Dịch học Hùng Việt

Bat quaiDịch học phương Đông gắn liền với dòng chảy lịch sử của nền văn minh cổ đại được gọi dưới tên là “Trung Hoa”: Vua Phục Hy tìm thấy Hà đồ trên lưng con Long Mã; Đại Vũ trị thủy đã nghĩ ra Lạc thư; Hoàng Đế bàn về y thuật đã vận dụng Ngũ hành; Văn Vương tác dịch khi bị giam cầm ở Dĩu Lý… Rõ ràng, trên con đường trở về cội nguồn văn minh phương Đông, Dịch lý không thể không được tìm hiểu thấu đáo.
Dịch lý là lẽ sống, là nền tảng văn hóa, ngôn ngữ, là sự tích tụ tinh hoa và trí tuệ qua nhiều đời của tiền nhân. Dịch đã từng là ngọn đuốc soi đường cho cả thiên hạ Trung Hoa đi lên văn minh, tiến bộ trong suốt đêm dài quá khứ, khi xã hội con người chập chững những bước đi đầu tiên của lịch sử. Thế nhưng, nền Dịch học trải qua bao thăng trầm của lịch sử đến ngày nay đã bị biến dạng, khác rất xa với Dịch học xưa kia. Dịch bị biến thành một thứ quỷ quái, không thể hiểu nổi, hay trở thành công cụ của đám buôn thần bán thánh.
Việc cải biến, làm lệch lạc Dịch lý được truyền thuyết Việt lưu lại trong câu chuyện lẫy nỏ thần của An Dương Vương bị kẻ thù đánh tráo, dẫn đến cảnh nước mất nhà tan, vô cùng đau xót. Tìm lại chiếc lẫy nỏ thần, khôi phục được nguồn gốc sức mạnh của người Việt là mục đích sâu xa của việc khảo cứu Dịch.
Khôi phục Dịch học, nền tảng tinh thần, trí tuệ cho người Việt, là việc làm hết sức khó. Tác phẩm Dịch học Hùng Việt do tác giả Nguyễn Quang Nhật biên khảo là một bước đột phá mới trong lĩnh vực này. Qua tác phẩm những thông tin trong Dịch học đã trở nên trong sáng, rõ ràng và đầy ý nghĩa khi được ứng chiếu với văn hóa, ngôn ngữ, địa lý và lịch sử của Việt Nam.
Tiếng Việt, phải chăng đó là ngôn ngữ của những người đã làm nên Dịch học? Tam thánh Dịch học là Chu Văn Vương, Chu Công và Khổng Tử vốn đều là những người Việt nên Dịch học chỉ có thể hiểu sáng rõ khi vận dụng ngôn ngữ Việt. Dịch học Hùng Việt được tác giả phục dựng trước hết dựa trên tiếng Việt. Điều này làm cho những khái niệm Dịch học như tên của can chi, tên các quẻ trùng… trở nên rất gần gũi và dễ hiểu với ngưới Việt.
Tác phẩm Dịch học Hùng Việt ra đời cách đây đúng 10 năm và đã được giới thiệu trên các trang mạng trực tuyến. Ở lần biên tập này tác phẩm được bổ sung bằng các chứng lý vật thể phong phú hơn. Những hoa văn trống đồng, sản phẩm mang đầy “Dịch tính” của người Việt được dẫn lại. Những hình ảnh đồ dùng bằng đồng xanh của thời kỳ Thương Chu tìm thấy ở phương Nam được trình bày một cách tương ứng và phù hợp.
Đây là hình ảnh của những hiện vật thực, rất độc đáo, lấy từ bộ sưu tầm riêng của cá nhân. Những tuyệt phẩm đồ đồng này giúp đưa người đọc trở về với khung cảnh tác Dịch của người xưa, để từ đó có thể hiểu đúng hơn những thông điệp của quá khứ. Một quá khứ mà đã bị lớp bụi thời gian dày đặc che phủ và bị bao kẻ thù bằng mọi cách muốn xóa sạch các vết tích. Về lịch sử của con dân họ Hùng được phục dựng lại nhờ vận dụng Dịch lý xin đọc thêm trong cuốn Sử thuyết Hùng Việt của cùng tác giả.
Điểm cốt yếu của Dịch là con người phải biết sống hòa hợp với môi trường, cụ thể là với thực tế địa lý – khí hậu tự nhiên. Thông qua các cặp quẻ Dịch, các quy luật tương tác xã hội (khoa học, công nghệ, kinh tế, chính trị) dung hợp với các quy luật tương tác của các yếu tố tự nhiên (núi, biển, gió, …). Nhìn nhận Dịch lý từ góc độ minh triết tự nhiên và quản trị thực tiễn cũng là điểm mới, đã được thể hiện một cách rất logic và thích hợp trong tác phẩm Dịch học Hùng Việt.
Nền Dịch học khớp với thực tế địa lý – khí hậu mà nó hình thành chính là kim chỉ nam mà tổ tiên để lại cho con cháu vững bước đi tới tương lai, ngay cả trong thời đại công nghệ số hóa 4.0 ngày nay. Những đúc kết đó, nhân sinh quan và thế giới quan đó, có thể soi tỏ nhu cầu bức thiết về chất lượng cuộc sống, một nền kinh tế xanh phát triển bền vững của thế giới, mà trong đó Việt Nam có những lợi thế tiềm năng.
Đóng góp của Dịch lý trong sự tiến bộ của nền văn hóa phương Đông và của nền văn minh nhân loại là không thể phủ nhận, trên mọi lĩnh vực (triết học, y học, ẩm thực…). Chưa bao giờ như lúc này, người Việt cần một nền Dịch học chân chính. Dịch học Hùng Việt chính là chìa khóa để phát huy giá trị và linh lực vô tận mà tiền nhân để lại cho con dân Việt.
Nhóm biên tập Hùng Việt sử quán xin trân trọng đưa tới tay bạn đọc bản in tác phẩm khảo cứu sẽ trở thành kinh điển về Dịch lý – nền tảng văn hóa phương Đông này.
Bia truoc

Sách dày 446 trang. Liên hệ mua sách theo địa chỉ: bachviet18@yahoo.com

MỤC LỤC

LỜI GIỚI THIỆU

ĐÔI LỜI NÓI TRƯỚC

Phần I DẪN NHẬP

Nôm na là cha mách qué
Điểu thú văn
Dịch học và đồ đồng Đông Sơn
Dịch học hình tượng
12 con giáp của người Việt
Tên gọi Địa chi
Liên hệ về nghĩa của các Địa chi

Phần II DỊCH HỌC TỔNG QUÁT

Dịch học tượng số hay nút thừng

Chục con
Hà thư và Chục con
Tổng quan về Lạc đồ
Tổng luận về Hà – Lạc

Dịch học tượng vạch hay vạch quẻ

Đôi ngôi Âm Dương
4 dạng hay Tứ tạng
8 Quả hay Bát quái

Dịch học tượng số lẻ

Tam tòa hay Tam tài
Ngũ hành hay 5 hình
9 chỗ hay Cửu trù

Dịch học và tiến hóa xã hội

Tri thức, khoa học – quẻ Đoài
Công cụ kỹ thuật – quẻ Chấn
Kinh tế – quẻ Cấn
Chế độ chính trị – quẻ Tốn

Phần III 64 QUẺ TRÙNG

Cặp quẻ Lớn – Khôn

Quẻ Lớn mạnh hay Cường: Thiên/Thiên = Kiền
Quẻ Khôn ngoan: Địa/Địa = Khôn

Cặp quẻ Mờ – Mịt

Quẻ Mờ tối: Thủy/Lôi = Mông
Quẻ Mệt: Sơn/Thủy = Truân

Cặp quẻ Cầu – Cạnh

Quẻ Cầu: Thủy/Thiên = Nhu
Quẻ Cạnh: Thiên/Thủy = Tụng

Cặp quẻ Kết – Đoàn

Quẻ Kết, Gắn kết: Thủy/Địa = Tỷ
Quẻ Đoàn, Đàn: Địa/Thủy = Gia nhân

Cặp quẻ Lý – Nhí

Quẻ Lý, Lẽ: Phong/Thiên = Lý
Quẻ Nhí, Nhỏ: Thiên/Trạch = Tiểu súc

Cặp quẻ Xuôi – Ngược

Quẻ Phù hợp, Xuôi: Địa/Thiên = Thái
Quẻ Ngược ngạo: Thiên/Địa = Bĩ

Cặp quẻ Cùng – Chung

Quẻ Cùng: Thiên/Hỏa = Đồng nhân
Quẻ Chung: Hỏa/Thiên = Đại hữu

Cặp quẻ Khiêm nhượng – Dự phần

Quẻ Khiêm nhường, Nhún nhường: Địa/Sơn = Khiêm
Quẻ Dự phần: Lôi/Địa = Dự

Cặp quẻ Tùy theo – Cải, Sửa

Quẻ Tùy theo: Trạch/Lôi = Tùy
Quẻ Cải, Sửa: Sơn/Phong = Cổ

Cặp quẻ Độn – Đáo (Đôn – Đáo)

Quẻ Độn: Địa/Trạch = Độn
Quẻ Đáo: Phong/Địa = Lâm

Cặp quẻ Cưỡng – Bức (Bế, Bí)

Quẻ Cưỡng: Hỏa/Lôi = Phệ hạp
Quẻ Bức, Bít, Bách: Sơn/Hỏa = Bí

Cặp quẻ Bái – Phục

Quẻ Bá: Sơn/Địa = Bác
Quẻ Phụt: Địa/Lôi = Phục

Cặp quẻ Tụ – Thăng hay Tựu – Thành (Tề – Tựu)

Quẻ Tụ, Tựu: Thiên/Lôi = Tụy
Quẻ Thăng: Sơn/Thiên = Thăng

Cặp quẻ Đông – Đủ

Quẻ Đủ, Đầy: Trạch/Phong = Di
Quẻ Đông: Sơn/Lôi = Đại quá

Cặp quẻ Khổng – Lồ

Quẻ Khảm hay Khổng: Khảm/Khảm = Khảm
Quẻ Lồ, Lửa: Ly/Ly = Ly

Cặp quẻ Hợp – Hằng (Họp – Hành)

Quẻ Hợp thời, Đúng lúc: Trạch/Sơn = Hàm
Quẻ Hằng: Lôi/Phong = Hằng

Cặp quẻ Ranh – Mãnh (Rành – Mạnh)

Quẻ Rành, Ranh: Lôi/Thiên = Quán
Quẻ Mãnh, Mạnh: Thiên/Sơn = Đại tráng

Cặp quẻ Mọc – Lặn

Quẻ Mọc: Hỏa/Địa = Tấn
Quẻ Lặn: Địa/Hỏa = Minh di

Cặp quẻ Chống – Đánh

Quẻ Chống: Hỏa/Trạch = Khuê
Quẻ Đánh: Phong/Hỏa = Sư

Cặp quẻ Nạn (Nan) – Giải

Quẻ Nạn: Thủy/Sơn = Kiển
Quẻ Giải, Giải nạn: Lôi/Thủy = Giải

Cặp quẻ Bớt – Thêm

Quẻ Bớt: Sơn/Trạch = Tổn
Quẻ Thêm: Phong/Lôi = Ích

Cặp quẻ Kể, Cả – Quyết

Quẻ Kể, Cả: Thiên/Phong = Cấu
Quẻ Quyết: Trạch/Thiên = Quải

Cặp quẻ Lỏng – Khỏng (Khoảng)

