Các vị Nam Giao học tổ bên sông Hát

Bản thần tích đình Nga My Thượng (Thanh Mai, Thanh Oai, Hà Nội) được sao y bản chính từ bản thần tích lưu giữ ở Đền Hùng vào năm Thành Thái thứ 11 kể về 2 vị thành hoàng làng là Thiện Nguyên và Quang Lai như sau:
Thời Long Biên nước ta còn nội thuộc vua Hán Chiêu Đế. Bấy giờ có ông họ Đặng, tên húy là Vận, tổ tiên được tước phong, con cháu nối đời tập ấm. Ông lấy người trong quận họ Tạ, tên huý là Thị Cẩn, cũng là con nhà thi lễ, dòng dõi trâm anh, thật là môn đăng hộ đối. Ông dạy học song lại giỏi chữa thuốc thường thích làm việc thiện và cứu giúp những người nghèo khổ.
Ông đã ngoài 60, vợ cũng ngoài 40 tuổi mà chỉ sinh được mấy người con gái, chưa có con trai. Vì thế ông bà đem người cháu tên là Quang (sinh giờ Mão, ngày mồng 9 tháng Giêng năm Kỷ Dậu) vốn không có nơi nương tựa về nuôi.
Về sau ông bà sinh hạ được ông Thiện (sinh giờ Sửu, ngày 12 tháng 11 năm Giáp Ngọ), tướng mạo khác thường, thông minh dĩnh ngộ. Mới 3 tuổi đã hiểu lễ nghĩa, biết kính, nhường, nghe học đã thuộc, nghe nhạc nhớ ngay. Bảy tuổi đến trường học, 13 tuổi thông hiểu sử sách, lại giỏi cả võ nghệ, sĩ tử đương thời đều bái phục và xưng tụng là Thánh đồng.
Năm 18 tuổi, cha mẹ đều qua đời (ngày mùng 5 tháng 5 Giáp Thân). Ba năm cư tang xong, ông cùng người em họ là Quang rất quan tâm đến việc đạo nghĩa để dạy dỗ sĩ dân.
Nghe tin ở Giao Châu giáo hóa chưa được rõ ràng, tôn ty trật tự chưa có nề nếp, ông dần dần đem điều thiện cải hóa mọi người, khiến dân chúng sau này đầu biết lễ nghĩa, phong tục tốt đẹp ở Nam Châu đều nhờ công lao của ông
Dân chúng rất kính trọng, suy tôn ông làm Châu trưởng. Lúc đó vua Chiêu Đế nhà Hán sai Chu Chương làm Thái thú Giao châu. Nghe tin ông đã dạy dỗ và được dân cảm phục, liền dâng sớ tiến cử, vua Hán rất khen ngợi, phong cho ông vào hàng các quan lớn tước Hầu.
Nhận chức xong, ông liền đi thăm thú các huỵện ấp, xem xét dân tình. Chợt đến Trại Nga My bên bờ sông, thấy dân chúng nơi đây chất phác, ít được học hành, ông bèn truyền lệnh dựng nhà ngay trên bờ sông để dạy dân chữ nghiã. Mới được một năm, dân ở đây ai cũng kính trọng ông.
Gặp lúc quận trưởng của 7 quận: Châu Nhai, Đạm Nhĩ, Thương Ngô, Quảng Tín, Phiên Ngung, Lộc Lãnh nổi loạn, đời sống của dân chúng náo động. Vua biết tin, hỏi ý các đình thần để trù tính kế sách dẹp giặc.
Thái thú bản Châu là Sầm Bành biết ông là người đức độ, được dân mến phục, ắt có thể dẹp được loạn, liền tiến cử vua. Nhà vua ưng thuận sai ông làm chức Châu thú đem quân đi dẹp giặc. Ông bèn trao cho ông Quang thay mình ở lại hành tại Nga My dạy dỗ, giáo hóa dân. Đồng thời ông tuyển chọn được hơn 500 gia thần đi theo. Ông lại truyền hịch đi các quận huỵện, người tình nguyện đi theo kể tới vài vạn; ấn định ngày giờ, đoàn quân tiến thẳng đến áp đảo quận Cửu Chân. Ông lệnh cho tướng sĩ chia nhau đóng đồn kiên thủ không ra khiêu chiến. Nhân đó lại sai quan văn viết hịch, lấy tín nghĩa để hiểu dụ, lấy họa phúc để răn đe giặc. Nghe những lời lẽ xác đáng, bọn giặc tỉnh ngộ bó giáo lai hàng, 7 quận trở lại yên ổn thanh bình, ông bèn chỉnh đốn quân sĩ trở về phủ (tức đất Long Biên).
Từ khi ông làm Thái thú, hình phạt được giảm nhẹ, dân chúng đều an cư lạc nghiệp. Lúc rảnh việc, ông lại trở về hành tại Nga My giảng giải cho dân những điều ân nghĩa, dân chúng đều bái tạ, nhân xin lấy chỗ hành tại, khi ông sống thì làm sinh từ, khi ông mất sẽ làm nơi thờ phụng. Ông ưng thuận rồi cùng ông Quang trở về Châu huyện, sai thay mình đến cống vua Hán, đồng thời cho ông Quang làm việc ở phủ.
Lúc đó ông đã 70 tuổi, một hôm đang ngồi ở phủ đường, ông bỗng thấy một luồng ánh sáng đỏ từ trong người bay vút lên không trung rồi biến mất. Ngày hôm đó, ông không bệnh tật gì mà hóa (vào ngày 10/8 năm Bính Ngọ). Ông Quang đem sự việc tâu lên, vua sai sứ đến tế và an táng ngay ở đó (Long Biên), lại phong cho làm phúc thần cho dân phủ lập miếu thờ phụng. Ngoài ra những nơi như Cửu Chân, Nam Hải, Nhật Nam, Hải Dương, Nga My, thường được hưởng sự giáo hóa của ông đều được rước mỹ tự về thờ phụng.

IMG_8841
Đình Nga My Thượng, Thanh Mai, Thanh Oai, Hà Nội.

Sau khi ông qua đời, vua Hán sai ông Quang thay quyền cai trị ở phủ. Đến thời vua Ai Đế nhà Hán, Đặng Nhượng làm Thái thú đô hộ, gặp lúc Vương Mãng nổi loạn, Đặng Nhượng sai ông Quang đi trấn giữ cửa ải.
Quân ông vừa đi đến Sơn Nam, bất ngờ quân Hán rầm rập kéo đến. Ông nói, quân Hán đang đánh nhau với Vương Mãng thì cớ gì lại kéo sang nước Nam, liền sai đóng cửa quan không cho vào. Tướng Hán rất tức giận sai phá cửa quan tiến thẳng vào địa phận nước ta. Thấy quân Hán cứ ào ào kéo vào, thế rất mạnh, ông lập tức rút quân về Nga My.
Chẳng bao lâu quân Hán đến kịp, nhân lúc đêm tối, chúng bủa chặt vòng vây. Ông cưỡi ngựa xông ra cự chiến, đến bên đường, ông ngửa mặt lên trời mà than rằng: Kẻ bề tôi thờ vua dẫu chết vẫn không hai lòng, không ngờ đến nông nỗi này, có lẽ chỉ có trời mới hiểu ta chăng; nói rồi ông hóa ở xứ Khu Đống (nhằm ngày 10/2 năm Đinh Mùi).
Trong khoảnh khắc, nước sông cuộn sóng sôi sùng sục, thuồng luồng, ba ba nổi đầy mặt nước. Quân Hán kinh sợ bèn bỏ chạy. Đặng Nhượng đích thân chỉ huy tù trưởng lấy quân đi dẹp giặc, quân Vương Mãng không dám kéo đến xâm lược nữa. Từ khi ông Quang qua đời, dân ấp thờ phụng cả hai người  ở trại Nga My.
Đời Bình Đế, nghe tiếng các ông có nhiều công tích với nhà Hán, bèn sai sứ ban sắc phong tặng là:
– Thiện Nguyên Công, Tế thế, Hộ quốc, Đại vương
– Quang Lai công, Dực vận Hiển hựu, Đại vương.
Cho phép các đền ở Nga My, Cửu Chân, Nhật Nam, Hải Dương cùng thờ phụng hai ông.
(Theo blog của TS. Nguyễn Đình Đức)

IMG_8893
Linh Thiện quán ở thôn Nga My Thượng.

