ĐÌNH HỮU NGHI – DI TÍCH NGHỆ THUẬT QUỐC GIA

1. THÔNG TIN CHUNG

Tên gọi: Đình Hữu Nghi

Tên khác: Đình Hữu Lân (tên gọi từ thời Hậu Lê trở về trước) 

Địa chỉ cụ thể: Tổ dân phố Hữu Nghi, phường Vân Hà, tỉnh Bắc Ninh

Vị trí địa lý và không gian cảnh quan:

Mô tả vị trí:  Đình nằm kề bên dòng sông Nguyệt Đức (sông Cầu), phía Bắc đường làng và hồ ao tổ dân phố Hữu Nghi, phía Đông, phía Tây, phía Nam giáp khu dân cư tổ dân phố Hữu Nghi. Thời xưa Hữu Nghi gọi là Hữu Lân, thuộc tổng Quang Biểu, huyện Việt Yên, phủ Bắc Hà.

Yếu tố phong thủy: đình Hữu Nghi nhìn theo hướng Nam – ra sông Cầu thơ mộng. Địa điểm đình nằm ở rìa trước làng Hữu Nghi, xung quanh 3 phía giáp với nhà dân, đằng sau còn có ngôi chùa cổ kính, đằng trước là hồ ao trong mát.

Niên đại khởi dựng và các lần trùng tu:

Thông qua kết quả khảo sát về hiện trạng di tích các tài liệu hiện vật ở đây, quan trọng nhất là hệ thống bia đá (hậu thần), có thể xác định đình Hữu Nghị là công trình tín ngưỡng văn hoá được xây dựng từ thời hậu Lê (thế kỷ XVIII). Hiện tại ở đây còn hai tấm bia cổ ghi niên hiệu Vĩnh Thịnh (từ năm 1706 đến 1719) đời vua Lê Dụ Tông.

Trải qua bao bước thăng trầm của lịch sử quê hương và đất nước, đình làng Hữu Nghi đã trùng tu sửa chữa nhiều lần vào triều Nguyễn. Qua nội dung các tấm bia đá và hiện trạng công trình đã cho ta thấy điều đó; hiện nay đình vẫn còn vững chắc, được nhân dân địa phương quan tâm bảo vệ chu đáo.

2. GIÁ TRỊ LỊCH SỬ

Nhân vật được thờ: 

Đình Hữu Nghi là công trình tín ngưỡng văn hoá tiêu biểu của dân thôn thờ phụng thành hoàng là đức thánh Tam Giang. Đây là một trong số hơn 300 làng thờ đức thánh Tam Giang dọc hai bờ sông Cầu (Nguyệt Đức) từ Ngã Ba Xà đến Lục Đầu Giang.

Sự kiện lịch sử, văn hóa gắn liền với di tích:

Sự tích về đức thánh Tam Giang được ghi lại trong bản khai của chức dịch địa phương vào năm 1938 như sau: 

Thánh mẫu là người họ Trương, người ở làng Vân Mẫu, huyện Quế Dương, sau là huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh. Năm 18 tuổi nhan sắc xinh đẹp; đến năm 22 tuổi bà nằm mộng thấy thần nhân giao cảm, từ đó mang thai 13 tháng rồi sinh được một bọc 4 người con trai, 1 người con gái, đặt tên thứ tự là Trương Hống, Trương Hát, Trương Lừng, Trương Lẫy và Trương Thị Đạm Nương.

​Khi lớn lên anh em họ Trương tài lực hơn người, sau ra giúp vua Triệu Đà đánh giặc có công. Vua phong cho là Đại tướng quân. Khi nhà Triệu mất nước, Ngài về ở ẩn tại núi Vũ Ninh, đến khi nhà Lý làm vua có triệu Ngài ra làm quan, nhưng Ngài không ra, mấy anh em xuống một chiếc thuyền, giả làm thuyền buôn, đi đến Ngã Ba sông Nguyệt Đức, một đàng đi về Sóc Sơn, một đàng về Tam Kỳ, Ngài đã đục thuyền để tự thác, tức là ngày mùng 8 tháng tư. 

Đến đời vua Triệu Quang Phục làm vua, nhà Lương bên Tàu có sai tướng Dương Sàn đem quân sang xâm lấn nước ta. Nhà vua đem quân ra chống cự không được. Ngài âm phù, đánh tan được quân Tàu, đuổi được quân Dương Sàn về. Vua Triệu Quang Phục phong cho Ngài là Tam Giang thượng đẳng thần.

Sau đến đời vua Lê Đại Hành, vua Tống Thái Tổ bên Tàu sai tướng Nhân Bảo, Tồn Phúc sang xâm lấn nước ta, vua Lê phải đem quân ra đất Phù Lan chống giữ. Vua có mộng thấy hai người thần đến tâu rằng: 

– Hai anh em chúng tôi là họ Trương, trước có giúp vua Triệu bình giặc Lương, nay xin giúp nhà vua đánh giặc để yên nước Nam.

Đến nửa đêm quả thấy khí trời mờ ám, mưa to gió lớn và văng vẳng trên không có tiếng ngâm thơ, rồi quân nhà Tống vỡ tan. Dẹp giặc yên, vua Lê phong thưởng cho Ngài là Khước địch Đại tướng, sai các làng ở bên bờ sông Nguyệt Đức phụng thờ.

3. KIẾN TRÚC VÀ NGHỆ THUẬT

Bố cục mặt bằng tổng thể và các hạng mục chính:

Mô tả bố cục: Đình có bố cục kiến trúc kiểu chữ Đinh gồm tòa tiền đình 03 gian, 02 chái và tòa hậu cung  02 gian.

Mô tả từng hạng mục:

Đình Hữu Nghị là công trình kiến trúc nghệ thuật cổ kính, trải qua nhiều lần tu bổ đến nay công trình kiến trúc này vẫn giữ được giá trị cơ bản của mình. Mái đình thấp là đặc điểm kiến trúc của các ngôi đình thời hậu Lê, nhưng nó được tạo dáng thanh thoát nhẹ nhàng bởi các đầu đao cong mái lượn. Chính giữa bờ nóc đình có đắp lưỡng long chầu nguyệt.  Sân đình hẹp bởi đằng trước là đường làng và hồ ao, hai bên là ngõ xóm.

Toàn bộ cấu trúc khung mái toà đại đình tuy không đồ sộ như một số đình khác nhưng kiểu dáng kiến trúc ở đây đẹp phù hợp với khung cảnh thiên nhiên. Các cấu kiện kiến trúc đều bằng gỗ lim chắc khỏe nay đã nhuốm màu thời gian. Tòa hậu cung hình chuôi vồ nối với đại đình, được kiến trúc xây dựng sau (thời Nguyễn), theo lối thượng con chồng rường, hạ xà nách.

Kết cấu chiếu ngang, liên kết các vì kèo của đình Hữu Nghị là hệ thống xà dọc, xà thượng và xà hạ. Không thấy các vết rãnh trên thân xà, chứng tỏ rằng nguyên thuỷ đình cũng không có ván nong. Hệ thống bảy ở đình là các đầu kẻ tràng chạy suốt từ trên các đầu xuống đỡ mái tàu, đây là thành phần kiến trúc quan trọng tạo nên giá trị nghệ thuật cho ngôi đình này.

Bốn đầu dao đại đình đều được xây cột gạch đỡ bên dưới vừa để tạo dáng kiến trúc vừa cho thêm phần chắc chắn. Ba mặt còn lại của đại đình được xây dựng tường gạch, mặt ngoài để trơn không trát và trang trí gì ngoài các ô lỗ song gạch nhỏ để thông thoáng khí. Hai đầu hồi toà đại đình được đắp vát mặt hộ phủ trông dữ tợn, che lấp phần cấu trúc gỗ bên trong khỏi bị mưa nắng hắt vào. Kết cấu bên trong tòa đại đình theo kiểu truyền thống thời hậu Lê kẻ tràng cánh ác, thượng như chính đình, bao gồm 5 gian hai dĩ. Cấu trúc gỗ phần mái được phân bố trên 44 cột lớn nhỏ, các góc đình được kết cấu bằng 4 cột con ngoài tạo thành hình tứ diện. Các cột này nối với nhau 4 cột ngoài cao hơn qua một hệ kẻ tràng chạy suốt lên tận trên. Kết cấu chiều dọc từ góc đình vào gian cạnh là hệ thống xà cộc, con chồng kẻ đấu vững chắc.

​Toàn hoành dui làm bằng gỗ lim bào trơn đóng bén vuông thành sắc cạnh. Các kẻ tràng đều một đầu trên cho qua cột cái chừng 40cm để gánh đỡ đầu cẩu thực sự chịu lực chứ không như đầu dơ. Đó là đặc điểm kiến trúc ở công trình di tích này. Đầu dưới của các kẻ tràng lao thẳng tận hiên đỡ tàu mái. Riêng gian giữa ở phía trong thì không phải kẻ tràng mà là các cột con nối xuống tường chạy dọc vào hậu cung chuôi vồ.

Bên trong tòa hậu cung được kết cấu hai gian, theo lối thượng con chồng, hạ xà nách. Bệ thờ xây gạch trát kín không đắp vẽ gì. Bên trên đặt ngai thờ thánh nhưng không có bài vị. Phần hậu cung chuôi vồ khắc với đình các nơi là nó không nối liền với toà đại đình mà nó là hai gian nhà có tường hồi gắn áp vào tường hậu gian giữa toà đại đình, được kiến trúc xây dựng sau (thời Nguyễn).

Nghệ thuật trang trí, điêu khắc: 

Chạm khắc gỗ: 

Nghệ thuật chạm khắc ở đây chủ yếu tập trung ở các mảng thuộc gian giữa toà đại đình, đề tài chủ yếu là hình tứ linh (long, ly, quy, phượng), tứ quý (tùng, trúc, cúc, mai) xen lẫn các hình hoa lá cách điệu, rồng hóa trúc, phương múa… đây là đề tài thường gặp ở các ngôi đình có niên đại tương đương.

Cửa võng là thành phần chạm khắc nghệ thuật thuộc loại hình di tích kiến trúc- nghệ thuật, nối liền hai cột bên trong gian giữa với nhau làm rực rỡ hơn lên không gian trong đình. Tầng trên là hình lưỡng long chầu vào nhau, hàng thứ hai chia thành 5 ô: ô giữa hình chữ nhật khắc ở trong 3 chữ Hán “Tối linh từ” sơn son thếp vàng rực rỡ, các ô kia hình vuông bên trong chạm hình phượng múa và hoa lá cách điệu. Hai hàng bên dưới cũng phân thành các ô hình học phát triển theo chiều ngang của đình, bên trong chạm lộng các hình tứ linh và hoa lá cách điệu. Hai bên diềm cửa võng chạm khắc đôi rồng hoá rực đăng tự thế lao xuống, cùng với phần râu chấn bên trên tạo thành hình lưỡng mãng ôm che các ô trang trí bên trên cửa võng. Dọc theo diềm hai bên cửa võng có hai ô dài chạy thẳng từ trên xuống cách chân cột 0,7cm, tạo thành đôi câu đối chữ Hán thếp vàng, nền sơn son rực rỡ nội dung ca ngợi đức thánh được thờ ở trong đình Đầu dưới hai câu đối có hai ô vuông như bên trên, ở trong chạm hai con ly liễn rất sinh động.

​Cửa hậu cung đình có 4 cột gỗ tạo thành 3 ô cửa, hai cửa cạnh khung tranh, cánh ác kín không chạm trổ, ở giữa là cửa hình vuông để thông vào hậu cung (cửa cấm) có 4 cánh ghép lại, không phải để đi lại, mà là để thánh cung nhìn ra ngoài đại đình.

So với các di tích khác, hệ thống chạm khắc gỗ của đình Hữu Nghi giữ lại không nhiều nhưng phần nào vẫn tạo cho di tích sự cổ kính, có giá trị nghiên cứu lịch sử, mỹ thuật, kiến trúc.

Đắp vữa, ghép mảnh: Với các đề tài lưỡng long chầu nguyệt trên mái đình, tứ linh, hoa văn… phong cách nghệ thuật thời Nguyễn thể hiện ở các cấu kiện bên ngoài như mái đình, cột trụ cổng đình.

