Ngọc phả sự tích ba vị là con thứ triều Hùng Huy Vương Việt Thường Đàm Gia Đại vương, Du Di Hoàng hậu và Hệ Hộ Cung phi

Dịch theo bản khai Thần tích thần sắc thôn Tổ, làng Thượng Trì, tổng Thượng Trì, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông.

Xưa Hùng Vương Sơn nguyên Thánh Tổ ngôi báu trời Nam Tiền Hoàng đế tạo dựng cơ đồ, thủy tổ trời Nam, nước Cổ Việt Thường họ Hùng 18 đời thánh vương ngự trị trời Nam, khai mở cơ đồ Việt. Nước biếc một dòng mở vận đế thánh vua sáng. Núi xanh vạn dặm xây nền cung điện đô thành. Khai vật giúp người, thống lĩnh 15 bộ, thế trấn phiên bang (Xét xưa Lạc Long Quân, Âu Cơ sinh một bầu trăm trứng, nở ra điềm trăm trai, đến khi trưởng thành Vua kiến phong hầu, lập bình phong phiên dậu, chia thành 15 bộ. Thứ nhất là Sơn Tây, thứ hai là Sơn Nam, thứ ba là Hải Dương, thứ tư là Kinh Bắc, thứ năm là Ái Châu, thứ sáu là Hoan Châu, thứ bảy là Bố Chính, thứ tám là Ô Châu, thứ chín là Ai Châu (Ai Lao?), thứ mười là Hưng Hóa, thứ mười một là Tuyên Quang, mười hai là Cao Bằng, mười ba là Lạng Sơn, mười bốn là Quảng Đông, mười lăm là Quảng Tây). Kế thừa ngôi báu thành đất Viêm Hồng. Có vua trị nước hơn hai ngàn năm, mãi giữ tông phái vững như bàn đá. Hiển ứng linh thiêng ở Nghĩa Lĩnh. Truyền trăm đời đế vương nước Nam, đóng ngự muôn năm thánh điện núi Hùng Vương, Thánh tổ trời Nam. Nền nước cơ đồ mãi vững muôn năm, lâu dài vạn thế. Bèn lập miếu điện, cung lăng. Dòng dõi con cháu hoàng gia phân ra ở trị các ngọn núi, góc biển. Ở quận Giao Chỉ các nơi phủ, huyện, dân thôn, động, sách đều phụng thờ, hương lửa lưu truyền vạn năm sáng mãi, không thể mất được.

Đời sau có thơ khen rằng:
Nam thiên khởi triệu tự Hùng Vương
Vạn cổ huân danh lập kỷ cương
Nhất thống tương truyền thập bát thế
Nhị thiên dư tải ức niên hương.
Nhất bào bách noãn giai sinh thánh
Lưỡng tế thăng thiên bất tử phương
Vạn cổ lưu truyền sơn hải tại
Danh đồng thiên địa ức niên phương.

Lại nói, đời triều Kinh thứ sáu là Huy Vương lên ngôi, đóng đô ở sông Bạch Hạc Việt Trì, tên nước là Văn Lang, kinh đô tên là thành Phong, lập ra kỷ cương đất nước xem các vua đời trước mà định làm phép tắc. Đề cao pháp độ trùm vạn đời làm chuẩn hình. Lấy đức giáo hóa nhân dân. Ban điều nhân đức, nghiệm việc chính trị. Ra sức yên dân chúng. Đề ra phép tắc, nêu cao quy định. Người đương thời đều gọi là bậc vua hiền vậy.

Khi đó bốn bể thanh bình, vạn dân no đủ. Con vua cháu đế nhàn chơi xem phong cảnh sông núi, đất trời. Khi tiết xuân tháng ba, Vua cùng với Cung phi thứ ba là công chúa Hàn Nương đi xe ngự về Hoan Châu (nay tức là Nghệ An) thăm viếng các nơi lăng mộ tổ tiên. Một hôm Vua đi đến vùng đất thôn Tổ xã Thượng Trì, huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai. Hôm đó (mùng 10 tháng Giêng), nhân dân làm lễ bái mừng, xây dựng hành cung. Vua ở tại đất đó (tức là đất thôn Tổ), thấy nhân dân thuần hậu, phong cảnh hữu tình, bên sông ấp dân đều sống ở trên đường lớn, đều một màu đào liễu. Vua dừng xe đóng quân một đêm tại đây.

Khi đó trong thôn có một miệng giếng. Ấp dân dựng cung cho Vua ở tại bên cạnh giếng. Khi mặt trời đã ngả chiều tối, Cung phi đi chơi xem chỗ có giếng để tắm rửa. Thị nữ đến lấy nước ở giếng. Trong lúc Cung phi đang tắm bỗng thấy trong giếng có một con rắn hoa dài hơn 10 thước, từ trong giếng bò thẳng ra, quấn lấy Cung phi ba vòng. Cung phi mơ màng sợ hãi. Thị nữ chạy về cung vội tâu. Vua nghe lời tâu báo bèn sai quần thần cùng đi ra. Bỗng thấy trong khoảnh khắc con rắn bò thẳng xuống miệng giếng mà biến mất. Cung phi tỉnh lại, đứng dậy đi về. Thấy thân có đấy nước dãi mùi thơm ngào ngạt. Cung phi kể lại mọi việc trước sau.

Vua rất tức giận, truyền binh sĩ và nhân dân tát cạn nước giếng để tìm con rắn nhưng không thấy. Bỗng nhiên mưa gió nổi lên, sấm sét vang rền. Quân dân đều sợ hãi bỏ chạy. Vua nghĩ rằng hẳn là nơi giếng này có có thủy thần đóng quản, không thể không. Nơi đó trời đất tạo nên giếng thiêng vậy. Vua bèn lệnh cho quần thần làm lễ chay mà tạ. Lễ xong đêm đó Vua nằm ở trong cung, mơ màng thiếp đi. Bỗng thấy có một người áo mão đường hoàng từ trong giếng đi ra tiến thẳng đến nơi Vua, dập đầu làm lễ. Vua bèn hỏi rằng:

  • Họ tên như thế nào? Có việc gì mà tới đây?

Người đó tâu rằng:

  • Thần vốn là con của Động Đình Đế, quyền quản bãi sông Thượng Trì, kiêm đóng ở trong giếng của ấp thôn (tức là thôn Tổ). Thần vâng mệnh Thiên đế tái giáng xuất thế ở dương gian, đầu thai nhập làm con vua, cũng là mệnh làm Thủy tào vậy. Hôm nay may mắn gặp vua đến chính nơi cung trại chốn trang thôn này. Xin đến để nói về việc đầu nhập này.

Nói chưa xong thì Vua đã tỉnh lại, biết là điềm báo mộng, nghĩ thấy:

  • Tất là Thiên đình đã định cho vị thần long của Thủy quốc vào nhập làm con trai nhà ta. Sự đã rõ ràng.

Vua cho gọi thị thần đến chép lại điềm giấc mộng của mình để sau này so nghiệm. Hôm đó Vua lên đường trở về Hoan Châu (sau đổi là Nghệ An) thăm các nơi lăng mộ tổ tiên. Từ đó Cung phi có mang thai. Đến ngày 12 tháng Giêng năm Nhâm Tuất là đến kỳ mãn nguyệt, sinh được một người con trai, thân thể cao lớn, diện mao đẹp lạ, khác hẳn người thường. Vào lúc sinh ra mưa gió tối tăm, mây khói mù mịt. Giữa ban ngày mà trong thành như trời tối. Sấm sét vang rền rung trời chuyển đất. Triều đình trong nước đều lấy làm kỳ lạ. Sinh được tròn năm Vua bèn đặt tên là Quan lang Đàm Gia. Năm tháng thay nhau, đến khi trưởng thành, Vua nhớ đến điềm mộng rắn quấn trước đây từ nơi giếng thôn Tổ (tức thôn Tổ xã Thượng Trì). Vua bèn cho thôn Tổ là ấp thang mộc, giao cho ông đương thời quyền quản, các lợi lộc đều được hưởng từ đất đó. Ông vốn có thiên tư thông minh chính trực, tài cao đức lớn, tính thật là khoan nhân, yêu mến dân tình. Đang khi đó ngoài bể yên bình, trong phủ vô sự. Ông thường đi xe nhàn chơi vãng cảnh xem vẻ thú vị của núi sông. Một hôm ông trở về chơi ở ấp thang mộc. Nhân dân làm lễ bái mừng, xây dựng một cung để ở tại chốn đất cung trước kia (cung trước kia Vua đã ngự ở bên nơi giếng nước, có điềm ứng rắn quấn mà sinh ra ông Gia).

Ông bèn dừng xe trú ở đó, phủ dụ phụ lão nhân dân. Lấy lòng nhân mà giáo hóa trở thành mỹ tục. Giúp người nghèo, nuôi người già. Phát nhiều tiền bạc, vải vóc để nuôi dưỡng dân tình được no đủ. Ơn nhân đức sâu lớn như biển, như núi. Không có ai sống ở đó không coi ông như cha mẹ.

Lại nói, khi đó ở thôn Nội xã Thượng Trì có gia đình ông Bộ trưởng họ Phan, có hai người con gái. Một người tên là nàng Du Di. Một người tên là nàng Hệ Hộ. Cả hai đều là bậc hào kiệt trong giới nữ, anh tài ở trên thế gian, chính thật là thần nữ thủy cung, nhan sắc tuyệt trần sánh cùng với Hằng Nga trên mặt trăng.

 Xét xưa thời Hùng Vương tương truyền ông họ Phan vốn là người thôn Nội xã Thượng Trì, tên là Vĩnh. Khi ông làm chức Bộ trưởng, vợ là Vương Thị Hàm cũng là người ở cùng làng. Lấy nhau được 3-4 năm thì bà có mang thai. Được 7 tháng, một hôm bà Vương Thị Hàm đi ra ngoài bãi sông Thượng Trì để tắm gội. Bỗng nhiên bà lao xuống sông mà hóa. Sự việc xảy ra như vậy, không thể cứu vãn được. Do đó ông Vĩnh trong lòng rất thương nhớ tình cảm của vợ, ngày ngày buồn bã. Vào lúc trăm ngày, ông bèn mời pháp sư đến gọi hồn. Việc xong ông trở về nhà. Đêm hôm đó ông nằm mộng thấy đi đến bên bờ sông bỗng gặp vợ ở đó. Ông nửa mừng nửa lo, than vãn tình cảm trước sau. Vợ ông nắm lấy tay ông, than vãn xong thì nói với ông rằng:

  • Thiếp vốn là con gái Động Đình Long cung. Trước sinh ra ở trên Dương thế, đầu nhập vào làm con gái nhà Vua dưới Long cung. May mắn cùng với chàng được kết phối, vốn thề cùng nhau kết liên tới khi đầu bạc. Than ôi, cầm sắt nhân duyên, uyên ương hòa hợp mới được 3-4 năm, sớm có điềm giọt sành. Đến gần ngày mãn nguyệt mà chưa thể sinh nở bởi việc Thiên đình đã định, không thể ở tiếp trên trần thế. Do vậy mà sông Ngân cầu Ô Thước ngăn trở khó qua. Lại trở về Thủy quốc, quản chưởng Long cung, sớm ngày bên Vua cha. Cai quản ở gác ngọc thâm cung. Tuy đã hai đường khó nối, nhưng cùng một mối tâm tư vậy. Trên trên trần thế nghĩa sinh thành, đức lớn cù lao, đâu dám quên. Mối kết tóc tình sâu duyên ân ái, vẫn luôn nhớ vậy. Trách ông trời không cho được đoàn tụ. Nay thiếp đã đến kỳ sinh nở được một bầu bốn trứng, đã nở ra hai nam và hai nữ, đều sẽ thành hình người. Xin hãy mang về trần thế để báo đáp nghĩa của chàng, làm niềm vui an ủi. Xin hãy mang về nuôi dưỡng. Chớ phụ lòng thiếp.

