Hùng Vương thế hệ khảo

Bia sach

Cuốn Hùng Vương Thánh tổ Ngọc phả sưu tầm ở đền Vân Luông (Vân Phú, Việt Trì, Phú Thọ) đã cung cấp rất đầy đủ thông tin về thế thứ các triều đại Hùng Vương trong sử Việt. Tuy nhiên, để có thể hiểu đúng Ngọc phả, là một dạng văn bản lịch sử (sử ký) nhưng có cách diễn đạt riêng do đặc thù của thời kỳ sơ và cổ sử, cần có sự linh hoạt trong phân tích các sử liệu này, đối chiếu với các nguồn khác như các di tích thờ cúng, các di vật khảo cổ, các lễ tục văn hóa và với cả những ghi chép lịch sử cổ đại Trung Hoa.
1. Điều chú ý đầu tiên để có thể hiểu đúng Ngọc phả Hùng Vương cũng như các thần tích xưa là vấn đề tên hiệu. Các nhân vật của cổ sử phần lớn đều chỉ có danh xưng, biểu tượng cho vùng đất, phương hướng hay tộc người mà nhân vật đó đã dựng nghiệp. Ví dụ, Lộc Tục nghĩa là danh xưng của Lạc Tộc, chỉ nhân vật này là thủ lĩnh của phần đất Lạc, người Lạc Việt. Hay danh từ Sơn, thực ra là quẻ Cấn (núi) chỉ hướng Nam xưa (Bắc nay) trong Tiên thiên Bát quái. Cao Sơn do đó nghĩa là thủ lĩnh của hướng Nam chứ không phải tên riêng.

Tien thien bat quaiTiên thiên Bát quái và hệ tọa độ trong Dịch học Hùng Việt.

2. Điểm thứ hai là mỗi danh xưng do đó không phải chỉ chỉ 1 người mà người đó nếu là vua sẽ là thủ lĩnh của một bộ tộc, một vùng đất. Danh xưng đó đại diện cho cả một thời do vị vua đó trị vì trên vùng đất và tộc người tương ứng. Vì thế, cùng một danh xưng có thể không phải chỉ có 1 vị vua, 1 nhân vật, mà gồm nhiều đời vua kế tiếp nhau, cùng lấy một danh xưng. Điển hình là 18 danh hiệu Hùng Vương thực ra là tên hiệu của 18 triều đại, mỗi triều đại được Ngọc phả gọi là một “chi”, kéo dài qua một hay vài đời vua kế tiếp nhau. Do đó 18 triều Hùng mới có thể trải dài 2.655 năm như Ngọc phả đã chép.
3. Cũng vì một tên hiệu đại diện cho cả một tộc người hay một triều đại nên các vị công chúa như Ngọc Hoa, Tiên Dung, Âu Cơ thực chất là đại diện cho vương quyền, ngai vị của vua cha truyền lại cho con rể. Đây là hình thức truyền hiền, là hình thức kế vị của thời kỳ ban đầu dựng nước, khi chưa xác lập chế độ phụ hệ cha truyền con nối. Việc Sơn Tinh tranh đoạt công chúa Mỵ Nương với Thủy Tinh có thể hiểu là sự tranh giành vương vị giữa 2 tộc người miền núi và miền biển. Việc Chử Đồng Tử lấy Tiên Dung không được sự đồng ý của vua cha nghĩa là có một sự tiếm ngôi không chính thống.

IMG_1075
Hoành phi Triệu Cơ Vương Tích của đền Hùng, Phú Thọ.

4. Một đặc điểm của thời kỳ sơ sử là tổ chức xã hội hoàn toàn khác với chế độ nhà nước thời cận và trung đại. Xã hội Việt bắt đầu không phải bằng 1 nhà nước mà là bằng một vị thủ lĩnh Đế Minh “thống trị vạn bang chư hầu thiên hạ”. Nói cách khác, đây là một chế độ liên kết giữa các bộ tộc (vạn bang chư hầu), trong đó tôn một vị thủ lĩnh chung lên cầm đầu. Chế độ 1 vua thống trị làm “thiên tử” của cả trăm nước là cơ chế chính của xã hội Việt khi bước vào chế độ phong kiến phân quyền. Thời kỳ này được Ngọc phả Hùng Vương gọi chung là “Trị bình kiến phu“, tức là 1 vua trị bình thiên hạ, phong tước kiến ấp cho các đại phu ở các nước chư hầu.
Chế độ một nhà trăm nước này kết thúc bằng sự kiện Thục An Dương Vương đánh Hùng Vương hay Triệu Đà diệt Thục, lập nên đế nghiệp của một quốc gia thống nhất từ trên xuống dưới, quản lý bằng cơ chế quận huyện, quan lại. Đây cũng là thời điểm kết thúc thời đại Hùng Vương, thời đại dựng nước của người Việt, vì quốc gia và thiên hạ đã thống nhất.
5. Một căn cứ quan trọng khác để sắp xếp phả hệ Hùng Vương là căn cứ vào những ghi chép của cổ sử Trung Hoa, bởi vì lịch sử Trung Hoa chính là lịch sử người Việt cổ thời Hùng Vương. Ngọc phả Hùng Vương ngay ở câu đầu tiên đã xác quyết điều này:
Xưa tại Đại quốc Trung Hoa, đô đóng ở thành Thiên Thọ Bắc, lăng phần mộ tổ trời táng ở núi Côn Lôn, cùng năm hồ, biển lớn, núi Nam hội chầu chính đường.

IMG_5814Thánh tượng Đột Ngột Cao Sơn ở Hiền Lương, Hạ Hòa, Phú Thọ.

Nhận thức được lịch sử Hoa là lịch sử Việt, chỉ là cách ghi chép từ những dòng sử khác nhau, đã cho phép phục dựng, nhận diện đầy đủ thế thứ thời đại Hùng Vương một cách rõ ràng hơn bao giờ hết. Thời đại Hùng Vương có thể được chia làm 4 mốc phát triển lịch sử theo quá trình tiến hóa của chế độ xã hội như sau

  • Hùng Vương thứ 1: Thái tổ Đế Minh – Đột Ngột Cao Sơn, lấy bà Vụ Tiên. Mốc lịch sử thứ 1: 5.000 năm, thời có thủ lĩnh.
  • Hùng Vương thứ 2: Đế Nghi – Viễn Sơn.
  • Hùng Vương thứ 3: Ất Sơn hay Lịch Sơn (Sơn Tinh). Lấy 2 người con gái của Đế Nghi là Ngọc Hoa và Tiên Dung.
  • Hùng Vương thứ 4: Kinh Dương Vương lấy con gái Thần Long Động Đình. Cũng là truyện Tản Viên trị thủy.
  • Hùng Vương thứ 5: Lạc Long Quân lấy con gái hoặc ái thiếp của Đế Lai. Mốc lịch sử thứ 2: 4.000 năm, thời cha truyền con nối.
  • Hùng Vương thứ 6: Hiền Vương hay Lang Liêu. Thánh Dóng giúp vua Hùng đánh giặc Ân.
  • Hùng Vương thứ 7: Hùng Quốc Vương khởi đầu Bách Việt, phân chư hầu. Mốc lịch sử thứ 3: 3.000 năm thời phong kiến.
  • Thời kỳ Trị Bình Kiến Phu: Hùng Vương thứ 8 đến thứ 16. Lang Liêu lấy tiên nữ Ngọc Tiêu của núi Tam Đảo.
  • Hùng Vương thứ 17: Hùng Nghị Vương hoặc An Dương Vương xây thành Cổ Loa.
  • Hùng Vương 18: Hùng Duệ Vương cùng Sơn Tinh đánh Thục. Thục ở đây là nhà Tần. Mốc lịch sử thứ 4: 2.258 năm, thời Trung Hoa nhất thống.

Pha he Hung VuongSơ đồ phả hệ Hùng Vương phục dựng từ Hùng Vương Thánh tổ Ngọc phả.

Câu đối trên núi Hùng:
過故國眄瀘洮依然碧浪紅濤襟帶雙流迴白鶴
豋斯亭拜陵寝猶是神州赤縣山河四面控朱鳶
Quá cố quốc miện Lô Thao, y nhiên bích lãng hồng đào, khâm đái song lưu hồi Bạch Hạc
Đăng tư đình bái lăng tẩm, do thị Thần châu Xích huyện, sơn hà tứ diện khống Chu Diên.

Dịch:
Qua nước cũ ngắm Lô Thao, vẫn hồng đào bích lãng như xưa, hai dải vạt đai quanh Bạch Hạc
Lên đền này vái lăng tẩm, kìa Xích huyện Thần châu còn đó, bốn bề sông núi giữ Chu Diên.

TÌM VỀ NGUỒN GỐC TRĂM HỌ NGƯỜI VIỆT THỜI HÙNG VƯƠNG

Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả tựa rằng:
Vạn phái nguồn gốc sâu xa như biển lớn chảy mãi. Tiên vương ân nghĩa đắp bồi vạn thế, đức trạch cao dày khắp chốn, sự lành còn đó muôn năm, đất nước yên bình, quốc gia thịnh vượng sao!
Nên Ta tuân theo Trời, nối tiếp đức lớn, ngưỡng tổ tông tích đức qua các đời, sáng lòng nhân, yên trời đất núi sông khắp chốn vậy. Ấy là gây dựng nước Nam Việt ta cơ đồ bao la, công nghiệp đế vương to lớn. Trời theo cùng, người quy về, các chư hầu cùng phục, lập thứ tự trăm quan trong triều đình, yên định vạn dân, xưng tên nước, đặt trăm quan, chia trăm họ, phân các quan lập các xứ, dựng nước xây thành, vững mạnh 15 bộ giữ mỗi phương phân định, thiết lập các chức vị, phủ huyện, xã, châu, trang, động, sách.