2 vị thành hoàng Thiện Nguyên và Quang Lai còn được phụng thờ riêng ở 2 quán trong thôn Nga My Thượng là quán Linh Quang và quán Linh Thiện, mang tên 2 vị này.
TS. Nguyễn Đình Đức, người địa phương đã có sự so sánh 2 vị thành hoàng này với các vị Thái thú Tich Quang và Nhâm Diên:
+ Nhâm Diên 12 tuổi được xưng là Thánh đồng, Thiện Đại Vương 13 tuổi cũng được xưng tụng là Thánh đồng. Hai người đều được dân lập sinh từ (thờ lúc còn sống) để thờ.
+ Quang Đại Vương và Tích Quang có tên húy trùng nhau.
+ Hai Đại Vương đều có công với dân và được thờ phụng. Trong các quan lại thời  nhà Hán, ngoài Sĩ Nhiếp ra, chỉ có Nhâm Diên và Tích Quang là được đánh giá có công với dân và được thờ. Hai Đại Vương của làng ta cũng có công như vậy ít nhất là trong phạm vi quận Long Biên, nhưng không thấy sách nào nói đến.
Sự so sánh trên rất hợp lý. Các thái thú dưới thời Hán có công dạy giáo hóa nhân dân thì phải là Nhâm Diên, Tích Quang của chính sử. Theo Hậu Hán thư thì “Nhâm Diên khi làm thái thú Cửu Chân đã hòa giải được với man Dạ Lang để giảm được quân tuần tra đồn trú“. Trong thần tích Nga My Thượng kể ông Thiện cũng đã hiểu dụ quân nổi loạn ở Cửu Chân.
Như vậy cả Nhâm Diên và Tích Quang, hai thái thú cuối thời Tây Hán có thể đều là những người Việt địa phương, quê ở khu vực tổng Nga My bên sông Hát này.
Một loạt các di tích khác ở vùng này liên quan là cụm đình đền Liên Bạt (Ứng Hòa) thờ ba vị đại vương họ Đặng là Đặng Sĩ, Đặng Xã và Đặng Lang. Rõ ràng đây là bộ ba anh em họ hàng Đặng Nhượng, Nhâm Diên, Tích Quang cai quản châu bộ cuối thời Tây Hán. Hay như ở đình Áng Phao (Cao Dương, Thanh Oai) thờ một vị Cư sĩ chống Hán cũng là giai đoạn và nhân vật này.

P1160368
Phương đình đình Áng Phao, Cao Dương, Thanh Oai, Hà Nội.

Đặc biệt trong thần tích Nga My Thượng kể lại việc thái thú Quang chống giặc như sau:
Đến thời vua Ai Đế nhà Hán, Đặng Nhượng làm Thái thú đô hộ, gặp lúc Vương Mãng nổi loạn, Đặng Nhượng sai ông Quang đi trấn giữ cửa ải. Quân ông vừa đi đến Sơn Nam, bất ngờ quân Hán rầm rập kéo đến. Ông nói, quân Hán đang đánh nhau với Vương Mãng thì cớ gì lại kéo sang nước Nam, liền sai đóng cửa quan không cho vào. Tướng Hán rất tức giận sai phá cửa quan tiến thẳng vào địa phận nước ta. Thấy quân Hán cứ ào ào kéo vào, thế rất mạnh, ông lập tức rút quân về Nga My. Chẳng bao lâu quân Hán đến kịp, nhân lúc đêm tối, chúng bủa chặt vòng vây. Ông cưỡi ngựa xông ra cự chiến, đến bên đường, ông ngửa mặt lên trời mà than rằng: Kẻ bề tôi thờ vua dẫu chết vẫn không hai lòng, không ngờ đến nông nỗi này, có lẽ chỉ có trời mới hiểu ta chăng.
Thái thú Quang dưới thời Vương Mãng đã đóng quan ải và chống lại quân Hán xâm chiếm vùng Giao Châu, hy sinh trong trận. Quân Hán ở đây rõ ràng là quân Đông Hán của Sầm Bành – Lưu Tú chứ không phải của nhà Tây Hán vì lúc này nhà Tây Hán đã được thay thế bởi triều Tân của Vương Mãn.
Kẻ bề tôi thờ vua dẫu chết cũng không hai lòng“. Tích Quang đang là thái thú dưới triều đại của Vương Mãng, nhất định không phản vua, đầu hàng giặc Hán (Đông Hán). Đây mới thực sự là ý nghĩa của lời trăng trối này.
Sử Tàu đã nhập nhèm coi 2 triều đại Tây Hán từ Lưu Bang và Đông Hán của Lưu Tú như một dòng liên tục. Thực chất đây là 2 triều đại riêng biệt của 2 nhóm tộc người khác hẳn nhau. Nhà Hán của Lưu Bang là “hảo hán”, trong đó các vua đều có tên xưng là Hiếu (hảo). Đây là triều đại của người Bách Việt vì bản thân Lưu Bang là người Việt phương Nam. Triều đại này còn được biết với tên là Viêm Lưu, chỉ rõ nguồn gốc phương Nam của  triều đại Lưu Bang.
Còn nhà Hán của Lưu Tú bắt nguồn từ vùng phía Bắc Hoàng Hà, địa bàn gốc của Hán tộc. Đây là dòng “hung hãn”, chỉ người Hung Nô, gọi vua là Hãn.
Vì Đông Hán không phải là người Việt nên Tích Quang, một thái thú người Việt sinh ra lớn lên ở Giao Chỉ, đã kiên quyết chặn giặc và bỏ mình vì nước trong cuộc chiến với Hãn quân.

IMG_5675
Đình ba thôn Liên Bạt, Ứng Hòa, Hà Nội.

Đôi câu đối ở trụ nghi môn đình Nga My Thượng:
龍編城北秀氣引鍾天柱地維標卓立
涐湄寨南餘靈格鍳庭花野草向春榮
Long Biên thành Bắc, tú khí dẫn chung, thiên trụ địa duy tiêu trác lập
Nga My trại Nam, dư linh cách giám, đình hoa dã thảo hướng xuân vinh.
Dịch:
Thành Bắc Long Biên, khí đẹp dẫn hun, cột trời cõi đất cao sừng sững
Trại Nam Nga My, linh thiêng soi cảm, cỏ nội hoa sân hướng vẻ xuân.
Các vị thái thú và châu mục Nhâm Diên, Tích Quang, Đặng Nhượng là những kẻ sĩ đã hết lòng giảng dạy sĩ dân, giữ gìn phong hóa đất Giao Châu thời đầu Công nguyên. Đạo Nho học trước hết là ở lòng trung hiếu. Các vị đã nêu cao tấm gương trung thành với nước, chống giặc ngoại xâm đến hơi thở cuối cùng. Tôn danh “Nam Giao học tổ” – tổ đạo học đất Nam Giao thật xứng đáng dành cho các vị này.

Những vị thần Lỗi Lạc: Thiên Y A Na, Cao Các, Man Nương, Bạch Mã

Trong tín ngưỡng dân gian ở khu vực miền Trung, như trong các miếu hội đồng hay trong văn sớ cúng thường nhắc tới một số tên các vị thần, không rõ lai lịch, nhưng lại được tôn thờ từ lâu. Như trong văn khế của thầy pháp đọc khi làm lễ tạ thổ ở Phú Yên có đoạn:
Cung thỉnh:
Cao Các thành hoàng đại vương chi thần thỉnh đáo lai lâm thỉnh đồng hiệp ta.
Thái giám Bạch Mã chi thần đồng lai hiệp tạ.
Thiên Y An Na Diễn Phi chúa ngọc hồng nương, phổ chi đức thượng đẳng thần đồng lai hiệp tạ.
Bổn thổ quản cai ngũ phương chủ Ngung Man nương phu thê nhị vị vãng thần…
Cao Các, Bạch Mã, Thiên Y An Na, Man Nương là ai? Đây là vị thần người Việt hay người Chăm? Tại sao những vị thần quen thuộc của người Việt là được thờ ở khu vực miền Trung, Nam Trung Bộ?
Thực ra những vị thần được tôn thờ như vậy vốn đều là những con người thực sự có công, có ảnh hưởng lớn đến đời sống của khu vực Trung Bộ trong quá khứ xa xưa. Càng đi vào thời xa xưa lại càng thấy sự tương đồng giữ các nhân thần ở miền Trung với các vị thần của miền Bắc.
Vị thần thờ phổ biến nhất ở khu vực miền Trung là Thiên Y A Na thánh mẫu. Bá chúa Trầm đã được xác định là nhân vật Mai An Tiêm trong truyền thuyết Việt và cũng là hình ảnh chim Tinh Vệ lấp biển trong truyền thuyết Trung Hoa. Bà là người đã có công khai phá vùng đất ven biển miền Trung, quai đê lấp biển, phát triển nông nghiệp, hy sinh ngoài biển vì nhân dân. Do đó bà đã trở thành vị nữ thần tối cao trong tín ngưỡng ở miền Trung. Thiên Y A Na hoàn toàn không phải vị thần có nguồn gốc Ấn Độ và cũng không phải vị thần riêng của người Chăm, bởi ở cái thời khai thiên lập địa ấy người Chăm là một nhánh phương Nam trong cộng đồng người Việt của các vua Hùng.

IMG_5323Miếu thờ Thiên Y A Na ở Phú Lâm, Tuy Hòa, Phú Yên.

