VĂN BIA ĐẠI TÙY-THỨ SỬ LÊ HẦU VÀ LỊCH SỬ VIỆT NAM THẾ KỶ 6-7

Bài viết Trần Trọng Dương. Văn bia Đại Tùy Cửu Chân – Thứ sử Lê Hầu và lịch sử Việt Nam thế kỷ VI-VII. Suối nguồn. Nxb Hồng Đức. 2014. tr.13- 72.

Tấm bia Đại Tùy Cửu Chân quận Bảo An đạo tràng chi bi văn được giáo sư Đào Duy Anh phát hiện năm 1960 và ông đã công bố một bài nghiên cứu vào năm 1963. Tấm bia được tìm thấy tại đền thờ Lê Cốc (hay Lê Ngọc) làng Trường Xuân, xã Đông Minh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Giáo sư Đào gọi là “bia cổ Trường Xuân”, học giả Trần Văn Giáp gọi là “bia đời Tùy”, nay chúng tôi gọi tắt là “bia Đại Tùy Cửu Chân” để tiện trình bày. Văn bia hiện đang lưu trữ tại khu trưng bày hiện vật giai đoạn Bắc thuộc (tầng 1) trong Bảo tàng Lịch sử Quốc gia tại Hà Nội. Tác giả bài văn bia này là Kiểm hiệu Giao Chỉ quận, Nhật Nam quận thừa, kiêm Nội sử Xá nhân, Nguyên Nhân Khí người ở Lạc Dương, Hà Nam, Trung Quốc (xem chú thích 11 trong phần dịch). Văn bản được khắc vào năm Nhâm Dần, ghi niên hiệu đời nhà Tùy năm Đại Nghiệp thứ 14 (618). Từ năm 1960 đến năm 2012, văn bia này được coi là hiện vật văn hiến có niên đại sớm nhất tại Việt Nam [Đào Duy Anh 1963, Trần Văn Giáp 1969, Trịnh Khắc Mạnh 2008], trong đó có chứa nhiều sử liệu có giá trị không thấy được ghi nhận trong các bộ sử lớn của Trung Quốc và Việt Nam. Bài viết này sẽ tiến hành nghiên cứu về vấn đề văn bản học, sử liệu học của văn bia Đại Tùy để từ đó góp phần soi sáng những góc khuất chưa từng biết đến của lịch sử Việt Nam từ nửa sau thế kỷ thứ sáu đến đầu thế kỷ thứ bảy.

1. Một số vấn đề văn bản học của bia Đại Tùy Cửu Chân

Tấm bia Đại Tùy Cửu Chân có chiều cao quãng 152-153cm, rộng quãng 76-78 cm, dày 10,5cm. Tấm bia được làm bằng phiến thạch, nhưng trải qua gần 1.500 năm, đến nay chất đá đã bở thành nhiều lớp. Bố cục bia chia làm 3 phần: trán bia, thân bia và chân bia.
Phần trán bia (bi ngạch) được đẽo thành hình bán nguyệt cao 46 cm, diềm trán bia không đẽo góc vuông như các bia đời sau mà trực tiếp tạc lên đó hình đôi rồng liền thân , hai đầu rồng hướng sang hai bên cạnh bia, hướng miệng cắm vuông góc với mặt đất. Miệng rồng há, để lộ 4 cặp răng hàm bằng đều và hai chiếc răng nanh dài nhọn. Bờm rồng vuốt từ khóe miệng ra phía sau, áp sát theo thân rồng. Phía dưới cằm và trên môi trên chạm các tua râu bó sát đầu rồng. Phía trên đầu là lông mày tạc nổi, che phần hốc mắt phía trong. Ngay sau phần mày rồng, tai rồng và sừng rồng cũng kéo dài về phía sau áp theo khối thân. Riêng cuống tai dài bằng cả phần chính của tai. Giữa thân rồng có ba vạch khắc sâu. Cách tạc này cho thấy, bia được tạc khối chữ nhật trước, sau đó mới chém các cạnh mà chạm sâu vào thớ đá. Cách tạc này khiến cho hình mình rồng chính là phần trên cùng của trán bia (cả ở hai mặt, dù mặt âm không có chữ), bụng rồng ôm lấy phần không gian khắc chữ trên ngạch bia.

Phần chữ trên ngạch bia có thể khảo tả lại như sau. Trong phần bán nguyệt phía trong, còn lại trên trán bia, không gian được đặt ở chính giữa bởi một hình chữ nhật. Hình chữ nhật này được chia đều thành 12 ô vuông, và cách nhau bởi các gờ tự nhiên sau khi đã giật lòng tạo nét trong từng ô đó. Trong mỗi ô là một chữ triện khắc dương bản, là các chữ: 大隋九真 郡寶安道場之碑文. Các chữ này được sắp theo hàng dọc từ phải sang trái, gồm 4 hàng, mỗi hàng 3 chữ. Những phong cách mỹ thuật và thư pháp trên trán bia có thể cho phép đi đến nhận định rằng, tấm bia này giống như các văn bia đời Lục Triều khác hiện còn . Bia còn kỵ húy chữ “tùy”, nhà Tùy cho chữ “隨” có bộ quai xước (辶), trỏ việc chạy đi chạy lại long đong vất vả, nên mới dùng tự dạng “隋” . Từ tiêu chí mỹ thuật và văn tự học, có thể khẳng định, đây là một tấm bia nguyên bản có từ đời Tùy.

Phần thân bia cao 106 cm. Mặt bia nhiều chỗ đã bị bào mòn, nhiều chữ bị mờ không nhìn thấy chữ nữa. Bia không giật lòng, chữ viết được khắc trên mặt phẳng với trán bia. Phần phía dưới cùng bên tay phải của bia bị vỡ mất một miếng lớn, phía sau vỡ rộng hơn và cao hơn mặt trước. Dòng thứ nhất các chữ bị mất là “Nhân Khí soạn”, dòng thứ hai mở đầu bằng chữ “phù” và các chữ bị vỡ mất là “hỏa trạch”, dòng thứ 3 là chữ “dẫn” mở đầu, kết thúc là các chữ “kỳ hồi hướng phúc địa”, trong đó chữ “phúc địa” cũng đã bị vỡ mất. Mặt dương của bia có ba đường kẻ sọc, tạo thành 2 phần diềm bia nhỏ hai bên và ba không gian lòng bia dùng để khắc chữ. Hiện trạng văn bia chỉ còn đọc được khoảng 40-50 chữ. Song có thể đếm được văn bia có 26 dòng, mỗi dòng khoảng 38-40 chữ, viết bằng chữ chân (khải thư) . Dòng đầu tiên ghi lại tên bia, hết tên bia để quãng cách không gian, để phần cuối của dòng đó khắc tên và chức vụ của người soạn văn, dòng cuối cùng là tên người lập bia và niên đại dựng. Phần chân bia không rõ nguyên bản ra sao, còn hay mất. Chỉ thấy hiện vật trưng bày trong bảo tàng ngày nay được gắn liền trên một chân bia bằng bê tông! Trần Văn Giáp đoán có khả năng chân bia hiện vẫn còn ở địa phương [1969: 3]. Nhưng theo thông tin từ một số cán bộ văn hóa ở Thanh Hóa hiện nay, chân bia đã bị đem nung vôi vào quãng cuối những năm 1960. Bản rập của tấm bia mang số ký hiệu 20945 hiện đang lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, tiếc rằng bản rập có niên đại quá muộn nên cũng không có tác dụng nhiều cho việc giải độc tự dạng và khôi phục văn bản.

Văn bản còn lại nhiều chữ nhất đến nay còn giữ được là một bản sao của ông Chu Văn Liên, được thực hiện vào ngày mùng 9 tháng 4 năm Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Nhâm Dần (1962) có tên là Tùy thì Đại Nghiệp bi văn, hiện cũng được lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, số ký hiệu VHv.2369, có ghi nhận ông Nguyễn Tấn Minh là người kiểm duyệt việc sao chép. Văn bản này chép lại một bản sao vào đời Nguyễn, vào ngày 26 tháng 02 niên hiệu Thiệu Trị (1842). Bản này dùng để giao cho xã Đồng Pho để phụng thờ, lưu chiểu .

Bản chép đời Thiệu Trị nguyên chép lại một bản khác cổ hơn do thân hào các xã Phù Liễn, Đồng Pho, Vạn Lộc, Hữu Bộc thuộc tổng Thạch Khê huyện Đông Sơn đã hội họp cùng nhau, rửa bia đọc chữ, rồi sao chép lại vào ngày 28 tháng 4 năm Vĩnh Khánh thứ 3 (1731). Các cụ ở Thạch Khê đời Thiệu Trị đã dựa trên bản này mà chép thành năm bản, một bản lưu lại đền thờ Lê Cốc ở Thạch Khê, bốn bản còn lại giao cho các xã Phù Liễn, Đồng Pho, Vạn Lộc, Hữu Bộc để thờ truyền đời . Cũng theo Đào Duy Anh, ông đã nộp bài văn bia đời Vĩnh Khánh cùng các thần tích về Lê Hầu và vợ con ngài, biếu cho Thư viện Khoa học Trung ương năm 1963. Nhưng đến nay, chúng tôi chưa tìm ra ký hiệu của các sách này .

Dựa trên các văn bản văn bia, bản rập, các bản sao còn lại, nhiều thế hệ các nhà nghiên cứu đã tiến hành khảo dị, khôi phục và chú thích bài văn bia Đại Tùy Cửu Chân quận Bảo An đạo tràng chi bi văn này. Đầu tiên là bản in trong Văn khắc Hán Nôm Việt Nam (Tập 1, Từ Bắc thuộc đến thời Lý, Học viện Viễn Đông Bác cổ Pháp và Viện Nghiên cứu Hán Nôm thực hiện, Paris-Hà Nội 1998: 7-9). Năm 2000, phó giáo sư Trần Nghĩa công bố một bản chỉnh lý mới, kèm thêm các phần phiên âm khảo dị trong chuyên luận Sưu tầm và khảo luận tác phẩm chữ Hán của người Việt Nam trước thế kỷ X (tr. 262-271). Đối chiếu tất cả các bản trên, chúng tôi thấy tình trạng văn tự của văn bản này như sau. Bài minh có 30 câu, mỗi câu 4 chữ, độ dài văn bản là 120 chữ, hiện chỉ còn đọc được 102 chữ. Toàn bài văn bia có độ dài 957 chữ, hiện đã mờ mất 246 chữ, chỉ còn đọc được 711 chữ.

Đến đây chúng tôi thấy có thể chia ra làm ba hệ văn bản của bia Đại Tùy Cửu Chân quận Bảo An đạo tràng chi bi văn như sau.
(1) Hệ 1: [1a] văn bản gốc văn bia tại Bảo tàng (niên đại tuyệt đối 618) > [1b] bản dập thác bản văn bia (niên đại bản dập đầu thế kỷ 20) > [1c] các bản ảnh ấn lại thác bản này trong Tổng tập văn bia Việt Nam (2009), Một số vấn đề về văn bia Việt Nam (2008), [1d] các bản ảnh điện tử chụp văn bia và thác bản văn bia của chúng tôi (chụp năm 2012) được in lại trong lần xuất bản này, [1e] bản ảnh điện tử chụp lại thác bản văn bia của Viện NC Hán Nôm (niên đại: XX-2000).

(2) Hệ 2: các văn bản ghi chép-giải độc văn tự của đời sau. [2a] Bản chép tay của các cụ lão nhiều địa phương thực hiện vào năm Vĩnh Khánh thứ 3, gọi là bản 1731 (đã mất); [2b] Bản chép tay lại bản này vào đời Thiệu Trị, ta gọi là bản 1842. [2c] Bản chép tay lại bản Thiệu Trị vào năm Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Nhâm Dần, ta gọi là bản 1962. Hai bản [2a] và [2b] chúng ta không có trong tay. Bản [2a] khả năng cao là không thể tìm lại được. Bản [2b] có thể sưu tầm lại ở địa phương. Chúng tôi chỉ có bản [2c] để làm căn cứ đối chiếu.

(3) Hệ 3: các văn bản phục dựng của các nhà nghiên cứu. Trước nay chỉ có hai bản làm theo hướng này. Đó là bản của nhóm Phan Văn Các – Claudine Salmon năm 1998 và bản Trần Nghĩa năm 2000. Các tác giả đã tiến hành phục dựng một số vị trí đã mất, và cũng đã có những thảo luận khác nhau ở từng trường hợp cụ thể. Các phương pháp mà các nhà khoa học đưa ra là tiêu chí văn bản học, văn tự học, ngữ nghĩa học. Song, về cơ bản, hai bản này tuy không phải là bản gốc, và nếu tính về thời gian thì đây là hai bản muộn nhất, nhưng với phương pháp làm việc khoa học, đây có thể coi là hai bản tốt nhất đầy đủ nhất hiện còn.

Chúng tôi tạm lấy bản của nhóm Phan Văn Các và Claudine Salmon làm bản nền, bản Trần Nghĩa làm bản đối chiếu. Cách làm như vậy là ngược so với các thao tác văn bản học truyền thống. Sở dĩ như vậy là vì bản văn bia Đại Tùy Cửu Chân quận Bảo An đạo tràng chi bi văn còn lại đến nay đã tàn khuyết, hư hại nặng nề. Hiện chỉ còn đọc được vài chục chữ. Tuy nhiên, với vài chục chữ này, chúng tôi vẫn coi đây như là một văn bản gốc đáng tin cậy nhất để đưa ra những nhận định khoa học cuối cùng cho những vị trí ở trong các văn bản thuộc hệ 2 và hệ 3. Ví dụ, các hệ bản số 3 và số 2 không có tên phụ của bia, nay dựa trên bản gốc [1a] chúng tôi bổ sung thêm dòng này ngay đầu văn bản, rồi tiếp đó mới đến tên họ chức danh người soạn bia.

Ví dụ thứ hai, trước đây các nhà nghiên cứu có cân nhắc về tên hiệu con trai trưởng của Lê Hầu. Nhóm Phan Văn Các nhìn trên văn bia thì các nét bút còn lại không cho phép nghĩ rằng đó là chữ “益”, nên tạm để khuyết, và xác định tên của nhân vật này là “[…] Tự”. Nay dựa trên văn bia bản [1a] và bản 1962 [1c] , chúng tôi đưa ra hai kết luận như sau. (I) Tự dạng mà nhóm Phan Văn Các để khuyết là chữ “益”, vì lối viết liên bút trong hành thư khiến cho các nét chấm trong phần trên của chữ “ích” bị liền thành hai nét ngang ( ). (II) Tên hiệu của nhân vật này là “Ích Từ”. Nguyên văn chúng tôi xin đánh máy lại như sau: 長子益慈嗣… Sở dĩ, có thuyết cho đó là Ích Tự (益嗣) vì đọc sót chữ “từ”. Đoạn trên có thể phân tích như sau: “trưởng tử Ích Từ” là chủ ngữ, “tự” là động từ vị ngữ trong câu. Rất tiếc là sau chữ “tự” bị mất mấy chữ, nên không rõ tân ngữ/ hoặc bổ ngữ đầy đủ là gì, nhưng ngay sau đó còn một số chức danh và quan trọng nhất là chức Nhật Nam thứ sử. Chúng tôi tạm dịch cả câu như sau: “con trai trưởng [của Lê Hầu] tên hiệu là Ích Từ, nối [chức cha trước đây…], làm Thái thú quận Nhật Nam, kiêm [Tuyên] uy Tướng quân”. Bản 1962 là bản cũng khá muộn, song được sao chép có chủ đích về khoa học và có người giám sát về văn bản học, nên tạm thời có thể làm một bản tham khảo, đối chiếu. Bản Phan Văn Các có phục dựng được một số chữ và quan trọng nhất là lần đầu tiên có một bản làm đúng theo thao tác văn bản học, và bản này còn có trên 50 chú thích về từ ngữ, khảo dị, biện luận văn tự học. Bản của Trần Nghĩa chỉ có khoảng 20 chú thích. Đây chính là lý do khiến chúng tôi không lấy bản Trần Nghĩa mà chọn bản phục dựng của nhóm Phan Văn Các làm bản nền.

Công việc lần này của chúng tôi gồm:
1. Khảo tả lại tình trạng và mỹ thuật văn bia như đã thực hiện ở đầu bài khảo cứu.
2. Tái lập một số chữ đã bị mất thông qua con đường văn tự học, thi vận học, ngữ nghĩa học.
3. Tiến hành chú thích bổ sung các khái niệm Phật học, Nho học, nhân danh, địa danh, chức quan.
4. Phiên âm, hiệu điểm (chấm câu), ngắt ngữ đoạn.
5. Và quan trọng nhất, lần đầu tiên văn bản văn bia này được dịch sang tiếng Việt. Tuy nhiên, vì số lượng chữ mất quá nhiều, cho nên bản dịch này chỉ mang tính chất phỏng đoán ở nhiều đoạn (được đặt trong ngoặc vuông […] ), riêng đoạn giữa tàn khuyết nặng nhất, nên có khi chỉ dịch đôi ba chữ lẻ, không thể dịch thành một ngữ đoạn, chỉ có phần bài minh còn khá đầy đủ nên chúng tôi dịch đúng văn vận, một số câu, chữ bị mất thì được chúng tôi phỏng dựng bằng phương pháp ngôn ngữ học và từ chương học cổ điển.
Về cách trình bày, mỗi chữ bị mất đều được ký hiệu bằng một ô vuông (cả ở phần chính văn Hán văn và phần phiên âm), các chữ bị mờ trên văn bia hoặc trên các bản sao được đoán đọc thì tự dạng tái lập cùng phiên âm, dịch nghĩa của các vị trí tái lập đó sẽ được đặt trong ngoặc vuông. Các chú thích được đánh số ở cả chính văn, phiên âm và dịch nghĩa.

2. Sự nghiệp Lê Hầu và lịch sử Việt Nam thế kỷ 6-7 qua sử liệu bia Đại Tùy Cửu Chân

Về nội dung, tấm bia Đại Tùy Cửu Chân đề cập đến một nhân vật lịch sử họ Lê, giữ chức Thứ sử ở quận Cửu Chân, ông từng trải các chức Ái Châu Thứ sử, Đô đốc Ái-Đức-Minh-Lị-Hoan chư quân sự vào thời nhà Lương, sau giữ các chức Thường thị Uy vũ Tướng quân, Cửu Chân thứ sử, tước Mục Phong hầu. Cho nên, ông còn được Nguyên Nhân Khí gọi là Lê Hầu, Lê Thứ sử hay Sứ quân Lê.
Bài văn bia ghi lại việc Lê Hầu dựng đạo tràng Bảo An (chùa Bảo An) tại quận Cửu Chân. Như truyền thống dựng chùa tháp và lập bi văn, chúng ta có thể thấy, Lê Hầu chính là hưng công hội chủ để xây dựng chùa này. Sau khi dựng chùa, ông đã mời Nguyên Nhân Khí viết văn bia, khi đó ông này đang giữ các chức Kiểm hiệu Giao Chỉ quận, Nhật Nam quận thừa, kiêm Nội sử xá nhân. Xét về chức quan, thì Lê Hầu giữ chức vụ cao hơn Nguyên Nhân Khí. Nguyên Nhân Khí có lẽ khi đó ít tuổi hơn, nhưng vì là người “thông minh mẫn tiệp”, giỏi văn chương và hiểu sâu về đạo Phật, nên đã được Lê Hầu nhờ soạn minh văn. Nguyên Nhân Khí là người Bắc, đến làm quan tại Nhật Nam, là em trai của Nguyên Huy – một người đang rất được trọng vọng ở triều đình nhà Tùy thời bấy giờ (cụ thể xem chú thích 11 trong phần dịch văn bia ở sau). Việc Lê Hầu nhờ Nhân Khí, hẳn thấy được sự quan hệ ở tầm cấp cao của hệ thống chính quyền thời bấy giờ. Lê Hầu trước đó hẳn đã nghe được văn tài cũng như thưởng đọc các tác phẩm của Nhân Khí, nên mới giao trọng trách này cho ông. Và ta biết, bài văn bia này cũng là tác phẩm văn chương duy nhất còn lại của Nguyên Nhân Khí. Qua lời văn bia, ta có thể thấy phần nào văn tài cũng như học vấn về Phật giáo của nhân vật này:

夫 法理靈符,非世智之可求;
法性幽深,豈石言之所測。
故 梵魔之境,猶為化城;
三界之間,方稱火宅。
Phù,
Pháp lý linh phù, phi thế trí chi khả cầu;
Pháp tính u thâm, khởi thạch ngôn chi sở trắc.
Cố,
Phạm ma chi cảnh, do vi hóa thành;
Tam giới chi gian, phương xưng hỏa trạch.

Tạm dịch sang văn vần:
Ôi,
Pháp Phật thiêng liêng, trí tuệ thế gian há thửa cầu.
Pháp tính thâm sâu, lời nói của trời khôn đoán hết.
Nên,
Cảnh Phạm thiên, còn là hóa thành
Chốn tam giới, cũng là nhà lửa.

Quay trở lại với nội dung tấm bia, chúng ta thấy, văn bia này còn ghi lại nhiều địa danh hành chính cổ vào nửa sau thế kỷ 6, đầu thế kỷ 7, như quận Giao Chỉ, quận Nhật Nam, châu Đức, châu Ái, châu Lị, châu Minh, châu Hoan, huyện Cửu Chân, quận Cửu Chân, quận Nam, huyện Vệ An, Giao Chỉ và một số khe động ở quận Cửu Chân. Những mảnh chữ rời còn sót lại như vậy ít nhiều cho phép chúng ta mường tượng các cấp hành chính vào thời này. Khe và Động có khả năng là những đơn vị cư dân bản địa, hẳn sẽ có tên nhưng không thấy chép trong văn bia hoặc đã mờ mất, chỉ biết Lê Hầu từng đem ân đức tưới tắm ở các khe động này, khiến nhân dân đều an cư lạc nghiệp ([ân] toại phú dân) mà tôn sùng ông, theo về với ông.

Người đầu tiên nghiên cứu về Lê Ngọc/Lê Hầu là Le Breton, ông cho rằng Lê Ngọc là Đô hộ Giao Châu (sic), là người đã dựng một quốc gia riêng và đóng đô ở Trường Xuân (Cửu Chân), sau đó ông chia các vùng lãnh thổ cho các con. Con cả Ích Trí (sic) được giao trị nhậm ở Cửu Chân, con thứ hai là Trung Quốc được làm Tả Quốc, con gái Tưng Liệt (sic, có lẽ là Trung Liệt – TTD chú) được trấn ở Đông Kinh. Sau đó, gia tộc của Lê Ngọc đã bị nhà Đường đánh lui về Cửu Chân, rồi bị tiêu diệt. Ông cho rằng thời đại của Lê Ngọc tồn tại từ năm 612 đến năm 619 [Le Breton 1924: 29]. Tuy nhiên, học giả người Pháp lại không thấy dẫn sử liệu nào từ văn bia, ông cũng không nhắc đến sự tồn tại của bia này. Theo phán đoán của chúng tôi, ông đã chủ yếu dựa vào thần tích.

