Sách ebook LỊCH SỬ HÙNG VƯƠNG Tân biên & Vịnh sử

Lời nói đầu

Lịch sử các vua Hùng dựng nước luôn là câu hỏi nhức nhối đối với bất kỳ người Việt nào muốn tìm về nguồn cội của mình. Hàng ngàn năm lịch sử với 18 triều đại Hùng Vương đâu phải là một chớp mắt. Vậy thời đại Hùng Vương thực sự đã diễn ra như thế nào? Chắc chắn, trên bước đường chập chững lúc mới nên hình nước non đã xảy ra bao nhiêu biến cố, bao nhiêu thách thức. Những bước tiến nào mà xã hội người Việt đã trải qua trong suốt hàng ngàn năm đó? Cha ông người Việt đã làm gì để đã vượt qua những thách thức đó?

Cuốn sách tái hiện lịch sử thời đại Hùng Vương thành một mạch xuyên suốt từ khi mở trời mở đất cho đến vị vua Hùng cuối cùng qua những sự kiện, những mốc phát triển chính. Cuốn sách không tham vọng khảo chứng lịch sử, mà là chia sẻ sự nhìn nhận có được qua việc tìm hiểu quá khứ từ những dữ kiện và góc nhìn khác nhau. Đó là việc đối chiếu các nguồn tư liệu thành văn của Hoa sử và Việt sử. Là những thông tin chắt lọc từ những sự tích thờ cúng, lễ hội cho những anh hùng, những nhân vật trong suốt chiều dài sử Việt. Là sự suy ngẫm trước những hiện vật khảo cổ biết nói đã được phát hiện không chỉ ở Việt Nam mà còn trong khu vực trời Đông. Là góc nhìn địa văn hóa, sử văn hóa từ những dấu vết ngôn ngữ, triết học cổ.

Trên bìa những cuốn lịch sử Hùng Vương xưa (ngọc phả Hùng Vương) được soạn bởi các bậc hàn lâm học sĩ đương thời có đề đôi câu đối:

Vấn lai dĩ sự tu vi sử
Tế nhận như đồ dục mệnh thi.

Tức là:

Hỏi kỹ chuyện qua mà chép sử
Thấy rành như vẽ mới làm thơ.

Xem kỹ những gì đã biết về các vua Hùng, thấy sự việc rõ rành thì tất có cái hứng để làm thơ, để ca ngợi công đức tiền nhân, để cảm sự nỗ lực của người Việt dựng nên nền tảng văn hóa xã hội ngàn đời cho con cháu. Sau phần biên diễn lịch sử là những bài thơ vịnh sử xuất phát từ những cảm hứng này.

18 vương triều Hùng bất diệt. 3000 năm xã hội Việt phát triển qua 4 giai đoạn từ thấp đến cao. Không gian lịch sử bao trùm khắp trời Đông. Những vị anh hùng đã hóa thần trong sử Việt. Đó là những gì cuốn sách muốn gửi gắm đến các bạn đọc ngày hôm nay.

Bách Việt trùng cửu Nguyễn Đức Tố Lưu

Sách phát hành online bởi Hùng Việt sử quán.

Bất kỳ sự sao chép, in ấn nào từ tác phẩm với mục đích thương mại đều phải được phép của tác giả.

Link tải sách:

https://drive.google.com/file/d/1OmKTZHLxNdEhZaEcLS7Rfqu1pop4tpAx/view?usp=sharing

Mã QR

Liên hệ để nhận mật khẩu theo:

    Facebook: https://www.facebook.com/hungvietsuquan

    Email: bachviet18@yahoo.com, 

    Phone, Zalo: 0559551003.

Mục lục

Lời nói đầu 

LỊCH SỬ HÙNG VƯƠNG
    Thời thần thoại
    Tam Sơn Hùng Vương Thánh Tổ
    Nam Thiên Thánh Tổ Kinh Dương Vương
    Động Đình Lạc Long Quân
    Chử Đạo Tổ
    Long Khuyển Bàn Hồ
    Âu Cơ và Sùng Lãm
    Trị bình kiến phu
    Đông Chu phong vũ
    An Dương Vương
    Tần Việt nhân duyên
    Vạn Xuân Triệu Vũ Đế
    Triệu Việt Vương
    Hậu Lý Nam Đế
    Trưng Lữ Vương
    Vương Mãn
MẤY BÀI THƠ SỬ
    Thấy rành như vẽ mới làm thơ
    Ngày giỗ Tổ
    Sơn Tinh
    Tản Viên
    Sơn Tinh – Hạ Vũ
    Bốn ngàn năm
    Nhớ Hằng Nga
    Hiếu với trời đất
    An Dương Vương
    Phù Đổng Thiên Vương
    Phong thần
    Nước Việt Thường
    Lão Tử Cổ Loa
    Cổ Loa thành
    Ai oán Mỵ Châu
    Lý Bôn
    Chuyện Nam Việt
    Từ Nam Việt đến Đại Việt
    Trưng Triệu
    Đất nước tôi

Lưu hầu Trương Lương ở… chùa Hà

Khu vực chùa Hà ở Dịch Vọng (Hà Nội) thờ vị Đại Vương là Triệu Chí Thành, Đô thống Nguyên soái của Triệu Việt Vương. Sự tích đầy đủ của vị Đại vương này được chép trong thần tích hai giáp Thọ Tháp và Bối Hà dưới đây.

Điều lạ trong thần tích Bối Hà là không hề nói gì tới Lý Bôn (Lý Nam Đế), cho dù lại kể việc Triệu Việt Vương vào hồ Điển Triệt, rồi động Khuất Liêu chống giặc. Sau đó Triệu Việt Vương lên ngôi thiên tử, xưng Đế. Có thể thấy, Triệu Việt Vương trong thần tích này chính là Triệu Vũ Đế – Lý Bôn – Lưu Bang, chứ không phải Triệu Quang Phục.

Đại vương Chí Thành nổi tiếng thông minh từ nhỏ. Ngài ngày ngày thường ở riêng một chỗ, tự xem sách, không cần người chỉ dạy, giỏi đàn sáo, tinh thông âm luật. Đến khi trưởng thành ngài tài đủ văn võ, phẩm chất hơn người, anh hùng vượt đời xưa, tính tình lương thiện, khoan hòa trung chính, giỏi bày mưu lược, nuôi dưỡng hùng tài.

Đoạn kể này không khác gì nói về Trương Lương, mưu sĩ số 1 của Lưu Bang. Trương Lương từng lập mưu ám sát Tần Thủy Hoàng khi đi Đông du, nên rất có thể Trương Lương đã từng đến vùng đất Bắc Việt nước ta ngày nay, vốn là nơi Tần Thủy Hoàng ra biển Đông gặp đạo sĩ Yên Kỳ Sinh tìm phương thuốc trường sinh.

Điểm đáng chú ý khác là Đại vương Chí Thành rất giỏi âm luật và đàn sáo. Tiếng sáo của Trương Lương cũng đã đi vào sử sách khi nó được dùng để phá tan quân Sở của Hạng Vũ bên sông Ô Giang.

Khi Triệu Việt Vương chống quân Lương gặp khó khăn, Đại vương Chí Thành đã lập đàn cầu khấn trời phật, và được Lão Phật giáng thế, ban cho tỉ phù làm bảo bối. Còn Trương Lương cũng nối tiếng với câu chuyện học được Thái công binh pháp của Khương Tử Nha. Đoạn trích Phật giáng trong thần tích Bối Hà cũng được chép trong Hùng Vương Thánh Tổ ngọc phả. Vị “Phật” ở đây không ai khác chính là Thái Công Lã Vọng của vua Hùng Văn Lang.

Đại vương Chí Thành còn là người đã dùng chiếc móng rồng mà Chử Đồng Tử trao cho Triệu Việt Vương làm ra nỏ thần, phá tan quân Lương ở sông Bình Giang, chém tướng Dương Sằn ở núi Phù Long. Tương tự như đã kể ở trên, Trương Lương là người đã thổi tiêu làm tan rã quân Sở, giết được Hạng Vũ bên bờ Ô Giang.

Sau khi Triệu Việt Vương lên ngôi Thiên tử, Đại vương Chí Thành mộng thấy Thiên tướng xuống triệu hồi về Thượng Đế, rồi hóa ở Thạch Bàn Long Đầu. Còn Trương Lương là đại công thần được Lưu Bang phong là Lưu hầu, nhưng cuối cùng xin được học phép tu tiên, không màng danh lợi mà mất.

Thạch Bàn là nơi Lã Vọng câu cá, Văn Vương cầu hiền, cũng là nơi Trương Lương trở về tìm gặp thầy của mình là Hoàng Thạch Công sau khi thành nghiệp, tức là khi quay về tu theo tiên đạo.

Có thể thấy 2 sự tích về Đại vương Triệu Chí Thành ở Bối Hà và Lưu hầu Trương Lương hoàn toàn khớp nhau, nhất là một khi xác định Triệu Việt Vương là Lý Bôn – Lưu Bang.

Chữ Hà ở đây nghĩa là nhờ ơn. Bối Hà là nhờ ơn quý báu của bậc Tiên Phật danh sĩ đại công thần Trương Lương, một trong Hán sơ tam kiệt.

Thần tích giáp Thọ Tháp và Bối Hà, Dịch Vọng: https://bahviet18.com/2023/07/18/giap-tho-thap-giap-boi-ha-xa-dich-vong-trung-phung-sao-than-tich/

Giáp Thọ Tháp, giáp Bối Hà xã Dịch Vọng trung phụng sao thần tích

Ngọc phả triều Triệu Việt Vương

Do bộ Lễ triều Lê Thượng thư Quản giám tri điện vâng sao sự tích cổ truyền,

Hoàng đế Bệ hạ khâm phụng sắc chỉ cho thần hiệu.

Xưa Đại vương là người ở trang Thái Bình, Chu Diên. Đất này bằng phẳng, nước trong đẹp, có một nhà họ Triệu tên là Xương, lấy vợ là Lý Thị Thích. Vợ chồng chuyên tâm làm phúc, ngày ngày thắp hương khấn cầu Thượng Đế, ba kiếp hương đèn, một đời phong lưu, để rồi có dư phúc đức. 

Vào đêm 18 tháng 2 năm Nhâm Tuất, bà Lý nằm mộng thấy hào quang đầy nhà, chợt có một con rắn hoa màu trắng cuộn bò tới, lờ mờ hóa thành bông sen trắng. Bà Lý cầm lấy. Thế rồi có mang. Mang thai độ một năm, ngày 10 tháng 1 năm Quý Hợi thì thai nhi vận chuyển. Đến ngày 11 thì hương thơm khắp nhà, ánh sáng chiếu soi trong màn trướng. Giờ Ngọ ngày 11 thì sinh hạ được một nam nhi, tướng mạo phi thường, hình dung đẹp lạ. Mọi người đều vui mừng, biết là trời đất cảm cách lòng trung thành mới đặt tên cho ngài là Triệu Chí Thành. 

Ngài ngày ngày thường ở riêng một chỗ, tự xem sách, không cần người chỉ dạy, giỏi đàn sáo, tinh thông âm luật. Đến khi trưởng thành ngài tài đủ văn võ, phẩm chất hơn người, anh hùng vượt đời xưa, tính tình lương thiện, khoan hòa trung chính, giỏi bày mưu lược, nuôi dưỡng hùng tài.

Bấy giờ, Triệu Vương đánh quân Lương Trần Bá Tiên mà chưa phân thắng bại. Triệu Chí Thành Đại vương huy động được ba ngàn quân đến theo Triệu Việt Vương dẹp giặc. Việt Vương phong cho làm Đô thống Nguyên soái, cấp cho 8 nghìn quân, đóng quân ở sông Tô Lịch, cự chiến với Trần Bá Tiên ở Gia Ninh. Bị thất bại, bèn cùng với Triệu Việt Vương vào động Tân Xương, đóng đồn quân ở Điển Triệt.

Vào ngày mồng 10 tháng 8 lại dẫn quân đánh ở Thí Mô. Quân Lương thua. Đuổi theo chém vô số. Quân Lương kinh sợ. Đến ngày 21 tháng 11 cùng với Bá Tiên đánh ở động Khuất Liêu. Triệu Việt Vương và Đại vương thua trận, nên rút về giữ Dạ Trạch để chống cự với quân Lương. 

Triệu Việt Vương lo sợ quân Lương đang rất mạnh. Ngày 5 tháng 5 Triệu Việt Vương lệnh cho Đại vương sắm lễ lập đàn, bái yết với trời đất, thần linh, cầu Phật cầu tiên, truyền hịch đi các châu huyện, nơi nào có tăng ni đạo sĩ thì đến đó đều cấp phát áo mũ, lệnh giảng chân kinh, thuyết pháp tu hành, mở rộng đạo nguyên, tiến cúng hương hoa, ngày đêm thơm phức.

Đại vương Chí Thành kính cẩn dâng sớ lên Thượng giới. Quả là chốn Cửu tiêu tuy xa, hương khói vẫn thấu tới mây từ, một tấm lòng thành mà cảm cách thông tới trời đất. Do trọng việc quỷ thần mà có thể một lần được thấy thưởng công. Cầu gì tất ứng, ước nguyện là được như ý. Bỗng thấy một ông lão râu tóc bạc trắng, cao hơn 7 thước, ngồi ở ngã ba đường, cười nói nhảy múa. Người dân thấy vậy đều lấy làm lạ, nên vào tâu lên Việt Vương.

Vương cung kín đón vào trong đàn, lệnh cho Nguyên soái bày tiệc mừng. Việt Vương thân hỏi rằng:

– Nay có đại tướng Lương là Trần Bá Tiên, Dương Sằn đến xâm chiếm, thắng thua thế nào, xin Lão ông chỉ giáo cho.

Lão ônng nói:

–   Ta là thần ở miền Tây Vực, sống lâu trong biển Giác, chu du trên thuyền Bát Nhã, không nhiễm lòng trần, tẩy rửa con đường Niết Bàn. Nay do thành tâm mà cảm cách, kinh kệ truyền thanh âm, khiến ta cảm ứng mà đến giúp vậy.

