Hành trình di sản Tản Viên Sơn, nối lại mạch nguồn văn hóa

Trong vòng 2 thế kỷ vừa qua đất nước Việt Nam đã trải qua một thời kỳ chiến tranh kéo dài, cộng với những biến động đột ngột của xã hội đã dẫn đến hàng loạt những đứt gãy trong các lĩnh vực văn hóa. Mối liên hệ giữa văn hóa truyền thống và hiện đại trở nên mong manh hơn bao giờ hết. 

Sự đứt gãy văn hóa ấy có thể dễ thấy nhất là trong văn hóa vật chất như thay đổi hoàn toàn phong cách kiến trúc nhà ở truyền thống, trong hình thức quần áo xưa và nay đã thật khác xa nhau. Đó là đứt gãy mối liên hệ trong văn tự, khi mà chữ Nho tượng hình vốn là chữ viết sử dụng từ lâu đời của người Việt đã được La tinh hóa, dẫn đến thế hệ trẻ ngày nay không còn đọc được những gì cha ông mình để lại trong các văn bản, trong các di tích. Đứt gãy về tinh thần giữa quan niệm vô thần biện chứng của phương Tây bao trùm lên nền văn hóa đa thần lâu đời của người Việt. Đứt gãy về tổ chức xã hội, nơi mà cơ cấu làng xã truyền thống đã được thay bằng thể chế hành chính nhà nước từ trung ương xuống địa phương. Đứt gãy về lịch sử lại càng là vấn đề lớn, khi mà người Việt không biết mình là ai, từ bao giờ, từ đâu mà ra?

Trong bối cảnh ấy, để có thể xây dựng một nền văn hóa Việt đậm đà bản sắc dân tộc, chắc chắn cần tìm lại những gì mà cha ông chúng ta đã để lại, đó chính là các di sản văn hóa. Chỉ khi nhìn nhận đúng vai trò của di sản văn hóa, chúng ta mới có cơ hội nối lại mạch nguồn với quá khứ, để hướng tới một tương lai vững vàng và thịnh vượng hơn.

Chạm rồng nghê ở đền Vù (Vật Lại, Ba Vì)

Di sản văn hóa làng xã trước hết ngưng đọng trong các di tích thờ tự của làng xã. Ở mỗi một làng Việt xưa đều có một hệ thống các di tích của gồm đình, đền, miếu, chùa, có sự liên kết chặt chẽ với nhau thông qua tín ngưỡng đối với các vị thần được tôn thờ. Một trong những linh thần hàng đầu của tín ngưỡng làng xã ở miền Bắc đó là Tản Viên Sơn Thánh. Cho dù đây là vị thần quan trọng bậc nhất trong thần điện Việt, nhưng lại rất ít người biết đến và hiểu rõ. Phần lớn người Việt chỉ biết về Thánh Tản một cách sơ sài qua câu chuyện huyền thoại Sơn Tinh – Thủy Tinh. Trên thực tế tín ngưỡng thờ Sơn Thánh đã trải qua hàng ngàn năm lịch sử, để lại những di sản văn hóa đồ sộ vô giá ở rất nhiều làng xã người Kinh cũng như người dân tộc, miền núi cũng như đồng bằng trên miền Bắc Việt. Ý nghĩa của những di sản này không chỉ dành cho những người hoài cổ, mà vẫn đang sống động trong tâm thức làng xã và nhân dân. Đi sâu vào tìm hiểu những di sản của tín ngưỡng thờ Tản Viên Sơn Thánh cho ta một nhận thực đầy đủ hơn về giá trị của di sản văn hóa với đời sống hôm nay.

Trên hành trình di sản của Tản Viên Sơn Thánh, đầu tiên chúng tôi tìm về đền Lăng Sương ở xã Trung Nghĩa, huyện Thanh Thủy, Phú Thọ. Đây là nơi gắn với truyền thuyết bà mẹ họ Đinh đi cấy ruộng, gặp rồng vàng phun nước, đứng trên bàn đá mà sinh hạ Nguyễn Tuấn (Sơn Thánh) bên giếng. Lúc bà sinh nở, có hổ đến ngậm đá chèn bụng để giúp đỡ đẻ. Những di vật hòn đá dựa, giếng nước rồng, hổ thú đá nay vẫn còn ở trước sân đền Lăng Sương như những minh chứng xác thực cho sự tích này. Bà mẹ Thánh Tản sau trở thành bà chúa Thượng Ngàn cai quản Sơn Lâm Nhạc phủ. Còn Nguyễn Tuấn, một con người có thật đã ra đời, để rồi bước vào cõi huyền thoại của những trang lịch sử đầu tiên của người Việt.

“Tinh thần cốt cách ngọc Lăng Sương
Mở chốn Rồng thiêng xuống thế dương
Thái Thủy cũng là Thiên Thượng Mẫu
Hoài thai lâu lạ khác bao thường.”

Tảng đá quỳ nơi sinh Thánh Tản ở đền Lăng Sương

Truyện núi Tản Viên trong Lĩnh Nam chích quái kể Sơn Thánh có tên là Hương Lang, là người con cả trong số 50 người con theo mẹ Âu Cơ lên núi. Mẹ Âu Cơ quê cũng ở động Lăng Sương, tức chính là Đinh Phi Thánh Mẫu, người đã sinh ra Thánh Tản ở đây. Đền Lăng Sương là di tích cho thấy Tản Viên Sơn Thánh có nguồn gốc quê quán, có cha mẹ rõ ràng, không phải là sự thần thánh hóa tín ngưỡng thờ núi như quan niệm sai của nhiều người.

Di sản thứ hai mà chúng tôi tìm đến là đình La Phù nằm trong cùng huyện Thanh Thủy của Phú Thọ. Đình thờ Tản Viên Sơn Thánh cùng với Động Đình Tang Ma Thánh Mẫu họ Phan và người con thứ ba của Thánh mẫu. Hàng năm cứ vào ngày 12 tháng Giêng dân làng La Phù lại mở hội xuân. Đặc biệt trong ngày hội có trò cướp cây bông, diễn lại tích Tản Viên Sơn Thánh vào làng luyện quân đi đánh giặc Thục từ thời Hùng Vương. Di sản lễ hội này thật sôi nổi hấp dẫn, độc đáo, mang ý nghĩa rèn trí, luyện sức, đua tài, giúp gắn kết cộng đồng trong làng xã cũng như với du khách thập phương.

Làng La Phù cũng là nơi có bãi dâu gai (Tang Ma) hay bãi Trường Sa bên bờ sông Đà, là nơi cha Lạc Long và mẹ Âu Cơ đã gặp gỡ nhau trong truyền thuyết họ Hồng Bàng, mở đầu cho huyền sử Việt. Theo ngọc phả Lăng Sương thì đây cũng là nơi mà Tản Viên Sơn Thánh đã cứu sống con rắn thần, con của Long Vương Động Đình, để lại những lời thơ đầy lưu luyến tình cảm:

“Không gặp làm sao có kiếp sinh
Khi đi là nghĩa, về là tình,
Quay lên đỉnh Thứu, người còn vọng
Trở lại cung Rồng, khách chẳng đành
Một dải âm dương đôi tách ngả
Chín trời mây nước mộng ba canh
Tạm biệt cửa sông hai mắt dõi
Tương tư chốn ấy bởi xa tình.”

Trong những di sản văn hóa của tục thờ Tản Viên Sơn Thánh thì các thần tích và ngọc phả đóng một vai trò hết sức quan trọng. Số lượng các làng thờ Tản Viên Sơn Thánh có tới hàng trăm, mỗi làng lại có một cách kể sự tích Thánh riêng nên cũng có hàng trăm bản thần tích về Sơn Thánh. Bản thần tích dài nhất trong số này là ngọc phả của sách Tang Ma, tổng Phương Giao, huyện Thanh Thủy, Phú Thọ. Tuy nhiên ngọc phả này hiện chỉ còn lưu được bản sao trong các thư viện trung ương. Ngay địa danh “sách Tang Ma” trên thực tế đã được chia thành các xã khác nhau của huyện Thanh Thủy, không còn giữ tên xưa. Các ngôi đình cổ thờ Tản Viên Sơn Thánh và Đinh Phi Thánh mẫu ở các xã này đã bị tiêu hủy trong chiến tranh, nay mới được dựng lại một cách sơ sài.

Di tích đền miếu mất mát qua biến động của thời gian. Chữ viết tượng hình xưa dân làng nay không ai biết đọc. Mối liên hệ với tín ngưỡng làng xã trong quá khứ tưởng chừng như đã mất. Nhưng ngọc phả vẫn còn. Những câu chuyện hay, ý nghĩa về Thánh vẫn còn lưu truyền. Trong ngọc phả sách Tang Ma kể rất chi tiết về suy nghĩ và hành động của Thánh Tản báo hiếu 2 bà mẹ đẻ và mẹ nuôi của mình. Sơn Thánh nhờ lòng chí hiếu đó mà cảm động được thần tiên, được ban cho gậy thần mà trở thành Thần sư. 

“Theo trời là Tiên, người là Thánh
Trung thần với nước, hiếu gia đường.”

Đình cổ Tường Phiêu

Hay được nói đến nhiều nhất khi kể về di sản làng xã là những ngôi đình cổ kính với những mái đao chồng diêm bay bổng và nghệ thuật chạm khắc gỗ tinh tế. Nhưng ít ai để ý rằng, những ngôi đình xứ Đoài (Sơn Tây) nổi tiếng nhất như đình Tây Đằng, đình Thụy Phiêu, đình Tường Phiêu, đình Quang Húc, đình Đông Viên… đều là những nơi thờ Tản Viên Sơn Thánh. Những bức chạm cá hóa rồng, voi lồng, hươu nai… thực ra đều gắn với sự tích của Thánh Tản. Chỗ là Thánh dậy dân cày ruộng, đánh cá, săn bắn, chỗ là dậy hát múa, hội hè… Đối với người dân xứ Đoài, Tản Viên Sơn Thánh là vị phúc thần đã mang lại những điều tốt đẹp nhất cho cuộc sống của họ, đúng như lời mong ước trong bản diễn ca sự tích Tản Viên Sơn Thánh của làng Vật Lại (Ba Vì) đã nêu: 

“Ước nên thiên hạ bình an
Ước nên bốn bể phượng loan một nhà
Ước nên phong vũ thuận hòa
Được mùa bách cốc nhà nhà đủ no.”

Các tiên nhân trên núi. Chạm khắc đình Tây Đằng

Di sản của Tản Thánh không chỉ dừng lại ở xứ Đoài. Ngay ở đình Chèm, ngôi đình cổ kính tầm bậc nhất của Hà Nội cũng là nơi có sự tích gắn với Thánh Tản. Đình Chèm thờ một trong Tứ linh thần đất Việt “Hương Bổng Đổng Đằng”, mà thần Hương chính là Hương Lang hay Tản Viên Sơn Thánh. Đây có lẽ cũng là nơi mà vị “phong thủy vương” Cao Biền thời Đường đã chịu thảm bại trước Tản Viên Sơn Thánh, phải than rằng: “Linh khí ở phương Nam không thể lường được. Cái vượng khí đời nào hết được!”.

Không chỉ là các đình làng, di tích về Tản Viên Sơn Thánh còn là một hệ thống các đền thờ và nhất là các hành cung, tức là những di tích được lập tại những nơi mà Thánh đã thường ghé qua. Lớn nhất trong Ngũ hành cung Tản Viên là Đông cung đền Và ở thị xã Sơn Tây. Theo thần tích thì Đông thần cung là nơi các quan thần yết kiến Thánh Tản. Tại đây Tản Viên Sơn Thánh đã thực sự trở thành vị Vua tối cao của đất nước, nắm đại quyền thiên hạ.

Đền Và có thể coi là một di sản văn học bởi đền có rất nhiều những bức hoành phi, câu đổi cổ, tất cả đều cùng một chủ đề ca ngợi công đức và tôn sùng Tản Viên Sơn Thánh. Một câu đối rất hay của đền Và đã khái quát về Thánh như sau:

“Thần tôn là thiêng, đất tôn là thiêng, cũng người tôn mà thành thiêng, cung Đông trấn Tây cao ngất
Núi được thành thuật, sông được thành thuật, nay muốn được xem thành thuật, gậy thần sách ước diệu kỳ.”

Cái linh khí của bậc Tiên Thánh ấy là từ Trời, từ Đất và nhất là từ Con người, từ dân gian tôn mà thành thiêng. Di sản tín ngưỡng thờ thần thánh của người Việt bắt nguồn từ chính dân gian, từ chính làng xã Việt.

Tượng đá cổ Tản Viên Sơn Thánh ở đền Thượng Ba Vì

Nói về di sản văn hóa về Sơn Thánh không thể không nói đến núi Tản Viên, ngọn núi thiêng vào bậc nhất của nước Nam. Đền Thượng trên đỉnh Ba Vì là nơi chàng trai trẻ Nguyễn Tuấn ngày nào đốn củi, gặp được Thái Bạch Tử Vi Thiên Tướng, lãnh hội được cây gậy của thần mà trở thành vị thần đứng đầu Tứ bất tử trời Nam. Hiện cổ vật của đền Thượng là 3 pho tượng đá không biết có từ bao giờ, thể hiện Tản Viên Sơn Thánh, lão tiên Thái Bạch Kim Tinh và Tá Thánh Thiên Thần núi Ba Vì. Tư tưởng của Đạo Giáo về các tiên nhân phiêu du trên miền rừng núi được thể hiện rất rõ trong sự tích của Tản Viên Sơn Thánh.

Bài thơ về núi Thu Tinh, nơi có long mạch đã sinh ra Tam Vị Tản Viên Sơn Thánh, luận về việc này:

“Từ đế vương cùng muôn triệu dân
Quay về sẽ phải tụ tinh thần
Sự truyền khó luận chân hay ảo
Nhớ tên núi đó, lẽ như chân.”

Tín ngưỡng đối với Sơn Thánh đã không còn là chỉ là đền miếu dân gian mà đã đi vào kinh sách của Tam Giáo. Một trong những cuốn kinh về Tản Thánh của phong trào thiện đàn Tam Giáo thời nhà Nguyễn là Đại hóa thần kinh, với bài trùng đính ngọc phả Thánh Tản của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Lời của Đại hóa thần kinh ghi: 

“Thượng Đế sắc phong [Thánh Tản] làm Nam Nhạc thần, nắm quyền Nam Tào Bắc Đẩu, là chủ của vạn thần nước Nam. Tất cả việc nối ngắt các triều đại, hóa sinh của người vật, không có gì là không thuộc quyền xét của Thánh, là đại diện phân xử chính. Đến nay việc ra vào đi đứng, ăn uống trang phục đều như lúc còn sống. Trong các thần bất tử nước Nam thì Tản Thánh ta là đứng đầu.”

Tín ngưỡng đối với Tản Viên Sơn Thánh như thế đã lên đến hàng đầu trong văn hóa bách thần nước Nam.

Trang bìa cuốn Đại hóa thần kinh in dưới thời vua Thành Thái

Một câu chuyện có thực về vai trò của di sản Sơn Tinh trong đời sống ngày nay từng xảy ở xã Đông Xuân, huyện Quốc Oai, Hà Nội. Nơi đây xưa vốn là xã Bằng Lộ thuộc châu Lương Sơn của tỉnh Hòa Bình, là nơi sinh sống của đồng bào người Mường. Trước đây tại đình làng Bằng Lộ người Mường thờ Quốc mẫu Vua Bà, là mẹ đẻ của Thánh Tản. Tuy nhiên, trong chiến tranh giặc Pháp đã phá đình lấy gạch đá để xây lô cốt. Ngôi đình hàng tổng xưa đã bị hủy trong gần trăm năm, nhưng người dân Bằng Lộ vẫn đau đáu muốn khôi phục lại tục thờ Quốc mẫu Vua Bà. Cho dù không còn gì để làm căn cứ chính thống, nhưng nhân dân xã Đông Xuân cùng với chính quyền xã đã “mạnh dạn” góp nhau cùng dựng lại một gian thờ ở chỗ nền đình xưa. Rất may, sau đó xã Đông Xuân lại tìm được bộ bản sao các thần sắc từ năm 1938 của làng Bằng Lộ lưu trong Thư viện Khoa học xã hội. Với căn cứ di sản là các sắc phong cổ, ngôi đình xưa đã được dựng lại một cách chính thức và công nhiên. Nhu cầu văn hóa tín ngưỡng được đáp ứng trong niềm hoan hỉ của người dân.

Những câu chuyện như ở xã Đông Xuân hiện nay không phải hiếm gặp trong các làng xã cổ. Rất nhiều trường hợp chỉ bằng những di sản như một bản thần tích, một đạo sắc phong, một tấm bia đá, một bức tượng gỗ… cũng đủ để làng xã khôi phục lại cả một công trình tín ngưỡng và lễ hội truyền thống. Di sản văn hóa lúc này là mạch nối giữa quá khứ với hiện tại, là chỗ dựa cho bản sắc văn hóa vật chất và tinh thần làng xã, cho tư tưởng tín ngưỡng của nhân dân và cho cả lịch sử chân xác hàng ngàn năm của dân tộc vẫn đang còn ẩn chứa trong dân gian.

Trống đồng thời đại Thục An Dương Vương

Truyền thuyết “Chín chúa tranh vua” của người Tày ở Cao Bằng kể, trong cuộc so tài với các chúa mường khác, chúa mường Nam Cương là Thục Phán đi lấy trống đồng về đến gò Đống Lân, mệt ngủ say, chuột cắn dây trống, trống lăn xuống đồi kêu vang cả một vùng. Các chúa khác tưởng chúa đi lấy trống đã thắng nên bỏ dở cuộc thi. Nhờ vậy Thục Phán là chúa mường thứ 9, đã giành thắng lợi trước các chúa mường khác và lên làm vua.

Truyền thuyết “Chín chúa tranh vua” cho thấy ý nghĩa của trống đồng trong việc hiệu lệnh chư hầu trước các nước lân bang. Chỉ một tiếng trống vang lên cũng đã làm các chúa mường phải thuần phục. Thục Phán nhờ có trống đồng đã trở thành vua chủ của 9 tộc người. Trống đồng là thứ gì mà lại có quyền uy như vậy?

