Thần tích làng Bùi Xá, tổng Phù Khê, phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên

Phả lục công thần thời Tiền Lý Nam Đế họ Triệu tên Phục, sau là Triệu Việt Đại Vương.

Xưa nước Việt ta mở cơ đồ Nam phục, phân giới theo sao Ngưu Đẩu. Triều Hùng mở vận, thánh tổ ứng đồ. Nước biếc một dòng, khởi vận thánh đế minh vương. Núi xanh vạn dặm, dựng nền cung điện thành đô. 18 đời truyền hơn hai ngàn năm thịnh trị. Đời đời cha truyền con nối, đều xưng là Hùng. Ngọc lụa, núi sông vạn dặm thống nhất, chính là tổ của Bách Việt vậy. Truyền đến đời Duệ Vương không có người kế tự, bèn nhường ngôi cho Thục An Dương Vương. Dương Vương có nước trị được 50 năm. Có người Chân Định họ Triệu tên Đà dẫn quân đến xâm chiếm. Nhà Thục mất. Triệu Đà chiếm được nước, cha truyền con nối 5 đời làm vua.

Từ đó nước Việt ta thuộc về Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương. Khi ấy nước Việt ta có ông Lý Bôn, có tài văn võ của bậc đế vương, có chí dẹp loạn khôi phục non sông, thừa vận theo trời thuận người mà khởi dưỡng chí lớn, chọn tìm tướng tài. Tin thay! đã có vua tất sẽ có bề tôi. Rồng lên ở đầm không có ý với mây mà mây tự đến.

Đương khi đó tại huyện Châu Diên phủ Tam Đới đạo Sơn Tây có một người xử thế theo kinh sách, lo liệu việc nhà bằng hiếu đễ. Người đó họ Triệu tên Túc, cùng với bà Lê Thị Minh kết duyên cầm sắt, xướng hợp uyên ương, ba sinh hương lửa, một mối phong quang êm đềm, dư giả vậy. Gia thế vốn giàu có. Vợ chồng cùng là những người trung hậu, giúp nghèo cứu yếu, tích đức làm việc nhân, nửa điểm hại người cũng không làm, một ý tham lợi nhỏ cũng không theo. Phàm là việc giúp người tạo phúc, đều cố hết sức lực để làm. Nhân dân địa phương ai ai cũng nói là gia đình tích thiện tất sẽ có nhiều may mắn.

Khi ấy vợ chồng ông đều đã ngoài 40 tuổi mà chưa thấy có sinh nở nên cùng nhau đến đền thiêng trên núi Tam Đảo để cầu đảo. Đêm đó ông nằm mơ thấy ánh sáng tràn đầy nhà, chốc lát có rồng vàng trườn tới. Ông bắt được một con rồng vàng. Đến khi tỉnh lại mới biết là một giấc mộng Hoàng Lương bên gối. Rạng ngày ông làm lễ bái tạ, trở về nhà.

Từ đó bà Lê Thị thấy trong người có mang. Mang thai được 12 tháng đến mùa hè năm Mậu Thìn ngày 1 tháng 5 giờ Thân thì sinh hạ một người con trai, thân hình đẹp đẽ chỉnh tề, khí chất khôi ngô kỳ lạ. Trong lúc sinh khí lành tụ thành hình, hương thơm bay ngào ngạt, cuốn bám đầy phòng. Sương mù rạng rỡ ở nơi nằm. Người cha rất vui mừng cho đó là trời ban cho, bèn đặt tên là Quang Phục.

Ngày qua tháng lại, đến khi trưởng thành thì tìm thầy đi học. Học được vài năm thì đã hiểu thấu văn chương, trí tuệ hơn người, tinh thông võ bị, tài năng cái thế, cùng với lục giáp, thần phù không gì là không tinh thông. Đang khi còn đi học, thầy dạy thường nói rằng:

–   Gia đình người này đúng là có được điều phúc lớn, sinh được một người con trai tốt như vậy. Ngày sau sẽ là người trải trời rải đất, bày lập thời đại kinh kỷ, là người quý của nước Nam vậy.

Đến năm Ngài 12 tuổi thì sách vở của trăm nhà không gì là không nắm được. Mỗi khi bàn luận cùng với bạn bè cùng trang lứa, bằng hữu đều sợ phục. Ngài thường than rằng:

–   Làm người phải như các bậc thánh hiền thời cổ, sáng lập công danh, không thì cũng là chốn sa trường da ngựa bọc thây, mới đúng là bậc đại trượng phu. Đâu thể chỉ yên phận với việc nghiên bút được.

Từ đó không quan tâm đến sản nghiệp mà nuôi chí lớn. Thường hận là nước Nam phải phụ thuộc vào người ngoài, không tự quản thủ (khi ấy Lương sai Tiêu Tư là thái thú ở Việt ta). Bèn ngày đêm tích trữ binh lương, âm thầm nuôi chí lạ, chỉ còn tìm thánh quân đợi thời mà phát động. Một hôm ngài Quang Phục nghe có ông Lý Bôn ở đất Quảng Đông Long Biên, có chí lớn lao, anh hùng trí dũng, có khí tượng lớn của bậc đế vương, chiêu tập binh mã khôi phục đất đai. Ngài bèn chọn ngày dẫn quân tìm đến bái yết. Ông Lý thấy người này văn võ toàn tài, bèn nói:

– Ta cùng ngươi khó phân tài cao thấp, nhưng có được tướng tài không khi nào là muộn cả.

Ngày hôm đó bèn bái Quang Phục là Đại tướng quân, chọn ngày lập đàn cầu đảo trời đất, bách thần, đãi hưởng quân sĩ, rồi chia quân thành các đạo cùng tiến thẳng đến quân Lương. Đánh một trận lớn. Quân Lương thua to. Tiêu Tư chạy về nước Lương. Ông Lý lên ngôi, tự lập là Tiền Lý Nam Đế. Phong Triệu Quang Phục làm Đại tướng quân. Quân thần hợp đức, thiên hạ thái bình. Vạn dân no đủ vui ca. Bốn biển thấy cảnh tượng thái hòa. Nhà Lý làm Đế, họ Triệu làm bề tôi.

Được quãng 8-9 năm, nhà Lương lại cử Tiêu Tư làm tiên phong, Bá Tiên làm Đại tướng, dẫn quân 20 vạn đến đánh để rửa mối hận trước đây. Nam Đế bèn cùng với Quang Phục cự chiến, mấy trận không phân thắng thua. Nam Đế bèn cho Quang Phục dẫn một đại quân trở về giữ huyện Đông An, phủ Khoái Châu. Còn Nam Đế giữ vùng Dã Năng. Quân Lương lại tiến đánh. Nam Đế lại chạy về động Khuất Liêu, bị phát bệnh lam chướng mà mất.

Còn Quang Phục ở huyện Đông An, thấy trong huyện có đầm Nhất Dạ tại đất xã Vĩnh Hưng (tức xã An Vĩnh). Đầm này chu vi không biết bao nhiêu dặm, cỏ lác mọc rậm rạp. Bốn bề bùn lầy sình trũng. Bên trong có một chỗ nhỏ có thể ở. Quang Phục bèn lập đồn lớn ở trong đầm.

Ngài lại đi khắp nơi trong huyện (tức huyện Đông An) tìm nơi đất nào có hình thế tiện lợi để lập cung mà ở. Một hôm đi đến xã Bùi Xá tổng Đại Quan, thấy hình rồng rắn bao bọc, núi sông quanh co, bèn lập một ở nơi đó để năm tháng có thể nhàn du thưởng ngoạn.

Việc xong lại đóng đồn quân ở đầm Dạ Trạch, thường cùng tướng Lương là Trần Bá Tiên cự chiến vài chục trận. Quân Lương đều thua. Thường khi dẫn quân đánh quân Lương thì thấy có một lão ông, râu tóc dài khỏe, thân thể kỳ dị, cao hơn 9 thước, cầm một cái dùi sắt, theo khói sương trong đầm mà lên, tiếng như chuông lớn, hình như sắt trắng, đánh quân Lương thua to.

Sự việc xong ông lão lại cùng với Quang Phục đi dạo, nói cười vui vẻ như anh em cùng một bọc đến chơi vậy. Phàm khi Quang Phục có việc bị quân Lương tập kích thì đều đến báo trước thời gian. Nếu Quang Phục gạn hỏi họ tên, duyên cớ thì đều không báo sự thực. Một hôm Quang Phục đi đến cung sở ở xã Bùi Xá. Nhân dân đang làm lễ đón mừng thì bỗng thấy lão ông từ bên ngoài đi đến. Quang Phục bèn mời vào trong ngồi. Lão ông nói rằng:

–   Tôi vốn là thanh khí chốn bèo nước, là dòng dõi một bầu trăm trứng họ Hùng trước đây, cũng là phúc thần của Bùi Xá (xem tích Lạc Long Quân lấy tiên nữ Âu Cơ, sinh hạ một bầu trăm trứng, nở ra điềm trăm trai, đều có tư chất hơn người, anh hùng vượt đời. Đến khi trưởng thành Vua bèn phong hầu lập bình phong, chia nước làm 15 bộ. 50 người con theo cha về biển làm thủy thần. 50 người con theo mẹ lên núi làm sơn thần). Tôi là Đông Hải Đại vương, là người con thứ 10 trong số 50 người con về biển, họ Hùng tên Chiểu, ở giữ biển Đông nên gọi là Đông Hải Đại vương. Sau lại kiểm giữ đầm Nhất Dạ ở Sơn Nam, làm thần ở Bùi Xá trong đầm Dạ Trạch. Sau này cùng ngài được cùng hưởng trong dân nên mới đến báo tin. Nay là lúc nghiệp làm vương tất sẽ thành. Ngài nên chọn ngày trai giới cầu đảo với Trời. Tất Hoàng thiên sẽ cho Quý Minh Đại vương là Hữu kiên thần của Tản Viên Sơn Thánh, cưỡi rồng đến để cho ngài móng rồng làm đồ quý thiên ban, tất nghiệp vương có thể thành. Còn quân Lương không thể vây được. Nếu được như vậy thì cùng phụng thờ vị Quý Minh Đương Lai, có việc lành dữ như thế nào thì tôi cùng với Quý Minh tất báo cho, lại càng tăng thêm điều tốt. Từ nay, tôi có việc trên thiên đình, không thể cùng nhau gặp mặt như ngày trước.

Nói xong, ông lão bay lên không mà đi. Ngài Quang mới biết đó là thủy thần cùng mình đi dạo, nay đến giảng dạy cho. Bèn gọi nhân dân Bùi Xá đến hỏi. Dân đều nói trước đây quả có phụng thờ Đông Hải Đại vương. Nguyên là vì dân nghèo không thể sửa chữa được đền miếu nên trải qua thời gian đã bị hỏng nặng. Ông Phục nghe lời bèn khấn rằng:

–   Nếu quả đúng như lời, thần xin sửa chữa đền miếu để cùng phụng thờ.

Bèn chọn ngày trai giới, lập đàn dâng lễ cáo tế trời đất, cầu đảo bách thần. Ba ngày đèn hương không dứt. Bỗng thấy trời đất mù mịt, mây gió nổi lên. Có một vị thần tướng cưỡi rồng vàng từ trên trời hạ xuống, đứng trên đàn. Ông Phục đại bái ở trước. Thần tướng mới nói rằng:

– Ta là Quý Minh Đương Lai (Xét xưa cha của ông Quý họ Nguyễn, mẹ họ Tạ, nằm mộng thấy hai con hổ nhập vào, có thai mà sinh một bọc hai con trai. Người anh tên Sùng công, là Cao Sơn Đại vương. Người em tên Hiển công, là Quý Minh Đại vương. Tản Viên Sơn cùng là ba người anh em, là con chú con bác. Sau gọi là Tả hữu lưỡng kiên thần), cho khanh một vật để làm nỏ thần báu vật trời ban. Cho dù có giặc mạnh cũng không phải lo lắng vậy.

Bèn tháo móng rồng mà trao cho ông Phục. Ông làm lễ bái tạ. Quý Minh cưỡi rồng biến mất. Ông Quang Phục rất mừng, bèn lệnh cho chế tạo nỏ thần vuốt rồng, tự lập là Triệu Việt Đại vương, hướng nỏ vào đâu thì quân Lương đều tự khắc dạt ra, không dám đến gần.

Do cảm đức lớn của đức Đông Hải, Quý Minh và từ lời không thể đổi của đức Đông Hải nên Ngài cho trùng tu miếu điện ở xã Bùi Xá, viết thần hiệu hai vị Đông Hải, Quý Minh để phụng thờ (thời cổ người còn thuần phác, theo sự việc thật mà đến, nên có chữ Đương Lai, có lẽ là theo nghĩa thứ hai là đến), để sau này khi ngài trăm tuổi làm nơi hương lửa hưởng thần. Cho phép Bùi Xá dùng tô thuế, phục dịch, mua thêm ruộng công để làm dân thang mộc, cùng phụng thờ hai vị Đông Hải, Quý Minh. Bốn mùa tám tiết hương lửa theo như nghi thức. Người đời sau có thơ rằng:

Sơn thuỷ tòng lai tương biệt thú

Như hà sơn thuỷ đắc đồng nguyên

Giả lệnh tại đương thì giả

Cảm vấn chư công đắc minh.

Dịch nghĩa:

Sông núi theo đi mà chia biệt

Tại sao sông núi lại cùng nguồn?

Nếu là thủ lĩnh đương thời đó

Dám hỏi các ngài rõ không?

Vua từ đó lấy làm đắc chí, mới đi chu du thiên hạ, xem sông hỏi bến, tản bộ núi rừng. Lúc thì thổi sáo đánh đàn, thơ sách đối với trời đất, phượng hát loan ca, thanh sắc Bồng Lai, chủ trương ba lá vượt bồng, năm hồ trăng gió, dấu tiên tại đình thuyền câu, hai gương cảnh tượng xe mây nếp cũ. Nước xanh, núi đẹp đều tụ lại với đất trời. Thánh ở Tây, thần ở Bắc, ra vào chốn phong cảnh trời Nam. Theo dấu tiên ông mà đi khắp quê nhà nước cũ. Núi sông Thần Phù, Yên Tử, Cao Đê, mặt trời hồng, đám mây trắng, gió trăng cuốn Hoa Quật, Long Biên. Trên dưới non xanh nước biếc. Ở ngôi được khoảng 10 năm, thiên hạ thái bình, xem thấy lũ cướp đều lánh xa, bọn giặc đều yên. Không người nào không thỏa lòng sinh. Không vật nào không yên mà không dưỡng. Công thành, trị định. Việc cơ yếu thành hòa hợp, hưng khởi mà trị. Cũng đều do có nỏ rồng trời ban xếp đặt vậy.

Vua từ khi có được báu vật của trời đâm ra thêm kiêu ngạo, lại đam mê yến tiệc, không lo việc quốc chính. Thiên tai báo nguy cũng là điềm báo trước. Thiên mệnh đến mức trọng thì không thể dùng trí lực mà tranh giành được. Người em của Tiền Lý Nam Đế là Lý Phật Tử với con trai tên Nhã Lang có tấm lòng đế vương, kiêm tài văn võ, tích trữ quân lương để khôi phục họ Lý, trí mưu đều lớn, dũng lược hơn người, dẫn quân đến đánh Triệu Việt Vương, mấy trận đều bị thua.

Nhã Lang trong lòng biết vua Triệu có báu vật trời ban, tuy có trí dũng cũng không thể vây được, bèn nói với cha rằng:

–  Thần xem nước Triệu tất có cơ thần, thuật lạ. Nay nếu hết sức mà công đánh tất sẽ hao tướng mất quân, cũng không thể thành công được. Chi bằng hãy dùng mưu mà lấy. Thần sẽ cầu hôn với con gai vua Triệu là Quả Nương, rồi thần vào ở rể làm con tin, tất sẽ biết được thực hư vậy.

Phật Tử đồng ý, bèn mang lễ cống đến giảng hòa với vua Triệu, nói:

–  Xưa Vương cũng là danh thần của Nam Đế ta. Nay Vương có con gái Quả Nương cùng với Nhã Lang đồng tuổi. Dám xin cầu để kết nghĩa Tấn Tần, mà tăng thêm tình thân vậy.

Triệu Vương đồng ý. Khi ấy có các đình thần ra sức can gián, nhưng cuối cùng Vương không nghe, nói:

–  Ta có nghĩa với Tiền Lý Đế, lại có thần nỏ vuốt rồng, ai làm gì được?

Một hôm Vương nằm ở Bùi Xá miếu sở phụng thờ hai vị Đông Hải, Quý Minh, bỗng mơ thấy hai vị đến ban cho Vương một bài thơ. Vương trong mộng mở ra xem, thấy trong có 4 câu thơ:

Nhị thập niên gian tắc du vương

Thiên hạ dĩ định khả tri tường

Nam bang hồi Lý gia Phật tử

Long trảo hoàn quy tại Nhã Lang.

Dịch nghĩa:

Hai mươi năm đó đã xưng Vương

Thiên hạ định rồi, biết rõ ràng

Nước Nam về tay Lý Phật Tử

Móng rồng quay trả ở Nhã Lang.

Khi ấy Vua ở ngôi đã được 20 năm. Một hôm Nhã Lang tráo đổi, lấy trộm vuốt rồng, rồi quay về báo với Phật Tử. Phật Tử bèn dẫn quân đến đánh. Triệu Vương thua chạy. Phật Tử lên ngôi tự lập là Hậu Lý Nam Đế. Nam Đế nghĩ đến chữ nghĩa cha con, quân thần bèn cắt giới từ Thượng Cát, huyện Từ Liêm về phía Tây cho Nhã Lang ở. Từ Thượng Cát về phía Đông Nam Việt ở, gọi là Quân Thần.

Sau khi Vương mất ở nơi yên nghỉ cuối cùng thì nhân dân xã Bùi Xá cảm ơn đức bèn viết thần hiệu mà lập miếu thờ phụng, giữ được hương lửa vạn đại vô cùng. Từ đó về sau trải Đinh, Lê, Lý, Trần bốn họ khai sáng cơ đồ, thường có việc hộ quốc bảo dân nên có nhiều đế vương gia phong mỹ tự để muôn năm cùng an hưởng với nước nhà. Tốt thay!

Xã Bùi Xá phụng thờ.

Tiệc lớn cùng với các chữ húy Đông, Hải, Quý, Minh, Quang, Phục cùng màu đỏ và tía là húy kỵ.

Chính lệ sự thần ngày 1 tháng 5.

Ngày 2 tháng 2 là tiệc lớn mở sắc.

Năm Hồng Phúc thứ nhất ngày tốt tháng giữa xuân, niên hiệu vua Lê Anh Tôn.

Hoàng triều Vĩnh Hựu năm thứ nhất ngày tốt đầu xuân niên hiệu vua Lê Ý Tông.

Chánh hội Hoàng Văn Tiệp, Thư ký Lê Văn Chấn, Lý Trưởng Lê Văn Trong ký.

Ngọc phả chép về Triệu Việt Vương Hoàng Đế ở Độc Bộ – Kiên Lao

Dịch từ bản khai thần tích làng Độc Bộ, tổng Thanh Khê, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định và làng Kiên Lao, tổng Kiên Lao, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.

Ngọc phả chép về Triệu Việt Vương Hoàng Đế (Chi Càn, Bộ thứ nhất, Thượng đẳng thần)

Phụ cùng với Hiếu túc Anh nghị Đại vương và Vĩ tích Hồng hy Đại vương (Chi Cấn, Bộ thứ hai, Trung đẳng thần)

Chính bản của bộ Lễ quốc triều

Xưa đất Việt ta trời Nam mở đất phân ngang núi sông theo sao Dực, sao Chẩn. Nước Bắc được phong thẳng hướng sao Đẩu, sao Ngưu làm chốn chia phân. Từ triều Hùng mở vận hơn hai ngàn năm, Dương Vương nắm quyền đến cuối được 50 năm, Triệu Đà có nước, năm đời làm vua. Từ đó đất Việt ta nội thuộc Tây Hán. Trải qua Đông Hán, Ngô, Tống, Tấn, Tề, Lương tổng cộng hơn ba trăm năm.

