Huyền sử Việt so với Bách Việt triệu tổ cổ lục 

Những ghi chép của tộc phả họ Nguyễn tại tổng Xốm Bình Đà về thời kỳ dựng nước của dân tộc ta khi đọc lên nghe rất kỳ dị, hoàn toàn không giống với những nhân vật trong huyền sử Việt (Truyện Họ Hồng Bàng). Điều này đã dẫn đến không ít những tranh cãi về tính chân thực của dòng sử “độc” truyền này. Tuy nhiên, dưới ánh sáng của Sử thuyết Hùng Việt, những câu chuyện của Bách Việt triệu tổ cổ lục, rồi Cổ Lôi ngọc phả truyền thư, đều có thể được lý giải một cách ăn khớp, chính xác với cổ sử Việt.

Tóm tắt các nhân vật theo Bách Việt triệu tổ cổ lục ở tổng Xốm Bình Đà như sau:

Thời kỳ Cực Lạc chia thành 9 họ gọi là Cửu tộc. Thời này có hai vị thủ lĩnh là ông Tứ Tượng và bà Nữ Oa. Ông Tứ Tượng là người nghĩ ra 4 quẻ đơn (Thiếu âm, Thái âm, Thiếu dương, Thái dương), còn có tên là Phục Hy, Đế Hòa hay hy Hòa, Đế Thiên Đế Thích. Sau ông bỏ lên động Tây Thiên đi tu một thời gian với Phật hiệu là A di đà. Bà Nữ Oa còn được gọi là Địa Mẫu. Thời kỳ này còn gọi là Việt Thường.

Tiếp theo là thời Viêm Bang, từ 9 họ ban đầu chia thành 72 họ. Người đứng đầu là Đế Viêm, sau gọi là Thần Nông. Có Hiên Viên ở phương Bắc đến đánh. Hai vị Hữu Sào Toại Nhân giúp cho vua trẻ đánh giặc. Vị vua trẻ đó lên ngôi là vị Thần Nông cuối cùng tên Đế Khôi. Họ Thần Nông chuyển đến đất Tiên La ở vùng đồng bằng. Người đầu tiên là Đế Tiết đóng đô ở Tiên La. Đế Thừa là em, kế ngôi. Đế Thừa còn gọi là Sở Minh Công, đi chinh phục thêm các vùng đất mới.

Đế Thừa sinh ba người con trai là Nguyễn Minh Khiết, Nguyễn Nghi NhânNguyễn Long Cảnh. Nguyễn Minh Khiết, Nguyễn Nghi Nhân là 2 anh em sinh đôi, thời trẻ đi đánh cá ở hồ Dâm Đàm, cùng đem lòng yêu thương bà Đỗ Thị Ngoan, người ở Nghi Tàm,là con gái của vị chúa hồ họ Đỗ (Long Đỗ).

Ông Nguyễn Minh Khiết vì nghi ngờ bà Đỗ Thị Ngoan có tư tình với em trai nên bỏ vợ, đi lấy một bà khác ở Khương Đình, nên còn gọi là Thái Khương Công. Bà Đỗ Thị Ngoạn mắc oan, vào động Tiên Phi xuống tóc đi tu. Đời sau gọi là Hương Vân cái bồ tát, Sa bà giáo chủ, Đức Phật Thích ca, mở đầu đạo Sa Môn. Người Mường thì suy tôn bà là Sơn trại chúa Mường.

Ông Nguyễn Nghi Nhân bị nghi ngờ nên phẫn chí đi đến vùng hồ Động Đình, lập ra nước Sở. Đời sau gọi là Đế Nghi.

Ông Nguyễn Minh Khiết kế ngôi Đế Thừa gọi là Đế Minh, đóng ở Phong Châu. Ông Nguyễn Long Cảnh là vua nước Đại Lý nên còn gọi là Lý Long Cảnh, cũng gọi là Nguyễn Nỏ.

Nguyễn Quảng là con trai Đế Minh và bà Đỗ Thị Ngoan trưởng thành, ở vùng Tử Di sơn có giặc Ma Mạc nổi dậy. Nguyễn Quảng cùng với người chú thứ ba là Nguyễn Long Cảnh và 8 người cậu họ Đỗ (Đỗ Xương, Đỗ Triệu, Đỗ Hiệu, Đỗ Cường, Đỗ Chương, Đỗ Dũng, Đỗ Bích, Đỗ Trọng, còn gọi là Bát bộ Kim cương) cầm quân đi đánh giặc. Nguyễn Quảng ở hồ Động Đình gặp gỡ hẹn ước với bà Hồng Đăng Ngàn. Sau khi dẹp giặc xong, Nguyễn Quảng trở về cưới bà Hồng Đăng Ngàn, rồi ở lại cai quản vùng này. Đời sau gọi là Kinh Dương Vương Lộc Tục.

Đến khi Đế Minh qua đời 15 bộ trong nước họp lại, cử người đi đón Kinh Dương Vương trở về kế ngôi, đặt tên nước là Xích Quỷ. Khi về nước bà Hồng Đăng Ngàn cùng chồng mang theo nghề trồng dâu chăn tằm, dệt the lụa sồi đũi, sau được tôn là Bà chúa Lĩnh hay Xích Hậu. Kinh Dương Vương đẩy nhanh việc khai phá đồng bằng, ổn định đời sống nhân dân, đưa các cung cách ứng xử vào nề nếp, quy củ. Sau khi vua hóa được dân chúng suy tôn là Ngọc Hoàng Thượng đế.

Kinh Dương Vương sinh được 5 người con trai, trong đó 1 vị chẳng may lâm bệnh mất sớm. 4 vị còn lại là Nguyễn Nghiêm tự là Pháp Phong, Nguyễn Quyền tự là Pháp Vân, Nguyễn Lãm tự là Pháp Lôi, Nguyễn Huề tự là Pháp Điện (có chỗ ghi là Sùng Nghiêm, Sùng Quyền, Sùng Lãm, Sùng Huề)

Trong đó có người thứ tư là Nguyễn (Hùng) Lãm có nhiều tài trí nhất, sau kế ngôi là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy Âu Cơ, là cháu nội của Đế Nghi, con gái Đế Lai, khi cùng vua cha trở về thăm lại nước cũ. Đế Lai có tên là Nguyễn Như Lai. Bà Âu Cơ sau gọi là Mẫu Thoải.

Từ Lạc Long Quân kế đến thời 100 vua Hùng, 18 đời thống nhất được Bách Việt. Lạc Long Quân đổi tên nước là Văn Lang, chia nước là 15 bộ, chia dân thành trăm họ gọi Bách Việt. Con trưởng Hùng Lãm nối ngôi làm Hùng Quốc Vương. 50 vị được thờ là Thủy thần, lấy tên các con vật sinh sống dưới nước để chỉ, xưng là Vương. 50 vị được thờ là Sơn thần (tức lấy các con vật sinh sống trên cạn để chỉ), xưng là Quân.

Để giải thích được những thông tin trong Bách Việt triệu tổ cổ lục trước hết cần gạt bỏ đi sự “ám ảnh” bởi những cái tên, những danh xưng trong huyền sử. Cần nhìn nhận rằng sử Việt thời lập quốc không phải chỉ có 1 vị Kinh Dương Vương hay 1 vị Lạc Long Quân. Tất cả đây là những danh xưng, tên hiệu, nên hoàn toàn có thể là bố của Kinh Dương Vương cũng tên là Kinh Dương Vương, hay con của Lạc Long Quân cũng được gọi là Lạc Long Quân. Như thế thì cùng một tên gọi trong dòng sử ở tổng Xốm và trong huyền sử Việt không nhất thiết chỉ cùng 1 người, mà có thể chỉ những thế hệ nối tiếp nhau, mang đặc trưng của dòng tộc đó mà thôi.

Điều thứ hai cần phải gạt bỏ là việc gán những địa danh cổ sử vào những địa điểm “di tích” lăng mộ, núi sông, bến bãi… được kể tới, bởi vì những địa danh này thực chất cũng là những tên hiệu tượng trưng, chứ không hẳn là tên riêng. Với 2 cách hiểu như vậy mới có thể thoát khỏi “ma trận” của cổ sử do tiền nhân các đời, các dòng tộc trước đây dựng lên và lưu truyền.

Đầu tiên, hai vị thủ lĩnh thời “Cực Lạc”, tức là thời Thần thoại, được Bách Việt triệu tổ cổ lục nhắc đến là ông Tứ Tượng và bà Nữ Oa. Điều này cũng trùng với huyền sử Việt rằng Phục Hy và Nữ Oa là những người đã sáng tạo ra trời đất, được tôn là ông Đùng bà Đà hay Cha Trời Mẹ Đất.

Tiếp theo, sự kiện Đế Khôi, vị vua cuối của dòng Thần Nông đánh nhau với Hiên Viên, được Hữu Sào và Toại Nhân giúp đỡ, sẽ tương ứng với sự kiện trong huyền sử Việt là Đế Minh được bà Vụ Tiên (Tây Thiên) giúp đỡ đánh giặc lập quốc. Đế Minh là cháu 3 đời Viêm Đế Thần Nông, hay là vị Viêm Đế cuối cùng của họ Thần Nông.

Nối tiếp, Đế Khôi có 2 người con là anh em Đế Tiết và Đế Thừa. Điều này tương ứng trong huyền sử Việt là Đế Minh có 2 người con là Đế Nghi và Lộc Tục. 3 vị thủ lĩnh đầu tiên thời Viêm Bang được thờ tại đền Hùng Nghĩa Lĩnh với tên Đột Ngột Cao Sơn (Đế Minh), Viễn Sơn (Đế Nghi) và Ất Sơn (Lộc Tục). Thời kỳ này đóng đô ở Tiên – La, tức là cặp Nam – Bắc hay Hồng – Lạc, chỉ 2 vùng đất lập quốc thời Tam Sơn Hùng Vương Thánh Tổ.

Đế Thừa có tên là Sở Minh Công. Chữ Sở – sủy – thủy cũng là nước – nác – Lạc, chỉ hướng Nam xưa (Bắc nay), nên tương ứng với Ất Sơn Lộc Tục (Lạc tộc), người làm vua phương Nam.

Đế Thừa có 3 người con là Nghi Nhân, Minh Khiết và Long Cảnh. Ông Minh Khiết lấy bà Đỗ Thị Ngoan, là con của cụ Long Đỗ ở hồ Dâm Đàm. Sau đó do mâu thuẫn với ông Nghi Nhân nên ông Minh Khiết đã phế bà Đỗ Thị Ngoan… 

Thần Long Đỗ thủy phủ hồ Dâm Đàm là vị thần chủ phương Đông, được gọi là Thủy phủ Phù Tang Cam Lâm Đại Đế, hay có chỗ là Phục Hy. Huyền sử Việt gọi vị này là Động Đình Đế Quân. Người con gái của Động Đình Đế Quân là Thần Long, Xích Lân Long Nữ, người đã lấy Kinh Dương Vương.

Như thế chuyện ông Minh Khiết ruồng bỏ bà Đỗ Thị Ngoan trong Bách Việt triệu tổ cổ lục tương ứng với chuyện Liễu Nghị và Xích Lân Long Nữ. Ông Minh Khiết do đó tương ứng với Liễu Nghị – Kinh Dương Vương trong huyền sử Việt. 

Kinh Dương Vương được thờ với tên Tản Viên Sơn Thánh. Do đó bộ ba Minh Khiết, Nghi Nhân và Long Cảnh tương đương với tam vị Tản Viên gồm Nguyễn Tuấn, Cao Sơn và Quý Minh. Nguyễn Tuấn là chính dòng từ Đế Minh của huyền sử Việt nên trong Bách Việt triệu tổ cổ lục gọi ông là Minh Khiết. Nghi Nhân (Đế Nghi) sau đó bỏ đi về phía Bắc (nước Sở), tương ứng là dòng lên núi của Đế Nghi – Đế Lai, tức là Cao Sơn. Còn Long Cảnh thì chỉ rõ đây là dòng xuống biển (thủy bộ) với biểu tượng là rồng (Long). Trong tam vị Tản Viên thì Quý Minh tương ứng là dòng xuống biển, được biết với tên Đông Hải Đại vương hay Lãng Nhạc Quý Minh.

Một dẫn chứng thú vị là chuyện ở tổng Xốm cho biết bức giá tượng hiện thờ ở đình Bình Đà là tranh tượng của Kinh Dương Vương. Trong khi đó đình nội Bình Đà được biết là thờ Lạc Long Quân. Đây là dẫn chứng cho thấy “Kinh Dương Vương” của Bách Việt triệu tổ cổ lục là Lạc Long Quân trong Truyện họ Hồng Bàng.

Chuyện ở tổng Xốm kể tiếp, người con của ông Minh Khiết và bà họ Đỗ là Lộc Tục Kinh Dương Vương, có tên Nguyễn Quảng, lấy vợ là Hồng Đăng Ngàn của bộ tộc Lộc Y. Bà Hồng Đăng Ngàn được gọi là Bà chúa Lĩnh. Như vậy bà Hồng Đăng Ngàn này không phải bà Xích Lân Long Nữ của Thủy phủ như trong huyền sử Việt. Ngược lại, người đã “lên núi” (Đăng Ngàn) thì phải là bà Âu Cơ trong huyền sử. Từ đó suy luận một cách hợp lý thì người được gọi là Kinh Dương Vương Nguyễn Quảng, con của ông Minh Khiết, sẽ tương ứng với Lạc Long Quân của huyền sử.

Nguyễn Quảng đã cùng với ông chú Lý Long Cảnh và 8 cậu dòng họ bên mẹ (họ Đỗ) đánh giặc Mạc Ma ở Tử Di Sơn. Đây là câu chuyện Long Quân cùng lục bộ Thủy phủ diệt con cáo chín đuôi ở hồ Tây. Cáo chín đuôi là giặc Hồ Di ở phía Tây nên gọi là Tử Di. 

Sự thật là Kinh Dương Vương khi chết muốn nhường lại ngôi cho dòng trưởng của Đế Nghi là Đế Lai, nhưng con của ông là Lạc Long Quân nhờ sự giúp đỡ của bên mẹ Thần Long Động Đình đã đánh đuổi Đế Lai cùng phe cánh chạy về phía Tây (Tây Di). Lạc Long Quân nhờ đó lên ngôi, làm chủ nước Xích Quỷ.

Kinh Dương Vương của tổng Xốm là Lạc Long Quân của huyền sử Việt. Lạc Long Quân của tổng Xốm như vậy sẽ là ai trong sử Việt? 

Lạc Long Quân này có tên là Lãm (Sùng Lãm). Vị Sùng Lãm được kể tới này không phải là Lạc Long Quân thời kỳ đầu trong sử Việt, mà là Lạc Long Quân của thời kỳ cuối, khi dòng Kinh triều (Lạc thị) chống lại sự xâm chiếm của giặc Thục từ dòng lên núi của Đế Lai. Trong sử Việt thì đây là sự kiện vua Thục đánh chiếm đất Lạc của họ Sùng dưới thời nhà Ân Thương. Sùng Lãm là Bắc Bá Hầu của nhà Ân, đã chống lại quân Thục (nhà Chu) đến từ Ai Lao (đất Âu).

Chuyện ở tổng Xốm kể Lạc Long Quân Sùng Lãm có 4 người anh em mang họ Hùng (Sùng), ứng với Tứ pháp Vân Vũ Lôi Điện. Chữ Sùng cũng có nghĩa là Cao, nên trong tín ngưỡng Việt gọi đây là Cao Sơn. Đây là vị Cao Sơn hậu duệ của Cao Sơn lên núi thời Tản Viên Sơn Thánh. Cũng là đánh Thục nhưng ở một thời điểm cuối của Kinh triều Lạc thị.

Từ Kinh Dương Vương Việt tộc chia thành 2 nhánh lên rừng, xuống biển. Nhánh lên rừng được gọi là các Sơn thần, theo dòng của Nghi Nhân, Đế Lai, Âu Cơ, Cao Sơn. Nhánh xuống biển được gọi là các Thủy thần, theo dòng của Long Cảnh, Long Đỗ, Lạc Long, Quý Minh. Bách Việt triệu tổ cổ lục có thể coi là sử chép theo dòng xuống biến, lấy Lạc Long Quân làm tổ. Còn Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả là sử chép theo dòng lên núi, lấy người con trưởng theo mẹ làm tổ. Hai nhánh sơn thủy này tới thời Hùng Quốc Vương thì thống nhất mà phân thành trăm nơi đầu non góc biển mà trấn trị, cùng nhau tương trợ, lập nên thiên hạ Bách Việt trăm nước, dân có trăm họ, nước có trăm quan, phong cho trăm thần. Hùng Vương là thủy tổ của Bách Việt vậy.

Việt Thường Thị Lạc Long Quân sinh nhất bào bách noãn ngũ thập thuỷ thần Hải Vân Long Vương

Thần tích dịch theo bản khai làng Đào Xá, tổng Phương Giao, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ, ký hiệu TTTS 14824

Ghi chép cổ về vị Hải Vân Long Vương, là bộ thứ 19 trong 50 vị thủy thần từ một bầu trăm trứng do Lạc Long Quân họ Việt Thường sinh ra

Chi Cấn, quản các sông Thao, sông Bạn, sông Đà

Xưa Hùng Vương Sơn Nguyên Thánh Tổ Nam Thiên Đại bảo Tiền Hoàng Đế gây dựng cơ đồ, là thủy tổ Việt Nam, khai sáng họ Hùng cổ Việt Thường, 18 đời thánh vương ngự trị trời Nam, mở nước Việt cơ đồ họ Hùng. Nước biếc một dòng khởi vận thánh đế, minh vương. Núi xanh vạn dặm dựng nền cung điện đô thành. Mở vật giúp người, thống trị 15 bộ, thế lớn mạnh phục các phiên bang. Nối tiếp ngôi báu Viêm Hồng mà làm vua trị nước hơn 3 ngàn năm, mãi giữ cho dòng dõi vững như bàn đá. Hiển ứng linh thiêng ở Nghĩa Lĩnh. Truyền trăm đời đế vương nước Nam. Thánh địa núi Hùng muôn năm còn ngự. Đất tổ trời Nam là gốc nước mãi bền muôn năm, vạn đời mãi mãi. Lập nên các lăng, điện, miếu, cung. Con cháu dòng dõi hoàng gia phân chia ở các đầu non, góc biển, tại quận Giao Chỉ các xứ phủ, huyện, xã dân, châu, trang, động, sách, đầm, hồ, sông, suối, vực, khe, núi sông các nơi cùng hương lửa phụng thờ. Vạn thế tích cũ lưu truyền. Người đời sau có thơ khen rằng:

Nam thiên triệu khởi tự Hùng đồ
Thánh tử thần tôn mãn quốc đô
Bách tử thiên tôn thiên hạ hữu
Nhất bào bách noãn thế gian vô
Nhị thiên dư tải sơn hà tại
Thập bát tương truyền nhật nguyệt phô
Kim cổ danh truyền Nam Bắc cộng
Nam thiên đế tổ thử Hùng đồ.

Dịch là:

Họ Hùng cơ nghiệp dựng trời Nam
Khắp chốn là dòng dõi thánh thần
Trăm trai ngàn cháu trong thiên hạ
Trăm trứng một bầu hiếm thế gian
Hai ngàn năm lẻ núi sông đó
Mười tám đời truyền với tháng năm
Xưa nay danh vọng Nam cùng Bắc
Họ Hùng chính đế tổ trời Nam.

Chi Cấn, bộ thủy thần

Lại nói, triều Kinh đời thứ hai là thời vua Lạc Long Quân ngự trị (Lạc Long Quân húy là Sùng Lãm. Mẹ là con gái của vua Thủy đình tên là Thần Long. Ngài là con trai trưởng của Kinh Dương Vương, ở ngôi 269 năm, sống lâu 506 tuổi). Vua ra ngự núi Nghĩa Lĩnh, ở tại thành Phong Châu (thành Phong Châu tức là đất Việt Trì, sông Bạch Hạc vậy). Có người con gái vua Đế Lai tên là Âu Cơ, về ở quê mẹ tại động Lăng Sương, thường ra chơi bãi Trường Sa. Long Quân đi ngự chơi, trông thấy hình dung đẹp đẽ, yêu lắm, lấy làm Hoàng phi.

Vua có tư chất phi thường, khí tượng ung dung, đức nhân quảng đại. Thiên hạ đều khen là vua hiền, nên đổi hiệu là Hùng Hiền Vương.

Bà Âu Cơ có mang 3 năm 30 ngày. Khi sắp sinh ở trên núi Nghĩa Lĩnh có mây lành năm sắc rực rỡ. Đến khi sinh được một bầu trăm trứng, nở ra trăm người con trai, đều là tư chất khác thường, anh hùng vượt đời. Đến khi lớn lên vua bèn lập hầu phong đất, chia nước thành 15 bộ (1. Sơn Tây; 2. Sơn Nam; 3. Hải Dương; 4. Kinh Bắc; 5. Ái Châu; 6. Hoan Châu; 7. Bố Chính; 8. Ô Châu; 9. Ai Lao; 10. Hưng Hóa; 11. Tuyên Quang; 12. Cao Bằng; 13. Lạng Sơn; 14. Quảng Tây; 15. Quảng Đông).

Khi đó Long Quân bảo bà Âu Cơ rằng:

–       Ta là rồng, mà phu nhân là tiên, loài giống khác nhau nên phải chia biệt.

50 người theo cha về biển làm Thủy tinh. 50 con theo mẹ lên núi làm Sơn tinh. Các vương trấn giữ rõ ràng ở các sông núi, đều là thần thuộc.

Vua bèn đặt tướng là “lạc tướng”, con trai vua là “quan lang”, con gái vua là “mị nương”, quan phụ trách là “bồ chính”. Đang khi đó trên nhân luân chính trực, dưới giáo hóa sâu dày, bắt đầu thực hiện những điều tuyên bố này. Vua được rủ áo chắp tay, rờ rỡ chín tầng. Dân được đào giếng cày ruộng, vui vẻ bốn phương. Không có ai sống mà không yên lòng. Không có vật nào yếu mà không được nuôi dưỡng. Việc trị định thành công, vượt hơn đời vua trước. Phong tục thời thái cổ cũng không sánh bằng. Trị nước lâu dài, đời đời cha truyền con nối, đều xưng hiệu là Hùng Vương. Ngọc lụa, xe sách, núi sông một dải, là thủy tổ của Bách Việt vậy.

Vua Hiền Vương ở ngôi 400 năm, rồi theo cha về biển, hóa sinh bất diệt làm Động Đình Thủy Tiên Long Quân Đế chủ. Con là Hùng Quốc Vương (Quốc Vương húy Lân ở ngôi 221 năm, sống 767 tuổi, sinh năm Canh Ngọ ngày 5 tháng 5 giờ Ngọ. Trăm vương cũng cùng sinh năm Canh Ngọ do sinh một bầu trăm trứng. Trăm con trai phân thành trăm vương. Quốc Vương là đầu trăm vương. Hiền Vương lập làm Hoàng thái tử để nối ngôi vị. Sau phân thành hai bộ. 50 người theo mẹ làm Sơn thần. 50 người theo cha làm Thủy quân. Quốc Vương ở ngôi cũng theo bộ bên cha, sau cũng về biển với cha làm Thủy Long Động Đình Quân. Vương hóa ngày 12 tháng 3), tuân nối cơ nghiệp. Quốc Vương bèn thực thi hóa đức, miễn giảm nông tang, quản dân không có lo lắng ưu tư, nước có của dự trữ dư giả, đất biển yên bình, người không dối trá, phong tục thuần phác đương khi được thấy. Hưng công nghiệp cai trị đời sau mà làm rạng rỡ nghiệp đời trước. Người đời đều khen là vua hiền.

Vua nghĩ tới việc các vị thánh trước đây cắt đất chia phong, bèn lập các hoàng đệ là Sơn tinh, Thủy tinh, cùng chia làm trăm nhánh, làm chủ cai trị các nơi để hưởng lộc, rồi lại đổi làm trăm họ, chia ra ở đầu non, góc biển, trấn giữ từng phương. Năm mươi vị trấn giữ các đầu núi đều gọi là Phiên thần Phụ đạo. Năm mươi vị trấn giữ các góc biển đều gọi là Thủy thượng Linh thần. Để tiện cho bảo hộ nhân dân, giữ gìn tông xã.

Thời khi Quốc Vương ngự trị, thiên hạ nhiều khi nước to ngập lụt. Nhân dân thường bị giặc nước xâm hại. Bởi vì Quốc Vương vốn là mệnh Thủy thần còn đang ngự trên trần thế nên nhiều khi nước lụt tiến đến Dương gian. Nhân dân rất khổ sở. Quốc Vương sai chia 50 vị hoàng đệ của Thủy bộ cho trị giữ các bờ sông, góc bể, quản lý các vùng đất đai, để chống đường nước xuyên vào các nơi có dân mà phá hại.

Lại nói, đạo Hưng Hóa, phủ Gia Hưng, phủ Yên Tây, cùng phủ Đà Giang, Văn Chấn, Trấn Yên, Yên Lập, Văn Bàn, Thủy Vĩ, Thanh Hậu, Thuận Châu, Bản Châu, Phù Việt Châu, Mai Châu, Lai Châu, Luân Châu, Quỳnh Nhai, Chiêu Tấn, Sùng Lăng, Khiêm Châu cùng huyện Bất Bạt, Phúc Lộc và các hướng chân núi trên đất liền là những nơi bị thủy quan xuyên phá làm khổ sở. Hoặc phá thông đường nước chảy vào nơi dân cư, dâng thẳng lên chân núi để lấy gỗ lạt. Hoặc xuyên đục các đầm khe vực sâu. Hoặc theo bắt nhân dân, phụ nữ. Khi đó ở các phủ, huyện, châu, trang, động, sách của xứ Hưng Hóa bị nước hại nặng nề. Vương bèn khiến hoàng đệ là quan Hải Công ngự trên các xứ miền Hưng Hóa, chủ giữ các đường nước đầu sông mặt đất.

Đức Hùng Hải Công (tức sau gọi là Hải Vân Long Vương Động Đình Thủy Đế) vâng mệnh Quốc Vương đến nhậm xứ Hưng Hóa. Khi Hải Công đến nơi, ngay hôm đó nhân dân các phủ, huyện, châu, trang, động, sách tề tựu tại đó làm lễ mừng. Đức Hải Công sai các gia thần đưa hịch cho các đầu sông cửa nguồn, những nơi nước xoáy vào nơi dân ở, mỗi nơi một tờ hịch buông xuống dòng nước. Ông truyền hịch xuống các dòng nước xong hết thì đến ba ngày sau các nơi nước lớn ngập trời đều vỡ thành khe ngòi, ra khỏi các vùng đất có dân cư mà chảy xuống các lòng khe. Từ ấy nước lụt được yên. Nhân dân không phải lo lắng hoạn nạn, mùa màng được bội thu, đều thực là do nhờ vào đức lớn của Hải Công vậy.

Đến mùa xuân tháng Giêng, hoa cỏ rợp đất, cảnh sắc núi sông đâu đâu cũng thấm gió xuân. Đức Hải Công cùng bà Trang Hoa Phu nhân (Trang Hoa Công chúa là người quê ở Mai Châu, là con gái quan Lạc hầu, nhan sắc đẹp đẽ, tính nết trong sạch, rất có hiếu đễ, thái độ hiền hòa. Ngài lấy về rất sủng ái, lập làm Đệ nhị phu nhân) xuống thuyền rồng theo dòng nước cùng mấy trăm gia thần chơi xem phong cảnh sông núi, thăm thú nhân dân và hình thế thủy văn. Nếu chỗ nào mà bị giặc nước băng phá, mạch đất khuyết lở, thì quan Hải Công lại sức nhân dân địa phương bồi đắp đê để trả lại mạch đất. Ngài đi từ sông Hán, sông Nhị, sông Lô, sông Thao đến Tuyên Quang, lại quay thuyền về Hưng Hóa, Thập Châu, Thanh Nguyên, Bạn Hà. Hễ đi đến nơi đâu có dân địa phương, thấy phong cảnh hữu tình, dân tục thuần hậu thì bèn lập hành cung ở đấy. Ngài lại cho dừng thuyền, đóng quân du chơi tại đó.