Quẻ Lỏng: Địa/Phong = Vô vọng
Quẻ Khoảng, Quảng: Trạch/Địa = Đại súc

Cặp quẻ Tu (Tù) – Tỉnh

Quẻ Tù: Trạch/Thủy = Khốn
Quẻ Tỉnh: Thủy/Phong = Tỉnh

Cặp quẻ Thay cũ – Đổi mới

Quẻ Thay cũ: Hỏa/Phong = Cách
Quẻ Đổi mới: Trạch/Hỏa = Đỉnh

Cặp quẻ Lôi – Cản

Quẻ Lôi: Chấn/Chấn = Chấn
Quẻ Cản: Cấn/Cấn = Cấn

Cặp quẻ Tùng – Tiệm

Quẻ Chậm: Phong/Sơn = Tiệm
Quẻ Tùng: Lôi/Trạch = Quy muội

Cặp quẻ Phong – Lưu

Quẻ Giam: Hỏa/Sơn = Phong
Quẻ Lưu, Giữ: Lôi/Hỏa = Lữ

Cặp quẻ Chứa – Chan

Quẻ Chứa hay Đoài: Đoài/Đoài = Đoài
Quẻ Tán, Chan, San: Tốn/Tốn = Tốn

Cặp quẻ Trao (Giao) – Đổi

Quẻ Giao, Trao: Thủy/Trạch = Tiết
Quẻ Đổi hay Chuyển biến: Phong/Thủy = Hoán

Cặp quẻ Trung phu – Tiểu quá

Quẻ Tiểu quá: Lôi/Sơn = Tiểu quá
Quẻ Trung phu: Phong/Trạch = Trung phu

Cặp quẻ Khép (Khấp) – Khởi

Quẻ Khép: Hỏa/Thủy = Ký tế
Quẻ Khởi: Thủy/Hỏa = Vị tế

LỜI KẾT

SÁCH THAM KHẢO

Duu 3

Sĩ Nhiếp, tục thờ Tứ pháp và đạo Bà La Môn

Truyện Man Nương trong Lĩnh Nam chích quái kể (lược trích):
Thời Hiến Đế nhà Hán, quan thái thú là Sĩ Nhiếp đóng đô thành ở bờ phía Nm sông Bình Giang (nay là Thiên Đức Giang). Phía Nam thành đó có chùa thờ Phật, có vị sư từ phương Tây tới, hiệu là Già La Đồ Lê trụ trì ở đấy, có phép đứng một chân, mọi người đều kính phục gọi là tôn sư, kéo nhau tới học đạo.
Hồi ấy có người con gái tên là Man Nương… theo học đạo Phật… Một đêm…  Man Nương ngủ ở giữa cửa, sư Già La bước qua mình Man Nương. Man Nương tự nhiên động thai… Đầy tháng sinh ra một đứa con gái, tìm sư Già La mà trả. Đêm đến, sư Già La bế đứa con gái tới ngã ba đường thấy một cây phù dung cành lá xum xuê, có một cái hốc sâu mà sạch sẽ, sư đặt đứa trẻ vào mà nói: “Ta gửi con Phật, mi giữ lấy sẽ thành Phật đạo”.
Già La, Man Nương từ giã ra về, Già La cho Man Nương một cây trượng mà bảo: “Ta cho nàng vật này, nàng về nhà nếu gặp năm đại hạn thì lấy trượng cắm xuống đất, lấy nước cứu sinh dân”. Man Nương cung kính bái lĩnh mà về ở trong chùa. Gặp năm đại hạn, nàng lấy trượng cắm xuống đất, tự nhiên nước cuồn cuộn chảy ra, dân được nhờ ơn.
Khi Man Nương ngoài chín mươi tuổi là lúc cây phù dung bị đổ, trôi ra ở bến sông trước cửa chùa, quanh quẩn ở đấy mà không trôi đi. Dân thấy thế, định bổ làm củi nhưng rìu nào cũng đều bị gãy, bèn đưa hơn ba trăm người trong làng ra kéo cây gỗ lên mà không chuyển. 
… Dân mời Man Nương bái lễ, thuê dân chài lặn xuống nước vớt lên, rước vào tự điện, đặt vào bên trong tượng Phật, tượng Phật tự nhiên trông như mạ vàng. Sư Già La đặt Phật hiệu là: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Long, tứ phương cầu đảo không điều gì không ứng.

Khau Da LaTượng Khâu Đà La ở chùa Dâu.

Ngôi chùa được nói đến ở đây là chùa Dâu tại Thuận Thành, Bắc Ninh, cạnh trung tâm Luy Lâu, trị sở Giao Châu thời Sĩ Nhiếp. Cổ Châu Phật bản hạnh của chùa Dâu kể cụ thể hơn truyền thuyết về Tứ pháp ở đoạn cuối:
Đêm ấy, Thái thú Sĩ Nhiếp ở thành Liên Lâu nằm mộng thấy chư tiên bảo phải lấy cây phù dung đó tạc bốn pho tượng để thờ, gọi là “Tứ Pháp”. Thái thú cho mời những người thợ thuộc dòng họ Đào đến cưa cây phù dung để tạc bốn pho tượng.
Tạc xong tượng đầu tiên thì thấy mây ngũ sắc vần vũ, nên gọi là “Pháp Vân”, tượng thứ hai làm xong thì mưa xuống, nên gọi là “Pháp Vũ”, tượng thứ ba làm xong thì sấm nổ, nên gọi là “Pháp Lôi”, tượng thứ tư làm xong thì thấy có chớp nhoáng trên trời, nên gọi là “Pháp Điện”.
Các chùa thờ Tứ pháp hiện còn ở khu vực Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Nội với các lễ hội hàng năm khá lớn là di tích của truyền thuyết này. Nhiều tài liệu Phật giáo cho rằng đây là một chuyện đánh dấu sự du nhập của đạo Phật nước ta ở thế kỷ thứ 2 sau Công nguyên và Tứ pháp là sự dung hòa giữa tín ngưỡng dân gian của nền văn minh nông nghiệp với đạo Phật.

Phap Van

Ban thờ và tượng Pháp Vân ở chùa Dâu (Thuận Thành, Bắc Ninh).

Tuy nhiên, ở các nơi thờ và trong lễ hội Tứ pháp, vai trò của đạo Phật rất mờ nhạt. Để hiểu đúng hơn về tín ngưỡng này, GS Đinh Gia Khánh trong cuốn Văn hóa dân gian Việt Nam trong bối cảnh văn hóa Đông Nam Á đã có một khám phá quan trọng về tục thờ Tứ pháp. GS nhận định rằng mây mưa sấm chớp vốn là các thuộc tính của thần Indra, một vị thần quan trọng nhất của đạo Bà La Môn (vua của các thần). Sau này Bà La Môn giáo chuyển hóa thành Phật giáo thì vai trò của thần Indra mờ đi.
Vị thần dông tố Indra của Bà La Môn giáo ở Việt Nam được chuyển thành Đế Thích, thường gặp trong các chùa thờ Phật bên cạnh tượng Cửu Long. Đế Thích cũng có đền thờ riêng như chùa Vua ở Hà Nội và một số đền thờ khác ở Hưng Yên, gắn với câu chuyện nổi tiếng hồn Trương Ba, da hàng thịt. Tứ pháp và tục thờ Đế Thích chính là dấu vết của Bà La Môn giáo du nhập vào nước ta dưới thời kỳ Sĩ Nhiếp.
Với khám phá này ta thấy nhà sư Khâu Đà La thực ra là một tăng lữ Bà La Môn, chứ không phải đạo Phật. Phép đứng một chân (tu theo kiểu Yoga?) cũng là cách tu của Bà La Môn giáo, không phải Phật giáo.
Quan trọng hơn, theo như Cổ Châu phật bản hạnh thì chính Sĩ Nhiếp là người đã cho tạc tượng và lập các đền thờ Tứ pháp. Nói cách khác thì Sĩ Nhiếp có thể là người theo Bà La Môn giáo.

Lang Si Nhiep

Lăng Sĩ Nhiếp.

Trong lá thư của Viên Huy, vốn là quan nhà Hán bấy giờ đang ở Giao Châu, gửi cho Thượng thư lệnh nhà Hán năm Đinh Hợi, Hán Kiến An năm thứ 12 (207) có viết về Sĩ Nhiếp:
“Khi ra vào thì đánh chuông khánh, uy nghi đủ hết; kèn sáo thổi vang, xe ngựa đầy đường, người Hồ đi sát bánh xe để đốt hương thường có đến mấy mươi người; vợ cả, vợ lẽ đi xe che kín, bọn con em cưỡi ngựa dẫn quân theo hầu, người đương thời ai cũng quý trọng, các man di đều sợ phục, dẫu Úy Đà cũng không hơn được.”
Người Hồ đi sát bánh xe Sĩ Nhiếp để đốt hương tới hàng chục người. Người Hồ ở đây là người Ấn Độ. Rõ ràng đây không phải các nhà sư của đạo Phật vì đạo Phật không hành lễ kiểu đốt hương đi theo xe như vậy. Đây là các tăng lữ Bà La Môn đến từ Ấn Độ mà Khâu Đà La (Gia La Đồ Lê) của Truyện Man Nương có thể là một trong số đó.

Con cuu

Cừu đá ở chân tháp Hòa Phong trong chùa Dâu.

Một biểu hiện khác khá lý thú là hiện ở chùa Dâu và tại lăng mộ Sĩ Nhiếp ở Tam Á (Thuận Thành, Bắc Ninh) có tượng đá con cừu ở mỗi nơi. Truyền sử kể rằng: vào thời Luy Lâu còn là trung tâm văn hoá, chính trị, kinh tế của cả nước ta, có vị sư người Tây Thiên sang nước ta tu hành truyền bá đạo Phật. Ông dắt theo 2 con cừu. Một hôm sơ ý để 2 con đi lạc, 1 con lạc đến chùa Dâu, 1 con lạc đến Lăng Sĩ Nhiếp, dân ở 2 vùng này đã tạc tượng 2 con cừu bằng đá ở nơi chúng đến để thờ.
Vị sư từ Tây Thiên (Ân Độ) liên quan đến chùa Dâu và Sĩ Nhiếp này rõ ràng là Khâu Đà La. Hình tượng con cừu là biểu trưng của Bà La Môn giáo, gắn với khát vọng cầu mưa ở những nơi thảo nguyên khô cằn. Giáo học Bà La Môn của Khâu Đà La được truyền cho 2 người: Man Nương và Sĩ Nhiếp. Đó là lý do tại sao có tượng 2 con cừu ở đây.

Con Cuu lang Si NhiepCừu đá bên lăng mộ Sĩ Nhiếp.

Trong lá thư của Viên Huy nói về Sĩ Nhiếp ở trên có nêu: “các Man Di đều sợ phục”. Man Di ở đây là ở chỗ nào? Man Di thời Sĩ Nhiếp đối với Giao Châu thì chỉ có thể là khu vực Tây Bắc và Trung Bộ nước ta, hay là địa bàn của nước Lâm Ấp. Vế đối trên đền Sĩ Nhiếp ở Tam Á còn ghi nhận việc này:
豈忠義功神心祁彼何辰此何辰安得六百載遺容能攝林邑
Khởi trung nghĩa công thần tâm kì, bỉ hà thì thử hà thì, an đắc lục bách tải di dung năng nhiếp Lâm Ấp.
Dịch: Há tấm lòng công thần trung nghĩa lớn, đây thời nào đấy thời nào, yên ổn sáu trăm năm khoan dung ấy giúp quản Lâm Ấp.
Khu vực Lâm Ấp ở Trung bộ nước ta thì rõ ràng chịu ảnh hưởng của Ấn Độ giáo (Bà La Môn) từ rất sớm, chính cũng vào khoảng thời gian trị vì của Sĩ Nhiếp. Phải chăng hình ảnh Man Nương trong truyện là chỉ Man Di – Lâm Ấp, nơi đã tiếp nhận Bà La Môn giáo của thời kỳ này?
Câu đối ở chùa Dâu:
勝地古來傳莫狀
崇祠屹立自王仙
Thắng địa cổ lai truyền Mạc trạng
Sùng từ ngật lập tự Vương tiên.
Dịch:
Đất đẹp cổ xưa truyền trạng Mạc
Đền nghiêm sừng sững từ tiên Vương.
Vế đối đầu nói tới Mạc Đĩnh Chi đã góp phần dựng lại chùa Dâu. Vế đối sau gọi Sĩ Nhiếp (Vương) là bậc “tiên”.
Cần nói thêm những hiểu biết mới về nhân vật Sĩ Nhiếp. Sĩ Nhiếp thực ra mang họ Phạm, được truyền thuyết Việt thờ dưới tên danh tướng Phạm Tu và là vị Vua Mây họ Phạm ở Đằng Châu (Hưng Yên). Nay ta hiểu tại sao lại gọi là Vua Mây – liên quan đến tục thờ Tứ pháp và thần dông tố Indra – Đế Thích.
Phạm Tu hay Phạm Tô còn là vị thần sông Tô Lịch, thành hoàng của thành Thăng Long. Sĩ Nhiếp từng được phong là Long Biên hầu, rồi Long Độ đình hầu. Dưới thời Trần, do kiêng tên của Trần Thủ Độ nên Long Độ được đọc thành Long Đỗ. Thần Long Đỗ hay Tô Lịch chính là Phạm Tu – Sĩ Nhiếp.
Cái tên Phạm Tu liệu có phải muốn nói rằng Sĩ Nhiếp là một tu sĩ họ Phạm, hoặc là người tu theo “Phạm giáo”. Phạm Thiên là tên của Đế Thiên, vị thần tối cao trong Bà La Môn giáo. Phạm Thiên và Đế Thích là 2 vị thần tối cổ của tôn giáo này.
Họ Phạm này của Sĩ Nhiếp cũng là họ Phạm của các vua Lâm Ấp. Sau thời Khu Liên lập nước Lâm Ấp, Phạm Hùng, cháu bên ngoại của Khu Liên lên ngôi cai quản Lâm Ấp. Phạm Hùng ở Quảng Ngãi được gọi là Đại lang Phạm Duy Hinh, nay còn đền thờ ở Bình Sơn. Phạm Đại lang là con của Đằng Châu họ Phạm, tức là cùng gia đình với Sĩ Vương. Lâm Ấp (Trung Bộ) lúc này thực chất là một tiểu quốc trực thuộc cai quản của Sĩ Nhiếp. Do vậy câu đối ở đền Tam Á mới nói: “khoan dung ấy giúp quản Lâm Ấp”.
Có nhiều ý kiến cho rằng họ Phạm của các vua Lâm Ấp là lấy theo Ấn Độ giáo (tức là theo Phạm Thiên – vua). Điều này trở nên hợp lý khi nay nhận ra rằng Ấn Độ giáo (Bà La Môn) đã du nhập vào Lâm Ấp và Giao Châu dưới thời Sĩ Nhiếp, vào khoảng cuối thế kỷ thứ 2 sau Công nguyên. Truyền thuyết về Tứ pháp với mối quan hệ Sĩ Nhiếp (Giao Châu) – Man Nương (Lâm Ấp) – Khâu Đà La (Bà La Môn giáo) là “di ảnh” của sự kiện này.

