La Thành và các vị thành hoàng Thăng Long

Truyện sông Tô Lịch trong Lĩnh Nam chích quái có một dị bản mở đầu như sau:
Nước ta có người họ Tô tên Lịch xưa ở Long Đỗ, nay là mé ven sông, ba đời sống nhân nhượng với nhau. Đời Tấn được cử làm chức hiếu liêm, cắm cờ ở trước cổng xóm, vì vậy người đời bèn gọi xóm ấy là xóm Tô Lịch.
Sau đó truyện nói: Thần chính là vị đại vương của cả quốc gia vậy.
Thử xem trong lịch sử nước ta, vị nào ở Long Đỗ, sống đức độ, khoảng đời Tấn làm chức hiếu liêm và được coi là “đại vương” của cả quốc gia. Vị quan chủ quản có đức độ thời Tấn là Đào Hoàng. Tuy nhiên, khả năng cao hơn thần Tô Lịch ở đây là Sĩ Nhiếp, người đã nhiều đời (từ thời cha là Sĩ Tứ đã là thái thú quận Nhật Nam) sống có đức, lại giỏi về văn (chức hiếu liêm). Đặc biệt Sĩ Nhiếp từng được nhà Ngô phong là Long Độ đình hầu, Long Độ sau đổi thành Long Đỗ (do kỵ húy). Vị “hầu tước” này được sử Việt gọi là Sĩ Vương, đúng là bậc “đại vương của cả quốc gia” vậy.
Truyện sông Tô Lịch chép tiếp:
Đời Đường Mục Tông Lý Nguyên Gia làm quan đô hộ, giữ đất Long Biên. Lý cho rằng phía Bắc thành có dòng nước chảy ngược, sợ dân hay sinh lòng phản nghịch nên chọn đất khác định chuyển La Thành sang vời sông Tô Lịch, bèn khấn mời Tô Lịch làm thần chủ giữ thành rồi xin lập đền thờ cúng.
Nửa đêm, Lý Nguyên Gia nằm mộng thấy thần tới nói rằng: “Ta vâng mệnh sứ quân làm chủ thành này, nếu như ta có thể giáo hóa được dân chúng trong thành trở nên có trung hiếu thì xin hãy lập đền thờ”. Nguyên Gia xin vâng.
Từ đó dân không có lòng phản nghịch. Lý bèn xây thành nhỏ để ở lại lập đền thờ phụng.
Đoạn truyện trên cung cấp một thông tin rất quan trọng: La Thành vốn ban đầu không ở vị trí sông Tô Lịch ngày nay. Tới thời Đường Mục Tông thành mới được chuyển về và xây một thành nhỏ bên sông Tô Lịch. Vậy La Thành trước đó nằm ở đâu?
Thông tin trong chính sử về La Thành thời Sơ Đường rất rối rắm. Đại Việt sử ký toàn thư lúc thì chép năm 767 thời Đường Túc Tông Kinh lược sứ Trương Bá Nghi đánh tan quân Chà Và và Côn Lôn đến cướp châu thành, rồi đắp lại La Thành. Nhưng lại chú là theo sách Nguyên Hòa quận huyện chí thì năm này Trương Bá Nghi bỏ thành cũ mà xây lại thành ở chỗ mới ở phía Bắc cách sông Tô Lịch 200 thước. Nhưng đúng hơn thì việc La Thành được chuyển về sông Tô Lịch xảy ra vào thời Lý Nguyên Gia sau đó.
Đoạn sau Đại Việt sử ký toàn thư chép về Lý Nguyên Gia:
Đường Nguyên Hòa năm thứ 4 (819) mùa đông tháng 10 đô hộ là Lý Tượng Cổ vì tham bạo mà mất lòng dân chúng. Tướng của Tượng Cổ là Dương Thanh đời đời làm tù trưởng Man ở Hoàng Động. Thanh nhân thấy lòng người oán giận Tượng Cổ ban đêm quay về đánh úp lấy châu, giết Tượng Cổ (Thanh là người Giao Châu, Tượng Cổ là người tôn thất nhà Đường). Đường Đế chiếu cho Quế Trọng đánh Thanh không được. Thanh vào trong người Man Lão để làm loạn, cướp phá phủ thành. Đô hộ là Lý Nguyên Gia đánh không được, dụ không đến. Do đấy người Man Hoàng Động dẫn người Hoàn Vương vào cướp.
Hoàng Động nơi người Man nổi loạn, giết quan độ hộ nhà Đường là ở đâu không rõ, nhưng rõ ràng rằng nơi này không xa châu thành (La Thành) vì Dương Thanh “ban đêm quay về đánh úp” Lý Tượng Cổ. Rất có thể Hoàng Động là ở vùng Sơn Tây ngày nay.
Người Man Lão ở Sơn Tây đã liên kết với người nước Hoàn Vương, tức là với người ở phía Nam (Hoàn Vương là tên nước của vùng phía Nam sau khi Lâm Ấp bị nhà Tùy tiêu diệt). Nhà Đường cử một vị tôn thất khác là Lý Nguyên Gia (Lý là họ của vua Đường) sang làm đô hộ, nhưng cũng không dẹp được.
Việc nổi loạn của người Man và sự tấn công của Hoàng Vương chính là lý do mà Lý Nguyên Gia buộc phải rời bỏ trị sở cũ Tống Bình – La Thành sang nơi mới gần sông Tô Lịch. Lý Nguyên Gia thấy trước cửa thành có nước chảy ngược, sợ trong châu nhiều người sinh lòng làm phản, vì thế dời đóng ở thành ngày nay.

IMG_6219
Mộ gạch cổ dưới đình Quán La.

Dòng “nước chảy ngược” này không phải là sông Tô Lịch, mà là sông Thiên Phù, xưa là một nhánh sông Hồng chảy từ quãng khu vực Phú Thượng qua vùng phía Tây Bắc hồ Tây. “Nước chảy ngược” là ý chỉ việc ngập lụt, nước dâng cao. 2 sự việc ngập lụt và loạn dân được “thần thoại hóa” thành chuyện Long Quân dâng nước tiêu diệt con cáo chín đuôi ở Hồ Tây trong Truyện Hồ Tinh của Lĩnh Nam chích quái. Di tích của truyện này nằm ở khu vực Xuân La, Nhật Tảo bên Hồ Tây là đình Quán La (nơi có “hang cáo” – mộ cổ thời Lục triều), chùa Khai Nguyên (nơi thờ Đường Huyền Tông) và chùa Thiên Niên (nơi Huyền Thiên Trấn Vũ lập đàn diệt Cửu vĩ hồ). Như vậy, rõ ràng là châu thành trị sở thời Sơ Đường của An Nam nằm chính ở đây, bên dòng sông Thiên Phù (sông Già La), phía Tây Bắc của Hồ Tây. Tới Lý Nguyên Gia do nạn lụt lội và loạn người Man nên mới dời về vị trí mới ở phía Nam Hồ Tây bên sông Tô Lịch.
Khi Lý Nguyên Gia dời thành đã lấy Tô Lịch làm vị thần phù trợ cho La Thành. Ban đầu La Thành vốn mới là một thành nhỏ. Tới năm Hàm Thông đời Đường Ý Tông, quân Nam Chiếu làm loạn. Vua Đường sai Cao Biền sang dẹp, đặt ra quân Tĩnh Hải, sai Biền làm Đô hộ sứ. Biền xưng vương, đóng quân trong phủ.
Thần Tô Lịch sau đó hiển linh khi Cao Biền xây thành lớn hơn ở đây. Lý do xây thành lớn, gọi là Đại La là vì Cao Biền đã thắng lợi trong việc đánh dẹp người Man – Nam Chiếu, việc mà các tôn thất nhà Đường như Lý Nguyên Gia, Lý Trác không làm được. Cao Biền khi đó đã tôn thần Tô Lịch – Long Đỗ làm đô phủ thành hoàng của thành mới Đại La.

IMG_5934
Đình Trích Sài.

Như thế tên thần Tô Lịch là vị thần do Lý Nguyên Gia tôn thờ khi dời thành. Còn thần Long Đỗ là tên thời Cao Biền. Sau đó tới thời Lý xuất hiện thêm một tên gọi nữa là thần Bạch Mã:
Đến đời Lý Thái Tổ, khi vua dời đô về Đại La và đổi tên thành Thăng Long, muốn mở rộng phủ thành nhưng đắp thành xong đều bị lở, bèn cử người tới cầu thần. Đêm đó, vua nằm mộng thấy thần đến chúc mừng rồi dặn nhà vua cứ theo dấu vó ngựa đắp. Có con ngựa trắng từ đền đi ra, đi theo hướng Tây, vòng về hướng Đông, trở về điểm xuất phát rồi biến vào đền. Nhà vua y lời thần, bèn cho đắp thành xây lũy theo vết chân ngựa để lại, xây đến đâu chắc đến đấy. Lý Thái Tổ sai tạc một con ngựa trắng để thờ và ban sắc phong cho thần làm Quốc đô Định bang Thành hoàng đại vương, tức Thành hoàng của cả thành Thăng Long. Ngôi đền này vì thế cũng được gọi là đền Bạch Mã.
Đền Bạch Mã nay nằm ở trong khu phố cổ Hà Nội trên phố Hàng Buồn, là ngôi đền trấn Đông của Thăng Long. Việt Điện u linh chép:
Đến đời Lý Thái Tông, cho mở phố chợ về Cửa Đông, dân cư buôn bán tấp nập, chen chúc huyên náo sát tới tận bên đền. Vua muốn dời đền đến chỗ thanh tịnh khác, nhưng rồi lại bảo: “Xưa lập ở đây, nay không nên dời đi chỗ khác”; mới đem sửa sang lại đền, liền với các nhà ngoài phố, nhưng vẫn để một khoảng làm nơi thờ thần. Đến đêm, thần hiển linh nổi trận gió bấc rất to, cả dãy phố đều đổ, duy chỉ có đền thờ thần vẫn nguyên vẹn. Vua lấy làm lạ hỏi, có người biết, tâu lại chuyện hiển linh của thần từ trước. Vua mừng nói: “Đó thật là vị thần coi việc nhân gian”, xuống chiếu cho sửa lễ tế đền, cho thần hưởng lộc cứ đến mùa xuân lại đến làm lễ cầu phúc. Vua lại sắc phong thần làm Quảng Lợi vương. Ở phố chợ Cửa Đông, ba lần phát hỏa, các nhà trong phố đều bị cháy, duy chỉ có chỗ đền thờ thần, lửa không bao giờ lấn tới.

P1010759
Tiền tế đền Bạch Mã.

Câu đối đền Bạch Mã:
Hiển hách thần uy, nhất trận linh phong đằng bảo mã
Huy hoàng hỏa đức, thiên thu vượng khí trấn Thăng Long.
Khu vực này còn có nhiều nơi khác thờ thần Tô Lịch, Long Đỗ, Bạch Mã như đình Thái Cam ở phố Hàng Vải. Đình này còn có tên là đền Tân Khai thờ 3 vị thần của Thăng Long là Tô Lịch, Bạch Mã và Thiết Lâm. Hai vị thần Tô Lịch và Bạch Mã và Tô Lịch đã bàn ở trên. Còn thần Thiết Lâm tương truyền là thần của vùng rừng lim bên Hồ Tây.
Đối chiếu với câu chuyện về Hồ Tây ghi về đình Trích Sài:
Vùng Hồ Tây là một rừng lim rậm rạp, có nhiều gò núi, có con cáo 9 đuôi đã tu luyện thành tinh, luôn thay hình đổi dạng hại dân quanh vùng… Sau nhờ thần tiên giúp sức trừ được yêu quái, rừng lim bỗng sụp xuống thành hồ, gọi là hồ Xác Cáo.
Tên Trích Sài cũng có nghĩa là lấy củi, cho thấy vùng này vốn là khu rừng. Như thế thần Thiết Lâm (rừng lim) là vị thần của phía Tây Bắc hồ Tây, gắn với chuyện diệt con Cửu vĩ Hồ. Vùng này xưa gọi còn gọi là bến Lâm Ấp. Vị thần diệt Cáo là Huyền Thiên Trấn Vũ nên khả năng thần Thiết Lâm cũng là thần Huyền Thiên.

 

IMG_4518Hoành phi ở đình Tân Khai: Long Đỗ Chung Linh.

Câu đối ở đình Tân Khai:
Đại La thành nhất đái giang sơn, Long Đỗ chí kim do thắng tích
Tứ vọng tự lũy triều hương hỏa, Lạc Đô chung cổ độc anh thanh.
Dịch:
Thành Đại La một dải núi sông, Long Đỗ tới nay còn thắng tích
Thờ Tứ trấn các triều hương lửa, Lạc Đô từ cổ nổi tiếng thiêng.
Tóm lại, La Thành ban đầu ở phía Tây Bắc hồ Tây với vị thần Thiết Lâm là thần Huyền Thiên đã diệt trừ con cáo chín đuôi. Tới thời Đường Mục Tông, Lý Nguyên Gia sợ lụt lội và loạn dân đã chuyển La Thành về gần sông Tô Lịch, lập Tô Lịch làm thần. Cao Biền thắng được quân Nam Chiếu cho xây thành lớn hơn gọi là thành Đại La, lấy thần Long Đỗ là chính khí của thành. Thời Lý dời đô về đây xây thành được thần hiện lên giúp đỡ, phong thần Bạch Mã làm đô thành hoàng.

 

 

 

 

 

 

Theo dấu Trâu vàng

Trau Phat Tich
Con Trâu đá ở núi Tiên Du (Phật Tích).