Việt Vương mừng thầm, người chuyên tâm thanh tịnh, ý trời tất sẽ thông. Lát sau, Lão ông bốc thẻ gieo quẻ, nói với Việt Vương rằng:

– Nay Hoàng đế thành tâm cầu đảo, trời ắt ứng cho. Ngày sau Chử Đồng Tử sẽ cho chiếc móng rồng. Chử Đồng Tử là con rể quý của vua Hùng. Còn nay lão có một vật quý của trời, dùng chế làm ấn tín, nên mài dũa để làm quốc bảo.

Nói xong Lão ông cưỡi mây mà đi. Vương mới biết đó là Phật, bèn bái vọng theo. Ngay hôm đó sai quan kính cẩn làm lễ chay bái tạ.

Đến ngày 18 tháng 6 Việt Vương cho lập Vọng Tiên đàn ở đầm Dạ Trạch, sai trăm quan văn võ đứng chầu nghiêm trang. Triệu Vương bái yết, cầu khấn:

– Xin Trời cho thần tiên giáng hạ để trước may được gặp mặt, sau là thỏa ước ba sinh vậy.

Đọc chúc xong liền bái tạ. Tụng niệm suốt ba ngày vẫn không thấy dấu tiên. Việt Vương bồi hồi, không biết làm thế nào. Vào giờ Ngọ ngày 21 chợt thấy mây trời ảm đạm, nước sông ù ù như nổi sấm vang. Giao long, cá, ba ba nổi hàng đàn trên muôn sóng. Côn, ngạc, kình nghê xếp cuồn cuộn trên sóng ngàn tầng. Điện vũ nguy nga, yên hà lấp lánh. Rồng mây bốn bề mờ ảo, ẩn hiện Phật quốc lâu đài. Non nước một bầu, như thấy Bồng Lai tiên cảnh. Phong quang tươi thắm, trăm hoa đua hương. Nhấp nhô những đỉnh non nhỏ, tựa rồng trắng giáng khí. Bỗng thấy một áng mây vàng rực rỡ từ phía Tây bay lại tụ ở trên đàn. Việt Vương bái yết. Lại thấy rồng thành năm sắc, Chử Đồng Tử cưỡi trên lưng rồng vàng, tháo móng rồng trao cho Việt Vương, mà nói:

– Dùng nó làm lẫy nỏ, thì không còn lo giặc nữa.

Rồi tự nhiên bay lên mà đi. Việt Vương mới biết là Chử Đồng Tử ban cho móng rồng, đúng như lời báo của Lão ông, sự việc quả không sai, bèn vọng bái.

Triệu Việt Vương từ khi có được ứng điềm móng rồng tới ngày 12 tháng 7 sai Đại vương Chí Thành chế nỏ, lấy móng rồng làm lẫy. Đến ngày mồng 3 tháng 9 đánh một trận ở sông Bình Giang. Quân Lương thua. Lại đánh trận ở bãi Quân Thần (nay là Thượng Hạ Cát). Quân Lương thua to.

Khi ấy nhà Lương có loạn Hầu Cảnh. Vua Lương triệu Trần Bá Tiên về nước, để lại Dương Sằn chống cự cùng với Triệu Vương. Việt Vương sai Đại vương Triệu Chí Thành tấn công Dương Sằn ở núi Phù Long mà phá được, chém và bắt được rất đông quân giặc. Chém được Dương Sằn ngay trên xe.

Đại vương quay trở về, đi qua trang ấp nào, phụ lão đều thắp hương bái yết, nghênh giá. Đại vương ban tặng 300 quan tiền để mua ruộng làm ruộng thờ. Lệnh lập hành cung để sau này có chỗ hưởng thần. Cả thảy có hơn 15 cung.

Vào ngày mồng 10 tháng 10 Đại vương đến khu đất giữa trang Dịch Vọng, thấy phụ lão nhân dân đều thắp hương bái mừng đón như vậy. Trên đường Chí Thành đi qua, giữa trang thấy có một thế đất núi bằng nước đẹp, liền ở lại mấy ngày. Ban cho phụ lão 500 quan tiền để dựng hành cung. Phụ lão tranh nhau mổ trâu khao hưởng quân sĩ. Đại vương đều từ chối.

Ngày 12 tháng 10 Ngài dẫn quân về thành Long Biên để tấu sớ. Triệu Việt Vương mở tiệc lớn mừng. Triều thần trăm quan đều đến chầu. Việt Vương lên ngôi Thiên tử, đóng đô Long Biên. Triệu Vương lên ngôi, thực thi đức hóa, khuyến khích cấy trồng, làm cho nhân dân không lo thiếu thốn, nước nhà có của cải tích lũy.  Khắp nơi thái bình, dân không dối trá. Tục luật được làm đơn giản, thuần phác. Xét cốt lõi việc chế trị đương thời rạng hơn đời trước. Đương thế gọi là vị vua hiền vậy.

Việt Vương phong Chí Thành ở thành Ô Diên (nay là Hạ Mỗ). Trong ngày 6 tháng 8, Đại vương  đêm mộng thấy một người mặc áo xanh, tay cầm cờ vàng, tự xưng là Thiên tướng, quỳ ở trước sân, nói rằng:

– Ngọc Hoàng Thượng Đế sắc chỉ triệu hồi ngài về chầu Thượng Đế.

Nói xong thì biến mất. Đại vương tỉnh dậy, gọi Phạm phu nhân, cùng các con tụ họp để lo chuẩn bị. Ngày hôm đó bỗng bị đau đầu, 3 ngày thân thể không yên. Triệu Việt Vương tự thân đến thăm, cầm tay Đại vương nói rằng:

– Trẫm nhờ ơn Ngài mà dẹp được giặc, yên ổn được nước. Nay Ngài bị bệnh đến như vậy, e khó qua khỏi.  Ngài có ý nguyện gì cho về sau này, Trẫm cũng sẽ  theo đó mà báo đáp được nhiều nhất có thể vậy.

Đại vương nói:

– Thần không có ý nguyện gì ngoài việc xin Bệ hạ đưa thần đến nơi đất đầu rồng bàn đá. Lá cờ dùng khi thần từng đánh giặc cũng đem đến. Thần tung cờ lên trên trời. Nếu cờ bay rơi ở đâu thì xin Bệ hạ cho địa phương nơi đó miễn tô thuế, các phục dịch, để cho việc thờ phụng thần được hưởng muôn năm không ngừng vậy.

Đế đều đồng ý. Tới ngày 12 Đại vương tung cờ lên trên trời rồi hóa. Đế than tiếc mãi không thôi, thật là thương xót. Bèn sai bề tôi một mặt xem cờ dừng ở địa phương nào thì dân địa phương đó lập tức đến kinh thành đón nghênh thần sắc về lập miếu phụng thờ. Mặt khác, lập miếu ở ngay chính nơi đầu rồng bàn đá, bao phong là Đại vương. 

Sứ thần theo cờ bay đến khu giữa Dịch Vọng, miếu Thọ Tháp thì cờ dừng ở tại đất đó. Nhân dân phụ lão lên kinh thành phụng nghênh thần hiệu. Triệu Vương cho miễn tô thuế và tạp dịch, ban cho tiền để lập miếu. Phụ lão vâng lĩnh tiền 38 quan, đón thần vị Đại vương. Mặt khác, bèn đón thỉnh thầy phong thủy nổi danh để tìm một khu có đủ thiên văn địa lý, lại đúng ở trong nơi hành cung trước đây. Khi hỏi kỹ phụ lão trả lời rằng:

– Đây đúng là chỗ hành cung cũ của Đại vương.

Phong thủy bèn lập hướng Càn Tốn kiêm dựa Nhâm Bính, hướng trước Cấn Khôn. Trước mặt có Sao vàng làm án. Sau có Mình rồng bao lót. Hai dòng nước hợp lại. Đất phát nhiều nam cường tráng, văn nhân tuấn tú. Khu vực xung quanh đó phụng thờ hàng năm hương hỏa, đời đời truyền thừa.

Đại vương khi sinh thời võ công hiển hách, tiếng tăm lẫu lừng, giúp bang lập quốc. Sau khi hóa các trang ấp địa phương có điển thờ phụng tôn nghiêm. Bảo hộ dân sinh. Lễ ấy, thờ ấy là mãi, là yên. Đẹp thay! Tốt thay! Mãi mãi không dừng!

Chánh hội Nguyễn Xuân Quyết,

Lý trưởng Đào Văn Hanh.

Ngọc phả chép về Triệu Việt Vương Hoàng Đế ở Độc Bộ – Kiên Lao

Dịch từ bản khai thần tích làng Độc Bộ, tổng Thanh Khê, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định và làng Kiên Lao, tổng Kiên Lao, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.

Ngọc phả chép về Triệu Việt Vương Hoàng Đế (Chi Càn, Bộ thứ nhất, Thượng đẳng thần)

Phụ cùng với Hiếu túc Anh nghị Đại vương và Vĩ tích Hồng hy Đại vương (Chi Cấn, Bộ thứ hai, Trung đẳng thần)

Chính bản của bộ Lễ quốc triều

Xưa đất Việt ta trời Nam mở đất phân ngang núi sông theo sao Dực, sao Chẩn. Nước Bắc được phong thẳng hướng sao Đẩu, sao Ngưu làm chốn chia phân. Từ triều Hùng mở vận hơn hai ngàn năm, Dương Vương nắm quyền đến cuối được 50 năm, Triệu Đà có nước, năm đời làm vua. Từ đó đất Việt ta nội thuộc Tây Hán. Trải qua Đông Hán, Ngô, Tống, Tấn, Tề, Lương tổng cộng hơn ba trăm năm.

Đến thời Lương sai Tiêu Tư làm thái thú đất Việt ta. Tư là người tham lam, bạo ngược, xâm chiếm Trung Nguyên, sưu dịch nặng, cướp  bóc nhiều. Dân chúng chịu cảnh khổ cực ưu phiền kéo dài. May mà lòng người ghét loạn, ý trời cho bình an. Khi ấy có người đất Long Hưng, Thái Bình, họ Lý tên Bôn, khởi nghĩa lớn ở châu Thái Bình. Nhưng đang khi đó chưa có được người nào là nam nhi có tài thao lược để kết làm bạn cùng hưng vong. Cho nên gió thần khởi nghĩa còn chưa phát động. Tin thay! Đã có quân tất sẽ có thần. Rồng gầm bên suối không có ý tới mây, mà mây lại vì thế mà kéo đến.

Chính ở đất Việt ta tại huyện Châu Diên, phủ Tam Đới, đạo Sơn Tây có một người ở địa phương họ Triệu tên Túc, vợ là Lý Thị Đàm. Ông Triệu nhà vốn thường làm việc thiện đức, phát chẩn cứu người nghèo, ba đời hương khói đều là bậc phong lưu lâu dài, có dư giả vậy. Một hôm phu nhân nằm nghỉ ở hiên nhà phía Tây, mơ màng nằm mộng. Bỗng thấy thân cưỡi rồng vàng bay thẳng lên trời. Hoàng thiên ban cho một Tiên đồng. Đến khi trở về tới nửa đường thì gặp một người đầu đội mũ sao, tay cầm quả đào, cưỡi con lân đỏ theo phương Nam mà đến, chỉ phu nhân nói rằng:

  • Gia đình nhà ngươi có được phúc tốt sao, lấy được một tiên đồng về. Ngày sau sẽ giữ nước yên dân, lưu tiếng ngàn năm. Đáng tiếc là phúc này chưa vẹn. Người con này không thành được lâu dài.

Phu nhân nghe lời, bỗng nhiên tỉnh giấc, kể với ông Triệu. Ông rất mừng nói:

  • Phúc của nhà ta chính là điều này.

Từ đó lo chia tài sản tạo phúc, chu cấp cho khách khứa, giúp xây dựng hưng công. Qua khoảng một năm phu nhân quả nhiên có mang. Đến kỳ mãn nguyệt vào năm Giáp Dân mùa xuân ngày mồng 6 tháng Giêng sinh được một người con trai, diện mạo khác thường, quả đúng như hình tiên đồng đã thấy. Ông Triệu rất mừng, cho rằng người con này tất sẽ khôi phục làm rạng rỡ nghiệp nhà, bèn đặt tên là Quang Phục.

Năm thứ hai phu nhân lại sinh được một người con gái, mày chia lá liễu, má rạng hoa đào, đúng là bậc nữ sắc khuynh thành. Ông Triệu bèn đặt tên là Đào nương. Đến khi trưởng thành thường theo anh trai Quang Phục cùng đi học ở chỗ Dương Đường tiên sinh. Học được mấy năm thì Quang Phục đã đọc hết kinh sử, biết rộng chuyện xưa nay. Đào nương thì cầm kỳ thi họa, không gì là không biết, cũng là bậc kỳ lạ trong giới nữ.

Lại nói, khi đó ở xã Kiên Lao, huyện Giao Thủy, phủ Thiên Trường, đạo Sơn Nam, có một nhà họ Nguyễn tên Bình, cũng là bậc hiểu biết thơ sách, lấy hiếu thảo đối xử trong nhà, nhưng không may gặp cảnh gian truân. Bố mẹ (tức là bố mẹ của ông Nguyễn Bình) mất sớm. Ông bèn gói ghém gia tài, một mình một cảnh đi khắp núi sông. Khi đi đến xã Châu Diên, ông (Nguyễn Bình) thấy nhân dân còn sơ dã, phong tục thuần hậu. Ông bèn dừng ở lại ở nơi quán trọ trong xã, xin ăn ở nhờ mọi người, học đọc sách vở. Được quãng một tháng tầm nhìn cao xa thì có thừa mà bút giấy thì lại thiếu.

Một hôm, ông Triệu (tức ông Triệu Túc) đi dạo chơi, thấy Nguyễn Bình có văn chương ứng đối, hiểu biết sâu rộng. Ông bèn đến hỏi tên tuổi, quê quán. Ông Nguyễn kể lại tình cảnh cô độc, nghèo nàn nơi quán trọ. Ông Triệu liền cho về nhà để nuôi dưỡng, cho cùng với Quang Phục lên lớp cùng học. Từ đó Nguyễn Bình có chỗ để không lo cảnh đói rét, ra sức học tập. Vài tháng sau đã tiến bộ mọi mặt. Ông Triệu thấy vậy thì rất yêu mến, bèn cho lấy Đào nương làm vợ. Thế là ngày lành tháng tốt đã định lễ, duyên lứa đẹp đẽ. Ông Nguyễn dẫn Đào nương cùng trở về quê gốc ở xã Kiên Lao. Sự việc tiếp theo thế nào xin xem đoạn dưới phân giải.