Chuyện Nam Chiếu trong sách An Tĩnh cổ lục

An Tĩnh cổ lục là một công trình khảo cứu địa phương Nghệ An – Hà Tĩnh của học giả người Pháp Hippolyte Breton, hiệu trưởng trường quốc học Vinh từ những năm 1920. Công trình này khác với cách viết các loại “địa chí” của nước ta trước đây ở chỗ nó áp dụng cách nghiên cứu liên ngành địa chất, lịch sử, văn hóa, khảo cổ trên những tư liệu thực tế ở địa phương và cho những nhận định khái quát tổng hợp khá thú vị.
H. Breton dẫn nhập cuốn sách của mình bằng cách nói về diễn biến địa chất của vùng bờ biển Nghệ Tĩnh, nhưng lại khai thác đối chiếu với các thông tin từ văn hóa dân gian. Sách viết: Kho tàng truyền thuyết Hán – Việt… chứng minh rằng tổ tiên của người An Nam và người Trung Hoa đã được chứng kiến những cuộc xâm chiếm của lãnh địa đối với lãnh hải, hiện tượng mà người ta phải đặt vào đầu thời hình thành các đồng bằng duyên hải của Trung Quốc và của An Nam.
H. Breton đã đề cập đến truyền thuyết Nữ Oa, con của Viêm Đế bị chết đuối ngoài biển, hóa thành chim Tinh Vệ ngậm đá từ núi Tây bay sang lấp biển Đông (Tinh Vệ hàm thạch hay Tinh Vệ điền hải trong Sơn hải kinh).
Như thế, ngay từ đầu tác phẩm H. Breton đã sử dụng truyền thuyết kết hợp với địa chất để bàn luận về lịch sử. Đây là điều táo bạo, ít người dám làm thời đó. Tuy nhiên Breton thực sự chưa biết rằng chuyện Tinh Vệ lấp biển xảy ra chẳng ở đâu xa mà chính là vùng biển Trung Bộ của Việt Nam. Trung Quốc thời Viêm Đế, lập quốc ở tận lưu vực sông Hoàng Hà, làm gì có giáp biển mà bồi với lấp. Tinh Vệ lấp biển chính là chuyện Mai An Tiêm khai phá hoang đảo trong truyền thuyết Việt và cũng là chuyện Nữ thần Trầm hương Thiên Y A Na của người Chăm.
Từ diễn biến địa chất “bãi bể nương dâu” này H. Breton đã mô tả và giải thích sự kiện Cao Biền đào kênh ở Nghệ An:
Xứ Diễn Châu được bao vây tất cả mọi mặt bởi đồi núi, chỉ mở ra mặt biển về phía Đông, Ở thời kỳ đệ tứ kỷ, xứ này làm thành cái mà tôi gọi là “vịnh Diễn Châu” thông về phía Bắc với vịnh Thanh Hóa bởi eo Hoàng Mai và về phía Nam với vịnh Vinh bởi eo Đò Cấm. Cuộc nổi lên của lục địa vào cuối thời kỳ đệ tứ kỷ biến vịnh thành vũng, va hai eo bể thành đèo, ngày nay mang tên của hai làng Hoàng Mai và Đò Cấm. Vào thế kỷ thứ IX Tiết độ sứ Cao Biền người Trung Quốc sai đào hai con kênh ở hai đèo để nối liên với nhau các vũng Thanh Hóa, Diễn Châu và Vinh.

Ban do ATCL

Các địa danh được nói tới trong bài.

Ghi nhận công tích của Cao Biền trên đất Nghệ Tĩnh, H. Breton viết: viên quan này đã để lại ở An Tĩnh những kỷ niệm bất diệt… Cao Biền sang cai trị vùng Tĩnh Hải (Bắc Bộ và miền Bắc Trung Bộ) từ 865 đến 875 đã xây dựng:
– Đào sông Hoàng Mai và Đò Cấm.
– Chùa Hương Tích và Nhạn Tháp.
– Đắp thành Long Môn.
 Về Đò Cấm, nhân dân gọi là “kênh sắt”. Truyền thuyết dân gian kể lại rằng khi đào con kênh này Cao Biền đã phải dùng thuốc súng để phá vỡ những “tảng đá sắt” chẹn ngang đèo.
Ở phần Xứ Vinh, H. Breton nói về một phế tích Tháp Cao Biền: Ở địa phận làng Phương Tích và làng Yên Trường có một hòn núi khiến con sông đào từ Vinh đến Đò Cấm phải uốn dòng về phía Đông. Trên đỉnh núi ấy Cao Biền… đã dựng lên một cái tháp, người thì nói đó là một cái tháp để xá lỵ của nhà Phật, người thì nói đó là một cái đèn để ban đêm chiếu sáng cho thuyền bè qua lại trên sông đào, hoặc đó là đồn binh để báo hiệu…
Tại làng Yên Trường, giữa chân núi và con sông đào là đền Lĩnh Vạn. Đền này do Cao Biền dựng…
Chứng tích sự hiện diện của Tiết độ sứ Cao Biền ở Nghệ Tĩnh quá rõ ràng. Cao Biền còn lưu lại bài thơ Quá Thiên Uy kính:
Sài lang khanh tận khước triều thiên,
Chiến mã hưu tê chướng lĩnh yên.
Quy lộ hiểm hy kim thản đãng,
Nhất điều thiên lý trực như huyền.
Dịch:
Sài lang chôn sạch lại chầu vua
Ngựa chiến thôi kêu cõi núi mờ
Đường hiểm nay về bằng phẳng rộng
Một lèo nghìn dặm thẳng như tơ.
(Theo Đường thi tuyển dịch, NXB Thuận Hoá, 1996).
Kênh Thiên Uy chính là kênh Thiết Cảng hay kênh sắt ở khu vực sông Cấm của Nghệ An. Cao Biền đã đào 2 con kênh Hoàng Mai và Đò Cấm nối liên vận đường thủy từ Bắc Bộ vào Nghệ An để đánh dẹp quân Nam Chiếu như trong bài thơ cho biết. Sự hiện diện này của Cao Biền cũng hoàn toàn khớp với phân bố các nơi thờ thần Cao Sơn Cao Các ở Nghệ An tại các huyện Nghi Lộc, Yên Thành và Hưng Nguyên. Tục thờ Cao Sơn Cao Các chính là thờ Tiết độ sứ Cao Biền ở khu vực này.

Chua Thien Ton

Chùa Thiên Tôn ở Ninh Bình.

Cao Biền đã vượt sông Cấm tiến vào phía Nam. H. Breton cho rằng Cao Biền có liên quan tới việc xây chùa Hương Tích trên núi Hồng Lĩnh ở Hà Tĩnh. Điều này rất có lý vì ở chân núi Hồng Lĩnh còn có cái hồ lớn được gọi là Hồ nhà Đường. Ngoài ra, khá đặc biệt là ở Ninh Bình có chùa Thiên Tôn tương truyền do Cao Biền dựng nên. Chùa Thiên Tôn thờ Phật Bà Quan Âm Diệu Thiện và bố mẹ của bà là vua Trang Vương và Hoàng hậu. Tức là giống với chùa Hương Tích, nơi thời Phật Quan Âm và có di chỉ nền đài Trang Vương.
Cao Biền đã đào thông kênh qua Đò Cấm, tiến vào xứ Vinh là để dẹp quân Nam Chiếu vì căn cứ gốc của Nam Chiếu ở khu vực này. Đó là nơi có Nhạn Tháp và thành Long Môn ở Nam Đàn. H. Breton từng thu thập được viên gạch của Nhạn Tháp có đề niên hiệu thời Đường và nhắc đến việc cần tìm hiểu thêm nguồn gốc của ngôi tháp này. Khảo cổ ngày nay ở Nhạn Tháp đã tìm thấy hộp vàng đựng xá lỵ và các viên gạch có chữ với niên hiệu Trinh Quán lục niên (632). Với niên hiệu này thì nguồn gốc của Nhạn Tháp và Long Môn tại Nam Đàn phải sớm hơn thời Cao Biền vì Cao Biền sang An Nam vào những năm Đường Hàm Thông (860-874).
Nhạn Tháp nằm trong khu vực một thành cổ có tên Hồ Thành hay Chiêm Thành. Trong An Tĩnh cổ lục gọi là Lồi Vương Thành với cửa Long Môn. Rõ ràng đây là một tòa thành của người Chăm. Nhưng tại sao thành của người Chăm lại nằm ở Nghệ An và có niên đại vào thời Đường Trinh Quán (632)?
Di tích Nhạn Tháp này không liên quan đến Cao Biền nhưng lại là một di tích của Nam Chiếu. Nam Chiếu còn được gọi là người Hồ như trong thần tích về Cao Sơn Cao Các dẹp họ Hồ. Vì thế thành này gọi là Hồ Thành hay Chiêm Thành.
Niên đại Trinh Quán lục niên (632) của gạch Nhạn Tháp đưa đến một nhận định khá bất ngờ. Nhạn Tháp và Lồi Vương thành được xây dựng bởi vị “đệ nhất đại chiếu”, tổ của Nam Chiếu là Tế Nô La vào đầu thời nhà Đường. Lúc này Nam Chiếu chưa lập quốc riêng mà còn đang thần phục nhà Đường. Vì vậy mà gạch xây tháp tuy là tháp trong thành Chăm nhưng vẫn mang niên hiệu của nhà Đường.
Lồi Vương do đó có thể là đọc sai từ Lỗ Vương (Lồi khi ghi chữ Nho thì ghi bằng chữ Lỗi). Nam Chiếu khi lập quốc lấy tên là Đại Lễ. Lễ cũng là Lỗ như trong tên của Cáp Lỗ Phong sau này.
Nhạn Tháp và Lồi Vương Thành nằm cách không xa thị trấn Sa Nam, nơi Mai Thúc Loan khởi nghĩa. H. Breton trong An Tĩnh cổ lục đã đưa ra nhận định rằng Mai Thúc Loan là người gốc Chămpa. Điều này đúng với nghĩa Chăm hay Chiêm là gồm cả người Nam Chiếu.
Cái tên Sa Nam có thể hiểu là: Sa nghĩa là chúa trong tiếng Chăm. Sa Nam là Nam Chúa hay Nam Chiếu, rất rõ.

Den Mai Thuc LoanĐền thờ Mai Thúc Loan ở chân núi Hùng Sơn tại Nam Đàn.

Tế Nô La cũng là Phùng Tói Cái, vị tiền nhân 7 đời của Phùng Hưng, là người đã từng vào chầu Đường Cao Tổ và được làm quan lang ở Đường Lâm. Tên Đường Lâm rất có thể còn lưu lại trong địa danh Nam Đàn = Nam Đường = Đường Lâm.  Một số tư liệu chép về Mai Hắc Đế: Năm Nhâm Tuất (722) là năm Khai Nguyên thứ 10 về đời vua Huyền Tông nhà Đường, ở Hoan Châu có một người tên là Mai Thúc Loan nổi lên chống cự với quân nhà Đường. Mai Thúc Loan là người huyện Thiên Lộc, tức là huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh bây giờ, mặt mũi đen sì, sức vóc khỏe mạnh, thấy quan nhà Đường làm nhiều điều tàn bạo, dân gian khổ sở, lại nhân lúc bấy giờ lắm giặc giã,ông ấy bèn chiêu mộ những người nghĩa dũng, rồi chiếm giữ lấy một chỗ ở đất Hoan Châu (nay thuộc huyện Nam Đường tỉnh Nghệ An) rồi xây thành đắp lũy, xưng hoàng đế, tục gọi là Hắc Đế”.
Thành Vạn An của Mai Hắc Đế nằm ở huyện Nam Đàn nên trong tư liệu trên đã gọi Nam Đàn là Nam Đường. Còn Phúc Lộc (địa danh khác trong tên quê của Phùng Hưng) là vùng Can Lộc – Hà Tĩnh, cũng là quê hương của Mai Thúc Loan.
Bố của Phùng Hưng là Phùng Hạp Khanh từng tham gia khởi nghĩa của Mai Thúc Loan. Như thế châu Đường Lâm – Phúc Thọ của họ Phùng nằm ở xứ An Tĩnh, hoàn toàn có lý.
Phùng Hưng là hậu duệ của Phùng Tói Cái hay Nam Chiếu Mông Tế Nô La nên khởi nghĩa Phùng Hưng chính là sự nổi dậy thành lập nước Nam Chiếu độc lập. Cao Biền khi dẹp quân Nam Chiếu chiếm thành Tống Bình ở Bắc Bộ đã tiến quân vào xứ An Tĩnh, đào kênh thông thủy, dẹp “sài lang” ở vùng đất Nam Đàn – Đường Lâm.
Truyện Nam Chiếu trong Lĩnh Nam chích quái kể sau thời Cao Biền:
Tướng Tư Mã là Lý Tiến đem 30 vạn quân đánh vào Đồ Sơn, quân Nam Chiếu bèn rút về biên giới Ai Lao, hiệu là Đầu hoành Mô quốc Bồn Man, thường lấy sự cướp bóc làm nghề, lúc đánh lúc nghỉ, chưa hề bao giờ yên chiến sự. Đất đó nay là phủ Trấn Ninh, muôn đời sát nhập trong bản đồ nước Đại Việt.
Bồn Man la Mường Phuon hay Xiêm Khoảng của Lào, từng gọi là Trấn Ninh thời Pháp. Con đường thượng đạo phía Tây Nghệ An mà H. Breton nói đến trong sách của mình là con đường nối từ Nam Đàn sang Xiêm Khoảng. Con đường này có vai trò chiến lược quan trọng trong nhiều thời đại khi quân khởi nghĩa sử dụng nó để rút lui phòng thủ hay làm bàn đạp để tấn công miền ven biển Nghệ Tĩnh.
Một chi tiết lạ nữa trong An Tĩnh cổ lục nói: Mười hai sứ quân cát cứ vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Một trong 12 sứ quân là Hồ Hưng Dật, tổ của họ Hồ ở vùng An Tĩnh.
Đây là tư liệu độc đáo nói rằng thái thú Diễn Châu Hồ Hưng Dật là một sứ quân thời Đinh Bộ Lĩnh. Về nguồn gốc nguyên tổ họ Hồ này đã từng bàn. Nó liên quan đến việc Lý Thái Tổ – Đinh Bộ Lĩnh đi đánh dẹp châu Diễn. Lý Thái Tổ cũng là Lý Tiến được nói đến trong Truyện Nam Chiếu.
Thay lời kết, xin dẫn lời của H. Breton trong An Tĩnh cổ lục:
Cái gọi là sự tiến bộ chỉ là truyền thống đang đi lên. Nếu không có những truyền thống tốt đẹp, con người sẽ bị lôi cuốn theo bản năng xấu. Nước Đại Việt giàu về quá khứ và các bạn nên hiểu rằng chính người chết cai trị người sống. Những đức tính tốt mà chúng ta có, chúng ta nhờ cha mẹ ông bà mà có. Hãy kính thờ vong linh tổ tiên bằng cách phổ biến lịch sử của tổ tiên”.

