Bạn biết gì về thủy tổ Lạc Long Quân và thời đại những người con theo Cha Rồng xuống biển?
Năm Giáp Thìn 2024 đã qua, năm Ất Tỵ 2025 đã đến. Cha Rồng Lạc Long Quân lại hiện thân trở về với miền sông biển Việt Nam qua cuốn sách dày hơn 670 trang mang tên Kinh triều bảo lục – Sử tích Long Quân và các vị Thủy thần Lạc Thị do Nhóm Nghiên cứu Di sản Văn hóa Đền miếu Việt biên khảo.
Trong cuốn sách bạn sẽ biết Liễu Nghị – ông là ai? Việt Nam Lạc Thị là những vị quốc tổ nào? Vua cha Lạc Long Quân được thờ phụng dưới những tên gọi nào? Thần Chính khí Long Đỗ của Thăng Long có nguồn gốc ra sao?… Bạn cũng sẽ biết Thủy phủ công đồng trong Tam phủ, Tứ phủ gồm những ai. Động Đình Long Mẫu, Động Đình Đế Quân, Động Đình Bát Hải Long Vương, Ngũ vị Tôn quan, Hà Bá Thủy quan… là những vị tiên tổ nào của người Việt.
Những vị tiên thánh của thời kỳ Lạc Thị Hồng Bàng được khái quát và được định vị một cách độc đáo trong cuốn sách. Đó là Ngũ phương thiên đế ở khắp tứ hải trong Đạo Giáo từ khi Đạo mới hình thành. Đó là các vị thần Tứ trấn của các kinh đô Thăng Long, Hoa Lư. Đó là vị thần bất tử Chử Đạo Tổ của miền đầm nước Dạ Trạch. Những tín ngưỡng thờ thủy thần này xuất phát từ lịch sử đã ăn sâu vào tâm thức dân gian, trở thành nền tảng trong văn hóa Việt.
Ngay cả tín ngưỡng dân gian ở khu vực Thanh Oai, được biết với tên gọi Sa Môn giáo cũng được dẫn tư liệu gốc Bách Việt triệu tổ cổ lục (hay Cổ Lôi ngọc phả truyền thư). Đồng thời tư liệu này cũng được phân tích, đối sánh một cách xác đáng với lịch sử Việt thời Lạc Thị.
Cũng trong cuốn sách này bạn sẽ được tiếp cận với những tư liệu Hán Nôm đầy đủ về thời kỳ lập quốc 4.000 năm của người Việt. 10 bản ngọc phả thu thập từ nhiều nguồn khác nhau được giới thiệu nguyên văn và dịch nghĩa trong cuốn sách. Qua đó bạn có thể đọc những ghi chép gốc về Ngọc Nương Thánh Mẫu Thủy cung ở đền Tiên Cát, Việt Trì, Phú Thọ; về Vua cha Bát Hải ở đền Đồng Bằng, Quỳnh Phụ, Thái Bình; về Tam Lang Long hầu ở đình Đào Xá, Thanh Thủy, Phú Thọ; về Bạch Hạc Tam Giang ở đình Đa Chất, Phú Xuyên; về Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Hùng Vương trong vùng tín ngưỡng Việt Nam Lạc Thị ở Thuận Thành, Bắc Ninh; về Thủy phủ Phù Tang Cam Lâm Đại đế bên sông Hồng…
Không dừng lại ở đó, cuốn sách cung cấp cho bạn những hiểu biết và nhận thức một cách có hệ thống và khoa học về lịch sử các dân tộc. Đó là sử thi Mường Đẻ Đất Đẻ Nước với Dịt Dàng, Lang Cun Cần, Tòng Ín… Là sử Dao với Bàn Vương, thủy tổ 12 họ người Dao. Đặc biệt, cuốn sách công bố tư liệu điền dã trực tiếp rất chân thật về tín ngưỡng và lịch sử Lạc Việt của người Choang ở Quảng Tây. Đây là lần đầu tiên những tư liệu, những hiểu biết này được công bố rộng rãi tới công chúng.
Cuốn sách cũng đã tổng hợp các di tích thờ thủy thần của các tỉnh miền Bắc dọc theo lưu vực các con sông lớn, mà lớn nhất là dòng sông Hồng, vốn được tôn thờ trong tín ngưỡng dân gian là Tam Đầu Cửu Vĩ Long vương. Từ thượng nguồn ba sông Đà Lô Thao ở Yên Bái, Tuyên Quang, vùng đất Tổ ngã ba Việt Trì, Phú Thọ, qua vùng rốn rồng Thăng Long Hà Nội. Vùng lưu vực tả và hữu ngạn sông Hồng ở Hà Nam, Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Dương. Vùng ven biển Thái Bình, Nam Định, Hải Phòng, Quảng Ninh thờ các vị Hải thần. Vùng trung du ở Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Lạng Sơn, Thái Nguyên thờ các vị sơn thủy thần. Đến cả những nơi tưởng chừng không có liên quan tới thời Lạc Long Quân như Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, hóa ra lại là những nơi còn lưu những dấu tích cổ xưa nhất, nguyên sơ nhất về 4.000 năm dựng nước.
Thời kỳ Lạc Long Quân dựng nước bên bờ biển Đông tưởng chừng như đã chìm vào bị quên lãng, nay đã trở nên sống động, chân thực, với từng nhân vật, từng vùng đất, từng sự kiện trong cuốn sách. Năm Ất Tỵ 2025, các vị thủy thượng linh thần lại một lần nữa hiển hiện trên cõi Dương gian, đức Vua cha Lạc Long Quân lại trở về với nòi giống Việt, đem lại niềm tin cho con dân Việt với tiên tổ, với quá khứ vẻ vang và có sự phù trợ của tiền nhân mà vững bước trước tương lai.
Bạn đọc có thể đặt trước cuốn sách Kinh triều bảo lục – Sử tích Long Quân và các vị Thủy thần Lạc Thị theo đường dẫn dưới đây: https://forms.gle/RNn7snBCcg3N3YTEA
Những bạn đặt trước ngày 15/2/2025 sẽ có được cuốn sách quý này tận tay với giá 300.000 đ ngay khi nó được xuất bản, thay cho giá bìa là 500.000 đ.
Toàn bộ kinh phí thu được từ cuốn sách sẽ được Nhóm Nghiên cứu Di sản Văn hóa Đền miếu Việt sẽ sử dụng vào mục đích điền dã, thu thập tư liệu, biên soạn xuất bản những cuốn sách mới về cổ sử Việt.
Mọi liên hệ và trao đổi liên quan đến cuốn sách và đến thời kỳ Lạc Thị Hồng Bàng xin liên hệ với trang facebook Hùng Việt sử quán hoặc theo Zalo Đền miếu Việt số 0559551003.
Bách Việt trùng cửu Nguyễn Đức Tố Lưu
Tôi viết bài thơ đất nước tôi Gian nan từ thuở mới ra đời Ngọn gió Động Đình ru ta lớn Trăng chiếu sông Đường nước đầy vơi Trăm trứng Mẹ sinh dòng Bách Việt Diệt quái Cha Rồng mở biển khơi Lang Thang dân tiến chinh phương Bắc Âu Lạc văn minh mãi rạng ngời.
Trong văn hóa tín ngưỡng của người Việt, Rồng là loài vật huyền thoại, biểu tượng cho phần tinh thần, chỉ thấy đầu, không thấy đuôi, khó nắm bắt được. Còn Rắn lại là loài vật có thật, chỉ phần thân xác to lớn, mạnh mẽ, có thể nhận biết được. Những gì hiện hiển là Rắn, còn những gì u linh là Rồng. Lúc sinh ra là Rắn, lúc hóa đi thành Rồng. Quan hầu là Rắn, vua chúa là Rồng.
Xem huyền sử Việt nhiều người cho đó chỉ là những chuyện “trâu ma, rắn thần”, đầy màu sắc thần thoại. Nhưng nếu đọc kỹ hơn, tìm hiểu sâu hơn trong những di sản văn hóa tín ngưỡng của cha ông người Việt để lại, chúng ta sẽ thấy chính những câu chuyện rắn thần đó mới phản ánh lịch sử thật sự của người Việt một cách rất sâu sắc, phản ánh nhân sinh quan, thế giới quan rất phong phú và lâu đời trong văn hóa Việt.
Những vị thủy thần từ thời Lạc Long Quân dựng nước
Dân gian người Việt thờ rất nhiều vị thủy thần trong hình thể loài rắn làm thành hoàng làng. Điển hình nhất là vị Linh Lang Đại vương với hàng trăm nơi thờ ở khắp vùng đồng bằng sông Hồng. Thần tích đình làng Tây Hồ, ở phường Tây Hồ, Hà Nội kể: Uy Linh Lang là thủy thần là con trưởng của Lạc Long Quân theo cha xuống biển trấn trị khai thác sông biển lãnh đạo muôn dân xây dựng cuộc sống phồn thịnh… Thời Lý thần nhân hóa thành Thái tử Hoàng Lang con vua Lý Thái Tông giúp vua đánh giặc Chiêm Thành. Sau đó Thái tử bị bệnh đậu mùa rồi hóa thành con rắn khổng lồ trườn xuống hồ Tây. Vị thần trấn Tây của kinh thành Thăng Long xưa chính là thần rắn xuất thế, có nguồn gốc từ thời vua cha Lạc Long Quân dựng nước ven theo dòng sông Cái ra tới biển.
Các thành hoàng là thần rắn thời Hùng Vương thường được kể sinh ra từ cùng một bọc trứng, nở thành 2, 3 hay 5 con rắn, lớn lên thành tài, bảo hộ cho cuộc sống của nhân dân, phù trợ quốc gia chống giặc ngoại xâm. Như ở đầu sông Cái bên ghềnh Ngọc Tháp, tại TX. Phú Thọ có sự tích về vị thần Linh Uyên Đại vương kể rằng: Bà Thái phi của vua sông Thao một hôm bỏ lốt rắn đi lên rừng chơi, chợt làm rơi một bọc trứng 5 quả ở đấy. Làng ấy có một ông già nhặt lấy 5 quả trứng đem về… Được 3 ngày, nở ra 5 con rắn… Một hôm ông già vô ý lấy con dao phát bờ khoắng một cái, đứt đuôi một con. 5 con rắn quấn quít lấy cái đuôi khóc mà nói rằng: Chúng ta là giống rồng, trời định cho ta, mỗi người làm vua một phương… Thế là các con rắn chia nhau ra đi làm vua ở các nơi trên sông Thao, sông Lô.
Sự tích rắn thần cụt đuôi còn gặp ở nhiều nơi. Như ở làng Yên Phú (Thanh Trì, Hà Nội) kể về 2 vị thủy thần xuất thế là Trung Vũ và Đài Liệu. Hai vị đã có công cầu mưa cứu hạn, được nhân dân trong vùng Thanh Trì hết sức kính phục. Sự tích truyền khẩu ở Yên Phú còn kể, khi đê ở Giầy Kẻ bị sạt vỡ, 2 vị đã hóa thân thành 2 ông rắn nằm ngăn nước để dân đắp, hộ được đê. Lúc hộ đê một ông bị đứt một tí đuôi, nên có hèm là Cụt.
Chuyện kể tương tự về thần rắn hộ đê gặp ở thôn Văn Xá, xã Đức Lý, huyện Lý Nhân, Hà Nam. Thần phả kể rằng, vào đời vua Lý Thái Tổ có hai ông bà vớt được hai quả trứng trắng ngoài sông bèn đem về, 100 ngày sau nở ra 2 con rắn trắng, một con dưới bụng có chữ Câu Mang anh, một con có chữ Câu Mang em… Một năm trời làm dịch bệnh, hai ông Câu Mang làm mưa to gió lớn tẩy trừ dịch bệnh cho dân rồi làm ra một cái giếng sâu và đi mất… Cũng năm đó lũ to làm đê vỡ, hai ngài Bạch Xà từ giếng ra, đầu gối bên này, đuôi chạm bên kia nằm chắn khúc đê vỡ để ngăn dòng nước chảy, sau hai ngài lại ra sông đi mất. Quan sở tại tâu lên triều đình, nhà vua phong cho hai ngài là Nhị vị Thủy tề Long vương.
Những vị rắn thần được kể là những nhân vật lịch sử có thật nhờ có công hộ quốc cứu dân mà được tôn làm Long Vương. Như ở suối cá thần Cẩm Lương, Thanh Hóa có đền thờ chàng rắn của người Mường được phong là Tứ phủ Long Vương. Ở xã Thạch Trị huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh có Miếu Ao, thờ Ông Cả Long vương. Sự tích ở miếu ghi: Đức Vương và Thánh Nữ thấy sao băng mà sinh được 3 quả trứng nối liền nhau thành 1 con Hoàng Xà, sau bị Đức Vương chẳng may xắn thành 3 khúc, trở thành 3 anh em.
Trong những câu chuyện trên, vị Đức Vương, hay Ông lão thực ra là vua Kinh Dương Vương trong sử Việt. Thánh Nữ, bà Thái phi, bà mẹ là bà Thần Long. Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình Đế Quân mà sinh ra Lạc Long Quân. Những người con rắn nở ra từ một bọc trứng ấy là những người anh em với Lạc Long Quân của thủy phủ. Do đó, các vị thủy thần thời này đều là những nhân thần thật sự, có công dựng nước cùng với vua Lạc Long Quân dọc dòng sông Hồng
Rắn thần trong Đạo mẫu Tứ phủ
Sự tích ở đền Đồng Bằng (xã An Lễ, Quỳnh Phụ, Thái Bình) kể rằng: Nàng Quý đi tắm ở sông Đào, cảm động với giao long mà có thai, sinh được một bọc, nở ra 3 con Hoàng xà. 3 con rắn sau hóa thành 3 chàng trai giúp vua Hùng đánh giặc. Con Hoàng xà lớn trở thành Vĩnh Công Đại Vương Bát Hải Động Đình, tức là vị đức Vua cha Thoải phủ trong tín ngưỡng Tứ phủ. Người đứng đầu Thủy phủ thì không ai khác chính là vua cha Lạc Long Quân trong sử Việt.
Trong thần điện Tứ phủ còn thờ những con rắn thực sự. Nhị vị Xà thần có tên gọi là Thanh Xà Tướng quân và Bạch Xà Tướng quân, chịu trách nhiệm canh gác đền phủ, trấn giữ đường âm, đường sông nước, trừ ma diệt quỷ. Tuy nhiên, việc thờ rắn làm thần khác với việc thờ thành hoàng là thủy thần trong lốt rắn. Những vị Quan Xà không có sự tích riêng, không có đền thờ riêng, không được sắc phong thờ là thành hoàng ở bất cứ nơi nào.
Trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ Phủ còn có một hình tượng rắn thần đặc biệt khác, danh xưng Tam Đầu Cửu Vĩ. Đó là một thần rắn ba đầu chín đuôi, là thú cưỡi của một số vị Quan như Quan Lớn Đệ Tam, Quan Hoàng Cả… Khác với Thanh Xà và Bạch Xà, Tam đầu Cửu vĩ Long Vương là vị thần có được thờ cúng là thành hoàng ở một số nơi, như ở đình Nam Dư Hạ ở quận Hoàng Mai, Hà Nội. Tam Đầu Cửu Vĩ là hình tượng hóa của hệ thống sông ngòi cổ ở miền Bắc Việt, nơi 3 sông Đà Lô Thao hội tụ ở ngã ba Bạch Hạc rồi chia thành nhiều nhánh mà đổ ra biển. Rất lạ là trong Sơn Hải kinh, cuốn sách cổ của Trung Hoa từ thời trước Công nguyên cũng có nói đến một loài rắn chín đầu gọi là Tương Liễu thị, là bề tôi của thần nước Cung Công. Hình Tương Liễu thị chín đầu phối hợp với chim Kỳ Đồ ba đầu được thể hiện trên bức họa Ngoại quốc đồ thời Lê Trung Hưng, hiện lưu tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam.
Lột xác rắn mà thành Tiên
Vương Sung, một nhà triết học Trung Hoa thời đầu Công nguyên nói: “Ve lột vỏ, rắn thay da, rùa bỏ mai, hươu rụng sừng, da vỏ tiêu hết, chỉ giữ lại xương cốt mới có thể thoát xác tái sinh”. Vì thế thân hình rắn ở thời này thể hiện cho các vị tu tiên đắc đạo. Trên các bức bích họa thời Hán, cặp thần tiên tối cổ Nữ Oa – Phục Hy được thể hiện dưới dạng hình người thân rắn, cuộn đuôi vào nhau. Tại khu mộ cổ khổng lồ Nghi Vệ ở Bắc Ninh được khai quật từ thời Pháp đã phát hiện có một chiếc gương thể hiện cặp thần tiên thân rắn. Hình tượng người rắn tương tự còn gặp trên những tấm lụa phủ liệm quan tài cùng thời kỳ.
Hình tiên thân rắn còn gặp trên bức chạm ở một ngôi đình nổi tiếng xứ Đoài Hà Tây xưa là đình Tây Đằng. Bên mé hữu của đình trên xà ngang có bức chạm 2 vị tiên cầm hoa sen với thân rắn dài, có vảy. Hai vị tiên này đứng chầu vào giữa, là nơi có 2 vị tiên khác, một đang ôm rắn và một đang ôm cá.
Trong Tiên đạo, rắn còn kết hợp với rùa tạo thành linh vật Huyền vũ, một trong tứ linh, trấn phương Bắc. Linh vật Huyền vũ thường được thể hiện trên các gương đồng từ thời Đông Hán. Cặp Rắn – Rùa là biểu tượng của Âm – Dương kết hợp trong Đạo giáo, gặp trong những nơi thờ thần Huyền Thiên Trấn Vũ như ở đền Quan Thánh (trấn Bắc của Thăng Long Hà Nội), hay ở đền Sái (Cổ Loa). Tượng thần Huyền Thiên được thể hiện tay cầm kiếm có Rắn quấn quanh và chống lên lưng Rùa.
Rắn Naga giác ngộ và bảo hộ Phật đạo
Rắn thần trong Phật giáo được gọi là Rắn Naga, là vị Mãng xà vương đã che chở cho Đức Phật khi tu dưới gốc bồ đề trong mưa bão. Tượng Phật của người Khơ me thường được thể hiện ngồi trên thân rắn và được rắn thần 9 đầu che chở. Ở miền Bắc hình tượng này chuyển biến thành tượng Thích Ca sơ sinh có 9 con rồng đến phun nước tắm.
Ở thôn Bảo Tháp, xã Đông Cứu, huyện Gia Bình, Bắc Ninh đã phát hiện một bức tượng rắn bằng đá rất lạ, thể hiện hình ảnh ông Rắn đang tự cắn xé thân thể. Đây có thể là một biểu tượng trong Phật giáo, lấy từ điển tích rắn độc khi đã giác ngộ thì căm ghét thân hình xấu xa của mình, từ bỏ thân rắn mà được đắc lên cõi trời Đao Lợi hoặc thành A La Hán, tôn giả…
Vua rắn Vương Kinh tử ở Giếng Việt
Ấn tượng về “Rắn thần” trong Lĩnh Nam chích quái là Truyện Giếng Việt. Giếng Việt ở miền Châu Sơn (Bắc Ninh), Thánh Dóng đánh thắng giặc Ân ở chân núi này. Vua Ân chết thành vua Địa phủ, có đền thờ trên núi. Đến cuối thời Tần, có người là Thôi Vĩ chạy lạc vào núi, rơi xuống hang sâu, gặp một con rắn trắng mình dài trăm trượng, mào vàng, miệng đỏ, râu đỏ, vảy trắng, trên trán có dòng chữ vàng đề “Vương Kinh Tử”. Thôi Vĩ dùng thuốc ngải chữa bệnh bướu cổ cho rắn, nên được rắn dẫn khỏi hang…. Ở Châu Sơn tới nay vẫn còn một bức tượng đá cổ, kích thước cao bằng người thật, thể hiện con vật thân như thân rồng rắn nhưng có mỏ và cánh như chim phượng, là dấu vết cổ xưa của một ngôi đền thời Tần Hán tại đây.
Câu chuyện về rắn thần từ thuở Lạc Thị Hồng Bàng qua thời Ân Thương tới thời Tần Hán, với những di vật bằng đá còn sống động nơi núi Châu Sơn, là minh chứng cho tín ngưỡng thờ Rắn thần không phải là mê tín dị đoan, mà chính là hình thức rất độc đáo lưu giữ lịch sử huy hoàng và lâu đời của người Việt. Trong tâm linh Việt, rắn thần là những người con đã theo cha Lạc Long Quân đi khai phá miền sông nước biển Đông, là tổ tiên của 50 họ người Việt. Sự thật về quá khứ người Việt vẫn còn ẩn mình trong hang tối như rắn thần Kinh Vương Tử nơi Giếng Việt xưa.
Bài đăng trên Tạp chí Năng lượng mới, số Xuân Ất Tỵ 2025.
Trích dịch từ bản thần tích lưu tại đền Tây thôn Thượng xã Trung Đông, Trực Ninh, Nam Định.
… Lại nói, từ đó về sau, trải qua Nhân Tông, Anh Tông, Cao Tông, Huệ Tông. Đến Huệ Tông không có con trai kế tự bèn nhường ngôi cho con gái thứ là tên là Công chúa Phật Kim. Phật Kim sau liền cải hiệu là Chiêu Hoàng. Chẳng bao lâu Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Thái Tông. Đang khi đó nước Việt ra ở thôn Thượng Lỗi xã Đông Mặc huyện Mỹ Lộc phủ Thiên Trường đạo Sơn Nam có một nhà họ Trần tên là Phác, lấy bà Cao Thị Mỹ thôn Hạ xã Xối Đông huyện Tây Chân làm vợ. Gia thế Trần công vốn làm quan lớn ở triều Lý. Tới ông Phác thì gia cảnh bần bách, không có kế sinh nhai. Vợ chồng bèn gói ghém gia tài trở về quê vợ cùng xin phụ lão cho được ở lại đó để dạy dỗ con trẻ. Nhân dân vui mừng đều đồng ý nhận, tạo một học đường mời ông về ở đó, dạy dỗ sĩ tử. Qua vài năm trong quận huyện nghe tiếng, cũng đều gửi con đến nhập học. Từ đó gia đình ông trở nên đầy đủ hơn. Một hôm vợ chồng nói với nhau rằng:
Ta tuổi đã ngoài ba mươi mà điềm khăn nỏ còn chưa thấy ở cửa huyền. Chi bằng nay hãy tạo phúc gây công, biết đâu ngày nào đó sẽ được trùm ơn, cũng là để thỏa nguyện bình sinh vậy. Sách nói rằng “tích thiện sẽ gặp được thiện, cầu nhân từ sẽ được đắc lòng nhân”. Sao cứ phải khư khư giữ lấy tài vật cho được vậy.
Thế là bèn phát tán hết gia sản để giúp đỡ người nghèo, chu cấp cho người thiếu, đem tài đem lực để ban phát thập phương, xây dựng một ngôi chùa ở trong dân, tô vẽ tượng Phật. Ngày ngày tiến cúng hương hoa. Thời thời tụng niệm chân kinh. Hễ là cần giúp người độ vật đều cố hết sức mà làm. Khi đó trời nóng bức, bà Cao Thị đi ra tắm gội ở bến sông trở về. Đến đêm hôm đó mộng thấy một thần tướng khoác áo bào màu hồng, đeo thắt lưng châu ngọc, thân cưỡi giao long, hai tay ôm một đứa nhỏ đẹp đẽ, đường đường tiến đến trước mặt nàng. Đang trong mộng bà rất kinh sợ, hô gấp Trần công cùng đến xúm bái. Người đó đưa đứa trẻ cho bà Cao Thị nói rằng:
Nhà họ Trần phúc hậu, trời đã biết đến. Ta vâng thiên mệnh đem con của Long cung đến thác nhập làm con nhà họ Trần để sau giúp nước triều Trần. Cẩn thận, cẩn thận. Chớ lộ, chớ lộ.
Khi đó bà ôm được đứa trẻ, chưa kịp làm lễ bái yết, trong lòng rất vui mừng thì đột nhiên tỉnh giấc, mới biết là điềm lành, kể lại cho Trần công biết. Tối hôm đó Trần công cũng nằm mộng thấy có một người tặng cho một bài thơ rằng:
Trời định thủy thần cho họ Trần Vạn cổ núi sông để tiếng thơm Phúc dày biết tạo, Trời ban phúc Thấm ơn hưởng lộc tới muôn năm.
Đến khi ông nghe bà nói, liên tưởng đến giấc mộng, cho rằng đây tất là điềm mộng lành. Từ đó vợ chồng uyên ương chung gối, loan phượng thành bầy. Chẳng bao lâu sau quả nhiên thấy phu nhân có mang thai. Đến kỳ mãn nguyệt sinh hạ một người con trai (khi đó là mùng 2 tháng Mười hai), diện mạo đẹp đẽ, quả giống như hình đứa trẻ trong mộng. Nhân sinh ở nơi chùa nên đặt tên là ông Phạm. Ngày qua tháng lại trải đã ba năm đã biết đi biết nói. Ăn như gió, đi như mưa. Thường thường ra bến sông rẽ nước mà đi xuống. Qua 7 ngày mới trở về dương thế. Người người thấy đều sợ hãi, gọi là thủy thần xuất thế. Đến năm 12 tuổi không học mà tự biết. Phàm trên từ thiên văn, dưới tới địa lý, không có việc gì là không biết, không có thứ gì là không hiểu, lại thạo cung nỏ, giỏi đọc xem hết binh thư. Bạn bè ai cũng sợ phục. Từ đó tiếng vang xa gần đều biết tới tên.
Khi tên tuổi vang đến triều đình, Thái Tông liền sai sứ thần về thôn Hạ xã Xối Đông gọi Trần công vào triều. Công vâng mệnh vào chầu, dẫn theo người con là ông Phạm cùng vào bái yết Đế. Thái Tông thấy ông Phạm có thể mạo khác thường, thực đúng là bậc tuất kiệt. Vua hỏi về tài năng, ông Phạm ứng đối làm Vua rất hài lòng. Ngay hôm đó Vua bái ông Phạm làm Ngự sử Trung thừa. Nhân vì ông Phác là người có tài, lại là người cùng tông phái nhà Trần nên bái ông Phác là Phủ doãn phủ Thiên Trường. Tất cả binh lương, tô thuế đều cho thuộc quản (ông Phác sau hóa được phong là Từ nhân Tập phúc Dao huống Đại vương, hưởng cúng ở thôn Hạ xã Xối Đông, do có bản chép riêng cho này này nên không chép chung vào bản này).
Lại nói, khi đó thôn Thượng xã Xối Đông có một nhà thi thư xử thế, hiếu đễ truyền gia họ Bùi tên Chấn, vợ là người thôn Trung cùng xã tên Nguyễn Thị Ngoạn. Vợ chầm đẹp duyên cầm sắt, uyên ương cùng hợp, lại thường có lòng tạo phúc, cố gắng làm điều nhân, không hề có tới nửa điểm mưa hại người, một hào tư lợi cũng không có lòng tham. Người người ở địa phương đều gọi là một gia đình tốt đẹp. Một bữa vợ chồng ông nhàn rỗi ngồi chơi uống rượu vui vẻ. Khi rượu đã thấm, phu nhân dựa lan can mơ màng thiếp đi, thấy có hai con gấu mờ mờ ảo ảo nhảy múa trước sân, phút chốc hóa thành hai con chim yến trắng. Phu nhân nắm bắt được hai con bạch yến thì bỗng tỉnh lại. Từ đó trong thân có mang. Mang thai được 10 tháng sinh hạ một bầu, nở ra hai người con trai (ngày mùng 10 tháng Mười hai), đều là vẻ rồng hàm én, mắt phượng mày ngài, khác xa với người thường. Cha mẹ rất vui mừng đặt tên người con lớn là ông Khiết, người con thứ là ông Tuyết. Xuân sinh hạ trưởng, đã được 6 năm. Cha mẹ gửi nhập học với Hoa Đường tiên sinh. Học được mấy năm văn võ kiêm toàn, thông minh xuất chúng.
Đến năm 15 tuổi cha mẹ thay nhau mất. Hai ông làm lễ chôn cất cha mẹ, hương khói phụng sự như nghi thức. Khi ấy gia tài đều đã hết, sáng vay tối nợ, bữa đực bữa cái, bốn bức gió lùa, vườn không cọng cỏ. Lúc đó anh em nghe tiếng vợ chồng Trần công (tức ông Phác) tích đức làm việc thiện bèn cùng nhau đến thôn Hạ xin nương tựa làm con nuôi của Trần công. Trần công thấy hai người anh em đều là những nam nhi tốt, rất là yêu mến, tình tuy là con nuôi mà thân như con đẻ. Từ đó hai ông (tức là chỉ ông Khiết, ông Tuyết) tìm được nơi nương tựa, không lo đói khát, dốc lòng chăm học. Được mấy năm thì sử sách trăm nhà không chỗ nào không từng xem. Khi ấy Trần công đã 49 tuổi, bỗng nhiên không bệnh mà mất. Vua cho ông Phạm trở về chôn cất cha. Lúc ấy phu nhân Cao Thị lại do thương tâm mà thành bệnh rồi mất. Ông Phạm cùng với ông Khiết, ông Tuyết làm lễ chôn cất. Đến sau ba năm đạo hiếu đã tròn ông Phạm lại trở về triều nhận chức, để hai người em ở lại gìn giữ gia đường.