Truyện sự tích Trâu vàng ở Tiên Du (Tiên Du Kim Ngưu tích truyện) trong Lĩnh Nam chích quái kể:
Ngày xưa, đời thượng cổ, có Vương Chất đi đốn củi ở trong núi gặp hai tiên đồng đang đánh cờ. Hai tiên đồng cho Chất một hạt táo, Chất ăn khỏi đói rồi gác rìu mà ngồi xem đánh cờ. Tiên đồng bảo Chất: “Cán rìu của người nát rồi”. Chất cúi xuống, lúc ngẩng lên thì không thấy tiên đồng đâu. Kịp đến khi trở về nhà thì không còn gặp lại những người thân cũ ở trần gian nữa. Do tích đó người đời bèn gọi quả núi này là núi Lạn Kha (núi rìu nát) còn gọi là núi Tiên Du (núi chơi tiên) rồi nhân lấy tên ấy để đặt tên huyện. Ở huyện Tiên Du nay vẫn còn vết cũ.
Núi Tiên Du có tinh trâu vàng nửa đêm thường tỏa ra ánh sáng. Có nhà sư lấy tích trượng yểm lên trán trâu, trâu vàng bỏ chạy húc vào đất làm sụp thành cái hồ.
Nơi này sau gọi là thôn Húc. Trâu chạy đến địa phận Văn Giang, vì vậy ở đây có cái vũng lớn gọi tên là vũng Trâu Đằm. Trâu chạy qua các xã Như Phượng, Như Loan, Đại Lạn, Đa Ngưu. Các xã này sở dĩ tên như vậy là vì có vết chân trâu đi tới.
Trâu lại từ trong bến ra sông Cái, đến Ninh Giang, đi men phủ Lý Nhân, theo ven sông Cái tới sông Tô Lịch, chỗ ấy chính là Tây Hồ. Người đời truyền tụng rằng Cao Biền giỏi thuật số, thông địa lý, thường cưỡi diều giấy bay trên không trung để yểm các nơi thắng cảnh. Biền thấy trâu đi vào hồ Dâm Đàn (nay là Tây Hồ) rồi thoắt không thấy trâu đâu nữa. Trên đường trâu chạy, khắp nơi biến thành khe, ngòi, rãnh, lạch.

Phat Tich
Bảng giới thiệu của chùa Phật Tích về Khâu Đà La từng tu hành và cầu mưa gió ở đây.

Núi Lạn Kha là núi Phật Tích ở huyện Tiên Du, Bắc Ninh ngày nay. Vị tiên đánh cờ trên núi Phật Tích thì hẳn là Đế Thích, vì Thiên Đế nổi tiếng là cao cờ. Cờ là biểu tượng của Dịch học, của phép thuật trong trời đất.
Nhà sư lấy tích trượng yểm lên trán Trâu ở núi Phật Tích thì rõ ràng là Khâu Đà La trong truyện Man Nương vì núi Phật Tích chính là nơi tu hành của Khâu Đà La. Khâu Đà La có thể là tên phiên âm khác của Đế Thích vì tên phiên âm của Đế Thích hiện là Nhân Đà La.
Hình tượng cụ thể của Kim Ngưu ở vùng Bắc Ninh là tượng con Cừu đá ở Thuận Thành, một con ở cạnh tháp chùa Dâu, một con ở lăng mộ Sĩ Nhiếp. Tên gọi Cừu xuất phát từ phép phiên thiết chữ Kim Ngưu, chỉ con Bò thần. Trâu Vàng là con Bò thần Nandin, vật cưỡi của thần Shiva hay hiện thân của thần Indra trong đạo Bà La Môn. 2 vị thần này được người Việt gọi chung là Đế Thích.

Cuu chua Dau
Con Cừu đá (Kim Ngưu) ở chùa Dâu, Thuận Thành, Bắc Ninh.

Con bò Nandin hay Trâu vàng như vậy tượng trưng cho sự truyền đạo của Đế Thích, tức là đạo Bà La Môn. Đạo này du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, gắn với tục thờ Tứ pháp vì Tứ pháp là Tứ đại thiên vương, 4 vị thần phụ trách mây mưa sấm chớp (Phong Điều Vũ Thuận) và trấn ở chân núi Tu Di, ngọn núi nơi Đế Thích ngự trị.
Bước chân của Trâu Vàng là bước truyền bá phát triển của đạo Bà La Môn ở miền Bắc Việt. Trâu chạy từ Tiên Du, nơi Khâu Đà La khởi đầu truyền đạo, qua vùng Thuận Thành Bắc Ninh, tới vùng Văn Giang. Văn Giang hiện vẫn còn là nơi có tục thờ Tứ pháp rất phổ biển với nhiều ngôi chùa, ngôi đình, ngôi đền đến nay vẫn thờ Tứ pháp như ở các xã Lạc Hồng, Lạc Đạo của huyện Văn Lâm, Hưng Yên. Văn Giang cũng là nơi có sự tích về Đế Thích cưỡi Trâu ở đền Cầu Váu (Vĩnh Khúc) bên dòng sông Nghĩa Trụ, hay Ngưu giang xưa.

De Thich Cau Vau
Thiên Đế cưỡi Bò ở đền Cầu Váu.

Trâu Vàng tiếp tục từ Văn Giang chạy sang vùng Phố Hiến Hưng Yên. Chặng đường này cũng đánh dấu những nơi có sự tích về Đế Thích là ở Liêu Hạ (Mỹ Hào) với chuyện Đế Thích đánh cờ với Trương Ba, ở Cẩm La (Ân Thi) với sự tích Đế Thích giáng trần trừ yêu quỷ từ thời Hùng Vương. Vùng này cũng là nơi mà tục thờ Tứ pháp rất phổ biến.
Trâu Vàng chạy tới ven sông Ninh Giang, tức là quãng huyện Phù Cừ của tỉnh Hưng Yên. Ở đây không có sự tích về Đế Thích nhưng lại là nơi tập trung các đền thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế, được gọi là các Đậu. Riêng ở Phù Cừ có 5 ngôi Đậu thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế. Còn ở huyện Tiên Lữ có Đậu An rất nổi tiếng thờ Ngọc Hoàng.

Dau An
Tháp Đậu An ở Tiên Lữ, Hưng Yên.

Theo Ngọc Hoàng kinh chép của Đậu Từa: Ngọc Hoàng đại đế chính là Hoàng tử của quốc vương nước Quang Nghiêm Diệu Lạc, thời thượng cổ ngài sinh ra năm Bính Ngọ tháng Giêng ngày mồng 9 giờ Tý (tức 12 giờ đêm). Mẫu thân của ngài là Bảo Nguyệt Quang hoàng hậu mơ thấy đức Thái Thượng Lão Quân tặng cho một hình nhân con trai …
Còn trong tư liệu ở đền Cầu Váu về Đế Thích thì ghi: Bàn Cổ năm thứ 48 Giáp Thân tháng Giêng ngày mồng 1 giờ Ngọ, Bảo Nguyệt Quang hoàng hậu sinh ra Đế Thích ở nước Thiện Tiên. Đến năm Giáp Ngọ tháng Giêng ngày mồng 9 thì lên trời làm Thiên Đế (Bảo Kính Đăng Tâm, tập thượng).
Ở đây tên gọi bà mẹ của Vua là Bảo Nguyệt Quang hoàng hậu và ngày thánh đản 9 tháng Giêng là trùng nhau. Có thể thấy Ngọc Hoàng Thượng Đế ở Hưng Yên là một cách gọi khác của Thiên Đế – Đế Thích.

Trau chua ChuongĐế Thích (hoặc Lão Tử) cưỡi Trâu ở chùa Chuông, Hưng Yên.

Ở Phố Hiến – Hưng Yên còn có ngôi chùa Chuông, tương truyền khi đánh quả chuông ở đây thì Trâu Vàng chạy đến… Có thể chùa Chuông cũng từng nằm trong hệ thống đền Bà La Môn như các Đậu ở Hưng Yên.
Trâu Vàng tiếp tục đi men phủ Lý Nhân sang đất Hà Nam. Tới đây câu chuyện liên quan tới vị tướng của nhà Đường là Cao Biền.
Sách Thăng Long cổ tích khảo chép rằng: Tương truyền đời Đường, Cao Biền làm Tiết độ sứ An Nam đô hộ phủ, đi các nơi có núi sông danh thắng của ta để yếm diệt long mạch. Khi Biền đào sông yểm mạch núi Long Đội, Sơn Thần núi ấy biến thành hình con trâu toả ánh vàng bơi theo sông Đường Giang lên phía Bắc, ẩn ở vùng Hồ Tây thành Đại La.
Sách Tây Hồ chí dẫn lời của Phạm Đình Hổ: Cuối đời Đường, An Quận công Cao Biền ngàn dặm qua Nam đến châu Duy Tân (nay là Duy Tiên) khai sông chặn long mạch núi Phục Tượng nay thuộc xã Đọi Sơn: Thần núi hoá thành trâu phóng ánh sáng vàng, ngược Đường Giang lên ẩn náu tại Hồ Tây, người quanh vùng dựng miếu thờ, thực là dấu thiêng vậy.

Nha bia chua Long Doi
Nhà bia Sùng Thiện Diên Linh thời Lý ở chùa Long Đọi, Duy Tiên, Hà Nam.

Ở Duy Tiên, vùng Đọi Sơn có núi Điệp cũng có tên là Kim Ngưu, nay trên núi còn ngôi chùa cùng tên. Ngay tên sông Châu giang chảy qua đây cũng có thể là sông Trâu, liên quan đến con Trâu vàng.
Đặc biệt hơn, toàn bộ khu vực quanh núi Đọi đều thờ Cao Sơn quốc chủ. Vị thần này đã được xác định là Cao Biền, vị thần trấn Nam của thành Thăng Long. Đoạn kể về việc Trâu Vàng bị Cao Biền đuổi chạy ngược về thành Đại La rồi ẩn trong hồ Tây có thể có ý nghĩa khác so với khi Trâu chạy từ Tiên Du xuống Hưng Yên. Trâu Vàng là biểu tượng của đạo Bà La Môn, cũng là đạo của người Nam Chiếu lúc này. Người Nam Chiếu thời Đường có thể từng được gọi là Ai Lao 哀牢  hay Ngưu Hống 牛吼. Cả 2 tên này đều có chữ Ngưu 牛 ở trong.
Cao Biền là tướng nhà Đường được cử sang dẹp quân Nam Chiếu ở Bắc Việt. Nam Chiếu theo đạo Bà La Môn và được hình tượng hóa bằng hình ảnh Trâu Vàng – Kim Ngưu. Khu vực Đọi Sơn có lẽ từng là một căn cứ quan trọng của Nam Chiếu. Cao Biền dẫn quân đổ bộ bằng đường biển từ vùng Thái Bình – Nam Định tiến đánh Nam Chiếu, trước hết là đánh vùng Lý Nhân này, sau đó mới đánh thành Đại La.
Dấu vết của Cao Biền ở vùng Thường Tín cũng còn lưu qua các di tích thờ Cao Sơn đại vương ở đây như các làng Hà Hồi, Khê Hồi. Đây cũng là nơi có vết tích Trâu vàng với dòng sông Kim Ngưu.

Ha Hoi
Cổng đình Hà Hồi, Thường Tín, nơi thờ Cao Sơn đại vương.

Khu vực từ Hà Nam trở về cũng là vùng ảnh hưởng của tục thờ Tứ pháp, với các di tích như chùa Bà Đanh ở Kim Bảng, chùa Đậu ở Thường Tín, chùa Pháp Vân ở Thanh Trì. Chùa Đậu ở Thường Tín nơi thờ Pháp Điện và Sĩ Nhiếp có câu đối nói tới con sông Ngưu này:
龍派汪涵惠澤千秋傳聖跡
牛江環遶恩波萬世沐神休
Long phái uông hàm, huệ trạch thiên thu truyền thánh tích
Ngưu giang hoàn nhiễu, ân ba vạn thế mộc thần hưu.
Dịch:
Dòng rồng rộng sâu, đất nhân nghìn thu truyền tích thánh
Sông trâu bao bọc, sóng ân vạn thế thấm điềm thần.

IMG_4538
Vế đối Ngưu giang hoàn nhiễu… ở chùa Đậu.

Cao Biền đánh quân Nam Chiếu, giải phóng được thành Đại La nên con Trâu Vàng đến đây thì đi vào hồ Tây mà ẩn náu. Bài thơ trong Lĩnh Nam chích quái chép:
Kim ngưu do ẩn tại hồ trung
Thủy hạt nan tầm bất kiến tung

Đại Việt Nam an tồn thánh chủ
Cao Biền hạ bút hận vô cùng.
Dịch:
Trâu vàng còn ẩn mãi trong hồ
Dấu vết khó tìm dẫu nước khô
Đại Việt Nam yên nhờ thánh chúa
Cao Biền hạ bút hận không bờ.

Dau chan Kim nguu
Dấu chân Kim Ngưu.

Bài thơ này có câu “Đại Việt Nam an tồn thánh chúa“, ý chỉ nước Việt Nam vẫn còn vua, Cao Biền không làm gì được. Rõ ràng ở đây hình tượng con Trâu vàng là biểu tượng của thủ lĩnh nước Nam (Nam Chiếu). Tinh thần của nước Nam hóa con Trâu vàng ẩn sâu trong hồ Tây bất diệt. Tinh thần đó xuất phát từ ông Tiên đánh cờ trên núi Phật Tích (Khâu Đà La – Đế Thích) đã truyền bá rộng khắp nơi, trở thành tín ngưỡng của người Nam. Dấu chân Kim Ngưu từ Bắc Ninh – Hưng Yên – Hà Nam – Hà Nội đánh dấu khu vực phổ biến của tục thờ Tứ pháp – Đế Thích – Ngọc Hoàng hay đạo Bà La Môn.
Câu chuyện Trâu Vàng chạy đi và về thể hiện sự giao thoa giữa 2 dòng văn hóa Ấn giáo (Bà La Môn) và Đạo Giáo Trung Hoa. Biểu tượng của Đạo Giáo là đền thờ Huyền Thiên Trấn Vũ, vị thần tổ của nhà Đường (thời Cao Biền) ở 2 bên bờ hồ Tây, phía Bắc thành Đại La.