Thần Cao Sơn Cao Các ở Nghệ An

Den Xuan HoaĐền Xuân Hòa, Hưng Long, Hưng Nguyên, Nghệ An, thờ Cao Sơn Cao Các.

Cao Sơn Cao Các là một trong những vị thần lâu đời và phổ biến nhất của đất Nghệ An. Theo sách Địa chí văn hóa Hưng Nguyên thì chỉ riêng ở huyện Hưng Nguyên trong 109 xã, thôn ở đây có trên dưới 40 xã thôn thờ Cao Sơn Cao Các. Tác giả Ninh Viết Giao đã trích dẫn bản khai thần tích của xã Hiếu Hạp, huyện Chân Lộc (nay thuộc các phường Nghi Thu, Nghi Hương  – thị xã Cửa Lò và xã Nghi Thạch – huyện Nghi Lộc) của cử nhân Hoàng Thúc Lang vào đời Minh Mệnh như sau: “Nay phụng sát những nơi thờ Cao Sơn Cao Các là 335 nơi, trong đó đã phong thần là 322 nơi, chưa phong là 113 nơi.”
Là một vị thần được thờ phổ biến như vậy ở Nghệ An nhưng Cao Sơn Cao Các là ai, là 2 hay 1 nhân vật thì còn chưa rõ.

Sac phong Ngoc Dien

Bản dịch sắc phong Cao Sơn Cao Các ở đền Ngọc Điền.

Theo tài liệu Tục thờ thần và thần tích Nghệ An của giáo sư Ninh Viết Giao thì thần tích vị thần này ở đền Ngọc Điền tại thị trấn Hưng Nguyên, Nghệ An như sau:
Thần Cao Sơn, tên thật là Cao Hiển, tự là Vân Trường, quê ở Bảo Sơn, Trung Quốc. Cao Hiển là người thông minh, chính trực, học rộng, hiểu sâu, tài kiêm văn võ. Năm 29 tuổi đậu Tiến sỹ dưới triều vua Hy Tông nhà Tống và làm quan đến chức Thượng thư. Khi vùng biên giới nhà Tống có loạn quấy phá, Cao Hiển nhanh chóng dẹp loạn, giúp dân yên ổn làm ăn, được nhân dân tín phục. Nhờ công lao to lớn đó, Cao Hiển được vua Tống phong làm Đại Thừa Tướng.
Để thực hiện ý đồ bành trướng, nhằm uy hiếp và khuất phục nước ta, Vua nhà Tống cử Cao Hiển sang làm Tuyên phó sứ An Nam. Đời sống của nhân dân nước ta còn nhiều khó khăn, nạn sâu keo tàn phá, mùa màng thất bát. Cao Hiển hiểu rõ và thông cảm với khó khăn của cư dân Đại Việt. Một mặt xin vua Tống giảm bớt các khoản triều cống, mặt khác giúp nhân dân An Nam tìm cách diệt trừ sâu keo, thú dữ, tìm cách phát triển sản xuất, khôi phục kinh tế. Nhờ đó cuộc sống của nhân dân được ổn định.
Mặc dù là sứ thần nước lớn, nhưng Cao Hiển luôn là vị quan có lòng khoan dung, đức độ, hết lòng vì cuộc sống của nhân dân bản xứ. Xây dựng mối bang giao hòa bình tốt đẹp giữa hai nước An Nam. Chính vì vậy mà triều đình và nhân dân hai nước đều biết ơn Cao Hiển. Khi ông mất vua Tống phong cho ông làm An Nam quốc vương và giao cho nhân dân An Nam lập đền thờ.
Cuốn sách chữ Hán Bách thần sự tích, tài liệu chép tay, không rõ tác giả, hiện lưu tại Thư viện tỉnh Nghệ An, chép như sau: “Cao Sơn Cao Các Đại vương, Thượng đẳng thần, có 30 miếu thờ. Miếu thờ chính ở xã Đông Tháp, huyện Đông Thành. Nguyên là người nước Bắc, họ Cao tên Hiển, tiến sỹ Triều Minh, sang nước ta làm Án sát sứ… Sau khi mất hiển hiện linh ứng, dân xã lập đền thờ…“.

Den Cao Son Dien Chau

Đền Cao Sơn ở Công Thành, Yên Thành, Nghệ An.

Cố PGS. Ninh Viết Giao cùng các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Việt Nam đã tra cứu thư tịch Trung Quốc, thấy rằng không có tiến sỹ Cao Hiển nào sang nước ta làm chức Án sát sứ. Những thông tin về thần Cao Sơn ở các nơi này không khớp nhau, nhiều dị bản như PGS Ninh Viết Giao đã nhận xét. Lúc thì là vị Án sát sứ thời Minh, lúc lại là thời Tống. Thời Minh chẳng có vị quan đứng đầu khu vực nước ta nào mang họ Cao cả. Còn thời Tống thì càng không, vì lúc đó nước Đại Việt đã độc lập, làm gì còn có “An Nam quốc vương” nào của nhà Tống ở đây nữa.
Những thông tin thần Cao Sơn có tên Cao Hiển, người ở Bảo Sơn Trung Quốc, đỗ cao rồi sang nước ta làm quan phụ chính, rất trùng khớp với sự tích của Cao Sơn đại vương ở khu vực Hà Hồi (Thường Tìn, Hà Nội). Vị Cao Sơn này như đã nhận định, không phải thời Minh hay thời Tống, mà chính là tướng Cao Biền thời Đường. Cao Biền người phương Bắc, từng đỗ đạt và làm quan to dưới thời Đường. Cao Biền được cử sang nước ta trấn thủ An Nam để dẹp loạn Nam Chiếu. Sau khi đánh Nam Chiếu thắng lợi, nhà Đường đổi An Nam đô hộ phủ thành Tĩnh Hải quân và Cao Biền nhận chức Tĩnh Hải tiết độ sứ đầu tiên.
Về thần Cao Các ở nhiều nơi chép cùng là một vị với thần Cao Sơn. Theo Ngọc phả đại vương tôn vị trung thần triều đình của đền Ngọc Điền: Tại làng Châu Ái, Cao Xá, huyện Thọ Xuân, phủ Anh Đô, có ông đồ Cao Trạch, người hiền lành, phúc hậu, lấy bà Lê Thị Điểm… sinh được bé trai kháu khỉnh đặt tên là Cao Các. Lớn lên Cao Các thông minh hơn người thường. Khi đất nước rơi vào cảnh loạn lạc, ông rời làng đi tìm minh chúa. Khi gặp được Đinh Bộ Lĩnh, thấy ông tư chất thông minh hơn người. Hỏi về học vấn đều đáp trôi chảy nên đã phong ông làm Giám Nghị Đại Phu, giao cho 5 vạn binh lính phò giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn. Với tài trí và mưu lược của mình, Cao Các đã cùng các tướng sỹ lần lượt dẹp loạn, thu phục các sứ quân.
Sau khi dẹp loạn, Đinh Bộ Lĩnh về Hoa Lư xây dựng kinh đô, xưng Đại thắng Đinh Hoàng Đế. Ông ban cho Cao Các thực ấp ở huyện An Ninh. Thấy đây là vùng non nước hữu tình ông bèn cho quân sỹ lập quân cư.
Ba năm sau, chúa Chiêm Thành là Xạ Đẩu đem quân uy hiếp nước Đại Việt. Vua Đinh triệu Cao Các về triều giao cho 5 vạn binh lính, ấn kiếm đi đánh giặc. Với tài thao lược của mình, Cao Các cầm quân xông pha trận mạc, khiến vua Chiêm đại bại, phải trốn về nước. Sau trận đại thắng quân Chiêm, vua Đinh muốn giữ ông lại triều đình nhưng Cao Các xin được ở lại An Ninh. Ông lâm bệnh và mất đột ngột tại quê nhà. Vua Đinh thương tiếc cho lập miếu thờ ông.
Đoạn thần tích trên cũng là cách kể khác của chuyện Cao Biền mà thôi. Đinh Bộ Lĩnh không hề có lúc nào đánh nhau với quân Chiêm Thành hay Xạ Đẩu cả. Chỉ cần thay nhà Đinh ở đây bằng nhà Đường thì chuyện của Cao Các sẽ hoàn toàn khớp với công nghiệp của Cao Biền. Cao Biền dẹp quân Nam Chiếu chính là dẹp quân Chiêm Thành vì Nam Chiếu lúc này là khu vực Trung Bộ nước ta.

Binh phong Cao Son

Bình phong ở đền thờ Cao Sơn tại Công Thành, Yên Thành.

Sự tôn thờ Cao Biền ở Nghệ An là do ông ta đã có công khai thông đường thủy ở khu vực Diễn Châu khi làm kênh Thiên Uy hay Kênh Sắt (Thiết Cảng) tại đây. Ở đây vẫn còn lưu được bia Thiên Uy kính tân tạc hải phái bi có niên hiệu Hàm Thông nhà Đường (năm 870), văn bia do Bùi Hình, Chưởng Thư ký của Cao Biền soạn.
Thần tích đền Ngọc Điền còn cho một thông tin: Vào thời Cảnh Hưng có nạn Hồng Thủy, đất nước lụt lội, đồng ruộng ngập sâu, nạn sâu keo phá hoại mùa màng khắp nơi, nhân dân làm lễ cầu đảo nhờ thần Cao Sơn Cao Các phù hộ. Quả nhiên linh ứng, diệt được sâu keo. Từ đó nhân dân rước bài vị Cao Sơn Cao Các về lập đền miếu ở nhiều nơi để thờ phụng và hương hỏa quanh năm.
Cảnh Hưng cũng là niên hiệu dựng tấm bia Cao Sơn đại vương tại đền Kim Liên, Hà Nội. Có thể thấy tục thờ Cao Sơn (Cao Biền) một cách rộng rãi bắt đầu từ thời gian này. Tới nay những khu vực thờ Cao Sơn (Cao Biền) có thể tóm tắt như sau:

  • Kinh thành Thăng Long: Cao Sơn đại vương được tôn làm thần Trấn Nam kinh thành, đền chính là đền Kim Liên vì Cao Biền là người đã khởi dựng thành Đại La.
  • Khu vực Thường Tín: với hội 7 làng của tổng Hà Hồi thờ Cao Sơn đại vương, đến chính ở Phương Quế, là nơi Cao Biền lập trang ấp, công đức cho nhân dân.
  • Ninh Bình: Cao Sơn đại vương cũng là một trong Hoa Lư tứ trấn. Đây là nơi ông lập gia đình (lấy vợ) ở Phụng Hóa (Nho Quan).
  • Nghệ An: với thành tích khai thông kênh Sắt và đánh quân Nam Chiếu (Chiêm Thành) Cao Biền được tôn thờ rộng rãi dưới tên Cao Sơn Cao Các.
  • Những nơi khác ở miền Trung: Thanh Hóa, Quảng Bình đều có các nơi thờ Cao Sơn – Cao Biền.

Câu đối ở đình Kim Lan (GIa Lâm, Hà Nội) đã khái quát công nghiệp của Cao Sơn – Cao Biền như sau:
討南詔築大羅城開天威浜留玉几
勸農丧傳甄陶藝安民濟世祐金閶
Thảo Nam Chiếu trúc Đại La thành, khai Thiên Uy banh lưu ngọc kỷ
Khuyến nông tang truyền chân đào nghệ, an dân tế thế hữu kim xương.
Dịch:
Dẹp Nam Chiếu đắp Đại La thành, khơi kênh Thiên Uy, công nghiệp còn lưu ghế ngọc
Khuyến nông tang truyền nghề làm gốm, yên dân giúp thế, ân đức mãi ghi hộp vàng.