4. GIÁ TRỊ HIỆN VẬT

Bài trí thờ tự: Nơi quan trọng và linh thiêng nhất của đình là gian hậu cung. Tại đình Hữu Nghi hiện nay, trong hậu cung bài trí đơn giản, chính giữa có một ngai thờ cổ sơn son thiếp vàng đặt ở vị trí cao nhất; bên dưới có bát hương, lọ hoa. Hệ thống kèo cột ở đây không có chạm khắc, sơn thiếp, không có hoành phi, câu đối. 

Bên ngoài, tại tiền tế có một án thờ bày bát hương, chân nến, lọ hoa, mâm bồng và hệ thống nghi trượng gồm bát bửu, chấp kích, tán lọng, hai bên có đôi ngựa gỗ to như ngựa thật: một ngựa sơn màu đỏ mận, một ngựa sơn màu trắng, cạnh đó đặt chiêng, trống, kiệu bát cống… Nhìn chung trải qua thời gian với nhiều biến động, những hiện vật cổ tại đình Hữu Nghi không còn nhiều, việc bày biện hiện nay đơn giản, phần lớn là đồ thờ tự mới. 

Di sản Hán Nôm quan trọng: 

Đình Hữu Nghi không còn giữ được các tài liệu cổ như sắc phong, thần phả, văn tế… Tra cứu hồ sơ lưu trữ tại Viện thông tin khoa học xã hội, vào năm 1938 theo bản kê khai thần tích, thần sắc của làng thì vào thời điểm đó tại đình có 04 đạo sắc phong đời vua Thiệu Trị (năm 1846), 03 đạo sắc phong đời vua Tự Đức (các năm 1850 và 1879), 01 đạo sắc đời vua Đồng Khánh (năm 1887), 01 đạo sắc đời vua Duy Tân (năm 1909), 01 đạo sắc đời vua Khải Định (năm 1924).

Về hoành phi, câu đối cổ tại đình còn giữ được ít câu đối, như trên có bộ cửa võng gỗ cổ trước tiền tế có bức hoành phi “Tối linh từ” (Linh thiêng nhất), hai bên có câu đối:

Giang gian chiến hạm trung huynh đệ
Thiên thượng ngâm thi tiệt Bắc Nam.

Dịch là:

Giữa sông thuyền đắm, tỏ lòng trung hai anh em
Trên trời ngâm thơ, phân rạch rõ Nam Bắc.

Một câu khác có nội dung như sau:

Phúc dân khả bái tam công tước
Thọ thánh năng hô vạn tuế thanh.

Dịch là:

Phúc dân có thể bái tước Tam công
Chúc thánh có thể hô tiếng Vạn tuế.

Về bia đá, tại đình Hữu Nghi còn giữ được 02 tấm bia đá cổ, dạng bia tứ diện (04 mặt), một bia là “Lưu trạch bi văn, vĩnh thùy phụng sự” ghi công đức và lập hậu thần vào niên hiệu Vĩnh Thịnh của vua Lê Dụ Tông năm Nhâm Thìn (1712) và một bia “Hậu thần bi ký” là bia lập hậu thần vào thời nhà Nguyễn niên hiệu Tự Đức năm Quý Dậu (1873) ngày 12 tháng Giêng.

5. LỄ HỘI VÀ PHONG TỤC VĂN HÓA

Lễ hội chính: 

Hằng năm, hội lệ đình Hữu Nghi được tổ chức vào ngày mồng 07 tháng Giêng âm lịch, đây là lễ hội truyền thống của đình. Trong ngày lễ hội có phần nghi thức rước và tế thành hoàng được tổ chức long trọng với các nghi lễ tế Thánh, dâng hương, rước kiệu.

Về phần hội, sau phần lễ sẽ  là phần hội với nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ với những trò chơi dân gian mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc thu hút đông đảo người dân tham gia  như cờ người, đánh đu, đấu vật, chọi gà, hát quan họ, hát nhà tơ trước cửa đình… 

Theo lệ xưa, vào ngày 12 tháng 8 âm lịch tại đình còn tổ chức vào đám kỳ phúc, lễ vật không thể thiếu dâng lên cúng thánh là rượu hoàng tửu và chuối; những năm được mùa có thêm thịt lợn dâng cúng. Vì làng Hữu Nghi có giao hiếu với làng Cao Lôi nên vào lễ kỳ phúc, người dân Cao Lôi cử đại diện mang lễ vật đến cúng Thành hoàng làng Hữu Nghi, ngược lại khi làng Cao Lôi làm lễ hội, dân làng Hữu Nghi cũng cử đại diện mang đồ lễ đến cúng tế. 

Ngoài các hoạt động lễ hội nói trên, xưa kia làng Hữu Nghi còn kết chạ với làng quan họ Hữu Chấp (Bắc Ninh) nên vào dịp Tết Nguyên đán, lễ hội tháng Giêng cho hết tháng 4 âm lịch, những lúc nông nhàn, Quan họ của làng sẽ đi hát ở các nơi trong vùng như hát ở Quang Biểu, Giá Sơn, Mai Vũ, Nội Ninh, Sen Hồ (Bắc Giang) và Hữu Chấp (Bắc Ninh).

6. KẾT LUẬN

Văn bản công nhận di tích:

Với những giá trị về mặt nghệ thuật, đình Hữu Nghi đã được Bộ Văn hóa xếp hạng là di tích nghệ thuật cấp Quốc gia theo quyết định số 1568/QĐBT, ngày 20 tháng 4 năm 1995. 

Bia Lưu trạch bi văn Vĩnh thùy phụng sự năm Vĩnh Thịnh (1712)Bia Hậu thần bi ký niên hiệu Tự Đức (1873)

Đình Hữu Nghi

Cửa võng và câu đối đình Hữu Nghi.

ĐỀN LÀNG VÂN – DI TÍCH KIẾN TRÚC NGHỆ THUẬT QUỐC GIA

1. THÔNG TIN CHUNG

Tên gọi: Đền làng Vân 

Tên khác: Đền chính làng Yên Viên

Địa chỉ cụ thể: Tổ dân phố Yên Viên, phường Vân Hà, tỉnh Bắc Ninh

Vị trí địa lý và không gian cảnh quan:

Mô tả vị trí: Đền có vị trí cạnh dòng sông Cầu theo hướng Tây nhìn ra bến đò Vân sang làng Đại Lâm.

Yếu tố phong thủy: Làng Vân Hà có tên chữ là Yên Viên, chạy dài hơn 1km dọc theo bờ Bắc sông Cầu, đối diện với làng Đại Lâm ở bên kia sông. Vì ba mặt giáp sông nên muốn vào làng Vân phải qua ba bến đò ngang ở phía Đông sang Quả Cảm, phía Tây sang Đại Lâm, phía Nam qua làng Thổ Hà. Còn một con đường bộ ở phía Bắc của làng đi men dãy núi Tiên Lát và thường chỉ thuận tiện vào khô.

Có câu ca dao ở vùng này:

Vạn Vân có bến Thổ Hà
Vạn Vân nấu rượu, Thổ Hà nung vôi
Nghĩ rằng đá nát thì thôi
Ai ngờ đá nát nung vôi lại nồng.

Niên đại khởi dựng và các lần trùng tu:

Đền Vân được xây dựng từ lâu đời, được được tu bổ tôn tạo vào thời Lê Trung hưng (thế kỷ XVII- XVIII), thời Nguyễn (thế kỷ XIX – XX) và những năm gần đây. Trải qua thời gian ngôi đền đã được tu sửa hiện nay vẫn bảo lưu được kiến trúc cổ.

Thượng lương của đền hiện nay có khắc dòng chữ: Tuế thứ Bính Thân mạnh thu thất nguyệt cốc nhật lương thời thụ trụ thượng lương. Nghĩa là: Năm Bính Thân đầu thu tháng 7 ngày lành giờ tốt dựng cột thượng lương. Chữ khắc là thể chữ thời Lê. Năm Bính Thân dựng đền như vậy có thể đoán định là năm 1776 dưới niên hiệu Cảnh Hưng của vua Lê Hiển Tông.

2. GIÁ TRỊ LỊCH SỬ

Nhân vật được thờ: 

Đức thánh Tam Giang Khước địch Đại vương (Trương Hống) và thánh mẫu Phùng Thị Từ Nhan.

Sự kiện lịch sử, văn hóa gắn liền với di tích:

Đền Vân gắn với tín ngưỡng thờ đức thánh Tam Giang là danh tướng của Triệu Việt Vương, đã có nhiều công lao trong việc dẹp giặc giữ nước, trung nghĩa hy sinh, hóa thủy thần phù trợ các đời Ngô, Lý, Trần, Hậu Lê đuổi giặc yên dân. Đền là trung tâm tín ngưỡng, sinh hoạt văn hóa của nhân dân, đồng thời ca ngợi truyền thống uống nước nhớ nguồn, tôn vinh người có công với  quê hương đất nước.

Theo thần tích làng Thượng Lát (xã Tiên Lát, huyện Việt Yên, Bắc Giang xưa), đời Tiề Lý Nam Đế có bà Từ Nhan người làng Vân Mẫu, huyện Quế Dương, quận Vũ Ninh nằm chiêm bao tắm ở sông Lục Đầu, thấy thần long quấn vào mình mà có thai. Được 14 tháng đến mồng 6 tháng Giêng năm Nhâm Ngọ sinh 5 con, 4 con trai 1 con gái, đặt tên là: Hống, Hát, Lẫy và Lừng và Đậu nương. Đến rằm tháng 4 năm Kỷ Hợi  ngày 15 tháng Tư đức thánh mẫu cõi trần lánh bước.

Anh em đức thánh Tam Giang theo học ông Lữ tiên sinh tập đọc binh thư, lầu thông văn võ. Khi tuổi đã 20, gặp khi trong nước có loạn là nhà Lương Đại Đồng bên Tầu sai danh tướng là Trần Bá Tiên và Dương Phiêu đem quân sang đánh nước Nam ta, làm nhiễu muôn dân, đau lòng trăm họ. Triệu Việt Vương nhận ủy quyền của Lý Nam Đế, lui quân về Dạ Trạch chống cự với Trần Bá Tiên. anh em đức thánh Tam Giang nghe thấy nhà vua có lệnh chiêu tài, anh em bàn nhau tính kế lập thân, mộ quân để đi giúp nước. Ông Triệu Quang Phục phong cho ông Cả làm quan Thượng tướng quân, ông Hai làm Phó tướng quân, ông Ba, ông Tư đều làm tùy tướng.

Dẹp giặc xong rồi, ông Triệu Quang Phục kéo quân về đóng đô ở thành Long Biên, xưng là Triệu Việt Vương, phong cho ông Cả thực ấp Kinh Bắc (là Bắc Ninh), ông Hai thực ấp Đông Ngàn (là làng Tam Lư). 

Khi Lý Phật Tử, là dòng dõi Tiền Lý Nam Đế đem quân đánh Triệu Việt Vương. Hai ông cầm quân ra đánh, đuổi Lý Phật Tử lui về Ô Diên. Lý Phật Tử cầu hòa với Triệu Việt Vương, cầu thân cho con trai là Nhã Lang lấy con gái vua Triệu là Cảo Nương. Hai vị Trương tướng quân ra sức can ngăn, nhưng vua không nghe. Các ông bèn nạp chức từ quan, về rừng Phù Long (thuộc tỉnh Sơn Tây, huyện Phúc Thọ, xã Phù Long) mà ở.

Lý Phật Tử bày kế cho Nhã Lang ở rể, lấy trộm bảo bối mũ long trảo đâu mâu của Triệu Việt Vương, rồi kéo quân đến đánh. Triệu Việt Vương cùng đường ở Đại Nha hải khẩu. Lý Phật Tử lên ngôi xưng là Hậu Lý Nam Đế.

Lý Phật Tử biết anh em Trương tướng quân là bực có tài, muốn mua chuộc lòng người cho yên thiên hạ, sai người đi tìm đón 2 vị Trương tướng quân ra làm quan giúp mình, nhưng hai anh em kiên quyết từ chối. 

