Quá khứ không phải là điều đã qua và qua rồi là hết. Lịch sử một đất nước, một dân tộc như phần rễ cây chìm trong lòng đất, không nhìn thấy nhưng lại quyết định khả năng vươn cao của cây. Rễ có sâu, có to thì thân và cành lá mới xum xuê vững chãi. Nền văn minh chói ngời của cha ông một thời soi đường cho cả Thiên hạ là sức mạnh tinh thần to lớn thúc đẩy con cháu ngày nay xốc tới… Không theo vết xe cũ mà nhiều người trước đã đi trong việc tìm hiểu quá khứ Việt, nhóm Hùng Việt sử quán đã mở ra hướng khảo cứu mới, tìm thông tin lịch sử Việt trong dân gian như: ngôn từ, ca dao tục ngữ, thần tích thần phả… Dòng sử dân gian này do không hay rất ít ảnh hưởng bởi tư liệu lịch sử Tàu nên chắc chắn là chân thực. Có chăng chỉ là một chút sai lạc do thời gian uốn nắn… Văn nhân Nguyễn Quang Nhật
Cuốn sách Lạc Hùng chính thống Thánh tích ký truyền của nhóm tác giả Hùng Việt sử quán vừa xuất bản tháng 7 năm 2025 đã khắc họa lại lịch sử dựng nước của các vua Hùng một cách chân thật, hùng tráng dựa trên những khảo cứu, đúc kết của nhóm trong suốt hơn 10 năm qua. Cuốn sách tái hiện lịch sử thời đại Hùng Vương dưới hình thức dễ đọc, dễ hiểu, không đi vào khảo cứu mà giới thiệu các thông tin dưới dạng hình ảnh, phả đồ, bản đồ, giúp người đọc có thể nhanh chóng tiếp cận được nội dung nhưng cũng không kém phần cuốn hút bởi những câu chuyện lịch sử thực tế và những cảm xúc thăng trầm qua văn thơ trên con đường tìm về nguồn cội.
Cuốn sách mở đầu bằng phần LỊCH SỬ HÙNG VƯƠNG TÂN BIÊN, tái hiện lịch sử thời đại Hùng Vương thành một mạch xuyên suốt từ khi mở trời mở đất cho đến vị vua Hùng cuối cùng qua những sự kiện, những mốc phát triển chính. Từ thuở Hoàng Đế mở muôn nước, Kinh Dương Vương trị thủy thống nhất bốn phương, Lạc Long Quân cùng các vị Thủy thượng Linh thần khai phá miền sông biển, mẹ Âu Cơ Văn Lang cùng vua Hùng Lang Liêu thắng Trụ diệt Ân, đặt ra trăm quan, phong cho trăm họ mà sinh Bách Việt cho đến khi Triệu Vũ Hoàng Đế thống nhất đế quốc, Triệu Việt Vương lập nước Nam Việt, quang phục nền văn hóa Đông Sơn huy hoàng, Trưng Lữ Vương dựng cờ khởi nghĩa bên sông Hát và những vị Nam Giao học tổ hy sinh quên mình vì nước.
Lịch sử Hùng Vương tân biên không tham vọng khảo chứng lịch sử, mà là chia sẻ sự nhìn nhận có được qua việc tìm hiểu quá khứ từ những dữ kiện và góc nhìn khác nhau. Đó là việc đối chiếu các nguồn tư liệu thành văn của Hoa sử và Việt sử. Là những thông tin chắt lọc từ những sự tích thờ cúng, lễ hội cho những anh hùng, những nhân vật trong suốt chiều dài sử Việt. Là sự suy ngẫm trước những hiện vật khảo cổ biết nói đã được phát hiện không chỉ ở Việt Nam mà còn trong cõi trời Đông. Là góc nhìn địa văn hóa, sử văn hóa từ những dấu vết ngôn ngữ, triết học cổ.
Tiếp theo là phần NIÊN BIỂU VÀ THÁNH TÍCH 18 TRIỀU HÙNG VƯƠNG. 18 triều đại Hùng Vương được sắp xếp theo 4 giai đoạn phát triển của xã hội Việt là thời kỳ Thủ lĩnh cộng đồng, thời kỳ Thị tộc phụ đạo, thời kỳ Phong kiến phân quyền và thời kỳ Phong kiến tập quyền. Mỗi triều đại được ghi rõ tên gọi từ các nguồn tư liệu khác nhau, niên đại, kinh đô, dấu vết khảo cổ, các truyền thuyết và đặc biệt là thống kê đầy đủ các di tích lịch sử văn hóa liên quan đến mỗi triều đại này trên đất Việt. Kèm theo đó là hình ảnh màu thực tế của hàng trăm di tích và hiện vật được giới thiệu trong sách.
Cuốn sách cung cấp rất nhiều phả đồ xuyên suốt các thời kỳ Hùng Vương hoặc chuyên sâu cho mỗi giai đoạn quan trọng, giúp bạn đọc nhanh chóng nắm bắt được nội dung diễn biến chính của mỗi thời kỳ. Các phả đồ không chỉ chỉ rõ mối quan hệ giữa các nhân vật, các sự kiện lịch sử mà còn là sự đối sánh giữa các tư liệu của các góc nhìn lịch sử khác nhau. Phả đồ và lịch sử tân biên được xây dựng với quan niệm: Không có tư liệu sai, chỉ có sự nhìn nhận và hiểu biết của chúng ta còn chưa đủ, chưa phù hợp. Chính sự so chiếu này làm nên tính phổ quát của niên biểu. Phả đồ cùng với các di tích lịch sử, di chỉ khảo cổ và niên biểu tên gọi là bộ bản đồ dẫn đường cho mọi người Việt chúng ta trên con đường tìm về quá khứ và tổ tiên.
Lịch sử làm nên văn hóa của một xã hội, và ngược lại văn hóa là kết tinh của lịch sử. Mặc dù cuốn sách được biên soạn theo hình thức “sử ký”, tức là ghi chép lại các sự kiện lịch sử và giới thiệu các nguồn tư liệu, dấu tích, nhưng phần bàn luận về VĂN HÓA THỜI ĐẠI HÙNG VƯƠNG là những bài viết ngắn đi sâu khảo chứng cho những vấn đề, những chủ đề cụ thể. Đó là về quan niệm minh triết người Việt cổ, các hình tượng vật tổ, chữ viết của người Việt thời Hùng Vương, về các cuộc chiến thay đổi thời vận, về các gương hiếu của thời Hùng Vương, các vị tiên nữ, các vị thần bất tử, và một số nhân vật quan trọng như Na Tra Đổng Thiên Vương, Khương Thái Công Lã Vọng, Đức Thánh Chèm Lý Thân, An Dương Vương…
Trên bìa những cuốn lịch sử Hùng Vương xưa (ngọc phả Hùng Vương) được soạn bởi các bậc Hàn lâm Học sĩ đương thời có đề đôi câu đối: Vấn lai dĩ sự tu vi sử Tế nhận như đồ dục mệnh thi. Tức là: Hỏi kỹ chuyện qua mà chép sử Thấy rành như vẽ mới làm thơ.
Xem kỹ những gì đã biết về các vua Hùng, thấy sự việc rõ rành thì tất có cái hứng để làm thơ, để ca ngợi công đức tiền nhân, để cảm sự nỗ lực của người Việt dựng nên nền tảng văn hóa xã hội ngàn đời cho con cháu. Sau phần biên diễn lịch sử là những bài thơ VỊNH SỬ LẠC HÙNG xuất phát từ những cảm hứng này.
18 vương triều Hùng bất diệt. 3.000 năm xã hội Việt phát triển qua 4 giai đoạn từ thấp đến cao. Không gian lịch sử bao trùm khắp phương Đông. Những vị anh hùng đã hóa thần trong sử Việt. Đó là những gì cuốn sách muốn gửi gắm đến các bạn đọc ngày hôm nay.
Hồn sông núi nước Nam còn mãi Để hôm nay ta lại là ta Xé mây trời sáng bao la Anh linh tiên tổ, Hùng ca đời đời.
Nhóm tác giả Nguyễn Đức Tố Lưu, Thích Tâm Hiệp, Nguyễn Đức Tố Huân đã thực sự làm người đọc bất ngờ bởi những phát hiệnđộc đáo và những kiến giải táo bạo, công trình đã mở ra nhiều hiểu biết mới trong nghiên cứu tín ngưỡng và lịch sử cổ đại Việt Nam, ví dụ như:
Chứng minh Liễu Nghị là Tản Viên Sơn Thánh (Kinh Dương Vương), đồng thời liên hệ với Đại Vũ của nhà Hạ, tạo nên một hệ thống thần thoại thống nhất giữa Việt Nam và Trung Hoa.
Giải mã danh tính các vị thần Thủy phủ như Long Đỗ, Bát Hải Long Vương, Quý Minh… những danh tính vốn bị lãng quên vì không ai có thể giải mã, hoặc bị hiểu sai trong nhiều nghiên cứu trước đây. Việc giải mã này không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu Đạo Mẫu mà cả tín ngưỡng dân gian Việt Nam nói chung.
Giải thích và xác định một số địa danh then chốt như: “Động Đình”, “Bãi Trường Sa”, “cánh đồng Tương”…các kiến giải này đã thực sự giúp giới nghiên cứu cổ sử và văn hóa có cơ sở để xác định các không gian văn hóa khi nghiên cứu tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Chẳng hạn việc xác định Động Đình là vùng biển Đông, chứ không phải hồ nước ở Hồ Nam (Trung Quốc) là một cách khẳng định lại không gian văn hóa – chính trị của hệ Thủy phủ của dân tộc Việt. Đánh đổ các khuôn mẫu truyền thống, các biểu tượng và định kiến (không nhiều nhà nghiên cứu vượt qua) trước đây về mối liên hệ giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Trung Hoa.
Đưa ra các biểu tượng văn hóa-sinh thái giúp các nhà nghiên cứu về sau có căn cứ để nhận diện, giải mã các biểu tượng liên quan đến thủy thần như: cây hoa gạo, hoa đào, biểu tượng rắn, rồng, bọc trứng,…. Những biểu tượng này không nhiều nhà nghiên cứu biết được bởi bị phủ lên bởi diễn trình lịch sử quá xa xưa, cũng như bị rời rạc và mờ nhạt bởi thiếu các cơ sở liên kết, xâu chuỗi về thần tích và biểu tượng. Đây là một đóng góp quan trọng về mặt biểu tượng học, nó sẽ giúp ích cho công tác điền dã, xử lý tư liệu cho các nhà nghiên cứu về sau.
Những phát hiện này không chỉ đảo lộn nhận thức cũ mà còn đặt nền móng cho một cách tiếp cận mới, khẳng định tính độc lập và bản sắc của văn hóa Việt, phá vỡ tư duy “dĩ Hoa vi Trung” bấy lâu nay khi nghiên cứu về Đạo giáo và thần phổ Việt Nam.
2. CÔNG TÁC ĐIỀN DÃ CÔNG PHU & TƯ LIỆU QUÝ HIẾM
Để có được nguồn tư liệu tham khảo đồ sộ như đa công bố trong công trình này, có lẽ nhóm tác giả đã phải dành nhiều năm lăn lộn thực địa mới có được. Những tư liệu này không chỉ phản ánh việc chú trọng công tác điền dã thực địa, lấy tư liệu thực địa làm cơ sở nghiên cứu và luận giải. Tính dân tộc học cũng đậm nét khi nhóm tác giả thu thập rất nhiều chuyện kể, truyền thuyết dân gian, ghi chép các dư liệu văn tự tại các nơi đến. Việc thu thập, biên dịch những tư liệu này trở nên có giá trị vô giá không chỉ bởi độ hiếm, độ quý về mặt tư liệu mà còn thể hiện ở chỗ nội dung đắc giá, phục vụ đúng các mục tiêu và vấn đề nghiên cứu. Hầu hết những tài liệu đắc này là những tài liệu mà các học giả trước đây chưa từng tiếp cận được, hoặc tiếp cận lẻ tẻ, chưa tập hợp thành hệ thống:
Thần tích, ngọc phả, khoa nghi, bi ký từ các chùa, đền miếu cổ, thư viện,… giúp khôi phục lại hệ thống thần điện Thủy phủ một cách hệ thống. Những nguồn tư liệu mà nhóm tác giả dày công biên dịch, khảo cứu đã làm cho cuốn sách chứa đựng thêm nhiều giá trị mà các công trình nghiên cứu đi trước không làm được. Những Ngọc Phả Lạc Long Quân, Thần tích về các vị thần Lạc Thị, thần tích xã Liễu Châu, Phả lục năm vị Đại vương Thủy thần triều Hùng, Ngọc Phả chép về một vị thủy thần xuất thế triều Hùng, … cung cấp thêm các cứ liệu về cổ sử và phả hệ dòng Lạc Thị.
Cùng các Thần tích làng Tiên Cát, thần tích làng Nghi Khúc, Ngọc phả xã Xối Đông, ngọc phả làng Đa Chất…cung cấp thêm hành trạng của hệ thủy thần Việt Nam ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ.
Đặc biệt thông tín từ một số tư liệu văn tế, bi ký ở hải ngoại như: bia về Đạt Lặc Giáp, bia về Bố Lạc Đà, bia về Mạc Nhất Đại vương đã giúp cho người đọc hình dung được sự phân bố, diện mạo của dân tộc Lạc Việt xưa. Nó giúp cho người đọc nhận thức được vùng văn hóa Việt và tính liên quốc gia của vấn đề nghiên cứu về Lạc Việt.
Câu đối, văn bia, câu chuyện truyền thuyết dân gian ở những làng xã, chùa miếu, đền ít được biết đến, như đền Đồng Bằng (Thái Bình), đền Hội (Nghệ An), đền Á Lữ (Thái Bình), đền Nhân Phẩm (Ninh Bình)…củng cố thêm cho các luận cứ để nhóm tác giả đưa ra các nhận định và kiến giải mới.
Đối chiếu với Đạo giáo Trung Hoa nhưng không sao chép máy móc, mà luôn đặt trong bối cảnh bản địa, giúp làm rõ sự giao thoa và khác biệt.
Hệ thống tư liệu và dữ liệu mà nhóm tác giả có được, chứng minh rằng một công trình không ngồi trong máy lạnh mà rất dày công, nghiêm túc, kết hợp được các nguồn sử liệu, dữ diệu điền dã di tích, dân tộc học, phân tích văn bản học,… xứng đáng là tài liệu tham khảo quý, hiếm và rất pro cho các nhà nghiên cứu sau này.
3. ĐÓNG GÓP HỌC THUẬT CÓ GIÁ TRỊ: TINH THẦN “DĨ VIỆT VI TRUNG”
Cuốn sách không chỉ là một nghiên cứu chuyên sâu, mà còn là một tuyên ngôn học thuật lấy dân tộc Việt làm trung tâm, phá bỏ tư duy “dĩ Hoa vi Trung” (lấy Trung Hoa làm trung tâm) vốn thống trị giới nghiên cứu trước đây. Nhóm tác giả đã:
Khẳng định sự độc lập của thần thoại, truyền thuyết, thần tích Việt: cuốn sách chứng minh rằng các vị thần như Lạc Long Quân, Tản Viên, Thủy Tinh không phải là “phiên bản sao” của thần thoại Trung Hoa, mà có nguồn gốc và logic riêng.
Phác thảo lại cấu trúc quốc gia gắn bó mật thiết với nước (từ sông ngòi, hồ đầm, ao, biển) thời cổ đại, cho thấy người Việt đã có một hệ thống chính trị – tín ngưỡng phức tạp từ rất sớm, không thua kém các nền văn minh khác.
Công trình này cũng đặt lại vấn đề về cách tiếp cận sử học theo lối truyền thống, vốn thường xem nhẹ yếu tố biển đảo và thủy tộc. Cách tiếp cận này mở ra hướng tiếp cận mới về lịch sử Lạc Việt, văn hóa nước, tín ngưỡng dân gian Việt.
4. TINH THẦN NGUỒN CỘI VÀ SỰ KHAI KHÓNG
Không chỉ dừng lại ở học thuật, nhóm tác giả còn tạo cảm hứng về ý thức dân tộc, giúp người Việt hiện đại tự hào về cội nguồn thay vì nghĩ mình ít nhiều gì cũng “là phiên bản của Trung Hoa”. Tôi nghĩ, công trình này đã:
Khẳng định tư duy độc lập, không chạy theo các số đông nghiên cứu phổ biến, mạnh dạng đưa ra nhiều kiến giải độc lập, mới và có thể gây tranh cãi.
