Thần tích xã Ha Xá

Bộ Lễ triều Lê Thượng thư Quản giám tri điện vâng sao ngọc phả báu cổ truyền

Hoàng đế bệ hạ khâm phung sắc chỉ và thần hiệu là:

  • Đệ nhất Tuấn triết Hồng huân tôn thần Thượng đẳng
  • Đệ nhị Linh ứng tôn thần
  • Đệ tam Anh linh tôn thần.

Sắc phong ba vị đại vương

Hùng chấn linh thanh, 
Tôn nghiêm chính thuận.
Anh dục sơn xuyên, 
Tú chung hà hải.
Cao phối thiên, hậu phối địa, bảo quốc hộ dân, 
Hách quyết thanh, trạc quyết linh, truyền phù quốc kỳ.
Nguy đức tuấn liệt, 
Phổ huệ thuỳ hưu. 

Vua kế ngôi truy phong, lễ có tăng phẩm trật, tuyên tặng vị thứ nhất là Thượng đẳng, vị thứ hai và thứ ba là Tôn thần Trung đẳng. Cho phép trang Ha Xá (xã Mỹ Giang cũ) tổng Vĩnh Lại, huyện Đa Cẩm, quận Thượng Hồng, trấn Dương Tuyền, phụ lão vâng lĩnh sắc văn ba vị, rước về phụng thờ, để cùng giúp bảo hộ lê dân. Vâng thay!

Xưa Phiên Ngung là đất danh hương. Đất bằng, sông đẹp. Trong lại có Lục Giả là tướng Lạc hầu. Đương thời Hán Quang Vũ lấy người thiếp cung tần thứ ba, hết mực sủng ái. Bà chuyên tâm tạo phúc, tích thiện, làm điều nhân, sớm tối hương khói thờ phụng Thượng đế, ba sinh hương lửa một cảnh phong lưu dư giả, giàu có sao. 

Vào một ngày tháng Giêng năm Quý Hợi bà cung tần thứ ba Lê Thị Lang nửa đêm mộng thấy ánh sáng đỏ chiếu đầy nhà, chốc lát có một con rắn hoa trắng cuốn khúc bò tới, hóa thành ba đóa hoa sen trắng. Bà họ Lê giơ tay lấy được ba đóa hoa sen trắng đó. Thế là bà có thai. Mang thai được 13 tháng, đến ngày 13 tháng Hai năm Giáp Tý thì trở dạ. Ngày 15 thì đến kỳ sinh một người con mặt đẹp như hoa đào, sắc sáng rọi nước hồ. Người người đều mừng là bậc danh tướng, danh thần, không phải người thường ở nhân gian có được.  

Đến một ngày tháng Giêng năm Đinh Mão, bà Lê Lang lại mộng thấy một cây đào có một cành, nở hoa kết thành hai quả. Thế rồi có mang thai. Mang thai một năm rưỡi đến ngày 12 tháng Chín năm Mậu Thìn thì trở dạ. Ngày 15 thì đến kỳ sinh. Khi sinh hương thơm bay ngào ngạt, diện mạo khác thường, hình dung quý phái. Cha mẹ thấy việc sinh người con thứ nhất mặt đẹp như hoa đào, ôn lương chính trực nên đặt tên là Tuấn Lương. Người con thứ hai và thứ ba sinh đôi cùng bọc nở ra hai anh em, rạng rỡ vạn đời như thánh thần nên đặt tên là Anh Dung và Lang Hà. Tài năng như sông núi, tư chất thông minh, hiểu biết hơn người. Ở yên một phòng mà tự học đọc xem sách, không cần người chỉ dạy. Lại thạo đàn sáo, tinh thông âm luật. Đến khi trưởng thành, văn võ toàn tài.

Khi ấy Hán Quang Vũ đến nước Văn Lang chiêu tập quân sĩ được 13 vạn, phao lên là 30 vạn quân. Đem quân đến nước Văn Lang mưu đồ chiếm nước. Chia thành hai lộ thủy bộ mà đi. Đến Loa thành chia nhau đánh Đông dẹp Tây, bày binh bố trận để đánh với quân Thục. Thục Vương có Rùa vàng tháo móng để làm lẫy nỏ thần, bắn trong một phát diệt được hai ba trăm người, nên quân Triệu đánh không lại, phải về giữ ở quận Vũ Ninh. Lại chọn ngày lành dẫn quân đến đền Phù Đổng ở Tiên Du, lập đàn chay thành tâm bái yết trời đất và bách linh các nơi. Xuất giáng một ông lão cao hơn 8 thước, râu tóc bạc trắng, xuống ngồi ở nơi đàn tế, cười nói nhảy múa. Mọi người thấy vậy lấy làm lạ, vào tâu với Triệu Vương. Vương thân đón ông lão vào trong đàn, rồi hỏi:

  • Nay ta muốn dẹp Thục Vương chiếm nước, trừ tàn. Thắng thua như thế nào, xin được chỉ giáo.

Ông lão tính toán bấm quẻ hồi lâu rồi nói với Triệu Vương rằng:

  • Như nay chiếm nước phải dùng nhân tài, phong tước cho Tuấn Lương cùng với hai người em. Thiên hạ này sẽ được yên trị. Tự nhiên nghiệp đế sẽ hưng vậy.

Lời nói vừa dứt thì bay lên không mà biến mất. Vương biết là lời dạy của thiên thần, bèn lệnh cho sứ giả đi chiêu tập ba người anh em, quả là nhân tài võ nghệ, đại lượng khoan dung. Triệu Vương triệu tập trăm quan, vào ngày lành lập đàn phong tước, bái Tuấn Lương là Tổng thống, bái Anh Dung là Lạc hầu, bái Lang Hà là Thứ sử. Lại ban cho 5.000 binh mã thành một đạo đi hướng Đông. 

Triệu Vương thầm bày mưu kế, cử trăm quan cầu hôn với con gái của Thục Vương. Triệu Vương có con trai Trọng Thủy cầu hôn với Ngốc Nương (tức Mỵ Châu). Vợ chồng hết mực tin tưởng, yêu thương nhau. Trọng Thủy hỏi Mỵ Châu rằng:

  • Vua ta có vật gì là chân quý?

Mỵ Châu nói:

  • Vua cha có lẫy nỏ, chính thực là Rùa vàng đã tháo móng để làm lẫy, có thể địch được trăm ngàn người.

Trọng Thủy ngầm lấy một lẫy nỏ khác mà đổi đi, rồi nói với vợ rằng:

  • Có chiếc gối gấm lông ngỗng này hãy mang theo người. Đến đâu thì rải nơi ngã rẽ để biết dấu đường vậy.

Trọng Thủy trở về, báo với Triệu Vương. Vương lập tức gọi Tuấn Lương đến bàn bạc, định ngày phát binh tới đánh. Triệu Vương dẫn một đạo quân, giao cho quan Tuấn Lương cùng hai ông em dẫn 5.000 quân, lập tức đến thành Phong Khê bày trận đánh Thục Vương. Vương thấy nguy bèn lấy nỏ thì đã thấy mất lẫy. Thục thua to. Vương cưỡi ngựa ngồi ở trước, Mỵ Nương ngồi đằng sau. Chạy tới cửa sông Nghệ Hoan thì gọi: 

  • Rùa vàng cứu ta.

Rùa nổi lên, hô rằng:

  • Kẻ ngồi sau ngựa là giặc đó, Hãy giết đi.

Rùa đón Thục chúa xuống thủy cung. Quân sĩ thua to. Triệu Vương thắng lớn, cùng với quan Tuấn Lương dẫn quân về thành, tụ tập quân sĩ đãi yến ăn mừng. 

Vào giờ tốt ngày mùng 10 tháng Giêng năm Đinh Hợi, Quang Vũ lên ngôi, lập đô ở Phiên Ngung, phong tước thăng cấp cho quan Tuấn Lương, cai quản thiên hạ thái bình, nhân dân no đủ. Bèn phân quan chức, định ra quốc luật. 

Ngày 12 tháng Mười một năm Ất Mùi, Tuấn Lương bị bệnh, thân thể mệt mỏi, dựa vào lan can mà mơ màng thiếp đi. Ngày 14 quan Anh Dung và quan Lang Hà cũng bị cảm sốt. Tuấn Lương trong cơn mê thấy một người, mình mặc áo xanh, tay cầm cờ vàng, tự xưng là thiên sứ, quỳ trước sân mà nói rằng:

  • Thượng đế có sắc sai gọi Tuấn Lương cùng với hai em về chầu Thượng đế.

Tuấn Lương tỉnh ra, dặn lại. Ngày 15, 16 không bệnh mà mất. Quan viên cùng bệ hạ trong triều đều thương xót. Đến ngày 15 tháng Tám, cùng hội nghị xét tên những trung thần có công lớn với nước, giao cho bộ lễ viết sắc thưởng công cho Tuấn Lương ở 72 đền thờ, cho tiền lập miếu, cùng với cấp cho phụng thờ, giao cho Quản giám đem sắc phong thần đến các trang sách chỗ các miếu đình. Khi đi đến huyện Đa Cẩm, dừng ở đó, tề tựu trang Ha Xá, tổng Vĩnh Lại trao cho phụ lão sắc văn ba vị đón về phụng thờ. Phụ lão cùng nhau nghênh thỉnh danh sư đến trang này, xem thiên văn địa lý, thấy đúng là trang Ha Xá có núi bằng nước đẹp, là đất có thế quý, xây một tòa dựa Càn hướng Tốn, dựa Mão hướng Dậu. Tòa nhà này có ấn đường thẳng giữa tạo án, hai sông hợp dải, phía sau có rồng vòng ôm ấp, lại có dòng nước chầu đến, Huyền vũ quay quanh, đất đẹp thế tinh phong, phát nhiều đinh, giàu có, sau này có giai nhân đẹp đã, ngoại giao anh hoa. 

Trang Ha Xá phụng thờ muôn năm hương lửa thêm sáng, trải các đời linh thiêng như còn đó. Khi sinh có võ công rạng rỡ anh linh giúp vận nước. Khi hóa tất được trang sách thờ tự tôn nghiêm, bảo hộ cho sinh dân. Trang này được nhờ ơn đức lớn lao vậy.

Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn.

Hoàng triều Vĩnh Hữu năm thứ nhất ngày lành tháng giữa thu, Quản giám bách thần tri điện Hùng lĩnh thiếu khanh, thần, Nguyễn Hiền lại tuân theo bản chính của triều trước vâng sao.

Đình Ha Xá

Hà Nội, rốn rồng của Thủy phủ Động Đình

Nằm ở giữa dòng chảy của sông Cái (sông Hồng), từ ngã ba Việt Trì tới khu vực Hà Nam, Hà Nội mở rộng ngày nay gồm các vùng nội đô Thăng Long xưa; vùng Sơn Tây giáp với chân núi Ba Vì; vùng Thanh Trì, Phú Xuyên ở Hữu ngạn sông Hồng; vùng , Đông Anh, Long Biên ở Tả ngạn sông Hồng. Với một địa bàn rộng lớn dọc theo các con sông lớn như vậy, số lượng các di tích thờ các vị thủy thần ở Hà Nội có lẽ đứng đầu trong các địa phương. Các vị thủy thần ở Hà Nội có những hình tượng như sau:

Linh Lang Đại vương

Linh Lang, vị thủy thần hồ Dâm Đàm là vị thần có nhiều hóa thân ở vào các thời. Số di tích thờ Linh Lang chỉ riêng ở Hà Nội tới nay theo thống kê đã lên đến 96 nơi. Theo thần tích lá cờ soái của Linh Lang khi ngài hóa bay đến đâu, nơi đó lập đền thờ, thì con số 172 nơi thờ thực tế còn hơn thế.

Hóa thân phổ biến nhất là Hoàng tử Linh Lang (Hoàng Lang) giúp vua Lý Thái Tông đánh giặc Vĩnh Trinh ở Nam Hải hay đánh giặc Tống. Di tích thờ Linh Lang thời Lý gặp ở hai bên bờ sông Hồng về phía Nam Hà Nội, rất dày đặc ở Long Biên và Thanh Trì, Thường Tín. Cụm di tích của Linh Lang trấn Tây thành Thăng Long như ở đền Thủ Lệ, Ngọc Khánh, Hào Nam là nơi sinh của ngài. Cùng với cụm này là khu vực Bình Đà, Thanh Oai, Quốc Oai cũng thường là sự tích thời Lý. Còn ở đền Voi Phục, nơi Linh Lang hóa thành con Giao long trườn xuống hồ Tây, trở thành thủy thần hồ Dâm Đàm.

Hóa thân Linh Lang thời Trần tạo nên một loạt các di tích liên quan tới nhau. Linh Lang thời Trần được gọi tên là Uy Đô Linh Lang. Chiến tích của Uy Linh Lang là đánh giặc Nguyên Mông bên sông Bạch Đằng. Yên Phụ là nơi sinh, có đền An Trì bên bờ hồ Trúc Bạch là đền thờ Uy Linh Lang rất lớn xưa kia. Nhật Tân là nơi hiển linh bọc trứng, hóa thành 7 con rồng bay lên bên bến sông Hồng mùa hoa gạo nở tháng Hai. Chùa Vân Hồ ở Hà Nội là nơi Linh Lang tu hành. Nơi hóa của Linh Lang được chép theo thần tích là ở Thanh Cù, Kim Động, Hải Dương.

Trong sự tích Linh Lang thời Trần lại thường nhắc tới thánh Linh Lang bắt đầu từ thời Hùng Vương. Bà phi của Diệu Đế sinh ra một bọc trứng, cho là điềm gở, mang bỏ ra bãi Nhật Chiêu. Đến tối trứng nở ra 7 con rồng, bay lên trời sáng rực một vùng. Đây là vị Linh Lang cùng với 7 giáp Đoài hồ (hồ Tây) hiển thánh. Cách thờ với sự tích nhiều lần hóa thân như vậy thấy rõ nhất ở đình Tây Hồ và qua bản ghi chép Linh Lang thần hóa lục.

Trong các sự tích về Linh Lang, hồ Dâm Đàm được chép là kinh đô của Thủy quốc Động Đình. Hồ Tây cũng là nơi Lạc Long Quân cùng với Lục bộ Thủy phủ dâng nước diệt con cáo chín đuôi Cửu vĩ Hồ, tương ứng với Linh Lang Đại vương và Đoài hồ Thất Giáp như được thờ ở phía Đông của Hồ Tây. Di tích Linh Lang và các bộ thủy phủ nằm bao bọc phía Đông của hồ Tây từ Nhật Tân, Quảng Bá, Nghi Tàm, Yên Phụ.

Còn một hóa thân ít thấy hơn là vị Linh Lang sinh vào thời Hùng Duệ Vương, đã cùng với Tản Viên Sơn Thánh đánh giặc Thục. Di tích thờ Linh Lang đánh Thục khá hiếm, ở Hà Nội có đình Huyền Kỳ trong Thanh Oai là thờ theo sự tích này.

Quý Minh Đại vương

Đứng thứ hai về số lượng di tích được thờ là Quý Minh Đại vương, thống kê ở toàn Hà Nội cho con số 84 nơi thờ. Sự tích Quý Minh chủ yếu là vị tướng thời Hùng Vương, nhưng cũng có 2 “dị bản” chính. Phổ biến nhất là Quý Minh là Hữu kiên thần trong bộ ba vị Tản Viên Sơn, là tướng thời Hùng Duệ Vương đánh Thục. Rõ nét nhất theo sự tích này là các di tích của vùng Sơn Tây gần núi Ba Vì. Rải rác khắp Hà Nội là những nơi thờ Quý Minh cùng với Cao Sơn, tức là dưới dạng là một vị Sơn thần.

Một biến thể của sơn thần Quý Minh là vị Hùng Lãng Công của làng Quan Nhân. Sự tích Hùng Lãng Công thời Hùng Vương đánh giặc Nam Chiếu ở Quan Nhân là một cách kể khác về sự nghiệp của thần Lãng Nhạc Quý Minh.

Bên cạnh vị sơn thần Lãng Nhạc Quý Minh Hà Nội còn có những di tích thờ thần Quý Minh với sự tích cổ hơn. Cũng là người em của Thánh Tản, nhưng là con của Lạc Long Quân, tức ở thời đầu của thời kỳ Hùng Vương. Vị Quý Minh này thường được thờ độc lập, với sự tích thần đi từ cửa biển Thần Phù qua Hoa Quật, Long Biên rồi đến ở bến Long Đỗ bên bờ sông Cái. Thần hóa tại đây, là nơi đền thờ Quý Minh ở phường Đông Hà xưa. Đền Đông Hà ở phố Hàng Gai nay không còn nữa, nhưng ký ức về ngôi đền và thần Quý Minh ở đây còn lưu lại trong ghi chép về tục tế Xuân ngưu của Thăng Long xưa.

Một khía cạnh thờ Quý Minh như thủy thần là trong tên phong Đông Hải Quý Minh như ở Thượng Đình hay khu vực Mễ Trì. Di tích miếu Đầm là minh chứng rõ ràng cho tính chất thủy thần của vị thần ở đây. Ngoài ra, đáng chú ý là việc thờ Quý Minh ở đình Đông Xã ở trên đường Thụy Khê. Theo sự tích ở đây thì Quý Minh là anh em đồng sinh với Cao Sơn Đại vương, nhưng lại sinh ra ở ven hồ Tây, với vai trò như một vị thủy thần.

Những vị thủy thần đồng bào

Hình tượng các vị thủy thần có bà mẹ mộng ứng điềm rồng sinh ra một bầu nở ra 5 (có chỗ là 3 hoặc 2) người con, có tướng mạo kỳ dị, tài sức hơn người, lớn lên phù Hùng dẹp Thục là sự tích rất phổ biến ở vùng đồng bằng sông Hồng. Nổi bật hơn cả là câu chuyện về 5 anh em con ông Bộ trưởng Đào Công Bột nhất bào ngũ tử, làm các Long hầu tứ hải thời Hùng Duệ Vương. Trong số đó thường thì vị thứ ba là Trưởng Lệnh được phong chức Thủy tào Phán quan quyền chưởng Trung Hoa quốc tể, tức là tể tướng cầm đầu thủy quân của nước Trung Hoa. 

Theo thần tích thì Thổ Lệnh Trưởng “sinh Bạch Hạc, thác Ba Lương” nên có 2 dòng sự tích. Một là cách kể về thần hiển linh ở ngã ba Bạch Hạc thời Đường Cao Tông trong cuộc đọ sức giữa Thổ Lệnh và Thạch Khanh. Trong dòng chuyện kể về Bạch Hạc Tam Giang là các di tích ở vùng Hoài Đức, Phúc Yên, Quốc Oai, Phúc Thọ, mà nổi tiếng là khu vực Tây Tựu với lễ hội bơi chải làng Đăm. Cùng với đó là một số di bản truyện Thổ Lệnh – Thạch Khanh như ở đình Viên Châu (Cổ Đô) thờ hai vị Thông Hà và Thủy Giang Linh ứng.

Một dạng sự tích theo nơi hóa của thần Thổ Lệnh Trưởng tại Đa Chất, Phú Xuyên, một làng đặc biệt bên ngã ba Tam Kỳ giang xưa. Các di tích dọc sông Hồng ở Thường Tín thường theo thần tích Trung Thành Phổ Tế Đại vương, tên phong của Trưởng Công Thổ Lệnh khi hóa. Hai cách kể ở Phú Xuyên hay ở Bạch Hạc nhìn chung khá giống nhau, nên nhận định rằng đây là một chuyện, một nhân vật là hoàn toàn hợp lý. Quan trọng hơn, nơi hóa của vị con thứ ba tại Đa Chất nằm không xa đền Lảnh, nơi thờ Quan lớn Đệ Tam của Thoải phủ. Sự tích Quan Đệ Tam cũng tương đồng từ một bọc nở ra 3 con Hoàng xà, rồi biến thành người giúp vua Hùng Duệ Vương đánh Thục. Quan Đệ Tam chính là Thổ Lệnh, vị Long hầu quyền cao nhất trong 5 người anh em.