Sac phong Kim Ngưu
Sắc phong Kim Ngưu tôn thần ở đền Kim Ngưu, hồ Tây.

Câu đối ở đền Kim Ngưu bên hồ Tây:
牛渚表奇觀四顧江山依舊
龍城標勝景十方大眾望新
Ngưu chử biểu kỳ quan, tứ cố giang sơn y cựu
Long thành tiêu thắng cảnh, thập phương đại chúng vọng tân.

 

 

Tây Hồ sự tích

Truyện Hồ Tinh trong Lĩnh Nam chích quái:

Thành Thăng Long ngày xưa gọi là đất Long Biên, đời Thượng cổ đã có người ở rồi. Đến đời vua Lý Thái Tổ chèo thuyền ở bến sông Nhị Hà, có hai con rồng dẫn thuyền đi, nhân đó mới đặt tên là Thăng Long và đóng đô ở đấy, tức là kinh thành ngày nay vậy.
Buổi đầu, chỗ đất này về phía Tây có một ngọn núi đá, dưới núi có một cái hang, có một con hồ chín đuôi sống hơn một nghìn năm thành ra yêu quái, biến hóa vạn trạng, có lúc hóa người, lúc hóa khỉ, đi khắp cả nhân gian.
Lúc bấy giờ ở dưới chân núi Tản Viên có giống người mọi gác cây kết cỏ mà ở; trên núi có một vị thần được người mọi phụng thờ. Vị thần ấy dạy cho người mọi cày ruộng, dệt vải, may áo trắng mà mặc, nhân đó gọi là Bạch y man. Hồ chín đuôi hóa ra người áo trắng nhập vào trong bọn mọi, cùng lũ mọi ca hát, dụ dỗ được người con trai con gái nào thì đem về nhốt ở hang đá; người mọi lấy làm khổ sở về việc ấy.
Long Quân mới sai bộ hạ Thủy phủ dâng nước lên đánh phá núi Tiểu Thạch Sơn, đào thành một cái đầm lớn, chính giữa thành có một chiếc vực sâu, gọi là Thi Hồ Trạch (nay là hồ Tây) rồi lập chùa quán để trấn yểm nữa (nay là Thiên Niên quán); bờ phía Tây bên đầm thì đồng nội bằng phẳng, ruộng ao cày cấy, gọi là Lỗ Hồ động. Chỗ nào cao ráo thì đều có dân cư, tục gọi là Hồ thôn. Còn cái hang nay gọi là Lỗ Hồ trạch vậy.
Câu chuyện Long Quân diệt con Cáo chín đuôi thành hồ Tây trên được xếp vào thời “thượng cổ” cùng với Lạc Long Quân. Tuy nhiên, trong chuyện không hề nói tới Lạc Long Quân mà chỉ nói “Long Quân”. Hồ Tây vốn là một nhánh sông Hồng, hình thành khá muộn về sau này, nên khó có thể thời Lạc Long Quân 4000 năm đã có hồ, có động, có thôn như vậy. Lịch sử gắn với huyền thoại hình thành và phát triển của Hồ Tây thực sự ra sao?

Bat Thap
Khu vực tháp trong chùa Thiên Niên – đàn trấn yểm của Huyền Nguyên đại đế.

Trong Truyện Hồ Tinh có cho biết Long Quân đã lập chùa quán để trấn yểm bên Hồ Tây là Thiên Niên quán. Thiên Niên quán ngày nay là chùa Thiên Niên ở Trích Sài ven hồ Tây. Ở chùa này có lưu sự tích về việc diệt con Cáo chín đuôi qua tấm bia Hoàn Long Trích Sài Thiên Niên tự bi ký (Bài ký trên bia chùa Thiên Niên, thôn Trích Sài, huyện Hoàn Long). Bài ký này được khắc trên tấm bia đá dựng vào đời vua Thành Thái năm thứ 13 (1901). Nội dung kể:
Khu vực Hồ Tây, trước kia là khu rừng rậm mọc toàn gỗ lim. Trong rừng có hòn núi nhỏ, có con cáo chín đuôi đã thành tinh ẩn náu trong hang núi đó, thường thường hiện hình làm hại người và vật, đã lâu ngày không trừ được.
Vua Tiền Lý Nam Đế lấy làm lo, sai hai công chúa đi học pháp thuật để trừ hại cho dân. Hai công chúa tu luyện ba năm, kết quả chưa thành, con cáo yêu quái càng quấy nhiễu dữ. Hai công chúa xin sang phương Bắc học Trung Quốc. Thuyền đi đến sông Nguyệt Đức, buổi chiều gặp một vị Đại tiên. Vị này nói:
– Ta nghe hai công chúa có chí trừ yêu quái mà con hồ tinh lọt lưới ẩn nấp chưa trừ được. Vậy ta đến giúp để cứu dân.
Hai công chúa mừng lắm, đón vị Đại tiên về và vào tâu với vua. Vua cho mời vị Đại tiên, hỏi tường tận về pháp thuật. Đại Tiên bảo hãy chuẩn bị lập đàn ở nơi cao ráo, sạch sẽ, dựng 8 cửa, 8 tháp như hình bát quái trận đồ và dạy hai công chúa tất cả những bí quyết phù chú.
Trong khoảng 100 ngày, việc học tập đã thành thạo. Bèn chọn ngày tốt, xem địa thế và lập đàn trừ yêu. Dùng cờ và lọng ngũ sắc mỗi thứ 100 cái. Rồi rước vị Huyền Chân Đại đế ở phương Bắc chủ trì đàn trấn yêu. Lại dựng miếu thờ vĩnh viễn, để con cáo yêu quái sau khi bắt được, không thể lại hiện hình, tác quái được nữa.
Vua theo lời lập 3 đàn, đàn giữa thờ Thiên, địa, thần kỳ do vị Đại tiên chủ trì, đàn tả thờ Dương thần, đàn hữu thờ Âm thần do hai công chúa phụng lễ.
Đến ngày lễ đàn, Đại tiên một tay cầm bùa, một tay cầm kiếm, chỉ vào trước núi đá. Bỗng thấy con cáo từ trong hang núi nhảy vọt ra, đá núi đổ xuống. sóng nước sôi lên, bắn tung tóe ra bốn phía, rừng lim sụt xuống, tất cả biến thành hồ nước, đất sụt tới tận bên cạnh đàn. Trong đàn lửa bốc lên, cờ lọng bị cháy hết. Phía trên đám lửa kết thành một đám mây đen bay lên lưng chừng trời, Đại tiên bắt trói con yêu quái bay lên không trung. Sau cùng không thấy nữa, chỉ còn hai công chúa bắt quyết ngồi ở đàn, lửa chẳng hề bén đến thân thể.
Quan quân báo tin về với vua Lý, vua theo như lời Đại tiên nói trước, sai dựng đền ở nơi lập đàn, để hai công chúa sớm chiều thờ phụng. Đền ở giáp bên hồ. Sát bờ bên kia hồ cũng lập miếu để thờ Huyền Chân Đại đế và chỗ dựng 8 tháp nơi đàn cũ, xây ngôi chùa để hai công chúa trụ trì. Sau một thời gian, hai công chúa cũng hóa theo Tiên Phật…
So sánh chuyện này với Truyện Hồ Tinh có thể thấy hai chuyện kể khác nhau nhưng cùng là một sự kiện. Người diệt Hồ Tinh ở đây được chép là Huyền Chân Đại Đế, tức là Huyền Thiên Trấn Vũ, người thờ ở đền Quan Thánh bên phía đối diện của Hồ Tây. Còn thời gian được chép là vào thời “Tiền Lý Nam Đế”. Tuy nhiên, Huyền Thiên Trấn Vũ là tên mà Đường Cao Tông phong cho Lão Tử là Thái Thượng Lão Quân Huyền Nguyên hoàng đế. Như thế, Huyền Thiên đại đế mới có từ sau thời nhà Đường. Trong khí đó thời “Tiền Lý Nam Đế” lại là trước thời Tùy Đường. Khả năng triều “Tiền Lý Nam Đế” ở đây là chỉ chính triều Đường vì các vua Đường mang họ Lý (Lý Đường).

Trich Sai
Cổng đình Trích Sài.

Ở trong đình Trích Sài có ban thờ Tam vị công chúa và am bên cạnh đó cũng thờ 3 vị này dưới tên Phúc Thọ Lộc. Sách Tây Hồ chí đã viết về am này như sau:
Đền ba vị chúa Phúc Lộc Thọ tại phường Trích Sài. Ba vị chúa là: Vạn Thọ phu nhân tức hóa thân của Kim Mẫu, Vạn Phúc công chúa và Vạn Lộc công chúa. Hai công chúa đều là con vua Tiền Lý Nam Đế do bà phi họ Đoàn sinh ra. Đến tuổi cài trâm, cả hai cô đều thông tuệ, yêu mến sông núi, thường cùng thả con thuyền dưới núi Mài, là khu vực gồm 5 ngọn núi đất, khi đó là rừng rậm. Nghe nói trong rừng có con cáo 9 đuôi làm hại người, hai cô quay chèo mong sao tìm cách học đạo trừ yêu. Đến cầu Khôi Lâm, gặp một bà tự xưng là họ Ma, vốn là Giác Hải Đại vương, có biết phép thuật, liền hỏi:
– Có thể trừ yêu quái không?
Đáp rằng:
– Được!
Hai công chúa mừng đón bà họ Ma lên thuyền đưa về tâu vua. Vua xuống chiếu chọn ngày lập đàn dưới núi, đảo cáo Thượng Đế rồi mời họ Ma đến làm phép. Giông gió sấm sét liền nổi lên dữ dội, cây rừng bị nhổ hết, đồi núi sạch không mà yêu ma tuyệt tích. Giữa đàn có đám mây đỏ rực bây lên, trông lại thì họ Ma đã biến đi đâu mất. Xa giá trở về, vua đem chuyện hỏi đình thần. Hoặc có kẻ nói Kim Mẫu hóa thân, vua liền phong là Vạn Thọ phu nhân Trấn Tĩnh Bà Vương, cho lập miếu thờ.

Có thể thấy vị Bà Vương họ Ma này cũng là vị Đại tiên trong sự tích chùa Thiên Niên và là Long Quân trong Truyện Hồ Tinh. Như vậy cả 3 chuyện về con Cáo chín đuôi ở hồ Tây đều là một sự kiện. Sự kiện này cụ thể là gì?
Đây hẳn là việc hình thành Hồ Tây khi một nhánh sông Hồng tách rời khỏi dòng chính, nước dâng, sụn lún được huyền thoại hóa thành trận hồng thủy của Long Quân hóa ra một vực sâu.
 
Tam Thanh
Điện thờ Tam Thánh Đế ở trước đình Phú Gia.
Bên cạnh đó con Cáo chín đuôi ở khu vực phía Tây hồ Tây này còn liên quan đến những sự kiện lịch sử và di tích khác. Không xa chùa Thiên Niên là khu vực Quán La nơi có chùa Khai Nguyên, thuộc xã Xuân La. Ngôi chùa này theo ghi chép từng là nơi thờ Huyền Nguyên Đế Quân. Sự tích trong Việt Điện u linh:
Trong thời Khai Nguyên nhà Đường, Thứ sử Quảng Châu tên là Lư Ngư sang làm đô hộ bên ta, đóng tại thôn An Viễn, khoảng giữa hai huyện Long Đỗ và Từ Liêm, thấy chỗ đất này bằng phẳng rộng rãi, cây cối tốt tươi, phía sau có sông Già La, địa thế càng đẹp. Ngư mới sai lập phủ lỵ và dựng đền thờ thần vị Huyền Nguyên Đế Quân.
Một đê, Ngư mộng thất một cụ già đầu bạc phơ đến bảo Ngư rằng:
– Quán này nên đặt tên là quán Khai Nguyên. Thôn này cũng nên đổi tên là thôn Khai Nguyên.
Ngư thức dậy theo lời mà đặt tên quán, thôn và dựng bia ghi, để nêu rõ cái công của vua Khai Nguyên nhà Đường. Rồi lại dựng một đền, đặt tượng thần thổ địa để nêu công đức. Đền ấy đặt tên là Gia La quán, cầu đảo thường linh ứng, hương khói quanh năm. Đến hồi đầu năm Thiệu Long (1258) nhà Trần, sư Văn Thảo sửa dựng lại đền, đổi làm chùa An Dưỡng. Từ đó, sứ các nơi đến họp, người ta gần như đến lễ và ngoạn cảnh rất đông, xe ngựa thường đi chật đường không ngớt. Sau vì lâu năm, khách qua lại vắng dần, chùa cũng gần đổ nát, nay đã dời về Quy Bộ Đầu.
Năm Trùng Hưng thứ nhất sắc phong “Khai Nguyên uy hiển đại vương”. Năm thứ 4 gia phong hai chữ “Long trứ”. Năm Hưng Long 21 gia phong hai chữ “Trung vũ”.
Cần chú ý là khu vực này cũng liên quan đến con Cáo, với những cái tên Cáo Đỉnh, Xuân Cảo. Đây mới là trung tâm của “hang Cáo”, nơi ẩn náu của con Cửu vĩ Hồ hồ Tây.
Hiện nay trong chùa Khai Nguyên vẫn còn một tượng vị vua được người dân cho là tượng của Đường Minh Hoàng (niên hiệu Khai Nguyên).
Duong Minh Hoang
Tượng Đường Minh Hoàng trong chùa Khai Nguyên.