Bất ngờ lớn nhất là những thông tin về công dụng của trống đồng lại được ghi trong cuốn kỳ thư cổ đại là Kinh Dịch. Trong 64 quẻ Dịch, quẻ Dự có lời tượng như sau: Dự – sấm vang rền mặt đất, tiên vương dùng tạo nhạc đề cao đạo đức, long trọng dâng lên thượng đế cùng với tiên tổ.
Trống đồng còn gọi là trống sấm, là loại trống duy nhất khi đánh để úp xuống đất, nên lời tượng quẻ Dự nói: sấm vang rền mặt đất. Quẻ Dự như vậy có hình tượng là trống đồng. Chữ “tác nhạc” cho thấy rõ ràng trống đồng là một nhạc cụ dùng trong các buổi lễ tế. Nó chính là tổ tiên của văn hóa cồng chiêng ngày nay.
Nói đến vua Thục Phán không thể không nói tới thành Cổ Loa, tương truyền do An Dương Vương xây dựng. Cũng ở Cổ Loa, đã phát hiện đươc một chiếc trống đồng lớn cùng với những vũ khí hình như lưỡi cày đồng. Ở mặt trong vành chân đế của trống đồng Cổ Loa có khắc một dòng chữ triện, có thể đọc được như sau: “Vu tập bát cổ, trọng lưỡng cá bách bát thập nhất cân”. Nghĩa là: “Trống tế thứ 48, nặng hai trăm tám mươi mốt cân”. Chữ đầu tiên trong dòng chữ này đọc là Vu, có nghĩa là tế lễ, cầu mưa. Đây là một bằng chứng về công dụng sử dụng của trống đồng trong các buổi lễ tế trời và tổ tiên người Việt.

Trống đồng Cổ Loa

Huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa là nơi có đền thờ thần Trống Đồng, gọi là đền Đồng Cổ, nằm ở làng Đan Nê. Sách “Linh tích Tam Thai sơn” có đoạn viết về trống đồng ở Đan Nê như sau: “Trước kia, ở miếu thờ có 1 trống đồng, tương truyền là vật cổ từ thời vua Hùng, mặt trống có đường tròn 1 thước 5 tấc (0,6m), cao hai thước (0,8m), rỗng lòng không đáy, giữa mặt trống có chỗ lõm như rốn bụng, vành mép ngoài nối liền chữ triện, bốn bên có dây xoắn hình chữ Vạn, chữ lâu đời bị mòn, xoa xát cũng không rõ, xung quanh mặt chỉ còn vân hoa như hoa đẩu; núm có lỗ hổng bằng hạt đậu. Đó là trống đồng Lạc Việt nổi tiếng”.
Theo Địa chí huyện Yên Định thì tại làng Đan Nê còn lưu truyền đôi câu đối: “Vật lưu Bách Việt tổ. Kiến ấp Trịnh Lưu Hà”. Di vật còn lưu lại ở Đan Nê là chiếc trống đồng như được mô tả trong sách Linh tích Tam Thai sơn. Trên chiếc trống này còn có chữ dạng triện (sách Đại Nam nhất thống chí chép là dạng chữ khoa đẩu), là loại chữ tượng hình sớm, trước thời nhà Tần. Câu đối ở Đan Nê cho biết trống đồng gắn liền với thời Hùng Vương, là tổ của Bách Việt và dùng trong việc phong ấp cho 3 dòng họ ở đây là họ Trịnh, họ Lưu và họ Hà.
Công dụng của trống đồng dùng trong phong ấp lập họ cũng khớp với lời của quẻ Dự, nói: “Lợi kiến hầu, hành sư”. Theo lời quẻ, trống đồng được sử dụng để “kiến hầu”, tức là dùng để phong tước phong hầu, và “hành sư”, nghĩa là dùng để điều khiển quân đội.
Trong cuốn cổ thư “Trúc thư kỷ niên” có chép khi Tần đánh bại và thu phục được các tiểu quốc Tây Nhung, vua Chu Tương Vương đã ban cho Tần Mục Công những chiếc trống đồng. Đây là tư liệu sớm nhất nhắc đến trống đồng trong lịch sử. Việc vua Chu ban trống đồng có ý nghĩa như là phong vùng đất Tây Nhung mới thu phục được cho Tần Mục Công. Nói cách khác, trống đồng đã được sử dụng làm vật ban phong đất và phong tước.

Tiền tế đền Đồng Cổ ở Đan Nê

Trống đồng là hiện vật đặc trưng của nền văn hóa Đông Sơn được biết gặp nhiều nhất tại Bắc Việt, Quảng Tây, Vân Nam và Quý Châu. Phạm vi phân bố của trống đồng tương ứng với cương thổ của nước Văn Lang thời Hùng Vương, có phía Đông giáp biển, phía Tây giáp Ba Thục, phía Bắc giáp Hồ Nam, phía Nam giáp Hồ Tôn. Vùng đất Quý Châu là đất Ba Thục, cũng là nơi được ghi nhận là xuất xứ của Thục An Dương Vương.
Một chiếc trống đồng có nguồn gốc từ đất Thục ở Quý Châu với những họa tiết tạo hình và chữ viết rất độc đáo. Chiếc trống Thục này có dạng đặc trưng Heger II, cao 24cm, đường kính mặt trống 35 cm, đường kính đáy 29 cm. Ở giữa chiếc trống đồng là hình mặt trời có 16 tia, nhưng hết sức khác lạ là bên trong mặt trời lại có hình tròn với 5 vòng xoắn. Hình tròn 5 xoáy vừa là biểu tượng cho mặt trời, cũng là biểu tượng của Ngũ hành, xưa có tên là “Nhật nguyệt tinh thần”, gồm 4 tượng của các vì tinh tú và 1 hình tròn ở trung tâm. Đây là biểu tượng của nguyên thần, của những gì căn cơ nhất trong trời đất, tương tự như khái niệm Thái cực đồ âm dương sau này.
Ở vòng tròn bên trong gần mặt trời là hình 16 con chim cổ dài như cổ cò, đứng thành từng 8 cặp quay vào nhau. Mỗi con chim đứng trên một con rắn dài nhỏ. Hình Chim – Rắn khá giống cảnh đôi Hạc đứng trên lưng Rùa để chầu. Chim – Rắn cũng như Hạc – Rùa là thể hiện không gian, trên trời có chim, dưới đất có rắn rùa. Tương tự trên trống đồng Ngọc Lũ là chim bay trên trời, hươu chạy dưới đất. Rắn cũng có thể coi là tượng hình của Rồng, nên biểu tượng Chim – Rắn là dẫn chứng nữa về sự hòa hợp biểu tượng của 2 dòng Tiên – Rồng trên mặt trống đồng.
Vòng ngoài trên mặt trống gồm 4 đoạn giống nhau, phân tách bởi 4 tượng cóc. Mỗi đoạn gồm 3 cụm hoạt cảnh. Mỗi hoạt cảnh thể hiện hình một người có tóc búi đuôi sam dài, đang dương cung bắn vào một con thú, hình như con cáo. Đối diện là một hình người chim, có phần đầu như đầu chim, mỏ lớn, có 2 cánh. Tổng cộng có 12 hoạt cảnh giống nhau lặp lại ở vòng ngoài của mặt trống. Tóc đuôi sam, hình người chim đều là những biểu tượng đặc trưng có trong văn hóa Thục. Người chim được thể hiện trên cây vũ trụ tìm thấy ở Tam Tinh Đôi trên đất Thục cổ. Sử dụng nỏ thành thạo là sự liên hệ đến câu chuyện nỏ thần của An Dương Vương trong truyền thuyết Việt.
Trên mặt trống có 4 tượng cóc cõng nhau. Khác với hình cóc thường gặp trên trống đồng Đông Sơn, mỗi tượng cóc ở đây được thể hiện thành khối dày chắc chắn, ngẩng đầu, có các xoáy âm dương ở hai bên thân. 4 tượng cóc nằm ở 4 góc, thể hiện tính vuông của Đất. Trong khi mặt trống hình Tròn, chỉ tính chất của Trời. 4 góc là nơi Trời tròn – Đất vuông giao hòa mà sinh ra vạn vật. Cho nên mới có cóc đực cái giao hợp, sinh sôi nảy nở không ngừng.

Trống đồng Thục

Trống Thục có 4 chiếc quai, khá đặc biệt, không giống kiểu quai hình văn thừng như các trống đồng Đông Sơn. Quai trống Thục có hình đầu rồng có tai lớn, ngậm quai. Hình này có thể gọi là hình Tiêu đồ, đặc trưng của các đồ đồng dòng đỉnh vạc thời Thương Chu. Sự kết hợp các chi tiết biểu tượng của 2 dòng đồ đồng Trung Hoa trên cùng một hiện vật, đánh dấu sự thống nhất 2 dòng văn hóa của thiên hạ. Dòng đồ đồng mang biểu tượng Rồng là dòng theo cha Lạc Long Quân, thể hiện trên các đồ vật có chân như đỉnh, vạc thời Thương Chu. Dòng đồ đồng mang biểu tượng Chim là dòng theo mẹ Âu Cơ, thể hiện trên các trống đồng, thạp đồng Đông Sơn.
Ở vành ngoài trên mặt trống có 57 ký tự lớn ở dạng Đại triện. Niên đại của lối chữ này ước đoán vào khoảng thời Chiến Quốc, trước khi Tần thống nhất chữ viết toàn Trung Hoa thành chữ Tiểu triện. Sự kết hợp giữa trống đồng và chữ Triện là minh chứng đầu tiên và rõ ràng nhất rằng văn hóa trống đồng thuộc chung nền văn hóa chữ tượng hình phương Đông, tức là nằm trong cùng một thiên hạ Trung Hoa thời nhà Chu.
Dòng chữ ngoài cùng được đúc sâu, khá rõ nét. Lối viết Đại triện này có nhiều khác biệt nên hiện không thể đọc hết được số chữ này. Tuy nhiên trong bài minh văn của chiếc trống Thục có nói tới việc phong tước và hành sư, như đoạn câu “Vương tứ Bá” – Vua ban thưởng cho Bá, và đoạn “nội sơn tác sư” – trong núi lập ra quân đội. Dựa vào nội dung chữ đọc được trên trống, có thể thấy đây là một chiếc trống được ban cho một vị tướng tước Bá để dùng làm hiệu lệnh, xây dựng quân đội.

Sách Đại Nam nhất thống chí chép về đền Đồng Cổ ở Yên Định như sau: “Xưa Hùng Vương đi đánh Chiêm Thành đóng quân ở núi Khả Lao, đêm mơ thấy thần báo mộng, bảo vua rằng: Xin có cái trống đồng và dùi đồng giúp nhà vua thắng trận phen này. Đến khi ra trận, thì thấy trên không văng vẳng có tiếng trống, tiếng kiếm kích, rồi quả nhiên vua được toàn thắng”.
Như vậy, trong thần tích về thần Đồng Cổ, trống đồng được dùng trong việc đánh trận, điều khiển quân đội. Ở chiếc trống Thục trên, công dụng về việc hiệu lệnh quân đội thể hiện ở phần thân trống. Thân trống chia làm 3 phần. Phần tang trống có 16 hoạt cảnh người đi săn – người chim như trên mặt trống. Còn 2 phần lưng và chân trống là vòng tròn các chiến binh, gồm cụm 3 người một. Một người chống tay cầm kiếm, một người đang dương cung và một ngươi vung 2 tay như đang dùng dùi đục. Tổng cộng cả phần mặt trống và thân trống có tất cả 156 hình người. Có thể thấy đây là trống quân dùng trong quân ngũ, chứ không phải trống dùng trong tế lễ.

Mặt trống Thục

Chiếc trống đồng có chữ Đại triện là minh chứng cho mối liên hệ trực tiếp giữa vùng Bắc Việt và đất Thục ở Tứ Xuyên, Quý Châu. Những cặp đôi: Mặt trời – Ngũ hành, Chim – Rồng, Trống đồng – Chữ đại triện cho thấy thực chất cả 2 dòng Tiên – Rồng của truyền thuyết Việt đều thuộc một nền văn minh phương Đông cổ đại. Trống đồng thật sự là vật lưu truyền của tổ Bách Việt, từ cha Rồng mẹ Tiên hợp nhất trong vòng quay trường cửu quanh mặt trời ở trung tâm vũ trụ.

Thượng Ngàn Sơn Tinh công chúa

Mẫu Thượng Ngàn ở đền Măng Sơn (Sơn Tây, Hà Nội)

Ở khu vực Hòa Bình bên cạnh việc thờ Tản Viên Sơn Thánh là đức vua Ba Vì, người dân tộc Mường còn trang trọng thờ vị Quốc Mẫu vua Bà. Dân chúng Mường quen gọi Bà là Chúa Thượng Ngàn. Tại đây còn có ngọn núi được gọi là núi Vua Bà, với dòng suối Ngọc, xưa thuộc châu Lương Sơn của tỉnh Hòa Bình.Theo ngọc phả cổ của xã Đào Lãng tổng Bằng Lộ, châu Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình (nay là xã Tiến Xuân, huyện Thạch Thất, Hà Nội) thì Quốc Mẫu vua Bà sinh ra tại động Đào Lãng, mang họ Đinh tên là Điên Nương. Bà lấy ông Nguyễn Cao Hành ở động Lăng Sương rồi sinh ra Thánh Tản.

Như vậy Mẫu Thượng Ngàn ở đây được quan niệm là mẹ của Tản Viên Sơn Thánh. Trong cuốn Di tích đền thờ Tản Viên Sơn (ngọc phả của làng Ngọc Nhị, Ba Vì) cho biết Thánh Tản tên là Hương Lang, là người con đầu trong số 50 người con theo mẹ Âu Cơ lên núi. Quốc Mẫu Vua Bà rõ ràng chính là Quốc Mẫu Âu Cơ, mẹ của Tản Viên Sơn Thánh. Quốc mẫu là người đã đem các con lên khai phá vùng rừng núi nên được tôn là Mẫu Thượng Ngàn, còn gọi là Thượng Ngàn Sơn Tinh công chúa hay Lâm Cung Thánh mẫu trong Tứ phủ.

Tượng Hổ (thần Xương Cuồng) bên giếng nước nơi sinh Thánh Tản ở Lăng Sương

Trong các chuyện kể Mẫu Thượng Ngàn luôn gắn với việc chinh phục hổ như trong ngọc phả bà Ngọc Nương ở Lăng Sương được hổ ngậm đá đỡ đẻ, hay trong Sự tích cây ngàn quả và con ruồi, Sự tích Hùng Vương thứ 9 hóa hổ. Trong các sự tích này Mộc Tinh – thần Xương Cuồng nguyên hình là con hổ (Bạch Hổ), đã phải khuất phục trước Mẫu Thượng Ngàn. Mộc Tinh hay Chúa Sơn Lâm không phải là cái cây lớn, mà là ông Ba mươi, tức là ông Hổ.

Một điều rõ ràng nữa là Mẫu Thượng Ngàn liên quan mật thiết đến Sơn Thánh. Hoặc là vào thời Kinh Dương Vương (tức Tản Viên Sơn Thánh) đánh đuổi Mộc Tinh. Hoặc là mẹ của Sơn Thánh trong thần tích Lăng Sương và Quốc Mẫu vua Bà. Hoặc là mẹ nuôi Sơn Thánh trong sự tích Mẫu Thượng Ngàn và Sơn Tinh. Hoặc là con của Tản Viên Sơn Thánh trong chuyện Mẫu Thượng Ngàn đầu thai và La Bình công chúa.

Đền Suối Mỡ ở Bắc Giang, thờ Quế Hoa công chúa

————-

Sự tích cây ngàn quả và con ruồi

Sau khi bị Kinh Dương Vương đánh đuổi, Mộc Tinh sợ hãi chạy về hướng Tây Nam, tại đây nó vẫn giở trò cũ thường xuyên bắt người dân trong vùng làm lễ tế người. Mẫu Thượng Ngàn biết chuyện giận lắm, định dùng rìu để chặt đổ cây, nào ngờ thân cây quá cứng dù chặt bao nhiêu lần cũng không sứt mẻ tí nào. Mẫu Thượng Ngàn bèn dùng phép hóa thành một con sâu tinh rồi chui vào trong thân cây khiến Mộc Tinh đau đớn vô cùng vội vàng xin tha. Nó hứa rằng sẽ không ăn thịt người nữa và tặng bà một giống thần sau đó hóa thành một con hổ rồi chạy mất. Mẫu Thượng Ngàn đem hạt giống này về trồng, không lâu sau nó lớn thành một cái cây to thật là to, cành lá xum xuê che phủ một nửa bầu trời, hàng năm đều mọc ra hàng trăm thứ quả khác nhau. Bà thu hoạch tất cả và đem cho cha mình và các vị thần cùng ăn, ai nấy dùng xong đều tấm tắc khen ngon chỉ trừ một tiên nữ chê dở. Nghe vậy Mẫu Thượng Ngàn quyết định không bao giờ cho mọi người được ăn loại quả này nữa. Về phía cô gái kia thì bị các vị thần phạt hóa thành con ruồi để suốt phần đời còn lại chỉ được ăn đồ thừa của con người mà thôi.

Sự tích Hùng Vương thứ 9 hóa hổ

Hùng Vương thứ 9 là một vị vua anh minh, thương dân như con, cũng vì vậy mà được trời phù hộ giúp cho con đàn cháu đống. Nào ngờ trong một lần đi săn, ông vô tình bị Quỷ Xương Cuồng ăn thịt. Nó nhân cơ hội này dùng phép hóa thành ông để trở thành vua. Từ ngày làm vua thì Quỷ Xương Cuồng không màng việc nước, chỉ đam mê rượu chè và gái đẹp, những người chống đối đều bị nó ăn thịt cả. Lần này Mẫu Thượng Ngàn quyết không để cho Quỷ Xương Cuồng có thể chạy thoát được nữa nên hóa thành một cô gái xinh đẹp có tài thổi sáo. Chẳng bao lâu danh tiếng của bà truyền tới tai nhà vua nên được mời vào cung giúp vui. Quỷ Xương Cuồng biết bà là Mẫu Thượng Ngàn bèn bảo một khi tiếng sáo mà dừng thì bà sẽ bị giết. Khi tiếng sáo của bà vừa cất lên thì ai nấy đều cảm thấy thư thái, mọi âu lo đều bị quên lãng, thời gian trôi qua lúc nào không hay. Tới đêm thứ bảy khi tiếng sáo vừa dứt thì Quỷ Xương Cuồng đã hiện nguyên hình thành một con hổ khiến mọi người hoảng loạn bỏ chạy. Mẫu Thượng Ngàn dùng phép nhốt con hổ vào lồng và luôn giữ nó bên mình. Từ đó về sau phàm những ai phạm tội phá rừng đều bị bà đem cho hổ ăn thịt cả.

