Cô Tấm và ông Bụt

Nguyên phi Ỷ Lan được biết là rất coi trọng đạo Phật, cho xây nhiều chùa chiền mà các di tích khảo cổ và tín ngưỡng vẫn còn để lại cho đến ngày nay. Tuy nhiên, thực sự là dòng phái Phật giáo nào đã giúp cho Nguyên phi Ỷ Lan trở thành một Thần phi, một Hoàng hậu nhiếp chính rồi Hoàng Thái hậu? Lần theo sự tích của Nguyên phi Ỷ Lan kết hợp với các di tích còn lại có thể cung cấp thêm những nhìn nhận mới về Phật giáo và văn hóa đầu thời Lý.

Cầu duyên trên quê hương Thổ Lỗi – Sủi

Trong thần tích trong bản khai thần tích thần sắc của làng Thục Cầu (Đồng Xá, Văn Lâm, Hưng Yên) thì tên của Nguyên phi Ỷ Lan được chép như sau:

Thái hậu quê ở làng Cổ Lỗi, huyện Siêu Loại, xã Dương Xá. Cha là ông họ Lê tên Quyết. Mẹ là Võ Thị Tĩnh Nương. Gia đình lấy nghề trồng dâu làm nghiệp. Lại nằm mộng điềm lạ nuốt sao Thái âm mà sinh được một người con gái, tức là Thái hậu vậy. Đặt tên là Yến, còn gọi là Cám (Cảm), còn có hiệu là Khiết nương.

Tên vua Lý Thánh Tông phong cho Nguyên phi là Ỷ Lan thực ra là tên chữ, vận dụng phép phiên thiết từ tên thời con gái của bà vì Ỷ Lan đọc thiết âm là Án = Yến. Tương tự, tên làng Thổ Lỗi vốn cũng là tên phiên thiết của âm Nôm là Sủi vì âm Th- xưa đọc như S-. Dẫn chứng khác là làng này có lúc được ghi là Thượng Lỗi, có cùng âm phiên thiết như Thổ Lỗi. 

Điểm bổ sung là sau Lý Thánh Tông cho đổi tên Thổ Lỗi thành Siêu Loại, thực ra vẫn là giữ âm phiên thiết của chữ Sủi. Tức là:

  • Thổ Lỗi hay Thượng Lỗi thiết Thổi – Sủi
  • Siêu Loại thiết Soại – Sủi.

Thần tích Thục Cầu cho biết khi Khiết nương bị em lừa lấy hết cá thì người đã giúp Khiết nương là vị lão tăng chùa Linh Nhân có tên là Đại Điên. Tức là trong nếu so với truyện cổ tích Tấm Cám thì ông Bụt hiện lên chính là sư Đại Điên.

Tiếp đó khi cá bống bị giết cũng chính vị tăng này (Đại Điên) đã bảo Khiết nương thu xương cá chôn ở góc giường và sau trăm ngày được một đôi hài đẹp. Khiết nương mang đôi hài ra phơi trước sân thì bị một con “chim thần” tha mất một chiếc hài đem thả vào cung nhà vua. Nhà vua cho đó là điềm sinh Hoàng tử kế vị và ngay sau đó đã về chùa Linh Nhân ở huyện Siêu Loại lập đàn cầu nguyện, vì thế mà gặp được Khiết nương đang hái dâu, đưa về lập làm Thần phi.

Có thể thấy rõ ràng rằng đây là một sự sắp đặt của vị tăng Đại Điên, từ việc làm ra đôi hài, mang hài bỏ vào cung đình rồi đánh tiếng để cho nhà vua về cầu nguyện tại chính chùa của mình (chùa Linh Nhân). Ngôi chùa Linh Nhân này nay là chùa Linh Nhân Tư Phúc ở Dương Xá, Gia Lâm. Linh Nhân cũng là tên thờ của Hoàng Thái hậu Ỷ Lan. Còn có chùa Phú Thị (chùa Sủi) có lễ hội Bông Sòng, trả lại trong sạch cho nội thị Nguyễn Bông, người đã “tham vấn” sư Đại Điên ở chùa Linh Nhân. Có thể chùa Sủi là quê hương của Nguyễn Bông (Nguyễn Bông có thể là người cùng quê với Nguyên phi Ỷ Lan).

Quê hương của Nguyên phi Ỷ Lan ở Dương Xá thuộc tổng Dương Quan, phủ Thuận Thành, Bắc Ninh xưa. Xã Dương Xá có mấy thôn: Đanh, Đá, Trung. Những cái tên Đanh, Đá gợi nhắc tới Bà Đanh, Bà Đá trong tục thờ Tứ pháp.

Đặc biệt là trong cùng tổng Dương Quang, ở phía bên kia sông Thiên Đức đối diện với Dương Xá là làng Đề Trụ. Làng này tới nay còn đền thờ Thiên Đế Đế Thích. Đây là một liên hệ cho thấy khả năng vị tăng Đại Điên ở chùa Linh Nhân là một vị sư tu theo đạo thờ Thiên Đế, bởi Đế Thích mới là vị thần có thể cầu duyên và cầu tự, chứ không phải Phật Thích Ca.

Sự tích Ông hàng Dầu đã thấy mây lành che trên đầu Khiết nương và khuyên nàng đi xem vua ở Dương Xá chắc hẳn cũng có ý nghĩa. Dầu là thứ để thắp sáng (Quang) nên rất có thể tương ứng với cái tên Dương Quang của tổng này. Cái tên Dương Quang cũng nhắc tới liên hệ với Thạch Quang Phật trong tín ngưỡng Tứ pháp.

Cầu tự nơi kinh thành Thăng Long

Lý Thánh Tông rước Khiết nương về Thăng Long, cho ở cung Ỷ Lan, phong là Thần phi. Dấu vết của cung Ỷ Lan nay là chùa Kim Cổ, vốn là Đồng Thiên quán, tương truyền là nơi Nguyên phi Ỷ Lan thờ “đạo Giáo”. Tuy nhiên, Nguyên phi Ỷ Lan là người tôn sùng “đạo Phật”, sao lại đi lập Đạo quán ở ngay nơi ở của mình? Cái tên “Đồng Thiên” của quán này cho thấy khả năng nơi đây thờ Thiên Đế của “đạo Phật”, chứ không phải thờ thần của đạo Giáo.

Nguyên phi Ỷ Lan vốn được sự giúp đỡ của “ông Bụt” Đại Điên mà trở thành cung phi, sau đó lại cũng nhờ ông Bụt này mà sinh được Hoàng tử. Nên quán nơi cung điện của bà phải là thờ “Bụt” mới đúng.

Chuyện Nguyên phi Ỷ Lan cầu tự được con trai liên quan trực tiếp đến tăng Đại Điên. Thần tích Thục Cầu kể rằng sau khi vào cung, Thần phi Ỷ Lan (thần tích khác chép là tiểu nhân là Nguyễn Bông) vẫn thường về chùa Linh Nhân cúng dường. Tăng Đại Điên đã “tư vấn” cho Nguyễn Bông nhìn trộm Thần phi để đầu thai làm Thái tử. Dấu vết nơi Nguyễn Bông đầu thai là chùa Thánh Chúa ở Dịch Vọng, Hà Nội.

Điều lạ là tăng Đại Điên lúc này không còn ở huyện Siêu Loại nữa mà đã về vùng Dịch Vọng ở tại chùa Duệ Tú. Thần tích Duệ Tú cho biết ông là người quê ở tại vùng này, có tên là Lê Toàn Nghĩa. Khi tu hành đã trở thành một vị lương y và thiền sư có nhiều công lao. Rõ ràng rằng tăng Đại Điên ở Thổ Lỗi đã “chuyển chùa” cùng với Thần phi về kinh đô. Và vị Đại Điên đã có công lớn trong việc giúp Thần phi Ỷ Lan “sinh con theo ý muốn”, sinh được Thái tử Càn Đức, nhờ vậy Ỷ Lan trở thành Nguyên phi nhiếp chính thời Lý Thánh Tông. Chú ý rằng sư Đại Điên cũng mang họ Lê như Khiết nương Lê Thị Yến.

Một lần nữa có thể thấy là tăng Đại Điên không phải dùng “Phật pháp” thiền môn mà là một Pháp sư có khả năng giúp đầu thai và chữa bệnh. Câu chuyện đầu thai của Nguyễn Bông có điểm giống với cách Khâu Đà La bước qua người Man Nương mà sinh ra Tứ pháp trong sự tích chùa Dâu thời trước.

Cũng chính nơi chùa Duệ Tú này nay còn mộ của tăng Đại Điên, bởi trong chuyện Thánh Láng Từ Đạo Hạnh đã báo thù cha và giết chết Đại Điên ở nơi đây. Đại Điên đầu thai thành đứa bé là Giác Hoàng, biết rất nhiều chuyện của cung đình, nên đã được vua đưa về kinh sư cho ở trong chùa Báo Thiên để đầu thai lại vào hoàng thất. Sau đó Giác Hoàng bị Từ Đạo Hạnh ngăn cản mà chết. Tại chùa Duệ Tú Đại Điên được tôn là Thánh tổ Lê Nghĩa hiệu Giác Hoàng Đại Điên Thiền sư.

Câu chuyện Đại Điên đầu thai thành Giác Hoàng cũng như việc tranh đấu với Từ Đạo Hạnh càng chứng tỏ lối tu của Đại Điên là lối tu theo Thiên Đế. Ngay việc Giác Hoàng được đưa về chùa Báo Thiên cũng cho biết điều này, bởi chùa Báo Thiên vốn là ngôi chùa thờ Thiên Đế, thường được dùng để cầu mưa, như việc rước Pháp Vân từ chùa Dâu về đây cầu mưa. 

Theo Việt điện u linh, khi Từ Đạo Hạnh chuẩn bị viên tịch có nói với các đệ tử: Ta chưa hết nhân duyên với đời, lại phải thác sinh làm vua ở nhân gian, khi nào chết lại về làm chủ “Tam thập tam thiên”. Vị thần chủ của “Tam thập tam thiên”, cõi trời 33, là Vua trời Đế Thích (Thiên Đế). Từ Đạo Hạnh như vậy chính là hóa thân của Đế Thích.

Hoằng quang đạo pháp ở các chùa

Nguyên phi Ỷ Lan khi nắm được quyền triều chính đã cho xây dựng nhiều ngôi chùa mà dấu vết của chúng còn lại cho tới ngày nay. Điều đặc biệt là khi xem kỹ những ngôi chùa này, ta lại thấy có nhiều dấu vết và liên hệ đáng ngạc nhiên đến tục thờ Vua trời Đế Thích và Tứ pháp. 

Điển hình ở tại quê hương Văn Lâm của bà có chùa Hương Lãng là chùa cổ từ thời Lý với những bậc đá hình con sấu và chim phượng cùng với bệ sư tử đá lớn nhất thời Lý còn thấy được. Trong khuôn viên chùa còn xây am thờ Hoàng Thái hậu Ỷ Lan. Rất ngạc nhiên là chùa Hương Lãng còn có tên là Pháp Lôi tự, tức là chùa thờ Pháp Lôi trong hệ thống Tứ pháp. Chùa Hương Lãng được gọi là chùa Ông Sấm, nhưng ông Sấm ở đây không phải chỉ bệ sư tư đá còn trong chùa, bởi bệ đá hình như vậy còn gặp ở những nơi khác và không đâu gọi sư tử là ông Sấm cả. Ông Sấm thực sự là tượng Pháp Lôi, có lẽ đã từng có đặt trên bệ sư tử này vào thời Lý.

Ngôi chùa lớn nổi tiếng khác là chùa Dạm ở Quế Võ, Bắc Ninh. Chùa Dạm còn gọi là chùa Bà Tấm, có đền thờ Hoàng thái hậu Ỷ Lan. Các làng xung quanh đó như Môn Tự, Tự Thôn, Sơn Nam đều thờ bà. Tương truyền nơi đây là nơi Hoàng Thái hậu đã về tu hành vào cuối đời. Chùa Dạm có nền khảo cổ 3 cấp thời Lý và đặc biệt là còn một chiếc cột đá chạm rồng lớn còn nguyên vẹn. Nhiều nhà nghiên cứu đã từng cho rằng cột đá rồng chùa Dạm là ngẫu tượng của Linga. Nói cách khác, nơi đây là nơi thờ “đạo Phật” theo hướng tương tự như đạo Bà la môn ở miền Trung.

Chùa Dạm sau này từng được sư Không Lộ trụ trì theo sách Lịch triều hiến chương loại chí. Không Lộ cũng là một vị pháp sư cùng với Từ Đạo Hạnh và Giác Hải kết nghĩa, đi học đạo ở phương Tây, nhưng chưa đến đất Phật mà dừng ở nước Kim Xỉ. Đạo học của Tam vị Thánh Tổ triều Lý này như vậy thực ra không phải đạo Phật chính tông, mà là Ấn Độ giáo, tôn thờ Tam vị nhất thể trong hình ngẫu tượng Linga như ở miền Trung Việt Nam.