Quán Già La và chùa Khai Nguyên xưa ở Xuân La nay đã dời về khu vực Bộ Đầu, tức là bến Chèm ở sát sông Hồng, nay là đình làng Phú Gia và chùa Bà Già ở Phú Thượng, Từ Liêm. Bản xã thần tích của đình Phú Gia cũng chép chuyện này:
Đời Đường thứ sử Lư Ngư lập một đền thờ thổ thần gọi là Già La Quán, sau đổi thành chùa An Dưỡng ở thôn Bà Già cạnh đền Sóc thiên vương, giáp sông Già La. Sông này sau đổi là Thiên Phù.
Khai Nguyen Dich GiaoMột sắc phong ở đình Phú Gia: Khai Nguyên Địch giáo Long ân trứ Uy hiển Trung vũ…
Đình Phú Gia thờ một vị thành hoàng là Khai Nguyên Địch giáo Uy hiển Long trứ Trung vũ Đại vương, thời vua Hùng đánh giặc Ân. Tuy nhiên tên thần ở trên chính được nói tới trong Việt điện u linh, kể sự tích thần Khai Nguyên ở Quán La. Nói cách khác, vị thần ở đình Phú Gia cũng chính là Đường Minh Hoàng niên hiệu Khai Nguyên, mà tượng thờ nay còn ở chùa Khai Nguyên tại Xuân La.
Tới đây cần giải nghĩa các địa danh trong sự tích Hồ Tây. Đầu tiên là các chữ La trong tên địa danh cổ “Già La“, “Quán La“. Trong Truyện Hồ Tinh có “Lỗ Hồ động“, “Lỗ Hồ đàm“. Kết nối các chuyện có thể thấy La và Lỗ là cùng một từ. Thực ra từ này chỉ hướng Tây vì trong Dịch học phương Tây là phương của lý lẽ – la lỗ.
Bản thân cái tên Thi Hồ cũng có thể là âm khác của Tây vì Tây còn đọc là Xi – Thi. Rõ nhất chính là tên hồ Tây, chỉ hướng Tây, cho dù hồ này không hề nằm ở hướng Tây của thành Thăng Long.
Trong tên con Cáo chín đuôi – Cửu vĩ Hồ thì chữ Cửu cũng là con số chỉ hướng Tây trong Dịch học. Từ Cửu biến ra Cảo, rồi Cáo.
Ba Gia tu
Hoành phi Bà Già Tự ở chùa Phú Gia.
Chữ thứ hai cần giải nghĩa là chữ Hồ. So sánh các địa danh thì có thể đoán chữ Hồ này tương đương với chữ Già trong tên chùa Bà Già, Già La vì Lỗ Hồ = Già La. Chữ Hồ và Già này chỉ điều gì?
Hiện nay tên Già La đang được cho là âm tiếng Chăm Đà da li, cho dù người Chăm cũng chẳng hiểu Đà da li nghĩa là gì. Suy đoán này dựa vào dòng ghi chép chuyện Trần Nhật Duật trong Đại Việt sử ký toàn thư:
Nhật Duật thích chơi với người không nói cùng thứ tiếng, thường cưỡi voi đến chơi thôn Bà Già (thôn này có người Chiêm Thành ở tên là Đà-da-li, sau gọi chệch là Bà Già) có khi tới bốn ngày mới về.
Tuy nhiên, những địa danh Bà Già, Già La đã có ít nhất từ thời Đường thì làm sao mà lại do những tù nhân Chiêm Thành bị bắt thời Lý Trần đặt ra được? Đây đúng là những từ tiếng Chiêm, nhưng là thời trước đó nhiều.
Thời trước nữa người Chiêm còn được gọi là người Hồ hay người Di. Đây mới chính là gốc tích của chữ Hồ và chữ Già. Hồ là chỉ người Hồ (người Chiêm). “Hồ thôn” hiểu đơn giản là thôn của người Chiêm. Già – Dạ – Di cũng vậy.
Ba Gia tu bi ky
Bà Già tự bi ký.
Chữ thứ ba trong sự tích Tây Hồ là chữ . Vị thần ở đình Trích Sài được chép là Trấn Tĩnh Bà Vương. Nhưng vị thần tương ứng ở chùa Thiên Niên lại là một vị Đại tiên. Có thể thấy chữ Bà không có nghĩa là nữ mà nghĩa chỉ thần thánh hay thủ lĩnh. Bà Vương = Đại vương. Bà Già nghĩa là thủ lĩnh/thần người Di.
Lịch sử trung đại Việt có nước Tây Bà Dạ hoặc Tây Đồ Di từng liên kết với Nam Chiếu chính là tương ứng với sự tích này. Tây = La = Lỗ. Dạ = Di = Già = Hồ.
Bản thân khu vực Già La còn được gọi là Lâm Ấp. Lâm Ấp cũng là tên gọi chung của Nam Chiếu thời kỳ Lục triều.
Thời Tùy Đường thì phía Tây của sông Nhị Hà là đất của Nam Chiếu (theo Truyện Nam Chiếu trong Lĩnh Nam chích quái). Truyện Hồ Tinh kể con Cửu vĩ Hồ đã biến thành Bạch y man ở chân núi Tản để hại người. Hiểu một cách khác thì trong số những người ở vùng Sơn Tây (núi Tản) có những người nổi loạn được gọi là Cửu vĩ Hồ. Bản thân chữ Bạch là màu trắng chỉ hướng Tây. Bạch y Man cũng tương đương với Tây Di hay Lỗ Hồ, chỉ người Man ở phía Tây sông Nhị.
Truyện Nam Chiếu cho biết người Nam Chiếu từ thời Tấn đến tận thời Tùy liên tục quấy phá vùng Tây Nhị Hà. Đây chính là con Cửu vĩ Hồ được ám chỉ trong truyền thuyết hồ Tây. Phải đến đời Đường Khai Nguyên thì quân Nam Chiếu mới được bình định.
Khởi nghĩa của người Tây Di dưới thời Đường Khai Nguyên là khởi nghĩa của Mai Thúc Loan. Mai Hắc Đế đã tiến chiếm thành Tống Bình, đuổi tướng nhà Đường là Quang Sở Khách phải chạy về nước. Sau đó Mai Hắc Đế thất bại, thành Tống Bình lại về tay nhà Đường. Rất có thể chính sự kiện này là cái cốt của câu chuyện diệt con Cáo chín đuôi ở Hồ Tây dưới thời Đường Khai Nguyên.
Khu vực Phú Thượng – Xuân La là vùng đất cao nhất quanh hồ Tây. Nơi đây đã tìm thấy hàng loạt các mộ cổ thời Lục triều và giếng nước thời Tùy Đường. Hiện nay dưới đình Quán La vẫn còn có một khu mộ cổ xây bằng gạch thời Lục triều, được biết dưới tên Thông Thiền động. Cái hang Cáo chín đuôi vẫn còn di chỉ vật chất là đây.
Mo Luc Trieu
Một mộ cổ trong động Thông Thiền dưới đình Quán La.
Như thế vùng Tây Bắc của hồ Tây đã là khu dân cư tập trung từ thời Lục triều tới Tùy Đường. Rất có thể đây là vùng thành Ô Diên được nói tới thời Hậu Lý Nam Đế – Lý Phật Tử. Truyền thuyết cho biết Lý Phật Tử đã lấy bãi Quân Thần làm ranh giới phân chia Đông – Tây, phía Tây thuộc đất của Lý Phật Tử. Bãi Quân Thân chính là khu vực Chèm – Quy Bộ Đầu. Như thế Lý Phật Tử đã lấy vùng Tây Hồ Tây làm ranh giới với các triều đại Trung Hoa thời Lục triều và thời Tùy.
Hơn nữa, đây có thể là trị sở của Giao Châu theo như sự tích, thứ sử Lư Ngư đã xây trị sở ở đây và xây chùa quán thờ Huyền Thiên. Đối chiếu vào sử Việt, ta thấy đây có thể chính là thành Tống Bình, trị sở của quận Giao Chỉ sau thành Luy Lâu ở Long Biên. Thành Tống Bình là trị sở của quận Giao Chỉ từ năm Tùy Đại Nghiệp (605-616).
Dinh Quan La
Cổng đình Quán La.
Dẫn chứng khác cho vị trí của thành Tống Bình là chuyện quan đô hộ Triệu Xương thời Đường Trinh Nguyên đã gặp Lý Ông Trọng hiển mộng ở bến Chèm. Bến Chèm cạnh gò Quy Bộ Đầu nơi có chùa Bà Già và đình Phú Gia ở trên.
Việc Mai Hắc Đế và sau đó là Phùng Hưng tấn công thành Tống Bình là tấn công khu vực Tây Bắc của hồ Tây này, chứ không phải vùng Nam hồ Tây. Rất có thể Phùng Hưng đã đặt thành Tống Bình là thành Đại La, lấy từ tên nước La – Lỗ của mình. Thành Đại La thời Phùng Hưng còn được gọi là Phượng thành, rất tương ứng với tên thành Ô Diên (ô và diên đều là 2 loài chim).
Chỉ tới khi Cao Biền được cử sang đánh quân Nam Chiếu thì mới xây thành ở phía Nam hồ Tây, lập đô hộ phủ ở đó, xưng Tiết độ sứ Tĩnh Hải quân. Bằng chứng rõ ràng là lớp gạch dưới cùng ở Hoàng Thành nay là gạch Giang Tây quân của Cao Biền. Dưới Hoàng thành không hề phát hiện được các dấu vết kiến trúc thời Lục triều hay đầu thời Đường (khi chưa có chế độ Tiết độ sứ quân).
Chua Khai Nguyen
Chùa Khai Nguyên.
Việt điện u linh ở trên chép khu vực Lư Ngư lập quán nằm “giữa 2 huyện Long Đỗ và Từ Liêm“. Từ Liêm đọc thiết là Chiêm – Chăm, chỉ người Chiêm thì đã rõ. Long Đỗ là khu vực ở phía Đông Nam, gắn với sự tích của thần Bạch Mã – Sĩ Nhiếp.
Từ Cao Biền hồ Tây không gắn với con Cáo chín đuôi nữa (vì người Hồ – Nam Chiếu đã bị Cao Biền đánh bại, xây thành mới), mà gắn với truyền thuyết con Trâu Vàng. Truyện này được đánh dấu trong sự tích Truyện con trâu vàng ở huyện Tiên Du trong Lĩnh Nam chích quái. Con Kim Ngưu chạy từ núi Phật Tích ở Tiên Du Bắc Ninh về đã thành vị thần bảo hộ của hồ Tây từ thời Cao Biền. Cũng Cao Biền đã lấy thần Long Đỗ – Bạch Mã làm thành hoàng cho kinh thành này, đánh dấu việc dời vị trí từ bên Từ Liêm – Chiêm sang Long Đỗ ở phía Nam, từ sông Già La (Thiên Phù) sang sông Tô Lịch.
Kim Ngưu thiết Cừu, chính là con Cừu đá ở chùa Dâu hay con Bò thần Nandin trong đạo Bà la môn. Tiên Du Phật Tích là nơi tu hành của Khâu Đà La trong sự tích Man Nương – Sĩ Nhiếp, đánh dấu một vùng ảnh hưởng phía Đông của thần Long Đỗ – Bạch Mã tới vùng hồ Tây – Thăng Long.
Tây Hồ được hình thành khoảng thời Lục Triều, gắn với người Chiêm Hồ ở phía Tây, được truyền thuyết hóa thành con cáo Cửu vĩ Hồ. Cửu vĩ Hồ bị diệt dưới thời Đường Khai Nguyên. Nhà Đường dùng Huyền Thiên, vị thần của Đạo Giáo để trấn giữ vùng này. Thành Tống Bình được xây dựng tại vùng Tây Bắc hồ Tây. Đến thời Cao Biền dẹp Nam Chiếu đã xây thành mới ở vùng Đông Nam bên sông Tô Lịch, lấy hình ảnh Kim ngưu làm biểu tượng mới cho hồ Tây. Vùng hang Cáo xưa bị quên lãng như chính lịch sử Việt Nam vậy.
Cuu vi ho
Vòng đỏ là khu vực phát hiện các mộ cổ thời Lục Triều đến Tùy Đường.
Câu đối ở chùa Khai Nguyên:
前挹龍城稱勝景
後環牛渚引文闌
Tiền ấp Long thành xưng thắng cảnh
Hậu hoàn Ngưu chử dẫn văn lan.

Dịch:
Ấp trước thành Rồng gọi cảnh đẹp
Vòng sau Trâu bãi dẫn đường văn.

Truyền thuyết con Niên và hoa Đào, đốt pháo, treo câu đối đỏ ngày Tết

Tương truyền rằng, ngày xửa ngày xưa ở Trung Quốc có con thú dữ gọi là “Niên”, trên đầu mọc sừng, hết sức hung dữ. Thú “Niên” quanh năm suốt tháng sống dưới đáy biển, cứ đến đêm giao thừa thì nó mới lên bờ để giết súc vật và hại người.
Vì vậy, cứ đến ba mươi Tết, già trẻ gái trai trong các làng trại đều phải chạy vào rừng sâu núi thẳm khỏi bị thú dữ “Niên” làm hại.
Có năm vào ba mươi Tết, giữa lúc bà con trong thôn Hoa Đào đang dìu già dắt trẻ lên núi lánh nạn…
Hóa ra, thú dữ “Niên” rất sợ mầu đỏ, ánh lửa và tiếng nổ…
Thế là cứ vào ba mươi Tết, nhà nào nhà nấy đều dán câu đối đỏ, đốt pháo hoa, thắp đèn rực rỡ sáng trưng, đón chào Đêm giao thừa. Sáng mồng một Tết, mọi người đi thăm lẫn nhau, chúc mừng nhau. Chính vì thế tập tục này ngày càng được phổ biến rộng rãi và trở thành ngày Tết cổ truyền long trọng nhất của người dân Trung Quốc.

