Mường Xoa

P1130803 (3)

Mường Xoa xứ sở tựa thiên đường
Quên lãng ngàn năm những đế vương
Khổng Tử, Chu Công khai lễ giáo
Khun Lô, Bố Cái dựng quê mường
Bầy voi rộn rịp bên triền thác
Chùm phượng rực hồng bến Mễ Khương
Tấp nập chợ đêm xem cổ vật
Ra về chẳng khỏi chút đeo hương.

—-

* Mường Xoa là tên gọi khác của Luang Prabang. Thời nhà Chu đây thuộc nước Lỗ, đất phong của Chu Công và quê hương của Khổng Tử. Tới thời nhà Đường, Bố Cái Phùng Hưng từ miền Tây Thanh Nghệ (Châu Đường Lâm, sau gọi là Châu Thường hay Thường Xuân của Thanh Hóa và khu vực Quế Phong – Quỳ Hợp của Nghệ An) đã làm cuộc Tây tiến, chiếm đất Điện Biên làm kinh đô Mường Then (Mường trời) của nước Nam Chiếu. Từ Mường Then Bố Cái – Khun Borom đã cử các con trai của mình đi chiếm các “chiếu” khác, trong đó Khun Lô chiếm chiếu Mông Xá, tức là Mường Xoa – Luang Prabang ngày nay.

Những cổ vật ở Luang Prabang còn “lưu hương” thời Thương Chu tại đây:

Don Tu DuongĐôn Tứ Dương thời Thương.

Sam cam

Ấm đựng rượu hình một loài chim nước (Sâm cầm?) thời Xuân Thu.

BƯỚC RA TỪ HUYỀN THOẠI, cập nhật nhân ngày Giỗ tổ Hùng Vương

Bản in cập nhật có bổ sung của cuốn BƯỚC RA TỪ HUYỀN THOẠI cập nhật tháng 4/2015 nhân ngày Giỗ tổ Hùng Vương. Tổng số 468 trang.

Xin liên hệ đặt sách qua địa chỉ: bachviet18@yahoo.com.

Bia BRTHT

MỤC LỤC

LỜI GIỚI THIỆU
LỜI TỰA
BÁCH VIỆT TRÙNG CỬU DẪN LUẬN
ÔNG TRỜI BÀ TRỜI

Viêm Giao Bàn Cổ
Ngọc Hoàng thượng đế
Quốc mẫu Tây Thiên
Núi Côn Lôn

ĐẾ QUỐC LẠC HỒNG

Mở sử Hoa Việt
Kinh Dương Vương
Lên núi xuống biển
Thần châu Xích huyện

TẢN VIÊN SƠN THÁNH

Gậy thần sách ước
Ngũ hành cung
Sơn Tinh – Thủy Tinh
Ngũ Nhạc và Ba Vì

RỒNG BAY BIỂN BÁT

Mẫu Thoải
Bát Hải Động Đình
Cuộc chiến Hùng – Thục
Đầm Nhất dạ
Giếng Việt

NON SÔNG BÁCH VIỆT

Mẹ Âu Cơ
Sinh Bách Việt
Thần Bổng
Chim bạch trĩ
Cổ vật Thương Chu

LÃO TỬ HÓA VIỆT KINH

Lão Tử làng Thổ Hà
Xây thành Cổ Loa
Huyền Thiên Trấn Vũ
Ông Đổng
Nam thiên Tứ bất tử

NHÂN DUYÊN TẦN VIỆT

Mỵ Châu – Trọng Thủy
Biển Đông thà chết chẳng theo Tần
Họ Chu Việt Nam
Tần An Dương Vương

HƯƠNG BỔNG ĐỔNG ĐẰNG

Đức thánh Chiêm
Bến Vĩnh Khang
Vua Mây họ Phạm
Luận về tứ linh

THIÊN NAM ĐẾ THỦY

Người Tuấn kiệt
Nhâm Ngao
Long Hưng
Nam Việt Đế

NAM QUỐC SƠN HÀ

Mũ đâu mâu
Chân Định linh thần
Thừa tướng Lữ Gia
Tam Giang nhị thánh
Bảy quận nước Nam

LỜI THỀ SÔNG HÁT

Tây Lý Vương
Ả Lã Nàng Đê
Mẫu vì Dương Vương
Hống Hát họ Trương

NHỮNG ANH HÙNG THỜI LOẠN

Tiền nhân họ Phùng
Nam Giao học tổ
Giao Châu Đặng cư sĩ
Vị thần sông Tô

ĐẦU VOI PHẤT NGỌN CỜ VÀNG

Tiếp Lạc khai Đinh
Đô Dương Mã bất tiến
Thì chi Đông Hán dám hung hăng
Khu Linh người nước Nam ta
Tây Đồ Di

SÁU TRĂM NĂM LÂM ẤP

Mạnh Hoạch
Nam Triệu
Bia cổ nói
Lưu Phương và Lý Bát Lang

BỐ CÁI ĐẠI VƯƠNG

Tây Hưng đại vương
Khun Borom
Tộc người Thái
Tam vị chúa Mường

GIANG TÂY SỨ QUÂN

Bột Hải triều Nam
Dẹp Lâm Ấp
Gạch Giang Tây

ĐẠI VIỆT ĐẠI HƯNG

Khúc tam vị chủ
Hạt Lý nảy năm cây
Đại Hưng bình bảo
Giữa huyện Phù Hoa

TRUYỀN THUYẾT ĐINH LÊ

Thời 12 sứ quân
Thủ lĩnh Đinh Bộ
Diễn Châu thái thú
Qua cửa Thần Phù

ĐÔI LỜI CHIA SẺ CÙNG TÁC GIẢ
PHỤ LỤC

Đối chiếu truyền thuyết và lịch sử
Dịch tượng và ngôn ngữ
Thơ Sử thuyết họ Hùng
Chỉ dẫn di tích và địa danh
Tài liệu tham khảo

 

 

Tổ tiên Hoa Hạ không hề là người vượn Bắc Kinh

Bài đăng ngày 27-10-2011 theo bản dịch của Lãn Miên tại Diễn đàn Lý học phương đông.

Các nhà khoa học của nhiều nước trên thế giới đang cùng góp sức hoàn thành kế hoạch lớn lao tìm nguồn gốc của nhân loại, hy vọng thông qua nghiên cứu biến dị gen của con người mà vẽ ra được bản đồ thiên di của nhân loại.
Nghiên cứu của các nhà khoa học Trung Quốc chứng tỏ tổ tiên của người Trung Quốc nguyên là từ Đông Phi, đi qua Nam Á tiến vào Trung Quốc. Chi tiên dân Nam Á này kinh qua nhiều đợt thiên di và biến hóa gen trong cơ thể, dần dần phân hóa thành các dân tộc.
Theo quan điểm của các nhà khoa học, thông qua phân tích mẫu DNA của con người, mỗi một người Trung Quốc đều có thể lý giải được câu chuyện của chính mình, tìm về mạch nguồn sâu xa của chính mình.

Chúng ta là ai? Chúng ta từ đâu đến?
Những thông tin lịch sử này ẩn dấu trong kết cấu phân tử DNA trong cơ thể mỗi chúng ta”, Lý Huy nói. Vị nghiên cứu sinh tiến sĩ này của Viện khoa học sinh mệnh trường đại học Phúc Đán đang say mê thu tập các mẫu DNA của các phân chi dân tộc, đồng thời chú trọng nghiên cứu quan hệ giữa các quần thể dân tộc ở miền nam Trung Quốc.
Lý Huy sinh ra và lớn lên ở Phụng Hiền ngoại ô Thượng Hải, thông qua đo nhiễm sắc thể Y và tuyến lập thể, phát hiện ra rằng họ là dân đến từ Quảng Đông Phúc Kiến. Mà hai vạn năm trước thì loại hình DNA này hoạt động tại vùng vịnh Bắc Bộ thuộc Đông Nam Á. Lý Huy từ nhỏ vẫn gọi chữ Phi (bay) là “bóng” giống như dân tộc Đồng gọi là “ben”. Từ rất lâu, anh ta vẫn cho rằng đó là tiếng Phụng Hiền, qua đo DNA Lý Huy mới biết những từ mà anh nói là đến từ ngôn ngữ Úc-Thái cổ xưa. Sự hình thành tổ tiên của ngữ hệ này có từ hai vạn năm trước ở vịnh Bắc Bộ phương nam.
Các nhà khoa học một mạch phân tích DNA và dùng máy tính nghiên cứu lịch sử nhân loại để xác định quá trình hình thành các chủng tộc và xã hội loài người. Quá trình này xưa nay chưa hề gián đoạn. Trước mắt đang triển khai kế hoạch lớn qui mô toàn cầu tìm nguồn gốc nhân loại. Một bài của Tân Hoa xã ngày 18 tháng 4 cho biết, để hiểu toàn diện nguồn gốc và quá trình thiên di của nhân loại, cũng như sự hình thành hàng nghìn ngôn ngữ của loài người, trong vài năm tới, các nhà khoa học TQ sẽ cùng các nhà khoa học Mỹ và các nước khác thông qua nghiên cứu gen và biến dị mà vẽ ra được bản đồ thiên di của loài người, từ đó mà bổ sung được những khoảng trống trong lịch sử nhân loại.
Kế hoạch 5 năm này gọi là “phổ đồ địa lý di truyền thiên di của nhân loại”. Kế hoạch này sẽ do các chuyên gia của 10 phòng thí nghiệm và đại học của Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Trung Đông hoàn thành. Các nhà khoa học sẽ thu tập 10 vạn mẫu DNA thuộc các nhân chủng khác nhau ở nhiều vùng trên thế giới để tiến hành phân tích.
Giáo sư Kim Lực chủ nhiệm Trung tâm nghiên cứu sinh vật học nhân loại hiện đại của đại học Phúc Đán cùng đồng đội của mình phụ trách nghiên cứu nhân quần vùng Đông Á và Đông Nam Á, nội dung bao gồm sự thiên di nhân quần, sự hình thành và phân hóa dân tộc và ngôn ngữ, sự giao lưu gen giữa các nhân quần v.v. Giáo sư Kim Lực nói: “Lần này trọng điểm điều tra nghiên cứu của chúng tôi nhằm vẽ ra được sơ đồ thiên di của tổ tiên người Trung Quốc, dùng để nghiên cứu những vấn đề chưa biết về dân tộc, ngôn ngữ và hoàn cảnh tiến hóa của dân tộc chúng ta, Chúng tôi sẽ phải thu tập khoảng 2 vạn mẫu DNA. Mỗi một người Trung Quốc sẽ có thể lý giải được câu chuyện của mình.”