Kết nối quá khứ với hiện tại, gợi mở về một “tư duy về văn hóa nước” trong bối cảnh học thuật quá chú trọng đến các vấn đề khác, đặc biệt nó cũng kết nối với các vấn đề về văn hóa biển.
Truyền cảm hứng cho thế hệ trẻ tiếp tục khám phá lịch sử và văn hóa dân tộc với tinh thần phản biện và sáng tạo.
5. MỘT SỐ CÂU HỎI THẢO LUẬN
Câu hỏi về phương pháp luận và xử lý nguồn tư liệu
Câu hỏi 1: Nhóm tác giả đã sử sử dụng tiêu chí nào làm cơ sở phân loại và liên kếtsự tương đồng khi so sánh hệ Thủy phủ Việt Nam với các vị thần Đạo giáo Trung Hoa, hoặc diễn giải về tên gọi hoặc biểu tượng để xác định sự nguồn gốc, sự tương đồng trong các câu chuyện về thủy thần?
Câu hỏi 2: Khi thần tích địa phương mâu thuẩn với hướng giải quyết vấn đề của nhóm tác giả thì nhóm cân nhắc yếu tố nào để ưu tiên diễn giải? Ví dụ như trường hợp Quý Minh vừa là Sơn thần lẫn Thủy thần thì nhóm tác giả có thể nói rõ hơn về cách xử lý như thế nào để thuyết phục người đọc chấp nhận một diện mạo thủy thần của ngài?
Câu hỏi về diễn giải nhân vật và thần điện
Câu hỏi 3: Nhóm tác giả có thể cho biết thêm một số bằng chứng để làm rõ thêm nhận định thần Long Đỗ là Thủy phủ Phù Tang Đại Đế? Liệu có khả năng đây là hai vị thần riêng biệt, được hợp nhất do ảnh hưởng Đạo giáo thời Lý-Trần hay không?
Câu hỏi về bối cảnh lịch sử và văn hóa
Câu hỏi 4: Với giả thuyết Thủy phủ Lạc thị như một mô hình phản ánh cấu trúc quyền lực thời Hùng Vương có được bổ trợ bằng những minh chứng khảo cổ học nào (ví dụ: khảo cổ học văn hóa Đông Sơn) hay không? Làm sao giải thích sự vắng mặt của biểu tượng Rồng trong nghệ thuật Đông Sơn nếu Rồng là biểu tượng trung tâm của Lạc Thị?
LỜI KẾT
Cuốn sách không chỉ là một công trình nghiên cứu xuất sắc, mà còn là một bước ngoặt trong tư duy viết sử ở Việt Nam. Nhóm tác giả xứng đáng được ghi nhận như những người tiên phong, dám đi ngược lại lối mòn, dám đặt câu hỏi lớn, và quan trọng nhất – dám khẳng định chân giá trị của văn hóa Việt. Hy vọng rằng, tương lai nhóm tác gải sẽ có nhiều nghiên cứu tiếp nối với nhiều phát hiện mới. Chúc mừng nhóm tác giả vì đã có thêm một tác phẩm để đời!
Có người hỏi tôi rằng: Dựa vào đâu để có thể viết nên cuốn sách Kinh triều bảo lục – Sử tích Long Quân và các vị Thủy thần Lạc Thị?
Tôi đáp rằng: Tiêu chí để nhận diện các vị thủy thần Việt là từ nhận thức về lịch sử…
Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả mở đầu đã ghi rõ: Xưa tại Đại quốc Trung Hoa, đô đóng ở thành Thiên Thọ Bắc, lăng phần mộ tổ trời táng ở núi Côn Lôn, cùng năm hồ, biển lớn, núi Nam hội chầu chính đường. Ban đầu là từ cháu ba đời Viêm Đế dòng Thần Nông Thị, từ Hy Hoàng tới đó, truyền ngôi quốc bảo chính thống Nam Bang, để lại cho con cháu đời sau vậy.
Vua Minh Mạng cho lập miếu Lịch đại đế vương tại kinh thành Huế ở gian chính giữa đã đặt bài vị thờ Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế, Đường Nghiêu, Ngu Thuấn, Hạ Vũ, Thương Thang, Chu Văn, Chu Vũ.
Nước ta là Đại quốc Trung Hoa, mộ tổ Hùng Vương ở núi Côn Lôn. Đế vương trải các đời Hữu Hùng Hiên Viên Hoàng Đế là Đế Minh mở muôn nước. Đường Nghiêu Ngu Thuấn là Đế Nghi và Lộc Tục của 2 nhánh Hồng – Lạc. Kinh Dương Vương là Đại Vũ trị thủy. Lạc Long Quân là Hạ Khải, mở đầu Hoa Hạ.
Do đó, các vị cổ thần từ tín ngưỡng Trung Hoa như Đạo giáo hay shaman giáo của người Dao sẽ tương đồng với các vị thần cổ của người Việt.
Cách diễn giải, hay cách nhận định về các nhân vật trong huyền sử Việt là được tính đến các khả năng sau:
– 1 nhân vật của thần tích và truyền thuyết là hình tượng của 1 triều đại, 1 dòng tộc nên có thể gồm nhiều nhân vật lịch sử có quan hệ dòng tộc với nhau ở các thời gian khác nhau.
– Thời gian của truyền thuyết không tính bằng năm tháng mà tính bằng sự kiện. Chỉ có những sự kiện quan trọng mới được ghi chép truyền lại.
– Hình tượng văn hóa trong mỗi truyền thuyết được kể theo một góc nhìn mang tín chất địa phương và dòng tộc. Cho nên 1 nhân vật có thể được kể dưới những tên gọi khác nhau tùy theo góc nhìn, góc kể.
Trường hợp của Quý Minh Đại vương là ví dụ, có 2 nhân vật đều được kể là Quý Minh. Một là Quý Minh vào đầu của thời kỳ Hùng Vương, anh em của Tản Viên Sơn Thánh. Một là Quý Minh ở vào giai đoạn cuối của thời kỳ Hùng Vương chống Thục.
Câu chuyện về Quý Minh được nhận diện theo Cổ Lôi ngọc phả, ghi rằng 1 trong người chú là Lý Long Cảnh đã giúp Kinh Dương Vương đánh giặc. Như vậy vẫn là 1 nhân vật Quý Minh nhưng có 2 cách kể. Kẻ theo dòng lên núi thì đó là Sơn thần phụ trách Lãng Nhạc. Kể theo dòng xuống biển thì đó là vị Thủy thần đi ngược từ cửa biển Thần Phù về Long Đỗ.
Đối với thần Long Đỗ từ trước tới giờ không có sự tích khi thần còn sống, chỉ có kể về sự hiển linh nên không thể nhận diện được nhân vật này. Tuy nhiên, nhờ Cổ Lôi ngọc phả cung cấp thông tin quan trọng rằng thần Long Đỗ là cha của bà Đỗ Quý Thị ở hồ Dâm Đàm, tức là Mẫu Thoải hay Thần Long Nữ. Từ đó cho thấy thần Long Đỗ là Động Đình Đế Quân trong Truyện họ Hồng Bàng. Đây là dòng Long tộc, ở phía Đông, tức là vùng ven biển Đông.
Vị cổ thần của phương Đông là Đông Vương Công hay Đông Hoa Đế Quân trong Đạo giáo. Và cũng từ thông tin của Đạo giáo cho biết Đông Vương Công là Thủy phủ Phù Tang Cam Lâm Đại Đế. Phù Tang là phương Đông. Như vậy vị vua Thủy phủ, xưng Đế, ở phương Đông thì rõ ràng là Động Đình Đế Quân. Suy ra Long Đỗ (theo sử dân gian) = Động Đình Đế Quân (theo họ Hồng Bàng) = Đông Vương Công (theo Tiên đạo thời Tần Hán) = Thủy phủ Phù Tang Cam Lâm Đại đế (theo Đạo giáo Tam phủ). Đây là nhận định mới của cuốn sách, nên không liên quan gì đến thời Lý Trần. Mà là tên gọi của những dòng tín ngưỡng và dòng chép sử khác nhau.
Thời kỳ Lạc Thị bắt đầu từ 4.000 năm lịch sử, không tương ứng vời thời Đông Sơn ở thiên niên kỷ 1 TCN, nên hiển nhiên không thể so sánh. Trong văn hóa Đông Sơn cũng có hình tượng Giao long, chính là rồng Lạc. Thời kỳ Lạc Long Quân khai phá miền biển được khẳng định bằng các di tích khảo cổ cồn sò điệp gặp rất nhiều nhất là ở ven biển miền Trung. Điển hình là di chỉ khảo cổ quốc giaThạch Lặc tại Hà Tĩnh, phát hiện cả xương người cổ tuổi 3500- 4000 năm. Di chỉ này năm ngay cạnh đền Sắc Thạch Lặc thờ Tam Lang Long Vương, là 3 vị thủy thần Lạc Thị, với hàng chục sắc phong từ thời Lê.
Mô hình phát triển xã hội ở thời kỳ Lạc Thị không phải là mô hình nhà nước quan chế đầy đủ, mà đó là thời kỳ Thị tộc phụ đạo, ngôi vị thiên tử được cha truyền con nối nên Lạc Long Quân được gọi là Vua cha. Thiên hạ chia thành các phương, mỗi phương được 1 vị quan chư hầu phụ trách cai quản, nên thời này có Ngũ phương yết đế, hay Ngũ vị Tôn quan.
Thay cho lời cuối, xin dẫn lời của Hồ Tông Thốc trong Việt Nam thế chí: Độc giả nên lưu tâm nhận kỹ, cố sức suy nghiệm thì sẽ rõ ngọc đá, thấy được tiếng vang hình bóng của lịch sử, tôi đâu tự dám cho ý mình là thoả đáng.
Biên chép về thời kỳ Long Quân Lạc Thị qua tổng hợp từ Truyện họ Hồng Bàng và các di tích, thần tích tín ngưỡng thủy thần trên đất Việt.
Xưa, cháu ba đời của Viêm Đế thuộc họ Thần Nông là Đế Minh, Đế Minh sinh ra Đế Nghi. Một lần đi tuần thú phương Nam đến núi Ngũ Lĩnh gặp được nàng Vụ Tiên, lấy làm vợ, sinh ra Lộc Tục, dung mạo đoan chính, thông minh, sớm trưởng thành. Đế Minh bèn lập Đế Nghi cai quản đất Bắc, phong Lộc Tục trị vì phương Nam.
Đế Minh được tôn là đời Hùng Vương đầu tiên với tên thờ là Hùng Vương Sơn Nguyên Thánh Tổ Đột Ngột Cao Sơn. Bà Vụ Tiên lấy vua Hùng ở Ngũ Lĩnh là Tây Thiên Quốc mẫu, đã gặp Đế Minh ở ngọn núi Phù Nghĩa trên dãy Tam Đảo. Đế Nghi là người kế tục Đế Minh, được tôn là đời Hùng Vương thứ hai với tên là Viễn Sơn Thánh Tổ, cai quản vùng đất Hồng Lĩnh ở phương Bắc xưa gần Xích đạo.
Lộc Tục nối tiếp ngôi vua, đóng ở vùng đất phương Nam xưa, tức vùng đất Lạc trên miền Bắc Việt ngày nay. Lộc Tục được tôn là Ất Sơn Thánh Tổ, là đời Hùng Vương thứ ba. Đế Minh, Đế Nghi và Lộc Tục là 3 vị Hùng Vương Thánh Tổ được người Việt tôn thờ ngàn đời trên núi Hùng ở miền đất tổ Phong Châu.
Kế ngôi vị của Ất Sơn Thánh Tổ theo lối truyền hiền (truyền cho con rể) là Tản Viên Sơn Thánh, nhờ có công lớn trong quá trình trị thủy thời Đường Nghiêu, khi nước lũ ngập ngang trời. Sơn Thánh lên ngôi gọi là Kinh Dương Vương. Kinh Dương Vương trị vì phương Nam, lấy hiệu là nước Xích Quỷ, tức là Thủy quốc. Người Mường gọi Sơn Thánh là Lang Cun Cần, lưu truyền ngàn đời trong sử thi Đẻ đất Đẻ nước về sự kiện Kinh Dương Vương khởi đầu lịch sử người Việt với hai dòng sơn thủy. Hùng Vương Ngọc phả gọi ông là Hùng Việt Vương, đời Hùng Vương thứ tư trong Cổ Việt Hùng Thị Thập bát thế. Lịch sử Trung Hoa gọi ông là vua Đại Vũ trị thủy bên bờ Long Môn tại Thác Bờ (Hòa Bình).
Kinh Dương Vương thường dạo chơi dưới Thủy phủ, sau lấy con gái Động Đình Quân Long Vương. Long Vương Động Đình Đế Quân cũng là Long Đỗ hay Thủy phủ Phù Tang Cam Lâm Đại Đế, là người mở đầu của Thủy quốc Động Đình ở vùng ven sông biển. Kinh Dương Vương được dòng Thủy phủ gọi là Long cung Liễu Nghị, người đã kết duyên cùng Xích Lân Long Nữ của Thoải phủ. Kinh Dương Vương theo đó còn được gọi là Bột Hải Long vương.
Hai người sinh ra Lạc Long Quân bên bờ hồ Động Đình. Lạc Long Quân được kể là hoàng tử Linh Lang ở hồ Dâm Đàm, vốn là nơi rốn rồng của Thủy quốc Động Đình.
Lúc ấy, ở vùng đất Hồng Lĩnh phương Bắc xưa Đế Nghi đã truyền ngôi cho con là Đế Lai. Khi Kinh Dương Vương mất, Đế Lai muốn nhòm ngó nước Xích Quỷ nên đã xâm nhiễu phương Nam xưa, người dân địa phương không được yên. Dân chẳng thể làm ngơ liền dắt nhau gọi Long Quân rằng:
– Bố ơi! Chúa xứ Bắc quấy nhiễu nhân dân khổ lắm!
Long Quân vội đến, có thần thuật ẩn hiện biến hóa ra muôn trạng, yêu tinh quỷ mị, rồng rắn, tê giác, voi. Những kẻ tìm đến đều sợ hãi không dám tiếp tục. Đế Lai đành phải bỏ về.
Đế Lai được dòng Lạc thị kể là quân Thục tấn công đất nước của Hùng Vương. Linh Lang cùng với Lục bộ Thủy phủ dâng nước đánh đuổi quân Thục, chiếm được vị trí chủ thiên hạ, đóng đô nơi hồ Dâm Đàm, đất Thăng Long.
Lạc Long Quân lên ngôi, là Vua cha của Thủy phủ, tức Bát Hải Động Đình Long Vương trong tín ngưỡng Tam tứ phủ. Lạc Long Quân lập quốc lấy tên là Đào Hoa trang hay Hoa Hạ, lấy màu đỏ tượng trưng cho vùng đất ở gần miền Xích Đạo. Hùng Vương Ngọc phả gọi Lạc Long Quân là Hùng Hoa Vương, đời Hùng Vương thứ năm trong 18 đời vua họ Hùng.
Trong cuộc chiến này Lạc Long Quân được sự giúp đỡ của cả bên dòng Lạc của cha (Kinh Dương Vương) và dòng Long của mẹ (Thần Long Động Đình), nên khi lên ngôi vua lấy danh xưng là Lạc – Long Quân, tức là thủ lĩnh của cả 2 tộc người Lạc và Long.
Thủy quốc do Lạc Long Quân cai quản là khu vực các tộc người sinh sống dọc các nhánh của hệ thống sông Hồng và ven biển Đông thời cách nay trên 4.000 năm. Tên gọi Động Đình do đó gặp từ ngọn nguồn ba sông Đà Lô Thao, hợp lưu tại ngã Ba Hạc Việt Trì, rồi chia 9 nhánh theo cha Lạc Long về biển. Biểu tượng của Thủy quốc Động Đình là Long vương Tam Đầu Cửu Vĩ, hình tượng của dòng sông Hồng trên đất Việt cổ.