Cùng sự tích nhất bào ngũ tử là các vị Quảng Xung, Quảng Bác, Quảng Tế, Quảng Xung, Quảng Hóa ở khu vực Thường Tín, Vân Đình như đình Giẽ Thượng, Giẽ Hạ, đền Hữu Vĩnh. Cũng là thủy thần xuất thế thời Hùng Vương đánh giặc, nhưng được kể là thời Hùng Vương thứ 8. Thực ra Hùng Vương thứ Tám, ở đây tương đương với Bát Hải Đại vương hay Bột Hải Đại vương, là người cha Đào Công Bột trong sự tích Thổ Lệnh – Thạch Khanh. Đáng chú ý là thần tích Hữu Vĩnh cho biết vị con cả Quảng Xung là con của Kinh Dương Vương. Nói cách khác đây chính là Lạc Long Quân cùng những người em của mình đã đánh đuổi dòng tộc phía Tây (Thục) lên núi mà lập nước họ Đào (Trung Hoa – Hạ).

Một nhóm thần tích và di tích khác về các vị thủy thần là ở vùng hồ Tây, tức hồ Dâm Đàm xưa. Các sự tích này thường có mối liên hệ với Linh Lang hay Uy Đô Linh Lang được thờ ở vùng này. Đó là hai vị Vương Đôi, Vương Ba thờ cùng với Uy Linh Lang ở đình Yên Phụ, là Thất Giáp Đoài hồ gồm Xích Giáp (Uy Linh Lang), Bạch Giáp, Hoàng Giáp, Hắc Giáp, Thanh Giáp, Chu Giáp, Tử Giáp như ở đình Nhật Tân. Khó nhận ra hơn là bộ ba vị thủy thần Triều Đình, Bảo Trung, Minh Khiết ở các di tích của tổng Hoàn Long, Hà Đông xưa  như Nghi Tàm, Quảng Bá, Tây Hồ, Tứ Liên. Ở phía Nam hồ Tây khu vực Hồ Khẩu (nay thuộc đường Thụy Khê) là tích về Cống Lễ Cá Lễ tại đền Dực Thánh và Vệ Quốc. 

Dạng sự tích Ông Dài, Ông Cộc, kể về 2 con rắn là thủy thần xuất thế, từng hộ đê sông Cái cũng là một cách kể về các nhân vật trong nhóm các vị thủy quan thời Lạc Long Quân. Di tích hai vị thủy thần như vậy có thể kể đến đình Yên Phú ở Thanh Trì. Rải rác còn có những cụm di tích thờ các thủy thần cùng bọc tương tự như ở miếu Mạch Lũng (Đông Anh) thờ Ba vị Đại vương thời Hùng Vương.

Thủy Tinh Công chúa

Gắn liền với sự tích nhất bào ngũ tử là bà mẹ đã sinh ra các vị thủy thần đó. Bà được tôn là Thủy Tinh Phu nhân và được thờ ở nhiều nơi. Bà phi sinh ra Uy Linh Lang là Mẫu Hàn Sơn ở Yên Phụ. Bà mẹ sinh ra 5 vị thủy thần thời Hùng Vương thứ 8 ở Thường Tín là mẫu Tiên Dung Châu. Mẫu Thăng Long ở Hồ Khẩu là người vợ của thủy thần Cá Lễ tại đây. Bà Hạo Nương ở Bồng Lai (Đan Phượng), sinh ra Linh Lang thời Lý.

Một vị mẫu khác được gọi đích danh là Mẫu Thoải, con của Động Đình Đế quân trong sự tích Liễu Nghị truyền thư, như đền Dầm tại Xâm Dương (Ninh Sở, Thường Tín). Đình làng Xâm Dương thờ các vị thủy thần của Tứ Hải, tức là có ý cho thấy rằng Mẫu Thoải, Xích Lân Long Nữ, là mẹ của các vị Linh Lang, thủy thượng linh thần. Tổng Xâm Thị xưa của huyện Thanh Trì cũng là nơi tập trung các di tích thờ Linh Lang như ở Xâm Hồ, Xâm Xuyên.

Trên vùng Hà Nội ngày nay rải rác ở các khu vực ven có các di tích thờ Mẫu Thủy Tinh ở dạng hiển linh phù trợ các đời sau, không rõ sự tích xuất xứ. Ví dụ như Nữ Bạch Ngọc Hồ Thuỷ tinh Lân tinh Công chúa thờ ở đền Đống Nước (Ngọc Hà) hay như Mẫu Thủy ở đền Giẻ Sen, Hoài Đức.

Thủy phủ Long Vương

Nói về các Thủy thần của thành Thăng Long không thể không nói tới thần Chính khí Long Đỗ. Vị thần này được thờ là thần trấn Đông Thăng Long tại đền Bạch Mã. Nhiều nơi gọi là thần Quảng Lợi Bạch Mã. Tuy nhiên tên gọi Bạch Mã liên quan đến con ngựa trắng trong sự tích hiển linh về sau, còn bản chất thực sự của thần là Long Đỗ, rốn rồng, tức là trung tâm, nơi kinh đô của Thủy quốc.

Người đã khai lập Thủy quốc ở vùng Động Đình, tức vùng sông biển đồng bằng Bắc Bộ, thì phải là Động Đình Đế Quân, cha của Động Đình Long Nữ (Mẫu Thoải). Động Đình Đế Quân có tên cúng trong Đạo giáo là Thủy phủ Phù Tang Cam Lâm Đại đế, tức là vị Đông Vương Đế Quân, vị thần chủ của các nam thần trong Đạo Giáo. Trên khu vực Hà Nội Thủy phủ Đại đế được thờ ít nhất ở Liễu Châu (Ba Vì) và vạn chài Liên Ngạc (Từ Liêm), theo như thần tích còn lưu lại ở đây.

Trong tục thờ ba vị thủy thần Thủy phủ như ở Liễu Châu thì sau Thủy phủ Đại đế là vị Thủy phủ Vô Biên Trang Nghiêm Vân Hải Long Quân. Vị này tương ứng trong sự tích ở Đào Xá (Thanh Thủy, Phú Thọ) là tên phong của ông Hùng Hải, người sinh ra các vị thủy thần cùng bọc. Như thế tương ứng thì Hải Vân Long Vương sẽ phải là Kinh Dương Vương, được tín ngưỡng theo góc nhìn của Thủy phủ.

Vị thần thủy phủ tiếp theo là Thủy phủ Đại Thiên Long Chủ Bát Hải Long Vương như tên thờ ở Liễu Châu. Đền thờ Bát Hải Động Đình Long Vương nay còn tại phố Hàng Than. Xét thứ bậc và tên gọi thì Bát Hải Long Vương chính là Lạc Long Quân, người con của Kinh Dương Vương – Hải Vân Long Vương và Mẫu Thoải Quý Nương.

Bát Hải Động Đình Long Vương là vị vua được xếp trong bộ ba thần chủ của tín ngưỡng Tam phủ xưa kia. Cùng với Thiên phủ Ngọc Hoàng, Địa phủ Diêm La thì Thủy phủ có Bát Hải vua cha. Tín ngưỡng thờ ba vua Tam phủ vốn từng khá phổ biến, nay còn di tích như như đền Tam phủ ở Thu Quế (Đan Phượng), ở chùa Thầy, hay trong chùa Giang Xá (Hoài Đức).

Cùng bộ với các thần Thủy phủ là Hà Bá Thủy quan, gặp tương đối nhiều (khoảng 7 di tích) ở Sơn Tây, Hà Đông, nhất là ở các vạn chài ven sông như Vạn Đài Thần (Đan Phượng), Vạn Hà Trì (Hoài Đức) hay Thủy Cơ Cấn Xá (Quốc Oai). Tuy được thờ như một dạng “nhiên thần”, đất có thổ công, sông có Hà Bá, nhưng vài nơi có sự tích cho biết Hà Bá là một vị tướng đã giúp vua Hùng đánh Thục. Xét vậy thì có thể Hà Bá chính là Lạc Long Quân (Linh Lang) hoặc Thổ Lệnh Trưởng (Bạch Hạc Tam Giang).

Một “nhiên thần” thực sự là ông Lốt Tam đầu Cửu vĩ Long vương được thờ ở đình Nam Dư Hạ, phường Lĩnh Nam. Đây là hình tượng hệ thống sông ngòi trên đồng bằng Bắc Bộ xưa, với Tam đầu trên nguồn là ba sông Đà, sông Lô, sông Thao, Cửu vĩ là chín nhánh sông Cái đổ ra biển Đông. Rốn rồng Long Đỗ là phần trung tâm của sông nằm ở đất Thăng Long xưa, là hồ Tây vốn nối liền với sông Nhị Hà.

Một dạng thủy thần làm mưa được biết ở vùng Linh Đàm là Bảo Ninh Long Vương, học trò của Chu Văn An. Thật khó biết đây là hóa thân của vị nào từ thời Hùng Vương, nhưng nhiều khả năng nhất đây là một trong các vị của sự tích nhất bào ngũ tử.

Lạc Thị Hồng Bàng

Cũng là dòng “thủy thần” nhưng “thủy” với nghĩa là những người con đã theo cha Lạc Long Quân xuống khai phá vùng đồng bằng Động Đình xưa, tức là những vị được thờ theo góc độ là “nhân thần”. Đầu tiên, chính là Lạc Long Quân được thờ đúng tên, đúng “chức danh” như ở đình Nội Bình Đà, hay đình  Trung Văn Ngọc Trục. Sự tích về Lạc Long Quân tất nhiên là xem trong Truyện họ Hồng Bàng của Lĩnh Nam chích quái.

Ở vùng Đại Mỗ có tín ngưỡng thờ Thủy Hải Long vương, là con của Lạc Long Quân. Vị thần này thường thờ cùng Ả Lã Nàng Đê nên khó xác định đây là “nhân thần” hay thần hiển linh đời Trưng Vương. 

Rải rác ở nhiều nơi thờ những người con của Lạc Long Quân đã có công xây dựng làng xã như Giám Sát Đại vương ở Đồng Trúc (Thạch Thất), Thông Đạt Đại vương ở Thịnh Liệt, Đại Long ở Tử Dương (Ứng Hòa), Nam Phổ ở Yên Thường (Gia Lâm), Hải Tế ở Kiều Mộc (Cổ Đô).

Cần chú ý là những người con của Lạc Long Quân không phải là các vua Hùng, vì các vị Hùng Vương là cách gọi của dòng theo mẹ Âu Cơ lên núi. Nói dễ hiểu hơn, Hùng Vương là con cháu, dòng dõi từ Âu Cơ. Còn những người con kế nghiệp Lạc Long Quân được gọi là các Lạc Vương, Lạc hầu, Lạc tướng, cai quản các vùng cửa sông góc biển vùng đồng bằng.

Chử Đồng Tử

Vị thần bất tử đã cùng với công chúa con vua Hùng bay lên cung trăng từ vùng đầm nước Dạ Trạch bên sông Hồng cũng được thờ ở Hà Nội. Ngay trong trung tâm thành phố, không hiểu sao các nơi thờ Chử Đồng Tử và Tiên Dung lại cùng nằm trên phố Thợ Nhuộm. Có thể nơi đây từng là nơi định cư của người dân đến từ vùng Khoái Châu, Hưng Yên chăng?

Ngoại thành phía Nam Hà Nội hai bên bờ sông Hồng có các di tích thờ Chử Đồng Tử như Chử Xá, nơi quê nội của ngài, hay ở Thanh Trì phía đối diện bên kia bờ sông. Đặc điểm của những nơi này là thờ đủ cả 3 vị Chử Đồng Tử, Tiên Dung và Tây Sa Công chúa.  Còn ở các huyện “miền núi” của Hà Nội như Mỹ Đức, Phúc Thọ, rải rác có 1-2 nơi thờ Chử Đồng Tử.

Thông thường những nơi thờ nhà Chử thì không phối thờ cùng các vị thủy thần khác như Linh Lang, Quý Minh, Thủy Tinh, Thổ Lệnh, dường như đây là những vị thần “kỵ nhau”. Điều này dễ hiểu, bởi Chử Đồng Tử được coi là một “loạn thần” của triều Hùng (Lạc triều) đã cướp công chúa và xây dựng quốc gia riêng ở đầm Dạ Trạch. Cái kết là Chử Đồng Tử đành “đi tu”, đắc đạo thành tiên mà bay lên trời, trả lại thiên hạ cho dòng dõi Lạc Thị.

Vào thời kỳ Lạc Long Quân khai phá Động Đình thì Hà Nội là vùng bán ngập nước ven sông biển, đồng bằng Bắc Bộ đang lộ dần ra do bước vào thời kỳ biển thoái. Những vị thủy thần ở đây là những vị thủ lĩnh của cộng đồng người sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, xăm mình, lội nước, đắp đê, mở làng mở xóm từng bước theo mực nước rút. Bãi biển ngàn năm nay đã thành nương dâu, nhưng sự nghiệp của các tiền nhân thời lập quốc còn sống mãi không thể quên trong hàng trăm di tích văn hóa tín ngưỡng trên mảnh đất rồng thiêng này.

Những vị thủy thần ở Hà Nam

Trong công cuộc trị thủy ở đồng bằng sông Hồng thì vùng đất Hà Nam từ thời Hùng Vương là một địa bàn quan trọng của người Việt cổ, nơi tập trung những người con theo cha Lạc Long Quân đi khai phá đồng bằng, chế ngự thiên tai. Những vị tiền nhân này đã trở thành những vị “thủy thượng linh thần” trong văn hóa Việt.

Hà Nam là nơi có lượng di tích dày đặc thờ các vị thủy thần gồm:

  1. Thủy phủ Phù Tang Cam Lâm Đại đế: đây là vị Động Đình Đế Quân, cha của Động Đình Long Nữ, tức là ông ngoại của Lạc Long Quân. Ở Thăng Long ông được biết đến là thần chính khí Long Đỗ. Ở Hà Nam nơi thờ Long Vương Thủy phủ gặp ở huyện Bình Lục như ở đình Cổ Viễn hay ở thôn Khương Thị xã An Nội.
  2. Bát Hải Long Vương: Bát Hải hay Bột Hải đều có nghĩa là biển Đông. Bát Hải Long Vương hay Bột Hải Đại vương thường là để chỉ Kinh Dương Vương, người đứng đầu trong công cuộc trị thủy với tài đi dưới Thủy phủ và nhờ những sáng tạo trọng gậy thần sách ước mà làm nên kỳ tích khơi thông dòng chảy sông Đà thời Nghiêu Thuấn. Ở Hà Nam, đình Cổ Viễn (Bình Lục) cũng là nơi thời Bát Hải Long Vương. Ngoài ra còn một số di tích khác như đình Vạn Nghệ xã Văn Lý (Lý Nhân) cũng thờ vị này.
  3. Thủy Tinh Công chúa: tức Xích Lân Long Nữ Động Đình Thánh mẫu, hay Mẫu Thoải. Thủy Tinh Công chúa đặc biệt được thờ rất nhiều ở Hà Nam, ít nhất là ở hơn 30 làng xã từ Bình Lục, Duy Tiên, Lý Nhân, Kim Bảng đến Thanh Liêm. Sự tích chính là tiên nữ giáng trần, được Liễu Nghị cứu giúp. Liễu Nghị cũng là một vị thủy thần (Long Vương) bởi ông cũng chính là Kinh Dương Vương, người đã kết duyên với Long Nữ Động Đình.
  4. Hà Bá Thủy quan: là một vị thủy thần khá “đặc sản” của vùng Hà Nam, nơi mà đã thống kê được có ít nhất 20 làng xã thờ Hà Bá. Sự tích chủ yếu đây là con trai của Lạc Long Quân, giúp đánh giặc Thục. Thực chất, Hà Bá không phải ai khác chính là Lạc Long Quân, người đã làm nên cuộc chiến giành vương vị với dòng Thục lên núi mà lập ra “thủy quốc” mang tên Hoa Hạ.
  5. Linh Lang Đại vương: Có tới hơn 60 di tích ở Hà Nam thờ Linh Lang xuất thế ở các thời kỳ khác nhau, từ thời Hùng Vương đánh Thục, thời Lý đánh giặc Vĩnh Trinh và Hồng Châu, hay giặc Tống, thời Trần đánh giặc Nguyên. Thậm chí Linh Lang cứu công chúa ở Lệ Mật cũng là một dạng “hóa thân” của vị thần này. Linh Lang Đại vương chính là con của Kinh Dương Vương, tức Lạc Long Quân, làm vua Thủy phủ, hóa sinh bất diệt nơi Động Đình.
  6. Quý Minh Đại vương: Vị Hữu kiên thần của Tản Viên Sơn Thánh với vai trò phụ trách Thủy quân của nhà Hùng dẹp giặc Thục ở châu Ái, hoặc có lúc sự tích là con của Lạc Long Quân đi từ cửa biển Thần Phù lên hóa ở bến Long Đỗ. Ở Hà Nam có hơn 40 làng xã thờ Quý Minh, chưa kể một số nơi thờ thần Cao Các, cũng là một dị bản của Quý Minh Đại vương.
  7. Trung Thành Thổ Lệnh Trưởng: “Sinh Bạch Hạc, thác Ba Lương”, một dải sông Hồng từ ngã ba Việt Trì ra đến biển thờ vị Thủy tào phán quan Trung Hoa quốc tể này. Cùng với Phú Xuyên (Thường Tín) thì Hà Nam là nơi có nhiều di tích thờ Thổ Lệnh nhất, thống kê sơ bộ ít nhất có hơn 25 làng xã, tập trung ở huyện Duy Tiên và Kim Bảng. Nổi tiếng bởi sự tích nhất bào ngũ tử trong nhà họ Đào, Trung Thành Thổ Lệnh thực ra là vị Quan lớn Đệ Tam được thờ lừng danh ở Lảnh giang linh từ. Đây là vị Long hầu đứng đầu dưới trướng Lạc Long Quân.
  8. Câu Mang Đại vương: Câu Mang là tên của Mộc thần của phương Đông, nhưng ở Hà Nam, Nam Định lại là vị thủy thần được thờ phổ biến, với sự tích các anh em sinh cùng một bọc, phù Hùng dẹp Thục, tức là cùng là anh em trong bộ Ngũ vị tôn quan Thoải phủ, anh em thời Lạc Long Quân. Ở Hà Nam ít nhất có hơn 30 làng xã thờ thần Câu Mang, mà được biết nhiều như ở đình Văn Xá (Bình Lục).
  9. Chử Đồng Tử: tuy là “con rể hờ” của dòng Lạc Long, nhưng Chử Đồng Tử cũng là thủy thần do nguồn gốc xuất xứ đánh cá ven sông Hồng. Hữu ngạn sông Hồng như ở Hà Nam không có nhiều di tích thờ Chử Đồng Tử và Tiên Dung công chúa, nhưng các nơi thờ ở đây thường có sự tích khác lạ so với sự tích vùng Khoái Châu. Ví dụ, như ở đền Yên Từ (Mộc Hoàn, Duy Tiên) thờ mẹ của Tiên Dung Công chúa, tức đây là nơi quê ngoại của Công chúa.

Nhân mùa mưa lũ sau bão, xin nhắc lại công lao, danh tính của các vị tiền nhân trị thủy sông Hồng, đem lại cuộc sống bình yên cho người Việt vào thời hơn 4000 năm trước.

Đình Cao Cái thờ Quý Minh Đại vương

Thần tích Quảng Bác Đại vương ở Thịnh Đức, Phú Xuyên

Triều Lê bộ Lễ bộ Thượng thư tri điện bách thần vâng sao tích báu cổ truyền

Hoàng đế bệ hạ ban sắc chỉ… (phần sắc chỉ không dịch)

Năm Giáp Thìn ngày 15 tháng Giêng Đệ nhị tiên cung tên là Tiên Dung Châu xuất thần, tất là tiên nhân giáng sinh nên nhân đó gọi là Giáng Tiên. Đến khi trưởng thành da trắng mịn màng, trong sáng như gương soi, mày loan như mặt trăng mới mọc, mắt trong như sóng thu. Người xưa nói như hoa như ngọc, đủ đầy mà hình dung đẹp đẽ. Thường ở yên trong nhà tự đọc sách, không cần người chỉ bảo. Lại thành thạo đàn sáo, tinh thông thơ sách, trộm kỹ diệu của Tương Phi, xem tài cao của Lộng Ngọc. Khi nhàn nhã thường đi chơi ở Thăng Long, đất Giao Chỉ. Vì thế mà gặp vua Hùng đời thứ tám là Huy Vương. Vua đem sính lễ kết làm chính thất cung phi.
Được hai năm thì có thai. Mang thai tháng 12 thì đến kì sinh nở. Năm Giáp Ngọ ngày mùng 10 tháng Sáu đi tắm ở sông Nhuệ chỗ ngã ba sông. Tắm đến ngày 12 thì sinh được một bầu năm quý tử. Nên có lời ca ngợi rằng:
Một bầu sinh xuất năm anh em
Vạn đời rạng rỡ một thần thánh.
Tên tuổi bao trùm, nghìn năm ghi trong tín sử, vạn đời tiếng thiêng rờ rỡ, thông minh mưu rộng, công nhiều tích lớn, đuổi di dẹp giặc, thế nước bền lâu, tỏ tường trong sách sử.