Khi ấy thuyền của Ngài đia ra khỏi sông Bạn, về đến đất trang Thọ Xuyên. Hôm đó (ngày 10 tháng Giêng) nhân dân địa phương lập hành cung bái mừng. Ngài thấy nơi ấy non xanh nước biếc, nước sông Bạn thâm sâu chảy bao bọc bốn bề, nơi trong dân ở rất đẹp. Quan Hải Công cùng bà phu nhân đỗ thuyền ở bãi Thọ Xuyên, lên ở hành cung dạo chơi quãng hơn 10 ngày. Một dải sông sâu ở đất đó giao long, cá, giải, rắn hoa hơn trăm bầy đều đến hội chầu ở nơi vực sông đó (tức là vực sông Thọ Xuyên), hướng theo nơi Ngài ở, khắp bốn bề dân cư. Khi đó nhân dân đều sợ hãi không dám ra đường. Nhân dân đều làm lễ kêu với Ngài. Ngài bảo dân rằng:

–       Ta là chức Thủy quan, quyền giữ Động Đình. Do vậy thủy binh đến hội chầu theo mệnh của ta. Dân các ngươi đừng sợ hãi. Đã có chủ giữ, các thủy binh không dám phạm đến dân các ngươi đâu.

Ngài nói với dân xong lại mắng thủy binh rằng:

–       Thủy quốc, nhân gian khác nhau. Các loài thủy tộc không được lộ hình cho nhân gian thấy, đó là trọng trách vậy.

Ngài mắng xong, bỗng nhiên thủy binh chìm cả xuống đáy nước tự yên. Nhân dân cả mừng, làm lễ xin được làm hộ nhi hương. Ngài bèn đồng ý. Sau dân dựng đền thờ (các triều đình sau phong làm Hiển ứng Hộ quốc Tế thế Đại vương. Trang Thọ Xuyên phụng thờ).

Một hôm thuyền của Ngài lại đến động Dị Nậu (Động Dị Nậu đó có một vị quan lang ở ấy, vốn là con Lạc Long Quân trong trăm trứng, thuộc về bộ Sơn thần, là ông Hùng Huệ Vương. Sau triều đình phong làm Cao Sơn Hiển ứng Tế thế Đại Vương, Dị Nậu phụng thờ). Hùng Huệ Vương ở đất đó (cũng là em ruột của Hải quan Long Vương, theo Sơn bộ). Ngài Hải Công đến chơi với ông Huệ Công, dừng thuyền ở bến đó (tức bãi Dị Nậu, cũng là trên dòng Bạn Hà xưa).

Đến nửa đêm hôm ấy Ngài cùng ông Huệ Công ngồi trong thuyền uống rượu nói chuyện. Bà Trang Hoa phu nhân nằm ở trong màn ở bên trái thuyền, mơ màng ngủ đi, mộng thấy lại đi lên đến cung Thọ Xuyên. Phu nhân lội qua giữa dòng nước, chợt thấy có con rồng vàng nổi trên mặt nước mà đi qua trước mặt. Lại thấy 3 con rồng nổi lên mặt nước mà đi nối theo sau. Bà phu nhân cũng nổi lên rẽ nước mà đi, thẳng đến nguồn xã Đào Xá. Phu nhân bỗng thấy có một phiến đá lớn ở giữa dòng nước. Phu nhân bèn lên ngồi trên phiến đá đó. Con rồng đi trước phu nhân cũng lên trên hòn đá, biến ra quan Hải Công, cùng ngồi với phu nhân.

Ba rồng con theo sau thẳng đến trước mặt mà chầu. Sau là giao long, rắn giải ngoài ngàn con đều chầu quanh nơi phiến đá. Phu nhân trông thấy sợ, hét lên một tiếng rất to rồi tỉnh dậy.

Quan Hải Công nghe thấy tiếng kêu đó, hỏi rằng:

–       Cái gì mà hét to thế?

Bà Trang Hoa phu nhân nói rằng thấy giấc mộng như thế. Ông Huệ Công theo đó đoán rằng:

–       Mộng của phu nhân và của Hải Công là điềm sinh quý tử. Vả lại anh trai quyền quản thủy bộ, chức chưởng Thủy đình, ấy là dòng Long Quân vậy. Nên mộng điềm rồng ấy quả là không sai. Xin chớ nghi hoặc.

Quan Hải Công nói rằng:

–       Đệ công nói phải vậy.

Hôm đó (tức là ngày 26 tháng Giêng) thuyền rồng của quan Hải Công đi đến xã Đào Xá. Ngài thấy địa thế hương dân có kiểu đất hay, long đình đới ấn, đáy nước chứa châu, bên tả có chim phượng lại chầu, bên hữu có voi rùa. Đằng sau có tinh phong dẫn mạch, đằng trước có đầm sâu nước lớn. Ngài truyền dựng hành cung ngự ở đầu rồng.

Ngay hôm đó (ngày 27 tháng Giêng) nhân dân làm lễ bái mừng. Đến nửa đêm hôm ấy Ngài nằm ở chính sở chợt ngủ, thấy trên trời có năm sắc mây, dưới vực nước cồn sóng rợn. Lại có ba con rồng theo mây thẳng xuống giữa vực, mờ ảo biến thành ba người, mũ rồng rực rỡ, áo gấm huy hoàng. Quân ngựa thầy tớ hàng trăm, ầm ầm rẽ nước từ đầm vực mà lên trước sân chỗ Ngài ngồi. Đầu tiên, một người hai tay bưng cái mâm ngọc. Trên mâm có ba con cá chép, đặt trước mặt đức Hải Công. Ngài hỏi rằng:

–       Các quan ở đâu lại và có lễ gì vậy?

Ba người thưa rằng:

–       Chúng tôi vâng lệnh Thiên Đế, là ba quan Thủy phủ, chức quản quyền Thủy phủ. Nay vâng mệnh Động Đình Long Quân Thủy Đế phân thuộc theo ngài để định nơi bổ nhậm. Xin vào đầu thai làm con ngài. Động Đình Thủy Đế lại còn giao cho một bài thơ, xin dâng để Ngài xem.

Đức Hải Công đón lấy bài thơ, mở ra xem, có tám câu thơ rằng:

Tam vị Long quan phó hứa quân
Trang Hoa kim nhật định nhâm thần
Thọ Xuyên, Đào Xá giai đồng mạch
Bạn thủy, Thao hà nhậm lưỡng tân.
Tri thủy thanh sơn cung Thủy phủ
Thâm uyên bác trạch bạn giang thần
Linh long đĩnh xuất phù ư thế
Nhất phó Tam Long nhậm Hải Vân.

Diễn âm:

Long quan ba vị phó cho ngài
Bà vợ ngày nay hẳn có thai
Trang Thọ, sách Đào cùng một mạch
Nguồn Thao, sông Bạn quản hai nơi
Rừng xanh nước biếc làm lầu điện
Vực cả đầm sâu ấy Thủy đài
Nảy giống rồng thiêng ra giúp nước
Ba rồng đưa lại mặc quan ngài.

Ngài đọc xong rồi tỉnh dậy, biết là mộng. Ngài nghĩ thầm, nhớ tới lời dạy của đức Lạc Long Quân đã báo thư, giao cho ba Long quan thuộc về ta, đầu thai vào làm con, ra trị đời giúp vận nước hưng thịnh, để phù giúp tông xã được lâu dài. Hôm đó (ngày 28 tháng Giêng) quan Hải Công truyền cho nhân dân mổ trâu bò mà lễ tế đức Tiên Hoàng (tức là Lạc Long Quân). Đang khi làm lễ bỗng thấy trên trời có đám mây mờ mịt, dưới sông cồn dồn, bốn hướng gió lớn nổi lên, một vùng mưa lớn ì ầm. Ngài đang lúc làm lễ thì bỗng thấy ba con cá chép nhảy vào thuyền rồng. Ngài bèn nói rằng:

–       Con ta cho ta thấy đúng như lễ trong mộng vậy.

Lễ xong rồi thì gió mây tan hết, trời yên đất lặng. Lại thấy giữa dòng nước trước hành cung có năm sắc mây nổi trước mặt nước. Ngài bèn chèo thuyền rồng ra đến nơi đó xem, thấy một phiến đá trắng lớn ở giữa dòng nước. Trên mặt đá có ba quả trứng để đấy. Nơi đó bốn phía của phiến đá giao long, rắn hoa đều chầu hội. Ngài cầm ba quả trứng đem đặt vào trong thuyền, mang về hành cung đưa cho bà Trang Hoa phu nhân. Ngài bảo bà Trang Hoa rằng:

–       Ấy là con ta đó.

Bà Trang Hoa giơ tay cầm lấy. Ba quả trứng tự nhiên lay động, quay múa trước thềm. Được một lúc ba quả trứng vỡ ra thành nước dãi thấm khắp vào mình bà Trang phu nhân, đều là mùi thơm sực nức. Bà phu nhân từ ấy có thai, trong lòng buồn bực, tinh thần chuyển động, nói năng thất thường, lại muốn có bà đồng múa hát, tính muốn hương hoa ăn chay. Bấy giờ thuyền rồng của quan Hải Công trở về trị sở ở Hưng Hóa. Đức Hải Công thấy bà phu nhân ngày càng thêm sợ hãi, ăn nói thất thường, lại thích bà đồng, hoa nương.

Thời bấy giờ thuộc phủ Gia Hưng đất Việt Trì có bà Quế Hoa, họ Trần, tên là Văn. Mẹ là Đinh Thị Viện. Bà Quế Hoa vốn là dòng bà đồng có phép diệu thông huyền, có tài hay thuật lạ. Khi đó quan Hải Công nghe tiếng, sai sứ thần mời bà đồng Quế Hoa lại chầu, ngày đêm múa hát. Bà phu nhân từ khi có bà Quế thì tinh thần mới được yên lặng, tính khí yên vui. Bà phu nhân cùng bà Quế rất là yêu mến, ngày thường ca múa, mỗi bữa đều không thiếu, tình tuy là thầy trò, mà xem bằng tình sâu như chị em.

Đến năm Đinh Sửu ngày mùng 1 tháng Giêng, Quốc Vương ngự tại điện Hương Lâu, mơ màng như mộng. Bỗng thấy một sứ nhân, mình mặc áo đen, tâu rằng:

–       Tôi vâng mệnh đức Lạc Long Quân Động Đình Thủy Đế, xin mời Quốc Vương lại hỏi chuyện.

Vương bèn theo quan sứ vào đế đài, thấy Long Quân ngự ở chính tòa cung Thủy tinh. Hai bên tả hữu trăm quan ngồi hầu. Tướng lân, Long hầu hàng ngàn. Kình binh, ngư giáp hàng trăm đội. Quốc Vương vào chầu trên điện ở bên đầu hàng tả hữu. Đức Lạc Long Quân phán rằng:

–          Nhà ta là một trăm con trai, Quốc Vương là đầu. Lại chia làm hai bộ. 50 về núi, chia trị các nơi. 50 là xuống nước chia trị các nguồn sông bể. Nhà ngươi tóm trị cả. Nay Dương đình riêng phó cho nhà ngươi trị vị. Nay hoàng đệ Hải Công là vị thứ 19, nhậm trị Thao, Đà hai sông ở Hưng Hóa. Nay ở Thủy đình ta lại khiến ba vị Long hầu đến để thay trị hai dải Thao, Đà, phân ở các vực cửa nguồn đầu sông cửa khe, để trấn giặc nước. Một là Đạt Linh Long, hai là Mãn Linh Long, ba là Uyên Linh Long. Nay Thủy đình đã định ngày mùng 3 tháng Giêng lên quản nhậm ở hai sông. Còn Hải Công cho rời đổi về nhậm cửa sông Nhị hà, xứ Hải Dương. Còn ba vị Long hầu thì sông Thao, sông Đà khe nguồn hai phái hợp nhau, đầm vực cùng thông. Một ở Thọ Xuyên, địa hình rồng bay phượng múa, thủy thế vực nguồn chín khúc, cho ba Long hầu cùng đóng làm nơi chính. Còn ven sông Ngọc Tháp cho Đệ Tam Uyên Linh một mình trị nhậm. Đào Xá có kiểu đất rồng thiêng dâng nước, chim phượng ngậm châu, vực lớn đầm sâu, chiêng trống cờ hình, Đà Thao hợp phái, nghịch thuận cùng giao, cho Đạt, Mãn Long quan cùng phó nhậm để trấn giặc nước xâm nhập, ngự làm chính sở.

Vua phán xong rồi ba quan bái tạ Long đình. Long Quân lại giao phó cho Quốc Vương. Lại cho thủy quân hơn một nghìn viên theo ba Long quan cùng Quốc Vương mà đi. Quốc Vương nhận mệnh giao phó của Tiên Hoàng (tức là Lạc Long Quân), khấu tạ trở về. Bỗng tỉnh dậy, biết đó là mộng. Quốc Vương mời hoàng đệ Hải Công lại phán rằng:

–       Ta có mộng lạ.

Vương kể lại đầy đủ sự mộng cho Hải Công biết. Hải Công tâu rằng:

–       Trước đây đã có điềm trứng, từ đó bà Trang Hoa có thai. Nay nhà vua lại cũng có mộng như thế. Việc đã rõ vậy.

Hải Công từ tạ nhà vua, trở xe về nơi trị sở Hưng Hóa. Đến ngày mồng ba thì thấy mây mưa tối tăm, sấm sét ì ầm. Thấy có một đám mây tản che trên nóc nhà chính. Bà phu nhân bỗng thấy trong lòng chuyển động, réo như tiếng sấm. Phu nhân tinh thần hoảng hốt, hồn phách mê man, mơ màng như mộng. Quan Hải Công mời bà đồng Quế Hoa lại bảo rằng:

–       Nay phu nhân đến cữ đầy tháng mà chưa thấy bà Quế Hoa đến. Vì vậy mời lại để hầu múa.

Bà Quế Hoa vào hầu múa được một lúc, chợt thấy hơn trăm con rắn từ ngoài sông Thao đi thẳng vào chỗ cung, nằm chầu hai bên trái phải của phu nhân. Quan Hải Công biết là thủy binh đã đến, bèn lập đàn cầu đảo trời đất, làm lễ đức Lạc Long Quân Thủy Đế. Xong rồi đến đêm hôm ấy bỗng thấy hai người tướng mạo đường đường, đi thẳng vào sân đình bảo Ngài rằng:

–       Vâng lệnh Thủy quốc báo trước cho Ngài biết, ngày mai là lúc sinh ba vị Long quan, nên kíp sắm ba chiếc thuyền rồng, thả xuống ở sông Thao, để ở giữa sông, dừng thuyền ở trên mặt nước mà đợi long quan sinh ra.

Nói xong ra cửa mà biến đi. Đến ngày hôm sau Ngài cứ theo lời giang sứ bảo, dong xe đưa bà phu nhân. Khi đó phu nhân nằm mê man, đặt phu nhân xuống thuyền. Bà đồng Quế Hoa cùng hoa nương chầu theo múa hát vài trăm người, bơi ra đến giữa sông Thao thì neo nối ba thuyền ở đấy. Giữa trời mây mưa tối tăm, mặt nước sóng rờn vạn nhận. Giao long, rắn giải, cá lại chầu bốn mặt hàng trăm vạn. Trong thuyền thấy réo o o như tiếng sấm lớn.

Bấy giờ Quốc Vương cùng Hải Công và các quần thần đều ngự thuyền rồng ở tại Tam Tản (tức Vĩnh Lại, xứ Tam Giang) mà xem. Đương lúc ấy chợt thấy dưới đáy sông có ba tiếng sét lớn chuyển động trời đất. Bà phu nhân sinh ra một bọc có ba trứng, nở ra ba con rắn. Đột nhiên biến nên to lớn, dài hơn mười lăm trượng. Mặt rồng mình rắn, vây vảy năm vẻ, mũ hoa sặc sỡ. Rồi xuống sông rẽ nước mà đi. Mây theo mưa ruỗi, gió thổi sấm vang. Đi theo hai bên có giao long, rắn giải, cá lớn ngoài trăm ngàn dặm, nổi đầy mặt nước, đi theo hai bên bờ sông.

Bà đồng Quế Hoa cùng các hoa nương hầu hạ hai bên múa hát. Thuyền rồng theo sau. Ba ông Thủy quan thẳng đến ngự Quốc Vương, cúi đầu làm lễ. Quốc Vương lấy trong mộng mà đặt tên ba ông:

1. Đạt Công Long Vương.
2. Mãn Công Long Vương.
3. Uyên Công Long Vương.

Quốc Vương đặt tên xong rồi khiến đình thần sắm mười chiếc thuyền rồng đưa theo sau. Ba ông chia đường cứ giữa dòng sông mà lên. Một ông Quý Công, tức Uyên Công Long Vương, thẳng đến bờ sông Ngọc Tháp. Khoảnh ấy nhân dân địa phương cửa nhà tối tăm, mây mưa mờ mịt. Người đều sợ hãi náu núp. Đình thần bèn lên bờ sông dựng cờ giương lọng, truyền cho nhân dân làm lễ mừng. Thủy quan nằm trên án. Rắn hoa chầu hai bên. Nhân dân khiếp sợ không dám ngửa trông. Được một lúc lại xuống vo vo mà đi, trở về Đào Xá hội với hai ông. Đình thần bèn khiến dân Ngọc Tháp lập chính cung thờ phụng ông Quý Công.

Lại nói, còn hai ông thẳng đến Thượng Nông. Các quân binh rồng, rắn, cá, giải xuyên mở một đường nước thẳng vào đầm Đào Xá. Ông Quý Công tiếp theo đến hội đầm Đào Xá chỗ bàn đá. Rắn hoa, cá, giải, giao long nổi lên mặt nước chầu xung quanh (tức đá thần trước đền Đào Xá). Bấy giờ trời đất tối tăm, mưa gió ì ầm. Đình thần truyền làm lễ bái tạ (tức ngày mùng 3 tháng Giêng), thiết lập cung ở đấy.

Lại nói, đến trang Thọ Xuyên, Quốc Vương khiến đình thần cùng quan Hải Công đến đất ấy, lập cung đền phụng thờ. Đương lúc dân lập cung đền, ông Hải Công ngồi trước xem đấy. Bấy giờ mặt trời đã xế núi. Chợt thấy hai thuyền rồng đi từ đầm lớn thẳng đến bến Thọ Xuyên. Ba quan ở dưới thuyền đi lên, tướng mạo uy nghi, tinh thần lẫm liệt. Xe loan, kiệu phượng, binh sĩ hai hàng thẳng vào trước cung khấu đầu làm lễ. Đức Hải Công hỏi rằng:

–       Quý quan ở phương nào lại mà nhún mình quá lễ như vậy?

Ba quan tâu rằng:

–       Chúng tôi là con đức Hải quan vâng mệnh Thủy Đế Động Đình cho lên cai trị các xứ miền Dương đài để chống giặc nước xâm phá vào nơi để dân ở được yên, quốc mạch lâu dài. Nay chúng tôi phó nhậm đã yên các chốn, thân về lễ tạ ơn cha mẹ khó nhọc.

Đức Hải Công biết ba con mình là Long quan. Vậy báo ba quan rằng:

–          Dương đài, Thủy quốc đều một là mạch gốc từ nhà Hùng, dần chia ở các xứ, nhưng núi sông cũng là một con nhà cả. Nay trời đã cho xuống ở đời giúp dân, giúp nước, lại nhập đầu vào làm con ta. Thật là mừng lắm. Vả lại đức Tiên Hoàng (tức Lạc Long Quân Động Đình Thủy Đế) đã báo cho vua Quốc Vương giao cho ba quan lên Dương đình trị nhậm các xứ. Trước đây đã định, vậy nên truyền cho nhân dân (tức ở đất trang Thọ Xuyên) thiết lập cung đền để ba quan đến nhậm vị. Nay ba quan đã đến, cá nước một nhà gặp gỡ, cha con cùng hội họp tại đây. May lắm, may lắm. Mừng lắm, mừng lắm.

Ngay hôm đó (mồng mười tháng Giêng) truyềnnhân dân làm lễ bái tạ. Việc xong ba quan từ tạ quan Hải Công, xuống thuyền tự nhiên chìm biến.

Lại nói, khi ấy quan Hải Công cùng các đình thần truyền cho nhân dân lập cung đền các chốn đã xong (tức là ba nơi chính Thọ Xuyên, Ngọc Tháp, Đào Xá), chia các quan (tức là ba Long quan) đến nhậm. Các dân đều phụng thờ đấy. Việc xong lại khiến quan Hải Công (tức chính là Hải Vân Long Vương, con của Lạc Long Quân Động Đình Thủy Đế. Trong số 50 người của thủy bộ, Hải Công là ở thứ 19, sinh được các vị Long Đạt, Long Mãn, Long Uyên. Ba vị đều cũng là các long vương vậy. Còn Hải Công là thánh phụ, cũng đều là một dòng phái nhà họ Hùng) rời về xứ Hải Dương nhậm lỵ nguồn vực sông Nhị. Đức Hải Công vâng mệnh về phó nhậm sông Nhị.

Một hôm (ngày 10 tháng 2) bà Trang Hoa phu nhân dong thuyền dạo chơi ở đầu sông (tức là chỗ sông Nhị và sông Thao giáp nhau). Ngài ra tắm rửa ở đấy, thấy thuyền rồng nổi mặt nước. Lại nghe trong thuyền có tiếng người gọi rằng:

–       Ba con lên đón mẹ hôm nay về Thủy quốc.

Tự nhiên thấy bà phu nhân vội vã xuống thuyền, tự chìm hóa đi. Sau ở đất ấy dựng đền thờ (về sau đức Hải Công cùng bách thần hóa ở điện Nghĩa Lĩnh. Trăm vương đều cùng hóa ngày ấy).

Lại nói đến lúc bà đồng Quế Hoa vào chầu múa hát. Một hôm bà Quế Hoa đang ở trong đền múa chầu. Khi đó bà Quế Hoa cùng các trinh đồng năm sáu người theo hầu, ra chơi bến nước trước đền rửa mặt. Bỗng gieo xuống nước chìm đi. Hôm đó (tức ngày mùng 3 tháng Giêng, cùng ngày sinh nhật ba quan). Nhân dân hô hoán, lại khiến người lội xuống nước đều không thấy hình tích gì.

Được trăm ngày sau nhân dân đều sinh tật bệnh không yên. Khi ấy rắn đến có hàng trăm, nằm đầy trong đền, thường gặp người dân thì xua đuổi. Hôm đó (ngày mồng mười tháng hai) nhân dân địa phương lập đàn cầu đảo. Vào buổi chiều tà, bỗng thấy ở đầm lớn trước đền nước dồn sóng rợn, bão lớn tứ tung. Giao long, rắn, cá, giải nổi đầy mặt nước, tất cả đều quay chầu vào nơi tiền tế của đền. Chợt thấy nước rẽ nổi lên hai chiếc thuyền rồng, thẳng đến cung đền. Lại thấy ba quan lên đi trước, đi sau là kiệu phượng của bà Quế Hoa. Nam binh, nữ tốt ngoài nghìn người đường đường vào ngồi trong cung đền. Nhân dân được gọi đến. Ba vị quan cùng nói rằng:

–          Chúng ta cùng vâng mệnh Thủy đế, quyền cai Dương đình. Hoàng thiên đã định nhậm ở hình đất tứ linh Thọ Xuyên, ở phiến đá hình rùa lập làm chính cung. Còn địa hình Đào Xá có hai rồng quấn thủy, lập làm chính sở. Cảnh thiêng địa tạo mà thành tứ linh Long Ly Quy Phượng. Các Thủy quan đến nhậm để quản các linh vật, để bảo hộ phong tục nhân dân được thịnh vượng. Nay có bà Quế Hoa, có công với phu nhân trước, cũng có công lao với Thủy đình, được vào trong đền nhậm sở truy phối thờ cùng với chúng ta, nhưng lại chưa có nơi ở riêng. Bởi thế nên trách đến dân các người vậy.

Nói xong xuống thuyền tự chìm biến đi. Dân cả sợ. Ngày đó (ngày 15 tháng 2) lập nơi thờ bà Quế Hoa ở bên phải đền, rồi làm lễ tạ. Từ ấy dân làng được yên, nhân vật thịnh vượng. Thời thường khi nước cầu, dân cầu có nhiều khi linh ứng, biến hiện ra vào khôn lường. Cung thờ hương đèn không ngớt. Giữ nước giúp dân có nhiều ơn vậy.

Lại nói, triều Kinh 18 nhánh truyền đến vua Duệ Vương ở ngôi. Than ôi, vận nước đến lúc cáo chung, cơ đồ họ Hùng vào cuối. Duệ Vương tuy sinh nhiều hoàng tửu (20 hoàng tử), nhưng đều theo nhau về chốn tiên hương, không có người kế vị. Sau lại sinh hai con gái, một là Tiên Dung, hai là Ngọc Nương. Một gả cho Chử Đồng Tử, một gả cho Tản Viên Sơn Tinh.

Khi ấy Thục Vương nghe tin Duệ Vương không có người kế vị, muốn truyền ngôi cho con rể là đức Tản Viên, bèn đem quân sang nước Nam đánh Duệ Vương để lấy nước. Vua Duệ Vương khiến các quan đến các nơi thờ bách thần (bách thần là từ trăm trứng Hùng Vương vậy) cầu đảo âm giúp quân sĩ theo đức Tản Viên đánh giặc cho được thành công. Nếu ngày sau được thanh bình thì sẽ bao phong mỹ tự.

Một hôm quan sứ đến tế lễ ở đền Tam Công tại Đào Xá. Đương khi làm lễ chợt thấy có ba con rắn lớn dài hơn mười trượng, mũ hoa rực rỡ, theo cùng hàng ngàn rắn nhỏ, vảy giáp năm sắc, từ dưới nước lên đi thẳng vào đền. Sứ quan cùng dân đều khiếp sợ. Tự nhiên trời đất mù mịt, mưa gió nổi lên. Tế lễ xong tự nhiên mây tan gió tạnh, trời đất quang đãng. Các vật tự biến đi.

Sứ quan trở về tâu vua. Vua phán rằng:

–       Dẫu sơn thủy bách thần đều là dòng phái nhà Hùng từ Tiên Hoàng, nay nước có biến, không lẽ điềm nhiên mà không phù giúp. Tất phải có hiển ứng linh thiêng. Việc ấy quả nhiên là ta thắng vậy.

Lập tức hôm đó vua khiến Tản Viên Sơn Thánh đem mười vạn quân mạnh chia đường thủy bộ cùng tiến đến thẳng chỗ quân Thục, đánh lớn một trận. Mây gió hợp sức, trời đất tối tăm, ầm ầm bốn hướng. Quân Thục (tức là Ai Lao vậy) bị phá tan, bắt sống tướng Thục cùng hàng trăm quân, còn lại đuổi hết về nước. Giặc được dẹp yên, vua mở hội yến lớn, rồi bao phong mĩ tự cho bách thần, hưởng hương lửa không ngừng. Phong:

–          Đệ Nhất Long Vương Uyên tĩnh Quảng thánh Đại vương.

–          Đệ Nhị Long Vương Dực vận Đại vương.

–          Đệ Tam Long Vương Hải lâm sơn Đại vương.

Xã Đào Xá phụng thờ đấy.

Lại nói, cơ đồ họ Hùng đã hết, còn truyền lại các hậu duệ đời sau. Đến đời vua Nhân Tông nhà Lý có quan Chiêu thảo sứ nhà Tống là Quách Quỳ và Triệu Qua hợp cùng với nước Chiêm Thành và Chân Lạp đem quân mạnh sang lấn nước ta. Vua nhà Lý sai ông Lý Thường Kiệt đem quân đến chống giặc Tống.

Một hôm ông Lý Thường Kiệt tiến quân đi đến xã Đào Xá, định vào đóng quân ở đền Tam Công. Một đêm, khi đi tới cửa đền, chợt thấy hai ông Rắn nằm giữa cửa đền. Quân lính đi trước đến nơi thấy các ông rắn thì không dám vào. Trung quân của Lý Thường Kiệt tiến đến thấy vậy bèn bảo ông rắn rằng:

–          Nay ta vâng mệnh vua đem quân đi dẹp trừ giặc Tống. Bây giờ (tức ngày mùng 10 tháng 7) tiến quân đến đền. Nếu trời đất cho ta mệnh dẹp yên được giặc ấy, quan Xà tướng giữ cửa nên tránh đi cho quân ta vào đến trú ngụ.

Nói xong thì quan Xà lui vào trong đền biến mất. Ông Lý Kiệt đem quân vào đóng trong đền. Hôm đó (ngày 10 tháng 7) nhân dân làm lễ bái mừng. Ông Thường Kiệt hỏi nhân dân rằng:

–       Ở đây dân các người thờ vị thần nào?

Dân thưa rằng:

–       Thờ ba vị Thủy thần, vốn dòng dõi vua Hùng Lạc Quân, từ xưa đến nay dân đều phụng thờ nơi đây là đền chính.

Ông bèn làm lễ khấn:

–          Xin âm phù giúp nước dẹp giặc thành công. Đến ngày sau thanh bình xin tâu vua gia phong mỹ tự Thượng đẳng Phúc thần, hưởng cúng tế vạn đời.