Trong cuộc chiến lập quốc của Lạc Long Quân, đứng đầu bên dòng Kinh Dương Vương – Tản Viên Sơn Thánh là người chú Quý Minh đã cùng cháu đánh giặc và yên dân ở khắp nơi. Còn đứng đầu các bộ Thủy phủ Long cung là những người anh em sinh cùng bọc (cùng mẹ) của Lạc Long Quân. Do nước của Lạc Long Quân là Đào Hoa nên các vị Thủy quan này thường được chép mang họ Đào.
Trong số những vị Long hầu này vị có quyền hành lớn nhất là Thổ Lệnh Trưởng, quyền chưởng Trung Hoa Quốc tể, được gọi là Quan lớn Đệ Tam trong tín ngưỡng Tam tứ phủ. Người anh em có quyền lực thứ hai là Thạch Khanh, được gọi là Quan lớn Đệ Ngũ. Hai vị “sinh Bạch Hạc”, nên được gọi là các thần Bạch Hạc Tam Giang. Còn nơi thực ấp của Trung Thành Thổ Lệnh là ở vùng ngã ba Lảnh (Thường Tín – Hà Nam – Hưng Yên). Thạch Khanh hay Quan Tuần Tranh ban đầu tuần thú ở vùng sông Tranh (Hải Dương), sau bị dời lên miền sơn cước Lạng Sơn bên sông Kỳ Cùng.
Lạc Long Quân dạy dân cấy lúa trồng dâu, định tôn ti thứ bậc vua tôi, vợ chồng cha con theo đạo luân thường, khi về nơi sông nước, trăm họ sống vui vẻ tự nhiên, gặp việc cất tiếng gọi Long Quân bằng bố (tục phương Nam gọi cha là bố):
– Bố ơi! Ở đâu sao không ở đây sống với chúng con?
Tức thì Long Quân đến, dáng vẻ uy linh, cảm ứng khó lường.
Bắt đầu từ Lạc Long Quân, ngôi vị thủ lĩnh thiên hạ được định đoạt theo dòng phụ đạo, tức là cha truyền con nối. Vì vậy Lạc Long Quân được gọi là “Bố”, hay đức Vua cha của Thủy quốc.
Lại đặt tướng văn là Lạc hầu, tướng võ là Lạc tướng; con trai Vương là Quan lang, con gái Vương gọi là Mỵ nương; các ty gọi là Bồ chính, đầy tớ gọi là Xảo xứng. Đời đời cha truyền con nối gọi là Phụ đạo, chủ tướng tương truyền đều lấy hiệu là Hùng Vương mà không đổi.
Đất nước được chia thành nhiều vùng, mỗi vùng do một vị Long hầu phụ trách cai quản như lời Lạc Long Quân nói:
– Nay ta chia ra năm mươi người con quay về Thủy phủ mà chia trị các nơi, năm mươi người con theo nàng lên núi chia nước mà trị vì, lên non xuống biển có việc nghe được cùng giúp đỡ lẫn nhau, chớ được quên hẹn ước.
Bấy giờ, người ở trong rừng, chân núi đi bắt cá dưới nước thường bị giao long làm hại, liền nói với Vương bảo:
– Người Man ở núi với Thủy tộc khác biệt nhau, có kẻ xấu người tốt cho nên xâm hại lẫn nhau.
Vương liền lệnh cho thích mực vào người các hình trạng Long Quân, thủy quái thì giao long không dám cắn. Vì vậy, người Bách Việt có tục xăm mình.
Những vị thủy quan phụ trách cai quản các xứ do đó được thể hiện là những vị thần rắn hay Long vương. Suốt chiều dài thời gian của Lạc triều gần ngàn năm đã có nhiều vị thủy quan ở các khu vực. Tên tuổi, công nghiệp của họ do đó thường được gắn với sự tích sinh ra cùng bọc trứng, trưởng thành có khí chất như rồng như rắn, đánh giặc, trị thủy. Lúc hóa được tôn thờ là các vị thủy thần.
Thủa sơ khai, dân làm không đủ ăn nên lấy vỏ cây làm áo, dệt cỏ làm chiếu, lấy cây quan lang đồ lên ăn, bắt chim thú, cá tôm làm chất mặn, củ gừng làm chất cay, lấy dao, lửa canh tác (tức là đốt nương làm rẫy), phần lớn là lúa nếp, lấy ống tre bắn chim, gỗ làm nhà tránh thú dữ, cắt tóc để tiện đi vào núi rừng, sinh con thì bọc bằng lá chuối, chết thì lấy dùi đánh mõ làm hiệu, làng xóm nghe thấy chạy đến giúp. Nam nữ lấy chồng, lấy vợ trước tiên phải có gói trầu cau, rồi sau mới giết bò, dê làm lễ, lấy cơm nếp cùng nhau ăn cho hết mới thành thân. Về sau đường lối thông suốt. Trăm người con trai chính là thủy tổ của Bách Việt vậy.
Dưới triều đại Lạc Thị, người Việt phát triển nghề nông tang, trồng lúa, trồng khoai, săn bắt chim thú, đánh cá ở sông biển, chăn nuôi bò dê, làm nhà gỗ, sống thành làng xóm, kết hôn lập gia đình, hình thành phong tục, lễ nghi, đường lối thông suốt. Lạc Long Quân cùng các vị Lạc hầu, Lạc tướng trở thành những vị thần tổ phù hộ người dân an cư lạc nghiệp ở miền đồng bằng.
Vào giữa thời Lạc triều, một vị quan Hầu đến từ vùng xứ Nghệ là Chử Đồng Tử đã tiếm ngôi dòng Lạc Thị, chặn đường Lạc Vương ở bãi Tự Nhiên bên bờ sông Hồng. Chử Đồng Tử lập nước riêng, gọi là Trạch quốc, đóng đô ở Khoái Châu (Hưng Yên), có nhiều quan quân theo về. Chử Đồng Tử xây dựng lâu đài, phát triển giao thương đường thủy, kết nối hai vùng đất Hồng và Lạc của thiên hạ. Chử Đồng Tử cũng phát huy lý thuyết Âm dương Ngũ hành, tròn vuông từ thời Tản Viên Kinh Dương Vương, học Tiên đạo từ vùng đất phía Tây (Tây Vương Mẫu – Tây Thiên Quốc mẫu) chữa bệnh, chữa lành cho nhân dân. Tuy nhiên, Chử Đồng Tử “một đêm về trời”. Nước Đào Hoa Hạ dòng Lạc Thị lại trung hưng.
Lạc quốc không chỉ phát triển ra phía Đông ven biển mà còn lên phía Nam xưa (tức phương Bắc nay) sang vùng đất Quảng Tây, Quảng Đông. Người Choang ở vùng này là dòng dõi Lạc Thị, tới giờ vẫn làm lễ tôn thờ Lạc Vương và Long Mẫu. Người Choang cùng nhóm dân tộc với người Tày Nùng ở miền Bắc Việt, nên việc thờ thần Rồng và Long Mẫu vẫn còn in đậm trong bản sắc những dân tộc này cho tới ngày nay. Thủ lĩnh Lạc Vương ở thời này đóng đô ở Dương thành tại Phiên Ngung (Quảng Đông). Giai đoạn Lạc thị Trung Hưng Hoa Hạ, mở nước về phía Đông Nam xưa được Hùng Vương Ngọc phả gọi là thời Hùng Uy Vương, triều đại Hùng Vương thứ sáu theo phả đồ.
Nhà Hạ Trung Hưng được thay thế bằng Bàn Vương trong tích Long Khuyển Bàn Hồ của người Dao. Nhóm tộc Miêu Dao là một trong những tộc người Bách Việt ở phương Nam đã làm nên nhà Thương trong lịch sử Trung Hoa. Trung tâm của giai đoạn này là vùng đất Kinh, tức là vùng Hồ Nam, phía Nam sông Dương Tử. Bàn Vương được Hùng Vương Ngọc phả gọi là Hùng Huy Vương, tức là đời Hùng Vương thứ bảy theo phả đồ.
Một trong những vị Bàn Vương là vua Bàn Canh, đã thực hiện việc di dời dân chúng, tiến xa hơn về phía Nam xưa, vượt qua sông Trường Giang, lập nên nhà Thương thứ hai, gọi là nhà Ân. Các vua nhà Ân được Hùng Vương Ngọc phả gọi là Hùng Duệ Vương, chỉ thời kỳ cuối của giai đoạn Lạc Thị theo cha xuống biển.
Vào thời Hùng Duệ Vương, trên miền Bắc Việt là đất Lạc cổ xưa, có các Lạc hầu, Lạc tướng làm chủ. Sử cũ còn ghi thời kỳ này xảy ra cuộc đụng độ giữa dòng Lạc họ Hùng và dòng Thục đến từ phía Tây. Sự tranh đấu giữa 2 nhánh lên núi – xuống biển, Hùng – Thục, Âu – Lạc này bắt đầu từ thời Lạc Long Quân dựng nước, kéo dài suốt giai đoạn Lạc Thị cho tới Hùng Duệ Vương. Các sự tích ở miền Bắc Việt ghi nhận là những vị Long hầu đất Lạc đã nhiều lần chống lại các cuộc tấn công của quân Thục. Kết quả cuối cùng là vua Hùng nhường ngôi cho Thục chủ, chấm dứt thời kỳ Lạc Thị theo cha khai phá miền biển, mở ra giai đoạn lịch sử mới khi 2 dòng Âu và Lạc tái hợp và sự lên ngôi của người con theo mẹ Âu Cơ ở Phong Châu là Hùng Quốc Vương. Qua bốn ngàn năm lịch sử từ cha Rồng xuất thế nơi Đào Động, 50 người con chia trị Ngũ phương, miền sông nước Động Đình đã vươn xa hơn ra biển. Thủy quốc Long Quân còn in đậm trong tín ngưỡng Tam tứ phủ, trong tục thờ thành hoàng ở hàng trăm, hàng ngàn ngôi làng ở Bắc Bộ, trong những bản thần tích, những bài sử thi dẫn đường cho linh hồn con cháu về với tổ tiên của người Kinh, Mường, người Tày, người Dao… Lịch sử cha ông không thể nào quên. Hỡi ôi, tiền nhân bất vong!
Dịch theo bản ngọc phả chép tay hiện lưu tại đình Hội xã Tuy Lộc, Cẩm Khê, Phú Thọ. Những phần in nghiêng là những ý khác so với bản dịch trong Lý lịch di tích của đình Hội.
Ngọc phả triều Hùng Do Thượng thư bộ Lễ triều Lê, Quản giám Tri điện vâng sao ngọc bảo cổ truyền
Hoàng đế Bệ hạ phụng ban sắc văn thần hiệu như sau:
Sắc phong Đương cảnh thành hoàng Tuấn triết Hồng huân Anh linh Hiển ứng Hùng Nghị Đại vương Thượng đẳng thần.
Sắc phong Đương cảnh thành hoàng Phổ thông Quảng tế Uy vũ Thần công Cao Sơn Đại vương Thượng đẳng thần.
Sắc phong Đương cảnh Thành hoàng Thánh trí Thần tài Nguy đức Phổ huệ Cao Minh Đại vương Thượng đẳng thần.
Sắc phong Đương cảnh Thành hoàng Dương võ Trợ quốc Ý đức Thần uy Hổ Lang Đại vương.
Sắc phong Đương cảnh thành hoàng Yểu điệu Phong tư Nương ả Diễn Kỳ Công chúa.
Sắc phong Đương cảnh thành hoàng Vĩ tích Phong công Lý Lý Cửa Đường Đại vương.
Sắc phong Đương cảnh thành hoàng Từ huệ Trinh thục Đoan trang Ý hành Nương nương Nhược Ứng Công chúa tôn thần.
Cho phép trang Áo Lộc, huyện Hoa Khê, quận Lâm Thao, trấn Sơn Tây phụng thờ để giúp bảo vệ lê dân. Vâng thay!
Xưa trời Nam mở vận, vạch ngang núi sông theo sao Dực sao Chẩn. Nước phương Bắc ban đầu được phong thẳng hướng sao Đẩu sao Ngưu mà chia ranh giới. Từ thủa Đế Minh là cháu ba đời của vua Viêm Đế đi tuần thú ở Ngũ Lĩnh phương Nam, gặp thần được nữ Vụ Tiên mà sinh ra Lộc Tục. Lộc Tục hơn hẳn người anh Đế Nghi nên Đế Minh muốn truyền lại ngôi báu. Lộc Tục cố chối từ nhường cho anh. Do vậy Đế Minh lập Đế Nghi làm Thái tử trị vì phương Bắc, còn phong cho Lộc Tục ở phương Nam, hiệu là Hồng Bàng thị, tên Kinh Dương Vương.
Kinh Dương Vương vâng thừa mệnh vua cha đem oai trời đến vùng núi Nam Miên. Thấy núi chạy nhấp nhô, nước chảy quanh co, bèn lập đô ấp để định cho bốn phương đến triều cống. Một hôm nhân nhàn rỗi vua đi tuần thu. Bất chợt thuyền rồng chạy thẳng đến hồ Động Đình. Vua sai dừng thuyền trên mặt nước mà ngắm cảnh. Chợt thấy một người con gái mỏng eo tuyệt sắc, từ dưới đáy nước xuất hiện, dung nhan tuyệt đẹp. Vua sai chèo thuyền đến hỏi thăm. Đáp rằng:
Thiếp tên là Thần Long, vốn là con gái của Động Đình Quân.
Vua thích thú bèn dẫn vào trong thuyền. Sau đó hỏi lấy về, lập Thần Long làm chính chủ hậu cung. Thần Long sinh Lạc Long Quân, tên húy là Sùng Lãm. Long Quân lấy con gái vua Động Đình Đế Lai tên là Âu Cơ, gặp ứng điềm rồng, sinh một bầu trăm trứng vào ngày 25 tháng Mười hai. Có Tứ đại Thiên vương giáng xuống bảo vệ mà nở ra trăm trai. Tám tướng nhà trời phù giúp đến khi biết cười nói thì tám tướng bay về trời.
Đế cầu đảo trời đất thì có một người trời xưng là thần Tây thành, sinh vào thời Hoàng Đế, có một cuốn sách trời có thể bói mà biết được trời đất, hô danh chúng tiên, nên đặt được cho trăm tên, trăm hiệu, trăm họ, trăm vương vậy, mà phân thứ tự. Trăm trai chầu nhận tên gọi và thứ bậc. Anh em đều vui mừng, theo như vậy mà lưu truyền. Người con trưởng nối ngôi vua tên là Hùng Lân, hiệu là Hiền, gọi là Thượng thánh Cao minh Nguyên triều Hoàng đế.
Long Quân truyền ngôi cho Thái tử xong thì nói với Âu Cơ rằng:
Ta là giống rồng, nàng là nòi tiên. Nước lửa tương khắc, khó mà hợp cùng nhau.
Bèn phân 50 người con theo mệnh cha. 50 người con theo về mệnh mẹ, chia nhau các đầu núi góc biển, đều thuộc mệnh theo Hiền Vương. Những người theo cha về biển gọi là Thủy thượng linh thần. Tuy cùng chia biệt, nhưng cùng ở một thời. Khi nghe có việc thì lập tức đến tương trợ. Do đó triều Hùng trị nước được hơn 2650 năm, thật là lâu dài vậy.
Đến đời Duệ Vương, sự yên bình kể đã lâu, nước chảy đã đầy, nên truyền quốc cho Thục Vương. Thục Vương vốn là Bộ chủ Ai Lao, cũng là tông phái của Hùng Vương. Tuy nhiên, truyền rằng khi cùng chung lửa với trời Nam thì sau đó Thục lập cột đá ở trên núi Nghĩa Lĩnh, chỉ trời mà thề rằng:
Trời đất không rời, mãi còn dòng dõi Hùng Vương. Nước Nam trường tồn hệ mạch con cháu.