Lại nói người đất Phong Châu nước Việt Thường mà đúc nên khí thánh. Vào năm Giáp Ngọ ngày mùng 10 tháng Sáu tắm gội 12 ngày đến kỳ mà sinh. Hôm đó hương thơm bay ngào ngạt, người người vui mừng.
Khi trưởng thành 5 anh em đều nhiều lần lập công lớn, dẹp giặc đem lại yên bình cho đất nước. Triều đình vỗ về, sắc phong quan lớn. Sau khi hóa vua lại ban cho chỉ tặng là Thượng đẳng thần. Cả năm vị quý tử anh em đến năm Thân ngày 12 tháng Mười một thì cùng hóa, được ban sắc phong là Thủy thần. Nhà vua hội nghị trong triều, cử Giám quốc sư đi phát sắc phong thần cho 17 nơi lập đền phụng thờ.

Giám quốc sư đem sắc phong đi đến trang trại Thịnh Phúc, quận Quảng Nguyên, báo với các phụ lão, cho 30 quan tiền để xây miếu đền, dựa Càn hướng Tốn. Trước có ba sông hợp dòng, sau có sông núi ôm ấp, giữa nôi lên 5 gò đất, đúng thế đất người nhiều vật giàu, tất sẽ phát anh tài. Giao cho trang Thịnh Phúc phụng thờ đền thiêng, đời đời tiếp nối. Khi còn sống có võ công vẻ vang, khi hóa thiêng có tiếng thiêng hiển hách, âm phù cho vận nước. Sau khi hóa trang dân địa phương tất tôn nghiêm mà thờ cúng, giữ nước giúp dân, có thờ nên có ban ơn vậy. Tốt thay. Lành thay… (phần lệ thờ và sắc mệnh không dịch)

Đền linh thiêng thờ Quảng Xung Linh Tế Đại vương ở xã Hữu Vĩnh, huyện Hoài An.
Đền thượng đẳng thờ Quảng Bác Uyên Dung Đại vương ở xã Thịnh Đức, huyện Phú Xuyên.
Đền thượng đẳng thờ Quảng Xuyên Linh Quang Đại vương ở xã Quảng Tái, huyện Sơn Minh.
Đền thượng đẳng thờ Quảng Tế Linh Ứng Đại vương ở xã Bài Nhiễm, huyện Duy Tiên.
Đền thượng đẳng thờ Quảng Hoá Cư Sĩ Đại vương ở xã Vĩnh Trung, huyện Thanh Trì.

Sự tích Long Vương

Thần tích vạn Liên Ngạc, xã Liên Ngạc, tổng Phú Gia, huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông

Danh tiếng Hải Độc Long Vương lưu truyền từ xưa, mà dấu tích thiêng rạng tỏ từ triều Trần. Sự cũ ở phường Hoa Ngạc, nguyên ở bờ Bắc sông Từ Liêm, gọi là phường Võng La, thuộc huyện Yên Lãng, Sơn Tây. Bờ đối diện bên kia sông là ghềnh Thượng Bạc. Phường này quen lấy đánh cá làm nghề nghiệp sinh sống, có một mái đình ba gian dựng bằng gỗ lá cũ nát quay mặt ra phía sông để phụng thờ một vị thủy quan Hà bá. Trải qua tháng năm vào tháng ba năm Canh Tý một đêm có một ông lão trong phường mắc võng ở cuối ghềnh nằm uống rượu, ngủ thiếp đi mộng thấy một người, áo mũ đủ đầy, xưng rằng:

  • Ta là Hải Độc Bát Đại Long Vương. Nay đến đất này để cưới con gái ông Nghị. Nhà ngươi hãy mau cuốn sạch chỗ võng này, nếu không sẽ gặp họa đến đó.

Tối hôm đó mưa gió nhè nhẹ. Ông lão trong phường uống rượu chưa tỉnh, nằm mơ màng ngủ rất sâu. Bỗng sóng lớn trùng trùng nổi lên. Thuyền cá theo sóng dập dềnh trôi ra gần giữa sông. Ông lão trong cơn nguy cấp dập cầu:

  • Lão ngu dốt lỡ say rượu không có mắt, tự thấy vạn lần đáng chết. Cúi xin Long Vương tha thứ.

Đang lúc giữa đêm bỗng nhiên mưa gió rung động, người trong phường đều sợ hãi tỉnh dậy. Chỉ nghe tiếng ông lão kêu to, một tiếng Long Vương, hai tiếng Long Vương. Mọi người đều không biết Long Vương tên gọi cụ thể thế nào. Rồi dưới ánh sét chiếu sáng thấy một con cá lớn dài hơn trượng, nhảy lên ở giữa sông, vảy giáp chênh vênh, đầy sông như thấm phủ một màu trắng. Khi sóng gió ngừng lại, tức thì con cá lớn bỗng hóa thành một người áo mũ đầy đủ đứng trên mặt nước nói nghiêm khắc rằng:

  • Sông suối nơi nơi đều là quản hạt của ta. Lão này đã biết tội nên ban cho được sống trở về.

Ai ai cũng tận mắt thấy sự hiển linh như vậy, mới biết Long Vương là thủy thần, bèn cùng cất tiếng cầu xin:

  •  Toàn phường kính mộ nhờ uy đức Long Vương mà già trẻ được an toàn. Nay sau xin được tạo tượng để phụng thờ, mong được xem xét cho thành việc để báo đức lớn này.

Chốc lát không thấy đâu nữa, sóng gió trở lại như xưa. Đến sáng hôm sau nghe truyền là đêm đó thủy thần đã lấy vợ là con gái ông Nghị ở xã Thượng Thụy, tên là Nhạc phi. Cả nhà 5 người cùng đưa tiễn đến đầu ghềnh thì dòng nước ở đó dẫn vào trong sông mà biến, không biết còn mất ra sao.

Trên đây là điềm thần như vậy. Năm đó, tháng Sáu tháng Bảy nước lũ dâng cao, đầu bãi Võng La bị lở. Sau ba tháng 10 phần lở hết 7-8. Nhân dân phiêu tán. Phường đó mới dời đến nơi bến sông xã Hoa Ngạc, nơi có bãi sông mới bồi để ở tại đó. Nơi đó gọi là phường Hoa Ngạc huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai. Từ đó trong đình kính cẩn phụng thờ chính vị là thần Hải Độc Bát Đại Long Vương, cùng phối thờ Hà Bá Thủy quan. Mỗi khi có việc cầu đảo đều rất linh ứng.

Xưa Trần Độ Tông ra Bắc cung xem đua thuyền bỗng gió lớn nổi lên bốn bề, thuyền đều nghiêng chìm. Vua vội sai trung quan quỳ hướng ra sông cầu đảo, xin Thủy thần hiển linh, nếu cứu vớt được các binh lính trong thuyền, Trẫm sẽ lập tức tặng thêm tên hiệu để báo đáp ơn thiêng. Cầu đảo chưa xong thì đã sóng yên gió lặng. Binh lính đều được cứu thoát không chịu cảnh chết đuối. Vua bèn tăng cấp cho thần sông. Hễ là xã dân nào có phụng thờ thủy thần đều được cho phong tặng sắc. Phong là Thượng đẳng Hộ quốc Hải Độc Bát Đại Long Vương.

Khi quân Minh chia đường hai đạo thủy quân đến xâm phạm, một đạo đóng ở sông Bạch Đằng, một đạo đóng ở bến Vạn Kiếp. Khi đó vua sai các quan chia nhau theo ven sông đi đến các miếu thần sông để đọc chỉ rằng:

  • Giặc Minh dám gây cảnh bạo ngược, người và thần cùng căm phẫn. Các vị thủy thần vốn có tiếng anh dị, sao để thuyền giặc đóng đầy sông như vậy? Nếu như có thể linh hiển lập kỳ tích đuổi quân giặc, khi thành công sẽ phong tặng thêm nhiều.

Bỗng một đêm vào cuối canh hai, gió lớn dồn mây, trời tối như mực, không trông thấy mặt người. Trong quân doanh thuyền giặc như có binh mã xông vào. Mọi người trong lòng đều phấn khích. Trần Quốc Tuấn, Phạm Ngũ Lão nhân đó mà hai cánh trước sau xông đến đánh. Quân Minh thua chạy, chết đuối quá nửa. Truyền rằng đêm qua trong các miếu thờ ở ven sông ngựa gỗ đều lấm bùn đất, đao gỗ đều có vết sứt như là đã có đánh trận vậy. Mới biết đó là thủy thần đã dẫn các âm linh đoạt hồn giặc, hiển giúp quân đội. Bèn sắc phong Thuận thiên Dực vận Hải Độc Trạc linh Thượng đẳng Hộ quốc Quảng nguyên Đại Long Vương.

Vua Thánh Tông triều Lê thân chinh đi đánh Chiêm Thành, thuyền rồng đi đến cửa biển Nhật Lệ. Vào lúc chính Ngọ, bỗng mây đen bốn bề kéo tới, gió lớn sóng cả ngất trời. Thuyền gần lật tới 4 lần. Bỗng trên không trung xuất hiện một vị đại nhân, mũ đen, áo đỏ, đai trắng, cưỡi mây mà tới. Đi đến đâu thì sóng gió lập tức dừng yên. Đêm đó vua mộng thấy một người tự xưng là Quảng Nguyên Long Vương, chức quản các nơi sông biển, nay thấy Vua dẫn quân đi viễn chinh nên đặc biệt đến để trợ giúp, quần áo người này giống như thấy lúc ban ngày. Từ đó ba quân vượt biển như đi trên đất bằng. Khi thắng lợi trở về bèn sắc phong là Thuỷ phủ Chí tôn Cam Lâm Hiển thánh Thượng đẳng Hộ quốc Quảng nguyên Đại Long Vương.

Bảo quốc Trấn linh Định bang Quốc Đô Thành hoàng Đại vương

Xét sách sử trong sách Giao Châu ký cùng với Báo cực truyện, vương vốn họ Tô tên Lịch, là quan lệnh Long Độ, ở làng Long Độ bên sông nhỏ, ba đời anh em nhường nhịn sống chung với nhau. Nhà Tấn cử làm chức Hiếu liêm, cắm cờ biểu dương trước cửa làng, nhân đó lấy tên Tô Lịch đặt cho thôn. Thời Đường Mục Tông, Trưởng khánh Trung đô hộ Lý Nguyên Gia thấy cửa Bắc thành Long Biên có dòng nước chảy ngược bèn tìm đất để dời phủ trị, tìm được đất đó. Khi chuẩn bị xây dựng doanh phủ bèn cho người dân cũ ở đó rót rượu thỉnh mệnh làm thần thành hoàng, lập đền phụng thờ. Đến đêm hiển linh báo với Nguyên Gia rằng:

  • Nhờ ơn sứ quân ủy thác cho tôi làm chủ thành. Nếu ngài có thể giáo hóa được cư dân trong thành cho hết lòng trung hiếu tiết nghĩa, thì mới tôi mới có thể nghe theo mệnh mà cùng ở được.

Nguyên Gia bằng lòng vâng theo. Đến khi Cao Vương xây La thành, nghe chuyện ấy cho tế lễ lập nơi thờ thần là Đô phủ Thành hoàng.

Khi Lý Thái Tổ dời đô, thần thường nhập mộng đến dập đầu bái mừng vạn tuế. Vua lấy làm lạ hỏi tính danh xưng thế nào. Thần tâu lại như trước. Vua cười nói:

  • Thần muốn giữ việc hương lửa trăm năm phải không?

Thần đáp rằng:

  • Chỉ mong cơ đồ đất nước được lâu dài muôn vạn năm, đâu chỉ là hương lửa trăm năm.

Vua hiểu ra, bèn sai quan Thái chúc đem rượu tế, phong thần làm Quốc đô Thăng Long Thành hoàng Đại vương, thường tôn là minh chủ. Năm đầu niên hiệu Trùng Hưng của bản triều sắc phong hai chữ Bảo quốc, năm thứ 4 tặng thêm hai chữ Trấn linh. Niên hiệu Hưng Long năm thứ 21 tặng thêm hai chữ Định bang để mà lưu truyền công thần trợ giúp.

Thần tích xã Liễu Châu

Dịch theo thần tích xã Liễu Châu tổng Phú Xuyên huyện Tiên Phong tỉnh Sơn Tây.

Vào thời Hùng Vương thứ 18 vua Duệ Vương trị vì, đóng đô ở Việt Trì bên sông Bạch Hạc, lập nước Văn Lang, quốc đô là thành Phong Châu. Duệ Vương có hùng tài đại lược, tư chất thánh triết, trong sửa văn đức, ngoài phòng biên phương, dốc sức để hưng bình mà yên Trung Quốc. Than ôi, thế nước đến lúc cáo chung, cơ đồ họ Hùng vào lúc cuối. Vua tuy sinh nhiều hoàng tử nhưng đều theo nhau về với tổ tiên. Duệ Vương sinh được 20 hoàng tử, 6 công chúa, về sau chỉ còn hai vị nữ công chúa. Người thứ nhất là công chúa Tiên Dung, sau gả cho ông Chử Đồng Tử quê ở xã Đa Hòa, huyện Đông An, phủ Khoái Châu, xứ Sơn Nam. Còn người thứ hai là công chúa Ngọc Hoa, cung thiềm còn khóa, cành ngọc vẫn đóng, nhân duyên tốt lành còn chưa định kỳ. Vua muốn tìm người tài để gả, rồi sẽ nhường ngôi báu cho, bèn lập một tòa lầu ở cổng thành Việt Trì, đề là “lầu kén rể cầu hiền”, ban chiếu truyền đi trong thiên hạ ai là người anh tài đức độ, có thể nối được ngôi vị thì sẽ gả công chúa cho.

Ngày ấy có Tản Viên Sơn Tinh cùng với Động Đình Thủy Quân là hai tướng cùng thầy học cùng nhau đến thành dự thi. Vua xem thấy là kỳ tài bèn phán rằng:

  • Nay hai khanh đều là bậc anh hùng. Ánh trăng đèn sách chưa thể định được về tay ai. Ai có thể đem sính lễ đến trước thì Trẫm tất sẽ gả con gái cho.

Thế là Thủy Tinh trở về cung Động Đình, do cầu kỳ tìm vật lạ (nguyên có cuốn sách ước Sơn Tinh đã cầm giữ). Sơn Tinh đi thẳng ra dưới lầu, lấy ở trong túi ra, dùng sách thần mà ước. Bỗng thấy voi trắng chín ngà cùng các kỳ trân dị vật trong chốc lát đã đầy đủ hết. Sơn Tinh đến vâng nạp sính lễ trước. Vua bèn gọi Sơn Thánh đến gả con gái cho. Lễ cưới xong thì đón về động ở núi Tản Viên. Sau thấy Thủy Tinh đem sính lễ đến. Vua nói với Thủy Tinh rằng:

  • Sơn Tinh đã định đặt sính lễ, việc này theo như giao ước trước đây, hối hận cũng không kịp.

Thủy Tinh từ đó về sau oán hận, trở về tâu với Đế Quân, xin binh mã, thường tiến đánh Sơn Thánh, tích thù kết oán. Cho nên tới nay mỗi năm vào tháng 7 tháng 8 thường dâng nước đến đánh. Người dân ở dưới núi đều bị ngập lụt, mưa gió. Các nơi đều bị thiệt hại nặng, đều là do từ việc này mà ra vậy.

Lại nói, Duệ Vương từ khi có được rể hiền là Sơn Thánh thì hưởng nước thanh bình, nhàn du bốn biển, như con vua tiên ông nơi đất xưa quê lạ, sông núi Thần Phù, Yên Tử, cao thấp mặt trời hồng, đám mây trắng, trăng gió ở Hoa Quật, Long Biên, trên dưới non xanh nước biếc. Lúc thì dạo chơi trên sông tiểu hoành ngắm trăng, nhàn thưởng cái thú vị của người câu cá. Đi qua xã Đồng Bảng, huyện Ma Nghĩa mà xây dựng hành cung Bắc. Lại du xuân săn bắn, đi đến xã Tri Lai lại lập hành cung Tây. Đi qua các xã Vật Lại, Cổ Đằng bèn xây dựng hành cung Trung tại đó. Lại đi qua vùng đất huyện Phúc Lộc mà lập hành cung Nam ở Bể Cạn.

Đến xã Vân Già thì lập hành cung Đông. Một hôm (ngày mồng 3 tháng Giêng) thánh giá đi đến xã Liễu Châu phủ Tam Đái, có một ngôi đền thủy thần được người dân phụng thờ từ xưa (Miếu thủy thần này ở xã Liễu Châu đã được xây dựng từ thời Hùng Vương khi Lạc Long Quân sinh được một bầu trăm trứng, nở ra trăm người con trai, bèn phân làm trăm vương. Năm mươi người theo cha là Thủy thần. Năm mươi người theo mẹ là Sơn thần. Năm mươi vị Thủy thần này tùy đang còn tại thế nhưng được phong thần để bảo giữ các nơi. Do đó xã Liễu Châu thờ phụng ba vị như vậy, đều không có tên thần). Đến khi Duệ Vương và hai vị Tả Hữu kiên thần của Sơn Thánh đi qua ngôi đền (tức là đền Thủy thần được xã Liễu Châu phụng thờ), bèn hỏi người dân rằng:

  • Dân các ngươi ở đây thờ phụng đền nào vậy?

Người dân bèn tâu rằng:

  • Từ xưa tới nay tiểu dân ở đất này phụng thờ đền Thủy thần.

Vua cùng với Sơn Thánh nói với dân rằng:

  • Thủy thần ngày nay có thù với nước nhà. Dân các ngươi sao dám thờ vậy? Hôm tới sẽ sai binh sĩ cùng dân các ngươi trừ khứ ngôi đền này đi.

Dứt lời tới ban đêm bỗng thấy trên sông sóng dồn vạn nhẫn, khí mây đầy sông mù mịt nổi lên, dâng nước đập sóng, dẫn đến nơi cung đền. Một chiếc thuyền rồng bỗng nổi lên trên mặt nước. Lại thấy ba người đường đường từ trong thuyền đi tới, đâu đội mũ rồng rạng rỡ, mình mặc áo long bào, giáp lân. Phía trước có hai người ôm một bàn đầy vàng cùng với một thanh ngọc đem tới trước nhà vua. Ba người cùng dập đầu làm lễ. Duệ Vương hỏi rằng:

  • Chức danh các vị thế nào? Ở đâu đến đây?

Ba người tâu rằng:

  • Chúng thần vốn là quan của Thủy quốc. Nay thấy Thánh vương ngự giá đến nơi chúng thần quản trị nên Thủy quốc có tấc lòng đem đến yết diện Thánh vương làm lễ mừng. Xin được chiếu cố cho.

Duệ Vương lại phán rằng:

  • Thủy quốc từ khi xảy ra sự việc tranh hôn sai ước đến nay trong lòng chứa oán tích thù. Bất thường mà dẫn quân đến đánh Sơn Thánh. Ngày hôm nay sao lại có lòng với Trẫm như thế?

Thủy quan tâu rằng:

  • Hôn sự vốn là do Đông Long cung. Nguyên căn là do quan Long hầu gây việc ác, đem họa đến cá nước. Còn Thủy quốc cùng với Dương đình đều có oán. Vả lại việc vị quân đó phản lại nước đều chỉ là do người đó, lỗi này cũng do việc hôn nhân, không phải do chúng thần. Xin Bệ hạ xét tình đó vậy. Nay may mắn được gặp Bệ hạ đi đến địa phương nơi đóng của chúng thần, chúng thần cùng nhau lên tại đây. Tuy là núi sông không cùng, nhưng đều là từ một bầu trăm trứng tạo ra của Tiên hoàng đế (Lạc Long Quân sinh một bầu trăm trứng, nở ra trăm người con trai. Năm mươi người theo cha là Thủy thần. Năm mươi người theo mẹ là Sơn thần, tức là trăm vương). Tí Ngọ cùng chia, nhưng đều cùng chung một nguồn phân phái vậy. Đâu phải là người ngoài.