Các hiện vật khảo cổ các chùa thời Lý cho thấy nghệ thuật tạo hình thời kỳ này mang đậm nét của “văn hóa Chăm” với những vũ công được thể hiện theo phong phồn thực. Hay như tượng Nhạc công thiên thần đầu người minh chim tìm thấy ở chùa Phật Tích. Rồi những bức tượng, phù điêu bằng đá sa phiến thạch được sử dụng làm tượng thờ và trang trí đền chùa, rất đặc trưng. Thực ra đây không phải là “văn hóa Chăm”, mà là văn hóa của đạo Bà la môn (Ấn Độ giáo) đã trở nên thịnh hành ngay từ đầu thời Lý.

Ngay tại đền Ghênh ở Như Quỳnh (Văn Lâm, Hưng Yên) đã tìm thấy hiện vật chính thời Lý là một “Kính Thiên đài” với bệ chạm sư tử ở dưới.  Đài Kính Thiên thì rõ ràng là thờ Thiên, tức Vua trời Đế Thích.

Tại chùa Phật Tích, dấu vết truyền đạo Bà la môn xưa là những phiến đá lớn xếp hình trên đỉnh núi Tiên Du, gọi là Bàn cờ đá, là “Phật tích” của vị tăng Bà la môn là Khâu Đà La (theo bia ở chùa tổ Mãn Xá). Núi Tiên Du là nơi Khâu Đà La tu hành cùng với Man Nương mà sinh Tứ pháp. Hiện nay tại đây có chùa Linh Quang ở thôn Vĩnh Phú bên sườn núi phía Nam sau chùa Phật Tích, là nơi Khâu Đà La tu hành, nay còn tượng thờ.

Nhưng kỳ lạ hơn nữa là ngay cạnh chùa Linh Quang chính là đền Bà Tấm thờ Nguyên phi Ỷ Lan. Nhân dân ở đây tương truyền đây là mộ của bà. Trong nền chùa và đền này đã phát hiện rất nhiều hiện vật thời Lý, gồm cả những viên gạch có chữ “Lý gia đệ Tam đế Chương Thánh Gia Khánh lập tạo”, “Lý gia đệ tứ Long Thụy Thái Bình lập tạo”. Tại sao Bà Tấm lại chọn nơi xuất xứ của vị Bà la môn Khâu Đà La làm nơi xây chùa đền và gửi hồn xác của mình?

Khâu Đà La là hiện thân của Vua trời Đế Thích cùng Tứ đại Thiên Vương là Phong Điều Vũ Thuận hay Vân Vũ Lôi Điện trong tín ngưỡng Tứ pháp của vùng đất Siêu Loại – Thuận Thành xưa. Nguyên phi Ỷ Lan cũng như nhà Lý bát đế có quê hương gốc ở vùng đất này nên việc thờ Thiên Đế trở thành tôn giáo chính của hoàng gia nhà Lý là việc dễ hiểu.

Thiền uyển tập anh chép câu hỏi của Hoàng Thái hậu Ỷ Lan  đối với Quốc sư Thông Biện: Ngày 15 tháng 2, mùa xuân năm Hội Phong thứ 5 (1016) Phù Thánh Linh Nhân hoàng thái hậu có lần đến trai tăng ở chùa Sư, cùng với các bậc kỳ túc thăm hỏi ý nghĩa Phật và Tổ, có gì hơn thua? Phật trú phương nào? Tổ ở nơi đâu? Đến đất nước này từ lúc nào? Trao truyền đạo đây, ai trước ai sau. Còn niệm tên Phật, đạt tâm Tổ, tuần tự truyền nhau, thì chưa biết cái nào là tôn chỉ?.

Phật nào? Tổ nào? Câu hỏi nghi vấn của Hoàng Thái hậu Ỷ Lan cho thấy sự nghi ngờ của bà đối với “đạo Phật” của các dòng thiền lúc này. “Tổ đến đất nước này” thì rõ ràng là chỉ Khâu Đà La.

Như vậy, vào đầu thời Lý với vai trò của Pháp sư Đại Điên chuyên về cầu duyên, cầu tự, đầu thai, giúp Nguyên phi Ỷ Lan ở vùng Siêu Loại, nối tiếp là 3 vị Thánh Tổ đi học đạo ở Miến Điện về cũng đầu thai (Từ Đạo Hạnh), rồi hàng long diệt hổ (Đại pháp sư Không Lộ và Giác Hải) có thể thấy Ấn Độ giáo lúc này đã trở thành một chính giáo của triều đình, có ảnh hưởng sâu sắc đến nền chính trị của nhà Lý cũng như văn hóa nghệ thuật đương thời. Khái niệm “Tam giáo đồng nguyên” thời Lý có lẽ phải là Lão giáo – Phật giáo – Ấn Độ giáo mới đúng, bởi Nho học không phải là tôn giáo. Chính nét Ấn Độ giáo này mới làm nên một văn hóa tín ngưỡng tôn giáo riêng của nhà Lý ở phương Nam, khác biệt với những dòng thiền của Trung Hoa khi đó.

Bài tham luận trình bày tại buổi sinh hoạt tháng 6/2025 của CLB Di sản và Văn hóa Á Đông tại chùa Sủi – Phú Thị.

Một vài hình ảnh minh họa

Thần tích của thôn Tự Thôn ở Nam Sơn, Quế Võ, Bắc Ninh ghi trong sách Hà Bắc nghìn năm văn hiến.

Kiệu thờ Ông hàng Dầu tại đền Bà Tấm, Phú Thị, Gia Lâm.

Ban thờ Khâu Đà La ở chùa Linh Quang, cạnh đền thờ Nguyên phi Ỷ Lan ở thôn Vĩnh Phúc, Phật Tích.

Tượng Thiên Đế Đế Thích ở đền làng Đề Trụ, xã Dương Quang, Gia Lâm, Hà Nội.

Tượng Giác Hoàng Đại Điên ở chùa Duệ Tú.

Tên chùa Hương Lãng, nơi có các bậc sấu đá và bệ sư tử thời Lý: Pháp Lôi tự.

Kính? Thiên đài – di vật thời Lý ở đền Ghênh, Như Quỳnh, Văn Lâm, Hưng Yên.

Võ Đang Lão Tử

Biết mà biết sai về quá khứ là cái sai hết cỡ… Lộn lạo giữa ta và giặc thì còn cái gì nữa…

Lão Tử – Lỹ Nhĩ Đam người quê Thúc Lực, Kim Chân ở Kim Bảng, Hà Nam, học đạo ở động Thiên Tôn, Hoa Lư, rồi làm quan thủ thư nhà Chu, thực ấp ở Thổ Hà, Việt Yên, Bắc Giang.

Nhân trận động đất làm đổ thành Lạc Dương – Cổ Loa, Lão Tử đăng đàn trừ yêu diệt quỷ, răn dạy vua Chu tuân theo đạo trời, hiển danh ở núi Võ Đang, nay là núi Sái ở Đông Anh.

Cuối đời Lão Tử cưỡi trâu xanh đi về phía Tây, để lại cuốn Đạo Đức kinh như cái móng rùa thần cho muôn thế hệ sau.

Tưởng nhớ đến bậc thánh nhân khai đạo, hàng năm dân Thụy Lôi tổ chức rước vua đến làm lễ thánh ở núi Võ Đang.

Thời Đường, nhà Đường coi Lão Tử là tổ họ Lý nên tôn ngài là Huyền Nguyên Thái Thượng Lão Quân. Các đạo quán thờ là Huyền Thiên Thượng Đế.

Tới thời Lý lại rước chân nhang Huyền Thiên từ núi Võ Đang về Thăng Long, thờ ở đền Trấn Vũ bên hồ Tây trên đường Thụy Khuê (lấy từ tên Thụy Lôi ở núi Sái).

Câu đối ở đình Thổ Hà khẳng định chắn chắn rằng Lão Tử và nhà Chu duy nhất ở nơi nước Nam Việt này:

Đông Chu phong vũ thị hà thì, biệt bả thanh hư khai Đạo Giáo
Nam Việt sơn hà duy thử địa, độc truyền ảo hóa tác Thần Tiên.

Ngũ môn quan đền Sái trên núi Võ Đang, Thụy Lôi, Đông Anh, Hà Nội.
Ba ông Phúc Lộc Thọ trong lễ hội làng Thổ Hà, Việt Yên, Bắc Giang.
Trâu xanh tại đình Giáp Nhất, Thanh Liệt, Hà Nội.
Bản đồ các nước thời Văn Lang.

MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ CÔNG TRÌNH “SỬ TÍCH LONG QUÂN VÀ CÁC VỊ THỦY THẦN LẠC THỊ”

1. NHỮNG PHÁT HIỆN MỚI ĐỘT PHÁ

Nhóm tác giả Nguyễn Đức Tố Lưu, Thích Tâm Hiệp, Nguyễn Đức Tố Huân đã thực sự làm người đọc bất ngờ bởi những phát hiện độc đáo và những kiến giải táo bạo, công trình đã mở ra nhiều hiểu biết mới trong nghiên cứu tín ngưỡng và lịch sử cổ đại Việt Nam, ví dụ như:

  • Chứng minh Liễu Nghị là Tản Viên Sơn Thánh (Kinh Dương Vương), đồng thời liên hệ với Đại Vũ của nhà Hạ, tạo nên một hệ thống thần thoại thống nhất giữa Việt Nam và Trung Hoa.
  • Giải mã danh tính các vị thần Thủy phủ như Long Đỗ, Bát Hải Long Vương, Quý Minh… những danh tính vốn bị lãng quên vì không ai có thể giải mã, hoặc bị hiểu sai trong nhiều nghiên cứu trước đây. Việc giải mã này không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu Đạo Mẫu mà cả tín ngưỡng dân gian Việt Nam nói chung.
  • Giải thích và xác định một số địa danh then chốt như: “Động Đình”, “Bãi Trường Sa”, “cánh đồng Tương”…các kiến giải này đã thực sự giúp giới nghiên cứu cổ sử và văn hóa có cơ sở để xác định các không gian văn hóa khi nghiên cứu tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Chẳng hạn việc xác định Động Đình là vùng biển Đông, chứ không phải hồ nước ở Hồ Nam (Trung Quốc) là một cách khẳng định lại không gian văn hóa – chính trị của hệ Thủy phủ của dân tộc Việt. Đánh đổ các khuôn mẫu truyền thống, các biểu tượng và định kiến (không nhiều nhà nghiên cứu vượt qua) trước đây về mối liên hệ giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Trung Hoa.
  • Đưa ra các biểu tượng văn hóa-sinh thái giúp các nhà nghiên cứu về sau có căn cứ để nhận diện, giải mã các biểu tượng liên quan đến thủy thần như: cây hoa gạo, hoa đào, biểu tượng rắn, rồng, bọc trứng,…. Những biểu tượng này không nhiều nhà nghiên cứu biết được bởi bị phủ lên bởi diễn trình lịch sử quá xa xưa, cũng như bị rời rạc và mờ nhạt bởi thiếu các cơ sở liên kết, xâu chuỗi về thần tích và biểu tượng. Đây là một đóng góp quan trọng về mặt biểu tượng học, nó sẽ giúp ích cho công tác điền dã, xử lý tư liệu cho các nhà nghiên cứu về sau.

Những phát hiện này không chỉ đảo lộn nhận thức cũ mà còn đặt nền móng cho một cách tiếp cận mới, khẳng định tính độc lập và bản sắc của văn hóa Việt, phá vỡ tư duy “dĩ Hoa vi Trung” bấy lâu nay khi nghiên cứu về Đạo giáo và thần phổ Việt Nam.