Vị thần khác cũng hay được nhắc đến trong sớ cúng và có nhiều miếu thờ, đình thờ thành hoàng ở miền Trung là Cao Các quảng độ đại vương. Cao Sơn Cao Các ở vùng Thanh Hóa Nghệ An đã từng được xác định chính là Tiết độ sứ Cao Biền dưới thời Đường. Do việc đánh dẹp Nam Chiếu, mà ngọn nguồn Nam Chiếu là khu vực miền Trung Việt, nên vị Cao Vương này được thờ suốt dải miền Trung, tới tận Phú Yên, Khánh Hòa như một người có công mở đất phương Nam. Cao Sơn Cao Các cũng là vị thần trấn Nam của kinh thành Thăng Long vì người đầu tiên xây thành Đại La chính là Cao Biền.
Một đoạn bản văn sớ ở Thừa Thiên Huế:
Thừa Thiên hiệu pháp, Khai hoàng Hậu thổ Nguyên quân, Thổ hoàng Địa kỳ Tử Anh phu nhân, Thái giám Bạch Mã tôn thần, Kim niên hành khiển đại vương, Thái tuế chí đức tôn thần, Đương cảnh thành hoàng đại vương, Bổn xứ thổ địa lý vực chánh thần, Khôn ly thổ hỏa nhị vị tiên nương, Ngũ hành liệt vị tiên nương, Lịch đợi tiên sư tôn thần, Đông trù tư mệnh táo quân, Ngũ phương thổ công tôn thần, Ngũ phương long thần thổ địa trú trạch thần quan, Ngọc tuyền kim tỉnh long vương, Tiên khai canh hậu khai khẩn chi thần, Thập bát long trạch liệt vị tướng quân, Thổ địa phước đức tài thần, Gia đường hương hỏa liệt vị oai linh, Ngũ phương chúa Ngung cổ tích chi thần, Môn thừa hộ úy cấm kỵ liệt vị đẳng thần, Phổ cập Man Nương thần nữ, Chúa Lỗi chúa Lạc châm chợ mọi rợ Man Di, Mê linh khô cốt phục thi cố khí, Thổ mộc tà tinh lỵ mị vong lương nội ngoại gia viên cư nhất thiết yếm trệ nam nữ vô tự âm linh u hồn liệt vị đồng lai hiến hưởng cộng bảo bình an…

So mien TrungVăn sớ này có nói đến tên: “Phổ cập Man Nương thần nữ, chúa Lỗi chúa Lạc”. Như trong văn khế ở Phú Yên còn gọi là “Chủ Ngung Man Nương”. Cái tên Man Nương thần nữ nhắc tới bà Man Nương trong sự tích Tứ pháp thời Sĩ Nhiếp ở thành Luy Lâu (Bắc Ninh). Đây là dẫn chứng cho thấy mối liên quan giữa sự tích Tứ pháp với khu vực miền Trung Lâm Ấp lúc này. Bà Man Nương trong truyện là hình ảnh đại diện cho khu vực miền Trung (Nam Man) khi đạo Bà Là Môn của Khâu Đà La truyền vào Giao Châu.
Chúa Lỗi chúa Lạc” là cụm từ khá hay. Lỗi  hay Lồi là từ thường dùng để chỉ người Chăm như thành Lồi ở Huế. Còn Lạc thì đã biết, chính là Lạc Việt, chỉ người Kinh. Cụm từ “lỗi lạc” nghĩa là chỉ người Chăm người Kinh hay Nam – Bắc. Tên hiệu trên nói rằng bà Man Nương là chúa (chủ) của cả người Chăm và người Kinh.

IMG_5262_1

Tháp Nhạn ở thành phố Tuy Hòa, Phú Yên.

Suốt dải miền Nam Trung Bộ từ Bình Trị Thiên tới Phú Yên Khánh Hòa có tục thờ thần Bạch Mã thái giám. Miếu, đình thờ vị này gặp ở nhiều nơi. Ngay như ở Hội An theo thống kê có đến 73% làng xã có thờ, có sắc phong cho thần Bạch Mã. Ở Phú Yên, đình Ngọc Lãng tại xã Bình Ngọc, TP Tuy Hòa và miếu Thái Giám dưới chân núi Ngọc (chân Tháp Nhạn) cùng nhiều nơi khác còn giữ tục thờ và các sắc phong cho thần Bạch Mã.
Vậy thần Bạch Mã là ai mà được tôn thờ đến vậy?
Tên thần “Bạch Mã” nhắc nhớ tới vị thần trấn Đông của kinh thành Thăng Long. Vị thần này có mỹ tự là “Long đỗ Quảng lợi Bạch mã đại vương”.  Còn thần Bạch Mã ở Hội An cũng thường có tên “Lợi vật Bạch Mã chi thần”.
Thần Bạch Mã ở miền Trung cũng là thần Bạch Mã của Thăng Long, điều này sẽ không khó hiểu nếu biết rằng thần Long Đỗ Bạch Mã của Thăng Long chính là Sĩ Nhiếp họ Phạm. Sĩ Nhiếp là vị vương đã cai quản toàn bộ khu vực Giao Châu 7 quận dưới thời Tam quốc. Miền Trung Việt lúc đó do con cháu của Sĩ Nhiếp họ Phạm quản lý (Phạm Hùng), sau này tách ra thành nước Lâm Ấp tồn tại gần 600 năm. Do đó người miền Trung lấy Sĩ Nhiếp – Bạch mã làm một vị thần tối cao là hoàn toàn hợp lý.
Sĩ Nhiếp cũng là vị Đô Hồ Phạm Tu, thượng thủy tổ họ Phạm ngày nay. Bản thân tên “Đô Hồ” của Phạm Tu cũng chỉ ra rằng ông là thủ lĩnh của người Hồ, tức là người Lâm Ấp lúc này (vùng nước Hồ Tôn thời Hùng Vương).
Chữ “thái giám” trong tên của thần Bạch Mã ở miền Trung không phải chỉ “hoạn quan” như nhầm tưởng. “Giám” là soi xét, coi sóc, như trong từ “giám đốc”. Thái giám phải hiểu là vị quan đứng đầu cai quản khu vực. Hiểu nôm na theo ngôn ngữ ngày nay là “Tổng giám đốc”. Chức danh này rất phù hợp với vị trí của Sĩ Nhiếp, là người cai quản toàn bộ phương Nam (Lâm Ấp) một cách độc lập tự trị trong thời loạn Tam quốc.
Dấu ấn của thời kỳ này trên khu vực miền Trung như vậy thể hiện qua hình tượng thần Bạch Mã cũng như Man Nương thần nữ. Vì Sĩ Nhiếp và Tứ pháp theo đạo Bà La Môn (Đế Thiên Đế Thích) nên khả năng hình ảnh Bạch Mã phải tìm trong đạo giáo này, chứ không phải trong đạo Phật.
Các vị thần được tôn thờ ở miền Trung, Nam Trung Bộ lại là những vị chủ quản của vùng miền Bắc (Cao Biền, Sĩ Nhiếp). Mối quan hệ giữa Bắc Việt và Trung Việt đã có từ xa xưa, sâu sắc “như cành chung gốc lớn lên”, “như anh em của mẹ hiền” Việt Nam.

Nam Giao học tổ Đặng Sĩ

Xã Liên Bạt ở Ứng Hòa, Hà Nội là nơi có ngôi đình cổ Lương Xá mới bị hạ giải để thay bằng đình… bê tông. Lễ hội ở Liên Bạt là một lễ hội lớn nổi bật với tục rước kiệu giao quan giữa 3 thôn Bặt Trung, Bặt Ngõ và Bặt Chùa. Theo tác giả Nguyễn Hữu Thức trong Hội làng Thăng Long – Hà Nội (tập 3) thì hội lễ làng Liên Bạt diễn ra vào mùa xuân ngày 15 tháng Ba hàng năm…
Thôn Bặt Trung rước long ngai bài vị Đức thánh đệ tam choàng áo màu vàng, tên gọi là Đặng Lang, cùng anh dạy dân chữ nghĩa, thủ tiết và hy sinh cùng ngày với anh ở bãi Cấm của làng, nay là lăng Thánh. Kiệu đốn theo sau thánh giá đặt sắc phong và hương nhang thờ thần, hai bên có hai pho tượng phỗng (kiểu tượng Chàm), mô phỏng tướng giặc bị quy phục…
Kiệu bát cống của thôn Bặt Chùa trên là long ngai bài vị Đức thánh đệ nhị, choàng áo màu tím, tức ông Đặng Xã, có công dạy dân Liên Bạt biết chữ nghĩa, xây dựng đồn binh chống lại giặc nhà Hán vào thời loạn Vương Mãng những năm đầu thế kỷ (8-23 sau Công nguyên). Ông giữ trọn khí tiết không chịu để thân mình rơi vào tay giặc và “hóa” ở bãi Cấm trên cánh đồng phía Đông Bắc cạnh làng. Đám rước của thôn Bặt Chùa có khác là thêm hai kiệu tư (bốn người). Mỗi người đặt một tượng tục gọi là thần đồng, cao 1,45m đi song song áp giá tả hữu kiệu bát cống rước thánh giá Đức thánh đệ nhị…
Đám rước Bặt Ngõ có kiệu bát cống trên uy nghi long ngai bài vị Đức thánh đệ nhất, tên là Đặng Sĩ, vị châu trưởng xứ Giao Châu hồi đầu Công nguyên có công mở trường dạy học giáo hóa dân làng Liên Bạt. Đức thánh đệ nhất choàng áo màu xanh…
Đám rước của ba thôn nhập làm một… Quả là “Tam quang hợp minh”…
Khi các vị thành hoàng đã yên vị, dân ba thôn lại mang kiệu tư, tổ chức đi rước văn. Đám rước vào nhà cụ Tú Mậu, cụ đồ nhiều chữ Hán nhất làng để rước bài văn tế do cụ đại diện người có học của làng soạn thảo, mang ra đình trình lễ thánh và để chủ tế lễ hội đồng.

