Thực là đồ quý trọng ở nhà tôn miếu. Xưa các minh vương đời Tam Đại lấy kim loại do các quan mục bá chín châu dâng cống, đúc chín cái đỉnh để làm vật báu truyền lại đời sau. Quy chế điển lễ ấy thực to lớn lắm! Trẫm kính nối nghiệp trước, vâng theo đường lối rõ ràng. Nay muốn phỏng theo đời xưa, đúc chín cái đỉnh để ở nhà Thế miếu… Đó là để tỏ ý mong rằng muôn năm bền vững, dõi truyền đời sau. Chuẩn cho quan phần việc theo đúng kiểu mẫu mới định mà đúc.
Các minh vương thời Tam Đại đúc cửu đỉnh tượng trưng cho đất đai thiên hạ 9 châu bắt đầu từ Đại Vũ của nhà Hạ. Các cổ khí của vua Minh Mạng chủ yếu phỏng theo các đồ thời Thương và và Chu. Tam Đại Trung Hoa mà Minh Mạng noi theo là các triều đại Hạ, Thương và Chu của Trung Hoa cổ đại.
Từ thời vua Gia Long đầu triều Nguyễn đã đề ra xu hướng “Pháp cổ” – noi theo phép xưa có. Có 2 khái niệm pháp cổ:
Pháp tiên vương: tức là theo phép thời Nghiêu, Thuấn.
Pháp hậu vương: tức là theo phép thời Tam Đại (Hạ, Thương, Chu).
Thời Minh Mạng lại đề ra khái niệm “pháp tổ”, theo phép tổ tiên, cũng đều có thể gọi chung là pháp cổ. Tuy là phương châm “pháp tổ” (“kính thiên pháp tổ”) nhưng lại vua Minh Mạng lại mô phỏng theo thời Hạ Thương Chu, mà tiêu biểu là đúc Cửu đỉnh và Cổ khí. Nói cách khác, Minh Mạng công khai coi các vị tiên vương thời Ngũ Đế và hậu vương thời Tam Đại Trung Hoa là “tổ” của triều Nguyễn, mà noi theo.
Trang Ngọc phả Hùng Vương thời Minh Mạng có ghi “niên hiệu” Hùng Vương năm thứ 32
Vương triều Chu của Trung Hoa bắt đầu từ Văn Vương dựng nghiệp, Vũ Vương lập thiên hạ lên ngôi thiên tử, đều là những triều đại của người Việt, được sử sách Việt gọi là thời Hùng Vương dựng nước Văn Lang, phân phong trăm anh em thành Bách Việt. Chiếc đỉnh Chu Vương tạo đúc là biểu tượng của vương quyền thiên tử nhà Chu trước trăm tộc Bách Việt, cũng chính là tế vật của vua Hùng nước Văn Lang xưa. Lịch sử Trung Hoa cổ đại còn truyền tới triều Nguyễn nước Đại Nam, tự xưng mình là Hùng Vương như trong bản Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả được biên soạn dưới thời vua Minh Mạng. Báu vật bảo đỉnh Chu Vương còn lưu truyền đến nay qua gần 3000 năm, là chứng thực cho sự vững bền của quốc gia, của nền văn minh dân tộc Việt trải suốt chiều dài lịch sử. Liệu Việt Nam ngày nay có thể lại trở thành một “đế quốc” bao trùm rộng lớn với thiên hạ chín châu hay không phụ thuộc vào nhận thức của chính người Việt đối với những di sản cổ vật của tiên tổ để lại cho chúng ta ngày nay.
Gió thu man mác nhớ Hằng Nga Thỏ xế ác tà chuyện đã qua Gậy thánh Chử Đồng hô bất tử Nón thần Tiên Chúa bốc không nhà Lững lờ núi Tản mây mờ phủ Cuồn cuộn sông Hồng sóng nước nhòa Cổ tích đêm rằm vầng nguyệt sáng Rọi soi cứu thế khắp muôn nhà.
Trong thời Hùng Duệ Vương ở động Bình, châu Thuận Bình, phủ Triệu Châu, xứ Thuận Hóa có một trưởng bộ, họ Đinh tên Bích, lấy vợ ở trang Hạ, xã Cao Quần, huyện Chân Định, phủ Kiến Xương, xứ Sơn Nam, họ Dương tên Hằng. Vợ chồng tuổi đã ngoài 40 mà chưa thấy lan quế trước nhà nhập mộng, bèn cùng lên chùa Tây Thiên núi Tam Đảo cầu tự. Trời tối lưu lại ở chùa để cầu ứng mộng. Thái bà mộng thấy một ông lão râu tóc bạch phơ nói với Thái bà rằng: – Hãy nghe mệnh! Thiên Đế lệnh cho ta đem một viên ngọc trắng giao xuống cho. Lão ông giao cho Thái bà, lại ngâm tụng rằng: Trời cao có nẻo chiếu nhân gian Có phúc đều do phúc báo hoàn Ngọc báu nay ban cho đến chỗ Đảo Sơn, Tản Lĩnh đối cùng ngang. Ngâm xong lão ông bay lên trời biến mất. Thái bà cầm ngọc cất vào trong bụng. Bỗng nhiên tỉnh lại, mới biết là nằm mộng. Bèn đem việc này kể lại với Trưởng ông. Vợ chồng ra về. Sau đó trăm ngày, đang khi giữa giờ Ngọ, bỗng thấy một con chim lạ lông cánh năm sắc, chân mỏ màu đỏ, từ trên trời hạ xuống, bay thẳng vào trong nhà. Xung quanh phòng trong nhà trong chốc lát đều sáng bừng lên. Thái bà thấy vậy tự nhiên chuyển ý mà hoài thai. Tới ngày 6 tháng Giêng năm Kỷ Sửu vào buổi tối Thái bà mơ thấy một người con gái rất đẹp, theo mây từ từ mà hạ xuống, đi vào nhà. Thái bà muốn hỏi thì bỗng nhiên tỉnh dậy, thấy trời đã sáng. Tới ngày mồng 7 giờ Tỵ sinh hạ một người con gái, phong tư đẹp lạ, cốt cách thanh kỳ, thân tự phát ra mùi hương thơm ngào ngạt. Được trăm ngày mới đặt tên là Đinh Thị Ngọc. Lúc Nương lên 3 tuổi trong động có một gia tộc lớn họ Mãn, nhà giàu có, kiêu ngạo ngang ngược, đem lòng kết bè đảng, muốn giết hại Trưởng ông. Buổi tối đó dẫn hơn trăm người cầm khí giới xông vào nhà Trưởng ông. Trưởng ông biết chuyện bèn cùng với gia quyến chạy thoát. Bè đảng đốt nhà, lấy hết tài sản. Lại nói, Trưởng ông từ khi bị nhà họ Mãn làm hại đã dẫn gia quyến đi vào trong núi sâu, không quay lại nữa. Đi hơn mười ngày đều dựa vào châu động, rừng núi cùng mãnh thú hổ báo, lại không biết đường ra, lạc ở trong rừng. Trưởng ông mới ngửa mặt lên trời mà than dài. Bỗng thấy có một lão ông thần cao 7 thước, quần áo mây gấm, vừa đi vừa cười, rồi đọc rằng: Trong thân có ngọc cớ sao lo Còn cười trời được, thật là ngô Người lòng trong sạch đâu sợ nạn Cuối cùng sẽ được việc không ngờ. Trưởng ông nghe lão ông hát biết là ý trời muốn trêu ngươi, bèn mới vui mừng hỏi rằng: – Lão ông từ đâu đến đây? Nơi này không thấy đường, mây mù u ám, không biết đường nào mới ra được chỗ có dân cư. Xin lão ông chỉ dạy, sẽ nhớ ghi ơn hậu này. Lão ông ngửa mặt lên trời cười mà đọc rằng: Đường mây lớp núi thấy trùng trùng Người được ý này dễ thoát chung Một phiến mây trùm trên bảo ngọc Hướng Tây đi tới chỗ người cùng. Lão ông đọc xong thì bay lên không mà đi. Trưởng ông bèn ngửa mặt lên xem xét, thấy một đám mây màu nhạt phủ bay trên trời phía trên đầu Ngọc Nương. Đám mây trôi đi trước. Ông cùng Thái bà và gia quyến nhìn mây mà đi theo hướng Tây. Được vài bộ thì thấy một tảng đá lớn chắn đường, không có lối đi. Ông bèn xem xét ở quanh tảng đá, thấy một hang đá. Ông chui vào hang đá lại thấy trong hang có một con đường nhỏ. Ông cùng vợ con lách người mà đi, vượt qua hang đá thì mở thành đường lớn. Trong khoảnh khắc đã tới châu Hoan (tức nay là Nghệ An), qua đền Khổng Tước (tục gọi là điện Cuông). Ông lại thấy lão ông đã chỉ đường ở đó, đang đi vào trong đền. Ông bèn đi theo. Khi vào trong thì không thấy đâu nữa. Ngửa lên xem phía trên đền có dòng chữ lớn khắc trên biển được trang trí bằng vàng sáng láng, đề rằng: “Hùng Vương điện, Nam Thiên Thánh tổ”. Ông biết đấy là Hùng Vương đã xuống răn dạy. Ông bèn làm lễ bái tạ trước điện. Lại đi tới châu Ái, đến châu Đà Bắc. Ông bèn ở đất đó. Ông vốn thạo nghề phong thủy, thường đi tìm xem đất. Người dân ở các châu động tại Đà Bắc đều kính phục, cử làm thầy tướng địa lý. Ông cùng với vợ ở đó, qua được 7-8 năm, trở nên giàu có phong lưu. Khi ấy ở động Lăng Sương có một trưởng bộ, họ Nguyễn Cao tên Hành, gia thế giàu có, thạo việc cung tên, thường đi săn bắn. Ông tuổi đã cao mà nhưng chưa thấy mộng lan quế. Thái bà mất sớm. Lúc ấy Cao Công nghe tiếng Đinh Công ở Đà Bắc là một người tốt. Cao Công thường đi săn ở nơi ấy, để mong kết bạn. Một hôm Cao Công thấy em gái của Đinh Công (tức là bà Thị Điên), có ý yêu mến, nhờ mai mối đến hỏi cưới. Đinh Công bèn gả cho. Hôn lễ xong Cao Công đón về nhà ở động Lăng Sương chung sống. Đinh Công đi ngắm phong cảnh đồng nội, lại thấy núi cao muôn vẻ, sông chảy miên man, non nước như vẽ, cây cối sum xuê, chim ca vượn hót véo von, đài phượng gác mây lung linh, thành một cảnh đệ nhất trời Nam. Đinh Công thấy địa hình sơn thủy hữu tình, mới hứng khởi mới làm một bài thơ rằng: Tạo hoá sinh thành tú khí linh Lăng Sương đất ấy bốn kỳ hình Lầu rồng gác phượng sinh hiền chúa Voi phục rùa chầu xuất thánh minh Giếng ngọc giấu châu, sinh bất diệt Ấn đeo bình bạc, thọ mà vinh Dân phong thuần hậu cùng vui vẻ Khắp chốn chầu tôn đất tối linh. Lại nói Đinh Công cùng Cao Công chơi được vài chục ngày lại về Đà Bắc. Khi ấy Ngọc Nương đã 16 tuổi. Môt hôm, Thái bà không bệnh tự nhiên hóa. Ông bèn chôn cốt tại đó (tức động Thanh Khê châu Đà Bắc). Đươc vài năm sau Cao Công đón Đinh Công về động Lăng Sương. Từ đó Đinh Công đến ở tại Lăng Sương. Cao Công tuy là em rể nhưng coi anh như cha mẹ ruột vậy. Lại nói, Đinh Công ở đó được 3-4 năm thì chẳng may bà em họ Đinh lại mất (tức là vợ của Cao Công, em của Đinh Công tên là Đinh Thị Điên). Trong lúc lâm chung có để lời lại cho người cháu hiền quyền lấy Cao Công. Đinh Công thương tình Cao Công là người có nghĩa, bèn đồng ý gả. Ngày qua tháng lại, được hai năm rưỡi, một hôm (ngày 25 tháng 4) trời đẹp, hai ông quay về Đà Bắc thăm phần mộ của Thái bà. Qua một tháng, lại trở về nhà. Đến ngày 25 tháng 12 năm Ất Mão, trời đông, hai ông đi săn đến chỗ chợ (tức là chợ Lăng Sương), cùng nhau uống rượu rồi ra khe nước mà tắm rửa (ở bên cạnh chợ có một cửa khe giếng nước). Tắm xong lại lên vào chợ, rồi bỗng nhiên bị đau đồng mà cùng hóa. Thái bà làm lễ an táng ở nơi đó (tức chợ Lăng Sương). Trong 3 năm các tiết, đều làm lễ tuần chay 49 ngày, làm trọn lễ hiếu. Ruộng đất của nhà chia mười phần, chỉ giữ lại một. Thái bà mới dựng nên một gian nhà cỏ ở ngoài khu dân cư nơi đầu ruộng cạnh chỗ giếng nước (giếng này có đất đẹp quý cuộc, mạch dẫn Canh Tân, thế hợp Đinh Quý, trái phải có voi ngựa rồng hổ phượng chim, hình người đang bái, nhất nhất quay đầu cùng lại chầu, ở ngay phía sau có một động cao làm đài lầu, phía trước có dòng nước ở minh đường, cùng với giếng thành hình chữ Ngọc). Lại nói, Thái bà từ khi đến ở đất đó, mỗi tháng hai kỳ sóc vọng đều thấy hổ về nơi đó nằm chầu trước sân một lúc rồi đi. Tới năm Đinh Tỵ vào ngày 14 tháng 1 vào đêm Thái bà đang nằm mộng thấy một vị quan y phục cân đai chỉnh tề, cưỡi một con ngựa trắng đến thẳng nơi Thái bà đang nằm, tay cầm một bức chiếu chỉ rồng, quỳ mà tuyên đọc rằng: Thiên thần xuất thế đã đến nay Vâng mệnh Thiên tào báo sự đây Hiền nhân Đinh Thị rồi sinh Thánh Quyền cai thần chưởng Lăng Sương này. Đọc xong thì bay lên mà đi. Thái bà tỉnh lại thấy trời đã sáng. Ngày hôm đó (ngày 15 tháng Giêng), Thái bà ngồi trên bàn đá trắng, bỗng có mây bây năm màu, hòa quang sáng lành. Đến giờ Thìn sinh được một người con trai, dáng vẻ tuấn tú, cao lớn hơn người thường nhiều lắm. Rồng phun nước tắm, hổ ngậm đá đỡ cho bụng Thái bà (tới nay ở đền hiện vẫn còn hòn đá chèn và bàn đá ở bên giếng). Lại kể được trăm ngày sau mới đặt tên là Nguyễn Tuấn. Khi Công được 6 tuổi, mẹ con một mình cô đơn, không có cách sinh nhai nên mẹ con cùng dẫn nhau tới núi thiêng Thứu Lĩnh Ngọc Tản (tức là chính ở tại xứ Mang Bội, châu Thủ Pháp, tổng Hoằng Nhuệ, huyện Thanh Xuyên) trú ở nơi đó. Lại cùng với một lão bà kia trên núi tên là Ma Thị (do ở nơi đất là Bùi nên người ta gọi là bà Bùi) Cao Sơn Thần nữ. Được ba năm quay về động cũ Lăng Sương (Tuấn Công khi 12 tuổi đổi tên là Nguyễn Tùng), có chí cho việc học hành. An bần lạc đạo, thật là có đại chí vậy. Lại dẫn mẹ đến núi Tản Viên ở cùng mẹ nuôi. Được một năm rưỡi, Đinh bà mộng thấy có một tấm thẻ rồng treo trên tường trúc đề rằng: Một áng mây hồng đến nhân gian Mới gọi Tiên nương lên Quảng Hàn Việc đời qua đi còn là thánh Núi thiêng hương lửa mãi muôn vàn. Đinh bà tỉnh lại, thuật lại mộng cho con nghe. Nguyễn Công mới tạ Ma Bà, mẹ con trở về nhà ở Lăng Sương. Sau 4-5 ngày, một hôm (ngày 12 tháng 6) Đinh bà đi ra ruộng cấy lúa, quay về sân, bỗng thấy một đám mây trắng từ trên trời hạ thẳng xuống, tự nhiên mà hóa. Nguyễn Công cùng với người trong động khi đó đang làm lễ chôn cất thì mối xông thành mộ (ở tại nơi góc ruộng có cửa giếng, có bàn đá, là nơi nhà ở trước đây sinh Tùng Công). Lại nói, Nguyễn Công từ khi thân mẫu qua đời, gia cảnh trở nên khốn cùng. Một hôm vào buổi chiều tối thấy một lão bà từ ngoài đi vào trước sân nói rằng: Người con côi! Người con côi! Quân tử vốn khó khăn Hồng nhan nhiều gian nan Con hiếu sẽ được yên Muốn lập thân thành nên Hãy về với mẹ nuôi Dựa vào núi Tản thiêng. Lời dứt thì biến mất. Tùng Công biết là mẫu thân dạy vậy, bèn quay về với lão bà Ma Thị mà ở. Đến một hôm lên núi Tản Linh chặt một cây to cành lớn. Trong hôm đó về báo cho người trong động (tức động Mang Bội) cùng lên chặt gỗ. Nhưng mà ngày hôm sau đến nơi, thì thấy cây gỗ cành lá vẫn xuân xanh, tươi tốt. Nguyễn Công lấy đó làm sự lạ thường, bèn lại một lần nữa chặt cây, rồi giả như đi về, quay lai nơi ấy để xem ra sao. Đến ban đêm thấy một ông lão thần cao hơn một trượng, tay phải cầm một cây gậy trúc, theo sau có một hề đồng cầm một cái chuông đồng, lắc liền ba hồi. Lão ông miệng niệm thần chú, dùng gậy mà chỉ. Bỗng thấy vụt kéo tới một trận sấm gió bồng bột, trời đất chao đảo. Cái cây hồi sinh. Nguyễn Tùng nhìn thấy rõ ràng bèn chạy lại nơi cây cổ thụ, hai tay ôm lấy ông lão mà hỏi rằng: – Ông lão từ đâu đến đây? Từ đâu đến đây? Tên cụ là gì? Sao vì thương xót một cành cây già mà phụ nỗi mong mỏi của người dân? Ông lão rằng: – Ta là đại thần tinh núi, tên gọi Thái Bạch Thần Tinh Tử Vi Thiên Tướng, vâng sắc chỉ của Ngọc Hoàng xuống trông giữ vùng núi non. Nay cái cây này là cây ngô đồng quý, giúp thánh ra đời, chính là mộc chủ trong núi Ngọc Tản, không thể chặt được. Nguyễn Tùng chắp tay vái mà nói: – Lời nói của thiên tướng đã làm sáng tỏ lòng mong mỏi một bề. Tùng tôi nay nguyện được nhận gậy thiêng cùng với thần chú để cứu việc sinh tử người đời, để báo ân sâu cha mẹ, sau là để đáp ơn ban phúc, khỏi phải đi kiếm củi nuôi mẹ nữa. Ông lão nghe lời nói biết là bậc đại hiếu, không phải dạng người thường, bèn lấy gậy thiêng cùng thần chú giao cho. Lại nói rằng: – Một đầu gậy có thể cứu sống người. Đầu dưới có thể trừ diệt hại. Hãy cẩn thận! Hãy cẩn thận! Không thể! Không thể! Nói xong bay lên không mà đi. Nguyễn Công từ khi được gậy và chú, vui mừng liền trở lại núi thiêng, bái tạ mẹ nuôi mà nói rằng: – Con nay có được gậy thiêng của thiên thần, có thể cứu được sự sinh tử thế gian. Việc xong thì về động cũ Lăng Sương, nhân từ đó xưng là Thần vương. Mọi người trong động đều kính phục. Thần Vương sửa sang lại lăng mộ của cha mẹ, làm lễ bái yết, nhờ thác nhân dân lo việc hương đèn. Mọi người đều nhận việc đó (hôm đó là ngày 4 tháng 4). Hôm đó Thần vương đi qua thôn Cốc sách Thủy Pháp. Nơi ấy hay bị voi hổ làm hại. Thần vương đến nơi, thấy trăm con voi hổ đang ngậm 5-6 người sách Thủy Pháp. Thần vương lấy gậy chỉ vào, tức thì hồ về Bắc, voi sang Đông, bỏ người xuống đất. Thần vương lại chỉ đầu sinh của trượng, những người đó đều sống lại. Nhân dân hôm ấy (5 tháng 5) đều làm lễ xin làm thần tử. Thần vương đồng ý. Thaàn vương lại đi đến bãi Trung Độ trang Ma Xá (cũng gọi là Trường Sa). Trên đường thấy đám trẻ chăn trâu cùng đánh chết một con rắn đen. Thần vương nói với lũ trẻ chăn trâu rằng: – Cho ta mua lại con rắn này. Lũ trẻ đồng ý. Thần vương lấu 36 văn tiền mà mua, đem tới bãi Trường Sa, miệng đọc thần chú lấy gậy thiêng mà chỉ. Con rắn sống lại. Rắn đen cúi đầu, trên đầu có chữ Vương, bái tạ Thần vương. Thần vương tự đứng xem, thấy rắn phân nước thành đường, mới biết đó là con của Long Vương. Rắn đen về đến Động Đình đem sự việc tâu với Đế quân. Đế quân lập tức sai Thái tử đi đón Thần sư, từ tạ dưỡng mẫu, mà theo sứ đến Thủy cung. Đế quân ngồi ở chính tòa, mời Thần sư đến bên phải long sàng, phán rằng: – Giống rồng Đông cung là Thái tử của Trẫm. Hôm qua đi chơi gặp sự biến Trường Sa, may được Ngài cứu khỏi. Hôm nay mời đến muốn để báo đáp tấm tình. Thần vương tâu rằng: – Ngày trước cứu giúp là bởi thấy có lòng nhân. Hôm nay lại được gần với vẻ rạng ngời của Đế quân, đâu dám mong báo đáp. Hôm đó mở yến tiệc lớn. Sự xong Đế quân muốn tạ ơn bằng vàng bạc châu báu. Thần vương cố từ chối không nhận. Thái tử khi đó nói riêng rằng: – Đế quân có một cuốn sách thần, phép lạ bí truyền, kinh thiên triệt địa đều ở trong cuốn sách thần đó. Nếu Thần sư muốn thứ đó tôi sẽ tâu riêng với Đế quân ban cho. Thần vương nói: Được. Thế là Thái tử tâu riêng với Đế quân mang sách thần đem cho Thần vương xem. Có được sách thần, bèn từ biệt Thủy cung. Lại nói, Thần vương về động Lăng Sương, lấy trượng cầu chú, dùng sách mà ước, tự nhiên hóa thành lâu đài vạn vật, rồi đem hành lễ ở lăng của mẹ và cha. Xong quay về núi Tản Linh nói với dưỡng mẫu rằng: – Từ thủa nhỏ con đã ở cùng với mẹ. Công đức của mẹ cao như trời vậy. Ngày nay con về đây xin nguyện thần vận quỷ dẫn cho một chút để báo đáp công đức ấy. Bèn lấy sách thần mà ngầm cầu trời đất đọc ước cho một lần biến hóa. Tự nhiên thấy tiền đồng trăm vạn quan rơi xuống. Thần vương lấy đó mang vào dâng tạ ơn. Ma bà thấy tấm lòng thành thật đó, thầm mong vạn sự được đủ đầy, bèn lấy những vật rừng núi của mình đem trao cho Thần Vương. Nên bèn lập một đạo chúc thư, Ma Thị Cao Sơn Thần nữ tự ký. Sự xong, Thần vương lại mẹ nuôi chung sống. Được một năm Ma Thị mắc bệnh mới gọi Thần Vương lại mà dặn lại rằng: – Sau khi mẹ Ma Thị mất, Vương lập cho một cỗ thọ đường đặt ở miếu đường phụng thờ cho tỏ đạo hiếu. Thần Vương lĩnh mệnh. Hôm ấy bà Ma Thị mất. Thần Vương làm lễ chôn cất (lăng này chôn ở vực núi Đãng Khô sách Phương Giao huyên Thanh Xuyên, nay vẫn còn). Lại kể rằng Thần Vương trở về nơi động Lăng Sương cùng với Tả Hữu Kiên Thần (tức là cháu chắt của bà Ma Thị) xem như anh em cùng một bọc, phù tá hai vai. Khi ấy Thần vương về động Lăng Sương, hôm đó bèn truyền nhân dân thiết lập 2 bệ cùng với 2 cột đồng ở tại nơi lăng (tức mộ tổ của Đinh Công và Nguyễn Công), mà làm gia quán kỷ cương. Từ đó các châu động trang sách đều là thần tử. Hàng ngày hứng khởi đàn ngâm. Hoặc luyện thuốc trường sinh, đi du ngoạm non xanh nước biếc, bay lên khó biết, biến hóa vô cùng, thật là bậc thánh trên đời vậy. Lại kể khi đó cơ đồ họ Hùng đến lúc mạt suy. Duệ Vương sinh được 20 hoàng tử nhưng đều lần lượt theo nhau về cõi tiên. Rồi sinh được 2 con gái. Công chúa Tiên Dung về sau gả cho Chử Đồng Tử. Còn lại công chúa Mị Nương nhân duyên định ước còn chưa đến kỳ. Vương muốn tìm người tài mà gả để tiếp nối ngôi báu, bèn lập một tòa lầu ở cổng thành Việt Trì, tên đề “Lầu cầu hiền kén rể”. Truyền hịch đi khắp thiên hạ thần dân trăm họ. Bút văn múa mà hình rồng động. Trận võ bày mà hổ báo khiếp. Bốn bể anh hùng. Tuy nhiên đều là được mặt này mà mất mặt kia, không có toàn tài, khó để xưng nhận vậy. Lại nói, khi đó có Tản Viên Sơn Thánh gửi thư cho Thủy Tinh cùng đến kinh thánh, vào tâu trước ngự tiền rằng: – Chúng thần thẹn vì tài hèn, may sinh ra trên nước của Vua. Trộm nghe Thánh thượng mở khoa lớn chọn rể. Chúng thần đến muộn, xin Vua ngự cho thử thi tài, may thì không ngoài hịch chiêu hiền vậy. Vua bèn rời giá đến lầu để xem thi. Thế là Sơn Tinh đến ngồi ở đầu sông. Thủy Tinh quay về đáy nước, biến ra muôn hình vạn trạng, xuất quỷ nhập thần, biến hóa mù mịt. Sơn Tinh tay trái cầm sách, tay phải cầm gậy, miệng ngâm thần chú mà chỉ. Tức thì kỳ kỳ quái quái đều theo đầu gậy mà biến hết. Lại rời núi Ngũ nhạc ra giữa sông lên cao ngàn vạn trượng sánh trời đất. Hai người làm phép biến hóa đều là huyền diệu. Vua không biết gả cho ai, quay giá về cung, gọi lại nói rằng: – Trẫm chỉ có một viên ngọc Lam Điền. Nay hai khanh đều thật là anh hùng. Hôm nay xem ra không thể thẩm định được thắng thua thuộc về ai. Nếu ai mang được sính lễ đến trước, Trẫm sẽ gả cho. Thế là Thủy Tinh quay về Động Đình để cầu tìm vật lạ. Sơn Tinh xuống ngay dưới lầu, tay lấy sách thần đọc mật chú. Bỗng thấy voi trắng chín ngà cùng các kỳ trân dị vật từ trên trời hạ xuống. Trời còn tối vào giờ Tý thì đem sính lễ vào lầu rồng. Vua mới gọi công chúa lại mà gả cho Sơn Tinh đón hôn. Sơn Tinh đi khỏi thì tới giờ Mão Vua thấy Thủy Tinh mang lễ vật đến. Vua nói: – Trẫm theo như ước, Sơn Tinh đã đem sính lễ đến trước rồi. Thủy Tinh trở về. Lại nói, khi ấy Duệ Vương trị nước đã 115 năm, mới muốn nhường ngôi cho con rể. Sơn Thánh cố từ chối không nhận. Vua lại rằng: – Hùng đồ đã mạt cho nên mới cầu tài nối ngôi. Ngài không nhận thì còn ai trong nước này nữa? Sơn Thánh còn do dự chưa quyết. Khi đó vào năm Ất Mùi, Thục Vương khởi binh đến xâm phạm bờ cõi. Vua khiển Sơn Thánh cùng với Tả Hữu kiê thần trong ngày (15 tháng 5) đại hội đãi quân sĩ, rồi tiến về kinh thành với quân cả nước là 3 vạn, tiến đến Mộc Châu. Sơn Thánh một mình ngồi ở đầu núi, cầm sách đọc mật chú. Bỗng nhiên từ tren trời giáng xuống một vị đại thần tướng, thân cao 5 trượng, dưới chân có dây lửa vạn nhận, cầm một cây tiêu gỗ dài 30 trượng, đứng bên trái của Sơn Thánh (sau phong là Tá Thánh, cũng thờ phụng ở đền Tản Viên Sơn) mà thôi. Một trận sấm gió nổi lên, gẫy cây bạt nhà, cát bay đá chạy. Quân Thục đại loạn bỏ chay. Phục binh bốn hướng xông đến, bắt sông không thoát. Thần tướng bay lên trời. Sơn Thánh khải hoàn. Vua mở tiệc, phong cho các công thần. Được hai năm Thục Vương lại dấy binh phục thù. Vua triệu Sơn Thánh. Sơn Thánh nhận mệnh tiến thẳng đến đồn chính của quân Thục, đại chiến một trận, lấy được ấn tín của Thục. Mới viết rằng: – Nước Nam có thần tướng, chớ nên khinh động. Đợi khi có chiếu đến hãy tấn công. Tướng Thục tuân lệnh, kiên trì phòng thủ không đánh. Sơn Thánh tay cầm gậy, miệng ngâm thần chú mà chỉ. Bỗng quân Thục đại loạn. Sơn Thánh đại phá, số chết không kể, số sống bắt đem về kinh sư. Sơn Thánh khải hoàn. Vua bao phong Sơn Thánh, lại tặng phong Đinh Thái bà cùng Tả Hữu kiên thần, cho phép dân hộ nhị Lăng Sương được miễn tất cả các tạp dịch. Đều phong cho làm làng hộ nhi quý ấp. Phong Tản Viên Sơn Thánh Mẫu Đinh Phi chủ Ngọc bệ hạ. Phong Tả kiên thần Cao Sơn hiển ứng Đại vương. Phong Tản Viên Sơn Tam vị chiêu dung hiển ứng Nhạc phủ kiêm Thượng đẳng thần Ngọc bệ hạ. Phong Hữu kiên thần Quý Minh linh hiển ứng Đại vương. Sơn Thánh trở về Lăng Sương. Qua hơn một tháng, tới ngày 10 tháng 11 thì về quốc đô. Duệ Vương nhường ngôi, Sơn Thánh cố từ chối không được, nên giúp nhiếp chính. Được mấy năm Sơn Thánh bàn rằng: – Cơ đồ họ Hùng trải thời gian đã dài, ý trời tất nhiên có hạn nên mới sai Thục Vương hai lần lại gây hấn. Vả lại Thục Vương là bộ chủ Ai Lao, cũng là tông phái của hoàng đế trước đây. Nên Bệ hạ và thần học lấy thuật thần tiên. Chi bằng chốn Bồng Hồ, Lãng Uyển mà tiêu dao bất lão. Chí ấy mới thật là cao vậy. Vua nghe theo bèn gửi thư cho Thục Vương. Thục chủ sai sứ đến tạ. Vua nhân đó ban cho nỏ thần, rồi về núi Nghĩa Lĩnh, hẹn cùng Sơn Thánh và công chúa Mị Nương, hôm đó (5 tháng 5) cùng nhau giữa ban ngày mà bay lên trời, hóa sinh bất diệt. Kể đến Thục An Dương Vương được nước, cảm ơn nhường ngôi của Duệ Vương và Sơn Thánh lớn như trời đất, bèn dựng lập dao đài với hai cột đồng ở núi Nghĩa Lĩnh. Lại rời giá đến núi Tản Viên tu sưa đền miếu, làm lễ bái tạ công đức lạ kỳ đó, rồi xa giá về kinh thành. Triệu các tông phái của Duệ Vương và Sơn Thánh cùng với các quê làng quý ấp, các cung chốn phụng thờ, tất cả đều ban làm làng trung nghĩa, trưởng tạo lệ. Lại cấp cho ruộng ở tại làng để phụng thờ cùng với sự lành quốc gia, vạn năm không dứt, vạn cổ trường tồn. Tự Đức năm thứ 3 ngày 15 tháng 10. Tiền triều Hồng Phúc năm thứ nhất ngày 10 tháng Giêng Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính vâng soạn. Năm Vĩnh Tộ thứ 20 ngày tốt tháng 2 Quản giám bách thần Tri điện Hùng lĩnh thiếu khanh Lê Nguyên Hải theo như bản cũ vâng chép. Nay sĩ tử Nghệ An Song viện quán Hoàng Sĩ Đoạn lại theo như nguyên bản vâng sao chép.
Dịch theo bản khai thần tích năm 1938 của làng Lăng Sương, tổng Tu Vũ, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.
Ngọc phả ba vị Tản Viên Sơn Thánh, Tả Hữu Lưỡng Kiên Thần Cao Sơn, Quý Minh
Chi Chấn, bộ thứ tư, thượng đẳng quốc tế
Đất Việt xưa trời Nam mở vận, phân ngang núi sông bởi sao Dực, sao Chẩn. Nước Bắc lúc đầu thẳng theo hướng sao Ngưu, sao Đẩu. Từ triều Hùng mở vận, Thánh tổ dựng cơ đồ, nước biếc một dòng, mở vận đế thánh, vua sáng. Núi xanh vạn dặm, lập nền cung điện đô thành. Mở vật giúp người, thống lĩnh 50 bộ, thế quản chư phiên vững chắc. Làm vua trị nước có hơn hai ngàn năm, mãi giữ cơ đồ tổ tông vững như bàn đá. Hiển ứng linh thiêng ở Nghĩa Lĩnh. Lưu truyền hươnng lửa nơi núi Hùng. Người đời sau có thơ vịnh rằng:
Tạo dựng Hùng đồ nghiệp mãi đây Mười tám vị tên truyền mãi này Tích xưa con đế nòi tiên đó Thủy tổ mở trời sử chép dầy.
Bấy giờ cơ đồ Hùng Vương truyền 18 nhánh tới Duệ Vương ở ngôi, đóng đô tại Việt Trì bên sông Bạch Hạc, lập nước hiệu là nước Văn Lang. Kinh đô gọi là thành Phong Châu. Vua là người có tài cao mưu lớn, tư chất sáng láng, nối nghiệp tổ tông, cơ đồ 17 đời thịnh trị, dốc lòng quản thiên hạ, yên định Trung Quốc.
Trước đó, ở động Lăng Sương, huyện Thanh Châu, phủ Gia Hưng, đạo Sơn Tây, động này có trời Nam gấm vóc, đất rộng suối xanh, hợp thành một cảnh đẹp bậc nhất ở trời Nam. Ở đó có một lão ông họ Nguyên tên Ban, thái bà tên Tạ Thị Hoan. Ông bà là những người tích đức làm việc nhân, chăm lo giữ gìn việc cúng lễ hương lửa, một đời phong lưu, giàu sang dư giả. Khi ấy ông Nguyễn đã gần 53 tuổi. Bà Tạ Thị Hoan cũng đã sống trải nhiều năm, vậy mà phòng lan chưa thấy sinh hương, buồng quế chưa đơm một đóa. Ông Nguyễn có người anh ruột tên Nguyễn Cao Hành. Vợ ông Cao Hành tên là Đinh Thị Điên. Vợ chồng đều tuổi đã ngoài 50 mà chưa có con. Vì sự hiếm muộn đó mà không vui. Nhằm đúng ngày giỗ cha, anh em than thở với nhau rằng:
– Lời xưa nói 30 tuổi chưa có con trai là điều bất hiếu lớn. Huống chi anh em ta đều đã ở tuổi năm sáu mươi, mà chưa có niềm vui con trẻ. Giả như có ngày kia chết đi, việc hương khói tổ tông cha mẹ lấy ai ủy thác? Đó chẳng phải là đại bất hiếu sao? Chi bằng phân phát tài sản để tạo phúc, cầu cho có được con cái, để lòng người được yên, ý trời có thể đổi.
Thế rồi anh em phân tán hết tài sản, giúp nghèo cứu khổ. Cứ như vậy được ba bốn năm. Một hôm, tiết xuân tháng Giêng, khắp nơi hoa nở ngập đất, người người nhộn nhịp tìm hương. Anh em ông bèn lên chơi núi thiêng Tản Lĩnh. Đến khi trở xuống núi, ở dưới chân núi thấy một ông lão vừa đi vừa hát. Lại có mấy chú bé áo xanh cầm một bầu rượu và một chiếc la bàn. Hai anh em nói với nhau rằng:
– Đây nếu không phải tiên ông chốn Bồng Lai thì là thần linh núi Tản, không phải người thường. Có lẽ nhà ta làm việc thiện nên Hoàng thiên mới cho tiên ông này xuống để đáp việc đức mà nhà ta đã làm.
Dứt lời, anh em chạy lại trước mặt ông lão, cúi người làm lễ nói:
– Gia đình chúng thần đức bạc. Anh em thần tuổi tác đã cao mà không có con trai. Dám xin tôn ông mở lòng cứu anh em chúng thần. Vạn điều mong được đại đức tái sinh của tôn ông.
Ông lão nghe vậy bèn cười mà nói rằng:
– Ta không phải tiên, không phải thánh, chỉ ở trong cuộc trần thế này mà thân ở cõi tam sinh. Đứng xem sự rong ruổi của phong thủy, qua lại nhìn phúc thiện trên nhân gian. Vì người mà tạo phúc, vốn không phải là ý của ta. Nay anh em các người gặp ta tại đây là vì nhà các người có phúc dày, không phải bạc phúc đâu. Ta mới thấy có một thế đất tại ngọn núi Thu Tinh. Không quá trăm ngày sẽ sinh được 1 thánh 2 thần. Anh em các người mau về nhà đem phần mộ của cha đến để ta chôn vào đó.
Hai ông nghe lời đó rất vui mừng, chạy về nơi ở, thu lấy hài cốt của thân phụ đem đến cho ông lão. Ông lão mới chôn ở trên đỉnh núi Thu Tinh theo hướng dựa Quý hướng Đinh. Chôn xong thầy trò ông lão không biết biến mất ở đâu. Anh em hai ông lập đàn làm lễ bái tạ. Từ đó trở về càng thêm lòng tạo phúc, cố sức làm việc nhân. Được khoảng trăm ngày đều thấy hai bà của hai nhà cùng có thai. Mang thai dài 12 tháng. Ngày 6 tháng Giêng năm Đinh Hợi, vợ người anh là Đinh Thị Điên sinh được một bào một người con trai. Vợ người em là Tạ Thị Hoan sinh được một bào hai trai. Tất cả đều có phong thái chỉnh tề, khí chất khôi ngô, khác vượt người thường lắm lắm.
Đương lúc khi sinh ra có khí lành vương vấn, hương bay ngào ngạt. Sinh được trăm ngày thì con người anh được đặt tên là Tuấn Công. Con nhà người em, người đầu tên Sùng Công, người sau là Hiển Công. Ngày qua tháng lại khi đã được 13 tuổi thì đều tìm thầy mà học. Học được vài năm, nghìn kinh vạn quyển, có thể tỏ tường như Khổng Mạnh. Bốn khoa ba truyện, chẳng nhường mưu kế Tôn Ngô. Đến 17 tuổi, cha mẹ hai nhà trong vòng cùng một năm đều theo nhau mà mất. Anh em ba ông khóc lóc với trời nhưng chẳng thể làm gì được. Bèn tìm đất tốt mà làm lễ chôn cất. Ba năm chịu tang, hương lửa theo nghi lễ.
Từ đó gia tài đều cạn sạch. Song dù ở cảnh bần hàn mà tính lạc quan vẫn không thay đổi. Ngày thì rong ruổi theo bầu gió ánh trăng, búa rìu làm kế sinh nhai. Đêm khuya đọc sách bên án tuyết đèn huỳnh, rượu vui một bầu làm thú vị. An bần lạc đạo, lấy đó làm chí lớn. Tuy nhiên đôi lúc chợt xót cha mẹ gian khổ, thương cha mẹ khó nhọc, mà thường buông sách thở dài, rơi lệ rằng:
– Sinh ra ta, nuôi dưỡng ta, trông nom ta, chăm sóc ta, nghĩ ơn cha mẹ như núi như biển. Nay chưa một chút báo đáp. Ngày sau dù có vạn báu ngàn lộc cũng không còn gặp mà báo đáp.
Từ đó sáng kiếm chiều vay, bữa đực bữa cái, không có lúc mừng. Anh em than thở với nhau rằng:
– Nghèo hèn như thế này, không có kế sinh nhai, lấy gì để sống.
Vì đó mà cùng đến núi thiêng Tản Lĩnh xin làm con nuôi của Thần nữ Ma Thị Cao Sơn. Ngày ngày hái củi để kiếm nuôi sống. Sau có được gậy trúc của Thái Bạch Thần Tinh và sách ước của vua thủy chốn cung rồng, báo đáp được ơn sâu của bà Ma Thị, cứu được họa phúc ở nhân gian. Bà Ma Thị vì người con nuôi có hiếu mà đem hết núi rừng, khe ngòi, đất đai, cây cối lập chúc thư giao cho Tuấn Công. Tuấn Công bèn phân đất cho hai em, cho Sùng Công ở núi Nộn, Hiển Công ở núi Lãng. Từ đó danh tiếng nổi lên. Thiên hạ đều gọi Tuấn Công là Tản Viên Sơn Thánh, Sùng Công là Tả Kiên Thần, Hiển Công là Hữu Kiên Thần.
Lại nói, lúc này cơ đồ họ Hùng về cuối, ý trời muốn kết thúc. Duệ Vương sinh được 20 nam hoàng tử, 4 nữ công chúa, đều cùng nhau theo về trời. Chỉ còn lại hai người con gái. Người thứ nhất là Tiên Dung công chúa, Vua sau gả cho ông Chử Đồng Tử. Còn lại người thứ hai là Mị Nương công chúa, cung thiềm còn khóa, nhụy ngọc đang phong, lương duyên chưa định cùng ai. Vua bèn dựng lầu ở cửa thành Việt Trì, ban chiếu truyền các thần tử trong thiên hạ, hễ ai có tài trí thông minh, đức độ anh hùng, có thể nối được ngôi báu thì sẽ định kế truyền cho.
Ngày đó bên sông tàu thuyền, trước lầu xe ngựa, bút văn múa như ảnh động rắn rồng, sao sáng sa sông lạnh. Trận võ bày làm hổ báo hồn kinh, sấm sét vang rền góc biển. Một vùng nước nhà, bốn biển anh hùng. Tuy nhiên được cái này mất cái kia, lục tục mà trôi qua, không có ai có thể xứng là có toàn tài. Thời bài Đào yêu chưa có người gảy đàn ngâm thơ vậy. Người đời sau có thơ vịnh rằng:
Trăng gió một trường giục động tâm Bốn bề chật mắt thấy anh quần Việt thành then khóa xuân nào thấy Ai người sẽ mở, ai người cầm?
– Có câu gian nhân khó được. Người đàn ông gặp gỡ được đã là khó huống hồ là cưới vợ là công chúa. Nay con gái nhà vua trong cung là một bậc khuynh thành. Ta chẳng vì xa mà không đến, nắm lấy mối tơ duyên này chẳng cho ta thì còn ai được nữa.
Dứt lời cùng nhau đến trước lầu ở kinh thành. Lại có Thủy Tinh cũng đến tham dự thi. Vua ngự xem thi tài, thấy Sơn Thánh cùng Thủy Tinh đều có phép lạ thông trời thấu đất, có thuật màu nhiệm chiếu nước dời núi. Vua cho là những người tài nhất, bèn triệu đến nói rằng:
– Trẫm chỉ có một viên ngọc Lam Điền mà hai khanh đều đúng là bậc anh hùng. Ngô vui thì Tần rầu. Hán ca thì Sở khóc. Không biết phải gả công chúa cho ai. Sớm mai ai có thể đem sính lễ đến trước, Trẫm sẽ gả cho người đó.
Thế là Thủy Tinh trở về thủy cung, do cầu kỳ chọn các vật lạ (nguyên trước đó sách ước đã đem cho Sơn Thánh lấy, Thủy Tinh không cưới được công chúa mới kết oán thù. Hàng năm cứ quãng tháng sáu tháng bảy lại dâng nước đến đánh, về sau thường gặp).