Cao Son o Xuan Hoa

Tượng Cao Sơn Cao Các ở đền Xuân Hòa, Hưng Long, Hưng Nguyên, Nghệ An.

Hiện có một số tác giả cho rằng nước ta khởi đầu độc lập bắt đầu từ khi Khúc Thừa Dụ làm Tiết độ sứ ở Long thành. Nhưng nếu vậy, so ra người làm Tiết độ sứ đầu tiên ở nước ta là Cao Vương Biền, cũng là người đầu tiên xây thành Đại La (Thăng Long, Hà Nội), đồng thời có hàng loạt công nghiệp lập quốc khác như đánh giặc Nam Chiếu, khuyến khích nghề tằm tang, canh nông, nghề gốm sứ, khai thông kênh Thiên Uy… Cao Biền mới thực sự là người gây dựng nền độc lập đầu tiên của nước Nam trên đất Tĩnh Hải.

Cao Sơn đại vương ở khu vực Thường Tín là ai? (tiếp)

Cùng là Cao Sơn đại vương, cùng ở một khu vực của tổng Hà Hồi – Thường Tìn, cùng chung lễ hội rước thần hàng năm nhưng ở làng Hà Hồi lại có ý kiến khác về thân thế của vị thành hoàng Cao Sơn đại vương ở đây. Theo lời thủ từ đình Hà Hồi thì người làng Hà Hồi đã bỏ công tìm hiểu và nhận thấy rằng các ngày giỗ nhật của thành hoàng Hà Hồi hoàn toàn trùng khớp với những ngày tương ứng của Cao Sơn đại vương – vị thần trấn Nam của kinh thành Thăng Long có đền thờ ở đình Kim Liên (Đống Đa, Hà Nội). Ngày rước chính của thần Cao Sơn ở khu vực Kim Liên và khu vực Thường Tín đều là ngày 16 tháng 3 Âm lịch.
Sự tích của thần Cao Sơn ở Kim Liên được biết thông qua tấm bia cổ thời. Nội dung bia “Cao Sơn đại vương thần từ bi minh tịnh tự” cho biết: Khi vua Lê Tương Dực dấy binh ở Tây Đô đánh Lê Uy Mục có ba vị đại thần là Nguyễn Bá Lân, Nguyễn Hoàng Dụ và Nguyễn Văn Lữ cùng mang quân đi chinh phạt. Đến địa phận huyện Phụng Hóa (nay là Nho Quan, tỉnh Ninh Bình) thì thấy cảnh núi rừng rậm rạp, có vùng sâu tên là Lầm, bên trên gò núi có ngôi đền cổ, bên trong dựng một tảng đá ghi bốn chữ “Cao Sơn đại vương”. Rất lấy làm lạ, các quan bèn khẩn cầu thần phù trợ. Quả nhiên sau mười ngày đã thành công. Vì thế, năm Hồng Thuận thứ ba (1510) vua Lê Tương Dực cho xây dựng đền thờ thần Cao Sơn ở Phụng Hóa và lập bia.

Bia Kim Lien

Cao Sơn thần từ bi minh ở đền Kim Liên.

Tấm bia này được ghi làm năm Hồng Thuận thứ ba (1510) cho đền thờ thần Cao Sơn ở Phụng Hóa nhưng bia lại rất kỳ ảo khi xuất hiện sau đó ở thành Thăng Long. Sách Hà Nội danh thắng và di tích cho biết: “Bia vốn ở huyện Phụng Hóa, đến đời Hoằng Định (1600-1619) lại nổi lên bến Bồ Đề và được dân phường Kim Liên kéo đưa rước về đặt ở di tích như ngày nay”. Còn theo thông tin của đền Kim Liên thì “Bia dựng ngày 1 tháng trọng thu năm Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng thứ 33 (1772)”. Một vị thần ở Ninh Bình trở thành trấn Nam của kinh thành Thăng Long không rõ lý do.
Quay lại thần Cao Sơn ở đình Hà Hồi. Bổ sung vào sự trùng khớp ngày lễ thần ở Hà Hồi và Kim Liên, trên ngũ môn quan của đình Hà Hồi có đôi câu đối ghi rõ các niên hiệu:
大顺前扶襄翼敏集大勲奉化岑崗著跡當初?傳此地
弘定後至景興稔彰靈應昇龍廟貌明禋?終古及群方
Đại Thuận tiền phù Tương Dực mẫn tập đại huân, Phụng Hóa sầm cương trứ tích đương sơ truyền thử địa
Hoằng Định hậu chí Cảnh Hưng nhẫm chương linh ứng, Thăng Long miếu mạo minh yên chung cổ cập quần phương.
Dịch:
Đại Thuận trước phò Tương Dực nhanh lập công to, Phụng Hóa núi cao, nổi tích cổ truyền nơi đất đó
Hoằng Định sau tới Cảnh Hưng linh thiêng sáng tỏ, Thăng Long đền miếu, kính tế nay cùng với mọi nơi.

Ngu monNgũ môn quan đình Hà Hồi.

Rõ ràng câu đối này nói tới các sự kiện của thần Cao Sơn trấn Nam Thăng Long, từ việc năm Hồng Thuận (bị nhầm thành Đại Thuận trong câu đối vì chữ Hồng 洪 cũng có nghĩa là to lớn như chữ Đại 大) đã phù giúp Lê Tương Dực nhanh chóng đánh Lê Uy Mục và lên ngôi vua, rồi di tích của thần ở Phụng Hóa nằm trên một gò núi. Hoàn toàn đúng khớp với thông tin trên tấm bia ở đền Kim Liên. Vế đối sau nhắc tới sự linh ứng của thần ở các niên hiệu Hoằng Định và Cảnh Hưng và thần đã trở thành một vị thần được cúng tế tại Thăng Long (một trong tứ trấn đất kinh thành).
Cao Sơn đại vương cũng là một trong Hoa Lư tứ trấn của Ninh Bình mà di tích ở đây ngoài đền Phụng Hóa ở Nho Quan còn là khu vực Bái Đính. Như vậy vùng Hà Hồi – Thường Tín là điểm nối giữa 2 khu vực thờ Cao Sơn ở Thăng Long và ở Hoa Lư.
Kết hợp thần tích của đình Khê Hồi và thông tin của đình Hà Hồi cho một kết luận “đáng giật mình”: Cao Sơn đại vương, vị thần trong Thăng Long và Hoa Lư tứ trấn chính là Cao Biền thời Đường. Vị này đã hiển ứng dưới thời Lê ở Ninh Bình và Thăng Long.
Việc dân gian lựa chọn Cao vương Biền làm thần bảo hộ kinh thành cũng hoàn toàn hợp lý. Người khởi dựng xây thành Đại La – Thăng Long chính là Cao Biền. Còn người xây dựng Hoa Lư cũng là Cao Biền. Những viên gạch Giang Tây quân của thời Đường chỉ đích danh Tĩnh Hải tiết độ sứ, tức là chức danh của Cao Biền sau khi dẹp loạn Nam Chiếu và cai quản đất Tĩnh Hải. Giang Tây cùng nghĩa với Tĩnh Hải vì Tĩnh là tính chất của phía Tây trong Dịch học. Giang hay Dương, đại dương là biển, Hải.
Gạch Giang Tây quân là lớp gạch sớm nhất được tìm thấy cả ở thành Hoa Lư và hoàng thành Thăng Long. Điều này cho thấy chính Cao Biền là người đã khởi dựng những tòa thành này. Truyền tích về Cao Biền ở khu vực Hoa Lư cũng không ít. Ví dụ như chuyện Cao Biền cưỡi diều giấy qua đây bị một đạo sĩ bắn gãy cảnh, rơi xuống thành núi Cánh Diều (nay ở thành phố Ninh Bình). Hay chuyện Cao Biền đào sông Điềm Giang, đầm Phù Chẩn để cắt yểm long mạch. Điềm giang hay Đàm giang là sông Hoàng Long ở Ninh Bình. Còn Phù Chẩn đọc thiết âm là Phấn, tức là sách Bông, quê của Đinh Bộ Lĩnh ở Gia Viễn (Ninh Bình).
Vì thành tích chính của Cao Biền là đánh quân Nam Chiếu (thần tích Khê Hồi ghi thành đánh nhà Hồ) nên vị này được chọn làm trấn Nam của kinh thành Thăng Long. Và ở Hoa Lư cũng vậy. Cao Sơn đại vương phải là thần trấn Nam, không phải trấn Tây, của cố đô Hoa Lư.

Cong Ha Hoi

Cổng làng Hà Hồi với dòng chữ Hồi hương quan (quay về quê hương).

Một vấn đề tồn tại là theo sự tích ở Ninh Bình thì Cao Sơn đại vương ở đây lại là Lạc tướng Vũ Lâm, con thứ 17 vua Lạc Long Quân. Cũng ở nghi môn đình Hà Hồi còn có câu đối:
德大安民同心千古盛
雄朝護國德化萬年恩
Đức đại an dân đồng tâm thiên cổ thịnh
Hùng triều hộ quốc đức hóa vạn niên ân.
Dịch:
Đức lớn yên dân, cùng lòng ngàn xưa thịnh
Triều Hùng giúp nước, cảm đức vạn năm ơn.
Lạc tướng Vũ Lâm thời Hùng Vương thì là vị chúa họ Sùng thời Ân Thương vì Sùng = Cao, chỉ vùng đất Lạc thời đó. Vị chúa họ Sùng này được truyền thuyết Việt gọi là Sùng Lãm trong Truyện họ Hồng Bàng (Lạc Long Quân húy Sùng Lãm). Sùng Lãm là Bắc Bá Hầu Sùng Hầu Hổ của nhà Ân, cai quản vùng đất Lạc (đất Sùng) ở phía Nam (phương vị Nam Bắc nay đã bị đảo lộn).
Tuy nhiên, không rõ đây là sự lầm lẫn hay sự ghép nối của tín ngưỡng dân gian giữa Sùng Hầu Hổ và Cao Vương Biền. Cần chú ý là Cao Biền cũng có danh là Lạc tướng, còn lưu trong chuyện về ông ta bắn một phát tên trúng 2 con chim điêu và được phong là Lạc điêu ngự sử. Đại Nam quốc sử diễn ca kể:

Cao Biền là tướng Lạc điêu,
Tài danh sớm đã dự vào giản tri.

Thực ra tên Lạc Điêu của Cao Biền chính xác phải là Lạc Giao, tức là vị tướng cai quản vùng Lạc Việt – Giao Chỉ. Địa danh Vũ Lâm có nghĩa là “vua Nam”. Điều này như đã nói, Cao Sơn đại vương là thần trấn Nam.
Như vậy, so sánh các thông tin của Cao Sơn đại vương ở 2 làng Khê Hồi và Hà Hồi thì nhiều khả năng vị thần trấn Nam của Thăng Long và Hoa Lư là Cao vương Biền thời Đường, người đã làm “quốc chúa” ở phương Nam và khởi dựng 2 tòa thành Hoa Lư và Đại La.

Cao Sơn đại vương ở khu vực Thường Tín là ai?

Trong thần điện Việt Cao Sơn là tên thần có nhiều sự tích rất khác nhau tùy từng nơi. Nhưng ở đầu thì Cao Sơn cũng được tôn sùng, xếp vào hạng thượng đẳng thần. Tín ngưỡng thờ Cao Sơn không phải là thờ thần núi vì nói chung người Việt không thờ núi mà luôn thờ những nhân vật có công lao, có sự nghiệp với dân với nước thật sự.
Ở phía Nam Hà Nội có hội rước thần thành hoàng Cao Sơn đại vương trong lễ hội đình của 7 làng thuộc tổng Hà Hồi xưa, nay thuộc 3 xã của huyện Thường Tín (Hà Nội). Trong đó các làng Hà Hồi, Phú Cốc, Hoà Lương, Khê Hồi thuộc xã Hà Hồi; làng Đức Trạch thuộc xã Quất Động; các làng Bạch Liên và Phương Quế thuộc xã Liên Phương, vì 7 ngôi đình của 7 làng này đều thờ Thành hoàng Cao Sơn đại vương. Ngày đản (sinh) của thần vào 16 tháng 3 âm lịch, đã trở thành ngày hội làng của cả tổng Hà Hồi. Đám rước thành hoàng Cao Sơn đại vương của dân 7 làng trong tổng Hà Hồi xưa kia, đã trở thành một hội rước lớn khá nổi tiếng của cả vùng Thường Tín ở phía nam Kinh thành Thăng Long thời phong kiến.

IMG_4774Mô tả đồ rước trong lễ hội Khê Hồi.