Đọc đoạn sự tích ngày Tết trên dễ dàng nhận ra đây là bối cảnh ở Việt Nam:
– Con Niên ở dưới đáy biển: ở bên Tàu thời cổ có biển không?

– Thôn Hoa Đào: ở Việt Nam có địa danh này, đó là vùng Thái Bình với tên Hoa Đào trang, nơi thờ đức vua cha Bát Hải Động Đình. Hoa Đào trang nằm giáp biển, thật quá chính xác.

– Bản thân hoa Đào nở vào dịp Tết. Thử hỏi ở bên Tàu hoa Đào có nở vào đúng dịp Tết hay không? Hoa “anh đào” của Tàu phải tới tháng 4-5 mới là mùa nở hoa. Tháng Giêng ở Tàu đang là giữa mùa Đông, lấy đâu ra hoa Đào?

Dong BangNghi môn đền Đồng Bằng ở Quỳnh Phụ Thái Bình.

Câu đối ở đền Đồng Bằng, nơi thờ vua cha Bát Hải Động Đình:
Đào giang Động khẩu kỳ thiên tích
Sinh hóa thần tiên vạn cổ truyền.
Trong đền Đồng Bằng có bức chạm một loài thú lạ thân đuôi cá, nhưng mặt thú. Phải chăng đây chính là hình con Niên trong truyền thuyết, sống ở đáy biển, chỉ lên bờ vào đêm Giao thừa?

Con Nien

Con Niên (?) ở đền Đồng Bằng.

Sự tích con Niên với tục đón Giao thừa bằng pháo nổ, hoa đào và câu đối đỏ cho thấy đây chính là phong tục cổ truyền của người Viêt, xuất phát từ vùng đất ven biển Đông. Tết của người Hoa Hạ chính là Tết Việt vì Hoa – Hạ chỉ vùng phương Nam, nơi có Hoa Đào trang với đức vua cha Lạc Long Quân.

Tam Giáo thánh thần

Trong Nam Việt Hùng Vương sử ký (Ngọc phả Hùng Vương viết thời Lê Hồng Đức) có sự hiện diện không phải chỉ của một tín ngưỡng hay tôn giáo, mà có ít nhất tới 3 tôn giáo. Trước hết là khi nàng Âu Cơ sinh được một bào ngọc thì:
Bốn vị thiên tướng hiện ra rất kỳ lạ cùng cầm long bài, tâu rằng: Trời lệnh sai các đại thần vương phù giúp bảo hộ Nam Miên. Vậy ban sắc này!Thiên sứ báo cho Hiền Vương đặt bào ngọc lên chiếc mâm vàng, lệnh cho triều đình các tướng đến tề tựu ở ngôi chùa cổ ở Viễn Sơn, tức Từ Sơn Thiên Quang Hòa Thượng Thiền Thứu Lĩnh, đặt ở trong chùa, chọn quan trai giới chầu hầu, đèn hương không ngớt. Bào này sẽ sinh ra trăm trai thần tướng.
Hiền Vương tuân theo. Tứ đại thần vương lập tức lại làm gió mưa mây sấm, bay lên không biến hóa.

Tu dai thien vuong.png
Tứ đại thiên vương, khắc gỗ chùa Khải Đoan (Buôn Mê Thuật, Đăk Lăk).

Bốn vị Thiên vương đã giáng xuống để hộ giúp thai ngọc nở ra trăm trai. Đây là hình ảnh của Tứ đại Thiên vương, là bốn Thiên thần trong đạo Bà Là Môn.
Trong văn hóa Trung Hoa Tứ đại Thiên vương được gọi là “Phong Điều Vũ Thuận”. Ở nước ta, Tứ đại Thiên vương được thờ dưới tên gọi là Tứ pháp gồm Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện, những vị thần chuyên làm “mây mưa sấm chớp”, đúng như trong Ngọc phả Hùng Vương kể ở trên.
Hình ảnh bào ngọc cũng có thể là xuất phát từ đạo Bà La Môn. Đó là hình ảnh của Linga, vật tượng trưng cho Shiva, là vị thần tối cao trong Tam thần Tạo hóa – Bảo hộ – Hủy diệt của đạo Bà La Môn. Hình ảnh này trong chuyện Tứ pháp là Thạch Quang Phật, được thờ cùng với bộ Tứ pháp.
Tiếp theo trong Ngọc phả Hùng Vương, khi các hoàng tử lớn lên thì: … thấy tám vị thần tướng nhà trời xưng là Bát bộ Kim Cương, vâng sắc chỉ của Thượng Thiên Chư Phật Ngọc Đế sai xuống trợ giúp. Trăm vị vương tử nay đã trưởng thành các bậc thánh thần đôn hậu minh mẫn. Tám tướng phụng mệnh đưa các hoàng tử đến lạy mừng vua cha, trị bình trong nước. Trời ban cho Hiền Vương một lệnh long bài, một quả bảo ngọc thần ấn, một viên ngọc trắng, một thanh kiếm thần, một quyển sách trời, một chiếc thước ngọc, đặt trên mâm vàng, tất cả đều đặt trong chính điện.
Hình ảnh bồ tát Kim Cương là của Phật giáo nhưng “Bát bộ” lại có thể là tượng trưng cho Bát quái, tức là triết lý Đạo giáo.

IMG_5373.JPG
Các vị Kim Cương ở đền Bộ Đầu (Thường Tín, Hà Nội).

Sự xuất hiện của đạo Phật được kể rõ ràng hơn trong Ngọc phả ở đời Hùng Huy Vương:
Một ngày tốt có hương trời, Vua đang ngự ở trong điện, bỗng thấy một lão ông mình vàng mặt ngọc cưỡi mây bay đến. Vua lạy chào rồi mời lão ông vào trong chùa ở chính điện. Lão ông nói:
– Ta là thần miền Tây Vực, cư trú lâu ngày ở biển Giác, chu du trên thuyền Bát Nhã, không nhiễm lòng trần, tẩy niềm tục Niết Bàn. Nay thấy nơi đây có lòng thành cảm cách, râm ran tiếng cầu kinh xướng kệ, cho nên ta cảm ứng mà đến đây.
Vua mừng thầm: Người có lòng thanh tịnh, ý trời sẽ thông.
Trong chốc lát, cụ già lấy trong ống tay áo ra một chiếc móng rồng, một khối ngọc trời, đem trao cho Vua. Liền đó một đám mây ngũ sắc hiện ra sáng loá cả núi rừng. Lão ông bay lên trời mà đi. Vua mới biết đó là đức Phật trên trời giáng ngự. Vua bèn quỳ vọng bái.
Với những dữ kiện “Tây Vực”, “Giác Hải”, “Bát Nhã”, “Niết Bàn” thì có thể thấy Lão ông gặp Hùng Huy Vương là đức Phật Thích Ca. Phật tổ ban cho Vua một khối ngọc và một chiếc móng rồng, sau đó được dùng để làm ấn và kiếm, là hai bảo vật trấn quốc của triều Hùng, truyền cho nhiều đời sau.
Từ đó xã tắc vô lo, triều đình yên tĩnh. Vua nghiệm ra một điều rằng lẽ trời rất mực huyền vi, đối với đạo trời vua dốc lòng ngày một thêm sùng chuộng.
Đây là cách kể của sự kiện đạo Phật được truyền vào nước ta dưới thời Hùng Vương, đã được sùng chuộng và có tác dụng rõ rệt với xã tắc, triều đình.
Một khám phá bất ngờ khác từ Ngọc phả Hùng Vương là sự khai sinh của đạo Giáo tại nước ta qua việc vua Hùng xây thành Cổ Loa. Theo Ngọc phả thì thành Cổ Loa được xây dựng vào thời Hùng Duệ Vương (Hùng Vương thứ 18) nhờ sự giúp đỡ của thần Kim Quy:
Duệ Vương cùng với triều thần trăm quan dời xe vạn thặng đến ở xứ Kinh Bắc, xây thành tên là Cổ Loa. Đô thành rộng nghìn trượng, khoanh tròn như hình con ốc, nay ở tại xã Cổ Loa, huyện Đông Ngạn, nên gọi là thành Cổ Loa. Mới đầu thành xây toàn bị đổ. Bỗng thấy một con rùa vàng trên sông từ phía Đông bơi đến, xưng là Kim Quy giang sứ.
Ngọc phả cung cấp thông tin là Hùng Duệ Vương bị nhà Thục đánh nên đã rời đô về Đông Ngạn. Như thế thời kỳ này đã có sự rời kinh đô, cho dù triều đại không thay đổi. Theo Ngọc phả thì thành Cổ Loa được xây dựng dưới thời Hùng Vương chứ không phải thời Thục An Dương Vương.
Truyện Rùa Vàng trong Lĩnh Nam chích quái cung cấp thêm chi tiết:
… Đắp thành ở đất Việt Thường, thành đắp xong lại sập. Vua bèn lập đàn trai giới, cầu đảo ba tháng. Ngày mồng 7 tháng 3, bỗng thấy một ông già từ phương Tây mà đến thẳng trước cửa thành, vừa đi vừa than rằng:
– Xây dựng thành này biết bao giờ mới xong!
Vua rước vào trong điện, lạy và khóc rằng:
– Ta đắp thành này đã xong lại đổ, hao tổn công sức rồi mà không thành, thế là tại làm sao?
Ông già thưa:
– Ngày nào có sứ giả Thanh Giang cùng đắp với Vua thì thành ấy mới xong.
Như thế Thanh Giang sứ giả Kim Quy được một Lão ông cử đến giúp vua Hùng. Lão ông này là ai?
Di tích ở chính thành Cổ Loa cho biết đó là Huyền Thiên Trấn Vũ (đền Sái, Đông Anh, Hà Nội). Còn ở đình làng Thổ Hà (Việt Yên, Bắc Giang), cách đền Sái không xa, thì cho biết chính Lão Tử – Thái Thượng Lão Quân là người đã cử thần Kim Quy đến giúp xây thành Cổ Loa.

P1320064.JPG
Tượng thờ Lão Tử ở chùa Bổ Đà (Việt Yên, Bắc Giang).

Câu đối ở đình Thổ Hà:
龜解効靈七燿山中傳役鬼
龍能承化五雲庄下記豋僊
Quy giải hiệu linh, Thất Diệu sơn trung truyền dịch quỷ
Long năng thừa hóa, ngũ vân trang hạ ký đăng tiên.
Dịch:
Rùa biết nghiệm linh thiêng, núi Thất Diệu truyền chuyện sai khiến quỷ
Rồng tài mau biến hóa, trang Ngũ Vân lưu tích bốc lên tiên.
Sách Lão Tử minh chép: Lão Tử là quan coi thư viện nhà Chu. Thời U vương, vùng Tam Xuyên bị động đất. Lão Tử dựa vào những biến động của nhị khí âm dương về thời Hạ, Thương, để cảnh cáo nhà vua.
Từ đó có thể thấy, theo Ngọc phả dưới thời Hùng Vương Trị Bình Kiến Phu (đọc lướt là Tru – Chu), khi dời từ Tây sang Đông thì vùng đất xây kinh đô là Tam Xuyên bị động đất, làm cho thành Đông Đô cứ xây là đổ. Lão Tử lúc đó đã đăng đàn cúng tế, lấy lẽ trời đất mà khuyên nhủ vua Chu – Hùng Vương. Sự xuất hiện của Lão Tử thời này đánh dấu sự hình thành của đạo Giáo dưới thời Hùng Vương.
Tam Giáo – ba tôn giáo lớn đều được xuất hiện trong Ngọc phả Hùng Vương là đạo Bà La Môn, đạo Phật và đạo Lão.

Giải nghĩa bài thơ thần vua Hùng cầu tiên trên núi Tây Thiên

Trong bản Ngọc phả Hùng Vương do Hàn lâm viện trực học sĩ Nguyễn Cố phụng soạn năm Hồng Đức thứ nhất (1470) có đoạn kể vua Hùng thứ bảy lên núi Tam Đảo lập Vọng Tiên đàn thành tâm cầu khấn được gặp tiên, nhưng sau ba ngày vẫn không thấy tung tích của thần tiên. Tối hôm đó Vua nằm mộng thấy có thần linh hiện lên đọc cho một bài thơ bốn câu…
Bài thơ này liên quan đến sự xuất hiện của vị tiên ở núi Tây Thiên. Tuy nhiên nó lại khá khó hiểu và ở các bản sao ngọc phả khác nhau chép có hơi khác nhau. Bản Ngọc phả ở xã Hy Cương (Phú Thọ) chép là:
西大山人上,
不見心下相,
會東足名人
尹 居上口旺
Tây đại sơn nhân thượng
Bất kiến tâm hạ tướng
Hội đông túc danh nhân
Doãn cư thượng khẩu vượng.
Taythien 2
Trang bản sao Ngọc phả ở Hy Cương có bài thơ thần trên núi Tây Thiên.
Bài thơ này xưa nay chưa thấy ai dịch và giải nghĩa vì câu từ của nó trúc trắc, khó hiểu. GS Ngô Đức Thọ khi dịch bản ngọc phả Hùng Vương của xã Hy Cương cũng đã không dịch bài thơ này.
Nay xin thử giải mã lời nhắn của thần linh cho vua Hùng trên núi Tây Thiên.
Ở câu thứ nhất, có bản sao ngọc phả khác chép là Tây Thiên 西天 chứ không phải Tây đại 西大. Tây Thiên là địa danh nơi vua Hùng gặp tiên nên khả năng dị bản Tây Thiên là đúng hơn.
Ở câu thứ ba, có bản chép là “túc các” 足各 chứ không phải “túc danh” 足名. “Túc các” mới là đúng, lý do xin xem giải thích ở dưới đây.
Tay Thien
Bản chép bài thơ với mở đầu Tây Thiên.
Ngoài chi tiết chỉ địa danh Tây Thiên thì bài thơ thần báo mộng này thực ra dùng phép “chiết tự” chữ Nho ở tất cả các câu. Chính vì thế nó trở nên đánh đố các bậc túc Nho xưa nay, bí hiểm như lời giáng xuất của thần linh. Các chữ chiết tự trong từng câu như sau:
 – Câu 1: “sơn nhân” 山人 là chiết tự của chữ Tiên 仙. Như thế ý câu đầu là: Tiên ở trên Tây Thiên.
– Câu 2: “tâm hạ tướng” 心下相 là chữ Tưởng 想. Ý câu 2 là: Không thấy được như mong tưởng.
– Câu 3: “túc các” 足各 là chiết tự chữ Lộ 路. Đông Lộ là nơi sau đó vua Hùng gặp bà Ngọc Tiêu.
– Câu 4: “doãn“尹 cư thượng (ở trên) “khẩu” 口 là chữ Quân 君 chỉ vua Hùng.
Như thế đã có thể dịch cả bài thơ này như sau:
Trên Tây Thiên tiên đó
Không thấy điều mong chờ
Gặp người nơi Đông Lộ
Vua sẽ được như mơ.