Khấn xong đến khoảng nửa đêm ông Thường Kiệt nằm ở ngoài cung đền, chợt thấy một trận mưa gió từ Tây Bắc thẳng đến trước nơi cửa đền. Ông trông ra ngoài đầm thấy hai chiếc thuyền rồng và hơn trăm người hò reo bơi thuyền thẳng đến trước đền. Ông tưởng rằng quân nhà Tống lại đánh mình. Ông bèn sai đánh chiêng trống dàn quân ra chống cự. Hỏi là thuyền nào, thì nghe trong thuyền có tiếng người nói rằng:

–       Thủy quan đến nơi đền để cùng ông dẫn quân đánh dẹp giặc Tống. Xin đừng ngại.

Nói xong thấy ba tướng đường đường lên bờ đi thẳng vào đền. Quân sĩ đứng chầu hai bên thành hai hàng. Nhân dân đều trông thấy cả. Ông Thường bèn truyền lệnh quân sĩ cùng nhân dân mổ trâu bò, làm rượu ngon, cỗ sòng để dâng lễ mừng Thủy quan.

Lúc ấy ông Lý Thường Kiệt thưa rằng:

–          Nay nhà nước có giặc Tống sang lấn, gây sự binh đao. Tôi vâng mệnh nước nhà đem quân đi dẹp Tống. Hôm nay may gặp thấy được dung nhan ba vị Thủy quan. Xin thần ra sức giúp cho vận nước nhà, âm phù tôi cất quân đánh giặc được thành công, là trông ơn đức ba vị đó.

Ông Lý Kiệt nói xong, vị chính quan không nói gì. Vị hữu quan không nói gì. Chỉ có vị tả quan đọc bài thơ rằng:

Nam thiên dĩ định đế Nam quân
Đại đức giai do đức nhật tân
Thất quận sơn hà đô nhất thống
Tống binh bất miễn tán như vân.

Dịch là:

Trời Nam đã định vua nước Nam
Đức lớn đều do đức mới thêm
Non sông bảy quận cùng thống nhất
Tan sạch như mây ắt Tống quân.

Đọc xong hò reo ba tiếng, xuống thuyền theo dòng nước biến đi. Đến sáng ngày làm lễ tạ. Đến ngày 13 ông Lý Thường Kiệt lại làm lễ mật đảo, tiến quân thẳng về đến sông Như Nguyệt, đón đánh quân Tống. Ngày hôm đó lại gặp đại binh của quân nhà Tống đang theo dòng sông Nguyệt thủy bộ cùng tiến. Ông Lý Thường Kiệt đánh lớn cùng tướng Tống là Quách Quỳ tại cửa sông Như Nguyệt. Bỗng thấy một trận gió cuốn, trời đất tối tăm, dưới sông sóng rợn muôn trùng. Hơn nghìn con rắn nổi chật sông. Thuyền chiến của thủy đạo quân Tống lật đắm hết cả. Quân Tống khiếp sợ, chạy tan tác, chém hơn ngàn người. Quân nhà Tống đều nhảy xuống đầy sông, nước không chảy được.

Ông Thường Kiệt dẹp yên giặc rồi, ngày khải hoàn trở về làm biểu tâu vua. Vua thấy có nhiều linh ứng bèn phong thêm là Thượng đẳng Phúc thần. Xuân thu hai kỳ sai quan đến tế, cho dân làm nơi phụng thờ. Vua Lý Nhân Tôn phong thêm mỹ tự là:

–          Phong Đệ Nhất Long Vương Uyên tĩnh Quảng thánh Bác trạch Đại vương.

–          Phong Đệ Nhị Long Vương Dực vận Linh ứng Phổ đức Đại vương.

–          Phong Đệ Tam Long vương Hải lâm sơn Tế thế Đại vương.

Lại nói, đến thời nhà Trần vua Nghệ Tông ở ngôi, có kẻ gian thần là người Dương Nhật Lễ làm loạn cướp ngôi vua. Ông Cung Định Vương (húy là Ngung) tránh nạn chạy lên phủ Đà Giang. Tháng Chạp mùa đông vua cùng bà hoàng hậu và bà công chúa thứ hai là Phương Dung, mới mười 18 tuổi, nhan sắc dịu dàng tựa người khách cung trăng, hình dung nghiêm cẩn giống người vườn Lãng Uyển, không phải người thường chốn trần gian. Khoảng ấy vua cùng hoàng hậu và công chúa ngự xe dạo xem phong cảnh, nhân dân, ngắm địa thế non sông. Một hôm vua đi đến xã Đào Xá, nhân dân lập hành cung ở đó. Vua dừng xe ngự chơi ở đất đấy (hành cung chính ở đất phía Nam của trang). Ngày ấy (ngày 15 tháng Chạp) nhân dân làm lễ bái mừng. Vua thấy nhân dân thuần hậu, non nước phong cảnh hữu tình, ngày ngày nhà chơi nơi đồng ruộng, vui với phong cảnh. Vua ngự chơi ở đất đấy (tức trang phía Nam của xã Đào Xá) năm, sáu tháng. Đến mùa xuân ngày mồng ba tháng Giêng, dân địa phương có lệ làm lễ sinh thời Tam Công, mở hội làm vui, đánh cờ múa hát. Nhân dân đón vua Nghệ Tôn (tức là Cung Định Vương) cùng hoàng hậu và công chúa ngự xe vào đền xem ca hát.

Lúc ấy khi vua đang ngồi xem. Trời sắp tối, chợt thấy gió mưa kéo đến, trên mặt nước trước đền mây nổi năm sắc. Trong đầm sóng vỗ, giao long, cá giải, rắn hoa đến chầu cả trước nơi đền. Đương lúc vua xem hội, công chúa chầu bên cạnh. Bỗng thấy một gói khăn hồng tự trên không rơi vào trong lòng công chúa. Công chúa hoảng sợ, cầm khăn mở xem, thấy trong khăn có trăm miếng trầu cau vàng và một bức thư. Công chúa sợ hãi, tâu với vua. Vua sai thị thần mở thư ra xem. Trong thư rằng:

Long hầu Thuỷ quốc ký nhất thư vân.
Thục nữ tuy Dương đình vương nữ,
Quân tử giai Thuỷ quốc nam quân,
Nhất tâm thúc ước. Lưỡng quốc tương thân,
Hảo thuật dĩ xứng. Nguyện kết hôn nhân.

Dịch là:

Long hầu Thủy quốc gửi bức thư đây
Thục nữ tuy con gái vua Dương đình,
Quân tử cũng là con trai vua Thủy quốc.
Một lòng kết ước, hai nước cùng thân.
Tốt đôi đã xứng, xin kết hôn nhân.

Vua thấy thị thần đọc xong, cười mà bảo rằng:

–          Ta có ngọc Lam Điền, kén rể tài lương. Nay Thủy đế yêu thương, ta bằng lòng gả. Nhưng tuy Dương đình, Thủy quốc phong thủy không cùng, song lễ nghi cùng giống. Nay chỉ thấy trầu cau, thư đến, lại chưa biết mặt rể hiền. Ta mong được một lần gặp mặt.

Vua nói xong, chợt thấy đám mây trắng ở giữa đầm sâu nổi lên mặt nước, thẳng đến trước mặt vua. Âm u mù mịt một phút rồi tan. Bèn thấy một người con gái tuổi ngoài hai mươi, áo vóc khăn hồng rất là đẹp đẽ, đứng trước sân bên phải. Gái trinh trẻ tuổi hơn mười người, bưng một con trâu bạc ở trước. Bên trái có một tướng con trai, mũ rồng áo giáp rực rỡ, đứng sau hơn mười người trai gái, bưng một trâu vàng đến đặt đôi bên trước sân. Hai người tâu rằng:

–          Một gọi là là Sùng Chu tì tướng. Một gọi là Quế Hoa vu nữ. Nay vâng mệnh Tả Long quan Thủy quốc khiến chúng tôi hiến lễ hai con trâu để cầu hôn con gái vua.

Hai người dập đầu làm lễ trước vua, rồi biến đi. Vua thấy hai con trâu vàng, bạc để trước nơi vua ngự. Lòng vua nghĩ thầm rằng:

–       Duyên trời đã thế. Dương gian Thủy quốc khác gì. Cháu chúa con vua cũng xứng đáng. Là thiên tử không lẽ nói đùa mà không nhận sính lễ. Vua sai các đình thần làm lễ cầu đảo, ngầm chúc rằng:

–       Xin âm phù cho vận nước lại được thanh bình. Gian thần Nhật Lễ cướp ngôi. Vua phải lánh nạn. Nay muốn đem quân về phục quốc, đón vua về kinh đô, dẹp gian thần Nhật Lễ. Xin âm phù cho ngôi vua được vạn toàn. Đến khi giành lại ngôi vua ắt có gia phong, thưởng hậu và gả con gái cho.

Khấn xong vua bèn trở xe về cung (tức Đáo Xá Nam cung). Chợt thấy có sứ của ông Cung Tuyên Vương (tức em vua Nghệ Tông) cùng công chúa Thiên Ninh lại báo tin, xin rước vua về kinh để trừ Nhật Lễ, không nên bỏ nước cho người. Vua bèn xuống thuyền rồng cùng quân sĩ trở về. Vua đến bến sông, chợt thấy dưới nước có tiếng đọc trong trẻo rằng:

Người sang Dương đình
Người xuống dưới nước.
Đấy sang đây quý
Ta rước nhau đi.
Thiên binh Thủy quốc
Nghênh đế hồi quy.
Nhật Lễ tự tán
Đế vị thùy y.

Đọc xong thấy công chúa Phương Dung tự nhiên ngả mình xuống nước mà chìm đi. Bỗng nhiên mưa gió như bay. Thuyền đi vùn vụt. Lòng vua nghĩ thầm, việc đã định trước, không thay đổi được, đành yên lòng vậy.

Vua còn về Ái Châu (tức Thanh Hóa). Công chúa độ bảy tám tháng mà chưa trở về thành. Một hôm vua nằm ngủ bỗng thấy một người tướng mạo đường đường, cưỡi con ngựa trắng, đằng sau là công chúa Phương Dung đi kiệu phượng. Hai bên hầu hạ khoảng hơn nghìn quan lân, cá binh, thẳng đến trước vua, xuống ngựa khấu đầu làm lễ. Vua thấy Công chúa, hỏi rằng:

–       Người ấy là rể hiền ta chăng?

Bà thưa:

–          Vốn là Tả quan Thủy quốc, kết với con gái làm con rể vua. Nay xin vua quay về với việc nước, để chúng con âm phù giúp nước. Xin vua chớ vì lo lắng trong lòng mà bỏ cơ nghiệp to lớn của nước nhà.

Nói chưa xong, vua bèn tỉnh dậy mới biết là mộng, nghĩ thầm rằng là Thủy quan báo đến lúc trở về nước để âm phù giúp, không gặp hoạn nạn gì. Lúc ấy (tức ngày 12 tháng 11) vua bèn đem quân sĩ trở về kinh thành. Quần thần phù giá đón vua. Nhật Lễ nghe tin vua về, tự nhiên lòng hoảng sợ, rời bỏ ngai vị ra hàng chịu tội. Vua bèn phế giết Nhật Lễ, rồi lên ngôi Hoàng đế, cải hiệu đại xá, xưng làm Nghĩa Hoàng Thuần Hiếu Hoàng đế. Quần thần mở tiệc yến lớn. Từ ấy, vua tôi hợp đức, thiên hạ thái bình. Phong thêm mĩ tự cho bách thần.

Khi ấy (ngày 10 tháng 12) vua khiến sứ thần ban sắc chỉ về đền xã Đào Xá, lại truyền Nam trang là nơi vua từng ngự lập đền thờ bà vương nữ. Bèn gia phong là Phương Dung Vương nữ Công chúa. Đào Xá phụng thờ (tức là đền ngoại thôn bây giờ). Phong:

–          Đệ Nhị Long Vương Phụ mã Dực vận Phu quốc Hiển linh Đô thống Phổ đức Hoành vĩ Đại vương.

–          Đệ Nhất Long Vương Uyên tĩnh Quảng thánh Vệ hiển Uy linh Bác trạch Uyên trừng Bác đạt Đại vương.

–          Đệ Tam Long Vương Hải lâm sơn Tế thế Dụ trạch Đàm ân Đôn mẫn Linh uyên Đại vương.

Chính đền ở Đào Xá phụng thờ. Xã Đào Xá là nơi sở tại, xuân thu nhị kỳ ban thêm việc quốc tế. Còn như Thọ Xuyên, Ngọc Tháp đều có đền chính sở tại, còn di tích để bộ sau, cùng với hành cung hai bờ sông phụng thờ. Còn có sự tích riêng. Từ Đinh, Lê, Lý, Trần, Tiền Lê, Hậu Lê, Tiền Lý, Hậu Lý nhiều khi linh ứng, hộ quốc cứu dân cho nên các đời đế vương truy phong Thượng đẳng Phúc thần, nghìn năm hương hỏa, hưởng phúc lâu dài, mãi cùng đất nước. Tốt thay, thịnh thay.

Còn như sinh hóa, hiển ứng cùng các ngày lệ, chữ húy, sắc mặc, vâng kê ở sau:

–          Ngày sinh thần ngày mồng 3 tháng Giêng. Lễ chính 5 mâm cỗ chay, bánh lênh lang, bỏng, chín cây hoa bông, một đôi trâu vàng, bạc làm bằng xôi, ngoài bọc giấy vàng, giấy bạc. Từ mồng 1 đến mùng 3 tuyển bà đồng, xin âm dương bên chỗ bà Quế Hoa ứng nhập, được thì dân cử người đến mời vào đền chầu múa bông, cùng hiến lễ xuân ngưu. Trứng 3 quả dùng sống đựng trong mâm rồng. Có nước 3 cỗ sòng. 2 bình rượu ngọt, 2 cần sậy. Mổ trâu, ca hát, đánh cờ các thứ.

–          Ngày 27, 28, 29 tháng Giêng là ngày khánh hạ đức Thánh phụ, Thánh mẫu và Tam vị Đại vương. Chính lệ lễ nghi cá chép con kho chín bày toàn thân, bày làm 3 cỗ, tiến thượng ban, trâu bàn 3 cỗ, bánh lênh lang 3 mâm. Cỗ sòng rượu ngọt, cần trúc. Trứng 3 quả dùng sống để trong mâm rồng tích thủy. Ca múa các thứ.

–          Tháng Bảy từ ngày mùng 10 đến ngày 15 là lệ hiển thần phù giúp vua nhà Lý đánh giặc Tống. Lễ vật như 28 tháng Giêng, duy không có cá chép, lại có bơi chải mở hội trong ba ngày. Xin âm dương được mới thôi.

–          Ngày 10 tháng 2 là chính lệ lập đền thờ thần hiệu bà Quế Hoa. Ba mâm cỗ chay, xôi rượu thịt lợn. Ca hát một đêm.

–          Ngày trùng ngũ mùng 5 tháng 5 là lệ Khánh hạ. Năm mâm cỗ chay. Thịt lợn, rượu, ca hát một đêm.

–          Ngày trùng cửu mùng 9 tháng 9 là ngày lệ Khánh hạ. Ba mâm cỗ chay, thịt trâu, thịt lợn, rượu, trứng gà. Ca hát một đêm.

–          Ngày 10 tháng 12 là lệ mừng vua nhà Trần phong sắc. Năm mâm cỗ chay, thịt gà, thịt lợn, xôi, rượu. Ca hát một đêm.

–          Ngày 15 tháng 12 là lệ đức Thánh mẫu hóa. Năm mâm cỗ chay, thịt lợn, rượu các thứ.

–          Ngày 12 tháng 3 là lệ mừng vua nhà Lý phong sắc và ngày đức Thánh phụ hóa. Cỗ chay, thịt lợn, rượu các thứ.

Chữ húy nhất thiết cấm là 10 chữ Hải, Vân, Hoa, Phương, Dung, Đạt, Mãn, Linh, Uyên, Quế. Sắc phục màu đen và tím nhất định cấm. 

Vào tháng Giêng từ ngày mùng 1 đến mùng 3 chọn bà đồng đến chầu múa, hoa bông, lại chọn những người con trai trong làng mà có còn đầy đủ cha mẹ cùng với bà đồng dâng hiến cỗ trâu vàng, trâu bạc cùng thịt lợn và mâm trứng. Các bánh mâm chay cùng với bánh lênh lang trong các tiết đều đặt ở trên ban trên của nơi chính sở, cùng với hai bên là ba mâm cỗ sòng. Cỗ trâu, thịt lợn, rượu ngọt, rượu cần đặt ở ban dưới hai bên khi làm lễ.

Ngày lệ mùng 10 tháng Bảy bơi thuyền đến ngày 15 thì dừng. Trong lễ tế này không có trâu vàng, trâu bạc cùng hoa bông. Chỉ có cỗ sòng, rượu ngọt, rượu cần, trứng gà như lễ vật trước. Lại có một lễ cơm gà đặt ở ngoài nơi thuyền rồng, cầu đảo Tam vị Đại vương cùng với ông Sùng Thống quản Thủy quân Thị vệ Đốc trấn Long quan Đại tướng quân. Trong lễ này dùng xôi gà cùng với ba đấu gạo sống đặt trên ban bảo hộ, khấn được âm dương thì hạ thuyền xuống để bơi.

Vào ngày lệ mùng 1 tháng Giêng cùng với lệ tháng Bảy trước đó phải dọn dẹp đường thủy từ Thượng Hạ Nông về cho đến đền làm lễ đón thánh vị tắm rửa ở gò đất giữa đầm lớn.

Niên hiệu Hồng Phúc năm thứ 2 (1573) ngày 17 tháng 6, thần, Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính vâng chép.

Vâng sao bản chính bởi lý trưởng Hà Văn Thành.

Thời đại Hùng Vương tính từ Kinh Dương Vương hay từ con của Lạc Long Quân?

Trong “Sách giáo khoa” lịch sử hiện nay thường trích dẫn Đại Việt sử ký toàn thư hay Truyện họ Hồng Bàng trong Lĩnh Nam chích quái rằng Hùng Vương là con trưởng của Lạc Long Quân dựng nước Văn Lang, cho nên 18 đời Hùng Vương là tính người con đầu của Lạc Long Quân. Tuy nhiên các bản ngọc phả Hùng Vương Thánh Tổ lại cho biết 18 đời Hùng Vương bắt đầu từ Kinh Dương Vương, hay cả Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân đều là những vị vua Hùng. Vậy phải lý giải sự mâu thuẫn giữa các nguồn tư liệu này như thế nào?

Đột Ngột Cao Sơn Cổ Việt Hùng thị thập bát thế Thánh Vương.

Một số người chủ trương rằng thời đại Hùng Vương bắt đầu từ sau Lạc Long Quân, bởi họ muốn gán thời kỳ Kinh Dương Vương – Lạc Long Quân vào khu vực “châu Kinh” ở “Động Đình hồ”, ý là ở Nam sông Dương Tử. Lý thuyết này tuy có vẻ thích hợp để giải quyết giai đoạn nước Văn Lang của vua Hùng, nhưng lại không giải thích được nguồn gốc của người Việt từ Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân. Chả hiểu vì lý do gì mà từ 4.000 năm trước khi còn đang là thời kỳ đồ đá người Việt lại có thể “thiên di” một quãng đường dài mấy ngàn km từ sông Dương Tử về sông Hồng, để quanh quanh lập nước Văn Lang ở miền Bắc Việt? Hùng Vương mà theo kiểu này cứ như là từ trên trời rơi xuống đất Việt Nam vậy.

Đọc kỹ Đại Việt sử ký toàn thư thì mọi chuyện không hoàn toàn như vậy. Sử ký trong phần Kỷ họ Hồng Bàng đã nêu rõ có 3 thời kỳ là Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và Hùng Vương. Năm bắt đầu của thời họ Hồng Bàng là năm Nhâm Tuất (tức năm 2879 TCN, ngang với thời Đường Ngu). Năm kết thúc theo Sử ký chép là năm Quý Mão, tức là năm thứ 57 đời Chu Noãn Vương (258 TCN), tổng cộng gồm có 2.622 năm. Như thế với mỗi thời kỳ trong họ Hồng Bàng trung bình kéo dài là 874 năm. Với thời gian như thế rõ ràng trong mỗi thời kỳ này không phải chỉ có 1 vị Kinh Dương Vương, 1 vị Lạc Long Quân hay 1 Hùng Vương.

Sử ký ghi KINH DƯƠNG VƯƠNG, Xưa cháu ba đời Viêm-đế họ Thần-Nông là Đế-Minh sinh ra Đế-Nghi. Rồi đó sang tuần phương Nam, đến dãy Ngũ-Lĩnh, tiếp được Vụ Tiên-Nữ, sinh ra Vương (Lộc-Tục). Vương là bậc thánh, trí, thông, minh. Đế-Minh yêu quý lạ, muốn cho nối-ngôi. Vương cố nhường cho anh mình, không dám vâng mệnh. Đế-Minh vì thế lập Đế-Nghi làm con nối dòng, trị phương Bắc. Lại phong Vương làm Kinh-Dương-Vương, trị phương Nam, đặt tên nước là Xích-Quỷ.

Như thế giai đoạn mà Sử ký gọi là Kinh Dương Vương bao gồm cả thời gian của các vị vua Đế Minh, Đế Nghi và Lộc Tục. Đế Minh mới là người mở sử họ Hùng, là vị thủ lĩnh của toàn thể dân tộc họ Hùng đầu tiên. Thiên Nam ngữ lục cho biết Đế Minh chính là họ Hữu Hùng đã thay thế họ Thần Nông:

Tự vua Viêm Đế sinh ra
Thánh nhân ngưu thủ họ là Thần Nông
Trời cho thay họ Hữu Hùng
Con cháu nối nghiệp cha ông thủ thành.

Vì thế Đế Minh mới là vị vua Hùng đầu tiên mà hiện đang được thờ tại đền Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh dưới tên Đột Ngột Cao Sơn Cổ Việt Hùng thị thập bát thế Thánh Vương, hay Hùng Vương Sơn Nguyên Thánh Tổ Tiền Hoàng Đế. Nói cách khác người bắt đầu 18 đời họ Hùng Việt cổ không phải là con của Lạc Long Quân, mà là ông tổ mấy đời trước của Lạc Long Quân.

Giai đoạn Kinh Dương Vương như thế ít nhất có 3 triều đại là Đế Minh, Đế Nghi và Lộc Tục. Giai đoạn tiếp theo là giai đoạn theo cha Lạc Long Quân xuống biển, được biết là có nhiều đời Lạc Vương nối tiếp nhau. Gọi là Lạc Vương là để chỉ dòng theo cha Lạc Long Quân, phân biệt với Hùng Vương trong dòng theo mẹ ở giai đoạn sau. Giai đoạn Lạc Vương này cũng kéo dài gần cả ngàn năm.

Giai đoạn Hùng Vương theo mẹ Âu Cơ lên núi lập nước Văn Lang tuy cũng gọi là Hùng Vương nhưng chỉ là 1 trong số những giai đoạn sau của Kỷ họ Hồng Bàng. Gọi là Hùng Vương bởi bà Âu Cơ mới là chính dòng trưởng của vua Hùng Đế Minh (Âu Cơ là con Đế Lai, Đế Lai là con của Đế Nghi, Đế Nghi là con trưởng của Đế Minh). Trong khi đó Lạc Long Quân là dòng thứ từ Kinh Dương Vương Lộc Tục, nên thường chỉ gọi là các Lạc Vương.

Nếu Thái tổ Hùng Vương Đế Minh là người thống trị vạn bang chư hầu thiên hạ, đến thời Hùng Vương lập nước Văn Lang thì chỉ còn trăm nước chư hầu, được cai quản bởi trăm người anh em cùng bọc đồng bào. Phải đến khi Thục Vương thay thế Hùng Vương thì thiên hạ họ Hùng mới trở nên thống nhất trong một quốc gia. Mỗi bước phát triển từ vạn bang – trăm chư hầu đến thiên hạ nhất thống kéo dài hơn 800 năm. Đó mới giống tiến trình phát triển thực sự của lịch sử.

Họ Hùng dựng nước bắt đầu đã 5.000 năm có lẻ từ Hữu Hùng Đế Minh, qua 1.000 năm của thời kỳ Kinh Dương Vương thì tới thời các Lạc Vương theo cha khai phá miền ven biển Đông. Để rồi tới 3.000 năm trước nước Văn Lang do các vua Hùng trong dòng theo mẹ lên núi được hình thành, đứng đầu trong thiên hạ trăm nước chư hầu Bách Việt. Cho nên Hùng Vương là tổ của Bách Việt vậy. Danh xưng Hùng Vương vừa là để chỉ vị Thái tổ Đế Minh, khởi đầu họ Hữu Hùng, cũng vừa để chỉ Hùng Quốc Vương, người con cả của bà Âu Cơ đã lập ra trăm nước, đặt ra trăm họ, sắp xếp trăm quan, phong cho trăm thần… Chính vì vậy mà có cả Hùng Vương là tổ của Lạc Long Quân, cũng có Hùng Vương là con cháu của Lạc Long Quân vậy.

Mười tám đời Hùng Vương là những ai?

Theo Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả, sưu khảo bởi Nhóm nghiên cứu di sản văn hóa Đền miếu Việt thì 18 đời Hùng Vương gồm:

Giai đoạn Sơn triều Thánh tổ:

1. Hùng Vũ Vương, bắt đầu vào quãng 5.000 năm trước. Tên thường gọi là Thái Tổ Đế Minh. Tên thờ là Đột Ngột Cao Sơn, hay đầy đủ là Hùng Vương Sơn Nguyên Thánh Tổ Tiền Hoàng Đế. Chính đền thờ tại núi Hùng Nghĩa Lĩnh.

2. Hùng Hy Vương, tên thường gọi là Đế Nghi. Tên thờ là Viễn Sơn Thánh Vương. Đền chính tại núi Hùng Nghĩa Lĩnh. Khu vực thờ khác là ở núi Hồng Lĩnh của Nghệ Tĩnh.

3. Hùng Anh Vương, tên thường gọi là Lộc Tục. Tên thờ là Ất Sơn Thánh Vương. Đền chính ở núi Hùng Nghĩa Lĩnh. Khu vực khác là ở vùng chân núi Lịch, Sơn Dương, Tuyên Quang.

4. Hùng Việt Vương, tên thường gọi là Kinh Dương Vương. Tên thờ là Nam Thiên Thủy Tổ Tản Viên Sơn Thánh. Chính đền ở vùng núi Ba Vì.

Giai đoạn Kinh triều Lạc thị:

5. Hùng Hoa Vương, quãng 4.000 năm trước. Tên thường gọi là Lạc Long Quân. Tên thờ là Linh Lang Đại vương hay vua cha Bát Hải Động Đình. Chính đền ở An Phụ, hồ Dâm Đàm. Đền thờ ở nhiều nơi khác trên vùng Đồng bằng Bắc Bộ và ven biển.

6. Hùng Uy Vương, là triều đại phục hưng sau sự gián đoạn bởi Trạch quốc của Chử Đồng Tử. Hoa sử gọi là nhà Hạ Trung hưng.

7. Hùng Huy Vương, người Dao gọi là Bàn Vương, sáng lập ra nhà Thương ở vùng Nam sông Dương Tử.

8. Hùng Duệ Vương, là triều đại nhà Ân sau khi theo Bàn Canh vượt Dương Tử tiến lên Hoàng Hà.

Giai đoạn Thục triều Văn Lang:

9. Hùng Chiêu Vương, quãng 1.100 TCN. Tên thường gọi là Văn Lang. Tên thờ là Âu Cơ. Đền chính ở Hiền Lương, Hạ Hòa, Phú Thọ.

10. Hùng Quốc Vương, tên thường gọi là Vũ Ninh. Tên thờ là Hùng Linh Công. Đền chính ở Y Sơn, Hiệp Hòa, Bắc Giang

11. Hùng Tạo Vương, tên thường gọi là An Dương Vương. Hoa sử gọi là Đông Chu Vương. Đền chính ở Cổ Loa.

12. Hùng Nghị Vương, tên trong Hoa sử là Dịch Hu Tống của nước Tây Âu hay Chu Vương thời Chiến Quốc.

Giai đoạn Hoàng triều Triệu Hiếu:

13. Hùng Định Vương, tên thường gọi là Tần Vương. Tần Thủy Hoàng xưng đế năm 221 TCN.

14. Hùng Trịnh Vương, tên thường gọi là Lý Bôn hay Lưu Bang. Tên thờ là Triệu Vũ Đế. Đánh đổ nhà Tần năm 206 TCN. Chính từ thờ tại Đồng Sâm, Thái Bình.