Sơn Thánh đi xuống ngay dưới lầu, miệng đọc thần chú, lấy sách ước mà cầu. Tự nhiên thấy voi trắng, ngựa hồng cùng các vật lạ, trân kỳ từ trời rơi xuống. Sơn Thánh nhặt lấy, đương lúc còn tối vào giờ Tí đem sính lễ đến lầu rồng. Vua gọi công chúa đến gả cho. Sơn Thánh làm lễ đón về sống ở sơn động, để lại hai vị Tả Hữu kiên thần cho vua cha.
Vua rất yêu mến bèn phong người em thứ hai của Sơn Thánh Tả Kiên thần Sùng Công là Tả đô đài Đại phu, người em thứ ba Hữu Kiên thần Hiển Công làm Hữu đô đài Đại phu. Vua tôi đức hợp, thiên hạ thái bình, vạn dân gặp được thời no đủ. Bốn biển ngưỡng cảnh tượng thái hòa. Duệ Vương vì công lao đó mà ban cho búa sắt, cùng hưởng lành với đất nước.
Hiển Công, Sùng Công và Sơn Thánh như những con trời cháu tiên đi khắp nơi trong đất nước. Núi sông Thần Phù, Yên Tử mây trắng vầng hồng cao thấp. Gió trăng Vinh Quẫn, Long Biên, núi xanh nước biếc trên dưới. Có lúc đi du ngoạn sông tiểu hoàng thưởng thức sự thú vị của đánh cá. Đi qua trang Quang Diệu, tổng An Lạc, huyện Mỹ Lương, phủ Quốc Oai, Sùng Công và Hiển Công thấy đất Quang Diệu có nước đẹp núi xanh, địa thế quanh co, hổ rồng chầu cuộn, tưởng cũng là một cảnh quang đẹp đẽ. Bèn xin với Sơn Thánh cho dựng một cung ở đất Quang Diệu. Hiển Công, Sùng Công ở đó, khuyến hóa nông tang, giúp thiện trừ tai, lại có thể dùng nhân nghĩa mà cố kết lòng người, lấy hòa mục đắp thành lễ nhượng. Thật là có công lớn với dân.
Bấy giờ Duệ Vương ở ngôi đã 105 năm, triệu Sơn Thánh với Sùng Công, Hiển Công vào triều cùng với Vua lo việc chính sự, lại muốn truyền ngôi cho Sơn Thánh. Lại có bộ chủ Ai Lao họ Thục tên Phán, cũng là dòng dõi của nhà họ Hùng, đổi sang họ Thục, phân trị Ai Lao. Thục Phán tới đó nghe đồn Duệ Vương tuổi thọ trời cho đã cao, mà 20 hoàng tử đầu đã về chốn tiên bồng, không có người nối dõi, bèn thừa cơ phát động can qua, cầu kết các nước láng giềng, chỉnh đốn trăm vạn tinh binh, tám ngàn tuấn mã, chia làm 5 đạo. Một đạo theo đường Thập Châu, Hoàng Đạo tới núi Quỳnh Nhai mà ra. Một đạo theo đường Tuyên Quang, hai châu Tụ Long, Bảo Lạc mà đến. Một đạo theo đường Ái Châu, núi Tam Điệp mà ra. Một đạo quân thủy theo Hoan Châu, cửa Hội Thống, thủy bộ cùng tiến. Quân thanh chấn động.
Duệ Vương lo lắng, bèn gọi Sơn Thánh đến hỏi kế sách. Sơn Thánh tâu rằng:
– Hơn hai ngàn năm nay, các bậc vua thánh hiền đã có sáu bảy. Ơn sâu đức dày, đã thẫm đẫm vào cốt tủy. Mà nay nước giàu quân mạnh. Uy đức của Bệ hạ mở ra nước ngoài. Còn người Thục đã không tự giữ gìn, lại dám dấy động, việc nắm lấy phần thua đã có thể thấy trước. Một khi Bệ hạ xét tội thảo phạt, lấy nghĩa mà phục, thì tất con dân đều theo Bệ hạ mà không theo địch. Việc dẹp mối lo này có gì mà không được. Như tình hình hiện nay, thần xin vì thánh giá mà tự dẫn các tướng tài cùng với 30 vạn binh hùng. Giặc Thục không quá một tháng có thể bình được.
Vua rất mừng, đồng ý. Thế là Sơn Thánh ra diễn võ trường, truyền các tướng đến nhận lệnh. Thứ nhất là hai vị Tả Hữu kiên thần Sùng Công và Hiển Công dẫn hùng binh 5 vạn, tì tướng 50 viên tiến theo đường Ái Châu trừ giặc Thục. Còn lại 4 chi đạo giặc Thục, Sơn Thánh cùng các tướng phân ra tấn công. Sùng Công và Hiển Công bái tạ nhận lệnh, lĩnh binh đường đường mà tiến. Tới trang Quang Diệu, huyện Mỹ Lương thì đóng quân nơi cung sở. Hôm ấy nhân dân trang Quang Diệu làm tiệc bái lễ, xin được theo hai ông dẹp giặc. Hai ông bèn lấy trong trang 7 người họ Đinh, 6 người họ Bùi, 6 người họ Lê, 6 người họ Nguyễn, 3 người họ Hoàng, 3 người họ Trần, 2 người họ Phạm, 2 người họ Trương. Cộng tất cả là 40 người làm gia thần thân tín.
Ngày hôm ấy đại quân thuyền ngựa song hành, tiếng động dậy cả hai bên bờ sông. Thủy bộ cùng tiến, tiếng sấm vang ngoài ngàn dặm. Quân uy ngùn ngụt như bốc tới trời. Tiến thẳng đến Ái Châu, địa đầu của núi Tam Điệp, cùng với giặc Thục một trận đại chiến, thế như chẻ tre đuổi gió, uy dậy như vặn củi bẻ cành. Bắt sống được chính tướng của giặc Thục, chém ngay dưới cờ, và chém hơn ngàn đầu các quân tướng sĩ của giặc. Thế là đạo quân đầu của giặc Thục đã được hai ông bình dẹp. Còn 4 đạo quân giặc Thục do Sơn Thánh cùng các tướng hiệp sức giao chiến. Bốn đạo quân Thục đều thua to tan tác, một xe không thoát, một ngựa không sót. Người đời sau có thơ vịnh rằng:
Đúng là thước kiếm xua giặc dữ Liền ngay thành chiếm lại cho vua Nghìn năm về trước, nghìn năm lại Quốc gọi là thần, đáng con nhà.
Khi đó Sơn Thánh truyền các tướng hội về một chỗ, làm biểu tâu lên. Vua ban chiếu cho quay về, gia phong tướng sĩ thêm cấp bậc. Phong Sơn Thánh là Nhạc phủ kiêm Thượng đẳng, tăng cấp Sùng Công làm Cao Sơn Đại vương, Hiển Công làm Quý Minh Đại vương. Lúc bấy giờ Sùng Công và Hiển Công tâu với Vua xin Vua cho trang Quang Diệu được miễn đi lính, tô thuế và tạp dịch để sau khi hai ông trăm tuổi làm nơi thờ phụng. Vua hạ chiếu đồng ý. Ngay hôm đó hai ông cùng với các gia thần và nhân dân Quang Diệu nghênh đón chiếc sắc về nơi cung Quang Diệu.
Nhằm vào dịp mồng 6 tháng Giêng là ngày mừng sinh nhật của hai ông, tổ chức ca hát, đấu vật trong 10 ngày. Từ đó hai ông ở cung Quang Diệu. Ngày cùng với một số gian thần của Quang Diệu đi chu du phong cảnh Ái Châu và hai huyện Mỹ Lương, Bất Bạt. Hoặc có lúc săn cáo bắn thỏ, dưới trăng dong buồm nơi sông nước. Hoặc có lúc thích núi vui non, tắm gió mát trong nơi đồng nội. Cứ hàng năm ngày sóc vọng các tiết lớn nhỏ lại về chầu Duệ Vương, chưa từng vắng mặt. Chầu xong, lại quay về nơi cung Quang Diệu mà ở.
Khi Vua truyền ngôi cho Sơn Thánh. Sơn Thánh thay Vua lo chính sự. Được ba năm, Thục Vương gửi thư cầu hòa, xưng thần và nộp cống. Sơn Thánh bèn tâu với Vua rằng:
– Mười tám đời họ Hùng, lòng trời có hạn nên mới sai Thục Vương thừa cơ đến xâm chiếm. Vẩ lại Bệ hạ sinh 20 con trai đều đã thân về Bồng Lãng, không mong có người kế truyền. Đó không phải là điều đại biến của nước nhà sao? Trước đây Thục Vương tuy có ngông cuồng, nay lại đã xưng thần nộp cống, biết tiến biết lui, đúng là một vị hiền quân. Hơn nữa, Thục chúa tuy là bộ chủ Ai Lao, nhưng cũng là tông phái của hoàng gia. Bệ hạ hà tất chỉ vì yêu mến một cảnh sắc phương Nam mà cưỡng lại ý trời. Thần xin cùng Bệ hạ luyện thuật biến hóa thần tiên, chẳng bằng rong ruổi nơi chốn bất lão Bồng Lai, Lãng Uyển. Gác phượng lầu rồng quyết bỏ tránh nhiễm bụi trần. Xin Bệ hạ nhường cho Thục.
Vua nghe theo bèn gọi Thục Vương đến nhường lại ngôi vị. Xong việc, Vua cùng với Sơn Thánh giữa ngày bay lên trời, hóa sinh bất diệt.
Khi đó Sùng Công và Hiển Công sống ở nơi cung Quang Diệu nghe vậy, than rằng:
– Thiên hạ nhà họ Hùng đã thuộc người khác.
Bèn mới bày tiệc mời các phụ lão và nhân dân đến uống rượu. Hai ông mới nói rằng:
– Chúng tôi cùng nhân dân đã có nghĩa xưa, không phải chỉ một ngày, sao nay có thể quên được. Chúng tôi có một cung đền lưu tại nhân dân, làm nơi anh em chúng tôi sau khi trăm tuổi có chỗ tụ lại tinh thần. Vào các ngày sinh ngày hóa của chúng tôi các nghi lễ cần tuân thủ, không thể bỏ được.
Lúc đó nhân dân và phụ lão trang Quang Diệu đều bái tạ nhận mệnh. Hai ông cùng đọc rằng:
Lễ nghi một chốn tụ tinh thần Vạn cổ khói hương mới mỗi lần Tuy nói là vui trong cuộc rượu Quang Diệu lưu tình ngàn vạn xuân.
Đọc xong cùng một số người dân lại theo tiếng hạc, tiếng gió mà chu du bốn biển. Lúc thì reo đàn múa trúc, thơ văn ngân đối đất trời. Nhạc phượng ca loan, sắc thanh thú vị Bồng Lai. Ba nhánh chủ trương trăng gió. Năm hồ dấu tiên thuyền câu. Soi cảnh hội sương khói ngày đêm. Vạn hình mây bay quang cảnh. Nước trong xanh, núi đẹp đẽ, quy lại mảnh áo đất trời. Nam là thánh, Bắc là thần, ra vào một trời phong cảnh.
Một ngày các thầy trò hai ông đến núi Thu Tinh. Hai ông lên núi thăm viếng phần mộ. Bỗng thấy trước mặt có một người râu tóc bạc phơ, chỉ núi Thu Tinh mà rằng:
– Núi này phàm là người khi chết tất tinh thần sẽ quay về đây, do đó gọi là núi Thu Tinh.
Dứt lời, người đó xuống núi mà không biết đi đâu. Hai ông cùng đọc một bài thơ:
Từ đế vương cùng muôn triệu dân Quy về sẽ phải tụ tinh thần Sự truyền khó luận chân hay ảo Nhớ tên núi đó, lẽ như chân.
Đọc xong thì trời đất tối tăm, sấm gió nổi lên. Nghìn chim tụ tập, trăm thú lại chầu. Từ trên không trung có tiếng đàn hát du dưa. Khi đó Sùng Công và Hiển Công thấy có một ngôi sao lớn từ trong thân bay ra. Hai ông ngồi ngay ngắn trên bàn đá mà cùng hóa (đó là ngày 6 tháng 11). Ngay khi hai ông hóa, những người dân Quang Diệu đi theo mới quay về nói với nhân dân lập miếu thờ phụng. Lúc ấy, Thục chúa nhận ngôi vị, cảm ơn nhường nước của Duệ Vương bèn cho tu sửa miếu điện hoàng gia ở núi Nghĩa Lĩnh để thờ phụng các thánh tổ họ Hùng cùng với ba vị Tản Viên. Tới khi đó các tướng có công giúp nước đều được phong Thượng đẳng phúc thần, sai các hương ấp nơi ở lập miếu phụng thờ, xuân thụ lệnh các quan đến cúng tế, bốn mùa hương lửa, vạn đời duy trì, cùng với quốc gia hưu thịnh. Tốt đẹp thay!
Phong Cao Sơn Đại vương Thượng đẳng thần (bên trái, huý Sùng)
Phong Tản Viên Sơn Quốc chủ kiêm Thượng đẳng thần (chính giữa, huý Tuấn)
Cho phép cho trang Quang Diệu, tổng An Lạc, huyện Mỹ Lương phụng sự.
Lại nói, Thục Vương ở ngôi được 50 năm, có người Chân Định họ Triệu tên Đà dẫn quân đến đánh, nên nhà Thục mất. Triệu Đà được nước, cha truyền con nối, 5 đời làm vua. Từ đó đất Việt ta thuộc Hán. Đến Đông Hán Quang Võ lấy Tô Định làm Thái thú đất Việt. Định là người tham tàn, bạo ngược, xâm chiếm trung nguyên. Họ Triệu tàn thương, không người cứu giúp. Đến khi có người cháu gái Hùng Vương là Trưng nữ tướng quân, tên là Trắc Nương, cùng với em ruột là Nhị Nương, nổi chí oai hùng, dẫn quân đến đánh. Đến Mỹ Lương lập đàn cầu đảo Thánh tổ họ Hùng cùng với ba vị Tản Viên. Đến khi đuổi được Tô Định, Trắc Nương lên ngôi, tự lập làm Vua, mới phong thêm mỹ tự Cao Sơn hiển ứng hộ quốc Đại vương, Quý Minh khang dụ linh ứng Đại vương. Sắc chỉ ban về trang Quang Diệu, trùng tu miếu điện để phụng thờ. Từ đó về sau trải qua các triều Tiền Lý, Đinh, Lê, Lý, Trần cùng với hoàng triều ta mở tạo cơ đồ lớn, thường có giúp nước giữ dân, cầu mưa cầu thời đều có nhiều linh ứng. Nên có nhiều đế vương phong thêm mỹ tự để ức vạn niên hương lửa vô cùng.
Phụng khai các tịch sinh hóa cùng với các chữ húy nhất thiết cấm. Ba chữ Tuấn, Sùng, Hiển cùng với chữ húy của thánh phụ, thánh mẫu đều cấm. Các sắc phục màu vàng cũng cấm.
Ngày 6 tháng Giêng là sinh thần, lễ khánh hạ (dùng bánh trôi, bánh chay, bánh mật hoặc thịt trâu, xôi, rượu, ca hát, đấu vật trong 15 ngày).
Ngày lễ mừng sắc phong vào 12 tháng 8 (dùng lợn đen, xôi, rượu, ca hát một ngày đêm).
Ngày hóa là ngày mồng 6 tháng 11 (dùng bánh trôi, bánh chay, bánh mật, các đồ thịt trâu, xôi, rượu).
Hoàng triều Vĩnh Hữu năm thứ 3, tháng giữa xuân, ngày tốt.
Hàn lâm viện Đông các đại học sĩ, thần Nguyễn Bính phụng soạn.
Quản giám bách thần tri điện Hùng lĩnh thiếu khanh, thần Nguyễn Hiền, tuân theo chính bản phụng sao.
Dịch từ bản khai thần tích năm 1938 của làng Quang Diệu, tổng Bằng Lộ, châu Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.
Thần tích của làng Dũ Lâu, tổng Lâu Thượng, huyện Hạc Trì, tỉnh Phú Thọ. Dịch từ bản khai năm 1938.
Thánh Tản giáng sinh
Thời Kinh triều 18 nhánh, có động Lăng Sương, huyện Thanh Xuyên, phủ Gia Hưng, đạo Hưng Hóa, xứ Sơn Tây. Động ấy là nơi núi gấm ngang trời, nước biếc tràn đất, non nước như tranh, cây cỏ tươi tốt, báo kêu chim hót véo von, gác khói đài mây lung linh, sương chiều bảng lảng. Thật đúng là nơi đẹp đẽ nhất trời Nam. Lúc bấy giờ có Trưởng ông tên là Nguyễn Cao Hành, tuổi đã 70, Thái bà tên Đinh Thị Điên, tuổi 50, cùng nhau sinh sống ở đó. Ông bà thường tích đức, làm việc nghĩa, hương khói cúng tế một mực phong lưu, rộng rãi, lễ lạt dư giả. Bỗng một hôm trông thấy ở trong động mây lành vương vấn, khí tốt rạng rỡ, một con rồng vàng cuộn mình giáng xuống, lấy nước phun sóng như châu ngọc. Đáy giếng tuôn sóng khí thiêng. Hương vị thoáng bốc phủ ngang khắp trên mặt đất. Được một chốc lát, Rồng cưỡi mây mà bay lên biến mất. Gió nhẹ thổi như có ý muốn đón người. Thái bà nhân đó đi qua tường ở bên trái, gánh nước trong giếng lại chỗ bàn đá trắng, đứng lên đó để tắm gội. Thân mình tự nhiên có mùi hương tỏa ngào ngạt, khí tốt giăng đầy, anh sinh tú đúc, cảm thấy như tinh khí đầy khắp, mừng tụ lại ở bụng. Sau đó mãn nguyệt ý như có động, mang thai được 14 tháng. Đến sáng ngày Rằm tháng Giêng năm Đinh Tỵ, Thái bà đang ngồi nghỉ trên hòn đá trắng bỗng thấy mây năm sắc bay, hào quang giáng khí. Lúc ấy sinh hạ được một người con trai, thần sắc tuấn tú, khí mạo hiên ngang, cao lớn khác vạn người. Được trăm ngày sau mới đặt tên là Nguyễn Tuấn. Nghe chuyện lạ ấy người lúc đó có thơ rằng:
Tinh thần ngọc cốt cách Lăng Sương Mở chốn Rồng thiêng xuống thế dương Thái Thủy cũng là Thiên Thượng Mẫu Hoài thai lâu lạ khác bao thường.
Tảng đá nơi sinh Thánh Tản ở Lăng Sương.