Lại thấy ngâm rằng:
Tảo thời quá bộ vãng (giang?) biên,
Thuỷ thượng phù phù tứ noãn viên
Long huyết giai sinh long huyết tử
Nhất bào nam nữ, thị giai hiền.

Ngâm xong ông bỗng tỉnh lại, biết là nằm mộng. Khi đó canh gà một khắc. Ông cảm lời trong mộng nên đi thẳng ra ngoài bờ sông để tìm xem. Ở trên bãi sông không thấy có gì. Ông mới đưa mắt ra ngoài sông, thấy có 4 trứng nổi ở trên mặt nước cạnh bờ, đều cụm vào một nơi. Ông bèn lấy tay vớt và thả xuôi dòng. Nhưng tất cả trứng đều quấn lấy thân ông, không chịu trôi đi. Ông nhớ lại đúng như điềm trong mộng nên vớt bốn trứng, đem gói vào trong bung, mang về nhà. Trong chốc lát thấy trứng bỗng nhiên trở nên to lớn. Mỗi trứng dài một thước.

Khi ấy là ngày 16 tháng Giêng, bốn trứng cùng nở thành bốn người con, hai trai hai gái, đều thật khác người thường. Ông theo lời vợ trong mộng mà đặt tên: một là Minh Bào, một là Hổ Lang, một là Du Di, một là Hệ Hộ. Đến khi trưởng thành hai người con trai đều là bậc anh hùng hơn đời, trí dũng vượt người. Hai người con gái có hình dung chim sa cá lặn, có diện mạo hoa nhường nguyệt thẹn, anh hoa tuyệt thế, nhan sắc phi thường, đều là bậc hào kiệt trong giới nữ vậy. Về hành trạng của hai người con trai thì có tích riêng.

Khi đó ông Gia đến chơi nơi đất đó (tức thôn Tổ), nghe tiếng thơm hai nàng cũng rung động. Ông Gia bèn sai sứ thần gọi ông Phan đến, hỏi cưới hai nàng. Ông Phan vâng mệnh nhận gả. Hôm đó làm biểu dâng tấu về triều. Vua đồng ý. Bèn làm sính lễ xong thì đón về đô phủ. Lập người chị làm Chính phi, người em làm Thứ phi.

Khi đó ông lên đường trở về thành vào triều chầu vua. Qua vài tháng, nơi ấp thôn đó (tức thôn Tổ) người và vật đều không yên, bị tật bệnh rất nhiều. Trong giếng thường thường có rắn quái xuất hiện. Nhân dân đều sợ hãi. Một hôm nhân dân lập đàn cầu đảo trời đất thần linh. Cầu xong đêm hôm đó nhân dân đều ngủ say, bỗng thấy một vị quan nhân, áo mũ đường đường tiến thẳng đến. Nhân dân đều đứng lên hỏi rằng:

  • Dám hỏi vị quan nào đến đây?

Vị quan nhân đó nói rằng:

  • Ta vốn là một tiểu thần. Nay vâng mệnh Thiên đế xuống báo cho nhân dân cùng biết. Nay vị Chủ quan đã trở về kinh thành, nơi cung này không có người nắm quyền. Do đó mà ôn dịch địa phương gây loạn, xâm nhập vào trong cung, gây ra nhiễu hại nhân dân. Nếu như muốn dân vật được yên, hãy mau đón Chủ chưởng trở về thì tất âm binh sẽ đều tan.

Nói xong, quan nhân bay lên không mà đi. Nhân dân tỉnh lại biết giấc mộng đó. Ngay hôm đó nhân dân tụ tập cùng dâng tâu lên triều đình, xin làm lễ đón ông về cung ấp. Vua đồng ý cho. Ông cùng với hai bà phi vâng mệnh trở về cung ấp. Khi đó quân của ông đi đến đâu thì gió thổi theo, mưa nổi lên ù ù như tiếng sấm vang vào tai, tiến thẳng về cung ấp. Nước trong giếng sóng nổi cuồn cuộn. Rắn hoa, cá, ba ba đều nổi lên. Ông đi trở về đến nơi (tức ngày mùng 4 tháng Năm), nhân dân làm lễ bái mừng, tu sửa cung để ở. Từ đó mọi việc đều yên.

Ông ở đó được quãng nửa năm. Khi ấy có giặc Ân là Thạch Linh Thần tướng đến xâm phạm. Trăm vạn quân mạnh tiến thẳng vào Giao Nam, muốn chiếm lấy nước. Thư từ biên cương báo gấp. Vua rất lo lắng liền gọi quần thần đến cùng hỏi kế sách. Các đình thần đều nhìn nhau, bó tay không có phương sách nào. Vua bèn xây một đàn, trai giới đốt hương để cầu trời đất trăm thần âm phù giúp nước. Lại gọi các quần thần đến hội ở đàn trong ba ngày. Mưa to gió lớn, trên đàn mù mịt. Bỗng thấy có một lão nhân, cao hơn 9 thước, râu tóc bạc trắng, ngồi ở ngã ba đường, cười nói nhảy múa. Mọi người thấy đều cho là người lạ, vào tâu với Vua. Vua thân ra đón vào trong đàn, hỏi rằng:

  • Nay có giặc phương Bắc đến xâm phạm. Thắng thua thế nào, xin được chỉ giáo cho.

Lão nhân hồi lâu lấy tay bốc một quẻ rồi nói rằng:

  • Nếu như cầu được người thì giặc này sẽ sớm dẹp yên được.

Vua lại hỏi:

  • Cầu người này ở phương nào được?

Lão nhân lại nói:

  • Việc ở Vu nữ.

Nói xong, Lão nhân bay lên không mà đi. Vua nghĩ đó là Lạc Long Quân đến dạy. Thế là Vua sai sứ đi khắp nơi cầu tìm trong thiên hạ. Khi đến làng Phù Đổng quận Vũ Ninh có một gia đình phú ông sinh được một người con trai, lên ba tuổi tên là Thiết Xung Thần Vương. Chỉ ăn uống mà lớn lên, không biết nói năng. Bà mẹ nghe tiếng sứ giả đến chiêu mộ, mới nói đùa rằng:

  • Con nhà ta tới nay biết ăn uống, mà không biết đánh giặc để lấy chức trọng của triều đình, để báo đáp ơn sâu nuôi mớm.

Bỗng nhiên nghe mẹ nói, thì người con mở miệng nói rằng:

  • Mẹ cho gọi sứ lại đây.

Thần Vương nói với sứ giả rằng:

  • Hãy mau về báo với Vua xin được một con ngựa sắt cao mười thước, một cây gậy sắt dài mười trượng, đem lại cho tôi. Vua sẽ không còn lo lắng gì.

Nói xong, sứ giả trở về tâu lại với Vua. Vua rất mừng, bèn lệnh chọn các quan lang phụ đạo (tức là con cháu dòng dõi Hùng Vương) 10 bổ Thủy thần, 10 bộ Sơn thần, dẫn 3 vạn quân mạnh theo giúp ứng chiến cho Thần Vương. Hôm đó đúc thành ngựa sắt, gậy sắt, đem lại giao cho Thần Vương.

Lại nói, khi ấy ông Gia nhận mệnh đi xuất chinh, giao phó cho gia thần, nhân dân trông giữ cung sở cùng với phụng chầu hai vị cung phi. Ngày đó nhân dân làm lễ bái mừng, đáp rằng:

  • Thân dân dám xin được lập đền thờ sông để làm tỏ đức của Chủ quan, để trừ miễn được yêu khí gây hại trong thôn.

Ông bèn nói với phụ lão nhân dân:

  • Hãy lấy nơi cung mà ta đang ở làm nơi chính. Hoặc sau khi  ta đi dẹp giặc mà nhân dân có thấy lũ yêu gây hại thì dân chúng hãy đến ở nơi cung sở gọi thỉnh ta về giúp cho.

Nhân dân đều nghe theo lời dặn đó. Hôm ấy (ngày 12 tháng Mười) ông mổ trâu khao hưởng quân sĩ, chiêu mộ được hơn năm trăm người gia thần thủ túc. Ngày hôm sau Chủ quan cất quân đến chầu vua. Các đạo quân sĩ đều khấu tạ trước Vua lĩnh mệnh ra quân. Vua truyền đem ngựa sắt, gậy sắt cùng các đạo Sơn thủy, quân giới đến hội cùng Thần Vương, theo tùy tùng dẹp giặc. Ngay hôm đó chia làm hai đạo thủy bộ cùng tiến (Đàm Gia thuộc thủy đạo, Đốc lĩnh thuyền rồng đi trước quân đội).

Thần Vương nhảy lên ngựa, hô một tiếng:

  • Ta là Thiên tướng đây.

Ngựa chạy như bay, chốc lát đã đến thẳng chân núi Vũ Ninh miền Yên Việt. Các đạo thủy bộ cùng theo tiếp chiến, đánh một trân lớn với Thạch Linh Thần tướng ở bên núi. Quân Ân đều thua. Bắt sông Thạch Linh Thần tướng, chém đi. Còn lại các đạo thủy bộ tiếp chiến, truy sát chém được hơn năm ngàn đầu giặc mà vẫn chưa diệt hết. Gậy sắt của Thần Vương bị rơi mất, Thần Vương bèn lấy tay nhổ tre dẹp sạch giặc. Đi thẳng đến núi Sóc xã Vệ Linh huyện Kim Hoa thì bèn bỏ áo, cưỡi ngựa xông lên trời theo mây mà đi. Nay vẫn còn dấu riêng ở trên vách núi. Sau này nhân dân lập đền để thờ phụng tại đó (Việc phong tặng cùng với sắp đặt ruộng thờ có ở trong bản chính tích riêng).