Lại nói, khi Thái Tông lên ngôi được 33 năm thì nhường ngôi lại cho Thánh Tông. Thánh Tông khi mới lên ngôi hạ chiếu cầu người hiền, lệnh các châu huyện cử những người hiếu liêm, hiền lương, chính trực, có tài văn võ thì lên kinh thành để ứng tuyển. Lúc đó ông Phạm tiến cử hai người em với Vua. Vua thấy hai người có diện mạo khác thường, trong lòng rất mừng nói:
Trời vì triều ta mà đã sinh người hiền phụ giúp, sao lại gặp được muộn vậy.
Ngay hôm đó bái ông Khiết là Tả bộc xạ, ông Tuyết là Hữu bộc xạ. Nhân việc ông Phạm tiến cử người hiền liền bái ông Phạm là Tấu thư Bác sĩ. Từ đó va ông ở trong triều giữ chức, thiên hạ thanh bình. Đến khi Thánh Tông truyền ngôi cho Nhân Tông, lấy niên hiệu Trùng Hưng. Khi đó Thái tử nước Nguyên là Trấn Nam vương Thoát Hoan cùng đại tướng Hô Mã Nhi, Nguyễn Bá Linh dẫn quân mạnh ba mươi vạn đến xâm chiếm nước ta nhằm cướp lấy nước. Quân thanh chấn động, tiến đến bờ biển. Nhân Tông tập hợp trăm quan định kế đánh dẹp. Khi ấy Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn kiên quyết xin đánh. Trần Phạm, Trương Long, Bùi Khiết, Bùi Tuyết cũng ra sức xin đánh. Vua bèn bái Hưng Đạo Đại vương là Đại Nguyên soái kiêm Chưởng thủy bộ hai quân, nhận năm vạn quân mạnh trấn giữ ở đồn giữa. Lại bái Trần Phạm làm Tả tướng, Trương Long là Hữu tướng, ông Khiết, ông Tuyết làm Điệu bái binh lương cho các lộ. Các ông vâng mệnh nhận quân chia đạo tiến thẳng. Khi đó Hưng Đạo Vương dẫn quân về trang Vạn Kiếp, xây dựng đồn doanh ở trên đất trang Vạn Kiếp. Ông Phạm trấn cứ ở sông Bạch Đằng nối đến sông Lục Đầu, cùng với Hưng Đạo Vương cùng nghênh giặc.
Còn ông Khiết, ông Tuyết cùng Trương Long nhân quân trở về đạo Sơn Nam xây dựng đồn doanh để làm nơi giữ phòng. Khi ấy ba ông nhân quân về xã Xối Đông chia ra lập thành ba đồn. Lúc đó ông Khiết lập một đồn ở thôn Thượng, gọi là đồn Thượng. Ông Tuyết lập một đồn ở thôn Trung, gọi là đồn Trung. Trương Long lập một đồn ở thôn Hạ, gọi là đồn Hạ (sau đổi thôn Hạ thành thôn Phú Gia). Nếu có lập mưu thì các ông tất đều cùng làm với nhau. Trải qua sáu tháng không phân thắng bại. Sau Trương Long được thủy thần Tam Lang dạy, có thể đi dưới đáy nước, đục phá thuyền giặc. Thuyền bè của giặc mất quá nửa. Khi ấy Hưng Đạo Vương cùng với ông Phạm và các quân liên tiếp giao chiến. Quân Nguyên thạo đánh đường thủy nên các ông bèn lên đánh trên bờ. Bỗng có thần Bạch Mã đến giúp. Quân sĩ Nguyên đều chạy tán loạn. Các ông thừa thắng đuổi dài, chém hơn hai trăm đầu tì tướng giặc, vài ngàn quân lính, bắn sống Hô Mã nhi, Nguyễn Bá Linh dẫn về doanh trại. Trấn Nam Vương Thoát Hoan chạy về nước. Hưng Đạo Vương cùng với ông dẫn Bá Linh ra xử tội, chặt làm 3 đoạn thả xuống cửa sông. Quân Nguyên gửi thư xin hòa. Hưng Đạo Vương truyền đem Mã Nhi về nước Bắc, đền gần cửa sông thì giả bị lật thuyền. Mã Nhi bị chết. Từ đó quân Nguyên không dám xâm phạm đất ta. Lúc ấy Nhân Tông luận công ban thưởng các cấp khác nhau, bèn phong Hưng Đạo Vương kiêm Thượng đẳng thần, thực ấp vạn hộ. Phong ông Phạm làm Khuông quốc hầu Chương tấu Phạm Đại vương. Phong ông Khiết là Dực vận hầu Khiết ốc Đại vương. Cho hai ông về xã Xối Đông lập sinh từ để ngày sau có chỗ hương hỏa hưởng thờ (còn ông Tuyết, Trương Long cũng phong Đại vương, được ghi rõ ở bản riêng).
Khi đó ông Phạm, ông Khiết vâng mệnh trở về xã Xối Đông (do ông Phạm lập đồn ở ba nơi, nên đến sau khi hóa ba thôn đều phụng thờ). Khi hai ông đến thôn Thượng truyền xây dựng một nơi sinh từ ở trong đất gần dân. Nhân dân vâng mệnh, xây dựng hoàn thành. Khi ấy ông Phạm dân biểu tâu xin được đi du chơi thiên hạ, trải xem sông núi. Vua đồng ý. Ông bèn đi xe dạo chơi. Một hôm ông đến núi Kim Nhan ở Hoan Châu, bèn lên núi ngắm cảnh. Đến nơi lưng núi bỗng thấy trời đất mù mịt, hổ thét gào. Rồi không thấy ông đâu nữa (tức ông Trần Phạm). Chỉ có ở chỗ ông ngồi thấy mối mới xây thành một gò đất lớn (khi ấy là 15 tháng Tám).
Lúc đó gia thần quân lính thấy vậy, quay về báo với nhân dân. Do người thôn Thượng xã Xối Đông theo ông Phạm thấy ông Phạm đã hóa bèn quay trở về báo với ông Khiết. Khi đó ông Khiết đang đi xe nhàn chơi. Ông Khiết lại dừng ở đất thôn Thượng, dạy đạo cho nhân dân. Ông bèn dâng biểu tâu lên Vua. Vua nghe tin, rất thương xót công thần có công lớn với nước bèn tặng phong sắc chỉ là Dực thánh Khuông quốc Phù vận Triệu mưu Lậu khê Chương tấu Phạm Đại vương. Cho ông Khiết đón sắc về thôn Thượng phụng thờ. Thế là ông Khiết truyền nhân dân thôn Thượng sửa sang chốn cũ đồn doanh để làm đền thờ mà phụng thờ. Ông Khiết ở lại nơi đất thôn Thượng, lấy nhân nghĩa lễ trí tín để giảng dạy cho nhân dân. Trong vài tháng dân trở nên thuần hậu, phong tục tốt đẹp, đất đai trù phú, đều là nhờ công đức của ông vậy.
Lại nói, ông sống ở đất đó qua 6 tháng. Một hôm ông bỗng nhiên bị bệnh liệt, cầu thần không có hiệu quả, uống thuốc không thuyên giảm. Ông mất ở trong nhà (khi đó là mùng 10 tháng Hai). Nhân dân bèn làm lễ chôn cất ở chỗ bên sông. Chôn cất xong, nhân dân dâng biểu tâu lên triều đình. Vua nhớ công lao lớn của ông với nước nhà liền phong thêm sắc chỉ là Dực vận hầu Khiết Ốc Đại vương, lệnh sứ thần đón sắc về nơi hóa, truyền nhân dân viết thần hiệu phụng thờ. Từ đó về sau các chư vị Đại vương của thôn Thượng có linh thiêng âm phù giúp nước, dẹp nạn trừ tai, cầu mưa cầu tạnh có nhiều linh ứng nên có nhiều đế vương phong thêm mỹ tự, sắc chỉ, vạn cổ hưởng thờ, muôn năm hương hỏa mãi không dứt. Tốt thay!
Phong Dực thánh Khuông quốc Phù vận Triệu mưu Lậu khê Chương tấu Phạm Đại vương. Phong Dực vận hầu Khiết Ốc Đại vương. Cho phép xã Xối Đông huyện Tây Chân phủ Thiên Trường đạo Sơn Nam phụng thờ.
Ngày sinh thần các chư vị đại vương cùng với các tiết khánh hạ và chữ húy phải cấm vâng khai như sau.
Linh Lang Đại vương sinh thần ngày 15 tháng Giêng. Lễ dùng trên dâng mâm chay, dưới là thịt lợn, xôi. Vào ngày chính có cỗ trai, bánh dày, ca hát, đấu vật mười ngày thì dừng. Hóa thần ngày 15 tháng Mười hai. Lễ dùng dâng chính mâm chay, trà quả, dưới là thịt lợn một màu, xôi, rượu.
Phạm công sinh thần ngày mùng 2 tháng Mười hai. Lễ dùng thịt lợn, xôi, ca hát, đấu vật năm ngày thì dừng. Hóa thần ngày 15 tháng Tám. Lễ dùng trên dâng oản quả, mâm chay, dưới là thịt lợn, xôi, rượu.
Khiết công sinh thần ngày mùng 10 tháng Mười hai. Lễ dùng thịt lợn, xôi, ca hát ba ngày thì dừng. Hóa thần ngày mùng 10 tháng Hai. Lễ dùng trên dâng mâm chay, dưới là thịt lợn, xôi, ca hát ba ngày thì ngừng.
Đại khánh hạ là ngày 15 tháng Mười một. Lễ dùng cỗ trâu, ca hát, đấu vật năm ngày thì dừng.
Mỗi năm hai kỳ xuân thu cứ hai tháng cuối mùa làm lễ bày tế. Làm lễ vật tùy nghi.
Các chữ húy Lang 郎, Phạm 梵, Khiết 潔, Hiển 顯 là bốn chữ nhất thiết cấm. Chữ húy của các thánh phụ là Khiết 潔, Chấn 振, Phác 樸. Các chữ húy tên không được gọi, viết văn không được dùng, chữ đọc đều phải tránh âm.
Mỹ tự có chữ Linh, chữ Quý, chữ Minh, chữ Chương, chữ Tấu, chữ Ốc. Các mỹ tự tên không được gọi , đọc đều phải tránh âm.
Biên chép về thời kỳ Long Quân Lạc Thị qua tổng hợp từ Truyện họ Hồng Bàng và các di tích, thần tích tín ngưỡng thủy thần trên đất Việt.
Xưa, cháu ba đời của Viêm Đế thuộc họ Thần Nông là Đế Minh, Đế Minh sinh ra Đế Nghi. Một lần đi tuần thú phương Nam đến núi Ngũ Lĩnh gặp được nàng Vụ Tiên, lấy làm vợ, sinh ra Lộc Tục, dung mạo đoan chính, thông minh, sớm trưởng thành. Đế Minh bèn lập Đế Nghi cai quản đất Bắc, phong Lộc Tục trị vì phương Nam.
Đế Minh được tôn là đời Hùng Vương đầu tiên với tên thờ là Hùng Vương Sơn Nguyên Thánh Tổ Đột Ngột Cao Sơn. Bà Vụ Tiên lấy vua Hùng ở Ngũ Lĩnh là Tây Thiên Quốc mẫu, đã gặp Đế Minh ở ngọn núi Phù Nghĩa trên dãy Tam Đảo. Đế Nghi là người kế tục Đế Minh, được tôn là đời Hùng Vương thứ hai với tên là Viễn Sơn Thánh Tổ, cai quản vùng đất Hồng Lĩnh ở phương Bắc xưa gần Xích đạo.
Lộc Tục nối tiếp ngôi vua, đóng ở vùng đất phương Nam xưa, tức vùng đất Lạc trên miền Bắc Việt ngày nay. Lộc Tục được tôn là Ất Sơn Thánh Tổ, là đời Hùng Vương thứ ba. Đế Minh, Đế Nghi và Lộc Tục là 3 vị Hùng Vương Thánh Tổ được người Việt tôn thờ ngàn đời trên núi Hùng ở miền đất tổ Phong Châu.
Kế ngôi vị của Ất Sơn Thánh Tổ theo lối truyền hiền (truyền cho con rể) là Tản Viên Sơn Thánh, nhờ có công lớn trong quá trình trị thủy thời Đường Nghiêu, khi nước lũ ngập ngang trời. Sơn Thánh lên ngôi gọi là Kinh Dương Vương. Kinh Dương Vương trị vì phương Nam, lấy hiệu là nước Xích Quỷ, tức là Thủy quốc. Người Mường gọi Sơn Thánh là Lang Cun Cần, lưu truyền ngàn đời trong sử thi Đẻ đất Đẻ nước về sự kiện Kinh Dương Vương khởi đầu lịch sử người Việt với hai dòng sơn thủy. Hùng Vương Ngọc phả gọi ông là Hùng Việt Vương, đời Hùng Vương thứ tư trong Cổ Việt Hùng Thị Thập bát thế. Lịch sử Trung Hoa gọi ông là vua Đại Vũ trị thủy bên bờ Long Môn tại Thác Bờ (Hòa Bình).
Kinh Dương Vương thường dạo chơi dưới Thủy phủ, sau lấy con gái Động Đình Quân Long Vương. Long Vương Động Đình Đế Quân cũng là Long Đỗ hay Thủy phủ Phù Tang Cam Lâm Đại Đế, là người mở đầu của Thủy quốc Động Đình ở vùng ven sông biển. Kinh Dương Vương được dòng Thủy phủ gọi là Long cung Liễu Nghị, người đã kết duyên cùng Xích Lân Long Nữ của Thoải phủ. Kinh Dương Vương theo đó còn được gọi là Bột Hải Long vương.
Hai người sinh ra Lạc Long Quân bên bờ hồ Động Đình. Lạc Long Quân được kể là hoàng tử Linh Lang ở hồ Dâm Đàm, vốn là nơi rốn rồng của Thủy quốc Động Đình.
Lúc ấy, ở vùng đất Hồng Lĩnh phương Bắc xưa Đế Nghi đã truyền ngôi cho con là Đế Lai. Khi Kinh Dương Vương mất, Đế Lai muốn nhòm ngó nước Xích Quỷ nên đã xâm nhiễu phương Nam xưa, người dân địa phương không được yên. Dân chẳng thể làm ngơ liền dắt nhau gọi Long Quân rằng:
– Bố ơi! Chúa xứ Bắc quấy nhiễu nhân dân khổ lắm!