Van LuongHùng Vương miếu ở Vân Luông, Việt Trì, Phú Thọ.

Như đã thưa chuyện cùng quý vị độc giả trong số báo trước, từ cuốn Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả, cùng với sư thầy Tâm Hiệp chúng ta bước đầu đã vén được một màn sương mờ của lịch sử nguồn cội. Tôi nhớ lại buổi lễ dâng sách lên các vua Hùng tại đền Vân Luông, Phú Thọ, khi đoàn chúng tôi vừa mới bước vào chính điện của ngôi đền thì bát hương vòng trên ban chính bỗng cháy sáng bừng lên như hóa. Thật là một sự cảm ứng nhiệm màu với tâm thành của những người con trước tiên tổ ngàn đời.

1. Tiếp tục đặt câu hỏi với sư thầy Tâm Hiệp, tôi bày tỏ băn khoăn, liệu thời Hùng Vương người Việt đã có họ chưa? Dòng họ mà tôi đang mang từ cha tôi, ông tôi, liệu bắt đầu có từ bao giờ?
Thầy Tâm Hiệp chia sẻ, chúng ta là sự tiếp nối của nguồn cội ngàn đời. Dòng huyết quản chảy trong mỗi người con Việt hôm nay vẫn là dòng máu của những người con cùng chung một bọc đồng bào, của cùng một họ tộc. Đó là họ Hùng. Ngày nay không có mấy ai mang họ Hùng nhưng thực ra tất cả người Việt đều là người họ Hùng. Họ Hùng là họ của cả đại tộc Việt, chứ không phải chỉ của một dòng họ. Vị vua Họ Hùng đầu tiên là Hữu Hùng Hoàng Đế, tức là Đế Minh, người đã khởi đầu sử Việt. Đây cũng là vị vua mà đền Hùng thờ với bài vị là Đột Ngột Cao Sơn, như đã trao đổi.
Còn việc lấy tên họ xưng theo dòng cha là hình thức của chế độ phụ đạo, cha truyền con nối. Chế độ này khởi đầu dưới thời cha Lạc Long Quân, vị “cha tổ” của người Việt cách đây 4.000 năm lịch sử. Tuy nhiên, phải tới thời kỳ vua Hùng sau đó, việc đặt ra trăm họ mới được chính thức bắt đầu.
Thầy Tâm Hiệp cho biết, rất nhiều vấn đề về quá khứ dân tộc, đã có ngay trong cuốn sách trời Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả. Nếu đọc Ngọc phả với sự cẩn trọng suy nghĩ cho từng câu chữ, chúng ta sẽ có được những câu trả lời đầy đủ. Phần Nam Việt Hùng Thị sử ký trong sách có ghi về vị con trưởng của Lạc Long Quân và Âu Cơ như sau:
Thái tử là Hùng Quốc Vương đứng đầu trăm anh em tôn thừa nghiệp lớn… Bấy giờ vua truy ơn các bậc thánh trước, bèn thực hiện việc chia đất phân cõi, lập các bộ Sơn tinh Thuỷ tinh, định làm trăm vương, đổi làm trăm họ, đặt ra chức vụ trăm quan, phong tên cho trăm thần, phân chia đầu núi góc biển, hùng cứ mỗi phương…
Dựng hầu lập bình phong, chia nước thành 15 bộ. Đất đai 15 bộ này được xác định cương giới, định người trưởng quân gọi là Bô (bố), cha gọi là Trá (cha), con trai gọi là Côn (con). Nam nữ đều xem theo dòng cha mà xưng. Hậu thế đổi thành quan lang, phiên thần, thổ tù, phụ đạo. Cháu chắt của các công thần khai quốc được cha truyền con nối, vạn đời nối giữ Nam Bang.
Hùng Quốc Vương khi lên ngôi lập nước Văn Lang đã phân chia đất đai cho những người em và các công thần, định làm trăm vương”. Các vị trưởng quân này lại được “đổi làm trăm họ”. Quyền cai quản các khu đất phong được “cha truyền con nối”. Con cháu nam nữ “theo dòng cha mà xưng”. Như vậy, chế độ phụ đạo cùng với trăm họ bách tính của người Việt được khởi đầu dưới thời kỳ này. Các họ ban đầu thường lấy theo tên của vị thủ lĩnh vùng đất phong hoặc lấy theo tên của vùng đất phong đó.

Hung VuongHùng Vương và những người con trai. Tranh sứ bảo tàng đền Hùng.

2. Đó là những thông tin về dòng họ người Việt theo những ghi chép trong Ngọc phả Hùng Vương. Tôi miên man nghĩ, liệu ở thời nay còn có thể lần tìm được các dấu chỉ gì để minh chứng cho lời phả về sự xuất hiện các dòng họ trong buổi đầu dựng nước hay không?
Như hiểu được những băn khoăn trong tôi, thầy Tâm Hiệp thong thả chia sẻ. Từ năm 2014, thầy có duyên lành đặt chân đến vùng đất Đan Nê ở huyện Yên Định, Thanh Hóa. Nơi đây có một ngôi đền rất cổ, thờ thần Trống Đồng. Vùng đất quanh sông Mã và sông Chu này cũng là nơi người ta tìm thấy nhiều dấu tích khảo cổ từ thời kỳ văn hóa Đông Sơn trước Công nguyên. Dưới thời vua Quang Trung ở đây đã tìm được một chiếc trống đồng cỡ lớn. Trống sau đó đã được hiến cho đền và sự việc còn được ghi lại trên bia trong đền.
Bước chân vào tìm hiểu ngôi đền, thầy Hiệp đã ấn tượng bởi câu chuyện về lời thề trung hiếu đặc biệt của các bậc vua quan xưa trước thần Trống Đồng: “Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, thần minh chu diệt”. Đi sâu hơn nữa, theo thần tích của đền, vị thần Trống Đồng là người đã giúp vua Hùng Quốc Vương đánh giặc Hồ Tôn. Cũng ở đây còn lưu được một vế đối đặc biệt về việc 3 dòng họ Trịnh, Lưu, Hà đã kiến lập đất đai dưới thời Hùng Vương:
Vật lưu Bách Việt tổ
Kiến ấp Trịnh Lưu Hà.
Người được coi là “Bách Việt tổ” theo Ngọc phả Hùng Vương chính là vua Hùng Quốc Vương. Di vật của thời kỳ này là những chiếc Trống đồng to lớn, tinh xảo, minh chứng rõ ràng nhất cho một thời kỳ huy hoàng của dân tộc Việt trên khắp nẻo Đông Nam Á. Dấu vết về sự xuất hiện các dòng họ Việt và di vật văn hóa ở đền Đồng Cổ hoàn toàn khớp với những gì đã ghi trong Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả ở Phú Thọ.

Dong CoChính điện đền Đồng Cổ ở Đan Nê, Thanh Hóa.

3. Những ghi chép lưu truyền ngàn đời trong Ngọc phả Hùng Vương cùng với những di tích còn lại ở nhiều nơi trên đất Việt là những bằng chứng xác thực về sự xuất hiện các dòng họ người Việt từ rất sớm, vào thời kỳ mở đầu nước Văn Lang của các vua Hùng, cách nay quãng 3.000 năm. Đây là thời kỳ mà xã hội Việt bước vào chế độ phong kiến phân quyền, khi mà mỗi công thần hay hoàng thân quốc thích được phân đất kiến lập một khu “thực ấp”, hay còn được gọi là một nước chư hầu. Con cháu của các vị công thần lập quốc này được thừa hưởng chức vị và quyền lực từ cha ông, hình thành các dòng họ phụ đạo lưu truyền.
Di sản của mỗi dòng họ do đó không chỉ ở tên gọi của họ, mà còn là quyền lực trong xã hội và tư liệu sản xuất cơ bản xưa là đất đai. Những dòng họ lớn là những dòng họ của những đại công thần thời dựng nước. Việc tìm về cội nguồn các dòng họ cũng là nhìn nhận lại cho đúng công lao của các bậc tiền nhân với dân tộc, với quốc gia.

Thay cho lời tạm kết về các dòng họ thời Hùng Vương xin chép lại đôi dòng câu đối ở đình Bảo Đà, một nơi thờ các vua Hùng ở Việt Trì, Phú Thọ, nguyện sẽ tiếp nối bước tiền nhân, để con cháu được mở mang, núi sông muôn đời bền vững:
Sổ thiên niên vương tá thủy chung, phụ tử quân thần khai chửng điểm
Thập ngũ bộ thiên phân thảo dã, sơn hà nhật nguyệt cộng trường tồn.
Dịch:
Mấy ngàn năm phụ đế trước sau, cha con vua tôi mở nơi cứu giúp
Mười lăm bộ trời chia đồng nội, núi sông ngày tháng cùng nhau mãi còn.