Lại nói, ông Gia dẹp yên giặc Ân xong bèn vâng chiếu trở về thành, vào tâu Vua. Vua rất mừng, ngay hôm đó mở yến tiệc lớn, khao hưởng quân sĩ. Vua bèn phong ông Gia là Hải Dương Vương, Chính phi làm Hoàng hậu. Ông bèn vâng thừa mệnh vua, làm lễ khấu tạ, đi trị Hải Dương. Khi ấy, ông trở về cung ấp. Hôm đó (là mùng 10 tháng Mười) nhân dân làm lễ bái mừng. Ông mới dừng giá ở lại, cởi giáp nghỉ quân, cùng với phụ lão nhân dân trong mười ngày. Bái yết  tổ tiên quê ngoại (ở đất thôn Nội). Giao phó cho nhân dân thôn Tổ lấy nơi cung sở làm sinh từ, sau này làm nơi thờ tự. Lại cho nhân dân 10 nén vàng để phòng về sau tu sửa cung sở. Phụ lão nhân dân đều lĩnh mệnh nhận lấy. Việc xong, Chủ quan cùng với hai bà phi hôm đó cất quân đi xe loan đến quản Hải Dương. Ông đến nơi công sở,

Trị quản được vài năm. Khi ấy nơi huyện phủ Nam Sách bị nước lũ dâng lên, làm sạt lở đất đai hơn mấy trăm dặm. Vua bèn lệnh cho ông dẫn quân đến phòng đường sông trị thủy. Hôm đó ông đi đến nơi có đất lở. Ông đến nơi thì trong vòng một ngày, nước lũ ở đó tự rút. Ông ở đó được 10 ngày thì những nơi bị sạt lở đều được yên ổn. Việc xong, ông làm biểu, dẫn quân trở về, tiến theo đường thủy. Một hôm đi đến địa phận Ngọc Động Hà Đới, tại một khúc sông nhỏ. Bỗng nhiên gió lớn nổi lên một trận. Sóng nước cuồn cuộn vạn dăm. Rắn hoa, cá, ba ba trên ngàn dặm đều nổi lên mặt nước, hướng về phía thuyền của ông. Sấm sét vang rền. Trời đất mù mịt. Thuyền của ông chìm mà hóa. Hôm đó (mùng 2 tháng Chín) nhân dân làm biểu dâng tấu lên bệ hạ. Vua nghe vậy thì ngay hôm đó Vua cùng với hai vị phi nhân đi tới nơi đó (tức là Ngọc Động Hà Đới), truyền cho binh sĩ và nhân dân xây dựng đền để thờ tự.

Vua sai trăm quan cùng nhân dân làm lễ yên vị. Việc xong thì trở xe trở về thành đô, làm lễ tế. Lại ban chiếu gọi hai cung phi trở về kinh, không ở xứ Hải Dương nữa. Ngày hôm đó hai vị cung phi đi xe trở về triều chầu vua, làm lễ nhận tang. Vua bèn bao phong cho mỹ tự, được vạn năm hưởng lộc, cùng với quốc gia mãi mãi là hằng thức. Ngày hôm đó truyền cho các nơi ấp hưởng lộc đến tề tựu ở kinh thành đón sắc chỉ và thần hiều trở về nơi cung sở mà thờ phụng. Phong là:

  • Phong Đàm Gia Đại vương.

Lại nói, khi ấy thôn Tổ xã Thượng Trì đón mang sắc chỉ thần hiệu trở về nơi đền phụng thờ. Khi đi đón trên đường thì thấy trên trời có một đám mây ngũ sắc nổi lên, ngay phía trên đầu xe. Khi đón về đến đền bỗng thấy có một tấm vải đỏ từ trên không rơi xuống thẳng vào trong giếng. Có ba tiếng sấm vang lên, rung trời chuyển đất. Nhân dân đang khi làm lễ đều sợ hãi, cho là sự lạ, làm biểu dâng tâu kể lại. Vua nghe vậy phán rằng:

  • Con ta vốn là thần của ấp các người, là chủ trưởng long cung động giếng, là tinh hoa sinh ra trên đời cũng tại đất này. Nay hóa trở về nơi cũ, linh thiêng lại trở về trong giếng. Sự tất như vậy, không phải nghi ngờ. Nay đã hiển thần như thế thì Trẫm lại phong mỹ tự để mang về đền cho dân chúng phụng thờ.

Lại phong là: phong Đương cảnh Thành hoàng Đàm Gia Đại vương. Cho thôn Tổ xã Thượng Trì làm nơi thờ, hai kỳ xuân thu sai quan đến bày tế. Từ đó quốc đảo dân cầu có rất nhiều linh ứng. Người đời sau có thơ khen rằng:

Sinh vi đế tử giáng vi thần
Vạn cổ phương danh tại xã dân
Ngọc tỉnh hiện tồn lưu thánh tích
Thiên vô lão dã thuỷ vô trần.

Lại nói, khi ấy ông Gia sinh được một người con trai, khoảng 5 tuổi. Vua sớm cho lập làm Thái tử để nối vị trí Hải Dương Vương. Than ôi, đạo trời như vậy. Một nhà đều là linh quan của Thủy quốc, không phải người trên trần thế. Một hôm hai vị cung phi cùng với Thái tử dập đầu tạ trước bệ, xin được trở về quê ngoại để bái yết gia đường, thăm hỏi nhân dân. Vua đồng ý, ban thêm cho vàng bạc, vải vóc hơn ngàn cân. Hai cung phi đi thuyền rồng, theo đường thủy mà đi. Đến sông Nhị thì trời đã tối. Hai vị phi nhân dừng thuyền trú tại đó. Đến quãng nửa đêm, bỗng nghe từ đáy sông có tiêng hô to rằng:

  • Cần mau hội quân, đưa giá đón hai vị phi nhân của Chủ chưởng Long cung trở về đô phủ của Thủy quốc. Việc này đã định chỉ trong vòng 5 ngày tới. Chủ quan truyền lệnh như vậy.

Tiếng hô xong thì thấy có tiếng hơn ngàn người đều đáp vâng. Trong chốc lát đều thấy ngừng. Trời đã bắt đầu sáng. Gia thần thị nữ nghe được sự lạ đó bèn cùng nhau bàn tán. Hai vị cung phi phát hiện được liền nói rằng:

  • Các người gia thần thị nữ đều đã nghe được việc này. Chớ có để lộ ra ngoài nhân gian, mà gây ra sự nghi ngờ.

Đám người hầu nghe lời giáo huấn đó, nghĩ rằng các phi nhân chủ của họ không phải người trần, tất là Long quân Thủy quốc đã định lúc trở về. Do đó cấm họ không được khoa trương, tiết lộ.

Lại nói, hai vị phi nhân khi ấy đi về đất ấp quán (tức đất thôn Nội xã Thượng Trì). Hôm đó (11 tháng Tám) nhân dân làm lễ bái mừng. Phi nhân bái yết gia tiên. Việc xong hai vị phi nhân cùng với Thái tử trờ về thôn Tổ làm lễ bái yết đền chính thờ Chủ quan. Ngày đó (11 tháng Tám) nhân dân làm lễ bái mừng. Tối đó phi nhân dừng xe ở đất ấy. Đến đêm, khi gà đã gáy canh ba, bỗng thấy hai phi nhân đều cùng đi đến miệng giếng. Thị nữ đi sau lén đợi xem, thì nghe thấy hai vị phi nhân gọi lên 3 tiếng, đi vào trong giếng, đều nghe tiếng đáp. Nước từ đáy giếng đều tự có tiếng vù vù không ngừng.

Hai vị phi nhân và Thái tử đi thẳng ra làm lễ ở ngoài sông, cùng với mấy người thị nữ buộc tóc. Bỗng thuyền rồng nổi lên trên mặt nước. Cá, ba ba hai bên bơi theo, dẫn thuyền rồng đến bên bãi sông. Hai vị phi nhân cùng Thái tử và thị tì đều xuống thuyền, đi ra giữa sông thì chìm mà tự biến, sinh hóa bất diệt.

Nhân dân ở nơi đó (tức thôn Nội và thôn Tổ) đều lấy làm lạ, làm biểu dâng tấu. Vua nghe vậy một lúc phán rằng:

  • Gia đình con ta vợ chồng đều là thủy thần xuất thế để trợ vận. Việc đã yên, thì đều cùng hóa về Thủy quốc vậy.

Ngay hôm đó Vua lệnh cho trăm quan (16 tháng Tám) trở về bày tế, đem sắc chỉ trở về cung ấp cho nhân dân phụng thờ.

  • Phong Du Di Hoàng hậu Đại vương.
  • Phong Đương cảnh Thành hoàng Đại vương.
  • Phong Hệ Hộ Cung phi Đại vương.

Thôn Tổ xã Thượng Trì phụng thờ ba vị. Cùng thôn Nội phụng thờ hai nhị, làm đền tạo lệ chính.

Lại nói, đến thời Trưng nữ Vương (Trưng Trắc, Trưng Nhị) cũng là người cháu gái Hùng Vương, thật là bậc thánh thần trên đời, hào kiệt trong giới nữ, khởi nghĩa binh, chiêu dụ các tướng nữ, quân nữ cùng anh hùng hào kiệt diệt trừ Tô Định, đến hội quân ở cửa sông Hát Môn, lập đàn cầu đảo trăm thần âm phù dẹp giặc. Khi ấy Trưng Vương tiến quân đi đến đền thờ của ông ở thôn Tổ xã Thượng Trì vào cầu đảo. Đến đêm hôm đó bỗng thấy có ba con rắn hoa rực rỡ từ giếng xuất hiện, tiến thẳng vào trong đền, đều lên nằm trên gác thượng. Trưng Vương biết là có nhiều linh ứng bèn truyền dựng một cây cờ ở sân trước, làm lễ cầu đảo chúc rằng:

  • Xin hãy âm phù giúp nước, dẹp yên quân giặc. Nếu đuôi cờ chỉ về phía Bắc thì quân ta sẽ thắng. Còn nếu quân giặc mạnh Tô Định thắng thì lá cờ hãy quay trở về chỉ hướng Nam.

Đọc chúc xong thì gió mây nổi lên, lá cờ chuyển thẳng chỉ sang hướng Bắc. Trưng Vương làm lễ tạ, cất quân thẳng tiến, đánh một trận lớn, Tô Định thua chạy. Trưng Vương khôi phục lại tất cả đất đai Nam bang. Giặc Tô đã dẹp yên xong. Trưng Vương lên ngôi, mở tiệc mừng lớn. Rồi phong thêm mỹ tự cho trăm thần, hương lửa không ngớt vậy. Trưng Vương phong là:

  • Phong Du Di Hoàng hậu Đại vương.
  • Phong Đương cảnh Thành hoàng Đàm Gia Linh ứng Đại vương.
  • Phong Hệ Hộ Cung phi Đại vương.

Lại nói, thời Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương tất cả là qua 349 năm đến khi nước Nam có bốn họ Đinh, Lê, Lý, Trần khai mở cơ đồ, thần thường giúp nước giúp dân, có nhiều hiển ứng linh thiêng, nên trải qua các đời đế vương đều có truy phong mỹ tự, vạn năm hưởng lộc, hương lửa không ngừng, cùng với nước nhà yên hưởng. Thịnh thay!

Ngọc phả cổ chép về vị Cao Sơn Hiển Ứng Đại vương là công thần triều Hùng Huy Vương họ Việt Thường

Dịch từ thần tích làng Yến Vỹ, tổng Phù Lưu Thượng, phủ Mỹ Đức, tỉnh Hà Đông.

Bộ Thượng đẳng, thứ Sáu.