Vua nghe lời nói đó, hỏi Sơn Thánh rằng:

  • Lời nói này cũng có lý, cũng là người một nhà.

Sơn Thánh tâu rằng:

  • Việc này có thể giải quyết được. Lại có thể phong tặng thêm.

Dứt lời Sơn Thánh cho gọi đón ba vị thủy quan vào trong cung, cùng chầu hai bên nhà vua. Ngày hôm đó sai mổ trâu, mở yến hội lớn, ca hát hơn mười ngày. Mây mưa mù mịt, gió sấm nổi lên. Việc yến hội xong, ngày hôm đó (từ mùng 6 đến 15 tháng Giêng thì ngừng) ba vị thủy quan từ biệt, trở về Thủy quốc. Mưa gió ù ù mà lên. Bỗng thấy giữa sông có một tiếng sấm nổ, mưa gió đều yên tạnh.

Khi ấy Duệ Vương quay giá trở về thành. Còn Sơn Thánh cùng với Tả Hữu kiên thần vẫn đóng quân ở đất đó (tức là Liễu Châu). Đến đêm bỗng thấy gió lớn thổi đến, ở nơi đền Thủy thần có một cây lớn bị gãy. Sáng sớm nhân dân đến nơi xem, lại thấy có một con Giải nằm ở trên cành cây gãy đó. Nhân dân đến đánh đuổi đi thì tự nhiên biến mất. Từ đó nhân dân gặp nhiều bệnh tật. Dân bèn làm lễ tâu với Sơn Thánh. Sơn Thánh nói với dân rằng:

  • Tất là do Thủy quan tác quái.

Ngay hôm đó Sơn Thánh sai mổ trâu, truyền dân đến làm lễ. Sơn Thánh thỉnh rằng:

  • Thủy quốc, Dương đình đều cùng huyết mạch. Nhân dân ở đây đều là thần tử một nhà. Nay trót vô lễ, xin được tạ vậy.

Từ đó, nhân dân đều được yên ổn. Bèn sai sửa chữa đền miếu (tức đền Thủy thần). Khi công việc xong, Sơn Thánh nằm mộng thấy một người, mình mặc áo trắng, cưỡi một con ngựa trắng tiến thẳng vào sân mà bái. Sơn Thánh hỏi rằng:

  • Ở đâu đến đây? Danh chức như thế nào?

Người áo trắng trả lời rằng:

  • Vốn tôi là giang sứ, vâng mệnh Thủy quân đến tạ Thánh vương. Sau có một bài thơ sai thần mang đến, xin ngài hãy xem.

Thơ rằng:

Sơn thuỷ giai đồng hợp nhất nguyên

Hạnh phùng thánh giá vãng giang biên

Thuỷ cung đắc hội sơn tiên khách

Vạn cổ hưởng đồng nhất thốn tiên.

Dịch là:

Sông núi đều cùng hợp một dòng

May thời thánh giá đến bên sông

Thủy cung được hội sơn tiên khách

Vạn thế hưởng cùng một dải hồng.

Xem xong thì bỗng nhiên tỉnh lại, mới biết là mộng. Sơn Thánh lại truyền làm lễ tạ.

Việc xong, ngay hôm đó (tức mùng 6 tháng Hai), nhân dân làm lễ tạ Sơn Thành, đều xin được làm thần tử. Sơn Thánh đồng ý, bèn truyền cho Tả Hữu hai quan trị nhậm hai cung (một là cung Phú Thứ, một là cung Phong Nhẫm).

Một hôm Sơn Thánh lại đến xã Yên Tiết tổng Đường Xá huyện Yên lạc, lại đi qua Sơn Dương, Tam Dương, đi đến huyện Bình Tuyền xứ Thái Nguyên, bèn lập hành cung ở đất đó, gọi là cung Ngọc Lậu. Còn các địa phương mà đã đi qua sau này đều lập đền thờ phụng.

Lại nói, Sơn Thánh cùng với Tả Hữu kiên thần (tức Tả Hữu phán quan, vốn là người động Lăng Sương, cũng là cùng tông phái với Sơn Thánh. Người cha là Nguyễn Ban, mẹ là Tạ Thị Hoan, nằm mộng thấy hai ngôi sao bay lạc vào trong mồm mà nuốt đi, do đó sinh một bầu hai con. Đến tuổi trưởng thành cha mẹ đặt tên là Nguyễn Hiển, Nguyễn Sùng. Khi đó cùng với Sơn Thánh đi học với tiên sinh Lý Đường. Đang khi đi học Sơn Thánh cùng với hai ông đều rất thông minh. Sơn Thánh thường nói với hai ông rằng:

  • Ta nếu có được ngôi trời thì sẽ cho hai ông là phụ tá hai bên.

Về sau cha mẹ Sơn Thánh cùng với hai ông đều mất. Từ đó cùng không đi học nữa, thường lên núi Tản Viên đỉnh Ngọc Lĩnh. Tính cách cương cường dũng mãnh. Người người đều gọi là thiên thần giáng thế. Đến khi Sơn Thánh tạo thành nghiệp lớn, quản được núi thiêng Ngọc Tản thì cho hai ông làm Tả Hữu kiên thần, giữ gìn hai bên núi Tản, làm chủ quản chúng man các nơi động sở. Một người bái là Cao Sơn Đại vương, một người là Quý Minh Đại vương, lấy làm phù tá hai bên cho Sơn Thánh vậy) quay giá về triều. Đến mùa hè tháng Tư, Duệ Vương sai sứ thần ban thêm sắc chỉ về dân (tức xã Liễu Châu), phong thêm mỹ tự cùng với đền Thủy quan (tức ngày mùng 10 tháng Tư). Hôm đó dân ấp làm lễ ăn mừng. Khi ấy mưa gió nổi lên, bốn bề mù mịt bay thẳng đến nơi đền thờ. Người dân đều kinh sợ, phục xuống. Nước sông như vang như sấm, ba ngày thì dừng. Duệ Vương phong thêm mỹ tự là:

  • Phong Thủy phủ Phù Tang Châu Lâm Đại Long Quân
  • Phong Thủy phủ Vô Biên Trang Nghiêm Vân Hải Long Quân
  • Phong Thủy phủ Đại Thiên Long Chủ Bát Hải Long Vương.

Cả xã Liễu Châu đều thờ.

Lại nói, khi Duệ Vương tuổi thọ đã được trăm năm, đến năm Kỷ Mùi, Thục Vương nghe nói Duệ Vương sinh được 20 hoàng tử đều theo nhau về chốn tiên bồng, không có người nối dõi, nhân đó bèn khởi binh đến đánh để chiếm lấy nước. Duệ Vương lo lắng. Sơn Thánh tâu rằng:

  • Bệ hạ khoanh tay rủ áo mà trị thiên hạ, sao phải lo lắng. Như sự thế hiện nay, thần xin được thay công thánh giá, thần xin được tự tìm tướng tài cùng với ba vạn quân mạnh. Thiên hạ trong ít ngày sẽ được yên định vậy.

Vua đồng ý. Thế là Sơn Thánh dẫn hai vị kiên thần động Lăng Sương (tức là các vị phán quan Tả thánh và Hữu thánh, phụ giúp Sơn Thánh vậy). Lại cùng vị cao tăng người xã Vân NHưng huyện Lập Thạch tên là Điểu, phong làm Đô thống Điểu Sơn Đại Vương, cùng với trung quân là Thái phó Nghi Lĩnh hầu theo đường sông Lô mà ứng chiến. Khi việc bày bố đã định, Sơn Thánh bèn dẫn tướng sĩ bản bộ đến bái tạ. Ngay hôm đó tiến đến xã Vân Chương, trú tại đây. Đến đêm vào lúc giữa canh hai, Điểu Sơn tướng quân mộng thấy một người xưng là Đao Sơn tiểu thần, tự xin theo tòng chinh âm phù cho hoàng gia, bỗng nhiên kinh sợ mà tỉnh dậy, bèn đem mộng đó tâu với Sơn Thánh. Sơn Thánh sai mổ trâu để khao tế, cầu đảo bách thần âm phù cho thế nước, đến khi biên giới được dẹp yên tất sẽ tâu lên Vua mà phong tặng (về sau phong Sơn Thánh là Tản Viên Sơn Thánh Quốc Trụ Đại vương, phong Tả thánh là Tản Viên Sơn Tả Thánh Quốc chủ Phù Dực Đại vương, Hữu thánh là Cao Sơn Quốc chủ Quý Minh Đại vương, Điểu Sơn tướng quân là Điểu Sơn Đại vương, Đao Sơn thần là Đao Sơn Đại vương, còn những người khác cũng được phong thêm).

Từ hôm đó đại quân tiến thẳng đến quân Thục, dẫn quân mã của mình, chia quân đánh dẹp, thế như sấm sét, đánh một trận lớn, thu được dấu ấn của quân Thục. Sơn Thánh bèn cho viết một bức thư của Thục chúa gửi tướng Thục, báo rằng:

  • Nước Văn Lang có một thần tướng. Nay các ngươi vâng mệnh dẫn quân đến đánh nước người, thì chớ có khinh động. Hãy đợi đến khi có chiếu thư báo tới thì việc này mới định được.

Viết xong thì lấy dấu ấn của quân địch đóng vào thư, sai người mặc quần áo của quân địch (tức là vị cao tăng hóa hình), tư xưng là sứ giả Thục, cưỡi ngựa đến đồn chính, đưa thư cho tướng Thục. Tướng Thục từ khi nhận được thư bèn ra sức cố thủ, nếu nghe có biến cũng không kịp gửi thư báo gấp. Sơn Thánh bèn dẫn quân ngày đêm đi hơn năm ngàn dặm, thẳng đến thành đô Thục, đánh một trận lớn, bắt sống chính tướng quân địch cùng với tất cả binh mã. Ba nhánh quân thủy bộ tự nhiên phải lùi chạy. Thế là Sơn Thánh quay trở về khải hoàn, đuổi hết quân địch, binh mã về triều báo tin chiến thắng. Ngay hôm đó mà đi gấp, không kể ngày đêm mưa gió. Đại quân tiến đến địa phận xã Vĩnh Thái huyện Quảng Đức (sau đổi thành phường An Thái) thì ngừng nghỉ. Cho nên ngày sau ở đất đó nhân dân đều thờ phụng.

Lại nói, ngày hôm đó Duệ Vương nhường ngôi cho Sơn Thánh. Sơn Thánh cố từ chối không nhận, tâu với vua rằng:

  • Mười tám đời cơ đồ họ Hùng, lòng trời có hạn nên mới bày ra việc Thục Vương thừa cơ gây hấn với Trung Hoa. Vả lại Thục Vương vốn là bộ chủ Ai Lao, cũng là tông phái của Tiền hoàng đế. Thế nước tốt xấu đều do định trước. Vua sao vì yêu mến khung cảnh trời Nam mà chống lại đạo trời vậy? Tất đem đến thế cục chinh chiến chết chóc, hai đến sinh linh. Chi bằng hãy cho cầu hòa mới là bậc hiền quân vậy. Cho gọi Thục đến nhường ngôi, tất là Bệ hạ có đức của Thánh vương vậy.

Vua nói:

  • Lời của ông thật là thiện lành. Rất có lý, có lý. Trẫm sẽ nghe theo lời này.

Bèn cho gọi Thục Vương đến nhường ngôi. Khi đó ngày mùng 9 tháng Giêng năm Giáp Thìn, Thục An Dương Vương nhận cơ đồ họ Hùng, bèn lên ngôi nắm quyền chính thống. Việc xong Duệ Vương cùng với Sơn Thánh và Tả Hữu kiên thần (một quản Lãng Sơn, thuộc phía Đông là vai trái, một quản Nộn Sơn, thuộc phía Tây là vai phải), cùng với vị Cao tăng, công chúa Ngọc Hoa cùng ngày bay lên trời hóa sinh bất diệt, đi mây về gió, ra âm vào dương, hoặc cưỡi xe rồng, hoặc ngồi xe phượng, dạo chơi Lãng Uyển, Bồng Doanh, ngắm cảnh sông núi, thế tục, giữ nước giúp dân, thật có nhiều hiển ứng.

Khi đến trời thu ngày mùng 6 tháng Tám, nhân dân xã Liễu Châu bỗng thấy binh mã của hai ông trở về cung sở. Dân bèn làm lễ bái mừng. Hai ông nói với dân rằng:

  • Địa mạch dân nơi đây có biến bất thường, lại có nhiều nạn lũ lụt.

Bèn truyền nhân dân xây dựng ở hai bên sông hai cung (tức là hai đền ở thôn Thượng, Hạ) để trấn áp lũ lụt, để bảo vệ nếp sống thuần hậu cho dân. Dứt lời thì tự nhiên biến mất.

Lại nói, khi Thục Vượng trị vì, nhân dân thường gặp hạn nặng, hoa mày khô héo. Nhân dân đói khát, bèn cầu khấn bách thần giúp nước, cầu phong ở các đền thiêng có nhiều hiển ứng linh thông thì gia phong mỹ tự là Thượng đẳng phúc thần. Đến mùa đông ngày mùng 10 tháng Mười An Dương Vương lại phong thêm mỹ tự.

  • Phong Thuỷ phủ Phù Tang Châu Lâm Đại đế Động Đình Quân
  • Phong Thuỷ Phủ Vô Biên Trang nghiêm Vân Hải Động Đình Quân
  • Phong Cao Sơn Hữu thánh Quốc chủ Quý Minh đại vương
  • Phong Tản Viên Sơn Tả thánh Quốc chủ Đại vương.

Toàn xã Liễu Châu cùng phụng thờ. Đền thờ ba vị Thủy quan ở chỗ bãi dâu nằm ở giữa, cả xã cùng thờ. Còn hai đền thờ Tả Hữu của Sơn Thánh (một là nơi Đồng Bàn, một là ở nơi Bãi Di) do thôn Thượng, Hạ lập riêng để cúng tế, do các vị cùng sinh cùng hóa nên không phân ra tế cúng riêng được.

Lại nói, qua thời Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương tổng cộng 340 năm cho tới khi nước Nam trải qua bốn họ Đinh, Lê, Lý Trần, Tiền Lê, Hậu Lê, Tiền Lý, Hậu Lý, khai mở cơ đồ, thường có công giúp nước cứu dân, nên đế vương các thời có phong thêm mỹ tự, vạn năm hưởng cúng tế, hương hỏa vô cùng (các triều Đinh, Lê, Lý, Trần truy phong mỹ tự).

  • Phong Thuỷ phủ Phù Tang Châu Lâm Đại đế Động Đình Quân
  • Phong Thuỷ Phủ Vô Biên Trang nghiêm Vân Hải Động Đình Quân
  • Phong Thuỷ phủ Đại Thiên Long chủ Bát Hải Long Vương
  • Phong Cao Sơn Hữu thánh Quốc chủ Quý Minh Đại vương
  • Phong Tản Viên Sơn Tả thánh Quốc chủ Đại vương.

Hai thôn xã Liễu Châu phụng thờ.

Các ngày sinh hóa, các tiết tiệc lệ cùng với chữ húy, màu sắc phục đều được khai như sau.

  • Ngày mùng 3 tháng Giêng là ngày các vị thánh vương đi đến xã nhà. Làm lễ bái mừng ở nơi thôn Thượng, bày lập ở sân ngoài nơi đền thờ (lợn đen mổ chia làm ba cỗ, gọi là cỗ sồng, rượu ngọt một vò lớn, lấy trúc trắng làm cần, ba cần cùng cắm vào vò rượu, bánh chay ba mâm, cơm ba nồi, xôi xanh và đỏ mỗi vị hai bát, ca hát một ngày đêm)
  • Ngày mùng 6 đến ngày 15 tháng Giêng là ngày chính lệ Sơn Thánh cùng các thủy thần hội yến du xuân (cỗ trâu, lợn đen, ca hát, đấu vật, các xã cùng đến phụ tế)
  • Ngày mùng 6 tháng Hai là chính lệ làm lễ bái tạ, hai đền đều cùng làm lễ (cỗ trâu, lợn đen, rượu ngọt, bánh trôi 30 viên, mâm chay các thứ).
  • Ngày mùng 10 tháng Tư là chính lệ khánh hạ khai sắc ba vị thủy quan, dân làm lễ (trâu trắng lấy da làm chả, trứng gà sống 3 quả đặt vào trong bồn nước cùng với rượu ngọt, ca hát, chèo thuyền 3 chiếc)
  • Ngày 12 tháng Năm là chính lệ ngày sinh hai thánh (lợn đen, rượu ngọt, cỗ trâu các thứ, ca hát). Hai đền Thượng Hạ, trái phải đều tế cùng ngày.
  • Ngày 15 tháng Bảy là ngày khánh hạ cả 3 đền (gà, lợn).
  • Ngày mùng 6 tháng Tám là ngày khánh hạ hai thánh Tả Hữu (lợn đen, xôi, rượu).
  • Ngày mùng 10 tháng Chín là chính lệ hóa thần của hai thánh Tả Hữu (cỗ trâu, lợn đen, rượu ngọt, mâm chay các thứ).
  • Ngày mùng 10 tháng Mười là ngày khánh hạ mở sắc đền Thủy thần (trâu trắng như kê ở trước, trứng gà, rượu ngọt, ca hát các thứ).
  • Các chữ húy Tang, Lâm, Trang, Hải, Long, Hiển, Sùng đều cấm dùng.
  • Lễ phục hai màu xanh và hồng cấm dùng.

Niên hiệu Hồng Phúc năm đầu mùa xuân ngày mùng 5 tháng Ba, Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính vâng soạn.

Tên gọi của trống đồng, thạp đồng, bình đồng trong văn hóa Đông Sơn

Những vật dụng tiêu biểu của nền văn hóa đồ đồng Đông Sơn được biết là trống đồng, thạp đồng, bình đồng… Tuy nhiên, tên gọi những vật dụng này thực sự là gì ở thời kỳ trước Công nguyên thì có thể biết qua những dòng minh văn khắc ngay trên những hiện vật đó.

Theo TS. Nguyễn Việt, Trung tâm Tiền sử Đông Nam Á chiếc trống đồng tìm thấy ở thôn Trạch Bái, xã Hòa Lâm huyện Ứng Hòa có dòng chữ được đọc là: “Cửu Chân trọng lục quân, ngũ cân, bát lạng, danh viết Phú, đệ vị thập nhất“. Tạm dịch: “ trống Cửu Chân nặng sáu quân, năm cân, tám lạng, tên gọi là Phú, thứ bậc số mười một”. 

Tuy vậy, TS. Đinh Khắc Thuân, Viện nghiên cứu Hán Nôm, lại đọc 2 chữ đầu không phải là địa danh “Cửu Chân”, mà là “Kim nghiễn” 金甗, tức là cái nồi (chõ) đồng. Chiếc trống đồng Trạch Bái được gọi là “chõ đồng” rất có lý, vì trống đồng được biết có công dụng làm nồi để nấu ăn. Sau chữ Nghiễn còn chữ Nhất, nên dòng chữ trên trống đọc đầy đủ là: Kim nghiễn nhất trọng quân ngũ cân bát lạng, danh viết Phú, đệ vị thập nhất. Nghĩa là: Một chiếc chõ đồng nặng 6 quân 5 cân 8 lạng, tên là Phú, thứ 11.

Hai chữ đầu trong minh văn trên trống đồng Trạch Bái (ảnh TS. Nguyễn Việt)

Một hiện vật khác có minh văn nổi tiếng là trống đồng Cổ Loa. Dòng chữ trên trống đồng Cổ Loa được TS. Nguyễn Việt đọc là: “Việt tập (tứ thập) bát cổ, trọng lưỡng cá bách bát thập nhất cân”, Dịch nghĩa: Chiếc trống đồng thứ 48 của Việt tộc, nặng hai trăm tám mươi mốt cân. Chữ đầu tiên là chữ Vu 雩có thể dòng thông với chữ Việt 粵 trong Kim văn, nên cách hiểu như trên là có khả năng. Chữ Vu nguyên nghĩa như một từ đệm mở đầu câu, ở đây có thể hiểu tương đương với chữ Đệ, với nghĩa là “Thứ”. Nếu hiểu như vậy thì dòng chữ trên trống Cổ Loa có nghĩa là: Chiếc trống đồng thứ 48, nặng hai trăm tám mươi mốt cân.