1
Liên Bạt đình môn.

Câu đối ở cổng đền ba thôn Liên Bạt:
台岳拱朝鍾作三村文献地
春秋祈報造成壹境禮義風
Đài nhạc củng triều chung tác tam thôn văn hiến địa
Xuân thu ký báo tạo thành nhất cảnh lễ nghĩa phong.
Dịch:
Núi đài cúi chầu, ba thôn hun đúc nền văn hiến
Xuân thu tế đáp, một cõi tạo thành tục lễ nghi.
Khi xem xét sự tích ba vị thành hoàng này sẽ nhận thấy điều lạ, trái ngược với chính sử. Những hình ảnh Tam Thai, Ngũ Nhạc cũng như tục rước văn, rước thần đồng trong lễ hội Liên Bạt là dùng để ca ngợi công đức các vị họ Đặng trong giáo dục văn hóa, chữ nghĩa cho nhân dân trong vùng. Ba vị quan dưới thời Bắc thuộc sau Công nguyên ở nước ta mà lại có ân đức sâu dày với nhân dân Việt, dạy dân chữ nghĩa, tạo nên một miền đất Liên Bạt văn hiến còn lưu mãi tới ngày nay.
Lạ hơn nữa là vị châu trưởng Giao Châu là Đặng Sĩ cùng với hai người em đã chiến đấu chống “giặc Hán” đến hơi thở cuối cùng, bảo vệ đất nước, hy sinh ngay tại quê nhà. Vậy những vị quan cai trị Giao Châu này là ai? Thuộc về triều đại của người Việt hay thời ngoại xâm?
Ba anh em họ Đặng còn có công bình định phương Nam, đánh giặc Man, được thể hiện trong hình ảnh những tượng phỗng được rước cùng kiệu trong lễ hội.
Đối chiếu với sử sách hiện tại, người cai quan Giao Châu dưới thời nhà Tân của Vương Mãng là thứ sử Đặng Nhượng. Như thế rõ ràng vị Đức thánh đệ nhất ở Liên Bạt chính là Đặng Nhượng, người đã “tự cát cứ” Giao Châu vào thời Vương Mãng. Nhưng sử sách lại chép về sau Đặng Nhượng nghe lời tướng Hán là Sầm Bành, đầu hàng nhà Đông Hán và được phong tước hầu. Điều này trái ngược hẳn với sự tích ở Liên Bạt, khi mà cả 3 anh em họ Đặng đã kiên cường chống giặc Hán và 2 người em đã hy sinh tại bãi Cấm ở trong làng. Nơi đây nay còn quán Bặt Chùa cùng với khu rừng lăng thánh.

2
Khu lăng thánh và quán Bặt Chùa.

Người anh cả Đặng Sĩ (hay Đặng Nhượng) không hy sinh ở Liên Bạt nhưng ông cũng không hề theo giặc Hán nhận phong hầu. Thần tích ở đình Gia Lâm (Lệ Chi, Gia Lâm) đã cho biết vị Đặng cư sĩ đã từng đi học và làm quan ở Gia Lâm, và cũng hy sinh tại Gia Lâm. Cả 3 anh em họ Đặng đã bỏ mình vì nước, chứ không có chuyện hàng giặc như sử sách hiện đang chép.
Đặc biệt cái tên Đặng Sĩ và công nghiệp dạy chữ cho dân thời đầu Công nguyên của họ Đặng cho thấy Đặng Nhượng chính là “Nam Giao học tổ” Sĩ Nhiếp mà sử sách nói tới. Sử Việt thời kỳ đầu Công nguyên có tới 2 thời Sĩ Nhiếp. Sĩ Nhiếp thứ nhất là các châu mục thái thú Đặng Nhượng, Tích Quang thời nhà Tân của Vương Mãng, là những người đã mở mang nền văn hiến ở Giao Châu và kiên cường chống giặc Hán xâm lược. Sĩ Nhiếp thứ hai ở vào cuối thời Đông Hán, nổi dậy cai quản Giao Châu 7 quận sau khởi nghĩa thắng lợi của Khu Liên.

3
Hoành phi tiền đình Ang Phao.

Dấu vết của Sĩ Nhiếp thứ nhất (Đặng Nhượng) còn thấy ở một số di tích khác như tại đình Áng Phao (Thanh Oai), nơi thờ một vị Cư sĩ chống lại ách đô hộ của Hán. Thực ra “cư sĩ” đọc thiết là “quý”, chỉ những người lãnh đạo, “quý tộc” lúc này. Từ này cũng tương đương với từ “cừ súy” (đọc thiết cũng là “quý”), trong chuyện Mã Viện đã bắt hàng trăm “cừ súy” Việt về phương Bắc. Cuộc tấn công của Mã Viện vào thời Đông Hán là tiến đánh các vị cư sĩ – cừ súy Việt hay Sĩ Nhiếp đang cai quản Giao Châu, chứ không phải đánh Hai Bà Trưng. Khởi nghĩa của Hai Bà Trưng họ Lã (Ả Lã Nàng Đê) diễn ra từ thời trước Công nguyên, chống chọi với Phục Ba tướng quân Lộ Bác Đức nhà Tây Hán.

4
Đình Bặt Ngõ.

Câu đối ở đình Bặt Ngõ ca ngợi công ơn của Đức thánh đệ nhất Đặng Sĩ – Nam Giao học tổ Sĩ Nhiếp:
教澤匡含開文峯五岳
神髙通鬱造秀氣三台
Giáo trạch khuông hàm khai văn phong ngũ nhạc
Thần cao thông uất tạo tú khí tam thai.
Dịch:
Giáo ơn thấm sâu, mở núi văn Ngũ nhạc
Thần thông cao vọi, tạo khí đẹp Tam thai.

Tứ pháp và Thái Thượng Lão Quân ở Hà Nam

IMG_4586

Chùa Bà Đanh nằm bên dòng sông Đáy cạnh hòn núi Ngọc là một thắng cảnh có tiếng của đất Hà Nam. Chùa còn có tên là Bảo Sơn tự, tương truyền rằng vào thế kỷ thứ VII, đây là một ngôi đền nhỏ thờ Tứ pháp, đến thời Lê chùa được xây dựng đàng hoàng và to đẹp hơn. Câu đối trong chùa ca ngợi cảnh đẹp và sự linh thiêng của ngôi chùa độc đáo này:
神界寂空水鏡山鬟層閣外
靈蹤彷彿竹響松濤半天来
Thần giới tịch không, thủy kính sơn hoàn tằng các ngoại
Linh tung phảng phất, tùng đào trúc hưởng bán thiên lai.
Dịch:
Cõi thần lặng không, núi bọc nước soi tầng gác trước
Dấu thiêng phảng phất, trúc reo thông vẫy nửa trời qua.

IMG_4581 (2)Chùa Bà Đanh – núi Ngọc.

Trong cung cấm của chùa ngoài một pho tượng Tứ pháp còn có tượng Phật Tam Thế cùng với Thái Thượng Lão quân và Nam Tào, Bắc Đẩu. Câu đối trong chùa nói về Tứ pháp:
榕化靈光儕四法
梅修品格遇三乘
Dong hóa linh quang sài tứ pháp
Mai tu phẩm cách ngộ tam thừa.
Dịch:
Cây dung hóa thiêng cùng Tứ pháp
Cốt mai tu phẩm rõ Tam thừa.
Câu đối này nói tới sự tích bà Man Nương thời Sĩ Nhiếp ở thành Luy Lâu, theo thầy Khâu Đà La tu hành, sau đó sinh một đứa con gái, được thầy làm phép gửi vào trong một cây dung thụ bên sông. Về sau cây dung thụ được dùng để tạc tượng Tứ pháp, là các vị thần cầu mưa linh ứng ở khu vực này.
Tứ pháp gồm 4 vị nữ thần Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện. Dân gian gọi là các Bà Dâu, Bà Dàn, Bà Đậu, Bà Nành, … tùy từng địa phương. Có nhiều ý kiến cho rằng các “bà” ở đây là ảnh hưởng tín ngưỡng thờ thần của người Chăm, do các tù binh Chăm thời Lý Trần Lê lập nên…
Mây Mưa Sấm Chớp thực ra là 4 tính chất của Đế Thích hay thần dông tố Indra, một vị thần tối cao của đạo Bà Là Môn. Có thể chữ “Bà” trong tên “Bà Đanh” ở đây chính là chỉ đạo Bà – La Môn. Chữ “Bà” này không phải là yếu tố ảnh hưởng của người Chăm từ Trung Bộ Việt như thường nghĩ. Khu vực Trung Bộ Việt vào đầu Công nguyên đang thuộc cai quản của Sĩ Nhiếp ở miền Bắc. Khâu Đà La, Sĩ Nhiếp thực chất là các tu sĩ của đạo Bà La Môn. Do đó, nếu đạo Bà La Môn phổ biến ở Giao Chỉ thì cũng phổ biến ở miền Trung. “Người Chăm” miền Trung như vậy chịu ảnh hưởng tín ngưỡng của người Việt ở miền Bắc trong trường hợp này.