Người vượn Bắc Kinh không phải là tổ tiên của chúng ta
Tổ tiên của chúng ta thực sự là ai?”. Theo sách giáo khoa của giáo dục phổ thông quyền uy thì người hiện đại phân bố ở Trung Quốc là do người vượn Bắc Kinh sống cách nay 40 vạn năm tiến hóa mà thành. Lý luận của thuyết này là dựa vào thuyết nhân loại xuất hiện ở nhiều nơi, tại Âu, Á, Phi đều có người vượn tiến hóa thành người hiện đại.
Tiền Cát, trợ lý phòng thí nghiệm của giáo sư Kim Lực nói, người hiện đại là vật chủng đơn nhất, còn người vượn ở các nơi thì khác biệt rất lớn, thuộc vật chủng bất đồng, không thể là đều tiến hóa thành người hiện đại. Chỉ có người vượn Đông Phi là bước lên được con đường tiến hóa thành người hiện đại. Bởi vậy người vượn Bắc Kinh không có thể thành tổ tiên của chúng ta.
Túc Binh, nghiên cứu viên Sở nghiên cứu động vật Côn Minh, sau khi nghiên cứu niên đại của các hóa thạch hiện có của Trung Quốc đã phát hiện ra một giai tầng không dễ bỏ qua, đó là giai tầng từ 10 vạn năm trước đến 4 vạn năm trước, giai tầng này không hề có một hóa thạch nhân loại nào được tìm thấy, suy ra, người đứng thẳng và trí nhân sơ kỳ (Homo sapiens) sống ở Đông Á, trong thời kỳ băng hà gần nhất đã bị tuyệt diệt vì khí hậu ác liệt. Thay vào đó là nhân chủng hiện đại đã từ châu Phi thiên di đến.
Nhưng vẫn có những nhà khoa học ủng hô thuyết “đa khởi nguồn”. Viện sĩ Ngô Tân Trí thuộc Viện nghiên cứu cổ nhân loại học đã tỉ mỉ nghiên cứu so sánh đặc trưng xương cốt người vượn Bắc Kinh, người hang động với người hiện đại, phát hiện ra rằng 70% người Trung Quốc trên xương đầu có ba đặc trưng giống hệt người vượn Bắc Kinh, do vậy ông vẫn theo quan điểm cho rằng người vượn Bắc Kinh có thể là tổ tiên của người Trung Quốc. Nhưng học sinh của ông là Lưu Vũ khi đi khảo sát ở châu Phi lại phát hiện có tới 30% người châu Phi có ba đặc trưng trên ở xương đầu cũng giống hệt người vượn Bắc Kinh.
Năm 1998 các nhà khoa học Trung Quốc nắm vững được tính trọng yếu trong mật mã di truyền DNA. Trên dây chuyền DNA song xoáy có bốn loại tiểu cầu màu đỏ, vàng , lam, lục giao kết với nhau, A, T, C, G. Chúng nắm toàn bộ lịch sử thiên di và phát triển của nhân loại..
Theo giải thích của khoa học, mỗi tiểu cầu giống như là một đơn vị hột. Những tiểu cầu này liền với nhau theo một trật tự nhất định làm thành gen, và có thông tin di truyền tương ứng. Nó có tính công năng rất mạnh, khống chế màu da, hình dáng và sức khỏe nhân loại. Ví dụ cao huyết áp của người là do vài trăm gen khống chế. Trật tự sắp đặt của chúng không thể tùy tiện biến đổi, hễ biến đổi là ảnh hưởng tới tình trạng của cơ thể.
Còn có một số tiểu cầu thì trật tự sắp đặt lại không có tính công năng, tính chất chúng giống như vật bổ sung thêm vào trong phân tử DNA. Chúng sắp đặt tự do, sau vài nghìn, vài trăm năm lại phát sinh một lần biến hóa, ví dụ chỗ vốn là A lại xuất hiện C, sự biến hóa này không chịu bất cứ ảnh hưởng bên ngoài nào, không chịu áp lực chọn lựa của tự nhiên. Những biến đổi của chúng không ảnh hưởng đến sức khỏe của thân thể. Chính đột biến di truyền này ghi lại thông tin lịch sử thiên di của nhân loại.
Nghiên cứu viên Chữ Gia Hựu của Sở nghiên cứu động vật Côn Minh đã nghiên cứu về trật tự sắp đặt đặc biệt vi vệ tinh trong sắp xếp DNA, đây là một tiêu chí di truyền được công nhận. Trong sắp xếp DNA có một kiểu trùng lặp ngắn gọn, ví dụ TGTGT qua GTG , sự trùng lặp nó về tự mẫu hay về số lần đều có thể di truyền, khi thừa kế trên cơ thể đời sau, vị trí của một G nguyên tiên có thể biến thành A, hoặc giả nguyên tiên trùng lặp 9 lần mà đến đời sau bỗng biến thành trùng lặp 10 lần. Căn cứ nguyên lý này, Chử Gia Hựu đã phân tích 28 nhân quần Đông Á suy ra ở Trung Quốc thời gian khởi nguồn người hiện đại không sớm hơn 5 vạn năm.
Có người cho rằng Chử Gia Hựu lấy mẫu quá ít, không có sức thuyết phục. Năm 2001, học sinh của Kim Lực là Kha Việt Hải cùng với tổ nghiên cứu của anh ta tiến hành phân tích di truyền qui mô lớn với chủ yếu là nhân quần người Hoa ở Đông Á. Anh đi sâu vào thế giới nhiễm sắc thể Y. Nhân quần này đời đời đều là cha con tương truyền, mà “tính cách” ổn định, thông thường mấy chục đời sau mới có một, hai vị điểm của gen phát sinh biến hóa. Kết cấu của những vị điểm đột biến di truyền này giống như một cái cây. Chính cây gen này đã ghi lại lộ trình phân tán tới những địa điểm khác nhau trên trái đất trong những thời gian khác nhau của nhân loại.
Kha Việt Hải đã phân tích 12127 cá thể nam tính phát hiện trên YAP, M130 và M89 của nhiễm sắc thể Y đều có một vị điểm của nó phát sinh biến hóa. Chúng là ba cành của cây gen trên. Chúng hợp long tại một cây gọi là M168, đây chính là vị điểm đột biến của nhân thể châu Phi. Cũng có nghĩa là người Trung Quốc và người đang sống ở châu Phi là có quan hệ với nhau.
Kha Việt Hải nói, quần thể hữu hiệu của nhiễm sắc thể người Trung Quốc vốn không lớn, chủng loại tồn tại không nhiều, hơn 1 vạn 2 nghìn mẫu này hầu như bao quát tuyệt đại bộ phận loại hình nhiễm sắc thể người Trung Quốc. Điều này chứng minh đầy đủ rằng người Hoa chiếm đại đa số nhân quần Đông Á khởi nguồn từ châu Phi.

Người Hạ đích thực
Người lãnh đạo kề hoạch lập bản đồ thiên di nhân loại nói: “Chúng ta đều từng thuộc một tổ tiên, chẳng qua là theo thời gian trôi mà chúng ta bị phân tán. Người hiện đại trên thế giới dù là người châu Á, châu Mỹ hay châu Âu đều là người đứng thẳng ở Đông Phi tiến hóa mà nên. Họ từ 5 – 10 vạn năm trước bắt đầu khuếch tán đi khắp nơi trên thế giới.
Bắt đầu từ DNA, nghiên cứu về nhân loại dần dần chuyển sang tầng diện văn hóa. Con người từ chính cơ thể mình lại đi tìm cái mất đi của lịch sử. Cuối những năm 80 của thế kỷ trước ngành nhân loại học phát sinh một phân chi quái dị là phân tử nhân loại học. Từ khi ra đời nó đã có được một lực lượng đáng kinh ngạc. Nó không những khiến cho thuyết “khởi nguồn châu Phi” có được bộ mặt rõ ràng khả tín, mà thậm chí còn dựa vào đó tìm ra được nguồn gốc châu Phi của người Á và người Hạ.
Năm 1987 đại học Hawai tìm ra được DNA tuyến lập thể của phụ nữ, phát hiện ra rằng tuyến ấy của phụ nữ hiện đại đều đến từ một vị phụ nữ cách nay 15 vạn năm ở châu Phi.
Tuyến lập thể tồn tại ở trong chất cua tế bào, nó là “công xưởng năng lượng của tế bào, chúng bao hàm lượng ít vật chất di truyền DNA, tuyến lập thể của mỗi con người đều đến từ người mẹ, vì vậy nó là công cụ quan trọng cho nghiên cứu tiến hóa nhân loại từ góc độ di truyền mẫu hệ, giống như Y nhiễm sắc thể là công cụ nghiên cứu di truyền phụ hệ.”
Tiếp đó các nhà khoa học ngành phân tử nhân loại học lại thành công trong việc phát hiện Y nhiễm sắc thể trong mật mã di truyền nam tính, dẫn đến kết luận rằng nam tính hiện đại đều có chung một ông bố sống cách nay 15 vạn năm tại Đông Phi.
Lý Huy giải thích, đại khái 15 vạn năm trước tại Đông Phi phân hóa ra rất nhiều nhân chủng và bộ lạc, trong đó bao gồm tổ tiên của bốn màu da nhân chủng. Phát hiện M168 trên nhiễm sắc thể Y chính là một vị điểm đột biến rất cổ xưa, phát sinh khoảng 10 vạn năm trước, khi nhân loại rời khỏi châu Phi.
Mười vạn năm trước trái đất bị băng hà phủ kín đạị bộ phận lục địa. Toàn bộ mặt biển thấp hơn mặt biển ngày nay 120 mét, nhiều đáy biển lộ ra mặt đất. Các bộ lạc sống chen chúc trên mảnh đất ấm áp Đông Phi bằng nguồn thực phẩm kiếm được có hạn. Một bộ phận người bắt đầu rời khỏi châu Phi.
Lại qua đi vài ngàn vài vạn năm, người hiện đại trên cơ sở đột biến gen M168 lại xuất hiện hai loại hình đột biến là M130 (80000 năm trước) và M89 (45000 năm trước), nhân loại thông qua Bắc Phi tiến vào đại lục Âu, Á. Ra đi sớm nhất là người da đỏ. Họ sống chủ yếu bằng đánh cá và thu lượm nhuyễn thể ven biển. Họ đi men theo bờ biển Ấn Độ với khí cụ là đồ đá cũ và cây vót nhọn. Họ đã chiếm lĩnh lục địa Nam Á, Đông Nam Á và các đảo bãi đại dương 5 vạn năm trước công nguyên.Trong quá trình vài vạn năm sau đó do sống bằng đánh bắt hải sản, họ đã men theo bờ biển mà đến tận Đông Á, xuyên qua eo biển Bê Rinh mà đến tận Bắc Mỹ và Nam Mỹ.
Người chủng da vàng rời khỏi châu Phi muộn hơn người da đỏ gần 5 vạn năm. Nhưng tốc độ khuyếch tán của họ nhanh hơn. Họ đã đến được Đông Nam Á với thời gian đã mất chỉ bằng 1/5 thời gian cua người da đỏ. Trong số 12000 mẫu mà Kha Việt Hải lấy của người Trung Quốc thì có 11311 mẫu có phát sinh đột biến M89. Mà đột biến này đánh dấu thời gian hình thành là khi người da vàng đạt đến Đông Nam Á rồi sống lâu dài ở đó, sau đó mới tiến nhập Trung Quốc, phân hóa xuất hiện Hán tộc ngày nay.