Cả nhà hai ông cùng xuống thuyền giả làm thuyền buôn xuôi về quê tảo mộ. Khi chèo thuyền vào đến sông Vũ Bình, Ngã ba Xà, thấy chốn ấy giang sơn tú khí, phong thủy hữu tình, chèo thuyền ra giữa sông đánh đắm thuyền mà tự vẫn cả nhà (tức sông Nguyệt Đức thuộc Phương La xã, Yên Phong huyện tỉnh Bắc Giang). Thuyền  ông Hai trôi xuống ngã ba Nhãn(tức là Phượng Nhãn xã, Phượng Nhãn huyện, Bắc Giang tỉnh), thấy phong cảnh chung linh, cũng đánh đắm thuyền cùng cả nhà tự vẫn, là ngày mồng 10 tháng 4.

Lý Phật Tử thương tiếc hối lại phong ông Cả là: Vũ Lâm Lang Quả nghị Linh ứng Thượng tướng quân. Phong cho ông Hai là: Đại thụ tướng quân

Đến đời nhà Hậu Ngô ông Văn Xương xưng là Nam Tấn Vương đánh giặc Lý Huy ở núi Côn Luân đưa quân vào đóng ở rừng Phù Long, được 2 ông âm phù dẹp giặc. Dẹp giặc yên rồi sai sứ đi truyền các làng ở 2 bên bờ sông Vũ Bình và Phú Lương phải lập đền thờ cả. Phong cho ông anh Đại Đương giang Hộ quốc Thần vương. Truyền tổng Vân Mẫu làm đền thờ bà thánh mẫu, phong là Thượng đẳng Phúc thần.

Đời Lê Đại Hành năm thứ 2 bên Tầu nhà Tống sai người hầu Nhân Bảo đem quân sang đánh nước ta, đã vào đến sông Đại Than rồi. Vua cùng quan võ là Phạm Cự Lưỡng đem 20 vạn quân đi đánh. Khi đến làng Tam Lư huyện Đông Ngàn trời đã tối phải tạm đóng quân ở đấy. Vua truyền sửa lễ cầu thần âm trợ. Thấy đến canh ba trong cung có tiếng ngâm thơ Nam quốc sơn hà. Quả nhiên trận ấy ông Lê Đại Hành thắng trận bắt được không biết bao nhiêu quân giặc. Vua lại truyền 2 bên sông Nguyệt Đức, sông Nam Bình phải lập  miếu thờ. Lại phong cho ông anh là Khước địch Đại vương, phong cho ông em là Uy địch Đại vương.

Đến đời ông Lý Nhân Tôn lại phong cho ông anh là Sảng bang Khước địch Đại vương Thượng đẳng thần. Ông em là Hiển thắng Uy địch đại vương Thượng đẳng thần. Gia phong cho ông thứ 3 là Lân Nhĩ Đại vương, ông thứ 4 là Lã Sậu Đại vương, bà em gái là Lương Mỹ Đạm Tam Giang Công chúa. Người cháu tên là Trương Kiều phong là Thác Sơn Bình Đảng Phúc thần.

Đời nhà Lý Nhân Tôn bên Tầu sai quân sang đánh nước ta. Đức Nhân Tôn sai ông Lý Thường Kiệt đem quân đi đánh giặc đến làng Phương La sửa lễ cầu thần trợ chiến, bỗng nghe tiếng ở trên không ngâm thơ rằng:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Tiếng ngâm như sấm sét, quân nhà Tống nhe thấy tự nhiên hồn xiêu phách lạc, chạy cả về Tầu.

Ông Lý Thường Kiệt làm sớ tấu vua có âm phù mọi nhẽ. Vua lại truyền hai bên bờ sông Vũ Bình và Nam Bình lập miếu thờ.

Đời Trần Nhân Tôn phong ông Cả là Khước địch Đại vương, gia phong Khương hựu Thượng đẳng phúc thần. Ông Hai là Uy địch Đại vương, gia phong Dũng cảm Phúc thần. Đến năm Hưng Long thứ 21 lại gia phong ông Cả hai chữ Trợ thuận, ông Hai hai chữ Hiển thắng.

3. KIẾN TRÚC VÀ NGHỆ THUẬT

Bố cục mặt bằng tổng thể và các hạng mục chính:

Đền Chính làng Vân có bố cục kiến trúc kiểu “tiền nhất, hậu công” gồm các hạng mục 7 gian tiền tế, 5 gian trung đường, dải ống muống, 5 gian hậu cung, 1 gian chui vồ và các hạng mục phụ trợ khác. Phía trước đền là bãi vật cầu nước. Cạnh đó là một ngôi miếu nhỏ thờ mẫu.

Nghệ thuật trang trí, điêu khắc: 

Đặc sắc nổi bật nhất của đền Vân chính là kiến trúc nghệ thuật điêu khắc, trạm trổ tinh xảo thể hiện toàn bộ trên hạng mục công trình. Đó là trên mái với các đầu đao cong vút trạm hoa văn, mái ngói cổ kính với 4 góc đao cong. Chính giữa bờ nóc đắp hình lưỡng long chầu mặt trời,  bờ dải có nghê sóc vờn nhau. Đầu hồi là rồng phượng bay. Bên trong các kết cấu  kiến trúc kẻ, bảy, con chồng đấu kê, vì kèo truyền thống kẻ tràng, cánh ác. Các cấu kiện kiến trúc bằng gỗ lim chạm khắc tinh xảo đủ đề tài dân gian truyền tải ước vọng của người xưa.

Nghệ thuật tạo hình, chạm khắc trang trí ở đền Vân giàu tính dân gian; có nhiều hoạ tiết cách điệu, đặc tả chi tiết trên các cấu kiện, thớ gỗ làm cho ngôi đền trở lên cổ kính. Đặc biệt các mảng chạm khắc được tập trung ở gian giữa tòa tiền đường. Đó là các đề tài tứ linh, tứ quý xen lẫn, hình hoa lá cách điệu, rồng hóa trúc, hình phượng múa… với đường nét mềm mại, tinh tế mang đậm phong cách nghệ thuật thời Lê  trung hưng (thế kỷ XVI).

4. GIÁ TRỊ HIỆN VẬT

Bài trí thờ tự: 

Khi bước vào gian tiền tế, sẽ thấy ngay bức hoành phi lớn sơn son thếp vàng đề chữ: Mỹ tục khả phong, niên đại Tự Đức thứ 18 (1863), cho biết làng Vân là làng có truyền thống tốt, được triều đình công nhận.

Chính điện tiền tế có đôi câu đối:

Khước Lý bất thần cao tiết, Phù Lan sơn phong thượng phiến thạch
Phụ Lê hiển thánh linh thanh, Như Nguyệt giang không trung nhất thi.

Nghĩa là:

Từ Lý không làm thần tiết nghĩa cao, trên ngọn Phù Lan nêu tấm đá
Giúp Lê hiển thánh tỏ linh thiêng, giữa sông Như Nguyệt vọng bài thơ. 

Câu đối này có dòng lạc khoản đề: Long phi Đinh Hợi niên thu chi mạnh. Bản tổng chánh tổng kiêm huyện hội viên Nguyễn Thiều cung tiến. Nghĩa là câu đối được làm vào tháng đầu thu (tháng 7 âm lịch) năm Đinh Hợi thời Nguyễn, do chánh tổng kiêm huyện hội viên là Nguyễn Thiều cung tiến. 

Trước gian trung cung là hương án và bức cửa võng cổ, thếp vàng, chạm trổ tinh xảo. Bên trên treo bức hoành phi lớn sơn son thếp vàng đề Vạn cổ anh linh dòng lạc khoản Kỷ Tỵ niên trọng đông trùng tu, nghĩa là được trùng tu vào giữa mùa đông (tháng 11 âm lịch) năm Kỷ Tỵ.

Hai bên hương án cũng có 2 bức cửa võng nhỏ hơn, chạm rồng chầu, phượng, hoa lá. Cạnh cửa võng nhỏ là đôi câu đối:

Thiên thượng ngâm thi, Gia Cát tử do tẩu Ngụy
Sơn trung thải quyết, Bá Di sinh bất thần Chu.

Nghĩa là:

Trên trời ngâm thơ, Gia Cát chết còn đuổi Ngụy
Trong núi hái rau, Bá Di sống chẳng thần Chu.

Qua 2 cửa võng nhỏ theo dải ống muống dẫn vào tới tượng 2 vị quân hầu đang đứng ở hai bên cửa vào hậu cung. Cạnh tượng 2 vị quân hầu có câu đối:

Kỳ đỉnh minh công thiên cổ tại
Miếu đình truy tự ức niên trường.

Nghĩa là:

Cờ đỉnh ghi công ngàn đời đó
Miếu đình truy thờ mãi muôn năm.

Trong hậu cung có dựng cung khám thờ lớn bằng gỗ, dạng như một ngôi miếu nhỏ. Quanh khám có chạm rồng chầu, phượng, lân, trúc… đều được thếp vàng. Giáp mái phía trên khám là mảng chạm gỗ rồng chầu, phượng và bức hoành phi lớn đề: Thanh miếu anh linh. Trong khám là bức tượng thánh Tam Giang kích thước như người thật ở tư thế ngồi. Bên trong khám có vẽ tranh trên bức vách sau tượng.

Phía trước khám là tượng gỗ 2 vị quan hầu đang đứng, phong thái rất đẹp, đội mũ đinh tự (thời Lê). Trên bàn án đặt quả cầu gỗ lớn, là quả cầu dùng trong lễ hội vật cầu nước của làng Vân. Phía trước khám có đôi câu đối:

Bắc giang hiển tiết liên huynh đệ
Nam quốc bao phong lịch đế vương.

Nghĩa là:

Sông Bắc tỏ tiết anh em cả
Nước Nam phong tặng đế vương nhiều.

Hai bên cột trong của khám có đôi câu đối:

Thoái lỗ nhất thi, Nam đế sơn hà ngưng tuấn liệt
Khước trưng lưỡng mệnh, Bắc thiên cương tỉnh hiển cao phong.

Nghĩa là:

Đuổi giặc một bài thơ, núi sông vua Nam ngưng vẻ rạng
Từ chối mời hai mệnh, đất đai trời Bắc tỏ khí cao.

Đồ thờ: Đền Chính còn lưu giữ được nhiều hiện vật cổ như 3 bộ cửa võng, kiệu bát cống, hương án, bát bửu, chấp kích cổ, các bát hương gốm Thổ Hà tinh xảo. 1 đôi ngựa hồng bạch gỗ ở hai bên nhà tiền tế. 1 bức tranh gỗ sơn son thếp vàng đề năm Tự Đức Bính Dần (1866) treo trên cửa hậu cung. Phía trên trần gian tiền tế có tranh vẽ màu hình Long phún thủy. Khám thờ gỗ sơn thếp vàng ở hậu cung. Quả cầu vật gỗ, 2 chiếc mũ thờ gỗ chạm rồng, sơn thếp vàng để trên ban hậu cung. Một chiếc chuông đồng nhỏ.

Di sản Hán Nôm quan trọng: 

Ngoài những câu đối ở trong đền đã giới thiệu thì ở nghi môn ngoài của đền có lưu các câu đối sau:

Thắng cảnh huy hoàng tân thế kỷ
Phong quang đại lộ cựu danh lam.

Câu 2:
Sơn đức hải ân thùy ấm dụ
Ngọc nha châu khỏa thụ căn thâm.

Câu 3:
Kình thiên ngật lập đạo lý cương thường trụ
Động địa kinh khai nhân luân nghiêm kính môn.

Câu 4:
Đại địa giai xuân, tích thiện chi dân dư khánh
Duy thiên giáng phúc, khắc xương quyết hậu đa tường.

Câu 5:
Chính khí lưu nhạc quang, dĩ hậu tường vân tập
Đạo thông đối càn khôn, vu kim Đức thủy lai.

Tại đền Vân hiện đang cất giữ được 9 bản sắc phong cổ, tuy chưa rõ niên đại. Ban khánh tiết ở làng cũng đã phiên âm bộ văn tế cổ để hành lễ theo các tiết. Trong đó có các bài tế các ngày Sóc, ngày sinh hóa của thánh Tam Giang, ngày kỵ của Thánh mẫu…

5. LỄ HỘI VÀ PHONG TỤC VĂN HÓA

Lễ hội chính: 

Hằng năm, hội lệ đền Vân được nhân dân địa phương tổ chức vào ngày 18 tháng 4 âm lịch để tưởng nhớ tới công trạng của Thành Hoàng làng. Trong ngày lễ hội, phần nghi thức tế Thành hoàng được tổ chức trang trọng. Phần hội được tổ chức với nhiều trò chơi dân gian: đấu vật, chọi gà, chơi đu, hát quan họ. Đặc biệt đền Vân còn là nơi diễn ra lễ hội vật cầu nước một lễ hội dân gian cổ truyền độc đáo của xứ Kinh Bắc, lễ hội diễn ra 4 năm một lần. Ý nghĩa là lễ hội dân gian thể hiện tín ngưỡng thờ Trời (trời tròn), cầu mong mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu, lễ hội mừng các chiến công và sự linh thiêng phù trợ của đức thánh Tam Giang.