Gậy thần sách ước
Lại nói, Nguyễn Tuấn khi 6 tuổi thì cha mất. Thái bà làm lễ an táng. Bảy tuổi, mẹ con dắt nhau đến núi thiêng Thứu Lĩnh Ngọc Tản (ở xứ Mang Bồi) mà ngụ cư tại đó. Lại kết thân cùng với một lão bà ở núi ấy tên là Ma Thị Cao Sơn Thần nữ. Được ba năm, nhớ đến mộ phần gia đình, bèn trở về động cũ Lăng Sương, đổi tên là Nguyễn Tùng. Khi lên 12 tuổi bắt đầu theo nghiệp với tiên sinh Lý Đường chuyên tâm học hành. Tuy là ngõ cụt ngách hẹp nhưng tính tình vui vẻ vốn có không đổi. Ngày ngày kiếm góp cây khô, búa rìu tiêu dao làm kế sinh nhai. Đêm đêm bên án tuyết song huỳnh một bầu rượu ngon làm thú vị. An bần lạc đạo, coi đó như chí lớn vậy. Tuy nhiên đôi khi cảm thương mẹ vất vả, xót xa mẹ cực nhọc, nên thường bỏ sách thở dài, gạt nước mắt mà rằng: – Sinh ra ta, nuôi nấng ta là lòng yêu thương của mẹ hiền, sánh như chuyện ba lần di dời. Nay tình cảnh như thế này, không có gì để an ủi mẫu thân. Ngày qua năm lại, mới đến núi thiêng Ngọc Tản kêu than với lão bà Ma Thị rằng: – Ô hô! Vận trời tuần hoàn, việc người thường biến. Trước đây ở động Lăng Sương khó khăn, tạm còn đủ ăn. Ngày nay, rừng đã cạn củi, cách nuôi mẹ như chim yến đợi mồi. Chí tình của người con có hiếu biết làm sao đâu. Con nguyện xin làm con nuôi của Lão bà để ngày tiện hái củi, sau là có thể nuôi dưỡng được mẹ nuôi vậy. Lão bà nghe lời than đó bèn đồng ý. Nguyễn Tùng dẫn mẹ đến cùng ở trên núi Tản Viên. Sau đó được 1 năm thì Thái bà qua đời. Nguyễn Tùng làm lễ chôn cất. Sau cùng với Lão bà Ma Thị cùng sống tại đó. Một hôm lên đỉnh núi thiêng để chặt một cây lớn cành dài. Ngày hôm đó quay về báo cho người trong động cùng lên trên núi để lấy cây gỗ đó, nên tới hôm sau đến nơi thì đã thấy cây gỗ cành lá tươi tốt y như cũ. Nguyễn Tùng tự thấy làm lạ, lại chặt cây một lần nữa. Chặt xong giả vờ đi rồi quay về phục ở đó để xem xét. Tới ban đêm bỗng thấy một lão ông thân cao một trượng, râu trắng phơ, đầu đội mũ hoa, mình khoác áo gấm, lưng thắt đai vàng, chân xỏ hài mây, tay phải cầm một cây gậy trúc, thong thả bước đi như phượng múa gấm hoa, rồng ngậm ngọc duẩn, nếu không là nơi vườn Kỳ thì cũng là vật lạ chốn Lãng Uyển. Theo sau có một hề đồng, tay cầm một chiếc chuông vàng, lắc 3 hồi. Ông lão miệng đọc thần chú, lấy gậy chỉ vào. Bỗng thấy tất cả một bên gió mát thổi đến, lành mây bao phủ, tinh thần của rừng núi hội tụ, đất trời biến hóa trong chớp mắt. Cây gỗ sống lại. Nguyễn Tùng nhìn thấy rõ ràng, liền chạy ngay lại nơi đó, hai tay ôm lấy ông lão, hỏi rằng: – Cụ là người ở đâu đến, xưng hô thế nào. Sao lại thương tiếc một cành cây già để mất nỗi trông mong của người dân đói rét? Ông lão nói: – Ta là Sơn Tinh Thái thần, tên là Thái Bạch Thần Tinh Tử Vi Thiên tướng, vâng nhận sắc hạ của Ngọc Hoàng, canh giữ vùng rừng núi. Nay cái cây này là cây Ngô đồng quý giúp đời sinh thánh, đất dựng lầu phượng, chính là cây chủ của núi Ngọc Tản trời Nam, không thể chặt được. Cho nên ta phải giữ cây quý để cầu cho núi sông được vững bền, quốc gia được trị lâu dài bởi vua sáng, để thiên hạ có những ngày thái bình vậy. Nguyễn Tùng chắp tay tạ và nói: – Một lời nói của Thiên tướng đã sáng tầm nhìn của tôi. Đâu dám không theo mệnh. Đúng là sự đời như ngựa hoang, thói đời như phù du. Có có không không, sinh sinh hóa hóa. Cơ vi khó ngờ, sự đổi khác thường. Cả trời đất này cùng chung lý đó. Tùng tôi nay nguyện được nhận gậy thiêng cùng với thần chú để cứu sự sinh tử của nhân gian, để báo ơn sâu của cha mẹ, sau là để nhờ được ban phép mà không còn phải hái củi nuôi mẹ. Ông Lão nghe lời nói đó, biết là người đại hiếu, không phải là người thường, bèn lấy gậy thần cùng thần chú truyền thụ cho. Rồi lại dặn rằng: – Đầu trên của gậy có thể cứu người. Đầu dưới có thể trừ hại chúng. Chỉ đất đất nứt, chỉ nước nước cạn. Phép thực linh nghiệm, cơ sâu diệu huyền. Nếu chỉ trời thì mây bạt sương tan, chiếu tận cửu trùng. Hãy cẩn thận! Hãy cẩn thận! Không thể! Không thể! Dặn xong, thần Thái Bạch bay lên không mà đi. Nguyễn Tùng từ khi có được gậy thần, vui mừng trở về động núi Tản Viên, bái tạ mẹ nuôi, lại đem mộ cốt của mẹ về động cũ Lăng Sương. Nhân đó tự xưng là Thần sư. Ngày hôm đó Thần sư đi qua thôn Cốc của sách Thủ Pháp, bỗng thấy hơn năm trăm con voi và hổ tập trung ở một vùng trên đường qua lại. Trăm muông thú chạy hàng đàn. Thần sư lấy gậy chỉ vào. Lập tức hổ theo hướng Bắc, voi theo hướng Đông, tránh đầu gậy mà chạy hết. Nhờ đó mà đường đi được thông suốt. Thần sư đi tới bờ sông nhìn thấy nước trời một màu, khói sương mờ mịt, bên sông vắng lặng, thuyền trống mái gác. Thần sư lấy lấy gậy chỉ vào, tức thì mặt nước rẽ mở, giữa sông trở thành một con đường, đi qua đó như đi trên đất bằng vậy. Thần sư đi đến bãi Trung Độ của xã Ma Xá, còn có tên là bãi Trường Sa. Trên đường bỗng thấy đám trẻ chăn trâu đánh chết một con rắn đen, hô nhau lôi kéo làm vui đùa. Thần sư thấy vậy sự đáng thương hại cần cứu, mới động lòng mà nói với lũ trẻ chăn trâu rằng: – Lũ các ngươi chớ có đùa nghịch như thế. Ta muốn mua con rắn này. Bọn trẻ cười mà đồng ý. Thần sư lấy 36 văn tiền để mua rắn, rồi đem đến đầu trên bãi Trường Sa niệm thần chú, dùng gậy chỉ vào. Tức thì mờ mờ ảo ảo phục dẫn ở đầu gậy. Con rắn sống lại. Rắn đen khoanh tay bái tạ. Thần sư đứng nhìn, thấy rắn đen trườn ra sông, chia thành đường nước dẫn về tới Động Đình, mới biết đó là con của Long Vương. Bấy giờ Thần sư trở về động Lăng Sương. Rắn đen trở về Động Đình, đem mọi việc tâu với Đế Quân. Đế Quân nhớ công đức ấy bèn sai Thái tử cùng với Đô đốc Giao Long đi đón Thần sư ở quê động. Thần sư bởi vậy đi theo đến Long cung, qua tường gấm đến cửa châu, nhìn thấy gác ngọc lầu châu tầng tầng lớp lớp, thần Côn tướng Ngao hàng hàng lớp lớp sắp hàng. Binh lính cá, ba ba đứng chầu ở cung ngọc. Đế Quân ngự ở tòa chính, nghênh thỉnh Thần sư vào ngồi ở bên phải long sàng, rồi nói: – Long chủng Đông Cung là Thái tử của Trẫm, hôm qua đi chơi chốn điện thiêng Tùng Đài (là đền thiêng giữa sông xã Sơn Bạn), chẳng may gặp biến ở Trường Sa. May nhờ ngài cứu thoát, thật đúng là ơn sâu nghĩa lớn. Hôm nay mời đến muốn tỏ tấc lòng báo đáp. Thần sư tâu rằng: – Thủy phủ Dương gian, đường lối khác nhau. Sự tinh rộng của giống rồng, sao có thể hiểu hết được. Chỉ vì nhà của nô tì vốn âm thầm làm việc thiện, lại được gần gũi dung nghi của bệ hạ. Đâu dám mong sự báo đáp. Hôm đó trong cung mở tiệc hội lớn. Chiếu rồng trải khắp, đèn phượng thắp cao. Giường ngọc bình hương, vàng ròng mã não, đều là những vật lạ trân kỳ trên thế gian không có, tất cả được bày ra la liệt trước mắt. Tiệc ngọc yến bày, Đế Quân đích thân mời. Thần sư rằng: – Kẻ trần thế được gặp long nhan đã là điều hiếm có. Nay may mắn vượt sóng ba đào tới chốn này, bình sinh chưa từng có được niềm vui như vậy, đâu dám không uống say chịu ơn. Tiệc xong, Đế Quân lấy vàng bạc báu vật ra lễ tạ. Thần sư cố từ chối không nhận. Thái tử bảo riêng với Thần sư rằng: – Hôm nay được gặp mặt rồng, là cơ hội ngàn năm có một. Thần sư công đức như núi Ngao biển Kình, tiền tài xem nhẹ như chiếc lông, đức này không phải là thường. Nay có một quyển sách thần là phép màu chân truyền, vốn có thể thấu trời suốt đất chỉ trong một lời ước. Tôi xin tâu riêng với Đế Quân được dùng để báo đáp. Thần sư đáp: Được. Do đó Thái tử tâu với Đế Quân. Đế Quân cảm công đức của Thần sư liền lấy sách ấy trao cho Thần sư nhân xem. Thần sư được sách đó rồi, từ tạ Đế Quân. Đế Quân khiến Thái tử đem quân đi tiễn Thần sư trở về, đến tận bãi sông, quay về động cũ. Thần sư nhân lúc từ biệt mà làm thơ rằng: Không gặp làm sao có kiếp sinh Khi đi là nghĩa, về là tình Quay lên đỉnh Thứu, người còn vọng Trở lại cung Rồng, khách chẳng đành Một dải âm dương đôi tách ngả Chín trời mây nước mộng ba canh Tạm biệt cửa sông hai mắt dõi Tương tư chốn ấy bởi xa tình.
Bãi Trường Sa
Chúc thư Ma Thị
Lại nói Thần sư trở về động Lăng Sương, gậy chú để cầu, sách thần để ước, tự nhiên hóa sinh thành lầu gác vạn vật, vàng bạc châu báu, đầy đủ mang tới núi thiêng Ngọc Tản. Thần sư nói với Lão bà rằng: – Nghĩa tử từ lúc hàn vi cùng ở với mẹ. Công đức của mẹ lớn như trời vậy. Được một bữa cơm cũng tất đền đáp, huống chi là ơn sâu huệ dầy. Sao có thể quên tình? Hôm nay đến đây cảm vận thần vận quỷ, có ít nhiều là để báo công đức này. Bèn lấy sách thần ngầm khấn trời đất, đọc ước một phép. Tự nhiên một trận mây mưa ập đến, sấm chớp nổi lên cùng sấm vang dậy trời, mưa châu ngọc khắp đất. Được nửa canh giờ bỗng thấy tiền vàng từ không trung rơi xuống trăm vạn ngàn quan. Thần sư lấy mang vào cung dâng cho dưỡng mẫu. Dưỡng mẫu thấy tấm lòng nhân hậu, ngầm mừng muôn việc đủ đầy. Bèn đem các vật rừng núi trao lại cho Thần sư để mình sau khi trăm tuổi có nơi thờ phụng, cúng tế. Nhân đó lập một bản chúc thư để mãi ngàn vạn đời coi giữ việc hương lửa miếu đường. Thần nữ Ma Thị Cao Sơn ở núi làng quê Mang Bồi, sách Thủ Pháp, huyện Thanh Xuyên, phủ Gia Hưng, xứ Hưng Hóa, nước Văn Lang nay lập chúc thư. Sự là ở tại động này, núi sông, khe suối, miếu mạo, cỏ cây, rừng rú, trước giờ đến nay đều là của tôi. Nghĩ mình sau khi trăm tuổi, thân về chốn Bồng Lai, tất việc hương hỏa xuân thu không ai phó thác phụng sự gia đường. Năm nay đang là năm Quý Dậu, có một người con nuôi quê ở cùng huyện tại động Lăng Sương là Nguyễn Tuấn, từ nhỏ đã chung sống xem như con đẻ. Nay Ma Thị tôi tuổi đã ngoài 90, chỉ sợ mệnh trời chưa biết sớm tối ra sao, muốn kê khai ra đây mọi vật, nhất nhất ghi rõ trong chúc thư, giao lại cho Nguyễn Tuấn tuân theo mệnh của mẹ mà coi giữ các vật trong núi, mãi mãi không rời, lưu truyền vạn đời để làm hương hỏa phụng thờ. Trời đất có lẽ, xưa nay có luật, nên lập một đạo để lại ý này này cho người đời sau mãi tuân theo. Những nơi sở hữu núi sông, đất đai, khe suối, miếu mạo, cao rộng trượng xích thế nào đều được kê khai như sau, cứ chiếu theo đó mà sử dụng: Kê: – Núi thiêng Thứu Lĩnh Ngọc Tản ở tại sách Thủ Pháp, dân các xứ cộng 22 xóm. Núi Ngọc Lĩnh cao 112.300 trượng. – Một đoạn từ Thượng điện trên núi đến Hạ điện, nay gọi là khe Lăng Cốc, cửa ngòi Bùi men tới sông Cái dài 1 vạn trượng. – Một đoạn từ đỉnh núi Mũi Mèo, tục gọi là cửa ngòi Bo, men tới bờ sông dài 300 trượng. – Một đoạn trên từ Hạch Đa đến cửa sông ngòi Lỗ dài 200 trượng. – Một đoạn trên từ đồi Mỏ Cò đến sông dài 300 trượng. – Một đoạn trên từ Ba Dương, thường gọi là ngòi Lông, đến mép sông dài 500 trượng. – Một đoạn đường ngàn dặm từ xứ Hàm Rồng, xã Cẩm Đái dài 8.500 trượng. Đông giáp 2 huyện Ma Nghĩa, Thạch Thất. Nam giáp 2 huyện Mỹ Lương, Phúc Lộc. Tây giáp huyện Thanh Xuyên. Bắc giáp huyện Bất Bạt. Mặt tiền chính Tây, tọa Cấn hướng Khôn. Lại có Đại giang Tả kiên thần Ma Lãng Sơn, Hữu kiên Nhạc Sơn, Tây Nam sơn Chi Đồng Thần Trấn Đồng Long Đại vương, Tây Bắc Hậu Phi Bạch Y Thần nữ Đại vương. Tất thảy ruộng đất tế tự cộng lại là 278 mẫu 4 sào 1 thước 1 tấc, tính từ sông Đà dưới tới ngã ba sông Lô làm giới hạn. Đông Tây 4 phía ruộng đất sông ngòi như đã kê trên. Năm 18 đời Hùng Duệ Vương, 28 tháng 8 lập chúc thư. Ma Thị Cao Sơn Thần nữ ký. Lập chúc thư xong, Thần sư bái tạ, lại cùng ở với Lão bà. Được 1 năm, Ma Thị mắc bệnh, gọi Thần sư lại đưa cho chúc thư mà rằn: – Sau khi Ma Thị ta mất, con đặt cho một cỗ thọ đường ở trong miếu đường để phụng sự, để cho tỏ hiếu đạo. Thần sư dập đầu lĩnh mệnh. Ngày hôm đó Ma Thị qua đời. Thần sư làm lễ an táng, thiết lập đền miếu, lại bày một cỗ thọ đường ở bên trái, bốn mùa hương lửa phụng thờ theo phép tắc. Đến nay hiện vẫn còn. Người đời sau có bài tán rằng: Cơ đồ tạo dựng Nghiệp đế lâu dài Mười tám đời dằng dặc Bao ngàn năm qua lâu Bấy giờ có Thánh Tản Chăm Ma Thị mẹ nuôi Lão bà lâm mệnh mất Truyền lại bức di thư Lập miếu thiêng trên núi Bên trái đặt thọ đường Nhà cửa đều giao lại Đạo hiếu cho vạn toàn Anh hùng trăm đời mãi Núi sông gom một trời Đáng yêu thay, thần tiên vạn cổ Lạ kỳ thay, mẹ con một nhà.
Đền Hạ Tản Viên ở Thủ Pháp
Sơn Tinh – Thủy Tinh
Lại nói, bấy giờ cơ đồ họ Hùng đã được 18 nhánh, Duệ Vương trị vì, đóng đô ở Việt Trì bên sông Bạch Hạc, lấy tên nước là Văn Lang, quốc đô tên là thành Phong Châu. Duệ Vương là người anh hùng đại lược, thiên tư thông minh, thánh trí, bên trong tu sửa văn đức, bên ngoài lo phòng bị biên phương, dốc chí hưng bình để yên Trung Quốc. Lại năng kính Trời Pháp Tổ, cầu phúc cho dân. Trời giáng điềm lành cho nước nhà. Do đó Vua lại càng thêm sùng trọng, kính sự thần kỳ, truyền hịch cho thần dân thiên hạ tăng việc tu sửa đền miếu, trang trí cung điện, nghiêm trang nghi vệ. Ngày ngày dâng hương hoa để cho tỏ ý thành kính. Các quan sở tại châu huyện đều đến các đền miếu mỗi tháng hai lần để chầu, cầu mong trăm thần cho quốc mạch được lâu dài. Vua lại tự mình đến núi Nghĩa Lĩnh yên định các tôn lăng cung điện cùng với các đền thiêng của các công thần huân tướng của các triều đại, tất cả các doanh điện đều tu sửa. Một bầu phong cảnh trải khắp mặt đất. Bốn phía lâu đài tráng lệ cuốn trời. Khi Vua đang trị vì, tuy sinh được nhiều hoàng tử nhưng đều đã về quy tiên. Vương bèn xa giá đến cung tiên Tam Đảo, dao xem thắng cảnh, tùy nơi đất tốt mà lập miếu điện, phụng đảo cầu con. Nhưng khi đó số mệnh sắp hết, cơ đồ họ Hùng đã đến lúc cuối. Vua nằm mộng thấy điềm lành rắn ráo. Sau sinh được hai nàng công chúa, đều có đức hiền trinh, phong tư yểu điệu, khóe hạnh má đào, sóng thu vạn điểm, ngọc trau mây quấn, mười phần xuân sắc. Người thứ nhất tên là công chúa Mị Châu Tiên Dung, sau gả cho Chử Đồng Tử (quê ở xã Đa Hòa, huyện Đông Anh, phủ Khoái Châu, đạo Sơn Nam). Người thứ hai tên là công chúa Càn Nương Ngọc Hoa, cung trăng đang khóa, nhụy ngọc còn che, nhân duyên định ước còn chưa đến kỳ. Vương muốn tìm người tài mà gả để tiếp nối ngôi báu, bèn lập một tòa lầu ở cổng thành Việt Trì, tên đề “Lầu cầu hiền kén rể”, biển đề “Ngắm trăng cầu hiền”. Truyền hịch đi khắp thiên hạ thần dân trăm họ, ai là người thông minh tài trí, đức độ anh hùng, có thể nối được ngôi của Trẫm thì sẽ gả công chúa cho. Ngày đó thuyền bè tấp nập bên sông, trước lầu nhộn nhịn xe ngựa. Bút văn múa mà hình rồng động, sao đẩu rơi, sông mưa lạnh. Trận võ bày mà hổ báo khiếp, tiếng sấm kinh, góc bể trào. Một mối nước nhà mà bốn bể anh hùng. Tuy nhiên đều là được mặt này mà mất mặt kia, không có toàn tài, khó để xưng nhận là thơ Đào yêu, còn chưa thổi được đàn ngâm vậy. Người đời bấy giờ có thơ rằng: Trăng gió một trường giục động tâm Bốn bề chật mắt thấy anh quần Việt thành then khóa xuân nào biết Ai người sẽ mở, ai người cầm? Lại nói lúc đó có Tản Viên Sơn Tinh với Động Đình Thủy Tinh, hai người là bạn học cùng nhau, có nhiều phép thuật thông thiên mà chưa đến ứng tuyển. Hôm sau Sơn Tinh gửi lời đến Thủy Tinh rằng: – Người xưa nói giai nhân khó được, nam tử đã khó gặp, huống chi lại là việc cưới công chúa làm vợ. Tôi với anh âm dương hai đường khác biệt, mà lại có cùng tình bạn học. Ngày này ở dương thế cung vua đang thật là bậc khuynh thành như trướng Đường buồng Ngu, chưa chọn được ngưới xứng tuyển. Chúng ta chẳng quản ở xa mà tới, để cầu lấy duyên này. Ngoài chúng ta ra thì còn ai xứng nữa. Thủy Tinh từ khi được tình ý đó, ngay hôm ấy sửa sang hành trang, tu tập quan quân, lập tức đến núi thiêng Ngọc Tản cùng hội với Sơn Tinh. Sơn hào hải vị, mở yến tiệc lớn, nâng cốc mừng thọ, để tiếp khách. Lễ mừng xong, Sơn Tinh với Thủy Tinh cùng đến kinh thành, cung kính trước ngự tiền tâu rằng: – Chúng thần thẹn vì tài hèn, may sinh ra trên nước của Vua. Trộm nghe Thánh thượng mở khoa lớn chọn rể. Chúng thần đến muộn, xin Vua ngự cho thử thi tài, may thì không ngoài hịch chiêu hiền vậy. Vua rất vui mừng, bèn rời xa giá đến sông Bạch Hạc để thi tài. Thế rồi Sơn Tinh đến đứng ở đầu sông. Thủy Tinh quay về đáy nước. Phút chốc bỗng thấy giữa sông mây mưa, mặt nước sóng dồn, ngã ba sông tràn nước, tiếng sấm nổi đến làm kình côn lạc phách, cuồng phong vạn dặm thổi tung, sóng dựng kinh hồn rùa cá. Trùng trùng trắng đỏ, gieo khắp cõi trần. Xúm xít xanh vàng, mịt mờ trời đất. Thiên hình vạn trạng, quỷ xuất thần chìm, biến hóa u minh. Hễ trông thấy đó là run tim mất mật. Sơn Tinh ở nơi ấy tay trái cầm sách, tay phải cầm gậy, miệng ngâm thần chú mà chỉ vào. Tức thì mọi thứ kỳ lạ đều theo đầu trượng mà quét sạch. Bỗng lại có núi Ngũ nhạc nổi lên cao ngàn vạn trượng, đứng sừng sững giữa trời đất. Thú chạy đến chầu, chim bay cùng họp. Thủy Tinh ở giữa sông lại gọi sóng to gió dữ. Vạn vật mất hình tiêu biến trong nước. Biến biến hóa hóa. Hai người phép đều cùng thật là huyền diệu. Ngày hôm đó mới xa giá về cung, cử sứ giả gọi hai người lại nói rằng: – Trẫm chỉ có một người con gái yêu, trước giờ chưa chọn được ai để kết đôi. Nay hai khanh đều là bậc anh hùng, không biết phân định thế nào. Há chẳng là Ngô mừng thì Sở rầu, Hán ca thì Tần khóc. Chi bằng sáng sớm ngày mai ai có thể đem sính lễ đến trước thì Trẫm sẽ gả cho. Thế là Thủy Tinh về cung Động Đình để cầu tìm vật lạ (nguyên là sách ước đã đem cho Sơn Tinh). Sơn Tinh ra ngay dưới lầu, lấy trong tay áo ra cuốn sách thần, đọc chúc với trời mà ước được đồ sính lễ. Bỗng thấy, voi trắng chín ngà, kỳ trân dị vật từ trên trời hạ xuống. Sơn Tinh thu lấy đó, vào giữa giờ Tý đem sính lễ vào đến lầu rồng. Vua bèn gọi công chúa lại mà gả cho Sơn Tinh. Sơn Tinh làm lễ. Lễ xong bái tạ, đón về sơn động. Đến giờ Mão ngày đó Vua thấy Thủy Tinh mới đem lễ tới. Vua nói: – Sơn Tinh đã đem sính lễ đến trước. Trước đã có lời hẹn, nay biết làm sao được. Thủy Tinh vì thế rất oán hận, mới về tâu lên Đế Quân, xin dẫn quân tiến đánh Sơn Tinh. Đế Quân đồng ý. Cùng ngày Thủy Tinh tụ họp thủy tộc, bày trận ngàn hàng côn sấu, lập binh vạn đội kình nghê, thuyền rồng dốc tiến ra giữa sông, trống ba ba gõ vang rung đáy nước, hàng hàng thẳng tiến. Đi được nửa đường thì Sơn Tinh nghe tin, bèn cùng với Duệ Vương giăng lưới võng sắt ở bến Thụy Hương huyện Từ Liêm để ngăn. Quân thủy tộc không tiến được. Thủy Tinh mở ngang một dải sông nhỏ từ Lị Nhân đến vùng chân núi Quảng Oai, kéo lên bờ trên của cửa sông Hát mà ra sông Cái, vào sông Đà để tập kích núi Tản Viên ở mặt sau. Lại mở một con sông ngang nhỏ gọi là sông Bờ, tấn công núi Tản Viên ở hướng mặt trước. Vì thế Sơn Tinh mới dùng phép thần biến hóa, liền gọi người trong núi lại, lấy tre đan thành rào chắn ở trên núi. Lại bảo cho dân rằng: – Các ngươi nếu thấy dâng nước tiến công ở trước rào thì đều bắn và chém đi. Nhân dân tin theo lời đó. Trong khoảnh khắc thủy tộc tiến quân đến đánh. Nhân dân đều dùng cung kiếm bắn và chém chết rất nhiều. Khi ấy các loài kình nghê côn sấu chết lấp đầy các hang hốc bên sông. Thủy Tinh căm phẫn oán hận, cho nên đến nay mỗi năm đến tháng sáu tháng bảy thường dân nước lại đánh. Nhân dân sống dưới núi thường bị mưa gió lũ lụt gây hại rất nhiều. Nhưng vì Sơn Tinh được quyển sách thần, có bí thuật phép tiên, nên quân thủy tộc không thể gây hại. Người bấy giờ có thơ rằng: Tương tranh sự đó Thủy – Sơn thần Muốn viết thơ này để hậu nhân Bể ái gương treo đôi mắt gửi Ham tình động sóng giữa thu phân Sách ước đủ rồi đền nợ trước? Má hồng sao chịu ganh phu quân Trường Sa ngày ấy mà không gặp Còn Sắc hay Không, Thủy Tinh thần?