Năm 1960, giáo sư Đào Duy Anh đã trở về Thanh Hóa khảo sát thực địa. Trong chuyến điền dã này, ông đã phát hiện ra tấm bia Đại Tùy Cửu Chân tại Trường Xuân. Sau đó, giáo sư Đào Duy Anh đã kết hợp với các tư liệu thần phả sưu tầm được tại địa phương và xác định rằng Thứ sử Lê tên thật là Lê Cốc hay Lê Ngọc, tổ tiên làm quan đời Tấn ở Trung Quốc và được phong hầu, đến đời Lương thì đã trải được ba đời, đều được phong hầu cả. Đến đời Tùy thì Lê Hầu được bổ làm Tuyên Uy Tướng quân, Nhật Nam Thái thú, đến niên hiệu Đại Nghiệp thì đổi làm Cửu Chân Thái thú [Đào Duy Anh 1963: 27]. Những nghiên cứu của Le Breton và Đào Duy Anh sau đó được một số nhà nghiên cứu như Trần Quốc Vượng , Lê Cường [2007: 83] kế thừa. Những nghiên cứu trên tưởng đã khép lại về một nhân vật lịch sử vào cuối thế kỷ 6 – đầu thế kỷ 7. Thế nhưng, điểm đáng ngạc nghiên nhất mà khi chúng tôi thực hiện nghiên cứu này, là sau hơn 50 năm phát hiện, bia Đại Tùy Cửu Chân chưa từng được bất kỳ học giả nào tiến hành dịch chú, và lạ hơn nữa là chỉ có một vài thông tin trong tấm bia này được các nhà nghiên cứu khai thác, còn phần lớn các sử liệu về Lê Ngọc chủ yếu lấy từ… thần tích. Ví dụ: tên chức Đô hộ (có từ đời Đường về sau), tên con trai cả là Ích Trí (chứ không phải Ích Từ như văn bia), rồi Ích Trí được giao trị nhậm ở Cửu Chân (thay vì Thái thú Nhật Nam như văn bia), rồi con gái út là Trung Liệt trấn ở Đông Kinh (một địa danh rất muộn về sau này, thuộc miền Bắc),… Vì thế, những khảo cứu giới thiệu dưới đây, sẽ đưa ra một tình hình khác về Lê Ngọc so với những công trình trước đây.

Theo như văn bia Đại Tùy Cửu Chân, gia tộc họ Lê đến thời Lê Hầu là đã “ba đời tự lập” (tự vị tam đại) . Tổ tiên Lê Hầu vào đời Tấn, nhân loạn Vĩnh Gia (xem giải thích trong phần chú thích văn bia) nên đã chạy về phía Nam lánh nạn. Thân sinh của ông có khả năng đã làm Thứ sử Triều Châu kiêm [Tổng quản] Tướng soái. Sau đó, đến đời nhà Lương, Lê Ngọc mới chuyển về vùng phên dậu biên viễn phía Nam, giữ các chức Thứ sử Ái Châu, rồi Thứ sử quận Cửu Chân đồng thời kiêm luôn các chức Đô đốc Ái-Đức-Minh-Lị-Hoan ngũ châu chư quân sự, Thường thị Uy vũ Tướng quân. Việc các viên quan đứng đầu các châu quận đồng thời nắm luôn quyền quân sự là điều có thể hiểu được. Những thông tin ở trên cho phép đi đến nhận định rằng Lê Hầu đã chuyển đến làm quan và lưu trú tại Giao Châu cho đến khi ông mất, tức là thời gian lưu trú của ông ở Cửu Chân trên dưới 60 năm (xem giải thích thêm về tuổi tác của Lê Hầu tại chú về “Hữu Lương” trong phần chú thích). Như vậy, ông đã trị nhậm qua bốn triều đại là Lương (502-557), Trần (557-589), Tùy (581-618) và Đường (618-907). Văn bia Đại Tùy Cửu Chân quận Bảo An đạo tràng chi bi văn cho biết đời Lương, Lê Hầu giữ chức Ái Châu thứ sử kiêm Đô đốc quân sự năm châu Ái-Đức-Minh-Lị-Hoan. Cả giai đoạn nhà Trần, không thấy chép ông giữ các chức gì. Chỉ thấy đến đời Tùy ông vẫn giữ chức tướng quân, làm Thứ sử các quận châu, được ban Thường thị Uy vũ tướng quân và vẫn nhậm Ái Châu Thứ sử. Từ đời Lương ông đã được phong tước Mục Phong hầu, đến đời Tùy ông vẫn ở tước đó, không được tấn phong thêm.

Với một bề dày trên chính trường, trải giữ nhiều chức vụ tại Cửu Chân trong quãng 60 năm, Lê Hầu đã có những quan hệ mật thiết với tầng lớp quan lại ở khắp các nơi từ Ái Châu đến Nhật Nam. Chính vì lẽ đó, trong văn bia Đại Tùy Cửu Chân quận, chúng ta còn thấy một số các chức vụ quan lại ở một số nơi, ví dụ như Bằng Thừa Tự là Huyện lệnh huyện Cửu Chân. Thông tin này cho thấy, Bằng Thừa Tự là một viên quan dưới cấp của ông. Vào thời ông làm Thái thú quận Cửu Chân thì lị sở có khả năng là huyện Cửu Chân. Ngoài ra, còn có Huyện lệnh huyện Vệ An, hiện cũng chưa rõ huyện Vệ An ở đâu, và vị huyện lệnh này tên là gì, song có lẽ địa danh hành chính này cũng nằm đâu đó trong vùng đất Cửu Chân mà thôi.

Theo như nghiên cứu của giáo sư Đào Duy Anh, khi làm Nhật Nam Thứ sử, Lê Hầu đã lấy một người vợ ở đất Nhật Nam (Nghệ An ngày nay), sinh được ba người con trai và một con gái [Đào Duy Anh 1963: 27]. Qua tư liệu văn bia Đại Tùy Cửu Chân, chúng tôi thấy có nhắc đến con trai cả của ông tên là Ích Từ. Theo các tư liệu thần phả và các nghiên cứu của Le Breton và Đào Duy Anh, thì con trai trưởng của Lê Hầu hiệu là Ích Trí, tục gọi là đức Thánh Cả, con trai thứ hai là Trung Quốc, tục gọi là đức Thánh Hai, con thứ ba hiệu là Tham Xung được gọi là đức Thánh Lưỡng, vợ và con gái của ông không rõ tên nhưng thần hiệu là Tam Giang Trinh Liệt Thần Mẫu và Liệt Nữ Công Chúa [Le Breton 1924: 29; Đào Duy Anh 1963: 22]. Trên bia Đại Tùy Cửu Chân, đoạn nhắc đến trưởng nam Ích Từ còn thấy chép một số chức vụ như [Tuyên] uy Tướng quân, Nhật Nam Thái thú. Chưa nhà nghiên cứu nào trước đây nhắc đến chi tiết này. Chúng tôi tạm đưa ra giả thuyết rằng, khi Lê Hầu làm Thái thú quận Cửu Chân thì con trai cả của ông đồng thời giữ chức Thái thú quận Nhật Nam kiêm [Tuyên] uy tướng quân. Điều này lý giải vì sao, Nguyên Nhân Khí – một viên quan dưới quyền của Lê Ích Từ được mời viết minh văn cho bia Trường Xuân.

Đặt trong hệ thống các sử liệu trước nay về giai đoạn này, chúng tôi thấy văn bia Đại Tùy Cửu Chân đã góp thêm một số sử liệu bổ sung cho diện mạo chính trường Giao Châu giai đoạn này như sau. Khi Lê Hầu mới sinh (quãng năm 535-540, có lẽ sinh ở Triều Châu) , Lý Bôn đánh Thứ sử nhà Lương là Tiêu Tư. Năm 546, Thứ sử Giao Châu là Dương Phiêu đánh bại Lý Bôn ở thành Giao Ninh, năm sau Lý Bôn bị chém đầu [Lương thư q3, chuyển dẫn Đào Duy Anh 1963: 23]. Quãng những năm 550-557, khi đang ở độ tuổi khoảng từ 20-25 tuổi, Lê Ngọc giữ chức Ái Châu Thứ sử, Đô đốc quân sự năm châu. Đến năm 557, nhà Lương mất, nhà Trần lập quốc. Trong quãng từ năm 557-602, Lê Ngọc có khả năng vẫn trấn giữ đất Ái Châu. Trong khi, chính trường có nhiều biến động. Sách Trần thư chép, năm 558, nhà Trần sai Âu Dương Ngỗi đem con em là Thứ sử Giao Châu Thịnh đi đánh Chu Địch ở phía Bắc Ngũ Lĩnh. Sách Trần thư không hề chép thêm một chi tiết nào về Giao Châu giai đoạn này, mà chỉ chép các thông tin về vùng Quảng. Việt sử lược chỉ ghi chép một số biến động chính trị như sau. Thời Vũ Đế nhà Lương, có Trần Bá Tiên đã dẹp được Lý Bôn nên được giao làm Binh uy Tướng quân, Thứ sử Giao châu, rồi được gọi về Bắc. Đến năm 602, Lưu Phương làm Hành quân Tổng quản đánh Phật Tử ở thành Việt Vương và Đại Quyền ở Long Biên. Trong khoảng niên hiệu Đại Nghiệp (605-616) đời Tùy Dạng Đế vì Lâm Ấp làm phản nên vua nhà Tùy đổi Nhật Nam làm Hoan Châu, dùng Lưu Phương làm chức Hoan đạo Hành quân Tổng quản để đánh Lâm Ấp. Đánh xong, Lưu Phương khắc đá ghi công rồi trở về. Giữa đường bị bệnh mà chết. Năm 622, vua Cao Tổ nhà Đường trao cho Khâu Hòa (người Lạc Dương) chức Đại tổng Quản, tước Đàm quốc công, Hòa lại tâu xin đặt chức Đô hộ Phủ chúa. Những sử liệu trên cho thấy, những vùng đất có biến loạn, buộc các quan tướng triều Tùy đến đánh dẹp là thuộc phạm vi quận Giao Chỉ (tương ứng Bắc Bộ) và Lâm Ấp, không thấy có đoạn nào ghi chép về việc chinh phạt quận Cửu Chân do Lê Hầu trấn giữ trong quãng 60 năm.

Như vậy, khoảng thời gian từ những năm 557 đến năm 622, cả một vùng rộng lớn của quận Cửu Chân và quận Nhật Nam đều không thấy xuất hiện một dòng nào về việc chiến tranh tranh giành quyền lực với các thế lực phương Bắc. Điều ấy chứng tỏ rằng, Lê Hầu cùng với các con và thuộc tướng của mình đã tiến hành các phương thức chính trị hiệu quả. Một mặt, ông vẫn có những ứng xử mềm dẻo với chính quyền phương Bắc – để không bị nghi ngờ là kẻ có âm mưu làm phản. Mặt khác, đối với các thế lực quân sự tại quận Giao Chỉ, ông dường như “án binh bất động”. Tức là, ông chỉ chăm chú vào việc cai quản địa hạt của mình, và không tham gia vào các hoạt động tranh giành quyền lực của các thế lực địa phương. Về mặt ngoại giao, Lê Hầu trong khoảng 60 năm trải giữ các chức vụ quan trọng nơi vùng biên ải (Nhật Nam Thái thú, và Cửu Chân Thái thú) tiếp giáp và gần kề nhất đối với Lâm Ấp. Nhưng khi Lâm Ấp tỏ ra không thần phục ông cũng không khởi phát một cuộc chiến nào. Những việc chinh phạt ấy, dường như ông đã “đẩy” hết về các lực lượng của phương Bắc. Cuộc chinh phạt Lâm Ấp của Lưu Phương năm 605 hẳn đằng sau phải có bàn tay hậu thuẫn của các Thứ sử địa phương – Lê Hầu và Lê Ích Từ. Nhưng, những sử liệu hiện còn không thấy chép hai cha con ông có trực tiếp tham gia vào bất kỳ một trận tuyến nào. Văn bia chỉ ghi các hoạt động quân sự của Lê Hầu chủ yếu là huy động cơ binh để giữ an ninh trong phạm vi lãnh thổ. Đó là một sự khôn ngoan, sáng suốt đủ để an định cuộc sống của nhân dân và không làm hao tổn binh lực của bản quận, cũng như quyền lợi gia tộc. Có thể nói, Cửu Chân-Nhật Nam dưới thời của cha con Lê Hầu-Lê Ích Từ là một vùng đất thái bình, thịnh trị. Cho nên, Nguyên Nhân Khí trong văn bia Trường Xuân mới ca ngợi ông là “Lê hoàng” (vua Lê) của vùng đất này. Tên tước Mục Phong hầu dành tặng cho ông hẳn cũng vận đúng vào con người của ông.

Văn bia và những sử liệu không cho biết ông mất khi nào. Theo thần phả mà giáo sư Đào Duy Anh khai thác, sau khi nhà Đường diệt Tiêu Tiển thì Lê Hầu lui giữ Cửu Chân mà trấn thủ địa phương. Ông cùng các con đã kháng chiến với quân nhà Đường rồi tử trận [Đào Duy Anh tb2010: 90-92]. Trên đây là giả thuyết của Đào Duy Anh từ một số sử liệu gạn lọc được từ thần phả. Tuy nhiên, một số ghi chép trong Đại Việt sử ký toàn thư đã nêu ra bối cảnh lịch sử khiến cho chúng ta nghĩ đến nhiều khả năng khác. Năm 622, Khâu Hòa làm Thái thú Giao Châu, cậy uy thế của nhà Tùy, thường đi tuần các khe động ở biên giới, ở châu hơn 60 năm (sic), sở hữu rất nhiều châu báu, giàu như vương giả [1998: 188-189]. Nhưng thông tin “ở châu 60 năm” hẳn là có vấn đề. Bởi lúc mà Khâu Hòa chuyển về trấn nhậm ở biên viễn phía Nam là lúc ông đã 60 tuổi [Taylor 1982: 166], nhận xét này của Taylor trùng khít với các sử liệu trong Cựu Đường thư. Sách này chép: Cuối đời Đại Nghiệp Hòa lánh mình ở Hải Nam, quan lại ở đấy thường cướp của thuyền chài, bách tính đều hàm oan, nên dấy loạn. Khưu Hòa khi đó đang trị lý hai quận đều thi hành chính sách nhân ái, rất nổi tiếng nên được Tùy Dạng Đế sai làm Giao Chỉ Thái thú, vỗ về hào kiệt, rất được lòng người Man. Đến khi nhà Tùy mất, bọn Tiêu Tiển, Nịnh Trường Chân đem quân đến đánh. Hòa dẫn thủ lĩnh các châu Giao-Ái, đánh lui bọn Trường Chân. Bờ cõi vẹn yên. Sau đấy, Hòa mới biết nhà Tùy đã mất bèn theo Tiêu Tiển. Đến khi Tiển bị dẹp, thì Hòa lại lấy đất Hải Nam dâng về nhà Đường. Vua Đường sai sứ Lý Đạo Dụ đến trao chức Thượng Trụ quốc Đàm Quốc công-Giao Châu Tổng quản. Hòa lại sai Cao Sĩ Liêm dâng biểu xin về triều. Vua thuận cho. Lại thêm, Khưu Hòa mất năm Trinh Quán 11 (636), thọ 86 tuổi. Năm 60 tuổi ông nhậm chức tại Giao Châu, suy ra năm ông nhậm chức tại Giao Châu là năm 816. Những thông tin này cho thấy có khả năng xung đột giữa Khâu Hòa và Lê Hầu. Nếu như khả năng này xảy ra thì đây chính là nguyên nhân dẫn đến sự tiêu vong của dòng họ nhà Lê trên đất Cửu Chân đúng như giả thuyết của Le Breton và Đào Duy Anh.

Nhưng chúng tôi muốn hướng đến một giả thuyết khác, rằng Lê Hầu vẫn giữ chức Thái thú Cửu Chân cho đến hết đời. Tức là đã không xảy ra một cuộc chiến tranh nào giữa lực lượng của Lê Hầu cũng như của con trai ông – Thái thú Nhật Nam Lê Ích Từ với Thái thú Giao Châu-Khưu Hòa (từ 616 trở về sau). Có hai lý do khiến chúng tôi đưa ra giả thuyết như vậy.

Trước nay, các nhà khoa học cho rằng tấm bia Đại Tùy Cửu Chân do Lê Hầu dựng vào năm 618 tức là vào năm nhà Đường lật đổ nhà Tùy. Thế nhưng, văn bia vẫn cứ ghi “Đại Tùy” mà không ghi niên hiệu nhà Đường. Điều này chứng tỏ, Lê Hầu đã không đầu hàng nhà Đường mà đã đứng lên nổi dậy chống lại thế lực phương Bắc. Nhưng tính chi tiết thì không hẳn như vậy, văn bia Trường Xuân dựng vào ngày mùng 8 tháng 4 năm Nhâm Dần niên hiệu Đại Nghiệp thứ 14 (618), trong khi nhà Đường chính thức thay nhà Tùy vào ngày 18 tháng 6 năm này. Nghĩa là, bia dựng trước hai tháng mười ngày.

Thứ nữa, đến sau năm 618, Lê Hầu lúc đó có khả năng đã từ 85-90 tuổi, một độ tuổi đã rất cao để trực tiếp lãnh đạo chiến tranh để đến mức bị giết do thất bại. Cuối cùng, và quan trọng nhất, như chúng tôi đã phân tích ở trên, Lê Hầu luôn là một người có một độ lùi mẫu mực trên con đường chính trị, khiến cho suốt cuộc đời làm quan 60 năm, giữ chức Tướng quân năm quận, Thứ sử các châu quận của ông không hề phải “ra trận” một lần nào với các Thứ sử cùng cấp (như Lý Bôn, Lý Bí, Lý Phật Tử, Tiêu Tiển, Âu Dương Ngỗi, Chu Địch, Trần Bá Tiên…). Bất luận là triều đại nào, Lương, Trần hay Tùy ông đều mềm mỏng lĩnh chức để yên ổn với vùng đất “sinh địa” của mình. Những thay đổi triều đại dường như không có tác động nào đến cuộc đời chính trị của ông. Cho nên, từ sau năm 618, mặc dầu là quan nhà Tùy, nhưng trong bối cảnh toàn bộ lãnh thổ Hoa Hạ đã thuộc về nhà Đường, thì một người lão luyện về chính trị như ông cũng phải biết rằng vận của nhà Tùy đã hết. Khưu Hòa kiêu dũng vậy mà vẫn phải quy thuận huống hồ là một người chủ trương “vô vi nhi trị”, và đằm mình trong Phật pháp như ông.

Qua văn bia, ta vẫn thấy Lê Hầu vẫn là người thung dung trên dặm thanh vân, thảng thích trong nguồn Phật học (tâm tùy vô môn, thị yên du xứ). Ông đã cho xây dựng một số công trình như đạo tràng Bảo An (chùa bảo hộ sự an lành) , đài Sủng Tịnh (đài tôn thờ sự thanh tịnh) , và theo thông tin từ thần tích do giáo sư Đào Duy Anh khai thác, ông còn cho xây dựng thêm cả thọ oanh (sinh phần) . Có thể nói, sự mềm mỏng lão luyện trên chính trường cùng với tinh thần từ bi của nhà Phật đã làm nên công tích bình trị của Lê Hầu tại đất Cửu Chân-Ái châu-Nhật Nam.

Mặt khác, xét về cán cân lực lượng thì gia đình ông lúc đó đã chiếm đến 2/3 lãnh thổ thời và non nửa dân số thời bấy giơ . Ông giữ Cửu Chân, con trai ông giữ Nhật Nam, Khưu Hòa giữ Giao Châu. Cho nên, chiến tranh giữa Lê Hầu với nhà Đường đã là một chuyện khó xảy ra, xung đột giữa gia tộc nhà ông với Khưu Hòa có lẽ cũng khó trở thành hiện thực.

Việc ông cùng vợ con và tướng lĩnh khác được thờ làm phúc thần ở nhiều nơi trong Thanh Hóa ngày nay, theo chúng tôi, có lẽ không chắc là do ông đã hy sinh cho việc “đấu tranh giữ nước” (chúng tôi muốn chua thêm rằng khái niệm “đấu tranh giữ nước” là của đời sau dùng cho thế kỷ thứ 6-7). Người được thờ làm phúc thần còn là người suốt đời làm phúc cho nhân dân, khiến cho cuộc sống của dân được yên ổn hạnh phúc. Lê Hầu cùng gia tộc ông có lẽ thuộc về trường hợp này.

Xét ở khía cạnh nào đó, Lê Hầu có thể coi như là “một vị vua” ở vùng đất Cửu Chân-Nhật Nam vào cuối thế kỷ 6, đầu thế kỷ 7. Sự tự trị mang tính chất “mềm” đối với nhà Lương, nhà Trần, nhà Tùy cũng như nhà Đường đã làm nên tính ổn định cho sự độc lập, cho vương quyền của gia tộc họ Lê trên mảnh đất này. Sự độc lập ấy đã khiến Lê Hầu được nhân dân của Cửu Chân cũng như quan lại địa phương coi ông như là vị “Vương” của họ. Điều ấy được thể hiện qua hàng loạt các từ ngữ của Nguyên Nhân Khí dành cho ông trong văn bia Trường Xuân như Lê hoàng, vương cung, khâm minh (chữ dùng để ca ngợi vua Nghiêu), ngự điện, thiệu long (dùng để trỏ việc nhà vua kế nối sự nghiệp của tiên vương), nhân phong (từ dùng để ca ngợi công nghiệp trị lý của nhà vua)… Nguyên Nhân Khí đã coi ông như là “đấng triết vương ở nước Bội nước Dung làm phên giậu cho nhà Chu đời trước”, đã ca ngợi ông như là một vị Điều ngự “từ bi tính Phật, làu thông đạo học” để dắt đám lê dân còn mê muội đến với cõi Phật an lạc:
Lê hoàng kết thiêng,
Bốn bể hòa đồng.
Kính cẩn trên ngôi,
Chỉnh sửa huân nhung!
“Ơn trạch của ông đã tưới khắp, khiến muôn dân sung túc” giống như “ngọn gió xuân nuôi dưỡng muôn loài” (Mục Phong hầu). Nhân dân đời sau, nhớ đến công đức của Lê Hầu cũng như gia tộc ông nên đã tôn ông lên làm phúc thần ở nhiều nơi. Theo văn bia Tu tập uy linh miếu bi ký do tiến sĩ Nguyễn Thực soạn, đến thế kỷ 17, Lê Hầu đã được nhân dân thờ phụng, và tôn xưng là Cao Tổ Lê Ngọc hoàng đế . Theo khảo sát thực địa của giáo sư Đào Duy Anh, thì Lê Ngọc cùng với vợ và các con được thờ tại hơn trăm đền thờ tại Thanh Hóa ngày nay .

3. Văn bia Đại Tùy Cửu Chân: giá trị văn học và lịch sử Phật giáo

So với văn bia Xá lị tháp minh đời Tùy năm 601, thì văn bia Đại Tùy Cửu Chân có giá trị hơn hẳn về mặt văn học cũng như những thông tin sử học có liên quan đến các nhân vật lịch sử. Độ dài văn bia quãng trên 900 chữ, là một bài văn của đại bút Nguyên Nhân Khí. So với Xá lị tháp minh là một bài văn bia không có chất văn chương, thuần túy là “rập khuôn” theo một mẫu để chôn dưới các tháp xá lị do vua Tùy sai xây dựng. Tức là, bia Xá lị tháp minh chỉ có nêu những nội dung tương tự như vài chục bia xá lị được làm cùng đợt như vậy ở Trung Quốc.