Ở trường hợp trống Cổ Loa, minh văn gọi đúng đây là trống qua chữ Cổ 鼓 (hoặc Trú 壴, cũng có nghĩa tương đương là loại nhạc khí dạng trống).

Minh văn trên trống đồng Cổ Loa (ảnh TS. Nguyễn Việt)

Đối với thạp đồng, TS. Nguyễn Việt có giới thiệu một chiếc thạp thuộc Bảo tàng Barbier-Mueller (Geneva – Thuỵ Sĩ). Trên thạp có dòng 22 chữ, mà được TS. Nguyễn Việt đọc là “Long Xoang trọng lục hoành danh viết quả đệ vị ngũ thập nhị dung nhất trấp nhất đấu thất thăng bán thăng”. Dịch nghĩa: Thạp Long Xuyên, cân nặng sáu hoành, là đồ vật thứ 52, tên gọi là “Quả”, chứa được 21 đấu bảy thăng rưỡi. 

Tuy nhiên, chữ thứ 2 trong dòng chữ này có thể thấy rõ có bộ Kim 金, chỉ một vật đồ đồng, chứ không phải chữ Xoang 腔 mang bộ Nhục (thịt). Chữ thứ 2 này đúng ra phải đọc là Bàn 鎜, dạng khác của chữ Bàn 盤, nghĩa là cái chậu. Như vậy dòng chữ trên thạp này đọc là “Long bàn trọng...”, nghĩa là Chiếc chậu rồng nặng…”

Hai chữ đều trên thạp đồng ở Thụy Sĩ (ảnh TS. Nguyễn Việt)

Một chiếc thạp có chữ khác hiện được trưng bày ở bảo tàng Hoàng Long tại Thanh Hóa. Chữ trên chiếc thạp này còn có thể đọc được là: “Kim bàn nhất danh viết Trân, đệ ? vị” 金鎜一名曰鉁第?未, nghĩa là: “Một chiếc chậu tên gọi là Trân, chiếc thứ ?”. Tên gọi chiếc thạp này được khắc là Trân 鉁 bằng bộ Kim, chỉ đồ dùng bằng đồng. Chữ Trân này tương đương với chữ Trân 珍 bộ ngọc, chỉ đồ vật quý, khác là đồ vật này bằng kim loại. Ở chiếc thạp này cũng dùng chữ Bàn 鎜 như trong trường hợp chiếc thạp ở Thụy Sĩ.

Dòng chữ trên thạp đồng ở bảo tàng Hoàng Long, Thanh Hóa

Cuối cùng là chiếc bình đồng tìm thấy trong mộ Nghi Vệ, Bắc Ninh hiện đang trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia. Trên chiếc bình này có dòng chữ được TS. Nguyễn Việt đọc là: “Luy Lâu hồ dung nhất thạch danh viết vạn tuế đệ vị thập lục”, nghĩa là: Bình của Luy Lâu, chứa được một thạch, tên gọi là “Vạn Tuế”, là đồ vật thứ 16. 

Tuy nhiên, cũng tương tự như những vật đồ đồng trên, 2 chữ đầu của chiếc bình có bộ Kim 金 khá rõ. Vì thế hai chữ này phải đọc là Kim lũ 金鏤. Cả dòng chữ đọc thành “Kim lũ hồ…” tức là “Chiếc bình đồng có chạm khắc…”

Bình đồng Nghi Vệ và dòng chữ

Như vậy, trống đồng ngoài dùng là nhạc khí có tên gọi là Trống (hay Trú), còn được gọi là cái Chõ (Nghiễn). Thạp đồng còn gọi là cái Chậu (Bàn). Bình đồng gọi là Hồ, không khác ngôn ngữ ngày nay.

Trên các đồ đồng Đông Sơn người Việt đã sử dụng chữ tượng hình một cách thành thạo, gọi tên đồ vật, ghi lại danh xưng, trọng lượng, dung lượng, thứ tự của đồ vật. Có thể nói những chữ Kim văn trên đồ đồng này chính là chữ viết của người Việt khi đó, vốn được lưu truyền là chữ Khoa đẩu.

Công đồng Thủy phủ

Gương đồng dạng trùng liệt thần thú thời Tam Quốc tìm thấy ở di chỉ Óc Eo – Ba Thê.

Thoải phủ hay Thủy phủ trong địa lý văn hóa Việt ứng với hướng Đông, nơi có biển Đông (Động Đình) và đồng bằng sông Hồng (sông Đào). Cội nguồn của đạo Mẫu Tam Tứ phủ xuất phát từ khu vực này nên Thoải phủ đóng vai trò rất quan trọng trong thần điện của Tứ phủ. Xin điểm lại những vị thần chính được ghi chép và thờ phụng trong Động Đình Thoải phủ.

Các vị thần của Thủy phủ được kể đến từ những hướng ghi chép khác nhau. Huyền sử Việt như trong Truyện họ Hồng Bàng của Lĩnh Nam chích quái được lấy làm căn cứ chính. Truyền thuyết Trung Hoa về các vị thần thời cổ, đặc biệt là trong Đạo giáo, là một góc nhìn khác. Tín ngưỡng thờ cúng các vị thủy thần ở miền Bắc Việt và miền Trung (Nghệ An, Hà Tĩnh) cũng là những sắp xếp khác của 2 vùng đất cổ Hồng và Lạc từ thời lập quốc Hùng Vương. Cổ Lôi ngọc phả truyền thư, do Nguyễn tộc ở khu vực Thanh Oai lưu truyền lại là một cách kể, cách sắp xếp khác nữa. Nhưng tất cả đều là hình bóng của một giai đoạn lịch sử của người Việt đã theo cha Lạc Long Quân đi khai phá miền duyên hải.  

Động Đình Đế Quân

Khởi đầu của Thủy phủ Động Đình là từ Động Đình Đế Quân, người cha của mẫu Thần Long, được nhắc đến trong Truyện họ Hồng Bàng. Trong các di tích vị này được thờ với tên là Thủy phủ Phù Tang Cam Lâm Đại Đế, như ở làng An Nội, thôn Khương Thị, tổng Cổ Viễn, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam, hay ở đền Thanh Liệt và đền Nghĩa Sơn bên dòng sông Lam của huyện Hưng Nguyên, Nghệ An.

Ở khu vực kinh đô rồng của Thủy quốc Động Đình tại trên đất Thăng Long, Động Đình Đế Quân chính là thần Long Đỗ được  kể đã từng hiển linh trước Cao Biền trong Truyện thần chính khí Long Đỗ. Đền thờ thần là đền Bạch Mã, trấn Đông của thành Thăng Long. Chú ý là đền Bạch Mã thờ cả 2 vị thần là thần Long Đỗ và thần Tô Lịch (Bạch Mã), nên thần Long Đỗ không phải là thần Bạch Mã. Một nơi khác thờ 2 vị thần này là ở vạn Liên Ngạc ven sông Hồng trên vùng Từ Liêm, thờ Thủy phủ Chí tôn Long Vương và thần Tô Lịch. 

Cổ Lôi ngọc phả của Nguyễn tộc ở Bình Đà cũng cho biết cụ Long Đỗ Hải Vương trấn trị ở cửa sông Tô Lịch vùng Nghi Tàm, là cha của bà Đỗ Thị Ngoan, tức là mẫu Thần Long trong trong Truyện họ Hồng Bàng.

Trong truyền thuyết Trung Hoa thì Thủy phủ Phù Tang Cam Lâm Đại đế là Đông Vương Công hay Đông Hoa Đế quân, vị thần chủ các nam tu trong Đạo giáo. Trên gương đồng thời Đông Hán – Tam quốc thường có đúc hình Tây Vương Mẫu và Đông Vương Quân như hai vị thần chủ các vị thần tiên ở 2 hướng Đông Tây, cho các nam – nữ đạo nhân.

Thần Long Động Đình

Vị mẫu của Thoải phủ là bà Xích Lân Long Nữ, là con gái của Long Vương Động Đình, vợ của Kinh Dương Vương trong Truyện họ Hồng Bàng. Bà là người sinh ra Lạc Long Quân. Mẫu Thần Long đặc biệt có nhiều tên gọi trong các sự tích khác nhau như là Động Đình thánh mẫu Phan Cù Nương trong sự tích ở La Phù, Thanh Thủy, Phú Thọ, hay là bà Trang Hoa trong sự tích ở Đào Xá, Thanh Thủy, Phú Thọ, hay là Quý Nương sinh Hoàng xà trong sự tích ở Đào Động, Quỳnh Phụ, Thái Bình. Bà cũng là Đông Cuông Thánh mẫu ở Tuyên Quang, người sinh ra Linh Uyên Đại vương ở đền Ngọc Tháp, Lâm Thao, Phú Thọ. Bà là bà Diệu Đế trong sự tích Uy Linh Lang ở hồ Dâm Đàm. 

Trong sự tích về Tản Viên Sơn Thánh thì bà là con rắn Thủy Tinh, con của Động Đình Long Vương, đã được Sơn Thánh cứu sống bên bãi Trường Sa. Trong dòng sử Cổ Lôi ngọc phả thì đây là con gái của Long Đỗ Hải vương, tức là bà Đỗ Thị Ngoan, người được tôn là Sa Bà giáo chủ. Trong truyền thuyết Trung Hoa bà là Đồ Sơn Thị, người đã kết duyên cùng với vua Đại Vũ khi trị thủy.

Kinh Dương Vương

Một trong những vị vua của Thủy phủ chính là Kinh Dương Vương, được kể đến là vị Liễu Nghị. Di tích về Liễu Nghị cùng với Xích Lân Long Nữ còn dọc theo sông Hồng như ở Thanh Miện, Hải Dương, hay ở vùng Hà Nam, thậm chí còn vào tới Nghệ An như tại đền Nghĩa Sơn, Hưng Nguyên. Trong Hoa sử thì Kinh Dương Vương là vua Đại Vũ trị thủy ở Long Môn.

Với tư cách là cha của các vị Long hầu, Kinh Dương Vương được kể là Hùng Hải ở sự tích Đào Xá, Thanh Thủy, Phú Thọ, hay ông Đào Bột trong sự tích về Thổ Lệnh Trưởng Trung Thành Đại vương. Ở Nghệ An, có sự tích Kinh Dương Vương gặp Thần Long tại cửa biển Hội Thống. Ở vùng này Kinh Dương Vương được thờ là Mạch Sơn Trấn quốc, hay đơn giản là Mạc Sơn trong tên thần Cao Các Mạc Sơn.

Trong Cổ Lôi ngọc phả thì Kinh Dương Vương được gọi là cụ Nguyễn Minh Khiết, người đã ruồng bỏ bà Đỗ Thị Ngoan. Cụ Nguyễn Minh Khiết có 2 anh em nữa là Nguyễn Nghi Nhân và Nguyễn Long Cảnh. Đây là bộ ba Tam vị Tản Viên, được Cổ Lôi ngọc phả gọi thành Tam phủ Công đồng.

Cụ Nguyễn Long Cảnh tuy không phải đứng trong Thủy phủ Động Đình nhưng là người có liên quan mật thiết tới Thủy phủ vì đã theo giúp cháu đánh giặc. Trong tín ngưỡng Việt thì vị này được thờ là Lãng Nhạc Quý Minh, Hữu kiên thần của Tản Viên Sơn Thánh, người từng đi từ cửa Thần Phù lên đến bến Long Đỗ và hóa ở đó. Đền thờ Quý Minh ở Thăng Long là ở phường Đông Hà, huyện Thọ Xương dưới thời Lê là ngôi đền tham gia vào lễ tế Xuân ngưu.

Lạc Long Quân

Vua cha Bát Hải Động Đình, người đứng đầu thủy cung thì không ai khác là cha Lạc Long Quân mà người Việt coi là quốc tổ. Trong Tứ phủ Lạc Long Quân được gọi là vua cha Bát Hải Động Đình, xuất thế nơi biển Động Đình, đánh giặc Thục ở phía Tây, dựng nên nước Đào – Hoa – Hạ. Đền thờ chính là đền Đồng Bằng ở Quỳnh Phụ, Thái Bình. Trong Hoa sử thì đây là Hạ Khải, người mở đầu Hoa Hạ.

Ở vùng hồ Tây, Lạc Long Quân là thủy thần hồ Dâm Đàm, người đã cùng Lục bộ thủy phủ dâng nước diệt Cửu vĩ Hồ. Ở đây Lạc Long Quân được thờ với tên là Linh Lang hay Uy Linh Lang, cũng là vị thần rất phổ biến ở ven các dòng sông trên đồng bằng Bắc Bộ.

Trong Cổ Lôi ngọc phả Lạc Long Quân được gọi là Kinh Dương Vương Nguyễn Quảng, mà dẫn chứng cụ thể là bức giá tượng Lạc Long Quân ở đình Nội Bình Đà được ngọc phả này gọi là Kinh Dương Vương. 

Trong quan hệ với Động Đình Đế Quân (Long Đỗ) và Bột Hải Vương (Kinh Dương Vương) thì Lạc Long Quân được thờ là Hà Bá Thủy quan. Tục thờ Hà Bá Thủy quan gặp phổ biến ở Hà Nam như ở làng Hàn Mặc – tổng Cổ Viễn, làng An Cước, làng An Thái – tổng Ngô Xá, huyện Bình Lục, làng An Mông, tổng Đọi sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Hà Bá Thủy quan còn gặp ở trong các đền thờ Thủy phủ ven sông Lam ở Nghệ An như đền Thanh Liệt, đền Nghĩa Sơn ở huyện Hưng Nguyên.

Ngũ vị tôn quan

Riêng Thoải phủ với vai trò lập quốc như vậy nên có thêm hàng các vị quan lớn, hợp thành ban Công đồng trong thần điện. Đây là những vị quan tướng đã theo vua cha Bát Hải làm cuộc “kháng chiến” đánh Thục và lập nên quốc gia lịch sử chính thức đầu tiên của người Việt là Hoa Hạ.

Trong số 5 vị thì đáng kể nhất là Quan lớn đệ Tam và Quan lớn đệ Ngũ. Quan đệ Tam là Trưởng Lệnh hay Thổ Lệnh (Thủ Lệnh), đứng đầu quan chức của Thoải phủ. Nơi hiển danh của ông là Lảnh giang hay Yên Lệnh (nơi yên nghỉ của Trưởng Lệnh). 

Quan lớn đệ Ngũ còn gọi là Quan tuần Tranh, có lẽ là người “thi hành công vụ” chính (nay ta gọi là hành pháp). Nơi hiển danh chính là ở sông Tranh (Hải Dương). Quan đệ Ngũ còn được gọi là Thạch Khanh trong sự tích các vị thần Tam Giang của ngã ba Bạch Hạc. Vị này nổi tiếng còn bởi nỗi oan khuất, bị đày lên sông Kỳ Cùng ở Lạng Sơn.

Sự tích các vị thủy quan sinh cùng một bọc, lớn lên được cử trấn nhậm các phương đầu sông góc biển có khá nhiều. Như đó là 5 vị Long Vương trong sự tích La Phù, Thanh Thủy, Phú Thọ. Hay Tam Công Long Vương trong sự tích Đào Xá, Thanh Thủy, Phú Thọ. Hay 5 vị Quảng Xung, Quảng Bác, Quảng Tế, Quảng Hóa, Quảng Xuyên ở vùng Ứng Hòa. Cũng là Tam Lang Long Vương thờ phổ biến ở vùng Hà Tĩnh.

5 vị tôn quan trấn trị 5 phương, được truyền thuyết Trung Hoa gọi là Ngũ đế Thiên hoàng hay Ngũ phương Yết đế. Hình tượng 5 vị này được thể hiện trên những chiếc gương dạng thức trùng liệt thần thú, gặp phổ biến dưới thời Tam quốc.

Cổ Lôi ngọc phả kể 8 người anh em họ Đỗ đi tu trở thành Bát bộ Kim cương, cũng chính là các vị tôn quan của Thoải phủ. Trong sự tích hồ Dâm Đàm thì đây là Lục bộ Thủy phủ của Lạc Long Quân hay Đoài hồ Thất Giáp theo Uy Linh Lang như ở đình Nhật Tân. Phía bên đường Thụy Khuê, là ven sông Tô Lịch trước đây thì các vị Lạc Long hầu là hai vị Cống Lễ và Cá Lễ ở đền Dực Thánh và đền Vệ Quốc.

Tuy không thuộc giai đoạn lập quốc vùng sông nước Động Đình, nhưng lại có liên quan đến thời kỳ này là những vị thần của dòng Lạc Long ở giai đoạn cuối của Kinh triều. Sử Việt gọi là Sùng Lãm (phân biệt khác với Lạc Long Quân ở giai đoạn đầu Kinh triều). Ở vị trí này thì Sùng Lãm là Tản Viên Nguyễn Tuấn. Cổ Lôi ngọc phả gọi là Hùng Lãm, là Pháp Lôi trong Tứ pháp. Trong Hoa sử đó là vị Bắc bá hầu của nhà Ân Thương, được biết dưới tên Sùng Hầu Hổ, đã chống lại cuộc tấn công của Tây bá hầu Cơ Xương, mà sử Việt gọi là giặc Thục. Những người anh em của Tản Viên Nguyễn Tuấn là Cao Sơn và Quý Minh, cũng là trong bộ Tứ pháp của Cổ Lôi ngọc phả. Phân biệt các vị Cao Sơn, Quý Minh họ Sùng ở đời Hùng Vương thứ 18 (đời cuối) với các vị Cao Sơn, Quý Minh trong bộ Tam vị Tản Viên thời lập quốc Kinh triều.

Câu ca dao xưa về dòng dõi Tiên Rồng xuất phát từ cái nôi Đào Hoa Hạ ở vùng Động Đình Thủy phủ:
Gió Động Đình mẹ ru con ngủ
Trăng Tiền Đường ấp ủ năm canh
Tiết trời thu lạnh lành lanh
Cỏ cây khóc hạ, hoa cành thương đông
Bống bồng bông, bống bồng bông
Võng Đào mẹ bế con Rồng cháu Tiên.

Về vị thần Trung Thành Phổ Tế Đại vương – Thổ Lệnh Thống quốc Lạc Long hầu, Nam long Trưởng lệnh, quyền đảm Trung Hoa tể quốc

Trung Thành Phổ Tế Đại vương là một vị thần được thờ ở nhiều nơi, rộng khắp dọc theo sông Hồng. Thống kê trong hệ thống bản khai thần tích thần sắc các làng năm 1938 thì có 96 nơi thờ Trung Thành Đại vương, tập trung nhất là ở Hà Đông cũ (chủ yếu ở Thường Tín, Phú Xuyên) gồm 37 nơi, Hà Nam 14 nơi (chủ yếu ở Duy Tiên), Hưng Yên 11 nơi (Kim Động), Kiến An (An Dương, Hải Phòng nay) 11 nơi, Sơn Tây 6 nơi (Quốc Oai và Phúc Thọ, nay thuộc Hà Nội), Phú Thọ 2 nơi (Việt Trì), Vĩnh Yên và Bắc Ninh mỗi chỗ 4 nơi. Đây chắc chắn là thống kê còn chưa đầy đủ, số lượng các nơi thờ Trung Thành Đại vương như vậy lên tới hàng trăm chỗ.
Sự tích về Trung Thành Đại vương có thể tóm tắt như sau. Vào đời Hùng Duệ Vương, có ông bộ trưởng Hải Dương là họ Đào tên Bột, lấy vợ thứ, sinh một bầu năm trứng, nở ra 5 người con trai, đặt tên là Cự, Hồng, Trưởng, Thạch Khanh, Quý Lân. 5 người con có hình dung tướng mạo kỳ dị, tính ưa chơi đùa dưới nước, khi trưởng thành sớm có kỳ tài dị thuật. Khi vua Hùng mở trường thi tuyển hiền, 5 người ra ứng thí, được nhà vua phong chức trong, phụ trách 5 phương. Các ông nhận nơi trị nhậm, an yên dân chúng ở đó, mưa nắng thuận hòa, mùa màng tươi tốt. Khi đất nước có quân Thục đến đánh, các ông cùng với Tản Viên Sơn Thánh dẫn quân chống giặc. 3 vị Cự, Hồng, Quý hóa sớm. Ông Trưởng được thăng chức là Thổ Lệnh Trưởng, cầm đầu thủy quân, phá tan giặc. Rồi ông lại đánh giặc Hồng Châu, chém đầu tướng giặc. Sau ông được phong là chưởng quản thuyền rồng, là Trung Hoa tể quốc, đi tuần hành khắp dọc các sông. Ông xây dựng cung thứ nhất ở ngã ba Bạch Hạc, cung thứ hai ở ngã ba sông Lương giang, và nhiều hành cung các nơi khác. Sau này ông hóa ở cung Tông Chất (tức Đa Chất ở Lương giang), được tôn thờ là Trung Thành Phổ Tế Đại vương. Đến đời Đường Vĩnh Huy, đô đốc Giao Châu là Lý Thường Minh có gặp các ông hiển ứng ở quán Tam Thanh tại ngã ba Bạch Hạc. Khi đó hai ông Thổ Lệnh và Thạch Khanh thi đấu tài nghệ. Ông Thạch Khanh lấy sức nhảy qua bờ bên kia sông thì đã thấy ông Thổ Lệnh ở đó trước. Thế là Lý Thường Minh cho tạc tượng hai ông để thờ trong quán Tam Thanh bên bến Việt Trì. Truyện này được chép trong Lĩnh Nam chích quáiViệt điện u linh.