Đến thời Lương sai Tiêu Tư làm thái thú đất Việt ta. Tư là người tham lam, bạo ngược, xâm chiếm Trung Nguyên, sưu dịch nặng, cướp  bóc nhiều. Dân chúng chịu cảnh khổ cực ưu phiền kéo dài. May mà lòng người ghét loạn, ý trời cho bình an. Khi ấy có người đất Long Hưng, Thái Bình, họ Lý tên Bôn, khởi nghĩa lớn ở châu Thái Bình. Nhưng đang khi đó chưa có được người nào là nam nhi có tài thao lược để kết làm bạn cùng hưng vong. Cho nên gió thần khởi nghĩa còn chưa phát động. Tin thay! Đã có quân tất sẽ có thần. Rồng gầm bên suối không có ý tới mây, mà mây lại vì thế mà kéo đến.

Chính ở đất Việt ta tại huyện Châu Diên, phủ Tam Đới, đạo Sơn Tây có một người ở địa phương họ Triệu tên Túc, vợ là Lý Thị Đàm. Ông Triệu nhà vốn thường làm việc thiện đức, phát chẩn cứu người nghèo, ba đời hương khói đều là bậc phong lưu lâu dài, có dư giả vậy. Một hôm phu nhân nằm nghỉ ở hiên nhà phía Tây, mơ màng nằm mộng. Bỗng thấy thân cưỡi rồng vàng bay thẳng lên trời. Hoàng thiên ban cho một Tiên đồng. Đến khi trở về tới nửa đường thì gặp một người đầu đội mũ sao, tay cầm quả đào, cưỡi con lân đỏ theo phương Nam mà đến, chỉ phu nhân nói rằng:

  • Gia đình nhà ngươi có được phúc tốt sao, lấy được một tiên đồng về. Ngày sau sẽ giữ nước yên dân, lưu tiếng ngàn năm. Đáng tiếc là phúc này chưa vẹn. Người con này không thành được lâu dài.

Phu nhân nghe lời, bỗng nhiên tỉnh giấc, kể với ông Triệu. Ông rất mừng nói:

  • Phúc của nhà ta chính là điều này.

Từ đó lo chia tài sản tạo phúc, chu cấp cho khách khứa, giúp xây dựng hưng công. Qua khoảng một năm phu nhân quả nhiên có mang. Đến kỳ mãn nguyệt vào năm Giáp Dân mùa xuân ngày mồng 6 tháng Giêng sinh được một người con trai, diện mạo khác thường, quả đúng như hình tiên đồng đã thấy. Ông Triệu rất mừng, cho rằng người con này tất sẽ khôi phục làm rạng rỡ nghiệp nhà, bèn đặt tên là Quang Phục.

Năm thứ hai phu nhân lại sinh được một người con gái, mày chia lá liễu, má rạng hoa đào, đúng là bậc nữ sắc khuynh thành. Ông Triệu bèn đặt tên là Đào nương. Đến khi trưởng thành thường theo anh trai Quang Phục cùng đi học ở chỗ Dương Đường tiên sinh. Học được mấy năm thì Quang Phục đã đọc hết kinh sử, biết rộng chuyện xưa nay. Đào nương thì cầm kỳ thi họa, không gì là không biết, cũng là bậc kỳ lạ trong giới nữ.

Lại nói, khi đó ở xã Kiên Lao, huyện Giao Thủy, phủ Thiên Trường, đạo Sơn Nam, có một nhà họ Nguyễn tên Bình, cũng là bậc hiểu biết thơ sách, lấy hiếu thảo đối xử trong nhà, nhưng không may gặp cảnh gian truân. Bố mẹ (tức là bố mẹ của ông Nguyễn Bình) mất sớm. Ông bèn gói ghém gia tài, một mình một cảnh đi khắp núi sông. Khi đi đến xã Châu Diên, ông (Nguyễn Bình) thấy nhân dân còn sơ dã, phong tục thuần hậu. Ông bèn dừng ở lại ở nơi quán trọ trong xã, xin ăn ở nhờ mọi người, học đọc sách vở. Được quãng một tháng tầm nhìn cao xa thì có thừa mà bút giấy thì lại thiếu.

Một hôm, ông Triệu (tức ông Triệu Túc) đi dạo chơi, thấy Nguyễn Bình có văn chương ứng đối, hiểu biết sâu rộng. Ông bèn đến hỏi tên tuổi, quê quán. Ông Nguyễn kể lại tình cảnh cô độc, nghèo nàn nơi quán trọ. Ông Triệu liền cho về nhà để nuôi dưỡng, cho cùng với Quang Phục lên lớp cùng học. Từ đó Nguyễn Bình có chỗ để không lo cảnh đói rét, ra sức học tập. Vài tháng sau đã tiến bộ mọi mặt. Ông Triệu thấy vậy thì rất yêu mến, bèn cho lấy Đào nương làm vợ. Thế là ngày lành tháng tốt đã định lễ, duyên lứa đẹp đẽ. Ông Nguyễn dẫn Đào nương cùng trở về quê gốc ở xã Kiên Lao. Sự việc tiếp theo thế nào xin xem đoạn dưới phân giải.

Lại nói, khi Quang Phục khoảng 15 tuổi, đặc biệt đã có chí lớn. Ông (ông Phục) thường nói với các bạn bè rằng:

  • Làm người có mắt mũi râu tóc, được trời cho sinh ra trên đời, phải như các bậc thánh hiền thời xưa trước mà lập nên công nghiệp lớn, không thì lúc ở sa trường phải da ngựa bọc thây sao cho đúng khí tiết của bậc đại trượng phu. Sao có thể yên vui mãi với việc nghiên bút được?

Thế là kết thành một đảng hơn vài trăm người, nuôi hoài chí lớn. Năm đó cả cha mẹ của ông (ông Phục) đều mất. Ông làm lễ chôn cất. Sau ba năm chịu tang xong thì Quang Phục đã vào tuổi 18. Nghe tiếng ông Lý Bôn có đại lược hùng tài, võ ngang văn dọc, thật là có khí tượng lớn của bậc đế vương. Ông bèn đem theo binh thư tìm đến.

Ông Lý thấy người này văn võ kiêm toàn, thông minh hơn người, rất vui mừng nói:

  • Ông Trời đã vì ta mà sinh ra người hiền giúp sức, gặp được đâu đã muộn.

Ngay hôm đó bèn lập đàn bái Quang Phục làm Tả tướng, Phạm Tu làm Hữu tướng, lĩnh binh tiến đánh Tiêu Tư. Tư bỏ thành mà chạy. Ít lâu sau có Lâm Ấp vào cướp bóc, lại dẹp yên được.

Ông Lý lên ngôi Hoàng đế, là Tiền Lý Nam Đế, đóng đô ở thành Long Biên, xếp đặt trăm quan, yên định đô ấp, dựng nước hiệu là Vạn Xuân (ý muốn truyền nước cho tới vạn năm vậy). Thế rồi gia phong cho các công thần, tướng tá thêm các cấp, bèn bái Quang Phục là Tiết chế sứ đạo Sơn Nam. Ông Phục vâng mệnh đến quản lý ở Sơn Nam, lấy nhân nghĩa, lễ nhường nhịn mà giáo huấn cho nhân dân. Qua vài năm ở trong đạo được đầy đủ, ngày nào cũng cẩn thận trung chính. Tiếng vang đến triều, Nam Đế thường có thưởng thêm cho.

Lại nói, ông Nguyễn Bình dẫn Đào nương trở về sống ở quê tại xã Kiên Lao. Ông chuyên tâm lấy việc dạy học làm nghề. Được mấy năm, vợ chồng hòa hợp, cầm sắt sánh duyên. Một ngày, Đào nương nằm mơ thấy hai con gấu thoáng thoáng mờ mờ nhảy múa ở trước sân. Từ đó thấy chuyển dạ mà có mang. Vào năm Giáp Thân mùa xuân ngày mồng 10 tháng 2 sinh được một bọc, nở ra được hai người con trai, đều có dáng vẻ tuấn tú, khí phách hiên ngang, khác xa người thường lắm lắm. Ông Nguyễn rất mừng khi thấy phúc lại thêm phúc, bèn đặt tên người con trưởng là ông Phúc, người con thứ là ông Lộc.

Ngày qua tháng lại đã trải qua 7 năm. Thương thay, người xưa nói không sai, bất hạnh không bao giờ đến một mình. Ông Nguyễn bỗng nhiên bị bệnh mà mất. Đào nương đau thương đến mức quên ăn quên ngủ, phát thành bệnh nặng, thuốc uống không đỡ, cầu thần không nghiệm. Nương rồi cũng mất ở mộ chính. Từ đó anh em ông Phúc tuổi nhỏ đã mồ côi, nghèo túng, thiếu thốn đồ dùng hàng ngày, thường khóc than rằng:

  • Xưa nói con của lương y thì chết vì bệnh tật, mà ngay chúng ta rút cục lại khốn khổ vì bệnh nghèo túng vậy.

Một hôm anh em nghe là có bác ruột (tức ông Quang Phục) đến nhận trị Sơn Nam. Anh em dắt nhau cùng tới nơi phủ đường quỳ bái, xưng họ tên. Quang Phục biết chuyện rất đau lòng, cho hai người ở cùng với mình, dạy cho học văn. Đến năm hai ông (ông Phúc, ông Lộc) lên 10 tuổi, văn chương hiểu rộng, trí có thể cầm đầu đám đông, tinh thông võ bị, tài năng hơn người. Ông Phục rất yêu mến.

Khi Nam Đế ở ngôi được khoảng 7 năm, nhà Lương lại sai Trần Bá Tiên làm thứ sử đất Việt, Dương Sàn làm Tư mã, cất quân sang xâm lấn phương Nam. Đế cho gọi Quang Phục về triều định kế đánh dẹp. Ông Phục vâng mệnh cùng với hai người cháu (ông Phúc, ông Lộc) quay về triều. Hôm ấy, Đế bái Quang Phục là Đại tướng quân, cùng với Đế đóng đồn quân ở hồ Triệt. Quân Lương không dám tới gần. Một sớm nước hồ đột ngột dâng cao, chảy vào giữa hồ. Bá Tiên dẫn quân theo dòng nước tiến vào. Quân Đế thua to, Đế để quyền lại cho Đại tướng Triệu Quang Phục giữ nước. Còn Đế tự mình vào động Khuất Liêu mà mất.

Từ đó Quang Phục dẫn hai vạn quân, lấy đầm Nhất Dạ (Dạ Trạch thuộc huyện Đông An, phủ Khoái Châu, là nơi trước đây triều Hùng ông Chử Đồng Tử cùng với công chúa Phương Dung bay lên trời), bèn xưng là Dạ Trạch Vương. Trải qua 4 năm, ông (ông Phục) vì quân Lương không rút nên bèn lập đàn tràng cầu đảo trời đất. Sau thấy có thần nhân cưỡi rồng vàng từ trên trời hạ xuống, tháo móng rồng giao cho, lệnh để ở trên mũ đâu mâu, hướng vào đâu thì giặc đều tan vỡ hết. Khi ấy Bá Tiên trở về nước, giao lại cho tướng Dương Sàn chống cự, cùng với Quang Phục giao chiến một trận. Ông Phục đánh bại hết quân Lương, chém được tướng Dương Sàn. Quân Lương thua to, phải chạy về Bắc.

Ông Phục vào ở trong thành Long Biên, tự xưng là Triệu Việt Vương. Bèn ban cho hai người cháu (ông Phúc, ông Lộc) quan tước. Phong cho ông Phúc là Tả đô đài, ông Lộc là Hữu đô đài. Khi ấy hai ông tự xin được về quê  bái yết gia tiên. Vương đồng ý. Hai ông bái tạ trước Vương, rồi cùng đi xe trở về quê quán xã Kiên Lao. Nhân dân sợ hãi, đều làm lễ bái hạ. Hôm ấy hai ông truyền mổ trâu làm lễ tế gia đường tổ tiên, mở tiệc mừng lớn. Việc xong hai ông ban cho nhân dân mười nén vàng, truyền nhân dân lập một nơi hành cung cạnh dân để làm nơi hai ông đi về có nơi trú ngụ. Nhân dân vâng mệnh xây dựng (cung này ở tại khu vực đất cao trong dân, hình đất có chính cục dựa Quý hướng Đinh, phân châm Bính Tý, Bính Ngọ, bên phải có một dòng suối nhỏ chảy bao xung quanh bên ngoài).

Việc xong hai ông lại quay xe về triều nhận chức. Vua tôi cùng hợp đức, chính sự được cải thiện nâng cao. Không lâu sau, có người con của anh Nam Đế tên Lý Phật Tử (Phật Tử là con của Thiên Bảo. Khi Tiền Lý Nam Đế lánh nạn quân Lương mà mất, anh là Thiên Bảo dẫn đầu chúng đảng vào động Dã Năng ở, xưng là Đào Lang Vương. Đến khi Đào Lang mất, Phật Tử nhận thủ lĩnh quân chúng) từ động Dã Năng dẫn quân đến đánh. Tất cả 5 lần liên tiếp quân Phật Tử đều thua. Vương nghĩ Phật Tử là con cháu của Tiền Lý Nam Đế nên không nỡ tuyệt đường, mới chia nước thành 2 cùng trị, lấy cát giới là bãi Quân Thần. Phật Tử ở nước phía Tây, dời đô về thành Ô Diên. Việt Vương ở nước phía Đông, đóng đô ở thành Vũ Ninh.

Khi ấy Vương có một người con gái tên là Cảo Nương, tuổi độ 16, nhan sắc tuyệt trần. Vương rất yêu quý. Lúc đó Phật Tử lập kế cầu hôn giảng hòa. Vương đồng ý. Ông Phúc, ông Lộc nhiều lần can gián, nhưng Vương không nghe. Thế là Phật Tử sai con trai là Nhã Lang vào trong quân ở rể. Vương rất tin tưởng, gọi Nhã Lang là rể hiền. Từ đó Nhã Lang cùng với Cảo Nương tình cảm tốt đẹp. Một hôm Nhã Lương ngầm dụ Cảo Nương lấy mũ đâu mâu móng rồng mà đen giấu đổi móng rồng đi. Ngày hôm sau Nhã Lang lấy cớ về thăm nhà, báo lại cho cha (Lý Phật Tử), cất quân đến đánh Vương. Vương lấy mũ đâu mâu móng rồng ra cùng giao chiến, không có tác dụng. Vương mới biết là móng rồng đã mất. Bèn lên ngựa chạy dài về đến cửa biển Đại Nha. Khi ấy quân Lý tiến đến rất gấp. Vương biết khó thoát được mới than rằng:

  • Ta đã cùng rồi.

Vương nhảy xuống cửa biển mà hóa (lúc đó là ngày 14 tháng 8).

Ông Phúc, ông Lộc bèn quay về xã Kiên Lao, mổ trâu dê  làm lễ tế Triệu Việt Vương, truyền nhân dân viết thần hiệu là: Triệu Việt Vương Hoàng đế, để phụng thờ. Khi ấy hai ông nói với nhân dân rằng:

  • Chúng ta cùng với nhân dân đã thành nghĩa cũ, không phải ngày một mà quên được. Bởi chúng ta có nơi hành cung để phụng thờ vua ta, ví như chúng ta sau này trăm tuổi, nhân dân hãy tuân theo mệnh chúng ta, chớ có thay đổi.

Khi ấy nhân dân bái tạ nhận mệnh. Hai ông lại truyền binh sĩ cùng nhân dân thiết lập một cung hội đồng ở trong dân, ở trên đó. Lại răn nhân dân rằng:

  • Cứ mỗi năm ngày 10 tháng 2 là ngày sinh nhật hai anh em ta, phải nghi lễ vâng đón tên thần của chúng ta, cùng hai người chúng ta về cung hội đồng, ca hát vui vẻ. Đấy là tất cả việc cho hai anh em ta.

Nhân dân vâng mệnh xây dựng. Việc xong, hai ông ở lại nơi đó, dạy dân cày cấy. Dân được lợi nhiều.

Lại nói từ đó Phật Tử chiếm được nước, chính là Hậu Lý Nam Đế. Khi ấy Nam Đế biết rõ hai ông Phúc Lộc là những anh hùng trùm thế, muốn mời ra giúp việc triều chính. Bèn sai sứ thần về xã Kiên Lao dụ các ông phụ giúp vương thất. Gạ gẫm mấy lần, hai ông không theo. Một hôm hai ông tự nói rằng:

  • Trung thần không thờ hai vua, sao có thể cam chịu nhục mà phụ người được. Kinh Thi rằng: Minh triết (Sáng suốt). Kinh Dịch rằng: Kiến cơ (Xem chính). Không đi tất sẽ như người Kỷ giữ ở chợ vậy.

Dứt lời, hai anh em dẫn vài gia thần đến thẳng Ái Châu, tới xã Nam Trịnh, huyện Yên Định, phủ Thiệu Thiên. Hai ông thấy địa thế có sông núi hữu tình. Nhân xã đó có một ngôi chùa, là một danh lam rất cổ, trải qua năm tháng đã xuống cấp. Hai ông mới nói với người trong làng cho ở tại chùa đó. Người làng đồng ý. Từ đó hai ông đổi tên, một là ông Túc, một là ông Tục.

Hai ông ở lại trong chùa, thành tâm hương khói tiến cúng. Qua vài năm, quyên góp mười phương trùng tu lại chùa. Công đức xong, hai ông lại chu du bốn biển, ngắm thưởng danh sơn, thắng cảnh. Một hôm đi tới núi Tam Điệp, hai ông bỗng nhiên bị cảm phong hàn, cùng một lúc đều mất (lúc đó là ngày 12 tháng 11). Trong một chốc, mối đùn thành gò lớn (tới nay gọi là xứ Gò Đôi). Từ ấy nhân dân qua lại buôn bán có cúng tiến nhiều vàng bạc, cầu đảo có nhiều linh ứng.

Lại nói từ sau khi hai ông đã hóa ở xã Kiên Lao nhân dân đều mắc tật dịch, súc vật ốm chết. Nhân dân làm lễ cầu đảo ở nơi miếu Triệu Việt Vương để xua đuổi tai ương. Tối đó nhân dân đều nằm trong miếu, mơ thấy Triệu Việt Vương ngồi nghiêm trên điện. Trăm quan văn võ ngồi đầy các bên. Lại thấy hai ông đường đường cùng các quân hầu, cờ xí voi ngựa đều như lúc còn sống, tiến thẳng đến trước miếu, bái yết rồi ngồi vào. Nhân dân vô cùng sợ hãi, làm lễ kính bái. Thấy hai ông nói rằng:

  • Chúng ta cùng vâng mệnh trời nắm quyền ở dân, vì dân ta mà là phúc thần. Thế mà nay chúng ta còn chưa có miếu thờ riêng. Vậy có phải là rất vô lễ hay không? Không nhận mệnh của chúng ta thì đừng có lời cầu xin gì nữa.

Lời nói còn chưa hết, nhân dân bỗng nghe một tiếng trống đồng vang lên đập vào trong tai, đột nhiên tỉnh lại, mới biết sự việc này. Tất cả đều sợ hãi. Mới nhớ lại những lời ngày trước hai ông đã dặn, lập tức lập miếu ở bên cạnh đền Triệu Việt Vương, viết thần hiệu của hai vị. Một là Túc công Đại vương, một là Tích công Đại vương, cùng phụng thờ. Từ đó tật dịch đều yên ổn. Người vật đều mạnh khỏe.

Trải tới thời Đường Cao Biền làm An Nam đô hộ. Khi đó có giặc Nam Chiếu khởi binh ở ven biển, quấy nhiễu đất Sơn Nam. Cao Biền dẫn quân đến đánh. Một hôm, thuyền quân theo sông Tiểu Hoàng xuôi tới xã Kiên Lao, huyện Giao Thủy. Lúc ấy mặt trời đã khuất sau núi. Ông (Cao Biền) thấy trên bờ có hai người, thân cưỡi ngựa ô, tay cầm thương vàng, tiến thẳng đến miếu bên bờ sông thì mất bóng. Theo sau thấy sóng đào hung dũng, gió bụi dương oai. Ông lấy làm lạ bèn dừng thuyền lên bờ, gọi nhân dân đến hỏi tên thần. Nhân dân kể lại sự tích. Nghe xong ông liền truyền binh sĩ cùng nhân dân làm lễ tế. Ông thân khấn rằng:

  • Nếu như có linh thiêng xin nhận lễ hưởng của tôi và âm phù cho xã tắc, dẹp giặc yên loạn. Đến sau này khi thanh bình sẽ tặng phong sắc chỉ để tỏ rõ linh thiêng.