Lại nói, khi Quang Phục khoảng 15 tuổi, đặc biệt đã có chí lớn. Ông (ông Phục) thường nói với các bạn bè rằng:

  • Làm người có mắt mũi râu tóc, được trời cho sinh ra trên đời, phải như các bậc thánh hiền thời xưa trước mà lập nên công nghiệp lớn, không thì lúc ở sa trường phải da ngựa bọc thây sao cho đúng khí tiết của bậc đại trượng phu. Sao có thể yên vui mãi với việc nghiên bút được?

Thế là kết thành một đảng hơn vài trăm người, nuôi hoài chí lớn. Năm đó cả cha mẹ của ông (ông Phục) đều mất. Ông làm lễ chôn cất. Sau ba năm chịu tang xong thì Quang Phục đã vào tuổi 18. Nghe tiếng ông Lý Bôn có đại lược hùng tài, võ ngang văn dọc, thật là có khí tượng lớn của bậc đế vương. Ông bèn đem theo binh thư tìm đến.

Ông Lý thấy người này văn võ kiêm toàn, thông minh hơn người, rất vui mừng nói:

  • Ông Trời đã vì ta mà sinh ra người hiền giúp sức, gặp được đâu đã muộn.

Ngay hôm đó bèn lập đàn bái Quang Phục làm Tả tướng, Phạm Tu làm Hữu tướng, lĩnh binh tiến đánh Tiêu Tư. Tư bỏ thành mà chạy. Ít lâu sau có Lâm Ấp vào cướp bóc, lại dẹp yên được.

Ông Lý lên ngôi Hoàng đế, là Tiền Lý Nam Đế, đóng đô ở thành Long Biên, xếp đặt trăm quan, yên định đô ấp, dựng nước hiệu là Vạn Xuân (ý muốn truyền nước cho tới vạn năm vậy). Thế rồi gia phong cho các công thần, tướng tá thêm các cấp, bèn bái Quang Phục là Tiết chế sứ đạo Sơn Nam. Ông Phục vâng mệnh đến quản lý ở Sơn Nam, lấy nhân nghĩa, lễ nhường nhịn mà giáo huấn cho nhân dân. Qua vài năm ở trong đạo được đầy đủ, ngày nào cũng cẩn thận trung chính. Tiếng vang đến triều, Nam Đế thường có thưởng thêm cho.

Lại nói, ông Nguyễn Bình dẫn Đào nương trở về sống ở quê tại xã Kiên Lao. Ông chuyên tâm lấy việc dạy học làm nghề. Được mấy năm, vợ chồng hòa hợp, cầm sắt sánh duyên. Một ngày, Đào nương nằm mơ thấy hai con gấu thoáng thoáng mờ mờ nhảy múa ở trước sân. Từ đó thấy chuyển dạ mà có mang. Vào năm Giáp Thân mùa xuân ngày mồng 10 tháng 2 sinh được một bọc, nở ra được hai người con trai, đều có dáng vẻ tuấn tú, khí phách hiên ngang, khác xa người thường lắm lắm. Ông Nguyễn rất mừng khi thấy phúc lại thêm phúc, bèn đặt tên người con trưởng là ông Phúc, người con thứ là ông Lộc.

Ngày qua tháng lại đã trải qua 7 năm. Thương thay, người xưa nói không sai, bất hạnh không bao giờ đến một mình. Ông Nguyễn bỗng nhiên bị bệnh mà mất. Đào nương đau thương đến mức quên ăn quên ngủ, phát thành bệnh nặng, thuốc uống không đỡ, cầu thần không nghiệm. Nương rồi cũng mất ở mộ chính. Từ đó anh em ông Phúc tuổi nhỏ đã mồ côi, nghèo túng, thiếu thốn đồ dùng hàng ngày, thường khóc than rằng:

  • Xưa nói con của lương y thì chết vì bệnh tật, mà ngay chúng ta rút cục lại khốn khổ vì bệnh nghèo túng vậy.

Một hôm anh em nghe là có bác ruột (tức ông Quang Phục) đến nhận trị Sơn Nam. Anh em dắt nhau cùng tới nơi phủ đường quỳ bái, xưng họ tên. Quang Phục biết chuyện rất đau lòng, cho hai người ở cùng với mình, dạy cho học văn. Đến năm hai ông (ông Phúc, ông Lộc) lên 10 tuổi, văn chương hiểu rộng, trí có thể cầm đầu đám đông, tinh thông võ bị, tài năng hơn người. Ông Phục rất yêu mến.

Khi Nam Đế ở ngôi được khoảng 7 năm, nhà Lương lại sai Trần Bá Tiên làm thứ sử đất Việt, Dương Sàn làm Tư mã, cất quân sang xâm lấn phương Nam. Đế cho gọi Quang Phục về triều định kế đánh dẹp. Ông Phục vâng mệnh cùng với hai người cháu (ông Phúc, ông Lộc) quay về triều. Hôm ấy, Đế bái Quang Phục là Đại tướng quân, cùng với Đế đóng đồn quân ở hồ Triệt. Quân Lương không dám tới gần. Một sớm nước hồ đột ngột dâng cao, chảy vào giữa hồ. Bá Tiên dẫn quân theo dòng nước tiến vào. Quân Đế thua to, Đế để quyền lại cho Đại tướng Triệu Quang Phục giữ nước. Còn Đế tự mình vào động Khuất Liêu mà mất.

Từ đó Quang Phục dẫn hai vạn quân, lấy đầm Nhất Dạ (Dạ Trạch thuộc huyện Đông An, phủ Khoái Châu, là nơi trước đây triều Hùng ông Chử Đồng Tử cùng với công chúa Phương Dung bay lên trời), bèn xưng là Dạ Trạch Vương. Trải qua 4 năm, ông (ông Phục) vì quân Lương không rút nên bèn lập đàn tràng cầu đảo trời đất. Sau thấy có thần nhân cưỡi rồng vàng từ trên trời hạ xuống, tháo móng rồng giao cho, lệnh để ở trên mũ đâu mâu, hướng vào đâu thì giặc đều tan vỡ hết. Khi ấy Bá Tiên trở về nước, giao lại cho tướng Dương Sàn chống cự, cùng với Quang Phục giao chiến một trận. Ông Phục đánh bại hết quân Lương, chém được tướng Dương Sàn. Quân Lương thua to, phải chạy về Bắc.

Ông Phục vào ở trong thành Long Biên, tự xưng là Triệu Việt Vương. Bèn ban cho hai người cháu (ông Phúc, ông Lộc) quan tước. Phong cho ông Phúc là Tả đô đài, ông Lộc là Hữu đô đài. Khi ấy hai ông tự xin được về quê  bái yết gia tiên. Vương đồng ý. Hai ông bái tạ trước Vương, rồi cùng đi xe trở về quê quán xã Kiên Lao. Nhân dân sợ hãi, đều làm lễ bái hạ. Hôm ấy hai ông truyền mổ trâu làm lễ tế gia đường tổ tiên, mở tiệc mừng lớn. Việc xong hai ông ban cho nhân dân mười nén vàng, truyền nhân dân lập một nơi hành cung cạnh dân để làm nơi hai ông đi về có nơi trú ngụ. Nhân dân vâng mệnh xây dựng (cung này ở tại khu vực đất cao trong dân, hình đất có chính cục dựa Quý hướng Đinh, phân châm Bính Tý, Bính Ngọ, bên phải có một dòng suối nhỏ chảy bao xung quanh bên ngoài).

Việc xong hai ông lại quay xe về triều nhận chức. Vua tôi cùng hợp đức, chính sự được cải thiện nâng cao. Không lâu sau, có người con của anh Nam Đế tên Lý Phật Tử (Phật Tử là con của Thiên Bảo. Khi Tiền Lý Nam Đế lánh nạn quân Lương mà mất, anh là Thiên Bảo dẫn đầu chúng đảng vào động Dã Năng ở, xưng là Đào Lang Vương. Đến khi Đào Lang mất, Phật Tử nhận thủ lĩnh quân chúng) từ động Dã Năng dẫn quân đến đánh. Tất cả 5 lần liên tiếp quân Phật Tử đều thua. Vương nghĩ Phật Tử là con cháu của Tiền Lý Nam Đế nên không nỡ tuyệt đường, mới chia nước thành 2 cùng trị, lấy cát giới là bãi Quân Thần. Phật Tử ở nước phía Tây, dời đô về thành Ô Diên. Việt Vương ở nước phía Đông, đóng đô ở thành Vũ Ninh.

Khi ấy Vương có một người con gái tên là Cảo Nương, tuổi độ 16, nhan sắc tuyệt trần. Vương rất yêu quý. Lúc đó Phật Tử lập kế cầu hôn giảng hòa. Vương đồng ý. Ông Phúc, ông Lộc nhiều lần can gián, nhưng Vương không nghe. Thế là Phật Tử sai con trai là Nhã Lang vào trong quân ở rể. Vương rất tin tưởng, gọi Nhã Lang là rể hiền. Từ đó Nhã Lang cùng với Cảo Nương tình cảm tốt đẹp. Một hôm Nhã Lương ngầm dụ Cảo Nương lấy mũ đâu mâu móng rồng mà đen giấu đổi móng rồng đi. Ngày hôm sau Nhã Lang lấy cớ về thăm nhà, báo lại cho cha (Lý Phật Tử), cất quân đến đánh Vương. Vương lấy mũ đâu mâu móng rồng ra cùng giao chiến, không có tác dụng. Vương mới biết là móng rồng đã mất. Bèn lên ngựa chạy dài về đến cửa biển Đại Nha. Khi ấy quân Lý tiến đến rất gấp. Vương biết khó thoát được mới than rằng:

  • Ta đã cùng rồi.

Vương nhảy xuống cửa biển mà hóa (lúc đó là ngày 14 tháng 8).

Ông Phúc, ông Lộc bèn quay về xã Kiên Lao, mổ trâu dê  làm lễ tế Triệu Việt Vương, truyền nhân dân viết thần hiệu là: Triệu Việt Vương Hoàng đế, để phụng thờ. Khi ấy hai ông nói với nhân dân rằng:

  • Chúng ta cùng với nhân dân đã thành nghĩa cũ, không phải ngày một mà quên được. Bởi chúng ta có nơi hành cung để phụng thờ vua ta, ví như chúng ta sau này trăm tuổi, nhân dân hãy tuân theo mệnh chúng ta, chớ có thay đổi.

Khi ấy nhân dân bái tạ nhận mệnh. Hai ông lại truyền binh sĩ cùng nhân dân thiết lập một cung hội đồng ở trong dân, ở trên đó. Lại răn nhân dân rằng:

  • Cứ mỗi năm ngày 10 tháng 2 là ngày sinh nhật hai anh em ta, phải nghi lễ vâng đón tên thần của chúng ta, cùng hai người chúng ta về cung hội đồng, ca hát vui vẻ. Đấy là tất cả việc cho hai anh em ta.

Nhân dân vâng mệnh xây dựng. Việc xong, hai ông ở lại nơi đó, dạy dân cày cấy. Dân được lợi nhiều.

Lại nói từ đó Phật Tử chiếm được nước, chính là Hậu Lý Nam Đế. Khi ấy Nam Đế biết rõ hai ông Phúc Lộc là những anh hùng trùm thế, muốn mời ra giúp việc triều chính. Bèn sai sứ thần về xã Kiên Lao dụ các ông phụ giúp vương thất. Gạ gẫm mấy lần, hai ông không theo. Một hôm hai ông tự nói rằng:

  • Trung thần không thờ hai vua, sao có thể cam chịu nhục mà phụ người được. Kinh Thi rằng: Minh triết (Sáng suốt). Kinh Dịch rằng: Kiến cơ (Xem chính). Không đi tất sẽ như người Kỷ giữ ở chợ vậy.

Dứt lời, hai anh em dẫn vài gia thần đến thẳng Ái Châu, tới xã Nam Trịnh, huyện Yên Định, phủ Thiệu Thiên. Hai ông thấy địa thế có sông núi hữu tình. Nhân xã đó có một ngôi chùa, là một danh lam rất cổ, trải qua năm tháng đã xuống cấp. Hai ông mới nói với người trong làng cho ở tại chùa đó. Người làng đồng ý. Từ đó hai ông đổi tên, một là ông Túc, một là ông Tục.

Hai ông ở lại trong chùa, thành tâm hương khói tiến cúng. Qua vài năm, quyên góp mười phương trùng tu lại chùa. Công đức xong, hai ông lại chu du bốn biển, ngắm thưởng danh sơn, thắng cảnh. Một hôm đi tới núi Tam Điệp, hai ông bỗng nhiên bị cảm phong hàn, cùng một lúc đều mất (lúc đó là ngày 12 tháng 11). Trong một chốc, mối đùn thành gò lớn (tới nay gọi là xứ Gò Đôi). Từ ấy nhân dân qua lại buôn bán có cúng tiến nhiều vàng bạc, cầu đảo có nhiều linh ứng.

Lại nói từ sau khi hai ông đã hóa ở xã Kiên Lao nhân dân đều mắc tật dịch, súc vật ốm chết. Nhân dân làm lễ cầu đảo ở nơi miếu Triệu Việt Vương để xua đuổi tai ương. Tối đó nhân dân đều nằm trong miếu, mơ thấy Triệu Việt Vương ngồi nghiêm trên điện. Trăm quan văn võ ngồi đầy các bên. Lại thấy hai ông đường đường cùng các quân hầu, cờ xí voi ngựa đều như lúc còn sống, tiến thẳng đến trước miếu, bái yết rồi ngồi vào. Nhân dân vô cùng sợ hãi, làm lễ kính bái. Thấy hai ông nói rằng:

  • Chúng ta cùng vâng mệnh trời nắm quyền ở dân, vì dân ta mà là phúc thần. Thế mà nay chúng ta còn chưa có miếu thờ riêng. Vậy có phải là rất vô lễ hay không? Không nhận mệnh của chúng ta thì đừng có lời cầu xin gì nữa.