Mối liên hệ với Sơn Tinh

Một lần khi đang đi dạo trong rừng, Mẫu Thượng Ngàn phát hiện thấy xác một đứa trẻ chỉ còn lại bộ xương khô bên gốc cây. Tiếc thương vì cậu bé đã chết khi còn quá nhỏ nên Mẫu Thương Ngàn đã dùng phép hòa lẫn xương cậu cùng gan hùm, tay gấu, ruột ngựa, mắt diều hầu, chân báo cùng quả tim của bà để hồi sinh cậu. Mẫu vốn không có con cái gì, lại thấy cậu bé lanh lợi nên đã quyết định nhận cậu làm con nuôi, đặt tên là Sơn Tinh, giao cai quản vùng núi Ba Vì.
Một số truyện đề cập rằng bà mất trong cuộc chiến giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh. Sau khi mất thì bà trở lại Thiên Phủ sống cùng cha mình nhưng vì quá thương con nên bà đã cầu xin cha được phép trở lại trần gian. Ngọc Hoàng đồng ý bèn cho bà được đầu thai trở lại làm con gái của Sơn Tinh.

Hương Lang, vị thần đứng đầu Tứ linh thần đất Việt

Lời tiếm bình Việt Điện u linh của tiến sĩ thời Lê là Cao Huy Diệu chép “Hương, Bổng, Đổng, Đằng là bốn vị tối linh của nước ta”. 

Các tác giả trước đây cho rằng vị thần Hương là Lý Ông Trọng thời Tần, quê ở làng Thụy Hương, Từ Liêm, Hà Nội. Sự tích về Lý Ông Trọng tại đình Chèm kể về việc ông Lý Thân làm tới chức Tư lệ hiệu úy của nhà Tần, được Tần Thủy Hoàng gả con gái là Bạch Tĩnh công chúa, rồi cho đi trấn giữ người Hồ ở Lâm Thao. 

Nghi môn đình Chèm

Nhưng sự tích đình Chèm còn kể ông có công… giúp Sơn Tinh đánh Thủy Tinh. Thần tích đình Chèm ghi việc đức thánh Chèm chém thuồng luồng, là đại tướng của Thủy Tinh, ở đoạn sông Hồng chảy qua làng.
Hay trong bản thần tích bằng thơ đình Vật Lại (Ba Vì, Hà Nội) Sự tích thánh Tản Viên diễn ca cũng kể về việc quân của Thủy Tinh khi tấn công Sơn Tinh đi qua Chèm đã ăn thịt mẹ Đức thánh Chèm. Do vậy Đức thánh Chèm nổi giận, chăng lưới đón lõng quân của Thủy Tinh:

Ông Chèm báo oán Long Vương
Lưới giăng ngăn khúc bến giang đón về.
Thuở ấy Long tộc Thủy tề
Đem quân lên đánh Ba Vì Tản Viên.

Khi quân Thủy Tinh bị Sơn Tinh đánh thua chạy rút về thì:

Thủy quân nẻo cũ quen về
Ngày sau tức thì đến xã Từ Liêm.
Tiên binh xung lưới ông Chèm
Ai hòa chẳng được càng thêm lo lường.
Hội đồng cá rắn biên giang
Ông Chèm ra thấy lòng càng mừng thay.
Trả ơn thân mẫu khi nay
Dạng chân sông cả, đôi tay vơ quàng.
Bủa vây mọi khúc biên giang
Rắn rồng bắt lấy bật ngang vào đồi.

Thủy Tinh buộc phải chạy trốn theo đường sông Hát mà ra biển, không dám qua sông Hồng nữa. Đoạn sông Hồng gần Chèm nay còn có bãi bồi lớn giữa sông tên là Võng La, có lẽ nhắc tới tích Thánh Chèm giăng lưới bắt thủy quái ở đây.

Mảng chạm đình Chèm

Câu đối ở đình Chèm tóm tắt sự tích này như sau:

銅影怯彊夷終古神威揚北塞
鉄羅消水怪億年聖力護南邦

Đồng ảnh khiếp cường di, chung cổ thần uy dương Bắc tái
Thiết la tiêu thủy quái, ức niên thánh lực hộ Nam bang.

Dịch:

Tượng đồng khiếp cường di, ngàn xưa oai thần vang ải Bắc
Lưới sắt trừ thủy quái, vạn năm sức thánh giúp nước Nam.

Thành tích trừ thủy quái của Thánh Chèm xem ra không ăn nhập gì lắm với việc Lý Ông Trọng trấn quần Hồ thời Tần. Một đại tướng, phò mã của Tần Thủy Hoàng, một nhân vật lịch sử rõ ràng, sao lại có truyền thuyết gắn với Sơn Tinh – Thủy Tinh?

Thần tích về Tản Viên Sơn Thánh giúp giải đáp khúc mắc này về Đức thánh Chèm. Cuốn Di tích đền thờ Tản Viên Sơn cho biết Vương tên Hương Lang, tức là tôn húy Tản Viên Tam Vị Đại vương vậy. Hương Lang là người con đầu trong số 50 người con theo mẹ Âu Cơ lên núi.

Cũng trong thần tích này kể: Vương bèn chuẩn bị sính lễ đến trước, đón Mị Nương về động trên núi. Sau ba ngày, Thủy Tinh mới tới, tức giận không được nên dẫn các loài thủy tộc mà đánh đến mà chiếm lấy. Vương và Hùng Vương ngầm buông lưới sắt ở bến Thụy Hương của huyện Từ Liêm mà ngăn binh thủy tộc không tiến được. Thủy Tinh mới mở riêng một dải sông nhỏ cắt ngang từ Lị Nhân tới vùng sơn cước Quảng Oai nối lên thượng ngạn cửa sông Hát, ra sông Cái nhập vào sông Đà mà tấn công sau núi Tản Viên. Lại mở một sông nhỏ cắt ngang, gọi là sông Bờ theo mặt trước của núi Tản Viên.

Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả kể chi tiết hơn về sự kiện này: Sơn Tinh tâu lên vua cha Hùng Vương. Duệ Vương vô cùng tức giận, lệnh sai quân lính lấy một vạn cân sắt, truyền cho trăm thợ rèn đúc thành một tấm lưới sắt, dài 236 trượng, cao rộng 50 trượng, đem giăng ngang sông ở bến Thụy Hương huyện Từ Liêm, ngăn cắt quân của Thủy Tinh không thể qua lại được.

Như vậy chính Sơn Thánh đã buông lưới sắt chặn Thủy Tinh ở bến Thụy Hương tại Từ Liêm. Rõ ràng là sự tích đức thánh Chèm diệt thủy quái ở Võng La là chuyện của Tản Viên Sơn Thánh, người mang tên thần Hương hay Hương Lang. Phải là Tản Viên Sơn Thánh mới là vị thần đứng đầu các linh thần Việt, chứ Lý Ông Trọng thời Tần khó mà xếp ở hàng đầu trong Tứ linh Hương Bổng Đổng Đằng, trên cả Phù Đổng Thiên Vương được.

Bài thơ ở đình Chèm nói tới núi Tản và sự tích lưới sắt chặn thủy quái:

Viễn ủng Viên phong khống Nhị hà
Từ Liêm cố quận duyệt sương hoa
Lạc đô vĩnh điện sơn hà tráng
Mã sử trường lưu tính tự hoa
Vạn lý ngọc quan kim hữu ảnh
Thiên tầm thiết võng thủy vô ba
Dư linh bàng bạc di Nam Bắc
Suất thổ thần triêm vũ lộ đa.

Dịch nghĩa:

Xa ôm núi Tản, Nhị hà quanh
Quận cũ Từ Liêm sương trải mành
Vững mãi Lạc đô sông với núi
Lưu truyền Mã sử ngưỡng thanh danh
Ải xa vạn dặm in đồng tượng
Lưới sắt nghìn tầm chắn sóng dềnh
Phảng phất oai linh trời Nam Bắc
Nơi nơi thấm đẫm thánh ân lành.

Vì sao ngã ba sông Từ Liêm lại là một nơi xảy ra cuộc giao tranh giữa thần Hương (Tản Viên Sơn Thánh) với Thủy Tinh? 

Truyền Hồ tinh trong Lĩnh Nam chích quái kể:

Thành Thăng Long ngày xưa gọi là đất Long Biên, đời Thượng cổ đã có người ở rồi… Buổi đầu, chỗ đất này về phía Tây có một ngọn núi đá, dưới núi có một cái hang, có một con cáo (Hồ) chín đuôi sống hơn một nghìn năm thành ra yêu quái, biến hóa vạn trạng, có lúc hóa người, lúc hóa khỉ, đi khắp cả nhân gian. Lúc bấy giờ ở dưới chân núi Tản Viên có giống người mọi gác cây kết cỏ mà ở; trên núi có một vị thần được người mọi phụng thờ. Vị thần ấy dạy cho người mọi cày ruộng, dệt vải, may áo trắng mà mặc, nhân đó gọi là Bạch Y man.

Cáo chín đuôi hóa ra người áo trắng nhập vào trong bọn mọi, cùng lũ mọi ca hát, dụ dỗ được người con trai con gái nào thì đem về nhốt ở hang đá; người mọi lấy làm khổ sở về việc ấy. Long Quân mới sai bộ hạ Thủy phủ dâng nước lên đánh phá núi Tiểu Thạch Sơn, đào thành một cái đầm lớn, chính giữa thành có một chiếc vực sâu, gọi là Thi Hồ Trạch (nay là hồ Tây) rồi lập chùa quán để trấn yểm nữa (nay là Thiên Niên quán) …

Trong truyện này có vị thần núi Tản Viên đã dạy cho người dân cày ruộng, dệt vải, may áo… Rõ ràng đây chính là Tản Viên Sơn Thánh. Con cáo chín đuôi (cửu vĩ hồ) ở Tiểu Thạch Sơn hóa thành người dân của núi Tản. Cửu vĩ hồ ở đây là biểu tượng cho quân của Tản Viên Sơn Thánh, của dòng lên núi.

Sau đó xảy ra cuộc đụng độ giữa Lục bộ Thủy phủ của Lạc Long Quân với Cửu vĩ Hồ ở phía Tây của đầm nước Hồ Tây. Làng Thụy Hương của Từ Liêm cũng chính nằm ở phía Tây hồ. Lạc Long Quân là Thủy Tinh trong truyền thuyết về Tản Viên Sơn Thánh. Phía Đông của hồ Tây vốn là kinh đô Lạc (như được nói đến trong bài thơ ở đình Chèm) của Lạc Long Quân hay là Thủy phủ Động Đình của Thủy Tinh. Vì thế mà quãng sông trước đình Chèm mới là “chiến trường” tuyến đầu trong cuộc chiến giữa Tản Viên Sơn Thánh với Thủy Tinh Động Đình.

Tản Viên Sơn Thánh với gốc tích nguyên sơ ban đầu trong sự tích về Hương Lang được tôn là thần Hương, đứng đầu trong Tứ linh thần, cũng là đứng đầu trong các bách thần đất Việt.

Gốc gác ngày Tết Trùng cửu trong văn hóa Việt

Ngày tết Trùng cửu là ngày Thái Dương, khi trời đất kết thúc một vòng tuần hoàn âm dương tiêu trưởng, để lên một nấc thang mới, đăng cao đắc đạo thành tiên, mang lại mùa màng và phúc ấm cho nhân gian.

Trong các ngày Tết, ngày lễ cổ truyền dân gian có một ngày rất quan trọng là Tết Trùng cửu, diễn ra vào ngày mùng 9 tháng 9 âm lịch hàng năm. Con số 9 được coi là số dương, do sự lặp lại hai lần số 9 nên gọi Trùng cửu hay Trùng dương. Tết Trùng cửu cũng được coi là Tết người cao tuổi hay Tết người già. Vì sao lại như vậy? Tết Trùng cửu có nguồn gốc sâu xa và ý nghĩa như thế nào trong văn hóa Việt?

Nguồn gốc Tết Trùng cửu được sách cổ kể rằng, đời Hậu Hán có Hoàng Cảnh theo học đạo tiên với Phí Trường Phòng. Một hôm Trường Phòng bảo Cảnh: “Ngày mồng 9 tháng 9 tới đây, gia đình của nhà ngươi gặp phải tai nạn. Vậy đến ngày đó, ngươi nên đem cả nhà lên núi cao, tay đeo túi đỏ, đựng hột thù du, uống rượu hoa cúc, tối sẽ trở về, may ra tránh khỏi tai nạn”. Hoàng Cảnh vâng theo lời thầy. Quả thực đến tối trở về thì thấy gà vịt heo chó trong nhà bị dịch chết hết. Vì tích trên, nên về sau hằng năm, đến ngày mồng 9 tháng 9 âm lịch, người ta lên núi, uống rượu hoa cúc để cầu may…

Về ngày Trùng dương, thiền sư Huyền Quang, vị tổ Trúc Lâm thứ ba thời Trần, có câu thơ:

Trong núi năm tàn không có lịch. 

Thấy hoa cúc nở biết Trùng dương.  

Tết Trùng dương ở Việt Nam là lúc hoa Dã quỳ (cúc dại) nở vàng rộ ven các triền núi. Thu ngắm hoa Dã quỳ nở, thưởng rượu hoa Cúc trong không khí thoáng đãng trên núi cao quả là những thú tao nhã của các tiên nhân, mặc khách xưa.

Ý nghĩa của ngày Trùng dương trước hết là từ khái niệm về sự tuần hoàn của vũ trụ theo mô hình Thái cực. Trùng dương ứng với tượng Thái Dương, là lúc hoàn thành một chu kỳ Tứ tượng từ Thiếu Dương, Thái Âm, Thiếu Âm đến Thái Dương. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm có câu sấm truyền “Cửu cửu càn khôn dĩ định”, cũng là chỉ ngày mồng 9 tháng 9, lúc mà “càn khôn” âm dương đã đi hết một vòng tiêu trưởng. Số 9 trong số đếm Giáp, Ất, Bính… là con số áp cuối trong thập can, trước khi chuyển sang một nấc bậc mới.

Mô hình Tứ tượng được hình tượng hóa thành bốn con vật thiêng là Long, Ly, Quy, Phụng, hay là Tứ linh thú trong phong thủy là Thanh Long, Bạch Hổ, Chu Tước, Huyền Vũ. Đồ hình Tứ linh gặp phổ biến trên các gương đồng cổ bắt đầu thời Tây Hán. Những chiếc gương này cũng thường được tìm thấy trong các mộ cổ xây gạch, gọi là mộ dạng Hán, gặp ở nhiều nơi ở nước ta như Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Quảng Ninh…

Gương Tứ linh thời Hán thường có đúc chữ 12 địa chi Tý, Sửu, Dần, Mão… ở trong hình vuông tại trung tâm. Vòng ở giữa thể hiện 4 linh thú và các thụy thú khác. Ở vòng ngoài có dòng chữ là một bài thơ có vần. Thường gặp trong bài thơ có đoạn mô tả bố cục quy củ của chiếc gương là: 

Rồng trái Hổ phải xua tan điều xấu. 

Chu Điểu, Huyền Vũ điều hòa âm dương.

Thái Dương là vị trí Âm tiêu đến cùng cực, là số không và bắt đầu đi lên. Chính sự quay đầu của khí âm, bắt đầu cho chu trình Âm Dương tiêu trưởng, mới khiến cổ nhân chọn con Quy (Rùa) làm đại biểu cho tượng Thái Dương. Quy có nghĩa là quay về, cũng là từ phát âm gần với Quay trong tiếng Việt, nghĩa là điểm quay đầu, thay đổi trong sự phát triển.

Gương có Tứ linh điều hòa âm dương, xua dữ cầu lành còn có những dòng cầu chúc với nội dung cầu phúc cho con cháu, cầu thọ cho song thân, cầu mưa thuận gió hòa, ngũ cốc được mùa, cầu quan vị tôn hiển, nghi đạt. Còn có sự tích rằng Tần Thủy Hoàng sau khi thống nhất Trung Hoa đã tổ chức hoạt động cúng tế chúc mừng mùa màng bội thu vào tháng 9 âm lịch hằng năm trên khắp cả nước. Ngày Trùng dương cũng là ngày mùa màng cho thu hoạch, kết thúc một vòng tuần hoàn sinh trưởng của cây cỏ thiên nhiên trong năm.

Một sự tích khác về ngày Trùng cửu được chép trong sách “Phong thổ ký” rằng cuối đời nhà Hạ vua Kiệt dâm bạo tàn ác, Thượng đế giáng một trận thủy tai làm nhà cửa khắp nơi bị chìm xuống biển nước, nhân dân chết đuối, thây nổi đầy sông. Nạn thủy tai đó nhằm ngày mồng 9 tháng 9. Vì vậy mỗi năm đến ngày này, nhân dân lo sợ, già trẻ gái trai đều đua nhau quảy thực phẩm lên núi cao để lánh nạn…

Hạ Kiệt là vị vua cuối cùng của nhà Hạ, đã bị vua Thành Thang nhà Thương tiêu diệt. Triều Hạ khởi đầu từ Hạ Khải – Lạc Long Quân nên có biểu tượng là nước (Lạc). Sự tàn bạo của Hạ Kiệt được truyền thuyết hóa thành cơn thủy tai cuối thời Hạ. Người dân lên núi lánh nạn, tức là đi theo Thành Thang, vốn là bộ tộc ở phía Bắc xưa, có biểu tượng là Núi. Ngày mồng 9 tháng 9 là ngày chấm dứt triều đại nhà Hạ, khởi đầu nhà Thương, chấm dứt cơn thủy tai đại nạn do Hạ Kiệt gây ra, mở ra một triều đại mới trong lịch sử.

Gương Tứ linh thời Hán tìm thấy ở Bắc Việt

Trên những chiếc gương đồng trong mộ Hán thường gặp bài minh tả cảnh như sau:

Trên có tiên nhân không biết tuổi

Khát uống suối ngọc, đói ăn táo

Quanh trên núi thiêng hái dược thảo

Ngao du thiên hạ khắp bốn biển

Thọ như đá vàng, nên thiên đạo.

Thật bất ngờ khi nhận ra rằng những bài thơ trên đồng kính thời Hán lại như đang mô tả cảnh ngày Tết trùng dương, lên núi gặp lão tiên trường thọ, ăn uống thanh khiết, thưởng hoa hái thuốc. Ngày Trùng dương như vậy theo quan niệm của đạo Thần Tiên thời Hán là ngày có thể “đắc thiên đạo”, trở thành trường sinh bất tri lão. Tục ăn bánh “cao” ngày Trùng cửu giống như chuyện tiên nhân ăn táo. Tục uống rượu hoa cúc cũng như uống nước suối ngọc.

Một tục khác vào ngày Tết Trùng Cửu là tục cài lá Thù du hay còn gọi là Châu du. Cài lá Thù du là một phong tục có từ thời Đường, mọi người nhất là trẻ em và phụ nữ thường giắt lá vào người hay cho vào trong những túi vải để trừ tà. Trái cây Thù du là một vị thuốc vô cùng tốt có thể khử hàn độc, ôn nhiệt. Có thể thấy việc cài lá Thù du tương tự việc tiên nhân bồi hồi ngao du đi tìm “chi thảo” như được mô tả trên gương đồng cổ.