Khấn xong, ông nằm ở trong miếu. Đến cuối canh ba nằm mơ thấy hai người đến nhanh bái chào, xưng tên họ, tự xin theo quân diệt giặc. Ông tỉnh lại biết là thần mộng, cho ghi vào sách vàng để xem nghiệm về sau. Sáng ngày lại làm lễ tế ở đền Triệu Việt Vương. Sự việc xong cất quân thẳng tiến, đầu thuyền chiêng trống vang như tiếng sấm sét vạn dăm, trên đường cờ xí hai bên bờ như hình rồng rắn. Quân của Vương như thế có thuận trời, thế mạnh như chẻ tre, oai chấn động như bẻ củi khô gỗ mục.

Đến khi dẹp được Nam Chiếu, ông Biền cho quân khải hoàn, gia phong tướng sĩ. Nhân nhớ lại sự việc ở Kiên Lao, tặng phong sắc chỉ cho Triệu Việt Vương Hoàng đế Thượng đẳng thần, tặng phong Túc công vi Hiếu túc Anh nghị Đại vương, Tích công vi Vĩ tích Hồng hy Đại vương. Cho xã Kiên Lao nghênh đón sắc về dân, tu sửa miếu điện để phụng thờ.

Từ đó về sau cầu mưa cầu gió đều có nhiều linh ứng. Trải bốn họ Đinh, Lê, Lý Trần sáng lập cơ đồ, ba vị Đại vương đều có nhiều công âm phù xã tắc, nên các đời đế vương có gia phong sắc chỉ, hương khói không ngừng.

Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn

Quản giám bách thần lễ điện Hùng lĩnh Thiếu khanh, thần, Nguyễn Hiền y chính bản vâng chép.

Hoàng triều năm Vĩnh Hữu thứ hai ngày tốt giữa thu.

Nam Việt Úy Đà diễn nghĩa

Nam Việt Úy Đà liệt truyện trong Sử ký Tư Mã Thiên rõ ràng có nhiều “nỗi oan” của vua Triệu cần được xem xét, diễn giải lại, mà “nỗi oan” có thể thấy ngay được là thông tin Triệu Đà trị vì 70 năm, thọ 121 tuổi (!!!). Với tuổi thọ “không thể có” này của vua Triệu, có thể thấy những câu chuyện về vua nước Nam Việt sẽ không phải đơn thuần là chỉ kể về 1 nhân vật như truyện đã chép…

Triệu Vũ Đế khởi nghĩa kháng Tần

Các di tích hiện còn tới nay về nhà Triệu ở Việt Nam là nguồn bổ sung những dữ liệu quan trọng cho quá trình khởi nghĩa kháng Tần của Triệu Đà trên đất Việt. Thời Tần Triệu Đà làm quan huyện Long Xuyên (cũng là huyện Nam Hải, theo thần tích Đồng Sâm), lấy vợ Trình Thị ở Đồng Sâm, Thái Bình mà lưu cư tại đây. Trình Thị đọc thiết âm là Trĩ, chỉ ra sự liên quan của vị hoàng hậu này với Cao Hậu, người có tên cúng cơm là Lữ Trĩ. Lưu Bang xuất phát ban đầu cũng là một đình trưởng nhỏ ở đất Bái, lấy vợ là họ Lữ và sống tại đó. Khu vực Thái Bình còn là nơi có nhiều di tích khởi nghĩa của Lý Bôn, người đã kết duyên cùng Hoàng hậu Đỗ Thị Khương. Thái Bình đọc phản thiết là Bái, tên vùng đất nơi Lưu Bang làm đình trưởng và lấy bà Lữ Trĩ.

Ngoài di tích ở Đồng Sâm (Kiến Xương, Thái Bình), Triệu Đà còn được kể đến ở một số khu vực khác. Trước hết, đó là núi Vũ Ninh (Quế Võ, Bắc Ninh) nơi có tới 8 làng thờ Triệu Vũ Đế. Đây là căn cứ ban đầu khởi nghĩa của Triệu Đà chống lại nhà Tần. Di vật thời này còn tại đây là phần thân của con thần thú nửa rồng nửa phượng bằng đá lớn, hiện vẫn còn tại thôn Cựu Tự xã Ngọc Xá. Truyện Giếng Việt trong Lĩnh Nam chích quái kể ở núi này có con rắn lớn, trên trán có chữ Vương, chuyên ăn thạch nhũ. Còn Cao Tổ bản kỷ kể việc Lưu Bang khi ở núi Mang Đãng đã chém rắn trắng, là con Bạch Đế mà khởi nghĩa.
Không xa núi Vũ Ninh, ở xã Ngô Cương (Gia Bình, Bắc Ninh) có sự tích kể Triệu Đà khi lâm trận thất thế, được một đám mây đỏ hạ xuống che chở mà thoát nạn. Câu chuyện này khá giống với việc Lưu Bang khi bỏ vào rừng núi Mang Đãng kháng Tần thì bà Lữ Trĩ luôn thấy có đám mây lành trên nơi Lưu Bang trú ngụ.
Khi quan úy Nam Hải là Nhâm Hiêu thấy phản loạn các nơi nổi lên chống lại nhà Tần, Nhâm Hiêu bàn với Triệu Đà chặn con đường nhà Tần mới mở đến Việt để tự giữ. Nhâm Hiêu chết, Triệu Đà thay, “lập tức truyền hịch đến các cửa ải Hoành Bồ, Dương Sơn, Hoàng Khê” để chặn đường, tự phòng thủ. Chi tiết này trong thần tích Đồng Sâm đã cho thấy con đường mà nhà Tần mở ra trên đất Việt là chạy từ vùng Cao Bằng (Hoàng Khê?) qua Bắc Kạn (Dương Sơn) tới Quảng Ninh (Hoàng Bồ). Trên con đường này Tần Thủy Hoàng đã làm cuộc Đông du, ra biển Đông, gặp đạo sĩ Yên Kỳ Sinh nơi chân núi Yên Tử ở Đông Triều. Cửa ải cuối cùng của con đường Tần – Việt này là Hoành Bồ, thuộc Quảng Ninh, gần bãi biển Hạ Long ngày nay.
Di tích quan trọng khác là ở khu vực Long Biên, đặc biệt là đình Xuân Quan (Văn Giang, Hưng Yên). Đây là nơi Triệu Đà đã thấy rồng bay lên trên sông Nhị, bắt đầu “Long Hưng” lập nghiệp đế vương, tấn công vào trị sở của Tần lúc đó ở Cổ Loa. Thần tích Đồng Sâm cũng kể Triệu Đà đánh Thục, đóng quân ở Tiên Du, Bắc Ninh.
Sử ký Tư Mã Thiên ghi Triệu Đà giết các trưởng quan do Tần xếp đặt, dùng bè đảng của mình thay vào làm quận thủ. Nếu không phải là một cuộc “khởi nghĩa vũ trang” thì làm sao Triệu Đà có thể giết được các quan lại nhà Tần một cách dễ dàng như vậy? Long Hưng cũng là tên quê hương của Lý Bôn, người đã nổi lên đánh chiếm Long Biên, lập nước Vạn Xuân.

Thần thú ở núi Vũ Ninh.

Nam Việt lập quốc

Sử ký Tư Mã Thiên ghi, khi Tần bị diệt vong, Đà liền đánh chiếm Quế Lâm, Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vũ Vương, Sau khi Cao Đế bình định thiên hạ, do Trung nguyên lao khổ nên bỏ qua không giết Đà. Nhà Hán năm thứ 11, sai Lục Giả nhân đó lập Đà làm Nam Việt Vương, cùng chẻ tín phù để thông sứ.
Đoạn sử hết sức quan trọng này về việc Triệu Đà xưng Vương, nhưng cũng lại hết sức khó hiểu, gây lầm lẫn. Nhà Tần diệt vong năm 206 TCN, còn Cao Đế năm thứ 11 là năm 196 TCN, ngay năm sau đó Lưu Bang mất. Hai sự kiện cách nhau tới 10 năm. Triệu Đà nếu đã xưng là Nam Việt Vũ Vương từ năm 206 TCN rồi thì sao mãi mười năm sau, đến cuối đời Lưu Bang mới cho người đến phong Vương cho Nam Việt? Người khởi nghĩa ở Chân Định chống Tần đã là Lưu Bang thì ai là người xưng Vũ Vương vào năm 206 TCN?
Vấn đề Nam Việt Vũ Vương được làm sáng tỏ nhờ nhận định: Triệu Đà khởi nghĩa ở miền Bắc Việt là Lý Nam Đế, cũng là Hiếu Cao Tổ Lưu Bang. Vì Lý Bôn – Lưu Bang đều xưng Đế của cả Thiên hạ Trung Hoa, nên người xưng Vương ở Nam Việt không phải là Triệu Đà.
Theo thần tích Hạ Mạo (Phú Thọ), Hậu Hùng Vương tên là Chàng Ánh, vốn là dòng dõi vua Hùng thứ 17 nước Văn Lang, được ban cho họ Lê, lấy vợ là con gái Đông Chu Quân (tức An Dương Vương). Khi Tần (Thục) chiếm được miền Bắc Việt, Chàng Ánh đã không khuất phục mà tự lập ở Việt Tây (Quảng Tây), xưng là Hậu Hùng Vương. Người con út của Hậu Hùng Vương đã được cử đem ba ngàn quân tham gia cuộc khởi nghĩa của Triệu Đà.
Triệu Đà lên ngôi là Vũ Đế, nhưng vẫn cắt Quảng Tây cho Việt. Sau 6 năm Hùng Ánh Vương lâm bệnh…. Đến khi Hùng Ánh Vương lâm chung… bèn ban tên Chàng Út Lôi Mao, cho tự cai quản. Ngày 15 tháng 8 Hùng Vương băng hà, Chàng Út phát tang, kế vị, xưng là Việt Tây Út Ngọ Lôi Mao Đại vương. Vũ Đế cho lệnh sách phong. Ba năm tang lễ xong, Vương cho hoàng hậu họ Triệu giám quản đất nước… Vũ Đế mới ban sắc: Cha truyền con nối là lễ thế tập…
Đối chiếu với Nam Việt Úy Đà liệt truyện thì:

  • Triệu Đà khởi nghĩa ở Đường Sâm, Vũ Ninh, Long Biên là Triệu Vũ Đế – Hán Cao Tổ – Lý Nam Đế.
  • Khi nhà Tần sụp đổ, thiên hạ phân chia, chư hầu tranh giành, người đã chiếm Quế Lâm, Tượng Quận, tự xưng Nam Việt Vũ Vương là Hậu Hùng Vương họ Lê.
  • Hơn 9 năm sau, tính từ khi Tần vong, tức đúng là quãng năm 196 TCN, Triệu Vũ Đế – Hán Cao Tổ sắc phong cho Út Ngọ Lôi Mao làm Nam Việt Vương. Vì Chàng Út là con rể Triệu Vũ Đế, nên từ đó Nam Việt Vương lấy Triệu làm họ.

Như vậy, người được Lưu Bang cử Lục Giả sang sắc phong ở Nam Việt không phải là Triệu Vũ Vương, mà là Triệu Văn Vương. Nhận định đột phá này cho phép giải quyết được vấn đề tuổi thọ 120 năm của Triệu Đà, vì trong 70 năm trị vì Nam Việt có tới 3 vị vua nối nhau: Triệu Vũ Đế – Lưu Bang, Triệu Vũ Vương – Lê Hùng Ánh và Triệu Văn Vương – Út Ngọ Lôi Mao.
Nhìn theo dòng sử khác của thời Tiền Lý Nam Đế, thì khi Lý Bôn chiếm Long Biên dựng nước Vạn Xuân, có Triệu Quang Phục tham gia khởi nghĩa, được phong là Tả tướng. Lý Nam Đế rút về hồ Điền Triệt là sự kiện Lưu Bang bị Hạng Vũ đuổi vào vùng Hán Trung. Triệu Quang Phục được Lý Bôn giao phó, ở lại giữ Long Biên, chống lại quân họ Hạng (truyền thuyết gọi là giặc Lương) không được, phải rút về vùng đầm Dạ Trạch ở Khoái Châu (Hưng Yên), dùng lối đánh du kích mà cầm cự trong nhiều năm. Cuối cùng Triệu Quang Phục cũng đuổi được quân Hạng ra khỏi Bắc Việt. Không lâu sau đó, Quang Phục dẫn quân dẹp loạn Lâm Ấp thắng lợi, thanh thế ngày càng lớn.
Tới khi Lưu Bang giết được Hạng Vũ, lên ngôi Hoàng đế thì vùng phía Nam đã nằm trong phạm vi cai quản của cha con Triệu Túc và Triệu Quang Phục. Triệu Túc là dòng quý tộc Lạc tướng Chu Diên, tức chính là Hậu Hùng Vương, người bắt đầu chiếm cứ quận Quế Lâm – Quảng Tây từ thời Tần. Quang Phục nhận sự ủy thác của Lý Nam Đế đóng quân ở quận Nam Hải (Long Biên) và rồi chiếm được cả vùng Lâm Ấp. Với địa bàn như vậy, không khó hiểu khi Triệu Túc tự xưng là Nam Việt Vũ Vương ngay khi Lưu Bang và Hạng Vũ còn đang tranh hùng thiên hạ.
6 năm sau, Lê Túc – Triệu Vũ Vương mất, khoảng năm 199 TCN. Quang Phục kế vương vị của cha, tiếp tục đánh chiếm mở rộng địa bàn và đi khắp nơi trong nước an định dân tình. Triệu hậu nắm giữ quyền triều chính khi Quang Phục không ở trong triều.
3 năm sau khi mãn tang cha, Triệu Quang Phục, tức Út Ngọ Lôi Mao, nhận sắc phong và phẫu phù của Hiếu Cao Tổ, trở thành Triệu Văn Vương. Đây mới là lý do chính việc Nam Việt Vương đã tiếp đãi sứ giả của Hán là Lục Giả một cách hậu hĩ, lưu giữ trong cung mấy tháng, tặng tơ lụa, trang sức, ngàn vàng. Nam Việt chính thức ra nhập nước Vạn Xuân của Lý Nam Đế Lưu Bang dưới dạng một phiên vương nội thuộc.

Lý Nam Đế và Hoàng hậu Đỗ Thị Khương ở Thái Bình.

Triệu Văn Đế Hưng Quốc

Phần lớn các chư hầu là công thần được Lưu Bang phong vương khi tranh hùng cùng Hạng Vũ đều nhanh chóng bị Lưu Bang tìm cách loại bỏ sau khi lên ngôi. Tề Vương Hàn Tín, Lương Vương Bành Việt, Cửu Giang Vương Anh Bố, Triệu Vương Trương Ngao, Yên Vương Lư Quán lần lượt theo nhau ra đi. Danh hiệu phong vương chỉ còn đối với những người con của Lưu Bang.
Trong bối cảnh đó thì mới thấy Nam Việt Vương ngang nhiên tồn tại, lại còn được chính Lưu Bang phong vương, phải là một thế lực mạnh như thế nào. Chắc chắn Nam Việt Vương là đại công thần và có quan hệ thân thích với Hiếu Cao Lưu Bang.
Thời Cao Hậu, nhà Hiếu không bán đồ sắt cho Nam Việt. Nam Việt Vương cho rằng đây là âm mưu của Trường Sa Vương muốn phế bỏ tước vương của Nam Việt. Một lần nữa thông tin trên lại cho thấy sự tranh giành vương vị thời kỳ này khốc liệt như thế nào. Trong số các chư hầu nhà Hiếu, Nam Việt Vương là vị vương có thế lực mạnh nhất, uy hiếp trực tiếp đến Đế vị của nhà Hiếu.
Cao Hậu cử Long Lự Hầu Chu Táo xuất quân đánh Nam Việt nhưng đã nhận thất bại thảm hại. Cao Hậu mất. Triệu Việt Vương lúc này không còn phải kiêng dè gì nữa, công khai xưng chế, tức là xưng Đế toàn thiên hạ. Nhân đà binh uy đó, Triệu Văn Đế chiêu dụ luôn 2 vùng đất Mân Việt ở phía Đông và Tây Âu Lạc trở thành nước chư hầu của nhà Triệu. Trung Hoa lúc này chia thành 2 đế quốc. Nhà Hiếu làm Đế ở phương Bắc. Nhà Triệu xưng Đế ngang hàng với nhà Hiếu, đi xe mui vàng, cắm cờ tả đạo, ở phương Nam. Đất đai nhà Triệu Đông Tây dài vạn dặm.
Bằng chứng xác đáng về hiệu xưng Đế của Triệu Văn Đế là ngôi mộ Triệu Mạt đã phát hiện ở Quảng Tây. Trong mộ đã tìm được bộ ấn vàng, đặc biệt nhất là ấn “Văn Đế hành tỉ”, xác nhận chắc chắn rằng người xưng Đế Nam Việt là Triệu Văn Vương. Quy mô, mức độ phong phú và quý giá của các hiện vật trong mộ cho thấy nó không kém gì mộ của các vị Đế của nhà Hiếu cùng thời. Ngoài ấn Văn Đế hành tỉ trong mộ còn có “ấn Đế”, khẳng định ngôi Đế của nhà Triệu.
Cao Hậu mất, các trung thần nhà Hiếu đã tôn người con của Lưu Bang là Đại Vương Lưu Hằng (vị Vương ở đất Đại) lên ngôi, là Hiếu Văn Đế. Ngay trong năm đầu tiên khi lên ngôi, Hiếu Văn Đế đã phải vội vã giải quyết quan hệ với nhà Triệu. Lục Giả, người từng đi sứ phong Vương cho vua Triệu, một lần nữa được cử đi sứ Nam Việt.
Lý do Lục Giả đưa ra để thuyết phục Triệu Văn Đế bỏ xưng chế là chuyện mồ mả người thân và con em ở Chân Định đang thuộc nhà Hiếu. Lý do này thực là “lãng xẹt” vì xét ra vua Triệu đã hơn nửa thế kỷ không về quê, mồ mả với người thân đâu có quan trọng so với ngôi Đế nữa. Hợp lý hơn như theo truyền thuyết Việt cho biết, Triệu Việt Vương nghĩ đến ân tình cũ với Lý Nam Đế (Lưu Bang) từ khi khởi nghĩa kháng Tần nên mới đồng ý giảng hòa với Lý Phật Tử – con cháu họ Lưu.
Triệu Văn Đế là con của Triệu Túc, dòng dõi nhà Chu, nên mồ mả và người thân ở đây phải chăng là chỉ tông miếu và con cháu của Chu Vương? Chỉ khi vua Triệu thực sự xuất thân là quý tộc từ thời Chiến Quốc thì mới có mồ mả và dòng dõi ở phương Bắc.
Sau chuyến đi sứ của Lục Giả, Triệu Văn Đế đồng ý bỏ xưng chế và xưng là phiên vương khi thông sứ. Nhưng trong nước ông vẫn dùng ấn và nghi lễ Đế vị như thường, mà bằng chứng là những chiếc ấn vàng trong lăng mộ của ông ở Quảng Tây.
Một chi tiết mà Nam Việt Úy Đà liệt truyện chép không rõ ràng là về Triệu Hồ. Sử ký chép Hồ là cháu Triệu Vũ Đế nhưng không rõ thời gian mất, tựa hồ như chuyện của Triệu Hồ được ghép vào dòng sử nước Nam Việt vậy. Lăng mộ tìm được ở Quảng Tây cho thấy Văn Đế có tên là Triệu Mạt. Và Văn Đế là người đã xưng Đế, chứ không phải ở thời kỳ đã bỏ Đế hiệu như Sử ký chép.
Chuyện Triệu Hồ là cháu của Triệu Đà có lẽ là chép theo truyền thuyết Mỵ Châu – Trọng Thủy. Sự thực thì Trọng Thủy là con của nhà Tần họ Triệu, chứ không phải nhà Triệu nước Nam Việt. Triệu Hồ phải chăng tương đương với công tử Hồ Hợi, tức Tần Nhị Thế?

Cuối thời Triệu Văn Đế đã xảy ra chuyện Mân Việt Vương đánh phá biên giới với Nam Việt. Triệu Văn Đế muốn lợi dụng quân đội nhà Hiếu nên báo cho nhà Hiếu xin giúp binh. Không ngờ quân Mân Việt tự mâu thuẫn nội bộ mà tan. Triệu Văn Đế đành phải tạ ơn nhà Hiếu bằng cách cho thái tử Anh Tề vào chầu làm con tin.

Văn Đế hành tỉ
Đế ấn trong mộ Văn Đế Triệu Mạt ở Quảng Tây.