Minh Thi

Bài đăng trên báo Lao động cuối tuần số 29 (17-19.7.2020)

https://laodong.vn/van-hoa-giai-tri/tim-ve-nguon-goc-tram-ho-nguoi-viet-thoi-hung-vuong-820140.ldo?fbclid=IwAR2dK4jzvngZjoBeudAoWSNfSi1BwsvpUgfVcCECBJHlFgBYFGksEfcLku4

 

Đức ông Đột Ngột Cao Sơn

Trích thần tích của xã Hiền Lương, Hạ Hòa, Phú Thọ.

IMG_5835
Chính điện đình Đức Ông ở Hiền Lương.

Lễ bộ Thượng thư triều Hùng Vương, tri điện bách thần phụng sao truyện cổ

Xem xưa các tổ mở nước, tên hiệu Hồng Bàng, cho tới Nam Việt 18 thánh vương, khởi đầu tên nước Xích Quỷ, truyền ngôi tới thánh Lạc Long Quân, húy là Sùng Lãm. Vương lấy con gái Đế Lai là Âu Cơ, sinh ra trăm trai. Vương nói với nàng Cơ: Nàng là chủng Tiên, nước lửa tương khắc, khó mà tương hợp.
Bèn chia 50 con theo mẹ về núi, 50 con theo cha về biển, giữ người con trai trưởng ở lại, cũng đều hóa là thần. Đột Ngột Cao Sơn thánh vương sinh giáng các con là Hùng Trấn Quý Minh, Hùng Bảo Quốc. Tên hiệu sáng tỏ ngàn thu trong tín sử, vạn cổ vang tiếng linh thanh, quyết sáng mưu lớn, thêm công bớt nợ, đuổi di át giặc, quốc tộ dài lâu, phương sách trải lành vậy. Trở về Phong Châu, kinh đô Việt Thường, đúc điềm thánh thụy. Vào năm Nhâm Thìn tháng 2 ngày 10, ngày mộc dục là ngày 11, ứng kỳ mà sinh. Ngày này hương thơm bay khắp.
Người người vui mừng. Xưa có thơ rằng:
Một bào sinh giáng hai huynh đệ
Vạn cổ sáng ngời một thánh thần.

IMG_5814Tượng Đột Ngột Cao Sơn ở Hiền Lương.

Thời Cao Sơn ngự trị, thiên hạ thái bình, nhân dân giàu đủ, định ra luật nước,chế ra nghi lễ triều đình, lập các trang trại, dựng nên miếu đền. Đến năm Giáp Ngọ tháng 8 ngày 23, tự nhiên bỗng thấy Trấn Quý Minh, Trấn Bảo Quốc không bệnh mà hóa mất. Vua cha Cao Sơn thương tiết vô cùng, tới năm Ất Mùi tháng 3 ngày 20, chợt thấy trời mây che tối, gió mưa sấm chớp, mà hóa.
Trong triều quần thần họp lại, lập thái tử lên ngôi, mới phát phong thần, sắc cho các quận trang 320 đền. Vua cấp lộc thang mộc, cử Quốc sư đến sắc phong thần. Khi qua trang Hiền Lương quận Hạ Hoa báo cho phụ lão ở đây, cấp tiền 50 quan, dựng lập đình miếu. Xem xét địa lý khu vực đồng nội này, chỗ khu đất cao độc lập, núi ngang sông liền, lập một lầu gác, nằm hướng Canh Giáp, nơi có nước chảy ngược án trước tiền đường, sau ôm lấy đất rồng phát anh hào. Nhân dân thanh tú, nhân vật mạnh giàu. Giao cho trang Hiền Lương phụng thờ. Nêu rõ thượng đẳng thần, lúc sinh thời có võ công, khi mất rất linh thiêng, giúp phù cho đất nước.  Hóa ở nơi trang này, lập làm điển thờ tôn nghiêm, bảo hộ cho nhân dân, nên khiến lập thờ cúng khắp nơi.
Lớn vậy thiêng thay! Năm năm không bỏ.

Mạn đàm với sư thầy Tâm Hiệp: SÁNG TỎ GỐC TÍCH CÁC VUA HÙNG QUA NGỌC PHẢ HÙNG VƯƠNG

Năm 2018 loạt bài viết “Thiền sư Lê Mạnh Thát và những phát hiện lịch sử chấn động” của nhà báo Hoàng Hải Vân đã thu hút được nhiều sự chú ý của bạn đọc và nhận được nhiều ý kiến đóng góp, phản hồi, phản biện xung quanh các vấn đề liên quan đến các kết luận của thiền sư về lịch sử Việt Nam. Tuy nhiên, có thể do chưa có đầy đủ tư liệu, thiền sư Lê Mạnh Thát đã chưa đi sâu vào phân tích và nghiên cứu một chủ điểm quan trọng, đó là lịch sử dân tộc thời kỳ Hùng Vương.
Thời đại Hùng Vương trong lịch sử dân tộc Việt có tồn tại hay không và tồn tại như thế nào? Đây là một câu hỏi của không ít con dân người Việt ngày nay, còn đang loay hoay trước sự đa dạng và khó phân định của các lập luận từ nguồn tư liệu sử học khi nhìn về nguồn cội.
Từ lòng yêu mến đối với lịch sử nước nhà, tôi có may mắn được gặp sư thầy Tâm Hiệp trên hành trình tìm về nguồn cội của thầy. Thầy Tâm Hiệp là một người từ bé đã xuất gia theo Phật nhưng lại có tình yêu đặc biệt với văn hóa Việt. Thầy cho rằng, văn hóa của người Việt là nền văn hóa được xây dựng từ lòng biết ơn và niềm thương kính với nguồn cội. Từ đó, xếp gọn y vàng, thầy rong ruổi trên khắp các nẻo đường của vùng đồng bằng Bắc bộ và ở quê hương Quảng Trị để nghiên cứu tìm hiểu vấn đề này. Bên cạnh trang kinh là những tập tư liệu Hán Nôm thầy tìm được từ những ngày điền dã khắp các vùng quê trong dân gian.
Mới gần đây, cùng với Nhóm nghiên cứu di sản văn hóa Đền miếu Việt, thầy Tâm Hiệp đã cho ra mắt cuốn sách: Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả sưu khảo. Đây là bản sưu tầm, dịch và phiên chú đầy đủ tư liệu phả ký lưu giữ tại Hùng Vương miếu ở thôn Vân Luông, xã Vân Phú, Việt Trì, Phú Thọ. Cuốn sách đã được nhà xuất bản Dân trí xuất bản đúng vào dịp giỗ tổ 10/3 năm 2020.

2Ngai thờ 3 vị vua Hùng ở thôn Cổ Tích, xã Hy Cương, Việt Trì, Phú Thọ.

Mỗi lần về với đền Hùng vào ngày giỗ tổ, tôi luôn tự hỏi, đền Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh hiện đang thờ ai? Khi nói chuyện với các hướng dẫn viên ở đây thì được biết ở cả 3 khu đền Thượng, đền Hạ và đền Trung trong quần thể di tích đều đặt 3 ngai vị là:

  • Đột ngột Cao Sơn Cổ Việt Hùng Thị thập bát thế Thánh vương
  • Ất Sơn Thánh vương
  • Viễn Sơn Thánh vương

Người hướng dẫn ở đền Hùng giải thích với tôi rằng đây là ba vị thần núi, tương ứng 3 ba chòm núi Nghĩa Lĩnh, núi Trọc và núi Vặn ở vùng Việt Trì. Tuy nhiên, điều này không khỏi làm tôi hoang mang. Chẳng nhẽ quốc tổ vua Hùng nước ta lại là 3 vị thần núi? Tôi đem băn khoăn này chia sẻ với sư thầy Tâm Hiệp và xin mạo muội ghi lại những ý chính được sư thầy giải đáp dưới đây.
Sư thầy Tâm Hiệp cho biết, đền Hùng nằm ở thôn Cổ Tích, xã Hy Cương, còn lưu giữ được bản Hùng Vương Ngọc phả soạn vào năm Hồng Đức nguyên niên (1470) bởi Hàn lâm viện trực học sĩ Nguyễn Cố. Cuốn ngọc phả này kể lại sự tích các vị vua Hùng từ đầu cho tới khi Triệu Đà diệt An Dương Vương lập nước Nam Việt. Tuy nhiên, trong cuốn ngọc phả của Hy Cương lại không hề đề cập đến các tên gọi Đột Ngột Cao Sơn, Ất Sơn và Viễn Sơn. Đây là lý do làm cho các nhà nghiên cứu cho rằng 3 ngai vị ở đền Hùng là 3 vị thần núi địa phương. Từ đó, cả ban quản lý Đền Hùng và những người dân cũng chỉ biết chung chung như vậy.
Nhưng nay, với phát hiện bản Hùng Vương Thánh tổ Ngọc phả lưu tại đền Vân Luông thì sự việc về 3 vị vua Hùng được thờ trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết. Phần thứ nhất trong bản Ngọc phả có tên Nam Việt Hùng Vương ngọc phả vĩnh truyền tự điển, trong đó ghi chép đầy đủ các tên gọi, ngày sinh, thời gian trị vì của các đời vua Hùng. Theo cuốn điển thờ này thì Đột Ngột Cao Sơn là mỹ tự truy phong (tên thờ) của Hùng Quốc Vương 雄國王, người con trưởng trong trăm trai. Tương tự, Viễn Sơn là thụy hiệu của Hùng Hy Vương 雄㬢王 và Ất Sơn là thụy hiệu của Hùng Hi Vương 雄曦王, 2 vị vua Hùng kế tiếp Hùng Quốc Vương.
Như thế, đền Hùng ở Phú Thọ thực chất là thờ 3 vị vua Hùng đầu tiên của thời đại Hùng Vương, là những vị vua Hùng được ghi chép trong điển thờ quốc gia (ngọc phả). Không thể có chuyện quốc tổ người Việt lại là 3 vị thần núi.