Ghềnh Bợ Đà giang
Chống Thục lần thứ nhất
Lại nói, thời Duệ Vương trị nước, bốn bể thanh bình. Đế tử tiên ông quê người nước cũ. Núi sông trải Thần Phù, Yên Tử, cao thấp mây trắng vầng hồng. Trăng gió rọi Hoa Quật, Long Biên, trên dưới non xanh nước biếc. [Sơn Thánh] khi đó hoặc dạo chơi trên sông Tiểu Hoành, ngắm cảnh thú vị sông nước mênh mang. Đi qua đất các xã Cổ Đằng, Tam Sơn, Vật Lại, huyện Ma Nghĩa, ngắm nhìn vẻ đẹp núi sông, lập làm hành cung (nay là điện Trung thần cung). Lại đi qua 8 xã Thuỵ Diễm, Tam Sơn, Lễ Toàn, Nhân Lý, Văn Khê, Xuân Hương, An Phúc, Tùng Cao của huyện Phúc Lộc, lập thêm Nam thần cung ở cửa 12 khe của Bể Cạn. Lại thường đi săn tới xã An Diệu, huyện Mỹ Lương, lập cung điện Mang Sơn, rồi giữ ruộng thờ (72 mẫu nay tại xã An Diệu, và 200 mẫu nay ở xã Đông Triều làm dân tạo lệ) để cung cấp cho hậu thế làm hương lửa phụng thờ. Đến khi về đến núi Tản Viên. Động cũ là nơi đất này, ba ngọn núi vượt lên, vạn nhẫn cao vời, tốt đẹp u sảng, khó có thể tả hết. Lại thêm xóm thôn đông đúc, phong tục chất phác. Sơn Thánh rất yêu mến, bèn thiết lập trên đỉnh núi, thuộc đất Thủ Pháp 22 xóm (nay Thượng thần cung tọa Càn hướng Khôn là chính điện; Trung, Hạ thần cung là nơi cầu đảo; Đông thần cung là nơi yết kiến; Nam thần cung, Bắc thần cung là nơi trú ngự). Từ đó tuân mệnh Thượng Đế thường cùng với Tứ phủ Công đồng ở hải đảo mà đi tuần xem vạn sự trong nhân gian. Khi Duệ Vương được 115 tuổi, năm Ất Mùi, nhân thấy Duệ Vương tuổi đã cao, mà 20 hoàng tử đều đã về cõi tiên, không có người nối dõi, Thục thừa cơ muốn dấy động, âm thầm khởi binh, muốn từ phía Tây lại đánh Duệ Vương chiếm lấy nước. Vua bèn cùng với các đình thần bàn bạc. Trong triều có Trác Công bước lên nói: – Bệ hạ vâng theo mệnh trời, vua tôi tướng sĩ đều yên ổn vô sự đã lâu ngày. Quân binh huấn luyện không tinh. Nay có can qua động tới, liên quan đến nhân dân xã tắc, tình thế không thể giữ được như nguyên thì sự linh thiêng của Thái tổ Thái tông trên trời không phải không bị phương hại bởi chúng ta sao. Vạn nhất xảy ra binh dữ chiến nguy, Thục khó mà phá được, tổ tông và dân chúng biết trông vào đâu. Chi bằng nhân đây mà dùng mưu thận trọng, bí mật hối lộ tướng địch, gửi thư cho chúa quân địch, để xem ý có lui binh không, rồi mới tùy cơ hội về sau. Vua nghe vậy muốn dùng kế đó, bèn triệu Tản Viên Sơn Thánh đến hỏi. Sơn Thánh tâu rằng: – Hơn hai ngàn năm đến nay, mười bảy đời thánh quân gây dựng, ơn sâu đức dày đến tận cốt tủy của nhân dân. Nay nước giàu quân mạnh. Uy đức của Bệ hạ ban cả ra nước ngoài. Còn quân Thục đã không tự giữ gìn lại dám nổi lên chống lại thì cơ thất bại đã nghiệm rõ. Nếu một ngày Bệ hạ nêu rõ tội ấy rồi dấy thảo phạt, lấy nghĩa mà phục thì dân ta sẽ đều theo Bệ hạ mà không theo giặc. Mối họa của quốc gia lo gì không dẹp được. Thần xin lĩnh 3 vạn hùng binh vượt ra chiến địa, một mình một xe sang đến đất Thục thì có thể bình định được. Vua nghe vậy rất vui mừng, bèn ngay hôm đó trai giới lập đàn bày lễ, cúng tế trời đất, lấy nỏ thần linh chú trao cho Thánh mà rằng: – Binh cơ quý ở thần tốc. Tướng quân dùng thứ này mà bắn thì sẽ được như có thần vậy. Lại cùng vào tế cáo trong miếu. Vua đứng quay mặt về phía Bắc. Tướng quay mặt hướng Nam. Vua thân lấy búa nắm phần cán, trao cho Thánh phần đầu mà rằng: – Từ đây trở lên trên do Tướng quân cai quản. Vua lại lấy rìu nắm phần đầu, trao cho Thánh phần cán mà nói: – Từ đây trở xuống dưới do Tướng quân cai quản. Thế là Sơn Thánh bái tạ nhận mệnh, đường đường quyết chiến mà ra đi. Duệ Vương có bào thơ úy lạo rằng: Cửa ngọc xuất chinh phất phới cờ Ba quân nghiêm giữ chẳng sai tơ Việc công vó ngựa bay trong gió Trướng hổ đâu nghi tuyết mòn giờ Ly biệt một lần chia cách núi Ruổi rong ngàn dặm tựa như mơ Kiếm cung từ cổ anh hùng sự Gánh hết gian nan lạnh nào chờ. Lại nói bấy giờ quân Thục tiến đến núi Quỳnh Nhai (nay là địa phận phủ An Tây). Sơn Thánh tiến quân đến Mộc Châu, gõ chiêng lớn bày trận, đóng binh tại đó. Lại gửi hịch cho các phiên thần tập hợp binh lính, tùy nơi mà ứng chiến. Thế rồi Sơn Thánh hạ lệnh sai 2 vạn hùng binh, tiến đến núi Quỳnh Nhai, ra ngoài vùng Cổ Táo hơn 50 dặm khiêu chiến. Tướng Thục nghe vậy liền điều 30 vạn quân đến. Quân Hùng giả vờ bỏ chạy, phục nấp ở hai bên vùng Thiên Táo đến Mộc Châu. Sơn Thánh ngồi trên núi Mộc Châu, tay cầm sách thần niệm chú mà ước. Bỗng từ trên trời giáng xuống một đại thần tướng, thân cao 5 trượng, tay cầm một chiếc tiêu gỗ dài 30 trượng, hình như vỏ ốc, đứng tại đầu núi ở mé bên trái Sơn Thánh. Thần tướng thổi tiêu lên thì sấm rền gió giật, sương nổi mây bay, mù mịt vạn khoảnh, đổ cây bốc nhà, cát dâng đá chạy, trời đất tối sầm. Quân Thục thua to chạy tán loạn. Sơn Thánh bèn đánh trống liên tục, lấy nỏ thần bắn hơn trăm phát. Thế rồi quân mai phục bốn mặt vây lại, chém hết 30 vạn đầu quân Thục, không thoát một tên, không lọt một ngựa. Thần tướng tự nhiên bay lên không mà đi. Sơn Thánh liền truyền gửi tấu báo tin thắng trận. Duệ Vương ban chiếu mời về. Sơn Thánh vâng mệnh dẫn quân quay trở về đến cửa thành, bái tạ. Duệ Vương phong Sơn Thánh làm Nhạc phủ kiêm Thượng đẳng thần. Ngự chế làm bài thơ úy lạo rằng: Quả nhân chẳng liệu kẻ phương xa Cử nghĩa lao phiền tướng nước ta Vạn dặm trống cờ dồn hết lực Trời cao mưa gió gạt khăn qua. Đúng là thước kiếm xua giặc dữ Liền ngay thành chiếm lại cho vua Nghìn năm về trước, nghìn năm lại Quốc gọi là thần, đáng con nhà.
Lại nói, được 2 năm, quân Thục nuôi lòng căm phẫn, tích dưỡng quân mã, cử binh phục thù, cầu viện nước láng giềng, được hơn trăm vạn tinh binh, tám vạn kỵ mã, chia làm 5 đạo. Đạo quân chính 30 vạn quân, 5 ngàn ngựa, tiến thẳng theo đường núi Mộc Châu, Hoàng Tùng, Quỳnh Nhai mà đến. Đạo quân bên trái 10 quân, 1.500 ngựa, theo mặt châu Lạng Sơn, Văn Lan mà đến. Đạo quân bên phải 20 vạn quân, 1.000 ngựa, theo vùng đất Đại Man mà đến. Đạo quân giữa 10 vạn quân, 500 ngựa, theo đường châu Bố Chính, Minh Linh mà tới. Một đạo quân thủy 3.000 chiếc thuyền, 30 vạn quân, tiến theo cửa Hội Thống, Hoan Châu. Thủy bộ cùng tiến, thuyền ngựa song hành. Duệ Vương lo lắng mới triệu các đình thần đến hỏi. Tất cả đưa mắt nhìn nhau, không có một kế khả thi. Sơn Thánh tâu rằng: – Trước đây Thục Vương ngông cuồng, coi thường oai trời, một bầy lẫm liệt, tưởng che được cả trời. Hoàng đế Bệ hạ đã độ lượng khoan hồng, miễn cho khỏi rơi tổ vỡ trứng. Nay lại không biết hối cải, muốn tiếp tục mưu đồ vọng tưởng, châu chấu đá xe, thế như lông tơ trên lò lửa. Bệ hạ sao phải lo lắng việc điều quân khiển tướng. Thần xin đảm nhận việc này. Duệ Vương tươi tỉnh lại hỏi: – Còn việc gìn giữ miếu đường thì Khanh định tính như thế nào? Sơn Thánh tâu rằng: – Sự quyền biến không thể dự đoán trước được. Thần xin được lĩnh 50 vạn hùng binh. Thiên hạ của quân vương khắc có ngày được yên định. Duệ Vương đồng ý. Sơn Thánh mới lấy 10 vạn quân mạnh, voi ngựa trăm con, theo đường chính Mộc Châu chiếm giữ những nơi lũy cao hào sâu, không ra giao chiến. Ngầm sai Dũng mãnh Nguyên soái Tổng đốc Đại vương dẫn 3 vạn quân theo bên trái ra châu Văn Lan để ứng chiến cánh tả của quân Thục. Lại sai Long Linh Chi quân Phụ quốc Thượng Đại tướng quân dẫn 2 vạn binh mã men theo đằng sau châu Đại Man mà ra, giả lập một đồn binh để ứng chiến với hậu quân của Thục. Lại sai Phụ quốc Ma Vương Đại thần Anh linh Nhất bộ Hào kiệt Thượng tướng quân dẫn 2 vạn binh mã mà ra ứng chiến cánh quân bên phải ở châu Bố Chính Minh Linh. Lại sai Tán quốc Tá thánh Đại thần Đồng Đôi Hào kiệt Đại tướng quân, dẫn 3 vạn binh mã cùng với thuyền bè hơn 2.000 chiếc ứng chiến thủy đạo ở Hoan Châu, cửa biển Hội Thống Môn, cai quản luôn một mặt của Ái Châu. Lại sai Đại thần Trần Cơ Hổ Ma vương Anh đô Thượng đại tướng quân đem 3 vạn quân tùy địa thế mà ứng chiến. Sơn Thánh thân dẫn đạo quân theo núi Mộc Châu đánh lớn một trận, lấy được ấn tích cờ xí của quân địch, bèn giả làm một bức thư của Thục chủ gửi cho tướng Thục rằng: – Nước Văn Lang triều Hùng có một thần tướng. Nay nhà ngươi phụng mệnh dẫn quân đến đánh nước người. Binh quý ở bí mật, chớ nên khinh động. Đợi khi có chiếu thư báo, tất sự sẽ có thể định được. Viết xong làm giả ấn tín của quân địch mà đóng vào trong thư. Lại khiến một người thạo việc ăn mặc quần áo của quân địch, tự xưng là sứ giả Thục, cưỡi ngựa đến trại lính cánh quân chính của địch đưa thư cho tướng Thục. Tướng Thục từ khi nhận được thư, ra sức cố thủ. Cánh quân phải nghe có biến cũng không gửi thư báo gấp đến được. Sơn Thánh bèn tiến quân, ngày đêm đi gấp hơn 500 dặm, đến thẳng kinh đô nước Thục mà đánh. Chủ tướng nước Thục không kịp đến cứu. Sơn Thánh lấy sách và gậy thần chỉ vào, đại phá cánh binh chính của Thục, bắt sống toàn bộ. Ba cánh quân thủy bộ tự nhiên phải rút chạy. Thế là Sơn Thánh quay cờ khải hoàn, đuổi sạch quân địch, dẫn binh mã về kinh thành tấu cáo chiến thắng. Từ đó thiên hạ thanh bình, quốc gia vô sự. Duệ Vương muốn nhường ngôi cho Tản Viên Sơn Thánh, nhưng Sơn Thánh cố từ chối không nhận, quỳ xuống tâu lên Duệ Vương rằng: – 18 đời họ Hùng hưởng nước dài lâu, tất là lòng trời có hạn nên có quân Thục thừa cơ đến chiếm Trung Hoa. Vả lại Thục chúa vốn cũng là bộ chủ nước Ai Lao, cùng là tông phái của đế vương đời trước. Thế nước khác thường đều do tiền định. Vua sao quyến luyến một cảnh trời Nam mà chống lại ý trời, tất dẫn đến thế cùng cực chém giết mà hại sinh linh vậy. Duệ Vương ngừng hồi lâu rồi nói: – Lời của Khanh nói cũng có lý, ta đã biết rồi. Nhưng lại nghe nói rằng thời bình thì quan trọng trước hết là con trưởng, thời loạn thì đầu tiên là kẻ có công. Thục chúa ngông cuồng, Trẫm đã được Khanh làm vây cánh, binh trời lẫm liệt, chúng địch sạch tan, quốc thái dân an. Công của Khanh không lớn lao hay sao? Khanh lại là rể quý trong nhà, là trung thần của đất nước, là người được Trẫm cầu để nối ngôi trời. Trị quốc chính ngoài Khanh ra thì còn ai nữa? Khanh hãy nhận lấy ngôi này, đừng từ chối mà phụ ý cầu hiền của Trẫm. Tản Viên Sơn Thánh bất đắc dĩ đành tuân theo mệnh đó. Từ đó tuy giúp Vua trị nước, thân ở trong triều, nhưng không dứt được chí dạo chơi nơi Lãng Uyển Bồng Hồ, vàng bạc châu báu coi nhẹ như sợi tơ. Lánh tục tìm nhàn vốn là ý nguyện bình sinh chẳng thể thay đổi được. Được hai ba tháng, Tản Viên Sơn Thánh lại nói với Duệ Vương rằng: – Sự nghiệp bá vương thay đổi xưa nay là lẽ thường. Họ Hùng hưởng nước đã hơn hai ngàn năm. Nước Việt từ Thái tổ Thượng Hoàng khai sáng, đều đã có con hiền cháu thánh, cha truyền con nối, tới nay được18 triều. Bệ hạ sinh hạ được 20 hoàng tử, đều đem thân về chốn Bồng Lãng, thoát khỏi bụi trần, sau không có người để mong kế truyền. Nghiệm đó thì cơ đồ họ Hùng đã đến lúc mạt, vận nước sắp đến hồi kết thúc. Lại như thần, vốn chỉ là con rể trong nước, mà nắm giữ đại quyền, không dám mà không một lần nhận mệnh cho Bệ hạ được yên lòng. Đâu dám ở ngôi trời lâu dài mà chống lại thiên cơ. Thần xin Bệ hạ cầu người hiền mà nhường lại ngôi vị cho thuận với lòng trời, gỡ bỏ nỗi lo muôn năm vậy. Bèn trả lại ngôi vị cho Duệ Vương mà nhận lời đó để lại cai quản đất nước, rồi đợi tìm người hiền nối vị. Thế rồi Tản Viên Sơn Thánh bái tạ từ biệt, khắp nơi dưới trời không đâu là không có dấu chân Thánh, cùng gió mây voi ngựa mà ngắm xem sông núi, sương móc xe kiệu mà lên xuống trời đất. Lúc thì đàn reo sáo múa, thi thư đối xướng với đất trời, nhạc phượng ca loan, tiếng hình là điều thú vị cõi Bồng Lai. Cỏ bồng dẫn lối, Ngũ hồ gió trăng, thuyền câu là dấu tiên, soi hình cảnh hội khói sương, xe mây vạn hình là bước chân, non xanh nước biếc quấn quít chưa đẫy càn khôn. Thánh Nam thần Bắc, ra vào chốn phong cảnh chín trời. Cứ mỗi năm đúng tháng ngày sóc ngày vọng cùng với những phiên đại lễ của triều đình thì Sơn Thánh hôm đó đều quay giá về triều, chưa lần vắng mặt. Tan chầu lại theo lối cũ ghé bước nhàn du. Cứ thế được hơn 10 năm thì bỏ hết được mối ràng buộc. Đến đúng năm Mậu Thân ngày 15 tháng 1 bỗng thấy Thục chúa sai sứ giả tới đem theo một trặm hốt vàng cùng với một trăm thước gấm rồng, trước dâng lễ, sau đưa thư cầu tới Duệ Vương. Thư trong đó viết: – Bộ chủ Ai Lao, thần, Thục, khâm thừa mệnh trời làm chúa tể một phương, ngày trước dám ngông cuồng không theo đúng lễ làm thần mà dám xúc phạm bền trên, thật là đáng chết, mà quốc gia vẫn còn toàn vẹn, thực là ơn lớn của Thiên hoàng. Nay trộm nghĩ, thần vốn cũng là tông phái của nhà họ Hùng, đã khai cơ sáng nghiệp, nối dài công đức của tổ phụ mà có điều lành cho con cháu nước nhà được một bề phú quý to dày như vậy. Lại nghĩ, người có tổ, vật vốn có tông. Thần được nhiều ơn đức mà không báo đáp tổ phụ ở dưới cửu tuyền, không thỏa linh thiêng của miếu đền phi tử. Mỗi khi nghĩ đến thì lại càng thêm thâm cảm. Nên nay không sợ bị lời quở trách uy nghiêm, xin bề trên niệm tình trước đối với thần Thục đây, cho được kết hòa thân, phụng lễ chầu cống, để được thẫm đẫm ơn vua, sau là không phụ ý nguyện bình sinh của bậc con cháu này vậy. Hôm ấy, Sơn Thánh đang đứng trong chính điện. Vua xem xong thư ấy nhân việc đó mà hỏi Sơn Thánh rằng: – Thục Vương vốn là tông phái của Tiền Hoàng đế. Trước vì ngông cuồng mà dám đến xâm chiếm nước ta. May mà ý trời còn cho cơ đồ họ Hùng chưa hết. Ngày nay Thục chúa lại xin được cầu hòa. Mong tướng quân xem kỹ rồi nói với Trẫm nên thế nào. Sơn Thánh đến trước ngự tiền mà tâu riêng rằng: – Thục chúa đúng là tông phái của Tiền Hoàng đế, làm chúa tể một phương. Ngày trước muốn đến xâm lăng làm cho Bệ hạ phiền lòng, cũng là bởi trời khiến cơ đồ họ Hùng thứ 18 một phen điêu đứng. Bệ hạ không cần phải oán giận vậy. Ngày nay lại cầu hòa, tức là biết tiến biết lui. Thục chúa đúng là một vị hiền quân, nay biết kế ấy không bằng mở rộng lượng độ đồng ý cầu hòa thân. Đó là sự sáng sốt đem đến sự hòa thuận của Bệ hạ. Vả lại họ Hùng theo ý trời đã định, nhân việc cầu hòa này mà gọi tới nhường ngôi cho. Bệ hạ như thế sẽ là bậc thánh. Việc xong Bệ hạ cùng với thần có thuốc của thần tiên, chi bằng rong ruổi cõi trần, ba sinh nơi Lãng Uyển Bồng Hồ, mãi cùng với trường xuân tuế nguyệt, lầu rồng gác phượng không dính bụi phàm. Trần gian non xanh nước biếc miên man thưởng ngoạn. Tốt thay Quân tử! Đó chẳng là vui sao? Thần và Bệ hạ đã rõ kế đó thì hãy quyết đoán. Việc không thể chần chừ. Thế là Duệ Vương nói: – Khanh nói phải thay. Trẫm theo như vậy. Bèn sai sứ giả theo binh mã về triệu Thục chúa đến nhường ngôi cho. Thục chúa bái tạ. Duệ Vương nhân đó ban cho nỏ thần rồi quay về núi Nghĩa Lĩnh, hẹn cùng Sơn Thánh mong hóa sinh bất diệt. Một hôm Duệ Vương ngự bút làm thơ rằng: Cỏ động tiên bồng đượm xuân xanh Rêu phủ cung vua mới vẻ lành Bởi ở thế gian nhiều sự vặt Gió bụi với trời sao cố ganh. Ngâm thơ xong Duệ Vương cùng với Sơn Thánh và công chúa Ngọc Hoa cùng giữa ban ngày mà bay lên trời đi vào cõi hóa sinh bất diệt. Thục chúa nhận được nhường ngôi, cảm công đức ấy bèn đại giá đến núi Nghĩa Lĩnh, lập nên miếu điện để làm nơi quốc gia thờ phụng. Lại dựng 2 cột đá ở giữa núi, chỉ trời mà thề rằng: – Xin được nguyện ước trời xanh chứng giám cho tỏ tường. Thần tiểu tử tôi là Thục An Dương thu nhận cơ đồ họ Hùng, tiếp nối chính thống. Ơn sâu đức lớn sánh cùng trời đất. Nay lập miếu đường họ Hùng để làm nơi muôn vạn năm cúng thần, hương lửa không ngớt, phụng thờ như lễ. Giả sử các vua sau này kế vị mà bội ước nhạt thề thì núi sông trời đất sẽ chứng giám việc phụ lời thề này. Chúc xong, Thục Vương quay về đô thành, ban chiếu cho thôn Cổ Tích, xã Nghĩa Lĩnh Nghĩa Cương làm thôn dân trưởng tạo lệ, bốn mùa tám tiết hương đèn không ngừng để phụng thờ Hùng Vương Sơn thánh (xem theo trong sự tích của Hùng Vương). 22 xóm của huyện Bất Bạt, Thủ Pháp, làm dân thôn trưởng tạo lệ, bốn mùa tám tiết hương đèn không ngừng để phụng thờ Sơn Thánh. Cùng với xã Trung Độ cùng huyện làm dân trưởng thủ lệ. Chính quán động Lăng Sương, ngoại quán, các xã An Lãng, An Đức, Lũng Phong, Lũng Phao, Ly Trúc, Thái Hoà của khuê Mông Hóa, Vật Lại, Vật An, Vật Phú, Tri Lai, Đồng Bảng, Cẩm Đới, Bình Lộng, An Vệ, Bảo Vệ, Cổ Lãm, An Bạch của huyện Minh Nghĩa, cùng với các ruộng thờ ở các phủ huyện xã sách động trang, cộng 2.700 mẫu để phụng thờ hương lửa cho các điện Thượng, Hạ, Trung, mãi trùm vạn thế. Trải qua Đinh, Lê, Lý, Trần thay vua đổi bá thì Tản Viên Sơn Thánh đều có phép thuật thần tiên. Lúc hoặc biến hiện ra chân thân, lúc hoặc cảm thông linh ứng. Hộ quốc an dân, có công với đời. Các triều đại đều chuẩn y các cung điện cùng với các xã trưởng tạo lệ, dân hộ nhi mà miễn việc binh thuế cùng các việc sai dịch, phụng thờ như trước. Cứ thế mà cùng với mạch nước để tiếng thơm truyền lưu vạn cổ. Tốt đẹp thay!