Nam Việt vong quốc

Như vậy Triệu Văn Đế mất năm Kiến Nguyên thứ 4 (137 TCN), là năm mà Sử ký chép Triệu Vũ Đế băng hà. Anh Tề làm con tin ở Trường An hơn chục năm, quay về kế vị. Anh Tề lập tức dấu đi Đế ấn.
Hành động dấu ấn này khá khó hiểu. Anh Tề dấu ấn để làm gì? Trong cách nhìn mới thì hành động này có thể hiểu là Anh Tề đã bỏ việc dùng Đế hiệu mà Triệu Văn Đế vẫn duy trì ở trong nước. Anh Tề trở thành Triệu Minh Vương, thần phục nhà Hiếu.
Rất có thể Đế ấn này là chiếc móng rồng mà thần nhân đã trao cho Triệu Quang Phục ở đầm Dạ Trạch. Anh Tề là Nhã Lang trong truyền thuyết Việt, đã dấu móng rồng thần đi, dẫn đến việc Nam Việc mất nước.
Những diễn biến tiếp theo của nhà Triệu Nam Việt thì đã khá rõ ràng. Minh Vương mất, con thái tử Hưng lên nối ngôi, là Triệu Ai Vương. Mẹ là Cù hậu làm Thái hậu, truyền thuyết Việt gọi là Cảo Nương.
Do đã đánh mất Đế hiệu, thần phục nhà Hiếu nên mẹ con Cù hậu đã bị thừa tướng họ Lữ giết. Kiến Đức được Lữ Gia lập làm vua Triệu Vệ Dương Vương.
Nguyên Đỉnh năm thứ 5, Hậu Lý Nam Đế cho Lâu thuyền tướng quân Dương Bộc và Phục Ba tướng quân Lộ Bác Đức tấn công, Phiên Ngung thất thủ. Vua Triệu cùng Lữ Gia lên thuyền chạy về đến cửa Đại Nha ở Nam Định thì bị bắt. Nhà Triệu nước Nam Việt chấm dứt từ đây.

Đọc giải sự tích về Triệu Việt Vương

Trước những tư liệu mới về Triệu Đà ở miền Bắc Việt và Hậu Hùng Vương ở Phú Thọ (thần tích Hạ Mạo và Mạo Phổ) thì nay đã có thể xem xét lý giải được các sự tích về Triệu Việt Vương. Một sự tích Triệu Việt Vương điển hình là bản ngọc phả của thôn Kiều Ngõa, xã Lịch Đông, huyện Tây Chân, phủ Thiên Trường, đạo Sơn Nam Hạ, nay thuộc xã Liêm Hải, Trực Ninh, Nam Định. Đây là bản ngọc phả được lưu truyền ở địa phương, không phải dạng thần tích do Hàn lâm viện đại học sĩ Nguyễn Bính soạn, nên nó còn lưu giữ được các thông tin nguyên bản dân gian, chưa qua chỉnh lý của nhà nước phong kiến xưa.

Trang cuối ngọc phả thôn Kiều Ngõa.

Kể về nguồn gốc của Triệu Quang Phục, ngọc phả chép: Khi đó ở nước ta tại huyện Châu Diên, phủ Tam Đới, đạo Sơn Tây có một người họ Triệu tên Túc, vợ là Lý Thị Đàm. Tổ tiên của ông Túc vốn làm quan có tiếng, trải qua 6 triều thì về quê sinh sống.

Cha của Triệu Việt Vương là Triệu Túc, tổ tiên từng làm quan to qua 6 triều vua trước đây. Đây là thông tin khó hiểu nhưng cũng là manh mối xác định nguồn gốc của Triệu Việt Vương. Khi so sánh với thần tích Hạ Mạo (Phú Thọ) thì Triệu Túc tương đương với Chàng Ánh, dòng dõi Hùng Vương, quê ở Sơn Tây (Phú Thọ), làm quan nhiều đời trong triều Hùng. Bà mẹ Lý Thị Đàm tương đương với con gái Đông Chu Quân trong thần tích Hạ Mạo. Còn Triệu Quang Phục tương đương với Chàng Út Ngọ trong thần tích này.

Một điểm đáng suy nghĩ khác là ông Triệu Túc được biết là ở huyện Chu Diên. Chu Diên nghĩa là con chim màu đỏ, tương ứng với hình tượng Phượng hoàng ngậm bút ngọc bay đến trong tiếng sấm của thần tích Mạo Phổ. Lôi Mao hay lông sấm là hình ảnh gặp phổ biến trên trống đồng của nước Nam Việt. Rất có thể Chu Diên cũng là hình tượng biểu trưng của nước Nam Việt như được thể hiện trên các trống đồng. Ý nghĩa của hình chim Phượng hoàng đỏ là chỉ dòng Tiên của nhà Chu – Thục (An Dương Vương).

Ngọc phả Kiều Ngõa chép: Ông Túc rất vui mừng, cho rằng người con này tất sẽ hưng phục gia nghiệp, bèn đặt tên là ông Phục. Nếu Triệu Túc là dòng dõi Hùng Vương thì chữ Phục trong tên Triệu Quang Phục là có nghĩa phục hưng lại cơ đồ họ Hùng. Ở đây chỉ cơ đồ của nước Âu Lạc, đã bị nhà Tần chiếm mất vào thời Hùng Vương cuối cùng – thời An Dương Vương. Triệu Quang Phục là dòng dõi nước Âu Lạc của nhà Chu – Thục, đã tham gia khởi nghĩa chống lại nhà Tần mà phục quốc.

Ngọc phả kể: Ít lâu sau Lâm Ấp vào cướp bóc. Ông Bôn lập đàn bái ông Phục làm Tả tướng, Phạm Tu làm Hữu tướng, sai dẫn quân đánh phá. Từ đó Bắc đuổi Tiêu Tư, Nam dẹp Lâm Ấp. Triệu Quang Phục tham gia khởi nghĩa kháng Tần của Lý Bôn – Triệu Vũ Đế, được bái làm Tả tướng. Trong quá trình khởi nghĩa đó, Triệu Quang Phục được cử đánh dẹp quân Lâm Ấp ở phương Nam. Dấu vết của việc này là di tích thờ Triệu Việt Vương ở xa về phía Nam như đền Triệu Việt Vương ở xã Trinh Hà, Hoằng Hóa, Thanh Hóa.

Ngọc phả kể: Ông Phục tự lập là vua, hiệu là Triệu Việt Vương, đóng đô ở thành Long Biên. Đây là sự kiện Triệu Quang Phục được phong Vương ở vùng đất Bắc Việt sau khi khởi nghĩa chống Tần thắng lợi. Trong thần tích Hạ Mao thì Chàng Út Ngọ đã được Triệu Vũ Đế gả con gái cho và cho dùng chữ Triệu làm tên gọi. Trong Hoa sử gọi là Triệu Văn Vương, vị vua thứ hai của nước Nam Việt. Vị vua đầu là Triệu Vũ Vương, hẳn là để chỉ Triệu Túc – Hậu Hùng Vương.

Ngọc phả Kiều Ngõa kể: Ông Phục nhận được móng rồng ở đầm Dạ Trạch. Móng rồng là chiếc ấn rồng Văn Đế hành tỉ, mà nay đã tìm thấy trong mộ của Triệu Văn Đế tại Quảng Châu. Đây là sự kiện Triệu Văn Vương xưng Đế sau khi Lữ Hậu nhà Tây Hán mất. Với vị trí là Đại tướng quân và là con rể của Lý Bôn (Lưu Bang), khi cả Cao Tổ và Cao Hậu quy tiên, Triệu Quang Phục cho rằng mình mới là người nối ngôi chính thống nên đã xưng Đế và lập quốc gia riêng. Cũng vì sự tự xưng này mà Triệu Việt Vương còn được gọi là Hoàng đế trong các tư liệu xưa.

Ngọc phả kể: Việt Vương cũng dời đô về Ngọc Ninh. Ngọc Ninh ở đây hẳn là chỉ núi Vũ Ninh (Châu Sơn), từng là nơi đóng quân của Triệu Vũ Đế khi khởi nghĩa. Có thể Triệu Quang Phục đã tham gia khởi nghĩa cùng Triệu Vũ Đế ngay từ những ngày đầu ở núi Vũ Ninh. Ngoài ra, đây có thể còn chỉ sự kiện vua Triệu dời trị sở từ Long Biên về Phiên Ngung khi xưng đế, lập quốc Nam Việt.

Ngọc phả kể: Vương thường đi khắp thiên hạ, tìm chỗ lập đồn doanh để làm nơi phòng bị. Một hôm Vương xa giá tới thôn Kiều Ngõa, xã Lịch Đông, huyện Tây Chân, phủ Thiên Trường, đạo Sơn Nam. Vương truyền quân cùng nhân dân thiết lập một đồn sở. Vương thường xa giá đến đây đóng quân ở đồn, dạy dân trồng cấy, dân được lợi nhiều.

Sau khi khởi nghĩa thắng lợi và lên ngôi vua, Triệu Việt Vương từng đi khắp nơi, lập các đồn doanh ở vùng ven biển. Như vậy khu vực hành cung vua Triệu ở Ninh Bình (Thần Thiệu, Trùng Thượng, Trùng Hạ) thuộc về thời Triệu Văn Vương, không phải thời Vũ Đế Triệu Đà. Dẫn chứng khác là ở đền Thượng Hoàng Đan (Ý Yên, Nam Định) gần đó thờ đủ 5 đời nhà Triệu nước Nam Việt, chứ không chỉ một mình Triệu Việt Vương hay Triệu Vũ Đế.

Ngọc phả kể về sự kết thúc của Triệu Việt Vương: Địa phương lập đền chính ở nơi Vương hóa, viết thần hiệu là Triệu Việt Hoàng đế để phụng thờ. Tới nay vẫn còn đền (tức xã Độc Bộ, nay đổi là Lục Bộ). Lại nói, từ khi ông Phục hóa về sau nhân dân thôn Cầu Ngõa, xã Lịch Động đều bị tật dịch, súc vật không yên. Nhân dân đi bốc quẻ xem, mới lập miếu ở nơi đồn dinh, viết thần hiệu Việt Vương Hoàng đế để phụng thờ.

Các di tích ở vùng ven biển Nam Định như vậy là di tích hình thành từ nơi hóa của Triệu Việt Vương. Người đã hóa ở cửa biển Đại Nha lúc này không phải là Triệu Văn Vương thời khởi nghĩa kháng Tần, mà là Triệu Vệ Dương Vương, vị vua cuối của nhà Triệu Nam Việt. Người cháu của Lý Bôn là Lý Phật Tử, tức là vua Hiếu Vũ Đế, đã tấn công kinh đô Phiên Ngung. Triệu Vệ Dương lên thuyền chạy về phía Tây, về nơi quê cha đất tổ, nhưng khi đổ bộ vào vùng cửa biển Nam Định – Ninh Bình thì bị quân của Lộ Bác Đức truy sát. Vua Triệu đã bị bắt và tử tiết ở vùng ven biển này. Nhân dân sau đó lập đền thờ, không chỉ thờ vị vua cuối cùng của nhà Triệu mà là thờ cả triều đại nhà Triệu nước Nam Việt dưới tên Triệu Việt Vương.

Các di tích thờ phụng Triệu Vũ Đế và Triệu Việt Vương.

Như vậy, danh xưng Triệu Việt Vương ở nước ta có thể là:

  1. Triệu Trọng Thủy: Ai cũng biết chuyện Trọng Thủy là con trai của Triệu Đà, lừa gạt con gái của An Dương Vương lấy mất lẫy nỏ thần, dẫn đến cơ đồ nước Âu Lạc đắm chìm biển sâu. Thế mà vẫn có một người không biết tới chuyện này, đó là Tư Mã Thiên, vì trong Nam Việt Úy Đà liệt truyện không hề nhắc tới Trọng Thủy hay Mỵ Châu. Lý do là Trọng Thủy không phải con trai của Nam Việt Úy Đà, mà là vương tử của Tần Vương. Nhà Tần vốn mang họ Triệu do tổ tiên đánh xe ngựa cho Chu Mục Vương và được phân phong ở Triệu thành. Triệu Việt Vương thứ nhất do đó là Tần Vương.
  2. Triệu Vũ Đế: Vị quan lệnh Long Xuyên đã khởi nghĩa kháng Tần thành công, xưng Đế thiên hạ tất nhiên cũng là một vị vua Triệu của người Việt, nên gọi ông là Triệu Việt Vương hoàn toàn phù hợp. Các di tích ở miền Bắc Việt tại Thái Bình, Hưng Yên, Bắc Ninh và Hà Nội hiện đang gọi Triệu Vũ Đế là Triệu Việt Vương. Đây chính là Cao Tổ của họ Triệu, cũng là Lý Bôn hay Lưu Bang.
  3. Triệu Quang Phục: Là người nối tiếp ngôi của Nam Việt Đế Lý Bôn, Triệu Quang Phục tất nhiên là vua của nước Nam Việt, nên cũng được gọi là Triệu Việt Vương. Sự tích Hạ Mạo cho biết chàng Út Ngọ là dòng dõi Hùng Vương, tham gia khởi nghĩa kháng Tần cùng Triệu Vũ Đế, được gả con gái và phong là Triệu Vương, cai quản đất Nam Việt. Như thế Triệu Túc tương đương với Hậu Hùng Vương, còn Triệu Quang Phục là Út Ngọ Lôi Mao. Trong Sử ký Tư Mã Thiên thì Út Ngọ tương ứng là Triệu Văn Vương, mà ngôi mộ có ấn Văn Đế hành tỉ đã được phát hiện ở Phiên Ngung – Quảng Châu. Triệu Văn Đế khi lên ngôi đã có một số lần về thăm quê ở Bắc Việt và từng dẹp quân Lâm Ấp ở phía Nam nên rải rác vẫn còn các di tích hành cung Triệu Việt Vương của vị vua này ở Thanh Hóa, Ninh Bình.
  4. Triệu Vệ Dương Vương: Vị vua Triệu đã thất thủ thành Phiên Ngung, phải lên thuyền chạy về phía Tây, tới cửa biển Đại Ác ở Nam Định thì bị truy sát bắt giết cũng là Triệu Việt Vương. Di tích thờ Triệu Việt Vương ven bờ biển Nam Định – Ninh Bình có rất nhiều, chính là dành cho Triệu Vệ Dương Vương, vị vua cuối cùng của nhà Triệu nước Nam Việt.
Phả đồ so sánh các dòng sử về Triệu Việt Vương.

Ngọc phả ghi về Triệu Việt Vương Hoàng đế

Thần tích thôn Kiều Ngõa, xã Lịch Đông, huyện Tây Chân, phủ Thiên Trường, đạo Sơn Nam

(nay thuộc xã Liêm Hải, Trực Ninh, Nam Định)

Ngọc phả ghi về Triệu Việt Vương Hoàng đế

Chính bản của bộ Lễ quốc triều. Thượng đẳng thần.

Nước Việt xưa Càn Khôn định vị, Ly Khảm phân phương, giới hạn tong thiên thư theo sao Dực sao Chẩn. Từ họ Hùng dựng nghiệp, 18 đời truyền nhau hơn hai ngàn năm thịnh trị. Tới Duệ Vương không có người nối nghiệp (đều lên núi tu tiên), bèn nhường nước cho Thục An Dương Vương. Dương Vương có lòng vì dân vì nước, trị vì 50 năm thì Triệu Vũ lấy được nước, rồi nội thuộc Tây Hán. Trải qua Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, sai Tiêu Tư làm thứ sử đất Việt ta. Tư đối với người dùng hình nặng, pháp luật hà khắc, chính trị bạo ngược, tàn hại nhân dân. Khi đó đất Việt ta ai ai cũng lầm than, ca thán đối với thời này vậy. May sao ý trời muốn yên bình lòng người trong cảnh loạn lạc mà có người Long Hưng, Thái Bình, họ Lý tên Công Bôn, khởi binh ở châu Cửu Đức, cầu tìm hào kiệt khắp thiên hạ, chiêu dụ anh hùng bốn biển để nên kế lớn.

Đương khi đó còn chưa có được nam nhi thao lược, các tướng anh tài. Ông Bôn tích trữ quân lương, nhưng chưa phát động khởi nghĩa. Đáng tin thay! Đã có vua tất sẽ có thần tử. Đất Long Hưng không hướng mây mà mây ùn ùn kéo tới.

Đương khi đó ở nước ta tại huyện Châu Diên, phủ Tam Đới, đạo Sơn Tây có một người họ Triệu tên Túc, vợ là Lý Thị Đàm. Tổ tiên của Ông Túc vốn làm quan có tiếng, trải qua 6 triều thì về quê sinh sống. Đến đời ông Túc, vợ chồng cùng là những người phúc hậu, từ tâm, nhân ái, vốn lấy nho y làm nghề nghiệp. Khi vợ chồng tuổi đều đã cao mà việc sinh nở chưa thành. Một hôm bà Lý nằm chơi ở bên mái hiên phía Đông, lờ mờ thiếp đi, mơ màng như nằm mộng. Thấy thân mình lên đến Thiên đình. Ngọc Hoàng tuyên triệu đến trước điện mà phán rằng:

  • Gia đình ông Túc phúc hậu. Ta đã biết rõ nên đồng ý cho họ Triệu một cậu bé, đầu nhập làm con nhà họ Triệu.

Đang khi trong mộng, bà Lý bế được một tiên đồng, rồi bái tạ. Trên nửa đường trở về gặp một người cưỡi một con lân đỏ theo từ phương Nam mà tới, hô lớn rằng:

  • Đây đúng là gia đình có phúc mà bế được tiên đồng. Tiếc là nghiệp phúc chưa vẹn, phúc này không được tròn.

Nói xong thì bay lên không đi mất. Bà Lý bỗng nhiên tỉnh giấc. Từ đó cảm động mà có mang. Mang thai được 10 tháng đến năm Giáp Dần, ngày mồng 6 tháng Giêng thì sinh hạ được một người con trai. Vào lúc sinh có ánh sáng đỏ chiếu khắp nhà, khí lành bao phủ. Thấy một người con trai tướng mạo đường đường, thần phong lẫm liệt, bộ dạng giống y như đã gặp ở trong mộng. Ông Túc rất vui mừng, cho rằng người con này tất sẽ hưng phục gia nghiệp, bèn đặt tên là ông Phục. Xuân sinh, hè trưởng được 12 năm, thiên tư minh mẫn, tính vốn anh thông. Đến khi 15 tuổi tính tình anh uy rất vẻ, có tài dũng liệt, tinh thông thao lược, quán triệt văn chương, thực là bậc hào kiệt đương thời vậy.

Khi đó ông Phục thấy thứ sử Tiêu Tư gây cảnh tàn bạo với nhân dân, dùng hình nặng, chính sự trái ngược. Ông rất thương sinh dân lầm than, bèn tìm kiếm những kẻ sĩ có mưu trí, chiêu tập dân lưu tán, cầu hào kiệt khắp thiên hạ được ngàn người. Thế là khi ấy có nhiều tướng anh tài mà chưa có được quân chủ, hẳn là do đợi thời mới phát động.

Một hôm ông Phục nghe thấy Lý Công Bôn khởi binh ở châu Cửu Đức. Ngay hôm đó Ông dẫn quân mã, gậy sách tìm đến yết kiến ông Bôn. Ông Bôn gặp, thấy người có diện mạo khác thường, liền hỏi xem tài năng. Ông Phục ứng đối không gì là không nói tới. Ông Bôn rất mừng, những tưởng trời sai người đến để giúp cho vận nước. Ngày hôm ấy liền bái là Điều bát binh nhung, dẫn quân tiên phong cùng với ông Bôn đại chiến một trận với Tiêu Tư. Quân Tư thua to, bỏ thành chạy về nước Bắc.

Ít lâu sau Lâm Ấp vào cướp bóc. Ông Bôn lập đàn bái ông Phục làm Tả tướng, Phạm Tu làm Hữu tướng, sai dẫn quân đánh phá. Từ đó Bắc đuổi Tiêu Tư, Nam dẹp Lâm Ấp. Ông Bôn bèn lên ngôi hoàng đế, đóng đô ở Long Biên, lập nước tên Vạn Xuân, đặt trăm quan, định đô ấp, phong các công thần, tướng tá các cấp bậc. Bèn phong ông Phục là Quốc tể Long lĩnh hầu, nhận ấn Đại tướng quân, cho vào triều phụ chính.

Trải được 6 năm, nhà Lương lại sai Trần Bá Tiên dẫn mười vạn hùng binh, ba ngàn ngựa khỏe đến xâm chiếm phương Nam mà phục thù xưa, để rửa nhục cũ. Khi đó Lý Đế đón đồn quân ở hồ Triệt. Quân Lương không dám tiến gần. Một hôm nước hồ dâng cao. Quân của Bá Tiên theo đó mà tiến, đánh một trận lớn. Quân của Đế thua to. Đế bèn giao quyền cho Đại tướng Triệu Quang giữ nước. Đế vào động Khuất Liêu, không lâu sau thì Đế mất.