Vì thế, ở phần này, chúng tôi thiết nghĩ cũng cần phải có đôi dòng khảo luận về thể thức, nội dung và nghệ thuật ngôn từ của văn bia Trường Xuân.
Về mặt nội dung, văn bia Trường Xuân rõ ràng được viết ra là nhằm mục đích ca ngợi Lê Hầu cũng như dòng họ nhà ông trong việc chăn dân. Thế nhưng, như phân tích của chúng tôi về phương thức chính trị của Lê Hầu ở phần trên, Lê Hầu tuy là người đứng ở vị trí “cai trị nhân dân”, nhưng ông luôn là người ứng xử như là một vị Phật sống để dẫn dắt nhân dân khỏi khổ ải lầm than của cõi nhân sinh. Ngay từ thời quãng 17 đến 25 tuổi, nhận thấy xã hội nhà Lương động loạn, ông đã tự đi tìm cho mình một mảnh đất mới xa xôi và an lạc. Cha ông là Thứ sử Triều Châu, còn ông đã chuyển về làm Thứ sử Nhật Nam (theo như thần tích), hay Thứ sử Ái châu. Khi đó, như ta biết, Nhật Nam hay Cửu Chân là mảnh đất biên viễn, là cực Nam của nhà Lương lúc bấy giờ. Phía Tây Bắc là giáp Đại Lý, phía Bắc giáp Giao Chỉ, phía Tây là giáp Bồn Man, phía Nam là giáp Lâm Ấp. Thường thì, trong tâm lý người đời, phải đi làm quan xứ ấy không khác gì phải đi đày, bởi khí hậu khắc nghiệt, nhiều lam chướng. Những câu chuyện chép trong một số bộ sử quan phương có thể cho thấy rõ việc này. Chuyện Lưu Phương, năm 605, dù có chiến thắng Lâm Ấp, nhưng cũng đã chết trên đường trở về. Chuyện tông thất nhà Đường chết nơi đất Giao Chỉ. Chuyện một viên quan nhà Đường sau đó, thà “khi quân” chịu chém đầu còn hơn phải đi nhậm chức ở Giao Châu. Thế nhưng, Lê Hầu đã chọn cái mảnh đất không ai muốn đến ấy, để xây dựng một triều đại 60 năm của mình kéo dài đến ba đời (từ ông, đến con trai ông Lê Ích Từ, và có thể cả cháu chắt ông nữa ). Chọn một nơi xa xôi như thế, Lê Hầu đã gần như cách li hoàn toàn khỏi những động loạn xã hội, những bể dâu thay đổi triều đại từ Lương, Trần, Tùy rồi đến Đường. Sự lựa chọn ấy thể hiện sự tinh tế và tầm viễn kiến của một người vừa lão luyện trên chính trường, vừa minh tuệ về mặt triết học nhân sinh.

Văn bia có ca ngợi ông một đoạn như sau:
“Ôi, Lê Hầu [sứ quân ta], [tính bẩm] thiên tư, đạo học dần đủ, trước xưng Thứ sử, [sau] gọi Lê Hầu. [Người trị lý đất Cửu Chân so với Hoa Hạ rộng lớn] như đấng triết vương ở nước Bội nước Dung [làm phên giậu cho nhà Chu thuở nọ], vì thế mới vâng mệnh [đến đây]. [Trước đây] khi [loạn] đời Vĩnh Gia, [tổ tiên ông lánh nạn đến]囗囗囗囗. [Thân phụ]囗囗囗囗囗囗, tổ cao làm [Tổng quản] tướng soái, Thứ sử quận Triều Châu. Khi nhà Lương còn đang cai trị, [ông] làm Đô đốc quân sự năm châu Ái-Đức-Minh-Lị-Hoan, [nhiếp] chức Thứ sử Ái [châu], 囗囗囗囗囗囗囗囗 tướng quân, [được] phong tước Mục Phong hầu. [Cho nên] mới biết [việc cũ], [nhà ông] tự lập đã ba đời, hưởng năm lâu dài [vậy]. Ông ở nhàn tĩnh nơi vùng đất mới yên ổn [tránh được những động loạn các đời Lương, Trần, Tùy], ơn trạch tưới khắp, khiến muôn dân sung túc. [Ông vốn là người ham chuộng Phật pháp], khi theo học luôn có đức lại giữ pháp môn, [nên] phẩm hạnh được viên mãn. [Ông] thường hay lễ Phật tụng kinh, [thấy] linh tượng tỏa sáng; [lại lấy] Thiền tông làm lòng, thường tự thảng thích trong đó”.

Mặc dầu, câu chữ trên văn bia không còn nguyên vẹn, song những khắc họa về thân thế, gia tộc, công nghiệp và đức hạnh của Lê Hầu dưới ngòi bút của Nguyên Nhân Khí, có thể nói là hiện lên một cách khá sắc nét, rõ ràng. Ông tư chất vốn là một người nhân từ, lại thêm từ nhỏ đã được học hành, cho nên đức tài đều viên mãn (đạo học tiệm cụ). Chính cái sở học, cái thiên tư ấy đã giúp ông có được cái quyết định đúng đắn: coi đất Ái Châu-Nhật Nam là một miền đất hứa, một miền đất để định cư mà an lạc, ông đã coi đó như là “sinh địa” của cuộc đời ông, gia tộc ông.

Trong văn bia, Nguyên Nhân Khí cũng ca ngợi về phép cư xử của Lê Hầu. Dưới nhãn quan của Nho gia, Nguyên Nhân Khí coi hành động “trấn giữ Ái Châu” của Lê Hầu là một hình mẫu ứng xử chính trị tiêu biểu của sự nghiệp “tu tề”. Ông viết: “[Người trị lý đất Cửu Chân so với Hoa Hạ rộng lớn] như đấng triết vương ở nước Bội nước Dung [làm phên giậu cho nhà Chu thuở nọ]”. Có thể nói, đây là một biểu hiện rất sinh động cho thấy Nho giáo đã được thực thi như thế nào ở Việt Nam trong thế kỷ 6 thế kỷ 7. Chính vì thế, Lê Hầu được phong tước là “Mục Phong hầu”. Chữ “mục phong” là một điển ngữ xuất nguồn trong Kinh thi để trỏ ngọn gió mùa xuân mát lành thổi đến khiến cho muôn cây cỏ tốt tươi, sinh sôi nảy nở. “Mục Phong” là cái đức của người quân tử, là cái dụng của bậc vương chủ. Trong văn bia, Nguyên Nhân Khí đã dùng nhiều từ ngữ của Nho gia để ca ngợi Lê Hầu, nhưng quan trọng hơn cả các từ ngữ đó đều mang sắc thái tôn vinh, xưng tụng đối với các vị vua, các vị quân chủ.

Song, điểm nổi trội hơn cả trong văn bia Đại Tùy Cửu Chân chính là nội dung về Phật học. Như trên đã nêu, Lê Hầu là người ham chuộng Phật pháp, thường hay tụng kinh, là người biết giữ pháp môn, phẩm hạnh viên mãn. Ông đã cho xây dựng chùa Bảo An, cho khắc bia Trường Xuân, cho dựng đài Sủng Tịnh,… đây đều là những công trình có liên quan đến việc hoằng dương Phật pháp. Chính vì thế, Nguyên Nhân Khí đã sử dụng sáu bảy chục thuật ngữ Phật giáo trong bài văn bia này để nói về sự nghiệp của “đại hộ pháp” họ Lê trên đất Cửu Chân. Trong vòng 60 năm cai trị ở mảnh đất này, ông đã đem ơn đức, ân trạch, đã đem ánh sáng trí tuệ của Phật pháp chiếu rọi cho lê dân, đã đem đuốc tuệ (trí cự), nước tuệ (tuệ thủy) để dẫn dắt chúng sinh thoát khỏi lầm than khổ ải. Cho nên, nhân dân mới coi ông như là một vị Phật sống, là người nối được chân tông, là đức “điều ngự” để “cứu vớt sinh linh”.

Đặt trong bối cảnh thời đại, thời Lương, Trần, Tùy là thời đại Phật giáo đang hết sức phát triển. Xã hội càng động loạn, con người càng cần đến chốn nương tựa tâm linh. Vào thời Lương, chùa Hồng Lô thuộc về Thiền tông. Cũng trong thời gian này, các thiền sư Thiên Trúc đã rộng truyền thiền pháp vào Trung Quốc. Trong đó nổi tiếng nhất là Bồ Đề Đạt Ma. Lương Vũ Đế nghe danh, mà mời vị sư này đến kinh đô Kiến Khang. Như thế, Phật giáo từ thời Lương đã đi vào chốn cung đình. Trải đến triều nhà Tùy, Phật giáo đã lên đến cực thịnh. Tùy Văn Đế từng tự nhận “công nghiệp của mình là do Phật pháp” (ngã hưng do Phật pháp), thậm chí sau còn chuyển sang bài xích Nho học, coi Phật giáo là quốc giáo. Tùy Văn Đế cũng là người dùng tôn giáo nhằm mục đích chính trị, ông này đã từng hiệu triệu sư tăng xuất sơn để “hành đạo vì quốc gia”. Đến thời Tùy Dạng Đế, thì ông vua bạo ngược này còn đích thân thụ giới của tông Thiên Thai, trở thành đệ tử nhà Phật. Nhà Tùy đã cho xây dựng hơn 5000 chùa tháp, tạo đắp vài vạn tượng Phật, phiên dịch vài vạn cuốn kinh Phật, khiến cho Phật giáo phát triển gấp bội so với các triều đại trước. Tùy Văn Đế còn cho xây dựng 83 tháp xá lị ở khắp nơi, trong đó có một tháp ở Long Biên (Bắc Ninh ngày nay).

Trong bối cảnh như vậy, việc Lê Hầu đi theo Phật pháp cũng là điều có thể hiểu được. Thế nhưng, lối “tu đạo” của Lê Hầu khác hẳn về chất so với các hoàng đế phương Bắc. Các vua Tùy Văn Đế, Tùy Dạng Đế tuy đẩy Phật giáo lên địa vị quốc giáo, khiến Phật giáo có địa vị tối cao, song cũng là những người đã thế tục hóa tôn giáo này. Hẳn không ít nhà sư đã nghe lời kêu gọi của Văn Đế mà lao vào cuộc chiến tranh “hành đạo” của ông vua này. Nhà Tùy, dựa trên chiêu bài Phật giáo để tiến hành thôn tính, chinh phạt hàng loạt các quốc gia láng giềng như Đột Quyết, Lâm Ấp, Khiết Đan, Cao Ly, Lưu Cầu, Y Ngô… Trong khi đó, Lê Hầu trong suốt 60 năm cai trị ở Cửu Chân, Nhật Nam ông không hề tiến hành bất kỳ một cuộc chiến tranh nào với các thế lực đương thời. Ông chuyên chú chăm lo cho dân chúng đi theo Phật pháp. Nhân Nguyên Khí ca ngợi ông là người “nối được chân tông”, hẳn cũng là vì thế.

Về mặt ngôn ngữ, văn bia Trường Xuân, tuy bị khuyết nhiều chữ, không còn đọc được toàn văn. Nhưng chúng ta còn thấy được thể thức, bố cục của văn bia thời này như sau. Ngoài tên bia trên bi ngạch, còn có tên phụ ở lòng bia. Ngay dưới tên phụ là chức tước tên tuổi, quê quán người soạn văn bia. Tên văn bản ghi rõ thể loại là “bi văn” trong đó, phần chính văn gồm đoạn thuyết lý duyên khởi về đạo Phật. Sau đó, là đoạn ký thuật về tông tộc, hành trạng, công nghiệp của Lê Hầu. Đoạn cuối là bài minh độc vận ca ngợi Phật pháp và công cuộc hoằng dương Phật giáo, dẫn dắt chúng sinh của Lê Hầu.

Văn bia Trường Xuân thể hiện rõ lối dùng văn xen kẽ giữa văn xuôi và văn biền ngẫu. Vì thế, có những đoạn lên xuống nhịp nhàng, cân đối mà thanh thoát, có những chỗ lại trần thuật lớp lang, giàu giá trị thông tin. Ví như:
Ôi,
Pháp Phật thiêng liêng, trí tuệ thế gian há thửa cầu;
Pháp tính thâm sâu, lời nói của trời khôn đoán hết.
Nên,
Cảnh Phạm thiên, còn là hóa thành;
Chốn tam giới, cũng là nhà lửa.
[Chúng sinh] khốn khổ, nhạo báng làm trái đạo […], [nên] khiến cho [thân…] phải chịu khổ ải.
Tùy cơ trời mà làm lợi cho muôn vật, [như] vua Dục Vương [dựng] tháp báu, Đế Thích [có] chùa chiền, [thực] đều [là để] chiêm ngưỡng dung nhan tôn quý. [Các đấng ấy] đã bắc cầu bến cứu vớt muôn loài, [khiến chúng sinh] hồi hướng về nơi tịnh độ đất phúc vậy.
Có thể thấy, ngay cả trong những đoạn văn xuôi, tác giả thỉnh thoảng xen cả những tiểu đối, khiến cho câu văn cũng trở nên duyên dáng hơn, mượt mà hơn.
Phần bài minh được tác giả soạn bằng thể 4 chữ thông dụng, với lối gieo vần độc vận. Lối gieo vần này khác so với một số bài minh đời Lí đời Trần. Nhưng nhìn chung, bút khí đi khá đều đặn, ngôn từ trau chuốt, ca ngợi nhưng không sáo mòn:
[Theo nối] chân tông,
Tâm pháp khó cùng.
Đức sinh 囗 ngự,
Xem dấu vương cung.
Từ bi tính Phật,
Học đạo làu thông.
Bừng bừng đuốc tuệ,
Dắt đám mung lung.
Nên xưng Điều ngự,
Làm đức Thế tông.
[Người] phá [đạo] pháp,
Thảy đều về không.
Lê Hoàng kết thiêng,
Bốn bể hòa đồng.
Kính cẩn trên ngôi,
Chỉnh sửa huân nhung.
Đẹp thay [Lê Hầu]!
Truyền nối hết lòng.
Tầng đài cao vút,
Giảng đạo thung dung .
[Lòng] [theo] [cửa] [Phật]
Tính [khua] cầu vồng.
Trong điện chính giác,
Mà tỏ thần công.
Nước tuệ nhuần tưới,
Hoa tiên thắm nồng.
Nên xem bia đá,
Gìn giữ nhân phong.
Hoa ngân [đầy] [đủ]
[Với] [thiên] [địa] [cùng]
Có thể nói, văn bia Đại Tùy Cửu Chân quận Bảo An đạo tràng chi bi văn tại Trường Xuân là một áng văn chương cổ có giá trị về mặt văn học.
Hình thức, nội dung, thể chức văn bia đã khá ổn định, do một người nổi tiếng tài hoa là Nguyên Nhân Khí soạn. Văn bia này đánh dấu mốc son khởi đầu cho thể loại bi kí cả ở mặt vật chất lẫn phương diện thể loại, để sau đó nó được tiếp tục phát huy trong thời đại Lí Trần. Văn chương Lí Trần trong đó bi kí Lí Trần là một đỉnh cao, đỉnh cao ấy bắt nguồn từ văn hóa đời Tùy-Đường. Hay nói cách khác, Tùy Đường là bệ phóng cho những yếu tố văn hóa, văn chương cho thời đại Lý Trần cũng như nhiều nước khác trong khu vực.

Với bài văn bia cũng như bài minh trong bia Đại Tùy Cửu Chân, Nguyên Nhân Khí là tác gia văn học sớm hàng đầu mà chúng ta hiện biết. Bài văn bia không chỉ có ý nghĩa cho văn học mà còn là hiện vật giá trị để cung cấp thông tin cho các ngành lịch sử, mỹ thuật cổ (điêu khắc, thư pháp),… Có thể nói, những thông tin sử liệu qua bia Đại Tùy Cửu Chân quận Bảo An đạo tràng chi bi văn tại Trường Xuân đã bổ sung một số cứ liệu quan trọng làm sáng tỏ hơn một giai đoạn lịch sử của mảnh đất Cửu Chân-Ái Châu-Thanh Hóa cũng như Nhật Nam-Hoan Châu-Nghệ An rộng hơn là lịch sử Việt Nam vào giai đoạn từ năm 557 đến 618 mà trước nay các bộ sử quan phương không hề nhắc đến. Những khôn khéo trong việc đối nội, đối ngoại, thù trong giặc ngoài cũng như lối “ứng xử mềm” của Lê Hầu đối với các triều đại phong kiến phương Bắc, đến nay vẫn còn nguyên giá trị thời sự và lịch sử!

Tài liệu tham khảo
1. Đào Duy Anh, “Cái bia cổ ở Trường Xuân với vấn đề nhà Tiền Lý”, Nghiên Cứu Lịch Sử, 50 (5.1963), tr. 22-28.
2. Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb. Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội, tb. 2010.
3. Đặng Xuân Bảng, Việt sử cương mục tiết yếu, Hoàng Văn Lâu dịch và chú giải, Nxb. Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 2000.
4. Le Breton, La Province de Thanh-Hoa, Imprimerie Kim Duc Giang, 1924.
5. Le Breton, Monuments et Lieux Historiques du Thanh Hoa (Contribution à l’inventaire des Vestiges), Revue Indochinoise, mars-avril-1921, XXIV, 3-4: 163-191.
6. Phan Văn Các – Claudine Salmon, Épigraphie en Chinois du Viet-Nam (Văn khắc Hán Nôm Việt Nam), Tập 1, École Française d’Extrême-Orient, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Paris-Hà Nội, 1998, tr. 1-12.
7. Nguyễn Du Chi, Hoa văn Việt Nam từ thời tiền sử đến nửa đầu thời kỳ phong kiến, Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội – Viện Mỹ thuật, Hà Nội, 2003.
8. Lê Cường, “Nghiên cứu Mỹ thuật truyền thống: chặng đường dài”, Nghiên Cứu Mỹ Thuật, Nxb. Mỹ Thuật, H, 2007, tr. 80-89.
9. Trần Trọng Dương, “Đinh Bộ Lĩnh-loạn sứ quân: từ sử liệu đến sử thực”, Tạp chí Nghiên Cứu Và Phát Triển, Huế, số 01.2012.
10. Trần Trọng Dương, “Biểu tượng núi vũ trụ Tu Di-Meru trong văn hóa Việt Nam và châu Á”, Tạp chí Nghiên Cứu Mỹ Thuật, 06. 2012, tr. 23-36.
11. Trần Văn Giáp, “Văn bia Việt Nam (công dụng thác bản văn bia Việt Nam đối với Khoa học Xã hội và những thác bản văn bia hiện còn có ở Thư viện Khoa học Xã hội”, Nghiên Cứu Lịch Sử, 118 (1.1969), tr. 3-6.
12. (Khuyết danh), XIII (?), Đại Việt sử lược, Trần Kinh Hòa biên hiệu, Soka daigaku Asia kenkyujo, Tokyo, 1987.
13. Nguyễn Quang Hà, “Về tấm bia đời Tùy (601) mới phát hiện tại chùa Giàn – Huệ Trạch tự (xã Trí Quả, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh)”, Thông Báo Khảo Cổ Học, 2012.
14. Nguyễn Quang Hồng vcs, Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, Nxb. KHXH, H, 1992.
15. Phạm Lê Huy, “Việc xây dựng tháp Xá lợi dưới thời Tùy Văn Đế và minh văn tháp Xá lợi mới phát hiện tại Bắc Ninh”, Thông Báo Khảo Cổ Học 2012.
16. Hoàng Lê, “Tình hình sưu tầm và nghiên cứu văn bia”, Tạp chí Khảo Cổ Học, số 02.1982.
17. Trịnh Khắc Mạnh, Một số vấn đề về văn bia Việt Nam, Nxb. KHXH, Hà Nội, 2008.
18. Trịnh Khắc Mạnh – Nguyễn Văn Nguyên – Philippe Papin, Corpus des Inscriptions Anciennes du Viet-Nam (Tổng tập thác bản văn khắc Hán Nôm Việt Nam), Tập 21, Viện Cao học Thực hành-Viện Nghiên cứu Hán Nôm-Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp. Hà Nội, 2009.
19. Lê Viết Nga, “Về hai cổ vật niên đại thời Tùy ở Bảo tàng tỉnh Bắc Ninh”, Báo Bắc Ninh, 2012.
20. Thủy kinh chú sớ, Lịch Đạo Nguyên chú, Dương Thủ Kính-Hùng Hội Trinh sớ, Đoàn Hy Trọng điểm hiệu, Trần Kiều Địch phúc hiệu, Nguyễn Bá Mão dịch, Nxb. Thuận Hóa-Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Huế, 2005 [dịch từ ấn bản Thủy kinh chú sớ, Cổ Tịch xuất bản xã, Giang Tô, 1999].
21. Ngô Thị Thanh Tâm, “Nghiên cứu văn bia huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa” (Luận văn Thạc sĩ Hán Nôm), Thư viện khoa Văn học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội, 2008.
22. Đinh Khắc Thuân, Văn bia thời Mạc, Nxb. KHXH, Hà Nội, 1996.
23. Keith Weller Taylor, The ‘twelve lords’ in tenth-century Vietnam, Journal of Southeast Asian Studies 14, 1 (March 1983), pp. 46-62.
24. Keith Weller Taylor, The Birth of Vietnam, University of California Press, Berkeley, 1983.
25. Trần Thái Tông, XIII, Thiền tông khóa hư ngữ lục, Tuệ Tĩnh (tk 14) dịch Nôm, Trần Trọng Dương khảo cứu-phiên chú, Nxb. Văn Học, TP. HCM.
26. Tỉnh ủy-Hội đồng Nhân dân-Ủy ban Nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Địa chí Thanh Hóa (Tập 2: Văn hóa xã hội), Nxb. KHXH, Thanh Hóa, 2004.
27. Lê Trắc, (1335) An Nam chí lược, Mạnh Nghị Trần Kinh Hòa dịch (Nxb. Thuận Hóa-Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Huế, tb. 2002.
28. Chu Quang Trứ, “Bia và bia chùa Việt Nam”, Mỹ thuật Lý Trần – Mỹ thuật Phật giáo, Nxb. Mỹ thuật, H, 2012, tr. 506-557.
29. Trần Quốc Vượng, “Xứ Thanh-vài nét về lịch sử-văn hóa”, Theo dòng lịch sử: những vùng đất, thần và tâm thức người Việt, Nxb. Văn Hóa, Hà Nội, 1996.
30. Khuyết danh, (đời Trần), (Đại) Việt sử lược, trong Tứ khố toàn thư (đời Càn Long nhà Thanh).
31. Chính Hòa thứ 18 (1697), Đại Việt sử ký toàn thư, Nội các quan bản, Bản khắc in, Bản dịch, 1998, Tập 1, Ngô Đức Thọ dịch chú, Hà Văn Tấn hiệu đính, Nxb. Khoa Học Xã Hội, Hà Nội.
32. 阮實。《修葺昭慶廟碑》。1996。
33. 阮實。《修葺威靈廟碑記》。 1635。
34. 丁福寶。《佛教大辭典》 。文物出本社, 北京, 1984。
35. 葉昌熾 (撰) 。 柯昌泗 (評) 。 《石語異同評》。 中華書局。 北京。 1994。
36. 張正烺 (名譽主編) 。 呂宗力 (主編) 。 《中國歷代官制大辭典》。 北京出版社。 北京。 1994。
37. [唐] 林寶 (撰) 。 《元和姓篡》。四庫全書。(總纂:紀昀,陸錫熊,孫士毅)。
38. [唐] 李吉甫。《元和郡縣圖志》。四庫全書。(總纂:紀昀,陸錫熊,孫士毅)。
39. [唐] 魏徵, 顏師古、孔颖达。《随書》。 中华書局。北京。 2008。
40. 辭源。 商務印書館。
41. 沈起炜。徐光烈。《中国历代職官词典》。 上海辭書出版社。 上海。 1992。
42. 許慎。《說文解字》。 段玉裁注。 清代陳昌治刻本。

Từ thần tích của một ngôi đình ở ngã ba sông Bạch Hạc

Đình Viên Châu ở xã Cổ Đô (Ba Vì, Hà Nội) là một ngôi đình cổ nằm trên khu đất ở khu vực hợp lưu của 3 con sông lớn của miền Bắc là sông Đà, sông Thao và sông Lô. Khu vực này được gọi là ngã ba Bạch Hạc (Bạch Hạc Tam Giang).
Theo thần tích thì đình Viên Châu thờ 2 vị thủy thần thời Hùng Vương. Bà mẹ của 2 vị này là một công chúa có tên Thụy Hoa, đi tu ở chùa trên đất làng Viên Châu. Một hôm công chúa ra bãi sông Viên Châu, mơ thấy rắn cuốn, về sinh đôi được 2 người con trai có dị tướng, đặt tên là Lân và Lý… Về sau 2 người con được vua phong làm “quản trưởng đội thuyền rồng, tả hữu thủy quân tuần sông“, có công cầu đảo mưa và hiển ứng báo vua đánh giặc Thục… Hai vị được sắc phong danh hiệu là:
– Thông Hà hiển ứng an dân đại vương
– Thủy Giang linh ứng đương cảnh đại vương.
Bà mẹ cũng được phong là Mục Phật công chúa và thờ ở am bên cạnh đình.

p1270862

Ngã ba Hạc nhìn từ Viên Châu.