Lễ hội Vật cầu nước làng Vân đã được đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật quốc gia Quyết định số 63/QĐ-BVHTTDL ngày 12/01/2022.

Lễ hội diễn ra trên một sân lớn được đổ đầy bùn và nước. Quả cầu được làm bằng gỗ mít nặng khoảng 20 kg. Quy định đội thi đấu có 16 thanh niên khoẻ mạnh tham gia lễ hội vật gọi là quân cầu và được tuyển chọn theo quy định. Các quân cầu phải giữ mình trong sạch, ăn chay, kiêng yêu đương trong thời gian diễn ra lễ hội. Luật chơi chia làm hai giáp, giáp trên, giáp dưới (mỗi giáp chia 8 quân cầu) sẽ thi đấu tranh cướp quả cầu. Mục đích đẩy quả cầu vào hố  cầu của đối phương, trận đấu diễn ra sôi nổi, quyết liệt đối phương đẩy được nhiều quả cầu vào hố của đối phương sẽ thắng trận. 

 Lễ hội Vật cầu nước tuyển chọn quân cầu là những thanh niên trai tráng được tinh tuyển từ 5 xóm, chưa vợ, khỏe mạnh, không có vận áo xám, không bệnh tật, không có can phạm, can án. Các quân cầu sẽ phải giữ mình chay tịnh, kiêng chuyện yêu đương trong một khoảng thời gian theo quy định của dân làng trước khi hội Vật cầu được tổ chức. 

Nhà có áo xám không được vào đền, phụ nữ chỉ được vào  tòa tiền đường, ban khánh tiết khi ra đền mặc quần áo phải giặt riêng không giặt chung với phụ nữ, khi vào toà hậu cung chỉ được trưởng và phó ban khánh tiết được vào. 

Làng Vân còn có kết nghĩa với làng Đống Gạo (Nguyễn Xá, Yên Phong) hơn 300 năm, liên quan đến việc khi làng Vân rước sắc về làng gặp trời mưa đã trú nhờ làng Đống Gạo và sau đó làng Vân góp công đức trong việc xây chùa ở làng Đống Gạo.

6. KẾT LUẬN

Văn bản công nhận di tích: Năm 1990, cùng với chùa Diên Phúc, đền Vân được Bộ Văn hóa – Thông tin ra Quyết định xếp hạng  kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia (Quyết định số 34/VHQĐ, ngày 9 tháng 1 năm 1990).

Đền Chính làng Vân.

Tiền tế đền chính làng Vân.

Tranh trần Long phún thủy.

Tranh gỗ.

Hậu cung đền chính làng Vân.

Dải ống muống đền Vân.

TỪ CHỈ LÀNG THỔ HÀ –  DI TÍCH VĂN HÓA KIẾN TRÚC QUỐC GIA

1. THÔNG TIN CHUNG

Tên gọi: Từ chỉ Thổ Hà 

Tên khác: Từ chỉ làng Thổ Hà

Địa chỉ cụ thể: Làng Thổ Hà, phường Vân Hà, tỉnh Bắc Ninh

Vị trí địa lý và không gian cảnh quan:

Mô tả vị trí: Nằm ở cuối làng Thổ Hà trên một khu đất có diện tích 170m2 bên bờ Bắc của sông Cầu.

Yếu tố phong thủy: Hướng Tây – Nam. Theo bia thời Tự Đức thứ 9 (1856) Từ chỉ phía trước có án núi Chè, phía sau có gối núi Đồ sơn, có sông Như Nguyệt làm minh đường.

Niên đại khởi dựng và các lần trùng tu:

Thủa ban đầu từ chỉ được xây dựng cạnh chùa Đoan Minh. Từ chỉ hiện nay được khởi công xây dựng vào năm Tự Đức thứ 8 (1855), xây xong vào năm sau đó (1856).

2. GIÁ TRỊ LỊCH SỬ

Nhân vật được thờ: 

Từ chỉ Thổ Hà thờ đức thánh Khổng Tử và và các vị tiên hiền.

Sự kiện lịch sử, văn hóa gắn liền với di tích:

Khổng Tử tên thật là Khổng Khâu, tự là Trọng Ni, là vị tiên thánh Nho gia được thờ ở các văn miếu quốc gia và các địa phương nước ta. Theo Sử ký Tư Mã Thiên, Khổng Tử sinh ở ấp Trâu, hương Xương Bình nước Lỗ vào thời Xuân Thu. Tiên tổ là người nước Tống. Khổng Tử sinh năm Lỗ Tương Công thứ 22.

Khổng Tử từng được vua Lỗ cho một cỗ xe, hai con ngựa, một tiểu đồng đi theo đến nhà Chu hỏi về Lễ. Trong chuyến đi này Khổng Tử còn gặp Lão Tử. Lúc từ biệt lên đường, Lão Tử có nói tiễn chân với Khổng Tử rằng:

– Kẻ thông minh, suy xét sâu xa thì gần với cái chết, vì thích bàn về người khác. Kẻ biện bác rộng, tài năng quảng đại thì nguy hại đến thân, vì nêu cái xấu của người. Kẻ làm con, kẻ làm tôi không biết dựa vào đâu để giữ mình.

Từ sau chuyến đi gặp Lão Tử ở Chu trở về, học trò của Khổng Tử ngày càng đông. Cuộc gặp gỡ này có ảnh hưởng lớn đến tư tưởng và sự nghiệp của Khổng Tử.

Khổng Tử là người đã san định, truyền bá Ngũ kinh (Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch, Kinh Lễ, Kinh Nhạc) và viết kinh Xuân Thu, dạy học trò, truyền cho hậu thế, là nền tảng cho Nho đạo. Khổng Tử được tôn là Người thầy của muôn đời (Vạn thế sư biểu) và được phong là Đại Thành Chí Thánh Văn Tuyên Vương.

Đình Thổ Hà là nơi thờ Lão Tử. Chùa Đoan Minh là nơi Lão Tử dạy học và chữa bệnh. Trước đây Từ chỉ Thổ Hà nằm trong khuôn viên của chùa Đoan Minh. Như thế có thể đoán định, Thổ Hà chính là nơi diễn ra cuộc gặp gỡ lịch sử giữa 2 triết gia cổ đại lớn của phương Đông là Khổng Tử và Lão Tử.

Sơn môn Bổ Đà (dòng tu khởi dựng chùa Bổ Đà và chùa Đoan Minh) khi xây dựng chùa đã tôn thờ cả Khổng Tử và Lão Tử, làm nên hình thức Tam Giáo đồng nguyên (Nho – Lão – Phật) đặc biệt từ vùng đất này. 

Câu đối cổ trong đình Thổ Hà:

Đẳng Thích Già nhân tế quần sinh, Phật pháp thiên cổ / Thần tiên thiên cổ
Dữ Khổng thánh công thùy vạn thế, Xuân Thu nhất kinh / Đạo Đức nhất kinh.

Nghĩa là:

Sánh Thích Ca nhân nghĩa giúp chúng sinh, Phật pháp nghìn đời kiếp / Thần tiên nghìn đời kiếp
Cùng Thánh Khổng công đức trùm vạn thế, Xuân Thu một bộ kinh / Đạo Đức một bộ kinh.

3. KIẾN TRÚC VÀ NGHỆ THUẬT

Bố cục mặt bằng tổng thể và các hạng mục chính:

Bình đồ kiến trúc Từ chỉ  hiện nay kiểu chữ nhị, gồm toà tiền tế 5 gian xây bình đầu bít đốc và toà  hậu cung 3 gian. Nguyên vật liệu đều bằng gỗ lim, nền lát gạch, lợp ngói mũi hài. Kết cấu kiểu con chồng, kẻ rường.

Nghệ thuật trang trí, điêu khắc: 

Các cấu kiện kiến trúc chạm khắc hoa lá, hình gờ nổi, nghệ thuật chạm khắc chủ yếu mang phong cách thời Nguyễn (Thế kỉ XIX). Đề tài, họa tiết hoa lá, phong cách nghệ thuật (thời Lê, Nguyễn).

4. GIÁ TRỊ HIỆN VẬT

Bài trí thờ tự: 

Phía trước gian tiền tề treo một bức hoành phi lớn đề: Đại Thành Chí Thánh, là tên thánh của Khổng Tử. Bức hoành phi sơn đen, chữ vàng, trang trí đơn giản, có đề lạc khoản là Giáp Thìn niên trọng thu

Gian chính của tiền tế có đôi câu đối sơn đen, thiếp vàng:

Bách thế y quan trường tế mỹ
Thiên niên sơn thủy vĩnh triều tông.

Nghĩa là:

Trăm đời áo mũ còn hướng đẹp
Nghìn năm sông núi mãi chầu tôn.

 Phía sau gian chính của tiền tế có câu đối sơn son thiếp vàng, tạo hình thân cây trúc, đề:

Thánh nhân thế giới thiên niên trọng
Hiền triết sơn hà vạn cổ tôn.

Nghĩa là:

Thánh nhân thế giới ngàn năm trọng
Hiền triết núi sông vạn đời tôn.

Chính giữa hậu cung là nơi đặt tượng đồng thờ Khổng Tử, kích thước bằng người thật, trong tư thế ngồi, được sơn son thiếp vàng lộng lẫy. Việc thờ Khổng Tử bằng tượng là rất hiếm thấy ở một văn chỉ tại địa phương. Điều này cho thấy Từ chỉ Thổ Hà mang tính chất của một ngôi đền thờ Khổng Tử hơn là văn chỉ thông thường.

Phía ngoài hậu cung là bức hoành phi sơn đen, thiếp vàng lớn đề Thái hòa nguyên khí. Nghĩa là: Nguyên khí của Thái hòa. Bên dưới là bức cửa võng thiếp vàng, chạm kênh bong hình rồng phượng lộng lẫy.

Bên trái của hậu cung là ban thờ ghi chữ “Hiền” bằng sành ghép. Phía trên có treo bức hoành phi sơn đen, thiếp vàng lớn đề: Siêu thiên cổ. Nghĩa là: Vượt quá ngàn đời.

Bên phải của hậu cung là ban thờ ghi chữ “Triết” bằng sành ghép. Phía trên có treo bức hoành phi sơn đen, thiếp vàng lớn đề: Quán bách vương. Nghĩa là: Cầm đầu trăm vua.

Đồ thờ tự cổ còn có các hương án, bát hương gốm Thổ Hà cổ tinh xảo.

Di sản Hán Nôm quan trọng: 

Ngoài các câu đối đã dẫn ở trên tại Từ chỉ Thổ Hà còn có một số câu đối khác. Như câu đối ở 2 bên các ban Hiền – Triết ghi:

Cổ nhân ngôn hành thiện đắc thiện
Hiền triết viết tu thân vinh thân.

Nghĩa là:

Người xưa nói làm thiện sẽ gặp thiện
Hiền triết rằng tu thân thì vinh thân.

Ở các cột bên ngoài Từ chỉ có một số câu đối khác ca ngợi Nho đạo:

Đạo mạch trường tồn đồng thiên địa
Văn phong thượng tại giáo nhân gia.

Nghĩa là:

Mạch đạo mãi còn cùng trời đất
Dòng văn trùm đó dạy nhân dân.

Và câu:

Học vấn giáo truyền thùy vạn thế
Văn chương khai sáng hóa quần sinh.

Nghĩa là:

Học vấn dạy truyền trùm vạn thế
Văn chương khai mở giúp chúng sinh.