1
Trang đầu của cuốn Nam Việt Hùng Vương Ngọc phả vĩnh truyền miêu duệ tôn điệt ức vạn niên hương hỏa tự điển tôn sùng.

Ngọc phả Hùng Vương bàn rằng: Xưa Tiền Hoàng đế Thánh tổ Cõi lớn trời Nam, Hùng Vương Sơn Nguyên, đã gây dựng cơ đồ, thủy tổ Việt Nam, mở nước Cổ Việt Hùng Thị, mười tám đời thánh vương ngự trị Cõi lớn trời Nam, mở mang hùng đồ nước Việt, nước biếc một dòng, bắt đầu vận vua sáng đế thánh. Núi xanh vạn dặm, lập nền đô thành điện báu, mở vật giúp người, thống trị mười lăm bộ, giữ thế mạnh trước phiên thần, nối tiếp phát huy cõi đất lớn thành Viêm Hồng, do vua trị nước hơn ba ngàn năm, mãi giúp cho dòng giống vững như bàn đá. Hiển ứng linh thiêng ở Nghĩa Lĩnh, truyền trăm đời đế vương ngự ở Việt thành, muôn năm thánh điện núi Hùng, đất tổ trời Nam, gốc nước cơ đồ, vạn xuân tôn kính, ngàn xưa chảy mãi.
Đối với những người “ngoại đạo” như tôi, thời đại Hùng Vương luôn là một điều bí ẩn đến khó hiểu. Ví như, tại sao 18 đời vua Hùng lại kéo dài hơn 2600 năm? Tuổi thọ trung bình mỗi đời vua Hùng vậy có quá lạ không?
Khúc mắc này cũng được sư thầy Tâm Hiệp giải đáp bằng những thông tin từ bản Ngọc phả Hùng Vương mới phát hiện. Theo đúng nguyên bản của Nam Việt Hùng Vương Ngọc phả vĩnh truyền tự điển, 18 đời Hùng Vương không phải là 18 vị vua. Mỗi một đời Hùng Vương là một triều đại kéo dài. Mỗi triều đại mang cùng một tên hiệu có thể có 1 hoặc nhiều vị vua. Ngọc phả gọi là 18 chi như sau:
Đế Minh thống trị vạn bang chư hầu thiên hạ
1.Kinh Dương Vương – chi Càn
2.Hùng Hiền Vương – chi Khảm
3.Hùng Quốc Vương – chi Cấn
4.Hùng Hy Vương – chi Chấn
5.Hùng Hi Vương – chi Tốn
6.Hùng Diệp Vương – chi Ly
7.Hùng Huy Vương – chi Khôn
8.Hùng Ninh Vương – chi Đoài
9.Hùng Chiêu Vương – chi Giáp
10.Hùng Uy Vương – chi Ất
11.Hùng Trinh Vương – chi Bính
12.Hùng Võ Vương – chi Đinh
13.Hùng Việt Vương – chi Mậu
14.Hùng Định Vương – chi Kỷ
15.Hùng Triều Vương – chi Canh
16.Hùng Tạo Vương – chi Tân
17.Hùng Nghị Vương – chi Nhâm
18.Hùng Duệ Vương – chi Quý
Ngọc phả Hùng Vương ghi rõ: Từ đầu tính nước họ Hùng 18 nhánh truyền ấn phù quốc gia, 180 đời đế vương lên ngôi, nhất thống núi sông, xe sách trị nước, kiến dựng 120 điện thành… Cộng các năm trị vì, 18 đời thánh vương di truyền, thánh tử thần tôn, triều đại đế vương, hưởng ngôi cộng là 2655 năm, thọ 8618 năm, sinh 986 chi hoàng tôn công chúa, sinh cháu chắt cộng là 14.370 người, trị ở nước Nam, đầu núi góc biển, vạn thế trường tồn, mãi mãi không ngừng.
Như vậy, thời đại Hùng Vương có tới 180 vị đế vương, kéo dài 2655 năm. Tính ra trung bình mỗi vị vua Hùng trị vì khoảng 15 năm, thọ khoảng 48 tuổi. Đây là những con số hoàn toàn rất thực tế.
Còn nhiều điều nữa được ẩn chứa qua từng trang Ngọc phả. Ngọc phả ngày nay trở nên hoang đường là do bởi chính chúng ta đọc tự điển của cha ông với một thái độ thờ ơ, nghi ngờ, không muốn hiểu di sản của tổ tiên để lại nghĩa là gì, không muốn biết thông điệp của cha ông gửi gắm qua từng trang sách quý, từng được lưu giữ trân trọng như vật thờ cúng.
Ngọc phả chính là “chìa khóa” về nguồn cội, là cuốn Thiên thư giúp phân định được không gian, thời gian và con người Việt ở thời xa xưa nhất. Đây là một báu vật đúng như nó được ghi:
Cho nên quốc triều mới tiến hành soạn sách Nam Thiên bảo lục, để mãi ban cho hậu thế, con cháu dòng dõi lưu truyền muôn đời. Chỉ truyền cho người hiền, không truyền cho người thiếu phép tắc. Sự tích này không thể đem cho người ngoài.

3Sư thầy Tâm Hiệp và đoàn dâng hương ở đền Trung trên núi Nghĩa Lĩnh.

Xin thành tâm thắp một nén hương dâng lên Cửu trùng thiên điện ở núi Hùng, đọc lại những dòng Ngọc phả về thời kỳ dựng nước, ngâm lên câu đối trên chính điện đền Trung:
Thiên thư định phận, chính thống triệu Minh đô, Bách Việt sơn hà duy hữu tổ
Quang nhạc hiệp linh, cố cung thành tụy miếu, Tam Giang khâm đái thượng triều tôn.
Nghĩa là:
Sách trời định phân, chính thống dựng Minh đô, núi sông Bách Việt duy có tổ
Núi tỏa linh thiêng, cung cũ lập miếu đền, một dải Tam Giang hướng về nguồn.

Minh Thi
Bài đăng trên báo Lao động cuối tuần số 26 từ 26-28/6/2020

26

262

Tết Đoan Ngọ là ngày lễ gì trong sử Việt?

Câu ca dao lưu truyền:
Tháng năm là tết Đoan Dương
Nhớ ngày giỗ mẹ Việt Thường Văn Lang.
Vậy tế Đoan Dương hay Đoan Ngọ ngày 5 tháng 5 là ngày giỗ ai?
Cuốn Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả đem lại câu trả lời rõ ràng.
Phần Nam Việt Hùng Vương ngọc phả vĩnh truyền tự điển ghi:
Hùng Quốc Vương… giờ Ngọ ngày 5 tháng 5 năm Canh Ngọ cùng sinh với trăm vương năm Canh Ngọ.
Phần Nam Việt Hùng Thị sử ký ghi:
Tới đầy tuần sinh nở, vào năm Canh Ngọ ngày 5 tháng 5, đúng ban ngày giờ Ngọ, mặt trời chiếu thẳng. Cái thai thần của Âu Cơ chuyển động, rồng mây đầy nhà, ánh sáng loé lên. Trong trướng, hoàng phi sinh ra một bọc ánh như ngọc trắng, hương lạ thơm nức.
NVHVNP040
Trang Nam Việt Hùng Thị sử ký ghi giờ Ngọ ngày 5 tháng 5 năm Canh Ngọ Âu Cơ đĩnh sinh bào ngọc trăm trứng.
Ngày 5 tháng 5 là ngày mẹ Âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng, nở ra trăm trai. Người con trưởng là Hùng Quốc Vương lên làm vua, lập nước Văn Lang. Đây chính là sự kiện đĩnh bách nam khai Bách Việt như câu đối ở đền Hùng nói tới.
Số 5 là con số trung tâm của Hà Lạc, chỉ thủ lỉnh. 5 là Ngũ, cũng là Ngọ. Do đó giờ Ngọ, ngày Ngọ, tháng Ngọ, năm Canh Ngọ đều có ý chỉ vua, chỉ thủ lĩnh của cả cộng đồng dân tộc Bách Việt.
Ngày Đoan Ngọ là ngày “giỗ mẹ Việt Thường“, tức là bà Âu Cơ. Khi bà mẹ của triều đại trước mất (ngày giỗ) thì cũng là ngày triều đại kế tiếp bắt đầu. Mẹ Việt Thường tên là Văn Lang tức là Chu Văn Vương.
A03 den Au Co
Đền Hiền Lương nơi thờ Âu Cơ tại Hạ Hòa, Phú Thọ.
Ngày Đoan Ngọ cũng là ngày sinh của Hùng Quốc Vương và trăm người con trai, nên mới có tên Văn Lang trong câu ca dao. Ý chỉ là ngày khởi đầu của Bách Việt với nước Văn Lang là vua chủ.
Tết Đoan Ngọ do đó là lễ ngày lập nước Văn Lang, dựng nên cơ đồ Bách Việt từ bà mẹ Âu Cơ. Đối chiếu Hoa sử thì đây là ngày Chu Văn Vương (tức Âu Cơ) mất, Chu Vũ Vương (tức Hùng Quốc Vương) lên ngôi, mở đầu thiên hạ nhà Chu, phân phong các chư hầu trăm nước (Bách Việt).
Câu đối ở đền Hiền Lương, nơi thờ quốc tổ Âu Cơ:
遡鴻厖締結以來僊種永傳留國祖歷家郡肇修而後人群緬慕播炎邦
Tố hồng mang đế kết dĩ lai, tiên chủng vĩnh truyền lưu Quốc tổ
Lịch cô quận triệu tu nhi hậu, nhân quần miễn mộ bá Viêm bang.
Dịch:
Nhớ thủa hồng mang gắn kết tới nay, nòi tiên mãi lưu truyền là Quốc tổ
Trải đất cô quận dựng sửa sau về, bầy dân luôn ngưỡng mộ khắp Viêm bang.