Long Quân vội đến, có thần thuật ẩn hiện biến hóa ra muôn trạng, yêu tinh quỷ mị, rồng rắn, tê giác, voi. Những kẻ tìm đến đều sợ hãi không dám tiếp tục. Đế Lai đành phải bỏ về.
Đế Lai được dòng Lạc thị kể là quân Thục tấn công đất nước của Hùng Vương. Linh Lang cùng với Lục bộ Thủy phủ dâng nước đánh đuổi quân Thục, chiếm được vị trí chủ thiên hạ, đóng đô nơi hồ Dâm Đàm, đất Thăng Long.
Lạc Long Quân lên ngôi, là Vua cha của Thủy phủ, tức Bát Hải Động Đình Long Vương trong tín ngưỡng Tam tứ phủ. Lạc Long Quân lập quốc lấy tên là Đào Hoa trang hay Hoa Hạ, lấy màu đỏ tượng trưng cho vùng đất ở gần miền Xích Đạo. Hùng Vương Ngọc phả gọi Lạc Long Quân là Hùng Hoa Vương, đời Hùng Vương thứ năm trong 18 đời vua họ Hùng.
Trong cuộc chiến này Lạc Long Quân được sự giúp đỡ của cả bên dòng Lạc của cha (Kinh Dương Vương) và dòng Long của mẹ (Thần Long Động Đình), nên khi lên ngôi vua lấy danh xưng là Lạc – Long Quân, tức là thủ lĩnh của cả 2 tộc người Lạc và Long.
Thủy quốc do Lạc Long Quân cai quản là khu vực các tộc người sinh sống dọc các nhánh của hệ thống sông Hồng và ven biển Đông thời cách nay trên 4.000 năm. Tên gọi Động Đình do đó gặp từ ngọn nguồn ba sông Đà Lô Thao, hợp lưu tại ngã Ba Hạc Việt Trì, rồi chia 9 nhánh theo cha Lạc Long về biển. Biểu tượng của Thủy quốc Động Đình là Long vương Tam Đầu Cửu Vĩ, hình tượng của dòng sông Hồng trên đất Việt cổ.
Trong cuộc chiến lập quốc của Lạc Long Quân, đứng đầu bên dòng Kinh Dương Vương – Tản Viên Sơn Thánh là người chú Quý Minh đã cùng cháu đánh giặc và yên dân ở khắp nơi. Còn đứng đầu các bộ Thủy phủ Long cung là những người anh em sinh cùng bọc (cùng mẹ) của Lạc Long Quân. Do nước của Lạc Long Quân là Đào Hoa nên các vị Thủy quan này thường được chép mang họ Đào.
Trong số những vị Long hầu này vị có quyền hành lớn nhất là Thổ Lệnh Trưởng, quyền chưởng Trung Hoa Quốc tể, được gọi là Quan lớn Đệ Tam trong tín ngưỡng Tam tứ phủ. Người anh em có quyền lực thứ hai là Thạch Khanh, được gọi là Quan lớn Đệ Ngũ. Hai vị “sinh Bạch Hạc”, nên được gọi là các thần Bạch Hạc Tam Giang. Còn nơi thực ấp của Trung Thành Thổ Lệnh là ở vùng ngã ba Lảnh (Thường Tín – Hà Nam – Hưng Yên). Thạch Khanh hay Quan Tuần Tranh ban đầu tuần thú ở vùng sông Tranh (Hải Dương), sau bị dời lên miền sơn cước Lạng Sơn bên sông Kỳ Cùng.
Lạc Long Quân dạy dân cấy lúa trồng dâu, định tôn ti thứ bậc vua tôi, vợ chồng cha con theo đạo luân thường, khi về nơi sông nước, trăm họ sống vui vẻ tự nhiên, gặp việc cất tiếng gọi Long Quân bằng bố (tục phương Nam gọi cha là bố):
– Bố ơi! Ở đâu sao không ở đây sống với chúng con?
Tức thì Long Quân đến, dáng vẻ uy linh, cảm ứng khó lường.
Bắt đầu từ Lạc Long Quân, ngôi vị thủ lĩnh thiên hạ được định đoạt theo dòng phụ đạo, tức là cha truyền con nối. Vì vậy Lạc Long Quân được gọi là “Bố”, hay đức Vua cha của Thủy quốc.
Lại đặt tướng văn là Lạc hầu, tướng võ là Lạc tướng; con trai Vương là Quan lang, con gái Vương gọi là Mỵ nương; các ty gọi là Bồ chính, đầy tớ gọi là Xảo xứng. Đời đời cha truyền con nối gọi là Phụ đạo, chủ tướng tương truyền đều lấy hiệu là Hùng Vương mà không đổi.
Đất nước được chia thành nhiều vùng, mỗi vùng do một vị Long hầu phụ trách cai quản như lời Lạc Long Quân nói:
– Nay ta chia ra năm mươi người con quay về Thủy phủ mà chia trị các nơi, năm mươi người con theo nàng lên núi chia nước mà trị vì, lên non xuống biển có việc nghe được cùng giúp đỡ lẫn nhau, chớ được quên hẹn ước.
Bấy giờ, người ở trong rừng, chân núi đi bắt cá dưới nước thường bị giao long làm hại, liền nói với Vương bảo:
– Người Man ở núi với Thủy tộc khác biệt nhau, có kẻ xấu người tốt cho nên xâm hại lẫn nhau.
Vương liền lệnh cho thích mực vào người các hình trạng Long Quân, thủy quái thì giao long không dám cắn. Vì vậy, người Bách Việt có tục xăm mình.
Những vị thủy quan phụ trách cai quản các xứ do đó được thể hiện là những vị thần rắn hay Long vương. Suốt chiều dài thời gian của Lạc triều gần ngàn năm đã có nhiều vị thủy quan ở các khu vực. Tên tuổi, công nghiệp của họ do đó thường được gắn với sự tích sinh ra cùng bọc trứng, trưởng thành có khí chất như rồng như rắn, đánh giặc, trị thủy. Lúc hóa được tôn thờ là các vị thủy thần.
Thủa sơ khai, dân làm không đủ ăn nên lấy vỏ cây làm áo, dệt cỏ làm chiếu, lấy cây quan lang đồ lên ăn, bắt chim thú, cá tôm làm chất mặn, củ gừng làm chất cay, lấy dao, lửa canh tác (tức là đốt nương làm rẫy), phần lớn là lúa nếp, lấy ống tre bắn chim, gỗ làm nhà tránh thú dữ, cắt tóc để tiện đi vào núi rừng, sinh con thì bọc bằng lá chuối, chết thì lấy dùi đánh mõ làm hiệu, làng xóm nghe thấy chạy đến giúp. Nam nữ lấy chồng, lấy vợ trước tiên phải có gói trầu cau, rồi sau mới giết bò, dê làm lễ, lấy cơm nếp cùng nhau ăn cho hết mới thành thân. Về sau đường lối thông suốt. Trăm người con trai chính là thủy tổ của Bách Việt vậy.
Dưới triều đại Lạc Thị, người Việt phát triển nghề nông tang, trồng lúa, trồng khoai, săn bắt chim thú, đánh cá ở sông biển, chăn nuôi bò dê, làm nhà gỗ, sống thành làng xóm, kết hôn lập gia đình, hình thành phong tục, lễ nghi, đường lối thông suốt. Lạc Long Quân cùng các vị Lạc hầu, Lạc tướng trở thành những vị thần tổ phù hộ người dân an cư lạc nghiệp ở miền đồng bằng.
Vào giữa thời Lạc triều, một vị quan Hầu đến từ vùng xứ Nghệ là Chử Đồng Tử đã tiếm ngôi dòng Lạc Thị, chặn đường Lạc Vương ở bãi Tự Nhiên bên bờ sông Hồng. Chử Đồng Tử lập nước riêng, gọi là Trạch quốc, đóng đô ở Khoái Châu (Hưng Yên), có nhiều quan quân theo về. Chử Đồng Tử xây dựng lâu đài, phát triển giao thương đường thủy, kết nối hai vùng đất Hồng và Lạc của thiên hạ. Chử Đồng Tử cũng phát huy lý thuyết Âm dương Ngũ hành, tròn vuông từ thời Tản Viên Kinh Dương Vương, học Tiên đạo từ vùng đất phía Tây (Tây Vương Mẫu – Tây Thiên Quốc mẫu) chữa bệnh, chữa lành cho nhân dân. Tuy nhiên, Chử Đồng Tử “một đêm về trời”. Nước Đào Hoa Hạ dòng Lạc Thị lại trung hưng.
Lạc quốc không chỉ phát triển ra phía Đông ven biển mà còn lên phía Nam xưa (tức phương Bắc nay) sang vùng đất Quảng Tây, Quảng Đông. Người Choang ở vùng này là dòng dõi Lạc Thị, tới giờ vẫn làm lễ tôn thờ Lạc Vương và Long Mẫu. Người Choang cùng nhóm dân tộc với người Tày Nùng ở miền Bắc Việt, nên việc thờ thần Rồng và Long Mẫu vẫn còn in đậm trong bản sắc những dân tộc này cho tới ngày nay. Thủ lĩnh Lạc Vương ở thời này đóng đô ở Dương thành tại Phiên Ngung (Quảng Đông). Giai đoạn Lạc thị Trung Hưng Hoa Hạ, mở nước về phía Đông Nam xưa được Hùng Vương Ngọc phả gọi là thời Hùng Uy Vương, triều đại Hùng Vương thứ sáu theo phả đồ.
Nhà Hạ Trung Hưng được thay thế bằng Bàn Vương trong tích Long Khuyển Bàn Hồ của người Dao. Nhóm tộc Miêu Dao là một trong những tộc người Bách Việt ở phương Nam đã làm nên nhà Thương trong lịch sử Trung Hoa. Trung tâm của giai đoạn này là vùng đất Kinh, tức là vùng Hồ Nam, phía Nam sông Dương Tử. Bàn Vương được Hùng Vương Ngọc phả gọi là Hùng Huy Vương, tức là đời Hùng Vương thứ bảy theo phả đồ.
Một trong những vị Bàn Vương là vua Bàn Canh, đã thực hiện việc di dời dân chúng, tiến xa hơn về phía Nam xưa, vượt qua sông Trường Giang, lập nên nhà Thương thứ hai, gọi là nhà Ân. Các vua nhà Ân được Hùng Vương Ngọc phả gọi là Hùng Duệ Vương, chỉ thời kỳ cuối của giai đoạn Lạc Thị theo cha xuống biển.
Vào thời Hùng Duệ Vương, trên miền Bắc Việt là đất Lạc cổ xưa, có các Lạc hầu, Lạc tướng làm chủ. Sử cũ còn ghi thời kỳ này xảy ra cuộc đụng độ giữa dòng Lạc họ Hùng và dòng Thục đến từ phía Tây. Sự tranh đấu giữa 2 nhánh lên núi – xuống biển, Hùng – Thục, Âu – Lạc này bắt đầu từ thời Lạc Long Quân dựng nước, kéo dài suốt giai đoạn Lạc Thị cho tới Hùng Duệ Vương. Các sự tích ở miền Bắc Việt ghi nhận là những vị Long hầu đất Lạc đã nhiều lần chống lại các cuộc tấn công của quân Thục. Kết quả cuối cùng là vua Hùng nhường ngôi cho Thục chủ, chấm dứt thời kỳ Lạc Thị theo cha khai phá miền biển, mở ra giai đoạn lịch sử mới khi 2 dòng Âu và Lạc tái hợp và sự lên ngôi của người con theo mẹ Âu Cơ ở Phong Châu là Hùng Quốc Vương. Qua bốn ngàn năm lịch sử từ cha Rồng xuất thế nơi Đào Động, 50 người con chia trị Ngũ phương, miền sông nước Động Đình đã vươn xa hơn ra biển. Thủy quốc Long Quân còn in đậm trong tín ngưỡng Tam tứ phủ, trong tục thờ thành hoàng ở hàng trăm, hàng ngàn ngôi làng ở Bắc Bộ, trong những bản thần tích, những bài sử thi dẫn đường cho linh hồn con cháu về với tổ tiên của người Kinh, Mường, người Tày, người Dao… Lịch sử cha ông không thể nào quên. Hỡi ôi, tiền nhân bất vong!
Bản chính bộ Lễ quốc triều, thủy thần và nhân thần cùng bộ
Xưa vào thời Lý Thái Tông. Khi ấy nước ta ở trang Bồng Lai huyện Từ Liêm phủ Quốc Oai đạo Sơn Tây có một người con gái họ Dương, tên là Thái nương. Năm lên ba tuổi cha mẹ đều mất. Nương sống nhờ người cậu ruột là Trần Công Tiệp ở phường Thị Trại. Đến năm lên 16 má đỏ môi hồng, mày ngài mắt phượng. Tuy lối xóm truyền nhau cầu phượng, nhưng chọn tuyển màn loan còn chưa có ai. Cho nên thơ Đào yêu vẫn chưa được ngâm đàn vậy.
Vào mùa xuân trời đẹp, Thánh Tông loan giá đi chơi ngoài thành. Người người cùng xem, kéo đến đông như nêm, không biết bao nhiêu mà kể. Khi đó Thái nương cùng với người cậu cũng cùng đến xem. Thánh Tông thấy Nương có nhan sắc đầy đặn, không kém tiên khách Bồng Doanh. Vua trong lòng rất thích, bèn dẫn về cung, lập làm Đệ tam Cung phi. Ngày ngày hầu ở bên không rời. Qua được bốn năm không thấy có việc sinh đẻ. Vua bèn lập riêng một cung ở phường Thị Trại, cho Cung phi ở đó. Từ đó Cung phi về ở nơi cung sở, luyện tập nữ công.
Một hôm mùa hè trời nóng bức. Cung phi đi ra hồ Tây giặt lụa. Đang khi ấy bỗng thấy có một con Giao long thân dày hơn mười thước, đầu đội mũ hoa, vảy giáp đỏ trắng, từ giữa hồ nổi lên đến quấn thân Nương ba vòng. Nương bàng hoàng sợ hãi, muốn chạy nhưng không được, ngã thân nằm như mất tri giác, không biết mê hay tỉnh. Được một lúc thì Giao long tự biến đi. Nương dần dần tỉnh lại, quay về cung sở, tâu lên Vua, kể về sự việc xảy ra. Vua nghe nói rất tức giận, muốn định triệu tập trăm quan viết thư bắn xuống hồ để vạch tội thủy cung. Vua bỗng nhiên thấy tinh thần lơ mơ, mơ màng như mộng, thấy một người thân khoác áo hồng, tay cầm cờ hồng, từ phương Nam đi đến, tự xưng là Thiên sư, nói với Vua rằng:
Ba năm sau thiên hạ có giặc Trinh Vĩnh đến xâm phạm, nên Thiên đình mệnh thủy thần xuất thế, đầu nhập làm con của hoàng gia để giúp nước dẹp giặc. Bệ hà xin chớ oán trách.