15. Hùng Triệu Vương, tên thường gọi là Triệu Quang Phục. Lập quốc Nam Việt và xưng đế năm 179 TCN. Đền chính ở vùng Dạ Trạch và các đền ven cửa Độc Bộ ở biển Nam Định, Ninh Bình.

16. Hùng Hiếu Vương, tên thường gọi là Lý Phật Tử. Hoa sử gọi là nhà Tây Hán.

17. Hùng Trưng Vương, bắt đầu quãng năm 110 TCN. Tên thường gọi là Bà Trưng. Tên thờ là Ả Lã Nàng Đê. Đền chính ở Hát Môn.

18. Hùng Tân Vương, tên thường gọi là Vương Mãng. Trên đất Việt là giai đoạn các thái thú Đặng Nhượng, Tích Quang.

Hỏi kỹ chuyện qua mà chép sử
Thấy rành như vẽ mới làm thơ.

Link bản đồ:

Việt Nam Lạc Thị – Những vị Lạc Vương ở Bắc Ninh

Ở khu vực huyện Thuận Thành và Gia Bình của tỉnh Bắc Ninh ven dòng sông sông Đuống có tín ngưỡng thờ các vị thần từ thời Hùng Vương mang tên là Việt Nam Lạc Thị. Những vị “họ Lạc” thủy tổ nước Việt Nam này là ai?

Thần tích về các vị Lạc Thị ở Bắc Ninh như sau (theo thần phả đình làng Nghi Khúc, Gia Bình):

Xưa Lạc Long Quân lấy nàng Âu Cơ sinh ra một bọc trăm trứng, nở thành trăm người con trai, dáng vẻ sinh đẹp, trí dũng kiêm toàn, người người đều nể phục. Năm mươi người con theo cha về biển, chia trị các xứ bờ biển. Năm mươi người con theo mẹ về núi chia trị núi rừng đất đai các xứ. Tôn con trưởng danh hiệu Hùng làm vua. Thứ làm Lang. Truyền 18 đời gọi là Hùng Vương. Tên nước là Văn Lang.
Tổ thờ ở Á Lữ. Tổ đi chu du thiên hạ, kiến xem hình thế. Một lần qua làng, thấy trước có 3 chẽ sông quanh co. Sau có 3 ngọn núi nhấp nhô đẹp đẽ. Sơn thủy hữu tình. Nhân đó dựng hành cung ở bờ sông, đặt tên là Nghi Giang cung. Chợt thấy 3 con rồng, mình dài vài trượng, lưng to mấy vòng. Trên đỉnh đầu có ấn vàng. Trong ấn nổi lên 2 chữ LẠC VƯƠNG. Lối lên ở ngã ba sông. Cá, tôm, rùa, ba ba đi theo. Sóng to gió dữ không thể kể xiết. Sau đó một đi chơi vùng Đại Đoan (nay là Đại Bái – Đoan Bái sông), một đi chơi sông Nghi Tuyền (nay là Nghi An sông), một đi chơi sông Bình An (nay là Bình Ngô – Yên Ngô sông).
Khoảnh chốc trở lại chỗ rồng nổi lên, vua thấy khác lạ, bèn ghi mật chúc rằng: “Đây là nơi rồng ẩn”. Về sau đời đời xa cách, vật đổi sao rời. Chỗ đó chỉ còn nền cung , tre lá, cây cỏ mọc lên thành bụi, rất lấy làm lạ. Sau hơn một trăm năm ở nơi sông này có một ngày mưa gió rất lớn, nghe như biển động chừng 1 canh giờ. Mây mưa chợt tạnh. Nhân dân nhìn thấy nền cung cũ gần nửa biến thành một đầm nước lớn, sâu bao nhiêu chẳng biết mà đo. Tục gọi là “Vực Thiêng”.
Dân bèn dựng miếu thờ. Gặp năm tai hạn, dân đốt hương khẩn cầu: Hoạn này hãy qua, yên tạnh như có nắng hạn được mưa, mùa màng tươi tốt. Nhân dân địa phương cảm kích vui mừng, nhân đó dựng đền thờ ở nơi cũ. Thờ cúng hàng năm.
Thủy thần ba vị tên chữ gọi là:
– Việt Nam Lạc Thị Đệ nhất Đại vương
– Việt Nam Lạc Thị Đệ nhị Đại vương
– Việt Nam Lạc Thị Đệ tam Đại vương.
Trải qua được các triều đại vua ban tặng. Hàng năm cứ đến tháng Hai ngày mùng 4, làng vào đám nhập tịch. Già trẻ nghi lễ khênh rước đến đền thờ, mật xin thần hiệu, múc một bình nước rước về đình (tên đình là đình Phúc Lộc), làm lễ cầu phúc. Năm nào bình nước thơm mát thì được mùa – bình yên tươi tốt. Nước chua thiu – gặp tai. Nước nhạt đục – ấy hạn. Rất có linh ứng. Thường ngày tùy theo dân đến cầu mong điềm lành, điều tốt.
Đến năm Cảnh Hưng dân địa phương có nạn binh lửa. Vật quý cũ sắc tặng phong các đạo bị thất lạc. Sau này lại được khâm mông làm:
– Tôn thần Việt Nam Lạc Thị Linh ứng Khai sơ Sáng thủy Khải minh Thùy hiến Uông nhuận Dực bảo Trung hưng Đại Vương.
– Hương Mát Hùng tài Đại lược Anh nghị Quả đoán Linh thông Hiển ứng Anh uy Hùng lược Đặc đạt Đại Vương.
– Quý Lang Diên hựu Đốc hỗ Tích chỉ Phong công Khải thánh Tập cái Từ tường Đoan chính Tập phúc Chiêu tường Đại Vương
.

Đây là khu vực duy nhất có tư liệu nói về Lạc Vương (3 con rồng trên đầu có ấn có chữ Lạc Vương). Tên “triển khai” đầy đủ của Lạc Vương ở đây là Việt Nam Lạc Thị Đại vương. Việt là chỉ tộc Việt, đất Việt. Nam là đất phương Nam, khởi dựng từ Kinh Dương Vương thụ mệnh vua cha làm vua phương Nam. Lạc Thị là họ Lạc, ở đây là Lạc chứ không phải họ Hùng. Lạc Thị là một giai đoạn của thời đại Hùng Vương.

Có 3 vị Lạc Thị là 3 vị thủy tổ của Việt – Nam mang họ Lạc. Các đền đình thờ Lạc Thị ở Bắc Ninh nay thường chuyển thành thờ các vị thủy tổ người Việt, mà cụ thể một số nơi theo tư liệu sắc phong và thần tích cho biết trước đây thờ thần Việt Nam Lạc Thị thì:

  • Đền Á Lữ, Thuận Thành nổi tiếng được biết đến vì là nơi có lăng Kinh Dương Vương. Ngoài Kinh Dương Vương ở Á Lữ còn thờ Lạc Long Quân, Âu Cơ và vua Hùng Quốc Vương.
  • Đình làng Đại Bái (Bưởi Nồi), Gia Bình nay được ghi là thờ Lạc Long Quân.
  • Đền làng Bình Ngô, Thuận Thành nổi tiếng với cuốn Hùng Vương ngọc phả, tức là thờ chính là Hùng Vương.
  • Đình làng Đoan Bái (Bưởi Đoan), cùng cụm di tích 4 làng Bưởi với làng Đại Bái, nay trở thành một nơi thờ đủ các vị thủy tổ Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Âu Cơ, Hùng Quốc Vương.
  • Đình làng Ngọc Xuyên (Bưởi Xuyên) thờ thần Bách Noãn.

Như vậy tục thờ Việt Nam Lạc Thị là thờ các vị vua khai sáng “Việt Nam” và Bách Việt (Bách Noãn), lần lượt có thể xác định là:

  • Việt Nam Lạc Thị Đệ nhấtKinh Dương Vương như ở đền Á Lữ.
  • Việt Nam Lạc Thị Đệ nhịLạc Long Quân như ở đình Đại Bái.
  • Việt Nam Lạc Thị Đệ tamHùng Quốc Vương như ở đền Bình Ngô.

3 vị khai sáng tổ của dòng Lạc theo cha xuống biển đã hiển hóa thành 3 con rồng với dấu ấn Lạc Vương tại vùng ven sông Thiên Đức, lưu truyền thành tín ngưỡng thờ Lạc Thị. Sự tích này cũng cho phép giải thích vì sao chữ Lạc 貉 lại viết dùng bộ Trãi. Bộ Trãi 豸 biểu thị loài bò sát không chân, rất có thể gắn với hình tượng những con rồng Lạc trên dòng sông Đuống này.

“Vực Thiêng” ở làng Nghi Khúc (Bưởi Cuốc) vốn là hành cung Nghi Giang thời Lạc Thị, là chốn cực kỳ linh thiêng của nước ta, giống như khu vực “Giếng Việt” của thời sau vậy. Khu vực ven sông Đuống có lẽ chính là nơi xuất phát của truyền thuyết sinh trăm trứng (Bách Noãn) trong huyền sử Hùng Vương.

Sau thời kỳ Sơn triều với Tam vị Hùng Vương Thánh Tổ ở vùng núi Phong Châu, giai đoạn Lạc triều từ Kinh Dương Vương truyền qua Lạc Long Quân rồi các đời Hùng Vương được truyền thuyết hóa bằng con số 18 đời ở vùng đồng bằng ven sông biển.

Câu đối ở đình làng Đại Mão, Gia Bình, nơi thờ Tam vị Lạc Thị:

Thiên đãng thánh thần khai Bách Việt
Địa xưng văn hiến ngưỡng tam linh.

Các di tích thờ Việt Nam Lạc Thị ở Bắc Ninh.
Sắc phong cho Kinh Dương Vương miếu ở Á Lữ, Thuận Thành: Khai sơ Sáng thủy Khởi minh Thùy hiến Việt Nam Lạc Thị Linh ứng Trung đẳng thần.
Ngai vị ba vị Việt Nam Lạc Thị ở đình làng Nghi Khúc, Gia Bình.
Bia sự tích Việt Nam Lạc Thị ở đình làng Đại Mão, Thuận Thành.
Tượng đồng Lạc Long Quân và Âu Cơ ở đình làng Đoan Bái, Gia Bình.
Nghi môn đền Bình Ngô, Thuận Thành.

Đi suốt thời đại Hùng Vương

Nhận thức về thời đại Hùng Vương là một quá trình rất dài, rất khó mà nếu không có tâm, không có sức thì khó có thể nhận ra được chân tướng dù là ở những chi tiết nhỏ nhất. Sẽ là quá đơn giản, nếu không nói là thô thiển và ấu trĩ, khi cho rằng 18 đời Hùng Vương chỉ là sự việc trong chốc lát vài trăm năm, rằng vua Hùng nào cũng giống như vua Hùng nào, không đội lông chim thì chắc cũng phải đóng khố… Sự thực 18 triều đại Hùng Vương của người Việt đã trải qua gần 3.000 năm lịch sử, phát triển từ thấp đến cao, từ thời kỳ đồ đá qua đồ đồng tới đồ sắt, từ khi con người mới đang ăn lông ở lỗ cho tới thời kỳ thiên hạ hàng triệu dân thống nhất trên vùng trời Đông. Xã hội thời Hùng Vương trong quá khứ người Việt đã bước từng bước qua 4 nấc thang phát triển Hồng – Lạc – Âu – Triệu ứng với 4 danh xưng thủ lĩnh thiên hạ là Tổ – Phụ – Vương – Đế.

Thời đại Hùng Vương bắt đầu từ khi núi sông Bách Việt có Tổ. Hoàng Đế Hữu Hùng Đế Minh 5.000 năm trước mở nước họ Hồng Bàng, thống trị vạn bang chư hầu thiên hạ, là ngọn núi Thái Sơn đột ngột vươn lên từ trong bóng đêm thủa hồng hoang chập chững của con người Việt. Tam vị Hùng Vương Sơn nối nhau kế trị, đạo thánh thần minh, vạn đời tín ngưỡng là những vị Thánh Tổ ngự ở đền Hùng trên núi Hy Cương. Sơn triều Hùng Vương Thánh Tổ được nối tiếp bởi Tản Viên Sơn, vị Kinh Dương Vương sơ khai Nam Việt, Nam Thiên Thánh Tổ, gậy thần sách ước lập nên thiên hạ nước Xích Quỷ, đóng đô miền Ngũ Lĩnh – Ba Vì, vượt lên thiên tai địch họa, mở mang bách nghệ, đặt nền móng vạn thế thịnh vượng cho nhân dân Việt.

Bước ngoặt của xã hội Việt 4.000 năm trước được đánh dấu bằng Vua cha Lạc Long Quân, xuất thế Rồng bay biển Bát, theo bờ biển thoái mà khai mở vùng Động Đình ven sông biển, dùng cày cấy và đánh cá mà tạo sự tự chủ cho cuộc sống của con người đối với thiên nhiên. Xã hội Việt bắt đầu thời kỳ thị tộc Phụ đạo, cha truyền con nối. Lịch sử ghi rằng Lạc triều truyền 18 đời, mở đất theo hướng Đông Nam xa vạn dặm. Hai triều đại Hạ Thương – họ Việt Thường mang dấu ấn thời theo cha Lạc Long xuống biển, kéo dài ngàn năm, cho tới thời Hùng Duệ Vương thì biên giới phía Nam (Bắc nay) đã vượt qua Dương Tử sang đến Hoàng Hà.

Song song với dòng theo Cha Rồng xuống biển Đông, dòng dõi trăm trứng theo Mẹ Tiên lên núi cũng làm nên kỳ tích, vượt dải núi Ai Lao ở Vân Nam, tiến đến Ba Thục ở Quý Châu, làm chủ toàn bộ miền Tây thiên hạ. Tới thời Lạc Vương đời cuối là Hùng Duệ Vương vào hơn 3.000 năm trước, Thục chủ Âu Cơ, theo điềm Phượng gáy non Kỳ, lấy văn đức làm gốc rễ, thụ nhận thiên mệnh, nắm được triết lý nhân sinh mà tác Dịch, tượng trưng trong bánh chưng bánh dày, thay thế Lạc Vương mà dựng nước Âu Lạc, lên ngôi là Thiên tử của toàn Thiên hạ. Chu Vương – Lang Liêu của nước Văn Lang đã phân phong trăm chư hầu, lập ra trăm quan, đặt ra trăm họ, phong cho trăm thần. Thục triều đã tạo dựng nên đất đai và các dòng tộc Bách Việt, hình thành nếp gấp về văn hóa và các vùng lãnh thổ lâu dài cho mãi tới ngày nay.

Thiên hạ với thập nhị hành khiển.

Trăm dòng Bách Việt có lúc thịnh lúc suy, trải qua thời Xuân Thu, Chiến Quốc hợp lại dần thành những Ngũ Bá, Thất Hùng. Để đến thế kỷ III trước Công nguyên, Triệu Đà diệt An Dương Vương, chiếm lục quốc, rồi xưng Hoàng Đế, thống nhất Trung Hoa, phân chia quận huyện mà trị. Nhà Tần Triệu duy trì không được lâu, nhưng chế độ nhất thống Trung Hoa đã là xu thế không thể đảo ngược. Triệu Vũ Đế Lưu Bang từ một thường dân áo vải tranh hùng với Hạng Sở rồi một lần nữa gồm thâu Trung Quốc, khai cơ Vạn Xuân. Phương Nam được phong cho hậu duệ nhà Chu là Nam Việt Vương Triệu Quang Phục cai quản. Cao Tổ và Lữ Hậu mất, Triệu Quang Phục tự xưng Đế, đi xe hoàng ốc, cắm cờ tả đạo, phân đôi Thiên hạ cùng nhà Hiếu. Nền văn hóa đồ đồng Đông Sơn phát triển cực thịnh dưới thời quốc gia Nam Việt. Tới thời Hiếu Vũ Đế có hùng tài đại lược, chiếm lại đất phương Nam, đuổi Triệu Việt Vương cùng đường nơi cửa khẩu Đại Nha. Trung Hoa nhất thống tập quyền về một mối, đánh dấu giai đoạn phát triển xã hội cao nhất trong thời đại Hùng Vương.

Lịch sử chân thực của thời đại Hùng Vương khẳng định dòng giống con Rồng cháu Tiên của người Việt và khắc ghi công ơn tiên tổ đã làm nên nền văn minh thuộc vào hàng sớm nhất trên thế giới, với phạm vi bao trùm khắp trời Đông. Nguồn cội và công ơn này mãi còn trong tâm thức người Việt.

Câu đối ở nghi môn đền Thượng trên núi Hùng Nghĩa Lĩnh:

Thông thông uất uất, trung hữu lăng yên tẩm yên, Long phụ Tiên mẫu chi tinh linh, khởi hựu hậu nhân võng khuyết

Cổ cổ kim kim, kiến thử sơn dã thủy dã, Thánh tổ Thần tôn chi sáng tạo, ô hô tiền nhân bất vong.

Dịch nghĩa:

Xanh xanh tốt tốt, trong có này lăng này tẩm, là tinh linh của Cha Rồng Mẹ Tiên, đó giúp đời sau không thiếu

Xưa xưa nay nay, thấy đây kìa sông kìa núi, là sáng tạo bởi Tôn Thần Tổ Thánh, hỡi ôi người trước mãi còn!

Sách ebook LỊCH SỬ HÙNG VƯƠNG Tân biên & Vịnh sử

Lời nói đầu

Lịch sử các vua Hùng dựng nước luôn là câu hỏi nhức nhối đối với bất kỳ người Việt nào muốn tìm về nguồn cội của mình. Hàng ngàn năm lịch sử với 18 triều đại Hùng Vương đâu phải là một chớp mắt. Vậy thời đại Hùng Vương thực sự đã diễn ra như thế nào? Chắc chắn, trên bước đường chập chững lúc mới nên hình nước non đã xảy ra bao nhiêu biến cố, bao nhiêu thách thức. Những bước tiến nào mà xã hội người Việt đã trải qua trong suốt hàng ngàn năm đó? Cha ông người Việt đã làm gì để đã vượt qua những thách thức đó?

Cuốn sách tái hiện lịch sử thời đại Hùng Vương thành một mạch xuyên suốt từ khi mở trời mở đất cho đến vị vua Hùng cuối cùng qua những sự kiện, những mốc phát triển chính. Cuốn sách không tham vọng khảo chứng lịch sử, mà là chia sẻ sự nhìn nhận có được qua việc tìm hiểu quá khứ từ những dữ kiện và góc nhìn khác nhau. Đó là việc đối chiếu các nguồn tư liệu thành văn của Hoa sử và Việt sử. Là những thông tin chắt lọc từ những sự tích thờ cúng, lễ hội cho những anh hùng, những nhân vật trong suốt chiều dài sử Việt. Là sự suy ngẫm trước những hiện vật khảo cổ biết nói đã được phát hiện không chỉ ở Việt Nam mà còn trong khu vực trời Đông. Là góc nhìn địa văn hóa, sử văn hóa từ những dấu vết ngôn ngữ, triết học cổ.

Trên bìa những cuốn lịch sử Hùng Vương xưa (ngọc phả Hùng Vương) được soạn bởi các bậc hàn lâm học sĩ đương thời có đề đôi câu đối:

Vấn lai dĩ sự tu vi sử
Tế nhận như đồ dục mệnh thi.

Tức là:

Hỏi kỹ chuyện qua mà chép sử
Thấy rành như vẽ mới làm thơ.

Xem kỹ những gì đã biết về các vua Hùng, thấy sự việc rõ rành thì tất có cái hứng để làm thơ, để ca ngợi công đức tiền nhân, để cảm sự nỗ lực của người Việt dựng nên nền tảng văn hóa xã hội ngàn đời cho con cháu. Sau phần biên diễn lịch sử là những bài thơ vịnh sử xuất phát từ những cảm hứng này.

18 vương triều Hùng bất diệt. 3000 năm xã hội Việt phát triển qua 4 giai đoạn từ thấp đến cao. Không gian lịch sử bao trùm khắp trời Đông. Những vị anh hùng đã hóa thần trong sử Việt. Đó là những gì cuốn sách muốn gửi gắm đến các bạn đọc ngày hôm nay.

Bách Việt trùng cửu Nguyễn Đức Tố Lưu

Sách phát hành online bởi Hùng Việt sử quán.

Bất kỳ sự sao chép, in ấn nào từ tác phẩm với mục đích thương mại đều phải được phép của tác giả.

Link tải sách:

https://drive.google.com/file/d/1OmKTZHLxNdEhZaEcLS7Rfqu1pop4tpAx/view?usp=sharing

Mã QR

Liên hệ để nhận mật khẩu theo:

    Facebook: https://www.facebook.com/hungvietsuquan

    Email: bachviet18@yahoo.com, 

    Phone, Zalo: 0559551003.

Mục lục

Lời nói đầu 

LỊCH SỬ HÙNG VƯƠNG
    Thời thần thoại
    Tam Sơn Hùng Vương Thánh Tổ
    Nam Thiên Thánh Tổ Kinh Dương Vương
    Động Đình Lạc Long Quân
    Chử Đạo Tổ
    Long Khuyển Bàn Hồ
    Âu Cơ và Sùng Lãm
    Trị bình kiến phu
    Đông Chu phong vũ
    An Dương Vương
    Tần Việt nhân duyên
    Vạn Xuân Triệu Vũ Đế
    Triệu Việt Vương
    Hậu Lý Nam Đế
    Trưng Lữ Vương
    Vương Mãn
MẤY BÀI THƠ SỬ
    Thấy rành như vẽ mới làm thơ
    Ngày giỗ Tổ
    Sơn Tinh
    Tản Viên
    Sơn Tinh – Hạ Vũ
    Bốn ngàn năm
    Nhớ Hằng Nga
    Hiếu với trời đất
    An Dương Vương
    Phù Đổng Thiên Vương
    Phong thần
    Nước Việt Thường
    Lão Tử Cổ Loa
    Cổ Loa thành
    Ai oán Mỵ Châu
    Lý Bôn
    Chuyện Nam Việt
    Từ Nam Việt đến Đại Việt
    Trưng Triệu
    Đất nước tôi

Kinh Dương Vương mở nước kỷ Hồng Bàng

Thần tích làng Tiên Cát, Việt Trì, Phú Thọ là một bản thần tích đặc biệt, khác với những thần tích hay gặp khác vì nó không phải được biên soạn bởi các vị quan của triều đình, mà là tư liệu được ghi chép và lưu giữ bởi những người dân ở địa phương tại vùng đất tổ Phong Châu. Trong thần tích Tiên Cát có rất nhiều chi tiết về thời kỳ Kinh Dương Vương – Hùng Vương và có lẽ đây chính là tư liệu gốc cho việc biên soạn các bản ngọc phả Hùng Vương sau này. Đây cũng là một bằng chứng rõ ràng cho việc các truyền tích Hùng Vương đã được lưu truyền rất lâu từ trước thời Lê.

Thần tích Tiên Cát mở đầu: Xưa Kinh Dương Vương vâng lệnh dẫn các tướng dời đến núi Nam Miên trấn giữ, chọn nơi hình thế thắng địa có để lập đô ấp, mới tới đất Hoan Châu (nay là xứ Nghệ An). Vua ngắm xem hình thế, thấy được một vùng có quý cuộc như lâu đài muôn nhẫn, tên là núi Hùng Bảo Thứu Lĩnh, tất cả có 199 núi, tụ họp ở cửa Hội Thống ven giáp biển. Núi chạy quanh co, sông chảy uốn khúc, địa thế rồng cuộn hổ ngồi, bốn hướng cùng trông. Vua bèn xây dựng đô thành làm nơi cho bốn phương triều cống Nam Bang.

Nước ta bắt đầu được dựng nước từ vùng Nghệ Tĩnh, nơi có núi Hồng Lĩnh, được truyền thuyết gọi là Thứu Lĩnh, gần cửa biển Hội Thống. Vị Kinh Dương Vương đầu tiên đã mở nước và đóng đô tại đây.

Thần tích Tiên Cát kể tiếp: Ngày sau Vua lại đi tuần thú, rong ruổi xem khắp các nơi sông núi, đến xứ Sơn Tây thấy một nơi địa hình trùng điệp, sông chung núi đúc. Vua bèn thân ngự giá lên núi, tìm mạch đất, nhận thấy khí mạch từ núi Côn Lôn xuất ra, qua Ải Môn rốn nước thoát mạch, rồng dẫn đi xa, thế rõ từ núi Tụ Long liền tới châu Thu Vật xứ Tuyên Quang, biến ra toà kim tinh cao muôn nhẫn. Mạch đất chạy tới phủ Lâm Thao, Hạ Hòa, Thanh Ba, Sơn Vi, Tây Lan, Phù Khang, đến chùa Hoa Long, thôn Việt Trì ở ngã ba sông Bạch Hạc….

Nhìn thấy tất cả hình thế ấy, Vua nhận ra thế cục của đất quý đẹp hơn đô thành cũ Hoan Châu, bèn lập chính điện ở núi Nghĩa Lĩnh. Vua thường ngự giá đến ở. Bên ngoài lại lập dựng đô thành Phong Châu, lập nước tên là Văn Lang.

Vị Kinh Dương Vương đi tuần thú rồi mở kinh đô tại Phong Châu trên núi Nghĩa Lĩnh thì phải là Đế Minh. Truyện Họ Hồng Bàng cho biết: Đế Minh cháu ba đời Viêm Đế Thần Nông sinh ra Đế Nghi, nhân đi tuần về phía Nam đến núi Ngũ Lĩnh mừng gặp và lấy được con gái bà Vụ Tiên rồi trở về, sinh ra Lộc Tục. Lộc Tục mặt mày sáng sủa, thông minh phúc hậu, Đế Minh rất lấy làm lạ, muốn cho nối ngôi mình. Lộc Tục cố từ, xin nhường cho anh là Đế Nghi. Đế Minh liền lập Đế Nghi làm người nối ngôi cai trị đất phương Bắc, phong cho Lộc Tục làm Kinh Dương Vương để cai trị đất phương Nam, lấy hiệu nước là Xích Quỷ.

Ý nghĩa của đoạn truyện mở nước này là Đế Minh đã hình thành nên một vùng thiên hạ vạn bang với kinh đô đóng ở 2 đầu Nam Bắc. Thời kỳ mở nước Hồng Bàng có 2 phần là Lạc và Hồng (tức Nam và Bắc) với 2 kinh đô là Nghĩa Lĩnh và Thứu Lĩnh, do 2 vị vua chủ trị là Lộc Tục ở đất Lạc và Đế Nghi ở đất Hồng. Đất nước ban đầu được mở theo trục Bắc Nam.

Trong thần tích Tiên Cát, Kinh Dương Vương đã căn dặn con cháu: Ta từng xem được địa hình Sơn Tây có một chỗ ở núi Nghĩa Lĩnh, ngàn núi quy phục, vạn sông chầu tôn, tất có trăm đời đế vương, sau có thần tiên bất tử, do đó đã thiết lập thành đô quý Phong Châu, lại tạo cung Tiên Cát để bố trí nàng Thứ phi tại đó, cũng biết Ngọc nương có tiên cốt, không phải trần phàm. Đất đó tuy là khu nhỏ ở bên sông nhưng do trời đất an bài, núi sông thông đường, cũng đều là đất quý, không phải tầm thường, để làm quốc bảo (tức cung Tiên Cát, sau đổi thành trang Tiên Cát). Con cháu hãy gìn giữ, làm cảnh thủy phủ tiên cung. Chớ làm sai rời đất đó. Để giúp mạch nước được bền lâu.

Đế Nghi là dòng chính thống của Đế Minh, nên tiếp nối cai quản ở vùng Cựu đô Ngàn Hống trên núi Thứu Lĩnh (dãy Hồng Lĩnh – vùng đất Hồng). Lộc Tục (Lạc tộc) là dòng bà Vụ Tiên, được thần tích Tiên Cát kể là bà Thứ phi của Kinh Dương Vương (Đế Minh), xuất xứ từ vùng miền núi châu Đại Man. Bà Thứ phi là dòng Tiên tộc (tức là dòng trên núi, chữ Tiên là người ở trên núi) nên nơi bà ở và được thờ mang tên là đền Tiên.

Câu kể thường gặp trong các thần tích: “Hoan Châu thắng địa kiến lập kinh đô. Nghĩa Lĩnh hình cường trùng tu miếu điện” diễn tả đúng quá trình mở nước theo hướng Nam Bắc của họ Hồng Bàng.