Xưa Hùng Vương Sơn nguyên Thánh Tổ Tiền Hoàng đế ngôi báu trời Nam mở tạo cơ đồ là thủy tổ Việt Nam, khai sáng họ Hùng Cổ Việt Thường 18 đời thánh vương ngự trị trời Nam, lập nên cơ đề to lớn của nước Việt. Nước biếc một dòng khởi đầu vận vua sáng thánh đế. Núi xanh vạn dặm dựng nền móng cung điện đô thành. Nuôi vật giúp người, thống quản 15 bộ, thế lớn trấn áp các chư phiên. Kế nối ngôi báu ở đất Viêm Hồng. Làm vua trị nước hơn ba ngàn năm. Mãi giúp tông phái vững như bàn đá. Hiển ứng linh thiêng ở Nghĩa Lĩnh. Truyền trăm đời đế vương ngự trị, muôn năm điện thánh núi Hùng, đất tổ trời Nam. Cơ đồ của đất nước mãi giữ muôn năm, vạn thế bền lâu. Lập miếu điện, cung lăng, con cháu dòng dõi hoàng gia tông phái, công thần lớn nhỏ phân đóng ở các nơi, giữ 15 bộ.

Khi ấy Lạc Long Quân lấy Âu Cơ là chính cung, sinh được một bầu trăm trứng, nở ra điềm trăm trai, đều là anh hùng trùm đời, trí dũng vượt người. Đến khi trưởng thành Vua bèn kiến phong hầu, lập phiên thuộc. Một là Sơn Tây, hai là Sơn Nam, ba là Hải Dương, bốn là Kinh Bắc, năm là Ái Châu, sáu là Hoan Châu, bảy là Ai Lao, tám là Ô Châu, chính là Bố Chính châu, mười là Hưng Hóa, mười một là Tuyên Quang, mười hai là Cao Bằng, mười ba là Lạng Sơn, mười bốn là Quảng Tây, mười lăm là Quảng Đông. Dấu tích đều không thể mất. Người đời sau có thơ khen rằng:

Nam thiên triệu tạo lập Hùng gia
Công đối càn khôn triệt hải hà
Thập bộ sơn thần giai đế tử
Diệc đồng miêu duệ thử vương gia.

Lại nói, triều Kinh thứ sáu truyền đến Huy Vương tại vị, đóng đô ở Việt Trì bên sông Bạch Hạc, lập nước tên là Văn Lang, kinh đô là thành Phong Châu. Huy Vương mới lên ngôi trong nước còn thiếu thốn, nên cái đức của vua lấy việc chuyên lo giáo dưỡng nhân dân làm gốc. Việc giao du tửu sắc, mê cảm tin vào thần tiên sao không phải là đức mất nước của hôn quân. Nên chăm lo bồi đức, giúp người, trợ nghèo, dưỡng lão. Đương thời đều gọi là bậc vua hiền vậy.

Lại nói khi đó nước ta tương truyền ở xã Vĩnh Thế huyện Siêu Lại phủ Thuận An xứ Kinh Bắc có một vị chủ trưởng một phương, họ Hùng tên Ân (cũng là dòng dõi Hùng Vương, kế nối quan lang, lấy vợ người cùng xã họ Nguyễn tên Liễu, đều là thuộc bộ Sơn thần). Qua được năm năm, loan phượng hòa hợp, sớm có điềm ứng thẻ ngọc. Nàng Liễu từ đó có mang. Đến khoảng tháng Ba một hôm đi đến chùa trên núi Phật Tích, bỗng thấy trên trời có ba đám mây, bên trong sáng rực rỡ. Được một lúc lại thấy có hổ vàng hai tay ôm lấy nàng Liễu chạy thẳng lên núi.

Từ  đó ông Ân nhớ nhung người vợ, buồn bã đi lên đỉnh núi, trong lòng tưởng nhớ, mắt nhìn ngang dọc tìm kiếm. Bỗng nhiên thấy có hổ vàng nằm ở trên gò đất dưới gốc cây to, cây cỏ um tùm. Nơi đó có tiếng người cất lên như tiếng vợ của ông, nói rằng:

  • Thiếp vốn là con gái Sơn thần, kết duyên cùng với lang quân làm vợ chồng thật vui mừng. Hình hổ sớm ứng điềm đến lúc phải trở về. Than ôi! Đạo trời như vậy không thể thay đổi. Thiếp xin từ biệt. Nay Thiên đình và Dương gian hai ngả, ơn sâu chưa báo, nhân duyên như vậy tình không nên lời. Nay thiếp đã đến kỳ mang thai, sinh được một người con cốt hổ, cũng là khí chung đúc của thiếp và chàng, xin được đưa về Dương thế cùng với chàng cho chàng được vui lòng, ghi khắc một điều tình thâm với chàng, sao không phải là thứ quý báu của gia đình vậy. Xin chàng hãy biết cho.

Ông Hùng nghe vậy đưa mắt nhìn vào trong thân cây lớn, không thấy có ai, chỉ có một con hổ vàng, lông 5 màu phủ khắp người nằm đó. Ông Hùng cúi đầu đi đến thì hổ biến mất. Ông đến nơi hổ nằm thấy có một bọc bầu lớn. Ông nhớ lại lời vừa nghe được liền hai tay ôm lấy bọc đó cất vào trong tay áo. Lại thấy có một phong thư trên giấy hồng. Ông bèn mở ra xem, thấy có bốn câu rằng:

Phong thư hảo tín giáng nhân gian
Lang quân đắc tự khán sơn thần
Xuất thế dĩ phù an xã? tắc?
Giao hồi nguyện báo dĩ thừa hoan.

Ông xem xong thì biết là người vợ đã ứng hiện, bèn đem bọc bầu trở về. Qua được 3 tháng 25 ngày, hôm đó trời đất tối tăm, sấm chớp rầm rì. Trên sông sóng nước cuộn dâng. Cây lớn trên rừng đều gãy đổ. Ông lấy làm sự lạ mà bọc bầu lớn không thấy nở. Ông bèn dùng gậy đập vào cũng không nứt ra. Ông Hùng ngạc nhiên bèn đặt bọc bầu đó ở nơi ven núi để chờ xem. Qua được khoảng 14 ngày đến giờ Ngọ ngày mùng 6 tháng Ba năm Canh Tuất bọc bầu vỡ nở ra một người con trai, mặt vuông tai to, lưng rộng vai dài, tay dài quá gối, dưới chân có dải lông, sau lưng lại có 28 điểm tinh tú. Vào ngày khi sinh hương thơm bay ngào ngạt. Lại thấy có hổ vàng từ trên núi chạy đến nơi sinh. Lại thấy trăm muôn thú đều đến chầu nơi đó. Bỗng thấy trời đất mờ mịt, mây xanh giăng giăng, mưa gió thổi đến. Được một lúc thì trời đất trong sáng trở lại. Xuất hiện người con trai có tướng mạo đường đường, dáng vẻ lẫm liệt.

Lại nói, ông Hùng lấy làm lạ, quả nhiên trời đã báo phúc. Ngay hôm đó (là mùng 5 tháng Năm) truyền cho gia thần cùng quân lính mổ trâu làm lễ tế trời đất, bách thần. Đang khi khấn tế bỗng thấy có một vị thần tướng cao lớn từ trên trời hạ xuống đàn, đầu đội mũ hoa, thân mặc áo hoàng bào, giáp vàng, tay cầm một đôi kiếm báu, đứng tại trong mây mà nói với ông Hùng rằng;

  • Nay Thiên đình cử ta xuống để báo cho ông biết. Vợ chồng ông tích đức thật là đã nhiều năm. Hoàng thiên soi tỏ. Hôm nay ta đem kiếm báu đến giao cho con của Hùng Vương. Đợi đến ngày sau tất sẽ làm được việc giúp nước cứu dân.

Nói chưa dứt lời thì đem kiếm báu, cung thần trao cho ông. Ông đang muốn hỏi thì thần tướng bỗng nhiên biến mất. Ông chợt tỉnh lại, biết quả là Thiên thần xuống báo. Khi đó trong lòng bàng hoàng, sợ hãi, nói với các gia thần binh sĩ rằng:

  • Nay Thiên đình đã cho Sơn thần xuất thế, đầu thai vào làm con nhà ta, không phải người thường trên nhân gian. Chi bằng tìm riêng lấy một nơi đất tốt để nuôi dưỡng tới lớn. Từng nghe nói rằng nơi thắng cảnh trời Nam (tức động Hương Tích) là nơi mà Quan Âm đã xuất thế tại đó, là chốn quần tiên mở hội đánh cờ vây.

Dứt lời bèn truyền gia thần sắm sửa ba mâm cỗ chay cùng hương hoa các đồ (hôm đó là ngày 16 tháng Hai) đi đến xã Yến Vĩ huyện Hoài An phủ Ứng Thiên làm lễ cúng Phật. Giao phó người con cho vị sư tên là Đạo Quang Hòa thượng. Hòa thượng thấy thể mạo phi thường như sơn thần xuất thế, nên xem như anh em sinh cùng bọc. Khi ấy gia thần cùng nhân dân xây nhà và ở ấp đó để phụng dưỡng. Qua được 5 năm nhà sư cùng với ông Hùng đặt tên cho người con là Hiển Quan.

Đến khi trưởng thành tuổi khoảng 15, khi đi ngoài đường hay lên núi thì trên đỉnh đầu có đám mây che trùm phúc, đều giống như hình chiếc ô mây vậy. Khắp một vùng trong sáng, mây bay mưa rơi, sấm động mây theo. Nhân dân thấy vậy đều sợ phục. Hiển Quan vốn thông minh, thiên tư trí tuệ, văn võ toàn tài, lòng nhân đức to lớn.

Khi ấu do vua có đức không tốt nên Thiên đình giáng tai ương. Thiên hạ hạn hạn lớn, hoa màu khô héo. Nhân dân ốm đau, khắp nơi trong nước đều thiếu thốn. Khi đó Vua bèn ban chiếu mở khoa thi tuyển tìm người hiền lương phương chính, hiếu đễ cùng với văn chương quảng bác, văn võ toàn tài. Hôm đó Hiển Quan đi thi tuyển cùng với Đông Hải Quan ở Thủy bộ, người ở vùng biển, cùng đến ứng tuyển. Lúc đó Vua nằm mộng lên trên chốn Thiên đình. Thượng Đế hạ chiếu cho Hiển Quan thuộc Sơn bộ cùng với Đông Hải Quan chính ở Thủy bộ để giúp cho công đức của Vua, để bảo vệ nhân dân.

 Vua nghe vậy mới tỉnh lại thì biết là mộng báo. Đến sớm ngày có hai vị quan đến trước bệ rồng ứng tuyển. Vua thân hỏi xét, thấy tâu đáp trôi chảy, không gì là không hiểu. Vua trong lòng rất vui mừng, nhớ tới điềm báo trong mộng thấy đúng là những người này. Vua bèn nói rằng:

  • Đúng là Sơn thần đã giáng thế để giúp nước cứu dân. Trẫm sẽ cho dựng một đàn trai giới, lệnh cho ông cầu đảo xin trời cho được mưa xuống để tưới cho hoa màu được tươi tốt, cứu nhân dân khỏi đói khát. Nếu quả được như trong giấc mộng của Trẫm thì khanh đúng là vị Sơn thần đó vậy.