Hán Tạng cùng nguồn
Bất luận nhìn bên ngoài hay nhìn văn hóa, khó ai tin được rằng người Hán và người Tạng là cùng nguồn, nhưng các nhà nghiên cứu phân tử nhân loại học thì tin sâu sắc không chút nghi ngờ là Hán, Tạng đồng nguồn.
Đầu tiên nêu ra sự đồng nguồn Hán, Tạng là các nhà ngôn ngữ học Trung Quốc. Giới ngôn ngữ học cho rằng ngôn ngữ Đồng- Thái ở miền nam và ngôn ngữ Hán là gần nhau nhất, sau đó phát hiện ngôn ngữ Tạng gần gũi nhất với ngôn ngữ Hán. Có thể tìm thấy các từ tiếng Tạng và tiếng các phương ngôn đông nam Trung Quốc phát âm tương tự và đồng nghĩa nhau. Sự tương ứng này mang tính hệ thống chứng tỏ mối quan hệ đồng nguồn.
Nghiên cứu viên Túc Binh thuộc sở nghiên cứu động vật Côn Minh năm 1996 nghiên cứu DNA tìm thấy chứng cứ thể hiện Hán, Tạng cùng nguồn, ở chỗ người Hán và người Tạng trên M122 và trên phân chi M134 đều có đột biến giống nhau. Thông qua phân tích chủ thể nhiễm sắc thể Y thấy rằng tần suất đột biến ở người Tạng gần gũi nhất với tần suất đột biến ở người Hán, chứng tỏ trong số các dân tộc thuộc hệ ngữ Tạng-Miến thì người Tạng và người Hán là gần gũi nhất. Họ phân hóa thành hai dân tộc cách nay khoảng 5000 năm.
Theo trợ lý Tiền Cát của phòng thí nghiệm của giáo sư Kim Lực thì việc Trung Quốc dùng DNA phân tích lộ trình thiên di của tổ tiên đã đến độ thành thạo. Các nhà nghiên cứu lĩnh vực này như Trương Á Bình, Chử Gia Hựu (Vân Nam), Bác Tụng Tân, Lý Nghiệp (Cáp Nhĩ Tân) v.v. chỉ cần tổng hợp các con đường thiên di lại sẽ có được sơ đồ hoàn chỉnh về lộ trình thiên di của người Trung Quốc. Qua những thành tựu nghiên cứu tới nay, có thể thấy rằng 56 dân tộc Hoa Hạ ở Đông Á và các dân tộc ở Đông Nam Á đều là do tiên dân ngữ hệ Nam Á phân hóa mà thành, vì trên cơ thể họ đều có đột biến M122.
Đột biến M122 đại khái xuất hiện khoảng 3 vạn năm trước. Lúc này các dãy núi ở Trung Quốc đều phủ kín tuyết, đại bộ phận đất đai còn trống vắng, chỉ có số ít người da đỏ sống ở vùng Hoàng Hà và Trường Giang. Trong khi đó ở vùng Miến Điện Đông Nam Á bộ lạc người da vàng đã có thế lực nhất định, người da đỏ không ngừng qui tụ về hướng nam.
Khi băng hà trên lục địa Trung Quốc tan dần, một chi có đột biến M122 thuộc hệ ngữ Nam Á bắt đầu tiến nhập Trung Quốc. Theo Lý Huy, tiên dân hệ ngữ Nam Á tiến nhập Trung Quốc chia thành ba đường, vào Trung Quốc qua hai cửa, một là ngả Vân Nam. Hai là ngả lưu vực Châu Giang Một chi theo cao nguyên Vân Quí đi lên hướng tây bắc, cách nay khoảng 1 vạn năm họ đã đến được vùng bồn địa Hà Thao, thượng du Hoàng Hà. Đây là chi tổ tiên của hệ ngữ Hán Tạng mà về sau gọi là tiên Khương, họ chính là tổ tiên chung của người Hán và người Tạng.
Chi tiên dân Nam Á này khi bắt đầu thiên di thì cơ thể họ có đặc trưng là cái đầu của họ chưa được tròn cho lắm, mũi to, môi dầy. Họ đi từ Vân Nam lên Cam Túc, hình trạng nhân thể phát sinh biến hóa, Sau khi đến được vùng cao nguyên, không còn bị các bệnh nhiệt đới ảnh hưởng, ô xi lại thiếu nên khuôn mặt của họ biến dài. Ngôn ngữ của họ cũng biến đổi, có thuyết cho rằng biến đổi này là do cái miệng và cái tai đem lại.
Nhưng điều quan trọng là qua quá trình thiên di 1 vạn năm M122 trong cơ thể họ bắt đầu sinh ra đột biến mới là M134. Như vậy đến cách nay 5000 – 6000 năm DNA trong nhân thể bắt đầu “không yên phận” nữa, lúc này, do nông nghiệp ăn hạt cốc xuất hiện, văn hóa đá mới bắt đầu phát triển. Dân số tăng khiến nhân quần tất yếu tìm nơi cư trú mới. Bắt đầu phân rã hai tộc ngữ Hán và Tạng từ một hệ ngữ Hán Tạng.
Trên cơ sở M134 của một chi nhân quần khác phát sinh đột biến M117. Chi này mang theo đột biến này đi về phía đông một mạch đến lưu vực Vị Hà thì dừng lại. Họ nắm được văn minh nông nghiệp, bắt đầu sống bằng nghề nông. Quần thể này chính là người Hoa mà về sau gọi là người Hán. M117 trên cơ thể người Hán là một đột biến di truyền rất cổ xưa.
Một chi nhân quần khác bị gọi là quần thể ngữ tộc Tạng Miến. Họ rời lưu vực Hoàng Hà thiên di hướng tây và hướng nam, cuối cùng đến định cư ở nam và bắc dãy Himalaya. Trong quá trình thiên di, quần thể này không ngừng phân liệt thành các dân tộc Tạng, Khương, Di, Cảnh Phả, Thổ Gia.
Người Hoa ở lưu vực Vị Hà mài dũa nên một chi rất dũng mãnh thiện chiến là người Tần, tích tụ một thực lực thống nhất Trung Quốc. Còn một bộ phận khác người Hoa lại tiếp thụ ảnh hưởng của văn hóa Long Sơn của người Di và văn hóa của người Miêu Dao, hình thành nên hai quần thể Tề ngữ và Sở ngữ.
Thời kỳ Tần Hán đã thống nhất được một Trung Quốc vốn chia năm sẻ bảy, thống nhất cả ngôn ngữ, văn tự, tiền tệ , đo lường. Chỉnh thể Hán tộc đã ý thức được sự hình thành chân chính. Thêm vào đó là sự thống trị có hiệu lực của tập quyền trung ương, từ đó Hán tộc không bị phân hóa nữa. Còn về mặt văn hóa thì cưỡng chế làm cho Hán tộc giống như một giọt mực lan rộng ra trên toàn bản đồ Trung Quốc. Họ mang đột biến M117 nhanh chóng thẩm thấu bốn phương.

Thân phận mơ hồ của dân tộc phương Nam
Lý Huy thông qua nghiên cứu đã phát hiện, tiên dân Nam Á men theo cao nguyên Vân Quí đi lên phía bắc và phía tây hình thành nên ngữ hệ Hán Tạng, đồng thời từ trong số quần thể Nam Á ấy có một chi đi về hướng đông và nam qua Lào và dãy Sòng Sơn (Trường Sơn- ND), cách nay hơn 1 vạn năm, hình thành nên ở vịnh Bắc Bộ tổ tiên của ngữ hệ Úc – Thái. Chi người da vàng này mang đột biến M119 từ Việt Nam, Quảng Tây tiến nhập Trung Quốc, mên theo bờ biển tiến lên hướng đông bắc, hình thành nên dân tộc Bách Việt.
Lý Huy bản thân thuộc nhân quần ngữ hệ Úc – Thái, đây là phát hiện ngẫu nhiên của anh ta khi nghiên cứu mẫu DNA của phân chi dân tộc. Hai năm trước khi chưa nghiên cứu thì anh ta chưa hề biết đích xác quần tộc của mình, khi ghi hồ sơ lý lịch vẫn điền là “dân tộc Hán”. Nhưng từ nhỏ anh đã phát hiện thấy, tuy sinh ra lớn lên ở Phụng Hiền, Thượng Hải nhưng tập quán rất khác xa quần thể người Hán xung quanh. Cụ ông cụ bà của anh đều bận trang phục màu chàm. Họ có những ngày Tết riêng: âm lịch 18 tháng 4, té nước mừng năm mới; âm lịch 18 tháng 9 tát ao bắt cá chia phần đều cho cả xóm. Họ có ưu việt cảm với dòng giống của mình, không thông hôn với các dân tộc khác. Thời đó các cụ đều nói với thằng nhỏ Lý Huy rằng họ mới chính là dân bản địa của Thượng Hải.
Cho tới khi Lý Huy đi lấy mẫu ở quần thể người Thái ở Vân Nam mới có được phát hiện vỡ òa rằng anh hầu như nghe hiểu gần hết ngôn ngữ của người Thái. Rồi khi giao lưu với người Thủy anh lại càng kinh ngạc, đến những từ nói thầm, từ dùng trong buồng riêng họ nói anh đều nghe hiểu. Khi về Thượng Hải anh mới phân tích mẫu máu của mình, phát hiện cơ thể người Thái, người Thủy và cơ thể anh đều có đột biến M119.
Ngành dân tộc học gọi quần thể có đột biến M119, là hệ thống dân tộc Bách Việt. Lịch sử của họ bao trùm phạm vi từ Giao Chỉ thuộc Bắc Bộ Việt Nam đến Triết Giang. Trong hàng nghìn năm phân hóa thành các tộc Lê, Đồng, Thủy, Lào, Cao Sơn, Choang, Thái. Các tộc người này về ngôn ngữ và văn hóa có sự đồng nhất rất mạnh, bởi vậy gọi chung là người Việt. Xương mày có độ uốn cong xuống dưới rất lớn là đặc trưng của người hệ ngữ Úc – Thái.
Năm ngoái Lý Huy cùng tổ nghiên cứu của mình tiến hành nghiên cứu ở Thượng Hải xem người Ngô và người Việt là thuộc một dân tộc hay thuộc hai dân tộc. Trước đó giới ngôn ngữ học cho rằng họ thuộc một dân tộc, vì họ nói có thể hiểu được nhau.
Nhưng nghiên cứu phát hiện ra rằng họ thuộc hai dân tộc hoàn toàn khác nhau. Người Việt 7 – 8 ngàn năm trước phát triển tại Thông Giang Thượng Hải. Người Ngô khoảng 3 ngàn năm trước mới tiến nhập Thượng Hải. Các sắc dân người Việt trên cơ thể có lượng lớn đột biến M119; người Ngô lại có rất ít, họ có nhiều là đột biến M7, do hệ ngữ Miêu Dao di truyền. Người Ngô thuộc chi tiên dân Nam Á thiên di từ cao nguyên Vân Quí đi về phía đông, sau đó vị điểm trên chuỗi DNA ở M134 phát sinh đột biến M7.
Nhân quần này ở vùng Động Đình hình thành nên ngữ hệ Miêu Dao. Người Ngô chính là sự đồng hóa giữa người Miêu Dao đông tiến và người Hán nam tiến mà hình thành, do vậy biến hóa cơ cấu di truyền của họ nhiều mà phức tạp.

Đông Nam Á là một trung tâm phân hóa dân tộc
Nghiên cứu viên Tiền Cát nói, trong kế hoạch lập bản đồ thiên di nhân loại thì lộ trình thiên di của người Trung Quốc đã khá rõ ràng. Bây giờ chỉ còn là công tác tổng kết và bổ sung.
Ví dụ, nghiên cứu tới nay đã chỉ ra rằng, 2 vạn năm trước, khi hệ ngữ Úc – Thái hình thành, có một chi bộ lạc men theo bờ biển đi lên, hầu như không lưu lại dấu tích nơi họ dừng. Họ đi một mạch đến lưu vực Tây Liêu Hà mới dừng lại. Họ chính là hạt nhân của hệ ngữ A Nhĩ Thái. Sau đó người Di đi lên, người Hoa cũng đi lên, ở đó hội nhập lại lần thứ nhất, hình thành nên văn hóa Hưng Long Thẩm. Đây là nơi ngày nay phát hiện văn hóa đá mới sớm nhất của Trung Quốc.
Sau đó tiên dân ngữ hệ A Nhĩ Thái đi rộng ra bốn xung quanh, về phía tây phân hóa thành Mông Cổ, Đột Quyết; về phía đông nhập Triều Tiên, Nhật Bản; về phía bắc qua eo Bê Rinh sang Mỹ. Vùng này lấy mẫu còn thưa, còn phải tiếp tục nghiên cứu bổ sung. Trọng tâm nghiên cứu đặt vào Đông Nam Á. Đông Nam Á là vùng lớn các dân tộc giao hội, có tới 2000 dân tộc, chiếm ¼ các dân tộc trên thế giới. Do người châu Phi tới đây sớm, thời gian dài, nên nơi đây thành trung tâm phân hóa các dân tộc. Ở đây hầu như mỗi đảo là một dân tộc, cách một ngọn núi là một dân tộc. Theo suy nghĩ của Lý Huy, nghiên cứu bắt đầu từ Lào và Miến Điện, nơi còn rất nhiều các bộ lạc quần thể cổ xưa.
Từ châu phi tiên nhân da vàng đến Miến Điện, hình thành ở đó hệ ngữ Nam Á. Hiện nay công tác nghiên cứu lấy mẫu hệ ngữ Nam Á còn quá ít và lại đang tiến hành rất chậm chạp. Tiên dân Nam Á chính là tổ tiên chung của người Đông Á. Làm rõ được kết cấu di truyền của nhân quần Nam Á này sẽ có được cống hiến lớn cho hoàn thành sơ đồ thiên di nhân loại.