Trong kinh điển Đạo Giáo có chuyện Tần Thủy Hoàng nhiều lần đi ra bờ biển Đông gặp đạo sĩ Yên Kỳ Sinh bên đình Phụ Hương hỏi cách trường sinh bất lão. Di tích nay còn là núi Yên Tử ở Quảng Ninh nước ta, tương truyền là nơi Thiên Tuế Ông Yên Kỳ Sinh đi hái cây thuốc Thạch xương bồ, mọc trên các khe đá ở vùng núi cao. Gần đây, các nhà khảo cổ cũng đã phát hiện tại di chỉ Thiên Long Uyển ở xã Yên Đức, thị xã Đông Triều một bãi cột gỗ, có niên đại được xác định vào thế kỷ thứ III, IV trước Công nguyên. Đây là bằng chứng trực tiếp cho một kiến trúc đình đài dựng bằng gỗ tại khu vực Quảng Ninh bên bờ biển Đông vào thời Tần.

Gạch mộ kiểu Hán ở chân núi Yên Tử

Sách “Phong Thổ Ký” chép: “Đời Hán vua Văn Đế cho dựng một đài cao 30 trượng ở trong cung, mỗi năm đến ngày mồng 9 tháng 9, nhà vua cùng vương hậu, vương tử, cung phi đem nhau lên đài ở cho qua hết ngày ấy”. Vương hậu của Văn Đế là Đậu hoàng hậu, một người theo chủ trương Vô vi của đạo Giáo. Đậu hoàng hậu sau trở thành Thái hậu rồi Thái hoàng thái hậu, nắm quyền nhiếp chính trong các đời Cảnh Đế và Vũ Đế tiếp theo. Đây là lý giải cho sự tích vua Văn Đế xây đài lên cao vào ngày Trùng dương, gắn với tư tưởng thăng tiên của Đạo Giáo. Phí Trường Phòng cũng là một tiên nhân thời Hán. Có thể thấy sự tích ngày Trùng dương lên cao gặp tiên đều bắt nguồn từ thời Tây Hán, tương đương với niên đại của những chiếc gương Tứ linh ở trên.

Cần nói thêm rằng nhà Tây Hán có các vị vua đều mang hiệu là Hiếu, như Hiếu Văn Đế, Hiếu Cảnh Đế, Hiếu Vũ Đế… như được ghi trong “Sử ký Tư Mã Thiên”. Nên chính xác phải gọi đây là nhà Hiếu, một triều đại của người Bách Việt. Nhà Hiếu do Cao Tổ là Lưu Bang, một người Việt chính cống sáng lập, cùng với các công thần lập quốc như Hàn Tín, Mai Thừa, Anh Bố, Văn Ông, Tiêu Hà, Tào Tham đều đã được ghi nhận trong “Bách Việt tiên hiền chí” của sử gia Âu Đại Nhậm thời Minh.

Tượng Hồ Công và Phí Trường Phòng ở núi Xuân Đài, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa

Truyền thuyết về nguồn gốc ngày Trùng cửu với vị tiên Phí Trường Phòng còn tương đồng với một sự tích cùng nhân vật ở Thanh Hóa nước ta. Ở động Hồ Công thuộc huyện Vĩnh Lộc, tương truyền xưa kia có một ông già vai đeo quả bầu nhỏ thường ra chợ bán thuốc chữa bệnh, tối đến ông lại về động, thu mình chui vào quả bầu để ngủ. Có người là Phí Trường Phòng thấy lạ mà hỏi. Hồ Công liền hóa phép cho anh ta chui vào trong quả bầu thì thấy trong đó có đủ trời, đất, trăng sao, nhà cửa… Sau này Phí Trường Phòng cũng đắc đạo thành tiên. Hai thầy trò ở trong động đá trên dãy núi Xuân Đài rồi đi vào bất tử để lại hình hài hóa thành hai pho tượng đá trong động Hồ Công ngày nay.

Quan niệm thành tiên thời kỳ đầu Công nguyên được Cát Hồng, một đạo sĩ đời Tấn đề cập. Cát Hồng có hiệu là Bão Phác Tử, từng làm quan lệnh ở huyện Câu Lậu, thuộc miền Bắc nước ta. Về sau ông tìm cầu thuật trường sinh bất tử, hết sức đề xướng thần tiên Đạo giáo. Trong cuốn “Bão phác tử luận tiên” Cát Hồng đã dẫn sách “Tiên kinh” cho biết tiên nhân được chia thành ba thứ bậc: “Người bậc trên bay thân hình lên trời là Thiên tiên. Người bậc giữa lên núi cao du ngoạn là Địa tiên. Người bậc dưới sau khi chết thoát xác gọi là Giải tiên”. Như thế, việc đăng cao lên núi là một trong những cách để thành tiên trong quan niệm thời này. Còn việc thoát xác thành tiên được thể hiện qua các đồ tùy táng như các gương đồng hay vải liệm lụa có vẽ tranh trong các ngôi mộ Hán.

Những chiếc gương đồng trong mộ cổ thời Hán không chỉ là đồ dùng bồi táng theo người đã mất mà nó có ý nghĩa là giúp cho người chết trong quá trình thoát khỏi thân xác phàm tục mà thăng tiên. Trong các nghi lễ cúng xưa của người Việt các thầy phù thủy cũng từng dùng gương đồng như một pháp cụ hành lễ. Vì vậy, các họa tiết biểu tượng và minh văn trên gương đồng cổ thể hiện tư tưởng tín ngưỡng và tâm linh của con người đương thời.

Trong sự tích Việt cũng có truyền thuyết lên núi gặp tiên được phúc như thần tích về Tản Viên Sơn Thánh. Hai anh em ông Nguyễn Cao Hành một hôm đi săn lên núi Thu Tinh, gặp một Lão ông mang theo một bầu rượu và một cái la bàn. Hai anh em xin Lão ông chọn cho một huyệt mộ để táng hài cốt của thân phụ, nhờ đó sinh được các bậc tiên thánh là ba vị Nguyễn Tuấn, Cao Sơn và Quý Minh. Nguyễn Tuấn trở thành Tản Viên Sơn Thánh, vị thần bất tử đứng đầu linh thần Việt. Cao Sơn và Quý Minh là hai vị Tả hữu kiên thần, có công chống giặc Thục, yên định giang sơn. Khi hai vị Cao Sơn và Quý Minh hóa, cũng lại quay về núi Thu Tinh mà thăng thiên.

Cảnh đi săn trên gương đồng hình hoa Cúc thời Đường

Truyền thuyết táng mộ ở núi Thu Tinh cũng giống như quan niệm ngày Trùng cửu lên núi gặp tiên, uống rượu hoa cúc. Lão ông ở núi Thu Tinh cầm bầu rượu và cái la bàn, không khác gì là cầm một chiếc gương phong thủy. Mục đích là tìm cầu sinh con quý tử và thọ lão, thành tiên lúc quay về trời.

Cuối cùng xin lấy bài thơ của lão tiên nhân đã ngâm đọc trên núi Thu Tinh để kết thúc bài viết về ngày tết Trùng cửu của người Việt:  

Từ đế vương cùng muôn triệu dân

Quay về sẽ phải tụ tinh thần

Sự truyền khó luận chân hay ảo

Nhớ tên núi đó, lẽ như chân.

Cung trăng bất tử dưới góc nhìn của người Việt

Cung trăng được “hình thành” bởi vũ khúc “Nghê Thường” của cặp thần tiên Hậu Nghệ – Thường Nga, cũng là Chử Đồng Tử và Tiên Dung trong truyền thuyết Việt ở đầm Nhất Dạ đã một đêm bay lên trời hóa thành bất tử.

Từ xa xưa Trung Thu đã trở thành một lễ hội truyền thống của dân tộc Việt. Lễ hội này được tiếp nối qua nhiều thế hệ và cho đến nay vẫn vẹn nguyên sự háo hức, niềm ước vọng về những điều viên mãn, tròn đầy như ánh trăng ngày rằm tháng 8. Đối với Người Việt nói đến mặt trăng là nói đến chú Cuội, chị Hằng, cây Đa, Thỏ ngọc và Cóc vàng. Những hình tượng của cung trăng này mang ý nghĩa gì trong văn hóa Việt?

Bài văn giáng bút “Dạ Trạch tiên gia phú” của Thánh Chử do Tiến sĩ Chu Mạnh Trinh chép và khắc ở đình làng Quan Xuyên, xã Thành Công, huyện Khoái Châu, Hưng Yên.

1. Theo quan niệm phương Đông trong vòng tuần hoàn của Tứ tượng thì phía Đông là ban ngày, mùa Xuân, thần chủ là mặt Trời. Ngược lại rằm tháng 8 là giữa Thu, thuộc phía Tây, ban đêm, do mặt Trăng làm thần chủ. Chính vì thế Trung Thu trở thành ngày Tết của chị Hằng – thần mặt Trăng. Về chị Hằng, thần thoại Trung Hoa kể, Hậu Nghệ có vợ là Hằng Nga, là những vị thần bất tử sống trên thượng giới. Lúc đó, mười người con trai của Ngọc Hoàng biến thành mười mặt trời, làm cho mặt đất trở nên nóng bỏng và khô cằn. Hậu Nghệ, bằng tài bắn cung của mình, đã bắn hạ chín mặt trời, chỉ để lại một mặt trời. Ngọc Hoàng bèn trừng phạt, đày Hậu Nghệ và Hằng Nga xuống hạ giới. Thấy Hằng Nga rất đau khổ vì bị mất khả năng bất tử, Hậu Nghệ quyết định lên đường đi tìm thuốc trường sinh trong một cuộc hành trình dài và đầy gian khổ, nguy hiểm để hai người có thể trở lại cuộc sống bất tử. Hậu Nghệ đã gặp được Tây Vương Mẫu. Tây Vương Mẫu cho Hậu Nghệ một viên thuốc để trở thành bất tử. Hậu Nghệ mang viên thuốc về nhà và cất nó trong một cái hộp. Khi ông đi vắng, Hằng Nga tò mò mở chiếc hộp và vô tình Hằng Nga đã nuốt viên thuốc. Ngay lập tức Hằng Nga bay lên trời, bay mãi cho đến khi đến Mặt Trăng.

Thần thoại Hằng Nga – Hậu Nghệ trên đã chỉ rõ thế nào là thần bất tử trong quan niệm xưa. Khả năng bất tử là khả năng đặc biệt mà chỉ một số ít các vị thần mới có. Hậu Nghệ đã phải vượt muôn ngàn gian khổ mới đến gặp và xin được thuốc bất tử của Tây Vương Mẫu về. Khái niệm bất tử là mắt xích thú vị khi kết nối thần thoại Trung Hoa với tích cổ của người Việt. Trong tín ngưỡng dân gian thì Chử Đồng Tử được tôn là vị thần bất tử, đứng hàng thứ hai trong Tứ bất tử nước Nam.

Câu chuyện về Chử Đồng Tử và Tiên Dung công chúa được tóm tắt trong câu đối ở đền Đa Hòa (xã Bình Minh, Khoái Châu, Hưng Yên) như sau:

Hiếu thuận động tới trời, bãi Chử màn che thành kỳ ngộ.
Thành chí thông tận thánh, Quỳnh Lâm gậy nón tiếp chân truyền.

Chử Đồng Tử vì hiếu thuận với cha nên đã kỳ ngộ gặp được Tiên Dung ở bãi Tự Nhiên. Sau đó nhờ thành tâm học đạo đã được tiên ông truyền cho phép màu ở núi Quỳnh Lâm. Phép màu của Chử Đồng Tử là ở cây gậy và chiếc nón thần.

Tam vị bất tử nhà Chử ở đền Đa Hòa

2. Xem chuyện Đầm Nhất Dạ có thể nhận ra nhiều điểm tương đồng với thần thoại Hậu Nghệ – Hằng Nga về tên gọi cũng như nội dung lịch sử. Cổ sử Trung Hoa cho biết sau khi Hạ Khải mất, con là Thái Khang lên nối ngôi. Thái Khang ham chơi bời, thích săn bắn, không quan tâm việc chính sự. Hậu Nghệ vốn là vua của nước Hữu Cùng, là một chư hầu của nhà Hạ. Hậu Nghệ thường đi theo phục vụ Thái Khang. Thấy Thái Khang bỏ bê triều chính, Hậu Nghệ nảy sinh ý định giành ngôi. Một hôm Thái Khang rời kinh đô đi săn ở đất Lạc. Hậu Nghệ bí mật tập kích kinh đô nhà Hạ, chiếm được kinh thành. Sau đó mang quân ra chặn bờ sông, phong tỏa lối về của Thái Khang. Thái Khang bị buộc phải lưu lạc đến hết đời.

Liên hệ giữa Chử Đồng Tử và Hậu Nghệ thấy rõ nhất là về ngôn ngữ và những yếu tố lịch sử. Có từ “chư hầu”, chỉ ra mối tương thông Chử – Hậu. Hậu Nghệ là một chư hầu đã làm gián đoạn nhà Hạ, đuổi Hạ Thái Khang lưu lạc nơi đất Lạc. Bốn mươi năm sau nhà Hạ phải tới Thiếu Khang mới lại trung hưng. Chử Đồng Tử đã lấy con gái vua Hùng mà không được phép nên vua Hùng tức giận, đem quân đến đánh vợ chồng Chử Đồng Tử – Tiên Dung, cho thấy có một cuộc đụng độ đã xảy ra vào thời này.

Trong thần thoại Trung Hoa, Hậu Nghệ có công bắn mặt trời, diệt các loài quái vật nên được nhân dân tôn thờ là thần Tông Bố, tổng quản các loài ma quỷ trong thiên hạ. Còn Chử Đồng Tử tu tiên, có được phép cải tử hoàn sinh đi cứu người, chữa bệnh, được tôn là Chử Đạo Tổ. Theo phép phiên thiết, “Tông Bố” đọc lướt là “Tổ”. Như vậy cách gọi Tông Bố Hậu Nghệ trùng cả họ và tên với Chử Đạo Tổ.

Lý do để Chử Đồng Tử là thần bất tử chính là ở phép cải tử hoàn sinh. Gậy và nón là hình ảnh của vuông – tròn, âm – dương. Thần tích ở Đa Hòa còn kể tại đây có vị thần Cá (thần Dí) đã vật chết voi của nhà vua, nhưng khi được yêu cầu làm voi sống lại thì không làm được, bởi “phép cải tử hoàn sinh chỉ có Tản Viên Sơn Thần và Đức thánh Chử Đồng Tử là làm được”. Điều này cho thấy không phải “thần” nào cũng có thể “cải tử hoàn sinh”. Chỉ có 2 vị thần bất tử là Tản Viên Sơn Thánh và Chử Đồng Tử là có phép thuật này.

Thần Cá ở đền Đa Hòa

3. Hậu Nghệ đi tìm thuốc trường sinh gặp Tây Vương Mẫu cho thuốc tiên. Hậu Nghệ nghĩa là vị Hầu ở xứ Nghệ, cũng là nơi tu hành của Chử Đồng Tử. Chử Đồng Tử đi vào đất Quỳnh Lâm (Nghệ An) gặp lão Phật Quang và được gậy nón, có khả năng cải tử hoàn sinh. Thần tích ở đền Đa Hòa còn kể Chử Đồng Tử lấy thêm một người vợ nữa là Tây Sa công chúa. Vị công chúa này là người có phép thuật, giúp Chử Đồng Tử chữa bệnh cho nhân dân. Ba người (Chử Đồng Tử, Tiên Dung, Tây Sa) dùng phép thuật của mình cứu dân, xây dựng lâu đài, để rồi một đêm cùng bay về trời. Câu đối ở đền Đa Hòa miêu tả lại chuyện này:

Cảnh hóa đó năm nào, đây bãi Tự Nhiên, một đêm thành đầm trạch.
Kỳ duyên trùm thiên cổ, vợ chồng nhân gian, lên trời biến thần tiên.

Về mặt chữ nghĩa thì Hằng thông nghĩa với Thường nên Hằng Nga cũng là Thường Nga. Mặt khác trong Ngũ hành thì hành Hoả ở phía trên, hành Thủy ở phía dưới. 2 nhân vật Hậu Nghệ và Thường Nga làm thành một cặp đối ứng theo phép lưỡng lập. Trong đó, chữ “Nghệ” nghĩa là đỉnh cao, đối phản với “Thường”, tiếng Việt là bình thường, sàn sàn như nhau, không có gì nổi trội.

Về mặt trăng nổi tiếng nhất là tích cổ kể chuyện vua Đường Huyền Tông nằm mơ rong chơi trên nguyệt cung. Ông nghe thấy tiếng nhạc và các tiên nữ múa trong y phục mang sắc màu cầu vồng được làm bằng lông chim. Tiếng hát của tiên nữ vô cùng huyền diệu, điệu bộ thanh thoát, bay bổng. Sau khi tỉnh dậy, vua đã hồi tưởng lại giấc mơ và chép lại vũ điệu, nhạc khúc. Vũ khúc đêm trăng có tên Nghê Thường vũ y khúc. Nếu để ý, sẽ thấy Nghê Thường rất gần với Nghệ – Thường. Trong đó Nghệ là Hậu Nghệ, Thường là Thường Nga. Y phục lông chim mang sắc cầu vồng tức là năm sắc của Ngũ hành.

Gương đồng Nguyệt cung thời Đường

4. Ngũ tượng Trung Thu ngoài Hậu Nghệ – Thường Nga là trục trên dưới hay Nam – Bắc, thì trục Đông Tây được lập bởi hình ảnh Thỏ Ngọc và Cây Đa. Từ khoá Cây giúp nhận ra hành Mộc của phía Đông. Cuội có thể là biến âm của “cội”, nghĩa là “gốc”, ứng với câu “Thằng Cuội ngồi gốc cây Đa”. Hoặc cũng có thể đó là biến âm từ “cối” trong từ kép “cây cối”, “cối” có thể là từ Việt cổ cũng nghĩa là “cây” mà ngày nay không còn dùng nữa. Trên gương đồng cung trăng thời Đường thường thể hiện một cái cây lớn (cây Đa hay cây Quế) với một cái u to ở giữa thân. Liệu cái u này có phải là nói đến cái “cội” hay “cối” trong tên của chú Cuội không?

Cây Đa đã là hành Mộc phía Đông thì còn lại biểu tượng Thỏ Ngọc phải là tượng trưng của phía Tây. Dịch học Việt xác định phía Tây thuộc hành Thổ, nghĩa là đất đá khoáng vật nói chung (gồm cả Ngọc) và vì thế đối phản với thực vật ở phía Đông. “Thỏ” âm Hán Việt là “Thố”, chính là biến âm của “Thổ”. Phía Tây trong Ngũ hành có sắc Trắng, nên Thỏ trên cung trăng gọi là Bạch Thố. Như thế trong câu truyện dân gian về Trăng thu, Thỏ Ngọc cùng với Cây Đa đã tạo thành trục Đông Tây, hợp với trục trên dưới là Hậu Nghệ và Thường Nga, hoàn chỉnh mặt phẳng đứng trong không gian 2 chiều. Thỏ Ngọc có chiếc chày giã thuốc bất tử, tương ứng với Tây Sa công chúa, người vợ thứ hai của Chử Đồng Tử trong truyện Đầm Nhất Dạ.