Nói xong Vua bỗng tỉnh lại, biết là mộng lành. Từ đó Cung phi cảm mà có mang thai. Đến ngày 15 tháng Giêng mùa Xuân năm Nhâm Dần sinh hạ được một người con trai. Đang khi sinh có khí lành bay khắp, hương thơm ngào ngạt. Sinh được trăm ngày Cung phi bế hoàng tử vào triều. Vua thấy vậy rất vui mừng, đặt tên là Hoàng Lang, lại cho Cung phi cùng với hoàng tử về cung Thị Trại để ở.
Qua ba năm thì có giặc Trinh Vĩnh dẫn quân đến xâm chiếm. Thiên hạ chia ba phần thì đã bị mất quá nửa. Triều đình nhiều phen giao chiến đều chịu thiệt hại. Vua bèn sai sứ thần đi chiêu mô người dân các chư huyện phủ xã trong thiên hạ, ai có anh tài, trí dùng dẹp yên được giặc thì sẽ ban cho chức trọng trong thiên hạ. Một hôm sứ thần đi chiêu mộ thiên hạ đến lúc về đi đến phường Thị Trại. Hoàng Lang lúc này tuổi mới lên ba, mới biết ăn uống, còn chưa biết nói năng. Đến khi nghe sứ giả chiêu mộ tới nơi, bỗng hỏi mẹ rằng:
Sứ giả chiêu mộ gì vậy?
Cung phi nói:
Nay có giặc Trinh Vĩnh đến xâm chiếm. Việc thiên hạ an nguy hệ trọng trong sớm tối. Hoàng tử miệng còn hôi sữa, sao có thể dẹp giặc mà hỏi làm gì?
Hoàng Lang nói:
Mẹ gọi sứ giả lại đây.
Cung phi bèn gọi sứ giả vào gặp. Hoàng Lang nói với sứ giả:
Ngươi hãy mau trở về tâu với Vua cha cho ta một con voi khỏe cùng một lá cờ lớn, tất cả đều phải dùng bằng đồ sắt, mau chóng đem đến. Quân giặc kia sẽ sớm được dẹp yên.
Sứ giả vâng mệnh về triều, dâng tấu lên Vua. Vua nhanh chóng truyền đúc một con voi sắc, tạo cùng đó một lá cờ lớn, đem đến cung Thị Trại. Khi đó Hoàng Lang thở mạnh một tiếng, bỗng thấy thân dài ra một trượng, tay cầm cờ lớn, nhảy lên voi khỏe, hô to một tiếng rằng:
Ta chính là Thiên tướng.
Voi chạy như bay. Voi khỏe rống lên một tiếng, trong miệng có lửa bay ra. Trong chốc lát đã đến thẳng đồn giặc. Hoàng Lang tay cầm cờ lớn chỉ vào doanh trại giặc, hô rằng:
Ta vâng sắc mệnh Hoàng thiên đến giúp nước dẹp giặc. Lũ giặc sẽ chết không còn một tên.
Nói xong bỗng thấy doanh trại giặc bốc lửa, trong khoảnh khắc cháy rụi. Lũ giặc đều chết cháy. Hoàng Lang quay trở về bái yết vua.
Thế rồi Hoàng Lang bỗng nhiên bị mắc bệnh đậu mùa. Sau ba tháng mà bệnh không thuyên giảm. Vua thân đến tận nơi thăm hỏi, nhân đó nói với Hoàng Lang:
Khanh là con của ta thì chứng đậu mùa này tất sẽ khỏi.
Hoàng Lang cúi mình khóc rằng:
Thần vốn là con ở thủy cung, không phải con của bệ hạ. Trước thần vâng theo mệnh Thượng đế xuất thế dẹp giặc. Ba năm đã hết hạn, phải quay trở về nhậm chức ở thủy cung.
Vua nghe vậy bèn nói rằng:
Khanh có công lao to lớn với nước nhà, mà chưa được báo đáp. Khanh muốn được như thế nào thì ta cũng sẽ đồng ý.
Hoàng Lang tâu rằng:
Thần xin Bệ hạ đem thần ra chỗ bàn đá bên hồ Tây, cùng với con voi chiến và lá cờ lớn mang đến đó. Thần xin được cầm cơ ném lên trên trời. Cờ bay đến nơi nào, xin Bệ hạ cho nơi đó là nơi thần được lưu danh ngàn đời. Thế là thần đã mãn nguyện rồi.
Khi đó Vua truyền quân lính đón Hoàng Lang cùng với voi và cờ đến thẳng trên bàn đá bên bờ hồ Tây. Vua thân đến tiễn, hai bên có các quan đi theo, phía sau là các tùy tùng. Đến chỗ bàn đá, Hoàng Lang tay cầm lá cờ lớn ném lên trên trời. Bỗng thấy trời đất
Mờ mịt, sông nước sóng dân cuồn cuộn. Giao long, ba ba trùng trùng vạn hàng nổi trên nước. Cá kình, cá sấu lớp lớp cuộn ngàn ánh sóng. Hoàng Lang bỗng hóa thành một con giao long trườn thẳng xuống hồ Tây mà hóa. Khi đó là ngày 15 tháng Hai. Con voi cũng phục xuống ở phía trái của bàn thạch bên hồ Tây. Được năm ngày sau lá cờ lớn bay trở về dừng ở bên phải. Vua thấy lá cờ lớn đó rất anh linh bèn phong tặng là Linh Lang Đại vương, cho lập miếu ở nơi bàn đá làm đền chính để hương lửa phụng thờ.
Việc xong Vua ban chiếu truyền thần dân thiên hạ nơi nào ngày trước lá cờ lớn hoặc có bay tới địa phương đó thì đều về kinh thành nghênh đón sắc mang về phụng thờ trong dân.
Khi ấy ở hai thôn Thượng và Trung xã Xối Đông huyện Tây Chân phủ Thiên Trường đạo Sơn Nam là cờ lớn cũng có bay tới, chỉ vào nơi trong dân. Từ đó nhân dân thấy bị động, vật nuôi không yên, nhân dân gặp nhiều thiệt hại. Đến khi nghe thấy chiếu truyền đến người thôn Thượng đã làm lễ lên kinh thành nghênh đón sắc Hoàng Lang về phụng thờ cùng với Quý Minh Đại vương ở cùng một nơi. Từ đó nhân dân được an khang, no đủ, vật nuôi yên ổn, đều là nhờ ơn đức lớn của Hoàng Lang. Trải các đời sau đều có nhiều linh ứng giúp nước giúp dân, nên có nhiều đế vương đều có phong thêm các mỹ tự, sắc chỉ, vạn năm hưởng huyết thực, hương lửa không dứt vậy.
Phong Linh Lang Đại vương. Cho phép thôn Thượng xã Xối Đông huyện Tây Chân phủ Thiên Trường đạo Sơn Nam phụng thờ…
(Phần sau là thần tích 3 vị thần khác, không dịch)
Hà Tĩnh là vùng dải núi Trường Sơn chạy ven biển từ cửa Hội đến Đèo Ngang. Vùng hữu ngạn sông Lam lẽ ra phải có nhiều nơi thờ Thủy phủ như ở phía tả ngạn thuộc Nghệ An nhưng nay lại không thấy có di tích nào thờ Thủy thần. Thay vào đó là lưu vực sông Nghèn đổ ra biển ở núi Nam Giới lại là nơi phổ biến tín ngưỡng thờ Tam Lang Long vương, là 3 vị thần rắn hiển linh thời vua Lê. Dày đặc nhất của việc thờ Tam Lang Long Vương là ở huyện Thạch Hà, với những di tích thờ riêng rẽ từng vị Ông Cả, Ông Hai, Ông Ba Long vương, hay thờ tập trung ở các đền lớn tại Thạch Trị như Miếu Ao, Miếu Ngu, đền Sắc Thạch Lạc.
Tín ngưỡng Tam Lang Long vương ở Hà Tĩnh còn phân bố ở một số nơi trên miền núi như ở đền Thái Yên của huyện Đức Thọ, đền Voi ngựa của huyện Can Lộc. Có chỗ như ở đền Ích Hậu huyện Lộc Hà sự tích có chút thay đổi, thay là 3 chàng Rắn là 3 chàng Vịt nở ra từ trứng. Tín ngưỡng Tam Lang Long vương còn thấy ở tận phía Nam của tỉnh vùng La Sơn (Cẩm Xuyên).
Vị thủy thần quan trọng thứ hai ở Hà Tĩnh là thần Cao Các với tên gọi khác nhau ở một số nơi như Cao Các Trà Sơn, Cao Các Mạc Sơn, Cao Sơn Cao Các. Thần Cao Các được thờ cả ở vùng ven biển (Thạch Hà) cũng như vùng núi (Can Lộc). Lối thờ tương tự như bên Nghệ An, nhưng sự tích thường không rõ ràng.
Trong số các thần Thủy phủ thì ở Thạch Hà còn thấy rải rác thờ Hà Bá Thủy quan. Ở vạn chài Lạc Thủy cũng của huyện Thạch Hà có thờ thêm Long Vương, với tên gọi cũng như sự tích không rõ ràng.
Trong số các Hải thần ở Hà Tĩnh duy nhất gặp làng Cương Gián của huyện Nghi Xuân thờ Đông Hải Đại vương Nguyễn Phục, tương tự như bên Nghệ An. Còn lại những nơi khác thường là thờ Đại Càn Nam Hải hoặc Sát Hải Hoàng Tá Thốn.
Tín ngưỡng thờ Linh Lang và Thủy Tinh không thấy có ở Hà Tĩnh. Ở Hà Tĩnh không có di tích thờ Chử Đồng Tử như lại có ngọn núi Nam Giới tại Thạch Hà tương truyền là đất Quỳnh Lâm, nơi Chử Đồng Tử gặp Tiên học đạo. Trên đỉnh núi có bàn cờ tiên như chứng tích cho sự kiện này.
Tín ngưỡng thờ thủy thần gắn với sông biển, nên phân bố và đối tượng tín ngưỡng tất nhiên có mối quan hệ chặt chẽ với điều kiện thủy văn của một vùng nhất định. Nghệ An là tỉnh có diện tích khá lớn, phía Đông là biển, phía Tây là dải Bắc Trường Sơn, nơi cư trú của các nhóm người dân tộc. Do đó trước hết tín ngưỡng thờ thủy thần sẽ tập trung ở vùng đồng bằng và trung du ven biển và ven các con sông. Vùng miền núi tuy không phải không có tín ngưỡng thờ thủy thần, nhưng do đặc điểm văn hóa dân tộc, ở đây không có những di tích tín ngưỡng như ở người Kinh.
Nghệ An được ngăn cách với Thanh Hóa bằng dãy núi chạy từ Quỳ Châu (Tây Nghệ An) ra tận biển, phần núi lớn giáp biển ở Quỳnh Lưu là hệ thống núi Xước. Do đó vùng đất xứ Nghệ hoàn toàn cách biệt với lưu vực của sông Mã và sông Hồng. Điều này lý giải sự vắng mặt của các thủy thần sông Hồng ở Nghệ An như Linh Lang, Bạch Hạc Tam Giang hay Chử Đồng Tử.
Bản thân tỉnh Nghệ An được chia thành 2 lưu vực bởi dải núi cắt ngang, kết thúc ở núi Mộ Dạ phân tách giữa Diễn Châu và Nghi Lộc. Các vùng thờ thủy thần ở xứ Nghệ do đó cũng chia thành 2 khu vực. Một là khu vực phía Bắc gồm các huyện Diễn Châu, Quỳnh Lưu ở ven biển và Tân Kỳ, Đô Lương ở trung du. Khu vực phía Bắc tỉnh chủ yếu là đồi núi, với các con suối, dòng sông nhỏ và ngắn. Trong khi đó ở phía Nam của tỉnh là tả ngạn của sông Lam, dòng sông bắt nguồn từ bên Lào chảy qua các tỉnh miền núi của Nghệ An như Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông, qua Anh Sơn, Thanh Chương, Nam Đàn, Hưng Nguyên rồi đổ ra biển ở vùng huyện Nghi Lộc.
Với đặc điểm đồi núi ven biển nhiều, vị thần phổ biến nhất thờ ở Nghệ An là vị “sơn thủy thần” Cao Sơn Cao Các. Vị thần này gặp ở cả phía Bắc và phía Nam của tỉnh, cả ở ven biển lẫn ở vùng rừng núi. Ở Nghệ An không còn gặp thần Quý Minh như ở Thanh Hóa nữa, thay vào đó có tới 166 nơi thờ Cao Sơn Cao Các. Riêng ở đền Tân Long xã Quỳnh Châu, Quỳnh Lưu thờ Cao Sơn Cao Các với tên Cao Sơn Cao Các Quý Minh Sơn thánh, cho thấy thực chất Cao Sơn Cao Các là tên thờ khác của vị thượng đẳng thần Quý Minh của vùng Bắc Bộ.
Ở vùng phía Bắc Nghệ An (Diễn Châu, Quỳnh Lưu) khá phổ biến sự tích thờ Rắn thần, với tên gọi Thánh Lành Thánh Cụt. Thậm chí thần rắn ở đây còn được phong tên hiệu là Càn Bí Đế vương Võ Sơn Long xà. Trong khi đó ở vùng phía Nam của tỉnh dọc sông Lam lại phổ biến hơn bộ các thủy quan trấn phương là Ngũ phương Ngũ đế hay Thủy phủ Ngũ vị Hoàng tử, thường phối với các thần khác trong Thủy phủ Công đồng.
Rất hiếm các vị Hải thần được thờ ở Nghệ An, có vẻ như thần Cao Sơn Cao Các đã chiếm vị trí này ở các vùng ven biển. Cá biệt có thần Long Hà Tây Hải Đại vương ở miếu Tây xã Quỳnh Nghĩa, Quỳnh Lưu và thần Đông Hải Đại vương ở Phúc Thọ, Nghi Lộc. Những “hậu thân” của Hải thần như Đoàn Thượng, Phạm Tử Nghi, Nguyễn Phục không thấy xuất hiện ở Nghệ An. Duy có thấy trường hợp của Sát Hải Đại vương Hoàng Tá Thốn xuất hiện với đặc trưng của Hải thần. Ngoài ra, đáng kể ở Nghệ An là sự phổ biến của tín ngưỡng thờ Đại Càn Quốc gia Nam Hải Tứ vị Hồng Nương, một dạng thần thuộc hệ văn hóa phương Nam.