Một chút bàn luận về nhân vật Sĩ Nhiếp trong sử Việt của tác giả Văn Nhân Nguyễn Quang Nhật: Sử hiện nay cho Sĩ Nhiếp có tên khác là Sĩ Tiếp. Suy nghĩ theo hướng khác thì Sĩ không phải là họ mà chỉ kẻ Sĩ hay người có học. Sĩ Tiếp là quan triều Lý Bôn (Lưu Bang) và Vương Mãn. Cuối thời Vương Mãn bọn Lục Lâm thảo khấu nổi loạn chiếm kinh đô Tràng An, giết vua Vương Mãn. Không còn vua và triều đình trung ương, khắp nơi các quan đầu mục nổi lên xưng tướng, xưng vương. Riêng Sĩ Tiếp chỉ đóng cửa giữ thành, bảo an dân chúng… Phải chăng chính vì thế mà sử gọi là Sĩ Tiếp? Chữ “tiếp” là tiếp tục – tiếp nối…
Thời Hai Bà Trưng sử hiện nay bỏ qua hẳn chi tiết Mã Viện sau khi diệt Đô Dương bộ tướng của Trưng Vương thì nghị hoà… 2 nước Hán – Trưng nhà ai nấy ở. Biên giới được đánh dấu bằng cột đồng ở động Cổ Sâm – Khâm Châu, nay thuộc Quảng Tây. Tư liệu viết trên cột đồng khắc câu … trụ đồng gãy thì Giao Chỉ… tiêu đời… tức rất rõ ràng lúc cắm cột đồng phân ranh thì Giao Chỉ còn nguyên…
Do bỏ hẳn đoạn sử này nên sử cả ta và Tàu quên luôn không nói gì đến “nước” và bộ máy lãnh đạo quốc gia trên đất Giao Chỉ thời hậu Trưng này.
Sử thuyết Hùng Việt cho rằng thủ lãnh nước hậu Trưng chính là Sĩ Nhiếp – Ngạn Uy được chép trong sử.
Sĩ Nhiếp tức kẻ sĩ nhiếp quyền, đặt kinh đô nước hậu Trưng ở Luy Lâu, sau theo về với Tôn Quyền. Luy Lâu trở thành thủ phủ của Giao Châu như chép trong sử.
Quan điểm của Sử thuyết Hùng Việt là: lịch sử Thiên hạ không có thời Tam quốc, chỉ có thời Lưỡng quốc kháng Ngụy. 2 nước Thục và Ngô của người Trung Hoa vừa đánh lẫn nhau vì thù trong, vừa cùng nhau chống lại nước Ngụy của Hán tộc, tức giặc ngoài.
Gần đây việc khai quật thành Luy Lâu lần 2 đã phát hiện tới 900 mảnh khuôn đúc trống đồng với đủ loại hoa văn đặc trưng của trống đồng Đông Sơn. Niên đại của lò đúc trống đồng này ước định quãng thế kỷ 3-4.
Luy Lâu, thủ phủ Giao Châu thời Sĩ Nhiếp là đất của người Việt, nên ở đấy đúc trống đồng theo tục Việt là hoàn toàn hợp lẽ. Còn theo sử hiện nay đấy là thời Hán thuộc thì sự việc Luy Lâu đúc trống cũng giống như nước Hồi giáo chế mõ tụng kinh Phật vậy… Làm gì có việc như thế.

Vi keo

Bộ vì kèo ở chùa Bà Đanh.

Đôi câu đối ở khu tiền tế bên ngoài chùa Bà Đanh:
地湧寒江傳妙決
天移蓬島在人間
Địa dũng hàn giang truyền diệu quyết
Thiên di bồng đảo tại nhân gian.
Dịch:
Đất phun sông mát truyền phép lạ
Trời chuyển đảo bồng chốn nhân gian.
Câu đầu chỉ phép màu của Tứ pháp tạo nguồn nước cứu hạn cho nhân dân. Vế đối sau ca ngợi cảnh đẹp ở đây như chốn Bồng Lai tiên cảnh. Có thể câu này ứng với tục thờ Thái Thượng Lão Quân trong chùa, là một nơi tiên tích của đạo Giáo.

Bao Son tu

Chính điện Bảo Sơn tự.

Câu đối ở gian giữa chùa Bà Đanh:
化鼓两間司橐籥
功高四法凜靈聲
Hóa cổ lưỡng gian tư thác thược
Công cao tứ pháp lẫm linh thanh.

Vế đối sau thì ý tứ khá rõ ràng, công của Tứ pháp to lớn, vang vọng mãi tiếng thiêng. Còn vế đối đầu tương đối khó hiểu. Vế này sử dụng từ ngữ trong Đạo Đức Kinh, chương 5 – Thiên Thượng:
Thiên địa chi gian, kì do thác thược hồ
Tạm dịch là Trời đất là không gian, giống như cái ống bễ vậy.
“Hóa cổ” là cái trống Tạo hóa. Cả vế này “Hóa cổ lưỡng gian tư thạc thược” hiểu nôm na là: Trống Hóa Công có 2 gian (Trời và Đất) thì (ngài) cai quản cái ống bễ nối chúng.
Đối tượng được nói đến ở đây là người cai quản sự liên thông giữa trời và đất chính là Thái Thượng Lão Quân. Vế đối này như vậy ca ngợi vai trò, quyền lực của Thái Thượng Lão Quân.
Câu đối trên là dẫn chứng một cách rõ ràng rằng chùa Bà Đanh thờ Thái Thượng Lão Quân như một đối tượng thờ chính, sánh ngang cùng với Tứ pháp, chứ không phải phối thờ.
Chùa Ba Đanh như vậy thờ tới 3 tôn giáo:

  • Tứ pháp là đạo Bà La Môn.
  • Đạo Phật, và
  • Đạo Lão.

Đây không phải mô hình Tam giáo đồng lưu thông thường vì không có yếu tố “Nho giáo” trong chùa này. Chắc chắn tục thờ cúng này có nguồn gốc, có lịch sử hình thành riêng của nó. Tại sao Thái Thượng Lão Quân lại được thờ cùng Tứ pháp ở chùa Bà Đanh?
Thần tích vùng Phủ Lý, Hà Nam giải đáp câu hỏi này. Theo thần tích của xã Phù Đạm thì Thái Thượng Lão Quân, hiệu là Lý Bá Hoành, tự là Lão Đam, húy là Thái Ông. Ngài giáng sinh đầu thai ở thôn Kim Chân, xã Thúc Lực…
Ngài vốn tính thông minh, thông hiểu thiên văn địa lý. Ngài đem đạo phù thủy truyền bá cho nhân dân. Ngài đến xã Phù Khê (tức Phù Đạm) thấy nhân dân trong xã bị dịch chết quá nửa. Ngài bèn đóng giả một cụ già viết 1 đạo bùa thổi vào trong xã, bao nhiêu người bị bệnh trong xã đều khỏi…

P1210273Đình Phù Vân ở Phủ Lý.

Thôn Phù Vân của xã Phù Đạm xưa nay thuộc thành phố Phủ Lý. Đình Phù Vân vẫn còn lưu giữ được tục thờ Thái Thượng Lão Quân ở đây. Theo thần tích trên Thái Thượng Lão Quân chính là Lão Tử, vị tổ sư của Đạo Giáo. Lão Tử giáng sinh ở ngay khu vực Hà Nam của nước ta, từng chữa dịch bệnh cho nhân dân trong vùng. Đó là lý do tại sao khu vực Hà Nam lại thờ Thái Thượng Lão Quân như ở chùa Bà Đanh. Các di tích và truyền tích ở Hà Nam là minh chứng về quê hương bản quán của Lão Tử ở Việt Nam, ngay trên đất Hà Nam.
Câu đối khác ở chùa Bà Đanh:
一息蓬蓬八表遊行天地使
層臺屹屹萬家欹頌海山僊
Nhất tức bồng bồng, bát biểu du hành thiên địa sử
Tằng đài ngật ngật, vạn gia y tụng hải sơn tiên.
Dịch:
Một thoáng bồng bồng, tám phương du hành khiển trời đất
Hai tầng ngân ngất, vạn nhà khen tụng thần núi sông.

Các bộ tứ trong thần điện Việt: Tứ pháp

Tứ pháp là bộ bốn vị thần Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện (Mây, Mưa, Sấm, Chớp), được kể trong Truyện Man Nương. Chuyện xảy ra dưới thời Sỹ Nhiếp, liên quan tới vị sư đến từ Ấn Độ là Khâu Đà La. Tứ pháp được tạo tượng thờ từ thân cây dung thụ, nơi ẩn chứa đứa con gái của Man Nương và Khâu Đà La và được tin là các thần cầu mưa rất linh ứng.
Sự tích Tứ pháp được tóm tắt trong câu đối sau ở chùa Đậu (chùa Thành Đạo thờ Pháp Vũ ở Thường Tín, Hà Nội):
萬古仰玄功涸潤枯繁嘉惠普霑南海甸
两間鍾灝氣樹藏石化慶源溯自士王朝
Vạn cổ ngưỡng huyền công, hạc nhuận khô phồn, gia huệ phổ triêm Nam hải điện
Lưỡng gian chung hạo khí, thụ tàng thạch hóa, khánh nguyên tố tự Sỹ Vương triều.
Dịch:
Vạn năm ngưỡng phép thiêng, thấm hạn tưới khô, ơn lành phủ khắp điện Nam Hải
Hai gian đúc khí lớn, giấu cây hóa đá, nguồn tốt đến từ triều Sỹ Vương.
Thụ tàng” chỉ chuyện Man Nương sinh con, mang cho Khâu Đà La, Khâu Đà La giấu đứa bé trong cây Dung thụ, sau trở thành Tứ pháp. “Thạch hóa” chỉ chuyện phần cây Dung thụ có đứa bé con Khâu Đà La cứng như đá, rìa búa bổ vào đều mẻ. Sau được tạc thành Thạch Quang Phật.
Trong các bài viết trước đây đã từng xác định, Tứ pháp là bốn tính chất hay là hiện thân của thần dông tố Indra, vị thần tối cao của đạo Bà La Môn. Khâu Đà La và bản thân Sỹ Nhiếp là những tu sĩ theo Bà La Môn giáo.