Thời đại Hùng Vương kết thúc khi nào?

Bản Hùng đồ thập bát thế thánh vương ngọc phả cổ truyện do Nguyễn Cố soạn thời Lê Hồng Đức (1470) là bản Ngọc phả Hùng Vương được lưu ở thôn Cổ Tích, xã Hy Cương và hiện được dùng làm bản Ngọc phả chính của di tích Đền Hùng ở Phú thọ. Bản ngọc phả này so ra thì tương ứng với phần Nam Việt Hùng Thị sử ký do Nguyễn Đình Chấn soạn năm Hùng Vương 32 (thời Minh Mạng), nhưng ở phần kết thúc còn có thêm một đoạn. Trong Nam Việt Hùng Thị Sử ký của Nguyễn Đình Chấn thời đại Hùng Vương kết thúc bằng sự kiện Thục An Dương Vươn lập cột đá thề ở Nghĩa Lĩnh và cho thờ cúng các thế hệ Hùng Vương. Còn trong cuốn Ngọc phả của Nguyễn Cố có thêm phần sau (dịch theo Ngô Đức Thọ):
Thục An vương kế nối trị nước được 50 năm thì xẩy ra việc nhà Tần lập các đạo quân gồm những dân phạm tội phải chạy trốn lưu vong, những người đi ở rể bị bán làm binh, sai Hiệu uý Đồ Thư làm tướng chỉ huy, sai Sử Lộc đào cừ chở lương thực, tiến sâu vào đất Lĩnh Nam, chiếm đất Lục Lương, đặt các quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng Quận; lấy Nhâm Ngao làm Thái thú Nam Hải, Triệu Đà làm quan lệnh huyện Long Xuyên. Nay ở đình Phân Thuỷ huyện Hưng Yên có miếu thờ. Biền đề ở miếu: Khai vật tế nhân. Câu đối ở miếu như sau:
Tưởng Việt Thành thâu túc, thuỳ sử nhất hoằng bích thuỷ, tiện vãn vận khởi hồng đồ
Niệm Nghĩa Lĩnh khai cương, cánh nhĩ sổ thanh sơn, lưu cao trạch nhi thành đô hội.
Rồi đó Nhâm Ngao, Triệu Đà thừa cơ gây hấn, đem quân sang xâm lược. Triệu Đà đóng quân ở núi Tiên Du Bắc Giang giao chiến với An Vương. An Vương lấy nỏ thần ra bắn. Triệu Đà thua trận bỏ chạy. Đà biết Thục có nỏ thần, không thể đối địch đựơc, bèn cho con là Trọng Thuỷ vào làm lính hầu (túc vệ) trong cung An Vương. Rồi Trọng Thuỷ cầu hôn vương nữ Mỵ Châu. Trọng Thuỷ dụ Mỵ Châu lấy trộm nỏ thần cho xem rồi tháo đổi cái lẫy khác. Sau đó Thuỷ về báo cho cha biết.
Triệu Đà bèn phát binh đánh An Vương. An Vương không ngờ cái lẫy thiêng đã bị mất, khi ấy đang đánh cờ vây, cười nói: “Đà không sợ nỏ thần sao?”.
Quân Triệu Đà vây áp đến nơi, An Vương lấy nỏ ra bắn, nỏ gẫy, bèn lui chạy. Thế là cơ đồ họ Hùng mất.
Từ Triệu Vũ Đế (huý Đà) kế trị đến các triều Đinh Lê Lý Trần cho tới nay triều Lê ta đều chuẩn y việc phụng thờ ở cung miếu, chuẩn cho làng Trung Nghĩa thuộc bản xã theo đúng lệ cũ được hưởng tạo lệ, miễn trừ tô thuế binh dân cùng là các khoản sưu sai tạp dịch, giao cho dân bản xã phụng thờ cầu chúc cho mệnh mạch quốc gia trường tồn, lưu thơm muôn thủa.
Ô hô! Thịnh thay!

IMG_5952
Đền Cổ Loa.

Như vậy, theo quan niệm của thời Nguyễn (bản Nam Việt Hùng Thị sử ký) thì thời đại Hùng Vương kết thúc vào khi An Dương Vương lên thế Hùng Vương. Nhưng theo quan niệm của thời Lê (bản Hùng đồ thập bát thế thánh vương ngọc phả cổ truyện), thời đại Hùng Vương lại kết thúc vào thời Triệu Đà.
Ngọc phả ghi: An Vương lấy nỏ ra bắn, nỏ gẫy, bèn lui chạy. Thế là cơ đồ họ Hùng mất. Tức là cơ đồ họ Hùng kết thúc vào sau khi An Dương Vương mất ngôi. An Dương Vương được coi ở đây cũng là một triều Hùng.
Thậm chí câu đối ở đình Phân Thủy tại Hưng Yên nơi thờ Triệu Đà (có lẽ nay là đình Xuân Quan ở Văn Giang) còn ca ngợi thời Hùng Vương:
想越城輸粟誰使一泓碧水便挽運以啟洪圖
念義嶺開疆竟尔數里青山流膏澤而成都會
Tưởng Việt Thành thâu túc, thuỳ sử nhất hoằng bích thuỷ, tiện vãn vận khởi hồng đồ
Niệm Nghĩa Lĩnh khai cương, cánh nhĩ sổ thanh sơn, lưu cao trạch nhi thành đô hội.
Dịch:
Nhớ thủa Việt Thành chở lúa, ai khiến một dòng nước biếc, thuận vận sau để tạo hồng đồ
Nghĩ khi Nghĩa Lĩnh mở nền, người qua bao dặm núi xanh, thấm ơn dày mà nên đô hội.

IMG_2269Nghi môn Long Hưng điện ở Xuân Quan, Văn Giang, Hưng Yên.

Lịch sử Việt phát triển trải qua các nấc thang. Đầu tiên là thời lập quốc của Đế Minh – Kinh Dương Vương, đi khai mở Nam Giao, dựng điện thành ở Nghĩa Lĩnh. Rồi qua thời kỳ phụ đạo cha truyền con nối của Lạc Long Quân. Nổi lên một xã hội phát triển rực rỡ của Hùng Quốc Vương nước Văn Lang với hàng trăm chư hầu phiên thuộc. Thời đại Hùng Vương được coi là kết thúc khi các nước chư hầu được thống nhất, hình thành chế độ quản lý bởi nhà nước trung ương (thời kỳ phong kiến tập quyền). Thời kỳ này như trên được lấy vào thời An Dương Vương hoặc Triệu Đà.
Thực chất, sự kiện năm 256 TCN nhà Tần diệt thiên tử Chu, xưng đế thống nhất thiên hạ, được sử Việt kể là chuyện An Dương Vương nhận ngôi từ Hùng Vương. An Dương Vương lập cột đá thề là chuyện Tần Thủy Hoàng lên núi Thái Sơn phong thiện (tế trời đất) lập bia ghi công đức của nhà Tần. Do đó mốc An Dương Vương kết thúc Hùng Vương cũng là lúc chế độ quận huyện, nhà nước tập quyền ra đời trên toàn lãnh thổ Trung Hoa.

IMG_2270
Tượng Triệu Vũ Đế ở Xuân Quan.

Còn sự kiện Triệu Đà diệt An Dương Vương là chuyện Lưu Bang từ vùng Bắc Việt khởi nghĩa kháng Tần thắng lợi năm 206 TCN. Cũng vì thế mà Triệu Vũ Đế được coi là tiếp nối quốc thống từ Hùng Vương và có những câu đối ca ngợi về Nghĩa Lĩnh, Việt Thành cùng công đức Hùng Vương như trên ở đình Phân Thủy. Hiếu Cao Tổ Lưu Bang là người đã dẹp loạn thời hậu Tần, thống nhất cục diện phân tranh Hán – Sở, đặt nền móng lâu dài cho chế độ phong kiến tập quyền, Trung Hoa nhất thống, nối tiếp bước phát triển của dòng họ Hùng từ Tam Hoàng Ngũ Đế…

Thấy rành như vẽ mới làm thơ

Tôi viết bài thơ thủa Hùmg Vương
Cao Sơn đột ngột mở con đường
Vạn bang có chủ từ khi ấy
Thái Sơn núi tổ của muôn phương.