2. CÔNG TÁC ĐIỀN DÃ CÔNG PHU & TƯ LIỆU QUÝ HIẾM

Để có được nguồn tư liệu tham khảo đồ sộ như đa công bố trong công trình này, có lẽ nhóm tác giả đã phải dành nhiều năm lăn lộn thực địa mới có được. Những tư liệu này không chỉ phản ánh việc chú trọng công tác điền dã thực địa, lấy tư liệu thực địa làm cơ sở nghiên cứu và luận giải. Tính dân tộc học cũng đậm nét khi nhóm tác giả thu thập rất nhiều chuyện kể, truyền thuyết dân gian, ghi chép các dư liệu văn tự tại các nơi đến. Việc  thu thập, biên dịch những tư liệu này trở nên có giá trị vô giá không chỉ bởi độ hiếm, độ quý về mặt tư liệu mà còn thể hiện ở chỗ nội dung đắc giá, phục vụ đúng các mục tiêu và vấn đề nghiên cứu. Hầu hết những tài liệu đắc này là những tài liệu mà các học giả trước đây chưa từng tiếp cận được, hoặc tiếp cận lẻ tẻ, chưa tập hợp thành hệ thống:

  • Thần tích, ngọc phả, khoa nghi, bi ký từ các chùa, đền miếu cổ, thư viện,… giúp khôi phục lại hệ thống thần điện Thủy phủ một cách hệ thống. Những nguồn tư liệu mà nhóm tác giả dày công biên dịch, khảo cứu đã làm cho cuốn sách chứa đựng thêm nhiều giá trị mà các công trình nghiên cứu đi trước không làm được. Những Ngọc Phả Lạc Long Quân, Thần tích về các vị thần Lạc Thị, thần tích xã Liễu Châu, Phả lục năm vị Đại vương Thủy thần triều Hùng, Ngọc Phả chép về một vị thủy thần xuất thế triều Hùng, … cung cấp thêm các cứ liệu về cổ sử và phả hệ dòng Lạc Thị.

Cùng các Thần tích làng Tiên Cát, thần tích làng Nghi Khúc, Ngọc phả xã Xối Đông, ngọc phả làng Đa Chất…cung cấp thêm hành trạng của hệ thủy thần Việt Nam ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ.

Đặc biệt thông tín từ một số tư liệu văn tế, bi ký ở hải ngoại như: bia về Đạt Lặc Giáp, bia về Bố Lạc Đà,  bia về Mạc Nhất Đại vương đã giúp cho người đọc hình dung được sự phân bố, diện mạo của dân tộc Lạc Việt xưa. Nó giúp cho người đọc nhận thức được vùng văn hóa Việt và tính liên quốc gia của vấn đề nghiên cứu về Lạc Việt.

  • Câu đối, văn bia, câu chuyện truyền thuyết dân gian ở những làng xã, chùa miếu, đền ít được biết đến, như đền Đồng Bằng (Thái Bình), đền Hội (Nghệ An), đền Á Lữ (Thái Bình), đền Nhân Phẩm (Ninh Bình)…củng cố thêm cho các luận cứ để nhóm tác giả đưa ra các nhận định và kiến giải mới.
  • Đối chiếu với Đạo giáo Trung Hoa nhưng không sao chép máy móc, mà luôn đặt trong bối cảnh bản địa, giúp làm rõ sự giao thoa và khác biệt.

Hệ thống tư liệu và dữ liệu mà nhóm tác giả có được, chứng minh rằng một công trình không ngồi trong máy lạnh mà rất dày công, nghiêm túc, kết hợp được các nguồn sử liệu, dữ diệu điền dã di tích, dân tộc học, phân tích văn bản học,… xứng đáng là tài liệu tham khảo quý, hiếm và rất pro cho các nhà nghiên cứu sau này.

3. ĐÓNG GÓP HỌC THUẬT CÓ GIÁ TRỊ: TINH THẦN “DĨ VIỆT VI TRUNG”

Cuốn sách không chỉ là một nghiên cứu chuyên sâu, mà còn là một tuyên ngôn học thuật lấy dân tộc Việt làm trung tâm, phá bỏ tư duy “dĩ Hoa vi Trung” (lấy Trung Hoa làm trung tâm) vốn thống trị giới nghiên cứu trước đây. Nhóm tác giả đã:

  • Khẳng định sự độc lập của thần thoại, truyền thuyết, thần tích Việt: cuốn sách chứng minh rằng các vị thần như Lạc Long Quân, Tản Viên, Thủy Tinh không phải là “phiên bản sao” của thần thoại Trung Hoa, mà có nguồn gốc và logic riêng.
  • Phác thảo lại cấu trúc quốc gia gắn bó mật thiết với nước (từ sông ngòi, hồ đầm, ao, biển) thời cổ đại, cho thấy người Việt đã có một hệ thống chính trị – tín ngưỡng phức tạp từ rất sớm, không thua kém các nền văn minh khác.
  • Công trình này cũng đặt lại vấn đề về cách tiếp cận sử học theo lối truyền thống, vốn thường xem nhẹ yếu tố biển đảo và thủy tộc. Cách tiếp cận này mở ra hướng tiếp cận mới về lịch sử Lạc Việt, văn hóa nước, tín ngưỡng dân gian Việt.

4. TINH THẦN NGUỒN CỘI VÀ SỰ KHAI KHÓNG

Không chỉ dừng lại ở học thuật, nhóm tác giả còn tạo cảm hứng về ý thức dân tộc, giúp người Việt hiện đại tự hào về cội nguồn thay vì nghĩ mình ít nhiều gì cũng “là phiên bản của Trung Hoa”. Tôi nghĩ, công trình này đã:

  • Khẳng định tư duy độc lập, không chạy theo các số đông nghiên cứu phổ biến, mạnh dạng đưa ra nhiều kiến giải độc lập, mới và có thể gây tranh cãi.
  • Kết nối quá khứ với hiện tại, gợi mở về một “tư duy về văn hóa nước” trong bối cảnh học thuật quá chú trọng đến các vấn đề khác, đặc biệt nó cũng kết nối với các vấn đề về văn hóa biển.
  • Truyền cảm hứng cho thế hệ trẻ tiếp tục khám phá lịch sử và văn hóa dân tộc với tinh thần phản biện và sáng tạo.

5. MỘT SỐ CÂU HỎI THẢO LUẬN

  • Câu hỏi về phương pháp luận và xử lý nguồn tư liệu

Câu hỏi 1: Nhóm tác giả đã sử sử dụng tiêu chí nào làm cơ sở phân loại và liên kết sự tương đồng khi so sánh hệ Thủy phủ Việt Nam với các vị thần Đạo giáo Trung Hoa, hoặc diễn giải về tên gọi hoặc biểu tượng để  xác định sự nguồn gốc, sự tương đồng trong các câu chuyện về thủy thần?

Câu hỏi 2: Khi thần tích địa phương mâu thuẩn với hướng giải quyết vấn đề của nhóm tác giả thì nhóm cân nhắc yếu tố nào để ưu tiên diễn giải? Ví dụ như trường hợp Quý Minh vừa là Sơn thần lẫn Thủy thần thì nhóm tác giả có thể nói rõ hơn về cách xử lý như thế nào để thuyết phục người đọc chấp nhận một diện mạo thủy thần của ngài?

  • Câu hỏi về diễn giải nhân vật và thần điện

Câu hỏi 3: Nhóm tác giả có thể cho biết thêm một số bằng chứng để làm rõ thêm nhận định thần Long Đỗ là Thủy phủ Phù Tang Đại Đế? Liệu có khả năng đây là hai vị thần riêng biệt, được hợp nhất do ảnh hưởng Đạo giáo thời Lý-Trần hay không?

  • Câu hỏi về bối cảnh lịch sử và văn hóa

Câu hỏi 4: Với giả thuyết Thủy phủ Lạc thị như một mô hình phản ánh cấu trúc quyền lực thời Hùng Vương có được bổ trợ bằng những minh chứng khảo cổ học nào (ví dụ: khảo cổ học văn hóa Đông Sơn) hay không? Làm sao giải thích sự vắng mặt của biểu tượng Rồng trong nghệ thuật Đông Sơn nếu Rồng là biểu tượng trung tâm của Lạc Thị?

LỜI KẾT

Cuốn sách không chỉ là một công trình nghiên cứu xuất sắc, mà còn là một bước ngoặt trong tư duy viết sử ở Việt Nam. Nhóm tác giả xứng đáng được ghi nhận như những người tiên phong, dám đi ngược lại lối mòn, dám đặt câu hỏi lớn, và quan trọng nhất – dám khẳng định chân giá trị của văn hóa Việt. Hy vọng rằng, tương lai nhóm tác gải sẽ có nhiều nghiên cứu tiếp nối với nhiều phát hiện mới. Chúc mừng nhóm tác giả vì đã có thêm một tác phẩm để đời!

Đà Nẵng, 03 tháng 4 năm 2025

Nguyễn Đăng Hựu (ĐH Duy Tân)

Cơ sở cho sách Kinh triều bảo lục – Sử tích Long Quân và các vị Thủy thần Lạc Thị

Có người hỏi tôi rằng: Dựa vào đâu để có thể viết nên cuốn sách Kinh triều bảo lục – Sử tích Long Quân và các vị Thủy thần Lạc Thị?

Tôi đáp rằng: Tiêu chí để nhận diện các vị thủy thần Việt là từ nhận thức về lịch sử…

Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả mở đầu đã ghi rõ: Xưa tại Đại quốc Trung Hoa, đô đóng ở thành Thiên Thọ Bắc, lăng phần mộ tổ trời táng ở núi Côn Lôn, cùng năm hồ, biển lớn, núi Nam hội chầu chính đường. Ban đầu là từ cháu ba đời Viêm Đế dòng Thần Nông Thị, từ Hy Hoàng tới đó, truyền ngôi quốc bảo chính thống Nam Bang, để lại cho con cháu đời sau vậy.

Vua Minh Mạng cho lập miếu Lịch đại đế vương tại kinh thành Huế ở gian chính giữa đã đặt bài vị thờ Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế, Đường Nghiêu, Ngu Thuấn, Hạ Vũ, Thương Thang, Chu Văn, Chu Vũ.

Nước ta là Đại quốc Trung Hoa, mộ tổ Hùng Vương ở núi Côn Lôn. Đế vương trải các đời Hữu Hùng Hiên Viên Hoàng Đế là Đế Minh mở muôn nước. Đường Nghiêu Ngu Thuấn là Đế Nghi và Lộc Tục của 2 nhánh Hồng – Lạc. Kinh Dương Vương là Đại Vũ trị thủy. Lạc Long Quân là Hạ Khải, mở đầu Hoa Hạ.

Do đó, các vị cổ thần từ tín ngưỡng Trung Hoa như Đạo giáo hay shaman giáo của người Dao sẽ tương đồng với các vị thần cổ của người Việt.

Cách diễn giải, hay cách nhận định về các nhân vật trong huyền sử Việt là được tính đến các khả năng sau:

– 1 nhân vật của thần tích và truyền thuyết là hình tượng của 1 triều đại, 1 dòng tộc nên có thể gồm nhiều nhân vật lịch sử có quan hệ dòng tộc với nhau ở các thời gian khác nhau.

– Thời gian của truyền thuyết không tính bằng năm tháng mà tính bằng sự kiện. Chỉ có những sự kiện quan trọng mới được ghi chép truyền lại.

– Hình tượng văn hóa trong mỗi truyền thuyết được kể theo một góc nhìn mang tín chất địa phương và dòng tộc. Cho nên 1 nhân vật có thể được kể dưới những tên gọi khác nhau tùy theo góc nhìn, góc kể.

Trường hợp của Quý Minh Đại vương là ví dụ, có 2 nhân vật đều được kể là Quý Minh. Một là Quý Minh vào đầu của thời kỳ Hùng Vương, anh em của Tản Viên Sơn Thánh. Một là Quý Minh ở vào giai đoạn cuối của thời kỳ Hùng Vương chống Thục.

Câu chuyện về Quý Minh được nhận diện theo Cổ Lôi ngọc phả, ghi rằng 1 trong người chú là Lý Long Cảnh đã giúp Kinh Dương Vương đánh giặc. Như vậy vẫn là 1 nhân vật Quý Minh nhưng có 2 cách kể. Kẻ theo dòng lên núi thì đó là Sơn thần phụ trách Lãng Nhạc. Kể theo dòng xuống biển thì đó là vị Thủy thần đi ngược từ cửa biển Thần Phù về Long Đỗ.

Đối với thần Long Đỗ từ trước tới giờ không có sự tích khi thần còn sống, chỉ có kể về sự hiển linh nên không thể nhận diện được nhân vật này. Tuy nhiên, nhờ Cổ Lôi ngọc phả cung cấp thông tin quan trọng rằng thần Long Đỗ là cha của bà Đỗ Quý Thị ở hồ Dâm Đàm, tức là Mẫu Thoải hay Thần Long Nữ. Từ đó cho thấy thần Long Đỗ là Động Đình Đế Quân trong Truyện họ Hồng Bàng. Đây là dòng Long tộc, ở phía Đông, tức là vùng ven biển Đông.

Vị cổ thần của phương Đông là Đông Vương Công hay Đông Hoa Đế Quân trong Đạo giáo. Và cũng từ thông tin của Đạo giáo cho biết Đông Vương Công là Thủy phủ Phù Tang Cam Lâm Đại Đế. Phù Tang là phương Đông. Như vậy vị vua Thủy phủ, xưng Đế, ở phương Đông thì rõ ràng là Động Đình Đế Quân. Suy ra Long Đỗ (theo sử dân gian) = Động Đình Đế Quân (theo họ Hồng Bàng) = Đông Vương Công (theo Tiên đạo thời Tần Hán) = Thủy phủ Phù Tang Cam Lâm Đại đế (theo Đạo giáo Tam phủ). Đây là nhận định mới của cuốn sách, nên không liên quan gì đến thời Lý Trần. Mà là tên gọi của những dòng tín ngưỡng và dòng chép sử khác nhau.