Lời nói còn chưa hết, nhân dân bỗng nghe một tiếng trống đồng vang lên đập vào trong tai, đột nhiên tỉnh lại, mới biết sự việc này. Tất cả đều sợ hãi. Mới nhớ lại những lời ngày trước hai ông đã dặn, lập tức lập miếu ở bên cạnh đền Triệu Việt Vương, viết thần hiệu của hai vị. Một là Túc công Đại vương, một là Tích công Đại vương, cùng phụng thờ. Từ đó tật dịch đều yên ổn. Người vật đều mạnh khỏe.

Trải tới thời Đường Cao Biền làm An Nam đô hộ. Khi đó có giặc Nam Chiếu khởi binh ở ven biển, quấy nhiễu đất Sơn Nam. Cao Biền dẫn quân đến đánh. Một hôm, thuyền quân theo sông Tiểu Hoàng xuôi tới xã Kiên Lao, huyện Giao Thủy. Lúc ấy mặt trời đã khuất sau núi. Ông (Cao Biền) thấy trên bờ có hai người, thân cưỡi ngựa ô, tay cầm thương vàng, tiến thẳng đến miếu bên bờ sông thì mất bóng. Theo sau thấy sóng đào hung dũng, gió bụi dương oai. Ông lấy làm lạ bèn dừng thuyền lên bờ, gọi nhân dân đến hỏi tên thần. Nhân dân kể lại sự tích. Nghe xong ông liền truyền binh sĩ cùng nhân dân làm lễ tế. Ông thân khấn rằng:

  • Nếu như có linh thiêng xin nhận lễ hưởng của tôi và âm phù cho xã tắc, dẹp giặc yên loạn. Đến sau này khi thanh bình sẽ tặng phong sắc chỉ để tỏ rõ linh thiêng.

Khấn xong, ông nằm ở trong miếu. Đến cuối canh ba nằm mơ thấy hai người đến nhanh bái chào, xưng tên họ, tự xin theo quân diệt giặc. Ông tỉnh lại biết là thần mộng, cho ghi vào sách vàng để xem nghiệm về sau. Sáng ngày lại làm lễ tế ở đền Triệu Việt Vương. Sự việc xong cất quân thẳng tiến, đầu thuyền chiêng trống vang như tiếng sấm sét vạn dăm, trên đường cờ xí hai bên bờ như hình rồng rắn. Quân của Vương như thế có thuận trời, thế mạnh như chẻ tre, oai chấn động như bẻ củi khô gỗ mục.

Đến khi dẹp được Nam Chiếu, ông Biền cho quân khải hoàn, gia phong tướng sĩ. Nhân nhớ lại sự việc ở Kiên Lao, tặng phong sắc chỉ cho Triệu Việt Vương Hoàng đế Thượng đẳng thần, tặng phong Túc công vi Hiếu túc Anh nghị Đại vương, Tích công vi Vĩ tích Hồng hy Đại vương. Cho xã Kiên Lao nghênh đón sắc về dân, tu sửa miếu điện để phụng thờ.

Từ đó về sau cầu mưa cầu gió đều có nhiều linh ứng. Trải bốn họ Đinh, Lê, Lý Trần sáng lập cơ đồ, ba vị Đại vương đều có nhiều công âm phù xã tắc, nên các đời đế vương có gia phong sắc chỉ, hương khói không ngừng.

Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn

Quản giám bách thần lễ điện Hùng lĩnh Thiếu khanh, thần, Nguyễn Hiền y chính bản vâng chép.

Hoàng triều năm Vĩnh Hữu thứ hai ngày tốt giữa thu.

Nam Việt Úy Đà diễn nghĩa

Nam Việt Úy Đà liệt truyện trong Sử ký Tư Mã Thiên rõ ràng có nhiều “nỗi oan” của vua Triệu cần được xem xét, diễn giải lại, mà “nỗi oan” có thể thấy ngay được là thông tin Triệu Đà trị vì 70 năm, thọ 121 tuổi (!!!). Với tuổi thọ “không thể có” này của vua Triệu, có thể thấy những câu chuyện về vua nước Nam Việt sẽ không phải đơn thuần là chỉ kể về 1 nhân vật như truyện đã chép…

Triệu Vũ Đế khởi nghĩa kháng Tần

Các di tích hiện còn tới nay về nhà Triệu ở Việt Nam là nguồn bổ sung những dữ liệu quan trọng cho quá trình khởi nghĩa kháng Tần của Triệu Đà trên đất Việt. Thời Tần Triệu Đà làm quan huyện Long Xuyên (cũng là huyện Nam Hải, theo thần tích Đồng Sâm), lấy vợ Trình Thị ở Đồng Sâm, Thái Bình mà lưu cư tại đây. Trình Thị đọc thiết âm là Trĩ, chỉ ra sự liên quan của vị hoàng hậu này với Cao Hậu, người có tên cúng cơm là Lữ Trĩ. Lưu Bang xuất phát ban đầu cũng là một đình trưởng nhỏ ở đất Bái, lấy vợ là họ Lữ và sống tại đó. Khu vực Thái Bình còn là nơi có nhiều di tích khởi nghĩa của Lý Bôn, người đã kết duyên cùng Hoàng hậu Đỗ Thị Khương. Thái Bình đọc phản thiết là Bái, tên vùng đất nơi Lưu Bang làm đình trưởng và lấy bà Lữ Trĩ.

Ngoài di tích ở Đồng Sâm (Kiến Xương, Thái Bình), Triệu Đà còn được kể đến ở một số khu vực khác. Trước hết, đó là núi Vũ Ninh (Quế Võ, Bắc Ninh) nơi có tới 8 làng thờ Triệu Vũ Đế. Đây là căn cứ ban đầu khởi nghĩa của Triệu Đà chống lại nhà Tần. Di vật thời này còn tại đây là phần thân của con thần thú nửa rồng nửa phượng bằng đá lớn, hiện vẫn còn tại thôn Cựu Tự xã Ngọc Xá. Truyện Giếng Việt trong Lĩnh Nam chích quái kể ở núi này có con rắn lớn, trên trán có chữ Vương, chuyên ăn thạch nhũ. Còn Cao Tổ bản kỷ kể việc Lưu Bang khi ở núi Mang Đãng đã chém rắn trắng, là con Bạch Đế mà khởi nghĩa.
Không xa núi Vũ Ninh, ở xã Ngô Cương (Gia Bình, Bắc Ninh) có sự tích kể Triệu Đà khi lâm trận thất thế, được một đám mây đỏ hạ xuống che chở mà thoát nạn. Câu chuyện này khá giống với việc Lưu Bang khi bỏ vào rừng núi Mang Đãng kháng Tần thì bà Lữ Trĩ luôn thấy có đám mây lành trên nơi Lưu Bang trú ngụ.
Khi quan úy Nam Hải là Nhâm Hiêu thấy phản loạn các nơi nổi lên chống lại nhà Tần, Nhâm Hiêu bàn với Triệu Đà chặn con đường nhà Tần mới mở đến Việt để tự giữ. Nhâm Hiêu chết, Triệu Đà thay, “lập tức truyền hịch đến các cửa ải Hoành Bồ, Dương Sơn, Hoàng Khê” để chặn đường, tự phòng thủ. Chi tiết này trong thần tích Đồng Sâm đã cho thấy con đường mà nhà Tần mở ra trên đất Việt là chạy từ vùng Cao Bằng (Hoàng Khê?) qua Bắc Kạn (Dương Sơn) tới Quảng Ninh (Hoàng Bồ). Trên con đường này Tần Thủy Hoàng đã làm cuộc Đông du, ra biển Đông, gặp đạo sĩ Yên Kỳ Sinh nơi chân núi Yên Tử ở Đông Triều. Cửa ải cuối cùng của con đường Tần – Việt này là Hoành Bồ, thuộc Quảng Ninh, gần bãi biển Hạ Long ngày nay.
Di tích quan trọng khác là ở khu vực Long Biên, đặc biệt là đình Xuân Quan (Văn Giang, Hưng Yên). Đây là nơi Triệu Đà đã thấy rồng bay lên trên sông Nhị, bắt đầu “Long Hưng” lập nghiệp đế vương, tấn công vào trị sở của Tần lúc đó ở Cổ Loa. Thần tích Đồng Sâm cũng kể Triệu Đà đánh Thục, đóng quân ở Tiên Du, Bắc Ninh.
Sử ký Tư Mã Thiên ghi Triệu Đà giết các trưởng quan do Tần xếp đặt, dùng bè đảng của mình thay vào làm quận thủ. Nếu không phải là một cuộc “khởi nghĩa vũ trang” thì làm sao Triệu Đà có thể giết được các quan lại nhà Tần một cách dễ dàng như vậy? Long Hưng cũng là tên quê hương của Lý Bôn, người đã nổi lên đánh chiếm Long Biên, lập nước Vạn Xuân.

Thần thú ở núi Vũ Ninh.

Nam Việt lập quốc

Sử ký Tư Mã Thiên ghi, khi Tần bị diệt vong, Đà liền đánh chiếm Quế Lâm, Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vũ Vương, Sau khi Cao Đế bình định thiên hạ, do Trung nguyên lao khổ nên bỏ qua không giết Đà. Nhà Hán năm thứ 11, sai Lục Giả nhân đó lập Đà làm Nam Việt Vương, cùng chẻ tín phù để thông sứ.
Đoạn sử hết sức quan trọng này về việc Triệu Đà xưng Vương, nhưng cũng lại hết sức khó hiểu, gây lầm lẫn. Nhà Tần diệt vong năm 206 TCN, còn Cao Đế năm thứ 11 là năm 196 TCN, ngay năm sau đó Lưu Bang mất. Hai sự kiện cách nhau tới 10 năm. Triệu Đà nếu đã xưng là Nam Việt Vũ Vương từ năm 206 TCN rồi thì sao mãi mười năm sau, đến cuối đời Lưu Bang mới cho người đến phong Vương cho Nam Việt? Người khởi nghĩa ở Chân Định chống Tần đã là Lưu Bang thì ai là người xưng Vũ Vương vào năm 206 TCN?
Vấn đề Nam Việt Vũ Vương được làm sáng tỏ nhờ nhận định: Triệu Đà khởi nghĩa ở miền Bắc Việt là Lý Nam Đế, cũng là Hiếu Cao Tổ Lưu Bang. Vì Lý Bôn – Lưu Bang đều xưng Đế của cả Thiên hạ Trung Hoa, nên người xưng Vương ở Nam Việt không phải là Triệu Đà.
Theo thần tích Hạ Mạo (Phú Thọ), Hậu Hùng Vương tên là Chàng Ánh, vốn là dòng dõi vua Hùng thứ 17 nước Văn Lang, được ban cho họ Lê, lấy vợ là con gái Đông Chu Quân (tức An Dương Vương). Khi Tần (Thục) chiếm được miền Bắc Việt, Chàng Ánh đã không khuất phục mà tự lập ở Việt Tây (Quảng Tây), xưng là Hậu Hùng Vương. Người con út của Hậu Hùng Vương đã được cử đem ba ngàn quân tham gia cuộc khởi nghĩa của Triệu Đà.
Triệu Đà lên ngôi là Vũ Đế, nhưng vẫn cắt Quảng Tây cho Việt. Sau 6 năm Hùng Ánh Vương lâm bệnh…. Đến khi Hùng Ánh Vương lâm chung… bèn ban tên Chàng Út Lôi Mao, cho tự cai quản. Ngày 15 tháng 8 Hùng Vương băng hà, Chàng Út phát tang, kế vị, xưng là Việt Tây Út Ngọ Lôi Mao Đại vương. Vũ Đế cho lệnh sách phong. Ba năm tang lễ xong, Vương cho hoàng hậu họ Triệu giám quản đất nước… Vũ Đế mới ban sắc: Cha truyền con nối là lễ thế tập…
Đối chiếu với Nam Việt Úy Đà liệt truyện thì:

  • Triệu Đà khởi nghĩa ở Đường Sâm, Vũ Ninh, Long Biên là Triệu Vũ Đế – Hán Cao Tổ – Lý Nam Đế.
  • Khi nhà Tần sụp đổ, thiên hạ phân chia, chư hầu tranh giành, người đã chiếm Quế Lâm, Tượng Quận, tự xưng Nam Việt Vũ Vương là Hậu Hùng Vương họ Lê.
  • Hơn 9 năm sau, tính từ khi Tần vong, tức đúng là quãng năm 196 TCN, Triệu Vũ Đế – Hán Cao Tổ sắc phong cho Út Ngọ Lôi Mao làm Nam Việt Vương. Vì Chàng Út là con rể Triệu Vũ Đế, nên từ đó Nam Việt Vương lấy Triệu làm họ.

Như vậy, người được Lưu Bang cử Lục Giả sang sắc phong ở Nam Việt không phải là Triệu Vũ Vương, mà là Triệu Văn Vương. Nhận định đột phá này cho phép giải quyết được vấn đề tuổi thọ 120 năm của Triệu Đà, vì trong 70 năm trị vì Nam Việt có tới 3 vị vua nối nhau: Triệu Vũ Đế – Lưu Bang, Triệu Vũ Vương – Lê Hùng Ánh và Triệu Văn Vương – Út Ngọ Lôi Mao.
Nhìn theo dòng sử khác của thời Tiền Lý Nam Đế, thì khi Lý Bôn chiếm Long Biên dựng nước Vạn Xuân, có Triệu Quang Phục tham gia khởi nghĩa, được phong là Tả tướng. Lý Nam Đế rút về hồ Điền Triệt là sự kiện Lưu Bang bị Hạng Vũ đuổi vào vùng Hán Trung. Triệu Quang Phục được Lý Bôn giao phó, ở lại giữ Long Biên, chống lại quân họ Hạng (truyền thuyết gọi là giặc Lương) không được, phải rút về vùng đầm Dạ Trạch ở Khoái Châu (Hưng Yên), dùng lối đánh du kích mà cầm cự trong nhiều năm. Cuối cùng Triệu Quang Phục cũng đuổi được quân Hạng ra khỏi Bắc Việt. Không lâu sau đó, Quang Phục dẫn quân dẹp loạn Lâm Ấp thắng lợi, thanh thế ngày càng lớn.
Tới khi Lưu Bang giết được Hạng Vũ, lên ngôi Hoàng đế thì vùng phía Nam đã nằm trong phạm vi cai quản của cha con Triệu Túc và Triệu Quang Phục. Triệu Túc là dòng quý tộc Lạc tướng Chu Diên, tức chính là Hậu Hùng Vương, người bắt đầu chiếm cứ quận Quế Lâm – Quảng Tây từ thời Tần. Quang Phục nhận sự ủy thác của Lý Nam Đế đóng quân ở quận Nam Hải (Long Biên) và rồi chiếm được cả vùng Lâm Ấp. Với địa bàn như vậy, không khó hiểu khi Triệu Túc tự xưng là Nam Việt Vũ Vương ngay khi Lưu Bang và Hạng Vũ còn đang tranh hùng thiên hạ.
6 năm sau, Lê Túc – Triệu Vũ Vương mất, khoảng năm 199 TCN. Quang Phục kế vương vị của cha, tiếp tục đánh chiếm mở rộng địa bàn và đi khắp nơi trong nước an định dân tình. Triệu hậu nắm giữ quyền triều chính khi Quang Phục không ở trong triều.
3 năm sau khi mãn tang cha, Triệu Quang Phục, tức Út Ngọ Lôi Mao, nhận sắc phong và phẫu phù của Hiếu Cao Tổ, trở thành Triệu Văn Vương. Đây mới là lý do chính việc Nam Việt Vương đã tiếp đãi sứ giả của Hán là Lục Giả một cách hậu hĩ, lưu giữ trong cung mấy tháng, tặng tơ lụa, trang sức, ngàn vàng. Nam Việt chính thức ra nhập nước Vạn Xuân của Lý Nam Đế Lưu Bang dưới dạng một phiên vương nội thuộc.