Kìa trông núi Lịch chốn Sơn Tinh
Nam quốc Anh Hoàng chuyện sử tình
Cầu hiền há kể Di hay Dị
Vua Thuấn cày trên ruộng Lạc Kinh.

Sự xưa kể lại mẫu Thần Long
Khai tộc Cha Tiên với Mẹ Rồng
Mây phủ Động Đình ngàn năm đó
Thánh kế thần truyền tự Lạc Hồng.

Hơn bốn ngàn năm sử nước ta
Lạc Long đánh dấu đức vua cha
Tiếp diệt Ân vương phân bang ấp
Trăm nước trăm quan hội một nhà..

Cái thời sơ sử thế mà nhanh
Vươn vai Phù Đổng hóa tinh anh
Dịch lý soi đường dân Bách Việt
Cố hương cố tổ mãi lưu danh.

HÙNG VƯƠNG NĂM 32

Cuối bản Nam Việt Hùng Thị sử ký hiện lưu ở đền Vân Luông (Vân Phú, Việt Trì, Phú có đề:
Năm 32 đời Hùng Vương, ngày trong tháng đầu xuân.
Hàn lâm học sĩ Quốc tử giám Nguyễn Đình Chấn
Vậy năm 32 đời Hùng Vương là năm nào?

Trang 103
Xét thông tin từ bản Ngọc phả Hùng Vương đã phát hiện ở thôn Cá Đô (An Đạo, Phù Ninh, Phú Thọ) thì cuốn Nam Việt Hùng Thị sử ký có tác giả là quan Hàn lâm Học sĩ Quốc tử giám Nguyễn Đình Chấn. Ban giám khảo bản Ngọc phả này là ông Lễ bộ Tả Thị lang – thần Phạm Quỹ, Hình bộ Tả thị lang- thần Nguyễn Hanh, Binh bộ Tả thị lang – thần Trương Quốc Hoa, Binh bộ Hữu thị lang- thần Phạm Quĩ, Hình bộ Tả thị lang – thần Vũ Hồn, Quang lộc tự khanh Biện lý Lễ bộ sự vụ Lê Thiện, Hồng Lô tự kiêm Biện lý hộ, Bộ sự vụ – thần Mai Đức Thường, Lễ bộ lang Trung biên, Lý bộ vụ – thần Nguyễn Đức Tân.
Trong đó có Mai Đức Thường là một trong những sứ thần Việt Nam đi sang nhà Thanh dưới thời Minh Mạng. Vì thế, cuốn Sử ký trên được biên soạn quãng thời kì Minh Mạng. Vậy phải hiểu “năm 32 đời Hùng Vương” là như thế nào?
Có thể thấy thời kỳ này các vua Nguyễn cho mình là dòng dõi Hùng Vương, do đó “đời Hùng Vương” ở đây chỉ triều đại nhà Nguyễn. Cách xưng này tương tự cách xưng “Long Phi” hay gặp trong các hoành phi câu đối và văn bản thời Nguyễn, là cụm từ chỉ chung một đời vua đương triều (thường dịch là “Vua ta”),  chứ không theo niên hiệu thông thường.
Nhà Nguyễn bắt đầu từ khi vua Gia Long lên ngôi năm 1806. Như thế năm 32 đời Hùng Vương – nhà Nguyễn sẽ là năm 1837. Đây đúng là năm dưới thời vua Minh Mạng.
Dòng lạc khoản “Năm 32 đời Hùng vương” của Nam Việt Hùng Thị sử ký là một dẫn chứng cho biết rằng nhà Nguyễn đã lấy danh hiệu Hùng Vương chỉ chính cho cả triều đại của mình. Vua Minh Mạng cũng là người đã cho lập nhiều di tích thờ cúng Hùng Vương như Miếu Lịch Đại Đế Vương ở Huế, đúc Cửu đỉnh… Bản thân ở đền Vân Luông tại Việt Trì, nơi lưu giữ bản Hùng Vương Thánh tổ Ngọc phả cũng còn bức hoành phi “Nam Thiên Chính Thống” của thời Minh Mạng.

A35 Nam Thien chinh thong

Chiêm quan chữ nghĩa Đền Hùng

Hàng trăm con chữ rờ rỡ uẩn súc, bao ngữ nghĩa lấp lánh tâm thức Việt trên những hoành phi câu đối giăng từ Đền Hạ Đền Trung Đền Thượng Đền Giếng… trong khu Di tích Đền Hùng. Chữ mới nhất cũng tròm trèm gần thế kỷ. Bao bận được kính cẩn quan chiêm như thế mà vẫn thấy khó dứt mắt…

Cao Son Canh HanhNgôi Đền thiêng kết cấu hình chữ Vương tọa lạc trên Nghĩa Lĩnh ở độ cao vừa phải 175 mét gồm các quần thể Đền Hạ, Trung, Thượng đã được bao năm rồi nhỉ? Thời vua Đinh Tiên Hoàng thế kỷ thứ X cho viết thần tích Đền Hùng nhưng nơi thờ tự vua Hùng đã có từ lẩu lâu.
Và thời gian nào Hùng Vương Cơ Miếu (miếu thờ cơ nghiệp Vua Hùng) từ làng Trẹo (đọc chệch từ Triệu) ở chân núi Hy Cương được ai, triều nào dời sang bên Nghĩa Lĩnh?
Tôi nghĩ đến cái lần giặc Minh hung bạo triệt phá Đại Việt trong đó có việc làm cỏ Đền Hùng. Thần tích rõ là bị hủy. Nhưng còn bao câu đối hoành phi? Chắc cũng cùng chung số phận?
May mà thời Lê Trịnh, Đền lại được phục dựng, lại nguy nga! Nhưng xôm tụ bàn thờ Quốc Tổ được như bây giờ phải tính đến công sức của dân 18 tỉnh thành miền Bắc đâu như năm 1917 hay 1918 chi đó, đã có một cuộc lạc quyên lớn góp được hơn 6.000 đồng bạc Đông Dương để sửa sang tu bổ Đền Hùng.

Uẩn súc ngữ nghĩa
Khá khen cho cái lần trùng tu năm 1917 quy mô ấy. Việc đầu tiên phải tính đến cái cổng chính Đền Hùng? Xây mới hay trùng tu? Đau cái nỗi, cận gần là thế mà chưa tìm ra những biên chép cụ thể. Nhưng có lẽ từ thời điểm đó, con dân nước Việt hành hương, mới đến cổng thôi, chưa nhịp bước leo những Hạ, Trung, Thượng mà có cảm giác như đương chạm mặt trước Bàn thờ Quốc Tổ?
Ngước lên sừng sững bức hoành là 4 chữ trên nóc cổng Cao sơn cảnh hành (Núi cao, ngẩng trông. Đường rộng ta bước). Vế đối hai bên như lời diễn giải ý nghĩa của bức đại tự:
Thác thủy khai cơ, tứ cố sơn hà qui bản tịch
Đăng cao viễn vọng quần phong la liệt tự nhi tô
n
(Mở lối đắp nền, bốn phía non sông qui một mối
Lên cao nhìn rộng, núi non trùng điệp tựa đàn con
)
Khéo là thứ đại tự ấy. Núi cao ta ngẩng đầu trông/ Đường rộng ta bước đất thiêng Đền Hùng. Có người đã mạo muội diễn nôm 4 chữ ấy. Mạo muội bởi 4 chữ này lấy từ Kinh Thi. Cao sơn ngưỡng chi, cảnh hành hành chi. Duyên do ông Nhan Hồi học trò Khổng Tử, ca ngợi đạo của Thày mình:
Ngưỡng chi di cao, toàn chi di kiên, chiêm di tại tiền, hốt yên tại hậu
(Càng ngẩng trông, càng thấy cao, đục đẽo vào càng thấy cứng, vừa thấy đằng trước, thoắt đã đằng sau).
Thôi thì những cao thâm này khác của tích Tàu, nếu tán ra thì còn dài. Nhưng lần sửa sang xây cất ấy, những hiệp thợ Việt tuân người mách bảo, chỉ chăm chút có 4 chữ mà thôi. Cao sơn cảnh hành. Ngẩng trông lên là ân đức của Vua Hùng. Dưới chân là đường rộng như cơ đồ cơ nghiệp vua Hùng đã mở mang cho tộc Việt!
Nhớ bận ấy lên Đền, tình cờ đụng được một vị áo chùng, khăn đóng, giọng hào sảng đương cắt nghĩa cho các người cùng đi ngữ nghĩa uyên thâm của đôi câu đối mà nhằm vào hai chữ “thác thủy” khởi đầu vế đối. “Thác” nghĩa là nâng lên, là tạo dựng. Rõ rồi. Còn “thủy” có bộ “nữ ” bên trái và chữ “thai” bên phải tượng trưng cho phụ nữ nghĩa là sinh nở.
Như vậy, thác – sức lực tạo dựng nên hiểu đó là Cha. Thủy – sinh nở, tức là Mẹ! “Thác thủy” là lấy tích Cha Lạc Long Quân và Mẹ Âu Cơ sinh trăm con tỏa khắp nơi nhưng đều quy về một mối tức gốc tổ!
Lại cũng khá khen cho tác giả câu đối! Dùng chữ nghĩa sao đó khiến hậu thế nổi… hứng có thể sáng tạo ra những ngữ nghĩa không ngờ? Đã đành Thủy do hai chữ “nữ” và “thai” hợp thành. Nhưng oái oăm, Thai ở đây không phải là… thai sản.
Thủy càng chả phải là sinh nở mà vẫn ngữ nghĩa của nó là mới. Thác thủy khai cơ là dựng nền mở lối mới vậy! Nhưng vị nọ với tâm thế luôn đăm đắm hướng về nguồn cội, cắt nghĩa như thế cho đám con Lạc cháu Hồng nghe, áng chừng thú vị và cũng lọt tai đấy chứ nhỉ?
Cũng như bức hoành Triệu Tổ Nam Bang hoặc Nam Việt Triệu Tổ (thứ khắc thứ đắp) người thuyết minh hướng dẫn đã dõng dạc như trong vài ba cuốn sách hẳn hoi là Tổ muôn đời của nước Nam.
Nghe có vẻ thuận và lọt tai? Nhưng chuẩn vẫn phải gọi đúng cái tên là Tổ đầu tiên của nước Nam! Bởi chữ Triệu được khắc được đắp có một nghĩa duy nhất là bắt đầu là ngay mới. Triệu ở đây không phải là số đếm để mà muôn hay vạn chi cả!