Núi Tản nhìn từ sông Đà
Sau thời Hùng Vương
Năm Giáp Thìn ngày 9 tháng 1, An Dương Vương lên ngôi, đóng đô ở thành Cổ Loa cai quản quốc gia, nối thừa cơ đồ to lớn mà Hùng Duệ Vương giao phó lại. Vua ở ngôi tổng cộng 50 năm. Thiên hạ thanh bình, quốc gia vô sự. Tuy nhiên Vua từ khi được nỏ thần linh quang quốc bảo của Hùng Vương thì không chịu khó tu sửa văn, huấn luyện võ, chọn tuyển tướng, luyện tập quân để chế ngự giặc ngoài. Tới khi An Dương Vương tuổi đã 80, có người họ Triệu, tên Đà, người Chân Định, thừa cơ khởi binh dẫn lính đến thẳng huyện Quế Lâm, đại chiến với Thục Vương. Lúc ấy Sơn Thánh nghe được tin, liến biến phép thần thông, tự nhiên bay trên không mà tới, cùng với binh mã tiến thẳng đến nơi cùng Triệu Đà giao chiến. Trong vòng 10 lần đều chiếm được phần thắng. Sơn Thánh nghĩ đến sinh linh và việc hương lửa bèn nói với Thục Vương rằng: – 50 năm thiên hạ đã được Hoàng thiên định vậy. Ngày nay Triệu Đà bó tay không kế, ta không muốn gây họa nữa. Triệu Đà đến khiêu chiến với ta tới mức đánh cùng diệt tận. Sinh mệnh đều đang nằm trong tay của Vua. Vì nước tất phải vì dân. Chi bằng thuận theo lòng trời, gọi họ Triệu đến nhường cho ngôi vị. Vua nghe thấy lời ấy bèn mới nhường lại ngôi vị cho Triệu Đà, còn mình thì đi vào biển lớn mà hóa. Triệu Đà được quốc gia mà lên ngôi vào năm Bính Ngọ. Cha truyền con nối được 5 đời thánh vương. Trước sau cộng 149 năm. Tới khi Lạc Dương Vương nối truyền chính thống, ở ngôi được 1 năm thì có Tô Định dẫn quân đến xâm chiếm Trung Nguyên. Họ Triệu bại vong, không người cứu giúp. Cho tới khi có chắt gái của Hùng Vương, tên Trắc và Nhị, là bậc nữ trung hào kiệt, bậc thánh thần trên trần thế, dấy nổi oai hùng, cất quân đến đánh. Đương thời nam nhi thao lược cũng không có người như vậy. Nữ tướng dẫn quân, cầu đến thần linh. Trưng Vương mật cáo Tản Viên Sơn Thánh tụ hội bách thần ở cửa sông Hát Môn (nay là ở xã Hát Môn, huyện Phúc Lộc), lập đàn tế cáo thần linh. Đọc chúc rằng: – Trời sinh ra người làm tông chủ vạn vật trời đất, chủ cho dân sinh, khai nuôi cây cỏ. Các đế vương đời trước đều là các bậc thánh minh thiên tử. Triều đình có đạo yêu dân vì nước, có đức hóa rộng lớn. Thiên hạ thanh bình, quốc gia vô sự. Nay có người ngoại tộc tên Tô Định tỏ thái ý ngông cuồng khắp nơi, ngược bạo người dân. Trời đất thần người đều căm phẫn. Kẻ hèn tôi vốn là một nữ nhân nhà họ Hùng, nghĩ tới sinh linh, rỏ trăm giọt lệ Hoàng thiên. Ngày hôm nay đau lòng thương dân đỏ, trượng nghĩa trừ bạo tàn. Xin trăm họ các vị tôn thần linh thiêng hội đàn chứng giám cho lời thề, giúp sức cho Trưng nữ dẫn quân dẹp giặc, giữ nước giúp dân. Dám mong phục dựng lại cơ đồ cũ của tổ tông, đưa nhân dân khỏi tầng cực khổ, thoát ra khỏi nơi nước lửa binh đao, sau không phụ ý của Hoàng thiên, thỏa linh thiêng của miếu đền tiên tử, an ủi cha ông dưới nơi chín suối. Chúc xong bèn hô xuất quân ngàn hàng vạn đội. Lại truyền hịch khắp quan lang, phụ đạo các châu quận nước Nam, định ngày giờ dẫn quân 5 vạn, tức chia các đạo tiến đánh, tạo thành kỳ binh, đến thẳng đồn của Tô Định mà đại phá trong một thời. Quân Định bỏ chạy. Thế là Trưng Vương xây 65 thành ở Lĩnh Ngoại, chiếm phục lại toàn bộ vùng đất Nam Bang. Trưng nữ lên ngôi Hoàng đế. Trưng nữ ở ngôi ba năm, từ năm Canh Tý đến năm Nhâm Dần lên ngự ở triều đình. Trưng nữ một thời xuân mộng, được lập miếu ở cửa sông Hát Môn, các xã ấy phụng thờ hương lửa, tới nay hiện còn di tích. Thời thuộc Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống Tề, Lương cộng là 314 năm đến khi Nam Bang thay nhau bốn đời Đinh, Lê, Lý, Trần khai mở hoàng đồ, đều có biến hóa điềm thần, các triều giúp nước. Sự đã được ghi rõ trong Sử ký Nam Việt.
Nghi môn đình Phú Hữu (Ba Vì, Hà Nội)
Toản yếu lục Tản Viên Sơn Thánh
Xưa Kinh Dương Vương sinh Lạc Long Quân, có con gái của Đế Lai là Âu Cơ sống ở động Lăng Sương huyện Bất Bạt, đi ra chơi ở bãi Trường Sa. Long Quân thích sắc đẹp đó bèn cùng kết duyên. Mười tháng mang thai sinh một bầu trăm trứng. Qua tháng Trăm trứng nở ra những người con trai, không bú mớm mà trưởng thành. Sau Long Quân chia biệt, chia 50 người con theo cha về biển làm Thủy Tinh. 50 người con theo mẹ lên núi làm Sơn Tinh. Lên núi xuống biển, có sự thì gọi nhau. Vương tên là Hương Lang. Thời Đường Nghiêu, hồng thủy ngập trời. Lạc Long Quân sai trăm trai cùng nhau trị thủy. Chỉ có Vương vũ dũng anh uy, lại có phép tiên, cầm gậy sắt chỉ nước, thủy hoạn hết, có công xếp hàng đầu. Tới khi quân Ngô nước Tần khởi binh, thỉnh Vương đến giúp, quả nhiên được đại thắng. Tần ăn mừng. Sau Vương theo về hải quốc, đi ngắm các danh thắng, tới núi Tản Viên, thấy ba ngọn vượt lên, cao vời vạn nhẫn, đẹp đẽ u sảng, không thể mô tả. Bèn lập cung ở trên đỉnh núi mà ở. Tới nay, cầu đảo có nhiều linh ứng.
Nhà Thương Ân có tổ tiên là ông Tiết. Trúc thư kỷ niên kể:
Cao Tân thị có người vợ tên là Giản Địch, vào tiết xuân phân, khi chim huyền điểu tới thì đang theo Đế đi làm lễ tế giao để cầu tự, bấy giờ cùng người em gái của mình tắm ở sông Huyền Khâu. Có con chim huyền điểu ngậm quả trứng mà đánh rơi, trứng ấy có năm màu rất đẹp, hai người tranh nhau đi lấy, rồi dùng giỏ ngọc úp lên. Giản Địch lấy được trứng trước, bèn nuốt vào bụng, thế rồi mang thai, sau đấy xẻ ngực mà sinh ra Tiết. Tiết lớn lên rồi làm chức Tư đồ cho vua Nghiêu, vì có công với dân mà được nhận phong ở đất Thương. Trải qua mười ba đời sinh ra Chủ Quý. Vợ của Chủ Quý tên là Phú Đô, nhìn thấy có luồng khí trắng vắt ngang mặt trăng trong lòng rung cảm, thế rồi sinh ra Thang vào ngày Ất, bởi thế mới có hiệu là Thiên Ất.
Truyền thuyết “huyền điểu sinh Thương” cho biết nhà Thương là dòng dõi từ Đế Khốc hay Cao Tân Thị, vợ là Giản Địch do nuốt trứng ngũ sắc của chim huyền điểu mà sinh ra ông Tiết. Dòng dõi 14 đời của ông Tiết là Thành Thang, có tên là Thiên Ất.
Người Xá hay Phiên ở Trung Quốc có truyền thuyết về Cao Tân và Long Vương. Người Xá ở Quảng Đông kể rằng: Thời Đế Cao Tân, trong cung có một bà già tai to bị đau tai. Trăm chim vào chầu, quan ngự y cắt ra thì xuất hiện Long Khuyển. Đó là Kim Long giống tằm, nuôi được tám tháng, Kim Long thân dài 8 thước, cao 5 thước, toàn lông ngũ sắc, bèn ban hiệu là Bàn Hồ.
Đàn tế cúng trong lễ hội Bàn Vương ở Hoàng Su Phì
Người Dao và người Xá đều thờ Bàn Hồ. Đối chiếu 2 câu chuyện trên có thể thấy người Dao và ngưới Xá (cùng nhóm tộc) có tổ tiên chính là ông Tiết, con của Đế Khốc Cao Tân Thị. Ông Tiết là tổ của nhà Thương, nên người Dao cũng chính là thành phần dân tộc gốc của nhà Thương, khởi dựng từ Thiên Ất Thành Thang.
Người Dao tôn thờ Bàn Hồ là Bàn Vương. Cũng có nơi gọi là Bàn Cổ. Ông Bàn Cổ dùng rìu khai thiên lập địa trong truyền thuyết khai sáng Trung Hoa có nguồn gốc từ truyền thuyết Bàn Hồ của dân tộc Dao. Điều này càng cho thấy người Dao là một trong những dân tộc chính của Trung Hoa cổ đại.
Theo truyện kể dân gian, thần tích và các truyện thơ, đặc biệt là trong Quá sơn bảng văn (Bình hoàng khoán điệp), Bàn Hồ là con Long Khuyển được Bình Vương gả con gái và phong là Bàn Vương sau khi có công lớn giết được Cao Vương. Vợ chồng Bàn Hồ sinh được 12 người con (6 con trai, 6 con gái) đều được ông là Bình Vương ban sắc thành 12 họ là: Bàn, Lan, Mãn, Uyển, Đặng, Trần, Lương, Tống, Phượng, Đối, Lưu, Triệu, như các họ của người Dao ngày nay.
Các họ người Dao tế lễ Bàn Vương
Trúc thư kỷ niên chép về Thành Thang: Thang đi về phía Đông tới bên bờ sông Lạc, ngắm nhìn đàn tế của Đế Nghiêu, lại ném ngọc bích xuống sông, lùi ra phía sau mà đứng. Sau đấy một cặp cá màu vàng nhảy vọt lên, một con chim đen theo đó mà đậu xuống dưới đàn tế, hóa thành hắc ngọc. Lại có con rùa đen xuất hiện, trên lưng có hoa văn màu đỏ sắp thành chữ, nói là Hạ Kiệt vô đạo, Thành Thang sẽ thay thế hắn. Có vị thần Đào Ngột xuất hiện ở núi Bi. Có vị thần dắt theo con sói trắng, miệng ngậm cái móc, đi vào triều đình nhà Thương.
Có thể thấy những điềm Thành Thang làm thiên tử trong truyện trên mô tả Ngũ sắc: cá vàng, chim đen, rùa mai đỏ, thần ở núi (xanh), sói trắng. Ngũ sắc là biểu tượng của Ngũ hành. Người có Ngũ sắc nghĩa là người nắm được Ngũ hành, hay nắm được thiên hạ. Con sói trong chuyện của Thành Thang cùng với Ngũ sắc cho thấy sự tương đồng với truyện Long Khuyển Bàn Hồ của người Dao. Vị Bàn Vương (Long Khuyển) đã diệt Cao Vương, lấy con gái của vua mà sinh ra 12 họ người Dao chính là Thành Thang, người đã diệt Hạ Kiệt, lên ngôi thiên tử của nhà Thương.
Đoạn sách cúng kể về Bàn Vương dẫn 12 họ người Dao “phiêu du quá hải”
Sách cúng người Dao còn kể: vào năm Dần mão, nạn hạn hán xảy ra, con cháu người Dao rơi vào cảnh thiếu đói, cơ cực nên phải thiên di vượt biển tìm nơi sinh sống. Với sự che chở của Bàn Cổ đại vương, 12 tộc họ người Dao vượt biển thành công. Để lưu truyền cho đời sau, họ đã viết sách “Quá Sơn Bảng Văn” kể lại quá trình thiên di đầy gian khổ, ca ngợi Bàn Vương.
Câu chuyện Bàn Vương đã quá sơn, vượt bể này là nói đến vua Thương Bàn Canh đã 5 lần dời đô, vượt sông Trường Giang, kiến lập nhà Ân ở vùng Hà Nam. “Vượt bể” ở đây là vượt sông lớn, chứ người Dao không ở bên bờ đại dương để mà vượt biển. Kinh Thư có 3 thiên Bàn Canh thượng, trung và hạ nói đến việc Bàn Canh dời đô. Các vua Thương dời đô nhiều lần đến mức… dân gian có cụm từ “lang thang”, chỉ sự di cư bất định như các vị vua (lang) nhà Thương (thang).
Thời nhà Thương, chữ tượng hình bắt đầu trở nên phổ biến, hình thành một thể chữ khá chín muồi mà nay được gọi là Giáp Cốt văn, do chúng thường được khắc trên yếm rùa và xương động vật. Giáp cốt văn tự được biết là khởi nguồn của chữ Nho sau này.
Múa Bắt Rùa của người Dao ở Hoàng Su Phì
Người Dao cũng có tục cúng Rùa với nghi lễ diễn xướng khá trang trọng trong các dịp lễ tết. Cho tới nay người Dao cũng là dân tộc vẫn sử dụng chữ Nho. Các sách cúng, sách bói, lịch, sớ… của người Dao đều được ghi bằng chữ Nho một cách nguyên sơ nhưng thuần thục. Chắc chắn người Dao là một trong những bộ phận dân tộc chính đã làm nên sự hình thành của chữ viết tượng hình Trung Hoa.
Trúc thư kỷ niên cho biết, năm thứ 32 đời vua Vũ Đinh nhà Ân chinh phạt người Quỷ Phương, đóng trú ở đất Kinh. Sự kiện Ân Cao Tông phạt Quỷ Phương, nhưng lại đóng quân ở đất Kinh, tức là đất Kinh Sở ở Hồ Nam – Hồ Bắc này cho thấy vùng đất Kinh này đã nằm trong đất của nhà Ân. Vùng Hồ Nam cũng chính là nơi tập trung nhiều người dân tộc Dao. Sách Dao nói là “Bàn Cổ xuất thế Trường Sa quốc“. Trường Sa nay là đất Hồ Nam. Có thể nói, đất Kinh vốn là địa bàn gốc của nhà Thương từ Thành Thang. Sau này tới thời Chu thì được phân phong cho Dục Hùng, thầy dạy của Chu Văn Vương, lập thành nước Sở.
Bài cúng mở đầu bằng Bàn Cổ xuất thế Trường Sa quốc
Người Sở còn gọi là Man. Còn người Dao cũng gọi là người Mán. Thậm chí có chỗ Bàn Vương được gọi là Hùng Vương, nên có những thông tin cho rằng người Dao cũng thờ Hùng Vương. Điều này càng khẳng định thêm nhận định rằng thành phần chính của nước Sở của Dục Hùng là người Miêu Dao.
Về tín ngưỡng, thì người Dao mang tín ngưỡng Đạo giáo một cách sâu sắc, chứng tỏ đây là tôn giáo gốc của dân tộc Dao. Trong lịch đồ của Đạo giáo mà người Dao thờ có khái niệm Tam Nguyên. Tranh thờ Tam Nguyên, dùng trong lễ cấp sắc và các lễ hội của người Dao, gồm:
• Thượng Nguyên Thiên Quan tứ phúc: cúng vào rằm tháng Giêng. • Trung Nguyên Địa Quan xá tội: cúng vào rằn tháng Bảy. • Hạ Nguyên Thủy Quan giải ách: cúng vào rằm tháng Mười.
Theo Đạo giáo mỗi độ số của Trời có 180 năm, gồm 3 Giáp Tý (Lục thập hoa giáp 60 năm). Giáp Tý thứ nhất là Thượng Nguyên, có Thiên Quan cai quản. Giáp Tý thứ hai là Trung Nguyên do Địa Quan cai quản. Giáp Tý thứ ba là Hạ Nguyên do Thủy Quan cai quản.
Tranh Tam Quan của người Dao
Khái niệm Tam Nguyên là Tam Quan như trên tương tự như tín ngưỡng Tam phủ của người Kinh. Trên chiếc chày gỗ là dụng cụ của các thầy cúng người Dao cũng có khắc hình Tam phủ (Thiên phủ, Địa phủ, Thủy phủ). Đặc biệt, vị vua của Địa phủ đã được ghi nhận là Ân Vương chết trong trận chiến với Thánh Dóng (Truyện Giếng Việt). Ngày rằm tháng 7 cúng Địa quan xá tội cũng là ngày tiết lễ lớn trong năm của người Dao.
Truyền thuyết Bàn Vương có đoạn cuối kể rằng Bàn Vương đi săn sơn dương, chẳng may bị sơn dương húc chết, người Dao vô cùng thương tiếc, làm lễ cúng tế Bàn Vương… Đây có lẽ nói tới chuyện Ân Trụ Vương đi săn con hươu của “thiên hạ” mà đã nhảy vào ngọn lửa ở Lộc Đài tại kinh đô Triều Ca để tự kết thúc. Lộc là hươu, là sơn dương, cũng là Lục, nghĩa là đất đai hay Địa phủ.
Dụng cụ của thầy cúng người Dao có ghi Tam phủ
Người Dao còn thờ cả những vị thần thái cổ Trung Hoa như Thần Nông, Phục Hy. Cùng với thờ ông Bàn Cổ thì có thể thấy người Dao là một trong những thành phần chính của thời Trung Hoa dựng nước, khai thiên lập địa, sáng tạo ra cái ăn, cái mặc…
Qua những so sánh trên, có thể khẳng định rằng, dân tộc Miêu Dao vốn là thành phần chính của nhà Ân Thương. Cũng giống như người Việt thờ 18 đời Hùng Vương, tín ngưỡng Bàn Vương của người Dao nói đến nhiều thời đại các vị vua tổ của mình. Đó là ông Bàn Cổ khai thiên lập địa, là ông Tiết con của Cao Tân Thị thời Nghiêu Thuấn, là Thành Thang cầm búa lớn mở ra nhà Thương với 12 họ người Dao, là Bàn Canh quá sơn vượt Trường Giang lập Ân, là Ân Trụ Vương làm vua Địa phủ, là các vua Sở họ Hùng. Sự thiếu khuyết của truyền thuyết Việt cho giai đoạn mở nước về phía Đông Nam của Lạc triều từ Long Quân được bổ sung bằng truyền thuyết Bàn Vương của người Dao.
Có rất nhiều học giả Tây có, ta có, Tàu có, cho đến nay vẫn cho rằng sách vở xưa các cụ chép đã nhầm chữ “Lạc” thành chữ “Hùng”, nên kết luận Hùng Vương là Lạc Vương, hay các vua Hùng mang họ Lạc… Bài viết này xin tổng quan lại nhận định về dòng giống Lạc Hùng của người Việt trong suốt tiến trình lịch sử là gì.