Lý Nam Đế và Hoàng hậu Đỗ Thị Khương ở Thái Bình.

Triệu Văn Đế Hưng Quốc

Phần lớn các chư hầu là công thần được Lưu Bang phong vương khi tranh hùng cùng Hạng Vũ đều nhanh chóng bị Lưu Bang tìm cách loại bỏ sau khi lên ngôi. Tề Vương Hàn Tín, Lương Vương Bành Việt, Cửu Giang Vương Anh Bố, Triệu Vương Trương Ngao, Yên Vương Lư Quán lần lượt theo nhau ra đi. Danh hiệu phong vương chỉ còn đối với những người con của Lưu Bang.
Trong bối cảnh đó thì mới thấy Nam Việt Vương ngang nhiên tồn tại, lại còn được chính Lưu Bang phong vương, phải là một thế lực mạnh như thế nào. Chắc chắn Nam Việt Vương là đại công thần và có quan hệ thân thích với Hiếu Cao Lưu Bang.
Thời Cao Hậu, nhà Hiếu không bán đồ sắt cho Nam Việt. Nam Việt Vương cho rằng đây là âm mưu của Trường Sa Vương muốn phế bỏ tước vương của Nam Việt. Một lần nữa thông tin trên lại cho thấy sự tranh giành vương vị thời kỳ này khốc liệt như thế nào. Trong số các chư hầu nhà Hiếu, Nam Việt Vương là vị vương có thế lực mạnh nhất, uy hiếp trực tiếp đến Đế vị của nhà Hiếu.
Cao Hậu cử Long Lự Hầu Chu Táo xuất quân đánh Nam Việt nhưng đã nhận thất bại thảm hại. Cao Hậu mất. Triệu Việt Vương lúc này không còn phải kiêng dè gì nữa, công khai xưng chế, tức là xưng Đế toàn thiên hạ. Nhân đà binh uy đó, Triệu Văn Đế chiêu dụ luôn 2 vùng đất Mân Việt ở phía Đông và Tây Âu Lạc trở thành nước chư hầu của nhà Triệu. Trung Hoa lúc này chia thành 2 đế quốc. Nhà Hiếu làm Đế ở phương Bắc. Nhà Triệu xưng Đế ngang hàng với nhà Hiếu, đi xe mui vàng, cắm cờ tả đạo, ở phương Nam. Đất đai nhà Triệu Đông Tây dài vạn dặm.
Bằng chứng xác đáng về hiệu xưng Đế của Triệu Văn Đế là ngôi mộ Triệu Mạt đã phát hiện ở Quảng Tây. Trong mộ đã tìm được bộ ấn vàng, đặc biệt nhất là ấn “Văn Đế hành tỉ”, xác nhận chắc chắn rằng người xưng Đế Nam Việt là Triệu Văn Vương. Quy mô, mức độ phong phú và quý giá của các hiện vật trong mộ cho thấy nó không kém gì mộ của các vị Đế của nhà Hiếu cùng thời. Ngoài ấn Văn Đế hành tỉ trong mộ còn có “ấn Đế”, khẳng định ngôi Đế của nhà Triệu.
Cao Hậu mất, các trung thần nhà Hiếu đã tôn người con của Lưu Bang là Đại Vương Lưu Hằng (vị Vương ở đất Đại) lên ngôi, là Hiếu Văn Đế. Ngay trong năm đầu tiên khi lên ngôi, Hiếu Văn Đế đã phải vội vã giải quyết quan hệ với nhà Triệu. Lục Giả, người từng đi sứ phong Vương cho vua Triệu, một lần nữa được cử đi sứ Nam Việt.
Lý do Lục Giả đưa ra để thuyết phục Triệu Văn Đế bỏ xưng chế là chuyện mồ mả người thân và con em ở Chân Định đang thuộc nhà Hiếu. Lý do này thực là “lãng xẹt” vì xét ra vua Triệu đã hơn nửa thế kỷ không về quê, mồ mả với người thân đâu có quan trọng so với ngôi Đế nữa. Hợp lý hơn như theo truyền thuyết Việt cho biết, Triệu Việt Vương nghĩ đến ân tình cũ với Lý Nam Đế (Lưu Bang) từ khi khởi nghĩa kháng Tần nên mới đồng ý giảng hòa với Lý Phật Tử – con cháu họ Lưu.
Triệu Văn Đế là con của Triệu Túc, dòng dõi nhà Chu, nên mồ mả và người thân ở đây phải chăng là chỉ tông miếu và con cháu của Chu Vương? Chỉ khi vua Triệu thực sự xuất thân là quý tộc từ thời Chiến Quốc thì mới có mồ mả và dòng dõi ở phương Bắc.
Sau chuyến đi sứ của Lục Giả, Triệu Văn Đế đồng ý bỏ xưng chế và xưng là phiên vương khi thông sứ. Nhưng trong nước ông vẫn dùng ấn và nghi lễ Đế vị như thường, mà bằng chứng là những chiếc ấn vàng trong lăng mộ của ông ở Quảng Tây.
Một chi tiết mà Nam Việt Úy Đà liệt truyện chép không rõ ràng là về Triệu Hồ. Sử ký chép Hồ là cháu Triệu Vũ Đế nhưng không rõ thời gian mất, tựa hồ như chuyện của Triệu Hồ được ghép vào dòng sử nước Nam Việt vậy. Lăng mộ tìm được ở Quảng Tây cho thấy Văn Đế có tên là Triệu Mạt. Và Văn Đế là người đã xưng Đế, chứ không phải ở thời kỳ đã bỏ Đế hiệu như Sử ký chép.
Chuyện Triệu Hồ là cháu của Triệu Đà có lẽ là chép theo truyền thuyết Mỵ Châu – Trọng Thủy. Sự thực thì Trọng Thủy là con của nhà Tần họ Triệu, chứ không phải nhà Triệu nước Nam Việt. Triệu Hồ phải chăng tương đương với công tử Hồ Hợi, tức Tần Nhị Thế?

Cuối thời Triệu Văn Đế đã xảy ra chuyện Mân Việt Vương đánh phá biên giới với Nam Việt. Triệu Văn Đế muốn lợi dụng quân đội nhà Hiếu nên báo cho nhà Hiếu xin giúp binh. Không ngờ quân Mân Việt tự mâu thuẫn nội bộ mà tan. Triệu Văn Đế đành phải tạ ơn nhà Hiếu bằng cách cho thái tử Anh Tề vào chầu làm con tin.

Văn Đế hành tỉ
Đế ấn trong mộ Văn Đế Triệu Mạt ở Quảng Tây.

Nam Việt vong quốc

Như vậy Triệu Văn Đế mất năm Kiến Nguyên thứ 4 (137 TCN), là năm mà Sử ký chép Triệu Vũ Đế băng hà. Anh Tề làm con tin ở Trường An hơn chục năm, quay về kế vị. Anh Tề lập tức dấu đi Đế ấn.
Hành động dấu ấn này khá khó hiểu. Anh Tề dấu ấn để làm gì? Trong cách nhìn mới thì hành động này có thể hiểu là Anh Tề đã bỏ việc dùng Đế hiệu mà Triệu Văn Đế vẫn duy trì ở trong nước. Anh Tề trở thành Triệu Minh Vương, thần phục nhà Hiếu.
Rất có thể Đế ấn này là chiếc móng rồng mà thần nhân đã trao cho Triệu Quang Phục ở đầm Dạ Trạch. Anh Tề là Nhã Lang trong truyền thuyết Việt, đã dấu móng rồng thần đi, dẫn đến việc Nam Việc mất nước.
Những diễn biến tiếp theo của nhà Triệu Nam Việt thì đã khá rõ ràng. Minh Vương mất, con thái tử Hưng lên nối ngôi, là Triệu Ai Vương. Mẹ là Cù hậu làm Thái hậu, truyền thuyết Việt gọi là Cảo Nương.
Do đã đánh mất Đế hiệu, thần phục nhà Hiếu nên mẹ con Cù hậu đã bị thừa tướng họ Lữ giết. Kiến Đức được Lữ Gia lập làm vua Triệu Vệ Dương Vương.
Nguyên Đỉnh năm thứ 5, Hậu Lý Nam Đế cho Lâu thuyền tướng quân Dương Bộc và Phục Ba tướng quân Lộ Bác Đức tấn công, Phiên Ngung thất thủ. Vua Triệu cùng Lữ Gia lên thuyền chạy về đến cửa Đại Nha ở Nam Định thì bị bắt. Nhà Triệu nước Nam Việt chấm dứt từ đây.

Thần tích xã Thượng Gia, tổng Đồng Sâm, huyện Trực Định, tỉnh Thái Bình

Xã Đường Sâm huyện Chân Định phủ Kiến Xương theo trước đây phụng thờ Triệu Vũ Hoàng Đế và Hoàng hậu Trình Thị, trải qua các triều đại đều đã được phong tặng. Đến Hoàng triều hiện nay (thời những năm Gia Long, Minh Mệnh) sắc phong cho phụng thờ theo như cũ, vâng khai sự tích các tuần tiết. Sự thần ở trong quốc sử, từ tế xuân độ hè, nhập tịch đầu thu, cúng thành giữa thu, cùng ruộng đó là ruộng dành riêng cho phụng sự thần, chỉ biết vốn là như vậy. Còn tại sao như vậy thì mờ mịt không biết gì thêm. Là những người lo việc thờ phụng, phàm là người có suy nghĩ, đều cảm thấy không thoải mái trong lòng. Nên nếu thấy có dã sử thế gia, thiế biên, thế ký, đều  tìm tòi, tham khảo, kê cứu tỉ mỉ để xác định được sự tích. Hồi tháng giữa thu năm Canh Thân, nghe nói ở xã Bằng Đắng huyện Bạch Hạc, Sơn Tây có người là hậu duệ của Lễ bộ Thượng thư thời niên hiệu Vĩnh Hựu, gia đình có cất giữ Ghi chép ngọc phả cổ của chi Càn, bậc Thượng đẳng quốc tế. Bèn soạn lễ đến để xin sao chép vậy. Ngọc phả này được vâng soạn bởi lời của Hàn lâm Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính, vâng chép bởi chữ của Bát phẩm Thư lại Nguyễn Hiền. Trong số những lời kể đó có thể thời gian tương đối lệch trước sau, sự việc có thể sai khác, hãy cứ chép để đó mà không sợ rườm rà. Còn những lời hợp lý, sự việc tương đồng thì nên trích lấy tham khảo trong các bộ quốc sử để so sánh cho đầy đủ.

Phả lục cổ này chép rằng:

Xưa Bắc quốc, quận Linh Sơn có người quê Chân Định, họ Triệu, tên Đức công, vợ là Đào Thị Hoan, do trời tác hợp hơn 20 năm, cầm sắt tuy hài hòa mà giấc mộng điềm gấu sinh trai chưa đến. Từ đó ra sức tạo phúc. Một đêm đẹp trời Đức công và Thái bà ngắm trăng ở trước sân, đến giữa canh Hai, dựa lan can mà mông lung thiếp đi. Bỗng thấy có một người đến đứng trước mặt, tay cầm chiếc râu rồng nói:

  • Ta là Thiên sứ, vâng thừa mệnh của Thượng đế sai ta xuống đây cho vợ chồng các ngươi chiếc râu rồng này, ngày sau sẽ sinh ra một người con trai là thánh đồng xuất thế, dựng nước cứu dân.

Nói xong bèn bay lên không mà đi. Thái bà vì thế mà có mang thai, đến năm Ất Tỵ (Chu Noãn Vương năm thứ 59, Đông Chu Quân năm đầu), ngày mồng 1 tháng 4 Thái bà ở trong nhà nhìn ra thấy mây lành năm sắc như từ trên trời hạ thẳng xuống. Ngày hôm đó sinh Đế, râu rồng mắt phượng, tay dài quá gối. Khi lên 5 tuổi (Đông Chu Quân năm thứ 5) đã hiểu âm luật. Cha mẹ rất vui mừng cho đó là được phúc trời ban, nhân đấy đặt tên là Đà (nói đến khả năng hiểu biết khác người vậy). Bèn tìm thầy cho đi học với Dương Đường tiên sinh. Được 5-6 năm trên từ thiên văn dưới đến địa lý, không gì là không thông hiểu. Mọi người gặp ngài đều cho rằng đúng là một đấng nam nhi tốt, tất sẽ là người con làm rạng rỡ nghiệp nhà vậy. Chẳng được bao lâu, Đức công và Thái bà đều bị bệnh đau đầu mà cùng qua đời (tương truyền là ngày mồng 5 tháng 5). Đế làm lễ an táng ở bãi núi Linh Sơn. Hàng ngày ngài thương khóc thảm thiết không nguôi, thường than rằng:

  •  Phận làm con khi cha mẹ còn sống không phụng dưỡng, khi cha mẹ mất đi không chôn cất, thì sau này dẫu có nghìn chuông vạn xe đem đến cũng không thể báo đáp được.