Thời kỳ Lạc Thị bắt đầu từ 4.000 năm lịch sử, không tương ứng vời thời Đông Sơn ở thiên niên kỷ 1 TCN, nên hiển nhiên không thể so sánh. Trong văn hóa Đông Sơn cũng có hình tượng Giao long, chính là rồng Lạc. Thời kỳ Lạc Long Quân khai phá miền biển được khẳng định bằng các di tích khảo cổ cồn sò điệp gặp rất nhiều nhất là ở ven biển miền Trung. Điển hình là di chỉ khảo cổ quốc giaThạch Lặc tại Hà Tĩnh, phát hiện cả xương người cổ tuổi 3500- 4000 năm. Di chỉ này năm ngay cạnh đền Sắc Thạch Lặc thờ Tam Lang Long Vương, là 3 vị thủy thần Lạc Thị, với hàng chục sắc phong từ thời Lê.

Mô hình phát triển xã hội ở thời kỳ Lạc Thị không phải là mô hình nhà nước quan chế đầy đủ, mà đó là thời kỳ Thị tộc phụ đạo, ngôi vị thiên tử được cha truyền con nối nên Lạc Long Quân được gọi là Vua cha. Thiên hạ chia thành các phương, mỗi phương được 1 vị quan chư hầu phụ trách cai quản, nên thời này có Ngũ phương yết đế, hay Ngũ vị Tôn quan.

Thay cho lời cuối, xin dẫn lời của Hồ Tông Thốc trong Việt Nam thế chí: Độc giả nên lưu tâm nhận kỹ, cố sức suy nghiệm thì sẽ rõ ngọc đá, thấy được tiếng vang hình bóng của lịch sử, tôi đâu tự dám cho ý mình là thoả đáng.

Vua cha Lạc Long Quân, người khai mở nền văn minh sông Hồng

Vị thủy thần hồ Dâm Đàm là Linh Lang Đại vương, được thờ ở hàng trăm nơi trên khắp các vùng đồng bằng sông Hồng. Sự tích về Linh Lang chung quy có 3 thời, đều về một vị hoàng tử đã có công đánh giặc và gắn liền với địa danh ở hồ Tây. Một là Linh Lang thời Hùng Vương đánh giặc Thục. Hai là Linh Lang thời Lý đánh giặc Vĩnh Trinh. Ba là Linh Lang thời Trần đánh giặc Nguyên Mông.

Một số nơi như ở đình Tây Hồ hay đền Thủ Lệ chép cả 3 sự tích của Linh Lang Đại vương ở 3 thời, gọi là Linh Lang thần hóa lục, và coi đó là 3 lần xuất thế của thần. Thần tích về Uy Linh Lang ở Yên Phụ hay Nhật Tân thì ghi rõ: Vương vốn là chính phái họ Hồng Bàng, là thứ tông của Bách Việt. Đại vương là giống giao long, là trưởng của Xích Giáp, hiệu là Uy Linh Lang, cùng với 6 người được nhận phong ở đó là Bạch Giáp, Hoàng Giáp, Hắc Giáp, Thanh Giáp, Chu Giáp, Tử Giáp.

7 vị thủy thần hồ Dâm Đàm được thờ đầy đủ tại điện Nhật Chiêu, tức đình Nhật Tân ngày nay, là nơi bọc trứng của bà Diệu Đế Lạc phi nở thành 7 con rồng mà bay lên trời trên bãi sông Hồng. Cái tên Nhật Chiêu xuất phát từ sự tích này, do khi bọc trứng bị bỏ bên bãi sông, đến đêm có ánh sáng chiếu rọi và nghe tiếng vang vào tới tận kinh thành. Lễ hội đình Nhật Tân là một trong những lễ hội lớn nhất Thăng Long, với đoàn rước giá kiệu cùng múa rồng kéo dài từ đình làng qua cung Nhật Chiêu rồi ra đến bờ sông Hồng.

Linh Lang cùng với những người em cùng bọc là thủy thần hồ Dâm Đàm còn được thờ ở một loạt các di tích quanh hồ Tây như Nghi Tàm, Quảng Bá, Yên Phụ, Tây Hồ, Tứ Liên… Câu đối ở đình Quảng Bá nhắc lại sự tích Linh Lang và 6 giáp Tây hồ.

Bách noãn dựng nhất bào, dục tú chung anh long chủng hóa
Đoài hồ linh thất giáp, phong công tuấn đức phượng sơn tề.

Nghĩa là:

Một bầu chứa trăm trứng, dưỡng đẹp đúc anh hóa chủng rồng
Bảy giáp thiêng Tây hồ, công dày đức hậu sánh non phượng.

Vậy Linh Lang Đại vương là ai trong sử Việt?

Lĩnh Nam chích quái, Truyện Hồ Tinh kể: “Long Quân ra lệnh cho Lục bộ thủy phủ dâng nước lên công phá hang đá. Cáo chín đuôi bỏ chạy…”. Như vậy, Linh Lang cùng 6 giáp Tây hồ chính là Long Quân cùng Lục bộ thủy phủ trong truyện Hồ Tinh.

Sách Thăng Long cổ tích khảo tịnh hội đồ chép: Miếu Lạc Long nằm ở cách cửa Bắc của kinh thành chính hướng bên ngoài 1 dặm, thuộc vùng ven bờ hồ Trúc Bạch tại thôn Yên Ninh, huyện Vĩnh Thuận… Nay miếu ở trên hồ Trúc Bạch chính là kinh đô xưa của Long Quân vậy. Kinh đô Rồng của cha Lạc Long Quân nằm ở đất Thăng Long, bên bờ hồ Trúc Bạch, xưa là hồ Dâm Đàm (hồ Tây). Đây chính là lý do vì sao hồ Tây là rốn rồng Long Đỗ của lưu vực sông Hồng.

Ngôi miếu Lạc Long bên hồ trước đây thời Pháp mở đường đã chuyển về đầu dốc Hàng Than. Nay ngôi đền này gọi là đền Đức Vua. Trên cổng đền có chữ đề “Bát Hải vọng từ”. Đức Vua cha Bát Hải của Thoải phủ trong tín ngưỡng Tứ phủ của người Việt là cha rồng Lạc Long Quân. 

Cũng tại phía Bắc hồ Trúc Bạch có đền An Trì, vốn là đền thờ Uy Linh Lang của phường Yên Phụ, là bằng chứng nữa cho thấy Linh Lang chính là Lạc Long Quân. Chữ Linh tương đương với chữ Lung, tức Long. Chữ Lang vốn là từ chỉ vua của người Việt. Linh Lang do đó nghĩa tương đương là Long Quân.

Linh Lang còn là từ chỉ chung các vị thủy thần thời kỳ Lạc Long Quân vì Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả cho biết những người con theo Lạc Long Quân xuống biển được gọi là các “Thủy thượng Linh thần”.

Ở vùng Bắc Ninh đặc biệt có tín ngưỡng thờ 3 vị Việt Nam Lạc Thị xuất hiện dưới dạng 3 con rồng trên trán có chữ Lạc Vương. Khi đối chiếu trên thực tế thì đó là Kinh Dương Vương (như ở lăng Kinh Dương Vương tại Á Lữ), Lạc Long Quân (như ở làng đúc đồng Đại Bái) và Hùng Vương (như ở đền Bình Ngô). Tương tự như cách thờ 3 vị Hùng Vương Thánh Tổ ở Phú Thọ là Đột Ngột Cao Sơn, Viễn Sơn, Ất Sơn, trong dòng xuống biển 3 vị tổ được thờ là 3 vị Việt Nam Lạc Thị.

Các vị thủy thần thời kỳ Lạc Thị (thời lập quốc họ Hùng) không chỉ có Lạc Long Quân. Khi đối chiếu sự tích, di tích và tên thờ ở các nơi thì có thể nhận ra các vị thủy thần đã làm nên Công đồng của Thủy phủ trong tín ngưỡng người Việt. Nhận diện một số nhân vật của Thủy phủ như sau:

  • Thần Chính khí Long Đỗ là Động Đình Đế Quân, ông ngoại của Lạc Long Quân.
  • Long cung Liễu Nghị là Kinh Dương Vương, cũng là Tản Viên Sơn Thánh của vùng núi Ba Vì.
  • Mẫu Thoải là Thần Long Động Đình, mẹ của Lạc Long Quân. Cũng là bà Đỗ Quý Thị Hương Vân Cái Bồ Tát trong dòng ngọc phả Cổ Lôi của tổng Xốm Bình Đà.
  • Vua cha Bát Hải Động Đình là Lạc Long Quân.
  • Ngũ vị Tôn quan là những người anh em sinh cùng bọc với Long Quân (lục bộ thủy phủ hay Đoài hồ Thất giáp).
  • Lãng Nhạc Quý Minh là người chú của Lạc Long Quân, em của Tản Viên Sơn Thánh – Kinh Dương Vương.

Diễn biến lịch sử cơ bản của thời kỳ này có thể kể như sau. Kinh Dương Vương lên ngôi ở vùng Ngũ hành cung Tản Viên tại Ba Vì (Sơn Tây) đã lấy Thần Long, con của Động Đình Đế Quân ở miền sông biển. Kinh Dương Vương tiếp ngôi của Thánh tổ Đế Nghi theo lối truyền hiền nên khi ông mất định trả lại ngôi vị cho chính dòng Đế Nghi là Đế Lai. Tuy nhiên, con của Kinh Dương Vương là Lạc Long Quân đã không nhường, dựa vào những người anh em Thủy phủ bên ngoại của mình đã đánh đuổi Đế Lai, giành lấy ngôi vị thiên hạ (trong hình ảnh bà Âu Cơ). Các thần tích kể thành chuyện các vị thủy thần giúp vua Hùng (Lạc Long Quân) đánh Thục.

4.000 năm trước Lạc Long Quân giành được ngôi chủ thiên hạ, lập Thủy quốc Động Đình, lấy khu vực hồ Dâm Đàm bên bờ sông Hồng làm kinh đô. Long Quân phân phong cho những người anh em công thần lập quốc phụ trách ngũ phương nơi đầu sông góc biển, trở thành các vị Long hầu của Thủy quốc. Từ đây, lịch sử Việt bắt đầu chế độ cha truyền con nối (Lạc Long Quân kế nối Kinh Dương Vương), gọi vua là Cha, của dòng Lạc thị.

Giai đoạn này bắt đầu từ Kinh Dương Vương nên được gọi là Kinh triều. Kinh triều truyền nhiều đời cha con kế nối nhau làm vua, cho tới thời Hùng Duệ Vương là đời cuối cùng của Kinh triều. Trong gần 1.000 năm của Kinh triều Lạc Thị nhân dân an cư lạc nghiệp, mở mang bờ cõi ven các con sông lớn ở đồng bằng Bắc Bộ, thậm chí phát triển sang cả lên vùng phía Bắc, vượt sông Hoàng Hà, hình thành các nhóm tộc người như người Kinh – Mường, Tày – Thái – Choang, Mông – Dao…

Câu đối ở đền Đồng Bằng thờ Vua cha Bát Hải Động Đình cùng các vị Tôn quan Thoải phủ:

Tứ thiên niên quốc tục thượng thần, Bát Hải long phi truyền dị tích
Thập bát hiệu Hùng triều xuất thế, Đào giang hổ lược chấn linh thanh.

Nghĩa là:

Bốn nghìn năm nước gọi thượng thần, biển Bát rồng bay truyền tích lạ
Mười tám hiệu triều Hùng xuất thế, sông Đào hổ lược dậy danh thiêng.

Đây cũng là những nội dung chính của cuốn sách Kinh triều bảo lục – Sử tích Long Quân và các vị Thủy thần Lạc Thị do Nhóm Nghiên cứu Di sản Văn hóa Đền miếu Việt xuất bản năm 2025. Cuốn sách đã phân tích, đối sánh giai đoạn lịch sử Kinh triều Lạc Thị từ các góc độ thời gian, không gian, tín ngưỡng, nhân vật và dân tộc, khái quát thành các sơ đồ lịch sử rõ ràng và súc tích, cũng đồng thời cung cấp các văn bản Hán Nôm từ các di tích còn lưu lại tới ngày nay. Cuốn sách không chỉ là tập hợp những tư liệu di sản văn hóa mà còn mang lại một cách nhìn mới, minh định rõ ràng về thời đại của vua cha Lạc Long Quân cùng những người con xuống biến khai mở ra nền văn minh sông Hồng từ 4.000 năm lịch sử.