Kể rằng:
Hùng Nghị Vương là Thái tử của Hùng Hy Vương. Mẹ là Dương Thị An sinh Nghị Vương vào ngày sinh ngày 12 tháng Ba. Lúc đó ngày đêm đang tranh tối tranh sáng thì sinh ra Hoàng đế. Vua lên ngôi, đường đường nối tiếp 17 nhành họ Hùng, bỏ cung cất giáp, không dùng quân binh để an dưỡng thiên hạ. Nhân dân theo sự giáo huấn sáng suốt. Được năm mươi năm bỗng nghe thư từ biên giới gửi về báo gấp. Chủ bộ phụ đạo Ai Lao cầu viện vì tướng Thục đến xâm chiếm. Nghị Vương bèn tuyển 8 vạn tinh binh, xuất quân sang Ai Lao để cứu Bộ chủ. Lạc tướng Hổ Lang hầu cùng Uy Lang, Huệ Lang và Mị nương nương Diễn Kỳ cùng theo giá đi chinh phạt Đông Bắc. Thuyền rồng đi thẳng đến Hoa Khê thì thấy có một người tên Lý, tự đón quỳ tâu ở bên đường, xin được theo quân đi lập công. Lại thấy có một người con gái xinh đẹp từ mặt nước nổi lên. Vương hỏi thì đáp rằng:
Thiếp tên là Công chúa Từ Huệ, là con của Long Vương, xếp hàng thứ 5.
Ông Lý họ Lý đón vào trong trang Áo Lộc. Vua trú quân ở trong trang. Các Quan lang, Lạc tướng vâng mệnh đóng quân ở các nơi trong trang động. Người đời sau nhân thấy linh thiêng nên lập thành đền thờ (cộng có 5 miếu). Nghị Vương cùng với các lang tướng điều quân đánh Thục chúa. Quân Thục nghe tin bèn viết thư gửi tới Nghị Vương mà tạ rằng:
Thần đâu dám giơ càng bọ ngựa mà chống lại cỗ xe vạn thặng.
Thục chúa lui quân, không dám dòm ngó Ai Lao nữa. Nghị Vương dẫn quan về thành đô Phong Châu, hưởng nước được hơn trăm năm thì mất (tức ngày mồng 7tháng Ba). Chôn cất ở núi Quy Bối (nay là chùa Hoa Long). Thái tử Duệ Vương lên ngôi, là đời Hùng thứ 18.
Hùng Cao Sơn là quan, con trai thứ 6 của Nghị Vương. Mẫu là Phạm Thị Doanh sinh Cao Sơn vào ngày mồng 10 tháng Giêng, tên húy là Uy Lang, gọi hiệu là Cao Sơn (nhân việc lên núi Hùng Lĩnh thấy có mây ngũ sắc về mang thai nên đặt như vậy).
Ba năm sau vào ngày mồng 7 tháng Giêng lại sinh một con trai, có thần thái đẹp đẽ, nên đặt tên là Huệ Lang, gọi hiệu là Cao Minh (nhân vào giờ Ngọ ban ngày nên đặt hiệu như vậy).
Hai chàng đến khi trưởng thành, ngày ngày thường ở yên trong lầu Nam mà học xem sách, không cần người chỉ bảo, lại thạo lược thao, hùng tài vượt đời. Khi theo vua cha Nghị Vương đi dẹp giặc Thục đến vùng trên của Hoa Khê, đóng quân tại đồn Áo Lộc. Đến khi xe vua trở về đô thành, lại trừ dẹp được yêu quái, hổ sói, quỷ mị. Dẹp xong mãn nguyện nên đi chơi khắp nơi ở 13 châu. Đâu đâu cũng tới. Cùng ngắm cảnh khắp các núi khe. Sau hóa (Uy Lang hóa vào ngày 12 tháng Giêng, Huệ Lang hóa ngày 15 tháng Giêng) ở trang Lãng Ngọc núi Tam Điệp (nay còn đền ở đó). Hai chàng được 75 trang động phụng thờ.
Hổ Lang Đại vương vốn là người Tam Đới, Phong Châu (tức nay là trang Cẩm Đái). Cha tên Hồ Công Năng, mẹ là Trần Phương Lan. Vào đêm mồng 10 tháng Hai nằm mơ thấy rằng: Năm tới sẽ sinh con, lại được đại quý, là sao sáng Võ Đức giáng sinh để giúp nước trừ tàn, giúp dân dẹp nạn. Dứt lời, Trần Thị bỗng tỉnh lại biết là điềm ứng tốt lành, bèn để nghiệm xem thế nào. Đến sau 3 tháng thì thấy đúng là có mang thai. Đến ngày 16 tháng Mười hai năm Mậu Tuất tối đó thấy ánh sáng chiếu đầy nhà, trở dạ mà sinh ra một người con trai. Mọi người đều vui mừng. Đến khi trưởng thành thì tài kiêm văn võ, phẩm cách kỳ lạ, mặttựa da sắt, mắt sáng như điện, bước đi như rồng hổ, thực là một người con trai kỳ lạ. Nhân đó đặt tên là Võ Tuấn. Duệ Vương sau ban húy là Hổ Lang tướng, hóa vào ngày 20 tháng Ba. Nguyên theo Nghị Vương dẹp giặc Thục, đóng quân ở trang Áo Lộc. Sau được đặc biệt phong ở đó, ban hiệu là Hổ Lang hầu, có 27 đền thờ phụng. Miếu quay hướng Càn Tốn, rất là đẹp đẽ vậy.
Công chúa là con gái thứ 8 của Nghị Vương. Mẹ là Phạm Thị Doanh. Vào ngày mồng 8 tháng Mười một sinh ở lầu Tây, tên gọi là Công mị nương Diễn Kỳ. Hóa ngày 13 tháng Mười một. Đến ngày 23 thì tế chôn cất ở ấp Thủy An. Nguyên theo Nghị Vương đến Áo Lộc, nhân xem sông núi thấy có một địa thế là đất nơi vạn đời thành hoàng không đổi, nên có khấn người anh nếu có linh thiêng thì hôm sau đến giúp cho được cùng hưởng lộc. Khấn xong Công chúa quay trở về đến bên bờ sông. Bỗng nhiên mưa to gió lớn nổi lên, rồi Công chúa đã hóa.
Cửa Đường Đại vương là người trên trang Áo Lộc trong triều Hùng Nghị Vương. Cha họ Dương kết bạn với Mai Huyền Tiêm. Khi Đế phạt Huyền Tiêm thì ông đổi sang họ Lý. Ngày 15 tháng Mười hai sinh một người con trai, sắc vẻ cùng phong tư chỉnh tề, có tài ba lược sáu thao, văn võ cùng tài. Đến khi lớn thì chiêu quân ý muốn giúp nước. Nhân Nghị Vương đi qua trang, đón Đế đóng quân, theo quân mà lập công. Sau theo nghiệp võ, làm quan tới chức Hữu quân Lạc tướng. Đến khi mất người dân trong làng xem trọng công lao đó với quốc gia, có đức tốt lành với nhân dân mà lập đền để thờ. Rất là linh ứng. Tên húy là Lý. Gặp Nghị Vương ở trên đường nên nhân đó được ban tên là Cửa Đường. Hóa vào ngày 18 tháng Mười một. Đến ngày mồng 8 tháng Mười hai thì chôn cất. Miếu ở bên hướng Cấn Khôn có giếng nước là dấu tích.
Nhược Ứng là con của Long Vương, lên bờ vào ngày mồng 8 tháng Giêng gặp Nghị Vương (lấy làm ngày sinh), xin theo quân lập công. Đến khi dẹp được giặc thì lên phía ngược dòng nước mà hóa (tức ngày 18 tháng Ba). Nghị Vương hỏi thì nói rằng:
Tên là Từ Huệ, con của Long Vương.
Cho nên đặt tên thụy là Công chúa Nhược Ứng.
Niên hiệu Hồng Đức năm thứ nhất tặng sắc cho 7 vị, còn những người chưa được gia phong thì phong thêm một bậc. Niên hiệu Cảnh Hưng từ đầu đến năm thứ 42 tặng mỗi vị hai chữ, sắc cho phụng thờ theo như trước, làm rạng sự tích mà làm lễ chay các loại. Công chúa thì dùng nước sạch. Chúa thì dùng rót một phong rượu trắng. Còn lại thì dùng thịt trâu làm cỗ. Đấu vật. Diễn rối ôi lỗi. Nghênh đón voi ngựa, đi đầu đặt ngũ quả, mía, chuối xanh, cỗ bánh.
Lại cung thỉnh: Đức vua Hao Khắc Đại vương, Đức vua Hao Sóc Đại vương, Đức vua Lãng Lương Đại vương, Đức vua Vực Chỉ Đại vương, Đức vua Ngã Tư Đại vương, Đức vua Quỳnh Hoa Công chủ, Đức vua Quế Hoa công chủ, Đức vua Bạch Hoa Công chủ, Cùng hai bên Hai bộ Tiên cung Nương nương, Mười ba Vương tử, Tám vị Long minh vương.
Nằm ở giữa dòng chảy của sông Cái (sông Hồng), từ ngã ba Việt Trì tới khu vực Hà Nam, Hà Nội mở rộng ngày nay gồm các vùng nội đô Thăng Long xưa; vùng Sơn Tây giáp với chân núi Ba Vì; vùng Thanh Trì, Phú Xuyên ở Hữu ngạn sông Hồng; vùng , Đông Anh, Long Biên ở Tả ngạn sông Hồng. Với một địa bàn rộng lớn dọc theo các con sông lớn như vậy, số lượng các di tích thờ các vị thủy thần ở Hà Nội có lẽ đứng đầu trong các địa phương. Các vị thủy thần ở Hà Nội có những hình tượng như sau:
Linh Lang Đại vương
Linh Lang, vị thủy thần hồ Dâm Đàm là vị thần có nhiều hóa thân ở vào các thời. Số di tích thờ Linh Lang chỉ riêng ở Hà Nội tới nay theo thống kê đã lên đến 96 nơi. Theo thần tích lá cờ soái của Linh Lang khi ngài hóa bay đến đâu, nơi đó lập đền thờ, thì con số 172 nơi thờ thực tế còn hơn thế.
Hóa thân phổ biến nhất là Hoàng tử Linh Lang (Hoàng Lang) giúp vua Lý Thái Tông đánh giặc Vĩnh Trinh ở Nam Hải hay đánh giặc Tống. Di tích thờ Linh Lang thời Lý gặp ở hai bên bờ sông Hồng về phía Nam Hà Nội, rất dày đặc ở Long Biên và Thanh Trì, Thường Tín. Cụm di tích của Linh Lang trấn Tây thành Thăng Long như ở đền Thủ Lệ, Ngọc Khánh, Hào Nam là nơi sinh của ngài. Cùng với cụm này là khu vực Bình Đà, Thanh Oai, Quốc Oai cũng thường là sự tích thời Lý. Còn ở đền Voi Phục, nơi Linh Lang hóa thành con Giao long trườn xuống hồ Tây, trở thành thủy thần hồ Dâm Đàm.
Hóa thân Linh Lang thời Trần tạo nên một loạt các di tích liên quan tới nhau. Linh Lang thời Trần được gọi tên là Uy Đô Linh Lang. Chiến tích của Uy Linh Lang là đánh giặc Nguyên Mông bên sông Bạch Đằng. Yên Phụ là nơi sinh, có đền An Trì bên bờ hồ Trúc Bạch là đền thờ Uy Linh Lang rất lớn xưa kia. Nhật Tân là nơi hiển linh bọc trứng, hóa thành 7 con rồng bay lên bên bến sông Hồng mùa hoa gạo nở tháng Hai. Chùa Vân Hồ ở Hà Nội là nơi Linh Lang tu hành. Nơi hóa của Linh Lang được chép theo thần tích là ở Thanh Cù, Kim Động, Hải Dương.
Trong sự tích Linh Lang thời Trần lại thường nhắc tới thánh Linh Lang bắt đầu từ thời Hùng Vương. Bà phi của Diệu Đế sinh ra một bọc trứng, cho là điềm gở, mang bỏ ra bãi Nhật Chiêu. Đến tối trứng nở ra 7 con rồng, bay lên trời sáng rực một vùng. Đây là vị Linh Lang cùng với 7 giáp Đoài hồ (hồ Tây) hiển thánh. Cách thờ với sự tích nhiều lần hóa thân như vậy thấy rõ nhất ở đình Tây Hồ và qua bản ghi chép Linh Lang thần hóa lục.
Trong các sự tích về Linh Lang, hồ Dâm Đàm được chép là kinh đô của Thủy quốc Động Đình. Hồ Tây cũng là nơi Lạc Long Quân cùng với Lục bộ Thủy phủ dâng nước diệt con cáo chín đuôi Cửu vĩ Hồ, tương ứng với Linh Lang Đại vương và Đoài hồ Thất Giáp như được thờ ở phía Đông của Hồ Tây. Di tích Linh Lang và các bộ thủy phủ nằm bao bọc phía Đông của hồ Tây từ Nhật Tân, Quảng Bá, Nghi Tàm, Yên Phụ.
Còn một hóa thân ít thấy hơn là vị Linh Lang sinh vào thời Hùng Duệ Vương, đã cùng với Tản Viên Sơn Thánh đánh giặc Thục. Di tích thờ Linh Lang đánh Thục khá hiếm, ở Hà Nội có đình Huyền Kỳ trong Thanh Oai là thờ theo sự tích này.
Quý Minh Đại vương
Đứng thứ hai về số lượng di tích được thờ là Quý Minh Đại vương, thống kê ở toàn Hà Nội cho con số 84 nơi thờ. Sự tích Quý Minh chủ yếu là vị tướng thời Hùng Vương, nhưng cũng có 2 “dị bản” chính. Phổ biến nhất là Quý Minh là Hữu kiên thần trong bộ ba vị Tản Viên Sơn, là tướng thời Hùng Duệ Vương đánh Thục. Rõ nét nhất theo sự tích này là các di tích của vùng Sơn Tây gần núi Ba Vì. Rải rác khắp Hà Nội là những nơi thờ Quý Minh cùng với Cao Sơn, tức là dưới dạng là một vị Sơn thần.
Một biến thể của sơn thần Quý Minh là vị Hùng Lãng Công của làng Quan Nhân. Sự tích Hùng Lãng Công thời Hùng Vương đánh giặc Nam Chiếu ở Quan Nhân là một cách kể khác về sự nghiệp của thần Lãng Nhạc Quý Minh.
Bên cạnh vị sơn thần Lãng Nhạc Quý Minh Hà Nội còn có những di tích thờ thần Quý Minh với sự tích cổ hơn. Cũng là người em của Thánh Tản, nhưng là con của Lạc Long Quân, tức ở thời đầu của thời kỳ Hùng Vương. Vị Quý Minh này thường được thờ độc lập, với sự tích thần đi từ cửa biển Thần Phù qua Hoa Quật, Long Biên rồi đến ở bến Long Đỗ bên bờ sông Cái. Thần hóa tại đây, là nơi đền thờ Quý Minh ở phường Đông Hà xưa. Đền Đông Hà ở phố Hàng Gai nay không còn nữa, nhưng ký ức về ngôi đền và thần Quý Minh ở đây còn lưu lại trong ghi chép về tục tế Xuân ngưu của Thăng Long xưa.
Một khía cạnh thờ Quý Minh như thủy thần là trong tên phong Đông Hải Quý Minh như ở Thượng Đình hay khu vực Mễ Trì. Di tích miếu Đầm là minh chứng rõ ràng cho tính chất thủy thần của vị thần ở đây. Ngoài ra, đáng chú ý là việc thờ Quý Minh ở đình Đông Xã ở trên đường Thụy Khê. Theo sự tích ở đây thì Quý Minh là anh em đồng sinh với Cao Sơn Đại vương, nhưng lại sinh ra ở ven hồ Tây, với vai trò như một vị thủy thần.
Những vị thủy thần đồng bào
Hình tượng các vị thủy thần có bà mẹ mộng ứng điềm rồng sinh ra một bầu nở ra 5 (có chỗ là 3 hoặc 2) người con, có tướng mạo kỳ dị, tài sức hơn người, lớn lên phù Hùng dẹp Thục là sự tích rất phổ biến ở vùng đồng bằng sông Hồng. Nổi bật hơn cả là câu chuyện về 5 anh em con ông Bộ trưởng Đào Công Bột nhất bào ngũ tử, làm các Long hầu tứ hải thời Hùng Duệ Vương. Trong số đó thường thì vị thứ ba là Trưởng Lệnh được phong chức Thủy tào Phán quan quyền chưởng Trung Hoa quốc tể, tức là tể tướng cầm đầu thủy quân của nước Trung Hoa.