Bài vị Trung Thành Phổ Tế Đại vương ở đình Đồng Văn, Hà Nam.

Phân tích so sánh sự tích về Trung Thành Thổ Lệnh Trưởng có thể thấy:

  1. Ông bộ trưởng Đào Bột: tương tự sự tích Hùng Hải Công ở Đào Xá, Phú Thọ, sau làm bộ trưởng Hải Dương, có tên là Hải Vân Long Vương Động Đình Thủy Đế. Đây cũng là Kinh Dương Vương, với góc nhìn từ Thủy phủ Động Đình.
  2. Nhất bào ngũ tử: Trước khi sinh bà phu nhân của ông bộ trưởng từng gặp điềm 5 quả trứng trên mặt nước trôi đến, vỡ chảy thành nước thấm quanh người, từ đó mang thai sinh ra một bọc 5 trứng. Nở ra 5 người con có hình dáng kỳ dị như thủy thần xuất thế. Sự tích này tương tự việc bà Trang Hoa sinh Tam Công Long Vương ở Đào Xá, Thanh Thủy, Phú Thọ. Cũng giống chuyện bà Phan Cù Nương sinh ba con rắn ở Thanh Thủy, Phú Thọ, hay chuyện Quý Nương sinh 3 con Hoàng xà ở đền Đồng Bằng, Quỳnh Phụ, Thái Bình. Cũng giống như sự tích 5 anh em cùng bọc Quảng Bác, Quảng Xung, Quảng Xuyên, Quảng Tế, Quảng Hóa ở khu vực Duy Tiên – Cầu Giẽ – Chương Mỹ, hay chuyện Tam Lang Long Vương ở Hà Tĩnh, và nhiều nơi khác, với cốt truyện chung là sinh bọc trứng nở ra 2, 3 hay 5 người con hình dáng như rồng rắn, là thủy thần xuất thế.
  3. Những người con khi trưởng thành được cử đi trấn nhậm các xứ đầu sông góc biển. Ngọc phả làng Phú Nhiêu (Phú Xuyên, Hà Nội) chép:
    • Ông thứ nhất làm chủ tể quận thành Hải Dương, đóng ở ngã ba sông Hồng
    • Ông thứ hai làm chủ tể đạo Sơn Tây ở ngã ba hợp lưu của sông Lâm Thao, sông Đà, sông Chiểu, tục gọi là ghềnh Ba Chậu (Triệu).
    • Ông thứ ba là ông Trưởng là chủ tể quận thành Sơn Nam, đóng tại đất trang Tông Chất, huyện Phù Vân, phủ Thường Tín. Cung điện dựng ngự ở nơi trán rồng chỗ ba sông Lương, sông Du, sông Tô hợp lưu.
    • Ông thứ tư là ông Quý xây thành và cung điện ở thành Kinh Bắc, ngã ba sông Vũ, sông Cẩm, cung đóng ngự ở thế chính đầu vùng đất chim loan.
    • Ông thứ năm xây thành ở Nam Chân, quận Giao Chỉ, ngã ba sông Vạn và cửa biển, cung ngự đóng ở chính cục đầu con lân.

    Một trong những nơi các ông trấn nhậm là ghềnh Ba Triệu ở chỗ hợp lưu của sông Đà, sông Thao, chính là khu vực Thanh Thủy, nơi có sự tích các vị thủy thần trấn nhậm trong thần tích Đào Xá hay thần tích La Phù.
  4. Ngũ vị tôn quan: Sự tương đồng trong sự tích về sinh một bầu nở ra nhiều người con và đặc biệt là sự trùng khớp về nơi hiển linh của vị thứ ba Trung Thành Thổ Lệnh Trưởng ở Đa Chất (Duy Xuyên) với Quan lớn Đệ tam Thoải phủ ở đền Lảnh (Yên Lệnh) cho thấy 5 anh em trong sự tích Trung Thành Đại vương cũng là Ngũ vị tôn quan của Tứ phủ.
  5. Trung Quốc Hoa Hạ: Triều đại của ngũ vị long hầu này là thời Lạc Vương, như ngọc phả Phú Nhiêu có gọi Thổ Lệnh Trưởng là Lạc Long hầu. Đây cũng là thời kỳ mở đầu của nhà Hạ của Trung Hoa, được nhắc tới trong họ Đào của ông bộ trưởng Hải Dương vì Đào là màu đỏ, cũng tương ứng với Hoa Hạ. Thổ Lệnh Trưởng còn được phong chức là Trung Hoa tể quốc, càng cho thấy rõ điều này.
  6. Giặc Thục ở Hồng Châu: 5 vị long hầu thủy quốc thường được chép là đánh giặc Thục và/hoặc đánh giặc Hồng Châu. Đây là cuộc chiến lập quốc của nhà Hạ, khi Lạc Long Quân (tức Hạ Khải) đã đánh đuổi chính dòng của Đế Nghi và Đế Lai, dành lấy quyền cai quản Thiên hạ Trung Hoa khi đó. Đế Nghi vốn đóng đô ở đất Hồng Lĩnh nên dòng tộc này được truyền thuyết gọi thành giặc Hồng Châu. Đế Lai bị đánh đuổi phải bỏ chạy về phía Tây lên núi, nên được gọi là dòng Thục (Thục nghĩa là phía Tây).
  7. Ngũ đế thiên hoàng: 5 người con trấn nhậm 5 phương Đông Tây Nam Bắc, là các Long Vương của những khu vực này. Ngọc phả đình Tri Thủy (Phú Xuyên) chép:
    • Người thứ nhất là Đông Long Thái sư
    • Người thứ hai là Tây Long Thái phó hầu
    • Người thứ ba là Nam Long Trưởng lệnh hầu
    • Người thứ tư là Bắc Long Thái bảo hầu
    • Người thứ năm là Trung Long Thiếu quý hầu.

    5 vị Long hầu ở đây tương ứng với Ngũ đế thiên hoàng trong Đạo giáo Trung Hoa, theo Lão Tử trung kinh:
    • Thần phương Đông tên là Câu Mang Tử, hiệu là Văn Thuỷ Hồng Nhai Tiên Sinh, là Đông phương Thương đế, Đông Hải quân;
    • Thần phương Nam tên là Chúc Dung Tử, hiệu là Xích Tinh Thành Tử, là Nam phương Xích đế, Nam Hải quân;
    • Thần phương Tây phương tên là Nhục Thu Tử, hiệu là Hạ Lý Hoàng Công; là Tây phương Bạch đế, Tây Hải quân;
    • Thần phương Bắc tên là Ngu Cường Tử, hiệu là Huyền Minh Tử Xương, là Bắc phương Hắc đế, Bắc Hải quân.
    • Thần Trung ương tên là Hoàng Thường Tử, hiệu là Hoàng Thần Bành Tổ, là Trung ương Hoàng đế quân.

    Tứ hải Long Vương (Đông Hải, Tây Hải, Bắc Hải, Nam Hải) như vậy thực ra không phải là 4 vùng biển, mà là 4 khu vực sông nước ở thời kỳ lập quốc, chia theo 4 phương.
  8. Truyện Thổ Lệnh và Thạch Khanh hiển linh và được thờ ở quán Tam Thanh bên bến Việt Trì cho thấy rõ 2 vị này là các thủy thần trấn phương của Đạo giáo. Điều này càng xác chứng rằng việc khắc đúc Ngũ đế thiên hoàng lên những chiếc gương đồng thời kỳ Đông Hán – Tam Quốc, khi Đạo giáo trở thành một tôn giáo chính thống ở phương Đông.
  9. Ngũ phương yết đế: Theo tư liệu về đền thờ Sát Hải Đại vương ở xã Diễn Vạn, huyện Diễn Châu, Nghệ An, nơi đây trong lễ thả thuyền rồng (lễ tống long chu) hàng năm vào ngày 15 tháng Ba âm lịch, pháp sư mở đầu khi nhập đàn đọc chú:
    • Phụng thỉnh Đông phương Thanh đế Thanh Long Vương hàm phù chân khí ngộ nhập thủy trung;
    • Phụng thỉnh Tây phương Bạch đế Bạch Long Vương hàm phù chân khí ngộ nhập thủy trung;
    • Phụng thỉnh Nam phương Xích đế Nam Long Vương hàm phù chân khí ngộ nhập thủy trung;
    • Phụng thỉnh Bắc phương Hắc đế Hắc Long Vương hàm phù chân khí ngộ nhập thủy trung;
    • Phụng thỉnh Trung ương Hoàng đế Hoàng Long Vương hàm phù chân khí ngộ nhập thủy trung.

    Có thể thấy, tục thỉnh Ngũ phương yết đế vẫn còn lưu lại được trong lễ tế ở miền Trung. Ngũ phương Long Vương ở đây chính là Ngũ vị tôn quan của Thoải phủ hay 5 anh em trong câu chuyện về Trung Thành Thổ Lệnh Trưởng.

Khởi đầu từ Lạc Long Quân mở Hoa Hạ, thiên hạ lúc này được phân chia thành 5 phương Đông Tây Nam Bắc và Trung ương. Mỗi một phương do một vị hầu tước cai quản. Cách thức chia thiên hạ này còn kéo dài mãi đến cuối thời nhà Ân Thương, khi đó Cơ Xương là Tây Bá hầu phụ trách miền Tây (Tây Kỳ) và Sùng Hổ là Bắc Bá hầu, phụ trách phương Bắc xưa (tức phương Nam nay). Sự tích về Trung Thành Phổ Tế Đại vương như vậy thực sự là một bản tóm lược lịch sử của thời kỳ theo cha xuống biển, khai mở vùng sông nước ven biển Đông.

Miếu Phú Nhiêu ở Phú Xuyên, Hà Nội.

Ngọc phả Trung Thành Phổ Tế Đại vương ở thôn Phú Nhiêu, xã Bất Nạo, tổng Lương Xá, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Đông

Ngọc phả Long hầu bộ Thủy Thượng đẳng Trung Thành Phổ Tế Đại vương, là công thần triều Hùng Duệ Vương họ Việt Thường

Chính bản bộ Lễ quốc triều

Xưa nước Việt ta tương truyền triều Kinh 18 nhánh, truyền đến Hùng Duệ Vương tại ngôi, đóng đô ở Việt Trì bên sông Bạch Hạc, lập nước tên Văn Lang, kinh đô là thành Phong Châu. Duệ Vương có lòng nhân đức như trời, có trí tuệ như thần, rủ áo khoanh tay, lấy việc chăm lo cho nhân dân làm gốc. Đương thời khắp nơi đều gọi là bậc vua hiền.

Đang khi đó ở đất Ái Châu, phủ Kinh Môn, huyện An Lão, châu Cửu Giang có một gia tộc danh tiếng họ Đào, tên là Bột, lấy vợ người trong huyện tên là Phạm Thị Hương. Gia tộc ông Bột kế truyền là dòng dõi quan lại, có nề nếp thơ văn lễ nhạc, lấy việc nhân nghĩa làm gốc. Khi ông Bột ở tuổi 16 đã có trí dũng hơn người, tài năng vượt trội, tinh thông văn võ, ra đi thi ứng tuyển được nêu danh. Vua cho làm chức Thiếu phó, bổ nhiệm là Bộ trưởng Hoan Châu.

Nhận chức được 5-6 năm, trong châu đều yên bình, giàu đủ. Vua lại gọi về triều, thăng chức làm Hình tào Thượng thư. Về sau dẹp được giặc ở Hải Dương, một trận quét sạch, Vua bổ nhiệm làm Bộ trưởng Hải Dương, chủ trị một vùng. Chẳng may bà chính phi mất sớm. Ông lại lấy con gái của huyện lệnh huyện Kim Bảng phủ Lỵ Nhân bộ Giao Chỉ tên là Nguyễn Hương, lập làm Đệ nhị phi nhân. Bà tuổi 19, có đức hạnh kiêm toàn, đẹp người đẹp nết, má phấn môi hồng, mày ngài mắt phượng, thân tự tỏa ra mùi hương thơm, nhan sắc tuyệt trần, thế gian không ai sánh. Từ khi ông bộ trưởng Bột lấy về, loan phượng cùng xứng đôi, cầm sắt giao duyên, uyên ương tình nồng mặn mà, cầm sắt hòa thanh ý tốt. Qua 3-4 năm càng thêm hòa hợp ân ái.

Lại nói, khi ông Bột nhận chức bộ trưởng Hải Dương, cả quận được thanh bình, giàu đủ. Một hôm bỗng nhiên mặt biển không có sóng mà nước dâng ngập khắp thành. Khi đó, ông Bột cùng Đệ nhị phi nhân đi tránh nước lụt bèn lên trên đài cao mà ngồi, dựa vào lan can trên lầu. Lúc ấy, bà phi ngoái nhìn ra dòng nước sông chảy, ngắm cảnh trăng trong nước biếc. Đang khi ngắm cảnh bỗng thấy trên dòng nước có 5 quả trứng nổi lên giữa dòng, trôi thẳng đến trước mặt bà phi.

Năm quả trứng tỏa sáng huy hoàng một vùng mặt nước, trôi đến dưới bên đài gác. Bà phi thấy vậy lấy làm lạ. Ông bộ trưởng cũng quay ra xem, rồi chỉ vào đó nói với bà phi rằng:

  • Đây tất là châu báu dưới biển mà Long quân đem đến cho ta. Phi nhân hãy vớt châu lên xem thử trứng đó như thế nào.

Bà phi bèn vâng mệnh vớt trứng lên xem, được một ổ 5 quả trứng đều sáng rực rỡ như ngọc trắng. Ông bộ trưởng thấy vậy lại nói với bà phi rằng:

  • Đúng là vật lạ quý báu của trời ban.

Liền nói với bà phi thu đem cho vào trong áo để cất giữ. Bỗng nhiên trứng tự nhiên vỡ ra, tiếng vang như sấm, chảy thành nước cả, mùi thơm ngào ngạt. Bộ trưởng và bà phi lấy làm kinh sợ sự việc quái lạ dị thường. Đến khi nước rút đi, bộ trưởng cùng phu nhân đi xuống gác về cung, nghĩ lại sự quái dị của mấy quả trứng, bèn lập đàn cầu đảo trời đất trăm thần để xua đuổi điềm trứng quái. Nửa đêm hôm đó ông bộ trưởng nằm mộng thấy giữa trời có một đám mây bay năm màu. Xem kỹ lại thấy có một mặt rồng, hai mắt rất sáng và to, đôi râu rồng dài trắng, miệng ngậm một dải gấm hồng, dài thả thẳng xuống mặt đất. Ông bèn xem dải gấm đó, thấy có viết bốn câu thơ rằng:

Phó hứa Đào gia ngũ noãn [thần]
Nhất bào cụ xuất ngũ long quân
Thiên tài cộng giáng phù gia quốc
Phúc triệu hà nghi hữu quái vân.

Nghĩa là:

Trao gửi họ Đào năm trứng thần
Một bầu sẽ nở năm Long quân
Thiên tài giúp nước đều cùng giáng
Là phúc không sai, chớ ngỡ ngần.

Vị chủ công đọc xong, dải gấm bỗng nhiên rơi xuống phủ quấn ba vòng lên người ông. Vị chủ công bỗng tỉnh lại, biết là điềm trong mộng. Từ đó phu nhân bỗng có thai. Đến năm Đinh Mão ngày 12 tháng Hai sinh được một bầu, nở ra năm người con trai, đều thực là có diện mạo đẹp đẽ kỳ lạ, thân hình cao lớn, ở trên lưng đều có một hàng vảy cá chạy tới hậu môn hình 28 vì tinh tú, đều là vảy màu đỏ. Vị thứ nhất trên đầu hai bên đều có mọc thịt sừng, hình như quả trứng gà. Vị thứ hai ở dưới chân có 10 cái vảy, đầu dài và hình giống như vuốt rồng, màu như đầu ngọc. Vị thứ ba tay dài quá gối, mặt rộng tai to, sáng như mặt trời hồng mới mọc, mắt phượng mày ngài, mũi rồng hàm én. Vị thứ tư tóc như lông lân, hình xoắn ốc lên phía trên. Vị thứ năm mũi rồng hàm én, mắt tròn sáng như sư tử. Cả năm người đều khác xa người thường, thế gian hiếm có.

Đang khi sinh trời đất mù mịt, mưa to gió lớn nổi lên, sấm sét ầm ầm, nước sông dâng lên tràn vào cửa nhà, rắn vào đầy sân. Người người không dám ở đó, đều sợ hãi trộm nhìn. Đến khi sinh được trăm ngày ông bộ trưởng bèn đặt tên cho năm người con tài tử. Ông thứ nhất là ông Cự. Ông thứ hai là ông Hồng. Ông thứ ba là ông Trưởng. Ông thứ tư là ông Thạch Khanh. Ông thứ năm là ông Quý Lân.

Nuôi dưỡng lớn lên tới lúc 7 tuổi, khi đó các ông đều có khí chất vốn kỳ lạ, khác hẳn người thường. Đức tính khoan dung đại lượng, trí dũng hơn người, tư chất chính trực, trung hòa, thông minh kỳ dị, tài cao vượt thế. Khi đi du hành ở ngoài đường trên đều có một đám mây hình tròn, che trên đầu, bốn phía hào quang sáng rạng rực rỡ, một vùng trong mát. Thân hình tựa rồng kỳ quái. Người đời thấy đều sợ hãi.

 Đến năm 15 tuổi các ông văn võ kiêm toàn, có thuật lạ của thánh thần, sức có thể nâng đỉnh, lực có thể bạt núi, tính lại rất ưa nước. Anh em thường ra chơi ngoài bến sông. Ngày thường tắm ở nơi bến nước. Thường đứng trên đầu sóng, đi trên mặt nước như bay, qua sông như giẫm trên mặt đất. Hoặc có lúc lặn ẩn dưới đáy sông, đến cuối ngày vẫn chưa lên. Những hôm như thế tất thiên hạ có mưa to gió lớn nổi lên mù mịt.  Một tháng vài lần chơi mát như thế. Nhân dân xem xét thấy đều cùng kinh hồn lạc phách, đều gọi là năm thánh giáng trần. Khi đó, ông bộ trưởng đã biết năm người con đúng là mệnh thủy thần khác thường, nhưng không dám tiết lộ cho người trong triều đình biết.

Đến khi lên 16 tuổi, bà phu nhân qua đời (tức là ngày mùng 10 tháng 2). Ông bộ trưởng cùng với năm vị làm lễ chôn cất. Lại nói, khi đó thiên hạ gặp nạn hạn hán, khô cháy cây cỏ trong ba bốn năm liền. Nhân dân trong thiên hạ đều bị đói khát, nhiều bệnh tật. Lại sinh ra trộm cướp. Vua trong lòng thương xót sinh linh, bèn mở trường để tuyển người hiền lương chính trực, có hiếu đễ, anh tài, có học vấn uyên bác, văn võ kiêm toàn, có tài đức để có thể giữ nước yên dân. Hịch truyền đi thiên hạ có ai như vậy thì lên kinh vào đình dự thi.