Gương đồng Tiên nhân cưỡi thú thời Đường

Còn lại vị trí trung tâm của cung trăng được biểu hiện bằng chú Cóc vàng, tên chữ là Kim thiềm (Thiềm thừ). Mặt trăng cũng được gọi là Thiềm cung. Màu Vàng là màu của Trung cung trong Ngũ hành. “Con cóc là cậu ông Trời”. Hóa ra cậu ông Trời lại “ngự” ở chính cung trăng. Trên những chiếc gương đồng thời Đường có hình cung trăng có thể hiện Cóc vàng đang giơ cả 4 chân, như chỉ về 4 hướng. Bởi vì Cóc vàng ở Trung tâm, Nghệ – Thường ở hướng Nam – Bắc, Cây – Thỏ ở hướng Đông – Tây. Tất cả xếp thành một mô hình Ngũ hành đầy đủ, toàn mĩ trên Cung trăng.

Trong bài “Dạ Trạch tiên gia phú” lưu truyền ở vùng Khoái Châu, Hưng Yên, Thánh Chử đã giáng bút đề: “Tích cũ còn ghi trong sách khó tin. Gót tiên như áng mây trôi bất diệt”. Sách “Thái Bình hoàn vũ ký” chép: “Người Lạc Việt, cứ mùa thu tháng Tám thì mở hội, trai gái giao duyên, ưng ý thì lấy nhau”. Câu chuyện về cặp vợ chồng Chử Đồng Tử – Tiên Dung hay Hậu Nghệ – Thường Nga còn là biểu tượng cho sự kết hợp tròn đầy của âm dương, ngũ hành, là biểu tượng cho sự đoàn tụ và những khát vọng về viên mãn thường hằng, bất tử./.

MINH THI

Chu Vương tạo đỉnh, dùng tế lễ lớn

Cửu đỉnh ở Huế

Cửu đỉnh ở Thế miếu Huế

Dưới thời vua Minh Mạng, nước Đại Nam của nhà Nguyễn đã mở rộng lãnh thổ hơn bao giờ hết. Khu vực Tây Bắc và một phần của Lào trước đó thuộc nước Bồn Man đã được sát nhập vào lãnh thổ Đại Việt vào thời Lê, với tên gọi là Trấn Ninh. Nhờ công lao mở nước ở phương Nam của chúa Nguyễn Hoàng mà miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ đã thuộc về nước Đại Nam. Một phần lớn đất ở Campuchia cũng thuần phục nhà Nguyễn, trở thành Trấn Tây Thành. Là một đế quốc bao trùm Đông Nam Á khi đó, Minh Mạng đã rất ý thức được vấn đề nguồn gốc người Việt. Vua nêu cao việc noi gương tổ tiên và các vị vua triều đại trước, mà việc đúc Cửu đỉnh để đặt làm tế lễ phụng sự ở Thế miếu là một điển hình, công khai với toàn thiên hạ về nguồn gốc và phạm vi lãnh thổ của triều đại.

Trong buổi lễ khánh thành cửu đỉnh, nhà vua cùng quần thần đến miếu tế cáo. Lễ xong, nhà vua dụ bảo các quan rằng: Trẫm xem xét đời xưa, đúc đỉnh theo hình các vật, nhưng đồ cổ [truyền lại] còn ít, những người biên chép ghi lại có chỗ không đúng, chép ra toàn là [hình dạng] của vạc nấu ăn, còn như đỉnh cao lớn và nặng, thì không những gần đây không có mà đến đời Tam đại cũng ít nghe thấy. Nay bắt chước người xưa mà lấy ý thêm bớt, đúc thành chín đỉnh to, sừng sững đứng cao, nguy nga kiên cố, không chút sứt mẻ, đáng làm của báu, con con cháu cháu, giữ mãi không bao giờ hết. Vậy thông dụ cho 31 trực tỉnh và Trấn Tây Thành đều được biết.

9 chiếc đỉnh to lớn sừng sững nay vẫn còn tại Thế miếu trong kinh thành Huế là một lời minh chứng cho thời kỳ huy hoàng của đế quốc Đại Namvà tư tưởng noi gương các đời Tam Đại của vua Minh Mạng.

Cao đỉnh trước Thế miếu ở Huế

Phỏng Chu Vương Bá đỉnh

Cũng thời vua Minh Mạng nhà Nguyễn, năm thứ 20, vua đã cho phỏng theo các đồ vật thời Tam Đại mà đúc nên 33 loại đồ vật, gọi là Cổ khí. Bài minh văn ngự chế đúc trên 1 chiếc đỉnh nói rõ chuyện này. Đỉnh này có tên ghi là đỉnh phỏng theo đỉnh của Chu Vương Bá, với chữ ngự đề:

惟明命二十年己亥予受天眷祐河順歲豐盜賊屏息年近知天爰法古鑄器凡三十三類此鼎其一也用傳來許我之子孫若能親賢遠侫愛民敬天卜年世遠勝周家可天下畏服大南日昌可永保用之可

Duy Minh Mạng nhị thập niên Kỷ Hợi, dư thụ thiên quyến hữu, hà thuận tuế phong, đạo tặc bính tức, niên cận tri thiên, viên pháp cổ chú khí, phàm tam thập tam loại, thử đỉnh kì nhất dã, dụng truyền lai hứa, ngã chi tử tôn, nhược năng thân hiền viễn nịnh, ái dân kính thiên, bốc niên thế viễn, thắng Chu gia khả, thiên hạ úy phục, Đại Nam nhật xương khả, vĩnh bảo dụng chi khả.

Dịch nghĩa: Năm Kỷ Hợi niên hiệu Minh Mạng thứ 20, ta được trời mến giúp, sông thuận, được mùa, trộm cắp trừ yên. Ta đã sắp đến tuổi biết mệnh trời (tuổi 50), bèn theo phép cổ mà đúc khí vật, tất cả 33 loại. Đỉnh này là một trong số 33 loại ấy, để truyền lại cho đời sau, sao cho biết gần gũi người hiền, tránh xa nịnh bợ, biết thương dân kính trời, thì đoán chừng là triều đại này bao năm có thể còn dài hơn cả nhà Chu, thiên hạ có thể sợ phục nước Đại Nam ngày càng thịnh vượng, mãi mãi có thể dùng bảo vật này.

Tên gọi Chu Vương Bá ở trên đỉnh khả năng là một vị vương thất thời Chu Vũ Vương. Vua Minh Mạng đặt bài minh khái quát các cổ khí ở chiếc đỉnh Chu Vương Bá vì có thể vua coi Gia Long là người lập nên nhà Nguyễn giống như Chu Văn Vương mở đầu nhà Chu. Còn bản thân Minh Mạng nối tiếp sự nghiệp, giống như Chu Vũ Vương nối tiếp Văn Vương. Trong Cửu đỉnh tại Huế có Cao đỉnh là dùng thờ Gia Long, và Nhân đỉnh dùng đặt đối diện ban thờ Minh Mạng.

Vị Vương Bá thời Chu Vũ Vương lập nhà Chu thì có khả năng là Bá Ấp Khảo, người con đầu của Văn Vương, anh của Vũ Vương. Bá Ấp Khảo đã hy sinh trong cuộc chiến chống lại Trụ Vương, để Vũ Vương sau đó hoàn thành đại nghiệp, phạt Trụ diệt Ân, lập nên vương triều thiên tử nhà Chu kéo dài hơn 800 năm.

Hình vẽ Phỏng Chu Văn Vương đỉnh

Chu Vương đỉnh

Một chiếc đại đỉnh lớn thật sự của thời Chu đúc bằng đồng, cao tổng cộng 53 cm, rộng tới 43 cm, nặng 12 kg. 2 quai đỉnh hình chữ U lớn, dày. Mặt ngoài mỗi quai có hình hai con rồng chầu mặt trời. Trên từng quai đỉnh có khắc 8 chữ Kim văn lớn: 周王作之子孫永用

Chu vương tác chi. Tử tôn vĩnh dụng

Dịch nghĩa: Chu Vương tạo vật này cho con cháu dùng mãi.

Chiếc đỉnh Chu Vương này có phần thân hình tròn, hơi dẹt. Thân đỉnh có 6 khía dọc chia đỉnh thành 6 múi. Mỗi múi có hình mặt thú thao thiết. 3 chân đỉnh lớn cũng có đúc nổi hình mặt thao thiết. Cả chiếc đỉnh nhìn trầm hùng, vững chắc, bề thế.

Đỉnh Chu Vương

Phần thân đỉnh có đúc chữ nổi xung quanh thân, là một bài minh chép bằng chữ kim văn. Chữ đúc lớn, nét chữ có phần giản lược. Bài minh này được lặp lại 3 lần (ba mặt một lời) và có một dòng 4 chữ như tiêu đề. Tất cả có 208 chữ đúc nổi trên thân đỉnh. Chia thành 52 dòng, mỗi dòng 4 chữ. Nội dung bài minh trên Chu Vương đỉnh như sau:

晳丕俎用

史戊寸公,作休子子門,休永寶對,賜旗吉待,匍正民初,曰盂玟有,

周命于若,胜又王宗,攸用佩帚,門生隹卑,邵宫名大,反吊夫死,

友君子師,厭永吉有, 考庚辟內,于其朋享,晳丕俎用

TÍCH PHI TRỞ DỤNG

Sử Mậu Thốn Công, tác hưu tử tử môn, hưu vĩnh bảo đối, tứ kỳ cát, đãi bồ chính dân, sơ viết Vu Mân, hữu Chu mệnh vu nhược, thắng hựu Vương tông, du dụng bội trửu, môn sinh chuy ti, thiệu cung danh đại, phản điếu phu tử, hữu quân tử sư, yếm vĩnh cát hữu, khảo canh tịch nội, vu kỳ bằng hưởng, tích phi trở dụng.

Chú giải:

Tích phi trở dụng: chữ Bất 不 ở đây đọc thông với chữ Phi 丕, nghĩa là to lớn. Trở là vật dùng tế lễ.

Sử Mậu Thốn Công: Chữ sử 史dùng thông với chữ 使. Mậu Thốn là tên một vị đại thần tước Công.

Tác hưu tử tử môn: làm ra khu nhà dùng cầu lành cho con cháu

Hưu vĩnh bảo: Bảo là đồ quý, ở đây chỉ chiếc đỉnh.

Bồ chính dân: Bồ nghĩa là vất vả. Ý nói việc cai quản dân nhiều khó nhọc.

Vu Mân: Nghĩa thường là đồ đựng bằng ngọc. Nhưng có thể ở đây chỉ Văn Vương, là vị vua khởi đầu nhà Chu. Vu Mân đọc thiết là Văn.

Dụng bội trựu: chữ “trựu” đọc không chắc chắn. Hiểu nghĩa chung là dùng đồ vật quý làm tín lễ.

Chuy ti: chữ đọc không chắc chắn. Suy theo nghĩa là chỉ việc phúc sinh được con cái.

Hữu quân tử sư:  chỉ bậc thầy của vua, có lẽ là chỉ các bậc tiên vương.

Khảo canh: đọc thông nghĩa với “thọ khang”.

Diễn nghĩa bài minh trên Chu Vương đỉnh:

Dùng tế lễ lớn

Sai Mậu Thốn Công làm chiếc đỉnh quý đặt ở cửa lành cho con cháu, cùng ban cờ cầu phúc, để gắng sức cai quản nhân dân. Trước đây vua Văn có được mệnh thắng của nhà Chu, Vương tông lại dùng đồ tín lễ mà trong nhà sinh được điều lành, rạng danh cung lớn, dùng cúng điếu người đã mất, để cho bạn, quân, con, thầy có điều tốt đầy mãi, luôn trong mạnh thọ mà hưởng dụng như vậy, dùng cho tế lễ lớn.

Phần đầu bài minh Tích phi trở dụng

Chiếc đỉnh tông Chu Vương này có hình dạng tương đồng với đỉnh Cận 堇鼎, là chiếc đỉnh lớn thời đầu Tây Chu tìm thấy ở Bắc Kinh, Trung Quốc. Đỉnh Cận là một trong những trọng khí quốc gia của Trung Quốc, kích thước cao 62 cm, chỉ cao hơn chiếc đỉnh Chu Vương trên 9 cm. Trên đỉnh Cận có khắc chữ kể về một vị hầu tước tên Cận đi cống lễ vua Chu. Chiếc đỉnh Chu Vương mô tả ở trên như vậy cũng có niên đại xấp xỉ vào đầu thời kỳ Tây Chu, cách nay gần 3.000 năm.

Nội dung bài minh trên đỉnh Chu Vương khá tương đồng với bài minh của vua Minh Mạng đúc trên Phỏng Chu Vương Bá đỉnh. Bài minh có ý nghĩa là đúc đỉnh để truyền lại cho con cháu làm vật quý sử dụng trong việc tế lễ, thờ cúng tổ tiên, tang lễ, để nhờ đó cầu phúc, cầu mệnh trời cho triều đại được lâu dài, cai quản nhân dân.

Pháp cổ

Dụ chỉ đúc đỉnh của vua Minh Mạng nêu: Đỉnh là để tỏ ra ngôi vị đã đúng, danh mệnh đã tụ lại. Thực là đồ quý trọng ở nhà tôn miếu. Xưa các minh vương đời Tam Đại lấy kim loại do các quan mục bá chín châu dâng cống, đúc chín cái đỉnh để làm vật báu truyền lại đời sau. Quy chế điển lễ ấy thực to lớn lắm! Trẫm kính nối nghiệp trước, vâng theo đường lối rõ ràng. Nay muốn phỏng theo đời xưa, đúc chín cái đỉnh để ở nhà Thế miếu… Đó là để tỏ ý mong rằng muôn năm bền vững, dõi truyền đời sau. Chuẩn cho quan phần việc theo đúng kiểu mẫu mới định mà đúc.

Các minh vương thời Tam Đại đúc cửu đỉnh tượng trưng cho đất đai thiên hạ 9 châu bắt đầu từ Đại Vũ của nhà Hạ. Các cổ khí của vua Minh Mạng chủ yếu phỏng theo các đồ thời Thương và và Chu. Tam Đại Trung Hoa mà Minh Mạng noi theo là các triều đại Hạ, Thương và Chu của Trung Hoa cổ đại.

Từ thời vua Gia Long đầu triều Nguyễn đã đề ra xu hướng “Pháp cổ” – noi theo phép xưa có. Có 2 khái niệm pháp cổ:

  • Pháp tiên vương: tức là theo phép thời Nghiêu, Thuấn.
  • Pháp hậu vương: tức là theo phép thời Tam Đại (Hạ, Thương, Chu).

Thời Minh Mạng lại đề ra khái niệm “pháp tổ”, theo phép tổ tiên, cũng đều có thể gọi chung là pháp cổ. Tuy là phương châm “pháp tổ” (“kính thiên pháp tổ”) nhưng lại vua Minh Mạng lại mô phỏng theo thời Hạ Thương Chu, mà tiêu biểu là đúc Cửu đỉnh và Cổ khí. Nói cách khác, Minh Mạng công khai coi các vị tiên vương thời Ngũ Đế và hậu vương thời Tam Đại Trung Hoa là “tổ” của triều Nguyễn, mà noi theo.

Trang Ngọc phả Hùng Vương thời Minh Mạng có ghi “niên hiệu” Hùng Vương năm thứ 32

Vương triều Chu của Trung Hoa bắt đầu từ Văn Vương dựng nghiệp, Vũ Vương lập thiên hạ lên ngôi thiên tử, đều là những triều đại của người Việt, được sử sách Việt gọi là thời Hùng Vương dựng nước Văn Lang, phân phong trăm anh em thành Bách Việt. Chiếc đỉnh Chu Vương tạo đúc là biểu tượng của vương quyền thiên tử nhà Chu trước trăm tộc Bách Việt, cũng chính là tế vật của vua Hùng nước Văn Lang xưa. Lịch sử Trung Hoa cổ đại còn truyền tới triều Nguyễn nước Đại Nam, tự xưng mình là Hùng Vương như trong bản Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả được biên soạn dưới thời vua Minh Mạng. Báu vật bảo đỉnh Chu Vương còn lưu truyền đến nay qua gần 3000 năm, là chứng thực cho sự vững bền của quốc gia, của nền văn minh dân tộc Việt trải suốt chiều dài lịch sử. Liệu Việt Nam ngày nay có thể lại trở thành một “đế quốc” bao trùm rộng lớn với thiên hạ chín châu hay không phụ thuộc vào nhận thức của chính người Việt đối với những di sản cổ vật của tiên tổ để lại cho chúng ta ngày nay.

Ngọc phả Lăng Sương về Tản Viên Đinh Phi Thánh mẫu

Đền Lăng Sương

Trong thời Hùng Duệ Vương ở động Bình, châu Thuận Bình, phủ Triệu Châu, xứ Thuận Hóa có một trưởng bộ, họ Đinh tên Bích, lấy vợ ở trang Hạ, xã Cao Quần, huyện Chân Định, phủ Kiến Xương, xứ Sơn Nam, họ Dương tên Hằng. Vợ chồng tuổi đã ngoài 40 mà chưa thấy lan quế trước nhà nhập mộng, bèn cùng lên chùa Tây Thiên núi Tam Đảo cầu tự. Trời tối lưu lại ở chùa để cầu ứng mộng. Thái bà mộng thấy một ông lão râu tóc bạch phơ nói với Thái bà rằng:
– Hãy nghe mệnh! Thiên Đế lệnh cho ta đem một viên ngọc trắng giao xuống cho.
Lão ông giao cho Thái bà, lại ngâm tụng rằng:
Trời cao có nẻo chiếu nhân gian
Có phúc đều do phúc báo hoàn
Ngọc báu nay ban cho đến chỗ
Đảo Sơn, Tản Lĩnh đối cùng ngang.