Khi đó ông Phục đi khắp nơi trong thiên hạ tìm chỗ hiểm trở để lập đồn doanh mà đóng quân. Một hôm Ông về đến đầm Nhất Dạ (đầm này ở xã Đa Hòa, huyện Đông An, phủ Khoái Châu, xứ Sơn Nam Hạ. Trước đây là đất ở của Chử Đồng Tử. Đến khi Đồng Tử bay lên trời cùng với gia thất, một đêm trở thành đầm, do đó có tên là đầm Nhất Dạ). Ông bèn thiết lập đồn doanh ở đất này, cùng với Bá Tiên giao chiến. Qua một năm mà không phân thắng bại. Khi ấy Lương đế lại lệnh cho tướng Dương Sàn dẫn quân đến tiếp ứng, quân ngày càng mạnh thêm. Quân của Ông gần đến lúc nguy bại, bèn lập đàn cầu đảo trời đất thần kỳ trong ba ngày. Thấy có một người đầu đội mũ trăm sao, thân khoác áo bào hồng, cưỡi rồng vàng từ trên trời hạ thẳng xuống, hô to một tiếng rồi nói với Ông rằng:

  • Nơi đây là đất của ta ngày trước ở tại đây.

Nói xong bèn tháo móng rồng trao cho ông Phục, lệnh đặt lên trên mũ đâu mâu và nói rằng:

  • Đến khi vào lúc chinh chiến thì hướng vào đâu sẽ thu được toàn thắng đến đó.

Ông Phục nhận được móng rồng, chưa kịp làm lễ bái hạ thì người đó bỗng nhiên biến mất. Từ đó Ông được móng rồng, đánh bại quân Lương, chém được tướng Dương Sàn. Quân Lương thua to, chạy về nước Bắc, không dám vượt biên giới nữa. Ông Phục tự lập là vua, hiệu là Triệu Việt Vương, đóng đô ở thành Long Biên.

Lại nói, Vương được nước qua mấy năm, thiên hạ thanh bình, quốc gia vô sự. Vạn dân chu cấp đầy đủ, hát ca vui mừng. Bốn biển trông cảnh tượng thái hòa. Vương thường đi khắp thiên hạ, tìm chỗ lập đồn doanh để làm nơi phòng bị. Một hôm Vương xa giá tới thôn Kiều Ngõa, xã Lịch Đông, huyện Tây Chân, phủ Thiên Trường, đạo Sơn Nam. Vương truyền quân cùng nhân dân thiết lập một đồn sở. Vương thường xa giá đến đây đóng quân ở đồn, dạy dân trồng cấy, dân được lợi nhiều.

Lại nói, khi Vương ở ngôi qua 20 năm, có người con của anh trai Tiền Lý Nam Đế tên là Phật Tử (tức là Phật Tử là cháu của Tiền Lý Nam Đế, con của Đào Lang Vương Lý Thiên Bảo), dẫn quân từ động Dã Năng đến cùng với Việt Vương tranh đoạt. Việt Vương thấy Phật Tử là dòng tộc Tiền Lý Nam Đế, không nỡ gây chiến, bèn chia nước làm đôi cùng trị, cắt giới là châu Quân Thần (tức xã Thượng Cát, Hạ Cát). Từ Thượng Cát trở về phía Tây cho Phật Tử cai quản. Phật Tử bèn dời đô về thành Ô Diên (tức xã Hạ Mỗ). Việt Vương cũng dời đô về Ngọc Ninh. Hai tướng cùng trị quốc.

Qua một năm sau Phật Tử biết Việt Vương có mũ đâu mâu móng rồng hướng đâu là tan đó. Vương có một con gái tên là Cảo Nương, tuổi tác tương đương với con trai Nhã Lang. Do đó Phật Tử sai sứ mang thư cầu hôn với Vương, thỉnh Cảo Nương với Nhã Lang cùng kết hôn. Vương đồng ý. Phật Tử sai con vào trong quân làm con tin. Vương rất yêu mến. Quần thần nhiều người can gián, nhưng Vương đều không nghe. Lại sai cho cùng với Cảo Nương ở Đông cung, gọi Nhã Lang là rể hiền. Từ đó Nhã Lang cùng Cảo Nương kết thân, tình vợ chồng keo sơn gắn kết. Được hơn một năm, một ngày Nhã Lang cùng với Cảo Nương ngồi uống nước, nhân đó hỏi Cảo Nương rằng:

  • Trước đây khi hai nước tương tranh, Vua cha có thuật lạ gì mà có thể đánh bại quân Lương?

Cảo Nương vô ý lấy mũ đâu mâu móng rồng cho xem. Nhã Lang biết là thần vật, ngày khác lấy đem tráo móng rồng. Việc xong nói với Cảo Nương rằng:

  • Ta cùng với nàng là tình vợ chồng, không thể phụ nhau được. Tuy nhiên đạo cha con lẽ nào lại chia biệt. Từ khi kết hôn vẫn chưa về nhà, chỉ cùng nàng tương hợp.

Dứt lời từ biệt, cưỡi ngựa trở về, báo với phụ thân Phật Tử. Phật Tử dẫn quân đến đánh. Việt Vương mất móng rồng, bèn lên ngựa chạy về phía Nam, chạy tới cửa biển Đại Nha thì quân họ Lý truy đuổi đến nơi. Vương biết khó thoát, bèn ngẩng lên trời mà than rằng:

  • Rồng vàng, rồng vàng phụ ta vậy sao!

Than rồi bèn nhảy xuống bên bờ biển mà chết (khi đó là 13 tháng 8). Từ khi Vương hóa về sau đều có nhiều hiển ứng linh thiêng. Địa phương lập đền chính ở nơi Vương hóa, viết thần hiệu là Triệu Việt Hoàng đế để phụng thờ. Tới nay vẫn còn đền (tức xã Độc Bộ, nay đổi là Lục Bộ).

Lại nói, từ khi ông Phục hóa về sau nhân dân thôn Cầu Ngõa, xã Lịch Động đều bị tật dịch, súc vật không yên. Nhân dân đi bốc quẻ xem, mới lập miếu ở nơi đồn dinh, viết thần hiệu Việt Vương Hoàng đế để phụng thờ. Bệnh tật đều khỏi ngay. Người và vật được yên ổn. Từ đó về sau nước cầu dân cúng có nhiều linh ứng. Trải Đinh, Lê, Lý, Trần bốn họ thay nhau khai sáng cơ đồ, đều có giúp nước cứu dân, nên qua các đời đều có đế vương gia phong mĩ tự Thượng đẳng phúc thần.

Đến cuối thời nhà Trần, họ Hồ tranh quyền, người Minh gậy loạn, sưu cao dịch nặng, chính trị trái ngược, tàn hại nhân dân. Dân bị hại và lo lắng rất nhiều. May là vì lòng người ghét loạn, ý trời mở nên cơ hội lớn. Triều ta Thái tổ Cao hoàng đế khởi nghĩa Lam Sơn, ba ngàn quân mạnh. Một hôm Đế tiến quân đi qua thôn Cầu Ngõa, xã Lịch Đông, huyện Tây Châu, phủ Thiên Trường, đạo Sơn Nam. Lúc đó mặt trời đã xuống núi. Đế bèn đóng quân ở đền Triệu Việt Vương. Đến cuối canh ba Đế mơ màng như mộng. Bỗng thấy một vị thần tướng, thân khoác áo giáp vàng, tay cầm qua vàng, tiến thẳng đến trước Đế, vừa chắp tay vừa bái chào, xưng tên xưng họ, tự xin theo cùng dẹp giặc. Đế tỉnh lại biết là thần linh ứng mộng, bèn ghi lại vào sách vàng để xem nghiệm về sau.

Sáng hôm đó Đế cử binh tiến đến chiếm thành Lục Hoa, đánh dẹp được giặc Minh, chém đại tướng Liễu Thăng. Thái tổ lên ngôi Hoàng đế ở Lam Sơn, niên hiệu là Thuận Thiên, đổi triều đại, đại xá thiên hạ. Nhân đó tặng phong mĩ tự cho các vị bách thần. Bèn tôn phong Triệu Việt Vương Hoàng đế, sắc chỉ Thượng đẳng thần, cho phép thôn Cầu Ngõa, xã Lịch Đông đón sắc về dân, trùng tu miếu điện để phụng thờ, lưu truyền hương lửa vạn đại vô cùng, mãi cùng vận nước, mãi là thức lệ, liên miên bất tận, không thể mất vậy.

Tốt thay!

Tôn phong Triệu Việt Vương Hoàng đế, cho phép thôn Cầu Ngoã, xã Lịch Đông, huyện Tây Chân, phủ Thiên Trường, đạo Nam Sơn phụng thờ.

Phụng khai các tiết sinh hóa và khánh hạ cùng với tên húy cấm hai chữ Quang, Phục.

Sinh thần ngày mồng 6 tháng Giêng, lễ dùng lợn đen, xôi, rượu, ca hát một ngày.

Ngày thánh hóa là 13 tháng 8, lễ dùng lợn đen, xôi, rượu, bánh trôi, cùng các thức vật.

Người bản thôn, cựu tiên chỉ Lê Văn Năng theo thần sắc phụng thờ mà tuân sao.

Hoàng triều niên hiệu Đồng Khánh thứ 9, ngày tốt tháng 8 đã sao.

Tập sử ký Xuân Lan

Triệu Vũ Hoàng Đế ở Long Hưng điện, Xuân Quan.

Đế họ Triệu, tên Đà, người Chân Định. Đầu thời Tần, Nhâm Hiêu ở Nam Hải bị bệnh, cho gọi gấp Đế tới. Đế đang làm chức lệnh ở Long Châu. Nhâm Hiêu nói:

– Nhà Tần vô đạo, thiên hạ cực khổ. Ta nghe Trần Thắng tạo loạn, thiên hạ không biết lúc nào được yên. Phiên Ngung có thế núi hiểm trở, vốn có biển Nam, Đông Tây vài ngàn dặm, lại cùng Trung Quốc nương tựa. Cũng là một nơi đứng đầu các châu, có thể lập nước riêng.

Hiêu mất. Đế đảm nhận việc úy của Nam Hải, bèn tức thời gửi hịch đi các nơi, chặn đường, tụ hợp quân đội, diệt các quan lại nhà Tần, tấn công chiếm Quế Lâm, Tượng quận, tự lập làm Nam Việt Vũ Vương, đóng đô ở thành Phiên Ngung. Khi Hán Vương dẹp Sở, lên ngôi, ban chiếu lập Đế làm Nam Việt Vương, sai Lục Giả đem ấn thao cùng với phù tín để thông sứ, khuyên hòa tập với Bách Việt để biên cương phía Nam không có tai hoạ. Khi Lục Giả đến, Đế ngồi xổm mà tiếp. Lục Giả nói:

– Vương là người Trung Quốc, phần mộ thân thích đều ở Chân Định. Nay nhân giữ khư khư đất Việt mà với thiên tử hán không chịu khuất phục. Điều này có thể được không?

Thế là Đế mới ngồi dậy, tạ lỗi rằng:

– Ta ở chốn man di đã lâu, nên đã quá thất lễ.

Rồi cùng tiếp Lục Giả. Được vài ngày nói:

– Nước Việt không có nhiều người có thể nói chuyện được cho đến khi tiên sinh đến, hàng ngày tôi được nghe những điều chưa từng được nghe.

Đế tặng cho Lục Giả túi đựng đồ đáng ngàn vàng. Lục Giả trở về nước Bắc. 

Đế cất quân xuống phía Nam, giao chiến với An Dương Vương đang đóng đô ở thành Cổ Loa. An Dương Vương lấy nỏ thần bắn ra. Đế bèn lùi quân về đóng ở chân núi Trâu Sơn (nay ở chân núi Trâu Sơn, huyện Vũ Ninh có miếu thờ Thánh đế), cùng với An Dương Vương đối đầu với nhau. Rồi Đế đề nghị thông hòa. An Dương Vương vui mừng, đồng ý từ Tiểu giang về phía Bắc do Đế cai trị, từ sông đó về phía Nam do Vương cai trị. 

Nhân đó Đế giả cách sai con là Trọng Thủy vào làm cận vệ, cầu hôn với con gái Vương là Mị Châu. Vương sơ ý không biết là kế gian nên đồng ý. Trọng Thủy dụ Mị Châu trộm lấy lẫy nỏ thần giấu đi, tìm một lẫy nỏ khác đổi móng của Rùa vàng, rồi nói dối với Mị Châu là muốn về thăm hỏi cha mẹ. Nhân đó nói:

– Tình cảm vợ chồng không thể nào mất. Ơn sinh thành của cha mẹ không thể đổi. Ta nay về thăm cha mẹ. Nhỡ sau này hai nước bất hòa, Bắc Nam cách trở. Ta đến đâu để có thể gặp được nhau?

Mị Châu nói:

– Thiếp thân là nữ nhi, mà nay gặp cảnh chia biệt, tình này khó vượt. Thiếp có một chiếc gối gấm lông ngỗng, thường mang theo người, đến nơi nào thì sẽ nhổ lông mà thả trên đường để biết là ở nơi đó.

Trọng Thủy giấu lẫy nỏ mà về, tâu lên Đế. Đế được việc đó rất vui mừng, bèn phát quân tấn công An Dương Vương.  Vương không biết là lẫy nỏ đã mất, vẫn ngồi chơi cờ mà tự cười rằng:

– Quân Bắc không sợ nỏ thần của ta sao?

Đế dẫn quân đến dưới thành. Vương dương nỏ thì thấy lẫy thần đã mất, đành thua chạy. Vương để Mị Châu ngồi sau ngựa mà chạy về phía Nam. Trọng Thủy nhận theo lông ngỗng. Vương chạy đến bờ biển thì cùng đường, không có thuyền chèo, bèn cầm sừng tê bảy tấc theo Rùa vàng mở đường nước vào biển mà đi ở xứ Hải Sơn, xã Cao Xá, quận Diễn Châu. Mị Châu ngẩng lên trời nói:

– Thiếp một lòng trung tín lại bị người lừa gạt. Nay xuống nước xin hóa thành châu ngọc để rửa sạch mối thù nhục này.

Mị Châu bèn nhảy xuống nước chết bên bờ biển. Trai ngọc uống vào hóa thành minh châu. Đế dẫn quân truy đến nơi thì thấy một vùng trống không, chỉ thấy thi thể của Mị Châu ở đó. Trọng Thủy ôm xác Mị Châu về chôn cất ở Loa thành, thi thể hóa thành đá ngọc. Trọng Thủy vì đó rất đau đớn, khi đến xứ Trang Dục tưởng như thấy hình thể Mị Châu, bèn đầu thân xuống giếng mà chết (tương truyền ngọc minh châu rửa bằng nước giếng này thì sẽ trở nên trong sáng).

Đế chiếm giữ nước Âu Lạc, khai mở đất đai, phương Nam đều bình được. Khi Lã Hậu nhà Hán không cho phép thông quan mua bán đồ sắt, Đế tức giận phát binh đánh hạ Linh Lăng, Trường Sa. Nhân binh uy đó lấy tài vật đút lót mà sai khiến Mân Việt và Tây Âu Lạc. Biên cương Đông Tây mở hơn vạn dặm, tự xưng là Nam Việt Vũ Đế, lên ngôi Hoàng đế, đi xe hoàng ốc, cắm cờ tả đạo, xưng “Chế”, cùng với Hán Trung Quốc đối đầu.

Hán Vương nhân mồ mả người thân của Đế ở tại Chân Định, đặt người giữ ấp đó ngày tháng phụng thờ, gọi con cháu Đế đến ban thưởng hậu hĩ, lại sai Lục Giả đi sứ, gửi thư cho Đế rằng:

– Trẫm là con vợ lẽ của Cao Đế. Khi có biến họ Lã, nhờ sức của các công thần mà dẹp được yên. Trẫm vì các vương hầu không cho chối từ nên không thể không nhận lên ngôi. Trước kia nghe Vương đem quân đánh biên giới, Trường Sa khổ sở không ngừng, Nam Quận lại càng khổ. Nước của Vương có thể được lợi riêng sao? Tất phải chết nhiều quân sĩ, hại các quan tướng tài, làm cho vợ góa chồng, con mồ côi, cha mẹ mất con. Được một mất mười. Trẫm không nhẫn tâm làm vậy. Có được đất của Vương cũng không thành lớn thêm. Có được tài vật của Vương cũng không giàu thêm. Xin cùng Vương bỏ những điều hiềm khích trước đây mà thông sứ như xưa.

Lục Giả đến, Đế nhận chiếu, hạ lệnh: 

– Trong một nước không thể hai người hùng cùng lập ngôi, không thể hai người hiền ở cùng một thời. 

Nhân đó Đế gửi thư xưng:

– Man di đại trưởng lão phu, thần, vốn là quan sứ ở Việt trước đây. May mắn Cao Đế ban cho thần ấn tỉ. Huệ Đế vì nghĩa không nỡ tuyệt. Lão phu ở Việt đã 49 năm, đến nay đã có cháu bồng rồi, nhưng ngày đêm thức ngủ không yên, ăn uống không biết vị ngon, mắt nhìn không thấy sắc đẹp, tai không nghe thấy tiếng chuông trống,  vì không được phụng sự nhà Hán vậy. Nay may mắn được ban cho thông sứ như trước, Lão phu dù chết xương cũng không nát.

Đế bèn nhận hòa với Hán Đế. Đương khi đó Đế hỏi Lục Giả rằng:

– Ta so với Hán Cao Đế thì thế nào?

Lục Giả nói:

– Vương sao dám so với Cao Đế được.

Đế nói: 

– Ta hận là không khởi binh ở Phong Bái, sao lại không bằng Hán?

Lục Giả sắc mặt tiu nghỉu.

Đế ở ngôi 71 năm, trải xuân thu thọ 120 tuổi. Đế thừa khi nhà Tần loạn, chiếm hữu Lĩnh Biểu, đóng đô ở Phiên Ngung. Thời Hán Văn Đế làm đế một phương, có lòng yêu dân, có trí tuệ giữ gìn đất nước, có võ công mạnh như Tàm Tùng, văn giáo vang nơi Tượng quận. Lấy thi thư mà giáo hóa phong tục trong nước. Lấy nhân nghĩa mà cố kết lòng dân. Dạy dân trồng trọt, dệt vải, nước giàu quân mạnh, Nam Bắc giao hòa. Thiên hạ vô sự. Là vị chủ có chân tài lược anh hùng. Trị nước một thời lâu dài vậy. 

Truyền đời Văn Vương, Minh Vương, Ai Vương, Vệ Dương Vương tất cả được 5 đời. Tới khi Hán Vũ Đế thôn tính lấy được nước đó, phân đặt các quan thú lệnh. Con cháu lại tụ tập tại những nơi vắng vẻ không người ở cửa biển Thần Phù, Hoành Sơn. Chế tạo thuyền bè, vượt biển đột nhập vào đất liền, cướp đoạt người ở bờ biển, giết các quan thú lệnh nhà Hán. Dân sợ phục, gọi là Nam Triệu.

Cho tới thời Ngô Tôn Quyền thì từ các xứ núi Thiên Cầm, Hà Hoa, Cao Vọng, Điểu Tồn, Hải Ngạn, Lại Bộ, Vọng Cái, Trang Chử, Thạch Song, Lôi Sơn, núi cao biển sâu, sóng gió hiểm trở, đều có nạn Nam Triệu, thường lấy việc cướp bóc làm nghề. Đồ đảng chúng khá mạnh, bèn lấy của cải châu báu đút lót cho nước Tây Bà Dạ để cầu cứu trợ.

Cuối thời Tấn, thiên hạ đại loạn, thổ tù Triệu Ông Dịch cùng  nhiều anh em đồ đảng dũng lược hơn người, nên được chúng phục theo. Cùng với đồ đảng Nam Triệu hơn hai vạn người chia giữ bờ biển ở các đầu thành 2 lộ. Trên từ Quỳ Châu đến Diễn Châu là lộ Già La. Từ Cầm Châu đến Hoan Châu là lộ Lâm An. Mổ trâu ngựa để kết thề. Do đó xây thành ở làng Cao Xá, Diễn Châu. Đông giáp biển, Tây đến nước Bà Dạ, Nam tới Hoành Sơn, do Triệu Ông Dịch cai quản.

Nhà Tấn lệnh cho tướng quân Tào Cam tiến đánh. Trải qua 4-5 năm, quân Tấn không chịu nổi khí núi chết quá nửa. Tấn rút quân về.