Về Quỳnh Đôi

P1120168Tôi kể sự xưa chuyện họ Hồ
Đồng quê Châu Diễn núi lô nhô
Trạng nguyên nổi ánh từ Giang Chiết
Nghìn thu Bào Sảng dựng cơ đồ.

Cửa cao trăng rọi những anh tài
Tuấn kiệt trung lương khí bất mai
Thần minh hệ xuất ba vương đế
Giai nhân thi lễ một không hai.

Nước cả bởi chưng rộng mạch nguồn
Cháu con phúc tổ nhớ luôn luôn
Tháng Giêng về với nơi Quỳnh Diễn
Ngẫm sự xưa nay, thắp nén hương…

Tiên và Phật

Đạo Phật du nhập vào nước Nam từ bao giờ? Đạo Phật đã có mặt ở Việt Nam từ thời Hùng Vương là chắc chắn, nhưng Hùng Vương là thời kỳ kéo dài hơn 2000 năm trước Công nguyên. Vậy đạo Phật đến Việt Nam cụ thể vào lúc nào?
Trong tác phẩm Lịch sử Phật giáo Việt Nam – Từ khởi nguyên đến thời Lý Nam Đế thiền sư Lê Mạnh Thát nhận định: “Phật giáo đã đặt nền móng tại Việt Nam từ thời Hùng Vương, Sư dạy đạo đầu tiên là Sư Phật Quang, Phật tử Việt Nam đầu tiên là Chử Đồng Tử”.
Cùng quan điểm này các tác giả Trịnh Minh Hiên và Đồng Hồng Hoàn trong cuốn Thành NêLê – Đồ Sơn thời Asoka đã nêu ra một số dẫn chứng xung quanh Chử Đồng Tử và sư Bần ở Đồ Sơn – Hải Phòng. Đó là ngôi chùa Hang (Cốc Tự) ở Đồ Sơn với truyền tích: “Thời xưa vào cuối đời vua Hùng ở đây có một vị sư tên là sư Bần (Bần Tăng), người Ấn Độ, lập bàn thờ Phật và tu ở trong chùa Hang”. Gần chùa Hang (thôn Cốc Liễu, xã Minh Tân, Kiến Thụy) có ngôi miếu Bà Đa, thờ Chử Đồng Tử với truyền thuyết Chử Đồng Tử đi qua đây đã dùng phép cải tử hoàn sinh cứu sống con bà Đa. Từ đó các tác giả cho rằng Chử Đồng Tử đã gặp sư Phật Quang (hay sư Bần) ở Quỳnh Viên là khu vực Đồ Sơn, Hải Phòng, rồi sau đó trên đường đi đã cứu sống con bà Đa ở Kiến Thụy…
Muốn dựa vào truyền thuyết về Chử Đồng Tử để xác định thời điểm Phật Giáo có mặt ở Việt Nam thì trước hết cần định vị và định thời gian của nhân vật Chử Đồng Tử. Chử Đồng Tử không thể đi tu Phật mà là tu Tiên. Sư Phật Quang là sự gán ghép muộn màng sau này của đạo Phật vào truyền thuyết Chử Đồng Tử.
Lý do Chử Đồng Tử không tu Phật là:
–    Chử Đồng Tử là vị thần bất tử xếp hàng thứ hai sau Tản Viên Sơn Thánh và trước Đổng Thiên Vương. Nếu Đổng Thiên Vương là Thánh Gióng đánh giặc Ân, vào cỡ khoảng thế kỷ 11 trước Công nguyên thì Chử Đồng Tử phải có từ trước thời kỳ này. Còn nếu Đổng Thiên Vương là Huyền Thiên đại thánh (như ở đền Bộ Đầu, xã Thống Nhất, Thường Tín, Hà Nội) thì Chử Đồng Tử vẫn là nhân vật lịch sử có trước thời của Thái thượng Lão quân (Huyền Thiên Lão Tử). Trong khi đó đạo Phật mới ra đời từ Phật Thích Ca vào quãng giữa thế kỷ 6 trước Công nguyên, sau Lão Tử. Thời Chử Đồng Tử như vậy đã làm gì có đạo Phật mà tu.
–    Phép thuật mà Chử Đồng Tử học được nằm ở 2 bảo bối gậy và nón, có khả năng cải tử hoàn sinh. Gậy và nón là hình ảnh của vuông – tròn, âm – dương, là quan niệm cơ bản của Đạo giáo chứ không phải của đạo Phật. Đạo Phật nói tới thuyết luân hồi, không bàn tới cải tử hoàn sinh vì như vậy là phá vỡ luân hồi. Chử Đồng Tử đã “thọ giáo” một đạo sĩ chứ không phải sư Phật.
Núi Quỳnh Viên nơi Chử Đồng Tử đi tu có thể ở Đồ Sơn, tháp Nê Lê của vua A Dục có thể ở Đồ Sơn thật. Nhưng những điều đó không có nghĩa là Chử Đồng Tử tu Phật ở Đồ Sơn. Sự có mặt di tích và truyền thuyết của Chử Đồng Tử ở Hải Phòng có thể hiểu được vì Chử Đồng Tử là vị thần bất tử của hướng Đông, đã mở mang khu vực phía Đông theo truyền thuyết.
Một liên hệ khác để định vị công lao khai mở phía Đông của Chử Đồng Tử là chuyện về Quảng Bác Đại Vương ở Phú Xuyên (Hà Nội). Đây là vị thần được thờ làm thành hoàng ở nhiều làng quanh khu vực Phú Xuyên (tổng Thịnh Đức), nơi thờ chính của thần là đền Ba Sa ở Phú Yên, Phú Xuyên. Sự tích thần chép Quảng Bác Uyên Dung Đại Vương là con vua Hùng thứ tám và cung phi Tiên Dung Châu, đã lập nhiều chiến công đem lại bình yên cho đất nước.

P1110718Đền Ba Sa ở Phú Xuyên với hoành phi “Hùng triều bát đại vương”

Câu đối ở cổng đền Ba Sa:
Di tích Hùng triều, danh hiệu đại vương lưu vạn thế
Sắc phong khai quốc, anh linh hiển thánh ngự Ba Sa.
Âm Ba trong tên thánh Ba Sa được ghi bằng chữ Nôm.
Còn tại đình Giẽ Hạ (Phú Yên, Phú Xuyên) nơi thờ Quảng Bác Đại Vương làm thành hoàng làng có bức hoành phi đề Trạch tư Đông thổ 宅兹東土, nghĩa là Yên định vùng đất Đông.
Sự tích của Quảng Bác Đại Vương ở Phú Xuyên là một cách kể khác của chuyện Chử Đồng Tử. Câu đối về Chử Đồng Tử ở đền Đa Hòa (xã Bình Minh, Khoái Châu, Hưng Yên) như sau:
淳孝格天沙渚幔帷成異遇
至誠通聖瓊林杖笠契真傳
Thuận hiếu cách thiên, Sa Chử mạn duy thành dị ngộ
Chí thành thông thánh, Quỳnh Lâm trượng lạp khế chân truyền.
Dịch:
Hiếu thuận động tới trời, bãi Chử màn che thành kỳ ngộ
Thành chí thông tận thánh, Quỳnh Lâm gậy nón tiếp chân truyền.
Chữ Sa 沙 và Chử 渚 đều nghĩa là bãi cát ven sông. Còn chữ Ba (3) trong tên Ba Sa và số Tám (Hùng triều bát đại vương) của chuyện Quảng Bác Đại Vương đều là những con số chỉ hướng Đông trong Hà Thư. Như vậy Ba Sa đồng nghĩa với Đông Chử hay Chử Đồng. Chử Đồng Tử đúng phải là Chử Đông Tử, nghĩa là vị thầy ở bãi Đông.
Chử Đồng Tử được tôn là Chử Đạo Tổ, rõ ràng là một vị tổ của Đạo giáo, chứ không phải đạo Phật. Nghĩa của tên Chử Đạo Tổ và Quảng Bác Đại Vương cũng rất gần nhau.
Bên cạnh đình Giẽ Hạ còn có đền thờ mẫu là bà Tiên Dung Châu, hoàn toàn trùng với tên Tiên Dung trong truyền thuyết về Chử Đồng Tử.
Quay lại với một số “dấu tích” cổ của đạo Phật ở Việt Nam. Một số tác giả căn cứ vào Ngọc phả Hùng vương kể chuyện vua Hùng thứ 7 là Lang Liêu lên núi Tam Đảo gặp Tiên ở chùa Địa Ngục mà kết luận: đạo Phật có mặt ở Việt Nam từ thời Lang Liêu (?!) Có điều Lang Liêu, vị vua Hùng thứ 7, là thời kỳ nước ta vừa mới đánh giặc Ân xong. Nhà Ân Thương trước thời Phật Thích Ca ra đời có tới nửa thiên niên kỷ, làm sao thời Lang Liêu đã có đạo Phật được.
Chuyện Lang Liêu lấy nàng Tiên ở núi Tam Đảo chỉ rõ đây là chuyện thần tiên của đạo Lão chứ không phải chuyện của đạo Phật. Tây Thiên quốc mẫu Lăng Thị Tiêu ở núi Tam Đảo là Tây Vương Mẫu hay Mẫu Cửu trùng (Cửu Thiên Huyền Nữ), là vị mẫu cùng Ngọc Hoàng thượng đế cai quản các vị thần tiên trên trời, hoàn toàn không phải là Phật hay Bồ Tát gì cả.
Một “Phật tích” khác là tấm bia ở Hải Phòng có nói tới Tháp Xá Lợi ở miền Bắc Việt. Xá Lợi tháp là tháp nào? Tấm bia Xá lợi tháp minh mới phát hiện ở Trí Quả, Thuận Thành, Bắc Ninh năm 2012 cho biết vào năm Nhân Thọ thứ nhất Tùy Văn Đế đã cho nhập xá lợi Phật vào Giao Châu tại chùa Thiền Chúng. Thiền Chúng phản thiết là Chiền, tức là chỉ một ngôi chùa ở Giao Châu mà thôi. Cổ Châu Phật bản hạnh ở chùa Dâu (Thuận Thành, Bắc Ninh) cho biết rõ:

Thời ấy có ông Lưu Chi
Tâu rằng nhà Tùy Cao Đế niên gian
Năm hòm xá lợi Bụt quan
Giữa huyện Siêu Loại là chiền Cổ Châu
Danh lam bảo tháp phù đồ
Cao dự nghìn trượng khỏe phò thánh cung.

Tùy Văn Đế năm 601 đã cho nhập xá lợi vào Giao Châu tại chùa Dâu. Tháp Hòa Phong ở chùa Dâu ngày nay được xây dựng lại trên nền cũ tháp Xá Lợi xưa.
Chùa Dâu ở Bắc Ninh gắn liền với sự tích về Phật Man Nương và Tứ pháp thời Sĩ Nhiếp. Sĩ Nhiếp ở vùng này được gọi là Tiên Sĩ Vương. Sĩ Nhiếp thực ra là người tu tiên theo đạo Lão. Hình tượng Tứ pháp (Vân Vũ Lôi Điện) là hình tượng thủy thần, hóa thân của Sĩ Nhiếp vì… Sĩ Nhiếp là Long độ đình hầu, tức thần Long đỗ của thành Thăng Long, là vua Mây họ Phạm ở Đằng Châu trong quan niệm dân gian.