Những lát cắt giải mã thời kỳ Lạc Long Quân trong sử Việt

Cuốn sách Kinh triều bảo lục – Sử tích Long Quân và các vị Thủy thần Lạc Thị vừa được Nhóm Nghiên cứu Di sản Văn hóa Đền miếu Việt trình làng trong những ngày đầu tháng Hai năm Ất Tỵ là một công trình giải mã một thời kỳ quan trọng trong sử Việt. Đó là thời Vua cha Lạc Long Quân cùng 50 người con mở nước ở miền biển Đông từ bốn ngàn năm trước. Cuốn sách dựa trên những tư liệu dân gian, các di tích tín ngưỡng Việt, những di sản văn hóa còn lưu giữ được cho tới ngày hôm nay để phân tích, lý giải, nhận chân thời kỳ của các vị Lạc Vương từ những góc độ, những lát cắt khác nhau.

Lát cắt Thời gian
Thời đại Hùng Vương của người Việt được phân thành các giai đoạn, từ khi dân ta “có tổ” là giai đoạn các vị Hùng Vương Thánh Tổ, sang giai đoạn Kinh triều Lạc Thị của Kinh Dương Vương – Lạc Long Quân, đến giai đoạn kiến hầu lập bình của Âu Cơ và Hùng Quốc Vương. Trên nền tảng phân kỳ đó, giai đoạn từ Lạc Long Quân đóng một vai trò đặc biệt, mở nước vạn dặm theo miền ven biển về phía Đông lên phía Bắc. Những trang lịch sử đầu tiên của người Việt thật sự đã bắt đầu từ 4.000 năm khi chế độ cha truyền con nối làm chủ thiên hạ phương Đông được hình thành. Lược sử thời kỳ này được ghi lại trong bài Động Đình Long Quân ký ở cuối cuốn sách.

Lát cắt Nhân vật
Lịch sử của Thủy quốc dòng Lạc Thị điểm tên những vị đế vương, quân hầu danh tiếng, đã đi sâu vào tiềm thức người Việt, hình thành nên hệ thống thần điện rất phong phú của người Việt. Khởi đầu là đức Thủy phủ Phù Tang Cam Lâm Đại Đế hay cũng là thần Chính khí Long Đỗ của Thăng Long. Tiếp đó là Kinh Dương Vương, cũng là đức Long cung Liễu Nghị, người đã kết duyên cùng với Long Nữ Động Đình Thoải phủ. Những người con cùng bọc của Kinh Dương Vương là Linh Lang Đại vương, vị thủy thần hồ Dâm Đàm cùng với Lục bộ Thủy phủ hay Đoài hồ Thất giáp, chia trị các đầu sông góc bể. Hàng chục thần tích về Linh Lang, về các vị Thủy thần đã được dịch, giới thiệu cả bản gốc chữ Nho trong cuốn sách.

Lát cắt Tín ngưỡng
Một lịch sử thật sự chính là nguồn gốc cho văn hóa tín ngưỡng. Các vị Long Vương Thủy phủ đã trở thành những vị thần quan trọng trong Đạo Giáo như Đông Vương Công, Ngũ đế Thiên hoàng, rồi cả Chử Đạo Tổ với khả năng bất tử thành tiên. Không thể không nhắc tới vai trò của Thoải phủ trong tín ngưỡng Tam tứ phủ ngày nay, bởi tín ngưỡng này hình thành chính từ thời kỳ của các vị thủy thần Lạc Thị, mà điển hình là đức Vua cha Bát Hải Động Đình và Ngũ vị Tôn quan. Trong số tứ trấn của kinh thành Thăng Long hay cố đô Hoa Lư cũng không thể không có mặt những vị thủy thần trấn phương như Linh Lang, Bạch Mã hay Quý Minh. Đặc biệt, một dòng phái tín ngưỡng đôi khi gọi là Sa môn giáo trên cơ sở của Cổ Lôi ngọc phả truyền thư ở tổng Xốm Bình Đà, cũng đã được phân tích, đối chiếu lý giải theo dòng lịch sử của Kinh triều Lạc Thị.

Lát cắt Không gian
Lạc Long Quân cùng những người con mở nước về miền duyên hải ven sông biển đã để lại những dấu tích sâu đậm ở từng địa phương, từng dòng sông, từng làng xóm. Con sông Hồng xưa gồm 3 nhánh sông Đà, Lô, Thao, hợp lưu ở ngã ba Bạch Hạc chảy về vùng rốn rồng Thăng Long thì lại phân thành nhiều nhánh mà đổ ra biển. Hình ảnh của dòng sông Cái cổ đại này được biểu trưng hóa thành ông Lốt Tam Đầu Cửu Vĩ, đặc trưng cho Thoải phủ. Tổng hợp, đối sánh các vị thần thủy phủ được khái quát cho các vùng Tam đầu Đà Lô Thao, Rốn rồng Hà Nội, Tả ngạn sông Hồng, Hữu ngạn sông Hồng, Trung du Bắc Bộ và vùng Thanh Nghệ Tĩnh. Mỗi vùng có những đặc điểm khác nhau trong tín ngưỡng thờ Thủy thần nhưng đều có mối liên hệ chung về lịch sử dòng Lạc Thị.

Lát cắt Dân tộc
Khởi đầu từ 4.000 năm trước, Kinh triều Lạc Thị không phải chỉ là một giai đoạn lịch sử của người Kinh, mà nó là cội nguồn lịch sử của nhiều dân tộc khác trong cộng đồng Bách Việt. Hùng Vương, Lạc Vương và các vị Thủy thần có mặt ngay trong sử thi Mường Đẻ đất Đẻ nước. Rồi người Choang ở Quảng Tây cũng tôn sùng Lạc Vương và Long Mẫu cho tới giờ. Thủy tổ 12 họ người Dao là Bàn Vương cũng là thuộc về giai đoạn Kinh triều Lạc Thị. Những sơ đồ so sánh, những dữ liệu từ thực tế tín ngưỡng của các dân tộc này được giới thiệu một cách có hệ thống trong cuốn sách.

Với những lát cắt khác nhau, những góc nhìn phong phú về thời kỳ Lạc Long Quân, cuốn sách cung cấp đầy đủ những tư liệu rất thực tế, rất quý giá từ di sản dân tộc, đồng thời cũng cho bạn đọc có được cách nhìn, cách hiểu tổng quan và sâu sắc về giai đoạn lịch sử kéo dài hơn ngàn năm của thời mở nước. Đây là một công trình khảo cứu công phu, được trình bày theo hình thức tự nhiên, đa dạng, nên bạn đọc có thể bắt đầu đọc sách theo bất kỳ lát cắt nào mà mình thấy phù hợp, dễ hiểu và hấp dẫn nhất. Dù là theo dòng thời gian lịch sử, theo không gian địa lý, theo nhân vật văn hóa, theo tâm linh tín ngưỡng hay theo truyền thống dân tộc, tất cả đều có một mẫu số chung, đó là sự kính ngưỡng công đức của tiền nhân đã mở mang đất nước, hưng thịnh cuộc sống cho con cháu ngàn năm sau.

Nhân ngày Linh Lang thần hóa mùng 10 tháng Hai năm Ất Tỵ
Bách Việt trùng cửu Nguyễn Đức Tố Lưu

Càn Hải thánh tế văn

Do Phương hạ tiến sĩ Hồng lư tự khanh Đỗ đại nhân nghĩ. Phiên đọc từ bản chép tay của đền Quốc mẫu ở Ninh Cường, xã Trực Phú, Trực Ninh, Nam Định.

Cung duy Thượng thánh:

Đoan trang tĩnh nhất,
Chính trực thông minh.

Càn khôn dựng tú,
Hà hải dục tinh.

Vấn kỳ tích tắc tiêu phòng quế dịch,
Văn kỳ phong tắc ngọc diệp kim hành.

Anh hoa chi ngoại chất phi phàm, đốc sinh Dương Thị,
Yểu điệu chi phương tư bất cải, nội trợ Tống kinh.

Gia hệ Cao Tào, khuê khổn nhi mẫu nghi thiên hạ,
Nữ trung Nghiêu Thuấn, miếu đường nhi tử dục lê manh.

Triêm ân nhi huyền quản gia gia, sơn tiêu ngu hổ,
Cảm hoá nhi âu ca xứ xứ, hải thiếp ba kình.

Ta thế sự chi mỹ thường, thiên hôi Tống hoả,
Mục sơn hà chi phi cựu, địa tận Nguyên binh.

Tam bách tải cương thường, trách long nhậm đại,
Thập bát truyền mệnh trẫm, quốc trọng thân khinh.

Phong lôi nhất trận Nhai sơn, dực Tống hà liên phu phát,
Xã tắc trùng an kim đỉnh, cừu Nguyên khẳng cộng chiên tinh.

Tuyết thuỷ độc chiêm Dao Trì, can minh thiết thạch,
Tùng bách bất suy hàn tuế, nghĩa quán nhật tinh.

Uông uông bạch lãng quảng sa, nan tiêu khí phách,
Hách hách thanh thiên bạch nhật, cao biểu chân hình.

Nhi sơn linh tráng kỳ nghĩa liệt,
Nhi hải nhược lẫm kỳ anh linh.

Giang ba vĩnh ấn đan tâm, hoàng phi đế tử
Sơn nguyệt trường minh tố tiết, địa nghĩa thiên kinh.

Khôn duy thử nhật sanh phù, dương dương chính khí,
Càn hải giả phiên linh hiển, lẫm lẫm anh thanh.

Sinh tiền dực Tống nhất thân, thánh đức hàm phu thiên Bắc quốc,
Hiển hậu phù Trần nhất mộng, thần uy trực chấn địa Nam minh,

Tế thế an bang, lịch đại chi cổn ba bưu bính,
Khang nhân phụ vật, ức niên chi miếu mạo tranh vanh.

Tư tắc cương phùng khư tiết, ngưỡng vọng phương hình:

Nghiễm nhã y quan, lẫm long nhan nhi bái khể,
Khanh thương lễ nhạc, thân nghĩ khổn dĩ tiền trình.

Cúc tửu tam tuần, phủ phục nhi hiến phân sơ á,
Tùng hương kỷ triện, cúc cung nhi lễ thượng bái nghinh.

Tại miếu tại cung, ung túc nhi đương tư đại tế,
Chương văn chương vật, tôn sùng nhi giám thử vi thành.

Tại thượng tại tả hữu, thần chi cách tư tỷ nhĩ Đồng Nhân xương sí,
Nhi gia nhi hương quốc, thần chi thính chi uyển nhiên Đại Hữu hoà bình.

Thuỵ khí doanh đình, đào lý địch gia sướng mậu,
Dư hương mãn thất, chi lan tạ dân phu vinh.

Cộng nhạc xuân đài, dung dữ vạn niên hồ khảo,
Khả phong tỷ ốc, di du bách phúc lai thành.

Tích tự thiêm trù, bách thế nhi hồng viên an tập,
Giáng tường tiêu dị, tứ thời chi lộc trật phong hanh.

Lạc Long Quân trở về

Bạn biết gì về thủy tổ Lạc Long Quân và thời đại những người con theo Cha Rồng xuống biển?

Năm Giáp Thìn 2024 đã qua, năm Ất Tỵ 2025 đã đến. Cha Rồng Lạc Long Quân lại hiện thân trở về với miền sông biển Việt Nam qua cuốn sách dày hơn 670 trang mang tên Kinh triều bảo lục – Sử tích Long Quân và các vị Thủy thần Lạc Thị do Nhóm Nghiên cứu Di sản Văn hóa Đền miếu Việt biên khảo.

Trong cuốn sách bạn sẽ biết Liễu Nghị – ông là ai? Việt Nam Lạc Thị là những vị quốc tổ nào? Vua cha Lạc Long Quân được thờ phụng dưới những tên gọi nào? Thần Chính khí Long Đỗ của Thăng Long có nguồn gốc ra sao?… Bạn cũng sẽ biết Thủy phủ công đồng trong Tam phủ, Tứ phủ gồm những ai. Động Đình Long Mẫu, Động Đình Đế Quân, Động Đình Bát Hải Long Vương, Ngũ vị Tôn quan, Hà Bá Thủy quan… là những vị tiên tổ nào của người Việt.

Những vị tiên thánh của thời kỳ Lạc Thị Hồng Bàng được khái quát và được định vị một cách độc đáo trong cuốn sách. Đó là Ngũ phương thiên đế ở khắp tứ hải trong Đạo Giáo từ khi Đạo mới hình thành. Đó là các vị thần Tứ trấn của các kinh đô Thăng Long, Hoa Lư. Đó là vị thần bất tử Chử Đạo Tổ của miền đầm nước Dạ Trạch. Những tín ngưỡng thờ thủy thần này xuất phát từ lịch sử đã ăn sâu vào tâm thức dân gian, trở thành nền tảng trong văn hóa Việt.