Vua bèn cho lập đàn, sai Hiển Quan cầu đảo. Được một lúc thì mưa từ trên trời tuôn rơi, mây mù mù mịt, gió sấm cùng nổi lên. Vua sợ hãi, biết ông đúng là Sơn thần giáng đến để giúp nước. Bèn bái ông là Tư Mã quan, kiêm cả Thủy bộ. Được vài năm thì bái làm Đại tướng quân thống lĩnh cả Thủy đạo và Sơn bộ. Lại cho Yến Vĩ làm ấp thang mộc, lĩnh quản ba vùng Sơn Nam, Sơn Tây và Hải Dương, trấn giữ các đầu non góc biển, đều giao cho Hiển Quan nắm giữ.

Qua hơn mười năm. Lại nói, khi đó có Thạch Linh Thần tướng khởi binh phương Bắc đến xâm phạm nước Nam. Chiêng trống động trời, cờ xí rợp đất. Vua bèn sai sơn thần Hiển Quan dẫn quân đến chống cự ở đạo Sơn Nam. Lại sai Đông Hải Quan dẫn quân đến cự chiến ở miền duyên hải. Ông bèn lĩnh binh tiến thẳng đến Yến Vĩ huyện Hoài An phủ Ứng Thiên, lập một đồn doanh ở nơi gò đá hình con rùa (trước có 3 ngọn tam thai, bên trái có dòng nước nhỏ uốn quan, phía sau có 5 ngọn núi nhỏ chầu về chính cung, hai bên đều quay về chầu). Ông nói với nhân dân (tức là ấp thang mộc của ông xã Yến Vĩ) đến làm lễ bái mừng (là ngày mùng 6 tháng Giêng). Khi đó ông đang giữ trận chống giặc ở đất này đã được 3 năm. Ông thường sắp sửa cỗ chay, hương hoa ngũ vị, dâng hương làm lễ ở chùa Thiên Trù, cầu khẩn trời đất, núi sông, tinh tú cùng đến giúp nước, hỗ trợ cho được thành công dụng.

Khấn xong bỗng thấy trên trời vang lên ba tiếng sấm, ánh chớp khắp nơi. Ông bèn dẫn quân ra đánh giặc. Tất cả hơn mười hiệp mà không phân thắng bại. Ông bèn lên ngựa, tay cầm một đôi kiếm báu xông vào đồn chính của giặc. Quân Ân chạy tan tác, không dám xâm phạm nữa. Chỉ có đồn doanh của ông ở huyện (tức huyện Hoài An) đều được yên ninh, nhân dân yên lành. Còn các nơi khác đều nổi loạn. Vua vô cùng lo lắng bèn lập đàn cầu đảo trời đất. Quần thần hội chầu ở đàn ba ngày. Mưa gió nổi lên. Bỗng thấy có một lão nhân cao hơn 10 trượng, râu tóc bạc trắng (tức là Lạc Long Quân hiện xuống), giáng đàn giúp nước. Vua thân ra đón vào, mới hỏi kế sách dẹp giặc. Lão nhân bèn nói:

  • Nếu như cầu được người này thì giặc Ân tất sẽ dẹp yên được.

Vua lại hỏi:

  • Cầu ở nơi nào?

Lão ông bốc một quẻ bói, hồi lâu mới nói:

  • Hãy đến làng Phù Đổng quận Vũ Ninh hô rằng: Quốc gia gặp nạn, giặc Ân đến xâm chiếm.

Thiết Xung Thần tự nhiên sẽ mở miệng nói với sứ giả rằng:

  • Xin về báo với vua đúc cho một con ngựa sắt, một chiếc roi sắt. Đem đến đây cho ta. Vua sẽ không phải lo về giặc Ân nữa.

Sứ giả nghe vậy liền vội về triều tâu lại với Vua. Vua rất vui mừng bèn cho đúc ngựa sắt, roi sắt cùng với 10 bộ Sơn thần và 10 bộ Thủy thần. Hôm đó vua bái Hiển Quan là Cao Sơn Đại vương thống lĩnh 16 châu động cùng với Đông Hải Quan ở Thủy bộ theo Thần Vương đi dẹp giặc. Ngày đó vua đem ngựa sắt, roi sắt ban cho Thần Vương. Thần Vương (tức Phù Đổng Thiên Vương) liên nhảy lên ngựa. Ngựa chạy như bay. Sai quan quân đi theo sau. Thần Vương mới hô to một tiếng rằng:

  • Ta là Thiên tướng đây.

Chốc lát đã tới chân núi Vũ Ninh miền Yên Việt, cùng với cá bộ sơn thủy đánh một trận. Bỗng thấy trời đất mù mịt, sông núi tinh tú đều sa xuống, thủy phủ đều nổi lên. Thiết Xung Thần Vương đầu tiên bắt sống được Thạch Linh Thần tướng, chém tại chỗ. Hai bộ sơn thủy truy sát quân Ân, hơn năm ngàn các tướng cùng quân sĩ đều tận trừ. Một trận quét sạch. Quân giặc tự được dẹp yên. Thần Vương cưỡi ngựa sắt về thẳng đến núi Sóc huyện Kim Hoa thì bỏ áo, xuống ngựa, theo mây mà bay đi. Nay hiện vẫn còn dấu tích. Vua bèn phong là Phù Đổng Thiên Vương, có sự tích riêng.

Lại nói, Hiển Quan dẹp giặc thanh bình, dẫn quân mã trở về triều phụng chầu. Vua bèn bái là Chưởng nội các quân sự. Qua 6 năm sau khi đó Hiển Quan dập đầu bái tạ trước vua, thỉnh xin được về cung ấp để nghỉ ngơi, không dám tham gia vào quốc sự nữa. Vua bèn ban cho năm trăm nén vàng bạc, một chiếc áo gấm. Lại cho xã Yến Vĩ làm ấp thang mộc. (Hôm đó là mùng 6 tháng Mười) Hiển Quan lĩnh mệnh đường đường trở về cung ấp. Lại nói, khi ấy Hiển Quan ngồi thuyền rồng về đến cung ấp (tức là cung trước đây ở xã Yến Vĩ) bèn mở tiệc mừng. Qua một tháng sau mới nói với phụ lão nhân dân rằng:

  • Dân với ta tất đã thành nghĩa cũ, không phải tình ngày một ngày hai.

Nói xong, nhân dân tâu rằng:

  • Ơn như núi cao biển rộng.

Nhân dân tâu xong, ông lại cho 5 nén vàng. Nhân dân đều nhận mệnh đó. Hiển Quan bèn ngâm một bài thơ luật rằng:

Nhất đường tụ hội hoán tinh thần
Vạn cổ hương yên tại xã dân
Tuy thị tuý trung hoan ẩm ngữ
Tình lưu Yến Vĩ ức niên xuân.

Ngâm xong bỗng thấy trên trời có 7 tiếng sấm rền, trời đất mờ mịt, ban ngày mà như đêm. Lại thấy từ trong thân ông có hổ vàng nhảy ra, bay thẳng lên trời. Hiển Quan biến mất. Binh sĩ và nhân dân làm biểu dâng tấu lên vua (tức giờ Thân ngày mùng 6 tháng Mười một năm Giáp Thìn thì ông hóa). Vua nghe vậy liền sai sứ thần đem sắc chỉ về dân, sửa sang lại cung sở đền thờ. (Tức ngày mùng 6 tháng Giêng) nhân dân đón sắc chỉ về dân làm lễ khánh hạ để phụng thờ. Đáng phong thêm 4 chữ.

– Truy phong Cao Sơn Hộ quốc Tế thế Đại vương, cho phép xã Yến Vĩ huyện Hoài An phủ Ứng Thiên là đền chính phụng thờ.

– Truy phong Cao Sơn Đại thánh Sơn Hổ Đại vương cùng các nơi 72 đền có tích riêng.

Lại nói đến bốn triều Đinh Lê Lý trần khai sáng hồng đồ thường có giúp nước cứu dân anh linh hiển ứng nên các đời đế vương phong thêm mỹ tự, cùng với nước nhà hưởng phúc, mãi là thức lệ, sự tích không thể mất đi.

Phụ khai các ngày sinh hóa cùng các tiết lễ lệ khai như sau:

– Triều Lê phong ba chữ mỹ tự, đáng phong thêm, nhất thiết cấm màu vàng, cùng với các chữ húy nhất thiết cấm là Hổ, Hiển. Phong là Cao Sơn Đại Thánh Sơn Hổ Tế thế Đại vương

– Phong là Cao Sơn Hộ quốc Cứu dân Cương đoạn Thông minh Chính trực Đại vương. Cho phép xã Yến Vĩ huyện Hoài An phủ Ứng Thiên là đền chính phụng thờ.

– Ngày mùng 6 tháng Giêng là ngày lện chính phong sắc. Lễ dùng lợn gà, xôi rượu, hương hoa các thứ.

– Ngày 16 tháng Hai là ngày khánh hạ chính. Trước làm lỗ cỗ chay mười mâm. Sau làm lễ cỗ trâu, xôi rượu, ca hát ba ngày đêm.

– Ngày 12 tháng Sáu là lệ chính. Lễ dùng cỗ tam sinh, xôi rượu, bánh dày các thứ.

– Ngày mùng 6 tháng Ba là ngày lệ chính sinh thần. Lễ dùng lợn đen, xôi rượu các thứ.

– Ngày mùng 5 tháng Năm là chính lệ xuất chinh. Lễ dùng cỗ tam sinh.

– Ngày mùng 6 tháng tám là ngày quốc tế. Lễ dùng cỗ tam sinh, xôi rượu, ca hát đến ngày 15 thì ngừng.

– Ngày mùng 6 tháng Mười một là ngày chính hóa nhật. Lễ dùng lợn đen, xôi rượu, bánh dày, cùng với rượu vàng các thứ.

Hồng Phúc năm đầu ngày 29 tháng Tám, Bệ phẩm Thượng thư kiêm Lễ bộ quan Nguyễn Đăng Huy vâng soạn.

Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn.

Hoàng triều Vĩnh Hữu năm thứ 5 ngày tốt tháng Mười Quản giám Bách thần Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh, tiểu chức, tuân đúng theo chính bản của tiền triều chính bản vâng chép.

Ngọc phả cổ truyền chép về Đức ông Cả Đài Đại vương, Đức ông Bố Cái Đại vương bộ Thủy triều Hùng họ Việt Thường

Dịch từ thần tích làng Thượng Phúc tổng Hoàng Lưu huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Đông.

Thần tích bộ Tả, Thượng thượng đẳng thần.

Xưa Hùng Vương Sơn nguyên Thánh Tổ Nam Thiên Đại bảo Tiền Hoàng đế khai mở cơ đồ, thủy tổ trời Nam, nước Cổ Việt họ Hùng Việt Thường, 18 đời thánh vương ngự trị trời Nam, sáng lập cơ đồ nước Việt. Nước biếc một dòng mở vận đế thánh vua sáng. Núi xanh vạn dặm lập nền cung điện đô thành. Mở vật giúp người, thống lĩnh 15 bộ, thế mạnh trùm khắp phiên bang. Nối tiếp ngôi báu đất Viêm Hồng, có vua trị nước hơn ba ngàn năm, mãi giữ cho tông miếu vững như bàn đá. Hiển ứng linh thiêng nơi Nghĩa Lĩnh, truyền trăm đời đế vương nước Nam. Đế ngự muôn năm thánh điện núi Hùng, đất tổ trời Nam. Nền vua đất nước mãi vững muôn năm, mãi còn vạn cổ. Hương lửa không dứt.