P1110794Tam quan chùa Mui ở Thường Tín với bức tự “Đạo diễn huyền không”.

Sự đan xen giữa đạo Lão và đạo Phật trong tín ngưỡng dân gian Việt như vậy gặp ở nhiều sự tích, di tích. Ngay như ngôi chùa Mui (thôn An Duyên, xã Tô Hiệu, huyện Thường Tín, Hà Nội) gọi là chùa nhưng thực ra vốn là một Đạo quán (Hưng Thánh quán) thờ Thái thượng Lão quân, tức là thờ Lão Tử. Nếu không phân tách ảnh hưởng muộn của đạo Phật trong các truyền thuyết của đạo Lão thì sẽ đi đến những kết luận lệch lạc về lịch sử Phật giáo ở Việt Nam. Đối với Việt Nam Tiên có trước, Phật là sau. Tín ngưỡng chính thống và đặc sản của người Việt là Đạo giáo chứ không phải Phật giáo.

3 vị vua Hùng

Khu di tích đền Hùng ở núi Nghĩa Lĩnh (xã Hy Cương, Việt Trì, Phú Thọ) là nơi thờ các vị vua Hùng, quốc tổ của người Việt. Ở cả 3 đền Hạ, đền Trung và đền Thượng trong khu di tích này đều đặt bài vị thờ 3 vị thánh là:
–    Đột ngột Cao Sơn cổ Việt Hùng thị thập bát thế truyền thánh vương
–    Ất Sơn thánh vương
–    Viễn Sơn thánh vương.
3 vị thánh vương này còn gặp ở nhiều nơi khác trong các đình, đền, miếu vùng Phú Thọ. Không nơi nào đặt bài vị đích danh là Hùng Vương cả. Vậy người được thờ làm quốc tổ ở đây là ai? Tại sao không thấy tên của họ trong các truyền thuyết về Hùng vương?
Theo Truyện họ Hồng Bàng thì Lạc Long Quân và Âu Cơ sinh bọc trăm trứng, nở ra trăm trai, Âu Cơ dẫn 50 người con về đất Phong Châu, lập người con cả lên làm vua, đặt tên nước là Văn Lang, xưng là Hùng Vương. Một số người do đó cho rằng 3 vị thờ ở đền Hùng là những người con, cháu của Lạc Long Quân – Âu Cơ, đã xưng là Hùng Vương.
Tuy nhiên thời đại Hùng Vương không phải bắt đầu chỉ từ Âu Cơ. Lạc Long Quân cũng là một Hùng Vương. Kinh Dương Vương (cha của Lạc Long Quân) cũng là Hùng Vương… Thời Hùng Vương bắt đầu phải tính từ Đế Minh, là người đã mở đầu sử Việt (Truyện họ Hồng Bàng):
Đế Minh, cháu ba đời họ Viêm Đế Thần Nông sinh ra Đế Nghi, sau nhân đi tuần về phía Nam đến núi Ngũ Lĩnh lấy được con gái bà Vụ Tiên rồi trở về, sinh ra Lộc Tục.
Còn Thiên Nam ngữ lục chép:

Tự vua Viêm Đế sinh ra
Thánh nhân ngưu thủ họ là Thần Nông
Trời cho thay họ Hữu Hùng
Con cháu nối nghiệp cha ông thủ thành.

Câu thơ trên cho biết họ Hữu Hùng (Hùng Vương) bắt đầu từ Đế Minh, cháu ba đời Viêm Đế Thần Nông.
Vị thánh vương được thờ đầu tiên là Đột Ngột Cao Sơn, thường được thờ với nhiều mỹ tự tôn vinh khá dài. Ví dụ bài vị ở đền Thượng ghi: Đột Ngột Cao Sơn hiển Hùng ngao thống thủy điện an hoàng tế chiêu liệt ứng thuận phả hộ thần minh thọ quyết ứng quảng huệ y diễn vệ hàm công thánh vương vị.
Những mỹ tự này cùng với cụm từ “Đột Ngột Cao Sơn” cho thấy vị trí tối cao của người được thờ, là quốc tổ ngàn đời của người Việt. Chữ “Hiển Hùng” tương ứng với tên Hùng Hiển Vương hay Hiên Viên của Đế Minh. Hiển là sáng tỏ, gọi khác là Minh.
Trong mục Thần tích xã Tiên Cương, phủ Lâm Thao có bản Ngọc phả mang tên: Ngọc phả cổ truyền về mười tám đời Cao Sơn Thánh Vương họ Hùng nước Việt cổ, trong đó kể lại sự tích về “Hùng Vương Thánh tổ Tiền Thái tổ Cao Sơn Minh Vương hoàng đế”. Như vậy Đột Ngột Cao Sơn còn được gọi là Cao Sơn Minh Vương. Vậy Đột Ngột Cao Sơn chính là Đế Minh, vị vua Hùng đầu tiên của người Việt.
Đế Minh được gọi là Cao Sơn (Đột Ngột Cao Sơn) là do chuyện Đế Minh lấy con gái bà Vụ Tiên là Lăng Thị Tiêu ở núi Tam Đảo (Tây Thiên). Bộ tộc Lang Tiên Thị còn có tên là Cao Sơn nên cái tên này được dùng để chỉ cả Đế Minh.
Khi xác định được vị quốc tổ thứ nhất Đột Ngột Cao Sơn là Đế Minh trong Truyện họ Hồng Bàng thì 2 vị tiếp theo cũng phải có liên quan, là 2 vị vua đã nối tiếp sự nghiệp của Đế Minh. Do vậy Ất Sơn là Đế Nghi, còn Viễn Sơn là Lộc Tục.
Ất là thứ 2 (trong các số đếm Giáp, Ất, Bính, Đinh…). Nghi cũng là Nhì, là thứ 2. Đế Nghi cũng là Đế Nghiêu trong Hoa sử.

IMG_8866Miếu thờ vua Hùng ở Hùng Lô

Một số nơi, như ở đình Hùng Lô (Việt Trì, Phú Thọ) thờ 2 vị Hùng Vương là Hùng Hoa Vương và Hùng Hy Vương. Những người này đã có công dạy bảo nhân dân vỡ đất xây dựng quê hương, tạo nên nền cương thường, đạo lý của người Việt cổ.
Câu đối ở đình Hùng Lô
雄之西瀘之東浹洽醇風安百堵
国始君民始祖焜煌祀典老千秋
Hùng chi Tây Lô chi Đông, tiếp hiệp thuần phong an bách đổ
Quốc thủy quân dân thủy tổ, hỗn hoàng tự điển lão thiên thu.
Dịch:
Hùng bên Tây, Lô bên Đông, gió thuần hòa hợp yên trăm họ
Nước có vua, dân có tổ, phép thờ rực rỡ mãi ngàn thu.
Có thể Hùng Hoa Vương ở đình Hùng Lô là Đế Nghi hay Đế Nghiêu của Hoa sử. Còn Hùng Hy Vương là Hy Thị – Đế Thuấn, người được Đế Nghiêu cử đi khai mở Nam Giao.
Bài thơ vua Minh Mạng làm ở điện Thái Hòa (Huế) có câu:
Hồng Bàng khai tịch hậu
Nam phục nhất Đường Ngu.
Dịch:
Hồng Bàng triều đại mở
Phục Nam Nghiêu Thuấn đầu.
Vì công lao khai mở Nam Giao của Đường Nghiêu Ngu Thuấn hay Đế Nghi, Lộc Tục mà 2 vị này đã được cùng thờ trong tín ngưỡng Hùng Vương dưới tên Ất Sơn và Viễn Sơn.

IMG_8864Đình Hùng Lô ở Việt Trì

Câu đối khác ở Hùng Vương miếu tại Hùng Lô:
鷲嶺鍾靈百粤輿圖開厥始
義峯毓秀壹胞苗裔徇無疆
Thữu Lĩnh chung linh, Bách Việt dư đồ khai quyết thủy
Nghĩa Phong dục tú, nhất bào miêu duệ tuẫn vô cương.
Dịch:
Núi Thứu đúc khí linh, cơ đồ Bách Việt xưa khai mở
Đỉnh Nghĩa nuôi vẻ đẹp, dòng dõi đồng bào chẳng kể biên.
Ba vị vua Hùng đầu tiên được thờ tại đền Hùng và các di tích khác ở Phong Châu như vậy là Đế Minh, Đế Nghi, Lộc Tục hay Hoàng Đế, Đế Nghiêu và Đế Thuấn được Kinh thư xưa chép trong phần Ngu thư. Thời đại Hùng Vương bắt đầu từ nước Hữu Hùng của Đế Minh, chứ không phải từ nước Văn Lang của Âu Cơ.

Vĩnh bảo dụng lợi

Trong cuốn Bí ẩn về những chiếc gương cổ ở miền Trung Việt Nam các tác giả Hồ Xuân Em, Hồ Anh Tuấn có giới thiệu một chiếc gương đồng có 4 cổ tự tìm thấy tại Mỹ Đức, Quảng Bình. Chiếc gương này được xác định có niên đại thời Đông Chu (770 – 256 TCN). Một chiếc gương giống vậy cũng được thấy tại Huế.
Bac Son 099 Theo chính sử thông thường thì mãi tới thời Tần nước Việt mới bị người Hán xuống đánh chiếm. Vậy mà gương đồng, hiện vật đặc trưng của văn hóa Trung Hoa, lại có mặt ở nước ta từ tận thời Chu. Thậm chí còn ở tận Bình Trị Thiên.
4 chữ trên gương được viết theo thể Triện. Không phải chữ Tiểu triện thời Tần mà là chữ Đại triện. 4 chữ này được đọc là Vĩnh bảo dụng lợi (永呆用利). Hiểu nghĩa là Giữ mãi dùng tốt.
4 chữ này còn được thấy trên những chiếc gương đồng khác có niên đại muộn hơn. Có vẻ câu “khuyến cáo” này khá phổ biến, khuyến khích người dùng giữ gìn đồ vật để sử dụng lâu dài… Hiểu nghĩa đen vậy thì đơn giản quá. 4 chữ ngắn gọn ghi trên một chiếc gương có niên đại hơn 2000 năm này chắc chắn phải có ẩn ý sâu hơn.
Trên những chiếc gương đồng thời Chu cũng như sau này rất hay gặp những hình ảnh, chữ viết thể hiện các khái niệm trong Dịch học, như hình ảnh Tứ linh (Thanh long, Bạch hổ, Chu tước, Huyền vũ), hình Bát quái, hình chữ Sơn (山)… 4 chữ trên chiếc gương đồng ở Huế trên cũng có thể là một đồ hình Dịch lý.
Chu guong dongKhi so sánh 4 chữ này với 4 nguyên tắc cơ bản của quẻ Càn là Nguyên Hanh Lợi Trinh thì thấy rõ sự tương đồng. Nguyên tương đương với Bảo. Hanh (hanh thông) tương đương với Dụng. Chữ Lợi thì trùng nhau. Trinh và Vĩnh đều nghĩa là bền lâu. Như vậy 4 chữ Vĩnh Bảo Dụng Lợi là những tên khác, cách gọi khác của 4 nguyên tắc Nguyên Hanh Lợi Trinh trong Dịch học.
Xét về phương vị như thể hiện trên gương thì:
–    Bảo (= Nguyên) nằm ở hướng Bắc (nay).
–    Dụng (= Hanh) nằm ở hướng Đông.
–    Lợi nằm ở hướng Nam (nay).
–    Vĩnh (= Trinh) nằm ở hướng Tây.
Những chiếc gương đồng ở miền Trung Việt Nam có niên đại thời Đông Chu, mang những chữ Đại triện của thời Chu, thể hiện 4 nguyên tắc căn bản của Dịch học. Những mẩu chữ trên gương này tương tự như những “ký tự” trên trống đồng, là minh chứng về chủ nhân của Dịch học, của nền văn hóa Trung Hoa không đâu xa, mà ở ngay chính Việt Nam. Gần đây hòa thượng Thích Viên Như cho xuất bản cuốn sách có tên “Người Việt chủ nhân của Kinh dịch và chữ vuông“, cũng không phải là một tuyên bố quá đáng, vô căn cứ.