Theo thần tích thì Thổ Lệnh Trưởng “sinh Bạch Hạc, thác Ba Lương” nên có 2 dòng sự tích. Một là cách kể về thần hiển linh ở ngã ba Bạch Hạc thời Đường Cao Tông trong cuộc đọ sức giữa Thổ Lệnh và Thạch Khanh. Trong dòng chuyện kể về Bạch Hạc Tam Giang là các di tích ở vùng Hoài Đức, Phúc Yên, Quốc Oai, Phúc Thọ, mà nổi tiếng là khu vực Tây Tựu với lễ hội bơi chải làng Đăm. Cùng với đó là một số di bản truyện Thổ Lệnh – Thạch Khanh như ở đình Viên Châu (Cổ Đô) thờ hai vị Thông Hà và Thủy Giang Linh ứng.
Một dạng sự tích theo nơi hóa của thần Thổ Lệnh Trưởng tại Đa Chất, Phú Xuyên, một làng đặc biệt bên ngã ba Tam Kỳ giang xưa. Các di tích dọc sông Hồng ở Thường Tín thường theo thần tích Trung Thành Phổ Tế Đại vương, tên phong của Trưởng Công Thổ Lệnh khi hóa. Hai cách kể ở Phú Xuyên hay ở Bạch Hạc nhìn chung khá giống nhau, nên nhận định rằng đây là một chuyện, một nhân vật là hoàn toàn hợp lý. Quan trọng hơn, nơi hóa của vị con thứ ba tại Đa Chất nằm không xa đền Lảnh, nơi thờ Quan lớn Đệ Tam của Thoải phủ. Sự tích Quan Đệ Tam cũng tương đồng từ một bọc nở ra 3 con Hoàng xà, rồi biến thành người giúp vua Hùng Duệ Vương đánh Thục. Quan Đệ Tam chính là Thổ Lệnh, vị Long hầu quyền cao nhất trong 5 người anh em.
Cùng sự tích nhất bào ngũ tử là các vị Quảng Xung, Quảng Bác, Quảng Tế, Quảng Xung, Quảng Hóa ở khu vực Thường Tín, Vân Đình như đình Giẽ Thượng, Giẽ Hạ, đền Hữu Vĩnh. Cũng là thủy thần xuất thế thời Hùng Vương đánh giặc, nhưng được kể là thời Hùng Vương thứ 8. Thực ra Hùng Vương thứ Tám, ở đây tương đương với Bát Hải Đại vương hay Bột Hải Đại vương, là người cha Đào Công Bột trong sự tích Thổ Lệnh – Thạch Khanh. Đáng chú ý là thần tích Hữu Vĩnh cho biết vị con cả Quảng Xung là con của Kinh Dương Vương. Nói cách khác đây chính là Lạc Long Quân cùng những người em của mình đã đánh đuổi dòng tộc phía Tây (Thục) lên núi mà lập nước họ Đào (Trung Hoa – Hạ).
Một nhóm thần tích và di tích khác về các vị thủy thần là ở vùng hồ Tây, tức hồ Dâm Đàm xưa. Các sự tích này thường có mối liên hệ với Linh Lang hay Uy Đô Linh Lang được thờ ở vùng này. Đó là hai vị Vương Đôi, Vương Ba thờ cùng với Uy Linh Lang ở đình Yên Phụ, là Thất Giáp Đoài hồ gồm Xích Giáp (Uy Linh Lang), Bạch Giáp, Hoàng Giáp, Hắc Giáp, Thanh Giáp, Chu Giáp, Tử Giáp như ở đình Nhật Tân. Khó nhận ra hơn là bộ ba vị thủy thần Triều Đình, Bảo Trung, Minh Khiết ở các di tích của tổng Hoàn Long, Hà Đông xưa như Nghi Tàm, Quảng Bá, Tây Hồ, Tứ Liên. Ở phía Nam hồ Tây khu vực Hồ Khẩu (nay thuộc đường Thụy Khê) là tích về Cống Lễ và Cá Lễ tại đền Dực Thánh và Vệ Quốc.
Dạng sự tích Ông Dài, Ông Cộc, kể về 2 con rắn là thủy thần xuất thế, từng hộ đê sông Cái cũng là một cách kể về các nhân vật trong nhóm các vị thủy quan thời Lạc Long Quân. Di tích hai vị thủy thần như vậy có thể kể đến đình Yên Phú ở Thanh Trì. Rải rác còn có những cụm di tích thờ các thủy thần cùng bọc tương tự như ở miếu Mạch Lũng (Đông Anh) thờ Ba vị Đại vương thời Hùng Vương.
Thủy Tinh Công chúa
Gắn liền với sự tích nhất bào ngũ tử là bà mẹ đã sinh ra các vị thủy thần đó. Bà được tôn là Thủy Tinh Phu nhân và được thờ ở nhiều nơi. Bà phi sinh ra Uy Linh Lang là Mẫu Hàn Sơn ở Yên Phụ. Bà mẹ sinh ra 5 vị thủy thần thời Hùng Vương thứ 8 ở Thường Tín là mẫu Tiên Dung Châu. Mẫu Thăng Long ở Hồ Khẩu là người vợ của thủy thần Cá Lễ tại đây. Bà Hạo Nương ở Bồng Lai (Đan Phượng), sinh ra Linh Lang thời Lý.
Một vị mẫu khác được gọi đích danh là Mẫu Thoải, con của Động Đình Đế quân trong sự tích Liễu Nghị truyền thư, như đền Dầm tại Xâm Dương (Ninh Sở, Thường Tín). Đình làng Xâm Dương thờ các vị thủy thần của Tứ Hải, tức là có ý cho thấy rằng Mẫu Thoải, Xích Lân Long Nữ, là mẹ của các vị Linh Lang, thủy thượng linh thần. Tổng Xâm Thị xưa của huyện Thanh Trì cũng là nơi tập trung các di tích thờ Linh Lang như ở Xâm Hồ, Xâm Xuyên.
Trên vùng Hà Nội ngày nay rải rác ở các khu vực ven có các di tích thờ Mẫu Thủy Tinh ở dạng hiển linh phù trợ các đời sau, không rõ sự tích xuất xứ. Ví dụ như Nữ Bạch Ngọc Hồ Thuỷ tinh Lân tinh Công chúa thờ ở đền Đống Nước (Ngọc Hà) hay như Mẫu Thủy ở đền Giẻ Sen, Hoài Đức.
Thủy phủ Long Vương
Nói về các Thủy thần của thành Thăng Long không thể không nói tới thần Chính khí Long Đỗ. Vị thần này được thờ là thần trấn Đông Thăng Long tại đền Bạch Mã. Nhiều nơi gọi là thần Quảng Lợi Bạch Mã. Tuy nhiên tên gọi Bạch Mã liên quan đến con ngựa trắng trong sự tích hiển linh về sau, còn bản chất thực sự của thần là Long Đỗ, rốn rồng, tức là trung tâm, nơi kinh đô của Thủy quốc.
Người đã khai lập Thủy quốc ở vùng Động Đình, tức vùng sông biển đồng bằng Bắc Bộ, thì phải là Động Đình Đế Quân, cha của Động Đình Long Nữ (Mẫu Thoải). Động Đình Đế Quân có tên cúng trong Đạo giáo là Thủy phủ Phù Tang Cam Lâm Đại đế, tức là vị Đông Vương Đế Quân, vị thần chủ của các nam thần trong Đạo Giáo. Trên khu vực Hà Nội Thủy phủ Đại đế được thờ ít nhất ở Liễu Châu (Ba Vì) và vạn chài Liên Ngạc (Từ Liêm), theo như thần tích còn lưu lại ở đây.
Trong tục thờ ba vị thủy thần Thủy phủ như ở Liễu Châu thì sau Thủy phủ Đại đế là vị Thủy phủ Vô Biên Trang Nghiêm Vân Hải Long Quân. Vị này tương ứng trong sự tích ở Đào Xá (Thanh Thủy, Phú Thọ) là tên phong của ông Hùng Hải, người sinh ra các vị thủy thần cùng bọc. Như thế tương ứng thì Hải Vân Long Vương sẽ phải là Kinh Dương Vương, được tín ngưỡng theo góc nhìn của Thủy phủ.
Vị thần thủy phủ tiếp theo là Thủy phủ Đại Thiên Long Chủ Bát Hải Long Vương như tên thờ ở Liễu Châu. Đền thờ Bát Hải Động Đình Long Vương nay còn tại phố Hàng Than. Xét thứ bậc và tên gọi thì Bát Hải Long Vương chính là Lạc Long Quân, người con của Kinh Dương Vương – Hải Vân Long Vương và Mẫu Thoải Quý Nương.
Bát Hải Động Đình Long Vương là vị vua được xếp trong bộ ba thần chủ của tín ngưỡng Tam phủ xưa kia. Cùng với Thiên phủ Ngọc Hoàng, Địa phủ Diêm La thì Thủy phủ có Bát Hải vua cha. Tín ngưỡng thờ ba vua Tam phủ vốn từng khá phổ biến, nay còn di tích như như đền Tam phủ ở Thu Quế (Đan Phượng), ở chùa Thầy, hay trong chùa Giang Xá (Hoài Đức).
Cùng bộ với các thần Thủy phủ là Hà Bá Thủy quan, gặp tương đối nhiều (khoảng 7 di tích) ở Sơn Tây, Hà Đông, nhất là ở các vạn chài ven sông như Vạn Đài Thần (Đan Phượng), Vạn Hà Trì (Hoài Đức) hay Thủy Cơ Cấn Xá (Quốc Oai). Tuy được thờ như một dạng “nhiên thần”, đất có thổ công, sông có Hà Bá, nhưng vài nơi có sự tích cho biết Hà Bá là một vị tướng đã giúp vua Hùng đánh Thục. Xét vậy thì có thể Hà Bá chính là Lạc Long Quân (Linh Lang) hoặc Thổ Lệnh Trưởng (Bạch Hạc Tam Giang).
Một “nhiên thần” thực sự là ông Lốt Tam đầu Cửu vĩ Long vương được thờ ở đình Nam Dư Hạ, phường Lĩnh Nam. Đây là hình tượng hệ thống sông ngòi trên đồng bằng Bắc Bộ xưa, với Tam đầu trên nguồn là ba sông Đà, sông Lô, sông Thao, Cửu vĩ là chín nhánh sông Cái đổ ra biển Đông. Rốn rồng Long Đỗ là phần trung tâm của sông nằm ở đất Thăng Long xưa, là hồ Tây vốn nối liền với sông Nhị Hà.
Một dạng thủy thần làm mưa được biết ở vùng Linh Đàm là Bảo Ninh Long Vương, học trò của Chu Văn An. Thật khó biết đây là hóa thân của vị nào từ thời Hùng Vương, nhưng nhiều khả năng nhất đây là một trong các vị của sự tích nhất bào ngũ tử.
Lạc Thị Hồng Bàng
Cũng là dòng “thủy thần” nhưng “thủy” với nghĩa là những người con đã theo cha Lạc Long Quân xuống khai phá vùng đồng bằng Động Đình xưa, tức là những vị được thờ theo góc độ là “nhân thần”. Đầu tiên, chính là Lạc Long Quân được thờ đúng tên, đúng “chức danh” như ở đình Nội Bình Đà, hay đình Trung Văn Ngọc Trục. Sự tích về Lạc Long Quân tất nhiên là xem trong Truyện họ Hồng Bàng của Lĩnh Nam chích quái.
Ở vùng Đại Mỗ có tín ngưỡng thờ Thủy Hải Long vương, là con của Lạc Long Quân. Vị thần này thường thờ cùng Ả Lã Nàng Đê nên khó xác định đây là “nhân thần” hay thần hiển linh đời Trưng Vương.
Rải rác ở nhiều nơi thờ những người con của Lạc Long Quân đã có công xây dựng làng xã như Giám Sát Đại vương ở Đồng Trúc (Thạch Thất), Thông Đạt Đại vương ở Thịnh Liệt, Đại Long ở Tử Dương (Ứng Hòa), Nam Phổ ở Yên Thường (Gia Lâm), Hải Tế ở Kiều Mộc (Cổ Đô).
Cần chú ý là những người con của Lạc Long Quân không phải là các vua Hùng, vì các vị Hùng Vương là cách gọi của dòng theo mẹ Âu Cơ lên núi. Nói dễ hiểu hơn, Hùng Vương là con cháu, dòng dõi từ Âu Cơ. Còn những người con kế nghiệp Lạc Long Quân được gọi là các Lạc Vương, Lạc hầu, Lạc tướng, cai quản các vùng cửa sông góc biển vùng đồng bằng.
Chử Đồng Tử
Vị thần bất tử đã cùng với công chúa con vua Hùng bay lên cung trăng từ vùng đầm nước Dạ Trạch bên sông Hồng cũng được thờ ở Hà Nội. Ngay trong trung tâm thành phố, không hiểu sao các nơi thờ Chử Đồng Tử và Tiên Dung lại cùng nằm trên phố Thợ Nhuộm. Có thể nơi đây từng là nơi định cư của người dân đến từ vùng Khoái Châu, Hưng Yên chăng?
Ngoại thành phía Nam Hà Nội hai bên bờ sông Hồng có các di tích thờ Chử Đồng Tử như Chử Xá, nơi quê nội của ngài, hay ở Thanh Trì phía đối diện bên kia bờ sông. Đặc điểm của những nơi này là thờ đủ cả 3 vị Chử Đồng Tử, Tiên Dung và Tây Sa Công chúa. Còn ở các huyện “miền núi” của Hà Nội như Mỹ Đức, Phúc Thọ, rải rác có 1-2 nơi thờ Chử Đồng Tử.
Thông thường những nơi thờ nhà Chử thì không phối thờ cùng các vị thủy thần khác như Linh Lang, Quý Minh, Thủy Tinh, Thổ Lệnh, dường như đây là những vị thần “kỵ nhau”. Điều này dễ hiểu, bởi Chử Đồng Tử được coi là một “loạn thần” của triều Hùng (Lạc triều) đã cướp công chúa và xây dựng quốc gia riêng ở đầm Dạ Trạch. Cái kết là Chử Đồng Tử đành “đi tu”, đắc đạo thành tiên mà bay lên trời, trả lại thiên hạ cho dòng dõi Lạc Thị.
Vào thời kỳ Lạc Long Quân khai phá Động Đình thì Hà Nội là vùng bán ngập nước ven sông biển, đồng bằng Bắc Bộ đang lộ dần ra do bước vào thời kỳ biển thoái. Những vị thủy thần ở đây là những vị thủ lĩnh của cộng đồng người sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, xăm mình, lội nước, đắp đê, mở làng mở xóm từng bước theo mực nước rút. Bãi biển ngàn năm nay đã thành nương dâu, nhưng sự nghiệp của các tiền nhân thời lập quốc còn sống mãi không thể quên trong hàng trăm di tích văn hóa tín ngưỡng trên mảnh đất rồng thiêng này.
Gương đồng dạng trùng liệt thần thú thời Tam Quốc tìm thấy ở di chỉ Óc Eo – Ba Thê.
Thoải phủ hay Thủy phủ trong địa lý văn hóa Việt ứng với hướng Đông, nơi có biển Đông (Động Đình) và đồng bằng sông Hồng (sông Đào). Cội nguồn của đạo Mẫu Tam Tứ phủ xuất phát từ khu vực này nên Thoải phủ đóng vai trò rất quan trọng trong thần điện của Tứ phủ. Xin điểm lại những vị thần chính được ghi chép và thờ phụng trong Động Đình Thoải phủ.
Các vị thần của Thủy phủ được kể đến từ những hướng ghi chép khác nhau. Huyền sử Việt như trong Truyện họ Hồng Bàng của Lĩnh Nam chích quái được lấy làm căn cứ chính. Truyền thuyết Trung Hoa về các vị thần thời cổ, đặc biệt là trong Đạo giáo, là một góc nhìn khác. Tín ngưỡng thờ cúng các vị thủy thần ở miền Bắc Việt và miền Trung (Nghệ An, Hà Tĩnh) cũng là những sắp xếp khác của 2 vùng đất cổ Hồng và Lạc từ thời lập quốc Hùng Vương. Cổ Lôi ngọc phả truyền thư, do Nguyễn tộc ở khu vực Thanh Oai lưu truyền lại là một cách kể, cách sắp xếp khác nữa. Nhưng tất cả đều là hình bóng của một giai đoạn lịch sử của người Việt đã theo cha Lạc Long Quân đi khai phá miền duyên hải.