Hiện tại Từ chỉ Thổ Hà còn lưu giữ 8 bia đá, trong đó có 7 tấm bia thời Lê Trung Hưng (thế kỷ XVII – XVIII) và 1 tấm bia thời Nguyễn:

  1. Văn thuộc giáp tự miếu bi” tạo năm Vĩnh Trị thứ 5 (1680) về việc hưng công xây dựng lại văn chỉ để thờ các bậc tiên hiền. Bia 1 mặt, trán bia chạm rồng chầu mặt trời, diềm hoa lá.
  2. Tiên hiền tự miếu bi” tạo năm Vĩnh Trị thứ 5 (1680) về việc góp tiền mua đá xây miếu thờ tiên hiền và kê học tê, chức vụ các tiên hiền được thờ của xã Thổ Hà.
  3. Văn thuộc giáp tái Thánh hiền tu tự miếu bi” tạo năm Chính Hòa thứ 25 (1704) về  việc trùng tu miếu vũ phụng sự thánh hiền và kê họ tên những tiên hiền của xã. Bia vuông 4 mặt, 3 mặt có chữ.
  4. Tư văn giáp” tạo năm Vĩnh Hựu thứ 3 (1737) khắc tên các vị khoa mục, chức sắc. Bia 4 mặt.
  5. Tôn sùng thánh hiền đại đạo. Thủy tạo từ vũ thạch vi” tạo năm Cảnh Hưng thứ 10 (1749) ghi việc xã Thổ Hà xây từ chỉ.
  6. Tạo từ vũ bi” tạo năm Cảnh Hưng thứ 28 (1767) ghi họ tên, chức tước của những người góp công góp của vào việc xây dựng văn chỉ.
  7. Thủy tạo từ vũ thạch bi. Tôn trọng thánh hiền đại đạo” tạo năm Cảnh Hưng thứ 37 (1776) để tỏ lòng tôn sư trọng đạo và chấn hưng phong giáo trong làng đã hưng công dựng văn chỉ thờ phụng tiên hiền.

Một bia “Long phi Bính Thìn” tạo năm Tự Đức thứ 9 (1856) nói về việc dời từ chỉ từ chùa Đoan Minh về vị trí hiện nay vào năm Ất Mão (1855), xây 3 gian chính điện. 

5. LỄ HỘI VÀ PHONG TỤC VĂN HÓA

Lễ hội chính: Từ chỉ là một trung tâm sinh hoạt văn hóa, giáo dục truyền thống hiếu học của nhân dân địa phương. Hàng năm có tổ chức tế lễ dâng hương tại Từ chỉ vào các ngày 15 tháng Giêng và ngày 20 tháng Tám âm lịch để tưởng nhớ ơn đức Khổng tử và các vị tiên hiền nho sinh.

6. KẾT LUẬN

Văn bản công nhận di tích: Từ chỉ Thổ Hà được xếp hạng di tích nghệ thuật cấp quốc gia loại hình di tích văn hóa kiến trúc theo Quyết định số 295-QĐ/BT của Bộ Văn hóa – Thông tin ngày 12 tháng 2 năm 1995.

Chính điện tiền tế Từ chỉ Thổ Hà.

Đội trống chiêng làm lễ ở Từ chỉ trong ngày lễ hội Thổ Hà.

Chính gian hậu cung.

Bia “Văn thuộc giáp tự miếu bi” tạo năm Vĩnh Trị thứ 5 (1680).

Ban thờ “Hiền” ở Từ chỉ Thổ Hà.

Ban thờ “Triết” ở Từ chỉ Thổ Hà

Câu đối ngoài ở tiền tế.

Bia “Tạo từ vũ bi” tạo năm Cảnh Hưng thứ 28 (1767).

Bia “Văn thuộc giáp tái Thánh hiền tu tự miếu bi” tạo năm Chính Hòa thứ 25 (1704).

Thục An Dương Vương truyền kỳ Hồi V

Đánh Tây Âu bắt Dịch Hu Tống
Rể Lạc Ấp diệt quốc Đông Chu.

Thiên hạ của nhà Thục khởi từ Thục chủ Âu Cơ, lập bởi Thục Phán Hùng Quốc Vương, chia đất nước làm 15 bộ, phân trăm anh em cùng bọc đồng bào ra trấn giữ trăm nơi đầu núi góc biển làm phiên dậu bình phong, quan lang thổ tù phụ đạo, phò trợ Thiên tử giữ một Thiên hạ an bình. Nước Văn Lang trải qua thời kỳ Tây Thục đô đóng ở đất Âu – Ai Lao, Đông Thục xây thành tại Lạc ấp. Huyền Thiên Lão Tử cưỡi trâu đề cao Đại Đạo. Vạn thế sư biểu Khổng Tử đúc kết Ngũ Kinh. Cửu đỉnh từ thời Kinh Dương Vương là bảo vật truyền quốc đặt ở thế miếu nhà Thục, tượng trưng cho quyền lực vô song của Thiên tử với Thiên hạ họ Hùng. 800 năm vương triều Thục truyền đến Chu Noãn Vương.

Bấy giờ gặp hội cường Tần
Tằm ăn lá Bắc toan lần cành Nam.

Tần quốc do họ Triệu thế tập, vốn là một công hầu của vua Thục được phong ở vùng Tây Bắc là đất Xuyên Thục (Tứ Xuyên). Thời Triệu Cừ Lương nhờ có biến pháp của Thương Ưởng, Tần đã trở thành quốc gia hùng mạnh nhất thời loạn các sứ quân.

Dưới thời Triệu Tứ, nước Tần bỏ tước Công mà xưng Vương. Huệ Văn Vương xua quân chiếm đất Ba Thục, tức đất gốc của Bá Thục Cơ Xương ở Quý Châu. Con của Triệu Tứ là Triệu Đảng nối ngôi cha, tự xưng là Vũ Vương, vào kinh đô Cảo của Tây Thục ở Vân Nam mà “hỏi thăm” Cửu đỉnh. Nhưng thời vận của nhà Tần chưa đến lúc, Triệu Đảng bị đỉnh rơi gãy chân, rồi chết sau mới có 4 năm tại vị.

Triệu Tắc lên tân chính thay anh trai, tiếp tục ý đồ vương nghiệp. Chiêu Tương Vương chiếm vùng đất Tây Âu của nhà Thục ở Vân Nam, bắt được quân trưởng Tây Âu là Dịch Hậu Tông, tức vị vua dòng dõi cuối cùng từ Dịch Vương Lang Liêu là Chu Noãn Vương. Sử Việt gọi Chu Noãn Vương là Hùng Nghị Vương.

Nước Văn Lang còn lại phần đất phía Đông là Lạc Ấp ở Cổ Loa do Đông Chu Quân nắm giữ. Là con của Thục chủ Ai Lao (Tây Chu) nên Đông Chu Quân cũng được gọi là An Dương Vương.

Tần Chiêu Tương Vương Triệu Tắc tiếp tục lập mưu, cho cháu trai của mình là Trọng Thủy sang làm con tin ở Lạc Dương, lấy một công chúa của Đông Chu An Dương Vương là Mỵ Châu. Trọng Thủy sau đó về nước kế vị, là Tần Trang Tương Vương. Nhờ thông thạo đất Âu Lạc từ khi còn ở rể tại Lạc Ấp, Trang Tương Vương tiến quân chiếm nốt đất Đông Chu, đuổi Đông Chu Quân chạy ra biển, cầm sừng văn tê bảy tấc đi gặp thần Kim Quy bên bờ Đông Hải. Quý tộc của nhà Thục được Trang Tương Vương cho an trí ở thành Châu Sa, nay thuộc Quảng Ngãi.

Nhà Thục từ Âu Cơ – Thục Phán kết thúc. Nhưng vì dòng họ Triệu Tần vốn cũng là con cháu công hầu của nhà Thục, lại bắt đầu từ phía Tây, từ đất Xuyên Thục (Tứ Xuyên), chiếm Ba Thục (Quý Châu) rồi Tây Âu (Vân Nam) và Lạc Dương (Lạc Việt) nên Tần Vương cũng đã được gọi là Thục An Dương Vương. Tới khi đứa con của 2 dòng Thục giữa Trọng Thủy và Mỵ Châu là Triệu Chính lên ngôi, dẹp loạn các sứ quân, chấm dứt cục diện 9 chúa tranh vua, xưng là Tần Thủy Hoàng Đế, dời kinh đô về giữa đất 2 nhà Thục. Thiên hạ họ Hùng bước sang thời kỳ quốc gia thống nhất, lập chế độ quận huyện, quân chủ tập quyền.

Chiêu lăng tùng bách kim hà xứ
Thục quốc sơn hà tự cố cung.

Nghi môn đền Thượng Cổ Loa

Tượng An Dương Vương ở đình Xuân Ái, Nghệ An

Đền Cuông, nơi thờ An Dương Vương về biển ở Diễn Châu, Nghệ An

Đền Vĩ, Cao Viên, Thanh Oai, Hà Nội thờ Vũ Chiêu Tâm, tướng chống Tần

Các ngọc giản có chữ Tín lễ Tần Vương chi chủ

Mặt trống đồng có chữ triện thời Tần

Đức Thánh Chèm Lý Thân và Bạch Tĩnh Công chúa, con gái Tần Thủy Hoàng

Tượng Mỵ Châu thờ trong đền tại Cổ Loa

Ban Tứ trụ triều đình An Dương Vương ở đền Thượng Cổ Loa

Nghi môn nội đền Thượng Cổ Loa

Đình làng Đình Vĩ, Gia Lâm, Hà Nội, thờ Quý Minh Trọng Thủy

Nội điện đình Hương Triện, Gia Bình, Bắc Ninh, quê ngoại của An Dương Vương

Rước kiệu trong lễ hội đình Chèm, Từ Liêm, Hà Nội

Kim Quy trong đình Thư Cưu, Đông Anh, Hà Nội

Tượng An Dương Vương bằng đồng trong đền Thượng Cổ Loa, bảo vật quốc gia

Trống đồng dạng Tần Thục

Những chiếc kiếm Thục trong bảo tàng Hoàng Long, Thanh Hóa

Trống đồng Cổ Loa

Thục An Dương Vương truyền kỳ Hồi IV

Hồi IV

Khuyên bạo quân Huyền Thiên cầu Thất Diệu
Cứu nhân thế Khổng Tử soạn Thư Kinh.

Từ khi Khương Thái Công câu cá bên bến Việt Trì, Thục Phán dời đô về Cảo kinh đất Âu, Thục triều trải qua mấy trăm năm, truyền đến đời Chu U Vương. U Vương bản tính quái dị, sủng ái người đẹp Bao Tự. Để mua tiếng cười của mỹ nhân, U Vương đã cho nổi lửa Ly Sơn, kinh động các nước chư hầu anh em mà làm trò vui. Đánh mất đạo trời, không bao lâu sau Cảo kinh bị Khuyển Nhung tấn công. U Vương phải bỏ kinh thành mà chạy trốn. Hùng Tạo Vương nối ngôi buộc phải dời kinh đô về đất Lạc. Từ đó, thế vận nhà Thục đã suy, chư hầu tự nổi lên xưng hùng xưng bá thiên hạ.

Huyền Thiên Trấn Vũ vốn là một vu sư, quê ở đất Kim Bảng (Hà Nam), làm quan thủ thư của nhà Thục ở Lạc Ấp. Trước cảnh U Vương bạo ngược, lại thêm khi dời đô vùng Tam Giang gặp cảnh động đất liên tục. Thành Lạc Dương cứ xây lại đổ. Huyền Thiên nhân đó bèn lập đàn trên núi Võ Đang ở Cổ Loa, tế cầu trời đất.

Trên núi Thất Diệu, sau khi đăng đàn tế lễ, Thục An Dương Vương đã đào được các chiêng trống, xương cốt cổ, vốn là di tích của cuộc chiến Hùng – Thục dưới thời Vũ Vương và Thánh Gióng diệt Trụ. Huyền Thiên Lão Tử dựa vào đó đã bày chuyện yêu quỷ Ma Lôi, Bạch Kê là hậu duệ của Hùng Duệ Vương phá hại, nhằm mục đích khuyên răn Thục U Vương.

Huyền Thiên Lão Tử còn giảng đạo ở Lạc Dương. Trước khi ra đi, ngài đã ghi những điểm cốt yếu trong học thuyết của mình trong cuốn Đạo Đức kinh và để lại cho quan lệnh doãn Kim Quy làm báu vật thấu suốt nhân gian. Học thuyết “móng rùa” của tiên nhân Huyền Thiên truyền lại cho Thục An Dương Vương, góp phần củng cố Thục triều kéo dài thêm hơn 400 năm nữa.

Đông Chu phong vũ thị hà thì, biệt bả thanh hư khai Đạo Giáo
Nam Việt sơn hà duy thử địa, độc truyền ảo hóa tác thần tiên.