Ngâm xong lão ông bay lên trời biến mất. Thái bà cầm ngọc cất vào trong bụng. Bỗng nhiên tỉnh lại, mới biết là nằm mộng. Bèn đem việc này kể lại với Trưởng ông. Vợ chồng ra về. Sau đó trăm ngày, đang khi giữa giờ Ngọ, bỗng thấy một con chim lạ lông cánh năm sắc, chân mỏ màu đỏ, từ trên trời hạ xuống, bay thẳng vào trong nhà. Xung quanh phòng trong nhà trong chốc lát đều sáng bừng lên. Thái bà thấy vậy tự nhiên chuyển ý mà hoài thai. Tới ngày 6 tháng Giêng năm Kỷ Sửu vào buổi tối Thái bà mơ thấy một người con gái rất đẹp, theo mây từ từ mà hạ xuống, đi vào nhà. Thái bà muốn hỏi thì bỗng nhiên tỉnh dậy, thấy trời đã sáng.
Tới ngày mồng 7 giờ Tỵ sinh hạ một người con gái, phong tư đẹp lạ, cốt cách thanh kỳ, thân tự phát ra mùi hương thơm ngào ngạt. Được trăm ngày mới đặt tên là Đinh Thị Ngọc. Lúc Nương lên 3 tuổi trong động có một gia tộc lớn họ Mãn, nhà giàu có, kiêu ngạo ngang ngược, đem lòng kết bè đảng, muốn giết hại Trưởng ông. Buổi tối đó dẫn hơn trăm người cầm khí giới xông vào nhà Trưởng ông. Trưởng ông biết chuyện bèn cùng với gia quyến chạy thoát. Bè đảng đốt nhà, lấy hết tài sản.
Lại nói, Trưởng ông từ khi bị nhà họ Mãn làm hại đã dẫn gia quyến đi vào trong núi sâu, không quay lại nữa. Đi hơn mười ngày đều dựa vào châu động, rừng núi cùng mãnh thú hổ báo, lại không biết đường ra, lạc ở trong rừng. Trưởng ông mới ngửa mặt lên trời mà than dài. Bỗng thấy có một lão ông thần cao 7 thước, quần áo mây gấm, vừa đi vừa cười, rồi đọc rằng:
Trong thân có ngọc cớ sao lo
Còn cười trời được, thật là ngô
Người lòng trong sạch đâu sợ nạn
Cuối cùng sẽ được việc không ngờ.

Trưởng ông nghe lão ông hát biết là ý trời muốn trêu ngươi, bèn mới vui mừng hỏi rằng:
–    Lão ông từ đâu đến đây? Nơi này không thấy đường, mây mù u ám, không biết đường nào mới ra được chỗ có dân cư. Xin lão ông chỉ dạy, sẽ nhớ ghi ơn hậu này.
Lão ông ngửa mặt lên trời cười mà đọc rằng:
Đường mây lớp núi thấy trùng trùng
Người được ý này dễ thoát chung
Một phiến mây trùm trên bảo ngọc
Hướng Tây đi tới chỗ người cùng.

Lão ông đọc xong thì bay lên không mà đi. Trưởng ông bèn ngửa mặt lên xem xét, thấy một đám mây màu nhạt phủ bay trên trời phía trên đầu Ngọc Nương. Đám mây trôi đi trước. Ông cùng Thái bà và gia quyến nhìn mây mà đi theo hướng Tây. Được vài bộ thì thấy một tảng đá lớn chắn đường, không có lối đi. Ông bèn xem xét ở quanh tảng đá, thấy một hang đá. Ông chui vào hang đá lại thấy trong hang có một con đường nhỏ.
Ông cùng vợ con lách người mà đi, vượt qua hang đá thì mở thành đường lớn. Trong khoảnh khắc đã tới châu Hoan (tức nay là Nghệ An), qua đền Khổng Tước (tục gọi là điện Cuông). Ông lại thấy lão ông đã chỉ đường ở đó, đang đi vào trong đền. Ông bèn đi theo. Khi vào trong thì không thấy đâu nữa. Ngửa lên xem phía trên đền có dòng chữ lớn khắc trên biển được trang trí bằng vàng sáng láng, đề rằng:
Hùng Vương điện, Nam Thiên Thánh tổ”.
Ông biết đấy là Hùng Vương đã xuống răn dạy. Ông bèn làm lễ bái tạ trước điện. Lại đi tới châu Ái, đến châu Đà Bắc. Ông bèn ở đất đó. Ông vốn thạo nghề phong thủy, thường đi tìm xem đất. Người dân ở các châu động tại Đà Bắc đều kính phục, cử làm thầy tướng địa lý. Ông cùng với vợ ở đó, qua được 7-8 năm, trở nên giàu có phong lưu.
Khi ấy ở động Lăng Sương có một trưởng bộ, họ Nguyễn Cao tên Hành, gia thế giàu có, thạo việc cung tên, thường đi săn bắn. Ông tuổi đã cao mà nhưng chưa thấy mộng lan quế. Thái bà mất sớm. Lúc ấy Cao Công nghe tiếng Đinh Công ở Đà Bắc là một người tốt. Cao Công thường đi săn ở nơi ấy, để mong kết bạn.  Một hôm Cao Công thấy em gái của Đinh Công (tức là bà Thị Điên), có ý yêu mến, nhờ mai mối đến hỏi cưới. Đinh Công bèn gả cho. Hôn lễ xong Cao Công đón về nhà ở động Lăng Sương chung sống.
Đinh Công đi ngắm phong cảnh đồng nội, lại thấy núi cao muôn vẻ, sông chảy miên man, non nước như vẽ, cây cối sum xuê, chim ca vượn hót véo von, đài phượng gác mây lung linh, thành một cảnh đệ nhất trời Nam. Đinh Công thấy địa hình sơn thủy hữu tình, mới hứng khởi mới làm một bài thơ rằng:
Tạo hoá sinh thành tú khí linh
Lăng Sương đất ấy bốn kỳ hình
Lầu rồng gác phượng sinh hiền chúa
Voi phục rùa chầu xuất thánh minh
Giếng ngọc giấu châu, sinh bất diệt
Ấn đeo bình bạc, thọ mà vinh
Dân phong thuần hậu cùng vui vẻ
Khắp chốn chầu tôn đất tối linh.

Lại nói Đinh Công cùng Cao Công chơi được vài chục ngày lại về Đà Bắc. Khi ấy Ngọc Nương đã 16 tuổi. Môt hôm, Thái bà không bệnh tự nhiên hóa. Ông bèn chôn cốt tại đó (tức động Thanh Khê châu Đà Bắc). Đươc vài năm sau Cao Công đón Đinh Công về động Lăng Sương. Từ đó Đinh Công đến ở tại Lăng Sương. Cao Công tuy là em rể nhưng coi anh như cha mẹ ruột vậy.
Lại nói, Đinh Công ở đó được 3-4 năm thì chẳng may bà em họ Đinh lại mất (tức là vợ của Cao Công, em của Đinh Công tên là Đinh Thị Điên). Trong lúc lâm chung có để lời lại cho người cháu hiền quyền lấy Cao Công. Đinh Công thương tình Cao Công là người có nghĩa, bèn đồng ý gả. Ngày qua tháng lại, được hai năm rưỡi, một hôm (ngày 25 tháng 4) trời đẹp, hai ông quay về Đà Bắc thăm phần mộ của Thái bà. Qua một tháng, lại trở về nhà. Đến ngày 25 tháng 12 năm Ất Mão, trời đông, hai ông đi săn đến chỗ chợ (tức là chợ Lăng Sương), cùng nhau uống rượu rồi ra khe nước mà tắm rửa (ở bên cạnh chợ có một cửa khe giếng nước). Tắm xong lại lên vào chợ, rồi bỗng nhiên bị đau đồng mà cùng hóa.
Thái bà làm lễ an táng ở nơi đó (tức chợ Lăng Sương). Trong 3 năm các tiết, đều làm lễ tuần chay 49 ngày, làm trọn lễ hiếu. Ruộng đất của nhà chia mười phần, chỉ giữ lại một. Thái bà mới dựng nên một gian nhà cỏ ở ngoài khu dân cư nơi đầu ruộng cạnh chỗ giếng nước (giếng này có đất đẹp quý cuộc, mạch dẫn Canh Tân, thế hợp Đinh Quý, trái phải có voi ngựa rồng hổ phượng chim, hình người đang bái, nhất nhất quay đầu cùng lại chầu, ở ngay phía sau có một động cao làm đài lầu, phía trước có dòng nước ở minh đường, cùng với giếng thành hình chữ Ngọc).
Lại nói, Thái bà từ khi đến ở đất đó, mỗi tháng hai kỳ sóc vọng đều thấy hổ về nơi đó nằm chầu trước sân một lúc rồi đi. Tới năm Đinh Tỵ vào ngày 14 tháng 1 vào đêm Thái bà đang nằm mộng thấy một vị quan y phục cân đai chỉnh tề, cưỡi một con ngựa trắng đến thẳng nơi Thái bà đang nằm, tay cầm một bức chiếu chỉ rồng, quỳ mà tuyên đọc rằng:
Thiên thần xuất thế đã đến nay
Vâng mệnh Thiên tào báo sự đây
Hiền nhân Đinh Thị rồi sinh Thánh
Quyền cai thần chưởng Lăng Sương n
ày.
Đọc xong thì bay lên mà đi. Thái bà tỉnh lại thấy trời đã sáng. Ngày hôm đó (ngày 15 tháng Giêng), Thái bà ngồi trên bàn đá trắng, bỗng có mây bây năm màu, hòa quang sáng lành. Đến giờ Thìn sinh được một người con trai, dáng vẻ tuấn tú, cao lớn hơn người thường nhiều lắm. Rồng phun nước tắm, hổ ngậm đá đỡ cho bụng Thái bà (tới nay ở đền hiện vẫn còn hòn đá chèn và bàn đá ở bên giếng).
Lại kể được trăm ngày sau mới đặt tên là Nguyễn Tuấn. Khi Công được 6 tuổi, mẹ con một mình cô đơn, không có cách sinh nhai nên mẹ con cùng dẫn nhau tới núi thiêng Thứu Lĩnh Ngọc Tản (tức là chính ở tại xứ Mang Bội, châu Thủ Pháp, tổng Hoằng Nhuệ, huyện Thanh Xuyên) trú ở nơi đó. Lại cùng với một lão bà kia trên núi tên là Ma Thị (do ở nơi đất là Bùi nên người ta gọi là bà Bùi) Cao Sơn Thần nữ. Được ba năm quay về động cũ Lăng Sương (Tuấn Công khi 12 tuổi đổi tên là Nguyễn Tùng), có chí cho việc học hành. An bần lạc đạo, thật là có đại chí vậy.
Lại dẫn mẹ đến núi Tản Viên ở cùng mẹ nuôi. Được một năm rưỡi, Đinh bà mộng thấy có một tấm thẻ rồng treo trên tường trúc đề rằng:
Một áng mây hồng đến nhân gian
Mới gọi Tiên nương lên Quảng Hàn
Việc đời qua đi còn là thánh
Núi thiêng hương lửa mãi muôn vàn.

Đinh bà tỉnh lại, thuật lại mộng cho con nghe. Nguyễn Công mới tạ Ma Bà, mẹ con trở về nhà ở Lăng Sương. Sau 4-5 ngày, một hôm (ngày 12 tháng 6) Đinh bà đi ra ruộng cấy lúa, quay về sân, bỗng thấy một đám mây trắng từ trên trời hạ thẳng xuống, tự nhiên mà hóa. Nguyễn Công cùng với người trong động khi đó đang làm lễ chôn cất thì mối xông thành mộ (ở tại nơi góc ruộng có cửa giếng, có bàn đá, là nơi nhà ở trước đây sinh Tùng Công).
Lại nói, Nguyễn Công từ khi thân mẫu qua đời, gia cảnh trở nên khốn cùng. Một hôm vào buổi chiều tối thấy một lão bà từ ngoài đi vào trước sân nói rằng:
Người con côi!
Người con côi!
Quân tử vốn khó khăn
Hồng nhan nhiều gian nan
Con hiếu sẽ được yên
Muốn lập thân thành nên
Hãy về với mẹ nuôi
Dựa vào núi Tản thiêng.