Sau Triệu Việt Vương, tên húy là Quang Phục, sinh ở làng Lan Cứu (nay là xã Xuân Lan), là hậu duệ của Cổ Tiên Thánh Đế. Thời Tiền Lý Nam Đế là Tả tướng quân. Nhà Lương Tiêu Diễn lệnh cho Trần Bá Tiên dẫn quân xâm chiếm phương Nam. Nam Đế tị cư ở động Khuất Liêu rồi mất tại đó. Việt Vương thay quyền nắm giữ đất nước, thấy sức lực không thể giữ bèn lùi về Dạ Trạch. Vùng này đất trũng thấp, khó đi bằng đường bộ. Vương dùng thuyền độc mộc nhân buổi tối ra đánh, cướp lấy lương thực, cầm cự lâu dài để làm quân giặc suy yếu. Trong 3-4 năm quân Lương không giao chiến được. Bá Tiên than rằng:

– Xưa gọi là đầm một đêm bay lên trời. Nay phải gọi là đầm một đêm trộm cướp vậy.

Đến khi Hầu Cảnh gây loạn, Bá Tiên trở về nước, giao lại cho tì tướng Dương Sàn cầm quân. Việt Vương trai giới lập đàn ở trong đầm, đốt hương cầu đảo trời đất cùng thần linh bản thổ. Bỗng thấy có thần nhân cưỡi rồng hạ xuống trong đầm, nói với Vương rằng:

– Nơi ta bay lên trời là chốn linh thiêng. Nhà ngươi đã thành tâm cầu khấn, ta vì đó mà đến cứu giúp để dẹp yên tai họa, loạn lạc.

Xong bèn tháo móng rồng trao cho Vương, nói là dùng để đặt ở mũ đâu mâu, nhằm hướng đó thì giặc tất đều sẽ bị diệt.

Nói xong thì bay về trời. Vương làm theo như lời đó. Quân Lương thua to, giết được tướng Dương Sàn. Đuổi diệt được quân Lương. Vương mới lập làm Triệu Việt Vương, vào ở trong thành Long Biên. Ban chiếu sửa hai thành Loa Lộc, Vũ Ninh. Đặt tên là nước Nam Việt. 

Lại có người họ tộc của Tiền Nam Đế là tướng Lý Phật Từ từ động Dã Năng trở về. Vương thấy Phật Tử là anh họ Nam Đế, không nỡ tận tuyệt, bèn cắt đất ở Cát Châu cho ở đó. Phật Tử cho con là Nhã Lang cầu hôn với con gái Vương là Quả Nương. Vương đồng ý. 

Nhã Lang nịnh vợ rằng:

– Xưa hai cha của chúng ta còn là thù địch, nay lại là kết hôn nhân, thật là điều tốt thay! Cha nàng có thuật gì mà có thể đánh được quân của cha ta?

Quả Nương không biết thâm ý, ngầm lấy mũ đâu mâu móng rồng cho chồng xem. Nhã Lãng âm thầm tráo đổi móng đó, lại nói riêng với Quả Nương rằng:

– Ta nay dứt tình để về thăm cha mẹ. Vạn nhất chẳng may có giặc, vua cha của nàng gặp bất lợi, thì qua nơi nào nàng hãy lấy lông ngỗng ở chiếc gối gấm mà đánh dấu đường. Ta sẽ đến tương trợ.

Nhã Lang về bàn mưu với cha. Phật Tử đem quân đến. Ban đầu Vương không biết, tập hợp lính, đốc quân, đem mũ đâu mâu ra đợi giặc. Quân giặc tiến áp đến rất đông. Vương biết thế lực không chống lại được bèn đem con gái chạy về phía Nam. Giặc đều đuổi đến gần. Vương hô lớn rằng:

–  Rồng vàng thần vương không giúp ta sao?

Bỗng Long vương chỉ cho thấy con gái Việt Vương tự rắc lông ngỗng, chính là giặc vậy. Vương rút đao mà chém. Vương cưỡi ngựa đến cửa biển Đại Nhã thì gặp nước ngăn trở bèn than rằng:

– Ta tới đường cùng rồi!

Rồng vàng mới rẽ nước thành đường, dẫn Vương đi vào trong nước. Quân Phật Tử đuổi đến chỉ thấy mênh mông không biết là đâu, bèn phải quay về.

Vương ở ngôi 23 năm, lập đền ở cửa biển Đại Nhã (nay là huyện Đại An) phụng thờ. Phật Tử sau rời đô về Phong Châu, ở ngôi 32 năm. Đến khi nhà Tùy đến xâm chiếm thì ra hàng và về Bắc. Người trong nước cũng lập đền ở cửa biển Tiểu Nhã phụng thờ, đối diện với đền Việt Vương.

Nước Nam Việt nhà Triệu trong văn hóa khảo cổ và lịch sử Việt Nam

Đại Việt sử ký toàn thư đã chép Kỷ nhà Triệu cho nước Nam Việt với 5 đời vua, kéo dài hơn trăm năm từ cuối thế kỷ III TCN đến cuối thế kỷ II TCN. Thế nhưng các nhà khảo cổ nước ta hiện nay lại có xu hướng là cứ hiện vật nào có niên đại này thì gọi chung là văn hóa Đông Sơn và gắn nó với nước Âu Lạc của Thục An Dương Vương. Hơn 100 năm tồn tại của một vương triều chính thức xưng Đế đầu tiên, có lãnh thổ được biết rộng lớn nhất trong sử Việt trở nên “bặt vô âm tín” về mặt khảo cổ. Cứ tưởng chừng như nước Nam Việt chưa hề có mặt ở đất Việt Nam vậy.

Bằng chứng rõ ràng nhất về các di vật nhà Triệu Nam Việt ở nước ta là ở thành Cổ Loa. Nhà sưu tầm Kiều Quang Chẩn viết: Chúng ta trở lại Cổ Loa với những tường thành hào lũy bao bọc, chứng tỏ là một nơi cư trú quan trọng, xứng đáng một kinh đô thời cổ. Hàng vạn mũi tên đồng nhiều chiếc chưa thành phẩm đào được ở Cầu Vực, những vũ khí hình tim ở Mả Tre, những khuôn đúc đồng chứng tỏ Cổ Loa có xưởng đúc vũ khí. Ngoài ra người ta còn đào được một trống Đông Sơn lớn và hoàn hảo có hoa văn được xếp loại chung với những chiếc trống Đông Sơn quan trọng nhất theo phân loại Heger I. Loại trống này có hoa văn trên vai y hệt như chiếc thạp trong mộ Triệu Muội ở Quảng Châu và chiếc thạp của Triệu Đà ở bảo tàng Babier Mueller tại Thụy Sĩ. Ta có thể dễ dàng định tuổi chiếc trống và bộ vũ khí chôn theo cùng thời với Triệu Đà và người cháu của ông, tức khoảng thời gian ra đời nước Nam Việt năm 206 TCN cho đến khi cháu ông mất năm 122 TCN.

Hàng vạn mũi tên đồng ba cạnh đã được tìm thấy ở Cổ Loa. Cho dù mũi tên đồng tạo ra cảm giác liên quan đến chiếc nỏ thần của An Dương Vương, nhưng niên đại lò đúc những mũi tên này lại là thế kỷ II TCN, tức sau thời An Dương Vương gần nửa thế kỷ. Niên đại mẫu than lấy từ lò đúc có khuôn đúc tên ở đền Thượng Cổ Loa xác định bằng C14 rơi vào quãng năm 189 TCN. Hiển nhiên thời gian này Cổ Loa đang nằm trong nước Nam Việt nhà Triệu.

Đồ gốm ở thành Cổ Loa có ống ngói khá đặc trưng, được gọi là ngói Cổ Loa. Nhưng loại ngói này lại thấy giống với loại ngói ở Trung Quốc thời Tây Hán, mà cụ thể là ngói trong mộ Văn Đế Triệu Mạt rất nổi tiếng ở Quảng Châu. Thật may mắn là hiện vật của nhà Triệu Nam Việt có thể được biết một cách chính xác nhờ ngôi mộ của Triệu Văn Đế, có ấn tín ghi tên đầy đủ, chính xác.

Trong mộ Triệu Văn Đế cũng có đồ đồng Đông Sơn. Đó là chiếc thạp lớn, trên thân có kiểu tạo hoa văn in chìm rất giống với thạp đồng Hợp Minh tìm thấy ở Yên Bái (đã được công nhận bảo vật quốc gia năm 2013). Trống đồng Cổ Loa có hoa văn tương đồng thạp trong mộ Triệu Văn Đế như đã nói trên. Phần lớn các trống đồng cỡ lớn, hoa văn cầu kỳ phức tạp, ví dụ như trống đồng Sao Vàng đang được trưng bày ở Bảo tàng lịch sử, là trống đồng Đông Sơn giai đoạn muộn, tương ứng với niên đại thế kỷ II-I TCN. Do đó về thực chất đó chính là những trống đồng nước Nam Việt.

Một đồ vật điển hình khác của đồ đồng Đông Sơn muộn là những chiếc chuông voi. Gọi là chuông voi, nhưng đây là những chiếc chuông đồng nhỏ dạng hình tam giác cân có 2 tai nhỏ ở phía trên. Một trong những chiếc chuông voi tìm thấy ở Cốc Lếu, Lào Cai có dòng chữ Bang kỳ túc cát phúc đúc nổi. Chữ sử dụng trên chuông là dạng chữ Triện Lệ, loại chữ phổ biến từ thời Tây Hán.

Rồi đến việc phát hiện dấu vết lá dong trên mảnh nồi đồng tìm thấy ở Vĩnh Lộc, Thanh Hóa, cũng có niên đại xác định là thế kỷ II – I TCN. Món bánh chưng nấu bằng chiếc nồi này do đó cũng là dưới thời nước Nam Việt, chứ không thể là của chàng Lang Liêu trước đó vài thế kỷ.

Chuông có chữ phát hiện ở Cốc Lếu, Lào Cai.
Đầu ống ngói Cổ Loa.
Khuôn đúc tên ở Cổ Loa.

Sự “ra đi” cố ý của nhà Triệu Nam Việt khỏi văn hóa khảo cổ và sử Việt thường dựa trên một số thông tin có tên Âu Lạc của Sử ký Tư Mã ThiênTiền Hán thư, bao gồm:

  • Khi Cao Hậu mất Triệu Đà “dùng uy lực uy hiếp nơi biên giới, đem đồ đạc của cải đút lót Mân Việt, Tây Âu Lạc để bắt họ lệ thuộc mình“.
  • Sau đó là trong bức thư của Triệu Đà gửi Hiếu Văn Đế có đoạn: “Đông Mân Việt nghìn người cũng xưng hiệu là vương. Tây Âu Lạc nước trần truồng cũng xưng là vương.”
  • Khi Lộ Bác Đức diệt nước Nam Việt, “Giám quan người Việt quận Quế Lâm là Cư Ông dụ dân Âu Lạc đi theo nhà Hán“.
  • Năm 110 TCN khi nhà Tây Hán được toàn bộ Nam Việt: “Tả tướng Hoàng Đồng của Âu Lạc xưa chém được Tây Vu Vương nên được phong làm Hạ Phu hầu“.

Với lý do tới thời Tây Hán vẫn còn tướng của Âu Lạc nên có chuyên gia thậm chí còn kết luận rằng Triệu Đà chưa từng làm chủ được nước Việt ta và nước Âu Lạc của An Dương Vương còn kéo dài dài… Nhẹ nhàng hơn thì có người cho rằng các quý tộc Âu Lạc (từ thời An Dương Vương) vẫn có quyền tự trị cho mãi đến thời Hiếu Vũ Đế diệt Nam Việt. Từ đó để suy ra trống đồng, chuông đồng, thạp đồng… của thế kỷ II TCN tìm thấy ở Việt Nam thuộc về nước Âu Lạc hay thuộc về dòng dõi quý tộc Âu Lạc.

Dựa vào tên Âu Lạc trong thư tịch trên để kết luận nước Âu Lạc còn tồn tại dưới thời Nam Việt thì quá chủ quan. Trong 2 thông tin đầu Triệu Đà nói về nước “Tây Âu Lạc”, không phải Âu Lạc. Đất Âu Lạc ở miền Bắc Việt ngày nay nằm ở phía Nam, chứ không nằm ở phía Tây của nước Nam Việt. Tây Âu là chỉ một khu vực khác, là vùng đất giữa Vân Nam và Quảng Tây. Thủ lĩnh của Tây Âu là Dịch Hu Tống đã bị nhà Tần giết từ thế kỷ III TCN. Khu vực này có thể đã “tái xưng vương” khi Tần Thủy Hoàng mất, thiên hạ đại loạn, các nước chư hầu cũ đều tự xưng vương.

Còn 2 thông tin sau thì lại càng mù mờ vì chỉ nói đến dân Âu Lạc và tướng của Âu Lạc xưa. Âu Lạc ở đây chỉ một vùng đất, không phải là một nước riêng, vì không có thủ lĩnh Âu Lạc. Đến năm 110 TCN, nước Âu Lạc của An Dương Vương đã bị diệt hơn 100 năm rồi. Làm sao còn tướng tá nào của nước Âu Lạc sống đến lúc đó nữa?

Vậy những “quý tộc” Âu Lạc nào còn tồn tại trong suốt thế kỷ II TCN ở nước Nam Việt? Sự thực thì chính các vua nhà Triệu là dòng dõi của Thục Vương nước Âu Lạc bởi nước Nam Việt vốn được khởi dựng từ vùng đất Âu Lạc vào cuối thời Tần. Điều này đặc biệt được nêu rõ trong tộc phả họ Lê ở Hạ Mạo (Thị xã Phú Thọ), cho biết Triệu Văn Vương có cha là con thứ của Hùng Vương thứ 17, mẹ là con gái của Đông Chu Quân.

Thần tích Hạ Mạo và Mạo Phổ tóm tắt như sau: Hùng Vương thứ 17 (Hùng Nghị Vương) có một người con gọi là Chàng Ánh. Chàng Ánh lấy vợ là con gái của Đông Chu Quân. Một hôm người vợ nằm mơ thấy có chim phượng hoàng ngậm chiếc bút ngọc đến trao trong tiếng sấm. Từ đó bà có mang, sinh ra những người con đặt tên là Bút Lôi Mao.

Khi Tần đánh chiếm nước Âu Lạc, Chàng Ánh đã chống lại và tách lập một nước riêng ở Quảng Tây (Việt Tây), gọi là Hậu Hùng Vương, được ban tính danh họ Lê. Các con của Hậu Hùng Vương tiếp đó đã tham gia của khởi nghĩa chống Tần cùng với Triệu Đà. Khi nhà Tần bị diệt, người con Út có công nhất được phong làm Vương cai quản vùng đất Việt, lấy tên là Út Ngọ Lôi Mao Đại vương. Chàng Út lấy con gái của Triệu Đà làm hoàng hậu. Từ đó Nam Việt gọi là nhà Triệu.

Sự tích chim phượng ngậm ngọc bay đến trong tiếng sấm và tên của vị vua Út Ngọ Lôi Mao là lời giải thích cho hình tượng hình người đội lông chim, thậm chí là hình người hóa lông chim, là đặc trưng thường gặp trên các đồ đồng Đông Sơn như trống đồng, thạp đồng, rìu đồng… Hình lông chim này là Lôi Mao, hay lông sấm của loài chim phượng, chỉ dòng tiên theo mẹ Âu Cơ, nói lên quan hệ trực tiếp giữa triều đại nước Nam Việt với dòng Âu Lạc.

Hình người đội lông chim cách điệu trên trống đồng Sao Vàng.

Đôi câu đối ở đình Hạ Mạo, khẳng định sự tích về 5 đời họ Lê nối nhau làm vua ở vùng đất Quảng Tây:

雄 貉 紀 傳 來 滅 蜀 平 吳 明 在 史

粵 西 相 遜 後 龍 祥 山 壯 莫 成 莊

Hùng Lạc kỷ truyền lai, diệt Thục bình Ngô minh tại sử

Việt Tây tương tốn hậu, long tường sơn tráng mạc thành trang.

Dịch nghĩa

Hùng Lạc ký truyền lại, diệt Thục bình Ngô rạng ở sử

Việt Tây cùng nhường sau, điềm rồng thế núi bãi thành trang.

Tới thời Hiếu Vũ Đế, Lộ Bác Đức dẫn quân diệt kinh đô Nam Việt ở Phiên Ngung. Các quý tộc Nam Việt (tức họ Lê) lên thuyền trở về vùng quê cha đất tổ ở Phong Châu, từ đó có sự phản kháng của Tây Vu Vương chống lại Tây Hán, đóng đô ở Cổ Loa, vốn là tòa thành quân sự xây dựng quy mô từ thời Tần và thời Triệu Đà. Quân Tây Hán tiếp tục đánh Bắc Việt. Hậu quân của Nam Việt phải ẩn lên vùng rừng núi Tây Bắc và Thanh Nghệ, trở thành tiền thân của Nam Chiếu Mạnh Hoạch ở thời kỳ tiếp theo. Đây là lý do vì sao các vùng Tây Bắc và Thanh Nghệ lại phát hiện khá nhiều đồ đồng Đông Sơn giai đoạn muộn, là sự nối tiếp Nam Việt – Nam Chiếu trong giai đoạn này.

Tổng hợp thông tin từ các nguồn thần tích và di tích khác nhau có thể xác định những nhân vật và sự kiện lịch sử chính xảy ra trên đất Việt vào cuối thế kỷ III TCN – thế kỷ II TCN như sơ đồ sau.

Triệu Vũ bản kỷ

Tượng Triệu Vũ Đế ở đình Xuân Quan.

Năm 257 TCN Tần Vương phát động 50 vạn quân đánh chiếm đất Lục Lương của An Dương Vương, lập làm ba quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng Quận. Tượng Quận là vùng đất Vân Nam, hay vùng đất Tây Âu, nơi Tần đã giết được quân trưởng của Tây Âu là Dịch Hu Tống. Nam Hải là vùng đất của Thục An Dương Vương đời cuối ở miền Bắc Việt ngày nay. An Dương Vương thất cơ, cầm sừng văn tê bảy tấc mà đi ra biển theo thần Kim Quy, sau được các nơi tôn thờ là Nam Hải Đại Vương.

Chiếm được vùng đất căn cơ cố tổ của họ Hùng, tới thời Tần Thủy Hoàng, phò mã hiệu úy Lý Thân được cử trấn giữ quận Nam Hải, tiếp tục mở rộng thành Cổ Loa, tòa thành có từ thời Thục Vương, thành một công trình đồ sộ quy mô lớn nhất vùng Đông Nam Á. Thủy Hoàng còn cho mở một con đường từ kinh đô nhà Tần thông ra biển Nam Hải, tức biển Đông ngày nay và vài lần theo con đường đó Đông du ra biển, nêu dương công đức của nhà Tần.

Thủy Hoàng cử đạo sĩ người nước Yên là Lư Sinh vượt biển Nam Hải đi tìm thuốc trường sinh. Yên Lư Sinh hẹn gặp Thủy Hoàng ở đình Phụ Hương bên bờ biển, rồi không từ mà giã, lên ngọn núi Yên Tử hóa tiên không trở lại. Vị Nam Hải Thiên Tuế Ông này chỉ còn lưu lại trên đỉnh Yên Tử mờ sương một tảng đá có hình người.

Những cuộc Đông du của đại đế Tần Thủy Hoàng và công trình thiên niên kỷ thành Cổ Loa đã tiêu tốn hàng triệu sức lao động của nhân dân. Để đáp ứng được nhu cầu này nhà Tần cho cho bắt tất cả các thanh niên đến tuổi đều phải đi dân phu, ai không tuân theo sẽ bị xử theo pháp luật nhà Tần, tức là chỉ có con đường chết.

Các quận phía Nam nhà Tần và các địa danh khởi nghĩa của Triệu Vũ Đế.

Phò mã Lý Ông Trọng mất, vị quận thủ thay thế ở đất Nam Hải là Nhâm Ngao. Trong khi đó, vùng Chân Định hay Long Xuyên xưa được giao cho một viên quan lệnh là Triệu Đà. Triệu Đà từng nhìn thấy Tần Thủy Hoàng đi tuần du ven biển Đông và rất ngưỡng mộ một đại trượng phu như vậy.