Tên gọi “Lạc” đầu tiên được nhắc đến trong sử Việt là Lộc Tục Kinh Dương Vương làm vua phương Nam, lấy tên nước là Xích Quỷ. Chữ “Lộc” ở đây chính là đọc sai của “Lạc”, mà bằng chứng trực tiếp là sau đó Kinh Dương Vương lấy Thần Long sinh ra Lạc – Long quân, thủ lĩnh của vùng Lạc và Long. Nếu mẹ Rồng Động Đình đã là Long thì hiển nhiên cha Tiên phải là Lạc.
Lộc Tục tức là Lạc tộc, chỉ dòng tộc ở vùng đất phương Nam xưa thời lập quốc Xích Quỷ. Phương Nam xưa là phương của cây kim chỉ Nam, vốn luôn chỉ về địa cực, chứ không phải phương Xích đạo như ngày nay. Phương này trong Ngũ hành thuộc về hành Thủy (nước). Do đó tên nước Xích Quỷ thực ra là cách phiên thiết của chữ Thủy = Sủy, chỉ phương Nước mà thôi. Lạc cũng vốn phát âm là Nác, mà tiếng Nghệ Tĩnh ngày nay vẫn đang nói để đọc từ Nước. Lạc nghĩa là Nước, là Thủy, là phương Nam xưa.
Chính điện đình Triệu Phú (Hùng Sơn, Phú Thọ)
Câu đối ở đền Hùng, Phú Thọ:
Khải ngã Nam Giao, Hồng Lạc thiên thu tôn đế quốc
Hiển vu Tây Thổ, Tản Lô nhất đái thọ tân từ.
Dịch nghĩa:
Mở đất Nam Giao, Hồng Lạc nghìn thu xưng đế quốc
Sáng vùng Tây Thổ, Tản Lô một dải mãi lưu đền.
Dòng Lạc tộc của Kinh Dương Vương đã kết hợp với dòng Long tộc Động Đình mà sinh ra Lạc Long Quân. Con Rồng là biểu tượng của phương Đông trong Tứ linh, xuất xứ từ vùng ven biển Động Đình, tức biển Đông. 2 dòng Lạc ở vùng trung du Bắc Bộ và dòng Long ở ven biển Đông đã hợp nhất dưới thời vua cha Lạc Long Quân. Từ đó chữ Lạc cũng dùng chung với nghĩa Lạc Long, chỉ 2 vùng đất này ở miền Bắc Việt.
Phương hướng trong cổ sử Hoa Việt
Dòng Lạc Thị từ Kinh Dương Vương – Lạc Long Quân được thờ tập trung ở vùng Thuận Thành, Gia Bình (Bắc Ninh) với những di tích tiêu biểu như lăng Kinh Dương Vương ở Á Lữ (Thuận Thành), đình Đại Bái thờ Lạc Long Quân, đền Bình Ngô thờ Hùng Vương…
Lạc Long Quân khi nhận ngôi của Kinh Dương Vương đã phải làm một cuộc “cách mạng”, giành quyền cai quản từ dòng phía Tây là Đế Lai. Nhờ dựa vào những người anh em “cùng một bọc trứng” rồng của mẹ Thần Long mà Lạc Long Quân đã trở thành đức Vua cha Bát Hải, đứng đầu Thủy phủ Động Đình.
Câu đối ở đền Đồng Bằng, nơi thờ đức Vua cha Bát Hải Động Đình:
Bình Thục trứ nguyên huân, mỹ tai Hồng Lạc sơn hà, bi kệ trường minh Đào Động miếu Lịch triều long tự điển, tế thử Á Âu phong hội, sương uy do tại hải môn thu. Dịch nghĩa: Dẹp Thục nên công đầu, đẹp thay núi sông Lạc Hồng, bia kệ sáng dài Đào Động miếu Trải triều thịnh điển lề, đến nơi phong hội Á Âu, uy sương còn mãi hải môn thu.
Hình Rồng ở đền Đồng Bằng (Quỳnh Phụ, Thái Bình)
Những người anh em phò trợ Lạc Long Quân được kể dưới nhiều cái tên. Đó là Thổ Lệnh và Thạch Khanh, hai vị thần Tam Giang ở bến Việt Trì. Đó cũng là 5 anh em của Trung Thành Phổ Tế Đại vương được kể ở vùng Thường Tín, Phủ Lý. Bên Hồ Tây thì đó là Uy Linh Lang và Đoài Hồ Thất giáp, lục bộ thủy phủ đã diệt con Cửu vĩ Hồ (người Hồ ở hướng Tây). Trong tín ngưỡng Tứ phủ thì đó là Ngũ vị tôn quan, lập nên Ban công đồng của Tứ phủ.
Trong truyền thuyết về Tản Viên Sơn thì Lạc Long Quân và những bộ tướng Thủy phủ được kể bằng các tên là Quý Minh như ở Ghềnh Bợ (Ba = Quan Đệ tam Thoải phủ) hay 5 vị thủy thần ở La Phù bên bãi Trường Sa của Đà giang. Đây cũng là các “Lạc tướng” dưới trướng của Lạc Vương (Long Quân), vì hiển nhiên các vị này cùng họ với Lạc Long Quân. Công nghiệp lớn nhất của họ là “phù Hùng đánh Thục”, tức là giúp Lạc Long Quân (vua cha Hùng Vương) đánh dòng phía Tây (Thục) của Đế Lai, lập nên nước Hồng Bàng hay Việt Thường.
Lạc triều từ Lạc Long Quân (hoặc từ Lộc Tục Kinh Dương vương) trải 18 đời (con số ước lệ) đều gọi là Hùng Vương, lấy theo tên của Thái tổ Hữu Hùng Đế Minh. Đến đời Hùng Vương thứ 18 là Duệ Vương thì thiên hạ họ Hùng đã trải rộng vượt bờ Hoàng Hà. Trên vùng đất Lạc lúc này có thủ lĩnh là Lạc tướng Cao Sơn mà truyền thuyết chép mang tên Sùng Lãm. Sùng có nghĩa là Cao. Truyền thuyết Trung Hoa gọi là Bắc Bá hầu Sùng Hổ của thời Ân Thương.
Chính điện đình La Phù (Thanh Thủy, Phú Thọ)
Hậu duệ của dòng theo Đế Lai đi về phía Tây (lên núi) lúc này là Âu Cơ hay Cơ Xương, là Tây Bá hầu của nhà Ân. Cơ Xương phát động cuộc đại chiến, tiến đánh Sùng Hầu Hổ ở đất Lạc, truyền thuyết gọi là Thục đánh Hùng Duệ Vương. Lạc tướng Cao Sơn cùng với những dòng tộc khác trên đất Lạc là Tản Viên Nguyễn Tuấn và Quý Minh Nguyễn Hiển chống lại sự tấn công của quân Thục ở vùng thượng du sông Đà, sông Thao (Mộc Châu, Quỳnh Nhai). Quân Thục của Cơ Xương giành phần thắng, đất Lạc bị dòng Âu Cơ chiếm. Cơ Xương dời đô từ Kỳ Sơn về Phong Châu (Phú Thọ), hợp nhất 2 vùng đất Âu (tức Ai Lao, hay vùng cao nguyên Vân Quý) và đất Lạc (tức vùng Nam Giao – Giao Chỉ thời Nghiêu Thuấn Vũ), gọi là nước Âu Lạc.
Cơ Xương băng, con trai là Cơ Phát đã phát động các chư hầu làm cuộc tổng tấn công nhằm vào Trụ Vương. Vua Ân chết ở Lộc Đài vào mùa thu, hóa thành Vua Địa phủ. Ngày vua Ân chết trở thành ngày Xá tội vong nhân, khi mà cánh cửa Dương gian và Địa phủ mở ra để Âm Dương có thể quy về hòa hợp.
Thục Vương Cơ Phát (Thục Phán) lên ngôi Thiên tử, xưng là Vũ Vương, truy phong cho cha là Văn Vương, nên lấy tên nước là Văn Lang. Cơ Phát dời lại đô về phía Tây ở Cảo kinh. Vùng đất Lạc ở phía Đông trở thành nơi tế tự tổ tiên họ Hùng và Văn Vương trên núi Nghĩa Lĩnh.
Vũ Vương băng, Thành Vương nối ngôi còn nhỏ, Chu Công Đán cùng Thiệu Công Thích nhiếp chính. Hậu duệ của nhà Ân là Vũ Canh cùng với ba vị giám thúc nổi loạn. Chu Công xuất thân Đông chinh, bắt đám “ngoan dân” của nhà Ân về an trí tại đất Lạc. Thượng thư có mấy thiên nói về viên việc này:
Thiệu cáo (lời của Thiệu Công với Thành Vương và Chu Công): Qua bảy ngày, Giáp tí, Chu Công bén sớm ra dùng thư để ra lệnh cho dân Ân… Dân Ân đều tới làm. Sau đó Thiệu Công đã trình bày sự việc và xin vua (Thành Vương) xá tội cho dân Ân ở đất Lạc.
Lạc cáo (lời đối thoại giữa Chu Công và Thành Vương): Duy thánh ba ngày rằm, Chu Công bắt đầu dựng nền, làm ấp lớn ở nước miền Đông là đất Lạc… Hỡi người do vua sai khiến! Dân Ân chịu lời dạy dỗ, muôn năm cũng vẫn xem mãi ông vua, cháu ta mà mến đức. Ngày Mậu Thìn nhà vua ở ấp mới làm lễ tế chưng hàng năm, tế Văn Vương 1 trâu, Vũ Vương 1 trâu…
Đa sĩ (lời Chu Công nói với các quan nhà Ân):Duy tháng ba, Chu Công bắt đầu ở ấp mới là Lạc, bèn bá cáo với các quan của vua Thương cũ… Bảo cho các ngươi, các quan nhà Ân được hay! Ta không giết các ngươi. Lúc này ta chỉ lại ra lệnh. Nay ta làm ấp lớn ở đất Lạc này. Ấy là ta vì không có chỗ tiếp đãi bốn phương. Và cũng vì các quan các ngươi chạy bạy làm việc, gần vớ nhiều kẻ biết nhường nhịn của ta… Các ngươi hãy nhận lấy ruộng đất của các ngươi! Các ngươi hãy yên ổn ở lại mà làm việc!…
Vùng đất Lạc lúc này ngoài dòng tộc của Lạc Long Quân xưa (Cao Sơn và Quý Minh) đã có thêm dòng tộc của Âu Cơ Văn Vương và của dòng nhà Ân Thương (Việt Thường) đến lập Lạc ấp. Việc yên định hậu duệ của nhà Ân ở đất Lạc là mối lo của các đời vua Chu từ Thành Vương đến Khang Vương, tới Tất Cônghọ Phan mới thành toàn được vùng Đông đô này:
Tất mệnh (lời Khang Vương truyền cho Tất Công): Than ôi! Cha Thái sư! Vì Văn Vương, Vũ Vương ra đức lớn với thiên hạ nên được nhận ngôi của nhà Ân. Nhờ Chu Công giúp đỡ vua trước, yên định được việc nhà. Khó nhọc với đám dân ngoan ngạnh của nhà Ân, dời họ sang ấp Lạc gần kề nhà vua, họa hóa theo lời dạy bảo. Trải qua ba kỷ (mỗi kỷ 12 năm), đời đổi, thói dời… Sự yên nguy của nước chỉ là trông bọn dân Ân ấy. Không cương, không như đức mới thực tu! Duy Chu Công cẩn thận được ban đầu. Duy Quân Trần thỏa hiệp được khoảng giữa. Duy ông thành toàn được đoạn cuối.
Vế đối có chữ Lạc Đô ở đình Tân Khai
Câu đối ở đình Tân Khai ở trung tâm Hà Nội gọi đích xác nơi này là “Lạc Đô”:
Đại La thành nhất đái giang sơn, Long Đỗ chí kim do thắng tích
Tứ vọng tự lũy triều hương hỏa, Lạc Đô chung cổ độc anh thanh.
Dịch nghĩa:
Thành Đại La một dải núi sông, Long Đỗ tới nay còn thắng tích
Bốn đền trấn các triều hương lửa, Lạc Đô tự cổ dậy tiếng thơm.
Thời Chu U Vương vùng Tam Xuyên (tức là vùng Tam Giang trên đất Lạc) gặp trận động đất lớn là điềm âm thịnh dương suy. Thái sử nhà Chu là Lão Tử Lý Bá Dương đã đăng đàn trên núi Thất Diệu, nhắc lại ân oán của 2 nhà Hạ và Thương (cùng là dòng Lạc Long) ở đây để răn dạy vua Chu. U Vương sủng ái Bao Tự, hóa thân của dãi rồng từ thời Hạ, dẫn đến mất nước. Nhà Chu buộc phải dời đô về Đông, tức là về vùng đất Lạc của tổ tiên họ Hùng xưa, đóng đô ở Đông Ngàn Cổ Loa, gọi là Lạc Dương. Dương là hướng mặt trời lên, chỉ phương Đông.
Câu đối ở nghi môn đền mẫu Bạch Kê trên núi Thất Diệu:
Hồng Lạc di phong trang thể thế
Tiên Long dư duệ khải hồng cơ.
Dịch nghĩa:
Di tích Lạc Hồng đẹp hình thế
Dòng dõi Tiên Long mở cơ đồ.
Câu đối ở miếu Bạch Kê
Cuối thời Chiến Quốc, nước Tần ở phía Tây trên đất Ba Thục trở nên hùng mạnh. Tần Vương (cũng gọi là Thục Vương) đánh chiếm đất Chu của họ Hùng, sát nhập vùng đất Lạc với lãnh thổ phía Tây của nhà Tần nên cũng được gọi là nước Âu Lạc. Tần Thủy Hoàng xưng Đế, thống nhất thiên hạ Trung Hoa.
Chế độ hà khắc của Tần không được lâu. Một người từ vùng đất Phong Bái, tức là đất Lạc, là Lưu Bang đã dựng cờ khởi nghĩa ở vùng núi Châu Sơn Vũ Ninh. Nước Vạn Xuân lập ra rồi lại tách làm 2 phần sau khi Lữ Hậu mất. Nước Nam Việt có địa bàn nằm trên vùng đất Lạc Long xưa, nên Triệu Vũ Đế được coi là dòng Lạc Hùng như câu đối ở điện Xuân Quan bên sông Hồng:
Bạt địa nguy thôi phương tích bất tùy Tần Hán khứ
Xung thiên để trụ anh tiêu trường yết Lạc Hùng lai.
Dịch là:
Bạt đất mênh mông, danh tiếng thơm bất khuất thời Tần Hán
Động trời cột trụ, chí anh hùng giữ mãi buổi Lạc Hùng.
Nhà Triệu truyền 5 đời tới Triệu Vệ Dương Vương thì thất thủ bởi cuộc tấn công của nhà Hiếu vào Phiên Ngung. Vua Triệu cùng với thừa tướng Lữ Gia đem gia quyến lên lâu thuyền chạy về phía Tây, về đất Lạc xưa ở cửa biển Đại Ác. Không may, vua và Lữ Gia đều bị bắt giết. Nhưng các vị hoàng phi nhà Triệu mang họ Lữ tiếp tục ngược sông Đáy, chạy về vùng Phong Châu, làm nên cuộc khởi nghĩa Trưng Vương. Trưng Vương là dòng “Lạc Hùng chính thống“, khởi nghĩa trả thù cho chồng là “Lạc tướng Chu Diên“, đọc lời thề ở Hát Môn.
Câu đối ở đền Đồng Nhân thờ nhị vị Trưng Vương, nói rõ Trưng Vương đã tiếp nối dòng Lạc, dựng nước Đinh:
Tiếp Lạc, khai Đinh, quan miện xưng vương tam tải sử
Khu Tô, kháng Mã, sơn hà hoàn ngã vạn niên phương.
Dịch là:
Tiếp Lạc Hồng mở Đinh Tây, áo mũ xưng vua ba mùa lưu sử sách
Đuổi Tô Định chống Mã Viện, núi sông thu lại vạn xuân truyền danh thơm.
Câu đối trên đá ở đền Đồng Nhân
Câu đối ở đình Nôm, thờ thánh Tam Giang, một vị đại tướng của Trưng Vương, lấy cháu gái của Triệu Vũ Đế là Triệu Mỵ Nương, nói tới Trưng Vương thu được 65 thành và đóng đô ở “Đông Lạc”:
Lục thập thành Đông Lạc đại đô, Hán thị sơn hà ki khả chuyển
Bách thiên tải Nam triều danh tích, Trưng gia nghĩa liệt khải năng ma.
Dịch nghĩa:
Sáu mươi thành đô lớn Đông Lạc, thời Hán núi sông mà lay chuyển
Trăm ngàn năm tích nổi Nam triều, nhà Trưng công nghĩa chẳng từ.
Khởi nghĩa Trưng nữ Vương thất bại, nhưng hậu quân của Nam Việt nhà Triệu vẫn tiếp tục duy trì ở vùng Tây Bắc và Bắc Trung Bộ dưới tên Nam Triệu (Nam Chiếu) của Triệu Ông Lý. Lạc Dương thời Chu Thục trở thành Giao Chỉ với thủ phủ ở Long Biên.
Tới thời Đường, Lạc Điêu ngự sử Cao Biền được cử sang An Nam bình định Nam Chiếu. Chữ “Lạc Điêu” thực ra là Lạc Diên mới đúng, là đọc chệch của từ Lạc Dương. Cao Biền đuổi quân Nam Chiếu ra khỏi vùng đất Lạc Dương, xây thành Đại La.
Hội đình Kim Lan
Câu đối ở đình Kim Lan, thờ Cao Vương Biền:
Châu lĩnh ngật đồi ba, Hồng Lạc sơn hà lưu thắng tích
Nhị hà bồi xuân sắc, Thăng Long cố chỉ ánh Đại La.
Dịch nghĩa:
Đất ngọc sóng vờn vun, non nước Lạc Hồng lưu thắng tích
Sông Nhị đắp xuân sắc, nền cổ Thăng Long sáng Đại La.
Dòng dõi Lạc Vương, Lạc Hầu, Lạc Tướngsau khởi nghĩa Trưng Vương còn chưa dứt, bởi tới khi chúa Nguyễn Hoàng dựng nghiệp, Gia Long, Minh Mệnh lập lại đế quốc Đại Nam thì vẫn nhận mình là dòng dõi Hùng Vương, như được ghi trong Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả.Chúa Nguyễn Hoàng nay được thờ là ông Hoàng Mười với sự tích cho rằng là con của Vua cha Bát Hải giáng thế. Vua cha Bát Hải là Lạc Long Quân nên sự tích này ý chỉ họ Nguyễn là dòng dõi của Lạc triều xưa.
Trang ngọc phả đề Hùng Vương năm 32
Nhà thờ họ Nguyễn ở Kẻ Xốm (Vân Nội, Phú Lương, Thanh Oai), nơi lưu giữ Cổ Lôi ngọc phảtruyền thư và Bách Việt triệu tổ cổ lục, luôn coi mình là dòng dõi Kinh Dương Vương. Đình Bình Đà thờ thủy tổ Lạc Long Quân với bức giá tượng cổ Hùng Vương Sơn Nguyên Thánh Tổ. Khu vực Thanh Oai này cũng là “quê mẹ” Bồng Lai của hoàng tử Linh Lang, tức là Lạc Long Quân trong truyền thuyết. Như thế 2 cuốn phả tộc họ Nguyễn trên thực chất là ghi chép lịch sử người Việt từ góc độ của dòng Lạc theo cha, khác với những truyền thuyết chép từ góc độ của dòng lên núi theo mẹ Âu Cơ nước Văn Lang xưa.
Có thể họ Nguyễn = Nguyên, là số 1, chỉ phương Nam xưa trong Hà thư, hành Thủy. Tức là Nguyễn cũng tương đương với Lạc.
Cấm cung đình nội Bình Đà
Lịch sử hơn 4.000 năm, từ khi Lạc tộc khai phá phương Nam, Lạc Long Quân mở nước về miền biển Đông, Thục Vương dời đô về Lạc ấp, Tần Vương thống nhất Âu Lạc, Triệu Vũ Đế khởi binh, Trưng Vương nêu cao ngọn cờ Lạc Hùng chính thống, Cao Vương xây thành Đại La, cho tới các vua Nguyễn hưng thịnh nước Đại Nam. Dòng máu Lạc Hồng chưa hề ngừng chảy trong con tim mỗi người dân Việt.
Nhà Chu kể từ lúc dời đô về phía Đông thì đã suy. Thậm chí, quyền lực của Thiên tử Chu từ lúc này đã bị coi là đã mất. Các chư hầu lần lượt xưng Bá vào thời Xuân Thu. Sang thời Chiến Quốc thì danh xưng Vương đã không còn là độc quyền của Thiên tử Chu mà hàng loạt nước mạnh đã lần lượt xưng Vương như Sở, Tề, Ngụy…
Nước Tần vốn là vùng đất xa xôi hẻo lánh, đầy rẫy Nhung Địch, khác xa với các cường quốc Sơn Đông. Vây tại sao nước Tần lại có thể nhanh chóng trở nên hùng mạnh, thôn tính cả nhà Chu rồi lần lượt diệt lục quốc, mà xưng Đế thiên hạ?Vào thời Chiến Quốc, phong trào Bách gia chư tử nở rộ, nhân tài như long vân tụ hội, quyết cùng nhau tranh giành… công chúa Mỵ Nương trong cuộc đua tài bên lầu kén rể ở bến Việt Trì. Các nước đồng loạt thực hiện những chính sách cai trị mới, với đặc điểm chung là dần dà bỏ những quy định về Lễ đã đặt ra từ thời Chu Công. Thế nhưng, nước thực hiện biến pháp thành công nhất lại là nước Tần? Vì sao vậy?
Chế độ phong kiến – phong tước kiến địa, thế tập cha truyền con nối được xác lập vào thời Hùng Quốc Vương, người con cả trong Bách Việt, đã phân cho trăm anh em ở các nơi đầu núi góc biển làm phiên thần, thổ tù, quan lang, phụ đạo, hình thành nên trăm nước chư hầu của nhà Chu. Các chư hầu được phong phần lớn đều là tông thất nhà Chu và những công thần lập quốc, tham gia phạt Trụ diệt Ân cùng Chu Văn Vương, Chu Vũ Vương. Chế độ phong kiến phân quyền của nhà Chu đã tạo thành nếp gấp sâu đậm trong xã hội của thiên hạ Trung Hoa. Lễ nhạc do Chu Công đặt ra trở thành tiêu chuẩn mẫu mực cho trăm nước noi theo.