Phạm Tô – Sĩ Nhiếp

Vấn đề Lý Phục Man và Phạm Tu là 1 hay 2 người nay đã có lời giải rõ ràng. Thánh Giá Lý Phục Man ở Lã Xá – Yên Sở không ai khác là thừa tướng Lữ Gia của nhà Triệu Nam Việt, đã tử tiết ở núi Gôi đất Vụ Bản – Nam Định, được con cháu là Nhị Trưng Vương (Trương Hống, Trương Hát) đưa về an táng tại khu vực núi Sài sông Hát. Còn để nhận rõ về Thượng thủy tổ họ Phạm là Phạm Tu, quê ở Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội, thì câu chuyện cần bắt đầu bằng những dấu tích về … Mã Viện và Bà Triệu.
Sơ học kí – Châu quận bộ (thời Đường do Từ Kiên soạn) có truyện Đê đá guốc vàng:
Nam Việt chí chép: “Mã Viện mở thông núi Cửu Chân, lại chất đá làm đê để ngăn sóng biển, do đó không còn bị (hại) bởi biển dâng nữa.” Lại chép: “Có người con gái huyện Quân An tên là Triệu Ẩu thường ở trong núi tụ họp bè đảng đánh cướp quận huyện, mặc áo giáp vàng đi guốc răng vàng, thường cưỡi đầu voi mà chiến đấu”.
Đoạn truyện này nói tới sự kiện Mã Viện sau khi đánh thắng quân của Hai Bà Trưng, tiếp tục tấn công Đô Dương ở Cửu Chân và cho … đắp đê đá để ngăn sóng biển dâng… Mã Viện đánh Cửu Chân chỉ vẹn vẹn có 1 năm (năm 44) sau đó đã bị triệu hồi về nước. Thế mà trong thời gian đó lại kịp đắp đê biển ngăn mặn, giúp người Cửu Chân làm nông nghiệp?! Sự thật chắc chắn không phải vậy.
Nguyên văn phiên âm đoạn Mã Viện làm đê đá là: Mã Viện tạc thông Cửu Chân sơn. Hựu tích thạch vi để, dĩ át hải ba, do thị bất phục quá trướng hải.
“Tướng danh” của Mã Viện là Phục Ba tướng quân, ý nói là tướng đã áp phục cơn sóng khởi nghĩa của nhân dân ở Giao Chỉ, Cửu Chân. Đoạn phiên âm trên vừa có “Hải Ba” vừa có “Phục”, chính là thông tin giải nghĩa danh hiệu Phục Ba của Mã Viện. Như vậy Mã Viện làm đê đá không phải để ngăn sóng biển, mà là đắp lũy để ngăn cơn “Hải Ba” của hậu quân Hai Bà Trưng tại Cửu Chân. Cửu Chân là nơi Mã Viện đã phải dừng bước, cắm mốc phân giới (cột đồng) sau khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Lũy đá ở đây là một dạng mốc biên giới như cột đồng Mã Viện, được dựng lên để ngăn sự tấn công của của hậu quân Trưng Vương.
Mã Viện đã phải cắm mốc cột đồng và đắp lũy phòng thủ chống lại ai ở Cửu Chân? Phần dưới của đoạn trích trên trong truyện Đê đá guốc vàng cho biết, đó chính là với Triệu Ẩu, tức là Mã Viện đã phải cắm mốc phân biên với Bà Triệu. Bà Triệu còn có tên là Lệ Hải bà vương, là cơn “Hải Ba” được nói đến trong truyện. Bà Triệu chính là hậu quận của Hai Bà Trưng đã chặn Mã Viện ở Cửu Chân.
Theo nhà nghiên cứu Văn Nhân thì Đô Dương – người chặn Mã Viện ở Cửu Chân là Khu Đạt hay Khu Liên, người đã khởi lập nước Lâm Ấp. Khu Đạt cũng là Triệu Quốc Đạt, anh của Bà Triệu. Còn tộc phả họ Phạm ở Quảng Ngãi thì cho biết người xưng vương xứ Lâm Ấp là Lý Khu Kiên. Lâm Ấp tức là nước Nam. Lý Khu Kiên – Khu Đạt là vua Lâm Ấp, tức là Lý Nam Đế trong chuyện này là Triệu Quốc Đạt.
Trong cuộc chiến chống quân Đông Hán anh em Triệu Quốc Đạt, Triệu Thị Trinh đã hy sinh nhưng Mã Viện và Hán quân đã bị cầm chân, buộc phải cắm trụ đồng và đắp lũy đá phân ranh đất Hán và Giao Chỉ ở Khâm Châu – Quảng Tây. Lúc này phía Đông Giao Chỉ độc lập, do một kẻ sĩ nắm giữ quyền hành, không xưng vương, nên sử gọi là Sĩ Nhiếp.
Như trên, vì Lý Nam Đế là Triệu Quốc Đạt – Khu Liên nên Sĩ Nhiếp là một đại tướng của Lý Nam Đế, đã chống Hán quân giữ yên Giao Châu. Năm Canh Dần (210) Sĩ Nhiếp theo về với Ngô Vương Quyền, được Ngô Vương phong làm Tả tướng quân. Sau đó Sĩ Nhiếp lại chiêu dụ thổ hào ở Ích Châu về phụ thuộc nước Ngô nên Tôn Quyền càng khen, thăng làm Vệ tướng quân, tước Long Biên hầu.
Câu đối ở đình Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội)
骨氣不埋呉鼎國
文風初啟越儒邦
Cốt khí bất mai Ngô đỉnh quốc
Văn phong sơ khải Việt nho bang.
Dịch:
Cốt cách không phai đỉnh nước Ngô
Văn phong khởi lập Nho đất Việt.

IMG_9726 (2)Đình Dục Tú ở Đông Anh, Hà Nội

Nhờ có sự thần phục của Sĩ Nhiếp Ngô Vương đã có được một khu vực đất đai rộng lớn mà Mã Viện đã không thể chiếm được trước đó, gồm toàn bộ Giao Châu, lại thêm cả Ích Châu. Do vậy Sĩ Nhiếp được coi là một đại tướng quân trụ cột của Đông Ngô. Long Biên hầu tức là vị hầu tước của vùng Long Biên. Long Biên ở đây là Long Xuyên hay quận Tam Xuyên dưới thời Tần, gồm phần lớn vùng Giao Chỉ và Quảng Tây.
Những danh hiệu, chức vụ và hành động của Sĩ Nhiếp hoàn toàn trùng với lão tướng Phạm Tu. Phạm Tu nhờ có công đánh dẹp Lâm Ấp và tham gia khởi nghĩa nên được Lý Nam Đế giao trọng trách làm Tả Tướng, đứng đầu Ban Võ. Theo thần tích đình Ngoại ở Thanh Liệt thì sau khi mất Phạm Tu được phong là Long Biên hầu. Đặc biệt Phạm Tu còn được sắc phong là Cảm ứng cư sĩ. Câu đối ở đình Lý Nhân tại Thanh Liệt, nơi thờ Phạm Tu:
廟宇香燈神感應
亭村奉祀德靈長
Miếu vũ hương đăng thần cảm ứng
Đình thôn phụng tự đức linh trường.
Dịch:
Hiên miếu hương đèn thần cảm ứng
Thôn đình cúng tế đức thiêng dài.

P1110017Đình Lý ở Lý Nhân, Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội.

Còn Sĩ Nhiếp được nhà Trần sắc phong là Gia ứng Thiện cảm Linh vũ Đại vương. Có thể thấy Tả tướng quân Long Biên hầu Cảm ứng cư sĩ Phạm Tu là vị Sĩ Nhiếp, người đã giữ yên và cai quản Giao Châu sau khi Lý Nam Đế – Triệu Quốc Đạt hy sinh.
Sau khi Sĩ Nhiếp mất con là Sĩ Huy đã chống cự lại nhà Ngô. Còn theo tư liệu của họ Phạm thì Phạm Tu có con là Phạm Tĩnh theo giúp Hậu Lý Nam Đế. Con Phạm Tĩnh là Phạm Hiển, sau khi Lý Phật Tử bị quân nhà Tuỳ bắt về Bắc đã chiêu binh chống Tùy trong 3 năm và bị thất bại. Phạm Hiển như vậy là Sĩ Huy.
Sĩ Nhiếp – Phạm Tu còn được người Việt thành kính tôn thờ dưới tên một vị thần nữa. Tên Phạm Tu đúng ra phải là Phạm Tô, là vị thần của dòng sông Tô Lịch. Phạm Tu sinh ra ở làng Thanh Liệt bên sông Tô. Theo truyền thuyết thì ông chống giặc giữ cửa sông Tô Lịch và hy sinh tại đó.
Truyện sông Tô Lịch trong Lĩnh Nam chích quái kể Cao Biền đã gặp một cụ già ở giữa dòng sông, cho biết họ Tô tên Lịch. Biền biết là thần nhân nên đặt tên sông là sông Tô Lịch.
Một buổi sớm khác, Biền ra đứng nhìn ở bờ sông Lô Giang, phía đông nam thành La, thấy giữa sông có gió lớn nổi lên, sóng nước cuồn cuộn, mây trời mù mịt, có một dị nhân đứng trên mặt nước, cao hơn hai trượng, mình mặc áo vàng, đầu đội mũ tím, tay cầm hốt vàng, rực rỡ một khoảng trời, chập chờn lên xuống trên không… Đêm đến Biền nằm mộng thấy thần nhân tới nói rằng: “Chớ yểm ta, ta là thần Long Đỗ, đứng đầu các vị thần đất. Nhà ngươi đến xây thành ở đây, ta chưa được gặp, cho nên tới xem đó thôi, ta có sợ gì bùa phép?”…
Bản dịch tấm bia cổ ở lăng Sĩ Nhiếp (Thuận Thành – Bắc Ninh) khắc vào năm đầu Vĩnh Trị (1676) có đoạn viết: “… bổ làm huyện lệnh Vu Dương, chuyển tới làm thái thú Giao Châu, được phong Long Độ Đình Hầu”. Sĩ Nhiếp có tước phong là Long Độ đình hầu. Long Độ = Long Đỗ. Thần Long Đỗ, vị thành hoàng của thành Đại La – Thăng Long thì ra chính là Sĩ Nhiếp – Phạm Tô (Tu).
Sĩ Nhiếp được biết thọ tới 90 tuổi mới mất. Còn Phạm Tu là lão tướng 66 tuổi mới tham gia khởi nghĩa cùng Lý Nam Đế. Vị thần sông Tô Lịch hiện linh trước Cao Biền cũng dưới hình dạng một cụ già.
Còn một liên hệ nữa về lão tướng Phạm Tu. Sử sách cho biết người đã nối nghiệp ở Lâm Ấp sau khi Khu Liên mất là họ Phạm, họ bên ngoại của Khu Liên. Như vậy Phạm Tu là họ bên ngoại của Triệu Quốc Đạt.
Tộc phả họ Phạm ở Quảng Ngãi thì viết: Cuối đời Hùng Duệ Vương (258 TCN) con trai trưởng của Phạm Duy Minh ở xứ Đằng Châu, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên ngày nay là Đại lang Phạm Duy Hinh cùng Lý Thành (con Lý Thân – Lý Ông Trọng) trấn thủ đất Nam Hà…
Đằng Châu Phạm Duy Minh do vậy có thể cũng là Phạm Tu. Thần Long Đỗ, Long Biên hầu và Vua Mây họ Phạm là một người vì vua của Mây tức là rồng (Long). Sĩ Nhiếp – Phạm Tu như vậy là một trong Tứ linh Hương Bổng Đổng Đằng của tín ngưỡng Việt.