Các di vật thờ ở đình Viên Châu đã bị mất mát khá nhiều. Đình còn lưu giữ được một số vế đối thờ như sau:
Vế đối khác:
春臺壽域竝生竝育遂吾胞
Xuân đài thọ vực tịnh sinh tịnh dục toại ngô bào.
Dịch:
Đài xuân cõi thọ, cùng sinh cùng dưỡng thỏa anh em.
Vế đối này nói tới sự việc hai anh em thủy thần cùng sinh đôi và lớn lên, lập công nghiệp tại đất Viên Châu.
青龍包白虎四民同樂奠洪基
Thanh long bao bạch hổ tứ dân đồng lạc điện hồng cơ
Dịch:
Rồng xanh ôm hổ trắng, bốn dân vui thích yên cơ nghiệp.
Khi xét kỹ thì sự tích 2 vị thần ở đình Viên Châu thì thấy đây cũng là chuyện của các vị thần Bạch Hạc Tam Giang. Viên Châu nằm đúng ngã 3 sông Bạch Hạc. Các vị Thần Bạch Hạc Tam Giang trong Lĩnh Nam chích quái là Thổ Lệnh và Thạch Khanh, đã hiển linh vào thời Đường khi xây đạo quán ở Bạch Hạc.
Truyện thần sông Bạch Hạc kể:
Khoảng các năm Vĩnh Huy đời Đường Cao Tông, Lý Thường Minh làm chức đô hộ đất Phong Châu … xây Đạo Thánh linh quán ở ven sông Bạch Hạc, đặt tượng Tam Thanh ở trong quán để phụng thờ. Lại xây hai ngôi am ở phía trước và phía sau quán, muốn tạc tượng thờ… Canh ba đêm ấy, mộng thấy có hai dị nhân, diện mạo hùng vĩ, phong tư nhàn nhã, đều mang theo quân hầu, trước hò sau hét, …, tranh nhau chiếm am trước… Hai người riêng xưng tên họ, một tên là Thạch Khanh, một tên là Thổ Lệnh. Thường Minh xin đọ tài nghệ, nếu ai thắng sẽ ở am trước. Thạch Khanh ứng tiếng mà chạy, mới tới bờ sông đã thấy Thổ Lệnh ở cạnh sông từ trước rồi… Thổ Lệnh được ở am trước…
Lý Thường Minh cho đắp tượng thờ thần Thổ Lệnh tại Thông Thánh Quán (nay là đền Tam Giang tại phường Bạch Hạc, Việt Trì) và Thạch Khanh được thờ ở đền Chi Cát (nay thuộc phường Tiên Cát, Việt Trì). Cuộc thi nhảy qua sông của hai vị thần đã để lại dấu ấn đến nay, một vết chân trước đền Tam Giang và một gót chân tại Bến Gót (nay thuộc phường Bến Gót, thành phố Việt Trì). Nếu từ đền Tam Giang hay Bến Gót mà “nhảy” qua sông thì chính là vùng đất Viên Châu.
Như đã từng nhiều lần khảo cứu, Thổ Lệnh Tam Giang là Trung Thành phổ tế đại vương, được thờ phổ biến ở khu vực Phú Xuyên (Hà Nội), cũng là vị Quan lớn đệ Tam của tín ngưỡng Tứ phủ, thờ chính tại đền Lảnh (= Lệnh) ở Duy Tiên, Hà Nam. Thần tích ở Viên Châu chép là “quản trưởng đội thuyền rồng” (= Trưởng Lệnh). Còn Thạch Khanh là Quan lớn đệ Ngũ Tuần Tranh của Thoải phủ. Thần tích ở Viên Châu chép là “tả hữu thủy quân tuần sông”.
Thổ Lệnh và Thạch Khanh là 2 anh em, 2 vị tướng đã giúp vua cha Bát Hải Động Đình, hay đức Lạc Long Quân đánh giặc Thục, lập nên vương triều đầu tiên của người Việt. Vì công lao phò vua lập quốc từ thời sơ sử này nên các vị quan lớn (các vị thủy thần Bạch Hạc) mới trở nên cực kỳ linh thiêng, được người dân nhiều nơi tôn thờ như vậy.
Đền Tam Giang ở Việt Trì vẫn trong lễ hội hàng năm vẫn diễn lại tích thần Thổ Lệnh đưa tiễn Tản Viên Sơn Thánh khi ngài đến thăm Bạch Hạc. Tương tự, trong thần tích đình Viên Châu thì Thông Hà và Thủy Giang đại vương đã báo mộng cho vua Hùng, phò tá Tản Viên Sơn Thánh đánh Thục. Thực ra “Tản Viên” ở trong chuyện này là Lạc Long Quân như đã nói ở trên.
Bà mẹ của 2 vị quan lớn của Thoải phủ là Quý Nương, cũng là Mẫu Thoải, là con gái Thần Long Động Đình. Bà là vợ của vua Kinh Dương Vương, người đã sinh ra Lạc Long Quân. Như vậy Thụy Hoa công chúa ở đình Viên Châu cũng là Mẫu Thoải. Đền thờ Xích Lân Long Nữ là đền Tiên Cát nay ở thành phố Việt Trì.

p1270875Đình Viên Châu ở xã Cổ Đô, Ba Vì, Hà Nội.

Câu đối khác còn lưu được, nay treo trước cung thờ ở đình Viên Châu là:
神異昭天一之生産瑶琪扵龜峒
英武顯乾三之躍誇屋纛扵龍宫
Thần dị chiêu Thiên nhất chi sinh, sản dao kỳ ư quy động
Anh vũ hiển Càn tam chi dược, khoa ốc đạo ư long cung.
Giải nghĩa câu đối này trong từng vế. Ở vế đối đầu, Thần dị là sự lạ, sự khác thường của thần. Thiên nhất: Thiên là quẻ Càn (Kiền). Thiên nhất là hào sơ cửu của quẻ Càn “Tiềm long vật dụng” (Rồng còn đang ẩn mình, chưa hành động). Ý chỉ lúc bắt đầu. Dao kỳ: là tạo ra 2 loại ngọc quý, ý chỉ 2 vị Thông Hà và Thủy Giang. Quy động: động rùa giải, có thể chỉ vùng đất bãi Viên Châu. Vế đầu nói đến sự ra đời kỳ lạ của 2 vị thánh vương tại đất Viên Châu.
Vế đối sau: Anh vũ: sức mạnh tài năng hơn người. Càn tam: Là hào cửu tam của quẻ Kiền “Quân tử chung nhật kiền kiền, tịch dịch nhược, lệ, vô cữu”. Hào này ý nói là người quân tử làm việc liên tục, cẩn thận, tránh lỗi. Khoa ốc đạo: Khoa trương thanh thế cờ xe. Ví dụ như Hoàng ốc tả đạo là xe mui vàng cắm cờ tiết mao, chỉ bậc quân trưởng. Long cung: cung rồng, chỉ cung vua hoặc thủy cung vì đây là 2 vị thủy thần. Vế sau nói tới công nghiệp của 2 vị thần này.
Dịch câu đối ở cung thờ Viên Châu:
Thần dị chiếu khi xuất thánh vương, đúc ngọc dao kỳ nơi động giải
Tài sức tỏ lúc gây công nghiệp, dương màu xe đạo chốn cung rồng.
Trong tên của 2 vị thủy thần ở đình Viên Châu là Thông Hà và Thủy Giang thì chữ Hà ở đây phải hiểu nghĩa là Trời, không phải nghĩa là sông. Thông Hà tương tự như Thông Thiên.

p1270943

Trang cuối trong thần tích đình Viên Châu.

Phần cuối thần tích đình Viên Châu còn kể một “sự lạ” khác:
…Nói tới Thục Vương (chính là An Dương Vương) ở ngôi được 50 năm thì Triệu Đà mang quân chiếm đất nước, cha truyền con nối được 5 đời thánh vương, trước sau tổng cộng là 149 năm. Đến đời Vệ Vương chỉ được 1 năm, Tô Định đem quân tới bờ cõi. Bà Trưng (là con gái của nhà họ Hùng), cất quân khởi nghĩa, tự xưng nữ vương, được 5 năm thì đến thời Đông Hán. Qua các thời Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương gồm 340 năm thì tới nước Nam. Các triều đại có Đinh, Lê, Lý, Trần 4 nhà khai sáng hồng đồ…
Phiên âm trích nguyên gốc từ thần tích:
Tức thuyết Thục Vương (tức An Dương Vương thị dã) tại vị phương ngũ thập niên gian, Triệu Đà nãi đề binh thủ quốc, phụ truyền tử kế đắc ngũ đại thánh vương, tiền hậu cộng nhất bách tứ thập cửu niên. Hựu chí Vệ Vương phương đắc nhất niên, Tô Định đề binh chiêm giới. Trưng nữ (tức Hùng gia tính nữ) hưng sư phương đắc ngũ niên tự xưng vương nữ thời chí Đông Hán. Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương phàm tam bách tứ thập niên chí thử Nam Bang. Lịch hữu Đinh, Lê, Lý, Trần tứ tính khai sáng hồng đồ…
Theo bản thần tích này thì vào thời Vệ Vương, vị vua cuối cùng của nhà Triệu Nam Việt, tướng Tô Định đã đem quân xâm chiếm bờ cõi. Sau đó Bà Trưng mới khởi nghĩa, xưng vương được 5 năm, rồi mới tới nhà Đông Hán.
Thông tin này hoàn toàn khác so với chính sử. Chính sử hiện nay cho rằng người đánh Triệu Vệ Vương (Thuật Dương Vương) là Lộ Bác Đức của nhà Tây Hán. Sau đó là thời kỳ cai trị của nhà Tân của Vương Mãng với các thái thú châu mục Đặng Nhượng, Tích Quang ở Giao Châu, rồi mới đến Tô Định làm thái thú Đông Hán và nổ ra khởi nghĩa của Trưng nữ vương. Thần tích đình Viên Châu lại cho biết người đánh Vệ Vương là Tô Định và khởi nghĩa của Trưng Vương nổ ra ngay sau đó, trước thời Đông Hán. Như thế khởi nghĩa Trưng Vương là vào thời Tây Hán, ngay sau khi nhà Nam Việt bị diệt. Tướng Tô Định trong thần tích tương đương với tướng Lộ Bác Đức của nhà Tây Hán.
Liệu có phải người biên lập thần tích ở Viên Châu đã nhầm? Hay chính sử đang bị nhầm?
Không phải chỉ có một mình thần tích đình Viên Châu cho biết một thời điểm khác của khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Thần tích của xã Phú Lạc (Cẩm Khê, Phú Thọ) theo bản dịch của Nguyễn Duy Hinh trong sách Tín ngưỡng thành hoàng Việt Nam (AE a9/6) cũng kể hoàn toàn tương tự:
… Triệu Đà được nước cha truyền con nối 5 đời cộng 149 năm. Đến đời Thuật Dương Vương kế ngôi chính thống vừa được một năm thì có Tô Định mang quân vào đất nước chiếm Trung Hoa, họ Triệu tàn tạ không người cứu nước. Đến đó cháu gái Hùng Vương húy là Trắc, là bậc nữ trung hào kiệt thánh thần trong đời oai hùng cử binh đánh thẳng đến thành Tô, đại phá. Tô Định thuy chạy. Bà Trưng bèn xây 65 thành ở Lĩnh Ngoại, khôi phục toàn bộ cảnh thổ nước Nam. Bà Trưng tức vị tự lập làm vua.
Hàng loạt những tư liệu dân gian ở nhiều nơi khác nữa cho thấy, có một cuộc khởi nghĩa của Trưng nữ vương nổ ra ngay sau khi nhà Triệu Nam Việt mất nước, dưới thời Hiếu Vũ Đế của nhà Tây Hán. Chính sử Việt hiện tại đang có sự nhầm lẫn về thời điểm và bản chất của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng.

Trung y hay Việt y?

Cuốn Y học tam tự kinh của tác giả Trần Tu Viên soạn đời nhà Thanh có phần đầu là chương Y học nguyên lưu (Nguồn gốc y học) được mở đầu như sau:
Y chi thủy. Bản Kỳ Hoàng.
Linh Khu tác. Tố Vấn tường.
Nạn Kinh xuất. Cánh dương dương.
Việt Hán quý. Hữu Nam Dương.
Lục kinh biện. Thánh đạo chương.
Dịch nghĩa:
Y học khởi đầu vốn từ Kỳ Bá và Hoàng Đế
Sáng tác bộ sách Linh Khu, giảng giải qua sách Tố Vấn.
Sách Nạn Kinh ra đời làm cho y học càng sáng tỏ hơn.
Cuối thời Việt Hán có thầy ở đất Nam Dương
Biện luận rõ 6 bộ kinh, làm rạng rỡ đạo thánh.

y-hoc

Bìa sách Y học Tam tự kinh.

Đây là bài kinh ba chữ cho các thầy thuốc Đông y học để biết được nguồn gốc, sự phát triển ban đầu của y học phương Đông. Tuy nhiên, vấn đề ít được các y sinh, y sư biết là những tác giả, những vị thần y khởi nguồn của y học phương Đông được bộ kinh này nhắc tới hóa ra đều là những người Việt.
Từ thời Thần Nông người phương Đông đã có những tìm hiểu, những khái niệm ban đầu về y học và các cách chữa trị các bệnh. Thần Nông được kể là đã nếm thử hàng trăm loại cây cỏ để kiểm tra các tính chất dược học của chúng và tổng kết lại thành cuốn Thần Nông bản thảo kinh. Tác phẩm này được coi là dược điển sớm nhất của Trung Hoa.
Đặc biệt Thần Nông đã phát hiện ra việc dùng Trà. Thần Nông lần đầu tiên nếm thử trà từ những chiếc lá chè trên cành trà bị cháy, được gió nóng của đám cháy đưa tới và rơi vào vạc nước sôi của ông… Vấn đề ở chỗ, Trà là loài cây đặc sản, chỉ mọc tự nhiên ở khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới. Nơi phát sinh của cây Trà ở phương Đông chủ yếu là vùng Vân Nam, Bắc Việt và Lào. Như vậy thì Thần Nông nếm chè chỉ có thể là ở khu vực này. Thần Nông không thể ở tận vùng sông Hoàng Hà như người Tàu đang “tưởng tượng”, mà Thần Nông chính là thời thái sơ lịch sử của người Việt.
Theo như đoạn Y học Tam tự kinh dẫn ở trên nguồn gốc của Y học phương Đông được tính bắt đầu từ 2 bộ sách vấn đáp giữa quân thần Hoàng Đế và Kỳ Bá, có tên là Linh KhuTố Vấn. Hai bộ sách này tổng cộng có 18 thiên, gộp thành sách Nội Kinh. Hoàng Đế thuộc dòng dõi Thần Nông, thủ lĩnh của Hữu Hùng Thị, sau khi thắng Xi Vưu đã được tôn làm vị vua đầu tiên của Trung Hoa. Thủ lĩnh của Hữu Hùng thì còn ai khác ngoài vua Hùng? Truyền thuyết Việt Hoàng Đế trong chính là Đế Minh, “cháu ba đời họ Viêm Đế Thần Nông”, vị vua Hùng đầu tiên của sử Việt.
Thiên Nam ngữ lục có câu:
Tự vua Viêm Đế sinh ra
Thánh nhân ngưu thủ họ là Thần Nông
Trời cho thay họ Hữu Hùng
Con cháu nối nghiệp cha ông thủ thành.
“Viêm Hoàng tử tôn”, con cháu Thần Nông, Hoàng Đế chính là người Hoa Việt. 2 người khởi đầu y học phương Đông cũng là 2 vị quốc tổ của người Việt.
Vị tổ nghề y tiếp theo được Y học Tam tự kinh nhắc tới là thần y Biển Thước với tác phẩm Nạn Kinh còn lưu lại tới nay. Biển Thước là một thầy thuốc sống vào thời Chiến Quốc. Sử ký Tư Mã Thiên trong Biển Thước Thương Công liệt truyện cho biết: “Biển Thước là người huyện Trịnh, quận Bột Hải, họ Tần, tên Việt Nhân”. Ông hành nghề y rất tài tình, cứu sống thái tử nước Quắc, chuẩn đoán chính xác bệnh tình của Tề Hoàn Công và từng sang thăm bệnh cho Tần Vũ Vương.
Vấn đề là quê hương của Biển Thước nằm ở đâu? Mộ của Biển Thước được người đời sau lập khắp nơi từ Thiểm Tây, Sơn Đông, Sơn Đông Hà Nam ở Trung Quốc. Các tài liệu khác nhau chỗ bảo Biển Thước người nước Tề, chỗ bảo nước Lỗ, chỗ nói nước Triệu. Thực sự thì Biển Thước người nước nào?
Trước hết cần xác định Biển Thước người quận Bột Hải thì Bột Hải đây không phải là vùng biển phía Bắc Trung Quốc giáp với Triều Tiên. Bởi vì vùng đất này thời trước là của các tộc người Liêu, người Di, không phải người Hoa. Mãi tới khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa mới sai tướng Mông Điềm vượt sông Hoàng Hà đánh chiếm lấy vùng Hà Sáo, lập các quận huyện mới và xây trường thành. Khu vực ven biển giáp Triều Tiên do vậy không thể nằm trong phạm vi thiên hạ Trung Hoa thời Tiên Tần.
Vậy Bột Hải quê của Biển Thước là ở đâu?
Bột Hải là từ mà cách đây không lâu vẫn được dùng ở Việt Nam để chỉ Biển Đông ngày nay. Ví dụ, trong vở tuồng Trưng Nữ Vương của Phan Bội Châu, tướng Tô Định khi xưng danh mào đầu nói:
Cõi Nam Quan quét sạch bụi trần
Miền Bột Hải trừng thanh bạch lãng.
Tô Định lập công nghiệp ở miền Bột Hải thì Bột Hải ở đây rõ ràng chỉ Biển Đông.

thai-duongĐền thờ Đức thánh cả Bột Hải đại vương ở Thái Đường.

Dẫn chứng khác, ở khu vực Vân Đình nay vẫn còn có đền thờ Đức thánh Cả tại thôn Thái Đường (xã Thái Bình, Ứng Hòa, Hà Nội). Đức thánh Cả ở đây có tên sắc phong là Bột Hải đại vương. Tuy nhiên, công trạng của vị thánh này lại là đánh giặc Ân ở vùng Hoan Ái. Câu đối trong đền ghi:
Đệ lục đại Hùng Vương, thần tướng huy đao, kình khô ngạc đoạn
Kỷ thiên thu Đông Hải, Ân binh tuyệt mệnh, kích chiết chu trầm.
Dịch:
Hùng Vương thứ sáu triều xưa, thần tướng vung đao, kình đứt sấu đoạn
Biển Đông nghìn thu thủa trước, quân Ân hết số, kích gãy thuyền chìm.
Câu đối này cho biết đức thánh Bột Hải đại vương đã đánh giặc Ân ở vùng biển Đông. Nói cách khác Bột Hải là tên gọi xưa của Biển Đông. Bột Hải thực ra là Bát Hải. Bát là số 8, con số chỉ phương Đông trong Hà thư.
Tên thật của thần y Biển Thước là Việt Nhân cho thấy rõ ràng ông là một người Việt chính cống. Huyện Trịnh ở bên bờ biển Đông của đất Việt có thể là vùng đất Thái Bình xưa vì nơi đây từng mang tên là Chân Định (tên cũ của huyện Kiến Xương). Chân Định đọc phiên thiết là Trịnh.
Văn chầu Quan lớn đệ Tam của Tứ phủ cũng cho biết:
Trịnh giang biên doành ngân lai láng
Đôi vầng hồng soi rạng Nam minh
Con vua Thoải quốc Động Đình
Đệ tam thái tử giáng sinh đền rồng.
Quan đệ Tam là con vua Bát Hải Động Đình ở chốn Nam minh. Nam minh là biển Nam, tức là biển Đông. Bát Hải như đã phân tích, tương đương với Bột Hải, chỉ biển Đông. Động Đình hồ nghĩa là cái hồ lớn ở phía Đông, tức là biển Đông.
Trong văn chầu cho biết nơi sinh Quan đệ Tam có con sông Trịnh. Quan đệ Tam và Vĩnh Công Bát Hải Động Đình là anh em sinh cùng bọc trứng ở đất Thái Bình, nay là đền Đồng Bằng (An Lễ, Quỳnh Phụ). Đây là dẫn chứng cho thấy khả năng huyện Trịnh quận Bột Hải, quê của Biển Thước là vùng huyện Kiến Xương xưa.
Tên Biển Thước là lấy danh theo một thầy thuốc nổi tiếng từ thời Hoàng Đế. Nếu đọc theo Hán văn, Biển Thước 扁鹊 dịch là “con chim khách dẹt”, chẳng có nghĩa gì cả. Rất có thể, đây là tên phát âm theoo tiếng Việt. Biển là… biển. Biển Thước là loài chim biển di cư, hay chim hải âu. Hoàng Đế là vị vua Hùng của người Việt ở Phong Châu (Phú Thọ ngày nay) nên tên của vị thần y thời Hoàng Đế đọc theo tiếng Việt là điều hiển nhiên.
Tiếp theo Y học Tam tự kinh nói tới vị thầy thuốc nổi danh là Trương Cơ, tự là Trọng Cảnh. Đây là tác giả của những cuốn sách y học nổi tiếng truyền lại như Thương Hàn luận, Kim quỹ yếu lược. Tiểu sử của vị y sư này cho biết, ông là người đất Nam Dương (Hà Nam) và từng làm thái thú quận Trường Sa.
Trương Trọng Cảnh hiện đang được cho là sống cuối vào thời Đông Hán. Tuy nhiên, chỗ bất cập là cuối thời Đông Hán thì Thái thú quận Trường Sa là Tôn Kiên, là bố của Tôn Quyền, người lập nên nhà Đông Ngô thời Tam quốc sau đó. Vùng đất Trường Sa khi đó thuộc họ Tôn Ngô, làm sao còn có vị họ Trương nào làm Thái thú Trường Sa lúc này?
Ngay trong Y học Tam tự kinh cho biết: Việt Hán quý, hữu Nam Dương. Tức là cuối thời Việt Hán có ông Trương Trọng Cảnh người quê ở Nam Dương.
Thời Hán được nói tới ở đây là “Việt Hán”. Trong 2 triều đại hiện lịch sử ghi nhận là Tây Hán và Đông Hán thì nhà Tây Hán mới có thể gọi là Việt Hán. Bởi vì Cao Tổ Lưu Bang là một người Việt, khởi nghĩa kháng Tần thành công lập nên nhà Hán (chính xác hơn là nhà Hiếu). Triều đại của Lưu Bang còn gọi là Viêm Lưu, chỉ triều đại của họ Lưu ở Viêm phương, tức phương Nam. Viêm Lưu là một triều đại Việt. Trong khi đó, nhà Đông Hán từ Hán Quang Vũ Lưu Tú là người Hán chính gốc nên triều đại này không thể gọi là Việt Hán.
Dẫn chứng khác là trong các truyện kể về Trương Trọng Cảnh có việc ông đã dùng các bài thuốc Lục vị và Bát vị độc dáo để chữa bệnh cho Hiếu Vũ Đế Lưu Triệt. Lưu Triệt là Vũ Đế của nhà Tây Hán. Như vậy, nhiều khả năng Trương Trọng Cảnh phải là một thầy thuốc sống vào cuối thời Tây Hán (khoảng thế kỷ 1 trước Công nguyên) chứ không phải thời Đông Hán (sau Công nguyên).
Y học nguyên lưu từ Thần Nông, Hoàng Đế tới các danh y khai mở nền y học phương Đông là Việt Nhân Biển Thước, Việt Hán Trương Cơ đều là người Việt. Nếu có ai đó định đăng ký bản quyền y học phương Đông thì phải gọi là Việt y, chứ không phải Trung y.