Bia chua DauBia đá “Tu tạo Pháp Vũ tự bi” chùa Đậu.

Chùa Đậu ở Thường Tín còn gọi là chùa Vua, không phải là chùa dành cho vua chúa (Sỹ Nhiếp không xưng vua), mà là chùa thờ Vua. Vua ở đây là thần Phạm Thiên – Đế Thích của đạo Bà La Môn. Chùa này theo các tư liệu vốn có tên là Kính Thiên điện hay điện thờ Trời.
Tương tự, ở thành phố Hà Nội cũng có chùa Vua thờ thần Đế Thích. Khu vực chợ gần đó gọi là chợ Trời, không phải là chợ ở ngoài trời, mà là khu vực thờ ông Trời. Chùa Vua đúng tên mà nay còn ghi ở đó là Thiên Đế điện.
Đế Thích là vị thần cai quản thời tiết và chiến tranh. Cũng vì vậy mà dân gian kể thành ra Đế Thích rất giỏi chơi cờ. Chơi cờ tướng là nghệ thuật điều binh khiển tướng, tức là tổ chức chiến tranh.

Thiên Đế điện – chùa Vua Hà Nội.

Đạo Bà La Môn như vậy rất thịnh hành dưới thời Sỹ Nhiếp ở cả miền Bắc và miền Trung Việt. Họ Phạm của Sĩ Nhiếp cũng như họ Phạm ở Lâm Ấp có thể vừa là pháp danh trong đạo, vừa là họ. Trong quan niệm của Bà La Môn thì tầng lớp thống trị là con của thánh thần. Thần Bà La Môn là Phạm Thiên nên người cai quản đất nước cũng mang họ Phạm.
Như thế trung tâm Luy Lâu vốn khởi đầu không phải là bởi Phật giáo mà là đạo Bà La Môn. Chỉ sau khi Sỹ Nhiếp mất thì Phật giáo ở đây mới bắt đầu nổi lên, bằng sự xuất hiện của sư tổ Khương Tăng Hội, chép dịch kinh và truyền đạo. Việc Khương Tăng Hội từng sang Kiến Nghiệp để thuyết giáo cho Tôn Quyền nay có thể hiểu lại.
Khi Sỹ Nhiếp mất, Tôn Quyền cho Lữ Đại sang thay họ Sỹ – Phạm cai quản Giao Châu. Việc Đông Ngô khuyến khích Phật Giáo ở Giao Châu như thế còn có ý nghĩa về chính trị, nhằm loại bỏ “tàn dư” của thời Sỹ Nhiếp do Bà La Môn giáo thống trị. Giao Châu từ đó chuyển sang chịu ảnh hưởng của đạo Phật. Trong khi khu vực miền Trung vẫn tiếp tục do họ Phạm lãnh đạo và tiếp tục theo Bà La Môn giáo. Khương Tăng Hội không chỉ từ Giao Châu sang thuyết giáo Tôn Quyền mà có thể đã dựa vào Tôn Quyền để khuếch trương Phật giáo tại Giao Châu, nơi vốn là lãnh địa của Bà La Môn giáo họ Phạm.
Vị sư tổ Thiền tông Khương Tăng Hội đã soạn các bản kinh bằng chữ Nho rõ ràng là với mục đích truyền bá Phật Giáo ở Giao Châu sau thời Sỹ Nhiếp. Tác phẩm Lục độ tập kinh của Khương Tăng Hội do đó không phải là kinh nguyên văn của Ấn Độ được dịch mà là sách do Khương Tăng Hội sáng tác với mục đích truyền giáo vào Giao Châu – Trung Quốc. Chính vì vậy mà trong Lục độ tập kinh ta thấy xuất hiện có những mô típ điển hình của truyền thuyết Việt như chuyện sinh trăm trứng hay chuyện sừng tê bảy tấc rẽ nước (An Dương Vương). Thiền sư Lê Mạnh Thát đã từng lấy đây làm dẫn chứng để cho rằng các truyền thuyết của nước ta là đi chép từ kinh của Ấn Độ. Như vậy là không hợp lý. Ngược lại, đây là những truyền thuyết Việt đã được Khương Tăng Hội vận dụng đưa vào trong kinh Phật để cho phù hợp với tâm lý và tư tưởng người Việt khi mới truyền giáo. Thủ pháp truyền giáo này được áp dụng ở thời kỳ đầu du nhập đạo Phật sang phương Đông như thời Đông Tấn có sư Tuệ Viễn đã dùng các điển tích của Trang Tử để giảng đạo Phật ở Trung Quốc.
Việc một khu vực chuyển từ ảnh hưởng của Bà La Môn giáo sang Phật giáo gặp rất phổ biến ở thời kỳ đầu của Phật giáo. Sự việc này được hình ảnh hóa thành ra 2 vị thần tối cao của Bà La Môn giáo là Indra (Đế Thích) và Brahma (Phạm Thiên) trở thành 2 vị hộ pháp khi Phật tổ ra đời. Trong các chùa ngày nay thường gặp tượng của Phạm Thiên và Đế Thích đặt ở 2 bên tượng Cửu long (Thích Ca sơ sinh) hoặc thờ thành ban Đức Ông riêng.

Duc OngBan thờ Đức Ông chùa Bộc.

Ở chùa Bộc có ban thờ Đức Ông nằm phía bên trái chính điện. Bức tượng Đức Ông này có quần áo trang phục như một vị vua và được cho là hình tượng của vua Quang Trung. Tuy nhiên, đôi câu đối hai bên ban thờ này chép:
洞裡無塵大地山河留棟宇
光中化佛小天世界轉風雲
Động lý vô trần, đại địa sơn hà lưu đống vũ
Quang trung hóa Phật, tiểu thiên thế giới chuyển phong vân.
Dịch:
Trong động bụi không, đất rộng núi sông lưu đền mái
Giữa quang phật hóa, một trời thế giới chuyển gió mưa.
Đoạn câu đối “tiểu thiên thế giới chuyển phong vân” là chỉ thần Đế Thích, vị thần cai quản chuyện làm mưa làm gió ở trên thế giới này đã theo Phật. Tứ pháp, Vân Vũ Lôi Điện, là hiện thân của thần Đế Thích, bắt nguồn từ Bà La Môn giáo du nhập vào Giao Châu dưới thời Sỹ Nhiếp. Sau này, từ khi Khương Tăng Hội soạn kinh và truyền giáo ở Giao Châu thì các điện thờ Tứ pháp mới chuyển hóa thành các chùa thờ Phật.

Bàn thêm về Sỹ Nhiếp và Tứ pháp

Thần tích xã Đặng Xá ở Ân Thi, Hưng Yên cung cấp một số chi tiết khác về sự tích Man Nương và tục thờ Tứ pháp. Ngay ở đầu thần tích cho biết:
Tương truyền vào cuối đời Hán Minh Đế có một nhà sư tên là Khâu Đà La vốn dòng đạo Bà La Môn ở nước Thiên Trúc“.
Thông tin rất rõ ràng, Khâu Đà La là một nhà sư theo đạo Bà La Môn. Trong bài trước về Sỹ Nhiếp đã bàn, bản chất của tục thờ Tứ pháp là thờ thần dông tố Indra của đạo Bà La Môn. Cũng theo thần tích này thì chính Sỹ Nhiếp là người cho tạc tượng Tứ pháp và phổ biến tục thờ Tứ pháp ở khu vực miền Bắc. Như thế Sỹ Nhiếp có thể cũng là một tu sĩ theo đạo Bà La Môn, hoặc chí ít thì tín ngưỡng chính của Giao Châu thời Sỹ Nhiếp là đạo Bà La Môn, chứ không phải đạo Phật như vẫn nghĩ.

Chua DauCổng chùa Đậu ở Thường Tín.

Thần tích còn cung cấp thông tin rằng với sự “tư vấn” của thầy địa lý Quách Thông, tượng Pháp Vũ đầu tiên được dựng thờ ở chùa Thành Đạo, thuộc Sơn Nam, ở địa phận xã Gia Phúc, tổng La Phù, huyện Thượng Phúc. Địa chỉ này nay khớp với chùa Đậu ở thôn Gia Phúc, xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín, Hà Nội. Đậu cũng có nghĩa là Thành (Đạo).
Đặc biệt, thần tích Đặng Xá cho biết Sỹ Nhiếp đã chọn chỗ này để xây dựng Kính Thiên điện. Ở chùa Đậu tới nay còn lưu giữ cuốn sách bằng đồng do Sỹ Nhiếp viết. Trong sách đồng có đoạn tả cảnh chùa:
Đồng bằng bát ngát nẩy toà sen
Phật ngự trang nghiêm tựa động tiên
Đất phúc xây nên cung Nguyệt Điện
Trời Nam riêng hẳn cảnh thiên nhiên
Lô hương khói toả tan niềm tục
Hồ ngọc trăng soi rõ cửa thiền
Công đức từ bi bao xiết kể
Công lao vô lượng lại vô biên.
Bài thơ trong sách đồng như thế cũng nói tới một cung điện đã từng được dựng ở đây. Nội dung của bài thơ này có thể thấy tương tự bài thơ chép trong thần tích Đặng Xá:
Trùng trùng dũng địa xuất hồng liên
Chính khí chung lại bảo điện tiền
Lệ nhuận tây thiên tân đông vũ
Hùng khoa nam hải cựu sơn xuyên
Ngọc khê nguyệt đạm khai từ kính
Hương các phong lại tấu tuệ huyền
Tối thượng cập nhập đa phúc trạch
Huyền công vô lượng cánh vô lương.
Những thông tin trên rất hữu ích, là chỉ dẫn để hiểu thêm về di tích chùa Đậu và có thể là đầu mối để tìm kiếm vết tích của một cung điện cổ của Giao Châu từ thế kỷ thứ 3 ở chỗ này.