Phạm Tu có thụy hiệu là Đô Hồ đại vương. Đô Hồ nghĩa là thủ lĩnh của người Hồ. Người Hồ hay Hời là người Lâm Ấp – Chiêm Thành sau này. Vì Phạm Tu là người kế tục sự nghiệp của Khu Liên và con cháu họ Phạm nối tiếp cai quản Lâm Ấp nên Phạm Tu được gọi là Đô Hồ. Thông tin này cũng tương tự như câu đối trên cổng đền thờ Sĩ Nhiếp ở Tam Á (Thuận Thành, Bắc Ninh):

豈忠義功神心祁彼何辰此何辰安得六百載遺容能攝林邑
是事業文科舉昔治亦進乱亦進最矩四十年政策拯表交州
Khởi trung nghĩa công thần tâm kì, bỉ hà thì thử hà thì, an đắc lục bách tải di dung năng nhiếp Lâm Ấp.
Thị sự nghiệp văn khoa cử tích, trị diệc tiến loạn diệc tiến, tối củ tứ thập niên chính sách chửng biểu Giao Châu.
Dịch:
Há tấm lòng công thần trung nghĩa lớn, đây thời nào đấy thời nào, yên ổn sáu trăm năm khoan dung ấy giúp quản Lâm Ấp.
Là thi cử văn khoa sự nghiệp xưa, trị cũng tiến loạn cũng tiến, quy củ bốn mươi thu chính sách kia cứu tỏ Giao Châu.

Truyền tích về Sĩ Nhiếp và Tứ pháp ở chùa Dâu (Truyện Man Nương) cho thấy Sĩ Nhiếp được dân gian gắn với các thần mây mưa sấm chớp. Còn Phạm Tu ở đình Ngoại Thanh Liệt vốn được coi là Thủy thần phán quan, hay ở đình Ngọc Than (Quốc Oai, Hà Nội) là Đông Hải đại vương.
Vị thủy thần sông Tô, vua Mây ở Đằng Châu, Long Biền hầu Sĩ Nhiếp và Tả tướng Phạm Tu cùng là một, là vị anh hùng có công chặn quân Đông Hán, gìn giữ Giao Châu trong 40 năm, đức độ và dòng dõi để lại tiếp tục phù trợ cho họ Phạm ở Lâm Ấp tồn tại hàng trăm năm tiếp theo.

Thánh Giá Lữ Phục Man

GS. Lê Văn Lan nêu “có việc đồng nhất Phạm Tu với một vị thần là Lý Phục Man là vấn đề sử học được nêu ra đã lâu nhưng chưa được giải quyết“. Còn ý kiến “kết luận” của GS. Phan Huy Lê: “Quan điểm về Phạm Tu và Lý Phục Man là 1 người hay 2 người hiện nay chưa thống nhất…”.
Vấn đề phân biệt hay đồng nhất 2 vị tướng Lý Phục Man và Phạm Tu thời Tiền Lý đã làm đau đầu các nhà sử học danh tiếng nhất cũng như các vị dòng họ Phạm, vì họ này lấy tướng quân Phạm Tu làm Thượng thủy tổ. Chỗ rắc rối là cả 2 nhân vật này đều là đại tướng quân thời Tiền Lý Nam Đế, đều đánh dẹp quân Lâm Ấp. Theo sử sách ngày nay thì thời Tiền Lý Nam Đế lập nước Vạn Xuân khá ngắn ngủi, vẹn vẹn chưa được 5 năm (544 – 548). Trong thời gian đó chẳng nhẽ cùng một chiến công lại có đến 2 vị tướng làm nên? Phe “đồng nhất” Phục Man và Phạm Tu lấy đó làm lý do chính. Nhưng phe “phân biệt” cũng có lý không kém vì xét sự tích, tên tuổi, địa điểm… của 2 vị tướng này chẳng có chỗ nào giống nhau cả.
Câu hỏi về Phạm Tu và Lý Phục Man chỉ có thể giải đáp khi xét bắt đầu… từ Tiền Lý Nam Đế. Nếu Lý Nam Đế là cái tên chỉ 2 vị vua Lý Bôn và Lý Bí khác nhau thì hiển nhiên Phạm Tu và Phục Man cũng là 2 vị tướng khác nhau. Lý Phục Man là tướng của Lý Bôn, còn Phạm Tu là tướng của Lý Bí. Đây là 2 thời kỳ cách nhau hơn 400 năm, đã bị sử Việt chép vào thành một chuyện, dẫn đến những mâu thuẫn không giải đáp nổi giữa các vị anh hùng nghĩa sĩ của các thời kỳ này.

P1100534Đình quán Giá ở Yên Sở

Sự tích Lý Phục Man được chép trong Việt điện u linh riêng thành một truyện Sự tích thần xã An Sở, tóm tắt như sau: Gia Thông đại vương, người làng Cổ Sở. Vương giúp vua Lý Nam Đế, được vua cho làm đại tướng trấn thủ đất Đỗ Động. Quân Lâm Ấp vào cướp quận Cửu Đức, bị đại vương phá tan. Vua bèn nhân đó đặt tên là Phục Man, cho theo họ nhà vua là họ Lý, lại gả công chúa Lý Nương cho vương và thăng chức Thái úy, giữ chính quyền đứng đầu các quan. Thái úy có tính trung hậu thanh liêm, mạnh bạo can ngăn vua, không dung tha kẻ có lỗi đàn hặc kẻ lộng quyền, không e sợ gì cả.
Bấy giờ Lý Nam Đế sai Thái úy lên giữ đất Đường Lâm. Năm Đinh mão quân Lương tiến đánh. Nam đế lui giữ đầm Khuất Lạo được ít lâu rồi mất. Thái úy sai quân giữ vững các nơi hiểm yếu. Một đêm bỗng thấy lửa sáng rực trời, man binh lũ lượt kéo đến trước sân vây bọc. Thái úy phá vòng vây nhưng rồi bị đuổi gấp nên đã tự vẫn mà chết. Người nhà rước linh cữu về bến Hồ Mã rồi táng ở bên sông ngoài làng.
Nơi chôn cất và thờ phụng chính của Lý Phục Man là ở đình quán Giá thuộc Yên Sở (Hoài Đức, Hà Nội). Đình quán này nằm ngoài đê, gần sát sông Đáy hay sông Hát, là bến Hồ Mã được nói đến trong thần tích. Trong đình ngoài tượng của Lý Phục Man còn có tượng 2 tùy tướng thân cận là Trương Hống, Trương Hát, những người có công đưa được thi hài của chủ tướng về quê an táng.
Chi tiết về “đôi họ Trương” này cũng được ghi trong thần tích của quán Giá, nhưng ở mục “Tồn nghi”. Chỗ khó hiểu là Trương Hống, Trương Hát được biết là 2 trung thần của Triệu Quang Phục, không hàng phục Lý Phật Tử và tự vẫn ở vùng Bắc Ninh (sông Cầu). Đây cũng là 2 vị thần đã hiển linh đọc bài thơ Nam quốc sơn hà trước quân Tống trên phòng tuyến sông Như Nguyệt thời Lý. Vậy làm sao Trương Hống Trương Hát lại là tùy tướng của Lý Phục Man?

Truong HongTượng Trương Hống ở đình quán Giá

Thông tin Trương Hống, Trương Hát đã đưa thi hài của Lý Phục Man về quê Cổ Sở đã dẫn đến một suy nghĩ bất ngờ. Trong mạch sử mới thì Trương Hống, Trương Hát là bộ tướng của thừa tướng Lữ Gia nhà Triệu Nam Việt (Triệu Việt Vương), đã chống lại quân nhà Hiếu (Tây Hán, được truyền thuyết chép là quân của Lý Phật Tử) sau khi Lữ Gia mất ở cửa Đại Nha cùng với Triệu Vệ Dương Vương. Như vậy Lý Phục Man, chủ tướng của Trương Hống, Trương Hát, không ai khác chính là thừa tướng Lữ Gia.
Từ nhận định này, có thể tìm ra một loạt những dẫn chứng khác làm sáng tỏ thân thế của Lý Phục Man – Lữ Gia. Trước hết, bản thân tên làng Giá, thánh Giá (chỉ Lý Phục Man) là đọc sai tên của Lữ Gia. Việt Điện u linh kể về Lý Phục Man cũng bắt đầu bằng tên “Gia Thông đại vương”. Chữ Giá ở đây hoàn toàn không phải là cây dừa (chữ Nho là “gia”) như cách giải thích vùng Yên Sở trước kia là khu rừng dừa (!?).
Tương truyền nơi cha sinh mẹ đẻ của Lý Phục Man là Lã Xá ở Yên Sở. Nơi đây còn có chợ Lựa, là chữ Lã/Lữ đọc chệch ra. Vị tướng sinh ở Lã Xá có tên Gia Thông thì rõ ràng là Lữ Gia.
Truyền thuyết vùng Yên Sở kể Lý Phục Man bị trọng thương đứt mất đầu vẫn phá vòng vây giặc chạy về quê Cổ Sở. Trên đường gặp một người đàn bà, ông dừng lại hỏi: “Ta bị thương thế này có việc gì không?”. Người đàn bà thấy tướng đã đứt đầu mà vẫn còn hỏi được sợ quá không nói nên lời. Vì thế khu làng này sau gọi là Thị Cấm.
Đi thêm một quãng Lý Phục Man lại gặp một người con gái, và đặt lại câu hỏi trước. Cô gái chỉ cười chẳng dám nói gì. Thế là làng này có tên Hòe Thị. Hai làng Thị Cấm và Hòe Thị sau đều lập miếu thời Lý Phục Man.
Khi ngựa Lý Phục Man với tới dốc đình Cầu, Lý Phục Man đặt câu hỏi với bà hàng nước thì được trả lời là chưa thấy ai bị đứt đầu lại có thể sống cả. Nghe bà cụ nói vậy Lý Phục Man phóng ngựa ra khu hồ Mã rồi hiển thánh…
Đoạn chuyện kể trên hoàn toàn giống chuyện Lữ Gia mất ở chân núi Gôi (Vụ Bản, Nam Định). Thiên Bản lục kỳ kể: “Làng Gôi thờ đầu, làng Hầu thờ cổ, làng Hổ thờ chân” với câu chuyện Lữ Gia bị thương đứt cổ khi chống trả quân Hán, nhưng vẫn ôm cổ phi ngựa chạy, đến núi Gôi hỏi bà hàng nước: Người mất đầu có sống được không? Bà hàng nước trả lời là không sống được. Sau đó đầu Lữ Gia rời khỏi cổ, ông lại chạy tiếp xuống làng Hầu, làng Hổ gần đó … Do vậy ba làng này chia nhau thờ đầu thờ cổ và thờ chân.
Câu đối ở đền thờ Lữ Gia tại chân núi Gôi
不得己用権忠在先君名在史
洁然存者氣生為良將死為神
Bất đắc kỷ dụng quyền/ trung tại tiên quân danh tại sử
Khiết nhiên tồn giả khí/ sinh vi lương tướng tử vi thần.
Dịch:
Bất đắc phải dùng quyền, trung với tiền vương danh với sử
Thanh khiết còn chính khí, sinh là lương tướng tử là thần.
Vế đối đầu nói tới chuyện Lữ Gia bất đắc dĩ phải giết Cù Hậu và Triệu Ai Vương, không đầu hàng nhà Hiếu (Tây Hán), trung liệt với tiền vương (Triệu Văn Vương). Chuyện này ứng với mô tả về Lý Phục Man trong Việt Điện u linh: Thái úy giữ chính quyền đứng đầu các quan. Thái úy có tính trung hậu thanh liêm, mạnh bạo can ngăn vua, không dung tha kẻ có lỗi đàn hặc kẻ lộng quyền, không e sợ gì cả… Đến cả vua và hoàng thái hậu còn bị Lữ Gia phế truất, giết bỏ thì đúng là không e sợ gì cả.