Thần tích Tiên Cát kể:

Bấy giờ khí xuân ấm áp, vô vàn cảnh sắc. Vua bản tính thích phong thuỷ bèn lên thuyền ngự tuần du ngoài biển, đi xem núi sông, trải xem hình đất nước, lạc ra ngoài biển. Bất giác thấy thuyền rồng đã thẳng đến xứ hồ Động Đình. Vua sai dừng thuyền, đứng lên xem, chợt thấy một người con gái lưng eo xinh đẹp, dung nhan tuyệt sắc, từ dưới đáy nước đi đến. Thật là một cuộc hội ngộ hiếm có xưa nay. Vua bèn sai chèo thuyền đến gần. Vua nói:
– Tiên nữ đẹp quá, từ đâu đến đây?
Thiếu nữ đáp:
– Thiếp tên là Thần Long, chính là con gái Động Đình Quân, ở trong thâm cung cửa ngọc, từ lâu đợi bậc anh hùng. Nay trời cho được gặp gỡ, nguyện được theo phụng hầu khăn túi.
Vua vui mừng đẹp ý, bèn dắt vào trong thuyền rồng. Vua cùng người con gái quay giá trở về thành đô, lập Thần Long làm chính cung.

Nước Hồng Lạc sau khi phát triển theo trục Nam Bắc thì chuyển sang giai đoạn mở rộng theo hướng Đông Tây, mà được đánh dấu bằng sự kiện Kinh Dương Vương lấy Thần Long Động Đình. Động Đình là vùng sông nước ven biển phía Đông, do một bộ tộc cư trú gọi là Long tộc. Kinh Dương Vương lúc này là Tản Viên Sơn Thánh đã kết duyên cùng với Thủy Tinh Động Đình, mở rộng dòng giống Lạc Hồng theo hướng tiến về phía Đông.

Tản Viên Sơn Thánh là vị chủ trị vùng Sơn Tây thì đã rõ. Bản thân chữ Tản là tính chất của quẻ Tốn, chỉ hướng Tây. Còn vị vua cai quản miền sông nước phía Đông chính là Lạc Long Quân, người con của Kinh Dương Vương và Thần Long Động Đình. Long Quân được ghi là hóa sinh về biển làm Động Đình Đế Quân.

Đền Tiên Cát cũng thể hiện sự kết hợp của 2 dòng sông và núi, thể hiện ở việc Ngọc Tiên nương (Thứ phi của Kinh Dương Vương) kết nghĩa với 2 người con gái thủy phủ Long cung là Thủy Tinh và Bạch Hoa nương. Lạc Long Quân sau này còn cử thêm 3 hoàng tử trong dòng thủy phủ là Cự Linh, Ất Linh và Thông Thủy Long vương đến hộ giá các vị tiên nương ở cung Tiên Cát.

Như thế, cho tới Lạc Long Quân, người Việt họ Hồng Bàng đã hoàn thành thời mở nước họ Hùng về 4 hướng qua các triều đại Kinh Dương Vương ban đầu là:

  • Đế Minh, vị Hùng Vương đầu tiên, được thờ ở đền Hùng là Đột Ngột Cao Sơn Thánh Vương, là vị Thái tổ khai sinh họ Hồng Bàng.
  • Đế Nghi, vị vua Hùng thứ hai, được thờ ở đền Hùng là Viễn Sơn Thánh Vương. Kinh đô chính ở Thứu Lĩnh trên đất Hồng phương Bắc xưa.
  • Lộc Tục, vị vua Hùng thứ ba, được thờ ở đền Hùng là Ất Sơn Thánh Vương. Lộc Tục là dòng Tiên tộc ở phương Nam xưa, kinh đô đóng tại núi Nghĩa Lĩnh, vùng đất Lạc.
  • Tản Viên Sơn Thánh, vị vua Hùng thứ tư, thường được gọi là Kinh Dương Vương, chủ trị miền rừng núi phía Tây.
  • Lạc Long Quân, vị vua Hùng thứ năm, chủ trị miền sông nước Động Đình ở phía Đông.

Thần tích Tiên Cát cho biết, Hùng Vương từ Kinh Dương Vương trải 18 đời tới Hùng Duệ Vương thì nhường ngôi cho Thục Vương. Thục Vương khi đó đã rời đô về Cổ Loa, còn đất Phong Châu trở thành nơi sinh sống của nhân dân. Tới thời mạt Trần, họ Hồ tranh quyền, kéo đến bãi đá bên sông cạnh đền Tiên Cát, cho cưa phá những voi đá, ngựa đá chầu về núi tổ tại đây, chạm vào địa mạch linh thiêng từ thời Kinh Dương Vương. Hổ báo, kinh nghê đều nổi giận, tiến vào đất Tiên Cát mà giết đuổi quân nhà Hồ… Chi tiết này cho thấy những di tích bằng đá về Kinh Dương Vương và Hùng Vương đã hiện hữu ít nhất là trước thời nhà Hồ. Chắc chắn các tư liệu ghi chép và di tích thờ phụng Hùng Vương đã có từ rất sớm.

5 vị Kinh Dương Vương mở nước họ Hùng đầu tiên ở 5 phương, khởi đầu cho các nhóm tộc người Bách Việt sau này. Tản Viên Sơn Thánh là Nam Thiên Thánh tổ của Lạc tộc, tức là nhóm người Kinh Mường. Long Quân là Vua cha của Long tộc, sau này là nhóm Tày Thái. Đế Nghi là tổ của Viêm tộc phương Bắc xưa (Nam nay), sau là người La Lồi hay người Chiêm Hồ. Lộc Tục dòng bà Vụ Tiên là tổ của nhóm Miêu tộc, tức người Miêu Dao sau này. Một nhánh dòng Đế Minh là Đế Lai do cuộc tranh chấp với Lạc Long Quân đã phải chạy về phía Tây, sau là người Di Lão hay người Âu (trong Âu Cơ, Âu Lạc).

Ngũ tộc thời lập quốc họ Hùng đã bao trùm đầy đủ các nhóm tộc người của vùng Đông Nam Á. Cho nên vua Hùng là tổ của Bách Việt là chính xác. Thần tích chép: “Đời đời cha truyền con nối, đều xưng là Hùng, ngọc lụa xe sách núi sông thống nhất, chính là thủy tổ Bách Việt“.

Thần tích Tiên Cát cũng cho biết ý nghĩa của ngày giỗ tổ Hùng Vương vào tháng 3 âm lịch. Mùa xuân ngày 12 tháng 3 bỗng thấy trên trời một tiếng sấm nổ vang rền, giữa trùng sóng nước đều trở nên mờ mịt. Trăm vương tự nhiên cùng hóa (trước cùng sinh một bầu trăm trứng, nở ra trăm người, sau cũng cùng hóa, đều tại đầu núi Nghĩa Lĩnh vậy. 50 người con theo mẹ lên núi làm sơn thần. 50 người con theo cha xuống nước làm thủy thần, đều tại đây).

Trăm người con trai họ Hùng đã đồng sinh cùng bọc đồng bào và đồng hóa vào ngày 12 tháng 3. Ngày tháng 3 này chính là ngày giỗ tổ của trăm họ Bách Việt, gồm cả 5 nhóm tộc người đã nói ở trên. Giỗ tổ Hùng Vương không phải chỉ là giỗ tổ người Kinh hay người Mường, mà của trăm tộc người trên mảnh đất Việt, Đông Nam Á và Nam Trung Hoa.

Thần tích làng Tiên Cát, tổng Minh Nông, huyện Hạc Trì, Phú Thọ

Chính ban thờ lục vị thần ở đền Tiên Cát.

Xưa Kinh Dương Vương vâng lệnh dẫn các tướng dời đến núi Nam Miên trấn giữ, chọn nơi hình thế thắng địa có để lập đô ấp, mới tới đất Hoan Châu (nay là xứ Nghệ An). Vua ngắm xem hình thế, thấy được một vùng có quý cuộc như lâu đài muôn nhẫn, tên là núi Hùng Bảo Thứu Lĩnh, tất cả có 199 núi, tụ họp ở cửa Hội Thống ven giáp biển. Núi chạy quanh co, sông chảy uốn khúc, địa thế rồng cuộn hổ ngồi, bốn hướng cùng trông. Vua bèn xây dựng đô thành làm nơi cho bốn phương triều cống Nam Bang.

Bấy giờ khí xuân ấm áp, vô vàn cảnh sắc. Vua bản tính thích phong thuỷ bèn lên thuyền ngự tuần du ngoài biển, đi xem núi sông, trải xem hình đất nước, lạc ra ngoài biển. Bất giác thấy thuyền rồng đã thẳng đến xứ hồ Động Đình. Vua sai dừng thuyền, đứng lên xem, chợt thấy một người con gái lưng eo xinh đẹp, dung nhan tuyệt sắc, từ dưới đáy nước đi đến. Thật là một cuộc hội ngộ hiếm có xưa nay. Vua bèn sai chèo thuyền đến gần. Vua nói:

– Tiên nữ đẹp quá, từ đâu đến đây?

Thiếu nữ đáp:

– Thiếp tên là Thần Long, chính là con gái Động Đình Quân, ở trong thâm cung cửa ngọc, từ lâu đợi bậc anh hùng. Nay trời cho được gặp gỡ, nguyện được theo phụng hầu khăn túi.

Vua vui mừng đẹp ý, bèn dắt vào trong thuyền rồng. Vua cùng người con gái quay giá trở về thành đô, lập Thần Long làm chính cung.

Ngày sau Vua lại đi tuần thú, rong ruổi xem khắp các nơi sông núi, đến xứ Sơn Tây thấy một nơi địa hình trùng điệp, sông chung núi đúc. Vua bèn thân ngự giá lên núi, tìm mạch đất, nhận thấy khí mạch từ núi Côn Lôn xuất ra, qua Ải Môn rốn nước thoát mạch, rồng dẫn đi xa, thế rõ từ núi Tụ Long liền tới châu Thu Vật xứ Tuyên Quang, biến ra toà kim tinh cao muôn nhẫn. Mạch đất chạy tới phủ Lâm Thao, Hạ Hòa, Thanh Ba, Sơn Vi, Tây Lan, Phù Khang, đến chùa Hoa Long, thôn Việt Trì ở ngã ba sông Bạch Hạc.

Đầu mạch đất này bên trái từ sông Lôi núi chạy sông theo, tới các huyện Đông Lan, Sơn Dương, Đương Đạo, Tam Dương, bỗng dựng lập núi Tam Đảo. Cung tiên bên trái là rồng xanh, chạy tới hóa ở xứ Hải Dương thành các núi Đông Triều, Yên Tử. Mạch tới ngoài biển tám xã Đồ Sơn, là đầu rồng chầu án.

Bên phải mạch đất Hán Giang, Nhị Hà, Lô Thao Giang, núi dẫn sông theo, tới mười châu Tuyên Quang, Hưng Hóa, Thanh Nguyên, Bạn Hà, Đà Giang, đến huyện Bất Bạt thì nổi lên núi Tản Viên. Cung tiên bên phải là hổ trắng, đầu Sơn Nam, Ái Châu, núi Chính Đại cửa biển Thần Phù, thoát ra ngoài biển ở núi Chích Trợ, cửa Trà Lý, làm đầu hổ chầu án.

Lấy sông Bạch Hạc làm Nội minh đường. Lấy sông Cả ở huyện Nam Xương làm Trung minh đường. Nam Hải, Tượng Sơn làm Ngoại minh đường. Nghìn non cúi phục, vạn thuỷ chầu nguồn, đều hướng về núi tổ Nghĩa Lĩnh.

Nhìn thấy tất cả hình thế ấy, Vua nhận ra thế cục của đất quý đẹp hơn đô thành cũ Hoan Châu, bèn lập chính điện ở núi Nghĩa Lĩnh. Vua thường ngự giá đến ở. Bên ngoài lại lập dựng đô thành Phong Châu, lập nước tên là Văn Lang (phía Đông tới Nam Hải, phía Tây đến Ba Thục, phía Bắc tới Động Đình, phía Nam giáp Hồ Tôn).

Vua rời giá về cựu đô Hoan Châu. Việc dựng đô thành của Vua trước bắt đầu ở núi Thứu Lĩnh, sau lại ở núi Nghĩa Lĩnh. Nay lấy núi Nghĩa Lĩnh làm chốn đô ấp của Cổ Việt Thường Thị.

Lại nói, đương thời Dương Vương ở châu Đại Man, huyện Yên Bình, xứ Tuyên Quang có một gia đình Trưởng ông (họ Mã tên Sùng), lấy vợ người trong châu (họ Trương tên Man). Khi ông tuổi ngoài 50, bà Trương tuổi hơn 40, một hôm bà Trương lên núi lấy củi. Trên núi có một ngôi đền cổ, đều đã đổ nát. Bên trong có tượng nữ, cũng đã hư hỏng. Bà Trương lại gần xem xét. Bà Trương mới đùa rằng thần linh ở đây ngày đêm nhàn nhã, lấy ai là người cúng tế. Xin hãy về gia đình thiếp để phụng dưỡng cơ huyền.

Tự nhiên bỗng thấy có một con rắn trắng từ trong tượng bò ra. Bà Trương kinh sợ, bỏ chạy về nhà. Ngay hôm đó bà Trương mơ thấy mặt trăng rơi vào trong miệng. Bà Trương bèn nuốt lấy, bỗng nhiên tỉnh lại mới biết là nằm mộng. Từ đó thấy có ý động mà có mang thai. Đến khi đầy tháng sinh được một nương tử, phong tư yểu điệu, mẵn phượng lung linh, mặt ngọc đầy đặn sánh với Hằng Nga trên cung trăng, không phải là người có thể có ở trên phàm trần, môi son má phấn, thân người tự có mùi thơm. Cha mẹ rất yêu quý.

Đến khi lên ba tuổi mới đặt tên là nàng Ngọc Hương. Khi tuổi 15 cung thiềm còn khóa, nhị ngọc đương thì, đức nữ nhi trinh hiền, nữ công tinh khéo, đàn cờ thơ phú không gì là không biết. Có lòng hiếu hiền hoà thảo, thật hiếm có trên đời. Khi 19 tuổi như trăng rằm chính độ, hoa xuân vườn thượng uyển.

Khi ấy Dương Vương ngự giá đi thăm các khu tôn lăng, đi qua Man Châu. Ngọc nương ra xem. Dương Vương thấy, thích thú sắc đẹp đó, mới triệu đến cưới, lập làm Cung phi thứ tư. Vua rất sủng ái, mới cho ở thành Phong Châu (nay tức là đất Bạch Hạc, Phù Khang, Việt Trì). Vua cho xây dựng cung dinh, để nàng sống ở cung đó, gọi tên là cung Tiên Cát (sau tức là trang Tiên Cát).

Lại nói, khi ấy Vua đi tuần thú quay về thành Hoan Châu (nay là Nghệ An). Chính cung Thần Long có mang, khí lành đỏ rạng trong nhà, trong màn trướng có hương thơm. Qua tuần Thần Long sinh Lạc Long Quân, có tư chất phi thường, tự có khí tượng của bậc đế vương.  Vua bèn lập làm Hoàng thái tử. Khi ấy có con gái của Đế Lai là Âu Cơ về ở quê mẹ tại động Lăng Sương, đi ra bãi Trường Sa chơi. Long Quân bắt gặp, rất yêu quý sắc đẹp đó mới cưới về lập làm Hoàng phi.

Do đó Kinh Dương Vương sai Lạc Long Quân đến núi Nghĩa Lĩnh ở thành Phong Châu để giúp việc lớn nước nhà, lại cùng tiện cho việc thăm hỏi Thứ phi. Lạc Long Quân tuân theo mệnh chỉ, đến thành Phong Châu nhận việc vua, thiên hạ thái bình, đất nước vô sự. Quân thần đều sùng ngưỡng tiên phật, tin kính quỷ thần trời đất. Vua và dân cùng hội hợp, trăm họ vui ca lạc nghiệp. Bốn dân vinh đủ yên bình, đều là ơn đức lớn vậy.

Lại nói, Thứ phi sống ở nơi đất đó, cứ mỗi năm hai lần xa giá về chầu chính cung cửa đế. Chầu xong lại quay về đất cung dinh cũ (tức cung Tiên Cát), ngày tháng đàn thơ, hội nhạc, cờ vây ở bãi đá bên bờ sông. Khi ấy có hai nàng tiên nữ là con vua thủy cung  thường thường đi thuyền rồng lên du ngoạm nơi trần thế, cùng với Thứ phi kết làm nghĩa chị em, tưởng như con cùng bọc mà thân tình như chị em ruột thịt, nguyện cùng với trời cao không đổi (một tên là công chúa Thủy Tinh, một là công chúa Bạch Hoa). Hàng ngày thường xe rồng kiệu phượng lên chơi với Thứ phi cùng đánh cờ, đàn hát làm thơ ở nơi bờ đá bên sông.

Một hôm, Thứ phi nói với hai nàng rằng:

–          Ta thấy hai nàng tuy sông núi không cùng, nhưng đều bậc ở cửa vua, dự vào hàng tiên cung thánh nữ, không phải tầm thường.  Tục nữ nguyện ước được tình tâm phúc, xin chớ coi nhẹ ý đẹp này.

Hai vị thủy nương đáp rằng:

–          Có trời chứng giám, nguyện cùng đồng sinh đồng hóa, cho dù cơ huyền trước đây như thế nào.

Đời sau có thơ rằng:

Hùng triều Tiên Cát sở cung phi

Thạch xứ tiên nương hợp dụng kỳ

Sơn thuỷ tương đồng do tích tại

Tà tiên chi xứ hữu thuỳ tri.

Lại nói, Dương Vương ở ngôi được 215 năm, thọ 260 năm thì băng. Con là Lạc Long Quân kế vị. Long Quân mới lập, cải hiệu là Hùng Hiền Vương. Khi đó Âu Cơ có mang, mang thai 3 năm 30 tháng, đầu núi Nghĩa Lĩnh có mây lành năm sắc sáng rạng, đến khi sinh được một bầu trăm trứng, nở ra trăm con trai, đều có tư chất hơn người, anh hùng vượt thế. Đến khi trưởng thành Vua mới dựng hầu lập bình phong, chia nước làm 15 bộ (Một là Sơn Tây, hai là Sơn Nam, ba là Hải Dương, bốn là Kinh Bắc, năm là Ái Châu, sáu là Hoan Châu, bảy là Bố Chính, tám là Ô Châu, chín là Ai Lao, mười là Hưng Hóa, mười một là Tuyên Quang, mười hai là Cao Bằng, mười ba là Lạng Sơn, mười bốn Quảng Đông, mười lăm là Quảng Tây).

Khi đó Long Quân nói với Âu Cơ rằng:

–          Ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên, giống loài không hợp nhau, chung sống với nhau thực cũng khó. Vì thế ta phải chia tách riêng.  Phân 50 con theo cha về biển, làm Thuỷ tinh. 50 con theo mẹ về núi, làm Sơn tinh, làm hiển rạng cho các vương tử, trấn ngự khắp các vùng núi biển, đều là với danh nghĩa thần thuộc.

Vua bèn đặt quan văn gọi là Lạc hầu, đặt tướng võ gọi là Lạc tướng. Các vương tử gọi là Quan Lang. Các vương nữ gọi là Mị Nương. Các quan hữu ti gọi là Bồ Chính. Là thời sung túc, trên chính nhân luân, dưới hậu phong hoá, những người làm được cử theo việc, tùy theo khả năng. Vua vì thế được rũ áo khoanh tay, hòa mục trong chốn cửu trùng. Dân nhờ thế được đào giếng cấy ruộng, vui sống ở nơi thôn dã. Không một người dân nào bị xua đuổi không chốn sinh cư, không một vật nào không được yên bề nuôi dưỡng. Công thành trị định, vượt hơn các vua trước, dẫu là thời thái cổ cũng không bằng.

Lại nói khi ấy Thứ phi dưới triều Tiên đế Dương Vương không có con, dòng tiên trên trần thế không còn vương vấn. Lạc Long Quân tuân theo mệnh vua cha, ngày đêm phụng dưỡng, không dám nhạt lòng. Ngày thường đến cung Tiên Cát xem ngắm địa thế, tu bổ cung lầu. Vua thấy địa hình nơi đây là nơi rất tốt, quang cảnh đất đẹp anh linh. Phía trước có sông Thao án dựa. Phía sau là núi Nghĩa Lĩnh có lân đá, voi đá, ngựa đá, trống đá, người đá, quân đá tùy vị trí mà án dựa, thị tòng hội ở xứ ấy, phong tinh năm ngọn trái phải phụ tá, củng phục chầu ở trước. Vua nhớ đến việc Tiên hoàng tìm đất, xây dựng cung cho Thứ phi ở đây, tên gọi cung Tiên Cát. Cung đó tất có phong cảnh thần tiên, mạch đất linh thiêng, không phải là khu đất thường tình.

Cho đến một năm sau, một hôm Thứ phi bỗng thấy hai nàng công chúa thủy tiên, theo sao là các nàng hầu, thuyền rồng kiệu phượng, tiến vào trong cung, nói với Thứ phi rằng:

–          Hôm nay (tức ngày 9 tháng 10) đã đến lúc được như nguyện. Chị phải vào chầu cửa đế, xin chớ trì hoãn. Chị với chúng em tuy âm dương hai ngả, sông núi tách vùng, nhưng lại cùng một nhà lầu mây gác phượng, khí huyết cùng nhau mà hội hợp, dám xin có trước sau, chị cùng với hai em về nơi Thủy quốc.

Nói xong, Thứ phi rời đi xuống thủy phủ. Thứ phi lại sai nội thần tâu lên vua trước sau như sau:

–          Hôm nay có hai vị con gái vua Thủy Tinh, là người kết nghĩa với Thứ phi, trước sau đã có hẹn ước, chị em như ruột thịt, nguyện cùng đồng sinh đồng hóa. Nay thấy hai nương cưỡi xe loan đến triệu Thứ phi về chầu cửa đế. Do đó tiểu thần tuân mệnh vào tâu trước bệ, nguyên cớ là như vậy.

Vua nghe lời tâu bèn ngự giá đến cung (tức cung Tiên Cát, do Tiên hoàng dựng nên, đến cuối triều Hùng đổi thành trang ấp). Vua mới đi được nửa đường bỗng thấy mây mưa đổ xuống, gió sấm nổi lên, một lúc thì tự nhiên hết.

Vua nói Thứ phi đã đi vào cõi trường mộng vậy (tuổi Giáp Tý sinh ngày mồng 5 tháng 5, đến ngày mồng 10 tháng 10 thì hóa), bèn lệnh cho quan đến làm lễ tế khi còn chưa đến lúc an táng. Khi ấy Vua ở lại trong cung đó, mơ màng ngủ thiếp đi bỗng thấy Thứ phi xe loan kiệu phượng huy hoàng đẹp đẽ, tả hữu hai bên là hai vị tiên nương cưỡi xe loan cùng đi vào khu bãi đá bên bờ sông. Tiếp phía sau theo hầu trăm người nữ trinh đồng, khăn hồng đai tía, xe rồng kiệu phượng, theo đến nơi gặp Vua ở xứ đó. Thứ phi nói với Vua rằng:

–          Thiếp vốn là thần nữ ở tiên cung, lầu mây gác phượng giáng xuống ở nơi trần thế, năm đó vào hầu Tiên hoàng, được ơn thâm trạch hậu, hưởng lộc đã nhiều. Nhưng hận là trần duyên chưa thỏa, không mảy may chút nào ở trần thế, tất cả đều hư vô. Nay vui vì có được hai vị nương tử cùng là con gái vua thủy cung, trên dương trần hàng ngày có giao du với nhau, nguyện là chị em ruột thịt. Một vị là nàng Thủy Tinh, một là nàng Bạch Hoa, cùng như tay chân gắn bó vậy, đồng lòng kết làm chị em. Nay lầu mây quê trước quay về nơi cảnh cũ, mưa gió ra vào nơi đất tốt.

Lời chưa dứt thì Vua tỉnh lại, mới biết là nằm mơ. Đến khi làm lễ đưa đám, liền trong 3 ngày mưa to gió lớn, một vùng mờ tỏ, cửa nhà tối mịt. Vua chôn cất bà phi ở nơi đất đó (tức xứ Gò Đá, nơi có lân đá, voi đá, ngựa đá, cờ đá, trống đá, thuyền đá, quân đá, bàn đá theo ở phía sau, hai bên trái phải hướng vào trước huyệt, có năm ngọn phong tinh chầu về hai bên, bên phải có sông Thao làm minh đường).

Nơi đó xưa khi Thứ phi còn sống, tuy Tiên đế lập cung trên vùng đất bên trong, bố trí cho Thứ phi ở đó gọi là cung Tiên Cát, nhưng Thứ phi ngày thường thích ra chơi ở đất đó (tức xứ Ghềnh Đá), cùng với hai vị thủy tiên gặp nhau đánh cờ, làm thơ, chơi nhạc, cũng như quang cảnh chốn Bồng Hồ Lãng Uyển, Đào Nguyên Trúc Lĩnh vậy. Ngày trước Vua ngự giá đến đây xem xét địa hình. Vua từng nói là vùng đất này đều rất linh anh, thật là nơi tốt. Nhân đó Vua cho an táng lăng tại nơi này. Vua nhớ lại giấc mộng khi chưa an táng. Hôm đó bèn truyền cho địa phương lập miếu ở trên khu lăng cùng thờ phụng ba vị, cùng phong là các thần nữ.

–          Phong Thứ phi là Đệ nhất A Nương Thần nữ Ngọc Tinh nương Cả Đại vương.

Phong hai vị Tả hữu Thủy tiên Công chúa:

–          Phong làm Đệ nhị Thuỷ Tinh Thần nữ Nương Hai Đại vương.

–          Phong là Đệ tam Bạch Hoa Thần nữ Nương Ba Đại vương.

Vua lại truyền cho các gia thần ở cung sở địa phương ngày trước đã theo hầu Thứ phi, cộng được ngoài trăm nhà ở đó. Vua cho ở tại đó sớm hôm hương khói để phụng thờ.

Lại nói, khi đó Vua có trăm con cùng một bọc, đều là những vị anh hùng cái thế, sức dũng động trời, làm thần thánh xuất thế, không phải thường nhân trên đời. Vua tuy còn ở tại thế cai trị trần gian nhưng cũng chia trăm con làm hai bộ. Một bộ cai quản sông hồ cửa biển. Một bộ trị các đầu núi non, cùng có chức phong làm thần tử, bố trí các nơi để trị hưởng lộc một phương.

Một hôm, Vua ngự ở cung Phượng Lâu (tức nay là trang Phượng Lâu). Khí đó mùa xuân ôn hòa, khí lành, vạn dặm răng thanh gió mát, một trời phong cảnh an hòa. Vua mới nằm ở chính cung (tức cung Phượng Lâu), bỗng nhiên mơ màng, đi vào thẳng thành Hoan Châu (tức Nghệ An), mới gặp Kinh Dương Vương ngự ở chính điện, hai bên có quan văn võ đứng chầu.

Dương Vương nói với Vua rằng:

–          Ta từng xem được địa hình Sơn Tây có một chỗ ở núi Nghĩa Lĩnh, ngàn núi quy phục, vạn sông chầu tôn, tất có trăm đời đế vương, sau có thần tiên bất tử, do đó đã thiết lập thành đô quý Phong Châu, lại tạo cung Tiên Cát để bố trí nàng Thứ phi tại đó, cũng biết Ngọc nương có tiên cốt, không phải trần phàm. Đất đó tuy là khu nhỏ ở bên sông nhưng do trời đất an bài, núi sông thông đường, cũng đều là đất quý, không phải tầm thường, để làm quốc bảo (tức cung Tiên Cát, sau đổi thành trang Tiên Cát). Con cháu hãy gìn giữ, làm cảnh thủy phủ tiên cung. Chớ làm sai rời đất đó. Để giúp mạch nước được bền lâu.

Lời nói vừa dứt thì gió xuân thổi vào áo long bào, Vua tỉnh dậy biết là nằm mộng. Vương nhớ lại lời căn dặn của Tiên hoàng trong mộng, tuy âm dương hai ngả nhưng đâu dám trái mệnh.  Hôm ấy (mùng 10 tháng Giêng) Vua lệnh cho ba vị quan lang một là Cự Linh Thần tướng, hai là Ất Linh, ba là Linh Lang Thông Thủy, đều cùng là những hoàng tử từ bọc trăm trứng nguyên phân làm hai bộ (Cự Linh, Ất Linh, Linh Lang Thông Thuỷ đều thuộc thuỷ bộ), ban cho quản lý đầu sông (tức sông Thao), giữ gìn cung sở của Thứ phi (tức cung Tiên Cát). Ba vị tuân theo ngọc chỉ, quản trị ở đầu sông (tức sông Bạch Hạc ba dòng nước từ ranh giới sông Thao), giữ gìn cung miếu (tức tiên cung Thứ phi của Tiên đế Dương Vương).

Qua hai năm, khi đó Vua đã trị quốc dài lâu, đời đời cha truyền con nối, đều xưng là Hùng, ngọc lụa xe sách núi sông thống nhất, chính là thủy tổ Bách Việt.