Một vị thượng đẳng tối linh thần quan trọng như vậy nhưng khi xem về gốc tích của Cao Sơn đại vương ở Thường Tín có nhiều vấn đề chưa rõ ràng và thống nhất. Theo bản thần tích thành hoàng làng Khê Hồi viết ngày mùng 1 đầu xuân năm Hồng Phúc nguyên niên (1572) do quan Lễ bộ Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính biên soạn thì:
Cao Sơn đại vương là con của ông Cao Khánh ở núi Bảo Thái, quận Quảng Nam bên Bắc quốc. Tới cuối đời nhà Nguyên gia đình ông sang nước Nam buôn bán. Khi đến trại Mái Nhà (sau đổi là Phú Ốc) huyện Yên Mô phủ Trường Yên Ái Châu thì ở lại đấy. Ông lấy bà Trần Thị Tố người xã Quang Liệt thuộc bản huyện. Hai ông bà hiếm muộn mới sinh được một con trai đặt tên là Hiển, tự là Trường Cửu. Sau khi vợ mất cha con ông trở về Bắc quốc. Cao Hiển theo học Chu Đường tiên sinh. Năm Khánh Lịch thứ 6 triều Minh ông Cao Hiển ứng thí đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ, được ban cho chức Mục thủ Ích Châu, tặng hàm Quang lộc đại phu. Ông làm quan triều hay giữ thú mục, đánh Đông dẹp Bắc, lập được nhiều kỳ công, nên được vua phong làm Thái phó, sau lại được phong chức Thừa tướng.
Bấy giờ ở nước ta Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần. Vua Minh cho ông Hiển sang An Nam phò giúp đánh nhà Hồ, lại cho tìm kiếm con cháu nhà Trần về lập làm vua. Ông bắt được hai vua Hồ là Quý Ly và Hán Thương rồi trở thành chúa tể nước ta…
Một lần ông đến xã Trùy Khê huyện Giao Thủy phủ Thiên Trường đạo Sơn Nam, lập hành cung ở đó, mở yến tiệc mời dân gian đến cùng dự yến, ban cho nhân dân 5 hốt vàng làm vốn chung mua ruộng. Nhân dân nhận vàng vái lạy xin làm dân thần tử, đội ơn công đức của ngài như cha mẹ vậy…
Ông là chúa tể một phương được hơn mười năm. Năm 78 tuổi ông xin trở về quê nhà ở núi Bảo Đài. Nhà vua phong ông làm Sinh thần đại vương, hiệu là Cao Sơn quốc chủ đại vương. Ông mất năm 103 tuổi. Nhà vua tặng cho sắc chỉ: Cao Sơn quốc chủ đại vương. Truyền cho nhân dân Bảo Đài lập miếu thờ phụng. Lai ban chiếu truyền bảo các xã trong nước Nam trước đây có lập cung điện đều phải viết thần hiệu là Cao Sơn quốc chủ đại vương để thờ phụng, tất cả gồm 172 nơi…
Hoành phi trong đình Khê Hồi ghi: Bảo Sơn dục linh 寶山毓靈 chỉ núi Bảo Đài, quê của Cao Sơn đại vương.

IMG_4702Chính điện đình Khê Hồi có hoành phi Bảo Sơn dục linh.

Bản thần tích của đình Khê Hồi xem ra chẳng ăn khớp gì với lịch sử cả. Trung Quốc không có quận nào mang tên Quảng Nam, nơi có Bảo Đài. Nhà Minh của Trung Quốc không có niên hiệu Khánh Lịch, chỉ có Vạn Lịch của Minh Thần Tông. Thời Minh Thần Tông (1572 – 1620) thì nhà Hồ ở Việt Nam đã bị diệt từ lâu rồi. Lịch sử cũng không hề kể có vị tướng nào họ Cao của nhà Minh diệt nhà Hồ rồi làm chủ nước Nam. Và càng vô lý hơn khi người Việt lại thờ một vị tướng của giặc Minh làm Quốc chủ đại vương như thế. Rõ ràng đây là một sự lầm lẫn. Cao Sơn đại vương ở đây không hề sống và lập công tích ở thời kỳ Trần Hồ hay Minh.
Câu đối ở nghi môn đình Khê Hồi chép:
偉烈播人寰大曆甲榜弘定御碑特其遺蹟
崇祀遍天下芳桂公祠溪洄别廟同仰洪庥
Vĩ liệt bá nhân hoàn, Đại Lịch giáp bảng, Hoằng Định ngự bi, đặc kỳ di tích
Sùng tự biến thiên hạ, Phương Quế công từ, Khê Hồi biệt miếu, đồng ngưỡng hồng hưu.
Dịch:
Công lớn tỏa nhân gian, giáp bảng đời Đại Lịch, bia ngự năm Hoàng Định, di tích đặc biệt
Tôn tế khắp thiên hạ, đền chung Phương Quế, miếu riêng Khê Hồi, cùng đội ơn sâu.
Đền Phương Quế là miếu hàng tổng của Hà Hồi, nơi 7 làng ở đây chung rước thần Cao Sơn trong lễ hội. Làng Phương Quế nay nằm ở xã Liên Phương của huyện Thường Tín.
Câu đối trên nêu ra một niên hiệu khác cho thời Cao Sơn đại vương: năm Đại Lịch. Đại Lịch là niên hiệu của Đường Đại Tông (766 – 780). Đây là thời gian của khởi nghĩa Phùng Hưng tại nước ta. Với thông tin này thì có thể thấy Cao Sơn đại vương mà thần tích Khê Hồi kể đến chính là Cao Vương Biền. Cao Biền đúng là người đỗ đạt dưới thời Đường, được cử sang nước ta để dẹp loạn Nam Chiếu. Nam Chiếu tức là người Hồ ở phía Nam, bị thần tích Khê Hồi chép thành họ Hồ của Hồ Quý Ly. Cao Biền sau khi dẹp xong loạn Nam Chiếu đã được nhà Đường phong làm Tiết độ sứ và ở lại phụ trách vùng Tĩnh Hải (Bắc Việt). Ông cho xây thành Đại La và một loạt những công trình khác, có ân đối với người dân ở nhiều nơi. Ông được tôn làm Cao Vương như Lý Thái Tổ từng nói đến trong Chiếu dời đô.
Danh hiệu Cao Sơn quốc chủ như vậy rất khớp với công tích của Cao Biền tại nước Nam. Cao Biền sau thời gian phụ trách ở đất Tĩnh Hải cũng về Bắc quốc và mất ở phương Bắc như thần tích kể. Ở nước Nam do đó có nhiều nơi thờ Cao Biền nhưng dưới tên Cao Sơn đại vương. Đặc biệt là các khu vực miền Trung từ Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình,… Cao Hiển, Cao Các, Cao Sơn đều là những tên gọi của vị Tiết độ sứ đầu tiên này trên vùng Tĩnh Hải. Về tục thờ Cao Sơn – Cao Các – Cao Biền ở miền Trung xin được bàn dẫn ở một bài khác…
Ngay bên kia sông Hồng ở làng Kim Lan (Gia Lâm) là nơi Cao Biền đã đóng quân, dạy dân làm nghề gốm, đúc những viên gạch có chữ Giang Tây quân để xây thành Đại La mà tới nay còn lưu trong di chỉ khảo cổ tại Kim Lan. Cùng phía bên này sông có làng Mỹ Ả (Thanh Trì) cũng là nơi thờ Cao Biền.

IMG_4815Cổng đình Khê Hồi.

Như thế, đã xác định được vị Cao Sơn đại vương theo thần tích ở làng Khê Hồi là Tiết độ sứ Cao Biền, người đã đánh dẹp người Hồ (Nam Chiếu) ở phía Nam và xây dựng vùng đất Tĩnh Hải quân. Tuy nhiên, chuyện về Cao Sơn đại vương ở Thường Tín chưa dừng ở đây… vì ở làng Hà Hồi, trung tâm của tổng Hà Hồi xưa lại cho những thông tin khác về Cao Sơn đại vương…

Những phò mã của An Dương Vương chống Tần kháng Triệu

Sách Việt sử những chuyện hay tích lạ của Lê Thái Dũng có dẫn truyện về một vị tướng thời Thục An Dương Vương như sau:
Theo một tài liệu dã sử “Tình sử Mỵ Châu” thì người con gái cả của An Dương Vương là công chúa Quỳnh Anh. Trong cuộc kháng chiến chống quân Tần xâm lược, rất nhiều vị tướng đã lập công lớn, trong đó có tổng binh Võ Quốc.
Bấy giờ thấy con gái đã trưởng thành, “xuân xanh tới tuổi, đến tuần cập kê”, An Dương Vương liền tổ chức cuộc thi võ để kén chồng cho công chúa, rất nhiều anh tài võ tướng trẻ tuổi hứng khởi tham gia đua tranh thi đấu quyền cước, đao kiếm, cưỡi ngựa bắn cung. Cuối cùng, người giành chiến thắng trong đám quần kiệt ấy chính là Võ Quốc.
Sách “Tây Hồ chí” cũng có phần nhắc đến sự tích của tướng Võ Quốc, theo đó ông người ở bến Lâm Ấp, trang Long Đỗ, võ nghệ siêu quần lại có tài dụng binh. Nhờ có công dẹp phản loạn ở động Nghê Trà, bộ Dương Tuyền), lại có công đánh giặc Tần nên được vua gả công chúa Quỳnh Anh cho làm vợ.
… Khi Trọng Thủy được ở rể, mua chuộc chia rẽ các Lạc hầu, Lạc tướng và đã nắm hết nội tình triều chính Cổ Loa, phá bỏ được vũ khí thần diệu của nước Âu Lạc là nỏ Liên châu (Linh quang kim trảo thần nỏ) rồi lấy cớ trở về nước thăm cha thì lập tức, Triệu Đà đem quân tấn công Âu Lạc; vì chủ quan, An Dương Vương thua trận. Nghe tin cấp báo, phò mã tổng binh Võ Quốc cùng công chúa Quỳnh Anh dẫn quân về cứu thành Loa nhưng không kịp.
Trong trận chiến ác liệt dưới chân thành, Võ Quốc cùng người em kết nghĩa là dũng tướng Võ Trung tử trận, công chúa Quỳnh Anh được các tùy tướng hộ vệ phá vây chạy về làng Cháy ở đất Đông Ngàn (nay là làng Phù Chẩn, huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh).
Giặc kéo đến vây kín, chống không nổi các tướng chỉ huy là ông Đống, ông Vực, bà chúa Quả Cảm… đã tuẫn tiết; công chúa Quỳnh Anh bị giặc bắt nhưng nàng đã dùng cây kim thoa bằng đồng tự sát để giữ lòng trung trinh, tiết hạnh.
Chuyện về vị tướng Võ Quốc (hay Võ Trung) thời An Dương Vương cũng được cuốn Thăng Long cổ tích khảo tịnh hội đồ của cụ Đăng Xuân Khanh (soạn năm 1956) nhắc tới:
Võ Trung người động Lâm Ấp đất Long Đỗ. Ông võ nghệ cao cường làm quan dưới triều Thục Vương đến chức Chưởng lĩnh tiền quân nguyên soái. Dẹp loạn Phí Công Nguyên được vua gia tặng chức Đô Thống thái bảo, lại gả cho công chúa Quỳnh Anh. Đến năm thứ 41 Triệu Đà sang xâm lược, ông phụng mệnh ra trận…
Địa danh Lâm Ấp như thế có từ thời An Dương Vương.
Trong các chuyện trên có một điểm lạ. Tướng quân Võ Quốc (hoặc Võ Trung) có công đánh quân Tần và lấy con gái An Dương Vương là công chúa Quỳnh Anh. Nhưng sau đó An Dương Vương mắc kế của Triệu Đà khi gả công chúa Mỵ Châu cho Trọng Thủy, dẫn đến mất nước.
Các nhà sử học Việt Nam hiện nay đang nghiêng về giả thuyết cho rằng Triệu Đà nổi lên ở Nam Hải (Quảng Đông), rồi tới sau khi Cao Hậu nhà Tây Hán mất (năm 180 TCN) mới đánh chiếm nước Âu Lạc của An Dương Vương. Nhưng nếu vậy tính từ lúc quân Tần đánh Việt, muộn lắm là năm 218 TCN, tới năm Cao Hậu mất có tới gần 40 năm. Hai công chúa Quỳnh Anh và Mỵ Châu hẳn có độ tuổi xấp xỉ nhau, mà công chúa Quỳnh Anh lấy chồng vào thời Tần (phò mã Võ Quốc chống Tần) cho tới thời Hán sau đó 40 năm thì công chúa Mỵ Châu tuổi đã ngoài 50, còn lấy chồng làm sao? Rõ ràng câu chuyện Trọng Thủy – Mỵ Châu phải xảy ra vào thời Tần, cùng thời với tướng Võ Quốc – công chúa Quỳnh Anh.
Một vị phò mã khác của An Dương Vương là Cao Tứ. Thần tích về Cao Tứ vẫn còn lưu giữ ở làng Hương Nghĩa (nay là khu vực đầu phố Đào Duy Từ, Hà Nội) được kể như sau:
Thời An Dương Vương ở châu Vũ Ninh có một dòng họ lớn là Cao Giai lấy bà Mãn người trong huyện… sinh ra Cao Tứ… Thời đó An Dương Vương mở khoa thi, Cao Tứ ứng tuyển, ứng đối lưu loát được sắc chỉ cho làm tham mưu. Ba năm sau làm thập đạo thống lĩnh trông coi thành Đại La. Thấy Kiên Nghĩa và Hương Bài có khí thiêng tốt đẹp ông lấy làm đồn binh hành cung. Năm đó ông 38 tuổi mà vẫn chưa đẹp duyên cùng ai. Vua bèn gả công chúa Phương Minh cho ông (công chúa Phương Minh là em gái công chúa Mỵ Châu), phong tước Tứ dương hầu. Được sau bảy năm quốc gia vô sự.
Sau Triệu Đà sai hiệu úy Đồ Thư đánh Lĩnh Nam. Vua sai phò mã thống lĩnh thủy đạo lãnh 5 vạn quân… chống cự với Triệu bảy tám năm, Quân Triệu thua trận chết vô số. Lần đó Triệu Đà đem đại quân đến Bắc Giang. Ông vâng mệnh vua đến thẳng Bắc Giang đánh một trận lớn. Quân Triệu đại bại chạy về núi Vũ Ninh. Chúng lập mưu gian, giảng hòa xin cho Trọng Thủy làm rể vua. Y dụ dỗ Mỵ Châu lấy trộm nỏ thần ngầm làm hỏng lẫy nỏ rồi lấy cớ trở về nước, bàn mưu với Triệu Đà đem quân đến đánh…

IMG_4635Đền Hương Nghĩa.