Nối tiếp tư tưởng Đại Đạo của Lão Tử, một triết gia khác đến từ nước Lào là tên là Trọng Ni. Ông đi bôn ba khắp các nước chư hầu để giảng về Lễ, nhưng không được trọng dụng. Cuối cùng ông quay về quê hương bên dòng sông Lam, mở trường thu nhận đệ tử, soạn kinh san định lại lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng, âm nhạc của thời Văn Lang, viết bằng chữ Khoa đẩu. Điển chế lễ nhạc từ Cao Lỗ Vương, Kinh Dịch âm dương bánh chưng bánh dày từ Lang Liêu, lịch sử Xuân Thu chép đến đời Lỗ Ai Công thì dừng bút, phong dao của những bậc tiền hiền như Chu Công, Thiệu Công cùng với lời hay ý đẹp trong dân gian đã được Khổng Tử biên chép, tuyển soạn. Nền tảng của Nho Đạo được xây dựng, đúc kết tinh hoa văn hóa Hùng Thục từ quốc tổ Hùng Vương mà truyền cho vạn thế.

Sở bang lộc mộng địa chung linh, vạn niên tiên chủ
Lỗ ấp lân thư thiên thụy biểu, thiên tải tố vương.

Tượng Lão Tử ở chùa Bổ Đà, Bắc Giang

Tượng Khổng Tử ở chùa Bổ Đà, Bắc Giang

Đình Võ Liệt ở Thanh Chương, Nghệ An, từng là nơi thờ Khổng Tử

Cửa võng đình Thổ Hà, Việt Yên, Bắc Giang

Ngai vị Thiên Tôn ở đền Đa Giá, Ninh Bình

Hoành phi “Đại Thành miếu” đình Trung Cần, Nam Đàn, Nghệ An

Huyền Thiên Trấn Vũ, tranh thờ người Dao ở Yên Bái

Huyền Thiên Trấn Vũ ở chùa Cầu, Hội An

Huyền Thiên Đại Thánh ở đền Huyền Kỳ, Quỳnh Lưu, Nghệ An

Múa nam nữ đồng tử trong lễ hội Thổ Hà, Bắc Giang

Thái Thanh Đạo Đức Thiên Tôn và Chu Lăng Độ mạng trên tranh thờ của người Dao

Tượng Khổng Tử ở văn chỉ Minh Hương, Hội An

Văn Thánh miếu ở Hội An

Đình Thượng Lực Giá, Thiên Tôn, Ninh Bình

Đình Tri Lễ, Thạch Hà, Hà Tĩnh, nơi thờ Khổng Tử là thành hoàng.

Đình Thượng Nguyên, Thạch Hà, Hà Tĩnh, nơi thờ Khổng Tử là thành hoàng

Tam Thanh ở chùa Thiên Tôn, Ninh Bình

Diệu Thiện Quan Âm ở chùa Thiên Tôn, Ninh Bình

Trang Vương ở chùa Thiên Tôn, Ninh Bình

Tam Đa, Song Đồng Ngọc Nữ trong lễ hội Thổ Hà

Trâu xanh ở đình Giáp Nhị, Thịnh Liệt, Hà Nội

Huyền Thiên Trấn Vũ ở động Thiên Tôn, Ninh Bình

Ngũ môn đền Sái trên núi Võ Đang ở Đông Anh

Ngọc hư cung khuyết trong đền Huyền Thiên ở Hàng Khoai, Hà Nội

Văn Thánh miếu ở Huế

Thục An Dương Vương truyền kỳ Hồi III

Trăm anh em phân bình thiên hạ
Một Dịch kinh đúc kết trống đồng

Sau cuộc Phong thần ở núi Vệ Linh, Thái Công Khương Thượng trở về đất phong của mình là nước Tề, ở vùng ven Biển Hồ. Cơ Phát lên ngôi xưng Thiên tử và dời lại kinh đô về đất Cảo ở Ai Lao (Âu – Vân Nam). Đất Âu với Cảo kinh là vùng phía Tây Văn Lang. Đất Lạc trở thành vùng đất phía Đông của nước Văn Lang.

Các đại công thần lập quốc khác cùng đều được phân phong tương ứng theo công trạng. 2 đại thần lớn nhất lúc này là Chu Công Đán và Thiệu Công Thích.

Chu Công Đán là một trong trăm người em của Hùng Quốc Vương Cơ Phát. Ông được phong ở đất Lào (Lỗ) nhưng không về nước mà ở lại triều đình. Võ Vương mất, con trai lên ngôi là Chu Thành Vương, thì Cơ Đán được giữ chức Thái bảo, còn gọi là Lỗ quốc Thái sư, tức thần Cao Lỗ.

Cao Lỗ dùng chiếc “móng rùa” Dịch lý mà chế thành trấn bảo của nước Văn Lang là trống đồng. Ông là người đã phát triển Dịch học từ thời Lang Liêu Văn Vương, đặt ra các lời hào cho 64 quẻ của Kinh Dịch. Cũng Chu Công là người đã lập nên khu vực Lạc thành ở Đông Ngàn Cổ Loa, làm nơi an trí đám ngoan dân dòng dõi nhà Ân tại đây.

Lỗ quốc lúc này bao gồm vùng đất hai bên bờ sông Mã, mà trung tâm của nó là vùng Thanh Hóa. Cao Lỗ được thờ ở đây dưới tên Đồng Cổ Sơn thần, nghĩa là vị thần tổ trống đồng (Sơn = tổ). Vùng đất trống đồng Đông Sơn chính là nước Lỗ của Chu Công.

Người anh em cùng bọc  khác là Thiệu Công Thích, được phong ở đất Yên. Nước Yên nay ở quãng miền Trung Việt. Cũng như Chu Công Đán, Cơ Thích ở lại trong triều phụ giúp Chu Thành Vương, dẹp phản loạn. Ông làm đến chức Thái phó trong Thục triều. Nói về ông có điển tích cây “Cam đường bất phạt” lấy từ Kinh Thư thiên Thiệu Cáo, khi Thiệu Công dùng đạo trời khuyên vua hãy nhân từ mà tha cho dân đất Lạc (tức hậu duệ của Hùng Vương được an trí tại đây).

Thời Thành Vương nước Việt Thường, là con cháu nhà Hạ Trung hưng ở vùng cửa sông Dương Tử cử sứ giả qua ba lần thông dịch vào Cảo kinh cống Chim trĩ trắng, chính thức gia nhập vào thiên hạ của nhà Chu. Chu Công ban cho sứ giả Việt Thường cỗ xe chỉ Nam dẫn đường. Sứ giả Việt Thường đi dọc sông Mê Kông qua các nước Tề (Phù Nam), Lỗ (Lâm Ấp) rồi men theo bờ biển Đông mà về nước.

Người anh em khác trong bọc trăm trứng của Hùng Quốc Vương là Cơ Cao. Khi Hùng Quốc Vương phạt Đế Tân, Cơ Cao cầm búa nhỏ, Cơ Đán cầm búa lớn đi hộ vệ. Sau này Cơ Cao tiếp quản việc cai trị ở Lạc Ấp và có công ổn định được đám ngoan dân tại đây. Vì thế nên ông được phong là Tất Công (tất trong hoàn tất, lấy ý của thiên Tất Mệnh trong Kinh Thư). Cơ Cao là tổ của Phan tộc, đất phong ở Phù Nam. Ngày nay ông được thờ ở vùng Thị Cấm Xuân Canh tại Hà Nội với tên Phan Tây Nhạc.

Trăm anh em của cùng một mẹ Âu Cơ đã chia nhau nơi đầu núi góc biển, an định Thiên hạ, đồng tôn Hùng Quốc Vương là Thiên tử. Chế độ phong kiến thị tộc phân quyền chính thức được khởi đầu. Các dòng họ người Việt cha truyền con nối cũng bắt đầu từ đó.

Ngôi vị thiên tử nhà Chu truyền được mấy đời, tới Chu Mục Vương cưỡi xe bát mã lên núi Côn Lôn tìm cung điện của Hoàng Đế và gặp được Tây Vương Mẫu. Đó là chuyện Lang Liêu cầu tiên ở núi Tam Đảo và kết duyên với nàng Lăng Thị Tiêu, thần núi ở Tây Thiên.

Nếp gấp phân phong, lễ nhạc của nước Văn Lang đã định hình văn hóa xã hội Việt, mãi đi vào chính sử nước nhà với tên Văn Lang – Âu Lạc của các vị vua Hùng, vua Thục.

Sổ thiên niên vương tá thủy chung, phụ tử quân thần khai chửng điểm
Thập ngũ bộ thiên phân thảo dã, sơn hà nhật nguyệt cộng trường tồn.

Tranh sứ tế lễ thời Hùng Vương ở Bảo tàng đền Hùng, Phú Thọ.

Cung thờ Cao Lỗ ở Cao Đức, Bắc Ninh.

Đền thờ Cao Lỗ trong cụm di tích Thành Cổ Loa

Đền Đồng Cổ ở Đan Nê, Thanh Hóa

Núi Đồng Cổ ở Đan Nê, Thanh Hóa

Mặt trống đồng Gia Phú, bảo vật quốc gia ở Lào Cai

Mặt trống đồng Pha Long, bảo vật quốc gia ở Lào Cai.

Đền Cao Lỗ ở Hoằng Hóa, Thanh Hóa

Nội điện đình Nghi Tàm, Hà Nội thờ Lỗ quốc Thái sư

Đền Trần Đăng, Ứng Hòa thờ Cao Lỗ

Trống đồng

Đình Tri Cẩn thờ Cao Lỗ ở Thiệu Hóa, Thanh Hóa

Bình đồng với bài minh văn nhắc tới tên của 10 vị vua thời Tây Chu

Cự thạch Thạch Bàn trên đỉnh Phù Nghi, Tam Đảo

Đình Dữu Lâu, Việt Trì, nơi từng có phủ Lang Liêu

Đình Hòe Thị ở Xuân Phương, Hà Nội thờ Phan Tây Nhạc

Thi nấu cơm trong lễ hội làng Thị Cấm, Xuân Phương, Hà Nội tưởng nhớ Phan Tây Nhạc (ảnh Nguyễn Vinh Việt)

Sưu tầm đồ đồng Đông Sơn ở nhà nghệ nhân họ Thiệu tại Thiệu Hóa, Thanh Hóa

Nội điện thờ Thủy tổ Phan Tây Nhạc ở Thanh Hóa

Thần núi Tam Đảo ở đỉnh Phù Nghi

Thục An Dương Vương truyền kỳ Hồi II

Bến Việt Trì Thái Công câu cá
Núi Vệ Linh Thánh Gióng phong thần
.

Thục Vương Cơ Xương là người ở vùng đất Âu, đánh bại Lạc hầu Sùng Lãm, dời đô từ đất Âu về đất Lạc, dựng nước Âu Lạc, lập kinh thành Phong Châu. Sử Việt gọi Cơ Xương là Âu Cơ. Mặc dù Âu Cơ Xương đã chiếm được 2 vùng Tây và Bắc (Nam nay) của thiên hạ, nhưng đe dọa từ Hùng Duệ Vương Đế Tân vẫn không ngừng tăng lên.

Lo lắng trước vận nước khó khăn, một hôm Âu Cơ đi dạo ngoài thành Phong Châu, cạnh chùa Hoa Long ở bến Việt Trì. Chợt thấy một lão ông tuổi ngoài 80, cầm một cây cần trúc đứng trên bàn thạch bên bến sông Việt Trì, dáng vẻ ung dung, có cốt cách của thần tiên. Âu Cơ lấy làm lạ tiến đến hỏi chuyện, thì thấy quả đúng đây là người hiền tài hiếm có, có thể phò tá gây dựng vương nghiệp thiên thu. Cơ Xương bèn phong cho ông lão làm Thái Công, giao phó hết trọng trách trong nước cho Lã Vọng.

Một ngày đẹp trời Cơ Xương về bên đất Hiền Lương ở Hạ Hòa, Phú Thọ mà hóa về trời. Con trai Cơ Xương là Cơ Phát hay Thục Phán lên nối tiếp sự nghiệp, tôn phong cho cha mình là Văn Lang (Văn Vương). Lập đền thờ ở xã Hiền Lương (Hiền vương), ngàn năm hương hỏa không cùng.