Bia chua DauBia Tu tạo Pháp Vũ tự ở chùa Đậu.

Đôi câu đối ở chùa Đậu cũng ghi nhận sự tích về Tứ pháp và Sỹ Nhiếp:
天使甘霖南越遥傳千古蹟
地開明鏡士王屹立萬年祠
Thiên sử cam lâm, Nam Việt diêu truyền thiên cổ tích
Địa khai minh kính, Sĩ Vương ngật lập vạn niên từ.
Dịch:
Trời khiến mưa lành, Nam Việt truyền xa tích thiên cổ
Đất mở gương sáng, Sĩ Vương dựng cao đền vạn năm.
Vế đầu câu đối nói tới Tứ Pháp (ở đây là Pháp Vũ – mưa) là tích truyện cổ truyền ở nước Nam Việt. Vế đối sau kể tại đất này Sĩ Vương đã cho dựng một ngôi đền cao.

Chinh dien chua Dau

Chính điện thờ của chùa Đậu.

Theo thần tích Đặng Xá trong 3 pho tượng còn lại thì tượng thánh Pháp Điện đặt tại chùa Trí Quả, gần với chỗ ở của thánh mẫu Man Nương. Chùa Trí Quả là chùa Dàn ở Thuận Thành, Bắc Ninh, nơi thờ Pháp Điện. Tuy nhiên, cũng địa điểm xã Trí Quả là nơi đã phát hiện tấm bia Xá lợi tháp minh thời Tùy. Tấm bia nói về việc Tùy Văn Đế năm Nhân Thọ nguyên niên (601) đã cho nhập xá lợi Phật vào chùa Thiền Chúng ở Giao Châu.
Có thể thấy, chùa Thiền Chúng được nói đến ở đây phải là chùa Dâu, nơi thờ Pháp Vân, cùng trong hệ thống Tứ pháp ở Thuận Thành. Chùa Dâu còn có tên là Thiền Định. Có thể từng được gọi là Thiền Chúng. Hoặc Thiền Chúng đọc phản thiết cho chữ Chiền, chỉ ngôi chùa nói chung. Điều này hoàn toàn phù hợp với lời kể của Cổ Châu Phật bản hạnh, một tư liệu cổ của chùa Dâu, kể rằng Tùy Văn Đế đã nhập xá lợi vào “chiền Cổ Châu”:

Thời ấy có ông Lưu Chi
Tâu rằng nhà Tùy Cao đế niên gian
Năm hòm xá lỵ Bụt quan
Giữa huyện Siêu Loại là chiền Cổ Châu
Danh lam bảo tháp phù đồ
Cao dự nghìn trượng khỏe phò thánh cung.

Thap Hoa Phong

Tháp Hòa Phong, bia tứ diện và con cừu đá chùa Dâu.

Tháp xá lợi thời Tùy chính là ở chỗ tháp Hòa Phong nay của chùa Dâu. Tấm bia tứ diện dưới chân tháp Hòa Phong cũng xác nhận sự kiện này.
Đôi cừu đá, một ở tháp Hòa Phong, một ở lăng mộ Sỹ Nhiếp là tượng chứng về một thời kỳ Giao Châu tự chủ và sự du nhập của đạo Bà La Môn vào Giao Châu qua tín ngưỡng Tứ pháp, cầu mưa.

Sự tích Man Nương

Thần tích xã Đặng Xá, huyện Ân Thi, Hưng Yên, chép theo sách Truyền thuyết dân gian người Việt (quyển 2), Kiều Thu Hoạch chủ biên, NXB KHXH, 2014.