Những vị thủy thần của phủ Ứng Thiên

Thần phả đình Giẽ Hạ (xã Thịnh Đức, huyện Phú Xuyên, Hà Nội), khu vực thuộc phủ Ứng Thiên cũ, chép:
Vào ngày rằm tháng Giêng năm Giáp Thìn đệ nhị tiên cung tên là Tiên Dung Châu xuất thần giáng sinh. Nhân đó đặt tên là Giáng Tiên. Khi nàng trưởng thành, sắc đẹp tuyệt trần…, những lúc nhàn rỗi thường du ngoạn ở châu Phong, đất Giao Chỉ. Tình cờ gặp vua Hùng Vương thứ 8 là Huy Vương. Vua rất ưng ý liền phong làm cung phi chính thất.
Hai năm sau nàng có thai tròn 12 tháng. Lúc đó là ngày mồng 10 tháng 6 năm Giáp Ngọ nàng đến ngã ba sông Sa tắm gội. Đến ngày 12-6 sinh được một bọc, nở ra 5 người con trai. Người xưa vẫn ca ngợi “nhất bào ngũ tử”…
Khi trưởng thành 5 anh em này đều lần lượt nhiều lần lập công lớn, dẹp giặc đem lại yên bình cho đất nước… Sau khi hóa vua lại ban cho sắc chỉ phong vào hàng thượng đẳng thần. Cả năm anh em đều là quý tử… Vua ban sắc phong cho là Thủy thần…

image0021
Miếu thờ bà Tiên Dung Châu ở Giẽ Hạ.

Các đền thờ là:
1. Quảng Xung linh tế đại vương (xã Hữu Vĩnh, phủ Hoài An)
2. Quảng Bác uyên dung đại vương (xã Thịnh Đức, huyện Phú Nguyên)
3. Quảng Xuyên linh quang đại vương (xã Quảng Tái, huyện Sơn Minh)
4. Quảng Tế linh ứng đại vương (xã Bãi Nhiễm, huyện Duy Tiên)
5. Quảng Hóa cư sĩ đại vương (xã Vĩnh Tuy, huyện Thanh Trì).
Ở khu vực xã Thịnh Đức hiện còn đền thờ đức Quảng Bác đại vương, là con thứ 2 của Vua Hùng thứ 8. Đức thánh này được gọi là thánh Ba Sa, hay thủy thần Tam Giang.
Thần tích đình Giẽ Hạ về 5 vị thủy thần với đền thờ trong vùng phủ Ứng Thiên là một đầu mối để lần tìm lại sự tích, công nghiệp và nhân vật thật sự của các vị thần được thờ ở đây.
Câu đối tại ở đình Giẽ Hạ:
三两秀所鍾龍子仙孫七世譜
百千秋為烈丹庭紫誥歷朝恩
Tam lưỡng tú sở chung, long tử tiên tôn thất thế phổ
Bách thiên thu vi liệt, đan đình tử cáo lịch triều ân.
Dịch:
Đôi ba đúc ngời, con rồng cháu tiên truyền lưu thế phả
Trăm ngàn thu rạng, thềm son chiếu tía ơn ghi lịch triều.
Thần tích của đình Giẽ Hạ hoàn toàn tương đồng với sự tích về Trung Thành phổ tế đại vương, vị thần được thờ phổ biến ở khu vực Phú Xuyên – Hà Nam:
– Hùng Vương thứ 8 tương ứng trong thần tích về Trung Thành đại vương là ông Đào Công Bột hay Bột Hải đại vương. Bột = Bát, là số 8. Số 8 hay số 3 (trong Ba Sa) ở đây là chỉ hướng Đông, “bộ Hải Dương” hay vùng Biển Đông. Bức đại tự trong đình Giẽ Hạ Trạch tư Đông thổ 宅兹東土 (Yên định vùng đất Đông) cùng hàm ý này.
– 5 người con trai sinh ra cùng một bọc trứng họ Đào là Cự, Hồng, Trưởng, Quý Lân và Thạch Khanh. Ở sự tích tại Giẽ Hạ gọi là Quảng Xung, Quảng Bác, Quảng Xuyên. Quảng Tế, Quảng Hóa. Cả 5 người có công đánh giặc (giặc Thục) và là các thủy thần, phụ trách thủy quân, sông nước.
Như đã từng xác định, đây cũng là chuyện về Vĩnh Công Bát Hải Động Đình của đền Đồng Bằng (An Lễ, Quỳnh Phụ, Thái Bình). Bột Hải đại vương là Bát Hải Động Đình, là vua cha của Thoải phủ trong tín ngưỡng Tứ phủ. 5 người con là Ngũ vị quan lớn của ban Công đồng trong tín ngưỡng này. Trung Thành phổ tế đại vương là Thổ Lệnh hay Quan lớn đệ Tam, thờ chính ở đền Lảnh (Mộc Nam, Duy Tiên, Hà Nam). Còn Thạch Khanh, một trong 2 vị thần sông Bạch Hạc là Quan lớn đệ Ngũ tuần Tranh.
Trong sự tích ở đình Giẽ Hạ thì Quảng Bác đại vương là người con thứ hai, tức là tương ứng với Quan lớn đệ Nhị. Vị Quảng Xuyên đại vương ở Quảng Tái, nay thuộc xã Trung Tú của huyện Ứng Hóa, vẫn còn được thờ ở các làng tại đây. Vị Quảng Tế đại vương ở huyện Duy Tiên có thể tương ứng với Quan lớn đệ Tam, là khu vực đền Lảnh ở Duy Tiên. Trong 2 vị Quảng Hóa và Quảng Xuyên, không rõ vị nào là quan lớn đệ Tứ, vị nào là quan lớn đệ Ngũ, cần khảo cứu thêm.

image0041
Nghi môn đền Thiên Vựng ở Hữu Vĩnh.

Riêng người con thứ nhất, Quảng Xung đại vương, khá đặc biệt. Trong thần tích Giẽ Hạ ghi là thờ ở đền Hữu Vĩnh. Tại thôn Hữu Vĩnh, xã Hồng Quang của huyện Ứng Hòa nay có ngôi đền rất nổi tiếng, là đền Đức thánh Cả. Vị thánh này không rõ tại sao lại bị ghi chép thành một tướng dưới thời Lý Bôn, đánh dẹp giặc Lương. Trong khi đó, sách Đại Nam nhất thống chí cho biết: Đền Hữu Vĩnh ở xã Hữu Vĩnh, huyện Hoài An. Tương truyền thần là con của Kinh Dương Vương, tên là Quảng Xung.
Đôi câu đối ở nghi môn đền Vựng (đền Hữu Vĩnh):
四千餘年于兹鴻貉聖神秀水奇山標勝跡
百年萬世之下龍仙民族普風甘雨藉靈庥
Tứ thiên dư niên vu tư/ Hồng Lạc thánh thần/ tú thủy kỳ sơn tiêu thắng tích
Bách niên vạn thế chi hạ/ long tiên dân tộc/ phổ phong cam vũ tạ linh hưu.
Dịch:
Bốn ngàn năm dư ấy nay, thánh thần Hồng Lạc, sông đẹp núi lạ nêu thắng tích
Trăm năm vạn đời sau đó, dân tộc rồng tiên, gió lộng mưa thơm nhờ phúc thần.
Câu đối này nói sự tích của vị Đức thánh Cả tại Hữu Vĩnh đã có từ 4000 năm, từ thời Hồng Lạc, liên quan tới con rồng cháu tiên. Câu đối tương tự cũng thấy ở trong đình Giẽ Hạ. Nội dung này nhắc tới câu đối cũng ở nghi môn đền Đồng Bằng về Vĩnh Công Bát Hải Động Đình:
Tứ thiên niên quốc tục thượng thần, Bát Hải long phi truyền dị tích
Thập bát hiệu Hùng triều xuất thế, Đào giang hổ lược chấn linh thanh.
Dịch:
Bốn nghìn năm nước gọi thượng thần, biển Bát rồng bay truyền tích lạ
Mười tám hiệu triều Hùng xuất thế, sông Đào hổ lược dậy danh thiêng.
Có thể thấy Đức thánh Cả ở Hữu Vĩnh cũng là Vĩnh Công, là con Hoàng xà lớn trong 3 con Hoàng xà do Quý Nương sinh ra của sự tích đền Đồng Bằng. Ở đền Đồng Bằng có sự tôn sùng Vĩnh Công ở cả 2 ngôi, vừa là vua cha Bát Hải của Thủy phủ, vừa là Quan lớn đệ Nhất. Điều này có thể hiểu, người con đầu đã được tôn làm vua nên Quan lớn đệ Nhất khi đánh giặc Thục cũng là đức Vua cha Thoải phủ sau đó.
Vua cha Vĩnh Công Bát Hải từng được xác định là Lạc Long Quân, vị quốc tổ 4000 năm của người Việt. Như vậy, Đức thánh Cả ở Hữu Vĩnh cũng là đức Lạc Long Quân. Điều này giải thích vì sao đền Hữu Vĩnh nổi tiếng linh thiêng. Người dân địa phương thậm chí còn lưu truyền câu nói “Bất lộ trần ai”, không được tiết lộ điều gì về Đức Thánh Cả. Không ai được vào cung cấm của đền trừ thủ từ. Còn có chuyện, có cụ đồ ở làng vào cung cấm để đọc sắc phong và thần tích, chỉ mấy tháng sau đó bị chết không rõ nguyên nhân…

phu-ung-thienVị trí các địa danh di tích trong bài viết.

Câu đối tại đền Hữu Vĩnh của Thượng thư Bùi Bằng Đoàn viết:
國有永祠昭帝德
民懷安宅仰皇恩
Quốc Hữu Vĩnh từ chiêu đế đức
Dân Hoài An trạch ngưỡng hoàng ân.
Dịch
Đền quốc gia Hữu Vĩnh sáng đế đức
Đất nhân dân Hoài An ngưỡng ơn vua.
Theo như câu đối này thì Đức thánh Cả là một vị vua chứ không phải chỉ là một tướng quân thông thường. Trong đền 2 bên có đắp tượng ban văn và ban võ đầy đủ. Đã có sự nhầm lẫn, tam sao thất bản về thần tích của Xung Lang đại vương tại Hữu Vĩnh. Đây là hình ảnh của quốc tổ Lạc Long Quân, vị vua khởi sử của người Việt, không thể chép thành vị tướng thời Tiền Lý.
Sách Từ điển di tích văn hóa Việt Nam dẫn theo Đại Việt địa chí Bắc Thành đia dư chí lục cho biết đền Hữu Vĩnh có tên “Nam thiên hoàng đế từ“. Tương truyền đền thờ thần Quảng Xung là con của Kinh Dương Vương. Truyền thuyết nói vua Lê đi tuần qua miền này, thuyền đang đi trên sông Vĩnh thì gặp phải bãi cát, không tiến lên được. Vua lên bờ vào đền làm lễ cầu đảo, dòng sông lại thông suốt. Vua bèn phong cho thần là Nam Thiên hoàng đế.
Có lẽ chính tên Nam thiên hoàng đế này mà Đức thánh Cả thời Hùng Vương đã bị nhầm lẫn thành thời Tiền Lý Nam Đế. Quảng Xung đại vương như vậy rõ ràng đã là một vị vua lớn của trời Nam.
Bản thân chi tiết thần Xung Lang là con của Kinh Dương Vương cũng chứng tỏ điều này. Con cả của Kinh Dương Vương thì rõ là Lạc Long Quân. Như vậy bà Tiên Dung Châu thờ ở đình Giẽ Hạ hay đức Vua Bà ở đền Hữu Vĩnh phải là Quý Nương – Mẫu Thoải, hay là Xích Lân Long nữ vợ của Kinh Dương Dương.

image008
Miếu thờ Vua Bà bên cạnh đền Đức thánh Cả ở Hữu Vĩnh.

Câu đối khác ở chính điện đền Hữu Vĩnh, do tiến sĩ Nguyễn Thượng Hiền đề:
隆典奮崇祠五彩鸞章僊闕下
靈蹤傳古史千年雲駕海天歸
Long điển phấn sùng từ, ngũ thái loan chương tiên khuyết hạ
Linh tung truyền cổ sử, thiên niên vân giá hải thiên quy.
Dịch:
Điển rồng hưng đền lớn, nét phượng năm sắc xuống cửa tiên
Dấu thiêng truyền sử xưa, xe mây ngàn năm về trời biển.
Ngũ thái loan chương” có thể ám chỉ việc đức Vua Bà (Mẫu Thoải) sinh 5 người con rồng.
Về Ngũ vị tôn quan ở phủ Ứng Thiên còn có thể lẫn trong sự tích của thần Quý Minh đại vương. Ở đình Hoàng Xá (nơi khả năng là trị sở của phủ Ứng Thiên cũ), thờ Quý Minh đại vương, vị “Đệ Tam Tản Viên Sơn”, một trong Tam vị Tản Viên. Tuy nhiên rất khó xác định Quý Minh ở đây là Sơn thần hay Thủy thần. Đặc biệt ở góc mái của đình Hoàng Xá lại có một bức chạm riêng biệt hình chiếc thuyền bơi chải. Tục bơi chải là đặc trưng trong các lễ hội thờ các Thủy thần. Xét trong khung cảnh của phủ Ứng Thiên thì Quý Minh đại vương ở Hoàng Xá phải là Quan lớn đệ Tam của Thoải phủ, người anh em đã cùng Lạc Long Quân (được chép dưới tên Tản Viên Sơn Thánh) đánh Thục, giành ngôi, lập quốc. Quý là thứ 3 trong thứ tự Mạnh Trọng Quý. Quý Minh do đó tương ứng với Quan đệ Tam Thoải phủ.

image010
Bức chạm bơi chải ở đình Hoàng Xá.

Ở khu vực Ứng Hòa, quanh thị trấn Vân Đình còn một số di tích với sự tích tương tự. Tại thôn Thái Bình (xã Thái Đường) cũng có đền thờ Đức thánh Cả. Vị thánh này có tên phong là Bột Hải đại vương, với công tích giúp vua Hùng thứ 6 đánh… giặc Ân, nhưng lại bằng thủy chiến và ở châu Hoan châu Ái. Thật khó hiểu, giặc Ân nào trên sông nước ở vùng Thanh Nghệ?
Câu đối trong đền Đức Thánh Cả ở Thái Đường:
第六代雄王神將揮刀鯨刳鰐断
幾千秋東海殷兵絶命戟折舟沉
Đệ lục đại Hùng Vương, thần tướng huy đao, kình khô ngạc đoạn
Kỷ thiên thu Đông Hải, Ân binh tuyệt mệnh, kích chiết chu trầm.
Dịch:
Hùng Vương thứ sáu triều xưa, thần tướng vung đao, kình đứt sấu đoạn
Biển Đông nghìn thu thủa trước, quân Ân hết số, kích gãy thuyền chìm.
Từ “Đông Hải” trong vế đối chỉ rõ Bột Hải đại vương là người cầm quân đánh thủy binh của giặc Ân ở vùng biển Đông. Bột Hải chính là chỉ biển Đông ở nước ta. Châu Hoan châu Ái là vùng đất ven biển Đông nên Bột Hải phải là biển Đông. Trận thủy chiến đánh giặc Ân ở châu Hoan, châu Ái này không phải trận chiến trên cạn của Thánh Dóng diệt giặc Ân ở núi Trâu Sơn – Vũ Ninh.
Đức Thánh Cả ở Thái Đường là Bột Hải đại vương, tức là vị Quan lớn đệ nhất hay vua cha Bát Hải Động Đình. Khu vực này còn có 2 vị Đức thánh Trung và Đức thánh Hạ tương ứng với các vị Quan đệ nhị và Quan đệ tứ trong ban Công đồng Tứ phủ.
Để lý giải sự khác biệt của sự tích này cần nhắc lại bản chất cuộc chiến Hùng Thục thời vua cha Bát Hải Động Đình. Đây là cuộc chiến tranh giành vương vị của ông Khải – Lạc Long Quân với ông Ích sau khi Đại Vũ – Kinh Dương Vương mất. Ích cũng là Ất, là số 2 trong thập can (Giáp, Ất…). Địa bàn gốc của tộc người theo Bá Ích là vùng cựu đô Ngàn Hống ở châu Hoan từ thời Hoàng Đế – Đế Minh. Vì thế thần tích về Đức thánh Cả ở Thái Bình đã kể thành Hùng Vương thứ sáu (Hùng Lục Vương hay Lạc Vương) đánh giặc Ân ở Hoan Ái. Ân hay ơn là số 2. Ái cũng là từ biến âm của Ích – Ất. Trong các thần tích về Trung Thành phổ tế đại vương gọi là dẹp giặc ở Hồng Châu.
Phủ Ứng Thiên là nơi tập trung các vị thủy thần thời Hùng Vương. Vị thánh Cả là Lạc Long Quân, đức Vĩnh Công Bát Hải, vua cha của Thoải phủ. Còn 5 vị thủy thần khác là Ngũ vị tôn quan, làm nên ban Công đồng, là một triều đình đầy đủ, khởi đầu lịch sử người Việt.

p1270630Khúc sông Đáy ở cửa đền Hữu Vĩnh.

Viết thêm:
Tháng Tám giỗ cha…
“Cha” ở đây là đức vua cha của Thoải phủ, hay đức Bát Hải Động Đình, cũng là cha Lạc Long Quân của người Việt. Khu thờ chính của cha Bát Hải ở đền Đồng Bằng tại Quỳnh Phụ, Thái Bình.
Một “di bản”, “dị tích” của Lạc Long Quân là Đức thánh Cả Bột Hải đại vương ở thôn Thái Đường (Thái Bình, Ứng Hòa, Hà Nội). Có lẽ cũng vì nguồn gốc của vị này từ đất Thái Bình mà ở đây có xã Thái Bình. Bản thân tên phủ Ứng Thiên có thể cũng là sự linh ứng của vị Nam Thiên hoàng đế Lạc Long Quân này.
Đặc biệt theo ghi chép và tục thờ ở Thái Đường thì Đức thánh cả được thờ cùng với 4 bộ tướng là: Quý Minh thượng đẳng, Minh Pháp tôn thần, Chiêu Pháp tôn thần và Nguyễn thượng đẳng thần. Đức thánh Cả cùng với 4 bộ tướng hợp thành bộ 5 – Ngũ vị quan lớn của Tứ phủ.
Đây cũng là dẫn chứng trực tiếp cho thấy vị thần Quý Minh được thờ ở đình Hoàng Xá (cách đền Đức thánh Cả ở Thái Đường chưa đầy 1km) với bức đại tự “Sơn anh Hải tú” chính là bộ tướng của Bột Hải đại vương hay là Quan lớn đệ Tam của Thoải phủ. Chữ “Hải” ở đại tự tại Hoàng Xá là chỉ Bột Hải hay Biển Đông. Còn chiếc thuyền bơi chải ở góc mái đình là từ tục thờ Quý Minh, vị thủy thần đứng đầu (Trưởng Lệnh) trong Ngũ vị tôn quan của Thoải phủ.

than-tich-thanh-ca

Miếu Lịch Đợi

Nguồn: Cồ Việt
Giới thiệu
Miếu Lịch Đợi, tên đầy đủ dịch theo Hán tự là miếu Lịch Đại Đế Vương, đây là một công trình kiến trúc quan trọng được xây dựng vào thời nhà Nguyễn. Ngày nay, tên miếu đã trở thành tên con đường Lịch Đợi dài 1280m, chạy từ đường Bảo Quốc (hay còn gọi là đường Báo Quốc) đến đuờng Tôn Thất Tùng, thuộc địa bàn Phường Đúc, thành phố Huế.
Giá trị lịch sử
Miếu Lịch Đợi là ngôi miếu thờ các đời đế vương được dựng đầu tiên và độc nhất ở Việt Nam vào năm Minh Mang thứ tư, tức năm Quý Mùi 1823.
Theo sử sách triều Nguyễn còn ghi lại thì miếu Lịch Đợi là nơi “Thống kỷ các vị đế vương, ngưỡng mộ đức tốt của các đời trước”. Với ý nghĩa quan trọng “uống nước nhớ nguồn”, “chim có tổ, người có tông”, triều Nguyễn đã cho xây dựng công trình kiến trúc này để thờ các vị vua anh hùng từ Hồng Bàng trở về sau. Hằng năm, xuân thu hai kỳ đều tổ chức tế miếu Lịch Đợi vào ngày tân tháng trọng xuân (tháng 2 âm lịch) sau ngày tế đàn Xã Tắc, và ngày tân đầu tháng trọng thu (tháng 8 âm lịch). Năm Bính Tuất 1826, niên hiệu Minh Mạng thứ VII bổ sung quy định: năm có khánh điển (lễ lớn) thì hoàng đế thân chinh tế lễ, những năm khác, các hoàng tử đi khâm mạng (thay mặt vua). Ngoài ra, vào các dịp lễ tết đầu năm, mùng 5 tháng 5 âm lịch, vua phái một quan văn tam phẩm đi tế miếu Lịch Đợi.

lich-doi-1Mặt tiền miếu Lịch Đợi. Tranh bút sắt: Nguyễn Thứ.  Nguồn Phanxiphăng.