Lời dứt thì biến mất. Tùng Công biết là mẫu thân dạy vậy, bèn quay về với lão bà Ma Thị mà ở. Đến một hôm lên núi Tản Linh chặt một cây to cành lớn. Trong hôm đó về báo cho người trong động (tức động Mang Bội) cùng lên chặt gỗ. Nhưng mà ngày hôm sau đến nơi, thì thấy cây gỗ cành lá vẫn xuân xanh, tươi tốt. Nguyễn Công lấy đó làm sự lạ thường, bèn lại một lần nữa chặt cây, rồi giả như đi về, quay lai nơi ấy để xem ra sao. Đến ban đêm thấy một ông lão thần cao hơn một trượng, tay phải cầm một cây gậy trúc, theo sau có một hề đồng cầm một cái chuông đồng, lắc liền ba hồi. Lão ông miệng niệm thần chú, dùng gậy mà chỉ. Bỗng thấy vụt kéo tới một trận sấm gió bồng bột, trời đất chao đảo. Cái cây hồi sinh.
Nguyễn Tùng nhìn thấy rõ ràng bèn chạy lại nơi cây cổ thụ, hai tay ôm lấy ông lão mà hỏi rằng:
– Ông lão từ đâu đến đây? Từ đâu đến đây? Tên cụ là gì? Sao vì thương xót một cành cây già mà phụ nỗi mong mỏi của người dân?
Ông lão rằng:
– Ta là đại thần tinh núi, tên gọi Thái Bạch Thần Tinh Tử Vi Thiên Tướng, vâng sắc chỉ của Ngọc Hoàng xuống trông giữ vùng núi non. Nay cái cây này là cây ngô đồng quý, giúp thánh ra đời, chính là mộc chủ trong núi Ngọc Tản, không thể chặt được.
Nguyễn Tùng chắp tay vái mà nói:
– Lời nói của thiên tướng đã làm sáng tỏ lòng mong mỏi một bề. Tùng tôi nay nguyện được nhận gậy thiêng cùng với thần chú để cứu việc sinh tử người đời, để báo ân sâu cha mẹ, sau là để đáp ơn ban phúc, khỏi phải đi kiếm củi nuôi mẹ nữa.
Ông lão nghe lời nói biết là bậc đại hiếu, không phải dạng người thường, bèn lấy gậy thiêng cùng thần chú giao cho. Lại nói rằng:
– Một đầu gậy có thể cứu sống người. Đầu dưới có thể trừ diệt hại. Hãy cẩn thận! Hãy cẩn thận! Không thể! Không thể!
Nói xong bay lên không mà đi. Nguyễn Công từ khi được gậy và chú, vui mừng liền trở lại núi thiêng, bái tạ mẹ nuôi mà nói rằng:
–    Con nay có được gậy thiêng của thiên thần, có thể cứu được sự sinh tử thế gian.
Việc xong thì về động cũ Lăng Sương, nhân từ đó xưng là Thần vương. Mọi người trong động đều kính phục. Thần Vương sửa sang lại lăng mộ của cha mẹ, làm lễ bái yết, nhờ thác nhân dân lo việc hương đèn. Mọi người đều nhận việc đó (hôm đó là ngày 4 tháng 4).
Hôm đó Thần vương đi qua thôn Cốc sách Thủy Pháp. Nơi ấy hay bị voi hổ làm hại. Thần vương đến nơi, thấy trăm con voi hổ đang ngậm 5-6 người sách Thủy Pháp. Thần vương lấy gậy chỉ vào, tức thì hồ về Bắc, voi sang Đông, bỏ người xuống đất. Thần vương lại chỉ đầu sinh của trượng, những người đó đều sống lại. Nhân dân hôm ấy (5 tháng 5) đều làm lễ xin làm thần tử. Thần vương đồng ý.
Thaàn vương lại đi đến bãi Trung Độ trang Ma Xá (cũng gọi là Trường Sa). Trên đường thấy đám trẻ chăn trâu cùng đánh chết một con rắn đen. Thần vương nói với lũ trẻ chăn trâu rằng:
–    Cho ta mua lại con rắn này.
Lũ trẻ đồng ý. Thần vương lấu 36 văn tiền mà mua, đem tới bãi Trường Sa, miệng đọc thần chú lấy gậy thiêng mà chỉ. Con rắn sống lại. Rắn đen cúi đầu, trên đầu có chữ Vương, bái tạ Thần vương.
Thần vương tự đứng xem, thấy rắn phân nước thành đường, mới biết đó là con của Long Vương.
Rắn đen về đến Động Đình đem sự việc tâu với Đế quân. Đế quân lập tức sai Thái tử đi đón Thần sư, từ tạ dưỡng mẫu, mà theo sứ đến Thủy cung. Đế quân ngồi ở chính tòa, mời Thần sư đến bên phải long sàng, phán rằng:
–    Giống rồng Đông cung là Thái tử của Trẫm. Hôm qua đi chơi gặp sự biến Trường Sa, may được Ngài cứu khỏi. Hôm nay mời đến muốn để báo đáp tấm tình.
Thần vương tâu rằng:
–    Ngày trước cứu giúp là bởi thấy có lòng nhân. Hôm nay lại được gần với vẻ rạng ngời của Đế quân, đâu dám mong báo đáp.
Hôm đó mở yến tiệc lớn. Sự xong Đế quân muốn tạ ơn bằng vàng bạc châu báu. Thần vương cố từ chối không nhận. Thái tử khi đó nói riêng rằng:
–    Đế quân có một cuốn sách thần, phép lạ bí truyền, kinh thiên triệt địa đều ở trong cuốn sách thần đó. Nếu Thần sư muốn thứ đó tôi sẽ tâu riêng với Đế quân ban cho.
Thần vương nói: Được.
Thế là Thái tử tâu riêng với Đế quân mang sách thần đem cho Thần vương xem. Có được sách thần, bèn từ biệt Thủy cung.
Lại nói, Thần vương về động Lăng Sương, lấy trượng cầu chú, dùng sách mà ước, tự nhiên hóa thành lâu đài vạn vật, rồi đem hành lễ ở lăng của mẹ và cha. Xong quay về núi Tản Linh nói với dưỡng mẫu rằng:
–    Từ thủa nhỏ con đã ở cùng với mẹ. Công đức của mẹ cao như trời vậy. Ngày nay con về đây xin nguyện thần vận quỷ dẫn cho một chút để báo đáp công đức ấy.
Bèn lấy sách thần mà ngầm cầu trời đất đọc ước cho một lần biến hóa. Tự nhiên thấy tiền đồng trăm vạn quan rơi xuống. Thần vương lấy đó mang vào dâng tạ ơn. Ma bà thấy tấm lòng thành thật đó, thầm mong vạn sự được đủ đầy, bèn lấy những vật rừng núi của mình đem trao cho Thần Vương. Nên bèn lập một đạo chúc thư, Ma Thị Cao Sơn Thần nữ tự ký.  
Sự xong, Thần vương lại mẹ nuôi chung sống. Được một năm Ma Thị mắc bệnh mới gọi Thần Vương lại mà dặn lại rằng:
– Sau khi mẹ Ma Thị mất, Vương lập cho một cỗ thọ đường đặt ở miếu đường phụng thờ cho tỏ đạo hiếu.
Thần Vương lĩnh mệnh. Hôm ấy bà Ma Thị mất. Thần Vương làm lễ chôn cất (lăng này chôn ở vực núi Đãng Khô sách Phương Giao huyên Thanh Xuyên, nay vẫn còn).
Lại kể rằng Thần Vương trở về nơi động Lăng Sương cùng với Tả Hữu Kiên Thần (tức là cháu chắt của bà Ma Thị) xem như anh em cùng một bọc, phù tá hai vai. Khi ấy Thần vương về động Lăng Sương, hôm đó bèn truyền nhân dân thiết lập 2 bệ cùng với 2 cột đồng ở tại nơi lăng (tức mộ tổ của Đinh Công và Nguyễn Công), mà làm gia quán kỷ cương. Từ đó các châu động trang sách đều là thần tử. Hàng ngày hứng khởi đàn ngâm. Hoặc luyện thuốc trường sinh, đi du ngoạm non xanh nước biếc, bay lên khó biết, biến hóa vô cùng, thật là bậc thánh trên đời vậy.
Lại kể khi đó cơ đồ họ Hùng đến lúc mạt suy. Duệ Vương sinh được 20 hoàng tử nhưng đều lần lượt theo nhau về cõi tiên. Rồi sinh được 2 con gái. Công chúa Tiên Dung về sau gả cho Chử Đồng Tử. Còn lại công chúa Mị Nương nhân duyên định ước còn chưa đến kỳ. Vương muốn tìm người tài mà gả để tiếp nối ngôi báu, bèn lập một tòa lầu ở cổng thành Việt Trì, tên đề “Lầu cầu hiền kén rể”. Truyền hịch đi khắp thiên hạ thần dân trăm họ. Bút văn múa mà hình rồng động. Trận võ bày mà hổ báo khiếp. Bốn bể anh hùng. Tuy nhiên đều là được mặt này mà mất mặt kia, không có toàn tài, khó để xưng nhận vậy.
Lại nói, khi đó có Tản Viên Sơn Thánh gửi thư cho Thủy Tinh cùng đến kinh thánh, vào tâu trước ngự tiền rằng:
– Chúng thần thẹn vì tài hèn, may sinh ra trên nước của Vua. Trộm nghe Thánh thượng mở khoa lớn chọn rể. Chúng thần đến muộn, xin Vua ngự cho thử thi tài, may thì không ngoài hịch chiêu hiền vậy.
Vua bèn rời giá đến lầu để xem thi. Thế là Sơn Tinh đến ngồi ở đầu sông. Thủy Tinh quay về đáy nước, biến ra muôn hình vạn trạng, xuất quỷ nhập thần, biến hóa mù mịt. Sơn Tinh tay trái cầm sách, tay phải cầm gậy, miệng ngâm thần chú mà chỉ. Tức thì kỳ kỳ quái quái đều theo đầu gậy mà biến hết. Lại rời núi Ngũ nhạc ra giữa sông lên cao ngàn vạn trượng sánh trời đất.
Hai người làm phép biến hóa đều là huyền diệu. Vua không biết gả cho ai, quay giá về cung, gọi lại nói rằng:
–    Trẫm chỉ có một viên ngọc Lam Điền. Nay hai khanh đều thật là anh hùng. Hôm nay xem ra không thể thẩm định được thắng thua thuộc về ai. Nếu ai mang được sính lễ đến trước, Trẫm sẽ gả cho.
Thế là Thủy Tinh quay về Động Đình để cầu tìm vật lạ. Sơn Tinh xuống ngay dưới lầu, tay lấy sách thần đọc mật chú. Bỗng thấy voi trắng chín ngà cùng các kỳ trân dị vật từ trên trời hạ xuống. Trời còn tối vào giờ Tý thì đem sính lễ vào lầu rồng. Vua mới gọi công chúa lại mà gả cho Sơn Tinh đón hôn.
Sơn Tinh đi khỏi thì tới giờ Mão Vua thấy Thủy Tinh mang lễ vật đến. Vua nói:
–    Trẫm theo như ước, Sơn Tinh đã đem sính lễ đến trước rồi.
Thủy Tinh trở về.
Lại nói, khi ấy Duệ Vương trị nước đã 115 năm, mới muốn nhường ngôi cho con rể. Sơn Thánh cố từ chối không nhận. Vua lại rằng:
–    Hùng đồ đã mạt cho nên mới cầu tài nối ngôi. Ngài không nhận thì còn ai trong nước này nữa?
Sơn Thánh còn do dự chưa quyết. Khi đó vào năm Ất Mùi, Thục Vương khởi binh đến xâm phạm bờ cõi. Vua khiển Sơn Thánh cùng với Tả Hữu kiê thần trong ngày (15 tháng 5) đại hội đãi quân sĩ, rồi tiến về kinh thành với quân cả nước là 3 vạn, tiến đến Mộc Châu. Sơn Thánh một mình ngồi ở đầu núi, cầm sách đọc mật chú. Bỗng nhiên từ tren trời giáng xuống một vị đại thần tướng, thân cao 5 trượng, dưới chân có dây lửa vạn nhận, cầm một cây tiêu gỗ dài 30 trượng, đứng bên trái của Sơn Thánh (sau phong là Tá Thánh, cũng thờ phụng ở đền Tản Viên Sơn) mà thôi. Một trận sấm gió nổi lên, gẫy cây bạt nhà, cát bay đá chạy. Quân Thục đại loạn bỏ chay. Phục binh bốn hướng xông đến, bắt sông không thoát. Thần tướng bay lên trời. Sơn Thánh khải hoàn. Vua mở tiệc, phong cho các công thần.
Được hai năm Thục Vương lại dấy binh phục thù. Vua triệu Sơn Thánh. Sơn Thánh nhận mệnh tiến thẳng đến đồn chính của quân Thục, đại chiến một trận, lấy được ấn tín của Thục. Mới viết rằng:
–    Nước Nam có thần tướng, chớ nên khinh động. Đợi khi có chiếu đến hãy tấn công.
Tướng Thục tuân lệnh, kiên trì phòng thủ không đánh. Sơn Thánh tay cầm gậy, miệng ngâm thần chú mà chỉ. Bỗng quân Thục đại loạn. Sơn Thánh đại phá, số chết không kể, số sống bắt đem về kinh sư. Sơn Thánh khải hoàn. Vua bao phong Sơn Thánh, lại tặng phong Đinh Thái bà cùng Tả Hữu kiên thần, cho phép dân hộ nhị Lăng Sương được miễn tất cả các tạp dịch. Đều phong cho làm làng hộ nhi quý ấp.
Phong Tản Viên Sơn Thánh Mẫu Đinh Phi chủ Ngọc bệ hạ.
Phong Tả kiên thần Cao Sơn hiển ứng Đại vương.
Phong Tản Viên Sơn Tam vị chiêu dung hiển ứng Nhạc phủ kiêm Thượng đẳng thần Ngọc bệ hạ.
Phong Hữu kiên thần Quý Minh linh hiển ứng Đại vương.
Sơn Thánh trở về Lăng Sương. Qua hơn một tháng, tới ngày 10 tháng 11 thì về quốc đô. Duệ Vương nhường ngôi, Sơn Thánh cố từ chối không được, nên giúp nhiếp chính. Được mấy năm Sơn Thánh bàn rằng:
–    Cơ đồ họ Hùng trải thời gian đã dài, ý trời tất nhiên có hạn nên mới sai Thục Vương hai lần lại gây hấn. Vả lại Thục Vương là bộ chủ Ai Lao, cũng là tông phái của hoàng đế trước đây. Nên Bệ hạ và thần học lấy thuật thần tiên. Chi bằng chốn Bồng Hồ, Lãng Uyển mà tiêu dao bất lão. Chí ấy mới thật là cao vậy.
Vua nghe theo bèn gửi thư cho Thục Vương. Thục chủ sai sứ đến tạ. Vua nhân đó ban cho nỏ thần, rồi về núi Nghĩa Lĩnh, hẹn cùng Sơn Thánh và công chúa Mị Nương, hôm đó (5 tháng 5) cùng nhau giữa ban ngày mà bay lên trời, hóa sinh bất diệt.
Kể đến Thục An Dương Vương được nước, cảm ơn nhường ngôi của Duệ Vương và Sơn Thánh lớn như trời đất, bèn dựng lập dao đài với hai cột đồng ở núi Nghĩa Lĩnh. Lại rời giá đến núi Tản Viên tu sưa đền miếu, làm lễ bái tạ công đức lạ kỳ đó, rồi xa giá về kinh thành. Triệu các tông phái của Duệ Vương và Sơn Thánh cùng với các quê làng quý ấp, các cung chốn phụng thờ, tất cả đều ban làm làng trung nghĩa, trưởng tạo lệ. Lại cấp cho ruộng ở tại làng để phụng thờ cùng với sự lành quốc gia, vạn năm không dứt, vạn cổ trường tồn.
Tự Đức năm thứ 3 ngày 15 tháng 10.
Tiền triều Hồng Phúc năm thứ nhất ngày 10 tháng Giêng Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính vâng soạn.
Năm Vĩnh Tộ thứ 20 ngày tốt tháng 2 Quản giám bách thần Tri điện Hùng lĩnh thiếu khanh Lê Nguyên Hải theo như bản cũ vâng chép.
Nay sĩ tử Nghệ An Song viện quán Hoàng Sĩ Đoạn lại theo như nguyên bản vâng sao chép.

Dịch theo bản khai thần tích năm 1938 của làng Lăng Sương, tổng Tu Vũ, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.

Ban thờ Đinh Phi Thánh mẫu ở đền Lăng Sương.

Ngọc phả Tam vị Tản Viên của trang Quang Diệu

Ngọc phả ba vị Tản Viên Sơn Thánh, Tả Hữu Lưỡng Kiên Thần Cao Sơn, Quý Minh

Chi Chấn, bộ thứ tư, thượng đẳng quốc tế

Đất Việt xưa trời Nam mở vận, phân ngang núi sông bởi sao Dực, sao Chẩn. Nước Bắc lúc đầu thẳng theo hướng sao Ngưu, sao Đẩu. Từ triều Hùng mở vận, Thánh tổ dựng cơ đồ, nước biếc một dòng, mở vận đế thánh, vua sáng. Núi xanh vạn dặm, lập nền cung điện đô thành. Mở vật giúp người, thống lĩnh 50 bộ, thế quản chư phiên vững chắc. Làm vua trị nước có hơn hai ngàn năm, mãi giữ cơ đồ tổ tông vững như bàn đá. Hiển ứng linh thiêng ở Nghĩa Lĩnh. Lưu truyền hươnng lửa nơi núi Hùng. Người đời sau có thơ vịnh rằng:

Tạo dựng Hùng đồ nghiệp mãi đây
Mười tám vị tên truyền mãi này
Tích xưa con đế nòi tiên đó
Thủy tổ mở trời sử chép dầy.

Bấy giờ cơ đồ Hùng Vương truyền 18 nhánh tới Duệ Vương ở ngôi, đóng đô tại Việt Trì bên sông Bạch Hạc, lập nước hiệu là nước Văn Lang. Kinh đô gọi là thành Phong Châu. Vua là người có tài cao mưu lớn, tư chất sáng láng, nối nghiệp tổ tông, cơ đồ 17 đời thịnh trị, dốc lòng quản thiên hạ, yên định Trung Quốc.

Trước đó, ở động Lăng Sương, huyện Thanh Châu, phủ Gia Hưng, đạo Sơn Tây, động này có trời Nam gấm vóc, đất rộng suối xanh, hợp thành một cảnh đẹp bậc nhất ở trời Nam. Ở đó có một lão ông họ Nguyên tên Ban, thái bà tên Tạ Thị Hoan. Ông bà là những người tích đức làm việc nhân, chăm lo giữ gìn việc cúng lễ hương lửa, một đời phong lưu, giàu sang dư giả. Khi ấy ông Nguyễn đã gần 53 tuổi. Bà Tạ Thị Hoan cũng đã sống trải nhiều năm, vậy mà phòng lan chưa thấy sinh hương, buồng quế chưa đơm một đóa. Ông Nguyễn có người anh ruột tên Nguyễn Cao Hành. Vợ ông Cao Hành tên là Đinh Thị Điên. Vợ chồng đều tuổi đã ngoài 50 mà chưa có con. Vì sự hiếm muộn đó mà không vui. Nhằm đúng ngày giỗ cha, anh em than thở với nhau rằng:

–    Lời xưa nói 30 tuổi chưa có con trai là điều bất hiếu lớn. Huống chi anh em ta đều đã ở tuổi năm sáu mươi, mà chưa có niềm vui con trẻ. Giả như có ngày kia chết đi, việc hương khói tổ tông cha mẹ lấy ai ủy thác? Đó chẳng phải là đại bất hiếu sao? Chi bằng phân phát tài sản để tạo phúc, cầu cho có được con cái, để lòng người được yên, ý trời có thể đổi.

Thế rồi anh em phân tán hết tài sản, giúp nghèo cứu khổ. Cứ như vậy được ba bốn năm. Một hôm, tiết xuân tháng Giêng, khắp nơi hoa nở ngập đất, người người nhộn nhịp tìm hương. Anh em ông bèn lên chơi núi thiêng Tản Lĩnh. Đến khi trở xuống núi, ở dưới chân núi thấy một ông lão vừa đi vừa hát. Lại có mấy chú bé áo xanh cầm một bầu rượu và một chiếc la bàn. Hai anh em nói với nhau rằng:

–    Đây nếu không phải tiên ông chốn Bồng Lai thì là thần linh núi Tản, không phải người thường. Có lẽ nhà ta làm việc thiện nên Hoàng thiên mới cho tiên ông này xuống để đáp việc đức mà nhà ta đã làm.

Dứt lời, anh em chạy lại trước mặt ông lão, cúi người làm lễ nói:

–    Gia đình chúng thần đức bạc. Anh em thần tuổi tác đã cao mà không có con trai. Dám xin tôn ông mở lòng cứu anh em chúng thần. Vạn điều mong được đại đức tái sinh của tôn ông.

Ông lão nghe vậy bèn cười mà nói rằng:

–    Ta không phải tiên, không phải thánh, chỉ ở trong cuộc trần thế này mà thân ở cõi tam sinh. Đứng xem sự rong ruổi của phong thủy, qua lại nhìn phúc thiện trên nhân gian. Vì người mà tạo phúc, vốn không phải là ý của ta. Nay anh em các người gặp ta tại đây là vì nhà các người có phúc dày, không phải bạc phúc đâu. Ta mới thấy có một thế đất tại ngọn núi Thu Tinh. Không quá trăm ngày sẽ sinh được 1 thánh 2 thần. Anh em các người mau về nhà đem phần mộ của cha đến để ta chôn vào đó.

Hai ông nghe lời đó rất vui mừng, chạy về nơi ở, thu lấy hài cốt của thân phụ đem đến cho ông lão. Ông lão mới chôn ở trên đỉnh núi Thu Tinh theo hướng dựa Quý hướng Đinh. Chôn xong thầy trò ông lão không biết biến mất ở đâu. Anh em hai ông lập đàn làm lễ bái tạ. Từ đó trở về càng thêm lòng tạo phúc, cố sức làm việc nhân. Được khoảng trăm ngày đều thấy hai bà của hai nhà cùng có thai. Mang thai dài 12 tháng. Ngày 6 tháng Giêng năm Đinh Hợi, vợ người anh là Đinh Thị Điên sinh được một bào một người con trai. Vợ người em là Tạ Thị Hoan sinh được một bào hai trai. Tất cả đều có phong thái chỉnh tề, khí chất khôi ngô, khác vượt người thường lắm lắm.

Đương lúc khi sinh ra có khí lành vương vấn, hương bay ngào ngạt. Sinh được trăm ngày thì con người anh được đặt tên là Tuấn Công. Con nhà người em, người đầu tên Sùng Công, người sau là Hiển Công. Ngày qua tháng lại khi đã được 13 tuổi thì đều tìm thầy mà học. Học được vài năm, nghìn kinh vạn quyển, có thể tỏ tường như Khổng Mạnh. Bốn khoa ba truyện, chẳng nhường mưu kế Tôn Ngô. Đến 17 tuổi, cha mẹ hai nhà trong vòng cùng một năm đều theo nhau mà mất. Anh em ba ông khóc lóc với trời nhưng chẳng thể làm gì được. Bèn tìm đất tốt mà làm lễ chôn cất. Ba năm chịu tang, hương lửa theo nghi lễ.

Từ đó gia tài đều cạn sạch. Song dù ở cảnh bần hàn mà tính lạc quan vẫn không thay đổi. Ngày thì rong ruổi theo bầu gió ánh trăng, búa rìu làm kế sinh nhai. Đêm khuya đọc sách bên án tuyết đèn huỳnh, rượu vui một bầu làm thú vị. An bần lạc đạo, lấy đó làm chí lớn. Tuy nhiên đôi lúc chợt xót cha mẹ gian khổ, thương cha mẹ khó nhọc, mà thường buông sách thở dài, rơi lệ rằng:

–    Sinh ra ta, nuôi dưỡng ta, trông nom ta, chăm sóc ta, nghĩ ơn cha mẹ như núi như biển. Nay chưa một chút báo đáp. Ngày sau dù có vạn báu ngàn lộc cũng không còn gặp mà báo đáp.

Từ đó sáng kiếm chiều vay, bữa đực bữa cái, không có lúc mừng. Anh em than thở với nhau rằng:

–    Nghèo hèn như thế này, không có kế sinh nhai, lấy gì để sống.

Vì đó mà cùng đến núi thiêng Tản Lĩnh xin làm con nuôi của Thần nữ Ma Thị Cao Sơn. Ngày ngày hái củi để kiếm nuôi sống. Sau có được gậy trúc của Thái Bạch Thần Tinh và sách ước của vua thủy chốn cung rồng, báo đáp được ơn sâu của bà Ma Thị, cứu được họa phúc ở nhân gian. Bà Ma Thị vì người con nuôi có hiếu mà đem hết núi rừng, khe ngòi, đất đai, cây cối lập chúc thư giao cho Tuấn Công. Tuấn Công bèn phân đất cho hai em, cho Sùng Công ở núi Nộn, Hiển Công ở núi Lãng. Từ đó danh tiếng nổi lên. Thiên hạ đều gọi Tuấn Công là Tản Viên Sơn Thánh, Sùng Công là Tả Kiên Thần, Hiển Công là Hữu Kiên Thần.