Nước Tần lại không giống các chư hầu khác của nhà Chu, nó được hình thành muộn hơn nhiều. Thời Chu Mục Vương, Tạo Phụ là người đánh xe cho Mục Vương có công được phong đất ở Triệu Thành, lấy đó làm họ. Đến đời Chu Hiếu Vương, có Thân hầu, có tổ tiên là ông Bá Ế thời Đại Vũ giỏi việc chăn nuôi, nên Chu Vương đã cho Thân hầu lập đất Tần, lấy họ Doanh của Bá Ế để… chăn ngựa với người Khuyển Khưu. Mãi đến thời Chu Bình Vương, họ Doanh có công phò vua Chu đánh Khuyển Nhung mới được phong ở đất Kỳ Phong, bắt đầu hình thành nước Tần.
Như vậy nước Tần được thành lập rất muộn, mãi tới thời Đông Chu mới chính thức được ban phong. Đất Tần lại vốn là nơi người Khuyển Nhung chăn ngựa, nên dân Tần thực ra chủ yếu là người Nhung Địch. Mãi sau này cả đến khi Tần xưng Vương thì một nước của người Rợ là Nghĩa Cừ vẫn thường xuyên quấy phá và là mối họa của nước Tần.
Chính vì xuất xứ của nước Tần không từ việc phân phong công thần của thời Chu Vũ Vương diệt Trụ, người Tần lại không phải công hầu quý tộc thân vương của nhà Chu, dân Rợ, Nhung chiếm phần nhiều, đã tạo ra một xã hội “kém phát triển” nhất về chế độ quý tộc thế tập so với các nước chư hầu lớn khác. Đây lại là điều kiện tuyệt vời cho việc thực hành Pháp trị, bởi theo tư tưởng của Pháp gia: “Chúng sinh bình đẳng“. Ai có công được thưởng, có tội phải xử, không phân biệt tầng lớp, thân thế.
Lệnh bài Tần Vương với dòng chữ: Giáp Ngọ trung hưng, Hành tẩu biến địa, Chúng sinh bình đẳng
Chế độ Pháp trị do Thương Ưởng thực hành ở Tần là nơi dễ thành công nhất, do tầng lớp quý tộc của Tần vốn ít và yếu, chế độ Tông pháp của nhà Chu hầu như chưa thực hành ở Tần được bao nhiêu. Trong khi đó, Pháp gia ở các nước chư hầu đều không được hoan nghênh, hay thực hiện không thành công như trường hợp Thân Bất Hại ở nước Hàn. Nguyên nhân chủ yếu là do chế độ Tông pháp thế tộc đã ăn sâu ở các nước này.
Biến Pháp của Thương Quân tiếp tục được duy trì tại Tần quốc ngay cả khi Thương Ưởng bị Tần Huệ Văn Vương xử ngũ mã phanh thây. Với sức mạnh của biến pháp Huệ Văn Vương đã chính thức xưng Vương ngang hàng với các chư hầu lớn, đánh chiếm Ba Thục, đất gốc tổ của nhà Chu.
Sang thời Tần Võ Vương, rồi Tần Chiêu Tương Vương với Tuyên Thái hậu nhiếp chính, Pháp trị tiếp tục được duy trì, là nền tảng để tạo nên sức mạnh của nước Tần mà thâu tóm toàn thiên hạ. Tần Chiêu Tương Vương nhanh chóng diệt Tây Chu, rồi Đông Chu, chính thức trở thành Thiên tử thay thế cho nhà Chu. Để rồi đời sau, Tần Thủy Hoàng diệt lục quốc, thống nhất thiên hạ, xưng Đế, xóa bỏ chế độ thế tập phân phong của nhà Chu, lập nên chế độ trung ương tập quyền, quản lý theo quan chế quận huyện.Xã hội Trung Hoa vào thời Tần đã tiến thêm một bước, từ chế độ phong kiến phân quyền 1 nhà 100 nước, trở thành một nước thống nhất từ trên xuống dưới.
Mặt trống đồng với vòng chữ Đại triện và hình ảnh đạo quân Tần hùng mạnh
Sách sử Trung Quốc ngày nay một mặt thì chê bai nước Tần hung bạo, hoang dại, man di, mặt khác lại đề cao công nghiệp thống nhất của Tần Thủy Hoàng. Ngay cái tên China ngày nay cũng là từ tên gọi nước Tần mà ra.Còn người Việt, một mặt không thể bác bỏ những chứng cứ hiển nhiên trên các hiện vật khảo cổ về sự có mặt của nhà Tần tại Bắc Việt, cũng như những ghi chép lịch sử về sự chiếm đóng, lập quận huyện của Tần tại Lĩnh Nam, nhưng mặt khác lại luôn khăng khăng là Thục An Dương Vương đã đánh bại 50 vạn quân Tần của Đồ Thư. Đúng là một sự gán ghép vô căn cứ về mọi mặt, hiện vật khảo cổ cũng như sử sách.
Sự có mặt của Tần Thủy Hoàng trên đất Việt ít nhất được biết đến trong 3 di sản còn lại đến ngày nay:
1. Lý Thân, là Tư lệ hiệu úy của nhà Tần, được Tần Thủy Hoàng gả con gái là Bạch Tĩnh công chúa, rồi sai làm đại tướng trấn thủ người Hồ ở Lâm Thao.
2. Ngự sử đại phu của Tần là Thôi Lượng, người đã cho sửa sang miếu thờ Ân Vương trên núi Châu Sơn (Quế Võ, Bắc Ninh) trong Truyện Giếng Việt.
3. Đạo sĩ Yên Kỳ Sinh, người đã gặp Tần Thủy Hoàng trong các cuộc Đông du ven bờ biển Nam Hải, dưới chân ngọn núi Yên Tử ở Quảng Ninh ngày nay.
Tượng Lý Ông Trọng và Bạch Tĩnh Công chúa ở đình Chèm
Còn có nhiều tướng lĩnh thời Tần, hay chống Tần khác được thờ phụng trên đất Việt, trong các di tích đền miếu trải khắp ở Bắc Bộ. Chưa kể đến khả năng vị Nam Hải Đại vương được thờ ven biển Thái Bình, Nam Định chính là Tần An Dương Vương trong các cuộc Đông du Nam Hải vậy.
Chế độ Tông pháp có thể là chiếc “móng rùa” mà thần Cao Lỗ (Chu Công) đã dùng để chế ra chiếc nỏ thần của Thục Vương. Triệu Trọng Thủy là tôn thất nước Tần, đã phá bỏ chế độ Tông pháp, xác lập một “nỏ thần” khác là chế độ Pháp trị. Chính vì thế mà Thục Vương mất nước, nhà Tần lên làm thiên tử, lấy đất hai nhà Chu chia thành các quận Tượng, Tam Xuyên, Quế Lâm.
Tiếp theo thời Tần, thiên hạ Trung Hoa được thống nhất bởi một “đình trưởng” vô danh tiểu tốt là Lưu Bang, chứ không phải bởi một đại tướng quân dòng dõi nước Sở như Hạng Vũ. Thời thế đã rất rõ. Chế độ thế tập đã cáo chung. Nhường chỗ cho sự công bình giữa người với người. Tiêu chuẩn của xã hội lúc này là Pháp luật, chứ không phải là Thân tộc. Chính nhờ đó mà Trung Hoa mới trở nên thống nhất và mạnh mẽ dưới thời Triệu Vũ Đế Lưu Bang.
Kinh Dương Vương tên là Tản (Tuấn). Bố là Cao Hành, được phong ở đất Sùng. Ông Cao Hành là dòng dõi của Hoàng Đế Đế Minh ở phương Nam (đất Sùng hay đất Lạc).Thời Đường Nghiêu, hồng thủy bao trùm. Đế Nghi tìm người có thể trị thủy. Quần thần Tứ nhạc đều nói ông Cao Hành có thể làm được. Đế Nghi nghe lời Tứ nhạc dùng Cao Hành trị thủy. Ông Cao Hành lấy đất đá đắp bờ chặn dòng nước lũ, nên còn có tên là Cổn (cản). Qua chín năm mà lũ vẫn không dứt, chẳng nên công trạng. Thế rồi Đế Nghi lại tìm người, liền được Lộc Tục ở Lịch Sơn là Thuấn. Thuấn được cất nhắc, làm thay chính sự của thiên tử, đi tuần thú các nơi. Thấy Sùng Cổn trị thủy không có công trạng, bèn đày tới Vũ Sơn. Thiên hạ đều cho rằng Thuấn trách phạt đúng. Thuấn còn được gọi là Ma Thị Cao Sơn, cất nhắc con của ông Cao Hành là Tản, sai tiếp tục công việc của Cổn. Vua Nghi băng, Đế Thuấn hỏi Tứ nhạc: Có ai có thể phát huy và làm rạng rỡ được đức nghiệp của vua Nghi thì cho làm quan? Mọi người đều đáp: Tản Viên làm chức Tư không có thể phát huy và làm rạng rỡ công tích của vua Nghi. Đế Thuấn nói: Ồ, đúng. Rồi mệnh cho Tản Viên rằng: Ngươi dẹp yên nước lũ, thật gắng giỏi. Tản Viên chắp tay dập đầu nhường cho Tiết, Hậu Tắc và Cao Giao. Đế Thuấn nói: Ngươi đi coi việc của ngươi được rồi.
Tản Viên Sơn Thánh ở đền Đỗng Hoa, Thạch Thất
Khi đó Tản Viên có oai anh võ dũng, đức cao đạo lớn, có thuật thần tiên, mới đọc ước chú làm cho đá vỡ tung tóe, hiện thành cây gậy sắt, lấy gậy đó mà chỉ vào nước thì nạn thủy tai mới hết, là người có công đầu vậy (nơi Tản Viên Sơn đục đá thông nước lũ là Long Môn Thác Bờ trên sông Hắc Thủy hay sông Đà). Tản Viên cùng với Ích và Hậu Tắc vâng mệnh vua, lệnh cho chư hầu bá quan điều động nhân lực đào đất trị thủy, vượt núi cắm mốc, xác định núi cao sông cả. Hậu Tắc có tên là Kỳ Mệnh do sinh ra chốn rừng núi, được muông thú che chở. Tản Viên thương cha Cao Hành công trạng chưa thành lại bị phạt liền lao tâm khổ tứ, ở ngoài mười ba năm, qua cửa nhà không dám vào. Áo cơm đạm bạc, hết mực kính thờ quỷ thần. Cung thất giản đơn, dốc hết chi phí cho việc trị thủy. Biết Tản Viên mắc việc lâu ngày không trở về nhà, Thủy Tinh cho quân cải trang đến báo tin vợ con ông ốm nặng, mới mất, mời ông về nhà gấp. Tản Viên điềm nhiên bảo: – Sinh mạng của vợ con ta không lớn bằng sinh mạng của trăm họ. Trăm họ còn đang lầm than khốn khổ vì nước dữ. Rủi vợ con ta có bề nào chăng nữa, ta cũng không thể bỏ mọi người mà về được. Rồi Tản Viên Sơn Tinh lại tiếp tục gánh đất đắp núi. Đường đất đi bằng xe, đường sông đi bằng thuyền, đường bùn đi bằng khiêu, đường núi đi bằng cúc. Tay trái thì mang gậy thần, tay phải thì mang sách ước, mang suốt bốn mùa để vạch 9 châu, thông 9 đường, đắp 9 đầm, đo 9 núi. Lại sai Ích cho dân lúa để có thể ở trồng ở vùng trũng ẩm. Sai Hậu Tắc cho dân lương thực, lương thực thiếu thì điều động ở những nơi dư thừa, cung cấp cho nhau, cân đối lương thực giữa các nơi. Tản Viên theo miền biển mà về, vào cửa biển Thần Phù, lại qua các quận, muốn tìm được đất tốt, lên núi Đông Nhạc, Yên Tử, xem cảnh trí, nhân qua ở Phạm Xá, Hoa Quật. Rồi đó ngược sông Cái mà qua đất Long Biên. Tiếp tới bến Chấn, muốn ở lại đó nhưng rồi lại ngược sông Lô lên thượng nguồn, qua huyện Phúc Lộc, tới bến Bạn Phiên, nhìn về núi xanh Tam Đảo, đất quý hội loan là đô thành cũ của Hùng Vương. Nhân đó về Mộc Châu xem ngắm phong thủy, theo thế rồng uốn lượn cho đến núi Tản Viên, thấy có 3 ngọn cao vót hơn vạn nhận, thật là đẹp thay, mờ tỏ không thể gọi tên được. Lại thêm nhiều xóm thôn dân cư trù phú tập trung, bất giác thấy lòng trong sáng, chất phác mà thích thú vô cùng. Bèn mới mở một con đường lên, lập cung ở đỉnh đó, thuộc đất của sách Thủ Pháp (nay là Thượng thần cung theo hướng Cấn – Khôn làm chỗ ngự chính, còn Hạ thần cung là nơi để cầu đảo, cung Đông Tây là nơi cáo chúc, Nam Bắc thần cung là nơi tạm trú). Núi Ba Vì là núi Đại Tông của Tản Viên.
Nghi môn đình Phú Hữu, một nơi thờ Tản Viên Sơn
Vương lúc thì đi ra sông Tiểu Hoành xem đánh cá, qua các huyện Ma Nghĩa, Phúc Lộc, lạc tới xứ Bi Bi xã Cổ Đằng, thường tạm trú ở đó. Đến xã Tam Vật Lại thấy phong cảnh đẹp mà lập hành cung. Lại đi xem đánh cá ở sông Tiểu Hoành, qua tám xã Thuỵ Phiêu, Tam Sơn, Lễ Toàn, Nhân Lý, Văn Khê, Xuân Hương, An Phúc, Tung Cao của huyện Phúc Lộc, rồi xa giá trở về cung, xa trông cửa biển Thần Phù, sai người dân không được làm tắc đường thủy. Lại thường đi săn tới xã An Diệu huyện Mỹ Lương, tạo cung Mang Sơn, lưu ruộng thờ để cho việc thờ cúng, định việc hàng năm tiết Xuân, tiết Đông nhân dân các xã theo như lệ đánh cá cùng nhau thờ phụng. Tháng 8, tháng 9 xã Tam Vật Lại phụng đón tới xã Khả Lê, lập làm điện thờ bằng tranh cỏ, đánh cá để tế các thần, cùng người dân địa phương đều đến đền để làm lễ phụng thờ. Thế là chín châu đại đồng, bốn cõi an cư, 9 núi tế Lữ, 9 sông khơi dòng, 9 chằm có đập, bốn bể lưu thông. Đồ cống tế của các chư hầu có Voi 9 ngà, Gà 9 cựa, Ngựa 9 hồng mao. Vua ban đất và đặt tên họ trong nước. Nước Xích Quỷ Đông vươn đến biển, Tây chạm đất Lào (Lưu Sa thiết La), Bắc Nam trải dài, thanh giáo trùm khắp bốn bể. Bấy giờ Ma Thị Cao Sơn mới lập chúc thư, giao lại toàn bộ vùng kinh đô núi Tản sông Đà, truyền lại ngôi vị cho Tản Viên. Cao Sơn Đế Thuấn băng. Tản Viên lên ngôi gọi là Kinh Dương Vương, lấy họ là Nguyễn. Vương thường đi vãng du đến sông Tiểu Hoành xem đánh cá tới xã An Vệ huyện Ma Nghĩa thấy một khu Thanh Lan Bảo Sơn, có hình rồng chầu về tổ, mới lập làm cung xá để ở, lấy xã An Vệ làm tạo lệ phụng sự hương hỏa, mỗi năm mùa xuân tháng 2 dùng trâu một con, dê một con, lợn một đầu mà làm nghi lễ cúng tế. Vương thường đi săn bắn tới xã Cổ Đằng huyện Ma Nghĩa nghỉ ngơi, lập cung xá gọi là Nam cung điện, ở xứ Bi Bi lập 4 cột đá, 8 con lợn đá gồm 1 lợn mẹ và 7 lợn con để lưu làm di tích. Lấy xã Cổ Đằng làm tạo lệ phụng sự hương hỏa, mỗi năm mùa xuân tháng 2 dùng trâu một con, dê một con, lợn một đầu mà làm nghi lễ cúng tế. Vương thường đi vãng du sông Tiểu Hoành xe đánh cá đến xã Tam Sơn huyện Phúc Lộc lập làm cung xá một dãy, tạm trú ở đó, nay gọi là điện Cửu Miếu. Hàng nằm các xã Tam Sơn, Nhân Lý, Văn Khê, Xuân Hương, Lễ Toàn, An Phúc, Tung Cao lấy ngày 10 tháng 10 phụng nghênh tại điện Quán Thánh đến điện Cửu Miếu, cùng nhau thờ cúng, tới ngày 15 đánh cá để làm lễ cúng tế.
Lăng mộ Kinh Dương Vương ở Á Lữ (Thuận Thành, Bắc Ninh)
Mười năm sau, Kinh Dương Vương đi tuần hướng Đông, đến Á Lữ bên bờ sông Đuống thì băng, trao thiên hạ cho ông Ích. Kinh Dương Vương hóa sinh bất diệt, đứng đầu trong Tứ bất tử và linh thần đất Việt. Nhờ có công lao trị thủy, yên định 9 châu, ông được tôn là Vua cha Nhạc phủ trong tín ngưỡng Tứ phủ. Ông Ích là chính dòng của Đế Nghi, còn gọi là Đế Lai. Sau 3 năm Đế Lai nhường ngôi (ái nữ Âu Cơ) cho con của Kinh Dương Vương là Khải, lánh ra ở phía Nam Kỳ Sơn. Con của Hậu Tắc cũng vì bị Hạ Khải bỏ chức Tắc phải lánh nạn theo ông Ích. Chư hầu các nơi đều theo Khải. Khải lên ngôi thiên tử, lấy tên nước là Hoa Hạ, xưng là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân là con trai của Tản Viên Sơn Thánh. Mẹ là Thần Long Động Đình. Mẫu Thần Long sinh ra một bọc trứng, đem vứt bỏ ở bãi Nhật Chiêu bên sông Hồng. Tới đêm bọc trứng phát sáng, tiếng nổ như sấm, rồi hóa thành 7 con rồng bay lên trên sông Nhị. Đó là Long Quân và 6 người anh em của lục bộ thủy phủ, là thất giáp Đoài hồ. Long Quân lên ngôi, họ Hữu Hồ không phục, Lạc Long Quân bèn thảo phạt, đại chiếm ở đất Chàm. Sắp khai chiến, Long Quân làm bài Chàm thệ. Đoạn diệt họ Hữu Hồ. Thiên hạ đều chầu. Long Quân sau khi dẹp loạn Cửu vĩ Hồ, định đô ở An Ấp tại Yên Phụ giữa Tây Hồ và sông Nhị, lấy tên là Uy Linh Lang.
Đình Yên Phụ thờ Uy Linh Lang
Lạc Long Quân băng, hóa sinh về biển Động Đình, thành vua cha Bát Hải của Thoải phủ. Những người anh em cùng bọc của Long Quân thành Ngũ vị tôn quan, lập thành ban Công đồng trong Tứ phủ. Con của Lạc Long Quân gọi là Hùng Vương, nối ngôi phụ đạo. Vua gọi là Phụ (Bố), vợ vua gọi là Mẫu (Ma, má). Chế độ cha truyền con nối bắt đầu là từ Lạc Long Quân vậy. Giữa thời Lạc triều, Chử Đồng Tử là một chư hầu, nhân lúc vua đi săn đã chặn đường về, tiếm ngôi, chiếm đoạt vị (công chúa Tiên Dung), lập đô ở vùng Hồng Châu (Hưng Yên). Hùng Thái Khang phải sống lưu lạc ở phương Nam xưa. Tới thời Hùng Thiếu Khang, trung hưng lại vương quyền, nhưng kinh đô đã dời đến đất Quảng Đông ở Dương Thành. Con cháu Lạc triều lại xăm mình, lội nước, noi gương Tản Viên Sơn, khai phá vùng đất Mân Việt, lấy đó làm đất thờ Kinh Dương Vương. Kinh triều cha truyền con nối, truyền 18 đời đến Hùng Duệ Vương thì con cháu của Tản Viên Sơn là Nguyễn Sùng Cao Sơn và Nguyễn Hiển Quý Minh cai quản vùng đất Sùng Lạc của tổ tiên. Hậu duệ của dòng theo Đế Lai và Hậu Tắc chạy về hướng Tây là Thục bá Âu Cơ phát binh tiến đánh nước Sùng. Cao Sơn và Quý Minh ra sức chống giặc, giữ nước, nhiều lần thắng quân Thục, nhưng cuối cùng thất bại. Sùng Hầu đành phải khuyên Hùng Duệ Vương nhường lại ngôi cho Âu Cơ. Lạc triều của Kinh Dương Vương từ đây chấm dứt. Đất Lạc nhập vào với đất Âu thành nước Âu Lạc của Thục triều. Có thơ rằng: Ban sơ Nam Việt từ Kinh Dương Thống nhất núi sông mười tám vương Hơn trăm họ truyền ngàn xưa đó Vạn năm hương lửa vạn năm hương.
Thái sử công soạn
Nguồn tham khảo:
1. Lĩnh Nam chích quái. Các truyện Truyện Họ Hồng Bàng, Truyện Hồ Tinh, Truyện Đầm Nhất Dạ
2. Sử ký Tư Mã thiên. Các phần Ngũ đế bản kỷ, Hạ bản kỷ.
3. Kinh Thư. Khổng Tử san định.
4. Tản Lĩnh sơn từ di tích của ngọc phả của Cẩm Đái (Bất Bạt, Sơn Tây), trưởng tạo lệ đền Thượng núi Ba Vì.
5. Thần tích đền An Trì của làng Yên Phụ, tổng Thượng, huyện Hoàn Long, tỉnh Hà Đông.
6. Tản Viên Đinh Phi Thánh mẫu, ngọc phả của sách Tang Ma, Thanh Thủy, Phú Thọ.
7. Sự tích núi Chẹ và núi Chẹ Đùng trong tập Dưới chân núi Tản một vùng văn hóa dân gian.