Vua Hùng thứ bảy sau khi được bài thơ thần này đã xuống núi Tây Thiên, tới chân núi thì gặp được một người con gái tuyệt đẹp tên là Ngọc Tiêu, nhà ở thôn Đông Lộ, là Tiên giáng thế đợi kết duyên với nhà vua. Vua cưới bà Ngọc Tiêu sinh được hoàng thái tử. Về sau vua Hùng thứ bảy cùng vương phi Ngọc Tiêu đã đắc đạo thành tiên, hóa sinh bất diệt…

IMG_1139.JPGBan thờ Tây Thiên quốc mẫu ở đền Sinh tại Đông Lộ, Đại Đình, Tam Đảo.

Những kinh đô đất Việt thời Tần Hán

Dấu vết khảo cổ học ở miền Bắc Việt cho biết một cách chắc chắn là ít nhất thời kỳ đầu của sử Việt đã đóng đô với những thành quách ở những nơi sau:
– Việt Trì ở Phong Châu, Phú Thọ. Tương truyền là kinh đô nước Văn Lang thời Hùng Vương.
– Cổ Loa ở Đông Anh, Hà Nội: kinh đô nước Âu Lạc thời An Dương Vương.
– Luy Lâu ở Thuận Thành, Bắc Ninh: trị sở thời Tây Hán, cho tới thời Đường mới chuyển về thành Đại La.
Vấn đề khúc mắc đặt ra là tại sao An Dương Vương lại không đóng đô ở Việt Trì, nơi Hùng Vương trước đó định đô đã hàng trăm năm? Và nhất là, tại sao chỉ sau một thời gian rất ngắn (triều đại của An Dương Vương tương truyền được có 50 năm), trị sở của khu vực đã lại chuyển sang Luy Lâu, bên kia bờ sông Đuống? Nguyên nhân lịch sử gì dẫn đến việc thay đổi trị sở/kinh đô qua các thời đại như vậy?

Co Loa A3
Các giai đoạn đắp thành ở Cổ Loa (Ảnh: Lại Văn Tới).

Khảo cổ học ở Cổ Loa đã phát hiện tới 4 lớp đắp thành. Trong đó ở lớp thứ 2 niên đại đã xác định là giữa thế kỷ II và III TCN. Như thế lớp thành đất sớm ở bên dưới có niên đại còn sớm hơn thời gian này nhiều. Từ thông tin này có thể đi đến 2 nhận định:
–  Thành do An Dương Vương xây ở Cổ Loa vốn dựa trên vị trí một tòa thành từng tồn tại trước đó khá lâu. Đây có thể là cơ sở để Ngọc phả Hùng Vương cho biết, người đầu tiên xây thành Cổ Loa là Hùng Tuyền Vương, chứ không phải An Dương Vương. Nhận định này giải thích tại sao An Dương Vương sau khi thế ngôi Hùng Vương lại đóng đô ở Cổ Loa, vì  nơi đây vốn đã là một trị sở trung tâm của khu vực từ cuối thời Hùng Vương rồi.
– Các lớp thành do An Dương Vương xây dựng chủ yếu là vào thời điểm giữa thế kỷ thứ III TCN. Như thế, thời điểm An Dương Vương thay thế Hùng Vương vào quãng năm 257 TCN theo như Đại Việt sử ký toàn thư là phù hợp. Điều này cũng đồng nghĩa là An Dương Vương không phải mới xuất hiện trong cuộc chiến với quân Tần dưới thời Tần Thủy Hoàng (quãng 218 TCN).
Như những bài trước đã chỉ ra, thực chất triều Thục An Dương Vương trong truyền thuyết Việt chính là nhà Tần. Năm 257 TCN là năm Tần diệt vị vua cuối cùng của vương triều Chu là Chu Noãn Vương, chính thức bắt đầu một triều đại mới của thiên hạ Trung Hoa. Sau khi lên ngôi thiên tử thống nhất thiên hạ nhà Tần đã cho tiến hành những cuộc xây dựng quy mô lớn như phía Bắc xây Vạn lý trường thành, phía Nam đưa hàng chục vạn người đến đóng thú. Công trình xây dựng của nhà Tần còn lại ngày nay ở Việt Nam chính là thành Cổ Loa. Truyền thuyết Việt chép là An Dương Vương xây thành trên đất Việt Thường.
Câu đối ở đền Thượng Cổ Loa:
Chiêu lăng tùng bách kim hà xứ
Thục quốc sơn hà thượng cố cung.
Dịch:
Tùng bách lăng Chiêu giờ đâu nhỉ
Non sông nước Thục vẫn cung xưa.

Co LoaNghi môn đền Thượng Cổ Loa.

Nút thắt thứ hai cần giải thích là tại sao ngay khi nhà Tần sụp đổ, kinh đô/trị sở của vùng Bắc Việt lại chuyển sang đất Luy Lâu? Tư liệu lịch sử cần đối chiếu cho sự kiện “dời đô” này chính là chuyện của Triệu Đà, vì diệt Tần trên đất Việt không phải An Dương Vương mà là Triệu Đà. Sử ký Tư Mã Thiên, Nam Việt Úy Đà liệt truyện chép rất rõ về việc này:
Rồi dần dần ông [Triệu Đà] dùng hình pháp giết các trưởng lại do nhà Tần đặt ra, dùng những người đồng đảng để thay thế. Khi nhà Tần đã bị tiêu diệt, Đà lập tức đánh chiếm lấy cả Quế Lâm, Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vũ Vương.
Còn Đại Việt sử ký toàn thư chép: Tần Thủy Hoàng mất ở Sa Khâu. Nhâm Ngao và Triệu Đà đem quân sang xâm lấn. Đà đóng quân ở núi Tiên Du, Bắc Giang đánh nhau với vua [An Dương Vương]. Vua đem nỏ thần ra bắn, Đà thua chạy. Bấy giờ Ngao đem thủy quân đóng ở Tiểu Giang (tức là [con sông] ở phủ Đô hộ, sau lầm là Đông Hồ, tức là bến Đông Hồ ngày nay), vì phạm thổ thần nên bị bệnh, phải rút về. Nhâm Ngao bảo Đà rằng: “Nhà Tần sắp mất, dùng mưu kế đánh Phán thì có thể dựng nước được”. Đà biết vua có nỏ thần, không thể địch nổi, bèn lui giữ núi Vũ Ninh, sai sứ đến giảng hòa. Vua mừng, bèn chia từ Bình Giang (nay là sông Thiên Đức ở huyện Đông Ngàn) trở lên phía Bắc thuộc quyền cai trị của Đà, trở về phía Nam thuộc quyền cai trị của vua.
Đoạn kể của truyền thuyết Việt trên cung cấp những thông tin quan trọng để xác định vị trí khởi điểm của Nhâm Ngao và Triệu Đà. Nhâm Ngao thực chất là một viên quan đóng trị sở ở vùng sông Tiểu Giang, tức là ở quãng bến Đông Hồ, hay Thuận Thành, Bắc Ninh ngày nay. Khu vực này được biết dưới tên “huyện Long Xuyên”, là nơi sau đó Triệu Đà tiếp vị của Nhâm Ngao.
Nhâm Ngao đã bị bệnh và chết ở vùng Bắc Ninh ngày nay, mà sự việc này còn được kể trong Truyện Giếng Việt, khi Thôi Vĩ chữa bệnh cho Nhâm Ngao rồi ngã xuống hang ở núi Châu Sơn. Núi Vũ Ninh hay núi Châu Sơn nay thuộc Quế Võ, Bắc Ninh, cũng là nơi Triệu Đà đóng quân khi đánh Tần (đánh An Dương Vương).
Đoạn trích của Đại Việt sử ký toàn thư đã dẫn ở trên cho biết, Triệu Đà và An Dương Vương đã lấy sông Thiên Đức, tức là sông Đuống, làm ranh giới phân chia khu vực quản lý. Triệu Đà giữ vùng bên này sông, tức là chiếm vùng phía Đông. An Dương Vương đóng ở thành Cổ Loa là phía Tây.
Như vậy, vùng Bắc Ninh là căn cứ ban đầu của cuộc khởi nghĩa Triệu Đà chống là nhà Tần (Thục) nên đây chính là lý do vì sao khi khởi nghĩa thành công, lập nước thì trị sở vùng Bắc Việt lại chuyển sang bên này sông Thiên Đức. Để rồi tồn tại ở đó với thành Luy Lâu kéo dài hơn 800 năm.
Dấu vết thờ Triệu Đà ở khu vực này tới nay còn khá dày đặc, với các di tích ở vùng Từ Sơn (Bắc Ninh), Xuân Quan (Hưng Yên) hay ở đầu sông Đuống là làng Văn Tinh (Xuân Canh, Đông Anh).

Van Tinh.jpg
Gian tiền tế đình làng Văn Tinh, Xuân Canh, Đông Anh (Ảnh: Nguyễn Huân).

Lý giải lịch sử cho việc dời trị sở này còn có thể đối chiếu với… Cao Tổ bản kỷ trong Sử ký Tư Mã Thiên. Cao Tổ Lưu Bang vốn là sinh ra ở vùng đất Phong, lớn lên làm đình trưởng rồi khởi nghĩa chống Tần ở đất Bái. Tuy nhiên, tướng được cử giữ đất Phong lúc đó là Ung Xỉ lại làm phản, không theo Lưu Bang, nên đã làm cho cuộc khởi nghĩa ban đầu trở nên rất gian nan. Lưu Bang đến khi thắng được Hạng Vũ rồi lên ngôi thiên tử, chỉ trở về thăm đất Bái và vẫn ghi nhớ mối thù với đất Phong, định không cho vùng đó được miễn thuế dù là nơi quê hương của ông.
Đất Phong hay Phong Châu, là vùng đất tổ từ thời Hùng Vương. Bản thân vùng Đông Ngàn Cổ Loa thời Hán gọi là Phong Khê. Còn đất Bái là vùng phía Đông, nơi Lưu Bang – Triệu Vũ Đế trảm xà khởi nghĩa. Cũng vì món nợ của đất Phong đó mà Lưu Bang đã không lấy Phong Khê – Cổ Loa làm trị sở cho vùng đất quê hương khởi nghiệp khai cơ của mình. Việc này dẫn đến xuất hiện trung tâm Luy Lâu phía bên này sông Thiên Đức thay thế cho vai trò của thành Cổ Loa thời Tần (An Dương Vương).
Câu đối ở đền Cổ Loa:
螺形險固天若或主之幾朝代幾桑滄甌貉神京終不改
龜爪靈光今無復見矣此人民此城郭封溪王烈恍然存
Loa hình hiểm cố thiên nhược vực chủ chi, kỷ triều đại kỷ tang thương, Âu Lạc thần kinh chung bất cải
Quy trảo linh quang kim vô phục kiến hỹ, thử nhân dân thử thành quách, Phong Khê vương liệt hoảng nhiên tồn.