Mỗi khi ngồi nhàn nói chuyện bàn luận cùng bạn bè, không ai là không sợ phục. Ngài nói rằng:

  • Bậc trượng phu có khí khái đích thực, sao lại chỉ vùi đầu vào nghiên bút mãi được? Chi bằng học thêm thuật cung tên, nghiền ngẫm binh thư.

Đến khi trưởng thành ngài làm quan cho nhà Tần. Khi ấy là thời nhà Thục, An Dương Vương năm thứ 44 (Tần Thủy Hoàng năm thứ 33), Tần sai hiệu úy Sử Lộc dẫn quân sĩ đi thuyền nhẹ đào kênh chở lương thực, thâm nhập Lĩnh Nam, chiếm lấy đất Lục Lương, đặt thành Quế Lâm, Nam Hải, Tượng quận. Lấy Nhâm Hiêu làm quan úy Nam Hải, Đế làm quan lệnh Long Xuyên (tức huyện Nam Hải), dẫn những người đi đày đến đóng ở Ngũ Lĩnh (năm đó Đế 33 tuổi). Đế đi du hành đến trang Đường Sâm, phụ lão nhân dân mổ trâu chúc mừng. Đế thấy nơi đây có địa thế phong quang thắng cảnh. Hôm đó lệnh dựng hành cung ở bên sông để làm nơi dạo chơi ngắm cảnh.

Một hôm Đế đi chơi trên đường gặp một người con gái có nhan sắc đẹp khác thường, trong lòng rất ưa thích, nên cho gọi người trong trang đến hỏi. Người đó đáp rằng đó là con gái nhà họ Trình, tên Lan Nương, chưa lấy chồng (Trước đây ở trang Đường Sâm có người họ Trình, tên là ông Liên. Vợ người bản trang là Đinh Thị Ngoạn, tuổi ngoài 40, nằm mơ tìm được một chiếc gương ngọc, tự nhiên có mang. Đến ngày mãn thai mùa thu ngày 15 tháng 7 sinh hạ một người con gái, mặt ngư gương ngọc, sắc tựa hoa mai. Đến năm 18 tuổi tứ đức công dung ngôn hạnh đều vẹn toàn, bèn đặt tên là Lan Nương). Đế bèn sai người mang đồ sính lễ đến nhà họ Trình. Nhà họ Trình rất vui mừng, gả con gái cho Đế.

Thế là Đế chọn ngày đón dâu, đón về cung sở. Từ đó Đế lưu lại sống ở cung ấp, giáo hóa nhân dân thành phong tục lễ nghĩa. Khi phu nhân mang thai (mùa đông ngày 10 tháng 10) sinh hạ được một người con trai, đặt tên là Trọng Thủy. Đến khi tròn 1 tuổi Đế mời phụ lão, hào mục đến cùng ăn uống, nhân đó nói rằng:

  • Người dân trong trang với vợ chồng ta thật là tình quê ngoại, đâu chỉ là nghĩa một ngày. Ta có 30 nén vàng giao cho phụ lão nhân dân để mua thêm ruộng ao, lưu để ngày sau xây dựng đền miếu, làm chỗ phụng sự vợ chồng ta thành dấu tích không mất vậy.

Vào năm Thục An Dương Vương thứ 48 (Tần Thủy Hoàng năm thứ 37, năm này Thủy Hoàng mất), Nhâm Hiêu cùng với Đế nhân đó mưu đồ xâm chiếm Thục, bèn dẫn quân đến đánh. Đế đóng quân ở núi Tiên Du, Bắc Giang, cùng với An Dương Vương đánh lớn. An Dương Vương lấy nỏ thiêng đem bắn. Đế thua chạy. Khi ấy Nhâm Hiêu dẫn thủy quân đến tại sông Tiểu giang, nay là bến Đông Hồ, phạm vào thổ thần mà mắc bệnh, quay về nói với Đế rằng:

  • Nhà Tần vong rồi, hãy dùng mưu đánh Phán (tên của An Dương Vương) có thể dựng nước được.

Đế biết An Dương có nỏ thần không thể chống được, bèn lùi về giữ núi Vũ Ninh, cử sứ sang giảng hòa. Bèn chia sông Bình giang về phía Bắc do Đế cai quản, về phía Nam An Dương Vương cai quản. Đế sai Trọng Thủy vào làm thị vệ, cầu hôn với con gái Vương là Mị Châu. Vương đồng ý. Trọng Thủy cùng với công chúa ở lại Thục. Qua được 3 năm, Trọng Thủy mới dụ Mị Nương lấy nỏ thần cho xem, giấu hủy tráo lẫy nỏ đó. Rồi Trọng Thủy lấy cớ về Bắc để thăm thân, nói với Mị Châu rằng:

  • Ân tình vợ chồng không thể nào quên. Nếu như hai nước trở nên bất hòa, Nam Bắc cách trở, ta đến đâu để gặp được nhau đây?

Mị Châu nói:

  • Thiếp có một chiếc đệm gối lông ngỗng, thường mang theo mình. Đi đến đâu thì sẽ nhổ lông để ở nơi ngả đường mà đánh dấu.

Trọng Thủy về báo việc lên Đế. Đến năm Quý Tỵ [An Dương Vương] năm thứ 50 (Tần Nhị Thế năm thứ 2) Nhâm Hiêu bệnh sắp mất, nói với Đế rằng:

  • Nghe nói bọn Trần Thắng tác loạn, lòng người không biết dựa vào ai. Nơi đất này hẻo lánh, ta sợ nhiều đạo tặc xâm phạm. Do đó muốn chặn đường mà tự giữ (nơi Tần mở đường vào Việt vậy), đợi xem các chư hầu biến động ra sao.

Nhâm Hiêu bệnh nguy kịch, nói:

  • Phiên Ngung là nơi dựa núi cách sông, Đông Tây mỗi chiều dài ngàn dặm, lại có người Tần trợ giúp, nên cũng đủ để dựng nước hưng vương, làm chủ một phương. Trưởng lại trong quận không có ai đủ chí mưu, nên mời riêng ông đến để bàn.

Nhân đó cho Đế thay mình. Nhâm Hiêu chết, Đế lập tức truyền hịch đến các cửa ải Hoành Bồ, Dương Sơn, Hoàng Khê rằng:

  • Giặc loạn đã đến. Phải nhanh chóng chặn đường, tập hợp quân lính để tự giữ.

Hịch truyền đến, các châu huyện đều hưởng ứng. Thế rồi Đế giết hết các trưởng sử do Tần cắt đặt, lấy các thân thuộc bạn bè của mình cho thay thế để quản. Sau ít lâu Đế phát binh đánh Thục Vương. Vương không biết nỏ thần đã mất, vẫn đánh cờ, cười nói rằng:

  • Bọn chúng không sợ nỏ thần của ta sao?

Quân của Đế tiến sát đến. Thục Vương giương nỏ bắn thì nỏ đã gẫy, nên thua chạy, đặt Mị Châu ở trên ngựa cùng với Vương chạy về phía Nam. Trọng Thủy nhận dấu lông ngỗng mà truy đuổi theo. Thục Vương chạy đến bờ biển, đường cùng không thuyền chở tiếp, bèn hô:

  • Rùa vàng mau đến cứu ta.

Rùa vàng nhảy vọt trên mặt nước hô rằng:

  • Kẻ ngồi sau ngựa là giặc đó. Sao không giết đi?

Vương rút kiếm định chém Mị Nương. Mị Châu khấn rằng:

  • Con một lòng trung tín, vì bị người lừa dối, xin hóa thành châu ngọc mong rửa sạch mối thù này.

Vương cuối cùng cũng chém Mị Châu, máu chảy trên mặt nước. Trai sò nuốt vào bụng hóa thành châu ngọc. Thục Vương cầm sừng văn tê bảy tấc mà đi vào biển (tê giác rẽ nước tương truyền nay chính là vùng núi Dạ xã Cao Xá, Diễn Châu).

Trọng Thủy đuổi tới nơi thấy Mị Châu đã chết, thương khóc ôm lấy xác mang về an táng ở Loa thành, xác hóa thành đá ngọc. Trọng Thủy thương nhớ Mị Châu, trở về về nơi nàng thường trang điểm tắm gội, đau buồn không chịu nổi, cuối cùng nhảy xuống giếng mà chết. Người đời sau có được ngọc minh châu ở biển Đông lấy nước giếng này rửa thì sắc màu sẽ càng sáng bóng. Năm đó nhà Thục mất, nhà Triệu khởi hưng vậy.

Kỷ nhà Triệu năm đầu Giáp Ngọ (Đế 50 tuổi, Tần Nhị Thế năm thứ 3) Đế thắng được nhà Thục, chiếm được đất Lâm Ấp, Tượng quận, tự lập là Nam Việt Vương, đóng đô ở Phiên Ngung (nay chính là Quảng Đông). Khi đó Hoàng hậu vẫn còn đang ở nơi hành cung trước đây, bỗng có một trận cuồng phong từ phía Đông thổi tới, quấn quanh lấy thân. Rồi trong chốc lát Hoàng hậu tự hóa (tương truyền là ngày 20 tháng 12). Hôm đó các phụ lão và nhân dân sở tại dâng biểu tấu lên Đế. Đế nghe tấu rất đau lòng, liền lệnh sứ thần đến nơi hành cung làm lễ an táng. Sứ thần đến chưa kịp làm lễ thì thấy mối đùn lên thành mộ phần. Bèn dựng thành miếu ở trên lăng để phụng thờ (tại thôn Thượng Hòa). Gia phong Hoàng hậu Phương dung Trình Thị Đại vương, chuẩn cho các thôn Đường Sâm, Thượng Gia, Thượng Hòa cùng phụng thờ.

Quý Mão năm thứ 10 Đế lệnh cho 2 quan sứ làm chủ hai quận Giao Chỉ, Cửu Chân. Ất Tỵ năm thứ 12 nhà Hán đã định được thiên hạ, nghe tiếng Đế đã là vua Việt nên sai Lục Giả đến bái Đế là Nam Việt Vương, giao cho tỷ phù tín vật để thông sứ, hòa hợp cùng với Bách Việt để không gây nạn cướp phá. Lục Giả đến Việt, Đế cùng với Lục Giả bàn luận so sánh Hán Việt. Sự thể xong, Đế bèn giữ Lục Giả ở lại vài tháng, tặng cho Lục Giả tơ lụa, trang phục đáng giá ngàn vàng. Đến khi Lục Giả trở về lại tặng ngàn vàng.

Đinh Tỵ năm thứ 24, Hán Cao Hậu xưng chế, cấm buôn bán đồ sắt với Nam Việt. Đế cho rằng đây là kế của Trường Sa Vương muốn dựa vào uy đức của nhà Hán mưu tính nước Việt phải bỏ xưng vương. Mùa xuân năm Mậu Ngọ, Đế lên ngôi Hoàng đế, phát binh đánh Trường Sa, đánh bại được mấy quận rồi trở về.

Canh Thân năm thứ 27 Hán cử Long Lự hầu Chu Táo đến đánh nước Việt ta để báo thù sự việc Trường Sa. Đế nhân đó lấy binh uy và tài vật chiêu phủ Mân Việt, Âu Lạc (tức Cửu Chân, Giao Chỉ) đều về theo phụ thuộc. Đất đai khi đó Đông Tây hơn vạn dặm. Đế đi xe mui vàng, cắm cờ tả đạo, xưng chế, sánh ngang với Hán.

Nhâm Tuất năm thứ 29 (Hán Văn Đế năm đầu), Hán Văn Đế vì mồ mả người thân của Đế ở tại Chân Định mà cắt đặt người phụ trách trông coi, ngày tháng phụng thờ, lại cho gọi con em của Đế đến cho chức quan quyền quý, ban tặng rất hậu. Văn Đế cho Lục Giả làm Thái trung đại phu, đến đưa thư cho Đế (có trong sử Hán và sử Việt).

Đế bèn vâng chiếu làm phiên vương, giữ lệ nạp cống hàng năm. Theo đó phàm là khi Đế giao sứ với Hán thì xưng vương triều, gọi như chư hầu của phương Bắc. Còn trong nước vẫn theo tên hiệu cũ. Cho nên Nam Bắc giao hảo, quân dân hai bên được nghỉ ngơi. Qua hơn 30 năm người Bắc không dám xem thường.

Canh Tý năm thứ 67 (Cảnh Đế năm thứ 9) tháng 12 , mặt trời như màu tía, ngũ tinh chuyển động ngược chiếm vào cung Thái vi, trùm suốt trong thiên đình.

Giáp Thìn năm thứ 71 ngày mồng 6 tháng 8 Đế không bệnh mà mất (thọ 120 tuổi), chôn cất ở cửa Tây trong nội thành. Sau đó ít lâu có lệnh truyền các hành cung nơi ở cũ lập miếu. Miếu cũ ở trang Đường Sâm là đền chính. Có một đôi búa nguyệt tại đây là tích việc dựng nước này. Đến triều nhà Trần tặng phong Đế là Khai thiên Thể đạo Thánh võ Thần triết Hoàng đế. Hoàng hậu Trình Thị cũng được phối thờ.

Đến hoàng triều Gia Long năm thứ 3 ngày 13 tháng 12, bộ Lễ vâng soát lễ đế vương các triều đại, xét rằng:

Triệu Vũ Hoàng đế họ Triệu tên Đà, người Chân Định nước phương Bắc, cuối thời Tần làm chức quan lệnh Long Xuyên, Nhâm Hiêu chết, thay Hiêu làm quan úy Nam Hải, diệt An Dương Vương mà có được nước, xưng là Nam Việt Vương, lại xưng Triệu Vũ Đế, chống lại nhà Hán, là người khởi đầu đế vương nước Việt ta. Sử  chép mở nước vạn dặm, truyền quốc trăm năm, đáng là vị vua danh tiếng, ở ngôi 71 năm, truyền vị 4 đời. Hoàng hậu Trình Thị, người Đường Sâm, con trai Trọng Thủy, nhân lấy tên làng thủa tắm gội mà đặt tên cho huyện. Nay dân huyện Chân Định còn thờ phụng nhiều.