Lại nói, lúc này cơ đồ họ Hùng về cuối, ý trời muốn kết thúc. Duệ Vương sinh được 20 nam hoàng tử, 4 nữ công chúa, đều cùng nhau theo về trời. Chỉ còn lại hai người con gái. Người thứ nhất là Tiên Dung công chúa, Vua sau gả cho ông Chử Đồng Tử. Còn lại người thứ hai là Mị Nương công chúa, cung thiềm còn khóa, nhụy ngọc đang phong, lương duyên chưa định cùng ai. Vua bèn dựng lầu ở cửa thành Việt Trì, ban chiếu truyền các thần tử trong thiên hạ, hễ ai có tài trí thông minh, đức độ anh hùng, có thể nối được ngôi báu thì sẽ định kế truyền cho.

Ngày đó bên sông tàu thuyền, trước lầu xe ngựa, bút văn múa như ảnh động rắn rồng, sao sáng sa sông lạnh. Trận võ bày làm hổ báo hồn kinh, sấm sét vang rền góc biển. Một vùng nước nhà, bốn biển anh hùng. Tuy nhiên được cái này mất cái kia, lục tục mà trôi qua, không có ai có thể xứng là có toàn tài. Thời bài Đào yêu chưa có người gảy đàn ngâm thơ vậy. Người đời sau có thơ vịnh rằng:

Trăng gió một trường giục động tâm
Bốn bề chật mắt thấy anh quần
Việt thành then khóa xuân nào thấy
Ai người sẽ mở, ai người cầm?

Bấy giờ Sơn Thánh nghe chuyện bèn nói với Tả Hữu Kiên:

–    Có câu gian nhân khó được. Người đàn ông gặp gỡ được đã là khó huống hồ là cưới vợ là công chúa. Nay con gái nhà vua trong cung là một bậc khuynh thành. Ta chẳng vì xa mà không đến, nắm lấy mối tơ duyên này chẳng cho ta thì còn ai được nữa.

Dứt lời cùng nhau đến trước lầu ở kinh thành. Lại có Thủy Tinh cũng đến tham dự thi. Vua ngự xem thi tài, thấy Sơn Thánh cùng Thủy Tinh đều có phép lạ thông trời thấu đất, có thuật màu nhiệm chiếu nước dời núi. Vua cho là những người tài nhất, bèn triệu đến nói rằng:

–    Trẫm chỉ có một viên ngọc Lam Điền mà hai khanh đều đúng là bậc anh hùng. Ngô vui thì Tần rầu. Hán ca thì Sở khóc. Không biết phải gả công chúa cho ai. Sớm mai ai có thể đem sính lễ đến trước, Trẫm sẽ gả cho người đó.

Thế là Thủy Tinh trở về thủy cung, do cầu kỳ chọn các vật lạ (nguyên trước đó sách ước đã đem cho Sơn Thánh lấy, Thủy Tinh không cưới được công chúa mới kết oán thù. Hàng năm cứ quãng tháng sáu tháng bảy lại dâng nước đến đánh, về sau thường gặp).

Sơn Thánh đi xuống ngay dưới lầu, miệng đọc thần chú, lấy sách ước mà cầu. Tự nhiên thấy voi trắng, ngựa hồng cùng các vật lạ, trân kỳ từ trời rơi xuống. Sơn Thánh nhặt lấy, đương lúc còn tối vào giờ Tí đem sính lễ đến lầu rồng. Vua gọi công chúa đến gả cho. Sơn Thánh làm lễ đón về sống ở sơn động, để lại hai vị Tả Hữu kiên thần cho vua cha.

Vua rất yêu mến bèn phong người em thứ hai của Sơn Thánh Tả Kiên thần Sùng Công là Tả đô đài Đại phu, người em thứ ba Hữu Kiên thần Hiển Công làm Hữu đô đài Đại phu. Vua tôi đức hợp, thiên hạ thái bình, vạn dân gặp được thời no đủ. Bốn biển ngưỡng cảnh tượng thái hòa. Duệ Vương vì công lao đó mà ban cho búa sắt, cùng hưởng lành với đất nước.

Hiển Công, Sùng Công và Sơn Thánh như những con trời cháu tiên đi khắp nơi trong đất nước. Núi sông Thần Phù, Yên Tử mây trắng vầng hồng cao thấp. Gió trăng Vinh Quẫn, Long Biên, núi xanh nước biếc trên dưới. Có lúc đi du ngoạn sông tiểu hoàng thưởng thức sự thú vị của đánh cá. Đi qua trang Quang Diệu, tổng An Lạc, huyện Mỹ Lương, phủ Quốc Oai, Sùng Công và Hiển Công thấy đất Quang Diệu có nước đẹp núi xanh, địa thế quanh co, hổ rồng chầu cuộn, tưởng cũng là một cảnh quang đẹp đẽ. Bèn xin với Sơn Thánh cho dựng một cung ở đất Quang Diệu. Hiển Công, Sùng Công ở đó, khuyến hóa nông tang, giúp thiện trừ tai, lại có thể dùng nhân nghĩa mà cố kết lòng người, lấy hòa mục đắp thành lễ nhượng. Thật là có công lớn với dân.

Bấy giờ Duệ Vương ở ngôi đã 105 năm, triệu Sơn Thánh với Sùng Công, Hiển Công vào triều cùng với Vua lo việc chính sự, lại muốn truyền ngôi cho Sơn Thánh. Lại có bộ chủ Ai Lao họ Thục tên Phán, cũng là dòng dõi của nhà họ Hùng, đổi sang họ Thục, phân trị Ai Lao. Thục Phán tới đó nghe đồn Duệ Vương tuổi thọ trời cho đã cao, mà 20 hoàng tử đầu đã về chốn tiên bồng, không có người nối dõi, bèn thừa cơ phát động can qua, cầu kết các nước láng giềng, chỉnh đốn trăm vạn tinh binh, tám ngàn tuấn mã, chia làm 5 đạo. Một đạo theo đường Thập Châu, Hoàng Đạo tới núi Quỳnh Nhai mà ra. Một đạo theo đường Tuyên Quang, hai châu Tụ Long, Bảo Lạc mà đến. Một đạo theo đường Ái Châu, núi Tam Điệp mà ra. Một đạo quân thủy theo Hoan Châu, cửa Hội Thống, thủy bộ cùng tiến. Quân thanh chấn động. 

Duệ Vương lo lắng, bèn gọi Sơn Thánh đến hỏi kế sách. Sơn Thánh tâu rằng:

–    Hơn hai ngàn năm nay, các bậc vua thánh hiền đã có sáu bảy. Ơn sâu đức dày, đã thẫm đẫm vào cốt tủy. Mà nay nước giàu quân mạnh. Uy đức của Bệ hạ mở ra nước ngoài. Còn người Thục đã không tự giữ gìn, lại dám dấy động, việc nắm lấy phần thua đã có thể thấy trước. Một khi Bệ hạ xét tội thảo phạt, lấy nghĩa mà phục, thì tất con dân đều theo Bệ hạ mà không theo địch. Việc dẹp mối lo này có gì mà không được. Như tình hình hiện nay, thần xin vì thánh giá mà tự dẫn các tướng tài cùng với 30 vạn binh hùng. Giặc Thục không quá một tháng có thể bình được.

Vua rất mừng, đồng ý. Thế là Sơn Thánh ra diễn võ trường, truyền các tướng đến nhận lệnh. Thứ nhất là hai vị Tả Hữu kiên thần Sùng Công và Hiển Công dẫn hùng binh 5 vạn, tì tướng 50 viên tiến theo đường Ái Châu trừ giặc Thục. Còn lại 4 chi đạo giặc Thục, Sơn Thánh cùng các tướng phân ra tấn công. Sùng Công và Hiển Công bái tạ nhận lệnh, lĩnh binh đường đường mà tiến. Tới trang Quang Diệu, huyện Mỹ Lương thì đóng quân nơi cung sở. Hôm ấy nhân dân trang Quang Diệu làm tiệc bái lễ, xin được theo hai ông dẹp giặc. Hai ông bèn lấy trong trang 7 người họ Đinh, 6 người họ Bùi, 6 người họ Lê, 6 người họ Nguyễn, 3 người họ Hoàng, 3 người họ Trần, 2 người họ Phạm, 2 người họ Trương. Cộng tất cả là 40 người làm gia thần thân tín. 

Ngày hôm ấy đại quân thuyền ngựa song hành, tiếng động dậy cả hai bên bờ sông. Thủy bộ cùng tiến, tiếng sấm vang ngoài ngàn dặm. Quân uy ngùn ngụt như bốc tới trời. Tiến thẳng đến Ái Châu, địa đầu của núi Tam Điệp, cùng với giặc Thục một trận đại chiến, thế như chẻ tre đuổi gió, uy dậy như vặn củi bẻ cành. Bắt sống được chính tướng của giặc Thục, chém ngay dưới cờ, và chém hơn ngàn đầu các quân tướng sĩ của giặc. Thế là đạo quân đầu của giặc Thục đã được hai ông bình dẹp. Còn 4 đạo quân giặc Thục do Sơn Thánh cùng các tướng hiệp sức giao chiến. Bốn đạo quân Thục đều thua to tan tác, một xe không thoát, một ngựa không sót. Người đời sau có thơ vịnh rằng:

Đúng là thước kiếm xua giặc dữ
Liền ngay thành chiếm lại cho vua
Nghìn năm về trước, nghìn năm lại
Quốc gọi là thần, đáng con nhà.

Khi đó Sơn Thánh truyền các tướng hội về một chỗ, làm biểu tâu lên. Vua ban chiếu cho quay về, gia phong tướng sĩ thêm cấp bậc. Phong Sơn Thánh là Nhạc phủ kiêm Thượng đẳng, tăng cấp Sùng Công làm Cao Sơn Đại vương, Hiển Công làm Quý Minh Đại vương. Lúc bấy giờ Sùng Công và Hiển Công tâu với Vua xin Vua cho trang Quang Diệu được miễn đi lính, tô thuế và tạp dịch để sau khi hai ông trăm tuổi làm nơi thờ phụng. Vua hạ chiếu đồng ý. Ngay hôm đó hai ông cùng với các gia thần và nhân dân Quang Diệu nghênh đón chiếc sắc về nơi cung Quang Diệu.

Nhằm vào dịp mồng 6 tháng Giêng là ngày mừng sinh nhật của hai ông, tổ chức ca hát, đấu vật trong 10 ngày. Từ đó hai ông ở cung Quang Diệu. Ngày cùng với một số gian thần của Quang Diệu đi chu du phong cảnh Ái Châu và hai huyện Mỹ Lương, Bất Bạt. Hoặc có lúc săn cáo bắn thỏ, dưới trăng dong buồm nơi sông nước. Hoặc có lúc thích núi vui non, tắm gió mát trong nơi đồng nội. Cứ hàng năm ngày sóc vọng các tiết lớn nhỏ lại về chầu Duệ Vương, chưa từng vắng mặt. Chầu xong, lại quay về nơi cung Quang Diệu mà ở.

Khi Vua truyền ngôi cho Sơn Thánh. Sơn Thánh thay Vua lo chính sự. Được ba năm, Thục Vương gửi thư cầu hòa, xưng thần và nộp cống. Sơn Thánh bèn tâu với Vua rằng:

–    Mười tám đời họ Hùng, lòng trời có hạn nên mới sai Thục Vương thừa cơ đến xâm chiếm. Vẩ lại Bệ hạ sinh 20 con trai đều đã thân về Bồng Lãng, không mong có người kế truyền. Đó không phải là điều đại biến của nước nhà sao? Trước đây Thục Vương tuy có ngông cuồng, nay lại đã xưng thần nộp cống, biết tiến biết lui, đúng là một vị hiền quân. Hơn nữa, Thục chúa tuy là bộ chủ Ai Lao, nhưng cũng là tông phái của hoàng gia. Bệ hạ hà tất chỉ vì yêu mến một cảnh sắc phương Nam mà cưỡng lại ý trời. Thần xin cùng Bệ hạ luyện thuật biến hóa thần tiên, chẳng bằng rong ruổi nơi chốn bất lão Bồng Lai, Lãng Uyển. Gác phượng lầu rồng quyết bỏ tránh nhiễm bụi trần. Xin Bệ hạ nhường cho Thục.

Vua nghe theo bèn gọi Thục Vương đến nhường lại ngôi vị. Xong việc, Vua cùng với Sơn Thánh giữa ngày bay lên trời, hóa sinh bất diệt.

Khi đó Sùng Công và Hiển Công sống ở nơi cung Quang Diệu nghe vậy, than rằng:

–    Thiên hạ nhà họ Hùng đã thuộc người khác.

Bèn mới bày tiệc mời các phụ lão và nhân dân đến uống rượu. Hai ông mới nói rằng:

–    Chúng tôi cùng nhân dân đã có nghĩa xưa, không phải chỉ một ngày, sao nay có thể quên được. Chúng tôi có một cung đền lưu tại nhân dân, làm nơi anh em chúng tôi sau khi trăm tuổi có chỗ tụ lại tinh thần. Vào các ngày sinh ngày hóa của chúng tôi các nghi lễ cần tuân thủ, không thể bỏ được.

Lúc đó nhân dân và phụ lão trang Quang Diệu đều bái tạ nhận mệnh. Hai ông cùng đọc rằng:

Lễ nghi một chốn tụ tinh thần
Vạn cổ khói hương mới mỗi lần
Tuy nói là vui trong cuộc rượu
Quang Diệu lưu tình ngàn vạn xuân.

Đọc xong cùng một số người dân lại theo tiếng hạc, tiếng gió mà chu du bốn biển. Lúc thì reo đàn múa trúc, thơ văn ngân đối đất trời. Nhạc phượng ca loan, sắc thanh thú vị Bồng Lai. Ba nhánh chủ trương trăng gió. Năm hồ dấu tiên thuyền câu. Soi cảnh hội sương khói ngày đêm. Vạn hình mây bay quang cảnh. Nước trong xanh, núi đẹp đẽ, quy lại mảnh áo đất trời. Nam là thánh, Bắc là thần, ra vào một trời phong cảnh.

Một ngày các thầy trò hai ông đến núi Thu Tinh. Hai ông lên núi thăm viếng phần mộ. Bỗng thấy trước mặt có một người râu tóc bạc phơ, chỉ núi Thu Tinh mà rằng:

–    Núi này phàm là người khi chết tất tinh thần sẽ quay về đây, do đó gọi là núi Thu Tinh.

Dứt lời, người đó xuống núi mà không biết đi đâu. Hai ông cùng đọc một bài thơ:

Từ đế vương cùng muôn triệu dân
Quy về sẽ phải tụ tinh thần
Sự truyền khó luận chân hay ảo
Nhớ tên núi đó, lẽ như chân.

Đọc xong thì trời đất tối tăm, sấm gió nổi lên. Nghìn chim tụ tập, trăm thú lại chầu. Từ trên không trung có tiếng đàn hát du dưa. Khi đó Sùng Công và Hiển Công thấy có một ngôi sao lớn từ trong thân bay ra. Hai ông ngồi ngay ngắn trên bàn đá mà cùng hóa (đó là ngày 6 tháng 11). Ngay khi hai ông hóa, những người dân Quang Diệu đi theo mới quay về nói với nhân dân lập miếu thờ phụng. Lúc ấy, Thục chúa nhận ngôi vị, cảm ơn nhường nước của Duệ Vương bèn cho tu sửa miếu điện hoàng gia ở núi Nghĩa Lĩnh để thờ phụng các thánh tổ họ Hùng cùng với ba vị Tản Viên. Tới khi đó các tướng có công giúp nước đều được phong Thượng đẳng phúc thần, sai các hương ấp nơi ở lập miếu phụng thờ, xuân thụ lệnh các quan đến cúng tế, bốn mùa hương lửa, vạn đời duy trì, cùng với quốc gia hưu thịnh. Tốt đẹp thay!

Phong Cao Sơn Đại vương Thượng đẳng thần (bên trái, huý Sùng)

Phong Tản Viên Sơn Quốc chủ kiêm Thượng đẳng thần (chính giữa, huý Tuấn)

Phong Quý Minh Đại vương Thượng đẳng thần (bên phải, huý Hiển)

Cho phép cho trang Quang Diệu, tổng An Lạc, huyện Mỹ Lương phụng sự.

Lại nói, Thục Vương ở ngôi được 50 năm, có người Chân Định họ Triệu tên Đà dẫn quân đến đánh, nên nhà Thục mất. Triệu Đà được nước, cha truyền con nối, 5 đời làm vua. Từ đó đất Việt ta thuộc Hán. Đến Đông Hán Quang Võ lấy Tô Định làm Thái thú đất Việt. Định là người tham tàn, bạo ngược, xâm chiếm trung nguyên. Họ Triệu tàn thương, không người cứu giúp. Đến khi có người cháu gái Hùng Vương là Trưng nữ tướng quân, tên là Trắc Nương, cùng với em ruột là Nhị Nương, nổi chí oai hùng, dẫn quân đến đánh. Đến Mỹ Lương lập đàn cầu đảo Thánh tổ họ Hùng cùng với ba vị Tản Viên. Đến khi đuổi được Tô Định, Trắc Nương lên ngôi, tự lập làm Vua, mới phong thêm mỹ tự Cao Sơn hiển ứng hộ quốc Đại vương, Quý Minh khang dụ linh ứng Đại vương. Sắc chỉ ban về trang Quang Diệu, trùng tu miếu điện để phụng thờ. Từ đó về sau trải qua các triều Tiền Lý, Đinh, Lê, Lý, Trần cùng với hoàng triều ta mở tạo cơ đồ lớn, thường có giúp nước giữ dân, cầu mưa cầu thời đều có nhiều linh ứng. Nên có nhiều đế vương phong thêm mỹ tự để ức vạn niên hương lửa vô cùng.

Phụng khai các tịch sinh hóa cùng với các chữ húy nhất thiết cấm. Ba chữ Tuấn, Sùng, Hiển cùng với chữ húy của thánh phụ, thánh mẫu đều cấm. Các sắc phục màu vàng cũng cấm.

Ngày 6 tháng Giêng là sinh thần, lễ khánh hạ (dùng bánh trôi, bánh chay, bánh mật hoặc thịt trâu, xôi, rượu, ca hát, đấu vật trong 15 ngày).

Ngày lễ mừng sắc phong vào 12 tháng 8 (dùng lợn đen, xôi, rượu, ca hát một ngày đêm).

Ngày hóa là ngày mồng 6 tháng 11 (dùng bánh trôi, bánh chay, bánh mật, các đồ thịt trâu, xôi, rượu).

Hoàng triều Vĩnh Hữu năm thứ 3, tháng giữa xuân, ngày tốt.

Hàn lâm viện Đông các đại học sĩ, thần Nguyễn Bính phụng soạn.

Quản giám bách thần tri điện Hùng lĩnh thiếu khanh, thần Nguyễn Hiền, tuân theo chính bản phụng sao.

Dịch từ bản khai thần tích năm 1938 của làng Quang Diệu, tổng Bằng Lộ, châu Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.

Đền Măng Sơn, xã Sơn Đông, thị xã Sơn Tây