Hiền Vương ở ngôi 400 năm, sau về biển hóa sinh bất diệt làm Động Đình Long Quân Đế chủ. Quốc Vương tuân thừa nối đại quyền. Quốc Vương lên ngôi mới được 1 năm thì khi đó mùa xuân ngày 12 tháng 3 bỗng thấy trên trời một tiếng sấm nổ vang rền, giữa trùng sóng nước đều trở nên mờ mịt. Trăm vương tự nhiên cùng hóa (trước cùng sinh một bầu trăm trứng, nở ra trăm người, sau cũng cùng hóa, đều tại đầu núi Nghĩa Lĩnh vậy50 người con theo mẹ lên núi làm sơn thần. 50 người con theo cha xuống nước làm thủy thần, đều tại đây).

Lại nói, Quốc Vương nối ngôi chính thống, chuyên lo giáo hóa đạo đức, khuyến khích nông tang, khiến dân không lo nghèo thiếu, cung vua có tích luỹ của dư. Bốn biển yên bình, không ai gian xảo giả dối, phong tục hồn thuần chất phác. Xét xem xuyên suốt cho đến bấy giờ,vua là bậc có nhiều công hưng trị, càng sáng tỏ hơn các đời trước, được người đời tôn xưng là bậc hiền quân.

Bấy giờ vua truy ơn các bậc thánh trước, bèn thực hiện việc chia đất phân cõi, lập các bộ Sơn tinh Thuỷ tinh, định làm trăm vương, đổi làm trăm họ, phân chia đầu núi góc biển, hùng cứ mỗi phương. 50 tên tộc trấn ở các đầu núi, cùng gọi là quan lang, phiên thần, thổ tù phụ đạo. 50 tên tộc trấn ở các góc biển, cùng là các thần linh trên nước, tiện để bảo hộ dân sinh, giúp phù tông xã.

Một ngày (15 tháng 3) Vua đến ngự ở cung Tiên Cát (sau đổi thành trang Tiên Cát).

Nhàn xem phong cảnh, thăm thú cung lăng, tu bổ các tòa cung sở miếu điện. Vua lại mở một chợ ở bên sông, trước khu cung lăng, gọi là chợ Tiên, cho các phi nhân của vương cung cùng với các nội thần của các phu nhân, vương nữ đến hội sớm tối, những người đánh cá  trước sông  cũng cùng ở trên chợ, là nơi đô hội của thần tiên. Hôm đó (mồng 3 tháng 3) Vua lại phong cho ba vị hoàng đệ đều là Thuỷ thượng linh thần, cùng với Tiên phi vào cùng một nơi, cùng phối thờ phụng.

–          Phong Đệ nhất Cự Linh Chàng Cả Long Vương Đại vương.

–          Phong Đệ nhị Ất Linh Chàng Hai Long vương Đại vương.

–          Phong Đệ tam Thông Thuỷ Chàng Ba Long Vương Đại vương.

Hôm đó (mồng 3 tháng 2) Vua sai quan đế tế, làm lễ bái tạ. Làm lễ chưa dứt thì bỗng thấy gió sấm bỗng nổi lên, mây mù u ám, trên sông sóng đổi vạn nhận, cung đền bốn bên mây phủ. Lại thấy 3 con rắn từ trên đường phân nước tiến thẳng vào trong đền, bò lên giữa gác trái phải. Bên trong đền sáng huy hoàng, mùi hương thơm bao phủ. Trước sông hàng trăm đàn cá hùng dũng nối nhau. Vua lấy làm lạ bèn nói rằng:

–          Nay tuy thủy phủ và dương gian khác biệt, nhưng có tương thân khí huyết, sơn thủy một mạch, cảm được sự linh thiêng, cùng đã biết vậy.

Vua vừa dứt lời thì [ba con rắn] tự nhiên biến mất . Mưa gió tự yên, mây tan trời sáng. Làm lễ xong Vua lại tặng phong là Thượng đẳng Phúc thần, bố trí quan cùng với các gia nhân địa phương ở nơi đó bốn mùa hương khói phụng thờ.

Lại nói, Quốc Vương tên Bảo từ lúc lên ngôi được 300 năm, thọ 643 tuổi, mệnh Tân Mùi sinh giờ Mão ngày 16 tháng Giêng, mất giờ Ngọ ngày mồng 5 tháng 5, hóa sinh sinh không thành, kim tiên thượng quán cư ở cửa ngọc mà cai quản. Tiên chủ sinh trưởng tử là Huy Vương, kế vị, truyền 8 vua tiếp sau.

Sau này Lý tiên sinh có bài tán:   

Sinh vi thánh đế hoá lai tiên

Duy hữu  Hùng đồ thập bát truyền

Thánh tử thần tôn cung miếu tại

Đức đồng nhật nguyệt hưởng trường miên.

Lại nói, thời lịch truyền 18 nhánh (từ  Kinh Dương Vương chí Hùng Hiền Vương, Quốc Vương, Hy Vương, [Hi Vương], Diệp Vương, Huy Vương, Ninh Vương, Hùng Chiêu Vương, Uy Vương, Trinh Vương, Võ Vương, Việt Vương, Định Vương, Triêu Vương, Tạo Vương, Ninh [Nghị?] Vương, Duệ Vương, cộng 18 đời thánh chủ, hưởng nước cộng 2655 năm). Truyền đến Duệ Vương nối ngôi. Duệ Vương có chất thánh triết, tài lớn anh hùng, nối cơ nghiệp tổ tông khai đắp 17 đời thịnh trị, trong lo võ lược, ngoài ngự biên cương, gắng sức hưng bình để yên Trung Quốc. Lại noi gương tiền vương trị vì, sùng trọng đạo trời, kính sự quỷ thần, trời giáng điềm lành, mến giúp quốc sự. Vì thế Vua ngày càng gia tăng sùng chuộng, kính tín thần nhân, truyền hịch cho thiên hạ c sửa thêm đền miếu, vẽ tô nghi vệ trang nghiêm. Khi đó Vua đến cung Tiên Cát (sau đổi thành trang Tiên Cát), thăm thú lăng mộ, tăng thêm việc tu sửa đền miếu, ngày ngày hiến tế, một tháng hai lần sai quan đến làm lễ.

Than ôi, đạo vốn thịnh nhiều thì sẽ suy, đầy rồi thì sẽ tắc. Cơ đồ họ Hùng trị nước vốn đã lâu dài, ý trời tất có hạn. 20 hoàng tử và 4 công chúa đều phiêu du về nơi Bồng Lãng, thoát gót trần gian, không có ai để trông mong việc nối truyền. Chỉ còn hai người con gái, đều là bậc thần tiên đời (một nàng được gả cho Chử Đồng Tử, một nàng gả cho Tản Viên Quân).

Vua bèn nhường ngôi cho Tản Viên Sơn Thánh, là con rể mà truyền đại bảo. Nhưng Sơn Thánh vốn có phẩm chất thần tiên, không muốn nhận ngôi cai quản quốc gia. Bèn lại truyền cho Thục chúa, cũng là cháu họ Hùng ở Ai Lao. Từ khi Thục chúa (tức An Dương Vương) nối thừa ngôi báu, đóng đô ở thành Cổ Loa. Còn Phong Châu thành đất của họ Hùng, cùng các cung sở lâu đài được nhân dân các xã động chia nhau ở (đất thành Phong Châu đến Thục Dương Vương rời về ở thành Cổ Loa, từ đó thành Phong Châu đổi thành các xã trang động của người dân).

Trong thời kỳ Thục Vương, đất ngoài cung Tiên Cát có hai trăm nhà ở đó đã di cư. Chỉ còn 17 người ở lại cố giữ đất đó. Lòng người thay đổi, xưa nay là thường. Cảnh tiên cung vua đó đều theo năm tháng mà yên nhàn trôi qua, tích xưa khó thấy dấu tiên còn đọng, chỉ còn nghe tiếng chim chóc hót ca.

Khi Thục Dương Vương ở ngôi được 80 năm mới truyền vị cho Triệu Đà, cha truyền con nối trải 5 đời thánh vương. Đến khi Vệ Vương kế truyền chính thống thì có quân Tô gây loạn. Trưng nữ lại hưng (cũng là cháu gái của Hùng Vương), ở ngôi được 5 năm, tiếng thơm ngàn thủa, cũng là bậc nữ anh hùng.

Từ đó triều Hùng chấm dứt. Tới Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương cộng 350 năm cho tới khi nước Nam có bốn họ Đinh, Lê, Lý, Trần khai sáng cơ đồ, đều có giúp nước hộ dân, nên các đời đế vương đề có gia phong mỹ tự, vạn đời hưởng lễ, hương khói vô cùng.

Lại nói, tới thời mạt Trần, họ Hồ tranh quyền. Một hôm quân Hồ giáo mác tiến đến ở vùng đất này (tức là vùng đất trang Tiên Cát), vào trú ở trong đền (tức đền cung Tiên Cát). Lại thấy địa hình có quý cục, voi đá, ngựa đá đều hướng chầu lên núi Nghĩa Lĩnh. Hôm đó (mồng 6 tháng 6) quân Hồ sĩ tốt bắt dân phu cùng binh sĩ lấy cưa sắt cắt ngựa đá, voi đá ra thành các đoạn, lấy đá đó xếp thành lũy, đồn sở. Đang khi cắt đá chưa được một lúc, bỗng thấy mây gió lớn nổi lên, bốn bề trở nên mờ mịt, mưa dội sương mù, sấm sét vang gầm. Trên sông nổi sóng cuồn cuộn vạn nhận, sấm vang làm rụng rời phách kinh nghê, vạn dặm cuồng phong dữ dội, cá rùa hồn kinh nhảy loạn, giao long nổi đầy sông, đào thông một đường thủy tiến thẳng vào trước cung, trùng trùng hàng ngàn con. Từ trên núi xuống hàng đàn hổ chạy tới, tiếng gầm chấn động, chạy thẳng về nơi đền thờ ở địa phương (tức trang Tiên Cát), vây kín bốn phương xung quanh. Quân Hồ kinh hồn chạy tán loạn. Nhân dân đều mất vía, tất cả đều bỏ chạy khỏi cửa nhà. Nơi đó (tức đất Tiên Cát) đều bị gió lớn thổi đỏ, nước ngập tràn lan ở bên trong, tất cả đều hư hỏng. Rắn hổ tập trung ở đất đó, đuổi hết mọi người, thật là một nơi bị hại lớn, có vào mà không có thoát, chết chóc rất nhiều.

Chỉ còn có 8 người tránh ở nơi đất gần đó (tức là ở đất nội thành), thường thường buổi tối mới dám quay về ẩn phục xem xét nghe ngóng nơi đền. Thấy sáu vị thánh ở chính trong đền (tức xứ Gồ Đá có chính lăng). Ba vị nữ quan ngồi ở trên, truyền lập hai hàng trái phải các thị nữ khăn áo hơn trăm người, huy hoàng đẹp đẽ, áo quần rực rỡ, vẻ rồng mắt phượng, má phấn môi son, tai cầm phiến ngọc, đầu đeo thoa vàng, đi hài lông phượng, lưng thắt khăn hồng. Bên dưới có ba vị quan nam ngồi đó, trái phải đứng hầu hơn ngàn người, áo lân giáp rồng, bào phục huy hoàng, đứng hầu uy lẫm. Cờ xí la liệt, ngựa voi chỉnh tề, xe loan kiệu phương cùng đi, thuyền rồng phân đội.

Tám người đang nấp nghe, thì thấy ba vị nữ quan nói:

–          Thật đáng trách bọn  cuồng khấu chim chó quân Hồ không biết đất này là nơi Tiên đế mở nền, tạo nên nước Nam. Đất có linh thiêng, khí lành đều do tạo an bài. Do vậy mà các nơi đều hận quân Hồ, nhưng không nên trách dân ta mà gây họa. Nay quân thủy phủ của ta đã trả hận quân Hồ. Còn nhân dân thì không được quấy nhiễu. Quân tôm cá hãy quay về thủy phủ để dân được yên.

Lời nói chưa dứt thì tám người đều phục trước sân mà bái tạ. Bỗng thấy một tiếng động rất lớn tựa như sấm sét giáng xuống mặt đất, rồi dần dần tự biến mất. Từ đó một vùng địa giới đều yên. Tám người quay về đất cũ (tức chợ Tiên Cát), gìn giữ nơi đất đó, năm tháng cùng phụng thờ.

Cho đến khi ở sách Lam Sơn, huyện Lương Giang, phủ Thiệu Thiên, Ái Châu có người họ Lê tên Lợi khởi nghĩa, ba ngàn thần hổ Lam Sơn tiễu trừ họ Hồ, bình định người Ngô. Lên ngôi vua ở Lam Sơn, niên hiệu Thuận Thiên (tức Thái tổ Cao Hoàng đế). Khi đó đất trang Tiên Cát chỉ có 8 nhà ở đó, mới làm bài tấu lên vua về việc quân Hồ đục phá ngựa đá, voi đá ở đền, lại thấy việc linh thiêng như thế. Vua nghe lời tâu đó, lệnh cho quan đến nơi làm lễ cầu đảo (làm lễ năm Kỷ Mùi, mồng 9 đến mồng 10 tháng 10). Nhân dân đều đến ở Gò Đá mà tế lễ. Bèn mổ lợn đen, rượu ngọt, bánh dày cùng với trăm trứng. Từ mồng 9 đến mồng 10 làm lễ thì gió sấm nổi lên, mây mưa mù mịt. Trước sông (tức sông Thao) mây nổi bay trên mặt nước, hơn ngàn đám mây bay ngang dọc trên sông, rồi tiến thẳng vào trong cung đền. làm lễ tế xong thì mây mưa tự nhiên ngừng hết. Bốn phương thanh bình, quang đãng. Nhân dân đều sợ phục. Tới ngày 11 lại tế tạ. Ca múa tới ngày 15 làm lễ. Tạ xong thì mưa gió nổi lên một hồi rồi ngừng. Quan quay về tâu lên. Vua bèn gia phong mỹ tự:

–          Phong Đệ nhị Thuỷ Tinh nương Hai Uy linh Đại vương

–          Phong Đệ nhất Ngọc Tinh nương Cả Linh ứng Đại vương

–          Phong Đệ tam Bạch Hoa nương Ba Hiển linh Đại vương

–          Phong Đệ nhị Ất Linh Chàng Hai Long vương An dân Đại vương

–          Phong Đệ nhất Cự Linh Chàng Cả Long vương Hùng tài Đại vương

–          Phong Đệ tam Thông Thuỷ Chàng Ba Long vương Đại vương.

Trang Tiên Cát phụng thờ 6 vị.

Lại nói, từ khi Lê Thái tổ Hoàng đế truyền qua Thái Tông, Nhân Tông, Thánh Tông, Hiến Tông, Túc Tông, qua Minh Tông đến Chiêu Tông lên nắm quyền. Khi đó họ Mạc tiếm ngôi xưng vương, đại xá thiên hạ, lấy niên hiệu là Minh Đức, kế thế con cháu 5 đời làm vua.

Tới Lê Trang Tông cùng với đại thần là Thái úy lại khởi nghĩa binh. Niên hiệu Nguyên Hòa năm Quý tỵ quan Thái úy tôn phù nhà vua, dời đến cảnh Ái Châu, truyền các tì tướng gửi hịch chiêu dụ các xứ ở Bắc thành, lại đi thuyền đến đạo Sơn Tây, giả làm thuyền buôn. Đi tới sông Thao, thuyền qua trước đền (tức đền Tiên Cát) gặp ghềnh chặn, thuyền không thể đi được. Gió lớn thổi đến, sóng to trên sông, làm cho thuyền gần bị lật. Tướng cầm quân ngẩng lên nhìn bỗng thấy đền thờ rực rỡ. Ngay hôm đó (mồng 3 tháng 8) bèn đậu thuyền làm lễ, cầu đảo khấn rằng:

–          Gia thần tuân theo mệnh lớn, chiêu dụ người tài, tiễu trừ giặc mạc. nếu phục hồi được nhà Lê Nguyễn, nguyện xin âm phù cho thông đường thủy và bảo toàn quân đội.

Khấn xong tự nhiên yên bình. Các thuyền tự thoát, thuyền đi như bay. Thuyền lên đến trang Tằng Động huyện Thanh Ba thì thấy mưa gió tập trung chỗ dân địa phương. Bèn đóng quân trong ba ngày. Hôm ấy (mồng 6 tháng Giêng) nhân dân ở đó với quân Lê cùng mơ thấy hai cánh binh mã tiến vào trong dân, nói rằng:

–          Ta là  Chàng Út Long vương Thuỷ thú cùng với Chấn cung Thần quan tuân theo mệnh vua âm phù cho mệnh nước, bảo hộ nhà Lê. Nay đến nơi dân đây còn chưa định làm lễ sao?

Bỗng nhiên tỉnh lại mới biết là nằm mơ. Quân sĩ và nhân dân địa phương đều sợ hãi. Hôm đó (mồng 10 tháng Giêng), lập đàn cầu tế (ngày sau ở đất này đều lập miếu phụng thờ).

Một hôm quân Lê lại quay về huyện Tam Nông xứ Hưng hóa, vào ở tại đất trang Thọ Xuyên, bị quân Mạc vây hãm. Ba ngày sau quân Lê trước khi xuất hành mới cầu đảo bách thần phù hộ. Tự nhiên gió Tây lớn nổi lên, mây mưa bao phủ theo dòng nước mà vào cả khoảnh nơi đó, tất cả thành một dòng suối lớn chảy phá vào. Quân Mạc đại bại, chạy tán loạn. Quân Lê cùng xuất toàn quân, quay về Ái Châu (sau trang Thọ Xuyên lập miếu phụng thờ Thủy thần Đại vương, cùng với 5 vị và một vị công thần nhà Lê cúng tế).

Lại nói khi đó vạn dân quản chặt, bốn phương khói bụi, nước có 2 vua trị vì, dân không có ngày nào là yên nhàn, gọi là thời một nước hai vua. Hơn 60 năm sau, Trang Tông lệnh cho Thái úy thống lĩnh hai quân thủy bộ đi dẹp giặc Mạc. Thái úy bái tạ, xuất quân thẳng đến đóng ở các huyện Phù Khang, Bạch Hạc, Phúc Lộc của đạo Sơn Tây, lập các đồn lớn ở châu Trường Sa, vân Thủy, dựng đàn dâng hương cầu đảo trăm thần âm phù trừ Mạc, giúp nước cứu dân. Sau này được thanh bình sẽ tâu lên vua tăng phong mỹ tự Thượng đẳng phúc thần, vạn năm hưởng thờ.

Khấn xong tự nhân mây mù nổi lên, mờ mịt trong ba ngày. Thái úy ngồi ở nơi đàn thiếp đi mộng thấy trăm thần nam nữ cùng đến, sơn thủy cùng về, qua giáp khắp trời, cờ xí rợp đất, đến trước Thái úy, hoặc chào hoặc bái, xưng họ xưng tên. Thái uy trong mộng không ghi nhớ hết được. Bỗng nghe ở hướng Đông Nam có một tiếng sét động. Thái úy giật mình tỉnh lại mới biết là mộng. Lại thấy mây mờ bay tản đi, trời ban ngày rạng sáng. Thái úy cho rằng đó là điềm trung hưng, bèn lệnh lấy đồ văn phòng tứ bảo cứ theo trong mộng mà ghi lại tên hiệu các thần lên lụa để chép lại việc này. Hôm đó lệnh cho quân sĩ mổ trâu, khấn tạ trăm thần, khao hưởng tướng sĩ.

Ngày sau chia binh đến dẹp giặc mạc, đại chiến một trận ở đất Phấn Thượng, huyện Phúc Lộc, máu chảy thành sông, xác chất thành núi. Giặc Mạc thua to, chạy lên mạn Bắc, đến nơi mở trường chọn kẻ sĩ, chặn giữ biên phương, không thể dẹp hết được. Thái úy về thành Thăng Long, giải giáp ngừng binh, làm biểu tâu thắng trận, xin vua về thành. Trang Tông hôm đó xa giá đến thành Thăng Long, thưởng cho ba quân, gia phong tướng sĩ. Phong cho ông là Thái úy Hưng Quốc Công thần. Ông tuổi đã già, có ý muốn nghỉ ngơi, bèn dâng biểu tấu với vua xin các việc quốc gia lớn nhỏ giao cho con rể họ Trịnh. Trang Tông đồng ý.

Trang Tông bèn lập Thái tử, sau là Trung Tông Vũ Hoàng đế, niên hiệu Thuận Bình, sau đổi thành Thiên Hựu, là con trai của Trang Tông. Trung Tông kế truyền ngôi cho Tuấn Hoàng đế, húy Hàn trác, ở xã Bố Vệ, huyện Đông Sơn, niên hiệu Chính Trị. Khi đó có đại thần họ Trịnh phò tá, lập kỷ cương đất nước, bày chế trong ngoài. Sau Thế Tông truyền ngôi cho Nghị Tông, niên hiệu Hồng Phúc, sau đổi là Gia Thái, lại đổi là Quang Hưng, chính là con trai của vua Chính Trị. Khi ấy giặc Mạc trong nước đã diệt. Nhà Lê lại bắt đầu ngôi chính thống.

Từ đó thiên hạ thái bình, triều đình vô sự. Nhà Lê là chủ, họ Trịnh là vương, ban bố hai bộ Công và bộ Lễ đốc lệnh cho huyện doãn cùng các dân phu các xã xây dựng lại điện đình ở địa phương nơi xã Phấn Thượng, cung phụng thờ các vị vua chủ cùng các vị chư thần, lấy xã đó làm trưởng tạo lệ. Lại tiến phong các mĩ tự cho trăm thần sơn thủy nam nữ đã âm phù giúp nước, cùng luận công mà thưởng tước lộc, ban thêm cho những người có công. Công mãi mãi là thức lệ cùng với nước trường tồn. Thật thịnh thay!

Lại nói, khi đó lại phong mỹ tự cho trang Tiên Cát. Lúc ấy chỉ có 8 người về ở đó từ khi cuối họ Hồ, cho đến khi Lê Thái Tổ lên ngôi các đời sau của 8 người đó đều sinh con cháu cùng với vợ chồng. Những người sau đều ở phụ đó, phong tục nhân dân chất phác đôn hậu, giàu mạnh, đinh dân khỏe mạnh. Bèn chia đều thành 8 giáp cùng phụng thờ nơi tiền cung khi thần còn sống (tức cung Tiên Cát, nơi Thứ phi ngày trước ở đó, sau đổi thành làng), hậu cung là chính nơi hóa của thần  (tức xứ Gò Đá, là lăng của Thứ phi, gọi là đất thủy phủ hội đồng). Sau Lê Trang Tông lại tiến phong nhiều mỹ tự.

Vâng ơn chính triều nay có phong tặng là Đương cảnh thành hoàng Linh phù Thượng thần, gia tặng là Thục diệu Tối linh thần, gia tặng là Hoằng hợp Tối linh thần, gia tặng là Dực bảo Trung hưng chi thần.

Nhất thiết húy cấm các chữ Cả, Hai, Ba, Ngọc, Hương, Bạch, Anh, Cự, Linh, Ất, Thông, Thuỷ, Chàng.

Bảo Đại năm thứ 13 ngày tháng 3 tuân sao chính bản.

Vâng sao đệ trình bởi Lý trưởng làng Tiên Cát Nguyễn Văn Tản.

Cộng tất cả 14 trang.

Thần tích xã Cao Mại

Ngọc phả cổ chép về Phụ ký Cương nghị Hùng kiệt Đại vương phò mã Hùng triều Việt Thường Thị Lý Lang Công (lấy con gái thứ sáu của Nghị Vương là Nguyệt Cư Công chúa sinh 12 vị thần quan nhận quản 17 bộ nhánh)

Xưa Hùng Vương Sơn nguyên Thánh Tổ Nam thiên Đại bảo Tiền Hoàng đế gây dựng cơ đồ, là thủy tổ Việt Nam, lập nước Cổ Việt Thường, họ Hùng 16 đời thánh vương ngự trị trời Nam, khai mở vận đế thánh, vua sáng. Núi xanh vạn dặm dựng nền cung điện đô thành. Mở vật giúp dân, thống quản 15 bộ 

(Khi ấy vua Hùng Lạc Long Quân lấy Âu Cơ làm chính cung, ở tại núi Nghĩa Lĩnh. Âu Cơ mang thai 33 năm, sinh được một bầu trăm trứng, nở ra điềm tốt trăm trai, đều có tư chất hơn người, anh hùng vượt thế. Đến khi trưởng thành Vương bèn chia hầu, lập bình phong, chia nước thành 15 bộ. Một là Sơn Tây, hai là Sơn Nam, ba là Hải Dương, bốn là Kinh Bắc, năm là Hoan Châu, sáu là Ái Châu, bảy là Bố Chính, tám là Ô Châu, chín là Ai Lao, mười là Hưng Hóa, mười một là Tuyên Quang, mười hai là Cao Bằng, mười ba là Lạng Sơn, mười bốn là Quảng Tây, mười lăm là Quảng Đông.

Khi đó Vương nói với Âu Cơ rằng:

  • Ta là giống rồng, nàng là giống tiên, chủng loại không cùng, nước lửa tương khắc. 

Vì thế chia tương biệt, chia 50 con theo cha về biển làm Thủy tinh, 50 con theo mẹ lên núi làm Sơn tinh. Phân rõ các chư vương trấn ở sông núi, cùng là thần thuộc vậy. Sau phân thành trăm họ từ đó.) 

Thế mạnh trấn áp phiên chúng, rạng rỡ đất nước Viêm đồ. Có vua trị nước hơn ba ngàn năm, mãi mãi dòng giống vững như bàn đá, hiển ứng linh thiêng nơi Nghĩa Lĩnh, truyền trăm đời đế vương nước Nam, ngự muôn năm thánh điện núi Hùng, là Thánh tổ trời Nam, nền móng quốc gia, cơ đồ hùng mạnh, muôn năm còn lưu mãi vạn đời. Bèn lập các cung, lăng, miếu, điện. Con cháu dòng dõi hoàng gia phân ở các đầu núi, trị ở quận Giao Chỉ tại các nơi xứ phủ, huyện, dân trang, động, sách. Phụng thờ hương khói lưu truyền vạn đời. Phối cùng với nhật nguyệt rạng soi. Sánh với trời đất cao dày vậy. Sau Vương tiên sinh có bài tán rằng:

Nam thiên khởi tạo tự Hùng Vương

Vạn cổ trường lưu lập kỷ cương

Nhất thống tương truyền thập bát diệp

Nhị thiên dư tải ức niên hương

Nhất bào bách noãn giai sinh thánh

Lưỡng tế thăng thiên bất tử phương

Hoàng tử vương tôn thiên vạn tải

Thần tiên tương phối dữ tài lương.

Lại nói, triều Kinh truyền 17 đời đến thời Nghị Vương ở ngôi, đóng đô tại Việt Trì bên sông Bạch Hạc, dựng nước tên gọi Văn Lang, kinh đô gọi Phong thành. Nghị Vương có hùng tài đại lược, chính trực cương nghị, cũng có khí tượng quy mô, kế trị các đời yên bình. Thiên hạ trong nhà vui đủ, giữ bên ngoài được an ninh. Ai ai cũng gọi là vị hiền quân vậy.

Đương khi ấy, tương truyền ở sách [trang] Thủy Vân, phủ huyện Thiệu Thiên, quận Ái Châu có một nhà trưởng bộ (họ Lý húy Tuyên). Khi ông trưởng bộ 29 tuổi đã lấy người cùng trang sách là bà Võ Thị Thiệu. Được 3-4 năm, loan phương tương xứng, cầm sắt giao hòa. Than ôi, đạo trời lại đến bất hạnh. Bà Võ mất sớm. Về sau ông có việc quan đến ở kinh đô (tức thành Phong Châu). Khi ấy có người tại Thời Mại, gia đình ở kinh đô, hàng ngày lấy việc buôn bán làm nghề. Vả lại người chồng trước đây sớm mất, chỉ còn thái bà họ Nguyễn (chồng của bà họ Nguyễn tên Xuân, vốn là người xã Thời Mại, huyện Sơn Vi, phủ Thao Giang, ở tại kinh thành buôn bán, tuổi ngoài 60 thì mất), tuổi gần 70, sinh được một người con gái là Nguyễn Thị Loan. Đến tuổi 21 thật có đạo nữ hiền hòa, dung mạo thanh tú, cùng với mẹ buôn bán ở kinh thành. 