Kiến trúc tổng quan
Miếu Lịch Đợi hướng về phía nam, thuộc địa phận xã Phú Xuân. Trước đây, công trình này gồm một chính đường có 5 gian, đông vu và tây vu (hay còn gọi là Tả Vu và Hữu Vu) cũng có 5 gian. Xung quanh miếu xây tường thành bằng gạch, mặt trước vành tường ngoài dựng 4 trụ biểu, tạo thành 3 ngạch cửa. Mặt trước vành tường trong có trổ cửa chính bên trên có lầu, ngoài ra còn có phượng môn. Phía bắc tường miếu làm “tể sinh”, là nơi mổ vật hiến sinh để tế lễ.
Chi tiết kết cấu
5 gian của tòa nhà chính gồm:
1. Gian giữa thờ Phục Hy tại chính trung. Vị tả nhất (vị trí bên trái kề chính trung) thờ Thần Nông. Vị hữu nhất (vị trí bên phải kề chính trung) thờ Hoàng Đế. Vị tả nhị thờ Đường Nghiêu. Vị hữu nhị thờ Ngu Thuấn. Vị tả tam thờ Hạ Võ. Vị hữu tam thờ Thương Thang. Vị tả tứ thờ Chu Văn. Vị hữu tứ thờ Chu Võ.
2. Gian tả nhất (gian bên trái kề chính gian) thờ các vị vua khai sáng nuớc Việt: Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Hùng Vương, Sĩ Vương, Đinh Tiên Hoàng.
3. Gian hữu nhất (gian bên phải kề chính gian) thờ vua Lê Đại Hành và 3 vị vua triều Lý là Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Lý Nhân Tông.
4. Gian tả nhị thờ 3 vị vua triều Trần là Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông.
5. Gian hữu nhị thờ 4 vị vua triều Lê là Lê Thái Tổ, Lê Thánh Tông, Lê Trang Tông, Lê Anh Tông.
Ngoài ra đôi nhà Tả Vu và Hữu Vu thờ các vị tướng Trung Hoa lẫn Viện Nam.
Tả Vu thờ 6 danh tướng Trung Hoa là Phong Hậu, Cao Dao, Long Bá Ích, Phó Duyệt, Thái Công Vọng, Thiệu Mục Công Hồ; 8 danh tướng Việt Nam là Nguyễn Bặc, Lê Phụng Hiểu, Tô Hiến Thành, Trần Nhật Duật, Trương Hán Siêu, Nguyễn Xí, Lê Niệm, Hoàng Đình Ái.
Hữu Vu thờ 8 danh tướng Trung Hoa là Lực Mục, Hậu Quỳ, Bá Di, Y Doãn, Chu Công Đán, Triệu Công Thích, Phương Thúc, Hồng Hiến; 7 danh tướng Việt Nam là Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Phạm Ngũ Lão, Đinh Liệt, Lê Khôi, Trịnh Duy Thoan, Phùng Khắc Khoan.
Tất nhiên, hệ thống vua quan được tôn thờ trong miếu Lịch Đợi là do triều đình nhà Nguyễn chọn lựa, sắp xếp.
Hiện trạng ngày nay
Duới triều Nguyễn, miếu Lịch Đợi thường xuyên được quan tâm, tu bổ. Đến năm 1945, triều Nguyễn sụp đổ, từ đó trở đi, miếu Lịch Đợi xuống cấp nhanh chóng. So với các công trình kiến trúc khác thì miếu Lịch Đợi nhỏ nhưng ý nghĩa và giá trị lịch sử thì không thể phủ nhận. Tuy nhiên ngày nay, ngôi miếu danh tiếng này chỉ còn trơ lại 4 bức tường đổ nát. Vùng đất ngày xưa ngôi miếu được dựng lên nay đã bị các hộ cư dân chiếm dụng. Chỉ còn đó một con đường với cái tên Lịch Đợi, để chỉ khu vực phía sau lưng nhà ga Huế.

https://phanxipang.files.wordpress.com/2011/11/lich-doi-2.jpg

Toà nhà chính gồm 5 gian, 2 chái của miếu Lịch Đợi. Tranh bút sắt: Nguyễn Thứ.  Nguồn Phanxiphăng.

Vạn lý khai tiên Mân Lạc tuyệt

Câu đối ở điện Long Hưng (Xuân Quan, Văn Giang, Hưng Yên) nơi thờ Triệu Vũ Đế, vị vua đầu của nước Nam Việt:
一指已無秦萬里開先閩貉絶
两立何難漢億年倡始帝王基
Nhất chỉ dĩ vô Tần, vạn lý khai tiên Mân Lạc tuyệt
Lưỡng lập hà nan Hán, ức niên xương thủy đế vương cơ.
Dịch:
Một lệnh dẹp không Tần, vạn dặm mở đầu dứt Mân Lạc
Hai ngôi sánh cùng Hán, nghìn năm gây nền vững đế vương.
Vế đầu của câu đối này nói tới cuộc khởi nghĩa của Triệu Đà đã giành thắng lợi nhanh chóng dưới thời Tần:
Khi nhà Tần bị tiêu diệt, Đà lập tức đánh chiếm lấy cả Quế Lâm, Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vũ Vương (Nam Việt Úy Đà liệt truyện, Sử ký Tư Mã Thiên).
Và sự kiện Triệu Đà khuất phục Mân Việt và Âu Lạc vào thời Tây Hán:
Cao Hậu mất, liền bãi binh. Đà nhân đó, dùng uy lực uy hiếp nơi biên giới, đem đồ đạc của cải đút lót các nước Mân Việt, Tây Âu Lạc để bắt họ lệ thuộc theo mình. Đất đai của Đà chiều ngang có hơn vạn dặm. Đà bèn đi xe mui lụa mầu vàng cắm cờ tả đạo, mệnh gọi là “chế”, chẳng kém gì Trung Quốc.

xuan-quanTiền đình điện Long Hưng ở Xuân Quan.

Vấn đề đặt ra là đất Tây Âu (Lạc) được nói đến trong Sử ký Tư Mã Thiên ở trên là chỗ nào. Việc xác định vị trí đất Âu Lạc liên quan đến sự lịch sử của triều đại trước đó, tức là thời kỳ An Dương Vương, một thời kỳ “nửa thực nửa hư” trong quan niệm của các sử gia ngày nay.
Cũng trong Nam Việt Úy Đà liệt truyện, khi tiếp sứ giả nhà Tây Hán là Lục Giả thì Triệu Đà có đề cập: Ở phía Đông đất Mân Việt chỉ vẻn vẹn nghìn người, cũng xưng hiệu là “vương”; ở phía Tây, nước Âu Lạc là nước trần truồng, cũng xưng là “vương”.
Như vậy Âu Lạc hay Tây Âu là mảnh đất nằm ở phía Tây nước Nam Việt. Quan trọng hơn đây là khu vực không thuộc sự cai quản của Nam Việt vì chỉ “lệ thuộc” và vẫn xưng vương. Tây Âu và Mân Việt lúc này vẫn độc lập, chỉ theo Nam Việt dưới dạng nước chư hầu.
Bằng chứng về sự độc lập của 2 nước này đối với Nam Việt là sự kiện vua Mân Việt tấn công Nam Việt sau khi Triệu Đà mất:
Đà mất, cháu Đà là Hồ làm Nam Việt Vương. Lúc bấy giờ vua Mân Việt là Dĩnh đem binh đánh các ấp ngoài biên của nước Nam Việt.
Nếu Mân Việt đã thuộc Nam Việt trước đó thì không thể vẫn còn vua và tấn công Nam Việt.
Cuộc tấn công này đã buộc vua Nam Việt là Triệu Hồ phải nhờ nhà Tây Hán (nhà Hiếu) giúp chống lại quân Mân Việt. Nhưng Quân của Hán chưa vượt núi Ngũ Lĩnh thì em của Mân Việt Vương là Dư Thiện đã giết Dĩnh để hàng.
Vì Mân Việt đã hàng Nam Việt nên đây là thời điểm đất Mân Việt trở thành 1 quận của nước Nam Việt. Đây chính là quận Thương Ngô, do Tần Vương là Triệu Quang, một người trong hoàng tộc nhà Triệu cai quản như được nói đến trong truyện.
Mân Việt đã sát nhập vào Nam Việt nhưng vùng Tây Âu thì không. Do đó khi Lộ Bác Đức nhà Hiếu (Tây Hán) đánh dẹp Nam Việt, bắt vua Vệ Dương Vương Triệu Kiến Đức và thừa tướng Lữ Gia thì: Thương Ngô Vương là Triệu Quang là người cùng họ với Việt Vương, nghe quân nhà Hán đến, cùng quan huyện lệnh Kê Dương của Việt tên là Định tự quyết định đi theo nhà Hán; quan giám quận Quế Lâm của Việt tên là Cư Ông dụ dân Âu Lạc đi theo nhà Hán. Những người này đều được phong tước hầu.
Như vậy đất Mân Việt cũ, thời Triệu Vệ Dương Vương là quận Thương Ngô, đã hàng nhà Tây Hán. Còn nước Âu Lạc thì được quan giám của quận Quế Lâm dụ, cũng theo về nhà Tây Hán.
au-lac

Các quận và khu vực lân cận nước Nam Việt nhà Triệu
(Tên quận trong nước Nam Việt lấy theo tên các quận thời Tần).

Từ tất cả những sự kiện và nhận định trên, vị trí các quận, đất thời Nam Việt có thể được xác định như sau (xem bản đồ):
– Quận Nam Hải thời Tần, nơi có kinh đô Phiên Ngung của Nam Việt, là khu vực tỉnh Quảng Đông ngày nay.
– Quận Quế Lâm là khu vực tỉnh Quảng Tây.
– Vùng Bắc Việt ngày nay là quận Long Xuyên hay Tam Xuyên, nơi Triệu Vũ Đế khởi nghĩa ban đầu chống Tần. Đây cũng là phần đất Lạc trong Âu Lạc.
– Nước Mân Việt, sau thành quận Thương Ngô của Nam Việt, là khu vực phía Đông Nam Việt, tức là vùng Phúc Kiến và Chiết Giang.
– Khu vực tỉnh Quý Châu là đất Dạ Lang hay Ba Thục, thuộc nhà Tây Hán vì trong các cánh quân của Lộ Bác Đức đánh Nam Việt có Trì Nghĩa Hầu, đem thêm tội nhân nước Ba Thục, đưa quân từ đất Dạ Lang xuống đường sông Tường Kha.
– Nước Tây Âu hay Tây Âu Lạc nằm ở phía Tây của Nam Việt, như vậy phải là khu vực tỉnh Vân Nam. Thời Tần đây là quận Tượng vì bản thân từ Tượng là chỉ phía Tây. Khả năng thủ lĩnh vùng Tây Âu (Vân Nam) lúc này gọi là Điền vương.
Hán thư chép: “Năm thứ 5 niên hiệu Nguyên Phượng thời Hiếu Chiêu Đế quận Tượng bị bãi bỏ, chia cắt vào hai quận Uất Lâm và Tường Kha”.
Sự kiện này một lần nữa cho thấy quận Tượng không thuộc đất Nam Việt của nhà Triệu vì sau khi Tây Hán chiếm Nam Việt chia vùng này thành 9 quận, không có quận Tượng ở trong: Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Đam Nhĩ, Châu Nhai, Nam Hải, Hợp Phố, Uất Lâm, Thương Ngô. Dưới thời Hiếu Chiêu Đế (76 TCN) quận Tượng cũ bị đổi thành quận Tường Kha và một phần nhập vào quận Uất Lâm.
Chỗ khó giải thích ở đây là tại sao khi đánh Tần thì Triệu Vũ Đế đã chiếm được Tượng quận, nhưng tới sau đó (sau khi Lữ Hậu mất) Tượng quận lại không nằm trong Nam Việt, và Triệu Đà phải dùng của cải mua chuộc để Tây Âu (vùng Tượng quận thời Tần) theo mình?
Điều này chỉ có thể hiểu khi nhận ra, thực ra có 2 người được Sử ký Tư Mã Thiên cùng chép thành Vũ Đế Triệu Đà. Một Triệu Vũ Đế lãnh đạo người Việt khởi nghĩa kháng Tần, khi Tần Thủy Hoàng mất đã lấy lại 3 quận mà Tần lập ra trên đất Việt và xưng Nam Việt Vũ Vương. Một Triệu Đà thứ hai nổi lên sau khi Lữ Hậu mất, chỉ chiếm các khu vực Bắc Việt và Lưỡng Quảng (3 quận Long Xuyên, Nam Hải, Quế Lâm), rồi phủ dụ 2 nước Tây Âu và Mân Việt phục tùng mình.
Thêm về nước Âu Lạc xưa thời An Dương Vương. Theo đúng mô tả của sử sách về nước Văn Lang, cũng là Âu lạc, có Bắc giáp Hồ Nam (Trường Sa Động Đình), Nam giáp Hồ Tôn, Tây giáp Xuyên Thục (Tứ Xuyên), đông giáp quận Nam Hải (Quảng Đông). Như vậy nước Âu Lạc này gồm đất các tỉnh sau:
– Vân Nam: là đất Tây Âu, tức phần Tây của đất Âu.
– Quảng Tây: là quận Quế Lâm thời Tần – Nam Việt.
– Quý Châu: là Dạ Lang. Quảng Tây và Quý Châu là phần Đông của đất Âu.
– Bắc Việt: là Long Xuyên thời Tần – Nam Việt. Là phần đất Lạc trong Âu Lạc.

au-lac-2

Phạm vi Âu Lạc thời An Dương Vương.

Thấy bóng Cam đường nhớ Thiệu Công

Bài thơ Cam đường của Nguyễn Trãi trong Quốc âm thi tập:
Thấy bóng cam đường nhớ Thiệu Công
Ðất dư dời được bạn cùng thông.
Bút thơ đã chép hương còn bén
Ngâm ngợi nào ai chẳng động lòng.
Bài này nói đến cây “cam đường” và ông Thiệu Công, là sự tích trong cổ sử Trung Hoa. Trong Kinh Thi phần Thiệu Nam có bài Cam đường 甘棠 gồm 3 thiên:
蔽芾甘棠.勿翦勿伐.召伯所茇
Tế phế cam đường. Vật tiễn vật phạt. Thiệu Bá sở bạt.
蔽芾甘棠.勿翦勿敗.召伯所憩
Tế phế cam đường. Vật tiễn vật bại. Thiệu Bá sở khế.
蔽芾甘棠. 勿翦勿拜.召伯所說。
Tế phế cam đường. Vật tiễn vật bái. Thiệu Bá sở thuế.
Bài này thường được giải thích là làm theo thể phú, tức là tả cảnh trực tiếp, nói về quan Thiệu Bá nhà Chu đi công cán, ngồi dưới gốc cây Cam đường và xử kiện. Người dân sau nhớ ơn đức ấy mà bảo nhau không phá hoại cây Cam đường…
Tản Đà dịch:
Rườm rà cái cây cam đường
Ấy quan Thiệu bá xưa thường nghỉ ngơi
Chớ vin! Chớ bẻ! ai ơi,
Chớ ai cắt lá! Chớ ai đẵn cành.
Thiệu Bá là Cơ Thích, dòng dõi của Cơ Xương – Chu Văn Vương, có công trong việc cùng Cơ Phát – Chu Vũ Vương đánh Trụ diệt Ân, lập nên vương triều Chu. Cơ Thích được phong thực ấp ở đất Thiệu, nên gọi là Thiệu Công hay Thiệu Bá. Kinh Thi có phần Thiệu Nam là phong dao của vùng đất Thiệu này.
Thiệu Công Thích còn được phong đất ở nước Yên. Tuy nhiên, sau khi Vũ Vương mất, Thiệu Công Thích cùng với Chu Công Đán (Chu Công) đã ở lại kinh thành phò tá vua Chu còn nhỏ tuổi. Thiệu Công đảm nhận chức Thái bảo dưới thời Chu Thành Vương.
Xét bài Cam đường trong Kinh Thi nay thấy có nhiều vấn đề phải bàn thêm. Theo cách hiểu ngày nay Thiệu Bá ngồi dưới gốc Cam đường xử lý mấy vụ kiện cáo dân sự. Có sách không biết dựa vào đâu còn kể là xử vụ trai gái cãi nhau (?!). Là một khai quốc công thần của triều Chu, triều đại phong kiến đầu tiên trong lịch sử của thiên hạ Trung Hoa, ân đức của Thiệu Công mà lại chỉ ở chỗ xử mấy vụ án con con ở ngoài đường như thế này thì không ổn. Ý nghĩa thực sự của bài thơ này lớn hơn nhiều, ngầm chỉ một sự việc khác trong công nghiệp của Thiệu Công. Bài thơ không phải làm theo thể Phú, mà là thể Tỉ (so sánh, ẩn dụ).
Công đức chính đối với muôn dân của Thiệu Công được thấy qua bài Thiệu Cáo trong Kinh Thư. Thiệu Cáo là lời tâu với Chu Thành Vương của Thiệu Công. Nội dung các bài trong Kinh Thư nói chung đều khá khó hiểu. Tuy nhiên, nay trong liên hệ thiên Thiệu Cáo với bài Cam đường trong Thiệu Nam thì có thể sáng tỏ hơn ý của bài cáo này.
Thiệu Cáo chép: Duy tháng hai, rằm rồi qua sáu ngày. Ất vị Nhà vua sớm ra đi từ đất Chu, sang tới đất Phong. Quan Thái bảo (Thiệu Công) đi trước, Chu Công xem xét nơi ở, thong thả tới. Tháng ba, ngày Bính ngũ, đã có ánh trăng. Qua ba ngày là Mậu thân, quan Thái bảo sớm tới đất Lạc, bói chỗ ở. Khi bói đã được thì sửa sang. Qua ba ngày nữa, Canh tuất, quan Thái bảo bèn đem dân Ân đắp nền ở trên bãi sông Lạc. Qua năm ngày, Giáp dần, nền đã thành.
Phần này bắt đầu bằng việc kể vua Chu (Thành Vương) rời Cảo Kinh của Tây Chu đi sang vùng đất Phong, tức là vùng kinh đô cũ thời Chu Văn Vương. Thiệu Công đi trước dọn đường. Chu Công tháp tùng vua Chu. Sau đó đoàn đi tiếp sang đất Lạc. Ở đây Thiệu Công sai dân Ân đắp nền bên bãi sông Lạc.
Việc Thiệu Công sai dân Ân làm đường, làm nền đón vua Chu ở đất Lạc là có chủ ý nhất định. Dưới thời Chu Thành Vương, hậu duệ của nhà Ân là Vũ Canh cùng Tam Thúc làm phản. Chu Công và Thiệu Công đã cùng nhau dẫn quân đi dẹp phản loạn. Đám quý tộc nhà Ân bị bắt, đem về an trí tại Lạc Dương. Đây chính là đám “dân Ân” ở đất Lạc được nói đến trong thiên Thiệu Cáo.
Thiệu Cáo chép tiếp: Qua bảy ngày, Giáp tý, Chu Công bèn sớm ra dùng thư để ra lệnh cho dân Ân, các quan chủ công việc ở các nước trong Hầu, Điện, Nam phục. Sau khi đã ra lệnh cho dân Ân rồi, dân Ân đều tới làm. Quan Thái bảo bèn đem chúa các nước ra, lấy các lễ vật rồi lại vào đưa cho Chu Công mà rằng:
Xin chắp tay, dập đầu, dâng Nhà vua cùng ông. Ban lời truyền bảo dân Ân là ở ông, kẻ coi việc… Than ôi! Đấng Hoàng thiên Thượng đế thay đổi con đầu của ngài… Nay ngôi của nước Ân to tát là trao cho Nhà vua được chịu ngôi… Nay nhà Ân nhiều các bậc vua hiền triết ở trên Trời. Cho tới vua sau coi dân là sau, nên nay nào chức, nào ngôi phải mất hẳn.
Đoạn này Thiệu Công tâu, mào đầu là Trời đã thay đổi ngôi vua (thiên tử – con đầu của Trời) từ Ân sang cho nhà Chu. Nhà Ân trước kia cũng có nhiều bậc vua hiền được Trời phù hộ. Nhưng vua sau cùng (Trụ Vương) coi khinh dân nên dẫn đến mất chức, mất ngôi.
Tiếp: Trí xếp bỏ! Tai nạn còn đó! Kẻ làm chồng biết bế ẵm, dắt díu vợ con nó, để thảm thiết kêu Trời! Nó đi trốn, đi ra thì bị bắt! Trời cũng thương cho dân bốn phương. Lòng thương và ngôi báu của Ngài là dùng để khuyến khích. Nhà vua hãy mau mau trọng về đức!
Đoạn tiếp này nói, sự việc đã vậy là đúng lẽ (việc Ân mất ngôi), nhưng tai nạn vẫn còn. Người dân Ân chồng dắt díu vợ con chạy nạn, nhưng lại bị bắt, kêu thảm thiết. Trời cũng thương. Lòng thương và ngôi báu đều là tặng vật của Trời. Nhà vua (vua Chu) hãy trọng đạo đức.
Vua Chu xưng là Thiên tử, ý là tiếp ngôi theo ý Trời. Thiệu Công lấy lẽ đó để nói Trời còn có lòng thương. Người đã nhận ngôi báu của Trời thì cũng phải có lòng thương, thương lấy cảnh khốn khổ của dân Ân.
Tiếp: Nhà vua trẻ trung nối ngôi thì xin chớ bỏ sót bậc già cả… Nhà vua dù còn nhỏ nhưng là con đầu của Trời! Sao cho có thể đem lòng thành cảm cả đến hạng dân nhỏ, ấy là phúc cho lúc này!
Chu Thành Vương tiếp ngôi lúc còn nhỏ, Chu Công phụ chính. Thiệu Công lấy lẽ Trời cố gắng xin nhà vua chớ bỏ đi đạo đức, noi gương tiền nhân, sao cho có thể cảm hóa được muôn dân, thì là phúc.
Ý của cả bài phát biểu của quan Thái bảo Thiệu Công rất rõ, là nài xin vua Chu và Chu Công xét ý Trời, noi gương các bậc minh quân xưa, thương xót dân chúng mà không trừng phạt đám dân Ân đã bị bắt về đất Lạc lúc này.
Đáp lại lời cầu xin này của Thiệu Công, Chu Công nói:
Nhà vua trước phải thu phục các kẻ coi việc của nhà Ân, cho gần gặn xen lẫn với các kẻ coi việc của nhà Chu ta. Giữ gìn tính nết mỗi ngày một tiến. Nhà vua phải trong việc làm, nơi nghỉ. Không thể không trọng về đức được…
Nhà vua hãy gắng tu đức đặng cầu Trời cho được ở ngôi lâu dài. Lại mong sao Nhà vua chớ vì bọn dân nhỏ đắm đuối về những sự trái phép mà cũng quả quyết việc giết chóc đặng xử trị chúng. Sao cho dân thuận theo, mới có công… Muốn Nhà vua nhờ bọn dân nhỏ mà được chịu mệnh lâu dài của Trời.
Đây là Chu Công trả lời thay cho vua Chu vì Chu Công là người phụ chính Chu Thành Vương đang còn nhỏ. Chu Công cũng là người đã cầm đầu quân đội đánh dẹp loạn Vũ Canh và bắt các tù binh Ân. Thiệu Công lấy lẽ Trời, lẽ người ra cầu xin nên Chu Công đã đồng ý, khuyên vua muốn ở ngôi lâu dài thì không nên giết chóc dân Ân, nhờ phúc đó thì ngôi vị mới bền.
Bài Thiệu Cáo là lời Thiệu Công cầu xin vua Chu không sát hại, phạt tội những người dân của nhà Ân đã bị bắt về đất Lạc. Đây là công đức to lớn của Thiệu Công cho muôn dân và cho nhà Chu. Đây mới là ý thực sự được nói đến trong bài Cam đường của Kinh Thi.

Do Dong Dong SonĐồ đồng Đông Sơn ở một bộ sưu tầm cá nhân ở Thanh Hóa.