Cơ Phát khi chưa kế vị có tên là Ninh Vương. Người Việt thờ ông là Hùng Linh Công ở vùng Việt Yên (Bắc Giang). Cũng từ tên gọi này mà vùng Bắc Ninh xưa được gọi là Vũ Ninh, chỉ Ninh Vương Cơ Phát.
Khương Thái Công được sự cầu hiền của Văn Vương, dốc lòng phò trợ Cơ Phát, phát loa gọi khắp bốn phương tám hướng, chiêu hiền tuyển tướng, kết tập chư hầu, hẹn ngày phạt Trụ. Sứ giả đi đến làng Phù Đổng ở Vũ Ninh thì gặp được thiên thần giáng thế trong một cậu bé 3 tuổi làng Gióng, vươn vai phút chốc đã thành một đại tướng. Thái Công lấy Na Tra làm tướng tiên phong, gấp rút chuẩn bị quân đội đối phó với giặc Ân.

Lúc này Đế Tân sai Thạch Linh Thần tướng cùng các nữ tướng Ân là Ma Cô Tiên, Bạch Kê dẫn quân Bắc chinh (Nam nay). Thạch Linh kéo quân tới vùng núi Châu Sơn ở Vũ Ninh, đại chiến với Thánh Gióng dưới chân núi. Lửa cháy rực trời, khói bụi tung mù mịt. Na Tra nhổ tre đằng ngà quét sạch quân Ân. Thạch Linh Thần tướng tử trận ở vùng Yên Vệ.

Tiêu diệt được cánh quân chủ lực của Đế Tân, Thục Phán cùng Khương Thái Công giao hẹn chư hầu cùng phát binh đến cánh đồng Mục Dã, quyết một trận sống mái với Duệ Vương. Đế Tân thất thế, nổi lửa thiêu Lộc Đài rồi tự mình nhảy vào lửa tự vẫn.

Cơ Phát làm chủ được thiên hạ họ Hùng, xưng là Võ Vương. Sử Việt gọi là Hùng Quốc Vương, người con đã theo mẹ Âu Cơ lên núi lập nước Văn Lang, đóng đô Phong Châu.

Hùng Quốc Vương lên ngôi Thiên tử, phân phong cho các họ tộc làm chư hầu bình phong phên dậu ở trăm nơi đầu núi góc biển, được quyền thế tập cha truyền con nối, đặt ra trăm họ, định ra lễ nhạc trăm quan. Thiên hạ họ Hùng chưa bao giờ lại rộng lớn như thế này, Đông giáp biển Thái Bình Dương, Tây qua Đại Thực, Bắc quá Hoàng Hà, Nam tới vịnh Thái Lan.

Để tưởng nhớ các tướng sĩ của cả 2 bên hy sinh trong cuộc chiến Hùng – Thục, Thái Công Thánh Gióng về lại đất Lạc, lập đàn tế ở núi Vệ Linh, xướng bảng phong thần cho những anh hùng liệt sĩ. Hùng Duệ Vương Đế Tân vốn là thiên tử của tiền triều nên được tôn làm vua Địa phủ, Trung Nguyên Xá tội, lập đền thờ trên núi Châu Sơn. Tiên phong Na Tra làm thần núi Sóc Sơn, hộ trì đất nước.

Nhớ xưa đương thủa triều Hùng
Vũ Ninh nổi đám bụi hồng nẻo xa
Trời thương Bách Việt sơn hà
Trong nơi thảo mãng nảy ra kỳ tài
Lên ba đương tuổi anh hài
Roi ngà ngựa sắt ra oai trận tiền
Một phen khói lửa dẹp yên
Sóc Sơn nhẹ gót thần tiên lên trời…

Tượng Ma Bà (Ma Cô Tiên) ở Phùng Dị, Bắc Ninh
Cô tướng Ân trong lễ hội Phù Đổng 2022
Phường Ải Lao trong lễ hội Phù Đổng 2022
Thạch Linh Thần tướng cưỡi voi ở Việt Yên, Bắc Giang
Triệu Nguyên Sư (Triệu Công Minh – tướng của nhà Ân) trong tranh thờ người Dao ở Lào Cai
Voi ngựa trong lễ hội Y Sơn, Bắc Giang thờ Hùng Linh Công
Hoa tre trong lễ hội Y Sơn (Bắc Giang), nơi thờ Hùng Linh Công
Ngai vị thờ Thái Công Khương Thượng ở nghè làng Kiều, Sầm Sơn, Thanh Hóa
Tranh Lão tiên ông bên bến Việt Trì trong chùa Hoa Long, Phú Thọ
Chính cung đền Sóc thờ Phù Đổng Thiên Vương, Na Tra Thiên Tử, Nữ Oa Bộ Thiên, Vu Điền Quốc Vương, Tỳ Sa Môn Thiên Vương
Phù Đổng Thiên Vương, Na Tra Thiên Tử, Vu Điền Quốc Vương ở đền Hạ Mã, Sóc Sơn
Trung Nguyên xá tội, tranh thờ dân tộc Dao ở Yên Bái
Cự thạch – tế đàn cổ ở Sóc Sơn
Con Phi liêm ở núi Châu Sơn, Bắc Ninh

Thục An Dương Vương truyền kỳ, Hồi I

Hồi I

Lễ dối trời Duệ Vương hết số
Vì sinh linh Thục Chủ khởi binh

Lạc Long Quân chia 50 người con xuống khai phá miền ven biển Đông, vượt qua nhiều sông núi mà khai mở phương Nam xưa (phương Bắc nay). Long Quân truyền ngôi qua nhiều đời, đến Hùng Duệ Vương có tên là Đế Tân, đóng đô ở An Huy.

Duệ Vương là người có hùng tài đại lược, nhưng lại ham mê tửu sắc, bất kính với thiên địa, dâng lễ dối trời, sủng ái vu nữ Đát Kỷ. Trời và người cùng phẫn nộ, dẫn đến tai họa giáng xuống, vận nước cáo chung.

Bộ chủ Ai Lao – Ba Thục lúc này Tây Bá Hầu Cơ Xương, nổi lên là một người nhân nghĩa đại đức, thu phục nhân tâm. Thục chủ Cơ Xương tinh thông Dịch lý, hiểu lẽ trời đạo người. Bị Đế Tân chèn ép, Thục chủ buộc phải phát động binh đao. Nhưng để giữ lễ với Hùng Vương, Cơ Xương đầu tiên dẫn quân tiến đánh vùng đất Lạc của Sùng Hầu Hổ. Quân Thục từ Ai Lao kéo vào đất Hưng Hóa đến châu Quỳnh Nhai. Đất nước của Hùng Duệ Vương rúng động.

Người đứng đầu vùng đất Lạc khi đó là Bắc Bá Hầu Sùng Lãm, là dòng dõi quý tộc triều Hùng từ Kinh Dương Vương – Lạc Long Quân, nên cũng gọi là Lạc hầu Nguyễn Tuấn. Cuộc chiến giữa Ai Lao bộ chủ Cơ Xương và Lạc hầu Nguyễn Tuấn diễn ra rất ác liệt. Trong lần đầu Nguyễn Tuấn phục kích đánh bại được quân Thục ở Mộc Châu. Khải hoàn trở về, tấu cáo Đế Tân.

Vài năm sau, Bá Thục lại kêu gọi các chư hầu tập hợp được hơn 50 vạn quân. Cơ Xương chia quân thành 5 đạo, thủy bộ tịnh tiến, đánh chiếm đất Sùng. Với thế quân mạnh và nâng cao ngọn cờ nhân nghĩa, cuối cùng Sùng hầu Nguyễn Tuấn đã chịu thua, nhường lại đất Lạc cho Thục chủ.

Thục chủ Cơ Xương thu nhận được đất tổ Hùng Vương, đã cho dời kinh đô từ Ai Lao về Phong Châu, xây dựng thành Việt Trì, lên núi Thái Sơn Nghĩa Lĩnh lập điện Kính Thiên, đăng đàn tế cáo trời đất, lập cột đá thề trung thành với quốc tổ họ Hùng, cứu dân giúp nước.

Từ cổ đế vương ức triệu dân
Quy thần tất tự điện tinh thần
Thử truyền vị biện chân tướng ảo
Hồi tưởng Sơn danh phảng phất chân.

Chân tượng Cao Sơn Đại vương trong Nhất thành khả cách chân kinh.
Nha chương Phùng Nguyên, niên đại cuối thời nhà Ân Thương, bảo vật quốc gia ở Phú Thọ.
Cúng Bàn Vương của người Dao ở Hoàng Su Phì, Hà Giang.
Hải Bá Lạc Long Quân, tranh thờ người Dao.
Tượng đồng Hổ hai đuôi thời Thương.
Tượng thờ Long khuyển Bàn Hồ của người Dao ở Chù Lìn, Lai Châu.
Long tranh Hổ đấu, sách cúng người Dao ở Yên Bái.
Tượng mẫu Âu Cơ ở Hiền Lương, Phú Thọ.

Ông Ngâu, bà Ngâu và đàn chim quạ

Nọ thì ả Chức, chàng Ngưu
Đến trăng thu lại bắc cầu sang sông.

(Chinh phụ ngâm)

Câu chuyện Ngưu Lang, Chức Nữ bị thiên đình chia cách, mỗi năm chỉ được gặp nhau một lần vào ngày Thất tịch (mùng 7 tháng Bảy) nhờ đàn chim quạ bắc cầu trên sông Ngân Hà tưởng rằng là truyện thần thoại Trung Quốc, nhưng mấy ai biết rằng ông Ngâu, bà Ngâu chính là hai vị Sơn Tinh, Thủy Tinh trong truyền thuyết Việt.

Làng Ngâu (nay là thôn Yên Ngưu, xã Đại Thanh, Hà Nội)  có 2 ngôi miếu cổ có từ thời Lý thờ Ngưu Lang và Chức Nữ. Đó là miếu Mục Đồng thờ đức Tổ Nam Dương, tức ông Ngâu, và miếu Diệu Linh thờ Hương Từ Thanh Vân Thần Nữ, còn gọi là Tổ Mẫu Ngâu. Theo truyền thuyết, miếu Diệu Linh được hoàng hậu của vua Lý Thần Tông là Lệ Thiên tôn tạo và đặt tên chùa Hưng Quốc để thờ Phật. Ngày nay chùa Ngâu vẫn có lối thờ Tam phủ và có tượng Tổ Mẫu Ngâu cầm cành trúc trên tay (Trúc = Chức nữ?). Còn miếu Mục Đồng có tượng Thánh Tổ Yên Ngưu (Ngưu Lang) tay cầm gậy và đang ngồi trên con trâu vàng.

Vị Thánh Tổ Nam Dương cầm gậy thần và cưỡi trâu thì là Nam Thiên Thánh Tổ Tản Viên Sơn với cây gậy đầu sinh đầu tử. Nam Thiên Thánh Tổ cũng là Kinh Dương Vương, người đã vâng mệnh vua cha Đế Minh làm vua ở phương Nam. Bà mẫu trồng dâu dệt vải tương ứng như bà Tang Ma bên bãi Trường Sa Động Đình là Mẫu Thần Long, vị mẫu của Thủy phủ (Mẫu Thoải). Thì ra mối tình Ngưu Lang – Chức Nữ chính là sự kiện Kinh Dương Vương gặp mẫu Thần Long Động Đình trong sử Việt. Đây cũng là chuyện giữa Sơn Tinh (Tản Viên Sơn Thánh) và Thủy Tinh (Mẫu Thoải), dẫn đến mâu thuẫn mà hàng năm vào mùa mưa Ngâu tháng 7 lại dâng nước lên gây lũ lụt ở đồng bằng sông Hồng.

Chùa Yên Ngưu (Miếu Diệu Linh xưa) có lối thờ Tam Phủ là Thiên, Địa, Thoải nhưng khác với lối thờ của các đền phủ khác. Cung Vua cha Động Đình thay thế cho cung Chúa Sơn Trang. Cung thứ 2 thờ chính giữa Quan lớn Đệ Nhất Tôn Ông. Cùng với Tổ Mẫu Ngâu được thờ ở đây thì lối thờ này rõ ràng nhấn mạnh vào dòng Thủy phủ, trong đó Vua cha Thủy phủ ở đây là Động Đình Đế Quân, Tổ Mẫu Ngâu là Thần Long Động Đình, Quan lớn Đệ Nhất là Lạc Long Quân theo Truyện họ Hồng Bàng.