Là một viên quan lệnh địa phương, Triệu Đà có trách nhiệm bắt các dân phu phục vụ công trình xây dựng ở Cổ Loa cũng như cho các chuyến đi của Tần Thủy Hoàng. Một lần khi áp giải dân phu, dọc đường dân phu bỏ trốn nhiều, lại gặp trời mưa nên đoàn người bị lạc đường. Triệu Đà biết theo luật nhà Tần nếu đưa dân phu đến muộn và thiếu chắc chắn người đầu tiên bị xử tội chính là vị quan áp giải, nên khi đến vùng đầm nước Dạ Trạch, Triệu Đà cho thả hết dân phu rồi dẫn nhau lên núi ẩn náu, trốn tránh sự truy sát của nhà Tần.

Toàn bộ đám dân phu tử tội tôn người tuấn kiệt là Triệu Đà lên làm thủ lĩnh, bắt đầu cuộc “khởi nghĩa” kháng Tần. Quân khởi nghĩa ngày thì ẩn náu trong đầm lầy hay rừng rú, đêm thì ra cướp bóc, vì tất nhiên, không cướp bóc thì lấy gì mà ăn. Quân Tần gặp phải chiến tranh du kích của người Việt do vậy thường xuyên bị quấy phá, không cách nào dẹp được. Thế lực của Triệu Đà ngày càng lớn, hình thành nhiều vùng căn cứ khác nhau.

Trong quá trình khởi nghĩa ban đầu, tương truyền rằng Triệu Đà đã thấy rồng vàng bay lên bên bờ sông Hồng mà lập đồn quân ở Long Hưng (Xuân Quan), cạnh đầm Dạ Trạch. Cũng truyền thuyết Việt kể Triệu Việt Vương khi ở đầm Dạ Trạch đã được một thần nhân cho một chiếc móng rồng để làm mũ đâu mâu, đánh đâu thắng đó.

Con Rồng đá ở núi Vũ Ninh.

Triệu Đà là người quê gốc ở đất Phong Châu, đất tổ Hùng Vương, làm quan ở huyện Chân Định, tức vùng Thái Bình – Nam Định ngày nay. Tại đây ông đã kết duyên với bà Trình Thị Lan Nương, con gái một gia đình khá giả ở trong vùng. Trước đó, ông còn có quan hệ tình cảm với một vị gọi là Quận Phu nhân, cho sống cùng với con trai là Thạch công ở xã Luật Ngoại, đất Chân Định xưa (nay là huyện Kiến Xương, Thái Bình).

Khi Triệu Đà bất đắc dĩ cầm đầu dân phu khởi nghĩa ở đầm Dạ Trạch, 2 vị phu nhân tích cực tham gia tích trữ lương thực, chiêu mộ dân binh, trở thành 2 căn cứ kháng chiến phục vụ cho quân khởi nghĩa. Cứ như vậy trong vòng mười năm.

Khi Tần Thủy Hoàng mất, loạn lạc các nơi nổi lên. Ở vùng nước Sở tại Hồ Nam có nhà họ Hạng, dòng dõi vương tôn quý tộc Sở khởi nghĩa. Ở vùng Quế Lâm và Phiên Ngung, lúc này có họ Lê, là một hậu duệ Hùng Vương, tức là dòng dõi Thục An Dương Vương chiếm giữ. Thế cục thiên hạ uy hiếp trực tiếp đến vùng đất Nam Hải, nên buộc vị quận thủ Nam Hải lúc này là Nhâm Ngao phải tính kế tìm cách tự bảo vệ mình.

Nhâm Ngao bèn phải giảng hòa với quân khởi nghĩa của Triệu Đà, mà lúc này đã lan rộng với các căn cứ từ Thái Bình (Chân Định), Dạ Trạch (Khoái Châu, Hưng Yên) và núi Vũ Ninh (Quế Võ, Bắc Ninh). Triệu Đà nhân lúc Nhâm Ngao thất thế đã chiếm luôn quận Nam Hải mà tự xưng là Chúa công, mà sau được các thần tích và sắc phong ở Thái Bình gọi là Nam Hải Đại vương.

Từ bàn đạp là quận Nam Hải, quân Triệu đã tích cực chuẩn bị cho cuộc tranh hùng thiên hạ, mở lò rèn, đúc nên hàng vạn mũi tên đồng trong thành Cổ Loa, với lẫy nỏ đồng được cải tiến, có sức mạnh vượt trội, cùng với hàng loạt những rìu hình “lưỡi cày” cất trong trống đồng Cổ Loa.

Vũ khí hình lưỡi cày ở Cổ Loa.

Từ Nam Hải Triệu Đà đã hợp quân với Sở tấn công Ung Châu, thủ phủ của quận Quế Lâm. Con trai của thừa tướng Tần Lý Tư là Lý Do trấn thủ tại Ung Châu đã thất thủ, tử trận trong trận này.

Có thể, trong việc chiếm Quế Lâm còn có sự tham gia của đội quân Hậu Hùng Vương họ Lê là Chàng Út Ngọ Lôi Mao, nên sau đó họ Lê được phong đất tại Quảng Tây và lấy con gái của Triệu Đà. Đội quân họ Lê này sau đó tiếp tục tấn công chiếm được vùng Quảng Đông, chuyển về lập căn cứ ở Phiên Ngung.

Quân khởi nghĩa kháng Tần chia làm 2 hướng tấn công vào Tần đô. Quân Sở đi theo hướng Bắc, gặp nhiều khó khăn vì phải đương đầu với quân chủ lực của nhà Tần do đại tướng Chương Hàm chỉ huy. Quân của Triệu Đà vòng theo hướng Nam, dễ dàng lấy lại được vùng Tượng quận xưa của Tây Âu, rồi tấn công vào đất Ba Thục.

Năm 206 TCN, sử ghi nhà Tần sụp đổ, Triệu Đà giết các trưởng lại nhà Tần, lập tức chiếm Quế Lâm và Tượng Quận rồi xưng là Nam Việt Vương. Cái tên Triệu Việt Vương bắt đầu có từ đây.

Cuộc phân tranh thiên hạ giữa Sở và Triệu còn kéo dài trong nhiều năm. Đã có lúc quân Sở tấn công vào quê hương bản quán của quân Triệu là đất Nam Hải, được các thần tích Việt gọi là giặc Lương. Quân Triệu thiệt hại nặng nề trong trận này. Quận phu nhân và con trai Thạch công của Triệu Việt Vương tử trận trên sông Lịch Bài ở Kiến Xương. Trình phu nhân may mắn hơn, trốn thoát khỏi vòng vây để về hội ngộ với vua Triệu.

Cuối cùng thì thiên hạ được định đoạt về tay họ Triệu. Triệu Đà xưng là Hoàng đế, tức Triệu Vũ Đế, phong Trình Thị là Hoàng hậu. Vị con rể họ Lê ở Phiên Ngung thì được phong là Triệu Vương.

Khi Triệu Đà mất, rồi Trình Hoàng hậu nhiếp chính cũng không được lâu. Năm 190 TCN Trình Hoàng hậu qua đời. Triệu Vương ở Phiên Ngung bèn tự lập mình là Đế, dựng cờ tả đạo, đi xe hoàng ốc, sánh ngang với vua Hán. Ngôi mộ Triệu Mạt cùng với ấn Văn Đế hành tỷ tìm thấy ở Quảng Châu là minh chứng cho sự biệt tách Nam Bắc này.

Gương Tây Hán tìm thấy ở Bắc Việt.

Cuộc đời của Triệu Đà xuất thân là một thường dân áo vải đất Phong Châu, lưu lạc làm quan lệnh Chân Định, khởi nghĩa kháng Tần ở Dạ Trạch và Vũ Ninh, chiếm được quận đô Nam Hải là Cổ Loa, tiêu diệt các quan lại nhà Tần ở Quế Lâm, Tượng Quận, thuần phục được Tây Âu, Mân Việt, mà xưng Vũ Đế. Hành trình lang ba lang bang nhưng đã thống nhất, ổn định được thiên hạ sau nhà Tần, đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong sử Việt, chuyển từ thời phong kiến phân quyền cho các chư hầu sang phong kiến tập quyền trung ương thống nhất.

Câu đối về Triệu Vũ Đế ở đình Xuân Quan (Long Hưng điện):

Nhất chỉ dĩ vô Tần, vạn lý khai tiên Mân Lạc tuyệt

Lưỡng lập hà nan Hán, ức niên xương thủy đế vương cơ.

Dịch nghĩa:

Một lệnh dẹp không Tần, mở ra vạn dặm vời Mân Lạc

Hai ngôi sánh cùng Hán, nền móng muôn năm khởi đế vương.

Phủ việt của Nam Hải đại vương Triệu Vũ Hoàng đế ở đền Đồng Xâm.

Nam Hải Triệu Việt Vương ở Chân Định

Sự tích mẫu tử A Dung và Thạch thần hộ quốc ở 2 xã Luật Nội và Luật Ngoại của đất Chân Định xưa chứa đựng những thông tin hết sức kỳ lạ, tưởng chừng như vô lý về thời kỳ Triệu Việt Vương. Chuyện kể bắt đầu từ một vị lệnh doãn huyện Chân Định thời Triệu Đà là dòng dõi Hùng Vương, tức là ở quãng thời gian ít nhất là thế kỷ 3 trước Công nguyên. Thế nhưng, vợ và con của ông lại đánh giặc Lương cho Triệu Việt Vương. Nếu theo sử sách chính thống ngày nay Triệu Việt Vương hay Triệu Quang Phục ở vào quãng thế kỷ thứ 6 sau Công nguyên, tức cách thời Triệu Đà ít nhất là 800 năm. Vậy Triệu Việt Vương ở Chân Định là ai, làm vua vào thời kỳ nào trong sử Việt?

Đình Luật Nội

Thần tích làng Luật Nội, nơi thờ Thạch Thần Đại tướng quân, nay thuộc xã Quang Lịch, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình chép:

Hùng Tuệ, Lệnh doãn huyện Trực Định nhân chuyến thăm thú hạt huyện, ông tới xã Luật Nội và quyết định xây một dinh sở để Phu nhân Thánh mẫu dưỡng nhàn. Bấy giờ, ông đã 50 tuổi, Phu nhân tuổi cũng ngoài 40. Sau một đêm nằm mộng gặp thần nhân, Phu nhân có thai sinh ra một người con trai khôi ngô tuấn tú, mệnh danh là Thạch Công. Năm lên 16 tuổi thân cao sáu thước, sức khỏe trăm người không địch nổi. Tuệ Công làm sớ tâu lên Triệu Việt Vương. Vương cả mừng, phong cho thân mẫu là Bà A Phương Dung Trinh Thục Quận Phu nhân, tặng 10 hốt vàng, sắc chỉ cho về quê Luật Ngoại viết tên tự hiệu, hưởng lộc trăm năm.

Nước ta bị họa giặc Lương, vua trao cho Thạch Công chức Tổng đốc Kinh lược đốc lĩnh thủy bộ chư quân vụ, kiêm tri Tiết chế bình Lương tặc Đại thần quan Thạch thần Đại tướng quân. Trên đường ra trận, Tướng quân ghé về thăm mẹ, thân mẫu đã chiêu tập được gần 600 tráng đinh trong hạt. Không may trong một trận đánh không cân sức, mẫu tử phải nhảy xuống sông tự vẫn để bảo tồn danh tiết. Nghe tin Triệu Việt Vương vô cùng thương tiếc phong cho Thánh mẫu Phu nhân, Thánh tử Thạch thần Hộ quốc Đại vương. 

Còn thần tích Luật Ngoại, là nơi thờ Thánh mẫu (Luật giang linh từ) kể: Thục chúa nghe vua Duệ không có con trai nối dõi, mới dẫn quân mã đến đánh, một trận lấy được nước Nam. Đóng đô ở thành Cổ Loa, huyện Đông Ngạn, phủ Từ Sơn, đạo Kinh Bắc. Giữ nước cộng được 50 năm thì có người Chân Định Bắc quốc, họ Triệu tên là Đà, dẫn mười vạn hùng binh tiến thẳng đến nước Nam đánh Thục Vương. Qua ngoài 3 năm, tất cả 105 trận thì Thục Dương Vương mất. Khi ấy Triệu Đà lên ngôi Hoàng đế, đóng đô ở An Quảng. 

Người phát động hàng chục vạn quân diệt Thục Vương mang họ Triệu thì phải là Tần Vương, vì nhà Tần vốn mang họ Triệu từ tổ tiên là Tạo Phụ được phong đất ở Triệu Thành. “Triệu Đà” trong thần tích này là chỉ vua Tần. Câu chuyện ở Chân Định như vậy bắt đầu dưới thời nhà Tần.

Thần tích Luật Ngoại kể tiếp: Lại nói, khi đó nước ta truyền rằng ở động Nghĩa Lĩnh, tổng Xuân Lũng, huyện Sơn Vi, phủ Lâm Thao (nay là tại Cổ Tích) có một vị phụ đạo quan lang, là dòng dõi thủy thần trong trăm trứng của Hùng Vương, họ Hùng, tên là ông Tuệ, trấn ở đầu sông (tức nay là sông Đà và sông Nhị Hà), lấy người con gái của vị tiến quan miền núi, tên là nàng A Dung, có nhan sắc tuyệt thế, mặt như kính ngọc không chút bụi, miệng cười như hoa nở…

Lại nói, khi ấy ông Tuệ tinh thông võ nghệ, lại có thuật lạ tài kỳ. Lúc đó Triệu Việt Vương nghe tin ông Tuệ mạnh sánh trăm người, thân dài chín thước, sức có thể bát núi, thường lên rừng đuổi hổ, được nhân dân địa phương đều xưng là thiên tướng giáng trần. Ngay hôm đó Vua mới lệnh cho sứ thần đem chiếu đến triệu Ông vào kinh, hỏi xem tài lạ thuật kỳ. Khi đó ông Tuệ tuân chiếu theo sứ thần đến yết kiến Đế, làm lễ bái tạ, trình tấu văn võ thao lược, binh pháp Thái Công, không việc gì không biết, không vật gì không hiểu. Đế bèn phong làm quan doãn huyện Chân Định, phủ Kiến Xương, đạo Sơn Nam Hạ. Ngày hôm đó ông Tuệ liền đi nhận chức.  

Người làm quan huyện Chân Định thời Tần chính là Triệu Úy Đà như được chép trong Sử ký Tư Mã Thiên. Úy Đà được kể là người Chân Định, thời Tần làm quan huyện lệnh huyện Long Xuyên, sau thay Nhâm Ngao làm Nam Hải úy, khi Tần Thủy Hoàng mất đã giết các quan lại nhà Tần mà xưng là Nam Việt Vương. 

Các bài văn tế và sớ tấu của đình Luật Ngoại đều gọi vị Hùng Tuệ Công là “Nam Hải Đại vương“. Một nơi khác ở Kiến Xương thờ Hùng Tuệ Công là thôn Thượng xã Cao Mại (nay là xã Quang Hưng), cũng gọi ông là thần Nam Hải tạo lực.  Đồng thời, sắc phong ở đền Đồng Xâm (xã Hồng Thái, cùng huyện Kiến Xương) cho Triệu Vũ Hoàng Đế cho biết tên thờ của Triệu Vũ Đế là “Nam Hải Tôn ninh“. Người làm chủ Nam Hải vào cuối thời Tần thì rõ ràng là Triệu Vũ Đế.

Bái sớ của đình Luật Ngoại.
Một mảnh sắc phong của đền Đồng Xâm có ghi: Gia phong Triệu Vũ Hoàng Đế Nam Hải Tôn ninh.

Chuyện lạ là khi Bà A, vợ của Hùng Tuệ Công sinh được người con trai Thạch Công có tướng lạ, Triệu Việt Vương cho gọi đến xem, khen Thạch Công. Nhưng thay vì phong tước cho Thạch Công, Triệu Việt Vương lại sắc phong cho bà mẹ là Quận Phu nhân, còn cho vàng để về làm nơi hưởng lộc trăm năm. Điều này chỉ có thể hiểu nếu Triệu Việt Vương chính là chồng của Bà A, tức ông Hùng Tuệ. Tước vị Quận phu nhân chỉ ra rằng đây là một trong những bà vợ của vua, mang họ Quận.

Quận phu nhân được Tuệ Công cho lưu lại ở Luật Ngoại, “giúp người già, trợ nhà nghèo, đem tài sản mà chiêu kết khách khứa. Những nơi như cầu chính, đường lớn đều được sửa chữa, không nơi nào là không làm“. Hành động này thực chất là chuẩn bị cơ sở cho cuộc khởi nghĩa lâu dài của Tuệ Công. Bà A là một nữ tướng, chứ không phải chỉ là một vị phu thê sinh con đẻ cái bình thường. 

Trong thần tích Luật Ngoại, khi hai mẹ con Bà A và Thạch Công đánh giặc lại không hề thấy xuất hiện người cha Tuệ Công, vốn là người có hùng tài đại lược và là quan huyện của khu vực này. Thay vào đó chỉ thấy Triệu Việt Vương phát quân dẹp tan giặc Lương. Chỉ có thể hiểu là Tuệ Công sau khi để vợ và con ở đất Chân Định, gây dựng căn cứ tại đây, đã dẫn quân đi nơi khác, đánh chiếm các vùng đất của nhà Tần mà xưng Vương (Triệu Việt Vương). Điều này hoàn toàn trùng khớp với hành trạng của Triệu Úy Đà được kể trong Sử ký Tư Mã Thiên ở trên, từ việc dời huyện Long Xuyên đến Nam Hải làm quan rồi đánh dẹp nhà Tần.

Trong thời gian loạn lạc, khi Tuệ Công đang dẫn quân đi nơi khác, “giặc Lương” đã tiến đánh vùng căn cứ khởi nghĩa ban đầu của Triệu Việt Vương, nơi có Bà A và Thạch Công đang trấn giữ, dẫn tới việc cả 2 mẹ con đều cầm vũ khí, lên ngựa ra trận mà tử chiến bên sông Lịch Bài. 

Câu đối đình Luật Ngoại ca ngợi hình ảnh thánh mẫu cưỡi ngựa trắng, múa bảo kiếm diệt giặc rất đẹp: 

紅裙赴敵忠義最家兒戰壘時揮双宝劍

白馬朝天灵聲自終古怒濤猶咽大江流

Hồng quần phó địch, trung nghĩa tối gia nhi, chiến luỹ thì huy song bảo kiếm

Bạch mã triều thiên, linh thanh tự chung cổ, nộ đào do yết đại giang lưu.

Dịch nghĩa:

Hồng quần chống giặc, trung nghĩa thật nữ gia, chiến lũy còn rung hai kiếm báu

Ngựa trắng chầu trời, linh thiêng tự xưa nay, sóng giận bởi nghẹn dòng sông rộng.

Tuệ Công khi đã trở thành Triệu Việt Vương, bèn quay về dẹp tan giặc, nhưng vợ và con của vua đã tử tiết bên sông trên đất Chân Định.

Một điều nữa xác nhận vị trí của Quận Phu nhân là bà được truy phong là Quốc mẫu Vua Bà Đệ nhất Thiên Tiên. Chỉ có thể là vợ của một vị đế vương mới được nhận danh phong như vậy. Đình Luật Ngoại nay được xây dựng với 2 lầu gác cao ở 2 bên, đề Long lâu và Phượng các (Lầu rồng, Gác phượng). Chỉ có nơi thờ các bậc vương giả mới có thể dùng những chữ như vậy.

Qua thần tích và di tích thờ Bà A Thánh mẫu và Thạch Thần Đại tướng quân ở Kiến Xương có thể rút ra một số thông tin đặc biệt quan trọng về thời kỳ khởi nghĩa của Triệu Vũ Đế:

– Triệu Vũ Đế là dòng dõi họ Hùng, quê gốc ở vùng Phong Châu – Phú Thọ.

– Triệu Vũ Đế ở vùng Thái Bình được gọi là Triệu Việt Vương. Phân biệt với vị Triệu Quang Phục sau này, hy sinh ở cửa biển Đại Ác bên Nam Định. Rất có thể ở các nơi khác, nhất là vùng Long Biên hay Hưng Yên, tên gọi Triệu Việt Vương cũng là chỉ Triệu Vũ Đế.

– Vùng Chân Định (Thái Bình – Nam Định) xưa là khu vực ban đầu khởi nghĩa của Triệu Việt Vương – Triệu Vũ Đế. Sự tích Việt chép là vùng đầm Dạ Trạch. Khu vực này cách nay hơn 2000 năm đúng là một vùng đầm phá ven biển. Cái tên “Đầm” còn lưu ở ngay trong tên gọi địa phương Đồng Xâm hay Đường Thâm, đều là những từ phiên thiết của chữ Đầm.