Động Đình Đế Quân
Khởi đầu của Thủy phủ Động Đình là từ Động Đình Đế Quân, người cha của mẫu Thần Long, được nhắc đến trong Truyện họ Hồng Bàng. Trong các di tích vị này được thờ với tên là Thủy phủ Phù Tang Cam Lâm Đại Đế, như ở làng An Nội, thôn Khương Thị, tổng Cổ Viễn, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam, hay ở đền Thanh Liệt và đền Nghĩa Sơn bên dòng sông Lam của huyện Hưng Nguyên, Nghệ An.
Ở khu vực kinh đô rồng của Thủy quốc Động Đình tại trên đất Thăng Long, Động Đình Đế Quân chính là thần Long Đỗ được kể đã từng hiển linh trước Cao Biền trong Truyện thần chính khí Long Đỗ. Đền thờ thần là đền Bạch Mã, trấn Đông của thành Thăng Long. Chú ý là đền Bạch Mã thờ cả 2 vị thần là thần Long Đỗ và thần Tô Lịch (Bạch Mã), nên thần Long Đỗ không phải là thần Bạch Mã. Một nơi khác thờ 2 vị thần này là ở vạn Liên Ngạc ven sông Hồng trên vùng Từ Liêm, thờ Thủy phủ Chí tôn Long Vương và thần Tô Lịch.
Cổ Lôi ngọc phả của Nguyễn tộc ở Bình Đà cũng cho biết cụ Long Đỗ Hải Vương trấn trị ở cửa sông Tô Lịch vùng Nghi Tàm, là cha của bà Đỗ Thị Ngoan, tức là mẫu Thần Long trong trong Truyện họ Hồng Bàng.
Trong truyền thuyết Trung Hoa thì Thủy phủ Phù Tang Cam Lâm Đại đế là Đông Vương Công hay Đông Hoa Đế quân, vị thần chủ các nam tu trong Đạo giáo. Trên gương đồng thời Đông Hán – Tam quốc thường có đúc hình Tây Vương Mẫu và Đông Vương Quân như hai vị thần chủ các vị thần tiên ở 2 hướng Đông Tây, cho các nam – nữ đạo nhân.
Thần Long Động Đình
Vị mẫu của Thoải phủ là bà Xích Lân Long Nữ, là con gái của Long Vương Động Đình, vợ của Kinh Dương Vương trong Truyện họ Hồng Bàng. Bà là người sinh ra Lạc Long Quân. Mẫu Thần Long đặc biệt có nhiều tên gọi trong các sự tích khác nhau như là Động Đình thánh mẫu Phan Cù Nương trong sự tích ở La Phù, Thanh Thủy, Phú Thọ, hay là bà Trang Hoa trong sự tích ở Đào Xá, Thanh Thủy, Phú Thọ, hay là Quý Nương sinh Hoàng xà trong sự tích ở Đào Động, Quỳnh Phụ, Thái Bình. Bà cũng là Đông Cuông Thánh mẫu ở Tuyên Quang, người sinh ra Linh Uyên Đại vương ở đền Ngọc Tháp, Lâm Thao, Phú Thọ. Bà là bà Diệu Đế trong sự tích Uy Linh Lang ở hồ Dâm Đàm.
Trong sự tích về Tản Viên Sơn Thánh thì bà là con rắn Thủy Tinh, con của Động Đình Long Vương, đã được Sơn Thánh cứu sống bên bãi Trường Sa. Trong dòng sử Cổ Lôi ngọc phả thì đây là con gái của Long Đỗ Hải vương, tức là bà Đỗ Thị Ngoan, người được tôn là Sa Bà giáo chủ. Trong truyền thuyết Trung Hoa bà là Đồ Sơn Thị, người đã kết duyên cùng với vua Đại Vũ khi trị thủy.
Kinh Dương Vương
Một trong những vị vua của Thủy phủ chính là Kinh Dương Vương, được kể đến là vị Liễu Nghị. Di tích về Liễu Nghị cùng với Xích Lân Long Nữ còn dọc theo sông Hồng như ở Thanh Miện, Hải Dương, hay ở vùng Hà Nam, thậm chí còn vào tới Nghệ An như tại đền Nghĩa Sơn, Hưng Nguyên. Trong Hoa sử thì Kinh Dương Vương là vua Đại Vũ trị thủy ở Long Môn.
Với tư cách là cha của các vị Long hầu, Kinh Dương Vương được kể là Hùng Hải ở sự tích Đào Xá, Thanh Thủy, Phú Thọ, hay ông Đào Bột trong sự tích về Thổ Lệnh Trưởng Trung Thành Đại vương. Ở Nghệ An, có sự tích Kinh Dương Vương gặp Thần Long tại cửa biển Hội Thống. Ở vùng này Kinh Dương Vương được thờ là Mạch Sơn Trấn quốc, hay đơn giản là Mạc Sơn trong tên thần Cao Các Mạc Sơn.
Trong Cổ Lôi ngọc phả thì Kinh Dương Vương được gọi là cụ Nguyễn Minh Khiết, người đã ruồng bỏ bà Đỗ Thị Ngoan. Cụ Nguyễn Minh Khiết có 2 anh em nữa là Nguyễn Nghi Nhân và Nguyễn Long Cảnh. Đây là bộ ba Tam vị Tản Viên, được Cổ Lôi ngọc phả gọi thành Tam phủ Công đồng.
Cụ Nguyễn Long Cảnh tuy không phải đứng trong Thủy phủ Động Đình nhưng là người có liên quan mật thiết tới Thủy phủ vì đã theo giúp cháu đánh giặc. Trong tín ngưỡng Việt thì vị này được thờ là Lãng Nhạc Quý Minh, Hữu kiên thần của Tản Viên Sơn Thánh, người từng đi từ cửa Thần Phù lên đến bến Long Đỗ và hóa ở đó. Đền thờ Quý Minh ở Thăng Long là ở phường Đông Hà, huyện Thọ Xương dưới thời Lê là ngôi đền tham gia vào lễ tế Xuân ngưu.
Lạc Long Quân
Vua cha Bát Hải Động Đình, người đứng đầu thủy cung thì không ai khác là cha Lạc Long Quân mà người Việt coi là quốc tổ. Trong Tứ phủ Lạc Long Quân được gọi là vua cha Bát Hải Động Đình, xuất thế nơi biển Động Đình, đánh giặc Thục ở phía Tây, dựng nên nước Đào – Hoa – Hạ. Đền thờ chính là đền Đồng Bằng ở Quỳnh Phụ, Thái Bình. Trong Hoa sử thì đây là Hạ Khải, người mở đầu Hoa Hạ.
Ở vùng hồ Tây, Lạc Long Quân là thủy thần hồ Dâm Đàm, người đã cùng Lục bộ thủy phủ dâng nước diệt Cửu vĩ Hồ. Ở đây Lạc Long Quân được thờ với tên là Linh Lang hay Uy Linh Lang, cũng là vị thần rất phổ biến ở ven các dòng sông trên đồng bằng Bắc Bộ.
Trong Cổ Lôi ngọc phả Lạc Long Quân được gọi là Kinh Dương Vương Nguyễn Quảng, mà dẫn chứng cụ thể là bức giá tượng Lạc Long Quân ở đình Nội Bình Đà được ngọc phả này gọi là Kinh Dương Vương.
Trong quan hệ với Động Đình Đế Quân (Long Đỗ) và Bột Hải Vương (Kinh Dương Vương) thì Lạc Long Quân được thờ là Hà Bá Thủy quan. Tục thờ Hà Bá Thủy quan gặp phổ biến ở Hà Nam như ở làng Hàn Mặc – tổng Cổ Viễn, làng An Cước, làng An Thái – tổng Ngô Xá, huyện Bình Lục, làng An Mông, tổng Đọi sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Hà Bá Thủy quan còn gặp ở trong các đền thờ Thủy phủ ven sông Lam ở Nghệ An như đền Thanh Liệt, đền Nghĩa Sơn ở huyện Hưng Nguyên.
Ngũ vị tôn quan
Riêng Thoải phủ với vai trò lập quốc như vậy nên có thêm hàng các vị quan lớn, hợp thành ban Công đồng trong thần điện. Đây là những vị quan tướng đã theo vua cha Bát Hải làm cuộc “kháng chiến” đánh Thục và lập nên quốc gia lịch sử chính thức đầu tiên của người Việt là Hoa Hạ.
Trong số 5 vị thì đáng kể nhất là Quan lớn đệ Tam và Quan lớn đệ Ngũ. Quan đệ Tam là Trưởng Lệnh hay Thổ Lệnh (Thủ Lệnh), đứng đầu quan chức của Thoải phủ. Nơi hiển danh của ông là Lảnh giang hay Yên Lệnh (nơi yên nghỉ của Trưởng Lệnh).
Quan lớn đệ Ngũ còn gọi là Quan tuần Tranh, có lẽ là người “thi hành công vụ” chính (nay ta gọi là hành pháp). Nơi hiển danh chính là ở sông Tranh (Hải Dương). Quan đệ Ngũ còn được gọi là Thạch Khanh trong sự tích các vị thần Tam Giang của ngã ba Bạch Hạc. Vị này nổi tiếng còn bởi nỗi oan khuất, bị đày lên sông Kỳ Cùng ở Lạng Sơn.
Sự tích các vị thủy quan sinh cùng một bọc, lớn lên được cử trấn nhậm các phương đầu sông góc biển có khá nhiều. Như đó là 5 vị Long Vương trong sự tích La Phù, Thanh Thủy, Phú Thọ. Hay Tam Công Long Vương trong sự tích Đào Xá, Thanh Thủy, Phú Thọ. Hay 5 vị Quảng Xung, Quảng Bác, Quảng Tế, Quảng Hóa, Quảng Xuyên ở vùng Ứng Hòa. Cũng là Tam Lang Long Vương thờ phổ biến ở vùng Hà Tĩnh.
5 vị tôn quan trấn trị 5 phương, được truyền thuyết Trung Hoa gọi là Ngũ đế Thiên hoàng hay Ngũ phương Yết đế. Hình tượng 5 vị này được thể hiện trên những chiếc gương dạng thức trùng liệt thần thú, gặp phổ biến dưới thời Tam quốc.
Cổ Lôi ngọc phả kể 8 người anh em họ Đỗ đi tu trở thành Bát bộ Kim cương, cũng chính là các vị tôn quan của Thoải phủ. Trong sự tích hồ Dâm Đàm thì đây là Lục bộ Thủy phủ của Lạc Long Quân hay Đoài hồ Thất Giáp theo Uy Linh Lang như ở đình Nhật Tân. Phía bên đường Thụy Khuê, là ven sông Tô Lịch trước đây thì các vị Lạc Long hầu là hai vị Cống Lễ và Cá Lễ ở đền Dực Thánh và đền Vệ Quốc.
Tuy không thuộc giai đoạn lập quốc vùng sông nước Động Đình, nhưng lại có liên quan đến thời kỳ này là những vị thần của dòng Lạc Long ở giai đoạn cuối của Kinh triều. Sử Việt gọi là Sùng Lãm (phân biệt khác với Lạc Long Quân ở giai đoạn đầu Kinh triều). Ở vị trí này thì Sùng Lãm là Tản Viên Nguyễn Tuấn. Cổ Lôi ngọc phả gọi là Hùng Lãm, là Pháp Lôi trong Tứ pháp. Trong Hoa sử đó là vị Bắc bá hầu của nhà Ân Thương, được biết dưới tên Sùng Hầu Hổ, đã chống lại cuộc tấn công của Tây bá hầu Cơ Xương, mà sử Việt gọi là giặc Thục. Những người anh em của Tản Viên Nguyễn Tuấn là Cao Sơn và Quý Minh, cũng là trong bộ Tứ pháp của Cổ Lôi ngọc phả. Phân biệt các vị Cao Sơn, Quý Minh họ Sùng ở đời Hùng Vương thứ 18 (đời cuối) với các vị Cao Sơn, Quý Minh trong bộ Tam vị Tản Viên thời lập quốc Kinh triều.
Câu ca dao xưa về dòng dõi Tiên Rồng xuất phát từ cái nôi Đào Hoa Hạ ở vùng Động Đình Thủy phủ: Gió Động Đình mẹ ru con ngủ Trăng Tiền Đường ấp ủ năm canh Tiết trời thu lạnh lành lanh Cỏ cây khóc hạ, hoa cành thương đông Bống bồng bông, bống bồng bông Võng Đào mẹ bế con Rồng cháu Tiên.
Trong số các vị thượng đẳng thần được thờ phổ biến ở miền Bắc nước ta thì Quý Minh là một trong những vị thần có số nơi thờ cúng rất lớn. Thống kê theo danh mục thần tích thần sắc trong Viện thông tin khoa học xã hội cho con số 502 nơi có thờ thần Quý Minh. Sự tích về vị thần này ở các nơi thờ xem ra có vẻ tương đối thống nhất, rằng Quý Minh là người em họ của Tản Viên Sơn Thánh, đã cùng Tản Viên và Cao Sơn đánh giặc Thục giúp vua Hùng Duệ Vương. Danh tướng Quý Minh được phong là Hữu kiên thần của Sơn Thánh. Tuy nhiên, cũng nan giải như chuyện về Tản Viên Sơn Thánh, hay sự đa dạng phức tạp các nhân vật có tên Cao Sơn Đại vương, trong cái tên Quý Minh Đại vương không phải chỉ có một nhân vật lịch sử duy nhất được thờ phụng.
Ở một số nơi như ở Bình Lục hay Lý Nhân, Hà Nam, Quý Minh được kể là người con của Lạc Long Quân và Âu Cơ, tương tự như trường hợp của Cao Sơn. Điều này cũng khó giải thích như việc Tản Viên Sơn Thánh chỗ là con của Lạc Long Quân, chỗ lại là ở thời Hùng Duệ Vương đời cuối. Cách hiểu rõ ràng là trong tên gọi Quý Minh Đại vương phải có ít nhất 2 nhân vật sống và lập công nghiệp ở 2 thời điểm khác nhau, một vào đầu thời kỳ Hùng Vương và một vào cuối thời kỳ này.
Rắc rối hơn là ngoài vị Quý Minh Đại vương thuộc dòng Sơn thần (theo Tản Viên Sơn Thánh), thì có khá nhiều nơi Quý Minh được thờ như một vị Thủy thần. Tên hiệu thường được tôn phong của Quý Minh là Đông Hải Đại vương, là dẫn chứng cho bản chất Thủy thần của thần Quý Minh.
Tấm bia Tôn thần sự tích bi chí của đền Nam Lạng ở Trực Tuấn, Trực Ninh, Nam Định ghi: Đại vương húy là Tuấn, tên tự là Quý Minh, là em của thần núi Tản Viên. Vương cùng với Tản Viên Quân từ biển đi từ cửa khẩu Thần Phù mà về qua đất xã ta thì có dừng xe nghỉ. Tiếp đó lại đi đến bến Đông Hải Long Đỗ, rồi yêu thích nơi cao ráo đó nên nghỉ ngơi mà hiển thánh rạng rỡ. Đời sau rất linh dị nên phong là Thượng đẳng thần. Thiên hạ chúng sinh rất sùng kính phụng thờ. Đền chính ở tại hai giáp Đông Đoài, phường Đông Hà, huyện Thọ Xương. Triều trước mỗi năm vào mùa xuân đều sai quan đến tế lễ.
Đền thờ Quý Minh Đại vương ở Hà Nội trước đây là đình Đông Hà ở số 46 phố Hàng Gai. Đây là ngôi đền tham gia vào lễ tế xuân ngưu hàng năm dưới thời nhà Lê (theo Phạm Đình Hổ).
Câu đối đền Nam Lạng nói về tích Quý Minh đi từ cửa khẩu Thần Phù và hiển linh dẹp yên hổ báo ở núi Chúc:
Cửa biển Thần Phù chim bay đến Đầu non Ngọc Chúc hổ chạy xa.