Ngay cả tín ngưỡng dân gian ở khu vực Thanh Oai, được biết với tên gọi Sa Môn giáo cũng được dẫn tư liệu gốc Bách Việt triệu tổ cổ lục (hay Cổ Lôi ngọc phả truyền thư). Đồng thời tư liệu này cũng được phân tích, đối sánh một cách xác đáng với lịch sử Việt thời Lạc Thị.

Cũng trong cuốn sách này bạn sẽ được tiếp cận với những tư liệu Hán Nôm đầy đủ về thời kỳ lập quốc 4.000 năm của người Việt. 10 bản ngọc phả thu thập từ nhiều nguồn khác nhau được giới thiệu nguyên văn và dịch nghĩa trong cuốn sách. Qua đó bạn có thể đọc những ghi chép gốc về Ngọc Nương Thánh Mẫu Thủy cung ở đền Tiên Cát, Việt Trì, Phú Thọ; về Vua cha Bát Hải ở đền Đồng Bằng, Quỳnh Phụ, Thái Bình; về Tam Lang Long hầu ở đình Đào Xá, Thanh Thủy, Phú Thọ; về Bạch Hạc Tam Giang ở đình Đa Chất, Phú Xuyên; về Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Hùng Vương trong vùng tín ngưỡng Việt Nam Lạc Thị ở Thuận Thành, Bắc Ninh; về Thủy phủ Phù Tang Cam Lâm Đại đế bên sông Hồng…

Không dừng lại ở đó, cuốn sách cung cấp cho bạn những hiểu biết và nhận thức một cách có hệ thống và khoa học về lịch sử các dân tộc. Đó là sử thi Mường Đẻ Đất Đẻ Nước với Dịt Dàng, Lang Cun Cần, Tòng Ín… Là sử Dao với Bàn Vương, thủy tổ 12 họ người Dao. Đặc biệt, cuốn sách công bố tư liệu điền dã trực tiếp rất chân thật về tín ngưỡng và lịch sử Lạc Việt của người Choang ở Quảng Tây. Đây là lần đầu tiên những tư liệu, những hiểu biết này được công bố rộng rãi tới công chúng.

Cuốn sách cũng đã tổng hợp các di tích thờ thủy thần của các tỉnh miền Bắc dọc theo lưu vực các con sông lớn, mà lớn nhất là dòng sông Hồng, vốn được tôn thờ trong tín ngưỡng dân gian là Tam Đầu Cửu Vĩ Long vương. Từ thượng nguồn ba sông Đà Lô Thao ở Yên Bái, Tuyên Quang, vùng đất Tổ ngã ba Việt Trì, Phú Thọ, qua vùng rốn rồng Thăng Long Hà Nội. Vùng lưu vực tả và hữu ngạn sông Hồng ở Hà Nam, Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Dương. Vùng ven biển Thái Bình, Nam Định, Hải Phòng, Quảng Ninh thờ các vị Hải thần. Vùng trung du ở Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Lạng Sơn, Thái Nguyên thờ các vị sơn thủy thần. Đến cả những nơi tưởng chừng không có liên quan tới thời Lạc Long Quân như Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, hóa ra lại là những nơi còn lưu những dấu tích cổ xưa nhất, nguyên sơ nhất về 4.000 năm dựng nước.

Thời kỳ Lạc Long Quân dựng nước bên bờ biển Đông tưởng chừng như đã chìm vào bị quên lãng, nay đã trở nên sống động, chân thực, với từng nhân vật, từng vùng đất, từng sự kiện trong cuốn sách. Năm Ất Tỵ 2025, các vị thủy thượng linh thần lại một lần nữa hiển hiện trên cõi Dương gian, đức Vua cha Lạc Long Quân lại trở về với nòi giống Việt, đem lại niềm tin cho con dân Việt với tiên tổ, với quá khứ vẻ vang và có sự phù trợ của tiền nhân mà vững bước trước tương lai.

Bạn đọc có thể đặt trước cuốn sách Kinh triều bảo lục – Sử tích Long Quân và các vị Thủy thần Lạc Thị theo đường dẫn dưới đây: https://forms.gle/RNn7snBCcg3N3YTEA

Những bạn đặt trước ngày 15/2/2025 sẽ có được cuốn sách quý này tận tay với giá 300.000 đ ngay khi nó được xuất bản, thay cho giá bìa là 500.000 đ.

Toàn bộ kinh phí thu được từ cuốn sách sẽ được Nhóm Nghiên cứu Di sản Văn hóa Đền miếu Việt sẽ sử dụng vào mục đích điền dã, thu thập tư liệu, biên soạn xuất bản những cuốn sách mới về cổ sử Việt.

Mọi liên hệ và trao đổi liên quan đến cuốn sách và đến thời kỳ Lạc Thị Hồng Bàng xin liên hệ với trang facebook Hùng Việt sử quán hoặc theo Zalo Đền miếu Việt số 0559551003.

Bách Việt trùng cửu Nguyễn Đức Tố Lưu

Tôi viết bài thơ đất nước tôi
Gian nan từ thuở mới ra đời
Ngọn gió Động Đình ru ta lớn
Trăng chiếu sông Đường nước đầy vơi
Trăm trứng Mẹ sinh dòng Bách Việt
Diệt quái Cha Rồng mở biển khơi
Lang Thang dân tiến chinh phương Bắc
Âu Lạc văn minh mãi rạng ngời.

Rắn thần trong văn hóa Việt

Trong văn hóa tín ngưỡng của người Việt, Rồng là loài vật huyền thoại, biểu tượng cho phần tinh thần, chỉ thấy đầu, không thấy đuôi, khó nắm bắt được. Còn Rắn lại là loài vật có thật, chỉ phần thân xác to lớn, mạnh mẽ, có thể nhận biết được. Những gì hiện hiển là Rắn, còn những gì u linh là Rồng. Lúc sinh ra là Rắn, lúc hóa đi thành Rồng. Quan hầu là Rắn, vua chúa là Rồng. 

Xem huyền sử Việt nhiều người cho đó chỉ là những chuyện “trâu ma, rắn thần”, đầy màu sắc thần thoại. Nhưng nếu đọc kỹ hơn, tìm hiểu sâu hơn trong những di sản văn hóa tín ngưỡng của cha ông người Việt để lại, chúng ta sẽ thấy chính những câu chuyện rắn thần đó mới phản ánh lịch sử thật sự của người Việt một cách rất sâu sắc, phản ánh nhân sinh quan, thế giới quan rất phong phú và lâu đời trong văn hóa Việt.

Những vị thủy thần từ thời Lạc Long Quân dựng nước

Dân gian người Việt thờ rất nhiều vị thủy thần trong hình thể loài rắn làm thành hoàng làng. Điển hình nhất là vị Linh Lang Đại vương với hàng trăm nơi thờ ở khắp vùng đồng bằng sông Hồng. Thần tích đình làng Tây Hồ, ở phường Tây Hồ, Hà Nội kể: Uy Linh Lang là thủy thần là con trưởng của Lạc Long Quân theo cha xuống biển trấn trị khai thác sông biển lãnh đạo muôn dân xây dựng cuộc sống phồn thịnh… Thời Lý thần nhân hóa thành Thái tử Hoàng Lang con vua Lý Thái Tông giúp vua đánh giặc Chiêm Thành. Sau đó Thái tử bị bệnh đậu mùa rồi hóa thành con rắn khổng lồ trườn xuống hồ Tây. Vị thần trấn Tây của kinh thành Thăng Long xưa chính là thần rắn xuất thế, có nguồn gốc từ thời vua cha Lạc Long Quân dựng nước ven theo dòng sông Cái ra tới biển.

Các thành hoàng là thần rắn thời Hùng Vương thường được kể sinh ra từ cùng một bọc trứng, nở thành 2, 3 hay 5 con rắn, lớn lên thành tài, bảo hộ cho cuộc sống của nhân dân, phù trợ quốc gia chống giặc ngoại xâm. Như ở đầu sông Cái bên ghềnh Ngọc Tháp, tại TX. Phú Thọ có sự tích về vị thần Linh Uyên Đại vương kể rằng: Bà Thái phi của vua sông Thao một hôm bỏ lốt rắn đi lên rừng chơi, chợt làm rơi một bọc trứng 5 quả ở đấy. Làng ấy có một ông già nhặt lấy 5 quả trứng đem về… Được 3 ngày, nở ra 5 con rắn… Một hôm ông già vô ý lấy con dao phát bờ khoắng một cái, đứt đuôi một con. 5 con rắn quấn quít lấy cái đuôi khóc mà nói rằng:  Chúng ta là giống rồng, trời định cho ta, mỗi người làm vua một phương… Thế là các con rắn chia nhau ra đi làm vua ở các nơi trên sông Thao, sông Lô.

Sự tích rắn thần cụt đuôi còn gặp ở nhiều nơi. Như ở làng Yên Phú (Thanh Trì, Hà Nội) kể về 2 vị thủy thần xuất thế là Trung Vũ và Đài Liệu. Hai vị đã có công cầu mưa cứu hạn, được nhân dân trong vùng Thanh Trì hết sức kính phục. Sự tích truyền khẩu ở Yên Phú còn kể, khi đê ở Giầy Kẻ bị sạt vỡ, 2 vị đã hóa thân thành 2 ông rắn nằm ngăn nước để dân đắp, hộ được đê. Lúc hộ đê một ông bị đứt một tí đuôi, nên có hèm là Cụt.

Chuyện kể tương tự về thần rắn hộ đê gặp ở thôn Văn Xá, xã Đức Lý, huyện Lý Nhân, Hà Nam. Thần phả kể rằng, vào đời vua Lý Thái Tổ có hai ông bà vớt được hai quả trứng trắng ngoài sông bèn đem về, 100 ngày sau nở ra 2 con rắn trắng, một con dưới bụng có chữ Câu Mang anh, một con có chữ Câu Mang em… Một năm trời làm dịch bệnh, hai ông Câu Mang làm mưa to gió lớn tẩy trừ dịch bệnh cho dân rồi làm ra một cái giếng sâu và đi mất… Cũng năm đó lũ to làm đê vỡ, hai ngài Bạch Xà từ giếng ra, đầu gối bên này, đuôi chạm bên kia nằm chắn khúc đê vỡ để ngăn dòng nước chảy, sau hai ngài lại ra sông đi mất. Quan sở tại tâu lên triều đình, nhà vua phong cho hai ngài là Nhị vị Thủy tề Long vương.

Những vị rắn thần được kể là những nhân vật lịch sử có thật nhờ có công hộ quốc cứu dân mà được tôn làm Long Vương. Như ở suối cá thần Cẩm Lương, Thanh Hóa có đền thờ chàng rắn của người Mường được phong là Tứ phủ Long Vương. Ở xã Thạch Trị huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh có Miếu Ao, thờ Ông Cả Long vương. Sự tích ở miếu ghi: Đức Vương và Thánh Nữ thấy sao băng mà sinh được 3 quả trứng nối liền nhau thành 1 con Hoàng Xà, sau bị Đức Vương chẳng may xắn thành 3 khúc, trở thành 3 anh em.

Trong những câu chuyện trên, vị Đức Vương, hay Ông lão thực ra là vua Kinh Dương Vương trong sử Việt. Thánh Nữ, bà Thái phi, bà mẹ là bà Thần Long. Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình Đế Quân mà sinh ra Lạc Long Quân. Những người con rắn nở ra từ một bọc trứng ấy là những người anh em với Lạc Long Quân của thủy phủ. Do đó, các vị thủy thần thời này đều là những nhân thần thật sự, có công dựng nước cùng với vua Lạc Long Quân dọc dòng sông Hồng

Rắn thần trong Đạo mẫu Tứ phủ

Sự tích ở đền Đồng Bằng (xã An Lễ, Quỳnh Phụ, Thái Bình) kể rằng: Nàng Quý đi tắm ở sông Đào, cảm động với giao long mà có  thai, sinh được một bọc, nở ra 3 con Hoàng xà. 3 con rắn sau hóa thành 3 chàng trai giúp vua Hùng đánh giặc. Con Hoàng xà lớn trở thành Vĩnh Công Đại Vương Bát Hải Động Đình, tức là vị đức Vua cha Thoải phủ trong tín ngưỡng Tứ phủ. Người đứng đầu Thủy phủ thì không ai khác chính là vua cha Lạc Long Quân trong sử Việt.  

Trong thần điện Tứ phủ còn thờ những con rắn thực sự. Nhị vị Xà thần có tên gọi là Thanh Xà Tướng quân và Bạch Xà Tướng quân, chịu trách nhiệm canh gác đền phủ, trấn giữ đường âm, đường sông nước, trừ ma diệt quỷ. Tuy nhiên, việc thờ rắn làm thần khác với việc thờ thành hoàng là thủy thần trong lốt rắn. Những vị Quan Xà không có sự tích riêng, không có đền thờ riêng, không được sắc phong thờ là thành hoàng ở bất cứ nơi nào. 

Trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ Phủ còn có một hình tượng rắn thần đặc biệt khác, danh xưng Tam Đầu Cửu Vĩ. Đó là một thần rắn ba đầu chín đuôi, là thú cưỡi của một số vị Quan như Quan Lớn Đệ Tam, Quan Hoàng Cả… Khác với Thanh Xà và Bạch Xà, Tam đầu Cửu vĩ Long Vương là vị thần có được thờ cúng là thành hoàng ở một số nơi, như ở đình Nam Dư Hạ ở quận Hoàng Mai, Hà Nội. Tam Đầu Cửu Vĩ là hình tượng hóa của hệ thống sông ngòi cổ ở miền Bắc Việt, nơi 3 sông Đà Lô Thao hội tụ ở ngã ba Bạch Hạc rồi chia thành nhiều nhánh mà đổ ra biển. Rất lạ là trong Sơn Hải kinh, cuốn sách cổ của Trung Hoa từ thời trước Công nguyên cũng có nói đến một loài rắn chín đầu gọi là Tương Liễu thị, là bề tôi của thần nước Cung Công. Hình Tương Liễu thị chín đầu phối hợp với chim Kỳ Đồ ba đầu được thể hiện trên bức họa Ngoại quốc đồ thời Lê Trung Hưng, hiện lưu tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam.

Lột xác rắn mà thành Tiên

Vương Sung, một nhà triết học Trung Hoa thời đầu Công nguyên nói: “Ve lột vỏ, rắn thay da, rùa bỏ mai, hươu rụng sừng, da vỏ tiêu hết, chỉ giữ lại xương cốt mới có thể thoát xác tái sinh”. Vì thế thân hình rắn ở thời này thể hiện cho các vị tu tiên đắc đạo. Trên các bức bích họa thời Hán, cặp thần tiên tối cổ Nữ Oa – Phục Hy được thể hiện dưới dạng hình người thân rắn, cuộn đuôi vào nhau. Tại khu mộ cổ khổng lồ Nghi Vệ ở Bắc Ninh được khai quật từ thời Pháp đã phát hiện có một chiếc gương thể hiện cặp thần tiên thân rắn. Hình tượng người rắn tương tự còn gặp trên những tấm lụa phủ liệm quan tài cùng thời kỳ.

Hình tiên thân rắn còn gặp trên bức chạm ở một ngôi đình nổi tiếng xứ Đoài Hà Tây xưa là đình Tây Đằng. Bên mé hữu của đình trên xà ngang có bức chạm 2 vị tiên cầm hoa sen với thân rắn dài, có vảy. Hai vị tiên này đứng chầu vào giữa, là nơi có 2 vị tiên khác, một đang ôm rắn và một đang ôm cá.

Trong Tiên đạo, rắn còn kết hợp với rùa tạo thành linh vật Huyền vũ, một trong tứ linh, trấn phương Bắc. Linh vật Huyền vũ thường được thể hiện trên các gương đồng từ thời Đông Hán. Cặp Rắn – Rùa là biểu tượng của Âm – Dương kết hợp trong Đạo giáo, gặp trong những nơi thờ thần Huyền Thiên Trấn Vũ như ở đền Quan Thánh (trấn Bắc của Thăng Long Hà Nội), hay ở đền Sái (Cổ Loa). Tượng thần Huyền Thiên được thể hiện tay cầm kiếm có Rắn quấn quanh và chống lên lưng Rùa. 

Rắn Naga giác ngộ và bảo hộ Phật đạo

Rắn thần trong Phật giáo được gọi là Rắn Naga, là vị Mãng xà vương đã che chở cho Đức Phật khi tu dưới gốc bồ đề trong mưa bão. Tượng Phật của người Khơ me thường được thể hiện ngồi trên thân rắn và được rắn thần 9 đầu che chở. Ở miền Bắc hình tượng này chuyển biến thành tượng Thích Ca sơ sinh có 9 con rồng đến phun nước tắm.

Ở thôn Bảo Tháp, xã Đông Cứu, huyện Gia Bình, Bắc Ninh đã phát hiện một bức tượng rắn bằng đá rất lạ, thể hiện hình ảnh ông Rắn đang tự cắn xé thân thể. Đây có thể là một biểu tượng trong Phật giáo, lấy từ điển tích rắn độc khi đã giác ngộ thì căm ghét thân hình xấu xa của mình, từ bỏ thân rắn mà được đắc lên cõi trời Đao Lợi hoặc thành A La Hán, tôn giả… 

Vua rắn Vương Kinh tử ở Giếng Việt

Ấn tượng về “Rắn thần” trong Lĩnh Nam chích quái là Truyện Giếng Việt. Giếng Việt ở miền Châu Sơn (Bắc Ninh), Thánh Dóng đánh thắng giặc Ân ở chân núi này. Vua Ân chết thành vua Địa phủ, có đền thờ trên núi. Đến cuối thời Tần, có người là Thôi Vĩ chạy lạc vào núi, rơi xuống hang sâu, gặp một con rắn trắng mình dài trăm trượng, mào vàng, miệng đỏ, râu đỏ, vảy trắng, trên trán có dòng chữ vàng đề “Vương Kinh Tử”. Thôi Vĩ dùng thuốc ngải chữa bệnh bướu cổ cho rắn, nên được rắn dẫn khỏi hang…. Ở Châu Sơn tới nay vẫn còn một bức tượng đá cổ, kích thước cao bằng người thật, thể hiện con vật thân như thân rồng rắn nhưng có mỏ và cánh như chim phượng, là dấu vết cổ xưa của một ngôi đền thời Tần Hán tại đây.

Câu chuyện về rắn thần từ thuở Lạc Thị Hồng Bàng qua thời Ân Thương tới thời Tần Hán, với những di vật bằng đá còn sống động nơi núi Châu Sơn, là minh chứng cho tín ngưỡng thờ Rắn thần không phải là mê tín dị đoan, mà chính là hình thức rất độc đáo lưu giữ lịch sử huy hoàng và lâu đời của người Việt. Trong tâm linh Việt, rắn thần là những người con đã theo cha Lạc Long Quân đi khai phá miền sông nước biển Đông, là tổ tiên của 50 họ người Việt. Sự thật về quá khứ người Việt vẫn còn ẩn mình trong hang tối như rắn thần Kinh Vương Tử nơi Giếng Việt xưa.

Bài đăng trên Tạp chí Năng lượng mới, số Xuân Ất Tỵ 2025.

Thần tích thôn Thượng xã Xối Đông, phần nhà Trần

Trích dịch từ bản thần tích lưu tại đền Tây thôn Thượng xã Trung Đông, Trực Ninh, Nam Định.

… Lại nói, từ đó về sau, trải qua Nhân Tông, Anh Tông, Cao Tông, Huệ Tông. Đến Huệ Tông không có con trai kế tự bèn nhường ngôi cho con gái thứ là tên là Công chúa Phật Kim. Phật Kim sau liền cải hiệu là Chiêu Hoàng. Chẳng bao lâu Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Thái Tông. Đang khi đó nước Việt ra ở thôn Thượng Lỗi xã Đông Mặc huyện Mỹ Lộc phủ Thiên Trường đạo Sơn Nam có một nhà họ Trần tên là Phác, lấy bà Cao Thị Mỹ thôn Hạ xã Xối Đông huyện Tây Chân làm vợ. Gia thế Trần công vốn làm quan lớn ở triều Lý. Tới ông Phác thì gia cảnh bần bách, không có kế sinh nhai. Vợ chồng bèn gói ghém gia tài trở về quê vợ cùng xin phụ lão cho được ở lại đó để dạy dỗ con trẻ. Nhân dân vui mừng đều đồng ý nhận, tạo một học đường mời ông về ở đó, dạy dỗ sĩ tử. Qua vài năm trong quận huyện nghe tiếng, cũng đều gửi con đến nhập học. Từ đó gia đình ông trở nên đầy đủ hơn.  Một hôm vợ chồng nói với nhau rằng:

  • Ta tuổi đã ngoài ba mươi mà điềm khăn nỏ còn chưa thấy ở cửa huyền. Chi bằng nay hãy tạo phúc gây công, biết đâu ngày nào đó sẽ được trùm ơn, cũng là để thỏa nguyện bình sinh vậy. Sách nói rằng “tích thiện sẽ gặp được thiện, cầu nhân từ sẽ được đắc lòng nhân”. Sao cứ phải khư khư giữ lấy tài vật cho được vậy.

Thế là bèn phát tán hết gia sản để giúp đỡ người nghèo, chu cấp cho người thiếu, đem tài đem lực để ban phát thập phương, xây dựng một ngôi chùa ở trong dân, tô vẽ tượng Phật. Ngày ngày tiến cúng hương hoa. Thời thời tụng niệm chân kinh. Hễ là cần giúp người độ vật đều cố hết sức mà làm. Khi đó trời nóng bức, bà Cao Thị đi ra tắm gội ở bến sông trở về. Đến đêm hôm đó mộng thấy một thần tướng khoác áo bào màu hồng, đeo thắt lưng châu ngọc, thân cưỡi giao long, hai tay ôm một đứa nhỏ đẹp đẽ, đường đường tiến đến trước mặt nàng. Đang trong mộng bà rất kinh sợ, hô gấp Trần công cùng đến xúm bái. Người đó đưa đứa trẻ cho bà Cao Thị nói rằng:

  • Nhà họ Trần phúc hậu, trời đã biết đến. Ta vâng thiên mệnh đem con của Long cung đến thác nhập làm con nhà họ Trần để sau giúp nước triều Trần. Cẩn thận, cẩn thận. Chớ lộ, chớ lộ.

Khi đó bà ôm được đứa trẻ, chưa kịp làm lễ bái yết, trong lòng rất vui mừng thì đột nhiên tỉnh giấc, mới biết là điềm lành, kể lại cho Trần công biết. Tối hôm đó Trần công cũng nằm mộng thấy có một người tặng cho một bài thơ rằng:

Trời định thủy thần cho họ Trần
Vạn cổ núi sông để tiếng thơm
Phúc dày biết tạo, Trời ban phúc
Thấm ơn hưởng lộc tới muôn năm. 

Đến khi ông nghe bà nói, liên tưởng đến giấc mộng, cho rằng đây tất là điềm mộng lành. Từ đó vợ chồng uyên ương chung gối, loan phượng thành bầy. Chẳng bao lâu sau quả nhiên thấy phu nhân có mang thai. Đến kỳ mãn nguyệt sinh hạ một người con trai (khi đó là mùng 2 tháng Mười hai), diện mạo đẹp đẽ, quả giống như hình đứa trẻ trong mộng. Nhân sinh ở nơi chùa nên đặt tên là ông Phạm. Ngày qua tháng lại trải đã ba năm đã biết đi biết nói. Ăn như gió, đi như mưa. Thường thường ra bến sông rẽ nước mà đi xuống. Qua 7 ngày mới trở về dương thế. Người người thấy đều sợ hãi, gọi là thủy thần xuất thế. Đến năm 12 tuổi không học mà tự biết. Phàm trên từ thiên văn, dưới tới địa lý, không có việc gì là không biết, không có thứ gì là không hiểu, lại thạo cung nỏ, giỏi đọc xem hết binh thư. Bạn bè ai cũng sợ phục. Từ đó tiếng vang xa gần đều biết tới tên.

Khi tên tuổi vang đến triều đình, Thái Tông liền sai sứ thần về thôn Hạ xã Xối Đông gọi Trần công vào triều. Công vâng mệnh vào chầu, dẫn theo người con là ông Phạm cùng vào bái yết Đế. Thái Tông thấy ông Phạm có thể mạo khác thường, thực đúng là bậc tuất kiệt. Vua hỏi về tài năng, ông Phạm ứng đối làm Vua rất hài lòng. Ngay hôm đó Vua bái ông Phạm làm Ngự sử Trung thừa. Nhân vì ông Phác là người có tài, lại là người cùng tông phái nhà Trần nên bái ông Phác là Phủ doãn phủ Thiên Trường. Tất cả binh lương, tô thuế đều cho thuộc quản (ông Phác sau hóa được phong là Từ nhân Tập phúc Dao huống Đại vương, hưởng cúng ở thôn Hạ xã Xối Đông, do có bản chép riêng cho này này nên không chép chung vào bản này).