Tương truyền vào cuối đời Hán Minh Đế có một nhà sư tên là Khâu Đà La vốn dòng đạo Bà La Môn ở nước Thiên Trúc, tay cầm gậy thần xích chu du bốn bể mười phương. Sư đến thành Luy Lâu, hồi đó là trị sở của Sĩ Vương. Trong thành có một viên quan tên là Tu Định, là người Siêu Loại. Tu Định thấy Đà La có khí độ thần tiên phơi phới, bèn mời về nhà riêng. Đà La về nhà Tu Định ở. Nhà sư thanh tịnh nhiều ngày không ăn uống. Tu Định thấy vậy lấy làm lạ, nảy sinh lòng kính ngưỡng. Nhà Tu Định có cô con gái tuổi mới mười hai, đêm đến khêu đèn thắp nhang rất là kính cẩn. Nhà sư thấy cô bé nhỏ tuổi mà có lòng thành như vậy cũng lấy làm lạ bèn đặt cho cái tên là Man Nương. Hơn một tháng thì sư xin về. Tu Định muốn giữ lại, liền cúi đầu xin được độ làm đệ tử. Vì thế sư lưu lại bảy hôm nữa, vời Man Nương đến trước mặt, sư xoa đầu cô mà phán rằng: “Mi đã thành pháp bảo của ta. Ta rất yêu mi!”. Nhân đó lại bảo Tu Định rằng: “Sau ba năm trời đại hạn, chẳng những lúa má cháy khô mà cả người và gia súc cũng không có chỗ nào mà uống. Nay ta giúp cho gia đình nhà ngươi sống qua lúc đó”. Nhà sư lấy gậy thần xích cắm xuống vườn nước bèn vọt lên. Tu Định theo đúng chỗ đó đào một cái giếng để phòng ngừa hạn hán. Nhà sư bèn từ giã vào núi.
Hồi ấy Man Nương đến tuần cập kê, chưa lấy chồng mà đã có chửa. Tu Định xấu hổi hỏi vặn con: “Mày không chồng mà có chửa là lỗi tại ai?”. Nhà sư chưa kịp vân du mà đã nghe được lời căn vặn con của Tu Định, bèn mỉm cười phán rằng: “Hãy nhịn, nhịn, nhịn… mọi điều oan gia từ đây sẽ hết”. Tu Định lĩnh hội được ý của sư, ông nuôi dưỡng Man Nương chu đáo. Nàng có mang đẫy mười bốn tháng, đến giờ Ngọ ngày mồng Tám tháng Tư năm Giáp Ngọ, sinh được đứa con gái. Nàng ẵm con vào rừng tìm sư, lúc đến nơi nhà sư cất tiếng gọi con: “Hỡi đứa con của Đà La”, bèn ẵm đứa bé vào trong rừng sâu hô to lên rằng: “Hỡi các cây gỗ to! Cây nào ẵm đứa con này cho ta thì mở lòng ra mà nhận. Sau này sẽ làm thiên thần, hưởng sự thờ cúng của thế gian, lưu truyền vĩnh viễn muôn đời”.
Có một cây to vui vẻ trả lời: “Tôi xin giữ đứa trẻ này”. Cái cây ấy nứt ra, nhà sư liền đưa đứa bé ấy vào trong lòng cây gỗ. Cây gỗ từ từ khéo lại. Nhà sư đọc câu kệ rằng:
“Hình hài như nghịch lữ,
Tâm không cảnh diệc không
Ngưng nhiên nhất vị ngộ
Ứng vạn vật duyên đồng”.
Nghĩa là: Hình thể con người ở đời như cái quán trọ, trong lòng hư không tất cả đều hư không. Lặng thinh một mùi vị ngộ đạo, ứng tiếp vạn vật chung một nhân duyên.
Đọc xong cây kệ thì đi đâu mất không thấy xuất hiện. Man Nương cúi đầu lạy tạ rồi trở về nhà.
Hồi đó trời nắng hạn ba năm không có một giọt nước mưa. Các giếng khô kiệt, riêng có giếng nhà Tu Định nước lúc nào cũng đầy ăm ắp. Nhân dân trong thành nhiều người được uống nhờ ơn đức. Sĩ Vương nghe tin, liền hỏi nguyên nhân thế nào. Man Nương cho người đem đầu đuôi câu chuyện báo cáo cho Vương hay. Vương cho người vào núi tìm sư, ba lần đi ba lần về không, chẳng biết sư trụ trì ở đâu. Vương lại vời Man Nương đến truyền lệnh cho nàng vào rừng tìm sư về thành làm phù phép khu trừ hạn hán giúp nước cứu dân. Nàng vâng lệnh vào rừng, gặp sư ngồi nhập định dưới bóng cây to. Nàng bạch sư về sắc lệnh của Vương mời làm phép hộ quốc cứu dân qua cơn tai nạn. Sư nghe lời trở về, liền hô gió gọi mưa, biến hóa, bay nhảy trên không, hóa phép thư phù, chẳng đầy chớp mắt thì mưa đổ như trút. Khi ấy trong nước từ trên xuống dưới, không ai là không tỏ ra sung sướng, không một vật nào không tỏ vẻ sinh dưỡng trưởng thành.
Sau này gió bão nổi lên bật hẳn cây gỗ lớn theo lũ cuốn trôi xuống sông Long Biên, từ từ trôi đến bến thành Luy Lâu thì dừng lại. Mọi người đều nghe thấy trong thân cây văng vẳng có tiếng âm nhạc. Chẳng những thế mà cái cây cây gỗ lớn ấy còn tỏa ra mùi thơm ngào ngạt và dọi ánh hào quang rực rỡ. Dân đem việc lạ ấy tâu lên Sĩ Vương. Vương ngầm ra coi thấy quả nhiên như vậy. Ngày hôm sau Vương sai lực sĩ kéo cây gỗ lên bờ sông. Vương thấy cây gỗ rất chắc, có ý muốn xẻ ra để xây dựng điện Kính Thiên nhưng chưa quyết định. Đêm hôm ấy Sĩ Vương chiêm bao thấy một vị quan trưởng đầu đội mũ hoa đến trước mặt Vương nói: “Nay ta cùng ngài nên mở mắt mà coi: tám nghìn năm trở về trước, ta với ngài vốn là người quen thuộc”. Vương tỉnh dậy bèn đem việc chiêm bao ấy nói cho quân thần nghe. Trong số này có người nói: “Cây gỗ để ở bên thành rất thiêng sao không lấý nó để tạc thần tượng”. Ngay hôm ấy Vương cho mời người thợ mộc là Đào Độ cắt cây gỗ ra làm bốn đoạn để tạc bốn pho tượng. Ở giữa đoạn gỗ thứ nhất trong lòng có một hòn đá, người thợ mộc đem hòn đá ấy ra sông rửa, chẳng ngờ sểnh tay rơi xuống sông mất.
Sau khi tạc xong bốn pho tượng, Vương mở hội khánh thành, bỗng nhiên mây kéo đen nghịt, mưa đổ xuống, sấm nổi lên, chớp sáng lòe, nhân đó Vương đặt tên cho bốn pho tượng là Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện và viết bài thơ rằng:
Nam bang sơn nhạc giáng thần linh
Văn hiến khai đoan hiển Phật kinh
Thánh mẫu quả nhiên sinh thánh tử
Cam lâm nhuận trạch hậu dân sinh.
Nghĩa là: Núi non nước Nam có thần linh giáng thế, mở nguồn văn hiên cho nên kinh Phật được sáng rõ, mẹ thánh quả nhiên sinh ra con thánh, mưa ngọt nhuần thấm bồi đắp cuộc sống cho dân.
Vương bảo quần thần: “Sông núi giáng linh cho nên được bốn pho thần tượng này, thật là một sự kiện kỳ diệu của nghìn muôn năm. Hơn nữa thần còn hiển linh cứu hạn hán cho dân thật là tuyệt vời. Các người nên tìm nơi đất danh thắng, lập đền thờ phụng các ngài.”
Khi ấy có thầy địa lý chính tông tên là Quách Thông tâu rằng: “Bốn pho tượng thánh nên chia ra các đền để thờ phụng khiến cho ơn đức của thánh thấm đến muôn dân. Phương Nam của ta thuộc “bính đinh”, nếu được vị thần anh linh để trấn thủ thì thật là ngôi phúc tinh của một xứ sở vậy. Thần trước đây có đi qua Sơn Nam thấy ở địa phận xã Gia Phúc, tổng La Phù, huyện Thượng Phúc có một kiểu đất sơn thủy triều phục, ở giữa có một cái gò nổi lên hình như bông sen ở trong tấm gương sáng. Bên cạnh có chuông trống, đằng trước có hình nhà sư bái lễ. Đất này thật là đất danh lam thắng cảnh”.
Vương bèn thân hành đến thăm, nhìn khắp trước sau quả nhiên đúng như lời của Quách Thông. Vương bèn sai xây dựng lâu đài đồ sộ như điện Kính Thiên, cho rước tượng thánh Pháp Vũ về thờ và đặt tên là chùa Thành Đạo. Vua bèn đề thơ ở chùa, thơ rằng:
Trùng trùng dũng địa xuất hồng liên
Chính khí chung lại bảo điện tiền
Lệ nhuận tây thiên tân đông vũ
Hùng khoa nam hải cựu sơn xuyên
Ngọc khê nguyệt đạm khai từ kính
Hương các phong lại tấu tuệ huyền
Tối thượng cập nhập đa phúc trạch
Huyền công vô lượng cánh vô lương.
Dịch nghĩa: Hoa sen hồng điệp trùng nổi lên mặt đất. Chính khí hun đúc trước điện báu. Vẻ tươi đẹp nổi bật nếp lâu đài của trời Tây, thế hùng mạnh ca ngợi non sông cũ của biển Nam. Ánh trăng nhạt soi suối ngọc như mờ tấm gương từ bi. Gió thổi vào gác thơm như dạo khúc đàn trí tuệ. Nhiều phúc trạch thấm nhuần đến con người là điều hơn hết, công huyền diệu đã là vô lượng càng là vô biên.
Còn ba pho thần tượng mỗi pho thờ tại một nơi. Tượng thánh Pháp Vân đặt tại chùa Thiền Định; tương thánh Pháp Lôi đặt tại chùa Phi Tướng; tượng thánh Pháp Điện đặt tại chùa Trí Quả, gần với chỗ ở của thánh mẫu (tức thân mẫu của bốn vị thánh).
Tương truyền khi mới rước vào chùa, ba pho tượng đều nhẹ, riêng có pho tượng Pháp Vân rất nặng nhấc lên không được. Sĩ Vương vời người thợ đến hỏi, người thợ mộc đem cái vết hòn đá trong gỗ trình bày cho Vương biết. Vương liền cho người thuyền chài xuống sông mò hòn đá ấy. Họ thấy ánh hào quang rực rỡ ở dưới sông soi thấu vào người nên không dám đến gần. Thuyền chài lên tâu Vương. Vương liền sai Man Nương xuống sông tìm hòn đá ấy. Man Nương vâng lệnh đến bến sông. Khi đó, hòn đá bỗng nhảy lên bờ. Man Nương ôm hòn đá ấy về trình lên Vương. Vương cho thợ đặt nó vào pho tượng Pháp Vân, pho tượng bỗng nhẹ hẳn lên. Vương lấy làm lạ, bèn đặt tên cho pho tượng Pháp Vân là “Thạch Quang Vương Phật”. Qua đó mới hay đoạn gỗ tạc tượng Pháp Vân đúng là cái đoạn gỗ đã ôm “đứa bé của Đà La” do Man Nương sinh hạ. Nhân đó, Vường tưởng nhớ ơn đức của nhà sư Khâu Đà La, liên sai sứ giả mang hương hoa lễ vật vào rừng xanh lạy tạ. Song sứ giả không tìm thấy tung tích của sư đâu cả, mà chỉ thấy bài kệ vạch ở da cây:
Kham than tuế mạo lão dư linh
Thả hỉ bang gia tứ hải thanh
Yếu sử cơ niên quy khứ sở
Bạch vân thâm xứ tủng đình đình.
Dịch nghĩa: Đáng tiếc tuổi tác đã già. Song mừng thấy nước nhà thanh bình bốn bể. Qua một năm thấy chốn đi về. Đó là nơi mây trắng xa xăm, cao vời vợi.
Sư Đà La hóa đi hay là đi truyền giáo ở nước khác cũng không rõ dấu vết thế nào. Hiện tại trước cửa chùa Thiên Định có một cái mả, người đời đều kêu là mả Man Nương, còn gọi là mả thánh mẫu. Hiện còn di tích ghi lại để nhớ.
Sau này bốn vị thánh “Tứ Pháp” (Pháp Vũ, Pháp Vân, Pháp Lôi, Pháp Điện) rất anh linh, các nơi đều có lập đền thờ phụng sự. Ngoài thân cây gỗ đã tạc tượng ra còn các cành cội của nó đều được nhân dân đến lấy về tạc tượng hoặc đem yểm tâm cho pho tượng sẵn có. Thánh Tứ Pháp rất anh linh, năm nào đại hạn, cầu đảo đều mưa, nhân dân cầu phúc, cầu tự, cầu tài đều linh ứng rất nhanh. Đức thánh Pháp Vân, trong nước những nơi danh lam thắng cảnh đều có thờ phụng, kể không sao xiết. Chẳng hạn chỉ kể một vài nơi ở Hưng Yên như xã Dị Sử ở Đương Hào, xã Cầu Tu và Đặng Xá ở Ân Thi, xã Bình Kiều ở Đông Yên đều có lập đền thờ. Từ Đông Hán đến Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương gồm ba trăm bốn mươi chính năm, tựu trung có chùa Pháp Vân ở Đặng Xá đã được nước đảo dân cầu, đèn hương bất diệt, hiển ứng vô cùng. Trải các triều Đinh, Lê, Lý… khai sáng nghiệp lớn, các ngài đều hiển linh giúp nước giúp dân, cầu gió được gió, cầu mưa được mưa, cho nên lịch đại đế vương đều có gia phong duệ hiệu.