Tế mùa xuân vào tháng 2 là ngày quốc tế các triều đại, quan phủ huyện đều đến làm lễ tế lớn. Thôn dân cúng lễ, phục dịch rất tốn kém, không đủ sức lực và của cải để làm. Đến triều Lê Cảnh Hưng năm thứ 24 dân xã trình lên xin được cho về tự lo việc tế lễ. Vua đồng ý cho phép miễn việc mổ trâu làm lễ. Chỉ có lệ cúng đầu trâu và tiền lệ phí là còn trong sổ giao việc.

Hội tế độ tháng 4, là ngày sinh Thánh đế.

Lễ cúng thành tháng 8, là ngày giỗ Thánh đế.

Tế thành ngày 20 tháng 12 là ngày giỗ Thánh hậu.

Phó lý Nguyễn Hữu Tính đã vâng nhận thực.

Lý trưởng Nguyễn Đức Thao vâng nhận thực.

Thần tích làng Đào Động tổng Vọng Lỗ huyện Phụ Dực tỉnh Thái Bình

Ngọc phả chép về một vị thủy thần xuất thế triều Hùng

Chi Chấn, Thượng đẳng

Bản chính Lễ bộ quốc triều

Xưa Việt ta trời Nam mở vận, thánh tổ dựng cơ đồ 18 nhánh truyền nối nhau hơn hai ngàn năm thịnh trị, cha truyền con nối đều xưng hiệu là Hùng Vương. Ngọc lụa xe sách, núi sông thống nhất, chính là tổ của Bách Việt vậy. Khi cơ đồ họ Hùng trị vì 18 nhánh truyền đến Duệ Vương. Vương có đại lược hùng tài, tư chất thánh triết, được tổ gây dựng, cha ông bồi đắp 17 đời thịnh trị, trong tu dưỡng văn đức, ngoài phòng bị biên phương, dốc lòng hưng bình để yên Trung Quốc.

Đương khi đó ở tại trang An Cố, huyện Thụy Anh, phủ Thái Ninh, đạo Sơn Nam có một gia đình họ Phạm tên Túc, vợ là Trần Thị Ngoạn. Vợ chồng đều cùng có lòng từ ái, tạo phúc cho người. Gia đình vốn giàu có, nhưng chỉ có đường con cái là chưa thành sinh dục. Một ngày trời trong bà Trần đi ra đường ngoài dạo chơi, gặp một người con gái, mới hỏi rằng:

  • Cháu sống ở đâu đây?

Người con gái nói:

  • Cháu là người ở nước phương Bắc, gia đình vốn nghèo nàn. Cha mẹ mất sớm, không có anh em nào. Cháu nay đi tha phương tìm nơi sinh sống, xem có chốn nào dư giả, cháu xin được vào làm con cái.

Bà Trần bèn dẫn về nhà làm con nuôi, mới đặt tên là Quý Nương. Ở được mấy năm một hôm bỗng nhiên ông Phạm bị bệnh mà mất. Bà Trần cùng kế theo mà mất. Nàng Quý tìm đất tốt làm lễ chôn cất, phụng thờ trong nhà 3 năm. Tang sự xong, một hôm nàng Quý đi ra nơi cửa biển tắm rửa. Đang khi tắm gội bỗng thấy một con giao long thân dài hơn 8 thước, tiến đến quấn quanh người nàng Quý 3 vòng. Một lúc nàng Quý khi tỉnh lại, vô cùng sợ hãi. Từ đó thấy tâm thần cảm động mà có mang. Nhân dân đều nói không chồng mà chửa. Nàng Quý bèn trốn tới ở trang Hoa Diêm.

Mang thai được 13 tháng tới năm Đinh Tị sinh hạ một bọc. Nàng Quý lấy làm kỳ lạ mới đem ra ngoài cửa biển mà ném đi. Bọc đó trôi về đến ngoài sông trang Đào Động. Nơi đó có một người họ Nguyễn, tên Minh, gia cảnh nghèo nàn, lấy việc đánh giá làm nghề nghiệp. Lúc đó ông đang đánh cá bỗng thấy có một bọc trôi vào trong lưới cá của ông. Ông lấy làm lạ, vớt lấy đem ném đi thì bọc lại trôi vào. Do vậy ông mới khấn rằng:

  • Nếu bọc này quả thật linh thiêng như vậy, thần xin được lấy dao bổ ra.

Vừa bổ ra thì thấy ba con rắn đều rất hùng dũng, nhảy nhót chia nhau chạy về các hướng. Con rắn thứ nhất ở cửa sông trang Đào Động. Con rắn thứ hai chạy về cửa sông trang Thanh Do. Con rắn thứ ba chạy về nằm ở trang Hoa Diêm. Từ đó mỗi con ở một nơi.

Lại nói việc 2 con rắn có tích riêng. Còn con rắn thứ nhất sống ở cửa sông trang Đào Động. Khi ấy phụ lão nhân dân trang Đào Động thấy vậy đều sợ hãi, biết đúng là thủy thần xuất thế. Phụ lão quay về làm lễ ở cửa sông bái tạ, khấn rằng:

  • Nếu đúng là thủy thần xuất thế linh thiêng như vậy, chúng thần đều xin được làm thần tử, xin ngài về bản trang, dân chúng thần sẽ lập đền phụng thờ.

Từ đó trang Đào Động cầu gió được gió, cầu mưa được mưa, dân được lợi nhiều.

Lại nói, qua được 3 năm, một hôm thấy trời đất mờ mịt, mưa gió lớn nổi lên, tối tăm cả một vùng. Sấm chớp vang liền mấy chục tiếng trên cửa sông. Buổi sáng phụ lão nhân dân ra xem thì thấy ở dưới sông có tiếng ngâm thơ rằng:

Xuất vi danh tướng hoá vi thần

Vạn cổ danh phương nhật nhật tân

Hà nhật binh qua nhi mãn địa

Thử thì ngô đẳng thuỷ thành nhân.

Đến khi cơ đồ họ Hùng đương lúc vận suy, Duệ Vương sinh 20 hoàng tử, 6 công chúa, đều lần lượt theo nhau về chầu cố hương. Duy chỉ còn 2 người con gái, người thứ nhất là công chúa Tiên Dung, được gả cho ông Chử Đồng Tử. Còn người thứ hai tên là công chúa Ngọc Hoa, cung thiềm còn đóng, nhụy ngọc chính kỳ, duyên lành chưa sớm định ước. Vương bèn dựng lầu ở cổng thành Việt Trì, ban chiếu truyền rằng thần dân thiên hạ, ai có tài trí thông minh, anh hùng đức đô, có thể nhận ngôi vị của trẫm thì sẽ truyền ngôi và gả công chúa cho.

Ngày đó trên sông thuyền bè nối nhau, trước lầu toàn xe ngựa. Tất cả đều nghe chiếu thiên tử mà nổi lòng trạng nguyên bốn biển. Bút văn múa như động ảnh rồng rắn làm sao đẩu bay lạc, lạnh cả khúc sông. Trận võ mở mà hổ báo kinh hồn, sấm chớp lan cửa biển. Một vùng quốc gia bốn biển anh hùng. Nhưng tất cả đều không đạt, xuôi chảy tầm thường, không có người có thể gọi là toàn tài. Duy chỉ có Sơn Thánh có nhiều kỳ tài thông trời thấu đất, có phép màu ngăn sông dời núi. Vua cho là người đứng đầu thiên hạ, bèn gọi công chúa đến gả cho Sơn Thánh, muốn nhường lại ngôi vị.

Khi ấy có Thục chủ là bộ chủ Ai Lao, cũng là tông phái họ Hùng, nghe Duệ Vương tuổi trời đã cao mà 20 hoàng tử đồ đã tiên du, không có người nối dõi, bèn thừa cơ phát động, cầu viện nước láng giềng trăm vạn quân tỳ hưu, tám ngàn kỵ mã chia làm 5 đạo. Một đạo theo núi Hoàng Nghiêm, Quỳnh Nhai, đất 16 châu mà ra. Một đạo theo đất các châu Tuyên Quang, Tụ Long, Bảo Lạc mà ra. Một đạo theo châu Minh Linh, Bố Chính ra. Một đạo theo Ái Châu, đạo Sơn Nam ra. Một thủy đạo theo cửa biển Hội Thống, Hoan Châu. Thủy bộ cùng tiến, quân thanh vang dội. Duệ Vương vô cùng lo lắng, bèn lập đàn tràng cầu đảo trời đất bách thần. Tối dó Vua nằm mơ thấy trước mặt có sứ giả thiên đình áo xanh nói rằng:

  • Giặc này tuy là giặc lớn, nhưng Hoàng thiên thương xót nên đã giáng cử nhiều tướng tài. Nay có ba vị thủy thần giáng sinh ở huyện Thụy Anh, phủ Thái Ninh, đạo Sơn Nam. Một vị sống ở trang Hoa Diêm. Một vị sống ở trang Thanh Do. Một vị sống ở trang Đào Động. Đều đang ở hình rắn. Xin bệ hạ sai sứ giả đến các nơi này, tất sẽ biến thành người, với Sơn Thánh cùng nhau dẹp giặc. Tất trong vài ngày có thể định được.

Bỗng nhiên Vua tỉnh lại, bèn lập tức sai sứ trở về các nơi, triệu gọi ba vị thủy thần. Sứ giả vâng mệnh cầm cờ tiết trở về các nơi. Khi sứ giả đến trang Đào Động bỗng thấy trời đất mù mịt, sấm gió to nổi lên, cửa sông ầm ầm như sấm sét nổi lên. Tự nhiên rắn biến thành người, tự xưng là Vĩnh Công, đích thực thân cá mặt rồng, thân dài 8 thước, sức địch vạn người, về đứng trước sân. Rồi trở về trang Hoa Diêm bái yết thân mẫu. Anh em cùng nhau đường đường vào gặp Vua. Vua thấy ba người có hình lạ tướng kỳ, đúng là thủy thần xuất thế, khác hẳn người thường.

Ngay hôm đó Vua bái Vĩnh Công làm Trấn Tây, đóng ở đất Ái Châu, Sơn Nam, Hoan Châu, cùng với các tướng dẫn quân đánh giặc Thục. Lại triệu Sơn Thánh đến hỏi kế sách. Sơn Thánh tâu rằng:

  • Hai nghìn năm đến nay 17 bậc quân vương thánh hiền tạo nhân nghĩa sâu dày đã thấm sâu vào tận xương tủy. Nay đất nước đang lúc quân mạnh, oai đức của bệ hạ vang xa hải ngoại. Còn người Thục không biết tự giữ gìn lại dám quật cường, cơ sự thua bại đã thấy rõ vậy. Thần cùng với ba vị thủy thần xin được thay thánh giá xuất quân. Quân Thục không quá nửa tháng sẽ dẹp được.

Vua nghe vậy rất vui mừng, bèn đích thân lấy búa việt giao Sơn Thánh quản theo các đầu núi. Lại giao cho  ba vị thủy thần quản theo tới hải đảo. Ba vị thủy thần nhận hai mươi vạn hùng binh, một ngàn viên tướng giỏi. Hôm đó, Sơn Thánh cùng với ba vị thủy thần bái tạ trước sân vua, đường đường bày binh bố trận. Sơn Thánh là tiền quân. Vĩnh Công là trung quân. Còn hai vị là hậu quân, tiến thẳng đến các vùng hải đảo, cùng với vạn đội rồng rắn, ngàn hàng hổ báo. 5 đạo quân Thục đều thua to, xe không còn một chiếc, ngựa không còn một con, chạy về nước.

Các ngài dâng biểu báo tin thắng trận về cho vua rằng giặc Thục đã dẹp xong. Vua nghe tin bèn trong hôm đó hạ chiếu triệu các tướng về triều nhận việc. Vua bèn truyền trăm quan mổ trâu làm lễ bái tạ trời đất bách thần, khao thưởng gia thần thủ túc, thưởng cỗ ba quân. Từ đó vua tôi hợp đức, trong phủ vô sự, bốn biển thấy cảnh tượng thái bình, vạn dân no đủ vui vẻ. Vua bèn gia phong các bậc chức tước và thực ấp. Phong Vĩnh Công là Nhạc phủ Thượng đẳng thần.

Vĩnh Công bái tạ, không nhận. Lại dâng biểu xin cho trang Đào Động được dùng tô thuế binh dịch để làm ấp hộ nhi. Vua đồng ý. Ông bái tạ vua, xe ngựa trở về trang Đào Động, khao thưởng nhân dân, gia thần thân tín. Ông bèn lấy 10 người ở trang Đào Động làm gia thần thân tín. Rồi lại về bái yết thân mẫu, ở đó vài tháng. Chẳng may thân mẫu bị bệnh mà qua đời. Ông bèn tìm đất tốt làm lễ an táng, phụng thờ trong nhà 3 năm. Đến khi hết tang, Ông đi xem địa thế. Một hôm đi đến bên sông ở trang Đào Động, thấy có một khu đất có sơn thủy hữu tình. Bèn cho lập đồn dinh mà ở đó. Lại mở yến tiệc, gọi phụ lão nhân dân đến uống rượu, nói:

  • Ta cùng với nhân dân đã thành nghĩa cũ, không phải mới có ngày một ngày hai mà mất đi được. Ta có 10 nén vàng gửi cho nhân dân để mua thêm đất đai ao hồ dùng làm cơ sở để về sau khi ta trăm tuổi có nơi hưởng thần phụng thờ.

Từ đó nhân dân đều an vui, khuyến khích cấy trồng, tăng lợi bớt hại. Dân đều giàu có, được mùa, thật có công lớn với dân vậy.

Ở được vài năm tới năm Bính Dần trời thu ngày 25 tháng 8 Vĩnh Công một buổi cùng với nhân dân ngồi ở trong cung sở. Tự nhiên mưa gió nối nhau, ban ngày như đêm. Trong khoảnh khắc trời đất sáng lại. Nhân dân thấy nơi ông ngồi không có ai. Ông đã hóa vậy. Nhân dân lấy đó làm kỳ lạ, bèn làm biểu tâu lên vua. Vua nghe vậy nhớ ông là Trấn Tây An Tam Kỳ.