Tu lang linh tuTứ lăng linh từ ở chân núi Gôi

Ý nghĩa của truyền tích kể về vị tướng mất đầu trên nay đã có thể hiểu. “Đầu” của thừa tướng Lữ Gia đã bị chém tức là vua Triệu Vệ Dương Vương đã bị giết ở cửa Đại Nha. “Thân” xác của Lữ Gia tử mạng ở núi Gôi. Còn phần “chân” được tùy tướng Trương Hống, Trương Hát đưa về quê hương Cổ Sở chôn cất. Dân gian đã thật khéo léo lưu truyền sự thật lịch sử trong truyền thuyết về Lữ Gia – Lý Phục Man ở 2 vùng đầu và cuối sông Hát. Cửa Đại Nha và núi Gôi là vùng sông Đáy hay sông Hát đổ ra biển. Vùng Hồ Mã – Yên Sở là nơi bắt đầu của dòng sông Hát.
Câu đối cổ ở đình quán Giá tại Yên Sở thì chép về Lý Phục Man:
佐李烈猶傳貞石春秋柴嶺月
拒胡聲遹駿雄風今古喝江濤
Tá Lý liệt do truyền/ trinh thạch xuân thu Sài lĩnh nguyệt
Cự Hồ thanh duật tuấn/ hùng phong kim cổ Hát giang đào.
Dịch:
Nghiệp giúp Lý còn truyền, đá bền năm tháng trăng Sài đỉnh
Tiếng chống Hồ vẫn nổi, gió mạnh xưa nay sóng Hát giang.
Câu đối trên cho một chỉ dẫn đặc biệt. Sự tích của Lý Phục Man còn liên quan đến đỉnh Sài Sơn. Sài Sơn là quả núi nhỏ nơi có chùa Thầy, nằm cách quán Giá chỉ khoảng 2-3 km. Trên đỉnh Sài có hang Cắc Cớ, tương truyền là nơi chôn vùi hàng ngàn nghĩa quân của Lữ Gia khi chống lại quân Hán thất bại. Với thông tin này thì không còn nghi ngờ gì nữa, người được thờ ở quán Giá Lý Phục Man chính là thừa tướng Lữ Gia của nhà Triệu.
Các tác giả Nguyễn Bá Hân, Trương Sĩ Hùng trong sách Thành hoàng làng Lý Phục Man ở Hà Nội đã thống kê có tới 74 nơi thờ Lý Phục Man và Phạm Tu. Trong đó chủ yếu là thờ Lý Phục Man tập trung ở các khu vực xứ Đoài (Sơn Tây cũ) như các huyện Hoài Đức, Quốc Oai, Thạch Thất, Đan Phượng, Phúc Thọ. Đây cũng là khu vực có truyền tích về Lữ Gia như Quán Linh Tiên ở Hoài Đức, đình Liên Hà (Đan Phượng). Hội làng Giá là một trong những lễ hội lớn nhất ở vùng này. Nếu xét Lý Phục Man là vị tướng có công nghiệp chủ yếu trấn giữ ở đất Lâm Ấp – Chiêm Thành và hy sinh ở miền Thanh Nghệ thì việc thờ Lý Phục Man phổ biến tại vùng Sơn Tây cũ là khó có cơ sở. Nơi mà tướng quân này đã “Phục Man” là một khu vực khác…
Khi nhận ra Lý Phục Man là Thừa tướng Lữ Gia thì ý nghĩa của việc Lý Phục Man giữ quận Cửu Đức ở phía Nam là chuyện Lữ Gia đã phò tá các vua Triệu lập nước Nam Việt, đối lập với nhà Hiếu ở phía Bắc.
Sử ký Tư Mã Thiên chép “Họ hàng [Lữ Gia] làm quan trường lại đến hơn bảy mươi người. Con giai lấy con gái vua, con gái lấy con giai, anh em, tôn thất của vua, lại thông gia với Tần vương ở quận Thương Ngô”. Đây là lý do vì sao Phục Man lại được vua ban cho họ Lý và lấy công chúa Lý Nương. Lý là họ của các vua nhà Triệu Nam Việt, bắt đầu từ Lý Bôn.
Chữ Phục Man ở đây có thể không phải nghĩa là thuần phục người man Lâm Ấp. Phục Man cũng như Quang Phục (Triệu Việt Vương) có nghĩa là Phục hưng phương Bắc. Man = Mun, màu đen chỉ phương Bắc. Chí hướng của Lữ Gia cũng như Triệu Việt Vương là khôi phục đất đai ở phương Bắc của nhà họ Lý – Lữ từ Lưu Bang và Lữ Hậu.
Chỉ khi xác định Tiền Lý Nam Đế Lý Bôn là Lưu Bang, Triệu Quang Phục là chuyện của 4 đời vua Triệu nước Nam Việt thì mới có thể nhận ra vị Thái úy Lý Phục Man là Lữ Gia, Thừa tướng của nhà Triệu, người đã một lòng vì tiền triều muốn khôi phục giang sơn phương Bắc, kiên trinh chống lại quân nhà Hiếu tới cùng, tử tiết ở cửa Đại Nha. Con cháu đã mang người về chôn cất ở vùng núi Sài sông Hát và tiếp tục ý chí đó mà làm nên cuộc khởi nghĩa tiếp theo của Trương Hống, Trương Hát hay Nhị Trưng Vương ở vùng Hát Môn – Sơn Tây…

Rather, these political and economic views are imposed on

Canada Goose Coats On Sale For around $30 it tough to beat the price on this one. A simple portable toilet solution at a low cost, no doubt a solid choice from Reliance Products. If you already have an extra five gallon bucket kicking around and want to purchase just the snap on toilet seat lid, here the link!. Canada Goose Coats On Sale

canada goose What’s the highest mountain range in Europe? The Alps? Wrong. It is the Caucasus canada goose jacket outlet toronto Mountains marking the border between Georgia and Russia. While the highest peak is in Russia, Georgia lays claim to the second highest, Shkara, which at 5,193m (17,040 ft) beats Mont Blanc by nearly 400m (1,312 ft). canada goose

canada goose coats on sale So here’s what the data look like if we canada goose outlet toronto factory insert a one year lag, attributing the first year of every president to the one who came before him. For instance, for Bill Clinton that means measuring from the start of 1994, one year into his presidency, and ending at the start of 2002, one year into George W. Bush’s presidency:. canada goose coats click here to read on sale

uk canada goose outlet The newest addition to the Fitbit family of wearables is the Fitbit Blaze, Fitbit’s first tracker with a full color touchscreen. One cool perk is the ability to begin a FitStar workout on your wrist and get step by step instructions and graphics to ensure you complete each move correctly. While we’d never canada goose outlet hong kong advocate giving a gift that would imply you don’t like the way canada goose outlet website legit your girlfriend looks, this is a great gift idea for a serious runner, or any gal who’s training for a sporting event or triathlon. uk canada goose outlet

canada goose clearance Even the connectivity in somewhere like Anshan beats many places in the West. I left the field site, they had 4G, canada goose outlet store quebec he says. Mean, canada goose jacket uk the village where I from in Yorkshire still doesn have 4G! So there are these interesting contrasts people have modern lifestyles and lots of exposure to modernity in rural China now. canada goose clearance

Canada Goose Jackets During the Reformation a great divergence arose between the Catholic Church and the Protestant Reformers of the north regarding the canada goose outlet locations in toronto content and style of art work. The Catholic Church viewed Protestantism and Reformed iconoclasm as a threat to the church and in response came together at the Council of Trent to institute some of their own canada goose outlet store toronto reforms. The church felt that much religious art in Catholic countries (especially Italy) had lost its focus on religious subject matter, and became too interested in material things and decorative qualities. Canada Goose Jackets

canada goose uk outlet Big, bold and gorgeous, this necklace makes a statement whenever you wear it. The bib, made of vintage crystals, sparkles like diamonds. With stone shapes that evoke ancient jewelry making, this necklace is also highlighted by interesting chain work, a highlight of Egyptian jewelry 4,000 years ago. canada goose uk outlet

canada goose uk black friday Why government impose tax on imports?short answer: because they can. Longer answer: The purpose of government is the redistribution of wealth created by subjects of the government to employees of the government. Because of this extraction of wealth the economic power of the subjects decreases in proportion to the extracted wealth and in relation the economic power of companies not subject to the taxing government increases. canada goose uk black friday

Canada Goose Parka The religious right’s canada goose outlet in toronto stance on climate change, economics and evolution is not informed by their religious beliefs. Rather, these political and economic views are imposed on Scripture, which is often read without theological rigor. It is not religion that canada goose outlet shop is the canada goose outlet canada problem, but rather the use of religion as an ideological weapon. Canada Goose Parka

Canada Goose Outlet We do, though, provide alternate watches at canada goose uk site lower price points. Look for the lower priced alternatives within the write up for each canada goose vest outlet watch. Some of these watches may be the canada goose outlet toronto location first steps into becoming a watch collector. Senator Byrd joined with some to try and filibuster the 1964 Civil Rights Act. Some Africans say a white person who criticizes Obama is a racist. Using that logic, an African canada goose outlet uk who criticizes Bush is a racist also. Canada Goose Outlet

canada goose black friday sale He did not have anything like the duties and powers of the president of the United States. The new country was actually formed on March 1, 1781 with the adoption of The Articles of Confederation. This document was actually proposed https://www.canadagoosediscount.co.uk canada goose uk shop on June 11, 1776, but not agreed upon by Congress until November 15, 1777. canada goose black friday sale

Canada Goose Online There is no such thing as “partial birth” abortion, just a late term surgical procedure known as canada goose outlet 80 off Intact D that’s used after late term miscarriages and, very rarely, in late term abortions, mostly when the life canada goose outlet in vancouver of the mother is in jeopardy. In 2000, it accounted for.17 percent of abortions. Nonetheless, re branding this procedure as “partial birth” abortion canada goose outlet uk fake tapped into people’s emotions around an issue about which some may be uncomfortable and know little about, even if they lean canada goose outlet miami toward a pro choice position. Canada Goose Online

Canada Goose online Republicans blocked votes on it, but Democrats clearly feel they have the public on their side and aren’t dropping the issue. They canada goose outlet store new york led an evening rally outside the Supreme Court demanding an immediate end to the ban on refugees and travelers. Police closed down the street in front of the canada goose outlet woodbury court to accommodate the hundreds of people who showed up with signs, and ready chants, in support of Democrats’ efforts.. Canada Goose online

Canada Goose sale St. Petersburg’s National Research University of Information Technologies, Mechanics and Optics has an interactive memorial to Jobs (a giant iPhone installed on campus with a working touchscreen that visitors can use to see the memorial). There are also interesting street art (graffiti or murals on walls) celebrating Jobs, in Buenos Aires, Argentina canada goose outlet florida and Cincinnati, US, for example Canada Goose sale.