Trưởng bộ Lý khi đó có việc quan lên kinh đo, ở tại gia đình của hai mẹ con. Trưởng bộ thấy nàng có đức hạnh như vậy, trong lòng rất yêu quý nên hỏi cưới. Thái bà đồng ý gả cho. Ông ở nhà vợ tại kinh thành cho tiện làm việc quan cùng với việc buôn bán các đồ tơ vải. Vua nghe nói ông có kỳ tài, lại có đức tốt, bèn cho quản trưởng phường tơ vải trong thiên hạ. Ông từ khi yên bề gia thất, vợ chồng duyên đẹp, uyên ương hợp bạn, cầm sắt cùng vui. Được quãng 3-4 năm mà chưa thấy điềm ngọc sáng. Khi đó ông đã hơn 40 tuổi, bà Nguyễn cũng gần 30. Một hôm lúc thanh nhàn ông mới nói với bà Nguyễn rằng:

  • Nhà ta có phúc, chỉ cố tạo phúc, làm việc nhân, tấm lòng từ thiện. Nay tuổi đã cao mà chưa thấy điềm sinh nở. Liệu hoặc ý trời chưa đạt vì việc người còn khiếm khuyết. Cho nên chi bằng một lần cầu đảo, biết đâu lại được chim yến báo hỉ, như thế mới yên được nguyện ước bình sinh.

Nói rồi hôm đó chuẩn bị làm lễ chay ba ngày, lập một đàn tế tại giữa sân, cầu đảo trời đất quỷ thần. Ba ngày liền cầu nguyện trời đất đến chứng. Chúc xong lại cầu đảo ba ngày. Sau khi câu xong 3 ngày thì đêm ấy thái bà Lý (tức là vợ ông) nằm ngủ mơ màng, bỗng thấy một ông lão ngồi mây lơ lửng trên không, tay cầm một cặp cần câu ở bên sông Tam Kỳ của sông Hạc, câu được một con rồng vàng. Thái bà Lý đứng ở bên bờ sông xem việc đó. Lão ông thấy thái bà bèn nói rằng:

  • Gia đình nhà ngươi phúc hậu, đến tận Trời cao. Nay ta câu được một con rồng vàng, có thể cho vào nhà bà làm đồ quý báu.

Thái bà Lý nghe ông lão cho vậy trong lòng rất vui mừng, hai tay ôm lấy con rồng vàng rồi bay lên trời. Bỗng nhiên tỉnh lại mới biết là điều mộng. Thái bà đem việc trong mông nói với ông Lý. Ông bèn nói với thái bà rằng:

  • Nếu đúng như trong mộng vậy thì một là thăng quan, hai là sinh ra quý tử.  Việc tồn nghi chưa rõ thì sau này sẽ hay. Hãi cứ mạnh dạn mà đoán như vậy đã.

Sau khi nói, thái bà quả nhiên có mang. 33 tháng đến năm Đinh Mùi tháng 8 ngày 9 sinh hạ một con trai, mặt mũi rất lớn, năm gò chầu trời, hàm én mày hổ, vẻ rồng mắt phượng, tay dài quá gối, trán có điểm sao Bắc đẩu, cao hơn người thường. Thánh chất vốn bẩm thông minh. Cha mẹ cho nhập học với Lã tiên sinh. Được 4-5 năm sách của chư tử trăm nhà đều quán thông hết, lại tinh thông binh pháp Thái Công, không đâu là không biết tiếng thơm, bốn biển uy động 9 tầng, đương thời đều gọi là Thánh đồng. 

Khi ông được 5 tuổi, theo mẹ đi chơi ở chợ Phong Châu (tức chợ sông Hạc, khi đó thành đô ở tại lầu thượng, lầu hạ đất Việt Trì, đều là kinh đô của Hùng Vương) để mua giấy sách. Bỗng nhiên thấy một ông lão ở phường chài đem một con cá xanh thân dài 2 thước rưỡi đến gặp lão bà. Mẹ con cùng mua con cá xanh đó bằng 9 mạch tiền của thái bà. Mẹ con đem cá trở về nhà, rồi mổ bụng bên trong được một thanh kiếm thần, cán đều làm bằng ngọc kim cương. Lang công bèn cầm kiếm lên xem, thì nghe trong kiếm có tiếng quỷ khóc thần kêu không dứt. Lang công thấy sự đó cho là lạ, bèn cầm kiếm và nói với kiếm rằng:

  • Ta vốn có anh tài trời cho, nay có thể lại được thanh kiếm thần này.

Tiếng quỷ khóc, chúng thần đều ngừng bặt. Ông nói xong thì từ đó đều yên lặng, không còn thấy tiếng kêu nữa. Lang công từ khi được kiếm về sau tâm tự thấy khảng khái, có chí tang bồng, có nhiều tài lạ thuật dị, đức lượng hơn người, anh hùng trùm thế. Lang công tuổi 21 uy danh đã lẫy lừng, bốn biển anh hùng đều quy phục.

Khi ấy Nghị Vương đam mê tửu sắc, vui chìm trong yến ẩm, không tu luyện võ nghệ, không phòng bị biên giới. Quốc gia trở nên biến loạn bất thường, những đầu sỏ nổi lên, ở ngoài biên ải thường có trộm cướp. Vua bèn mở khoa tuyển người hiền lương phương chính, văn võ toàn tài để giúp việc nước.

Vua bèn truyền hịch đi các phủ, huyện, châu quận cho nhân dân ai có tài đức thì đến kinh ứng thí. Khi ấu Lang công ứng tuyển vào trường thi ở kinh (tức trường ở Phong Châu), rồi gặp bệ rồng, hỏi thi văn võ, thật có kỳ tài dị thuật, trí dũng anh hùng, tinh thông võ nghệ, tài văn sâu rộng, đối đáp như nước. Vua cảm thấy đây tất là thiên tài giáng thế để giữ nước giúp dân, không phải người tầm thường, rất xứng đáng được trao chỉ.

Khi ấy Vua có nàng công chúa thứ sáu tên là công chúa Nguyệt Cư (39 cung phi của Nghị Vương sinh được 22 hoàng tử và 15 công chúa. Công chúa Nguyệt Cư chính là do cung phi thứ 5 mộng thấy phượng hoàng bay vào trướng mà có mang. Đến năm Đinh Mão tháng Giêng ngày mồng 3 thì sinh, tên gọi Nguyệt Cư, tính vốn thông minh, là bậc nữ trung Nghiêu Thuấn, có dung mạo chim sa cá lặn, nguyệt thẹn hoa nhường. Khi sinh công chúa được 3 ngày đã có thể thích nghe hát xoan nữ. Xưa các vương tông triều Hùng cùng trăm quan khi có sinh con đều có phường hát của huyện Phù Khang phục vụ). Vua gọi Công đến rồi sau đó gả cho Lang công, trao cho chức quan bồ chính điều phối vũ khí quân đội trong thiên hạ, phong là Phụ ký. 

Khi đó có nhiều trộm cướp. Vua sai phò mã dẫn quân đi phòng ngự biên giới, tuần du các đạo. Lúc ấy, Lang công bèn nhận mệnh đường đường từ cổng thành tiến ra, tay cầm kiếm thần, tiến thẳng đến vùng mười châu. Đi đến khu vực xã Thời Mại, hôm ấy (mồng 4 tháng 5) nhân dân dựng hành cung làm lễ bái tiếp.

Ông đóng quân, đi xem xét làng quê bên ngoại. Ông lại xem địa thế dân cư, thấy có hình dáng như rồng và rùa cùng nằm, từ núi Nghĩa Lĩnh phân mạch quay về đất tổ, thật là một thế cục quý. Ông lại thấy phong tục nhân dân thuần hậu, làng xóm hòa thuận, lại chính là làng quê bên mẹ, đâu phải đất xa lạ. Hôm ấy ông nói với nhân dân, phụ lão rằng:

  • Hôm nay vì còn việc nước, ta tuần xét trộm cướp trong thiên hạ, chinh Đông dẹp Tây, chưa được ở yên. Đến ngày sau khi thiên hạ được bình yên, ta tất sẽ lập cung ở cùng với nhân dân làm nơi đô ấp. Ngày nay thiên hạ sinh ra nhiều trộm cướp, rồi một mặt sông Thao những đảng dữ rất thịnh ở các xứ. Lại còn có quân Thục thường hay xâm nhập vào nước ta, dụ dẫn lòng người đêm tâm mưu phản quốc. 

Vì nơi sông Thao xuất quân chống quân Thục rất tiện nên Ông truyền cho binh sĩ, nhân dân lập một đồn lớn ở đất xã Thời Mại để chế ngự đạo tặc. Nhân dân nghe lời rằng sẽ lập một đồn ở đất đó để trấn thủ thì đều rất vui mừng, đồng lòng phục xin làm thần tử. Ông đồng ý. Khi ấy Ông dâng biểu tấu về triều xin được nhận trị ở đất đó (tức đất Thời Mại), chế ngự giặc cướp cùng với quân Thục, lấy làm đồn chính đóng giữ. Vua đồng ý. Ông đến nhận ở đất đó, truyền phân các đạo binh mã đến các nơi quận, huyện, châu, trang, động, sách, phân bổ lập đồn đóng quân để chế ngự đạo tặc. 

Sự xong thì đạo quân chính của Ông đi xem xét các nơi đồn binh. Hễ nơi nào có trộm cướp, gian đảng, đầu sỏ nghe đạo quân chính của Lang công tiến đến đều tự nhiên sợ phục mà hàng. Còn nơi nào gặp phải việc chiến trận, Ông lấy kiếm thần giơ lên, đảng gian không đánh tự thấy kiếm mà sợ hại bỏ chạy. Ông đi tuần chế ngự đạo tặc qua ba tháng thì những âm mưu khởi loạn trong thiên hạ đều được Lang công bắt sống hết, đuổi về nơi chốn của chúng. Đạo tặc bị quét sạch, thiên hạ thái bình. Ông phụng chiếu quay trở về thành, dâng biểu tấu, bái tạ trước bệ rồng. Vua rất vui mừng xem đó, ngay hôm ấy lại phong Lang Công là Ninh Hải quận vương (thuộc đất sáu châu), thưởng ban vàng bạc cùng sợi gấm, lụa trắng hơn trăm cân. Ông lại tâu thỉnh lập cung ở làng quê ngoại (tức trang Thời Mại) làm nơi đóng sở. Vua đồng ý cho lấy đất đó làm đất Thang mộc ấp của Ông.

Khi đó Ông khấu tạ trước bệ, xin về đất trang Thời Mại. Ngày hôm ấy (mồng 9 tháng 2) nhân dân làm lễ bái đón. Ông truyền nhân dân lập cung ở nơi có hình trán rồng (đất đó phía sau có động cao dẫn mạch đều như mây phủ rồng chầu, trái phải nhất nhất đều chầu, trước mặt có dòng suối nhỏ, hai bên và trước sau đều có dòng nước chảy quanh, quay về hội ở chính đường, trước có đầm sen bán nguyệt, chợ đối diện trước cung, là nơi anh tài đô hội, lập nơi đó làm phủ trị, một vùng trái phải đều là cách rồng mây đứng chầu, phượng rùa đến chầu ở nơi đất chính cung). 

Việc xong, hôm ấy đón công chúa Nguyệt Cư quay về cung ấp mà ở đất ấy (tức đất Thời Mại). Được vài tháng thì cha mẹ ở kinh đô bỗng nhiên đều tạ thế (tức ngày mồng 5 tháng 2). Lang công cùng với công chúa quay về kinh đô, tâu lên vua. Vua nghe tin bèn sai đình thần đến làm lễ an táng cho ông bà tại bên trong thành. Sự xong, Ông cùng công chúa ở tang 3 năm, đến khi mãn tang mới quay trở về cung ấp (tức cung ấp Thời Mại), lại mở một cái chợ ở mảnh đất trước cung để tiện cho việc quân và cùng với nhân dân buôn bán, để làm nơi đóng vương cung đô phủ. Từ đó ông bà ở tại đó đảm nhận việc phụng sự gia tiên các bên nội ngoại, lấy đức giáo hóa nhân dân, chia tài sản tạo phúc. 

Ông là người vốn có lòng khoan dung đại độ, thưởng ban dân tình, giúp nghèo, dưỡng lão, lấy nhân nghĩa mà giáo hóa nhân dân đều có được thuần phong mỹ tục, vinh dự đủ đầy có thừa. Công chúa cũng một lòng trung hậu, đức nữ hiền hòa, phong tư tốt đẹp dẫu Tề Khương, Tống Nữ cũng không bằng, con vua dòng tiên một bề kết phối. Vợ chồng đều một lòng trung hậu. Phụ lão nhân dân (tức trang Thời Mại) đều nhất nhất coi như ơn sâu như núi sông, đức lớn như trời đất. 

Khi ấy Ông tuổi đã ngoài 30. Công chúa Nguyệt Cư 28 tuổi. Một hôm buổi tối công chúa Nguyệt Cư đang nằm ở chính nơi Tây cung, mơ màng vào mộng đi lên đỉnh núi Thứu Lĩnh, bỗng thấy một áng mây năm sắc bay trên đỉnh núi. Công chúa đến nơi xem xét, mới thấy mây năm sắc đều bay lên trên không. Trong mây lại có một con rồng vàng cũng theo mây mà bay lên trời. Lại thấy ở nơi rồng mây đó có một hang huyệt bên trong có 12 chiếc trứng. Công chúa nhặt trứng bọc vào trong áo, đem về đến đường lớn thì 12 trứng đều đồng loạt nở ra 12 rồng con, tất cả đều có hình như rắn thằn lằn. Công chúa sợ hãi bèn bỏ ở giữa đường. Bỗng nhiên tỉnh lại, mới đem mộng đó nói với Lang Công.

Lang Công bèn nói với công chúa rằng:

  • Nếu quả như trong mộng thì tất là điềm sinh quý tử, đúng là những anh tài tuất kiệt, nhập làm con trong nhà ta, không phải tầm thường. Sớm như trong mộng, nửa đường đã thả, có thể có ý liên quan, chưa chắc gia đình giữ được lâu dài.

Lang Công nói xong, năm ấy công chúa quả nhiên có mang thai, tới năm Giáp Thìn mồng 6 tháng Giêng sinh ở vọng cung (tức cung Đàm Lã) một người con trai, mặt mũi to lớn, mắt tú mày thanh, thật là kỳ dị, nhân gian không có ai có tướng như vậy. Được trong trăm ngày cha mẹ đặt tên là ông Tràng. Đến năm Bính Ngọ mồng 9 tháng 8 công chúa lại sinh một bọc ba con trai. Đến năm Mậu Thân mồng 3 táng 3 lại sinh một bọc 2 con trai. Đến năm Nhâm Tí ngày 12 tháng 10 lại sinh 1 người con trai. Mỗi lần như vậy trời đất mờ tỏ trong 3 ngày, mưa gió kinh trời, sấm sét khắp đất, mùi hương thơm gió nồng nàn trong phòng sinh nở, khí lành rạng rỡ nơi sinh. 12 người con trai đều có phong tư đẹp đẽ, thể mạo khôi kỳ. Phò mã Lang Công trong lòng suy tưởng mà nói:

  • Gia đình ta có dư phúc hậu nên trời sinh đám thánh, đất xuất chúng hiền, đều cùng báo nhập vào làm con trong nhà. Nếu như không phải vậy thì tất là yêu đồ, quỷ đảng tác loạn, tự sinh ra kỳ sự vậy.

Liền hôm ấy dâng biểu tâu lên vua thuật lại chuyện sinh nở kỳ lạ, Vua nghe tấu đó bèn thốt lên:

  • Phúc đó! Phúc đó! Con gái ta đức thật nhiều nên lòng trời đã định, quần hiền các thánh đều đến nhập vào nhà làm con, đúng là những thiên tài giúp nước, những người sẽ trợ vận giúp dân vậy.

Ngay hôm đó Vua mới đặt tên cho các chàng (12 ông đều là con của công chúa Nguyệt Cư, tức cháu ngoại của Nghị Vương). Thứ nhất là chàng Tràng, thứ hai là chàng Tuệ, thứ ba là chàng Dực, thứ tư là chàng Linh, thứ năm là chàng Hải, thứ sáu là chàng Thường, thứ bảy là chàng Khắc, thứ tám là chàng Thành, thứ chín là chàng Lôi, thứ mười là chàng Quý, thứ mười một là chàng Kính, thứ mười hai là chàng Dũng. Đến khi các chàng trưởng thành, người con trưởng tuổi đã 12, còn các em đã 8-9 tuổi, đều rất thông mình, sáng dạ, dũng lược hơn người, anh hùng vượt chúng. Nhân dân đều tận phục, trong nước đều sợ. 

Người anh tính vốn thông minh cương trực, đức lớn tài cao, lại thấy có nhiều thuật lạ, độ lượng khoan dung, đều có phong độ rộng rãi, văn chương sâu rộng, tinh thông võ lược, con hiếu anh tốt, đương thế đều xưng rất đúng là người hiền. Còn chàng Quý tính hay hiếu sát, hùng dũng hơn người, rất bạo ngược, một lòng khảng khái. Nhân dân sợ phục mà tránh né (khi ấy xã Thời Mại đều sợ phục chàng Quý hơn những chàng khác). Còn các chàng khác đều anh hùng, dũng lược chế ngự. Các tài tử đều vô cùng kính phục. Khi ấy Lang Công cùng công chúa mua thêm đất đại ruộng vườn, thiết lập các cung sở để phân cho các chàng cùng nhân dân (tức xã Thời Mại) làm nơi vạn đời hương khói mà phụng thờ, rạng tỏ lòng hiếu kính, đức lớn sánh với trời đất vậy.

Lại nói khi ấy Thục Vương nghe thấy Trung Quốc ít khi dùng võ, muốn chiếm thành một nơi, nhưng còn sợ phương Nam có thần, do dự chưa quyết. Khi đó có chủ phụ đạo bộ Ai Lao có tài lược lớn, cũng là tông phái Hùng Vương. Thục Vương nghe vậy bèn dẫn quân đến đánh nhằm chiếm bộ Ai Lao.

Chủ phụ đạo Ai Lao đó không thể chống lại, bèn cử người đến tâu cầu cứu với Nghị Vương. Nghị Vương bèn dẫn mười vạn hùng binh và sai Ninh Hải quận vương thống lĩnh quân thủy bộ nhằm thẳng đến thành Ai Lao để ứng cứu. Thục Vương nghe Nghị Vương cùng với con rể phò mã Ninh Hải vương dẫn quân đến cứu viện, lại có kiếm thần, mới sợ hãi mà gửi thư rằng:

  • Quân Thục từ phía Tây lại chỉ muốn chiếm chủ bộ để truyền lại đất nước, đâu dám giơ càng bọ ngựa chống lại cỗ xe vạn thừa vậy.

Nghị Vương thấy thư đến bèn đem quân về. Thục Vương mới được chủ bộ đem về nước Thục, gả công chúa cho và lại nhường ngôi cho. Rồi sai sứ giả đến tạ Nghị Vương, xin Nam triều là anh, Bắc triều là em, định ước giảng hóa, hai nước kết giao. Nghị Vương đồng ý. Từ đó phía Tây Nam quân tình yên vậy.

Lại nói Ông (tức phò mã Lang Công) từ sau khi đánh Thục trở về cung ấp (tức Thời Mại) bỗng vai trái nổi ung nhọt mà nằm bệnh. Vua thường thân đến thăm hỏi. Khi đó Ông đã ngoài 80. Các chàng con tuổi đã ngoài 20. Thấy Ông tuổi đã cao lại mắc nằm bệnh, đề phòng vạn nhất có thế nào nên bèn lập con trưởng chàng Lý Tràng làm Tá thái tử (chữ Tá do Vua đặt cho) để nối vị trí Ninh Hải vương nhận trị. Còn các chàng khác đều phong làm tướng quân. 

Hôm đó Lang Công triệu các con cùng với phụ lão nhân dân lại phân phó thác các nơi đất đai, phụ lão cùng các con và nhân dân tuân theo lời giao phó, không được làm khác. Khi ấy Ông phân đều đất đai, thiết lập thành các trang cho các con để sau này phụng thờ. Lúc đó xã Thời Mại được Ông chia thành 4 trang. Một là trang Đàm Lã, giao cho chàng trưởng Tá thái tử để làm nơi sau này hương khói phụng thờ. Nơi mà Ông đã lập chợ (tức chợ Núi) đều phân làm hai, một phân cho Thái tử để phụng thờ, thuộc về Thái tử. Một phân cho các con khác để thu lấy dùng phụ tế làm lễ các tiết. Về sau thuế chợ cũng được chia đều như vậy. 

Một khu gò đã lập cung để ở, sau này ủy phó cho các con cùng nhân dân (tức xã Thời Mại) làm nơi đền chính phụng thờ vợ chồng ta. Lại cũng giao cho Thái tử một khoảnh ao ở bên trái trước cung, cho Thái tử lấy làm hương khói phụng thờ.

Còn các gò khác cộng 14 chỗ cùng các vùng đất các trang (đất của trang Đàm Lã, trang Lôi, trang Trung Chính, tranng Miếu, trang Lan, trang Thượng Giáp, trang Vĩnh Ninh) và nhân dân (tức ở vùng đất Thời Mại) Ông chia thành các trang thần tử, cùng cho Thái tử cùng với các con chung nhau mà hưởng đều. Không thể bỏ lời chúc thác nàu mà tranh nhau, thì không phải là đạo hiếu của các con ta.

Các chàng cùng với phụ lão, nhân dân nghe lời Ông dạy đều tuân theo lời ủy chúc mà nhận. Sau khi Ông giao chúc được vài mươi hôm thì cái nhọt ở vai trái tự nhiên khỏi. Ông lai đi vào đất Ái Châu, thăm lăng mộ tổ tiên. Phò mã Lang Công đi theo hầu Vua đến chân núi Bàn Sơn (thuộc đất Ái Châu), bỗng nhiên thấy một đám mây trắng từ trên núi bay ra đến thẳng chỗ Lang Công, quấn quanh người. Kiếm thần theo đó bay lên trên trời. Trong chốt lát biến thành một làn khói đen. Trời đất mờ tỏ, mưa gió nổi lên. Khi ấy trong mây có tiếng tụng rõ ràng rằng:

Nhất phiến bạch vân phàm nhiễu lai

Thần long cấp cấp đáo thiên đài

Dương quân dĩ mãn thiên quân triệu

Vân giá phù long thượng đế hồi {đài}.

Tụng dừng thì tự nhiên mây khói một đường thẳng lên trên trời mà tự tan đi. Trời đất sáng tỏ. Phò mã bỗng nhiên mà hóa. Cả thân hình chỉ còn thấy áo cốt, đặt ở trên đất tại đó. Vua lấy làm lạ, ngày hôm đó (18 tháng 10) dừng lại xem xét, rồi truyền nơi đất đó cùng với nhân dân Ái Châu sửa chữa miếu đền, lập phụng thờ. Sự xong quay về đô phủ. Hôm đó bao phong tặng mĩ tự cho hưởng lễ vật hương khói vạn cổ không ngừng, cùng vận với quốc gia mà hưng thịnh vậy.

Phong Phò ký Lang Đại vương.

Khi ấy truyền các nơi nhân dân có thờ phụng đến thành đô để phụng đón sắc chỉ trở về các chốn mà thờ phụng. Vốn xã Thời Mại là nơi đền sống của Ông được cho làm thang mộc ấp, chốn hộ nhi, cùng với Bàn Sơn ở Ái Châu là nơi đền lăng của Ông. Hai đền này được truyền sai quan mang đón sắc chỉ về đền. Trăm quan làm lế tế cùng với Công chúa, Thái tử và các con. Nhân dân các trang cũng làm lễ thờ phụng.

Lại nói, khi ấy Tá Thái tử lại nhậm chức Ninh Hải, nối trị quận vương. Còn các ông con trai cùng ở nơi cung ấp (tức Thời Mại) để phụng dưỡng mẹ già (tức công chúa Nguyệt Cư). Các nơi mà Ông đã phân chia thành các cung để ở (khi đó các trang của đất Thời Mại và các xứ gò đều đã được các ông con trai lập làm nơi đô phủ. Ở nơi đó nhân dân đều phục làm thần tử), đều làm các đô phủ anh em cùng nhau quý hiền, dân ấp đều được vinh dự ơn lộc của nhà vua, danh tiếng vang xa, bốn biển anh hùng đều hướng phục.

Lại nói, khi Nghị Vương ở ngôi đã 160 năm thì mất, mới lập Thái tử Hùng Duệ Vương nối ngôi. Duệ Vương tư chất thánh triết, tài lớn anh hùng, kế thừa cơ nghiệp tổ tông 17 đời thịnh trị, trong tu luyện võ lược, ngoài ngự trấn biên cương, dốc lòng hưng bình mà yên Trung Quốc. Bèn theo gương của tiên vương mà trị, tôn sùng thiên đạo, kính sự quỷ thần, trời giáng điềm lành, xuân về trong nước. Đương thời đều gọi là vị hiền quân vậy.

Khi đó công chúa Nguyệt Cư tuổi đã ngoài 70. Một hôm (ngày 12 tháng 12) bỗng nhiên bị đau đầu mà hóa ở nơi ở chính, làm lễ an táng tại chính cung (tức cung Đàm Lã của Thái tử). Trăm quan đến tế, lại bao phong mĩ tự, truyền cho nhân dân cùng triều đình tu sửa cung miếu phụng thờ, cùng với quốc gia hưng thịnh vậy.

Duệ Vương bao phong là:

  • Phong Nguyệt Cư Trinh thuận Công chúa.
  • Phong Phụ Ký Linh ứng Lang Đại vương.

Các trang của xã Thời Mại phụng thờ ở nơi chính đền (khi đó Nguyệt Cư đã thiết lập một du cung ở chợ Núi, người ở chợ đó đều xưng là thần tử. Công chúa hóa về sau, đất chợ Núi đều phụng thờ, sự tích còn ở bộ sau).

Lại nói khi cơ đồ họ Hùng đến cuối thế nước cáo chung. Duệ Vương ở ngôi sinh được 20 hoàng tử, đều lần lượt theo nhau về cố hương, 6 vị công chúa cũng chỉ còn 2 vị nữ công chúa. Một tên là công chúa Mị Châu Tiên Dung. Một tên là Mị Nương Ngọc Hoa. Rất được yêu mến. Vua sau gả Mị Châu cho Chử Đồng Tử (quê ở xứ Sơn Nam, xã Đa Hòa, huyện Đông yên, phủ Khoái Châu). Còn công chúa thứ hai là Mị Nương Vua muốn cầu người anh tài để gả kết hôn, bèn lập 2 lầu ở cửa thành Việt Trì, đằng trước treo biên là Đãi hiền lầu. Sai công chúa ở đó. Gửi hịch đi bốn phương, hễ ai có là văn nhân tài tử thì hội về thành để thi tài, sau gả công chúa cho. Thế là hào kiệt bốn biển đều vui mừng, mau chóng quy tập về quốc đô. Vua ngự ra đề thi. Người thì ngàn kinh vạn cuốn không thiếu trong tường Khổng Mạnh, bốn khóa ba truyện chẳng kém thao lược Tôn Ngô. Hiền tại trong Thiên hạ đến ở một trường thi trận,

Đều là tầm thường mà đi, không phải người toàn tài đương thời. Duy chỉ có Tản Viên Sơn Tinh và Động Đình Thủy Tinh là hai người bạn đồng học có nhiều phép thông thiên, thật là anh hùng. Vua bèn nói:

  • Trẫm chỉ có một viên ngọc Lam Điền, mà hai khanh đều là bậc anh hùng. Ngô vui thì Sở buồn, Hán ca thì Tần khóc. Thôi thì đành định xem trong hai người ai có khả năng đem sính lễ đến trước thì Trẫm sẽ gả con gái cho.

Thế là hai tướng Sơn Tinh, Thủy Tinh cùng hẹn rằng:

  • Chúng thần cùng nhau về đem sinh lễ đến thi, xem ai đến trước.

Thủy Tinh về cung Động Đình mà cầu kỳ các vật lạ. Sơn Tinh đi thẳng ra ngoài lầu lấy gậy trúc chỉ trời xin được sính lễ. Bỗng thấy voi trắng chín ngà, ngọc kỳ vật lạ từ trời rơi xuống. Sơn Tinh nhặt lấy đến đêm gờ Tý đem lễ vào lầu rồng. Vua bèn gọi công chúa đến mà gả cho Sơn Tinh (Sơn Tinh tức Tản Viên Sơn Thánh, quê ở động Lăng Sương, huyện Thanh Xuyên, phủ Gia Hưng), bèn đón về núi Tản Viên. Đến giờ Mão Thủy Tinh đem sính lễ đến. Vua nói:

  • Sơn Tinh đã đến lễ trước rồi.

Thủy Tinh tức giận mà quay về (thế là Sơn Thánh và Thủy Tinh do việc hôn nhân mà thành thâm thù, mỗi năm cứ đến tháng 6-7 lại giao chiến, mưa gió nổi lên to lớn, nhân dân thiệt hại nhiều, còn xem trong sự tích về Sơn Thánh).