Miếu Mục Đồng ngoài thờ chính là Tổ Yên Ngưu còn có thờ Tản Viên Sơn Thánh, Cao Sơn Đại Vương. Điều này cho thấy, đối lập với miếu Diệu Linh (chùa Yên Ngưu), miếu Mục Đồng nhấn mạnh việc thờ dòng lên núi (Nhạc phủ). Đặc biệt nhất là miếu Mục Đồng lại thờ 10 vị quan lớn của Thủy phủ nhưng dưới tên gọi là 10 vị Kim ô (quạ vàng). Kim ô là hình ảnh con quạ ba chân, biểu tượng của mặt trời, như gặp trên các bức lụa hay tranh tường từ thời Hán. Đàn quạ bắc cầu Ô Thước thì ra chính là 10 vị quan lớn, được biết là những người con của Kinh Dương Vương và mẫu Thần Long. Kim ô hay mặt trời là cách gọi từ góc độ của dòng lên núi (nằm trong miếu Mục Đồng – nơi thờ dòng lên núi) đối với các vị quan lớn Thủy phủ.

Hình Kim ô – quạ vàng ba chân trong mặt trời trên bức lụa ở mộ Mã Vương Đôi thời Hán (ảnh internet)

Theo Sơn hải kinh: ở ngoài Đông Nam Hải, giữa sông Cam Thủy, có một quốc gia gọi là Hy Hòa. Ở nước Hy Hòa có nàng Hy Hòa là vợ của Đế Tuấn, sinh ra mười con trai là mười con kim ô, tức Mặt Trời. Hàng ngày, Hy Hòa tắm cho Mặt Trời ở Cam Uyên. Có truyền thuyết khác kể rằng mười con Kim ô đậu trên cây Phù Tang.

Như vậy nàng Hy Hòa chính là Động Đình Thánh Mẫu hay Đông Quang Thánh Mẫu (Nhật), tức Mẫu Thần Long. Bà lấy Kinh Dương Vương Tản Viên. Sơn hải kinh ghi bà lấy Đế Tuấn là đúng vị Sơn Tinh Nguyễn Tuấn. Hy Hòa là tên gọi theo vị tổ phương Đông là Phục Hy hay theo vị quan Hy Trọng được Đế Nghiêu cử đến phương Đông quan sát mặt trời, xây dựng lịch pháp. Cây dâu Phù Tang cũng chỉ rõ đây là hướng Đông và liên quan đến việc trồng dâu dệt vải của Chức Nữ. Phù Tang và Cam Lâm còn được nhắc tới trong tên gọi của vị thần phương Đông (Đông Vương Công) là Thủy phủ Phù Tang Cam Lâm Đại Đế.

Các vị quan lớn của Thủy phủ là những vị thủ lĩnh được Lạc Long Quân (vua Hạ) phân chia trấn trị các phương. Điều này được hình tượng hóa thành 10 mặt trời chiếu sáng khi đó. Truyền thuyết kể thời Đế Nghiêu, mười mặt trời chiếu nắng cháy bỏng. Đế Nghiêu sai thần tiễn thủ Hậu Nghệ bắn rụng 9 mặt trời. Chỉ còn lại 1 mặt trời (Kim ô) sợ quá lẩn trốn mất. Truyền thuyết này diễn tả lại sự kiện lịch sử là Hậu Nghệ – một chư hầu ở phương Bắc xưa của chính dòng Đế Nghiêu – đã đánh diệt các thủ lĩnh của nhà Hạ ở 9 phương, chỉ còn lại 1 phương, sau này trở thành nhà Hạ Trung hưng.

Còn trong thần tích Việt thì đây là câu chuyện ông Nhăng mà lấy bà Nhăng, sinh ra con rắn thằn lằn cụt đuôi. Ông Nhăng bà Nhăng là ông Ngâu, bà Ngâu. Con rắn cụt là vị thủ lĩnh còn lại của nhà Hạ đã bị Chử Đồng Tử – Hậu Nghệ chặn, đuổi lên phương Nam xưa, thể hiện trong chuyện Quan Đệ Ngũ Tuần Tranh bị đi đày ở Kỳ Cùng (Lạng Sơn).

Như vậy, câu chuyện lễ Thất tịch là lịch sử khởi dựng nước Xích Quỷ (Thủy quốc) được kể từ góc độ của dòng lên núi (Nhạc phủ). Ngưu Lang Sơn Thánh lấy Mẫu Ngâu Thần Long trồng dâu dệt vải bên bãi sông Động Đình, sinh ra 10 con Kim ô, là các thủ lĩnh nhà Hạ, đứng đầu là Hạ Khải Lạc Long Quân. Lạc Long Quân khởi (khải) lập quốc là nhà Hạ, phân cho những người anh em trấn ở các phương, là những vị tôn quan. Hạ Khải mất, một chư hầu của chính dòng Đế Nghiêu là Hậu Nghệ Chử Đồng Tử đã đoạt ngôi chủ thiên hạ (trong hình ảnh công chúa Tiên Dung), dẹp các tôn thất nhà Hạ (các Kim ô) ở 9 phương. Duy nhất còn lại một con Kim ô (con rắn cụt đuôi) chạy lên miền Nam xưa (Bắc nay), rồi sau đó trung hưng lại cơ nghiệp nhà Hạ.

Dòng lên núi của cha Tiên Tản Viên Sơn Thánh (Ngưu Lang) kết hợp với dòng xuống biển của mẹ Rồng Thần Long (Chức Nữ) mà làm nên dòng giống Việt, lưu truyền ngàn đời. Chính sự vận động đối lập lên rừng – xuống biển của 2 dòng người mới đem lại sự phát triển của xã hội người Việt vào thời lập quốc.

Thánh Tổ Yên Ngưu cầm gậy cưỡi trâu (ảnh Nguyễn Huân)
Tổ Mẫu Ngâu (ảnh Nguyễn Huân)
Các vị Quan lớn – Kim ô ở miếu Mục Đồng (ảnh Nhật Minh)

Các vị thần trong bộ tranh thờ người Dao ở Mộc Châu

Người Dao ở vùng Mộc Châu – Sơn La dùng một bộ tranh thờ gồm 3 bức tranh lớn vẽ các vị thần và 2 bức nhỏ vẽ chân dung thần. Bộ tranh này được gọi là Hành say, dùng trong các nghi lễ thờ cúng, tín ngưỡng của người Dao tại đây.

Bức tranh đầu tiên có hình một vị thần cưỡi ngựa là bức Thái Úy. Theo các nhà nghiên cứu thì Thái Úy là ông Đại Vũ, người khởi đầu nhà Hạ bởi trên một số tranh Thái Úy khác có thể hiện hình một cậu bé theo tích Đại Vũ sinh ra Khải trong quá trình trị thủy. Thái Úy cưỡi ngựa, cầm kiếm và ấn lệnh, làm chủ miền rừng núi. Phía dưới là các vị quan lại cưỡi ngựa. Tương ứng trong lịch sử người Việt thì Đại Vũ là Tản Viên Sơn Thánh hay Kinh Dương Vương, người khởi đầu dòng lên núi. Trong Tứ phủ người Dao thì Thái Úy ứng với Dương gian, là phủ nơi con người sinh sống.

Bức tranh đối diện thể một vị thần mặt đỏ cưỡi rồng, gọi là Hải Bá. Hiện tại các nhà nghiên cứu cho rằng thần cưỡi rồng là Hiên Viên Hoàng Đế đã cưỡi rồng mà về trời. Tuy nhiên như vậy không hợp lý vì Hiên Viên không phải là “Hải Bá”, thần của miền biển. Đúng hơn thì Rồng biểu trưng cho Thủy phủ. Người cưỡi rồng phải là vị thần chủ của Thủy phủ, tức là Thủy Tinh Bát Hải Động Đình hay Lạc Long Quân. Thần chủ của Thủy phủ ở trên tranh còn cầm tù và, khá giống với hình tượng Thủy Tinh trong truyền thuyết Việt. Phía dưới bức Hải Bá là hình ảnh các thầy tào và cảnh Thượng đao sơn trong lễ cấp sắc của người Dao.

Bức tranh ở chính giữa được gọi là Tổng đàn hay Tổ tiên. Bức tranh này thể hiện có 9 tầng từ trên trời xuống đất. Trên cùng là Tam Thanh cung thờ 3 vị Ngọc Thanh Nguyên Thủy Thiên Tôn (ở giữa), Thượng Thanh Linh Bảo Thiên Tôn (bên phải) và Thái Thanh Đạo Đức Thiên Tôn (bên trái). Ba vị Tam Thanh được Đạo giáo thờ như những người đã sáng tạo ra vũ trụ.

Ở tầng thứ hai là Ngọc Hoàng Thượng Đế, người cai quản Thiên đình. Hai bên là các vị Thiên Vương, có ánh hào quang. Tầng thứ ba là Tây Vương Mẫu, vị thần cai quản các tiên thánh trên núi Côn Lôn. So với sử Việt thì Ngọc Hoàng Thượng Đế là vị vua Hùng đầu tiên, tức Đế Minh. Tây Vương Mẫu là Tây Thiên Quốc Mẫu ở núi Tam Đảo hay là bà Vụ Tiên trong Truyện họ Hồng Bàng.

Ở tầng thứ tư là Bắc Đẩu Tinh Quân. Hai bên là các vị nguyên soái, như Đặng Nguyên Soái mặt đen như thiên lôi ở bên trái, Triệu Nguyên Soái mặt đen ở bên phải. Ở tầng thứ năm là Nam Tào và các vị phụ thần hai bên. Nam Tào và Bắc Đẩu là hai vị thần nắm sổ sinh và sổ tử của Thiên đình. So với sử Việt thì đây là hai vị Hùng Vương Thánh Tổ được thờ ở đền Hùng, là Viễn Sơn Thánh Vương (Đế Nghi) và Ất Sơn Thánh Vương (Lộc Tục).

Tầng thứ sáu, bảy và tám là các quan Tam Nguyên. Tầng thứ sáu vẽ Thượng Nguyên Thiên Quan có hình nhật nguyệt ở 2 bên, tiết Thượng Nguyên Tứ Phúc vào rằm tháng Giêng. Tầng thứ bảy là Trung Nguyên Địa Quan, tiết Trung Nguyên Xá Tội vào rằm tháng Bảy. Tầng thứ tám là Hạ Nguyên Thủy Quan, tiết Hạ Nguyên Giải Ách vào rằm tháng Mười.

Ở tầng cuối cùng (thứ chín) vẽ hình Thổ Địa thần nơi miếu thổ thần và các loài vật sống trên mặt đất như hổ báo, trâu voi, rắn rết. Thần Thổ Địa cai quản vùng đất đai và những sinh vật sinh sống ở đó.

Trong bộ tranh này thì bức Tổng đàn ở giữa thể hiện cảnh theo trục đứng gồm Thiên phủ – Địa phủ, nơi các thần linh ngự trị. Còn hai bên là Thủy phủ và Dương gian, nơi con người sinh sống. Tổng hợp 3 bức tranh có đủ Tứ phủ theo tín ngưỡng của người Dao.

Hai bức vẽ nhỏ là chân dung (mặt nạ) của hai vị thần chủ cai quản con người, cũng là hai vị thủy tổ của người Việt: Thái Úy – Kinh Dương VươngHải Bá – Lạc Long Quân. Thái Úy Kinh Dương Vương thể hiện như một vị quan mặt trắng, hiền từ như mặt trăng mùa thu (Chu). Hải Bá Lạc Long Quân thể hiện mặt đỏ như mặt trời mùa hè (Hạ).

Hải Bá Lạc Long Quân
Thái Úy Kinh Dương Vương

Có thể thấy tín ngưỡng thờ của người Dao tương đồng với tín ngưỡng của người Việt về các vị thần, về cách chia Tứ phủ. Cũng như người Việt, các vị thần được thờ của người Dao là “Tổ tiên”, tức là những vị vua, quan đã có công lao gây dựng nên dân tộc, nên đất nước ở thời cổ sử. Đó là ba vị Hùng Vương Thánh Tổ như thờ ở đền Hùng và hai vị thủy tổ Sơn Tinh, Thủy Tinh của 2 dòng lên núi và xuống biển.