Do đó, năm ông nghe hịch, trong lòng rất vui mừng, bèn đến bái hỏi cha là ông bộ trưởng cho lên kinh dự thi. Ông bộ trưởng đồng ý. Khi đó năm ông đi đường thủy lên đến kinh thành. Lúc ấy vua Duệ Vương đêm nằm mộng thấy có một người to cao 9 thước đường đường, áo mũ rực rỡ, đai giáp huy hoàng, lại dẫn năm con rồng tiến thẳng đến trước mặt gặp vua. Vua bèn hỏi:

  • Ngài ở đâu đến? Sao lại có năm con rồng dẫn đến cho trẫm?

Người đó nói:

  • Vâng mệnh Hoàng thiên là quyền Thiên tào đại sứ, truyền đem năm rồng giáng thế, dẫn đến cho vua để đảm nhận việc nước. Lại đem đến một chương thơ của trời cho vua mở xem.

Vua nghe vậy bèn nghiêng thân làm lễ, vâng nhận thiên chương, mở ra xem thấy có một bài thơ nhỏ rằng:

Ngũ long phó giáng hứa thần quân
Hữu thị quân phân hữu thị thần
Huynh đệ nhất bào Đào thị xuất
Khả phù ư quốc, tế ư dân.

Nghĩa là:

Năm rồng đem đến giao vua đây
Thực là vua sáng, bề tôi này
Họ Đào cùng bọc anh em đó
Trợ nước giúp dân, đã có ngày.

Vua đọc xong bỗng nhiên tỉnh lại, biết là điềm trong mộng báo ứng, bèn mở trường thi để xem có người tài trong thiên hạ. Khi đó anh em năm vị đến vào trường thi, đều đúng là bậc văn võ thánh thần, tài năng kỳ lạ. Trong trường mây khói mù mịt, gió mát khí lành. Anh tài trong thiên hạ, cùng một trường các sĩ tử đều tôn nhường sợ hãi vậy.

Khi đó anh em cùng lọt vào khoa bảng, vào yết kiết sân rông gặp vua. Vua thấy năm ông diện mạo đường đường, khác lạ so với người thường, đúng là hình ảnh của long hầu, dung nhan của thủy quốc. Vua mừng thầm, nói rằng:

  • Ngày hôm nay vua tôi mới gặp gỡ lần đầu, nhưng trời đã có báo trẫm giao phó cho năm khanh. Nay quả được năm rồng, tất nước nhà sẽ không có tai họa nữa.

Ngày hôm đó vua mở tiệc, lập đàn cầu đảo tế trời đất trăm thần. Vua đứng trước đàn. Năm ông cùng đứng chầu ở dưới. Hai bên trăm quan cùng làm lễ. Vua khấn rằng:

  • Phục trông Hoàng thiên Hậu thổ, các vị bách thần tinh túc cùng đến giáng đàn chứng giám. Trẫm trong mông thấy năm rồng được Hoàng thiên ban xuống để giữ nước giúp dân. Nay lại được năm người con họ Đào, đúng được hiển hiện năm rồng mà Thiên đình đã giáng mệnh. Dám xin Hoàng thiên báo ứng tại đàn.

Bỗng nhiên thấy mây gió nổi lên giáng xuống giữa đàn như được sự chứng giám, tỏ rõ sự hiển ứng của Hoàng thiên. Vua khấn xong trong giây lát bỗng trời đất mù mịt, sấm chớp ầm ầm, mưa gió nổi lên giáng xuống đàn. Vua cùng trăm quan đều lấy làm kinh dị. Làm lễ xong thì mây mù đều tự nhiên ngưng tạnh. Trời đất trong sáng.

Ngày hôm đó vua phong ông thứ nhất là Đông long Thái sư. Ông thứ hai là Tây long Thái phó. Ông thứ ba là Nam long Trưởng lệnh, quyền đảm Trung Hoa tể quốc, làm Thổ Lệnh cai quản thống nhất cầm đầu 50 thủy thần. Ông thứ tư làm Bắc long Thái bảo, cai quản thống nhất thuyền rồng, làm tướng quân Thạch Khanh. Ông thứ năm là Thiếu long Chưởng đài Chính ngự. Lại tăng phong cho thân phụ là ông bộ trưởng làm Đại vương.

Khi ấy thiên hạ thanh bình, không có tại họa hạn hán hay ngập lụt, tất cả đều mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt. Nhân dân giàu có, đều không lo đói khát, thực là niềm vui cảnh thanh bình. Khi đó vua bèn giao cho năm vị long hầu đi trấn nhậm các phương, kiêm quản chưởng các dải sông nước để làm chủ tể bảo vệ nhân dân. Khi ấy, ông thứ nhất làm chủ tể quận thành Hải Dương, đóng ở ngã ba sông Hồng. Sau nơi đó đều thành nơi cho gia thần phụng thờ. Ông thứ hai làm chủ tể đạo Sơn Tây ở ngã ba hợp lưu của sông Lâm Thao, sông Đà, sông Chiểu, tục gọi là ghềnh Ba Chậu (Triệu). Về sau đất đó dân đều lập đền phụng thờ.

Ông thứ ba là ông Trưởng là chủ tể quận thành Sơn Nam, đóng tại đất trang Tông Chất, huyện Phù Vân, phủ Thường Tín. Cung điện dựng ngự ở nơi trán rồng chỗ ba sông Lương, sông Du, sông Tô hợp lưu, là đất có địa hình quý chín rồng tranh ngọc, núi dựng nước giao, thật là đất anh linh lớn lao, đóng tại ở chính nơi đất trán rồng, theo hướng chính là hướng Quý Đinh, rồng nước cùng chầu ở mặt chính, phượng hoàng nhảy múa ở hai bên. Ông thứ ba là ông Trưởng xây thành và cung điện ở đó.

Ông thứ tư là ông Quý xây thành và cung điện ở thành Kinh Bắc, ngã ba sông Vũ, sông Cẩm, cung đóng ngự ở thế chính đầu vùng đất chim loan. Ông thứ năm xây thành ở Nam Chân, quận Giao Chỉ, ngã ba sông Vạn và cửa biển, cung ngự đóng ở chính cục đầu con lân.

Ba ông Cự, ông Hồng, ông Quý khi vâng mệnh đi dẹp quân Thục, một trận dẹp yên, rồi về nước đi đảm nhận các nơi cung sở đầu sông, đều hóa thành rắn dài trăm trượng, đi xuống sông mà tự hóa sinh bất diệt. Như thế, ông thứ nhất là ông Cự, ông thứ hai là ông Hồng, ông thứ năm là ông Quý đều cùng hóa trước. Vua truyền cho các vùng đất mà các ông trấn nhậm đầu sông và nơi hóa đều lập đền phụng thờ. Sắc phong là Thượng đẳng (vẫn có những tích riêng).

Từ khi năm ông vậng mệnh triều đình đi trị nhậm các nơi để trấn năm phương, bảo vệ cai quản thiên hạ đều được thanh bình, giàu mạnh.

Lại nói, quan Trưởng lệnh là chủ tể một bộ Sơn Nam. Đất trang Tông Chất đều là gia thần tại đó. Khi ấy, nhân dân ở trong trang (tức trang Tông Chất) có 9 tộc chia thành 8 giáp (khi đó các họ Phạm, Lê, Đặng, Bùi, Đỗ, Nguyễn, Hoàng, Trịnh, Trương là 9 tộc), đều theo quan Trưởng Lệnh làm chân tay, gia thần, cộng tất cả được 289 người, đều là những người khỏe mạnh. Ông bèn lấy ba người ở đất đó (tức là trang Tông Chất) cũng là những người có tài, khỏe mạnh, dũng cảm, cùng làm quản thuộc nội đao, phụ trách các gia thần 289 người, cùng quản trị nhân dân, đều là các tì tướng.

Khi đó ba vị Nguyễn Công Minh, Bùi Công Tài, Đặng Công Cán là người phụ trách nội vụ, theo hầu ông (sau ba vị đều hóa, vua cùng phòng làm Bản thổ thần quan, lập miếu thờ ở trong dân). Từ đó nhân dân trang Tông Chất đều chịu ơn đức lớn của ông Trưởng. Triều đình miễn hết đóng góp quân lương. Người ở đất Tông Chất một phương đều nổi danh hiển hách. Nhà cửa giàu quý, đất đai trù phú, mua thềm đất đai, đều là công đức to lớn của ông Trưởng đã nuôi dưỡng nhân dân. Công tựa núi cao, biển rộng, lòng nhân đức như trời đất vô cùng, đều là công nuôi dưỡng vậy.

Lại nói, khi cơ đồ họ Hùng đã đến lúc cuối, thế nước đã cùng. Vua Duệ Vương sinh được 20 hoàng tử đều theo nhau về tiên hương. Sáu vị công chúa sau chỉ còn hai. Vị thứ nhất là công chúa Tiên Dung. Vị thứ hai là công chúa Mỵ Nương. Cả hai đều là bậc hào kiệt trong giới nữ lưu, là bậc thần thánh trên thế gian, có nhan sắc tuyệt trần, đức hạnh thế gian hiếm có. Công chúa thứ nhất là Tiên Dung được gả cho Chử Đồng Tử quê ở trang Đa Hòa, huyện Đông An, phủ Khoái Châu, Sơn Nam. Công chúa thứ hai là Mỵ Nương được gả cho Tản Viên Sơn Thánh, quê ở động Lăng Sương, huyện Thanh Xuyên, phủ Gia Hưng, đạo Sơn Tây. Khi ấy vua chọn được người con rể thiên tài, bèn nhường ngôi cho. Tản Viên Sơn Thánh không nhận, chỉ xin được giúp việc chính sự quốc gia. Được hơn 10 năm, thiên hạ thanh bình, trong phủ không có việc phải lo.

Khi đó, vua gọi ông Trưởng Lệnh cùng với ông Quý Khanh, cả hai anh em cùng về triều chầu vua. Hai ông vâng mệnh về triều. Từ đó vua tôi hợp đức, thiên hạ yên bình. Được vài năm thì Thục chúa nghe đồn rằng Duệ Vương tuổi cao, không có người nối hậu, nhường ngôi cho con rể Tản Viên, bèn tích trữ binh mã hơn 30 vạn quân đến đánh Duệ Vương để chiếm lấy nước ta. Thư từ biên cương gửi gấp về báo. Vua bèn gọi Tản Viên Sơn Thánh cùng ông Thổ Lệnh Trưởng (Trận đó năm anh em ông vẫn còn đủ. Vua có phong tước, chia các đạo đế chiến đấu. Đến khi yên ổn ba ông về triều rồi hóa trước, có tích riêng) cùng đến chầu vua hỏi kế sách. Sơn Thánh tâu rằng:

  • Thần xin được thay thánh giá, tự chọn tướng tài nghênh chiến với tướng Thục ở các đạo bộ binh.

Ông Trưởng Lệnh tâu rằng:

  • Thần xin được nghênh chiến các đạo quân thủy.

Vua đồng ý. Khi đó vua phong Tản Viên Sơn Thánh là Nhạc phủ kiêm Thượng đẳng thần, cai quản cầm đầu 50 sơn thần. Lại phong cho ông Trưởng Lệnh là  Thuỷ tào kiêm Thượng đẳng thần, cai quản cầm đầu 50 thủy thần, tước vị là Trung Thành Đại vương.

Ông Trung Thành đóng giữ quận Sơn Nam, đến Ái Châu, Hoan Châu, châu Bố Chính, quản đến các cửa biển của sông Lương, sông Ô, sông Cửu Đầu, sông Bạch Đằng các mặt nghênh chiến với đạo quân thủy của quân Thục. Sơn Thánh nghênh chiến từ Tuyên Quang, Hưng Hoá, Cao Bằng, Tụ Long, Bảo Lạc, Côn Lôn, Bắc Tạ đến đất 16 châu. Sơn Thánh cùng Trưởng Lệnh Trung Thành Đại vương cùng dẫn thủy bộ các tướng, mười vạn quân mạnh, một ngàn tàu bè, cùng làm lễ trước bệ rồng. Thủy bộ cùng tiến, thuyền ngựa cùng đi. Một đạo quân của Sơn Thánh tiến thẳng đến các đồn của đại tướng Thục ở Mộc Châu, châu Phù Hoa, Việt Châu.

Một đạo thủy quân của Trưởng Lệnh Trung Thành Đại vương tàu bè thẳng tiến, ra từ cửa biển Thần Phù đến các dải sông từ các vùng Sơn Nam, Hải Dương, Ái Châu, Hoan Châu, châu Bố Chính, sông Ô. Thủy bộ hành quân, cùng ngày đến đánh một trận. Quân Thục thủy bộ đều thua to, chạy tẩu tán. Truy kích chém được ngoài ba ngàn đầu, bắt sống tướng Thục dẫn về kinh thành. Dâng biểu tâu lên là đã dẹp yên quân Thục.

Vua nghe tin rất vui mừng, bèn hạ chiếu triệu hai đạo thủy bộ về. Các đạo đều vâng mệnh trở về triều làm lễ bái yết trước bệ. Vua mở yến tiệc lớn. Từ đó thanh bình. Con vua cháu chúa nhàn du trong thiên hạ.

Khi ấy Trung Thành Đại vương xin vua cho trở về quận cũ (tức các quận Hải Dương, Sơn Nam) để thăm hỏi cha là ông bộ trưởng Bột. Vua đồng ý, ban cho vàng bạc, lụa là, gấm vóc hàng ngàn cân. Ông làm lễ bái tạ, rồi rời xa giá trở về châu quận, trên đường đi đến huyện Kim Bảng, phủ Lị Nhân xứ Sơn Nam thì thấy thân phụ là ông Bột đang về triều để thăm viếng ba vị long hầu đã hóa. Hỡi ôi, xa trông thấy thuyền rồng ở giữa sông Kim Mai thì bỗng nhiên trời đất tối tăm, mưa gió sấm chớp nổi lên. Ngày hôm đó (mùng 10 tháng 11) thuyền rồng của ông Bột chìm mất, ông hóa vậy (Về sau vua phong là Bột Hải Đại vương, lập đền ở nơi đó mà thờ phụng).

Khi đó Trung Thành Đại vương dâng biểu tấu. Vua nghe tin bèn sai quan sứ về nơi hóa làm lễ, truyền cho địa phương lập đền thờ phụng.

Lại nói, làm lễ cho thân phụ xong, vua lại triệu ông về triều, phong là Thổ Lệnh Thống quốc Đại vương, bổ nhiệm nhận thành Phong Châu, trấn giữ thành Bạch Hạc Tam Giang, làm Thống quốc Trưởng Lệnh Đô đài Lạc Long hầu Đại tướng quân.

Từ đó thiên hạ thanh bình, trong phủ vô sự. Quan Trưởng Lệnh xin vua đi chơi thiên hạ, xem xét các nơi là gia thần, tìm xem những nơi đất đẹp có long mạch để lập hành cung thờ cúng. Vua đồng ý. Ông bèn làm lễ ở triều đình. Ngay hôm đó rời xe đi các nơi trong thiên hạ.

Thế là ông đi du chơi vãng ngắm cảnh đến đất quận Sơn Nam. Nhân dân các phủ huyện đều dựng cung nghênh đón, là lễ mừng. Khí đó, ông lập sông Bạch Hạc là cung thứ nhất, thứ hai là bến Tông Chất ở ngã ba sông Lương, ngự ở chính nơi đầu tồng, đều là vùng đất du cung. Cung chính ở đất trang Tông Chất ngự trấn ngã ba nơi sông Lương, sông Du, sông Tô hợp lưu. Đất dựng cung ở tại nơi trán rồng, đều là chín rồng tranh ngọc, tất cả đều quay đầu về chầu ở đất chính cung, mặt trước có án ngọc.

Khi đó ông lại về chơi cung ở thành Tông Chất, truyền dựng một nơi hội tụ ở trong dân ấp. Dòng sông Du chảy tới cung này ở phía trước thì. Thường khi đi lại ông ngự thuyền rồng theo ba sông nhằm hướng sông Du mà tiến vào thẳng đến nơi hội họp trong dân. Ở tại nơi hội họp trước sân còn theo chính cục hướng Quý Đinh, lại lập giếng loa ở phía bên trong ấp để dưỡng khí đẹp của rồng xanh, cho được giàu mạnh người và vật. Ông lại cho làm một nơi bên đường có thế đất một dải vàng để làm cung nơi đất cấm. Năm tháng về đó dừng chân ở lại. Do đó ông là người đã mở ra đất này.

Hai nơi hành cung đều được miễn đóng binh lương. Hôm ấy (tức mùng 10 tháng Tám) xe của ông tiến về đến nơi cung Tông Chất. Nhân dân làm lễ bái mừng. Ông bèn ở lại trong cung (tức là cung sông Lương đất Tông Chất), mở tiệc vui vẻ, bèn gọi nhân dân, phụ lão cùng đến dự tiệc. Đang túc ăn uống tiệc tùng, ông Trưởng Lệnh Đại vương mới làm một bài thơ rằng:

Hà hải chung linh tự xuất thân
Tu my nhĩ mục bất vi bần
Cung đình xứ xứ giai ngô hữu
Hương hoả trường lưu tại xã dân.

Nghĩa là:

Sông biển đúc thiêng vốn xuất thân
Tai mắt tóc mi chẳng thể hèn
Khắp chốn cung đình là ta giữ
Hương lửa mãi lưu trong xã dân.

Lại nói, ông đóng binh ở đó, mở tiệc vui mừng tới hơn 10 ngày. Ông lại rời xe đi chơi các nơi trong thiên hạ, xây dựng hành cung, cộng là 172 nơi. Lại trở về triều, làm biểu dâng tâu xin vua cho các đất có hành cung  làm nơi gia thần sở thuộc. Lại xin ba huyện Phù Vân, Thượng Phúc, Nam Xương đều là nơi gia thần sở thuộc, cùng giữ gìn nơi hội đồng ở cung Tông Chất. Vua đồng ý.

Đến sau đó Thục chúa lại đem trăm vạn quân tinh nhuệ đến đánh Duệ Vương để chiếm nước ta. Vua lại gọi Tản Viên Sơn Thánh cùng với Trưởng Lệnh Đại vương dẫn các đạo quân thủy bộ đánh một trận dẹp yên được. Khi đó ông Trưởng Lệnh ra quân dẹp giặc có làm một bài thơ rằng:

Vạn lý phong lôi, vạn lý vân
Bất từ lao khổ sự quân thân
Trung cần nhất tiết thiên hà phụ
Vạn sự giai phù tại ngã thân.

Nghĩa là:

Vạn dặm gió mưa, vạn dặm mây
Chẳng từ lao khổ, việc vua đây
Một lòng trung cẩn trời không phụ
Muôn sự đều do ở thân này.

Lại nói, sau có giặc rất mạnh ở Hồng Châu. Vua gọi Trưởng Lệnh Đại vương sai đem quân đánh dẹp. Ông vâng mệnh làm lễ tạ, đem quân xuống thuyền rồng, tiến quân theo đường thủy, đánh một trận lớn, bắt được tướng giặc Trương Dũng, chém đều treo dưới cờ chỉ huy. Quân giặc thua to, bỏ chạy. Đuổi theo, chém vô số. Một xe không thoát, một ngựa không còn. Gửi về kinh thành, dâng biểu tấu. Vua bèn hạ chiếu gọi về. Ông vâng mệnh trở về.

Khi đó Trưởng Lệnh Đại vương tiến thẳng về theo đường thủy, dọc vào dải sông Lương nhỏ. Chỉ có hai chiếc thuyền rồng cùng người em ruột là ông Khanh quay thẳng về thành, theo dòng sông lớn là sông Nguyệt Đức mà tiến. Hôm đó (mùng 10 tháng Giêng), hai chiếc thuyền của ông đi thẳng vào trong ấp (tức là ấp trang Tông Chất) theo dải sông Du nhỏ mà vào thẳng cung Hội đồng. Ông bèn bỏ thuyền bên sông mà lên cung. Nhân dân làm lễ bái mừng. Ông mở tiệc vui vẻ, bỏ giáp ngừng ninh, khao thưởng ba quân.