Đền thờ Cao Tứ nay vẫn còn, là đền Hương Nghĩa (2 làng Kiên Nghĩa và Hương Bài xưa sát nhập thành làng Hương Nghĩa) ở số 13B Đào Duy Từ, gần Ô Quan Chưởng. Tư liệu khác của đền Hương Nghĩa kể:
Cao Tứ là em Cao Lỗ – người sáng chế ra nỏ thần giúp vua Thục An Dương Vương. Cao Tứ sinh ngày 10 tháng giêng năm Đinh Hợi thời vua Hùng Vương thứ 18. Ông là người tinh tú, sức khoẻ hơn người. Khi vua An Dương Vương mở khoa thi tại Cổ Loa ông đã ứng thí. Văn võ toàn tài được vua phong: “Trấn thủ Đại La thành” sau đổi thành Thăng Long.Cao Tứ giỏi võ nghệ, làm tướng dưới thời vua Thục, đóng quân ở khu Hương Bài, Hương Nghĩa trên bờ sông Tô Lịch và được vua gả con gái là Phượng Minh công chúa. Cao Tứ lập hành cung ở Hương Nghĩa, ông chỉ huy quân thuỷ chống lại quân Tần và đã chiến thắng vẻ vang. Khi Triệu Đà xâm lược nước ta, Cao Tứ đã được phong làm Thuỷ đạo tướng quân lập 5 đồn trên sông Tô Lịch chống lại quân Triệu Đà trong suốt 7, 8 năm trời, quân Triệu Đà đã bị thua. Khi ấy, Trọng Thuỷ lợi dụng việc hoà hiếu gửi rể An Dương Vương rồi đánh cắp nỏ thần đem về nước, sau đó lại đem quân sang cướp nước ta. Cao Tứ được lệnh dàn quân trên sông Tô Lịch, chống lại quyết liệt và tử trận. Công chúa Phượng Minh sau khi biết tin chồng mình hy sinh, tự trẫm mình ở sông Bắc Giang để giữ trọn khí tiết, chung thuỷ với chồng.
Trong đền Hương Nghĩa còn câu đối nói về công nghiệp của Cao Tứ như sau:
閲我南前通鑑遺編水化孤忠標節義
建螺城三名祠峙立地靈勝蹟對馨香
Duyệt ngã Nam tiền thông giám di biên, thuỷ hoá cô trung tiêu tiết nghĩa
Kiến La Thành tam danh từ trĩ lập, địa linh thánh tích đối hinh hương
Dịch:
Xem nước Nam gương sáng xưa còn ghi, sông hóa lòng trung nêu tiết nghĩa
Dựng La Thành ba đền cao sừng sững, đất thiêng vết thánh đượm hương thơm

IMG_4659
Bốn chữ Tứ Dương linh ứng 賜陽靈應 trên mái đền Hương Nghĩa.

Thần tích Hương Bài về Tứ dương hầu Cao Tứ đặc biệt có câu: “Triệu Đà sai hiệu úy Đồ Thư đánh Lĩnh Nam”. Các nhà nghiên cứu (Nguyễn Vinh Phúc, Nguyễn Duy Hinh) khi dịch thần tích này đã chú thích rằng chi tiết này không đúng với chính sử. Không đúng với chính sử không có nghĩa là sai. Chi tiết này, trái lại, là một chỉ định lịch sử rất chính xác. Triệu Đà trong cuộc chiến với An Dương Vương là người đã sai Đồ Thư đánh Lĩnh Nam. Nói cách khác, Triệu Đà chính là vua Tần vì Đồ Thư là tướng Tần.
2 vị tướng, 2 phò mã của An Dương Vương là Võ Quốc và Cao Tứ đều chống quân Tần rồi sau “vụ án” Mỵ Châu – Trọng Thủy đã hy sinh khi kháng quân Triệu. Không thể nói khác, chuyện Mỵ Châu – Trọng Thủy phải xảy ra vào thời Tần và Triệu Đà – bố của Trọng Thủy chính là vua Tần. Chính sử Việt ngày nay đã nhầm lẫn khi lấy Triệu Đà trong truyền thuyết Việt ghép với Triệu Đà nổi lên vào thời Tây Hán của Sử ký Tư Mã Thiên. Sự chắp nối râu ông nọ cắm cằm bà kia này đã dẫn đến những sự lộn xộn, vô lý về tuổi tác, thời gian của các nhân vật, như tính ra công chúa Mỵ Châu ngoài 50 tuổi mới lấy chồng hay Triệu Đà có tuổi thọ đến 121 tuổi!?
Bản chất của việc Trọng Thủy ở rể là âm mưu chiếm nước Âu Lạc của nước Tần. Nhìn nhận lại thời điểm của mối nhân duyên Tần – Việt Mỵ Châu – Trọng Thủy cho phép sắp xếp lại chính xác chân thực hơn những sự kiện và nhân vật của giai đoạn bản lề khá ngắn ngủi này khi chuyển tiếp giữa các triều đại: Hùng – Thục – Tần – Hán – Triệu và cho đầu mối rõ hơn về bí mật đã mất của chiếc nỏ thần Âu Lạc.

Bên Cánh đồng Chum

Cánh đồng Chum ở Xiêm Khoảng, Lào là một địa điểm đầy bí ẩn kể từ khi nó được phát hiện bởi nhà khảo cổ Colani người Pháp từ năm 1935. Những thám sát đầu tiên này cho thấy xung quanh những chiếc chum này từng có các ngôi mộ và các chiếc chum có liên hệ trực tiếp tới táng tục của người ở đây.
Colani nhận định niên đại của những chiếc chum này ở vào thời kỳ đồ sắt. Bà cũng đã phát hiện được một số mảnh gốm có hoa văn tương tự như gốm nhà Hán Trung Hoa hoặc văn hóa Sa Huỳnh của Việt Nam.
Trong dòng sử thuyết mới, khu vực Cánh đồng Chum là địa bàn của nước Lỗ thời Xuân Thu Chiến Quốc. Rất có thể chính Lỗ Ban là người đã khởi xướng cho việc chế tác đá để tạo thành những chiếc chum khổng lồ này. Mộ Lỗ Ban như vậy có thể là một trong những ngôi mô từng được chôn ở đây.
Mối liên hệ khác, trước cửa Nam khu vực Angkor Wat ở Campuchia có ngôi đền Bakheng được sứ giả Chu Đạt Quan (thời Nguyên) ghi nhận là có mộ Lỗ Ban. Việc chế tác đá của Angkor có thể cũng có khởi nguồn từ nước Lỗ với những chiếc chum khổng lồ còn mãi tới nay.

Site 1 1

Vị trí 1.

Site 1 2

Chum có nắp đậy ở Vị trí 1.Site 1 3

Vị trí 1.Site 2 1

Nắp đậy ở Vị trí 2.Site 2 2

Vị trí 2.Site 2 3

Vị trí 2.
Site 3 1

Vị trí 3.Site 3 2

Vị trí 3.Site 3 3

Vị trí 3.

Giả nhời vài câu “học rởm” về quốc tổ Hùng Vương

Trong thời gian gần ngày giỗ tổ Hùng Vương mấy năm nay có khá nhiều học giả, chữ nghĩa đầy mình, viết những bài “phân tích” truyền thuyết và tục giỗ tổ Hùng Vương của người Việt một cách rất hồ đồ và ngạo ngược. Các học giả này phần lớn đều “làu thông kinh sử”… của Tàu, lấy đó làm thước để “đo” truyền thuyết Việt, lấy cách nhìn “lịch sử” hiện đại để soi huyền sử cổ đại… Họ có ngờ đâu rằng đó chỉ là cách nhìn phiến diện và sai lệch. Riêng ở thái độ bất kính với tổ tiên, với quá khứ cũng đủ vứt những bài viết đó vào sọt rác, khỏi cần đọc làm gì.

cong-den-hungCổng lên đền Hùng ở Phú Thọ: Cao Sơn Cảnh Hành.

Bài này điểm qua một số câu hỏi… “hơi ngu” của các học giả này và giải đáp nó dưới ánh sáng của Sử thuyết Hùng Việt.

1. Tại sao 18 đời Hùng Vương lại kéo dài hơn 2000 năm? Có phải mỗi vị vua Hùng như vậy trung bình thọ trên trăm tuổi?
Câu hỏi này tưởng là khó trả lời, nhưng nó lại thể hiện ngay sự hiểu biết lệch lạc cơ bản của người hỏi. 18 đời và 18 vị vua là khác nhau. Các thư tịch, minh văn chép về Hùng Vương nói là “Thập bát thế”, nghĩa 18 triều đại, chứ có phải 18 vị vua đâu. Mỗi một triều đại Hùng Vương có cả hàng chục vị vua nhưng đều mang cùng một danh hiệu của triều đại đó như Hùng Quốc Vương, Hùng Hiền Vương… 18 triều đại kể ra hàng trăm vị vua Hùng, kéo dài 2000 năm có lẽ còn hơi ít. Phải trên 3000 năm mới đúng nếu kể cả những vị vua thời từ tiền lập quốc.

2. Các vua Hùng họ gì?
Có chuyên gia phân tích rằng bố của Lạc Long Quân là Kinh Dương Vương, cũng từng được coi là thuộc 18 vua Hùng, mà Kinh Dương Vương tên là Lộc Tục. Suy ra các vua Hùng mang họ của Kinh Dương Vương là họ Lộc… Thật sự là một sự khôi hài.
Các vua Hùng thì chẳng mang họ Hùng thì còn mang họ gì nữa? Nhưng họ Hùng là một họ đặc biệt, là “họ tộc” của cả đại tộc Việt chứ không phải của 1 dòng họ. Vị vua đầu tiên là Hữu Hùng Hoàng Đế, tức Đế Minh, là vua của Hữu Hùng Thị hay tộc họ Hùng. 18 đời Hùng Vương là 18 triều đại nên hiển nhiên không phải chỉ có 1 họ. Mỗi triều đại có thể mang một họ riêng hoặc cũng có thể trùng với một vài triều đại trước đó. Với 3000 năm lịch sử thời đại Hùng Vương thì việc một dòng họ có thể nắm quyền vài triều đại là bình thường.

3. Tại sao tên các vua Hùng lại đều là “tên Tàu”?
Các vị vua Hùng đều có những cái tên Hán Việt như Hùng Vũ Vương, Hùng Huy Vương… Vậy vua Hùng là người Tàu hay là vốn vua Hùng có các “tên Nôm” khác mà nay đã bị thất truyền?
Thực ra tên các vua Hùng được đặt bằng âm Hán Việt chẳng nói lên được là các vua Hùng là người Hán. Ngược lại, điều này nói lên rằng âm Hán Việt vốn là âm tiếng Việt thời cổ. Tại sao không gọi là âm Việt – Hán cho chính xác? Chữ mà được ngày nay gọi là chữ Hán thực ra vốn là chữ Việt, do người Việt sáng tạo ra và dùng nó cả vài ngàn năm nay.

4. Hùng Vương hay Lạc Vương?
Đây là một trong những câu hỏi đầy suy diễn của các học giả từ trước tới giờ. Họ thường viện dẫn các tài liệu nói rằng nước ta có các Lạc hầu, Lạc tướng,… nên phải có Lạc Vương và từ đó suy ra Hùng Vương phải là Lạc Vương chỉ vì do… “lỗi đánh máy”. Họ không thể nghĩ đơn giản hơn được hay sao?
Lạc Vương là Hùng Vương, không sai, nhưng điều ngược lại thì không đúng. Hùng Vương có thể không phải là Lạc Vương vì Lạc Vương chỉ là vua ở một phạm vi tương đối nhỏ ở Bắc Việt – Quảng Tây trong một thời kỳ đầu của lịch sử. Còn Hùng Vương có tới 18 triều đại, phạm vi trên toàn cõi Đông Nam Á và Hoa Nam. Làm sao lại gán ghép Hùng Vương với Lạc Vương được.

bach-viet-13Phạm vi nước Văn Lang thời Hùng Vương.