Nổi bật ở Nghệ An là tín ngưỡng thờ Tam phủ, tức là Thủy phủ Công đồng. Các di tích lớn nhất nằm trên dòng sông Lam là đình Thanh Liệt xã Hưng Long của huyện Hưng Nguyên. Ở đây thờ 3 vị Thủy phủ chính thần rất rõ rệt là:
Thủy phủ Phù Tang Cam Lâm Đại đế
Thủy quốc Động Đình quân
Hà Bá Thủy phủ Động Đình quân
Đền Vạn chài Nghĩa Sơn xã Hưng Lam, Hưng Nguyên thì thay vào chỗ “Thủy quốc Động Đình quân” lại là thần Liễu Nghị, cho thấy thực chất 3 vị Thủy phủ này là:
Long Đỗ Động Đình Đế quân
Kinh Dương Vương
Lạc Long Quân
Đây là 3 vị vua đầu của dòng Động Đình xuống biển của người Việt. Sự xuất hiện của dòng Thủy phủ Động Đình ở Nghệ An cho thấy mối liên hệ giữa 2 vùng Nam – Bắc, Lạc – Hồng, Bắc Bộ – Trung Bộ thời lập quốc cách nay trên 4.000 năm.
Ở một số nơi tại Nghệ An có thờ vị thủy thần là Đức ông sông nước, thường cùng với Hà Bá Thủy quan. Có chỗ như nghè Giáp Tam xã Quỳnh Lập, Quỳnh Lưu cho biết Đức ông sông nước là Long vương. Như vậy có thể nhận định Đức ông sông nước là Kinh Dương Vương (Liễu Nghị) trong chính sử họ Hồng Bàng.
Duy nhất ở đền Cờn ngoài thờ Đại Càn Nam Hải có tượng thờ Bát Hải Long vương. Có lẽ đây là sự ảnh hưởng của tục thờ Bát Hải của miền Bắc. Còn Lạc Long Quân – Bát Hải Động Đình ở Nghệ An đã nằm trong bộ Thủy phủ Công đồng là Hà Bá Thủy phủ Động Đình quân. Tín ngưỡng Thủy phủ công đồng ở Nghệ An còn giữ đậm nét không chỉ trong các di tích mà còn trong các tư liệu sắc phong và văn cúng tại đậy.
Cuối cùng là về Thủy Tinh Thánh mẫu, thường được thờ cùng trong bộ Thủy phủ Công đồng trên dòng sông Lam, nhất là khi tại đây thờ thần Liễu Nghị (Thủy phủ Đại đức Long cung). Rải rác có những đền thờ Mẫu Thoải, tức là một dạng muộn hơn của Thủy Tinh Thánh mẫu khi đã đi vào trong Đạo Mẫu Tứ phủ.
Dòng sông chính chảy qua Thanh Hóa là sông Mã với 2 nhánh, một chính nhánh chảy từ Quan Hóa, Bá Thước qua Cẩm Thủy, Vĩnh Lộc. Một nhánh ngắn hơn là sông Chu bắt nguồn từ hồ Cửa Đạt ở Thường Xuân, chảy tới Ngã ba Đầu gần núi Đọ, Hoằng Hóa thì hợp với nhánh chính của sông Mã, rồi đổ ra biển tại Sầm Sơn. Lưu vực sông Mã là nơi tập trung chính các di tích tín ngưỡng thờ Thủy thần của xứ Thanh.
Bên cạnh đó, còn 2 khu vực thờ thủy thần nữa ở xứ Thanh với quy mô nhỏ hơn. Một là vùng núi đá vôi ven biển ở Nga Sơn, Bỉm Sơn. Hai là vùng phía Nam sông Yến thuộc Tĩnh Gia (nay là Nghi Sơn).
Chính dòng thủy thần Linh Lang Đại vương gặp rải rác ở 8 nơi dọc theo sông Mã và vùng Nga Sơn. Đáng kể là ở đình Bồng Thôn và đình Bồng Hạ xã Vĩnh Minh, Vĩnh Lộc có sự tích là hoàng tử Linh Lang thời Lý. Ở làng Vĩnh Ngọc, xã Đông Lĩnh, TP. Thanh Hóa có thần tích Linh Lang thời Lý được chép chung với Trung Thành Đại vương trong bộ nhất bào ngũ tử thời Hùng Vương.
Nhóm “sơn thủy thần” Quý Minh ở Thanh Hóa cũng chỉ gặp ở vùng sông Mã và Nga Sơn với số lượng khá nhiều. Đặc biệt ở vùng này bắt đầu xuất hiện tín ngưỡng thờ thần Cao Các, dường như nối tiếp cách thờ Cao Các Quý Minh từ vùng cửa Thần Phù (Ninh Bình). Thống kê trong Thanh Hóa chư thần lục có 10 nơi thờ Quý Minh và có tới hơn 40 nơi thờ thần Cao Các ở xứ Thanh.
Tín ngưỡng thờ các vị Thủy thần cùng bọc ở Thanh Hóa không nhiều, có 8 di tích dọc theo hệ thống sông Mã và sông Chu và 2 di tích ở vùng Tĩnh Gia. Trong số đó ngoài thờ Bạch Hạc Trung Thành Đại vương, còn thường là thờ hai anh em thần rắn ông Dài ông Cụt, nhất là ở vùng thượng nguồn sông Mã, trong khu vực người Mường. Cá biệt ở đình Đệ Nhị, xã Thiệu Tiến, Thiệu Hóa có thờ Câu Mang Đại vương.
Khác với các vị thủy thần cùng bọc, ở ven biển xứ Thanh rất phổ biến thờ các Hải thần. Tuy nhiên ở đây thường gắn sự tích vào các nhân thần thời sau như có tới hơn 70 nơi thờ Đông Hải Nguyễn Phục ở cả 3 vùng của xứ Thanh. Có khoảng 9 nơi thờ Đông Hải Đoàn Thượng ở 2 khu ven biển là Nga Sơn và Tĩnh Gia. Rải rác ở vùng núi phía Bắc của tỉnh có thờ Nam Hải Long vương, Đông Hải Long vương.
Trong bộ Thủy phủ công đồng tập trung nhất vẫn là ở vùng sông Chu – sông Mã. Phổ biến ở đây là các “Long thần” như Long Cung Thủy thần, Thủy quan Long vương, Long Uyên tôn thần, Long Uyên Đĩnh tú, Đậu uyên Long vương (chữ Uyên chỉ nơi nước sâu, thường là thủy thần các vực), Tỉnh tuyền Long vương (thần giếng).
Nhiều làng chài dọc sông Mã của thành phố Thanh Hóa, gọi là Thủy Cơ, có tính ngưỡng thờ Thủy phủ Công đồng gồm Hà Bá, Thủy quan Long vương, Thủy quan tôn thần, Thủy tộc tôn thần. Ở khu vực Hoằng Hóa có nơi thờ thần thuồng luồng là Ngu giang tôn thần. Ở Tiên Bạn, Thọ Xuân lại có thờ thần Quảng Tế Long Đỗ hiển linh giúp Lê Lợi. Khu vực sông Yến, Tĩnh Gia có vài nơi thờ Hà Bá và Thủy quan.
Các vị Thủy phủ Hải thần ở Thanh Hóa nổi bật là Bát Hải Long vương ở vùng núi phía Bắc, mà đền Bát Hải ở TX. Bỉm Sơn là được biết đến nhiều nhất. Trong sâu đất liền ở Xuân Phổ, Thọ Xuân lại có tục thờ Đại Hải Long vương, gắn với trò Xuân Phả nổi tiếng ở đây. Ở Hoằng Hóa có thờ thần Hải Giác Long vương, với sự tích về một tấm gỗ thiêng trên biển. Không thấy ở phía Nam của tỉnh có thờ Thủy phủ Hải thần.
Trong dòng Lạc thị ở xứ Thanh có vài nơi thờ những người con của Lạc Long Quân đi khai phá miền biển. Được biết nhiều là ở Hổ Bái tại xã Yên Bái, Yên Định, là người con thứ 11 theo cha xuống biển. Ở An Hóa, Hậu Lộc có thờ Giải Uyên là con vua Mạc Long (Lạc Long). Ở Ngọc Hộ, Hoằng Hóa thờ Minh Quang Linh Ứng con vua Lạc Long.
Thủy Tinh Thánh mẫu được thấy thờ ở phía Bắc của tỉnh, như đền Bông thờ Mẫu Thoải trong cụm di tích Hàn Sơn tại Hà Trung. Thủy Tinh Tiên Dung Phu nhân ở Bãi Nại, Nga Sơn. Còn lại rải rác có thờ Thủy Tinh Công chúa nhưng lại là sự tích vào thời Trần hay những thời sau.
Phân bố các di tích thờ Linh Lang và Quý Minh ở Thanh HóaPhân bố các nơi thờ Thủy thần cùng bọc và Tứ Hải Long hầu ở Thanh Hóa.Phân bố các di tích thờ Thủy phủ công đồng, Thủy Tinh thánh mẫu và dòng Lạc Thị ở Thanh Hóa.
Dịch theo bản ngọc phả chép tay hiện lưu tại đình Hội xã Tuy Lộc, Cẩm Khê, Phú Thọ. Những phần in nghiêng là những ý khác so với bản dịch trong Lý lịch di tích của đình Hội.
Ngọc phả triều Hùng Do Thượng thư bộ Lễ triều Lê, Quản giám Tri điện vâng sao ngọc bảo cổ truyền
Hoàng đế Bệ hạ phụng ban sắc văn thần hiệu như sau:
Sắc phong Đương cảnh thành hoàng Tuấn triết Hồng huân Anh linh Hiển ứng Hùng Nghị Đại vương Thượng đẳng thần.
Sắc phong Đương cảnh thành hoàng Phổ thông Quảng tế Uy vũ Thần công Cao Sơn Đại vương Thượng đẳng thần.
Sắc phong Đương cảnh Thành hoàng Thánh trí Thần tài Nguy đức Phổ huệ Cao Minh Đại vương Thượng đẳng thần.
Sắc phong Đương cảnh Thành hoàng Dương võ Trợ quốc Ý đức Thần uy Hổ Lang Đại vương.
Sắc phong Đương cảnh thành hoàng Yểu điệu Phong tư Nương ả Diễn Kỳ Công chúa.
Sắc phong Đương cảnh thành hoàng Vĩ tích Phong công Lý Lý Cửa Đường Đại vương.
Sắc phong Đương cảnh thành hoàng Từ huệ Trinh thục Đoan trang Ý hành Nương nương Nhược Ứng Công chúa tôn thần.
Cho phép trang Áo Lộc, huyện Hoa Khê, quận Lâm Thao, trấn Sơn Tây phụng thờ để giúp bảo vệ lê dân. Vâng thay!
Xưa trời Nam mở vận, vạch ngang núi sông theo sao Dực sao Chẩn. Nước phương Bắc ban đầu được phong thẳng hướng sao Đẩu sao Ngưu mà chia ranh giới. Từ thủa Đế Minh là cháu ba đời của vua Viêm Đế đi tuần thú ở Ngũ Lĩnh phương Nam, gặp thần được nữ Vụ Tiên mà sinh ra Lộc Tục. Lộc Tục hơn hẳn người anh Đế Nghi nên Đế Minh muốn truyền lại ngôi báu. Lộc Tục cố chối từ nhường cho anh. Do vậy Đế Minh lập Đế Nghi làm Thái tử trị vì phương Bắc, còn phong cho Lộc Tục ở phương Nam, hiệu là Hồng Bàng thị, tên Kinh Dương Vương.
Kinh Dương Vương vâng thừa mệnh vua cha đem oai trời đến vùng núi Nam Miên. Thấy núi chạy nhấp nhô, nước chảy quanh co, bèn lập đô ấp để định cho bốn phương đến triều cống. Một hôm nhân nhàn rỗi vua đi tuần thu. Bất chợt thuyền rồng chạy thẳng đến hồ Động Đình. Vua sai dừng thuyền trên mặt nước mà ngắm cảnh. Chợt thấy một người con gái mỏng eo tuyệt sắc, từ dưới đáy nước xuất hiện, dung nhan tuyệt đẹp. Vua sai chèo thuyền đến hỏi thăm. Đáp rằng:
Thiếp tên là Thần Long, vốn là con gái của Động Đình Quân.
Vua thích thú bèn dẫn vào trong thuyền. Sau đó hỏi lấy về, lập Thần Long làm chính chủ hậu cung. Thần Long sinh Lạc Long Quân, tên húy là Sùng Lãm. Long Quân lấy con gái vua Động Đình Đế Lai tên là Âu Cơ, gặp ứng điềm rồng, sinh một bầu trăm trứng vào ngày 25 tháng Mười hai. Có Tứ đại Thiên vương giáng xuống bảo vệ mà nở ra trăm trai. Tám tướng nhà trời phù giúp đến khi biết cười nói thì tám tướng bay về trời.
Đế cầu đảo trời đất thì có một người trời xưng là thần Tây thành, sinh vào thời Hoàng Đế, có một cuốn sách trời có thể bói mà biết được trời đất, hô danh chúng tiên, nên đặt được cho trăm tên, trăm hiệu, trăm họ, trăm vương vậy, mà phân thứ tự. Trăm trai chầu nhận tên gọi và thứ bậc. Anh em đều vui mừng, theo như vậy mà lưu truyền. Người con trưởng nối ngôi vua tên là Hùng Lân, hiệu là Hiền, gọi là Thượng thánh Cao minh Nguyên triều Hoàng đế.
Long Quân truyền ngôi cho Thái tử xong thì nói với Âu Cơ rằng:
Ta là giống rồng, nàng là nòi tiên. Nước lửa tương khắc, khó mà hợp cùng nhau.
Bèn phân 50 người con theo mệnh cha. 50 người con theo về mệnh mẹ, chia nhau các đầu núi góc biển, đều thuộc mệnh theo Hiền Vương. Những người theo cha về biển gọi là Thủy thượng linh thần. Tuy cùng chia biệt, nhưng cùng ở một thời. Khi nghe có việc thì lập tức đến tương trợ. Do đó triều Hùng trị nước được hơn 2650 năm, thật là lâu dài vậy.