Ở đó đến mùng 10 tháng Sáu, ông lại sai chèo thuyền rồng đi ra chơi bên ngoài cung ở ngã ba sông Lương. Ông lên cung, bỏ ra ngồi nghỉ. Được một lúc bỗng thấy trời đất u ám, giữa ngày mà như đêm, nước sông sóng cả dập dồn. Cá, ba ba, giao long, rắn hoa đều nổi trên mặt nước, cùng hướng về chầu trước cung. Đáy nước ba sông ầm ầm như tiếng sấm vang đến, phá mở một cửa giếng ở trong cung nơi ngự chính. Nước ngập đầy cung. Ông bèn theo dòng nước giếng mà ra trước cung nhập vào ngoài sông. Lại thấy ông cưỡi cá chép, tay cầm thẻ bài ngọc, bỗng nhiên hóa (do đó trước nơi cung có mảng sông nước hình như đuôi cá còn tới nay). Đang khi đó lại thấy thuyền của ông đều có rồng vàng trong thuyền bay ra trước cung ngoài sông thì bay lên trời mà biến. Còn hơn trăm trượng, vảy đỏ rực rỡ. Vạn nhận bỗng mưa to gió lớn.

Khoảng ba ngày sau thấy trời đất trong sáng. Nhân dân đều lấy làm sợ hãi kinh dị, bèn làm biểu dâng tấu lên triều đình. Vua nghe tin vô cùng thương tiếc bề tôi tài giỏi, lại có công lớn với nước, bèn lệnh cho trăm quan đến nơi hóa (tức cung Tông Chất ở ngã ba sông Lương, sau nhà Lê đổi thành cung Đa Chất). Sau cho sửa dựng lại cung sở làm nơi đền hóa chính. Nhân dân địa phương ở đó (tức là ở đền Đa Chất sông Lương) đều phụng thờ. Còn như dân các trang của ba huyện là gia thần sở thuộc về quy tế ở đền hóa chính sông Lương, mỗi năm xuân thu đều đến phụ tế. Để giữ hương lửa ở Tông Chất cho miễn đóng binh lương, ruộng thờ 30 mẫu 3 sào. Hai kỳ xuân thu làm quốc tế.

Trăm quan vâng mệnh đến nơi hóa mà tế. Khi tu sửa đền miếu hoàn thành bèn làm lễ đến xem trong giếng (đi đến nơi đó) thấy giếng ở trong cung nơi ngự chính mà ngài đã hóa có tiếng động ầm ầm như tiếng sấm. Trăm quan thấy việc linh ứng trước mắt, bèn làm lễ tạ. Trở về triều dâng tấu lên vua. Vua nghe vậy thấy đáng xưng là linh ứng. Ngay hôm đó vua phong thêm mỹ tự Thượng đẳng phúc thần, cho vạn năm hưởng tế lộc cùng với nước nhà, mãi là lệ thức. Lại ban cho áo mỹ cùng với các đồ tế khí, cho phép Tông Chất làm nơi hương lửa hộ nhi, đều miễn đóng binh lương, xuân thu quốc tế. Còn ba huyện cùng là nơi hành cung thần tử, xuân thu phụ tế ở trang Tông Chất tại đền ngã ba Lương. Mỗi năm hai kỳ nhân dân ba huyện đến phụng thờ phụ tế ở đền hóa chính Tông Chất. Ba huyện mỗi kỳ phụ tế nộp 100 quan tiền.

Khi đó vua lại truyền hịch đi thiên hạ các nơi có cung sở trước đây đều lập miếu phụng tự. Cộng là 172 nơi được vua phong. Phong Trung Thành Thượng đẳng tối linh Đại vương, cho phép thôn Phú Nhiêu phụng thờ hương lửa.

Lại nói, về sau vua nhớ nghĩa quân thần, bèn lại truyền lập ở thành Phong Châu nơi ngã ba sông Bạch Hạc một quán tên là Tam Thanh. Lại truyền vẽ tượng, vẽ ông Trưởng, ông Khanh hai tướng tay cầm long đao đứng hai bên trái phải của quán. Ngày tháng vua tưởng nhớ diện mạo hai ông, nên thường ra ngự ở quán đó (tức quán Tam Thanh) để xem thể diện của hai ông. Việc xây dựng đã xong.

Khi triều Hùng mạt vận, thế nước đến lúc cuối, vua nhường ngôi cho Thục vương (tức bộ chủ Ai Lao, cũng là dòng phái Hùng Vương). Từ đó trải qua Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương cộng là 349 năm, cho tới khi vua Đường sai Lý Thường Minh làm quan Đô hộ Nam bang.

Bèn tiến đánh giặc Ai Lao. Một hôm Thường Minh dẫn quân đi đến đền Tông Chất huyện Phù Vân (tức đền thiêng nơi ta), đền thiêng Ba Lương.  Một tối quan đô hộ Thường Minh làm lễ cầu khấn xin được âm phù giúp nước, sau này dẹp được giặc sẽ tâu lên vua Đường tăng phong mỹ tự, vạn đời cùng hưởng với nước nhà, cùng hưởng phúc thanh bình. Khấn xong quan đô hộ nằm ở nơi cung chính trong đền. Mộng thấy một người thân cao mười trượng, tay cầm long đao, đường đường đến đứng ở giữa cùng, mà nói rằng:

  • Tôi nghe ngài khấn thỉnh, nên đã đến đây xin được giúp nước nhà.

Đang nói chưa dứt thì ông tỉnh lại, biết là mộng thần cảm ứng báo cho, bèn làm lễ tạ. Sáng ngày dẫn quân tiến thẳng đến thành Phong Châu, lại thấy quán ở bèn đóng quân một đêm tại đó. Thấy hình dạng hai tướng giống y như người trong mộng, ông  vui mừng báo rằng:

  • Nếu quả như đã gặp trong giấc mộng ở đền sông Lương, xin hãy âm phù giúp dẹp giặc thành công. Sau này tất sẽ tấu xin vua Đường phong tăng làm Nam thiên Thượng đẳng phúc thần, vạn đời hưởng lộc, cùng với nước nha yên lành, mãi là lệ thức không đổi, mãi thịnh vậy.

Lý Thường Minh khấn xong, đến nửa đêm lại thấy đường đường hai tướng, thân dài mười hai thước, mũ rồng, giáp vàng, áo gấm, tay cầm long đao. Hai ông múa đao đi tuần du quan trước sân ba vòng. Bỗng nhiên một ông bước một bước sang bến Việt Trì (đến nay do đó còn dấu chân tại bến đá). Tự nhiên biến mất.

Thường Minh tận mắt thấy sự linh nghiệm kỳ dị bèn làm lễ rạ. Ngay hôm đó tiến quân thẳng đến dẹp Ai Lao, một trận là yên. Sau Thường Minh dẹp được giặc Ai Lai, tâu lên vua Đường. Vua bèn tôn xưng là đền thiêng bậc nhất trời Nam, phong tăng là Thượng đẳng phúc thần, vạn đời trời Nam hương lửa cùng với nước nhà hưởng yên lành. Cho phép trang Tông Chất phụng thờ. Phong Trung Thành Phổ Tế Đại vương Hộ quốc An dân Đại vương.

Lại nói, trời Nam có bốn họ Đinh, Lê, Lý, Trần khai sáng cơ đồ, thường có nhiều lần anh linh giúp nước cứu dân, nên trải các đời đế vương phong thêm mỹ tự Thượng đẳng phúc thần, hương lửa vô cùng.

Trung Thành Vương là thủy thần ngã ba sông Lương. Dọc sông có tên thờ là Thổ Lệnh Trưởng. Năm Vĩnh Huy thời Đường Cao Tông Lý Thường Minh là đô đốc Phong Châu, đi qua bên sông, thấy núi sông tươi đẹp, thắp hương cầu khấn, mộng gặp thần nhân. Một xưng là Thổ Lệnh, một xưng là Thạch Khanh, chạy đến đua tài. Thạch Khanh nhảy một bước tới bên bờ Nam đã thấy Thổ Lệnh đến đứng ở bên sông trước. Thạch Khanh lại nhảy tới bờ Bắc, lại thấy Thổ Lệnh đã đứng ở bên bờ sông đó trước. Do vậy mà kính sợ, cho tô tượng phụng thờ. Lý Thái Tông đi thuyền qua đây, cũng có tưởng nhớ công lao, tăng phong mỹ tự là Trung Thành Đại vương. Các triều đại cũng đều có sắc phong.

Truyện Thổ Lệnh đất Phong châu

Thần vốn là hạo khí của núi sông, tục gọi là Thổ Lệnh Trưởng. Xưa tại thời Hán Tấn, có sự linh ứng, bảo vật phúc dân. Trăm họ địa phương được nhận nhiều ơn huệ. Người dân lập một ngôi đền cỏ để làm chỗ cầu đảo, mãi là quy định, đời đời không đổi. Đến những năm Vĩnh Huy nhà Đường, đô đốc Phong Châu là Lý Tiên Minh, là người ôn hòa, cung kính, phong nhã, biết thương vật yêu dân. Là người quản lệnh ở đây, nên các danh thắng trong châu, không nơi nào là ông không ghé chân qua. Do đó, những việc dù là nhỏ trong dân giam, dù là một cái cây một ngọn cỏ mà có sự hoa lệ không thay đổi thì đều định xuống thành tình khúc để nắm bắt được sự kỳ diệu đó. Khi ấy người người đều gọi là vị quan lệnh tốt.

Một hôm ông đi đến cửa sông Bạch Hạc, bỗng trông thấy một quán nhà tranh ba gian, được xây dựng rất sơ sài. Tiên Minh liền đến xem nơi trú nghỉ cùng với phẩm vị tinh tế thì biết đây là ngôi đền cổ linh thiêng, tự nhiên như có sự cảm nhớ, bèn ngẩng lên trời mà than rằng:

  • Bản chức vâng mệnh đến nơi nhân dân muốn để giúp yên nghiệp.  Nhân dân được nhờ ơn sâu của thần là điều mong muốn của bản chức. Nay thấy như ở đây một mảnh đất trong dân gian đã muốn trở thành cô quạnh hoang vắng, nhưng lại vẫn có mấy gian hương lửa, kính ngưỡng sao vẫn đủ đầy, ngày sóc buổi vọng vẫn thiêng thay.

Nên do đó mà có ý tu sửa. Lại xem địa thế nơi đây, trăm tầng dải biếc, ngàn dặm núi xanh, nước tựa như huyền, cùng núi uốn khúc, bàn long cứ hổ, núi đất sừng sững dựng thành một vạt dải đẹp đẽ. Bèn cho kiến thiết gạch gỗ dựng lại, thợ giỏi vẽ tường, tô vách, đẹp mắt đẹp lòng, trở thành một nơi đại danh thắng linh thiêng vậy.

Lại dựng ba pháp tượng cực kỳ to lớn, dựng riêng nhà giải vũ trái phải, cùng tiền đường hậu đường. Lại sai thợ trang sức tô vẽ tượng thần, tùy theo nơi mà bày trí thêm bớt các đồ tinh diệu, đương nhiên anh khí linh thiêng không thể chê được. Nhân đó mà thắp hương khấn rằng:

  • Tôi là chủ quản châu này. Nhân thấy ngôi miếu tranh sơ sài, việc xây tạo mới đã thành. Bây giờ nếu thần kỳ có linh thiêng, xin sớm hiện chân thân đúng như hình dạng thánh tượng vậy.

Bèn trai giới, tắm rửa tinh sạch rồi đi nằm. Đêm đó sau lúc trống canh điểm ba tiếng, bỗng mộng thấy có hai di nhân đến thẳng vào trong nhà, chia hai bên mà ngồi. Một người ngồi ở bên trái, đầu bù xù, răng lộ ra, mặt như hình quả bí, mũi to, râu ria

thần thái đẹp đẽ, đầu quấn khăn gấm vuông đoạn xanh đoạn hồng, thân mang áo khoác lân gấm viền biếc, chân xỏ giầy mây ngao điểu màu đen, tay trái cầm đằng đao, tay phải xếp khiên trúc. Một người ngồi ở bên phải trán rộng, mắt đỏ, mặt tròn như hình bánh, bảy đoạn căn cột xếp thành so le, mắt hổ môi dầy, hình dung cổ quái, đầu đội khăn gấm vuông xen các màu tím hồng, thêu vàng, mình khoác áo bào hoa thêu xanh trắng, chân đi giày sò tía núi nghiêng, vái chào Tiên Minh nói:

  • Đã lâu nghe đại danh của sứ quân như sấm nổ bên tai, nên muốn vội tới đây yết kiến, sau là để bày tỏ ý trịnh trọng. Nay nhân nhớ đến triều xưa nên đặc biết đến để ngồi tiếp ngài.

Tiên Minh thấy hai người diện mạo phong nhã, nói năng trước sau hợp lễ thức, trong lòng rất kính trọng. Tuy nhiên, ngầm nghĩ đây là ai khó có thể luận được, bèn nói:

  • Bản chức vâng sắc Thượng hoàng đến nhận chức phương Nam đến nay đã chưa được một năm, lại gặp được hai tôn tướng đến tiếp, may mắn được cùng nói chuyện, thật là có duyên. Thiết tưởng không phụ chí chiêu mộ tìm hiền hàng ngày. Song ngày tháng đã qua, có điều còn chưa tỏ tường. Xin thỉnh lời giáo huấn cho rõ để có thể biết được quang cảnh vậy.

Hai người cười nói:

  • Chúng tôi đều ở nơi đây, không phải xa xưa gì. Sứ quân đã có lòng mong muốn gặp gỡ, cho nên chúng tôi đặc biệt đến để tạ, sau là đền đáp lại vạn phần ý tốt đó.

Tiên Minh ngạc nhiên nói:

  • Tôi tuy đã đến nhận nơi quan đường, nhưng được một lần gặp mặt, sao lại có mong muốn gặp gỡ. Xin được biết cho tỏ.

Hai nhân nói:

  • Ngày sau sẽ tự biết, không cần phải giải thích.

Tiên Minh nói:

  • Đã được ơn huệ này thì liệu có thể được một lời về nhân tình không?

Hai người nói:

  • Chúng tôi một tên là Thổ Lệnh, một tên là Thạch Khanh, đều là dân bản xứ. Lúc nhỏ thường tập võ nghệ, ít khi thi đấu trực diện. Nay lại được  cùng sứ quân dự tiếp, xin được ra trước sân để so xem ai hơn ai kém. Ai hơn thì ở trước, ai kém ở sau. Để xem hơn thua như thế nào, sau là khỏi phụ công bình sinh học tập.

Tiên Minh vui mừng, liên tục đồng ý. Thế là hai người đến ở trước sân, cầm khiên đối mặt mà đấu nghệ, như hoa lê bái tuyết, như hổ tranh oai, tiến lui như rồng rắn quẫy động. Thạch Khanh thừa dũng dùng một bước nhảy, lại bước thêm một bước đến giữ nơi cửa giới. Không ngờ Thổ Lệnh đã sớm hơn giữ lấy cửa giới, lại còn đã bước thêm hơn một bước.

Tiên Minh hô “ôi” một tiếng lớn, rồi lại kinh sợ mà tỉnh lại, mới biết là một giấc mộng nơi chốn thiêng. Nhớ lại ký ức mờ mờ mà như trong mộng trông thấy vẽ lại anh em như Lý Lã nhân mà thành gió. Phàm có điều lo nghĩ giàu nghèo thiếu thốn thì đến ở đền cầu khẩn, họa phúc thấy đúng như âm báo.

Các triều đại dẫn quân đi qua địa phương này đều mổ súc vật làm lễ yết tế, tất được kỳ công. Lý Thái Tông dẫn quân đi qua phạt Chiêm Thành, thuyền qua nơi đây cầu đảo, tặng phong là Trung Thành Đại vương. Đến này còn sự tặng phong của các triều đại. Thời Trần Nhân Tông năm đầu Trùng Hưng sắc phong là Trung dực Đại vương, hai năm sau tăng thêm hai chữ Võ phụ. Thời Trần Anh Tông năm Hưng Long thứ 21 lại phong thêm hai chữ Uy hiển.

Về sau triều Trần Hàn lâm viện Thị độc Vương Uy theo giá đi Tây chinh nước Chiêm Thành, đi qua dưới đền, có thơ rằng:

Tỳ hưu thập vạn triển uy linh
Thế lực vân trung tuyết ngoại thành
Giang hữu khu khu hà xứ thị
Phong thanh hạc lệ tẩu Tần binh.

Nghĩa là:

Mười vạn tỳ hưu tỏ oai linh
Thế lực trong mây, tuyết ngoài thành
Bên sông nơi nơi đâu là chốn
Tiếng gió lệ hạc đuổi Tần binh.

Lại có Hàn lâm thị độc Nguyễn Sĩ Cố theo giá đi Tây chinh Ai Lao, trở về có thơ rằng:

Quy ngư phù ấn quải yêu gian
Tiền sự hy cầu phó tướng quan
Bạc đao thư sinh vô vọng xứ
Chỉ lai từ hạ khất bình an.

Nghĩa là:

Ấn phù rùa cá đeo bên hông
Sự cũ theo quan tướng cầu mong
Thư sinh bỏ đao về vô vọng
Dưới đền tìm đến, an lành trông.

Các kỳ sinh hóa cùng các tiết khánh hạ, và chữ húy, sắc phục làm lễ phải cấm vâng khai như sau:

Ngày sinh thần 12 tháng Hai. Làm lễ đón thần từ đền ở cung ngoài ba sông về nơi tế hội đồng, trên bộ đón giá, đường thủy ba chiếc thuyền rồng, trở về đến trước cửa nơi tế. Làm lễ cỗ chay oản quả, dưới dùng lợn đen tuyền, xôi, rượu, ca hát, đánh cờ, đấu vật trong 10 ngày, làm lễ rồi dừng.

Ngày hóa thần mùng 10 tháng Sáu. Làm lễ cỗ chay, trà, oản quả, bánh trôi, xôi rượu, cơm thịt lợn, các đồ vàng mã.

Ngày khánh hạ mùng 10 tháng Tám. Làm lễ cỗ chay, xôi rượu, ca hát ba ngày thì ngừng. Thịt trâu hay thịt lợn đều được.

Ngày khánh hạ 15 tháng Tám. Làm lễ cỗ chay, xôi, rượu, ca hát ba ngày thì ngừng.

Ngày khánh hạ 15 tháng Ba. Làm lễ đón thần bằng hai thuyền rồng, tiền về theo đường thủy tới nơi tế hội đồng, ca hát, đấu vật, cỗ chay, gà, xôi, rượu, ca hát ba ngày thì ngừng.

Ngày khánh hạ mùng 10 tháng Giêng. Làm lễ cỗ chay, lợn, xôi, rượu, ca hát ba ngày thì ngừng.

Ngày khánh hạ 12 tháng Năm. Làm lễ ở cung miếu, chèo thuyền rồng đón giá, cỗ chay, dưới móng lợn, xôi, rượu, bánh trôi, ca hát mười ngày, làm lễ tạ rồi ngừng.

Ngày khánh hạ mùng 10 tháng Mười một. Làm lễ xôi rượu, thịt lợn, ca hát một ngày thì ngừng.

Ngày khánh hạ 25 tháng Mười. Làm lễ thịt lợn, xôi, rượu, ca ba ngày thì ngừng.

Chữ húy  Trưởng, Lệnh, Thổ, Trung, Thành đề cấm tránh cùng âm. Cùng với tên cha mẹ hai chữ Bột, Hương, cùng với các áo màu vàng, tím đều cấm.

Hai kỳ xuân thu ở nơi miếu hóa. Các ngày 15 tháng Ba, 15 tháng Tám làm lễ tam sinh. Các nơi phụ tế đều làm lễ. Ca hát ba ngày thì ngừng.

Năm đầu niên hiệu Hồng Phúc, ngày tốt tháng Giêng, Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, bề tôi là Nguyễn Bính vâng soạn.

Hoàng triều niên hiệu Vĩnh Hựu năm thứ ba, ngày mùng 1 tháng Năm, Quản giám bách thần Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh, bề tôi là Nguyễn Hiền tuân theo y như bản trước đây vâng sao.