5. Nước Xích Quỷ của Kinh Dương Vương làm sao có thể bao trùm toàn bộ vùng Nam sông Dương Tử?
Đúng là không thể có quốc gia nào có phạm vi mênh mông như vậy ở thời Kinh Dương Vương. Nhưng đây là sự gán ghép tư liệu lịch sử, lấy đất đai của nước Văn Lang của Hùng Vương gán vào nước Xích Quỷ từ thời Kinh Dương Vương. Đồng thời diễn giải lệch lạc phạm vi đã được mô tả rõ của nước Văn Lang: Đông giáp biển Nam Hải, Tây đến Ba Thục, Bắc đến hồ Động Đình, Nam giáp nước Hồ Tôn. Với mô tả này nước Văn Lang không chiếm toàn bộ vùng Nam Dương Tử mà là phần Tây Nam Trung Hoa ở Bắc Việt, Vân Nam, Quý Châu và Quảng Tây. Việc tự phóng đại phạm vi nước của Hùng Vương lên và gán cho nó vào thời kỳ đầu của Kinh Dương Vương để bảo thông tin đó là vô lý là một sự ngụy xảo, “gắp điều xằng bậy bỏ mồm người khác”.

6. Chuyện Lạc Long Quân lấy Âu Cơ sinh ra một bọc trăm trứng, nở trăm trai là vô lý.
Truyền thuyết Trăm trứng chẳng có gì là vô lý từ góc độ truyền thuyết cả. Nó “vô lý” chỉ vì các học giả đang đeo những lăng kính “lịch sử” mà nhìn truyền thuyết. Câu cuối cùng trong truyền thuyết họ Hồng Bàng này đã minh định ngay ý nghĩa của hình ảnh trăm trứng: “Trăm người con trai chính là tổ tiên của người Bách Việt vậy”. Lạc Long Quân và Âu Cơ là đại diện của 2 dòng tộc Tiên và Rồng, Âu và Lạc đã kết hợp với nhau mà sinh ra các chi Bách Việt. Đây là cách thể hiện tóm tắt nguồn gốc sự phát triển lịch sử của Bách Việt. Đâu có phải hiểu theo nghĩa đen (đúng thật là “đen”, tối) như mấy học rởm ngày nay diễn giải.Chiếc trống đồng có 4 con cóc trên mặt trống, nhưng lại được trang trí bằng hoa văn Hủy long, dạng hoa văn đặc trưng của văn hóa Thương Chu.

7. Có nhiều vua Hùng vậy thì chẳng nhẽ tất cả các vua Hùng đều là quốc tổ và được thờ, giỗ?
Những vị vua Hùng được thờ ở đền Hùng không phải là con cháu của Lạc Long Quân. Ở đền Hùng Phú Thọ (và các di tích khác trong khu vực này) thờ 3 vị vua Hùng là:
– Đột ngột Cao Sơn cổ Việt Hùng thị thập bát thế truyền thánh vương
– Ất Sơn thánh vương
– Viễn Sơn thánh vương.
Đây hoàn toàn không phải 3 vị “thần núi” như các học giả đang tưởng tượng. Sơn là từ chỉ hướng Bắc (nay) vì là quẻ Cấn trong Bái quái. Từ Sơn ở đây tương đương với từ Lạc, cũng là chỉ hướng Bắc. “Cao Sơn thánh vương” tương đương với tên gọi “Lạc Vương”. Như thế 3 vị quốc tổ được thờ là 3 vị Lạc Vương mà vị đầu tiên là Đột ngột Cao Sơn (“đột ngột” – bất ngờ xuất hiện, trước đó chưa có ai), chính là Đế Minh của truyền thuyết Việt. 2 vị Lạc Vương còn lại là Đế Nghi và Lộc Tục. Đây mới đúng là các quốc tổ đã bắt đầu thời đại Hùng Vương được thờ cúng tại đền Hùng.

8. Tại sao lại lấy ngày 10-3 làm ngày giỗ tổ Hùng Vương?
Tháng 3 trong Âm lịch là tháng Thìn hay tháng của Rồng. Số 10 trong Thập can là Kỷ hay Kỵ. 10-3 nghĩa là ngày “kỵ long”, tức là ngày giỗ vua. Ý nghĩa của việc giỗ tổ là bên cạnh việc tưởng nhớ đến những vị vua đã có công dựng nước, nó còn mang ý nghĩa như ngày Quốc khánh. Theo chế độ phong kiến trước đây, ngày mất của vua cha cũng là ngày thái tử đăng quang, bắt đầu một triều đại mới. Ngày quốc khánh thì cả nước phải ăn mừng và được nghỉ lễ là quá đúng rồi…

Có lẽ còn nhiều câu hỏi “đểu” tương tự như vậy nữa của các học giả… không đến nơi đến chốn, khinh thường văn hóa truyền thống này. Nhưng thôi cứ để cho các vị ấy tự mãn với các sở học của mình. Rồi đến lúc khắc biết thế nào là quả báo khi phạm đến tổ tiên và thần linh Việt.

Nếu tôi sống thêm hai nghìn năm nữa thì tổ quốc của tôi, ông sẽ là ai?

Bài diễn văn của một nữ sinh 17 tuổi “Nếu tôi sống thêm hai nghìn năm nữa thì tổ quốc của tôi, ông sẽ là ai?”, có lẽ sẽ cho chúng ta một cái nhìn khác về “giấc mơ Trung Hoa”.

Một trường trung học phổ thông tại Trung Quốc, tổ chức hội diễn văn với chủ đề “Tổ quốc thân yêu”, dưới đây là bản thảo bài diễn văn của nữ sinh thể hiện những nhận thức rất lí trí và sáng suốt, vượt xa phần đông thế hệ thanh niên Trung Quốc hiện tại. Liệu cô gái này có thể thay đổi Trung Quốc?
Dưới đây là toàn bộ bài nội dung bài diễn văn:
Kính thưa các thầy cô,bạn bè thân mến: Tôi tên Vương Khả Nhi, là học sinh lớp 10A6, tiêu đề bài diễn văn của tôi hôm nay là “Nếu tôi sống thêm hai nghìn năm nữa, thì tổ quốc của tôi, ông sẽ là ai ?”. Tôi không có những ngôn ngữ hùng hồn như mọi người, cũng không có nhiệt huyết dâng trào như những người khác; đối với hai từ “tổ quốc”, cái tôi có chính là suy nghĩ độc lập của riêng cá nhân tôi, tôi cảm thấy rằng xã hội chúng ta không thiếu những người đứng đầu về tri thức, mà cái thiếu chính là những người có tư duy vậy.
Tôi đang nghĩ rằng: Nếu như tôi có thể sống thêm hai nghìn năm nữa, thì thử hỏi tổ quốc của tôi sẽ là ai? Vào thời nhà Hán, tổ quốc của tôi chính là nhà Hán, chính là Đại Hán đã tiêu diệt hết thảy những kẻ xâm phạm bờ cõi. Vào triều đại nhà Đường, tổ quốc của tôi chính là Đại Đường, triều đại hưng thịnh bậc nhất khiến cho hàng nghìn nước khác đến viếng thăm. Vào thời Tống, tổ quốc của tôi là triều đại nhà Tống, triều đại đứng đầu về khoa học kỹ thuật, kinh tế phồn vinh. Vào triều đại nhà Nguyên, vó ngựa Mông Cổ đã chà đạp giày xéo chúng tôi thành những người dân thấp kém, vậy thì tổ quốc của tôi chính là Đại Nguyên sao? Và tôi phải yêu thương nó sao? Vào thời nhà Thanh, người Mãn giết người ngoài biên ải, để đầu không để tóc, để tóc không để đầu, cuộc tàn sát tại Dương Châu cũng ảm đạm thê lương không khác gì cuộc tàn sát tại Nam Kinh, vậy thì tổ quốc của tôi chính là Đại Thanh sao? Tôi phải yêu thương nó sao?
Thời gian lâu dần, tôi đã dần dần nhận ra rằng, nếu như có ai cưỡng đoạt mẹ của các vị, vậy thì mọi người đều nhận kẻ đó là cha của mình sao, chúng ta không có lòng tự trọng đến như thế sao? Có những lúc tôi cũng nghĩ rằng, nếu như lúc đầu Nhật Bản chiếm lĩnh Trung Quốc chúng ta, hỡi các bạn, có phải hôm này chúng ta sẽ hô lớn lên rằng “thiên hoàng vạn tuế” hay sao?
Nếu như tôi sống thêm hai nghìn năm nữa, thì thử hỏi xem, ai sẽ là tổ quốc của tôi đây, thật khiến cho tôi rất mơ màng khó hiểu.
Trong lòng tôi có một tổ quốc, đó chính là một nơi công bằng, công chính và không có sự bất công nào cả; trong lòng tôi có một tổ quốc, đó chính là nơi để cho bạn chiến thắng, chiến thắng một cách đường đường chính chính. Còn thua thì sao, chính là thua một cách tâm phục khẩu phục. Trong lòng tôi có một tổ quốc, đó là nơi mà ông lúc nào cũng có thể dang rộng đôi cánh che chở cho tôi; trong lòng tôi có một tổ quốc, bất luận cuộc sống của tôi vất vả gian khổ đến thế nào, thì tổ quốc cũng sẽ khiến cho lòng bạn tràn đầy hy vọng về một tương lai không xa.
Nước Mỹ sinh ra Washington, còn nước Anh thì sinh ra Churchill, nhưng họ đều đã ra đi vĩnh viễn; trách nhiệm hôm nay đây, không thể trông cậy vào họ nữa, mà là nằm ở thế hệ trẻ chúng ta. Trí tuệ của thế hệ trẻ chính là trí tuệ của quốc gia, thế hệ trẻ hùng mạnh chính là quốc gia hùng mạnh, thế hệ trẻ độc lập chính là quốc gia độc lập, thế hệ trẻ đứng đầu thế giới chính là quốc gia đứng đầu thế giới. Trong tay thế hệ trẻ chúng ta nhất định sẽ được cầm tờ báo nói về tổ quốc tân tiến văn minh bậc nhất của chúng ta, ông sẽ để cho mỗi người đều yêu mến ông sâu sắc từ tận đáy lòng, ông sẽ khiến cho nước Mỹ phải ngưỡng mộ về chế độ dân chủ của chúng ta, khiến cho nước Đức phải ngưỡng mộ về những thành tựu khoa học kỹ thuật của chúng ta, khiến cho Nhật Bản phải ngưỡng mộ đất nước dân giàu nước mạnh của chúng ta, khiến cho Singapore phải ngưỡng mộ về môi trường sạch đẹp của chúng ta. Nhìn xem ngày đó, tổ quốc của tôi, tất nhiên sẽ là một bầu trời rực sáng, một tổ quốc khiến cho con cháu muôn vàn đời sau cũng không thể nào quên được.
Người Trung Quốc cổ nuôi dưỡng ba giấc mộng Trung Hoa: Giấc mộng thứ nhất gọi là giấc mộng minh quân, chính là hy vọng có được một hoàng đế tốt, hy vọng tất cả vấn đề đều được giải đáp và hiện thành. Tất cả mọi đều tốt đẹp đến từ sự ban ơn của kẻ thống trị. Giấc mộng thứ hai gọi là giấc mộng thanh quan, nếu như hoàng đế đã không thể trông cậy được nữa, thì người dân hy vọng sẽ có một vị thanh quan, thanh liêm chính trực, còn có thể trực tiếp nói lời can gián lên bề trên, mà không sợ xúc phạm đến những người có quyền có thế. Giấc mộng thứ ba gọi là giấc mộng hiệp khách, nếu như thanh quan cũng không thể trông cậy được nữa, thì hy vọng sẽ có một vị hiệp khách thay dân báo thù rửa hận.
Ba giấc mộng của người Trung Quốc thời nay: Giấc mộng thứ nhất gọi là giấc mộng tự do, chính là thoát ra khỏi  sự chuyên chế của bộ máy chính trị một đảng độc tài, không còn bị đàn áp bức hại bởi những kẻ thống trị cậy quyền cậy thế cũng như bè lũ quan lại quyền quý hống hách lộng hành, giấc mộng thứ hai gọi là giấc mộng nhân quyền, chính là tất cả người dân đều có thể hưởng quyền lợi bình đẳng, không còn có  bất cứ tầng lớp nào có đặc quyền cao hơn quảng đại quần chúng nhân dân để rồi khiến cho những người dân thấp cổ bé họng chỉ có thể uất ức căm hận mà chẳng làm được gì. Giấc mộng thứ ba chính là giấc mộng chính trị dân chủ, cũng chính là chế độ dân chủ toàn dân, tất cả người dân trong cả nước cùng nhau lập ra hiến pháp căn bản dựa trên cơ sở người người bình đẳng, đồng thời sẽ theo đó mà làm việc.
Ba giấc mộng thời xưa chính là “giấc mộng kê vàng” giữa ban ngày, mang tính bị động tiêu cực đối với nhân dân, là chính sách ngu dân mang lại ác mộng nghìn năm, chỉ có thể khiến cho dân chúng trở thành những con cừu ngoan ngoãn, mặc cho kẻ thống trị làm mưa làm gió, xâu xé giết hại, thống trị vĩnh viễn.
Ba giấc mộng thời nay chính là yêu cầu tất yếu của văn minh thương nghiệp, là một xã hội dân chủ khai sáng mà người người đều đã thấy rõ, là biểu hiện của toàn dân thức tỉnh, là kết quả mà tất cả kẻ sĩ và những người nhân nghĩa đều đang mong chờ, và ngày ấy nhất định sẽ đến”.
Theo NTDTV
http://tinhhoa.net/tu-su-viec-doan-thi-huong-ngam-ve-nhung-nguoi-khong-co-tu-su.html