Lại nói, vua triều Kinh thứ 6 là Huy Vương tại ngôi, đóng đô ở sông Bạch Hạc Việt Trì, tên nước là Văn Lang, kinh thành là Phong Châu, dựng kỷ cương đất nước, lấy phép tắc của các vua đời trước mà khuyếch trương pháp độ, trải hình phép vạn đời. Lấy đức giáo hóa nhân dân, làm điều nhân đức, chuyên tâm chính trị. Dốc lòng che chở dân chúng. Lập pháp luật, biểu trương quy củ. Đương thời đều coi là vị vua hiền vậy.

Lại nói, đang thời khi đó truyền đến hai vị Đài công, Cái công, đúng chính là dòng dõi Hùng Vương làm Bộ chủ Hoan Châu. Khi Lạc Long Quân lấy Âu Cơ ở động Lăng Sương làm chính phi, sinh được một bầu trăm trứng, nở ra điềm lành trăm trai, đều là những anh hùng vượt đời, trí dũng hơn người. Lạc Long Quân liền cho kiến dựng tước hầu, lập phiên dậu bình phong, chia nước thành 15 bộ. Một là Sơn Tây, hai là Sơn Nam, ba là Hải Dương, bốn là Kinh Bắc, năm là Ái Châu, sáu là Hoan Châu, bảy là châu Bố Chính, tám là Ô Châu, chín là Ai Lao, mười là Hưng Hóa, mười một là Tuyên Quang, mười hai là Cao Bằng, mười ba là Lạng Sơn, mười bốn là Quảng Đông, mười lăm là Quảng Tây. Khi đó Long Quân nói với Âu Cơ rằng:

  • Ta thuộc giống rồng, nàng là dòng tiên. Tí Ngọ không cùng, nên vì thế mà chia tách.

Năm mươi người con theo cha làm Thủy thần. Năm mươi người con theo mẹ làm Sơn thần. Nhân đặt là trăm vương. Bộ chủ Hoan Châu là thủy thần thứ 11, tên là Hùng Tuệ. Mẹ vốn là người châu Bảo Lạc, trang Hoằng Hóa, họ Vương tên Loan. Khi đó ông Bộ chủ tuổi đã 50, bà phi tuổi cũng hơn 40, nhưng cành lan nhánh quế trước sân còn thiếu, chưa thấy giấc mộng lành điềm kỳ lân. Ông Bộ chủ họ Hùng vốn là người có đức dày với dân, trọng nghĩa khinh tài, rộng rãi giúp đỡ dân chúng. Phàm là việc cứu người thì không có gì là nhỏ. Lòng tận tâm giúp vật vốn có như ghi khắc. Là người hiền thực sự ở trên đời, vốn là bậc tuấn kiệt đương thời vậy.

Thái bà cũng là người nhân từ, kính thuận, khiêm tốn. Ăn ở vẻ vang mà ôn hòa, tứ đức vẹn toàn. Sáng vẻ nhàn hạ chốn khe Nam. Một lòng tòng thuận như chốn cửa Trần. Nét ấm đẹp theo lối Cam đường. Thực là bậc Hằng Nga trên cung trăng. Đúng là bậc nữ đời Nghiêu Thuấn. Sánh sáng cùng việc ngọc phong, sống động cùng lan quế, thời đó khó tìm.

Một hôm ông Bộ chủ nói với bà phi rằng:

  • Chốn đền thần danh lam, trai giới nơi chùa phật, thành tâm cầu tế trời đất thần kỳ, núi sông trăng sao thì mới mong có được phúc lớn.

Dứt lời bèn chuẩn bị lễ vật. Vợ chồng Bộ chủ cùng lên núi Yên Tử để dâng hương cầu khấn, chúc:

  • Xin sớm cho được điềm lành, thấu đạt hoàn cảnh. Vạn sự mong trời đất thần sông âm phù, giúp được ước muốn.

Chúc xong thì mặt trời đã xuống núi, trời chuyển về chiều. Ông bà bèn nằm lại trong chùa để cầu mộng trước án. Khoảng đến giữa canh hai bà phi mơ màng như mộng. Bỗng thấy trong điện mây năm sắc nổi lên, bầu trời sáng  rực rỡ. Lại thấy con đường trong mây có rồng vàng xuất hiện, thẳng đến quấn lấy thân bà phi ba vòng. Bà phi sợ hãi, hét lên một tiếng, vang đập vào tai mà tỉnh dậy. Bà kể lại điều trong mộng với ông Bộ chủ. Ông Bộ chủ bèn nói rằng:

  • Nhà ta có phúc lớn, trời sẽ soi tỏ. Cứ như điều trong mộng thì trời tất sẽ giáng điềm lành, quả sẽ sinh quý tử.

Noi xong vợ chồng cùng làm lễ bái tạ. Ngay hôm đó, vợ chồng trở loan giá về đến thôn Thượng Dục, xã Hạ Dục, huyện Chương Đức, phủ Ứng Thiên. Có một đoạn sông nhỏ chảy vòng đến thôn Thượng Dục. Ông Bộ chủ bèn cho dừng thuyền tại đó một lúc. Bà phi đi xuống bãi sông mà tắm rửa. Bỗng nhiên có giao long quấn lấy chân, phun nước dãi rồng vào thân bà phi. Mùi hương dãi rồng ngào ngạt. Bà phi sợ hãi bèn chạy lên bờ trở về. Mùi hương dãi rồng trên thân không gột hết được. Bà phi nói lại với ông Bộ chủ. Ông Bộ chủ nói rằng:

  • Ta thuộc mệnh Thủy thần, tất có sinh ra Thủy thần. Hãy đợi sau này sẽ biết được việc hôm nay thế nào.

Nói xong vợ chồng lại cất bước trở về đến Hoan Châu. Tối đó ông Bộ chủ nằm ở trong nhà chính, mơ màng thiếp đi. Bỗng thấy có một người hai tay bưng một chiếc mâm vàng, bên trên có một đôi cá chép, thân hình như đầu rồng đuôi tôm, thật là kỳ lạ. Khi đó người ấy bưng đến trước án ông Bộ chủ, bèn nói:

  • Nhà ông phúc hậu, nên nay ban cho một đôi báu vật của trời.

Ông bỗng tỉnh lại, nhớ đến điềm trong mộng thấy việc con cái tất sẽ thành, việc sẽ đúng như thế. Được vài tháng bà phi thấy động trong lòng, cảm ứng có mang thai. Đến giờ Thìn ngày mùng 6 tháng Giêng năm Giáp Tí sinh được một bầu, nở ra hai người con trai, đều có kỳ hình dị tướng, hàm én mày ngài, trán hổ mặt rồng. Sau lưng có 28 điểm tinh tú, đều như một hàng vảy lân, không phải người trần có được. Vợ chồng ông Bộ chủ liên tưởng biết tất là thủy thần xuất thế, thiên thánh giáng trần. Ngày qua tháng lại, hai ông tuổi đã lên 3. Ông Bộ chủ bèn làm biểu tâu lên Bệ hạ, bèn đặt tên là Đài, người con thứ là Cái.

Thời ấy vua Hùng sinh được một bầu trăm trứng, nở ra trăm trai, kiến tước hầu, lập bình phong, phân chia 50 (15?) bộ. Lại phân 50 thủy thần, 50 sơn bộ. Hễ bộ nào có sinh con trai, tâu lên triều đình thì vua sẽ lệnh ban cho kế vị quân hầu, phân đất đai lộc hưởng. Hùng Huy Vương thấy hai ông dáng vẻ như hổ, biết là người lạ khác tầm thường, siêu quần vượt chúng. Bèn đều phong cho tước hầu.

Khi đó ông Bộ chủ Hoan Châu tâu bày việc khi cầu đảo hai ông đã ở chùa trên núi Yên Tử, thấy có điềm mộng ứng, lại khi trở về đến thôn Thượng Dục thì có giao long quấn lấy, về sau sinh được hai ông. Vua nghe chuyện đó bèn cho đất Thượng Dục làm đất hưởng lộc của hai ông, sau này làm nơi thờ phụng.

Lại nói, hai ông khi lên 7-8 tuổi thì có thiên tính thông minh, không cần dạy dỗ mà tự có hiểu biết, không đi học mà biết chữ nghĩa. Mỗi khi đi ra chơi ở ngoài đường thì đều có một áng mây xám hình như cái ô lớn bay trên giữa trời, che ở chính đỉnh đầu hai ông. Gió sấm nổi lên, mây mưa tùy rơi. Ở nơi mà hai ông đi qua đều thấy một cảnh thanh mát trong lành. Hai ông tính thường rất thích nước, hay đi tắm. Thường đi ra bến sông, lặn xuống đáy nước, đi lại ra ngoài sông lớn, lặn xuống đáy nước cả ngày không lên. Mọi người đều thấy, đều kính sợ, xưng là tài lạ trời bẩm sinh, điều lạ ở chốn nhân gian, xưa này không từng có.

Khi hai ông lên 18 tuổi, văn võ kiêm tài, oai động triều đình, có tấm lòng nhân đức độ lượng, không ai không phục. Đương khi đó thiên hạ có mưa to nước lụt. Một dòng nước lớn chảy xuyên phá lở đường. Nhân dân, mùa màng bị thiệt hại nặng. Mười nơi thì chín nơi tan hoang, thật là đói khát. Vua cho hai ông nhận chức lớn đi tuần giữ các nơi trong thiên hạ, xem xét các vùng đất đai. Một hôm hai ông đi thẳng đến nơi ở sở tại (tức là địa giới thôn Thượng Dục). Nhân dân làm lễ bái mừng, dựng một hành cung ở đất đó (đất đó có hình thế một quý cục, hai bên phong tinh dẫn mạch, bốn mặt đất bằng bỗng nổi dựng một động nhỏ). Khi đó hai ông truyền binh sĩ xây dựng cung để ở và trị thủy. Hai ông ở đó được vài ngày, tới một đêm mưa to nước lũ dâng cao, chảy vào trong chốn cung sở. Hai ông bèn truyền cho nhân dân và binh sĩ chặt cây làm đê để ngăn nước, nhưng đều không chống được, thế nước lụt khó giữ. Hai ông rất tức giận, mắng rằng:

  • Thủy tặc sao lại có ý muốn hại trần gian vậy. Nay chúng ta vâng mệnh vua trần gian, cai quản thần sông, trấn ngự giặc nước gây hại. Chốn này là đất cung sở của chúng ta (tức đất thôn Thượng Dục) mà không sợ chúng ta sao. Ngày ngày lại càng dâng thêm nước lụt xâm nhập, gây hại cho dân. Không nghe rằng Dương đình, Thủy quốc phép chung đều giống nhau. Nếu có chúng ta ở đây, lũ thủy tặc khó thoát.