Vương quốc Lĩnh Nam

Khái niệm “Lĩnh Nam” trong lịch sử hiện nay đang được hiểu là phía Nam dãy núi Ngũ Lĩnh, là loạt dãy núi ở vùng ranh giới các tỉnh Hồ Nam, Giang Tây, Quảng Đông, Quảng Tây của Trung Quốc, ngăn cách vùng Lưỡng Quảng với phần lãnh thổ phía bắc của vùng Giang Nam. Ngũ Lĩnh ở đây là đường phân thủy giữa hai con sông lớn là Dương Tử và Châu Giang. Khái niệm này còn dùng chỉ khu vực nước Nam Việt của nhà Triệu trong các cuộc đối đầu thời Tần Hán.
Tuy nhiên, đọc kỹ lại cổ thư thì danh từ Lĩnh Nam không hề được sử dụng để nói về vùng này, cũng như không gặp trong thư tịch cổ nói về thời Tần Hán. Tác phẩm Lĩnh Nam chích quái là tập hợp những truyền thuyết Việt từ xa xưa, nhưng trong bộ sách này không có những chuyện ở Lưỡng Quảng mà chỉ có ở khu vực miền Bắc nước ta hiện nay. Vậy Lĩnh Nam đây đâu phải là phía Nam dãy Ngũ Lĩnh ở Quảng Đông Quảng Tây. Lĩnh Nam là chỉ khu vực miền Bắc Việt mới đúng.
Lĩnh Nam là địa danh gặp ở ngay dòng đầu tiên trong truyền thuyết dựng nước của người Việt. Truyện họ Hồng Bàng: Đế Minh, cháu ba đời của Viêm Đế Thần Nông sinh ra Đế Nghi, sau nhân đi tuần về phía Nam, đến núi Ngũ Lĩnh lấy được con gái của Vụ Tiên, rồi trở về sinh ra Lộc Tục.
Ngọc phả Hùng Vương  (bản năm Thiên Phúc nguyên niên, thời Lê Đại Hành) chép: Sử ký Việt Nam. Thời thượng cổ là Giao Chỉ, đổi thành động Xích Quỷ, tên là nước Xích Quỷ. Kinh Dương Vương nhận vị từ ngày 15 tháng 2 năm Nhâm Tuất, tuân mệnh đi tuần ở núi Ngũ Lĩnh, gọi là động Bạch Hổ Vân Nam.
Lĩnh Nam là nơi Kinh Dương Vương lên ngôi trị vì (Đế Minh phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam). Bản Ngọc phả Hùng Vương thời Hồng Phúc còn cho biết trong 15 bộ của nước Văn Lang thì bộ thứ 14 là “Ngũ Lĩnh sơn Vân Nam“.
Như thế danh từ “Lĩnh Nam” trong huyền sử Việt chính xác phải là Ngũ Lĩnh Vân Nam, chỉ khu vực vùng núi phía Bắc nước ta ngày nay. Vị trí của Ngũ Lĩnh Vân Nam này được mô tả đầy đủ trong Ngọc phả Hùng Vương (bản thời Hồng Phúc):
Vua [Kinh Dương Vương] bèn thân ngự giá lên núi, tìm mạch đất, nhận thấy khí mạch từ núi Côn Lôn xuất ra, theo từ động núi Ngũ Lĩnh Vân Nam đại quốc, tiếp gặp Ải Môn Ngưỡng Đức thủy hồng, như hình chữ Bát. Xuyên núi thấu mạch dẫn tới Cao Bình, Lạng Sơn, Càn Hải chín châu. Các núi cao vút, bỗng nổi lên thành ba ngọn núi [Tam Đảo], rồng trắng giáng khí ở châu Thái Nguyên, chợ trời bàn đá [Thiên Thị Thạch Bàn], nước chảy khe trên, ngược núi ngược sông, mạch dẫn liên miên…
Vùng Ngũ Lĩnh Vân Nam ở gần các dãy núi Cao Bằng, Lạng Sơn, Tam Đảo, Thái Nguyên như thế là chỉ khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam ngày nay, chạy dọc theo dãy núi Hoàng Liên Sơn từ Vân Nam tới ngã ba Việt Trì, tức là quãng các tỉnh Phú Thọ, Lào Cai, Tuyên Quang ngày nay.
Việc định vị dãy Ngũ Lĩnh trong cổ sử Việt thành ra dải núi ở phía Bắc Quảng Đông Quảng Tây dẫn đến sai lệch hoàn toàn nguồn gốc xuất phát của người Việt. Với cách hiểu này người ta đã biến thời điểm lập quốc họ Hùng của Đế Minh và Kinh Dương Vương thành ra vương quốc Lĩnh Nam mới chỉ hình thành vào thời Tần Hán khi mà nhà Tần dẫn quân đánh phương Nam và Triệu Đà lập nước Nam Việt.

ngu-linh.png
Vị trí Lĩnh Nam trong sử Việt và các quận phía Nam thời Tần.

Xem xét tất cả các thư tịch về thời Tần Hán cũng đều không hề thấy nói tới từ Lĩnh Nam như sự gán ghép trên. Tư liệu thường được trích dẫn khi nói về cuộc tấn công của nhà Tần xuống phương Nam là đoạn chép trong sách Hoài Nam tử, phần Nhân gian huấn:
Vua Tần chiếm 6 nước, xem truyện này như sau: “Nhà Tần vong, tại sao vậy?”. Nguyên nhân là sai Mông Công và tướng Tương Ông Tử xây sửa thành. Phía Tây chiếm Lưu Sa, phía Bắc  đánh sông Liêu, phía Đông thì liên kết với Triều Tiên, các quận của trong nước phải kéo xe đi chinh chiến. Lại ham những món lợi như sừng tê giác, ngà voi, ngọc phỉ thúy, trân châu, nên sai quan úy Đồ Thư mang 50 vạn quân, chia làm 5 đạo. Một đạo đóng ở vùng Đàm Thành, một đạo phòng thủ ở chỗ hiểm yếu Cửu Nghi, một đạo đóng ở đô thành Phiên Ngung, một đạo đóng ở nơi biên giới Nam Dã, một đạo đóng ở sông Dư Can. Ba năm quân không cởi giáp giãn nỏ. Sử Giám Lộc không tìm được hướng đi mới sai lính đào kênh để chuyển binh lương đánh người Việt, giết thủ lĩnh Tây Âu là Dịch Hu Tống.
Đoạn trích trên cho dù đã mô tả rất kỹ cuộc tấn công của Tần xuống phía Nam, nhưng không hề gọi vùng đó là Lĩnh Nam. Địa danh được nhắc tới ở đây là Tây Âu, với quân trưởng lúc đó là Dịch Hu Tống.
Một đoạn khác về việc Tần đánh phương Nam trong Sử ký Tư Mã Thiên, Tần Thủy Hoàng bản kỷ: Năm thứ 33, (Tần Thủy Hoàng) đưa những người thường trốn tránh, những người ở rể và những người đi buôn đánh lấy đất Lục Lương, lập thành Quế Lâm, Tượng Quận, Nam Hải cho những người bị đi đày đến đấy canh giữ.
Đoạn Sử ký này cũng không hề nói đến địa danh Lĩnh Nam. Khu vực Tần đánh chiếm ở đây được gọi là đất Lục Lương.
Có thể thấy, sự kiện Tần đánh Việt có tới 2 mô tả khác nhau như ở trên. Hoài Nam tử cho biết đây là cuộc tấn công quy mô lớn với 50 vạn quân, chia thành 5 đạo đi theo các hướng khác nhau, do một đại tướng của Tần là Đồ Thư cầm đầu, diệt được vùng Tây Âu. Trong khi đó Sử ký Tư Mã Thiên lại mô tả việc này như một “trò đùa”, Tần Thủy Hoàng dùng những người lưu vong, ở rể, thương gia, đến lấy đất lập 3 quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng. Sự thật thì không thể có việc chiếm một vùng đất đai rộng lớn như vậy lại dùng đám hỗn quân lộn xộn như thế.
Nam Việt Úy Đà liệt truyện thì chép: Thời Tần đã hợp nhất thiên hạ, chiếm lấy Dương Việt đặt các quận Quế Lâm, Nam Hải, Tượng, đưa những người bị đi đày đến ở cùng người Việt, được 13 năm.
Đọc kỹ đoạn này ta thấy việc Tần Thủy Hoàng đưa người bị đi đày đến 3 quận trên đất Việt là để “sống cùng với người Việt” bản địa, chứ không phải việc tiến quân đánh chiếm. Việc dời dân đến 3 quận này hoàn toàn khác với việc Đồ Thư dẫn 50 vạn quân đánh phương Nam ở trên.
Sự kiện Đồ Thư dẫn quân Tần đánh qua đất Tây Âu như thế phải là một sự kiện khác, xảy ra trước thời Tần Thủy Hoàng. Thực ra, nó xảy ra dưới thời Tần Chiêu Tương Vương, hay cuối thời Chu Noãn Vương.
Thiên Nam ngữ lục có đoạn thơ kể về chuyện của Lý Ông Trọng vào thời điểm như sau:

Kể từ Hùng tổ trị dân
Lên ngôi sánh với thánh nhân Đào Đường
Tới nay Chu mạt Noãn Vương
Ông cha con cháu giữ giàng trị dân…
Ấm bao nhiêu, rét bấy nhiêu
Vườn Chu ải giậu, Tần trèo đãng hoa.

Chu Noãn Vương bị Tần diệt năm 256 TCN, cũng là lúc có Lý Ông Trọng là người Việt làm quan cho nhà Tần. Như thế Tần chiếm đất Việt đã là từ lúc này, chứ không phải tới mấy chục năm sau khi Tần Thủy Hoàng lên ngôi.
Sự kiện Tần đánh Việt được huyền sử Việt chép bằng câu chuyện Thục An Dương Vương đánh và nhận ngôi vị của Hùng Vương. Tần lúc này đã chiếm vùng đất Thục, hoặc chính gốc Tần là ở đất Thục nên Thục cũng chính là Tần. Thục tiếng Việt nghĩa là Chín (đồ chín). Còn Tần cũng được đọc là Chin(a) trong tên gọi tiếng Anh cho Trung Quốc ngày nay.
Miền đất Việt đã bị quân Tần do Đồ Thư, Sử Lộc xâm chiếm vào năm 256 TCN. Tới thời Tần Thủy Hoàng, thống nhất các nước chư hầu, cho thiết lập chế độ quận huyện trên toàn quốc thì mới có sự việc di dân đến 3 quận ở phía Đông đất Việt (Dương Việt). Khả năng những người dân được di cư đi từ vùng đất Âu Lạc mà Tần đã chiếm trước đó, sang vùng đất cảu 3 quận bên cạnh.
Tần Thủy Hoàng bản kỷ chép: Năm thứ 34, đem đày những quan coi ngục không thanh liêm đi xây Trường Thành cùng với đất Nam Việt.
Rõ ràng mục đích di dân ở đây là để xây dựng cho nhà Tần, chứ không phải đánh chiếm đất đai của nước khác. Cũng chính trong việc đưa ly dân đi làm xây thành đắp đường này mà đã làm nảy sinh cuộc khởi nghĩa của Triệu Đà như được kể tới trong thần tích về Triệu Vũ Đế ở Chân Định – Kiến Xương:
Năm thứ 44 thời An Dương Vương, kỷ nhà Thục (Tần Thủy Hoàng năm 33) nhà Tần sai Hiệu úy Sử Lộc đem thuyền chở quân sĩ đào ngòi vận chuyển lương thực thâm nhập vùng Lĩnh Nam, chiếm đất Lục Lương đặt các quận Quế Lâm, Nam Hải, Tượng Quận, cho Nhâm Hiêu làm Nam Hải úy, Đế [Triệu Đà] làm Long Xuyên lệnh (tức huyện Nam Hải), đem bọn bị biếm trích đến đóng ở Ngũ Lĩnh (năm ấy Đế 31 tuổi).
Triệu Đà là một huyện lệnh nhỏ ở Long Xuyên đã đưa dân phu đi xây dựng ở vùng Ngũ Lĩnh, tức là vùng núi Hoàng Liên Sơn ngày nay. Sau đó Triệu Đà cùng dân phu bỏ trốn, lên núi Vũ Ninh (Châu Sơn) ở Bắc Ninh, để ẩn náu, chống lại nhà Tần.
Hoài Nam tử kể: … Vì vậy người Việt vào rừng rậm sống chung cùng muông thú, không chịu để quân Tần bắt làm tù binh. Họ chọn người tài trí và kiệt tuấn làm tướng, cứ đến đêm tối tấn công quân Tần, đạt được chiến thắng lớn, giết quan úy Đồ Thư, quân Tần chết cả chục vạn. (Tần) Bèn cử người đến đóng giữ.
Người tuấn kiệt được chọn làm thủ lĩnh kháng Tần lúc này chính là Triệu Đà, người mà ngay sau khi Tần Thủy Hoàng mất đã chiếm lại toàn bộ vùng đất phương Nam gồm quận Long Xuyên và 3 quận Tần đã lập ra trên đất Việt là Quế Lâm, Nam Hải và Tượng.
Có một điểm liên quan đến sự kiện di dân dưới thời Tần Thủy Hoàng trên đất Việt là câu cuối trong đoạn trên. Nguyên văn trong Hoài Nam tử là: 乃發適戍以備之 Nãi phát trích thú dĩ bị chi. Tương tự, Tần Thủy Hoàng bản kỷ đoạn này cũng viết: 以適遣戍 Dĩ thích khiển thú. Hiện câu này đang được dịch nghĩa là: đưa những người bị biếm trích đến đóng giữ.
Tuy nhiên chữ dùng ở đây không phải là Trích 謫 (trong “biếm trích”), mà là Thích 適. Chữ Thích 適 này có nghĩa chính là: Con gái xuất giá. Như: “thích nhân” nghĩa là con gái về nhà chồng. Hay nghĩa như trong từ “thân thích”.
Dĩ thích khiển thú do đó có thể hiểu là: dùng người bên nhà rể để đóng giữ.
Thật bất ngờ khi hiểu tư liệu theo nghĩa dịch này lại trùng khớp với sự tích Lý Ông Trọng ở Việt Nam. Lý Thân được Tần Thủy Hoàng gả con gái là Bạch Tĩnh Cung công chúa cho. Sau đó Lý Thân được cử đi trấn thủ người Hồ ở đất Lâm Thao. Lâm Thao có thể tương đương nghĩa với Lâm Ấp hay Lĩnh Nam. Trị sở của khu vực mà Lý Ông Trọng trấn thủ là tại vùng đất Bắc Việt ngày nay.

IMG_3663
Nghi môn trong đền Cổ Loa.

Khi đã xác định Thục chính là Tần thì suy ra thành Cổ Loa của Thục An Dương Vương là trị sở được nhà Tần xác lập trên vùng đất Việt. Người cầm đầu khu vực phương Nam lúc đó là Lý Thân, con rể của Tần Thủy Hoàng. Hiện trong đền Cổ Loa vẫn còn tượng và tục thờ Lý Ông Trọng, xác chứng thêm cho nhận định này.
Câu đối ở đình Chèm, là đền thờ Lý Ông Trọng còn nói tới liên quan giữa Lý Ông Trọng và nhà Tần sau khi thống nhất lục quốc:
六合銷兵想見雄威驚絶域
千秋遺廟疑然正氣障狂瀾
Lục hợp tiêu binh, tưởng kiến hùng uy kinh tuyệt vực
Thiên thu di miếu, nghi nhiên chính khí chướng cuồng lan.
Dịch:
Sáu nước tan binh, oai hùng nhớ thấy khiếp biên cõi
Nghìn thu để miếu, chính khí như còn chặn sóng hung.