Chi tiết đáng chú ý trong sự tích đền Nam Lạng là việc thần Quý Minh đi từ cửa biển Thần Phù lên bến Đông Hải ở Long Đỗ, rồi hiển hóa tại đó. Chi tiết này cho thấy rất rõ Quý Minh là một vị Thủy thần sông biển, đồng thời cũng giải thích tên gọi Đông Hải Quý Minh và chỉ ra mối liên hệ giữa Quý Minh và vùng Long Đỗ (tức là vùng hồ Tây ngày nay). Di tích thờ Quý Minh ở vùng ven hồ Tây là đình Đông Xã nay nằm trên đường Thụy Khuê ở Hà Nội.
Vị Hữu kiên thần Quý Minh còn có tên là Lãng Nhạc. Chữ Lãng nghĩa là sóng nước, đối lập với tên Nộn Nhạc (Nộn hay non, chỉ núi) của Tả kiên thần Cao Sơn. Như thế trong cặp Cao Sơn – Quý Minh thì Cao Sơn là Sơn thần, còn Quý Minh là Thủy thần.
Kiên thần hiệp lực bình Thục kiến hồng huân, tố tự Hùng triều sổ thiên tải hất kim, Nhạc phủ uy thanh do hách hách. Tây quận hồi sư đằng vân phi hạc giá, ngật nhiên Thiên Nam đệ nhất phong chi hữu, Lãng sơn linh tích tự y y.
Dịch là:
Kiên thần chung sức dẹp Thục dựng cơ đồ, chính từ triều Hùng mấy ngàn năm đến nay, tiếng uy Nhạc phủ còn vang dội Quận Tây rút quân đi mây cưỡi xe hạc, tự nhiên trời Nam một ngọn đầu bên phải, tích thiêng núi Lãng vẫn như nguyên.
Trong Tản Lĩnh ngọc ký kể tới 2 lần Tản Viên dẫn các tướng và quân của Hùng Vương chống Thục. Lần thứ nhất Tản Viên Sơn Thánh chặn quân Thục ở Mộc Châu, được một thiên tướng cầm ốc tù và giáng xuống giúp mà phá tan giặc. Lần thứ hai quân Thục tổng tấn công, chia làm 5 đạo, theo các đường thủy bộ tiến vào. Sơn Thánh chia các tướng ra chống cự theo từng đạo quân. Quý Minh Đại vương thường là phụ trách chống đạo quân thủy của quân Thục tiến vào theo đường cửa Hội Thống ở Hoan Châu. Sau lần chống giặc thứ hai thì Hùng Vương được Sơn Thánh khuyên nhường ngôi cho Thục Vương, chấm dứt 18 đời Hùng Vương.
Điểm qua các sự tích về Quý Minh Đại vương và so sánh với lịch sử của thời kỳ Hùng Vương (Lạc Vương) thì có thể nhận thấy, thực ra có 2 nhân vật Quý Minh ở 2 giai đoạn Hùng Vương khác nhau. Vào đầu thời Hùng Vương, bộ ba Tản Viên Sơn Thánh là đại diện cho 3 dòng tộc. Dòng Tản Viên đứng đầu là Kinh Dương Vương làm chủ toàn bộ thiên hạ sau khi nhận ngôi từ vua Hùng theo cách truyền hiền (truyền ngôi cho con rể). Tả kiên thần Nộn Nhạc Cao Sơn, đại diện cho nhóm người ở vùng miền núi, được gọi là Sơn thần. Hữu kiên thần Lãng Nhạc Quý Minh đại diện cho nhóm người ở vùng sông nước ven biển, được coi là Thủy thần.
Ở giai đoạn đầu, sau khi Kinh Dương Vương Tản Viên Sơn mất, đã xảy ra một cuộc xung đột giữa con của Kinh Dương Vương là Lạc Long Quân với chính dòng vua Hùng (Đế Nghi) để giành vị trí làm chủ thiên hạ. Lạc Long Quân là nhờ vào sự giúp đỡ của bên mẹ là tộc người vùng sông biển (Long Nữ Động Đình) đã đánh đuổi Đế Lai mà lên ngôi Vua cha, làm chủ cả thiên hạ. Đây là cuộc chiến Hùng Thục lần thứ nhất, với thắng lợi của dòng Hùng Vương (Lạc Long Quân).
Trong cuộc chiến lần thứ nhất này Quý Minh là đại diện của nhóm người vùng sông nước nên đã theo phe của Long Quân chống lại quân Thục, đuổi nhóm tộc người miền núi Đế Lai – Âu Cơ phải di rời, chạy đi xa hơn về phía Tây. Thần tích Việt gọi nhóm Thục này là Hồ (Hồ Tôn, Tây Hồ), Di (Tử Di), hay có khi là Chiêm vì chính gốc ban đầu của nhóm trên núi này ở phía Tây Nam nước ta. Sự tích kể thành Hữu kiên thần Quý Minh dẫn thủy quân đánh giặc Chiêm, Hồ ở cửa Hội Thống.
Chú ý là Quý Minh trong giai đoạn này không phải là một trong số những anh em cùng mẹ sinh cùng bọc của Lạc Long Quân, bởi Quý Minh đứng ở bậc cha chú so với Lạc Long Quân, ngang hàng với Kinh Dương Vương (Tản Viên Sơn Thánh). Ngũ vị tôn quan hay Lục bộ thủy phủ cùng sinh với Lạc Long Quân trở thành các vị quan trấn trị các nơi trong Thủy phủ. Còn Quý Minh Đại vương là đại diện chung cho dòng Thủy phủ Động Đình, không đi trấn trị các nơi như các vị tôn quan Thoải phủ. Cao Sơn – Quý Minh là cặp lưỡng nghi Âm – Dương, lên rừng xuống biển, hay bộ Tam Tài – Tam vị Tản Viên. Đây là giai đoạn trước khi phân chia lần nữa thành Tứ tượng hay Ngũ hành như trong bộ Ngũ vị tôn quan.
Khu vực thờ Quý Minh dưới hình thức là Thủy thần, tức là Quý Minh của thời kỳ đầu Hùng Vương, là các vùng sông nước ở Hà Nội, Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, Hải Phòng, Thái Bình, Hải Dương. Điển hình, Thủy thần Quý Minh trở thành một trong Hoa Lư tứ trấn, thờ tại đền Trần trong cụm di tích danh thắng Tràng An. Chữ “Trần” ở đây không phải là họ, mà hàm nghĩa là phía Đông (chiết tự chữ Trần là Đông A), tương tự tên gọi Đông Hải Đại vương của Thủy thần Quý Minh.
Ở giai đoạn cuối thời Hùng Vương, trận chiến giữa Hùng và Thục lần thứ 2 là cuộc tấn công của dòng lên núi theo Đế Lai – Âu Cơ đã bị đuổi đi trước đây, quay lại chiếm vùng đất Lạc xưa. Thủ lĩnh vùng đất Lạc lúc này là một trong Tứ bá hầu của nhà Ân Thương, được biết với tên là Bắc Bá hầu Sùng Hầu Hổ. Sùng Hầu Hổ cùng với những người anh em của mình đã đánh chặn cuộc tấn công của Thục Vương Cơ Xương (Âu Cơ), nhưng cuối cùng thất trận. Vua Hùng cuối cùng là Ân Trụ Vương đã buộc phải “nhường ngôi”, trả lại vùng đất Lạc cho dòng Âu lên núi. Thục Vương về lại Phong Châu, lập nên nước Âu – Lạc.
Sùng Hầu Hổ được sử Việt gọi là Sùng Lãm, hay cũng là Sùng Công Cao Sơn, bởi chữ Cao cũng có nghĩa là Sùng. Như thế người anh em họ Sùng của Cao Sơn lúc này là Quý Minh. Có thể thấy vị Quý Minh ở thời điểm sau không có tính chất Thủy thần như thời kỳ đầu, mà là Sơn thần cùng với Cao Sơn. Khu vực các di tích thờ các sơn thần Cao Sơn Quý Minh chủ yếu ở các tỉnh vùng trung du như Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Yên Bái, Lạng Sơn, một phần Hưng Yên, Quảng Ninh.
Một dẫn chứng cho nhận định trên là việc thờ Quý Minh ở đền Phú Mẫn trên núi Hàm Sơn ở thị trấn Chờ, Yên Phong, Bắc Ninh. Đền Phú Mẫn còn có mộ Quý Minh Đại vương, tương truyền do ngài đi đánh giặc đã về hy sinh ở đây. Không xa thị trấn Chờ là núi Thất Diệu, nơi có đền Bạch Kê cùng với những “quỷ núi” hiện hình phá Thục An Dương Vương xây thành Cổ Loa. Truyện Rùa Vàng trong Lĩnh Nam chích quái nói: Cái tinh khí ở núi này là con vua đời trước, muốn báo thù cho nước. Lại có con gà trắng sống lâu ngàn năm, hóa thành yêu tinh ẩn ở núi Thất Diệu. Trong núi có ma, đó là hồn người nhạc công triều trước chôn ở đây. “Tinh khí ở núi” là con vua đời trước, cùng với “Nhạc công triều trước” rõ ràng tương ứng với Cao Sơn, Quý Minh thờ ở đền Chờ gần đó.
Tất nhiên việc phân định Quý Minh nào là Thủy thần thời Kinh Dương Vương, Quý Minh nào là Sơn thần thời Hùng Duệ Vương không phải lúc nào cũng rõ ràng ở các di tích. Vị Quý Minh trong bộ ba vị Tản Viên là cổ thần từ thời dựng nước nên thường được thờ rộng rãi hơn, cả dưới hình thức là Sơn thần lẫn Thủy thần, hay là Nhiên thần nói chung. Vị Quý Minh cuối thời Hùng Vương có phạm vi thờ hẹp hơn, chủ yếu ở những nơi xảy ra cuộc chiến giữa nhà Chu (Âu Thục) với nhà Ân (Hùng Lạc) dưới dạng là Nhân thần.
Nhận định Quý Minh là thủy thần trong Tam vị Tản Viên, từng đi từ Thần Phù về Long Đỗ (hay Long Biên) còn có thể giải mã được vị thần quan trọng khác của miền Bắc Trung Bộ. Đền Nhân Phẩm ở xã Yên Lâm, Yên Mô, Ninh Bình là đền Thần Phù Hải Khẩu, thờ Áp Lãng Chân Nhân, Triệu Việt Vương. Ở vùng ven biển Ninh Bình – Nam Định Quý Minh là vị thần đã báo mộng và trao móng rồng cho Triệu Việt Vương trong sự tích đầm Dạ Trạch. Ở đền Nhân Phẩm vị thần này được gọi là Cao Các Quý Minh Đại vương. Đây là bằng chứng rõ ràng cho thấy vị thần Cao Các được thờ phổ biến ở vùng Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và cả các tỉnh miền trong chính là Quý Minh, vị thần đại diện cho nhóm người miền sông nước trong bộ ba Tản Viên.
Thần Cao Sơn, Cao Các ở miền Thanh Nghệ như vậy tương ứng là hai vị thần Cao Sơn, Quý Minh như tục thờ ở miền Bắc. Cao Sơn – Cao Các hay Cao Sơn – Quý Minh là cặp đôi lên rừng xuống biển, đại diện cho các nhóm người sinh sống trên đất nước thời dựng nước. Bởi vậy mà các vị thần này trở thành Thượng đẳng thần, được thờ rất phổ biến ở nhiều nơi. Trong sự tích về Tản Viên, Quý Minh đã dẫn quân thủy chống giặc tiến vào ở cửa Hội Thống, Hoan Châu, nên việc Nghệ Tĩnh thờ Quý Minh dưới tên Cao Các là hoàn toàn dễ hiểu.
Ngoài ra, tín ngưỡng ở miền Trung còn có bộ ba Cao Sơn, Cao Các, Mạc Sơn. Bộ ba này tương ứng với ba vị Tản Viên: Cao Sơn, Quý Minh và Tản Viên. Mạc Sơn hay Mạch Sơn, cũng là Lạc Sơn, chỉ Lộc Tục Kinh Dương Vương như trường hợp của đền Hội ở Nghi Lộc, Nghệ An.
Vào thời lập quốc họ Hồng Bàng, 3 nhóm tộc người đã hợp nhất, tôn Tản Viên Sơn Thánh là Kinh Dương Vương, cùng với đại diện của 2 vùng sông – núi là Cao Sơn và Quý Minh Đại vương. Cao Sơn, Quý Minh hay Cao Sơn, Cao Các đã trở thành biểu tượng thần thánh, tổ tiên của người Việt, mãi được tôn kính phụng thờ trên cả vùng đất Lạc ở miền Bắc và đất Hồng ở miền Trung.
Đình Nhân Phẩm, Yên Lâm, Yên Mô, Ninh Bình.Tôn thần sự tích bi chí ở đền Nam Lạng, Trực Ninh, Nam Định.Bia trên mộ Quý Minh Đại vương ở đền Phú Mẫn, Chờ, Yên Phong, Bắc Ninh.Đền Bàu Lối, Cửa Lò, Nghệ An, một trong những nơi thờ Cao Sơn Cao Các.
Ghi chép của trưởng tộc họ Nguyễn tại Thượng từ đường ở Cổ Lôi
Quyển tập thứ hai
Năm Tân Mùi Thái Bình Thiên Quốc, vào ngày lành tháng giữa mùa xuân Đinh Tiên Hoàng nhờ ta triệu tập 12 sứ quân hợp nhất, cùng tôn Đinh Bộ Lĩnh làm Thiên tử. Đến ngày 12 tháng 2 Đinh Tiên Hoàng cùng các tướng đến nhà thờ làm lễ báo ơn công đức các vị tiên tổ Bách Việt, sơn thủy bách thần triều Hùng Vương. Lại phong cho ta cùng người em Nguyễn Bặc làm Quốc công, lập ban thờ, trùng tu miếu điện, cấp chia ruộng để muôn năm hương khói phụng thờ.
Thiết nghĩ, thân cây lớn vạn lá vốn là nhờ có gốc. Nước có ngàn dòng, vạn dòng vốn là nhờ nguồn. Vật còn như thế huống chi con người sinh ra kế thừa sự tốt lành từ tiền nhân mới thịnh vượng mà tỏa đi được xa vậy. Ngưỡng trông tổ tiên ta lấy cần cù mà vun gốc, lấy chắt chiu làm nguồn cho phong tục, tích đức, tích nhân. Không có điều đó thì con cháu làm sao có mà kế thừa. Là con cháu há chẳng nhớ về ngọn nguồn, tìm đạo xa xưa? Vì vậy phải viết lại thành gia phả. Phàm là mộ tổ tiên tại nơi nào, ngày giỗ kỵ là khi nào cùng với các chi nhánh, thế thứ đều có thể ghi lại trong đó, để người kế tự về sau nắm được. Nắm được để mãi mãi noi theo.
Các đời tổ sư xứ Cửu Liên Hoa
Tổ ta từ chân núi Tản Viên dựng nghiệp các nghề thầy thuốc, làm ruộng, trồng dâu, nung gốm, đúc kim khí ở tại Tây Vực, giáo hóa chúng sinh ở Tây Phương Cực Lạc, mở nhà truyền kinh, có công dựng nước, có đức giữ dân, nên người đời sau tôn xưng các tên gọi Tiên Phật để phụng thờ. Toàn thế giới đều chịu ơn lớn, cùng sự tôn sư trọng đạo mà xin làm đệ tử, cùng nhau truy niệm tổ ta ở trong các ghi chép của đền Thần, chùa Phật.
Từ núi Tản Viên đến Tây Phương Cực Lạc, Sài Sơn, Thổ Ngõa, Phụng Châu, Tiên Lữ, đến Phong Châu đất chủ tạo thành thế đất tứ linh Long, Phụng, Ly, Quy. Ba đầu (ba tán) chín lớn (chín miếu tại Phong Châu chính là chín con rồng) đời đời mãi soi. Tứ linh cùng với hình Cửu long là tượng trưng cho địa thế. Tổ ta đóng đô tại Lôi Bằng, rồi đến Lôi Phong, Lôi Đỉnh (Lôi Bằng là nơi định đô thời sơ khai. Lôi Phong là thời Kinh Dương Vương. Lôi Đỉnh là thời Triệu Vũ Đế).
Buổi sơ khai tên nước là Cực Lạc, phật hiệu là Di Đà, sinh ra ở Hòa Bình, ở tại núi Tản Viên, hóa ở Tây Phương Cực Lạc, mộ ở mặt trước núi. Giỗ ngày mùng 1 tháng Tư.