Lại nói khi Duệ Vương 150 tuổi mới nhường ngôi cho Tản Viên Sơn Thánh. Tản Viên không nhận, Duệ Vương nói:

  • Cơ đồ họ Hùng đã đến cuối, con có thể thay thế được.

Tản Viên do dự chưa quyết. Khi đó Thục Vương (là chủ phụ đạo nước Ai Lao, cũng là dòng dõi Hùng Vương) nghe tin Duệ Vương tuổi trời đã đến kỳ mà 20 hoàng tử đều đã về trời, không có người lập nối dõi, định nhường ngôi cho con rể Tản Viên. Thục Vương mới âm thầm khởi binh muốn đến đánh để chiếm lấy nước. Biên phương cấp báo, Duệ Vương cùng với đình thần bàn bạc. Triều đình có quan Liêu tiến ra rằng:

  • Bệ hạ nghỉ ngơi đã lâu, quân thần tướng sĩ ở trong thời không có chiến loạn, nên hàng ngày quân luyện không tinh. Nay có động đến tất nhân dân xã tắc sẽ muốn cầu phòng thủ để các bậc Thái tổ Thái tông trên trời linh thiêng không gặp hoạn nạn. Vạn nhất mà sự quân xấu đi, quân Thục tất sẽ phá tổ tông cùng làm tổn thương dân chúng con đỏ vậy. Chẳng bằng nhân đây dùng mưu thận trọng bí mật hối lộ tướng giặc, gửi thư cho Thục Vương để xem có thê hoãn việc động binh, từ đó xem cơ sự sau này ra sao.

Vua nghe vậy, muốn theo kế này, bèn gọi Tản Viên Sơn Thánh đến hỏi. Sơn Thánh tâu rằng:

  • Hơn hai ngàn năm qua 17 vị thánh quân có ơn sâu đức dày, đã khắc sâu vào cốt tủy nhân dân.

Hiện nay nước giàu quân mạnh. Oai đức của bệ hạ lan xa bốn biển. Chẳng qua quân Thục không biết tự giữ mà dám quật cường, thất bại đã rõ, tất đúng như vậy. Xin bệ hạ xử tội mà thảo phạt, lấy nghĩa mà phục, tất dân ta đều theo bệ hạ. Nước giặc đánh đến không khắc gặp họa. Xin được lĩnh ba vạn quân hùng ra vào, một xe độc tiến, đất Thục sẽ yên.

Vua nghe vậy rất mừng bèn chọn ngày trai giới, lập đàn cầu đảo trời đất. Đang khi làm lễ bỗng thấy trời đất mờ tỏ, mưa gió nổi tới. Việc xong, đêm ấy Duệ Vương ngự ở chính điện, mơ màng nằm mộng, bỗng thấy Hùng Anh Vương (tức là tổ năm đời của Duệ Vương) cùng binh sĩ tiến đến nói với Duệ Vương rằng:

  • Cơ đồ họ Hùng đã tận, thế nước cáo chung. Thục Vương làm loạn, nên lòng trời đã định, sai những anh tài xuất thế để trợ giúp nước nhà khi tận cuối. Có 4 vị thần quan trên thiên đình, 1 vị thần quan của thủy quốc, 7 vị thần quan thổ địa đều đầu nhập vào làm con của công chúa Nguyệt Cư, theo giúp Tản Viên Sơn Thánh để trị loạn này vậy. Không phải là vô minh đâu.

Duệ Vương trong mộng tâu lại với Anh Vương rằng:

  • Dám hỏi các vị thần quan tên như thế nào, xin được chỉ giáo.

Anh Vương nói:

  • Thứ nhất Tá Thái tử (là Thông phán sự của Thiên đình sai xuống). Thứ hai là Thái Ất. Thứ ba là Thiên Cương. Thứ tư là thần quan Áng Na (tức là thần quan nơi gò đất). Thứ năm là thần quan Thủy (là vị Linh quan của Thủy đình). Thứ sáu là thần quan Đương niên hành khiển (là vị Thiên quan). Thứ bảy là thần quan Phú. Thứ tám là thần quan Khắc. Thứ chín là thần quan Miếu. Thứ mười là thần quan Lôi. Thứ mười một là thần quan Dòng. Thứ mười hai là Đương cảnh bản thổ thành hoàng Đại vương. 7 vị thổ thần là khí lành của núi Hùng, Thời Mại đúc thiêng, cùng mang tên hiệu gò sinh ra vậy (Khi ấy Thời Mại có các gò Áng Na, gò Phú, gò Khắc, gò Miếu, gò Lôi, gò Dòng ở tại nơi cao, cùng với Đương cảnh thành hoàng quản lý nơi đó).

Anh Vương dứt lời thì xa giá tự quay đi. Duệ Vương khấu tạ, bỗng nhiên tỉnh lại mới biết là mộng này là Anh Vương chỉ dạy, bèn sai quan sứ truyền hịch gọi các ông đến, cùng bái làm các tả hữu tướng quân, nhận lệnh của Tản Viên Sơn Thánh đi đánh nước Thục. Khi đó Thái tử Tràng đang nhận chức Ninh Hải vương, chống đánh với một mặt quân Thục. Còn 11 ông tuân phụng mệnh vua, khấu tạ trước bệ, quay về cung ấp (xã Thời Mại), làm lễ từ đường. 

Việc xong lại chiêu mộ được các gia thần, nhân dân địa phương được ngoài 700 người khỏe mạnh làm thủ túc cầm đao cho các ông (khi ấy Đàm Lã của xã Thời Mại thuộc thủ túc của Thái tử có 121 người, còn trang Bình Chính, trang Trung Thượng, trang Lan, trang Vĩnh Ninh cộng là 276 người đều theo các ông đi chinh phạt. Còn người ở chợ Núi thì theo thần quan Thủy cùng làm thủ túc gia thần được 68 người. Còn các nơi quận huyện cũng theo các ông, cộng được 743 người).

Khi đó (mồng 10 tháng 8) mổ trâu khao đại hội binh sĩ ở cung ấp. Xong việc các ông tiến quân mã đến bệ rồng. Vua sai làm tả hữu đốc lĩnh tướng quân, cùng cho 5000 hùng binh nhập theo lệnh của Tản Viên Sơn Thánh. Sơn Thánh cùng các ông khấu tạ trước bệ, lĩnh mệnh đường đường từ cửa thành tiến đi, thẳng đến đồn chính của quân Thục tại đất Mộc Châu, Quỳnh Nhai, đánh một trận đại phá, chém các tướng nước Thục cùng quân sĩ hơn ngàn đầu. Quân Thục thua to tứ tán (trận này có thiên thần là Tá thánh từ trời xuống giúp nước nhà, còn có tích riêng). Còn các dư đảng đều bị bắt sống, dẫn về kinh, một xe không thoát, một ngựa không lọt, quét sạch không yên bình vậy. Tức tốc sai tâu báo tiệp. Vua bèn chia các chiếu truyền về. Sơn Thánh cùng các ông và các tướng phụng mệnh quay về thành, đến tận cổng bái tạ. 

Vua rất vui mừng bèn mở yến tiệc khao quân sĩ, thưởng cho ba quân, gia phong các công thần lớn nhỏ. Từ đó non sông thanh bình. Các ông khấu tạ bệ rồng xin trở về cung ấp (cung ấp Thời Mại). Vua đồng ý. Các ông ngày hôm đó (mồng 5 tháng 3) quay về cung. Nhân dân làm lễ bái đón. Các ông mở yến tiệc lớn, khao các tướng sĩ, gia thần. 

Việc xong khi đó Quý Công (tên là Dũng) vốn tính hiếu sát, rất cường bạo, ngỗ nghịch nhưng lại cũng có lòng nhân lượng, nên nhân dân sợ phục, yêu mến hơn các ông khác. Hôm đó Quý Công biết giết người là quá đáng mới lập riêng một cảnh chùa, tạo làm tượng Phật để giải oan những tội lỗi cho mọi người (chùa tên là chùa Sùng Ninh) ở đất trang Vĩnh Ninh, cũng là nơi đất có hình rồng vậy. Việc xong từ đó các ông anh em thiết lập đồn dinh, tu sửa đền miếu, cùng nên quý hiển, nhận được ân lộc nước nhà, trong môn hộ có thêm người bốn biển làm gia thần, nổi tiếng một phương ở ấp tại đất Thời Mại. Nhân dân đều làm thần tử, cha con anh em một nhà thế lớn, ân sâu đức dày, mở mang mĩ tục nhân dân, người trước mở, người sau đắp, công đức rạng rỡ sánh cùng trời đất vậy.

Lại nói được gần hết 2 năm thì Thục chúa ôm hận, cầu viện các nước láng giềng tám vạn tinh binh, ngựa khỏe tám ngàn, tàu thuyền 2 ngàn chiếc, thủy bộ cùng tiến thẳng đến đất Nam Giao đánh lấy nước ta. Quân bộ theo chân núi từ thập châu Hoàng Khiếu [Tùng], Quỳnh Nhai, Lượng Sơn, Văn Lãng, Châu Đại Man, Văn Bàn, An Lập, Thuỷ Vĩ, Bố Chính, Minh {Linh} 5 đạo tiến ra. Đường thủy tàu thuyền theo La Châu, cửa biển Thần Phù, cửa biển Hội Thống. Cờ xí rợp đất, chiêng trống vang trời, tiếng quân chấn động như sấm sét vạn dặm. 

Vua rất lo lắng mới hỏi đình thần, tất cả đều dương mắt nhìn nhau không có một kế khả thi. Trước đó các ông đã được cử đến trấn nhậm các nơi. Tá thái tử nhận Ninh Hải quận vương. Ông thứ hai đến nhận ở Tuyên Quang. Ông thứ ba đến Hưng Hóa. Ông thứ tư đến Ô Châu. Ông thứ năm đến Hải Dương. Ông thứ sáu đến Mộc Châu. Ông thứ bảy đến Chu Diên. Ông thứ tám đến Mai Châu. Ông thứ chín đến Việt Châu. Ông thứ mười đến Thái Nguyên. Ông thứ 11 đến Lạng Sơn. Đều cùng nhau đến nhận việc các chủ trưởng phụ đạo. Còn lại ông thứ 12 ở tại cung ấp để giữ coi đền miếu (đất Thời Mại).  Khi đó Vua gọi các ông về cùng Sơn Thánh để hỏi mưu kế. Sơn Thánh cùng các ông một lòng đánh dẹp giặc, xin nhận mười vạn quân. 

Vua rất vui mừng, bèn trao nỏ thần cho Sơn Thánh, phong làm Nhạc phủ kiêm thượng đẳng thần. 12 ông đều được phong là tả hữu thần quan, giao cho mỗi ông một thanh Kim đao, một bộ áo chiến bào, một mũ trăm sao, một con tuấn mã, theo thánh giá đi dẹp giặc. Sơn Thánh cùng các ông bái tạ, nhận mệnh phân binh thành các đạo, tiến thẳng đến các đồn quân Thục, đánh một trận lớn, lấy được dấu ấn tín của giặc. Bèn mới làm giả một bức thư của Thục chúa gửi cho tướng Thục yêu cầu giữ nguyên quân trong đồn, không được đánh. Tướng Thục nhận được thư phòng thủ không ra. 

Sơn Thánh cùng các ông mới ngày đêm tiến đến thành Thục, chia quân thành các đạo đánh một trận lớn, bắt sống nước Thục dẫn về kinh sư. Các đồn nghe biến không kịp cứu. Quân Thục bị phá tan, thua to, dẹp sạch vậy. Sơn Thánh cùng các ông làm lễ dâng biểu tâu, quay trở về thành làm lễ bái tạ. 

Vua rất vui mừng, bèn mở yến tiệc. Đang trong lúc ăn uống 11 vị ngồi ở trên triều hai bên trái phải trước bệ. Đang giữa ban ngày bỗng thấy trên trời có 3 tiếng sấm vang đất, trời đất mờ tỏ, mưa gió nổi lên, ban ngày hóa như đêm. Mười ông bỗng nhiên cùng hóa trước bệ rồng trong chính điện. Được một lúc thì mây gió tự tan, gió to dần dần thổi đi. Trời đất sáng lạn. Thì thấy các ông đều đã hóa. Chỉ còn Thái tử và Quý Công còn ở trước triều. 

Duệ Vương lấy làm sự lạ, ngày hôm đó (mồng 1 tháng 2) làm lễ an táng các ông ở nơi đất trong thành, rồi cứ theo lời dạy của Anh Vương trong mộng mà bao phong mĩ tự, cho đón về đất nơi cung ấp (xã Thời Mại) để phụng thờ. Duệ Vương phong vậy (phong Thái tử Ất thần quan, phong Thiên Cương thần quan, phong Áng Na thần quan, phong Thuỷ thần quan, phong Đương niên hành khiển thần quan, phong Gò Phú thần quan, phong Gò Khắc thần quan, phong Gò Miếu thần quan, phong Gò Lôi thần quan, phong Ông Dòng thần quan). Còn 4 trang của xã Thời Mại cùng phụng thờ. Trang chợ Núi (theo riêng Thủy thần quan) phụng thờ riêng hai vị (Thánh mẫu cùng với Thủy thần quan), cùng cho làm làng hộ nhi cho đền chính. 

Lại nói còn Thái tử cùng với Quý Công thấy các ông cùng ngày đều hóa, tất là vận nước nhà đến cuối nên các ông trở vê cung mây, không ham muốn lợi lộc của dương gian, tránh nhiễm bụi trần. Hai ông khấu bệ rồng xin được trở về cung ấp nghỉ ngơi trả lại chức trách. Vua đồng ý, ban cho một trăm hốt vàng ròng cùng với một trăm súc vải gấm. Hai ông quay trở về. Hôm đó (mồng 6 tháng 3)

Nhân dân làm lễ bái đón. Hai ông bái yết gia tiên, tu sửa đền miều các cung tòa ở các nơi đất trong các trang. Lại cho các gia thần cùng nhân dân một trăm thỏi vàng ròng, mở yến tiệc. Hai ông gọi phụ lão nhân dân và các thần tử cùng đến ăn uống. Nhân lúc ăn uống vui vẻ hai ông nói với nhân dân rằng:

  • Nhà ta cùng với nhân dân (4 trang của Thời Mại) vốn có ân sâu đức dày đã nhập vào xương tủy. Một nhà thần tử, vạn cổ cương thường tất thành nghĩa cũ, đâu phải là tình ngày một ngày hai. Nay có một tòa nơi cung mà hai vị tiên tổ đã lập ra (là cung đền ở nơi dân cứ, bên ngoài đối diện với nơi chợ). Nay lấy đó làm đền chính phụng thờ hai bậc gia tiên. Còn các tòa dựng về sau ở các nơi trong các trang thì để là cung thờ vọng. Hôm nay chúng ta ủy phó giao cho nhân dân làm nơi sau này cùng phụng thờ cha mẹ nhà chúng ta với các anh em, để nêu cao phong tục tốt đẹp trong nhân dân, đề cao tình thầy trò, làm thịnh thêm đức này vậy.

Phụ lão nhân dân, thần tử, đều cùng lòng nhận ủy chúc này. Việc xong thì đến mùa hè ngày 11 tháng 5, hai ông đi dạo chơi săn bắn, trở về cung. Quý Công cho quân binh về và ngồi nghỉ ở chùa Sùng Ninh, ngắm xem địa hình cảnh thiền. Thái tử đem quân trở về nơi cung chính. Bỗng nhiên mưa to gió lớn nổi lên, giữa trời có một đám mây đỏ như ánh lửa màu hồng, cuốn tròn như hình mặt trời, bay đến quấn quanh dân ở nơi đó, như vạn chiếc nón úp đất, môi ngậm yên lặng một vùng. Dân ở đó kinh sợ không dám ra khỏi nhà. 

Hôm ấy (mồng 10 tháng 5) Quý Công hóa ở chùa Sùng Ninh. Thái tử hóa ở nơi cung đền chính (trong 12 người con chỉ có ông Thái tử là nhận chức Ninh Hải quận vương, lấy vợ con chủ trưởng châu Bố Chính, sinh được 3 nam 2 nữ, sau sinh được các cháu còn nhận chức phò giúp Trưng nữ vương. Sau này cháu 10 đời lại lấy con gái vua Trần Thuận Tông). 

Hai ông hóa xong thì đám mây hình ô tự biến đi, quạ bay đến thành đám, mưa gió tự nhiên hết. Gia thần, nhân dân đều ra đến chỗ các ông hóa để làm lễ an táng, nhưng đều thấy mối đã đùn thành mộ. Nhân dân bèn dâng biểu tâu về triều đình. Vua nghe vậy, nhớ tới lời báo trong mộng quả đúng nên rất kinh hãi. 

Vua thân ngự giá về nơi cung ấp, truyền nhân dân lập đền miếu phụng thờ. Lại lập một miếu ở nơi chùa Sùng Ninh thờ Quý Công. Còn Tá thái tử thờ phụng ở đền chính phối thờ cùng cha mẹ cùng các ông được truy hưởng. Hôm ấy (12 tháng 2) việc xong, Vua bao phong hai vị cùng 12 ông mĩ tự cùng áo mũ, truyền các quan cùng nhân dân làm lễ tế, cho phép 4 trang của xã Thời Mại làm nơi hộ nhi, miễn lệ các thuế dịch.

Phong Nguyệt Cư Trinh thuận Công chúa (theo như quyền chính của quân nữ chi ở trên)

Phong Phò Ký Lang Cương nghị Đại vương

Phong Tá thái tử Tràng

Phong Thái Ất thần quan

Phong Thiên Cương thần quan

Phong Áng Na thần quan

Phong Thuỷ thần quan

Phong Đương niên hành khiển thần quan

Phong Gò Phú thần quan

Phong Gò Khắc thần quan

Phong Gò Miếu thần quan

Phong Gò Lôi thần quan

Phong Gò Dòng thần quan

Phong Đương cảnh thành hoàng bản thổ Đại vương.

Trang Đàm Lã xã Thời Mại là nơi thờ trưởng phụng thờ Thái tử nên việc tế khấn có ngọc phả, lưu giữ thần hiệu truyền làm căn cứ. Còn trang Bình Chính, Trung Công, Lan cùng có các tiết làm lễ phụ, hưởng cỗ vạn cổ, hương khói không ngừng, phối cùng trời đất không mất vậy. Từ đó quốc đảo dân cầu có nhiều điều linh ứng. Mỗi năm hai kỳ xuân thu làm quốc tế. Bốn mùa hương hỏa không ngơi. Sau Lê tiên sinh có thờ rằng:

Tự cổ tòng lai vị kỷ nhân

Thê vi vương tử, tử vi thần

Đồng bào thập nhị giai hiền triết

Vạn cổ lưu truyền tại xã dân

Phụ đức càn khôn giai bất mẫn

Thần công sơn hải tỷ vô ngân

Phu thê phụ tử thiên xuân tại

Danh đức như tư nhật nguyệt tân.

Lại nói, trải Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương cộng 349 năm đến khi nước Nam có 4 họ Đinh, Lê, Lý, Trần khai sáng cơ đồ, thường có anh linh hiển ứng, giúp nước cứu dân, nên nhiều thời các đế vương gia phong mĩ tự, hương khói không ngừng. Đến khi Lê Đại Hành dẫn quân phạt Tống, tiến quân đi qua đền (tức cung đền Thời Mại), dừng ở đây một đêm, cầu đảo âm phù giúp nước dẹp được giặc, tới khi thanh bình sẽ bao phong là Thượng đẳng phúc thần. Chúc xong đêm đó vua Lê ngự ở điện chính, nằm mơ bỗng thấy công chúa cùng phò mã và 12 người con là thần quan đều cầm Kim đao, mũ ngọc xán lạn, áo bào giáp rồng huy hoàng, quân mã đường đường tiến đến. Hai vị đều đứng trái phải trước Vua. 12 thần quan đều đứng chầu bên trái phải, quân binh mang áo giáp đứng thành 2 hàng. Vua hỏi rằng:

  • Các vị đến là thế nào?

Trả lời rằng:

  • Thần vốn là phò mã nhà Hùng, nghe vua Lê phạt Tống qua đây gọi trợ chiến, nên dẫn binh mã đến yết kiến.

Dứt lời thì Vua tỉnh lại, mới biết là nằm mơ, biết là có nhiều điều linh ứng. Hôm ấy làm lễ rồi dân quân tiến thẳng, sau dẹp sạch được giặc, vua Lê bao phong mĩ tự Thượng đẳng phúc thần, hưởng lễ vạn cổ, hương khói vô cùng, cùng hưởng vận với quốc gia, thịnh sao!

Phong Nguyệt Cư công chủ Trinh thuận Minh mẫn thần vị

Phong Phò ký Lang Cương nghị Uy dũng Hùng kiệt Đại vương

Phong Tá thái tử Tràng Đại vương.

Còn 11 vị tuân theo như mĩ tự của triều trước, gia phong hai chữ Đại vương. Đền chính hộ nhi của xã Thời Mại mỗi năm hai kỳ quốc tế. Từ Tiền Lê, Hậu Lê, Tiền Lý, Hậu Lý đều có nhiều linh ứng, nên có nhiều vị đế vương truy phong mĩ tự, hương hỏa vô cùng.

Lại nói thời hậu Trần, Giản Định đế khởi nghĩa hưng binh để lập phục lại nhà Trần (là con thứ của Trần Nghệ Tông). Khi đó có quan phò mã là Lý Thái Bảo (cũng là cháu thứ hai đời thứ mười bốn của Tá Thái tử từ Lý Lang Công), đi qua đền trang Đàm Lã, xã Thời Mại, kính nghe rằng đền thờ tổ tiên có tiếng nhiều linh ứng. Khi đó quan phò đang tiến quân truy đuổi Hồ Quý Ly cùng Hán Thương, mới tiến quân đến nơi đền, cầu đảo xin được âm phù để dẹp được họ Hồ, khôi phục lại quốc gia nhà Trần. Sau này được thanh bình xin tâu với vua, tất có bao phong mĩ tự, hưởng lễ vạn cổ, hương khói không ngừng, phối cùng nhật nguyệt, trường tồn mãi mãi. 

Khi vừa chúc xong bỗng thấy gió to nổi lên thổi thẳng vào trong cung đền, làm gẫy cây, cát đá bay mù mịt, trời đất mờ tỏ. Trong đền nghe tiếng động như tiếng sấm. Phò mã lại làm lễ bái xin. Thì mưa gió tự nhiên dừng lại. Quan phò mã (vì lấy con gái của vua Trần Giản Định) nói với phụ lão nhân dân rằng:

  • Tiên tổ của ta đều rất linh thiêng, tất là vì vận hưng quốc mà âm phù vậy.

Dứt lời hôm đó cất quân thẳng đến đánh một trận với quân Hồ. Quân Hồ thua, chạy tán. Vua Giản Định phục được quốc gia, lên ngôi hoàng đế, bèn gia phong tuân như sắc chỉ của triều trước, lệnh quan đem sắc chỉ về đền (đền Đàm Lã) mà làm lễ tạ. Ch xã Thời Mại được một năm hai kỳ xuân thu quốc tế, lại lập ở trong ấp (tức xã Thời Mại) 7 nơi miếu để cùng phụng thờ. Các chữ húy cùng các tiết sinh hóa và các ngày lệ tiệc khánh hạ cùng các sắc phục được khai cụ thể như sau:

  • Lệ ngày sinh của cha mẹ cùng các ông: làm lễ ở miếu chợ chính sở, cùng xã làm lễ cỗ thịt lợn, xôi, rượu, bánh trôi. Trước đó 1 ngày là lễ tắm rửa. Ca hát một ngày đêm đến mười giờ sáng thì đón trở về các nơi làm lễ.
  • Mồng 3 tháng Giêng chính lệ ngày sinh Thánh mẫu: làm lễ chay 3 mâm, trà, bánh chay, ngũ vị hương, làm lễ tại miếu chính ở cung chợ, lúc thờ đó làm lễ tắm rửa, tới ngày mồng 4 nghênh giá Thánh phụ, Thánh mẫu về cung Thái tử Đàm Lã. Đến mồng 5 dùng lợn đen, rượu ngọt, chọn gia đình vợ chồng song toàn làm lễ. Đến mồng 6 làm lễ thịt lợn, xôi ngũ sắc, hát xoan thì có phường hát của cung tạo lệ 4 xã Phù Khang, ngâm chúc phụng thờ. Sau 3 ngày làm lễ tạ quay về cung miếu. Các giáp phụ giúp tế ở chợ Núi và các miếu ca hát.
  • Mồng 6 tháng Giêng là ngày chính lệ sinh nhật của Thái tử Đại vương: làm lễ ở cung Thái tử Đàm Lã, lợn đen tuyền, chọn gia đình có đủ vợ chồng song toàn, rượu ngọt, xôi, hát xoan do phường của 4 xã tạo lệ huyện Phù Khang cùng đến cung hát vịnh tụng chúc. Ngày Thái tử sinh nhật cũng là ngày khánh hạ của Thánh phụ, Thánh mẫu. 
  • Ngày 11 tháng 2 là ngày cùng hóa của 10 vị thần quan: làm lễ lợn đen, xôi, rượu tòa xã tại chính miếu chợ.
  • Mồng 3 tháng 3 là ngày sinh thần của các vị thần quan: thịt lợn đen, xôi, rượu cùng ca hát ở cung Đàm Lã và Trung Công.
  • {12 tháng 10 ngày lệ sinh thần của các vị thần quan: thịt lợn, xôi, rượu, ca hát một ngày đêm ở Đàm Lã và trang Lan.
  • 20 tháng 12 là ngày hóa của Đại vương: làm lễ lợn, xôi, cơm, rượu, 7 nơi vọng cung cùng làm lễ, 12 giáp cắt cử người phụ tế ở cung Đàm Lã.
  • 12 tháng 12 là ngày hóa của Thánh mẫu: làm lễ lợn đen, các mâm gà, xôi, cơm, rượu ở cung Đàm Lã, cùng xã phụ tế và các nơi cũng làm lễ.
  • Ngày 10 tháng 2 là ngày cùng hóa của 10 vị thần quan: lợn đen, xôi, rượu, cùng xã làm lễ tại chính miếu chợ.}
  • 10 tháng 5 là ngày hóa của hai vị Thái tử và thần bản thổ: lợn, xôi, cơm, rượu làm lễ ở cung Đàm Lã và chùa Sùng Ninh.
  • 10 tháng 8 là ngày khánh hạ sinh thần của Đại vương và ngày phân 12 giáp (12 giáp này đều là gia thần của 12 vị thần quan được Duệ Vương phân làm 12 giáp để phụng thờ): Trước một ngày làm lễ khánh hạ ở miếu cung tại xứ chợ đến ngày 9 thì đón giá về các vọng cung làm lễ lớn, ca hát, đánh cờ. Làm lễ lợn đen, xôi, rượu, bánh dày trắng, mỗi giáp làm bánh dày trắng 100 viên, ngày mồng 8 tế ở chính miếu chợ, ca hát một ngày đêm, quét dọn từ miếu chợ đến các nơi. Mồng 9 các giáp đón về các vọng cung làm lễ, ca hát, đánh cờ. Ngày mồng 10 toàn 12 giáp làm lễ.
  • Khai sắc khánh hạ ngày 10 tháng Giêng: lợn đen, xôi, rượu, ca hát ở cung Thái tử Đàm Lã.

Còn các tiết hai kỳ xuân thu quốc tế đều làm lễ tam sinh, ca hát ở chính xứ miếu chợ (12 tháng 2, 20 tháng 6).

Niên hiệu Hồng Đức thứ nhất, mồng 1 tháng 3.

Các chữ húy: Lang, Tràng, Nguyệt Cư, Tuệ, Dực, Linh, Hải, Thường, Khắc, Thành, Phú, Quý, Kính, Dũng, Lôi, 10 chữ húy nhất thiết cấm. Sắc phục vàng, tía, xanh tuyền nhất thiết cấm.

Còn các lệ nhỏ thì xem ở trong sự tích (làm lễ xôi gà), khi làm lễ thì trang Đàm Lã là trưởng lễ trước, sau lùi.

Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính phụng soạn.

Hoàng triều Vĩnh Hữu năm thứ 2 ngày tốt 10 tháng 5 Quản giám bách thần tri điện Thiếu khanh chức tuân như bản cũ của triều triều mà phụng chép (32 trang).

Niên hiệu Bảo Đại thứ 13 ngày 10 tháng 3, hương lý xã Cao Mại thừa sao phụng.

Đình Cao Mại.

Chạm khắc đình Cao Mại.
Đền Nhà Bà Cao Mại.
Bia đền Nhà Bà Cao Mại.