Đến đời Duệ Vương, sự yên bình kể đã lâu, nước chảy đã đầy, nên truyền quốc cho Thục Vương. Thục Vương vốn là Bộ chủ Ai Lao, cũng là tông phái của Hùng Vương. Tuy nhiên, truyền rằng khi cùng chung lửa với trời Nam thì sau đó Thục lập cột đá ở trên núi Nghĩa Lĩnh, chỉ trời mà thề rằng:
Trời đất không rời, mãi còn dòng dõi Hùng Vương. Nước Nam trường tồn hệ mạch con cháu.
Kể rằng:
Hùng Nghị Vương là Thái tử của Hùng Hy Vương. Mẹ là Dương Thị An sinh Nghị Vương vào ngày sinh ngày 12 tháng Ba. Lúc đó ngày đêm đang tranh tối tranh sáng thì sinh ra Hoàng đế. Vua lên ngôi, đường đường nối tiếp 17 nhành họ Hùng, bỏ cung cất giáp, không dùng quân binh để an dưỡng thiên hạ. Nhân dân theo sự giáo huấn sáng suốt. Được năm mươi năm bỗng nghe thư từ biên giới gửi về báo gấp. Chủ bộ phụ đạo Ai Lao cầu viện vì tướng Thục đến xâm chiếm. Nghị Vương bèn tuyển 8 vạn tinh binh, xuất quân sang Ai Lao để cứu Bộ chủ. Lạc tướng Hổ Lang hầu cùng Uy Lang, Huệ Lang và Mị nương nương Diễn Kỳ cùng theo giá đi chinh phạt Đông Bắc. Thuyền rồng đi thẳng đến Hoa Khê thì thấy có một người tên Lý, tự đón quỳ tâu ở bên đường, xin được theo quân đi lập công. Lại thấy có một người con gái xinh đẹp từ mặt nước nổi lên. Vương hỏi thì đáp rằng:
Thiếp tên là Công chúa Từ Huệ, là con của Long Vương, xếp hàng thứ 5.
Ông Lý họ Lý đón vào trong trang Áo Lộc. Vua trú quân ở trong trang. Các Quan lang, Lạc tướng vâng mệnh đóng quân ở các nơi trong trang động. Người đời sau nhân thấy linh thiêng nên lập thành đền thờ (cộng có 5 miếu). Nghị Vương cùng với các lang tướng điều quân đánh Thục chúa. Quân Thục nghe tin bèn viết thư gửi tới Nghị Vương mà tạ rằng:
Thần đâu dám giơ càng bọ ngựa mà chống lại cỗ xe vạn thặng.
Thục chúa lui quân, không dám dòm ngó Ai Lao nữa. Nghị Vương dẫn quan về thành đô Phong Châu, hưởng nước được hơn trăm năm thì mất (tức ngày mồng 7tháng Ba). Chôn cất ở núi Quy Bối (nay là chùa Hoa Long). Thái tử Duệ Vương lên ngôi, là đời Hùng thứ 18.
Hùng Cao Sơn là quan, con trai thứ 6 của Nghị Vương. Mẫu là Phạm Thị Doanh sinh Cao Sơn vào ngày mồng 10 tháng Giêng, tên húy là Uy Lang, gọi hiệu là Cao Sơn (nhân việc lên núi Hùng Lĩnh thấy có mây ngũ sắc về mang thai nên đặt như vậy).
Ba năm sau vào ngày mồng 7 tháng Giêng lại sinh một con trai, có thần thái đẹp đẽ, nên đặt tên là Huệ Lang, gọi hiệu là Cao Minh (nhân vào giờ Ngọ ban ngày nên đặt hiệu như vậy).
Hai chàng đến khi trưởng thành, ngày ngày thường ở yên trong lầu Nam mà học xem sách, không cần người chỉ bảo, lại thạo lược thao, hùng tài vượt đời. Khi theo vua cha Nghị Vương đi dẹp giặc Thục đến vùng trên của Hoa Khê, đóng quân tại đồn Áo Lộc. Đến khi xe vua trở về đô thành, lại trừ dẹp được yêu quái, hổ sói, quỷ mị. Dẹp xong mãn nguyện nên đi chơi khắp nơi ở 13 châu. Đâu đâu cũng tới. Cùng ngắm cảnh khắp các núi khe. Sau hóa (Uy Lang hóa vào ngày 12 tháng Giêng, Huệ Lang hóa ngày 15 tháng Giêng) ở trang Lãng Ngọc núi Tam Điệp (nay còn đền ở đó). Hai chàng được 75 trang động phụng thờ.
Hổ Lang Đại vương vốn là người Tam Đới, Phong Châu (tức nay là trang Cẩm Đái). Cha tên Hồ Công Năng, mẹ là Trần Phương Lan. Vào đêm mồng 10 tháng Hai nằm mơ thấy rằng: Năm tới sẽ sinh con, lại được đại quý, là sao sáng Võ Đức giáng sinh để giúp nước trừ tàn, giúp dân dẹp nạn. Dứt lời, Trần Thị bỗng tỉnh lại biết là điềm ứng tốt lành, bèn để nghiệm xem thế nào. Đến sau 3 tháng thì thấy đúng là có mang thai. Đến ngày 16 tháng Mười hai năm Mậu Tuất tối đó thấy ánh sáng chiếu đầy nhà, trở dạ mà sinh ra một người con trai. Mọi người đều vui mừng. Đến khi trưởng thành thì tài kiêm văn võ, phẩm cách kỳ lạ, mặttựa da sắt, mắt sáng như điện, bước đi như rồng hổ, thực là một người con trai kỳ lạ. Nhân đó đặt tên là Võ Tuấn. Duệ Vương sau ban húy là Hổ Lang tướng, hóa vào ngày 20 tháng Ba. Nguyên theo Nghị Vương dẹp giặc Thục, đóng quân ở trang Áo Lộc. Sau được đặc biệt phong ở đó, ban hiệu là Hổ Lang hầu, có 27 đền thờ phụng. Miếu quay hướng Càn Tốn, rất là đẹp đẽ vậy.
Công chúa là con gái thứ 8 của Nghị Vương. Mẹ là Phạm Thị Doanh. Vào ngày mồng 8 tháng Mười một sinh ở lầu Tây, tên gọi là Công mị nương Diễn Kỳ. Hóa ngày 13 tháng Mười một. Đến ngày 23 thì tế chôn cất ở ấp Thủy An. Nguyên theo Nghị Vương đến Áo Lộc, nhân xem sông núi thấy có một địa thế là đất nơi vạn đời thành hoàng không đổi, nên có khấn người anh nếu có linh thiêng thì hôm sau đến giúp cho được cùng hưởng lộc. Khấn xong Công chúa quay trở về đến bên bờ sông. Bỗng nhiên mưa to gió lớn nổi lên, rồi Công chúa đã hóa.
Cửa Đường Đại vương là người trên trang Áo Lộc trong triều Hùng Nghị Vương. Cha họ Dương kết bạn với Mai Huyền Tiêm. Khi Đế phạt Huyền Tiêm thì ông đổi sang họ Lý. Ngày 15 tháng Mười hai sinh một người con trai, sắc vẻ cùng phong tư chỉnh tề, có tài ba lược sáu thao, văn võ cùng tài. Đến khi lớn thì chiêu quân ý muốn giúp nước. Nhân Nghị Vương đi qua trang, đón Đế đóng quân, theo quân mà lập công. Sau theo nghiệp võ, làm quan tới chức Hữu quân Lạc tướng. Đến khi mất người dân trong làng xem trọng công lao đó với quốc gia, có đức tốt lành với nhân dân mà lập đền để thờ. Rất là linh ứng. Tên húy là Lý. Gặp Nghị Vương ở trên đường nên nhân đó được ban tên là Cửa Đường. Hóa vào ngày 18 tháng Mười một. Đến ngày mồng 8 tháng Mười hai thì chôn cất. Miếu ở bên hướng Cấn Khôn có giếng nước là dấu tích.
Nhược Ứng là con của Long Vương, lên bờ vào ngày mồng 8 tháng Giêng gặp Nghị Vương (lấy làm ngày sinh), xin theo quân lập công. Đến khi dẹp được giặc thì lên phía ngược dòng nước mà hóa (tức ngày 18 tháng Ba). Nghị Vương hỏi thì nói rằng:
Tên là Từ Huệ, con của Long Vương.
Cho nên đặt tên thụy là Công chúa Nhược Ứng.
Niên hiệu Hồng Đức năm thứ nhất tặng sắc cho 7 vị, còn những người chưa được gia phong thì phong thêm một bậc. Niên hiệu Cảnh Hưng từ đầu đến năm thứ 42 tặng mỗi vị hai chữ, sắc cho phụng thờ theo như trước, làm rạng sự tích mà làm lễ chay các loại. Công chúa thì dùng nước sạch. Chúa thì dùng rót một phong rượu trắng. Còn lại thì dùng thịt trâu làm cỗ. Đấu vật. Diễn rối ôi lỗi. Nghênh đón voi ngựa, đi đầu đặt ngũ quả, mía, chuối xanh, cỗ bánh.
Lại cung thỉnh: Đức vua Hao Khắc Đại vương, Đức vua Hao Sóc Đại vương, Đức vua Lãng Lương Đại vương, Đức vua Vực Chỉ Đại vương, Đức vua Ngã Tư Đại vương, Đức vua Quỳnh Hoa Công chủ, Đức vua Quế Hoa công chủ, Đức vua Bạch Hoa Công chủ, Cùng hai bên Hai bộ Tiên cung Nương nương, Mười ba Vương tử, Tám vị Long minh vương.
Thái Bình là tỉnh có cửa chính của sông Hồng đổ ra biển nên trong tín ngưỡng thờ thủy thần ở đây đặc biệt xuất hiện một hệ thống các vị thần biển mà nơi khác không có. Tuy nhiên, điều khác lạ nữa là các thần biển ở Thái Bình không phải chỉ có 1 vị, mà lại có đủ cả bốn phương tứ hải. Bản chất các vị Hải thần này ra sao, sẽ được làm sáng tỏ qua phân tích hệ thống các di tích thờ thủy thần ở Thái Bình.
Các vị hải thần được nói đến ở Thái Bình là những vị thủy thần, tức là những vị thần có nguồn gốc từ thời Hùng Vương, liên quan đến việc trị thủy, có thể là hiển linh qua các thời. Tên gọi “thủy thượng linh thần” hay “thủy tinh” dùng trong Hùng Vương Thánh Tổ ngọc phả để chỉ những người con của Lạc Long Quân đã được chia trị các vùng đầu sông góc biển. Phân biệt với các vị sơn thần là dòng theo mẹ Âu Cơ trị nhậm các nơi núi rừng, đồi gò.
Nếu từ “Sơn” được dùng chỉ các vị tổ thời Hùng Vương ở miền rừng núi thì từ “Hải” là để chỉ các vị thủ lĩnh cai quản vùng sông nước. Hải không chỉ có nghĩa là biển, mà là vùng ven sông nước nói chung. Do đó không chỉ có Đông Hải, Nam Hải, mà còn có Bắc Hải, Tây Hải, cho dù về mặt địa lý ở phía Bắc và Tây nước ta không hề có biển.
Phải chú ý là tên gọi các hải thần rất dễ lẫn với các nhân thần, tức là những nhân vật lịch sử ở thời kỳ gần hơn, đã từng cai quản hay có công nghiệp ở vùng ven biển Đông. Phổ biến nhất là Đông Hải Đại vương Đoàn Thượng, một vị tướng nổi lên cuối thời Lý chống lại nhà Trần ở miền duyên hải. Cũng là tên Đông Hải Đại vương còn có vị tướng thời Lê là Nguyễn Phục, từng phụ trách việc quân lương, đã trung nghĩa tử tiết chịu tội để bảo vệ cho đoàn quân khỏi mưa bão trên biển Đông.
Nam Hải còn vốn là tên để chỉ khu vực miền Bắc nước ta thời kỳ trước Công nguyên, nên những vị quân chủ của nước ta khi đó khi hóa được tôn thần là Nam Hải Đại vương. Đó là vua An Dương Vương, người khi cùng đường chạy ra biển theo thần Kim Quy mà hóa. Đó cũng có thể là Triệu Vũ Đế, người đã khởi nghĩa chống Tần từ đất Thái Bình, nên được tôn là Nam Hải Đại vương hay Nam Hải Tạo lực.
Còn có Đại Càn Quốc gia Nam Hải Tứ Vị Hồng Nương, tuy là thủy thần nhưng theo một mạch tín ngưỡng khác với thủy thần họ Hùng. Tên gọi Đại Càn Quốc gia Nam Hải cho thấy Nam Hải ở đây là chỉ “quốc gia”, chứ không phải là chỉ miền biển.
Cũng là thời Hùng Vương với tên gọi là Nam Hải, nhưng lại không phải là thủy thần. Đó là Quan Âm Diệu Thiện, con gái vua Hùng đã đi tu đắc đạo ở vùng đất Nam Hải. Quan Âm Nam Hải là vị sơn thần điển hình bởi đây chính là bà chúa Ba, tức bà chúa Thượng Ngàn.
Các di tích thờ Hải thần ở Thái Bình có thể được chia thành ba tuyến như sau.
Cụm di tích ven sông Luộc
Sông Luộc là dòng sông không đổ trực tiếp ra biển mà có dòng chảy ngang nối giữa sông Hồng và sông Thái Bình. Sông Luộc chảy qua địa phận hai huyện Hưng Hà và Quỳnh Phụ, với số các di tích thờ Hải thần tương ứng là 6 di tích ở Hưng Hà và 7 di tích ở Quỳnh Phụ. Có thể thấy đây là còn số khá khiêm tốn khi so với những cụm di tích ở phía Nam Thái Bình.
Trong số các Hải thần vùng sông Luộc chiếm lượng di tích nhiều nhất là thần Đông Hải. Sự tích vị thần này thường là không được biết rõ. Duy nhất ở xã Phú Sơn, huyện Hưng Hà có sự tích vị Đông Hải Đà La Đại vương hiển linh vào thời Lý đánh giặc Hồ Tôn Tinh.
Một số di tích khác ở vùng sông Luộc thờ Nam Hải, hiếm hơn có thần Tây Hải, nhưng cũng tương tự, đều không rõ sự tích. Thần Bắc Hải không thấy xuất hiện trong các di tích tín ngưỡng ở khu vực này.