Mắng xong, hai ông mơ màng như mộng. Bỗng thấy có ba tướng đường đường cùng với quân sĩ hơn vài chục viên từ sông rẽ nước lên bờ đến đánh nhau với hai ông. Hai ông dẫn quân đến đánh. Được hơn mười hiệp hai ông bắn một mũi tên vào giữa bụng quân giặc. Quân giặc thua chạy. Hai ông đuổi theo, chém được hai viên đại tướng cùng với vài trăm binh sĩ. Còn những tên khác đều thua bỏ chạy hết. Bỗng nghe có một tiếng sấm vang lên. Hai ông tỉnh lại, biết là mộng. Đến khi trời sáng thấy nước đều đã rút hết đến tận lòng sông, không cần sửa đê mà đều rút yên vậy.

Hai ông trị thủy việc đã yên bình, làm biểu dâng tấu lên triều đình. Vua bèn ban chiếu gọi hai ông trở về kinh thành. Hai ông vâng chiếu trở về triều, bái tạ Bệ rồng. Vua rất khen ngợi, ngay hôm đó phong thưởng thăng giao ông Đài đất Hoan Châu làm chủ chưởng kế thừa cha. Ông Cái được phong ở Sơn Nam. Cùng ban thưởng 500 lạng vàng.

Hai ông xin trước bệ rồng được trở về thăm cha mẹ. Vua đồng ý. Hai ông hôm đó quay xe trở về đến xứ Hoan Châu, vào bái ông Bộ chủ, làm lễ gia tiên. Ở được vài ngày thì cha mẹ bỗng nhiên mất (tức ngày mùng 5 tháng Năm). Hai ông làm biểu dâng tấu lên triều đình, rồi chôn cất cha mẹ ở đất đó. Sau đó hai ông đi nhận chức ở các nơi. Từ đó thiên hạ thanh bình, nhân dân no đủ. Hai ông đi xe trở về cung Thượng Dục. Ngày hôm đó nhân dân làm lễ bái mừng. Hai ông truyền quân sĩ cùng nhân dân tu sửa hành cung các chốn. Hai ông ở đó được hơn ba tháng.

Lại nói, khi ấy có Ngô Linh Thần tướng cất 50 vạn quân mạnh đến xâm chiếm nước ta. Giáo mác khắp trời, cờ xí rợp đất. Thư từ biên giới gửi về báo gấp, mỗi ngày 5 lần. Vua Huy Vương lo lắng, bèn gọi quần thần đến hội nghị, hỏi kế sách. Triều đình đều dương mắt nhìn nhau, bó tay không có đối sách. Vua bèn cho dựng đàn trai giới, đốt hương cầu đảo. Truyền quần thần đến hội tụ ở đàn trong ba ngày. Sau có mưa sấm gió lớn. Bỗng thấy một ông lão cao hơn 9 thước, râu tóc bạch trắng, đứng ở nơi ngã ba đường mà cười nói, nhảy múa. Mọi người đều thấy làm lạ, tâu vào lên vua. Vua thân ra đón vào trong đàn, hỏi rằng;

  • Nay có giặc phương Bắc đến xâm phạm. Thắng thua như thế nào, xin được chỉ giáo.

Ông lão ngẫm nghĩ hồi lâu, lấy tay bắt một quẻ, rồi nói với vua rằng:

  • Nếu như cầu được người thì giặc này tất sẽ dẹp yên hoàn toàn được.

Vua lại hỏi rằng:

  • Cầu người này ở phương nào?

Ông lão lại nói rằng:

  • Việc này hãy hỏi bà mo.

Dứt lời, ông lão bay lên không đi mất. Vua biết là Lạc Long Quân chỉ giáo. Thế là vua sai sứ giả đi cầu khắp thiên hạ. Đến làng Phù Đổng quận Vũ Ninh có một gia đình phú ông sinh được một người con trai, đã hơn ba tuổi, tên là Thiết Xung Thần Vương, chỉ ăn uống mà lớn lên, không biết cười nói. Bà mẹ nghe sứ giả truyền đến, bèn đùa rằng:

  • Con nhà ta chỉ biết ăn uống, không biết đánh giặc để nhận chức trọng của triều đình, để báo ân sâu nuôi mớm.

Nghe mẹ nói vậy, người con bỗng nhiên nói:

  • Mẹ gọi sứ giả lại đây.

Thần Vương nói với sứ giả rằng:

  • Hãy mau về báo với vua, xin được một con ngựa sắt cao mười thước, một cây gậy sắt dài mười trượng, mang đến cho tôi thì Vua không phải lo lắng nữa.

Lại nói, sứ giả trở về, tâu lại lời nói đó với vua. Vua rất vui mừng, lại lệnh cho các quan lang, phụ đạo, bộ chủ cùng với 10 bộ sơn thần, 10 bộ thủy thần là dòng dõi Hùng Vương, dẫn ba vạn quân mạnh theo giúp Thần Vương. Ngay ngày hôm đó đúc thành ngựa sắt, gậy sắt, đem đến cho Thần Vương.

Lại nói, khi đó vua lệnh cho ông Đài và ông Cái thống lĩnh Thủy đạo tướng quân, trợ chiến cùng với Thần Vương, tiến thẳng đến đồn chính giặc Ân ở chân núi Vũ Ninh miền Yên Việt, đánh lớn với Ngô Linh Thần tướng ở bên núi. Giặc Ân đều thua, bắt sống Ngô Linh Thần tướng mà chém đi. Còn lại các dư đảng chưa diệt hết, Thần Vương trước đó đã rơi gậy sắt nên liền nhổ tre làm gậy dẹp sạch quân giặc.

Thần Vương dẹp yên giặc xong, trở về đến núi Sóc Vệ Linh huyện Kim Anh thì bỏ áo, ngựa, bay thẳng lên trời mây mà đi. Nay còn dấu chân ngựa ở trên vách núi.

Lại nói, hai ông (tức ông Đài, ông Cái ở đó) cưỡi thuyền rồng trở về đến sông Bùi huyện Chương Đức, bỗng thấy có một trận gió lớn nổi lên, trời đất tối tăm. Trên sông sóng nổi lên ầm ầm, vạn nhẫn vang rền. Lại thấy có ba tiếng hô rằng:

  • Mau triệu hai ông trở về Thủy quốc.

Nhân dân nghe thấy tiếng hô đều sợ hãi. Được phút chốc, mưa gió tự dừng. Nhân dân đến nơi cung sở thì không thấy hai ông đâu nữa. Nhân dân (tức thôn Thượng Dục) liền đi thẳng ra ngoài bãi sông, bỗng thấy thuyền rồng còn đậu ở nơi đó. Lại nghe tiếng nói với nhân dân rằng:

  • Hai vị tướng quân đang khi mưa gió mù mịt đã cùng xuống thuyền rồng mà hóa. Dân các người ở đây (tức thôn Thượng Dục) hay mau về cung sở bày cúng tế phụng thờ.

Ngay hôm đó là ngày 12 tháng Mười hai năm Bính Ngọ nhân dân nghe tiếng các quan Thủy đạo báo vậy bèn làm lễ tạ. Trở về sửa sang cung đền bày tế cúng. Đang khi làm lễ, mây trời u ám, mưa gió nổi lên. Giao long, cá lớn, ba ba đều đến chầu vào nơi tế cúng. Nhân dân sợ hãi, bèn làm biểu dâng tâu lên triều đình. Khi đó các quan làm tế xong, trở về cũng đều tâu lại với vua. Vua rất mừng, nói với quần thần:

  • Thiên thần và Thủy quốc đều giúp nước nhà. Trẫm không còn lo lắng gì nữa.

Ngay hôm đó mở yến tiệc lớn khao hưởng quân sĩ, phong thưởng các công thần. Bèn phong mỹ tự cho trăm thần, hưởng lễ huyết thực vạn cổ, hương lửa không ngừng.

Phong là Phù Đổng Thiên Vương. Cho đón sắc chỉ về dân lập đền để thờ. Các đền ở xã Phù Đổng huyện Tiên Du, cùng thôn Đối Mã xã Vệ Linh huyện Kim Hoa đều cho cấp một trăm khoảnh ruộng để phụng thờ.

Lại phong Đức Ông Đài Vàng Đại vương. Lại phong Bố Cái Sô Tha Đại vương. Cho vâng đón sắc chỉ đem về nơi thôn Thượng Dục, sai quan … đến bày cúng tế, tu sửa đền cung, nhân dân được phụng thờ.

Người đời sau có thơ rằng:

Sinh hoá diệc đồng thử nhất tân
Sinh vi danh tướng hoá vi thần
Bùi giang, Thượng Dục giai tồn tích
Miếu mạo vũ đường cựu chí tân.

Dịch là:

Sinh hóa cùng nhau tại bến này
Sinh là danh tướng, hóa thần đây
Sông Bùi, Thượng Dục đều còn tích
Miếu mạo cung đường xưa tới nay.

Lai nói đến thời Trưng nữ vương, tức Trưng Trắc, Trưng Nhị, đều là cháu gái Hùng Vương, thật là bậc thánh thần trên trần thế, bậc hào kiệt trong giới nữ, khởi binh phụ tướng, chiêu dụ anh hùng, dẹp trừ Tô Định. Cùng nhau hội quân ở sông Hát, lập đàn cầu đảo trăm thần âm phù giúp nước dẹp giặc thành công. Khi đang làm lễ bỗng thấy ông Đài và ông Cái dẫn binh mã đến nói rằng:

  • Chúng tôi chính là các thủy thần. Nay thấy hoàng gia khởi nghĩa dẹp trừ giặc dã, tự xin được âm phù dẹp giặc, tất đều có linh ứng.

Sau khi thanh bình Trưng nữ Vương lên ngôi, bèn phong mỹ tự cho cùng hưởng hưng thịnh với đất nước, là Duyên huống Khai tường Xiển trị Cương nghị Hùng lược Anh đoạn Pháp thân Cư sĩ Tối linh Đại vương.

Từ Trần Thánh Tông đến Trang Tông cùng với Thái úy đại thần diệt trừ loạn Mạc, có nhiều linh ứng, âm phù giúp nước, đều có nhiều phong tặng sắc chỉ. Các ngày khai sắc, khánh hạ được khai rõ ràng dưới đây:

Thượng đẳng Thủy thần, bộ Tả.

Các ngày lệ sinh hóa cùng các tiết khánh hạ và các chữ húy, sắc phục màu vàng đều cấm. Nhất thiết cấm các chữ húy Hùng, Loan, Đài, Cái.

Ngày lệ sinh thần là mùng 6 tháng Giêng, hai vị cùng sinh. Lễ dùng lợn đen, chọn gia đình vợ chồng đều song toàn làm lễ, cùng gà, xôi, rượu, cỗ chay, ca hát.

Ngày lệ khánh hạ là ngày 15 tháng Hai chính lệ. Lễ dùng mâm chay, xôi rượu, hương hoa năm vị.

Ngày lệ phong sắc là mùng 6 tháng Sáu. Dùng trâu, xôi, rượu, ca hát.

Ngày lệ khai sắc là mùng 6 tháng Ba. Dùng lợn đen, xôi, rượu, ca hát.