Tế phế Cam đường nghĩa là cây Cam đường tỏa bóng. Cam đường tượng trưng cho ông Thiệu Bá. Bóng tỏa rộng là ân đức phủ tới muôn dân.
Vật tiễn vật phạt/bại/bái là Chớ bẻ, chớ uốn, chớ phạt… Nghĩa tỉ dụ ở đây nói đến việc Thiệu Công xin vua Chu không giết, không áp dụng hình phạt với đám dân Ân ở đất Lạc.
Thiệu Bá sở bạt/khế/thuế. Ba chữ cuối hiện đều dịch nghĩa là “nghỉ ngơi”. Nhưng nếu hiểu theo ý nghĩa mới thì cây Cam đường không phải chỉ là chỗ nghỉ ngơi của Thiệu Bá. 3 chữ này thuộc 3 bộ thủ khác nhau: bộ Thảo艹, bộ Tâm 心 và bộ Ngôn 言. Nghĩa bóng phải hiểu là Nơi ở, Tấm lòng và Lời nói của Thiệu Bá.
Dịch lại bài Cam đường trên lời thơ của Tản Đà:
Rộng che cái cây cam đường
Tấm lòng Thiệu Bá, chỗ thường thuyết chơi
Chớ vin! Chớ bẻ! ai ơi,
Chớ ai cắt lá! Chớ ai đẵn cành.
Cây Cam đường tán lá sum xuê có thể là loại cây Đa, rất dễ gặp ở Việt Nam. Vì thế mà Nguyễn Trãi mới ngắm “cây Cam đường, làm bạn cùng Thông” như trong bài thơ đã dẫn ở đầu bài viết này. Bài Cam đường trong Thiệu Nam tương đương ý với bài Chu lân chỉ trong Chu Nam. Con Lân biểu tượng cho văn đức của nhà Chu, không đạp lên cỏ tươi, không dẫm lên côn trùng còn sống… Còn cây Cam đường biểu tượng cho ân đức của Thiệu Bá che tỏa muôn dân, vị tha đối với dân phản loạn nhà Ân.
Đất phong Thiệu Nam của Thiệu Công không phải ở Kỳ Sơn bên sông Hoàng Hà, cũng không phải nước Yên ở Bắc Kinh tới giáp Triều Tiên. Ngay trong Thiệu Nam có bài Giang hữu tỉ 江有汜, có từ Giang 江chỉ sông, hoàn toàn không phải sông Trường Giang như hiện người Tàu đang giảng giải. Cả 2 vùng Kỳ Sơn và Bắc Kinh đều không hề có sông Trường Giang.
Giang hữu tỉ”, sông có nhánh trong Thiệu Nam là … sông Mã, sông Chu ở Thanh Hóa. Thanh Hóa có đất Thiệu Hóa, xưa là phủ Thiệu Thiên khá rộng, gồm cả một số xã của huyện Đông Sơn, Yên Định và thành phố Thanh Hóa nay. Thiệu Hóa là vùng đất phong hóa Thiệu Nam được nhắc đến trong Kinh Thi.
Là đại công thần khai quốc của triều Chu nên Thiệu Bá được phong ở nước Yên, phải là nước lớn nằm cạnh đất nhà Chu. Nước Yên là khu vực Bắc Trung Bộ Việt Nam ngày nay. Kinh đô nước Yên có thể chính là đất Thiệu Hóa ở Thanh Hóa. Nơi đây cũng là nơi phát lộ chiếc trống đồng đầu tiên và lấy tên đặt cho nền văn hóa đồ đồng Đông Sơn rực rỡ. Truyền thống đúc đồng và các di vật khảo cổ thời kỳ này hiện vẫn còn được lưu giữ rất phong phú ở Thanh Hóa.
Liệu con cháu xứ Thanh ngày nay có mấy ai nhìn cây đa nhớ tới ân đức của Thiệu Công?

Cay SanhCây sanh tại nhà một nghệ nhân Đông Sơn, Thanh Hóa.

Bài Dạ Trạch tiên gia phú ở đình làng Quan Xuyên xã Thành Công huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên

NGUYỄN MINH TƯỜNG, TRƯƠNG ĐỨC QUẢ. TẠP CHÍ HÁN NÔM SỐ 6(73) NĂM 2005
http://hannom.org.vn/web/tchn/data/0506.htm

1. Lời giới thiệu
Vào ngày 16-4-2005, nhận lời mời của các đồng chí phụ trách thôn Quan Xuyên, xã Thành Công, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, chúng tôi đã về làm việc tại địa phương trong một ngày. Công việc mà các đồng chí phụ trách thôn Quan Xuyên đề nghị chúng tôi giúp cho là: dịch những hoành phi, câu đối, bia đá… chữ Hán tại các công trình văn hóa – lịch sử trên địa bàn thôn như: đình Quan Xuyên, Nhà Sắc, Miếu Thượng, Miếu Trung, Miếu Hạ và tấm bia đá đặt tại bên tả (nhìn từ ngoài vào) của đình. Trong đó, đặc biệt có một bức hoành phi treo tại gian giữa nhà đại bái của đình Quan Xuyên, khắc toàn bộ bài Dạ Trạch Tiên gia phú khá nổi tiếng (có chừng 550 chữ). Ðây là một di sản vật thể quý báu về nhiều mặt (chạm khắc, thư pháp, nội dung văn học…) mà nhân dân Quan Xuyên còn lưu giữ được.
Bài Dạ Trạch Tiên gia phú vốn khắc tại đền Đa Hòa, thuộc tổng Mễ Sở, huyện Ðông Yên, phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên (nay là thôn Ða Hòa, xã Bình Minh, huyện Châu Giang, tỉnh Hưng Yên). Ðền Đa Hòa là ngôi đền chính thờ Chử Đồng Tử và Tiên Dung công chúa.
Vào nãm Ất Tỵ (1905) đời vua Thành Thái, một đàn cầu tiên được tổ chức tại đền Đa Hòa. Những người hầu dưới đàn là: Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Tấn Cảnh, Lê Chuyên… Bài Dạ Trạch Tiên gia phúnày được coi là bài Giáng bút của Chử Đạo tổ (tức Chử Đồng Tử). Chu Mạnh Trinh, người xã Phú Thị, đỗ Tiến sĩ khoa Nhâm Thìn (1892), từng giữ chức Quang lộc Tự khanh, kính chép và khắc bài phú Giáng bút này ở đền Đa Hòa.
Vào nãm Quý Sửu (1913) đời vua Duy Tân, các cụ phụ lão làng Quan Xuyên đã khắc lại bài Dạ Trạch Tiên gia phú này từ đền Đa Hòa đưa về treo tại đình. Nhận thấy đây là một bài phú hay, nội dung liên quan tới Chử Đồng Tử, một nhân vật được Đạo giáo Việt Nam suy tôn vào hàng “Tứ bất tử”, chúng tôi xin phiên dịch toàn bộ bài Dạ Trạch Tiên gia phú và công bố để bạn đọc xa gần cùng tham khảo.

2. Nguyên vãn chữ Hán
成 泰 乙 巳 年
渚 仙 降 筆 自 題
河 山 過 眼 幾 千 年
一 曲 高 歌 散 九 天
江 渚 月 明 雲 影 淡
澤 林 水 漲 隴 沙 圓
漫 傳 筇 笠 仙 家 事
誰 識 樓 臺 帝 子 緣
到 底 一 塵 還 不 染
金 鰲 駕 海 寓 雲 煙
夜 澤 仙 家 賦
玉 闕 天 高 金 臺 地 辟.
雲 萬 丈 以 騰 飛 水 千 重 而 凝 碧.
扁 舟 泛 泛 誰 從 訪 蓬 萊, 仙 境 之 虛 無;
夜 澤 汒 汒 我 獨 創 帝 子, 因 緣 之 屬 籍;
相 傳:
江 上 遇 帝 女 以 成 親;
誰 識:
仙 班 本 珠 宮 之 莫 逆.
雄 王 之 世, 十 九 相 承;
帝 曰 有 邦 彼 姝 者 子.
乃 從 星 而 顯 耀, 還 駕 雨 來,
赤 藤 勝 地 之 間;
因 伐 木 以 裁 樓, 別 向 風 雲,
白 社 圓 基 之 址.
是 處: 仙 家 雞 犬 何 事 飛 昇?
偶 然: 大 澤 龍 蛇 相 爭 議 庇.
杏 栽 千 樹, 藥 餌 遍 于 方 民;
桃 贈 萬 家 吟 詠 傳 於 閭 里.
辰 則:
月 明 夜 靜, 江 闊 天 空, 或 乘 舟 而 垂 釣, 或 倚 杖 以 迎 風;
攜 手 高 臺, 弄 玉 蕭 而 鳳 降, 識 針 還 閣, 聯 金 字 而 鵷 同.
塵 埃 風 景 蒼 汒 難 容, 久 住 日 月 壺 天 隱 約.
每 動 高 蹤; 乃 辭 帝 闕.
上 表 陳 情 旋 向 神 山 訪 予 舊 侶 赤 松 是 兩 師 遊 戲;
神 農 之 世 非 遙, 蒼 頡 生 文 字 契 書, 盤 古 之 風 可 緒.
四 頭 江 渚, 三 十 年 之 托 跡 轉 空;
扣 手 天 門 九 萬 里 之 高 歌 有 自.
樓 臺 亦 幻 瞕 梓 空 留; 江 波 寂 寂 雲 影 悠 悠.
閱 古 今 之 陳 跡; 感 禾 黍 於 郊 邱.
萊 公 之 陳 成 陰 德 能 兆 異; 潘 令 之 桃 結 寔, 我 亦 何 求.
然 而:
召 伯 甘 堂 不 伐; 總 人 心 之 思 慕
所 以:
羊 公 硯 首 興 言 示 來 者 之 綢 繆.
曰 庭 曰 閣; 成 邑 成 都.
仙 蹤 縹 緲; 往 事 荒 蕪.
筇 笠 林 間, 齊 東 野 之 妄 言 可 笑;
幕 帷 江 上, 趙 北 方 之 佳 話 還 無 虛 以 傳 虛 信 難 可 信.
人 思 舊 澤 而 不 忘; 我 獨 飛 靈 而 默 運
石 豈 能 言 之 物, 轉 也 何 曾;
檜 傳 左 紐 之 文, 是 誰 繆 引.
遂 使:
千 秋 韻 事, 遺 跡 難 憑 識;
看 一 片 閒 雲 仙 跡 不 泯.
維 新 癸 丑 春.
恭 錄 多 禾 祠.
乩 文.
奉 鐫 拜 進.

Phiên âm
Thành Thái Ất Tỵ niên
CHỬ TIÊN GIÁNG BÚT TỰ ĐỀ
Hà sơn quá nhãn kỷ thiên niên
Nhất khúc cao ca tán cửu thiên
Giang chử nguyệt minh vân ảnh đạm
Trạch lâm thủy trướng lũng sa viên(1)
Mạn truyền cung lạp tiên gia sự(2)
Thùy thức lâu đài đế tử duyên
Đáo để nhất trần hoàn bất nhiễm
Kim ngao giá hải ngụ vân yên.
DẠ TRẠCH TIÊN GIA PHÚ
Ngọc khuyết thiên cao; kim đài địa tịch
Vân vạn trượng dĩ đằng phi; thủy thiên trùng nhi ngưng bích.
Biển chu phiếm phiếm thùy tòng phỏng Bồng Lai tiên cảnh chi hư vô;
Dạ Trạch mang mang ngã độc sáng đế tử nhân duyên chi thuộc tịch.
Tương truyền Giang thượng ngộ Đế nữ dĩ thành thân;
Thùy thức: Tiên ban bản châu cung chi mạc nghịch.
Hùng Vương chi thế, thập cửu tương thừa.
Đế viết hữu bang, bỉ xu giả tử.
Nãi tòng tinh nhi hiển diệu, hoàn giá vũ lai, Xích Đằng thắng địa chi gian;
Nhân phạt mộc dĩ tài lâu, biệt hướng phong vân, Bạch Xã viên cõ chi chỉ.
Thị xứ: Tiên gia kê khuyển hà sự phi thăng?
Ngẫu nhiên: Ðại trạch long xà tương tranh nghị tý.
Hạnh tài thiên thụ, dược nhị biến vu phương dân;
Ðào tặng vạn gia, ngâm vịnh truyền ý lý lý.
Thời tắc: Nguyệt minh dạ tĩnh, giang khoát thiên không,
Hoặc thừa chu nhi thùy điếu, hoặc ỷ trượng dĩ nghênh phong;
Huề thủ cao đài, lộng ngọc tiêu nhi phượng giáng,
Thức châm hoàn các, liên kim tự nhi uyển đồng.
Trần ai phong cảnh thương mang, nan dung cửu trú;
Nhật nguyệt hồ thiên ẩn ước, mỗi động cao tung;
Nãi từ Đế khuyết, thướng biểu trần tình;
Toàn hướng thần sõn, phỏng dư Cựu lữ;
Xích Tùng, thị lưỡng sư du hý, Thần Nông chi thế phi dao;
Thương Hiệt sinh văn tự khế thư, Bàn Cổ chi phong khả tự.
Tứ đầu giang chử, tam thập niên chi thác tích chuyển không;
Khấu thủ thiên môn, cửu vạn lý chi cao ca hữu tự.
Lâu dài diệc huyễn; hiêu tử không lưu.
Giang ba tịch tịch, vân ảnh du du.
Duyệt cổ kim chi trần tích; Cảm hòa thử ý giao khâu.
Lai Công chi trúc thành âm đức năng triệu dị; Phan Lệnh chi đào kết thực, ngã diệc hà cầu.
Nhiên nhi: Thiệu Bá cam đường bất phạt, tổng nhân tâm chi tý mộ;
Sở dĩ: Dương Công nghiễn thủ hứng ngôn, thị lai giả chi trù mâu.
Viết đình viết các; thành ấp thành đô.
Tiên tung phiêu diểu; vãng sự hoang vu.
Cung lạp lâm gian, Tề đông dã chi võng ngôn khả tiếu;
Mạc duy giang thượng, Triệu bắc phương chi giai thoại hoàn vô.
Hý dĩ truyền hý; tín nan khả tín.
Nhân tý cựu trạch nhi bất vong; ngã độc phi linh nhi mặc vận.
Thạch khởi năng ngôn chi vật, chuyển dã hà tằng;
Cối truyền tả nữu chi văn, thị thùy mậu dẫn.
Toại sử: Thiên thu vận sự, di tích nan bằng;
Thức khán nhất phiến nhàn vân, tiên tung bất dẫn.
Duy Tân, Quý Sửu niên.
Cung lục Đa Hòa từ.
Kê vãn.
Phụng thuyên bái tiến.

3. Dịch nghĩa:
Năm Ất Tỵ (1905) đời vua Thành Thái
ĐỀ TỰ BÀI GIÁNG BÚT CỦA TIÊN ÔNG CHỬ ĐỒNG TỬ
Sông núi này, mắt ta ngắm nhìn đã mấy nghìn năm.
Một khúc ca cao vút, lan rộng tới chín tầng trời.
Trăng sáng chiếu qua mây, bóng nhạt nhòa bên bến sông.
Sóng nước vỗ đập vào bãi cát vùng đất Dạ Trạch.
Câu chuyện thần tiên về chiếc gậy trúc, nón gồi chẳng qua là ngoa truyền.
Ai hay được chuyện tình duyên của con gái vua chốn đền đài?
Dù cho sống nõi trần gian, nhưng cuối cùng chẳng nhiễm bụi trần.
Mọi chuyện rồi cũng theo Rùa vàng ra biển hay gửi trong đám mây trôi.
DẠ TRẠCH TIÊN GIA PHÚ
(PHÚ VỀ GIA ĐÌNH TIÊN ĐẦM DẠ TRẠCH)
Ngọc khuyết thiên cao; Kim đài rộng mở(3).
Mây muôn trượng bay cao, nước ngàn trùng xanh biếc(4).
Thuyền một lá lênh đênh, ai hỏi chốn Bồng Lai cảnh tiên hư ảo?
Dạ Trạch đầm nước mênh mang, ta riêng tạo chốn nhân duyên đế tử(5).
Tương truyền: May gặp Hoàng nữ trên sông, rồi bỗng nên duyên phận;
Biết chăng: Vốn nòi tiên sánh cùng Cung ngọc, chẳng có gì sai(6).
Hùng Vương dựng nghiệp, mười chín đời truyền(7);
Đế thất lưu truyền: Nước có mỹ nữ(8).
Theo sao mờ hiển hiện, chớp nhoáng như xe bay, mây lướt mưa sa ở đất Xích Đằng(9) thắng địa.
Rồi nhân thế phạt mộc dựng lầu cao, gây riêng một chốn, thử hỏi nào đâu Bạch Xã(10) nền xưa.
Đây xứ: Tiên cung chó gà kêu việc xẩy đột nhiên;
Bỗng nhiên: Ðầm lớn rồng rắn quấn quýt sao mà lạ(11).
Trồng hạnh nghìn cây, thuốc hay giúp khắp thôn dân;
Gây đào vạn cửa, lời ca vang cùng làng xóm.
Những khi: Trãng sáng, đêm thanh, trời cao sông rộng.
Lúc cưỡi thuyền buông câu; lúc tựa song đón gió.
Dan tay gác tía, thổi sáo ngọc mà chim phượng đến; cài trâm bên cửa biếc, gắn chữ vàng mà uyên ương theo.
Trần ai phong cảnh mênh mang, ở lâu sao đặng;
Nhật nguyệt giữa trời lấp lánh, thấy động dấu tiên.
Bèn từ cung khuyết. Dâng biểu trần tình;
Lại đến thần sơn, tìm hỏi bạn cũ(12).
Cùng Xích Tùng tiên du hí, đời ThầnNông(13) ngày ấy chẳng xa;
Chữ Thương Hiệt(14) thư khế rành rành, phong tục Bàn Cổ(15) đã có đầu mối.
Bốn mặt nước Chử giang(16), ba mươi năm thác tích, thành không;
Hai tay chắp Cửu trùng, ngàn muôn dặm ngợi ca từ đó(17).
Lâu đài nào thấy; gậy cũ còn đâu!
Sóng nước mịt mờ, mây mù thăm thẳm.
Xem nào cổ kim dấu tích; nhớ tới ngoài nội lúa ngô.
Trúc Lại Công(18) nay đã thành rừng, đức thường gây dựng.
Ðào Phan Lệnh(19) vốn đà kết trái, ta cũng chẳng cầu.
Thế mà: Như Thiệu Bá(20) không phạt Cam đường, cũng là do lòng người tư mộ;
Sở dĩ: Dương Công(21) miệt mài bên nghiên mực, chỉ mong cho hậu thế đẹp tươi.
Nào đền, nào gác, nên xóm nên thành.
Gót tiên lãng đãng; sự cũ hoang vu.
Khá cười chuyện cũ hoang đường, gậy trúc nón gồi, đồn khắp hang cùng ngõ hẻm;
Lại hay giai thoại vu vơ, màn gấm bên sông, lan xa ngoài cõi Bắc phương(22).
Đồn lại thêm đồn; tin không khó biết.
Đầm xưa, người nhớ mãi chẳng quên; Ta vẫn riêng cưỡi mây phù vận(23).
Đá có nói gì đâu mà vật chuyển dời, sao thế?
Sao truyền cội gốc chuyện xa xưa ngoa vậy, vì ai ?(24).
Khiến cho: Nghìn thu chuyện đẹp, tích cũ khó tìm bằng cứ?
Hãy nhìn một áng mây trôi, dấu tiên như còn tỏ.
Năm Quý Sửu (1913) đời vua Duy Tân.
Kính cẩn chép từ đền Đa Hòa – Văn giáng bút.
Kính sao – Bái tiến.

4. Mấy nhận xét
Bài Dạ Trạch Tiên gia phú, chúng tôi vừa giới thiệu trên đây, như đã nói, được coi là bài phú “giáng bút” của Chử Đạo tổ trong một đàn cầu tiên tổ chức tại đền Đa Hòa vào năm 1905.
Ðàn cầu tiên là một sinh hoạt có tính văn hóa của những người trí thức Nho học Việt Nam tồn tại từ lâu đời. Đến khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, đạo cầu hồn vốn xuất hiện ở Âu Mỹ, được gọi là Thần linh học hoặc Linh hồn học (Psychisme) thấm dần vào Việt Nam. Từ đó, đàn cầu tiên có thêm “người bạn đồng hành” là đạo cầu hồn nên đã phát triển hõn trước. Cầu hồn của phương Tây với cầu tiên của nước ta không khác nhau là bao nhiêu. Về nguyên tắc hai bên đều thừa nhận linh hồn bất tử, có thể giao tiếp với người sống, tiên “giáng bút” thì làm thõ, làm phú bằng chữ Hán. Cầu hồn kiểu Tây thì ai chấp bút cũng được, hồn nhập bút viết bằng chữ Pháp hay chữ Quốc ngữ.
Bài Dạ Trạch Tiên gia phú được ra đời trong hoàn cảnh Cầu tiên do các vị Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Tấn Cảnh, Lê Chuyên… tổ chức. Loại trừ việc coi bài phú này của Chử Đồng Tử là điều khó có thể tin được, thì giá trị văn học của Dạ Trạch Tiên gia phú là điều dễ nhận thấy. Về hình thức cũng như nội dung, Dạ Trạch Tiên gia phú có vẻ tài hoa, thanh thoát tương tự như bài Thanh Tâm Tài Nhân phú được sáng tác trong Tao đàn Hưng Yên cũng vào nãm 1905 của Tiến sĩ Chu Mạnh Trinh. Do vậy, chúng tôi cho rằng việc công bố rộng rãi bài Dạ Trạch Tiên gia phú này, để bạn đọc tham khảo và thưởng thức là điều hết sức cần thiết và bổ ích.
N.M.T – T.Đ.Q

CHÚ THÍCH
(1) Nguyên chú: thủy trúng chính long.
(2) Nguyên chú: chữ nguyên chú nhỏ quá lại mờ chưa đọc được.
(3) Nguyên chú: lời này có ý rằng bậc quân chủ yêu quý người hiền tài.
(4) Nguyên chú: ta từ trên trời giáng xuống trần thế.
(5) Nguyên chú: lời này nói về đất nõi ta ẩn cư.
(6) Nguyên chú: ta cùng Chính phi Tiên Dung đều là tiên giáng thế, không cần Hoàng đế cho phép, vẫn kết hôn.
(7) Nguyên chú: Ta giáng sinh vào giờ Sửu (1-3 giờ sáng) năm Bính Ngọ, đời Hùng Vương thứ 19.
(8) Nguyên chú: bỉ xu giả tử: Đẹp sao người con gái kia. Câu này dẫn trong Kinh Thi lấy ý thơ chương Đại Minh.
(9) Xích Đằng: tên xã thuộc tổng An Tảo, huyện Kim Động, phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên (nay thuộc huyện Kim Thi, tỉnh Hưng Yên), có đền thờ Phạm Bạch Hổ và Ðinh Ðiền.
(10) Bạch Xã: địa danh thuộc huyện Lạc Dương, tỉnh Hà Nam của Trung Quốc. Theo sách Tấn thư – Ðổng Kinh truyện, thì Bạch Xã là nơi mà Ðổng Kinh đã từng trú ngụ. Theo sách Thủy kinh chú thì Bạch Xã là tên làng cũ ở phía Bắc của sông Dương Cừ chảy qua tỉnh Hà Nam. (Từ nguyên-Bộ Ngọ, tr.57).
(11) Nguyên chú: ta có phép thần có thể biến thành rồng rắn giáng thế.
(12) Xích Tùng – Cựu Lã: tức Xích Tùng Tử và Lã Động Tân là hai vị tiên trong số Bát tiên của Đạo giáo thần tiên Trung Quốc.
(13) Thần Nông: một trong Ngũ Đế trong thời Cổ sử Trung Quốc (Phục Hy – Thần Nông – Hoàng đế – Đế Nghiêu – Ðế Thuấn). Tương truyền, Thần Nông đã có công dạy dân biết trồng trọt, phân biệt ngũ cốc và chữa bệnh.
(14) Thương Hiệt: người đời cổ của Trung Quốc, được coi là có công sáng tạo ra chữ Hán.
(15) Bàn Cổ: một nhân vật thần thoại Trung Hoa.
(16) Chử giang: dòng sông Hồng chảy qua bãi Chử Xá, nơi Chử Đồng Tử sinh ra và kiếm sống rồi gặp Tiên Dung công chúa.
(17) Nguyên chú: Ta ngồi hóa giờ Dậu (7-8 giờ tối), ngày 20-9 nãm Giáp Tuất đời Hùng Vương thứ 20. Ta sống tại cõi trần 30 năm, lại trở về cõi tiên, vì thế cổ nhân bảo ta có thuốc trường sinh.
(18) Lại Công Trúc: truyện Khấu Chuẩn trong Tống sử chép: Khấu Chuẩn bị biếm đến Lôi Châu, chết ở đó. Người nhà đem ông về táng ở Tây Kinh. Ðường đi qua huyện Công An, phía Nam Kinh Châu, nhân dân thương ông đều đặt bàn thờ, khóc lóc tế ông bên đường. Họ còn bẻ trúc trồng hai bên đường… Sau này trúc khô đi nhưng sinh ra măng. Do đó ở Kinh Châu có loại trúc Lại Công. (Từ nguyên – bộ Thân, tr.27).
(19) Phan Lệnh đào: chưa rõ ở điển nào.
(20) Thiệu Bá: tên thật là Thiệu Công Thích, con thứ của Chu Vãn Vương. Ông cùng với Chu Công Ðán là hai bề tôi có công lao cai trị đất nước thời Chu Võ Vương và Chu Thành Vương. Thiệu Công Thích vốn họ Cõ, nhưng vì được chia thái ấp ở đất Thiệu, nên xưng là Thiệu Bá. Thiệu Bá xử kiện công minh cho dân, người sau trồng cây cam đường để ghi nhớ! Kinh Thi có câu: Tế phế cam đường (Rườm rà cây cam đường).
(21) Dương Công: chưa rõ tác giả sử dụng điển nào.
(22) Nguyên chú: sử nước ngoài có nói chuyện gậy trúc, nón gồi, có lý nào như vậy! Thế mà con Hoàng đế giáng vân. Đến việc vây màn bên sông, đều do bọn dốt nát bịa ra, không thể tin cậy được! Muốn hiểu thấu phải tự mình lý giải mà thôi!
(23) Nguyên chú: nói là phi linh, tức giáng linh, đây dùng lời của bậc đại nhân.
(24) Nguyên chú: chỗ này cũng nên xem xét cho rõ ràng./.