Đế Thiên (Phục Hy), mộ tại Thiên Thị núi Sài, Quốc Oai, Sơn Tây. Ngày giỗ mùng 4 tháng Tư.
Địa Mẫu mộ tại Cực Lạc, bên trái chân núi. Ngày giỗ mùng 1 tháng Tư.
Đế Viêm dùng lửa luyện kim loại cùng với làm gốm, dùng kết thừng làm văn tự, khởi đầu vạch ra Bát quái, phân định Âm Dương, Ngũ hành, thực là người đã khai mở vận hội văn minh vậy.
Địa Mẫu dạy dân cầy cấy, chuyện nghề nông tang, cứu khổ chúng sinh nên đời sau truy tôn là Địa Mẫu Chân Tiên.
Đế Viêm bị một học trò tên là Hiên Viên làm phản, đuổi Đế Viêm ra ngoài nước. Do tuổi cao sức yếu, ngày mất trên đường đi về nước Bắc, hóa ở núi Thổ Ngõa.
Đế Khôi hiệu là Thần Nông, hóa tại Phụng Châu, sau cải táng đưa về chôn trong giếng huyện Đình Sở, Quốc Oai (núi Tiên Lữ, đất Cổ Pháp). Các cụ ông cụ bà đều được chôn ở đất ấy. Ngày giỗ mùng 6 tháng Sáu tại các đền thần, gọi là lễ Hạ điền. Các tiết trong năm như Thượng điền, Hạ điền, cơm mới đều làm lễ báo ơn đức trên toàn cõi Đông Á.
Hữu Sào, Toại Nhân vốn là bạn của Đế Viêm. Khi Hiên Viên làm phản gây loạn, hai vị dùng quân đánh thắng, đuổi Hiên Viên ra ngoài biên cương. Từ đó ông ta tự lập nước ở phương Bắc, tự xưng là Hoàng Đế, đóng đô tại Trường An. Từ đó Hiên Viên dựng nghiệp, giáo hóa chúng sinh, học điều hay làm nông tang, văn tự, luyện kim, nung gốm như nước Nam.
Hữu Sào, Toại Nhân nhiếp chính, trợ giúp Thần Nông giữ nước, giữ dân. Đến khi Thần Nông trưởng thành, lên ngôi là Thiên tử, đóng đô tại Phụng Châu, Long Môn, núi Trầm. Hai vị cáo lão về quê ở tại Sào Vực, chợ Thổ Long, huyện Chương Mỹ, hóa tại đất đó.
Bà mẹ nuôi là nàng Diệu Trinh cùng với ba vị vương tử, văn võ kiêm toàn, giúp Thần Nông bảo vệ vạn dân.
Đế Tiết sinh ở Phụng Châu, hóa ở Thanh Lãm, mộ tại Hoàng Anh Mộc, lễ chính ngày mùng 9 tháng Giêng. Các hoàng hậu, vương phi đều chôn cất tại đó.
Đế Thừa Sở Minh Công sinh tại núi Sở, nên có tên là Sở Minh Công, lên kế ngôi, đế hiệu là Đế Thừa, hóa tại núi Sở, Tiên La, bãi Thuần Lãm. Các hoàng hậu, hoàng phi đều an táng ở khu đó. Giỗ ngày mùng 1 tháng Sáu.
Đế Minh (con trưởng của Đế Thừa), húy là Nguyễn Minh Khiết (sinh tại đất chủ Tiên La tại Định Công, Hà Nội). Ngày giỗ là 12 tháng 2. Mộ chôn tại chân núi Định Công. Hoàng phi, mĩ nhân đều chôn ở khu đó.
Đế Minh lấy nàng Vụ Tiên. Bà sinh tại hồ Tây, hóa tại Phong Châu, chôn tại trong chùa Đại Bi, làng Ỷ La.
Đế Minh lấy thứ phi mà quên tình nàng Vụ Tiên. Bà cùng với 8 người anh em đến động Tiên Phi ở tỉnh Hòa Bình tu hành, giáo hóa chúng sinh. Đến khi Kinh Dương Vương trưởng thành kế ngôi, Vương đón Thánh mẫu trở về Phong Châu tu hành ở chùa Đại Lôi Âm. Bà sinh ngày mùng 8 tháng Tư, hóa ngày 15 tháng Bảy. Đời sau tôn húy là Hương Vân Cái Bồ tát, Sa Bà Giáo chủ, có công sáng lập đạo tên là Bà La Môn. Mộ tại Ỷ La, thành Đại La. Trong đạo Tiên tôn gọi là Thánh Mẫu Đệ Nhất Thiên Tiên, một bầu sinh ba thánh.
Đế Thừa Sở Minh Công sinh ba con trai:
Thứ nhất là Nguyễn Minh Khiết, húy là Đế Minh, làm Hoàng đế phương Nam.
Thứ hai là Nguyễn Nghi Nhân, làm Đế Nghi ở Trung quốc.
Thứ ba là Nguyễn Long Cảnh, hiệu Lý Lang Công Ba Long Đại vương, hóa tại thôn Nguyệt Ánh.
Từ cổ đến đó chỉ có 1 nước, nay phân làm 3 nước, tất có 3 vị vua, cho nên Kinh Dương Vương dùng ba chữ Vương hợp thành một chữ, tức là nước Xích Quảng. Đời sau gọi ba vị là Tam tòa Đức chúa ông. Đạo Tiên gọi là phủ – Tam phủ Công đồng.
(Dịch thep bản chụp chữ Nho từ ngọc phả họ Nguyễn ở tống Xốm Bình Đà)
Giai đoạn lịch sử tiếp theo Bách Việt triệu tổ cổ lục được ghi chép trong Cổ Lôi ngọc phả truyền thư, lưu giữ ở nhà thờ họ Nguyễn tại tổng Xốm (Bình Đà). Cổ Lôi ngọc phả chép: Hùng Duệ Vương sinh được 12 người con trai, 6 con gái. Thời kỳ đầu vua thông minh chính trực, nhưng từ khi lấy con gái họ Lê thì đam mê tửu sắc, bị Thục Vương, Cao Thông và Nồi Hầu lừa cho uống rượu say. Lại bị con gái họ Lê là cô ruột Lê Phán sai khiến, nên đến nỗi giết hết cả các con trai, con gái, con rể. Rồi mang họa diệt thân, đến lúc chết vẫn còn say chưa tỉnh.
Đoạn kể này mô tả không khác gì vị vua cuối cùng của nhà Ân là Trụ Vương, một người có sức khỏe phi thường, nhưng sau vì ham mê Đát Kỷ, đã giết vợ, diệt con, cuối cùng mất nước trong tay Vũ Vương Cơ Phát. Cơ Phát là vị vua đầu của nhà Chu, khởi sự từ vùng đất phía Tây, nên cũng tương đương với Thục (Thục là hướng mặt trời lặn). Cơ Phát là Lê Phán trong Cổ Lôi ngọc phả. Ân Trụ Vương là vị vua Hùng đời cuối (theo dòng Lạc Long Quân), tức là Hùng Duệ Vương.
Việc vua Hùng say mê một bà phi gây ra loạn mất nước cũng được Hùng Vương Thánh Tổ ngọc phả kể đến qua chuyện bà vu nữ. Hùng Vương do nghe lời vu nữ, xúc phạm đến thiên uy, gây ra nạn dịch bệnh và binh đao trong cuộc chiến với giặc Ân. Có thể thấy bà vu nữ này và bà cô họ Lê trong Cổ Lôi ngọc phả là một. Đây là vị Ma Cô Tiên, phi nhân của vua Ân trong Truyện Giếng Việt ở núi Vũ Ninh.
Khi xác định được thời điểm của câu chuyện giữa Hùng Duệ Vương và Thục Lê Phán là cuộc chiến thay đổi triều đại từ Thương sang Chu trong Hoa sử thì những nhân vật liên quan trong Cổ Lôi ngọc phả cũng được sáng tỏ. Cổ Lôi ngọc phả kể giai đoạn này có 2 phe Hùng và Thục. Phe phía Hùng Vương có con trai của Lạc tướng Nguyễn Phục là Đông Hải đại vương, lấy công chúa Xích Vân. Tiếp đó là ba anh em Sơn Thánh Nguyễn Tuấn, Cao Sơn và Quý Minh, trong đó Nguyễn Tuấn lấy công chúa Ngọc Hoa. Phía Lê Phán có hai tướng là Cao Thông và Nồi Hầu.
So sánh với chuyện Phong thần diễn nghĩa thì đây là 2 phe Xiển giáo và Triệt giáo. Anh em Sơn Thánh Nguyễn Tuấn, Nguyễn Hiển, Nguyễn Sùng thì đã biết là anh em của Sùng Hầu Hổ, Bắc bá hầu nhà Ân. Cao Sơn Quý Minh cũng là “quỷ núi” được nói đến trong chuyện An Dương Vương xây thành Cổ Loa, hiện hình phá thành xây ở núi Thất Diệu. Cổ Lôi ngọc phả cũng kể đến việc Nguyễn Tuấn cho người đến phá việc xây thành Ốc do Lê Phán chủ công.
Đông Hải Đại vương tương ứng là Thân Công Báo, là quốc sư phía nhà Ân. Thân Công Báo khi phong thần có tước hiệu là Đông Hải phân thủy tướng quân. Thân Công Báo cầm đầu quân đội của nhà Ân nên trong huyền sử Việt được kể là Thạch Linh thần tướng.
Về phía Thục, Cao Thông hay Cao Lỗ là Chu Công Đán, người em của Chu Vũ Vương Cơ Phát. Chu Công được phong ở đất Lỗ, nên gọi là Cao Lỗ (thủ lĩnh nước Lỗ). Cao Thông thiết Công, là tên của Chu Công. Chu Công là người đã đặt ra lễ nhạc, viết các lời hào trong Kinh Dịch, được kể thành Cao Thông chế tác nỏ thần.
Vị Nồi Hầu theo Cổ Lôi ngọc phả là một thợ đúc đồng giỏi trong nước, được triệu về kinh đô là chức quan trông nom việc đúc các vật dụng bằng kim loại. So sánh tương ứng thì đây là Lã Vọng Khương Tử Nha, người từng được Trụ Vương triệu vào cung để làm chức quan quản lý việc xây dựng đền đài cung điện. “Pháp thuật” của Khương Tử Nha có lẽ chính là ở khả năng “luyện kim”, đúc đồng này. Và cũng chỉ có Khương Tử Nha thì mới tương đương để đối đầu với Thạch Linh thần tướng Thân Công Báo.
Dù xác định thế nào thì đây cũng vẫn là chuyện của 2 dòng lên rừng và xuống biển trong cuộc đối đầu Ân – Chu. Cổ Lôi ngọc phả vốn là ghi chép của dòng theo cha Lạc Long xuống biển nên khi những nhân vật của nhà Thục ở đây bị kể theo cách “dìm hàng”, khác ngược với lối kể thường thấy của Hùng Vương Thánh Tổ ngọc phả, tức là phả chép của dòng lên núi theo mẹ Âu Cơ.
Đặc biệt thú vị là thông tin của Cổ Lôi ngọc phả về Chử Đồng Tử. Chử Đồng Tử vốn là một chú bé nhà nghèo mò cua bắt ốc ở bãi Tự Nhiên, sau gặp được công chúa Tiên Dung, có tiền học tập đã trở thành một thầy lang có tiếng. Rồi sau đó được triệu về kinh đô Phong Châu làm Thái y trong hoàng cung. Chử Đồng Tử vừa mới lấy được công chúa Tiên Dung thì bị vua Hùng nghe lời dèm pha mà đuổi đi. Trong một đêm Chử Đồng Tử bị giết chết ở bãi Tự Nhiên… Còn công chúa Tiên Dung đi tu ở chùa Hương Tích.
Nếu xét trong bối cảnh nhà Chu thì vị Chử Đồng Tử của Cổ Lôi ngọc phả này chính là Lão Tử. Lão Tử vốn xuất thân là dân thường ở vùng Hà Nam (Phủ Lý – Kim Bảng), sau làm quan Thủ thư cho nhà Chu và cũng là vị thầy thuốc giỏi, chữa bệnh dịch (Xích Tị) cho người dân. Lão Tử cũng có quan hệ với một vị công chúa nhà Chu, được kể trong tích bà chúa Ba Diệu Thiện. Công chúa Diệu Thiện bị ép duyên, bỏ đi tu chính xác cũng ở chùa Hương Tích, trở thành Nam Hải Quan Âm. Trong tích Diệu Thiện, Lão Tử được kể là vị thầy thuốc Triệu Chấn đi theo công chúa. Lão Tử ở nước ta được tôn thờ với tên Huyền Thiên Trấn Vũ, do sự tích trừ yêu diệt quỷ ở núi Sái tại Cổ Loa.
Cuối thời nhà Thục là chuyện về nhà Triệu. Cổ Lôi ngọc phả kể: Nguyễn Thận là con trai Hùng Dực Công và bà Trần Thị Quý người làng Chân Định, sau lại lấy vợ kế là và Nguyễn Thị Sinh. Hùng Dực Công là em ruột Hùng Duệ Vương. Mẹ chết Nguyễn Thận về Chân Định, cùng Chử Đồng Tử nương tựa vào nhau, mò cua bắt ốc ở bãi Tự Nhiên. Nhâm Hiêu là một tướng Tần gặp Nguyễn Thận thì dẫn theo ra biên ải. Chị ruột của Nhâm Hiêu lấy viên Thái giám họ Triệu tên Cao, không có con, bèn đem Nguyễn Thận cho Triệu Cao nuôi, đển tên họ là Triệu Đà.
Chuyện về Triệu Đà Nguyễn Thận trong Cổ Lôi ngọc phả không khác gì chuyện về Triệu Quang Phục mới được biết đến gần đây qua thần tích ở Hạ Mạo (Lâm Thao, Phú Thọ). Quang Phục vốn là dòng dõi quý tộc nhà Chu, có cha là em của Hùng Duệ Vương được phong đất ở Quảng Tây, lấy họ Lê, gọi là Lê Hùng Ánh. Khi nhà Hùng bị diệt, Lê Hùng Ánh tự lập xưng là Hậu Hùng Vương. Hậu Hùng Vương cử con là chàng Út Ngọ cùng với Triệu Vũ Đế chống Tần. Như thế Hậu Hùng Vương tương ứng với Hùng Dực Công, Triệu Vũ Đế tương ứng với Triệu Cao, Út Ngọ Lôi Mao tương ứng Nguyễn Thận ở Cổ Lôi. Chú ý vị Út Ngọ Lôi Mao hay Triệu Quang Phục này là Triệu Đà, người xưng Đế nước Nam Việt. Còn vị Triệu Vũ Đế ở đền Đồng Xâm, Kiến Xương Thái Bình là Triệu Cao, tức là Cao Tổ Lưu Bang, hay Lý Bôn của sử Hoa Việt.
Còn một nhân vật nữa trong chuyện này là Nguyễn Công Trọng hay Trọng Thủy, liên quan đến nhà Tần. Thực ra chuyện Trọng Thủy làm con rể An Dương Vương là kể về cuộc chiến giữa Thục và Tần, hay việc nhà Tần thay thế nhà Chu. Vị vua Thục cuối cùng đóng đô ở Cổ Loa là Đông Chu Quân, đã bị quân Tần diệt. Trọng Thủy là Tần Trang Tương Vương hay Dị Nhân Doanh Tử Sở đã ở rể ở đất Triệu (Chu). Con của Trọng Thủy lên ngôi, thống nhất thiên hạ, xưng là Tần Thủy Hoàng Đế. Truyền thuyết Việt gọi là Triệu Lạc Linh.
Khảo luận so sánh giữa các tư liệu ở tổng Xốm Bình Đà về cổ sử Việt tạm dừng lại ở giai đoạn này. Lướt qua Bách Việt triệu tổ cổ lục và Cổ Lôi ngọc phả truyền thư đều thấy ăn khớp với những nhân vật và sự kiện chính của Hoa sử và huyền sử Việt. Điều này là hiển nhiên vì lịch sử vốn chỉ có 1. Dù là các kể theo dòng lên núi (Hùng Vương ngọc phả) hay xuống biển (như ở Bình Đà), hay trong sử Trung Hoa thì đều là một quá khứ của người Việt.