Nguồn gốc biểu tượng Lưỡng long chầu Thái cực

Có một hình tượng được sử dụng rất rộng rãi trong các công trình kiến trúc cổ đó là hình Lưỡng long chầu nhật/nguyệt. Hình tượng này có thể gặp ở khắp nơi, từ trên nóc mái kiến trúc, tại chính điện những nơi thờ cúng, trên cửa võng, hương án,… Một hình tượng phổ biến như vậy chắc chắn phải có nguồn gốc và ý nghĩa sâu xa.

IMG_1509Lưỡng long chầu Thái cực trong kiến trúc hiện đại.

Trong bài trước đã xác định, hình cầu bốc lửa ở giữa mà đôi rồng chầu vào là Thái cực đồ, bao gồm 4 yếu tố trong Tứ tượng là Thái âm, Thái dương, Thiếu âm, Thiếu dương. Hình tượng này còn có tên khác là Nhật nguyệt tinh thần, là 4 vì tinh tú biểu tượng cho Tứ tượng trong Thái cực đồ. Vậy thời xưa, Thái cực đồ được thể hiện như thế nào?

NNTTNhật nguyệt tinh thần trên Thái cực đồ.

Triết gia đời Tống Chu Đôn Di (1017-1073) viết “Thái Cực Đồ thuyết”: “Vô cực” là chưa thành “thái cực”. “Thái cực” hoạt động tạo ra dương, khi chuyển động đến giới hạn, nó trở nên tĩnh. Trong tĩnh, nó tạo ra âm, tới cực đại, nó lại hoạt động. Động và tĩnh chuyển hóa, cái này là nền của cái kia. Khi âm và dương đã phân hóa, hai trạng thái xuất hiện. Sự chuyển hóa và kết hợp của âm và dương tạo ra kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Với ngũ hành, các thời kỳ biến đổi của khí được sắp xếp hài hòa, qua đó bốn mùa được tiếp diễn. Ngũ hành đơn giản là âm và dương, âm và dương chẳng qua chính là thái cực, thái cực có nền tảng từ vô cực. Do vậy, trong quá trình tạo ra ngũ hành, mỗi hành đều chứa đựng bản chất riêng của nó.
Chu Đôn Di cung cấp đồ hình Thái cực lúc đó ở dạng các vòng tròng đen trắng xen lẫn nhau. Có thể thấy, trong Thái cực gắn liền với Ngũ hành. Cách thể hiện Thái cực đồ này cũng có gặp ở Việt Nam, trên một số viên gạch dùng để trang trí chùa thời Trần .

thai-cuc.png
Thái cực đồ của Chu Đôn Di

Trong thời kì nhà Minh (1368-1644) bắt đầu xuất hiện các đồ hình vòng xoáy thể hiện Thái cực rồi trở thành hình Thái cực hiện đại như ngày nay.
Vậy trước thời Tống liệu đã có Thái cực đồ chưa và Thái cực đồ lúc trước được thể hiện như thế nào?
Thái cực đồ của các thời kỳ trước nữa có thể tìm thấy thông qua hình ảnh của 2 con rồng chầu đồ hình ở giữa. Một đồ hình tròn, với 1 chấm nổi ở giữa và 4 chấm chìm xung quanh, được 2 con rồng chầu vào, là hình khắc trên đá mộ thời Bắc Ngụy (thế kỷ V).

Song LongLưỡng long chầu thời Bắc Ngụy.

Hình tròn ở giữa 2 con rồng chầu tương ứng với vị trí của Thái cực đồ , do đó có thể nhận định đây là một dạng thể hiện Thái cực đồ với các chấm tròn là biểu tượng của Ngũ hành như trong liên hệ của Chu Đôn Di ở trên.
Như đã từng biết, các hình tượng trong “Long sinh cửu tử”, những đứa con của Rồng từ Bị hí, Trào phong, Si vẫn, … đều có nguồn gốc từ các trang trí trên đồ đồng thời Thương Chu. Những hình tượng này được sử dụng rộng rãi trong kiến trúc truyền thống của đình đền miếu, cung điện… So sánh một cách hợp lý thì rõ ràng hình tượng Lưỡng long chầu Thái cực cũng sẽ thấy trên đồ đồng thời Thương Chu.

Ngu hanh do.jpgHoa văn Quỳ chầu trên đồ đồng thời Chu.

Hoa văn trên đồ đồng thời Chu có hình 2 con Quỳ (rồng 1 chân) đang hướng vào một vòng tròn với một chấm tròn ở giữa và 5 vòng xoáy xung quanh. Đồ hình này khá phổ biến trên đồ đồng thời Chu, ví dụ như trên một chiếc Vu thời Thương hiện lưu ở Bảo tàng cố cung Đài Loan.

Dai Loan.jpgHình tròn có 5 vòng xoáy trên một chiếc Vu đồng thời Thương.

Với vị trí ở giữa có rồng chầu như vậy, rõ ràng đây chính là biểu tượng của Thái cực đồ với Ngũ hành bên trong (Ngũ hành đồ?).
Hình tượng 2 con Quỳ chầu hình tròn được dùng để trang trí khắp trên một chiếc bình đồng khác của thời Chu. Điểm khác là trong hình tròn này chỉ có 4 vòng xoáy. Có thể nhận định tương đương với đồ hình Tứ tượng, như trong hình khắc đá thời Bắc Ngụy.

IMG_2033.JPGBình đồng có hình 2 con Quỳ long chầu Thái cực đồ.

Như vậy, hình tượng Lưỡng long chầu Nhật nguyệt có nguồn gốc từ thời Thương Chu, ban đầu là các hình tượng trên đồ đồng dùng cúng tế của thời kỳ này. Hình tượng Thái cực đồ ban đầu này có dạng là hình tròn, có 1 chấm ở tâm với 4 hoặc 5 vòng xoáy nhỏ xung quanh. Đây là dạng sơ khai nhất của Thái cực đồ còn được nhận ra.

Bí ẩn cột kinh chùa Nhất Trụ: Đại Thánh Minh hoàng đế Lê tổ là ai?

Chùa Nhất Trụ ở Ninh Bình, ngôi chùa cổ nằm cạnh khu di tích Hoa Lư, nơi có đền thờ các vua Đinh, vua Lê. Chùa này có cái tên nổi bật bởi cây cột kinh phật đá lớn cao hơn 8 m. Chiếc cột kinh chùa Nhất Trụ này được được công nhận là bảo vật quốc gia.
Trên tám mặt của thân cột khắc đầy chữ Hán, nhưng trải qua thời gian hơn 1.000 năm, nửa dưới và ba mặt nửa trên cột đã bị mờ hoàn toàn. Năm mặt nửa trên còn lại cũng không đọc được nguyên vẹn. Nếu còn nguyên vẹn, ước khoảng 2.500 chữ, giờ đây số chữ có thể khổ tâm đọc được hoặc nhận dạng là 1.200 chữ. Theo TS. Đặng Công Nga, nội dung văn tự có 3 phần: kệ, kinh, lạc khoản. Nội dung văn tự là kinh Thủ Lăng Nghiêm, ca ngợi sự bền vững của Đức Phật, sự to lớn bao trùm của tài năng Phật Như Lai…

IMG_9208.JPG
Cột kinh chùa Nhất Trụ.

Tìm hiểu niên đại của cột bia này dựa trên dòng lạc khoản ở mặt cột phía Tây Nam còn đọc được là: Đệ tử Thăng Bình hoàng đế tả tạo…
Đại Việt sử ký toàn thư, Kỷ nhà Lê, Đại Hành hoàng đế chép:
Tân Tị, năm thứ 2 (981). Mùa xuân tháng 3, Hầu Nhân Bảo và Tôn Toàn Hưng đến Lạng Sơn, Trần Khâm Tộ đến Tây Kết, Lưu Trừng đến sông Bạch Đằng. Vua tự làm tướng chống giữ, sai binh sĩ đóng cọc ngăn sông, quân Tống rút lui. Lại tiến đến sông Chi Lăng. Vua sai binh sĩ giả hàng để dụ Nhân Bảo, bắt được chém đi. Bọn Khâm Tộ nghe tin thủy quân thua đem quân về. Vua đem các tướng đuổi đánh, quân Khâm Tộ thua to, chết quá nửa, thây chất đầy đồng, bắt được tướng là Quách Quân Biện, Triệu Phụng Huân đem về Hoa Lư. Từ đấy trong nước yên tĩnh.
Bầy tôi dâng tôn hiệu là Minh càn Ứng vận Thần vũ Thăng bình Chí nhân Quảng Hiếu Hoàng đế.

Với tôn hiệu lầ Minh Càn Ứng Vận Thần Vũ Thăng Bình Chí Nhân Quảng Hiếu Hoàng đế này thì có thể xác định người đã cho dựng cột kinh chùa Nhất Trụ là vua Lê Đại Hành.
Tuy nhiên, ở m
ặt hướng về phía Tây của cột, là mặt chữ còn khá rõ, ghi:
Bát Nhã tiền việt hải chi ba huề hương … Đại Thánh Minh hoàng đế Lê tổ tự thừa thiên mệnh đại định sơn hà thập lục niên lai…
GS. Hà Văn Tấn dịch là: Thuyền Bát Nhã trước vượt sóng biển mang về bản hương, Đại Thánh Minh hoàng đế tổ họ Lê tự mình kế tiếp mệnh trời, cả định non sông đến nay là 16 năm…
Dịch như thế có chỗ không hợp lý. Đã là “thiên mệnh” thì làm sao có thể “tự mình” kế tiếp được? Chữ “tự” ở đây đúng hơn cần hiểu là “từ lúc”. Đoạn bia trên dịch lại là: Thuyền Bát Nhã trước vượt sóng biển mang về bản hương, Đại Thánh Minh hoàng đế tổ họ Lê từ lúc kế tiếp mệnh trời, cả định non sông đến nay là 16 năm…
Như vậy thời điểm dựng cột bia này là 16 năm tính từ lúc một vị vua “tổ họ Lê” là Đại Thánh Minh hoàng đế lên ngôi, mở triều đại mới. Các nhà nghiên cứu hiện nay dựa vào chữ “tổ họ Lê” ở đây mà cho rằng Đại Thánh Minh hoàng đế cũng là Lê Đại Hành. Nhưng như vậy thật rối rắm và vô nghĩa khi mà Lê Đại Hành trên xưng mình là “Thăng Bình hoàng đế”, dưới lại là “Đại Thánh Minh hoàng đế”. Hơn nữa Lê Đại Hành còn đang sống thì làm sao tự gọi mình là “tổ” được?
Đại Thánh Minh hoàng đế theo cách dễ hiểu nhất phải là vị vua trước Lê Đại Hành. Người trước Lê Đại Hành đã “cả định non sông” thì rõ ràng là Đinh Tiên Hoàng. Vua Đinh lên ngôi năm 968, tính đến năm Lê Đại Hành sau khi phá Tống xưng là Thăng Bình hoàng đế (981) là 14 năm. Cột bia được dựng sau đó khoảng 2 năm là phù hợp với tôn hiệu Thăng Bình hoàng đế.
Đinh Tiên Hoàng được sử sách chép có danh xưng là Đại Thắng Minh hoàng đế, rất gần với tên Đại Thánh Minh hoàng đế trên cột bia. Rất có thể sử sách đã chép lầm chữ Thánh thành Thắng.
Khả năng khác: Thánh Minh đọc thiết là Thinh hay Đinh. Thắng Minh cũng đọc thiết là Đinh. Đây là 2 cách phiên thiết của cùng một chữ Đinh, tên hiệu của Đinh Tiên Hoàng.
Vấn đề quan trọng nhất, theo cột bia chùa Nhất Trụ thì Lê Đại Hành không phải là vị vua khai triều và tổ của các vua Lê. Vị “Lê tổ” là Đại Thánh Minh hoàng đế, tức Đinh Tiên Hoàng. Đây là một bí mật được bộc lộ từ văn bia. Vua Đinh thực chất có họ Lê, là vị vua khai triều của nhà Tiền Lê trước Lê Hoàn.
Vì Đinh Tiên Hoàng và Lê Hoàn đều mang họ Lê nên cuộc chuyển giao vương quyền giữa 2 vị vua này là một việc truyền ngôi bình thường, không có chuyện Lê Hoàn đoạt vị của nhà Đinh. Họ Đinh của Đinh Tiên Hoàng do đó là một dạng tên xưng, chứ không phải họ thật. Đinh là từ chỉ hướng Tây, tương đương với từ Tĩnh trong Tĩnh Hải quân thời kỳ này. Vua Đinh lấy chữ Đinh làm họ vì là người cai quản Tĩnh Hải quân (Tiết độ sứ).
Như vậy, cột kinh chùa Nhất Trụ được lập nên vào năm 983 khi sau khi Lê Đại Hành phá Tống. Cột kinh như một cột mốc lịch sử cho 16 năm của triều Tiền Lê, giữ vững đất nước trước giặc ngoại xâm kể từ vị Lê tổ Đinh Tiên Hoàng tới Thăng Bình hoàng đế Lê Hoàn.

IMG_9188
Đình Yên Thành, cạnh chùa Nhất Trụ.

Câu đối ở đình Yên Thành, nơi thờ vua Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành ở cạnh chùa Nhất Trụ:
桑劍蘆旗芳跡古
金臺銀地故宮春
Tang kiếm lô kỳ phương tích cổ
Kim đài ngân địa cố cung xuân.
Dịch:
Kiếm dâu cờ lau, còn thơm dấu cũ
Đài vàng đất bạc, xuân mãi cung xưa.