Ngày lệ hóa thần là 12 tháng Mười hai, hai vị cùng hóa. Lễ dùng cỗ trâu, xôi, rượu, bánh chay.

Ngày hóa của thánh phụ là mùng 5 tháng Năm. Lễ dùng lợn, gà, xôi, rượu.

Hoàng triều Vĩnh Hựu năm thứ 2 ngày tốt, Quản giám bách thần Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh Nguyễn Hiền tuân theo bản cũ vâng chép.

Hồng Phúc năm đầu ngày 18 tháng Năm, Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn.

Thần tích về Đông Nhạc Đại vương, người đúc ngựa sắt cho Phù Đổng Thiên Vương

Dịch từ bản khai thần tích thần sắc làng Lương Quán tổng Tuẫn Lễ huyện Đông Anh tỉnh Phúc Yên

Phả chép về một vị Đại vương công thần triều Hùng Tuấn Vương.

Chi Cấn, bộ Thượng đẳng. Chính bản bộ Lễ quốc triều.

Xưa Hùng Vương Sơn nguyên Thánh Tổ mở vận lập cơ đồ hơn hai ngàn năm. Hùng Vương dựng nước núi xanh vạn dặm lập nền móng cung điện đô thành, nước biếc một dải mở đạo minh vương đế thánh. Cứu vật giúp người, thống lĩnh 15 bộ, hiệu là tổ đầu của Bách Việt.

Nước Việt xưa tới thời Hùng Tuấn Vương có một người ở làng Đa Hội phủ Từ Sơn đạo Kinh Bắc (xưa gọi là bộ Bắc Giang). Ông họ Ta, tên Hưởng. Vợ là Đặng Thị, tên Diệu. Vốn lấy nghề thợ rèn đồ sắt làm nghề sinh sống mà thành một gia đình giàu có. Vợ chồng đều có đức dày. Nhưng tuổi đã cao mà chưa có con trai. Thế rồi một đêm bỗng nhiên mộng thấy có một thần nhân đến gọi nói rằng:

  • Nhà người phúc hậu đã được biết, nên cho một thế đất tốt để đem mộ cha chôn vào đó. Sau này tất sinh ra khanh tướng.

Thần nhân nói xong thì dẫn tới một khu đất hỏa nhạc, nói rằng:

  • Hình là ngựa trời, huyệt ở tại cửa.

Trong khoảnh khắc thần nhân biết mất. Ông tỉnh lại, nhớ tới điều trong mộng mà lấy làm lạ. Sáng ngày ông đến nơi đó xem xét, quả thấy như mộng, bèn đem mộ của cha mà chôn vào đó. Từ đó sau trăm ngày thấy bà Đặng Thị có mang thai. Đến ngày 12 tháng Mười năm Giáp Ngọ sinh hạ một người con trai, thiên tư cao lớn, thể mạo kỳ lạ. Ông biết đúng là đất tốt sinh người, nên rất yêu quý, bèn đặt tên là Nhạc. Nuôi dưỡng ông đến năm trưởng thành, thiên tư cao lớn, học lực tinh thông, giỏi về võ lược. Ông Nhạc năm 18 tuổi thì cha mẹ đều mất. Ba năm chịu tang xong thì khi đó giặc Ân đến xâm chiếm, áp bức dân chúng. Tuấn Vương lo lắng, bèn truyền hịch đi các châu, quận, đạo nước Nam, nơi nào có tướng tài văn võ, sức lực hơn người thì đên dẹp phiên thần. Nghe có ông Phù Đổng tuổi mới lên ba, mà có thần lực khác người, nghe chiếu thiên tử nổi lòng trạng nguyên bốn biển. Ông Đổng liền bái mệnh mẹ, ngay hôm đó đến gặp Tuấn Vương, tâu rằng:

  • Thấn vốn là thiên sứ giáng sinh giúp nước. Có vua tất có thần. Xin bệ hạ cho một con ngựa sắt thì giặc Ân chỉ trong tuần nhật là dẹp yên.

Vua nghe vậy rất vui mừng. Ngay hôm đó Vua bèn sai sứ đi đến làng Đa Hội phủ Từ Sơn đạo Kinh Bắc, xem có thợ rèn nào có nghề rèn giỏi đúc được ngựa sắt thì chọn một người về kinh đô để đúc ngựa sắt. Ông Nhạc nghe vậy, lòng cùng muốn giúp nước, chí muốn cứu dân. Ông bèn cùng sứ giả về kinh đô ứng tuyển. Vua thấy ông Nhạc dũng mãnh hơn người, nghề rèn đúc rất tinh xảo. Vua bèn của ông đúc đồ sắt. Đến hạn ông Nhạc đúc được ngựa sắt rất lớn và một cây roi sắt, đem đến. Vua cho ông Nhạc là người tài nhất bèn cử ông dẫn quân theo ngựa cùng với ông Phù Đổng hành chinh dẹp giặc Ân.

Ngay hôm đó ông Phù Đổng cất quân tiến đến khu đất đầu trại Lương Quán huyện Đông Ngạn phủ Từ Sơn, cùng đóng quân ở trại đó, nhà xem thế đất, thấy có một thế sông núi quanh co, rồng cuộn hổ ôm. Núi không cao nhưng có vách đứng. Sông có tình ở nơi dòng giếng. Tiện nghi tưởng cũng là một thắng cảnh tươi đẹp vậy. Thế là ông Phù Đổng bèn giao cho ông Nhạc xây lầu ở tại đó để ứng chiến phía sau với giặc Ân. Khi đó ông Phù Đổng vâng lệnh nhận ngựa, đứng lên hô một tiếng lớn. Tức thì con ngựa trở nên to lớn, người thường không sánh được. Bèn cầm roi vung lên, nhảy lên ngựa,

Chạy về phía Bắc. Ngay hôm đó ông Nhạc truyền cho quân sĩ cùng với người trong trại xây một tòa lầu dựa hướng Đông để có sinh khí mà ở, để ứng chiến phía sau với giặc Ân. Khi đó nhân dân phụ lão trại Lương Quán đều sợ hãi, bèn làm lễ xin được làm thần tử. Ông đồng ý, bèn lấy những người khỏe mạnh trong trai được hơn mười người làm thủ túc trong nhà. Thế là nhân dân phụ lão trại Lương Quán nhân đó xin nay là nơi lầu để ở, sau này là nơi thờ tự. Ông đồng ý. Sáng ngày hôm thấy có sứ giả vâng mang chiếu thư đến, lệnh cho ông đánh giặc Ân. Ông bèn mổ trâu làm lễ cáo tế trời đất, trăm thần sông núi, khao quân sĩ trong trại. Rồi ông cất quân tiến thẳng đến dưới núi Sóc phủ Bắc Hà. Ông cùng Phù Đổng Thiên Vương đóng ở dưới núi Sóc, rồi cùng tiến công một lượt, đánh một trận lớn. Giặc Ân thua to, bỏ chạy. Chém được chính tướng giặc Ân cùng vài vạn tướng sĩ. Từ đó không còn biết giặc Ân ở đâu nữa.

Thế là thiên hạ thanh bình, trong nước vô sự. Giữa ban ngày bỗng nhiên thấy Thiên Vương cưỡi ngựa bay lên không mà đi không thấy nữa, tức đã hóa ở xứ Sóc Sơn. Còn ông Nhạc trở về đến đầu đất huyện Kim Hoa, ngẩng lên trời  thấy có một đám mây vàng hình như dải lụa đỏ từ trên trời rơi thẳng xuống trước mặt. Thấy ông Nhạc thân bay lên tại xứ Gò Đống mà biến mất, tức đã hóa. Khi đó là ngày 11 tháng Giêng. Nhân dân và quân sĩ đều sợ hãi, bèn dâng biểu tâu lên triều đình. Vua bèn sai sứ mang tế văn về nơi đất đó, sắc phong là Thượng đẳng Phúc thần, cho pháp trang Lương Quán lập miếu để thờ.

Tới thời Đinh Tiên Hoàng dẹp 12 sứ quân bị vây tại chùa này, được Ông âm phù mà thoát. Nên cứ mỗi năm ngày 11 tháng Giêng lại xa giá đến làm lễ thành lệ để làm tỏ sự linh thiêng của ông. Từ đó thành lệ thường. Tặng phong là Đương cảnh Thành hoàng Linh phù chi thần. Sắc phong tên thần nguyên là: phong Đông Nhạc Đại vương. Màu quần áo khi làm lễ cấm dùng màu vàng và đỏ. Phong thêm là Linh quang Hộ quốc Hiển ứng An dân Tích chỉ Ngưng hưu.

Lại nói từ đó về sau có nhiều linh ứng, nên có nhiều đời các đế vương phong thêm mỹ tự. Thời Trần Thái Tông giặc Nguyên đến xâm chiếm, kinh thành bị vây hãm. Trần Quốc Tuấn vâng mệnh cầu đảo trăm thần ở các đền. Khi đó một vị Đại vương này cũng có hiển ứng âm phù. Đến khi dẹp được giặc Mã, Thái Tông bèn phong thêm mỹ tự một vị là Linh ứng Anh triết Hiển hữu.

Đến khi Lê Thái Tổ khởi nghĩa dẹp giặc Minh Liễu Thăng, có được thiên hạ, Thái Tổ bèn phong thêm là Phổ tế Cương nghị Anh linh. Sắc chỉ ban cho trang Lương Quán trung tu miếu điện để phụng thờ. Tốt thay, lành thay!

Vâng khai các tiệc sinh hóa cùng với các chữ húy cấm là Đông Nhạc, đồng ý cho trang Lương Quán thờ.

Ngày sinh thần là 12 tháng Mười. Lệ chính lễ dùng trên mâm chay, dưới là lợn đen, xôi, rượu, bánh dày, ca hát.

Ngày hóa thần là 11 tháng Giêng. Lệ chính lễ dùng như trên.

Ngày lệ tiệc xuất quân là tháng Mười một, chọn ngày tốt làm lễ.

Niên hiệu Hồng Phúc năm đầu, ngày tốt tháng đầu xuân, Hàn lâm Lễ viện Đông các Đại học sĩ, thần là Nguyễn Bính, vâng soạn bản chính.

Hoàng triều Vĩnh Hữu năm thứ sáu ngày tốt giữa thu, nội các bộ Lại lại tuân theo bản cũ vâng chép.

Sắc cho xã Lương Quán huyện Đông Anh tỉnh Phúc An theo như trước đây phụng thờ Nhạc Tối linh Tôn thần, nguyên tặng là Linh phù Dực bảo Trung hưng Tôn thần, giúp nước giúp dân có nhiều linh ứng, trải qua các tiết đã có ban cấp sắc phong cho phép phụng thờ. Nay chính là ngày lễ lớn sinh nhật Trẫm bốn mươi tuổi, nên ban cho chiếu báu thâm ơn, lễ tăng thêm phẩm trật, tặng thêm là Khác tĩnh Thượng đẳng thần, đặc biệt cho phép phụng thờ. Nhân ngày quốc khánh mà làm nêu tỏ điển thờ. Vâng thay!

Khải Định năm thứ 9 ngày 25 tháng Bảy

Lý trưởng Trần Văn Đạt vâng sao.

Đình Lương Quán: Thiết mã thành công.