Lại nói, khi đó thôn Thượng xã Xối Đông có một nhà thi thư xử thế, hiếu đễ truyền gia họ Bùi tên Chấn, vợ là người thôn Trung cùng xã tên Nguyễn Thị Ngoạn. Vợ chầm đẹp duyên cầm sắt, uyên ương cùng hợp, lại thường có lòng tạo phúc, cố gắng làm điều nhân, không hề có tới nửa điểm mưa hại người, một hào tư lợi cũng không có lòng tham. Người người ở địa phương đều gọi là một gia đình tốt đẹp. Một bữa vợ chồng ông nhàn rỗi ngồi chơi uống rượu vui vẻ. Khi rượu đã thấm, phu nhân dựa lan can mơ màng thiếp đi, thấy có hai con gấu mờ mờ ảo ảo nhảy múa trước sân, phút chốc hóa thành hai con chim yến trắng. Phu nhân nắm bắt được hai con bạch yến thì bỗng tỉnh lại. Từ đó trong thân có mang. Mang thai được 10 tháng sinh hạ một bầu, nở ra hai người con trai (ngày mùng 10 tháng Mười hai), đều là vẻ rồng hàm én, mắt phượng mày ngài, khác xa với người thường. Cha mẹ rất vui mừng đặt tên người con lớn là ông Khiết, người con thứ là ông Tuyết. Xuân sinh hạ trưởng, đã được 6 năm. Cha mẹ gửi nhập học với Hoa Đường tiên sinh. Học được mấy năm văn võ kiêm toàn, thông minh xuất chúng.

Đến năm 15 tuổi cha mẹ thay nhau mất. Hai ông làm lễ chôn cất cha mẹ, hương khói phụng sự như nghi thức. Khi ấy gia tài đều đã hết, sáng vay tối nợ, bữa đực bữa cái, bốn bức gió lùa, vườn không cọng cỏ. Lúc đó anh em nghe tiếng vợ chồng Trần công (tức ông Phác) tích đức làm việc thiện bèn cùng nhau đến thôn Hạ xin nương tựa làm con nuôi của Trần công. Trần công thấy hai người anh em đều là những nam nhi tốt, rất là yêu mến, tình tuy là con nuôi mà thân như con đẻ. Từ đó hai ông (tức là chỉ ông Khiết, ông Tuyết) tìm được nơi nương tựa, không lo đói khát, dốc lòng chăm học. Được mấy năm thì sử sách trăm nhà không chỗ nào không từng xem. Khi ấy Trần công đã 49 tuổi, bỗng nhiên không bệnh mà mất. Vua cho ông Phạm trở về chôn cất cha. Lúc ấy phu nhân Cao Thị lại do thương tâm mà thành bệnh rồi mất. Ông Phạm cùng với ông Khiết, ông Tuyết làm lễ chôn cất. Đến sau ba năm đạo hiếu đã tròn ông Phạm lại trở về triều nhận chức, để hai người em ở lại gìn giữ gia đường.

Lại nói, khi Thái Tông lên ngôi được 33 năm thì nhường ngôi lại cho Thánh Tông. Thánh Tông khi mới lên ngôi hạ chiếu cầu người hiền, lệnh các châu huyện cử những người hiếu liêm, hiền lương, chính trực, có tài văn võ thì lên kinh thành để ứng tuyển. Lúc đó ông Phạm tiến cử hai người em với Vua. Vua thấy hai người có diện mạo khác thường, trong lòng rất mừng nói:

  • Trời vì triều ta mà đã sinh người hiền phụ giúp, sao lại gặp được muộn vậy. 

Ngay hôm đó bái ông Khiết là Tả bộc xạ, ông Tuyết là Hữu bộc xạ. Nhân việc ông Phạm tiến cử người hiền liền bái ông Phạm là Tấu thư Bác sĩ. Từ đó va ông ở trong triều giữ chức, thiên hạ thanh bình. Đến khi Thánh Tông truyền ngôi cho Nhân Tông, lấy niên hiệu Trùng Hưng. Khi đó Thái tử nước Nguyên là Trấn Nam vương Thoát Hoan cùng đại tướng Hô Mã Nhi, Nguyễn Bá Linh dẫn quân mạnh ba mươi vạn đến xâm chiếm nước ta nhằm cướp lấy nước. Quân thanh chấn động, tiến đến bờ biển. Nhân Tông tập hợp trăm quan định kế đánh dẹp. Khi ấy Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn kiên quyết xin đánh. Trần Phạm, Trương Long, Bùi Khiết, Bùi Tuyết cũng ra sức xin đánh. Vua bèn bái Hưng Đạo Đại vương là Đại Nguyên soái kiêm Chưởng thủy bộ hai quân, nhận năm vạn quân mạnh trấn giữ ở đồn giữa. Lại bái Trần Phạm làm Tả tướng, Trương Long là Hữu tướng, ông Khiết, ông Tuyết làm Điệu bái binh lương cho các lộ. Các ông vâng mệnh nhận quân chia đạo tiến thẳng. Khi đó Hưng Đạo Vương dẫn quân về trang Vạn Kiếp, xây dựng đồn doanh ở trên đất trang Vạn Kiếp. Ông Phạm trấn cứ ở sông Bạch Đằng nối đến sông Lục Đầu, cùng với Hưng Đạo Vương cùng nghênh giặc.

Còn ông Khiết, ông Tuyết cùng Trương Long nhân quân trở về đạo Sơn Nam xây dựng đồn doanh để làm nơi giữ phòng. Khi ấy ba ông nhân quân về xã Xối Đông chia ra lập thành ba đồn. Lúc đó ông Khiết lập một đồn ở thôn Thượng, gọi là đồn Thượng. Ông Tuyết lập một đồn ở thôn Trung, gọi là đồn Trung. Trương Long lập một đồn ở thôn Hạ, gọi là đồn Hạ (sau đổi thôn Hạ thành thôn Phú Gia). Nếu có lập mưu thì các ông tất đều cùng làm với nhau. Trải qua sáu tháng không phân thắng bại. Sau Trương Long được thủy thần Tam Lang dạy, có thể đi dưới đáy nước, đục phá thuyền giặc. Thuyền bè của giặc mất quá nửa. Khi ấy Hưng Đạo Vương cùng với ông Phạm và các quân liên tiếp giao chiến. Quân Nguyên thạo đánh đường thủy nên các ông bèn lên đánh trên bờ. Bỗng có thần Bạch Mã đến giúp. Quân sĩ Nguyên đều chạy tán loạn. Các ông thừa thắng đuổi dài, chém hơn hai trăm đầu tì tướng giặc, vài ngàn quân lính, bắn sống Hô Mã nhi, Nguyễn Bá Linh dẫn về doanh trại. Trấn Nam Vương Thoát Hoan chạy về nước. Hưng Đạo Vương cùng với ông dẫn Bá Linh ra xử tội, chặt làm 3 đoạn thả xuống cửa sông. Quân Nguyên gửi thư xin hòa. Hưng Đạo Vương truyền đem Mã Nhi về nước Bắc, đền gần cửa sông thì giả bị lật thuyền. Mã Nhi bị chết. Từ đó quân Nguyên không dám xâm phạm đất ta. Lúc ấy Nhân Tông luận công ban thưởng các cấp khác nhau, bèn phong Hưng Đạo Vương kiêm Thượng đẳng thần, thực ấp vạn hộ. Phong ông Phạm làm Khuông quốc hầu Chương tấu Phạm Đại vương. Phong ông Khiết là Dực vận hầu Khiết ốc Đại vương. Cho hai ông về xã Xối Đông lập sinh từ để ngày sau có chỗ hương hỏa hưởng thờ (còn ông Tuyết, Trương Long cũng phong Đại vương, được ghi rõ ở bản riêng).

Khi đó ông Phạm, ông Khiết vâng mệnh trở về xã Xối Đông (do ông Phạm lập đồn ở ba nơi, nên đến sau khi hóa ba thôn đều phụng thờ). Khi hai ông đến thôn Thượng truyền xây dựng một nơi sinh từ ở trong đất gần dân. Nhân dân vâng mệnh, xây dựng hoàn thành. Khi ấy ông Phạm dân biểu tâu xin được đi du chơi thiên hạ, trải xem sông núi. Vua đồng ý. Ông bèn đi xe dạo chơi. Một hôm ông đến núi Kim Nhan ở Hoan Châu, bèn lên núi ngắm cảnh. Đến nơi lưng núi bỗng thấy trời đất mù mịt, hổ thét gào. Rồi không thấy ông đâu nữa (tức ông Trần Phạm). Chỉ có ở chỗ ông ngồi thấy mối mới xây thành một gò đất lớn (khi ấy là 15 tháng Tám).

Lúc đó gia thần quân lính thấy vậy, quay về báo với nhân dân. Do người thôn Thượng xã Xối Đông theo ông Phạm thấy ông Phạm đã hóa bèn quay trở về báo với ông Khiết. Khi đó ông Khiết đang đi xe nhàn chơi. Ông Khiết lại dừng ở đất thôn Thượng, dạy đạo cho nhân dân. Ông bèn dâng biểu tâu lên Vua. Vua nghe tin, rất thương xót công thần có công lớn với nước bèn tặng phong sắc chỉ là Dực thánh Khuông quốc Phù vận Triệu mưu Lậu khê Chương tấu Phạm Đại vương. Cho ông Khiết đón sắc về thôn Thượng phụng thờ. Thế là ông Khiết truyền nhân dân thôn Thượng sửa sang chốn cũ đồn doanh để làm đền thờ mà phụng thờ. Ông Khiết ở lại nơi đất thôn Thượng, lấy nhân nghĩa lễ trí tín để giảng dạy cho nhân dân. Trong vài tháng dân trở nên thuần hậu, phong tục tốt đẹp, đất đai trù phú, đều là nhờ công đức của ông vậy.

Lại nói, ông sống ở đất đó qua 6 tháng. Một hôm ông bỗng nhiên bị bệnh liệt, cầu thần không có hiệu quả, uống thuốc không thuyên giảm. Ông mất ở trong nhà (khi đó là mùng 10 tháng Hai). Nhân dân bèn làm lễ chôn cất ở chỗ bên sông. Chôn cất xong, nhân dân dâng biểu tâu lên triều đình. Vua nhớ công lao lớn của ông với nước nhà liền phong thêm sắc chỉ là Dực vận hầu Khiết Ốc Đại vương, lệnh sứ thần đón sắc về nơi hóa, truyền nhân dân viết thần hiệu phụng thờ. Từ đó về sau các chư vị Đại vương của thôn Thượng có linh thiêng âm phù giúp nước, dẹp nạn trừ tai, cầu mưa cầu tạnh có nhiều linh ứng nên có nhiều đế vương phong thêm mỹ tự, sắc chỉ, vạn cổ hưởng thờ, muôn năm hương hỏa mãi không dứt. Tốt thay!

Phong Dực thánh Khuông quốc Phù vận Triệu mưu Lậu khê Chương tấu Phạm Đại vương.
Phong Dực vận hầu Khiết Ốc Đại vương.
Cho phép xã Xối Đông huyện Tây Chân phủ Thiên Trường đạo Sơn Nam phụng thờ.

Ngày sinh thần các chư vị đại vương cùng với các tiết khánh hạ và chữ húy phải cấm vâng khai như sau.

Linh Lang Đại vương sinh thần ngày 15 tháng Giêng. Lễ dùng trên dâng mâm chay, dưới là thịt lợn, xôi. Vào ngày chính có cỗ trai, bánh dày, ca hát, đấu vật mười ngày thì dừng. Hóa thần ngày 15 tháng Mười hai. Lễ dùng dâng chính mâm chay, trà quả, dưới là thịt lợn một màu, xôi, rượu.

Phạm công sinh thần ngày mùng 2 tháng Mười hai. Lễ dùng thịt lợn, xôi, ca hát, đấu vật năm ngày thì dừng. Hóa thần ngày 15 tháng Tám. Lễ dùng trên dâng oản quả, mâm chay, dưới là thịt lợn, xôi, rượu.

Khiết công sinh thần ngày mùng 10 tháng Mười hai. Lễ dùng thịt lợn, xôi, ca hát ba ngày thì dừng. Hóa thần ngày mùng 10 tháng Hai. Lễ dùng trên dâng mâm chay, dưới là thịt lợn, xôi, ca hát ba ngày thì ngừng.

Đại khánh hạ là ngày 15 tháng Mười một. Lễ dùng cỗ trâu, ca hát, đấu vật năm ngày thì dừng.

Mỗi năm hai kỳ xuân thu cứ hai tháng cuối mùa làm lễ bày tế. Làm lễ vật tùy nghi.

Các chữ húy Lang 郎, Phạm 梵, Khiết 潔, Hiển 顯 là bốn chữ nhất thiết cấm.
Chữ húy của các thánh phụ là Khiết 潔, Chấn 振, Phác 樸.
Các chữ húy tên không được gọi, viết văn không được dùng, chữ đọc đều phải tránh âm.

Mỹ tự có chữ Linh, chữ Quý, chữ Minh, chữ Chương, chữ Tấu, chữ Ốc. Các mỹ tự tên không được gọi , đọc đều phải tránh âm.