Về một chữ lạChữ trên mặt tiền, Hùng Vương Cơ Miếu.

Lần ấy ghé Hùng Vương Cơ Miếu, tôi chợt thấy một chữ lạ trong đôi câu đối.
Thiên thư định phận, chính thống triệu minh đô, Bách Việt sơn hà tri hữu tổ
Quang nhạc hiệp linh, cố cung thành túy miếu, tam giang khâm đới thượng triều tôn
(Sách trời đã định, chính thống dựng kinh đô Bách Việt non sông có Tổ
Núi sáng khí thiêng, cố cung thành miếu mạo, ba sông quanh quất hướng chầu vua
).
Ba sông ở đây là sông Lô, sông Thao, sông Đà.
Chữ lạ ấy là chữ Bách!
Đã đành chữ, ngữ nghĩa của câu đối uẩn súc, thâm hậu. Tác giả đã hào sảng cái mạch chủ quyền độc lập quốc gia bất khả xâm phạm trong bài thơ Thần của Lý Thường Kiệt khi rinh hẳn tổ hợp từ định phận thiên thư về cho một vế đối ở bàn thờ Quốc Tổ. Nhưng trong câu đối, chữ Bách viết khá lạ. Cứ băn khoăn mãi cái nỗi, không hiểu sao tác giả câu đối lẫn người thợ khắc chữ lại không dùng chữ Bách mà người thạo tiếng Hán ai cũng rành?
Chữ bách ở đây được viết, có thể nói là cường điệu và ở dạng tháu. Tháu đây không có nghĩa là lối viết thảo, giản lược. Mà chữ bách nom từa tựa như chiếc rìu Việt cổ. Hình rìu Việt lại có đầu rìu cuộn lại hình sóng nước, hình rắn và có đầu rắn. Kiểu viết như thế này khiến ta liên tưởng ngay tới Bách Việt. Chao ôi, nội đôi câu đối này thôi, và cũng nội một kiểu viết chữ Bách rờ rỡ nghiêm ngắn đĩnh đạc trên bàn thờ Quốc Tổ kia đã toát lên âm hưởng hùng khí chủ quyền quốc gia bao đời của giống nòi Lạc Việt.
Hình như chữ Bách này khi chuyển câu đối từ Hùng Vương Cơ Miếu sang Đền Thượng ở Nghĩa Lĩnh đã được kíp thợ khắc bằng chữ bách thường thấy, thường viết?
(Một dịp thích hợp, chúng tôi sẽ trở lại chữ Bách này trong một bài viết về hòn đá lạ – thực chất là một đạo bùa đang đặt ở Đền Thượng từng xôn xao cư dân mạng lâu nay. Đó là chữ Bách trong hàng chữ Bách Giải Tiêu Tai Phù – bùa giải tai ách – viết trên một mặt hòn đá)
Một dạo người viết bài này lấy làm tâm đắc ngữ nghĩa đôi câu đối tại Đền Thượng do chính nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Xương, người trai trưởng thi sĩ Tản Đà trực tiếp cắt nghĩa. Câu ấy là:
Thử địa thử sơn, Nam quốc kỷ
Ngô vương ngô thổ, Bắc thần tôn
(Đất này núi này nước Nam dấy nghiệp
Vua ta nước ta khiến phương Bắc cũng phải nể
).
Lần ấy trong buổi trà dư tửu hậu với mấy ông thạo chữ ở Hà Thành, mạo muội hé ra cái điều sở đắc ấy, một ông cười đại ý, cụ Nguyễn Khắc Xương nghĩ thế cũng là được! Nhưng cái sự thể nó không hẳn thế…
Không hẳn là thế nghĩa là cứ chăm chắm nghĩa của Bắc thần tôn thì dễ lạc sang nghĩa khác. Bắc thần tôn thường hiểu và dịch là phương Bắc, Bắc quốc. Bởi phải hiểu và dịch như thế thì mới đối được với vế bên là Nam quốc. Phải quá đi rồi!
Hơn nữa, chữ Thần ở đây (khác chữ thần trong thánh thần buổi sớm, thần chỉ các quan…) gồm bộ Miên, dưới là chữ Thìn. Thần cư là nơi vua ở. Thần chương là văn chương của vua. Chữ Tôn ở đây là tôn trọng nể vì!
Nhưng Bắc thần tôn ở đây phải lấy Luận Ngữ ra mà giải. Đó là câu trong chương Vi Chính. Có câu “Tử viết: Vi chính dĩ đức. Thí như Bắc thần cư kỳ sở nhi chúng tinh củng chi
(Khổng Tử nói rằng, người làm chính trị, cầm quyền trị dân mà dùng Đức để thi hành chính sự thì dân chúng đều tuân phục tựa như ngôi sao Bắc thần, ở một chỗ mà mọi vì sao khác đều phải tuân chầu!)
Vậy đôi câu đối nên hiểu:
Đất này núi này đã được ghi chép là của nước Nam
Vua ta trị vì bằng Đức nên dân ta tôn kính như muôn sao hướng về Bắc Đẩu
.

Hiếm hoi tác giả

Chữ Hùng Vương Tổ Miếu ở Đền Trung. Ảnh: Xuân Ba.