Bàn về hai chữ Giang, Hà và bài thơ Hán quảng trong Kinh Thi

Wikipedia tiếng Trung về danh từ Hà lưu 河流, tức Sông ngòi có đoạn, nội dung dịch đại ý như sau: Thời thượng cổ Trung Quốc, nghĩa của hai chữ Hà và Giang đều khác bây giờ. Hà chỉ Hoàng Hà, Giang chỉ Trường Giang, cổ nhân tạo ra hai chữ Giang và Hà từ bộ Thủy, thoạt kỳ thủy gọi Hoàng Hà là Hà thủy, Trường Giang là Giang thủy. Sau thời Nam Bắc triều do quan sát thấy Hà thủy có màu hơi vàng nên gọi là Hoàng Hà, còn Giang thủy do có chiều dài nhất nên gọi là Trường Giang, từ đó gọi sông ngòi phía Bắc là Hà, sông ngòi phía Nam là Giang.
Quan niệm rằng Hà là từ của phương Bắc chỉ sông, thậm chí cụ thể là sông Hoàng Hà trong cổ thư, còn Giang là từ của phương Nam, trong cổ thư chỉ sông Trường Giang khá phổ biến hiện nay. Nghe chừng quan điểm này có vẻ có lý… vì người Trung Quốc cổ sinh sống ở vùng giữa Hoàng Hà và Trường Giang…
Thế nhưng khi xem xét kỹ những trường hợp sử dụng hai từ Giang và Hà trong cổ thư thì quan niệm này hoàn toàn không đúng, thậm chí chỉ là ngụy giải, ngụy biện thiếu căn cứ. Nhiều trường hợp đã dẫn đến hiểu sai, hiểu ngược ý của cổ thư, nhất là trong Kinh Thi, do sự định vị định kiến của người Tàu rằng Hà là Hoàng Hà, Giang là Trường Giang.
Đã không ít người chứng minh rằng Giang 江 là từ có nguồn gốc ngôn ngữ Nam Á, còn dấu tích trong âm K’long chỉ sông ở Tây Nguyên. Bản thân phần tượng thanh trong chữ Giang là chữ Công 工 cho phép khẳng định âm cổ của Giang thực ra vốn là Sông. Phải nói thẳng “ngôn ngữ Nam Á” đây là tiếng Việt (chí ít cũng là Bách Việt), là đại tộc nắm giữ vùng từ sông Trường Giang đổ về phía Nam thời cổ đại. “Giang” như vậy là từ tiếng Việt, rõ không cần bàn.
Còn từ Hà cũng chẳng phải là “tiếng Tàu” gì. Đơn cử ngay trong Chu Nam, phần đầu tiên của Kinh Thi, đã bắt gặp cả 2 từ Giang và Hà.
Bài Quan thư, bài thơ đầu tiên của Kinh Thi có 2 câu mở đầu nói ngay đến từ Hà 河:
關關雎鳩, 在河之州
Quan quan thư cưu. Tại hà chi châu.
Nhưng cũng trong phần Chu Nam cùa Kinh Thi bài thứ 9 là Hán quảng thì lại có từ Giang 江:
江之永矣, 不可方思
Giang chi vĩnh hĩ. Bất khả phương ti.
Kinh Thi là tác phẩm được tập hợp san định bởi Khổng Tử, tức là thời nhà Chu, khoảng trong nửa đầu thiên niên kỷ 1 trước Công nguyên. Chu Nam là chính phong, là phong dao vùng thực ấp của Cơ Đán, tức Chu Công. Ấp phong này nằm trên phạm vi vùng đất khởi nghiệp của nhà Chu. Vậy nếu hiểu Giang là Trường Giang, Hà là Hoàng Hà như các học giả hiện đang chú giải Kinh Thi, thì một thực ấp như Chu Nam nằm ở chỗ nào mà có thể vừa có Hà lại vừa có Giang?
Còn nếu hiểu Chu Nam là nước phong của Chu Công, tức là nước Lỗ, hiện được xác định ở bán đảo Sơn Đông thì cũng không thể vừa có Hoàng Hà vừa có Trường Giang chảy qua.

P1260299 (2)Địa đồ các nước trong Quốc phong, Kinh Thi do Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu biên vẽ.

Kiểu diễn giải gán ghép với ý nguồn gốc của người Trung Quốc là ở giữa Hoàng Hà và Trường Giang là vô lý. Làm gì có tộc người nào mà mới sinh ra lại có thể ở cả trên 2 cái nôi, cách nhau xa cả ngàn cây số như vậy.
Giang và Hà trong Kinh Thi hoàn toàn không phải Hoàng Hà và Trường Giang. Đơn giản đây là 2 từ chỉ các con sông nói chung, được sử dụng trong cùng một thứ ngôn ngữ, của cùng một tộc người. Vì thế không thể kết luận đất Chu Nam hay Kinh Thi được sáng tác ở vùng giữa Hoàng Hà và Trường Giang.
Chính xác hơn, ý nghĩa gốc của 2 từ Giang Hà được kiến giải như sau. Giang tương đương với Giêng, là số 1. Số 1 trong Hà thư và tượng Nước (giang) là hành Thủy trong Ngũ hành để chỉ hướng lạnh (hướng Bắc nay).
Còn hay Hồ, tương đương với Hai, số 2, là những tượng số chỉ phương Xích đạo (hướng Nam nay). Ví dụ nước ở phía Nam nước Văn Lang được gọi là nước Hồ Tôn.
Cặp từ Giang – Hà tạo thành từ ghép “Giang hồ” với nghĩa Bắc – Nam, hay khắp nơi. Sông và Hồ rõ ràng là những từ tiếng Việt, chẳng phải tiếng “Tàu Nam” hay “Tàu Bắc” nào cả.
Còn có cặp Hà – Lạc có nghĩa là Bắc – Nam, Trên – Dưới, Trời – Đất. Lạc = Nác = Nước, cũng tương tự như Giang. Hà đồ (chính xác hơn là Hà thư) không phải là đồ hình tìm thấy ở sông Hà (Hoàng Hà), mà là Thiên thư, là sách trời. Còn Lạc thư (chính xác hơn là Lạc đồ) không phải cuốn sách thấy ở sông Lạc, mà nghĩa là Địa đồ, là bản vẽ mặt đất.
Với nhận định như vậy, việc đọc giải Kinh Thi cần có nhiều điều phải xem lại. Ví dụ bài Hán quảng (chương 1):
南有喬木
不可休息
漢有遊女
不可求思
漢之廣矣
不可泳思
江之永矣
不可方思
Nam hữu kiều mộc
Bất khả hưu tức
Hán hữu du nữ
Bất khả cầu ti
Hán chi quảng hĩ
Bất khả vịnh ti
Giang chi vĩnh hĩ
Bất khả phương ti.
Tương tự như những chữ Giang và Hà, chữ Hán 漢 ở đây hoàn toàn không phải sông Hán Thủy ở vùng Nam Thiểm Tây – Hồ Bắc Trung Quốc. Vùng này vốn là khu vực nước Tần và Sở. Làm sao có thể có chuyện đất Chu Nam của thiên tử Chu hay của Chu Công lại nằm ở vùng “Man Di” Tần Sở được?
Đối chiếu trong bài thơ thì chữ “Hán” được dùng đối lập hoặc đẳng lập với chữ “Nam”. Nam hữu kiều mộc (nghĩa là Bên Nam có cái cây cao) đối với: Hán hữu du nữ. Hán như vậy là từ chỉ phương hướng. Hán là hướng Bắc (nay), ví dụ như sao Hán là sao Bắc đẩu. Câu thơ Hán hữu du nữ có nghĩa là Bên Bắc có người con gái đang bơi lội. Phải dịch đúng nghĩa chính của từ “Du” là “đang bơi” thì mới liên quan đến nội dung của đoạn thơ tiếp theo.
Đoạn điệp khúc “Hán chi quảng hĩ. Bất khả vịnh ti. Giang chi vĩnh hĩ. Bất khả phương ti” cũng cần hiểu lại vì chẳng có sông Hán Thủy, Trường Giang nào ở đây cả. Giang có nghĩa là sông nói chung, còn Hán là chỉ phía Bắc, bờ Bắc của sông.
Chữ “Vịnh” 泳 với nghĩa thông thường là “Lặn”. Nghĩa này tỏ ra không phù hợp với bối cảnh bài thơ. “Lặn sang sông” để cầu cô gái? Sao thơ lại có ý thô tục vậy?
Ở đây chữ Vịnh phải hiểu với nghĩa rộng hơn, hay hiểu theo nghĩa bóng. Vì bờ Bắc ở xa (Hán chi quảng hĩ) nên việc đi qua (xuyên qua, lặn lội qua) là không thể (Bất khả vịnh ti). Bờ Bắc cũng là nơi cô gái đang bơi nên một cách bóng gió phương Hán và dòng sông đây chính là cô gái. “Lặn” qua nghĩa là vượt qua khó khăn, đi được vào lòng cô gái.
Tương tự trong 2 câu cuối. Chữ “Phương” 方 dịch là “đi bè” thì vô lý (bè trôi dọc sông, chứ sao lại sang ngang sông?), và bản thân từ này không hề có nghĩa nào là làm bè hay đi bè.
Chữ “Phương” 方 ở đây có thể hiểu: vì sông dài (Giang chi vĩnh hĩ) nên không thể đi song song (song phương, đi dọc) sông được. “Giang” ở đây cũng là tấm lòng của cô gái đang du bơi nên không đi cùng được, cũng giống như không cầu được vậy. Như thế bài thơ nêu sự đối lập Nam – Bắc (Nam – Hán) và rộng – dài (vịnh – phương), rất chỉnh và đúng ngữ cảnh.
Dịch lại bài thơ Hán quảng:
Bên bờ Nam cây cao chót vót
Bóng không nhiều chẳng mát nghỉ ngơi
Cô gái bên Bắc du bơi
Khó lòng quân tử trao lời cầu mong
Kìa bờ Bắc xa trông vời vợi
Biết làm sao vượt được ngang sông
Sông dài nước chảy không cùng
Sánh sông chẳng thể mãi lòng người ta.
Những bài thơ trong Kinh Thi là bằng chứng xác đáng rằng Hà không phải là Hoàng Hà và Giang không phải Trường Giang. Xuất phát điểm của thiên hạ Trung Hoa nhà Chu không nằm ở Hoàng Hà cũng như Trường Giang. Ngôn ngữ mà thiên hạ “Trung Hoa” từng dùng không phải tiếng Tàu, mà là tiếng Việt chính cống.

Kính nhi viễn chi

Thành ngữ “kính nhi viễn chi” có nguồn gốc từ một câu nói của Khổng Tử trong Luận ngữ – Ung dã: Vụ dân chi nghĩa, kính quỷ thần nhi viễn chi, khả vị tri hĩ. Tạm dịch như sau: Làm việc nghĩa, có ích cho dân, tuy phải kính trọng quỷ thần nhưng nên tránh xa quỷ thần, đó là trí.
Tư tưởng “kính mà xa” này của Khổng Tử thực ra không phải là cách xử thế đối với chốn quan trường hay trong triều đình như vẫn được giải thích. Đây là cách mà Khổng Tử nói tới nên ứng xử như thế nào đối với các tín ngưỡng dân gian (việc quỷ thần). Đặc biệt Khổng Tử, như một nhà sử học đầu tiên của Trung Hoa (viết Kinh Thư), đã có một quan điểm rất đúng đắn khi xử lý các truyền thuyết, tín ngưỡng trong việc biên chép sử. Vừa phải tôn trọng (kính) những thông tin trong truyền thuyết, nhưng cũng vừa phải lùi xa, nhìn rộng, suy thấu một cách thực tế thì mới có thể thấy được sự thật của quá khứ.

P1060168Chiếc lịch ba chân thời Tây Chu với hoa văn Thao thiết và Quỳ long.

Một ví dụ thường được lấy về quan điểm của Khổng Tử đối với những chuyện quỷ thần trong truyền thuyết khi biên sử là chuyện về Hoàng Đế. Theo thần thoại, Hoàng Đế là một vị thần có 4 mặt để trông coi 4 phương. Thông tin này được Khổng Tử giải thích rằng Hoàng Đế đã phái 4 người đi trị vì 4 phương. Cách giải thích này đúng là vừa “kính”, tức là vừa tôn trọng thông tin, không bác bỏ nó, nhưng cũng vừa “viễn”, tức là nhìn nhận và lý giải thông tin một cách thực tế.
Ví dụ khác về hình ảnh “Quỳ nhất túc”, tức là con Quỳ có một chân. Khổng Tử đã bác bỏ sự hoang đường để giải thích là con Quỳ hung ác chỉ cần có 1 điểm khả thủ đó là việc giữ chữ Tín là đủ. Hay Quỳ đã biến thành một nhạc quan của vua Thuấn và người như Quỳ chỉ cần 1 là đủ. Như vậy thay vì đi tìm loài thú 1 chân, hình ảnh Quỳ nhất túc được hiểu thành thông điệp “một là đủ”.
Tinh thần “kính mà xa” việc quỷ thần của Khổng Tử bị các Nho gia đời sau hiểu không chính xác, dẫn đến sự khô cứng gò bó của Nho gia trong chép sử. Lỗ Tấn đã nhận xét: Khổng Tử ra đời, lấy những điều thực dụng sửa mình, yên nhà, trị nước, bình thiên hạ làm giáo lý, không muốn nói việc quỷ thần, những thuyết hoang đường thời thái cổ đều là những điều nhà Nho không muốn nói, cho nên về sau, chẳng những không làm gì được cho sáng sủa lớn lao thêm mà còn để cho tản mác, mất mát đi nữa (Lịch sử truyền thuyết Trung Quốc).
Cũng Lỗ Tấn đã cho rằng trong các truyền thuyết xa xưa luôn chứa đựng những điều đáng kể về lịch sử: Lịch sử của bất cứ một dân tộc nào khi bắt đầu toàn là những sự kiện mông lung, nhiều mâu thuẫn. Đó là tình hình chung và không có cách nào khắc phục được của lịch sử các dân tộc. Nhưng sau khi đã nói xong mọi câu chuyện truyền thuyết, vô luận thế nào, những truyền thuyết rất xa xưa đó về mặt lịch sử mà nói, đều có những yếu tố và hạt nhân đáng kể, chứ không phải bịa đặt hoàn toàn.

IMG_1860Hoa văn con Quỳ trên nắp một chiếc bình thời Tây Chu.

Tinh thần “kính nhi viễn chi” của Khổng Tử đã từng được các nhà Nho Việt Nam áp dụng trong soạn những bộ sử đầu tiên của đất nước. Danh nhân thời Trần là Hồ Tông Thốc, người viết cuốn Việt Nam thế chí, một cuốn sử sớm của nước ta là người đi đầu trong việc này. Quan điểm sử học của Hồ Tông Thốc khi đưa những huyền thoại, truyền thuyết vào chính sử được nêu trong bài tựa của tác phẩm Việt Nam thế chí:
Sách chép về thế phả, vốn có từ lâu, khảo xét các đời đã qua để rõ nguồn gốc lưu truyền, kê cứu những điều truyền văn, để rõ những tiêu chuẩn xưa nay. Hiềm vì chuyện tin chuyện ngờ lẫn nhau, có điều chưa hợp hẳn với lòng người. Nhưng việc đời biến đổi khác nhau thì làm sao lại khỏi có những điều quái gở. Nghìn năm về sau, khó lòng biết được đầy đủ, mà tìm trong sách vở cũng không thể tra cứu vào đâu được. Bởi vậy, ghi chép về nguồn gốc thực là nhọc lòng lắm.
Có người hỏi tôi rằng: Bỏ cái lạ giữ cái thường là đạo của thánh hiền, tại sao ông lại câu nệ theo cũ, không nêu rõ lời mới để đổi hẳn thói mê hoặc của đời?
Tôi đáp rằng: Thời thái cổ còn hỗn mang, chưa phân biệt trời đất, ngay trung thổ cũng còn có nhiều thuyết hoang đường, như những chuyện vá trời, húc núi, lấy chân ngao làm cột trời, mười mặt trời cùng mọc, v.v…, đời sau cứ theo sách mà bàn luận, không kê cứu vào đâu được, đúng hay không đúng, vẫn còn ghi chép trong sử sách. Huống chi đất Việt ta ở vào cõi xa, sự hiểu biết cũng khác, từ đời hồng hoang thời gian xa cách, trong lúc mới mở mang, sách vở chưa đầy đủ, lễ nhạc chưa làm, nếu cho là có thực thì bởi đâu mà biết? Nếu cho là không có, thì do đâu mà xét ra?
Cho nên những chuyện góp nhặt được đều là lượm lặt ở tiếng vang chuyện đồn, trích lấy đầu đuôi để cho biết rõ về phả ký từng đời mà thôi, còn những sự tích kỳ quái, lờ mờ khó xét, tạm giữ đó để chờ các bậc quân tử sau này, dám đâu xuyên tạc ra lời quái dị để mê hoặc người đời. Độc giả nên lưu tâm nhận kỹ, cố sức suy nghiệm thì sẽ rõ ngọc đá; thấy được tiếng vang hình bóng của lịch sử; tôi đâu tự dám cho ý mình là thoả đáng.
Vả lại, nước Nam ta ở vào dải đất nóng nực, trong cõi mênh mông, vua sáng đời nào cũng có. Dẫu rằng núi sông rộng lớn, chia biệt mỗi lúc một khác, nhưng từ xưa đến nay, chỉ căn cứ vào tục truyền và dấu vết, hỏi việc về dĩ vãng thì nhờ các cụ già kể chuyện lại; xét nghiệm ở tương lai thì có những đền miếu cúng thờ…
Chính nhờ tinh thần vừa tôn trọng truyền thuyết, tín ngưỡng, vừa cẩn trọng tìm kiếm đối chiếu với các tư liệu có được, qua người già kể lại, tại đền miếu cúng thờ, mà Hồ Tông Thốc đã làm được một việc lớn cho việc biên chép sử Việt, đó là đưa thời đại Hùng Vương vào chính sử. 18 triều đại vua Hùng, kéo dài trên 2000 năm vốn chỉ được biết qua các truyền thuyết huyền sử. Nhìn nhận đúng thời đại Hùng Vương chính là trở về đúng với cội nguồn của dân tộc.
Bài học “Kính quỷ thần nhi viễn chi” của Khổng Tử, Lỗ Tấn, Hồ Tông Thốc tuy vẫn hiện hữu, nhưng ngày nay các sử gia Việt chỉ biết có “Viễn” mà không biết “Kính”. Thái độ “hủ Nho” này là nguyên nhân làm cho sử Việt trở thành khô khan, rời rạc, cụt lủn, mất mát đi quá nửa. Những câu hỏi lớn của lịch sử cổ và trung đại của nước Nam không được giải đáp một cách thỏa đáng, dẫn đến hàng loạt những điều vô lý, tới mức người ta không dám đem thời kỳ lịch sử này ra để thi cử bao giờ, vì ngay ban giám khảo cũng không biết trả lời thế nào là đúng.
Điểm qua vài vấn đề lớn trong sử Việt, liên quan đến chuyện “quỷ thần”:
– Lạc Long Quân giống Rồng lấy Âu Cơ là nòi Tiên sinh ra bọc trăm trứng, nở ra trăm người con trai, là khởi nguồn của trăm giống Việt. Ý nghĩa của việc “sinh trăm trứng” này là gì?
– Sơn Tinh dùng cây gậy thần và sách ước biến hóa sinh tử, lấy được công chúa Mỵ Nương, đánh thắng Thủy Tinh. Phép thuật “gậy thần sách ước” của Tản Viên là gì?
– An Dương Vương xây thành Cổ Loa, cứ xây lại đổ, phải nhờ thần Kim Quy bắt Bạch Kê tinh thì thành mới xây được. Sự thật điều gì đã làm cho thành Cổ Loa bị đổ?
– Thần Kim Quy cho An Dương Vương chiếc móng thần để làm lẫy nỏ, bắn một phát cả trăm mũi tên. Rồi “Nỏ thần sơ ý trao tay giặc, nên nỗi cơ đồ đắm bể sâu”… “Móng rùa” ở đây là gì?
– Triệu Việt Vương được thần nhân ở đầm Nhất Dạ cho chiếc móng rồng, làm mũ đâu mâu, đánh đâu thắng đó, rồi bị Lý Phật Tử đánh tráo mà thất bại, cùng đường đi vào biển mà mất. “Móng rồng” ở đây là thứ gì?
Có lẽ không thể kể hết được những chuyện “quỷ thần” trong sử Việt vì nó luôn có mặt từ những trang sử đầu tiên đến cuối cùng. Đó là cách thức chép sử của dân gian, luôn tồn tại song song với sử sách của nhà nước. Những chuyện quỷ thần đó không phải vô lý vô nghĩa, mà thực sự mang những thông tin xác thực, đầy ý nghĩa. Cần tôn trọng những dữ liệu dân gian và có sự so sánh đối chiếu thực tế về ý nghĩa của những dữ liệu đó thì mới có thể giải đáp được những khúc mắc trong sử Việt, trả lại sự thật về quá khứ huy hoàng 4000 năm của người Việt.