Cụm di tích ven sông Diêm Hộ
Diêm Hộ là một sông nhỏ, bắt nguồn từ phía Nam huyện Quỳnh Phụ nhưng lưu vực của nó chủ yếu nằm ở huyện Đông Hưng và Thái Thụy. Thế nhưng điều lạ là lưu vực sông nhỏ Diêm Hộ lại là nơi có số lượng các vị Hải thần nhiều nhất. Huyện Đông Hưng có khoảng 14 di tích. Huyện Thái Thụy có khoảng 16 di tích. Số liệu này cho thấy mức độ dày đặc các di tích thờ Hải thần ở ven sông Diêm Hộ. Đơn cử như ở 1 xã Thái Sơn, huyện Thái Thụy, là tổng Trừng Hoài xưa, có tới 8 di tích thờ Hải thần. Trong đó 1 làng xưa chia thành vài thôn, mỗi thôn thờ 1 hoặc 2 vị ngay trong cùng 1 làng, với đầy đủ bộ 4 vị Đông Hải, Nam Hải, Tây Hải và Bắc Hải.
Với số lượng và mức độ phong phú đủ Tứ Hải thần như vậy thì có thể nhận định rằng vùng sông Diêm Hộ là nguồn gốc phát sinh của tín ngưỡng thờ Hải thần ở Thái Bình. Cũng ở khu vực này, các thần đã được thờ với sự tích tương đối rõ ràng hơn, mà cụ thể có thể thấy qua một số di tích.
Nam Hải Đại vương ở đình đền An Cố, Thái Thụy là vị thần có sự tích khá đầy đủ, cho biết ngài mang họ Phạm, là một vị tướng thời Hùng Duệ Vương. Khi ngài cai quản đã dẹp yên nạn hồng thủy, trừ thiên tai dịch bệnh cho nhân dân trong vùng. Ngài dạy bảo thần dân làm ăn thịnh vượng. Khi đất nước có giặc Thục xâm phậm, ngài cùng với Tản Viên Sơn Thánh, Cao Sơn, Quý Minh đánh tan quân Thục. Có thể thấy sự tích về Nam Hải Đại vương ở An Cố không khác gì sự tích về Trung Thành Phổ Tế Đại vương của vùng sông Hồng. Vị thủy thần họ Đào này từng nắm chức vụ là Thổ Lệnh Thống quốc Lạc Long hầu Nam long Trưởng lệnh, tức là cùng hướng Nam trong bộ nhất bào ngũ tử.
Sự tích về Tứ Hải thần rất bất ngờ được biết qua di tích đình Lưu ở xã Đông Phương, huyện Đông Hưng. Theo thần tích của làng cho biết: dưới thời An Dương Vương, vua Thục mắc mưu quân Triệu Đà nên để đất nước rơi và tay giặc. Khi đó Vũ Cao Lỗ tướng công và một số trung thần con vua đã cùng ông Đồng phó tướng luyện binh. Được tin vua Thục thua trận rẽ nước xuống Trấn Thuỷ Phủ, hai ông chỉ còn biết kêu trời lạy đất cho quân sỹ trở về. Hai ông cho lui tới địa đầu vùng an lạc và cho quân nghỉ ở thôn An Vĩnh, nằm nghỉ trong miếu hai ông mộng thấy Thục An Dương Vương than vãn và phán rằng: Thượng đế đã phán xét chuẩn cho được trở lại Long Cung và truyền phong làm Nam Hải trấn trị hoành hợp các cửa sông để xoá đi cho tội lỗi đã qua vì trước đây hiếu thảo phụng sự Động Đình Đại đã có công. Ngoài ra hiện thân đã nhận việc là phối hợp với Đông Tây Bắc Hải các vị Long Vương đi cứu giúp dân cấy trồng được sinh lợi. Nói xong hai ông không thấy bóng dáng Thục An Dương Vương mà thấy một vị quan ở cổ miếu An Lạc xuất hiện. Tay trung thần cầm đao chiến của Thượng đế trao cho 2 ông, 2 ông đọc tờ chiếu, đọc xong trông lên cũng không thấy vị thần quan đâu. Hai ông liền ra sân lạy tạ Hoàng Thiên và quyết tâm thực hiện lời chiếu. Tiếp từ đó về sau các cửa sông, bờ biển nếu có gió bão, thuỷ tai dẫn đến đê điều bị phá huỷ, các vị thần đã luôn giúp dân trấn trị và hoành hợp thu được kết quả khả quan rất lớn. Do vậy các nơi đã lập đền miếu thờ tự – các vua trần gian hạ phối đều nam cấp duệ, hiện theo cửa sông thuộc phương nào là phong sắc với hàm vị: Đông – Tây –Nam – Bắc Hải Vĩnh trấn Đại Vương(sao từ bản gốc ở xã An Lạc trên đề Đình Lưu xã Đông Phương – Huyện Đông Hưng- cùng phụng sự).
Từ thần tích trên ta thu lượm được một số thông tin quý giá:
Thục An Dương Vương khi thua mất nước đã xuống Thủy phủ rồi được phong là thần Nam Hải, trấn trị các cửa sông. Thần tích gốc lấy từ xã An Lạc (nay là xã Đông Vinh cùng huyện Đông Hưng)
An Dương Vương hiển linh “phối hợp với Đông Tây Bắc Hải các vị Long Vương đi cứu giúp dân cấy trồng được sinh lợi”. Đây là thông tin rất then chốt cho biết các vị Hải thần là các Long vương hiển linh làm phúc thần cùng với An Dương Vương.
Các vua đời sau theo cửa sông thuộc phương nào là phong sắc với hàm vị: Đông – Tây – Nam – Bắc Hải Vĩnh trấn Đại Vương.
Như vậy Nam Hải An Dương Vương lại có liên quan đến Thủy phủ Động Đình và Tứ Hải Long Vương.
Một chút manh mối khác về Tây Hải Đại vương là ở đình Bái (Long Bối) xã Đông Hợp, huyện Đông Hưng kể rằng Tây Hải Đại vương là vị thần có công hộ đê thời Hồng Đức, phối thờ ở đây cùng với Đông Hải Nguyễn Phục và Nam Hải An Dương Vương. Sự tích tương tự về Tây Hải Đại vương hiển linh thời Lê còn gặp ở khu vực phía Nam Thái Bình trên lưu vực sông Trà Lý. Còn đối với thần Bắc Hải, là vị thần ít gặp thì không rõ sự tích, chỉ biết là phúc thần.
Sông Diêm Hộ cũng là nơi phát tích của sự tích vua cha Bát Hải Động Đình. Theo thần tích thôn Đào Động (nơi có đền Đồng Bằng thờ vua cha Bát Hải) thì Quý Nương sinh một bọc trứng, nở ra 3 con rắn. Con rắn thứ nhất ở cửa sông trang Đào Động. Con rắn thứ hai chạy về cửa sông trang Thanh Do. Con rắn thứ ba chạy về nằm ở trang Hoa Diêm. Ba địa điểm xuất thế của các vị thủy quan Động Đình này là Đào Động – Thanh Do – Hoa Diêm, đều nằm dọc theo sông Diêm Hộ. Ba con hoàng xà sau hóa thành ba vị tướng quân, giúp vua Hùng đánh Thục và xây dựng làng xóm quê hương miền Đào Động.
Cũng ở Đào Động còn thờ và có thần tích 5 vị hoàng tử con vua Bát Hải Động Đình là 5 vị thủy quan đã giúp vua Hùng đánh Thục rồi 5 vị được cử đi quản trị các cửa biển. Giống như thần Nam Hải ở An Cố, đây cùng là những người anh em sinh cùng bọc dưới thời Lạc Long Quân (vua cha Bát Hải), làm thủy thần trấn trị ngũ phương. Tức cũng là Ngũ vị tôn quan trong Công đồng Thoải phủ.
Sông Diêm Hộ ngày nay là dòng sông nhỏ, nhưng với sự phát tích dày đặc của các vị Hải thần ở đây thì rất có thể trong quá khứ nơi đây đã từng là cửa chính của sông Hồng đổ ra biển Đông. Có như vậy thì đây mới có thể tập trung nhiều nơi thờ Hải thần theo lối cổ như vậy.
Cụm giữa sông Trà Lý và sông Hồng
Khu vực thờ Hải thần ở phía Nam Thái Bình không bám theo 2 dòng sông lớn ở đây là sông Hồng và sông Trà Lý, mà phân bố ở khoảng giữa lưu vực hai con sông này. Có thể thủy văn thời cổ sử khác so với vị trí hiện tại của sông Hồng và sông Trà Lý.
Về số lượng di tích thờ Hải thần có huyện Vũ Thư với 3 di tích, TP. Thái Bình có 2 di tích. Huyện Kiến Xương có 12 di tích, huyện Tiền Hải có 7 di tích. Tuy số lượng di tích không hẳn nhiều như lưu vực sông Diêm Hộ nhưng các di tích ở đây thường là phối thờ 2, 3 vị Hải thần. Thường gặp là thần Đông Hải hoặc Nam Hải phối thờ với Tây Hải. Thần Bắc Hải không gặp ở khu vực phía Nam này.
Điển hình ở khu vực này là đền Vua Rộc tại xã Vũ An, huyện Kiến Xương, là một trong Chân Định tứ linh từ. Đền thờ 2 vị thần Đông Hải và Tây Hải Đại vương. Cho dù có sách cho rằng thần Đông Hải này là Đoàn Thượng thời Lý – Trần, nhưng ngay câu đối trong đền nói:
不記何年跡扥南交雙顯聖 相傳此地名髙真定四靈神 Bất ký hà niên, tích thác Nam Giao song hiển thánh Tương truyền thử địa, danh cao Chân Định tứ linh thần. Dịch: Không biết tự năm nào, dấu thác Nam Giao hai hiển thánh Lưu truyền nơi đất nọ, danh cao Chân Định bốn linh thần.
Câu đối cho biết đây là 2 vị cổ thần đã hiển thánh từ thời Nam Giao – Hùng Vương. Lạ nữa là câu đối khác trong đền đề:
瑞應金龜神爪依依留井上 威揚木馬健蹄隠隠仰橋邊 Thụy ứng Kim Quy, thần trảo y y lưu tỉnh thượng Uy dương mộc mã, kiện đề ẩn ẩn ngưỡng kiều biên. Dịch: Linh ứng Rùa Vàng, móng thần y nhiên nơi giếng cũ Oai dương Ngựa Gỗ, vó hùng thấp thoáng chốn cầu biên.
Không rõ tích thần trảo Kim Quy và dấu chân ngựa gỗ ở đây là nói tới sự tích nào. Rất có thể chỉ mối liên hệ tới vị Nam Hải An Dương Vương như ở huyện Đông Hưng đã kể trên.
Dù thế nào thì đền Vua Rộc chắc chắn là đền thờ các vị Hải thần. Điều này rõ ngay từ cái tên Rộc. Một số tác giả cho biết chữ Lạc có thể phục nguyên âm là Rộc, chỉ ruộng lúa. Tới nay người Mường vẫn gọi ruộng là rộc. Vua Rộc như vậy có thể là Vua Lạc hay Lạc Vương, phù hợp với thời Nam Giao mở nước.
Một sự tích lý giải khác cho đền vua Rộc lại có thể tìm thấy trong các đi tích thờ Hải thần trong cùng khu vực, là các di tích thuộc xã Bình Thanh cùng huyện Kiến Xương. Đây là tổng Đa Cốc xưa. Đình Đa Cốc thờ các vị Đông Hải Đại vương, Tây Hải Đại vương, Cao Sơn Quý Minh, Trưởng Thái Giám. Trong đó sự tích kể rằng Đông Hải Đại vương Đoàn Thượng là con trai thứ 4 của Lạc Long Quân xuất thế, đã được người em cùng bọc của mình là Tây Hải Đại vương hiển linh phù giúp. Tây Hải Đại vương là con trai thứ năm của Lạc Long Quân. Đáng chú ý là Đa Cốc nằm ở gần sông Hồng nên sự tích có yếu tố của dòng Lạc Long như ở các tỉnh Hà Nam, Hưng Yên.
Như vậy sự tích ở Đa Cốc hoàn toàn tương đồng với đền Vua Rộc từ việc thờ 2 vị Đông Hải và Tây Hải, họ Lạc (Rộc), hiển linh ở thời Lý-Trần. Nói cách khác đây vẫn là các vị Hải thần dòng Lạc Long như ở khu vực sông Diêm Hộ nói trên.
Một số nơi ở Kiến Xương thờ thần Tây Hải với ghi nhận là vào thời Hùng Vương như ở đình Cao Mại Nhân (xã Quang Trung), đình Thượng Hiền (thôn Phú Cốc xã Nam Bình).
Một cụm di tích đáng chú ý khác của Kiến Xương là 3 làng Quân Bác, Bác Trạch, Phương Trạch thuộc tổng Nam Huân xưa, nay thuộc xã Vân Trường và Phương Công của huyện. Nơi đây có sự tích về 3 vị Hải Linh thần là Nam Hải Linh quan, Đông Hải Linh quan, Tây Hải Linh quan với truyền thuyết kỳ vĩ: thân các ngài cao vạn trượng, đầu to trăm thước, lấy sông làm nhà, lấy biển làm vườn, hít thở ngàn dặm, phun nước vạn thùng, tựa có 800 ngôi sao phù giúp sáng rực. Thần quẫy đuôi thành dông bão, đứng hàng đầu trong các vị thủy thần…
Đặc điểm riêng nữa của vùng phía Nam Thái Bình là bên cạnh thờ Tứ Hải Long vương, nơi đây còn thờ những vị hải thần chung khác như Thủy Hải, Đại Hải, Long Vương, đặc biệt là ở huyện Tiền Hải và khu vực gần với sông Hồng. Những vị hải thần này là những vị cũng từng gặp ở vùng sông Hồng phía tỉnh Hà Nam và Hưng Yên. Một số nơi ở Tiền Hải và TP. Thái Bình còn thờ thủy thần Quảng Lợi Bạch Mã, tức là thần Long Đỗ như ở vùng Thăng Long.
Tóm lại, qua việc phân tích các di tích thờ Hải thần ở Thái Bình có thể thấy nơi đây, nhất là vùng sông Diêm Hộ, là nơi phát sinh ra tín ngưỡng này. Bốn vị Đông Hải, Tây Hải, Nam Hải, Bắc Hải là những vị Long hầu thời Hùng Vương, trấn nhậm các vùng cửa sông góc biển, tham gia vào cuộc chiến đánh Thục lập quốc ban đầu của Lạc Long Quân (Bát Hải Động Đình). Đây cũng là bộ Ngũ vị tôn quan của Công đồng Thoải phủ. Trong tín ngưỡng hải thần, các vị được thờ dưới hình thức là các thủy thần hiển linh tạo phúc cho dân. Dấu vết của Tứ Hải Long vương như được nói đến trong các sách đạo Giáo thời Tần Hán không ngờ lại chính là từ vùng cửa sông Hồng đổ ra biển tại Thái Bình.