Bao bận ghé Đền mà vẫn cứ bẵng đi cái việc hỏi ông thủ từ Nguyễn Xuân Các, Trưởng Ban Khu Di tích Đền Hùng, sơ bộ thống kê thì Khu Di tích Đền Hùng có bao nhiêu hoành phi câu đối, bao nhiêu là Hán? là Nôm? Là quốc ngữ? Lại nữa, tác giả những bức hoành phi câu đối ấy là ai vậy?
Quả là một điều khiếm khuyết lẫn tiếc xót, như nét mặt rầu rĩ của ông thủ từ khi ắng lặng đi một hồi rồi mới khẽ khàng rằng, đến tận bây giờ, mặc dầu đã hết sức cố gắng bươn bả này khác nhưng nhà Đền vẫn chưa biết tác giả những chữ nghĩa ấy là ai? Được viết và dâng cúng vào Đền Hùng thời gian nào?
Khiếm khuyết ấy ở thời nào vậy? Cứ lẩn thẩn, khi chế tác, các hiệp thợ tiếc chi một dòng lạc khoản (tác giả, triều nào ngày lành trọng đông hay trọng xuân hoặc sơ hạ) thì hậu thế tường ngay! Hoặc giả có một cuốn giấy bổi hay xuyến chỉ chép lại tường tận rồi giao cho thủ từ.
Hay là có những cuốn ấy nhưng qua bao tao loạn biến cố, nó mất đi rồi? Than ôi, bây chừ hậu sinh con cháu về Giỗ Tổ đành ngậm ngùi cảm nhận ngữ nghĩa qua người thuyết minh hoặc các bảng biểu treo trên tường.
Không biết tác giả nhưng thầm đoán phải là những đấng văn chương, các bậc túc nho hay chữ hoặc cao sang hơn phải là chữ nghĩa của các đấng quân vương. Thêm nữa, việc tuyển chọn chữ nghĩa để dâng bàn thờ Quốc Tổ phải từng được tiến hành rất cẩn trọng thì mới chất lượng thế!
Nói vô danh, khuyết danh cả cũng chả phải! Có đấy. Nhưng hiếm hoi làm sao, nghển ngó mỏi cổ cũng chỉ được biết ở Hùng Vương Cơ Miếu có ba bức hoành. Một của vua Duy Tân (Nam quốc sơn hà), hai bức của vua Khải Định (Quyết sơ sinh dânDân sinh là điều tiên quyếtTử tôn bảo chi Con cháu nhớ giữ gìn).
Và cũng hiếm hoi ở Đền Trung có đôi câu đối của Chúa Trịnh Sâm:
Vấn lai dĩ sự tu vi sử
Tế nhận như đồ dục mệnh thi
(Hỏi lại việc xưa nên chép sử
Ngắm xem phong cảnh muốn đề thơ
).
Sở dĩ biết tác giả là Trịnh Sâm bởi hậu thế căn cứ vào Bản dập thủ cảo của Tĩnh vương Trịnh Sâm trên núi Hùng được treo ở Bảo tàng Viễn Đông Bác cổ trước 1945, và chụp đăng trên tạp chí BEFFO,1937.
Chúa có câu đối, vua cũng chả kém. Thơ của vua Lê Hiển Tông (bố vợ của Quang Trung) về Đền Hùng:
Mộ cũ ở lưng đồi
Đền thờ trên sườn núi
Muôn dân tới phụng thờ
Khói hương còn mãi mãi…
Nhưng thơ vua chỉ lưu trong sách, trên Đền không thấy ghi!
Cũng cần nói thêm, chính sử còn chép rõ giai đoạn vua Lê chúa Trịnh đã có sự quan tâm đặc biệt và vương triều này đã góp phần lớn xây dựng lại đền Hùng. Năm 1407 nhà Minh phá trụi thùi lụi Đền Hùng. Khi nước độc lập, triều Lê sơ chiêu dân lập lại làng.
Vua Lê Thánh Tông xây lại đền Trung, đền Hạ, như vậy hầu như hoàn thành xây dựng lại ba đền có từ thời Lý Trần, Tiếp đó xây lại đền Giếng. Năm 1600, thời vua Lê Kính Tông, chúa Trịnh Tùng sai quan thị độc Nguyễn Trọng sao lại tài liệu về đền Hùng. Năm 1727, chúa Trịnh Cương sai Hoàng Nghĩa Chử xây dựng ở Hy Cương tức đền Hùng. Cuối thế kỷ XVIII, vua Lê, chúa Trịnh đề thơ ca ngợi sự nghiệp vua Hùng và cảnh đẹp núi Hùng.
Và cũng hiếm hoi câu đối Nôm? Hiện tạc ở Lăng Vua Hùng:
Lăng tẩm tự năm nào, núi Tản sông Đà non nước vẫn quay về Đất Tổ
Văn minh đương buổi mới, con Hồng cháu Lạc giống nòi còn biết nhớ Mồ Ông.
Khá hay. Nghe nói của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu không biết có phải? Còn quốc ngữ, hình như hiếm hoi mỗi câu. Mà cũng phải trước năm 1945 bởi hồi ấy còn Xứ Bắc Kỳ, Trung và Nam Kỳ?
Con cháu ba kỳ thăm mộ tổ
Non sông muôn thuở rạng nòi Tiên.
Biên ra như thế không có nghĩa là khuyến khích việc cần khẩn trương cúng thêm chữ nghĩa Hán Nôm lẫn quốc ngữ lên bàn thờ Quốc Tổ! Hoàng phi lẫn câu đối Đền Hùng chừng như cũng đã rậm đã dày?
Thôi cứ để tiếp tục lẫn trường tồn cái mạch uẩn súc thoang thoáng như hiện trạng cho thuận mắt! Bởi cứ nghĩ đến những chữ nghĩa trên các hoành các câu đối chăng giăng khắc in một cách tùy tiện, sai be bét, lòe loẹt và ngây ngô ở không ít các đình chùa di tích đã thấy hai hãi!
Sao lại tài liệu về Đền Hùng! Gặp được dòng này trong sử cứ ngỡ như đang vớ được cuốn vở ghi danh tên các tác gia cúng tiến chữ nghĩa vào Đền Hùng mà thời Lê Trịnh từng làm!
Và không phải chỉ thời ấy làm việc đó? Xa hơn cũng như gần hơn? Dẫu thất tán nhưng người nhà Đền lẫn các nhà chức việc hình như chưa ráo riết và siêng năng thực thi cái việc chắp nối sưu tra từ ký ức trong dân gian lẫn việc nối mạng với giới nghiên cứu cùng các nhà bảo tàng trong ngoài nước?
Phập phồng một ngày đẹp giời, hậu thế hành hương Đền Hùng khi chiêm quan chữ nghĩa trên các hoành phi câu đối có được cảm khoái biết thêm được các tác giả cùng lý lịch trích ngang và hoàn cảnh ra đời của những chữ nghĩa ấy!

Đêm Mồng Mười tháng Ba năm Tỵ
Xuân Ba

Ngước lên sừng sững bức hoành là 4 chữ trên nóc cổng chính Đền Hùng “Cao sơn cảnh hành” (Núi cao, ngẩng trông. Đường rộng ta bước). “Cao sơn cảnh hành”. Ngẩng trông lên là ân đức của Vua Hùng. Dưới chân là đường rộng như cơ đồ cơ nghiệp vua Hùng đã mở mang cho tộc Việt!

Bài và ảnh theo báo giấy Tiền phong

NGÀY GIỖ TỔ THÁNG 3 LÀ NGÀY GIỖ AI?

Câu trả lời về nguồn gốc ngày Giỗ tổ Hùng Vương 10/3 sẽ rất đơn giản nếu… đọc cuốn Hùng Vương Thánh tổ Ngọc phả sưu khảo vừa mới ra mắt. Bởi vì trong Ngọc phả này có ghi chép cụ thể ngày sinh ngày hóa từng đời vua Hùng.
Hiện nay, căn cứ theo bia đá năm Bảo Đại thứ 15 lưu ở đền Hùng thì:
Trước đây, ngày Quốc tế lấy vào mùa thu làm định kỳ. Đến năm Khải Định thứ hai (dương lịch là năm 1917), Tuần phủ Phú Thọ là Lê Trung Ngọc có công văn xin bộ Lễ ấn định ngày mồng Mười tháng Ba hằng năm làm ngày Quốc tế, tức trước ngày giỗ tổ Hùng Vương đời thứ 18 một ngày. Còn ngày giỗ (11 tháng Ba) do dân sở tại làm lễ.
IMG_6039
Tấm bia Hùng Vương từ khảo năm Bảo Đại thứ 15 ở đền Hùng.
Trong một văn bia khác sớm hơn, vào năm Khải Định thứ 8 nói rõ hơn việc này, có khắc nguyên công văn trả lời của Bộ lễ cho tỉnh Phú Thọ về việc định ngày 10 tháng 3 làm quốc tế:
… xã Hy Cươnng, phủ Lâm Thao của quý hạt có lăng miếu phụng thờ Hùng Vương ở núi Hùng, trải các năm cả nước đến tế, thường lấy kỳ mùa thu, chọn vào ngày tốt làm lễ, chưa có việc định rõ ngày, mà tục lệ của dân xã đó lấy ngày 11 tháng 3, kết hợp với thờ thổ kỳ làm lễ riêng…
Từ nay về sau lấy ngày mồng 10 tháng 3, lĩnh tiền chi vào việc công, phụng mệnh kính tế trước một ngày so với ngày hội tế của bản hạt, khiến nhân sĩ mọi miền đến đây có nơi chiêm bái…
IMG_6029
 Hùng miếu điển lệ bi năm Khải Định thứ 8.
Theo đó thì ngày giỗ tháng 3 là ngày giỗ của Hùng Vương thứ 18. Tuy nhiên, đền Hùng vốn dĩ không thờ Hùng Vương thứ 18 mà thờ 3 vị vua Hùng đầu tiên. Trong đó vị đầu tiên là Đột Ngột Cao Sơn Cổ Việt Hùng Thị thập bát thế Thánh vương, bài vị giữa. Rất có thể, tuần phủ Phú Thọ đã nhầm ngày kỵ của Đột ngột Cao Sơn, vị thánh vương của 18 đời Hùng, với Hùng Vương thứ 18.
Tra cuốn Ngọc phả Hùng Vương Thánh tổ cho kết quả:
  • Hùng Duệ Vương, vị vua Hùng cuối cùng hóa ngày 5 tháng 5. Hoàn toàn không phải tháng 3.
  • Trong khi đó, Hùng Quốc Vương (Đột ngột Cao Sơn): cùng sinh với trăm vương năm Canh Ngọ. Sau trăm vương cùng hóa vào giờ Thìn ngày 12 tháng 3.
Hung Quoc Vuong
Trang Ngọc phả có ngày sinh và hóa của Hùng Quốc Vương cùng trăm trai.
Đây mới thực sự là nguồn gốc của ngày giỗ tháng Ba. Nhân dân ở Phú Thọ không phải lấy ngày cúng “thổ kỳ” làm ngày giỗ đền Hùng, mà “thổ kỳ” ở đây chính là vua Hùng. Họ làm tế lễ vào ngày 11 tháng 3, trước ngày hóa của Hùng Quốc Vương 1 ngày. Sau này, đến thời Khải Định, nhà nước phong kiến mới theo đó định ngày 10 tháng 3 làm quốc tế, trước ngày lễ của dân tạo lệ 1 ngày.
Hùng Quốc Vương, vị Thái tử (con trưởng) của Lạc Long Quân đã cùng sinh và cùng hóa với 99 người anh em khác. Ngày giỗ tháng 3 là ngày giỗ của vị vua Hùng đầu tiên trong 18 đời Hùng Vương, cũng là ngày giỗ của cả 100 người con trai sinh ra cùng bọc trứng, là thủy tổ của Bách Việt. Vì thế ngày này không chỉ là ngày giỗ của người Việt Nam, mà có thể lấy làm ngày giỗ của cả cộng đồng Bách Việt, vốn cùng một bọc đồng bào.