– Người vợ ban đầu của Triệu Vũ Đế là Quận phu nhân, đã cùng chồng gây dựng căn cứ kháng chiến và tử trận cùng với người con trai trước khi ông thành nghiệp đế vương. Do đó bà không được gọi là Hoàng hậu, nhưng được tôn phong là Vua Bà.

Câu đối ở đình Luật Ngoại sánh Quốc mẫu Vua Bà A với Hai Bà Trưng:

浩氣塞滄渙節烈一門皇趙日

芳名傳國母頡頏千古二徵間

Hạo khí tắc thương hoàn, tiết liệt nhất môn Hoàng Triệu nhật

Phương danh truyền quốc mẫu, hiệt hàng thiên cổ Nhị Trưng gian.

Dịch nghĩa:

Chí lớn trùm sóng khơi, tiết liệt một nhà thời Vua Triệu

Danh thơm truyền quốc mẫu, vút bay ngàn thủa sánh Hai Trưng.

Bộ chấp kích trong đình Luật Ngoại thờ Quốc mẫu Vua Bà.
Đình Luật Ngoại với Lầu rồng Gác phượng.

Ngọc phả Bà A Thánh mẫu Phương Dung Quận Phu nhân

Thần tích xã Luật Ngoại, Quan Lịch, Kiến Xương, Thái Bình.

Chính bản ngọc phả về công thần của Việt Vương Bà A Phu nhân Trang Thục Công chúa và Thạch Thần Đại vương do Quận công tước bộ Lễ quốc triều phụng soạn (bộ thứ ba).

Xưa nước Việt ta xét trục Ly Khảm núi sông phân ngang theo sao Dực Chẩn, Bắc quốc ban đầu nằm thẳng hướng phân theo sao Đẩu Ngưu. Từ Kinh Dương Vương ngự trị Nam Bang, gặp bà Tiên Vụ Nương, ở tại thành Phong Châu (tức nay là sông Bạch Hạc, sông Nhị Hà). Vua dạy dân cày cấy, đào giếng làm ruộng, bốn phương an bình. Nước không có tục dối trá, dân được yên vui. Khi đó Đế sinh được Lạc Long Quân kế ngôi. Xã tắc trải qua 400 năm thì Đế truyền ngôi lại cho Hùng Quốc Vương, Hùng Hy Vương, Hùng Hoa Vương, Hùng Huy, Hùng Ninh Vương, Hùng Chiêu Vương, Hùng Uy Vương, Hùng Trinh Vương, Hùng Võ Vương, Hùng Việt Vương, Hùng Định Vương, Hùng Triêu Vương, Hùng Tạo Vương, Hùng Nghị Vương tới Hùng Duệ Vương.

Vua có đại lược hùng tài, tư chất thánh triết, trong sửa văn đức, ngoài phòng biên phương, dốc ý hưng bình để yên Trung Quốc. Khi Vua tuổi thọ đã cao, sinh được 20 hoàng tử và 6 công chúa đều theo nhau về tiên hương. Chỉ còn 2 con gái, tên là công chúa Tiên Dung, gả cho Chử Đồng Tử ở xã Đa Hòa, huyện Đông Yên, phủ Khoái Châu. Còn người thứ hai tên là công chúa Mị Nương Ngọc Dung được gả cho Tản Viên Sơn Thánh, quê ở động Lăng Sương, huyện Thanh Châu, phủ Gia Hưng, đạo Hưng Hóa. Khi đó, Thục chúa nghe vua Duệ không có con trai nối dõi, mới dẫn quân mã đến đánh, một trận lấy được nước Nam. Đóng đô ở thành Cổ Loa, huyện Đông Ngạn, phủ Từ Sơn, đạo Kinh Bắc. Giữ nước cộng được 50 năm thì có người Chân Định Bắc quốc, họ Triệu tên là Đà, dẫn mười vạn hùng binh tiến thẳng đến nước Nam đánh Thục Vương. Qua ngoài 3 năm, tất cả 105 trận thì Thục Dương Vương mất. Khi ấy Triệu Đà lên ngôi Hoàng đế, đóng đô ở An Quảng.

Lại nói, khi đó nước ta truyền rằng ở động Nghĩa Lĩnh, tổng Xuân Lũng, huyện Sơn Vi, phủ Lâm Thao (nay là tại Cổ Tích) có một vị phụ đạo quan lang, là dòng dõi thủy thần trong trăm trứng của Hùng Vương, họ Hùng, tên là ông Tuệ, trấn ở đầu sông (tức nay là sông Đà và sông Nhị Hà), lấy người con gái của vị tiến quan miền núi, tên là nàng A Dung, có nhan sắc tuyệt thế, mặt như kính ngọc không chút bụi, miệng cười như hoa nở. Tuổi quãng 18 mà có vẻ chim sa cá lặn, đúng là diện mạo nguyệt thẹn hoa nhường. Tứ đức không thiếu, tam tòng gìn giữ. Vợ chồng một nhà trung hậu, nối được nghiệp của một gia tộc có tiếng trên đời.

Lại nói, khi ấy ông Tuệ tinh thông võ nghệ, lại có thuật lạ tài kỳ. Lúc đó Triệu Việt Vương nghe tin ông Tuệ mạnh sánh trăm người, thân dài chín thước, sức có thể bát núi, thường lên rừng đuổi hổ, được nhân dân địa phương đều xưng là thiên tướng giáng trần. Ngay hôm đó Vua mới lệnh cho sứ thần đem chiếu đến triệu Ông vào kinh, hỏi xem tài lạ thuật kỳ. Khi đó ông Tuệ tuân chiếu theo sứ thần đến yết kiến Đế, làm lễ bái tạ, trình tấu văn võ thao lược, binh pháp Thái Công, không việc gì không biết, không vật gì không hiểu. Đế bèn phong làm quan doãn huyện Chân Định, phủ Kiến Xương, đạo Sơn Nam Hạ. Ngày hôm đó ông Tuệ liền đi nhận chức.

Qua hơn một năm, một hôm, ngày mồng 10 tháng 3 Ông quay về cùng với vài chục gia thần, đi xem phong cảnh, xem xét động tĩnh trong nhân dân. Lúc ông đến xã Luật Nội, nhân dân làm lễ bái hạ, thì mặt trời đã gác núi, trời đã sắp tối. Ông cùng quân sĩ lưu ở trong ấp. Đến sáng ngày Ông ra xem vùng đất này, trông thấy địa thế rồng uốn khúc khuỷu, nước chảy quanh co, trống chiêng la liệt, gò đống dẫn mạch, tất cả đều quay về chầu vào chính cục. Quan huyện thả phóng tầm mắt, bèn truyền nhân dân lập một cung sở ở tại nơi đất có thế cục quý. Được một tháng làm xong thì giao cho A Phu nhân ở đó mà giúp người già, trợ nhà nghèo, đem tài sản mà chiêu kết khách khứa. Những nơi như cầu chính, đường lớn đều được sửa chữa, không nơi nào là không làm.

Khi ấy vị quan tuổi đã ngoài năm mươi, phu nhân tuổi chưa đến bốn mười, nhưng lại chưa được trải lúc sinh con, vì thế thường không vui. Một hôm Ông mới than rằng:

  • Nhà ta vốn là dòng dõi đế vương, 122 năm trị nước Nam, tới như vợ chồng ta tự cố gắng không hề có mảy may làm ác. Thế mà vợ chồng ta lại chưa có người kế tự, sau khi trăm tuổi biết ai là người hương khói. Chi bằng ta hãy cố gắng tìm kiếm nơi đền thiêng mà cầu đảo, cầu khấn để có con trai nối dõi.

Nói xong lại nghe rằng đền Phù Đổng Thiên Vương ở thôn Phù Minh, xã Phù Đổng, tổng Tiên Du, huyện Tiên Du, phủ Từ Sơn, đạo Kinh Bắc, có ngôi đền rất linh ứng, cầu gì được ứng, xin nguyện sẽ được theo ý, nước khấn dân cầu có nhiều linh ứng. Hôm đó ngày mồng 9 tháng 4 mới soạn lễ chay đến thẳng nơi đền làm lễ tâu rằng:

  • Vợ chồng thần ở nơi trần thế chưa có con trai nối dõi.

Chúc xong thì ở lại trong đền để cầu mộng. Đến nửa đêm phu nhân nửa tỉnh nửa mê thấy trong đền sáng rạng, lại thấy có một người từ trên điện xuống, đứng trước điện nói rằng:

  • Vợ chồng các người đúng là chăm làm việc thiện nên thiên đình cảm được đức đó. Thượng đế trên thiên đình ban cho một vị nam tử tên là Thạch Thần Đại tướng quân đầu thai nhập vào phu nhân làm con trai. Hãy mau mau quay về lập một bức tượng đá ở nhà, ngày đêm thắp hương đèn mà cầu. Ta tất sẽ ứng cho. Chớ tiết lộ! Chớ tiết lộ! Hãy cẩn thận! Hãy cẩn thận!

Dứt lời bay lên không mà biến đi. Lại nghe trên không trung có tiếng nhạc nổi lên rất to, tiếng vang liên hồi bên tai, đột nhiên tỉnh lại, mới biết là nằm mơ. Lại làm lễ tạ rồi quay về nhà, làm một tượng đá, thắp hương cầu chúc.

Qua một tháng quả nhiên phu nhân có mang. Mang thai 11 tháng tới mùa xuân giờ Dần ngày 15 tháng Giêng thì sinh (năm Giáp Tý). Ở nơi sinh khi đó có khí lành bao phủ, hương thơm đầy nhà, khi sinh có tướng mạo đường đường, uy nghi lẫm liệt, mặt như mặt trời lúc sớm, sau lưng lại có dòng chữ: “Thạch Thần Đại tướng quân”, bụng to, rốn sâu, chân có 7 chòm lông màu đỏ, thực có tướng kỳ dị.

Cha mẹ đều yêu quý, nuôi dưỡng. Đến khi lên ba tuổi đã hiểu âm luật. Thân phụ mới đặt tên là Thạch Công. Rồi ngày qua tháng lại, xuân sinh hạ trưởng, khi Ông được 16 tuổi thân dài 6 thước, có dũng khí trăm người không địch. Khi ấy quan huyện thân phụ làm sớ tâu lên Hoàng đế Triệu Việt Vương. Đế nghe vậy bèn gọi ông Thạch đến nói chuyện, biết được tướng mạo đúng như sớ tấu. Đế chắp tay nói:

  • Trời vì ngôi báu của ta mà sinh ra vị hiền tài trợ giúp. Ta thật may mắn vậy.

Bèn gia phong thân mẫu là Bà A Phương Dung Trinh Thục Quận phu nhân. Ban cho 10 nén vàng cho về ở Luật Ngoại để khi trăm tuổi thờ phụng tên húy tự đúng như sắc chỉ. Không được di dịch.

Hôm đó mồng 5 tháng 5 Phu nhân tuân mệnh Đế trở về cung sở ở xã Luật Ngoại, mở tiệc khao tiếp phụ lão nhân dân. Ba ngày sau nói với phụ lão nhân dân rằng:

  • Dân chúng cùng với ta vốn là ơn sâu đức dày, đâu phải chuyện mới ngày một ngày hai. Nay ta có ba nén vàng đem cho phụ lão nhân dân để dựng một nơi đền dựa Mão hướng Dậu mà làm nơi phụng thờ ta, cứ tuân theo lời của ta, không được thay đổi.

Lại nói, khi đó đất nước có quân Lương vào cướp bóc của cải ở Cao Bằng, Tụ Long, châu Bảo Lạc tới 12 động châu trang trại của đạo Hưng Hóa, chiếm 4 phần 10 của thiên hạ. Các quan địa phương không thể chống cự. Hôm đó, quan địa phương mới dân sớ tấu lên Đế. Đế nghe vậy rất lo lắng việc này, mới triệu tập trăm quan văn võ tại chính sân rồng để nghị luận chống giặc. Trăm quan văn võ triều đình dương mắt nhìn nhau, bó tay không có kế sách nào khả thi. Thế là lúc đó ông Thạch tâu thẳng với Đế rằng:

  • Thần xin được thay thánh giá tự tìm các tướng tài, xin cho 12 vạn tinh binh, 100 con ngựa tốt, 1000 chiến thuyền thì giặc Lương có thể dẹp được. Không quá một tháng đầu tướng giặc sẽ treo dưới trướng.

Tâu xong, Đế rất vui mừng. Hôm đó ngày mồng 1 tháng 7 tuyển chọn được 8 vạn quân, 13 viên danh tướng, bèn gia phong ông Thạch là Tổng đốc kinh lược, đốc lĩnh các việc quân thuỷ bộ, kiêm là quan đại thần tiết chế bình giặc Lương Thạch Thần Đại tướng quân. Phong xong, Ông phụng lệnh Đế, dẫn quân mã tiến công.

Khi đó Ông tiện đường quay về đến Luật Ngoại bái tạ thân mẫu. Phu nhân bỗng nhiên nổi chí tang bồng, phấn khích lòng hồ thỉ, coi giặc Lương nhẹ như lông hồng. Hôm đó bà cùng con trai Thạch công lấy các nghĩa binh mạnh khỏe ở xã Luật Ngoại là 100 người, Luật Nội là hơn 200 người làm gia thần tay chân. Lại lấy 36 người ở Nam Đường Lũ Khu, 150 người ở xã Thân Thượng, 56 người ở 2 thôn Đông Đoài của Hương Nghĩa, 20 người ở Bạt Trung Ngoại, 80 người ở Cao Bạt làm gia tướng.

Hôm ấy chia quân làm hai đạo. Một đạo tiến thuyền theo đường Ái Châu. Lúc đó Quận phu nhân tay cầm song kiếm, cưỡi ngựa trắng. Thạch Công tay cầm đao sắt, cưỡi ngựa hồng, cùng tiến vào đồn giặc ở bến Hương Xá Đông Yên, phủ Khoái Châu, sau lại ở châu Tự Nhiên ra vào giao chiến với giặc Lương. Qua hơn 5 tháng, cộng 35 trận, chém 100 đầu danh tướng, thắng bại chưa phân.

Khi ấy, mẹ con mới thu quân mã trở về Chân Định. Quận phu nhân thiết lập một đồn dinh ở xã Luật Ngoại để kiên trì chống giặc. Hôm đó, Thạch Công cũng truyền nhân dân Luật Nội lập một đồn chống giặc. Trải qua một tháng, quân mã hy sinh quá nửa. Mẹ con biết khó thoát mới ngẩng mặt lên trời than rằng:

  • Trời hại ta, không phải mắc tội vì chiến đấu.

Mới thấy trời đất mờ tỏ, mưa to gió lớn, giữa ngày mà như đêm. Mẹ con chạy tới bến bãi sông Lịch Bài, thấy một cây gỗ lớn ở đó. Cây gỗ hổng nửa bên trong. Mẹ con nhập thẳng vào lỗ hổng. Được một khắc, nước lớn dâng cao, mẹ con cùng mất. Hôm đó ngày mất là ngày 15 tháng 8.

Lại nói, khi ấy có vị Đại úy Nguyễn Đạt thấy hai vị đã hóa bèn làm biểu tấu lên Đế. Đế mới dẫn ba quân chia binh làm ba đạo, đồng thời tiến đánh, phá tan tướng giặc, thế như chẻ tre, bẻ củi khô, truy bắt các tướng giặc như sấm nổ, sét giật. Các tướng cùng quân sĩ đều bị chết đuối. Sông không thể chảy. Đồ khí giới vứt như gò núi. Quân giặc đại loạn bỏ chạy. Đế bắt sống chủ tướng, một xe không quay được, một ngựa không còn. Cả vùng sạch bóng giặc.

Đế lại rất thương cảm Quận phu nhân cùng với con trai là Thạch Công, một nhà mẹ con đã tận trung. Hôm ấy xa giá đến nơi hóa bên sông, truyền cho phụ lão hào mục Luật Nội, Luật Ngoại ra bến sông kéo cây gỗ lớn, chia làm hai đoạn, lập thành hai bức tượng, dựng hai miếu để phụng thờ. Đế lại gia phong sắc chỉ:

  • Một vị Bà A Thánh mẫu Phương Dung Quận phu nhân (cho Luật Ngoại phụng thờ).
  • Một vị Thạch Thần Hộ quốc Đại vương (cho xã Luật Nội xã phụng thờ).

Lại nói, sau khi hai vị đại vương mất có nhiều anh linh, quốc đảo ân cầu rất hiển ứng nên các đời đế vương đều truy phong mỹ tự Thượng đẳng phúc thần, cùng hưởng với nước nhà, mãi theo cách thức đó vậy. Cho đến triều Lê, Thái tổ Cao Hoàng đế mệnh đại thần là quan Thái úy Nguyễn Kim dẫn quân đi thảo phạt các tướng Liễu Thăng, Mộc Thạch, Hoàng Phúc. Quân đi qua hai xã, thấy miếu thờ đại vương sáng rạng, hương khói không ngừng, mới chúc rằng:

  • Hai vị tôn thần xin âm linh bảo vệ quốc gia, bình thảo được giặc.

Chúc xong, bỗng thấy trên điện xuất hiện một nữ nhân, một nam nhân, tự xưng:

  • Một là Quận phu nhân Bà A phu nhân và một là Thạch Thần Đại vương, chính là những danh tướng của Việt Triệu Hoàng đế. Mẹ con trung thần có một không hai. Nay thấy nước nhà có cầu đảo, mẹ con bầy tôi xin theo quan tướng đi chinh phạt. Xin báo để quan tướng biết.

Đêm đó quan Nguyễn Thái úy khấu đầu bái tạ, rồi cử binh tiến thảo giặc ở thành Lạng Sơn. Liễu Thăng thua chạy, chạy thẳng về thành Lạng Sơn. Chém được chủ tướng cùng các quân sĩ. Hôm ấy quan Thái úy dẫn quân sĩ khải hoàn trở về, làm biểu tấu lên Đế. Đế nghe việc thần thiêng đã âm phù giúp nước, dẹp yên giặc, bèn gia phong thêm mĩ tự ba chữ:

  • Gia phong Vua Bà A Phương Dung Trinh Thục Phu nhân.
  • Gia phong Thạch Thần Linh ứng Hộ quốc Tế thế Đại vương

(chuẩn cho hai xã Nội Ngoại cùng phụng thờ)

Phong sắc các lệ của hai vị đại vương:

  • Chính lệ ngày 15 tháng 10, lễ cúng tam sinh, rượu hoa cúc, ca hát ba ngày thì ngừng.
  • Cấm chữ húy là A, Thạch hai chữ nhất thiết cấm. Các màu vàng và trắng khi nhân dân làm lễ không được mặc, nhất thiết cấm.

Niên hiệu Hồng Phúc năm thứ nhất, tháng giữa đông ngày tốt, Hàn lâm viện Đông các đại học sĩ, bề tôi Nguyễn Bính phụng soạn.

Hoàng triều Vĩnh Hữu năm thứ năm mồng 1 tháng 10, Quản giám tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh Nguyễn Hiền phụng sao tuân theo đúng như bản chính trước đây.

Các kỳ sinh nhật của hai vị cứ theo như ngày tháng năm trong tích mà làm lễ, dùng lễ tam sinh, ca hát ba ngày thì dừng.

Trong ngày hóa việc ca hát nhất thiết cấm, chỉ tổ chức đánh cờ ba ngày thì dừng.

Sinh thời Triệu Việt Vương Thánh mẫu khâm phụng được phong mỹ tự là Bà A Phương Dung Trinh Thục Quận Phu nhân (Sau khi hoá phong Thánh mẫu Vua Bà A Quận phu nhân).

Thái tổ triều Lê gia phong Quốc mẫu Vua Bà A Phương Dung Trinh Thục Phu nhân Thượng đẳng phúc thần.

Nguyên bản ngọc phả ở miếu trước đây lưu giữ để phụng thờ, sau do biến loạn bị hỏng, nên mới dám tìm phụng sao bản chính của xã Luật Nội vào thời Việt Nam dân chủ cộng hoà, năm Nhâm Thìn tháng 5 ngày tốt.

Văn tế cầu phúc xuân thu

Cung duy!

Đại vương

Vụ tinh dục tú

Thái nhạc chung anh

Đức hoằng khôn tải

Công đại khiêm chinh.

Lịch giang kiếm kích ba trừng, nhất môn nghĩa liệt

Tượng lĩnh lâu đài nhật lệ, vạn cổ anh thanh.

Tư nhân xuân/thu tiết tứ thất đan thành. 

Phục duy giám cách

Tích dĩ hoà bình.

Cẩn cáo.