Vua bèn gia phong mỹ tự là Trấn Tây An Tam Kỳ Linh ứng Đại vương, Thượng đẳng quốc tế. Sắc chỉ ban về cùng với 400 quan tiền đồng, cho phép xã Đào Động đón thần hiệu về sửa sang miếu điện để phụng thờ, lưu truyền hương khói cùng với nước nhà hưởng lành vậy.

Truy phong Trấn Tây An Tam Kỳ Linh ứng Đại vương.

Lại nói từ đó về sau trải tới Tiền Lý, Hậu Lý, Đinh, Lê, Lý, Trần, thường có giúp nước giữ dân, có nhiều đời đế vương gia phong mỹ tự, để vạn năm cúng hưởng, vạn thế không ngừng.

Phụng khai các lệ sinh hóa cùng với các chữ húy Vĩnh, nhất thiết cấm.

Phụng ngày sinh là mồng 10 tháng Giêng, lễ dùng trên cỗ chay, dưới dùng lợn đen làm lễ.

Phụng ngày hóa 25 tháng 8, lễ dùng trâu, xôi, rượu.

Hoàng triều niên hiệu Vĩnh Hữu, năm thứ hai, tháng giữa đông, ngày tốt.

Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính vâng soạn.

Bát phẩm thư lại, thần là Nguyễn Hiền vâng sao.

Phả lục chép về năm vị đại vương thủy thần triều Hùng Tuấn Vương

Chi Cấn, bộ Thượng đẳng

Chính bản bộ Lễ quốc triều.

Xưa nước Việt trời Nam mở vận, phân chia núi sông theo sao Dực sao Chẩn. Nước Bắc phân phong ban đầu thẳng theo sao Đẩu sao Ngưu. Từ Kinh Dương Vương triều Hùng tuân theo mệnh vua cha phân phong làm dòng dõi đế vương nước Việt ta, đất đẹp châu Hoan xây dựng kinh đô, núi mạnh Nghĩa Lĩnh sửa tăng đến miếu, truyền nước đời kế tiếp xưng là Lạc Long Quân, lấy tiên nữ Động Đình, ở đầu núi Nghĩa Lĩnh. Mây lành năm sắc rạng rõ. Âu Cơ từ đó mang thai, đến khi sinh hạ được một bầu trăm trứng, nở ra trăm con trai tốt lành, đều là những anh hùng hơn đời, đức độ vượt người. Đến khi trưởng thành Vua bèn phong hầu lập bình phong, chia Trung Quốc thành 15 bộ. Thế rồi Long Quân nói với Âu Cơ rằng:

  • Ta là giống rồng, nàng là dòng tiên. Tuy khí âm dương ngũ hành hợp lại mà có con, nhưng chủng loại không giống nhau, không thể chung sống.

Nhân đó chia biệt, bèn phân 50 người con theo cha về biển làm thủy thần, phân trị các đầu sông góc biển. 50 người con theo mẹ lên núi làm sơn thần, phân trị các khu bãi trên núi vùng trung du. Sau này có việc báo cho nhau, tất đến tương trợ, như thế không thể suy được. Thế là họ Hùng có bách thần sông núi, thường có thể xuất thế, đầu thai nhập làm con của các gia đình người dân, để giúp nước trợ dân vậy. Gia đình nào có phúc tất sẽ gặp được.

Lại nói, khi đó cơ đồ họ Hùng truyền 17 đời đến Tuấn Vương, ngự đô ở Việt Trì bên sông Bạch Hạc, dựng nước  tên là Văn Lang. Quốc đô tên là thành Phong Châu. Vua là người có hùng tài đại lược, tư chất thánh triết, kế thừa cơ đồ 17 đời tổ dựng tôn đắp, trong sửa văn đức, ngoài phòng biên cương, cố sức để hưng bình mà yên Trung Quốc.

Trước đó có thánh quân Động Đình Bát Hải, chính cung hoàng hậu nằm mộng thấy rồng cuốn phượng quần quanh thân, hào quang đầy nhà. Hoàng hậu sợ hãi tỉnh lại mới biết là nằm mộng. Bèn đem sự việc kể với Thánh quân. Thánh quân nói đó tất là có điềm làm. Từ đó Hoàng hậu thấy trong người có mang. Tới ngày mồng 10 tháng 8 năm Mậu Tý thì sinh hạ được một bầu mười chàng hoàng tử, đều có thiên tự khác lạ, diện mạo phi thường. Thánh quân biết là thần tiên xuất thế nên rất yêu mến.

Tuấn Vương nghe chuyện bèn ban chiếu lệnh cho các châu huyện, nơi nào có 10 vị hoàng tử, lại có tài văn võ, học vấn sâu rộng cùng với những tài nghệ riêng biệt thì đến nhận quan tước. Khi ấy đạo Sơn Nam Thượng có 10 vị hoàng tử ứng tuyển, đến trước bệ rồng ứng đối lưu loát, thể hiện tài văn võ không thể nào sai. Trong 2 năm sau Vua cho vị thứ nhất là Long cung Thái tử. Còn lại 9 người đều là Hoàng tử. Từ đó thầm nhuần ơn thánh, đậm sâu ơn vua, có duyên lớn hương khói vậy.

Khi ấy họ Hùng đương lúc mạt, ý trời muốn dứt. Tuấn Vương sinh được 20 hoàng tử, 6 công chúa đều theo nhau tiên du tuyệt tích, không có người nối dõi. Chỉ còn công chúa thứ hai là Mị Nương được gả cho Tản Viên Sơn Thánh, định kế nối ngôi vị.

Khi đó các nước láng giềng vạn nhà Ai Lao, Chiêm Thành nghe đồn Tuấn Vương tuổi thọ đã cao mà 20 hoàng tử đều tiên bồng tuyệt tích, không người nối dõi, định nhường ngôi cho con rể Sơn Thánh, bèn thừa cơ động binh, cầu viên các nước tập hợp trăm vạn tinh binh, ba ngàn ngựa khỏe, chia làm 5 đạo, theo cửa biển Hội Thống thủy bộ cùng tiến. Quân thanh chấn động. Thư từ biên cương gửi gấp, một ngày tới 5 lần.

Vua rất lo lắng, bèn triệu gọi Sơn Thánh đến hỏi kế sách. Sơn Thánh tâu rằng:

  • Hơn 2000 năm 17 bậc quân chủ thánh hiền tạo ra ơn sâu đức dày đã tới tận xương tủy. Hiện nay nước giàu quân mạnh. Oai đức của bệ hạ vang ngoài hải ngoại, lại có lòng trời yêu mến, giáng sinh nhiều anh tài. Ví như mười vị hoàng tử long cung có khí độ hơn người, kinh luân trùm cổ, kiêm tài văn võ, có tài ứng đối, thật là bách thần sông núi có nhiều xuất thế. Còn nước giặc không biết bảo thủ, dám đến quật cường, thì cơ sự bại thua đã cầm chắc vậy. Một ngày Bệ hạ thảo phạt hỏi tội, lấy uy đức mà phục thì tất dân ta đều vì Bệ hạ mà chống giặc. Mối lo này chỉ là trong phút chốc. Sự thể thế này thì thần nguyện xin cử 10 vị hoàng tử đến trấn giữ ở các nơi hiểm yếu đầu các con sông. Còn thần tự xin được thay Bệ hạ tìm chọn tướng tài. Giặc nước không quá vài tuần là dẹp được.

Vua rất vui mừng, lập tức gọi 10 vị hoàng tử long cung đến dẫn quân tuần phòng, chia làm 2 đạo để giữ vững các đường quan trọng ở các đầu sông. 10 vị hoàng tử long cung bái nhận 5000 quân thủy bộ chia thành 2 đạo trước tiên lên đường. Cờ xí gió thổi vạn dặm. Đầu thuyền chiêng trống động ngàn núi.

Một hôm buổi chiều tối dẫn quân tiến đến vùng đất đầu bến sông ở trang Hoa Đào, quận Phụ Phụng, đạo Sơn Nam. Bèn cùng nhau đóng quân ở nơi đó. Xem xét địa thế, thấy có một nơi sông núi uốn lượn, rồng hổ chầu ôm. Núi không cao mà có các bãi. Nước có bến đẹp lại thuận tiên. Tưởng cũng là một nơi phong quang thắng cảnh. Thái tử bèn truyền quân sĩ cùng nhân dân xây dựng 5 đồn để chống giặc ngoài.

Khi ấy phụ lão nhân dân trang Hoa Đào đều sợ hãi, bèn đến làm lễ xin được làm thần tử. Thái tư đồng ý.

Ngày hôm đó Thái tử bèn truyền quân sĩ mổ trâu, lợn để tế cáo trời đất bách thần sông núi, khao hưởng quân sĩ. Lúc ấy đang trời mùa đông thượng tuần tháng 11, bỗng thấy thư của Sơn Thánh gửi đến, trong nói là thiên hạ đã yên bình. Các vị bèn làm biểu tâu về triều. Vua ban chiếu triệu hồi. Thái tử cùng với 9 vị hoàng tử vâng mệnh quay về. Vua mở tiệc lớn mừng chiến thắng, gia phong các cấp bậc cho các tướng sĩ. Cho 5 vị được hưởng thực ấp ở quận Phụ Phụng. Còn 5 vị được quản trị các cửa biển. 5 vị hoàng tử bái tạ, trở về quận Phụ Phung nhận chỗ quản trị thực ấp. Thời gian sau đến nơi đồn ở trang Hoa Đào.

Một hôm bày tiệc mời phụ lão nhân dân, gia thần đến ăn uống. Khi ấy phụ lão nhân dân Hoa Đào đều tâu rằng:

  • Từ khi đại nhân dựng đồn sở thì dân đều được yên ổn, lấy uy đực mà phục người. Xin nơi nay là đồn, sau sẽ làm nơi thờ phụng.

Ngài đồng ý, lại nói với phụ lão nhân dân rằng:

  • Trang của các ngươi đã có lòng với ta tất sẽ giữ di mệnh của ta, muôn năm hương khói, vạn cổ thờ phụng hưởng  5 vị hoàng tử ở nơi trang này.

Đại vương lại ban cho 10 nén vàng để sau này mua thêm đất đai dùng cho việc thờ cúng. Việc xong , bỗng không gian nơi đó thấy trời đất mờ mịt, mưa to gió lớn nổi lên, mây mù bốn phía. Có một chiếc thuyền rồng từ cửa biển tiến đến. 5 vị hoàng tử lên thuyền mà trở về thủy tế. Bỗng thấy mây phủ mù mịt. Ban ngày mà như đêm. Một lúc thì quang tạnh. Lai thấy trăm đến chầu. Không thấy 5 vị hoàng tử nữa, tức đã hóa thần vậy. Khi đó là ngày 15 tháng 2. Lúc đó mọi người đều rất sợ hãi, bèn làm biểu tâu lên Vua. Vua nghe việc đó bèn sai quay về làm lễ tế, lại sai sứ giả mang sắc phong bách thần đến.

Gia phong vị thứ nhất là Long cung Chàng Cả Trấn Bắc Anh linh Thịnh đức Đại vương.

Gia phong vị thứ ba là Bình Giang Hùng trưởng Hiển ứng Phổ quang Huệ đạt Đại vương.

Gia phong vị thứ tư là Thủy quan Linh ứng Hộ vật An dân Đại vương.

Gia phong vị thứ bẩy là Thủy quan Đào tiên Triệu mưu Tả tịch Thịnh đức Phong công Đại vương.

Gia phong vị thứ tám là Kim chi Cống Đôi Anh linh Đại vương.

Trang Hoa đào đón mỹ tự về dân lập miếu thờ phụng. Kính vâng!

Ngày sinh thần chính lệ là mồng 10 tháng 8, dùng trên cỗ chay, dưới thịt lợn đen, hát cơ, vui chơi các trò.

Ngày hóa thần chính lệ là 15 tháng 2, từ ngày 12 đến 15 dùng lễ trên cỗ chay phẩm quả, dưới dùng trâu lợn, bánh trôi bánh dày, cấm ca hát.

Niên hiệu Hồng Phúc năm thứ nhất, tháng đầu xuân ngày tốt, Thái tử Thiếu bảo Đại học sĩ Hàn lâm Lễ viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn bản chính.

Hoàng triều năm Vĩnh Hữu thứ 6, giữa thu, Nội các bộ Lại lại vâng theo bản chính cũ mà chép.

Phả lục chép về 5 vị Đại vương thiên thần âm phù triều Trưng nữ vương

Chi Cấn, bộ Thượng đẳng thần

Bản chính Lễ bộ quốc triều.

Xưa nước Việt trời Nam mở vận, phân ngang sông núi theo sao Dực sao Chẩn. Nước Bắc ban đầu phong phân thẳng theo hướng sao Đẩu sao Ngưu. Từ Kinh Dương Vương triều Hùng vâng mệnh vua cha phân phong làm dòng dõi đế vương nước Việt ta. Đất đẹp châu Hoan xây dựng kinh đô. Đầu núi Nghĩa Lĩnh mây lành năm sắc rực rỡ. Âu Cơ từ đó có mang, đến lúc sinh hạ được một bầu trăm trứng, rở ra được điềm trăm trai, đều là những anh hùng hơn đời, đức độ vượt người. Đến khi trưởng thành Vua bèn kiến phong hầu tước, lập bình phong, chia phong trong nước  làm 15 bộ. Lạc Long Quân nói với Âu Cơ rằng:

  • Ta là giống rồng, nàng là giống tiên. Tuy khí ngũ hành hợp lại mà có con, nhưng chủng loại không giống nhau, nước lửa tương khắc, không thể chung sống.

Bèn chia biệt mới phân 50 người con theo cha xuống biển làm thủy thần, phân trị các đầu sông góc biển. 50 người con theo mẹ lên núi làm sơn thần, phân trị các bãi khu trên núi. Khi có sự thì báo cho nhau, tất đến tương trợ, để không thể cùng suy yếu. Từ đó về sau nhà họ Hùng có bách thần sông núi thường có thể xuất thế, biến hóa thần kỳ, âm phù giúp nước giúp dân vậy.

Xưa thời Đông Hán, Tô Định dẫn quân đến lãnh thổ, xâm chiếm Trung Nguyên. Họ Triệu tang thương, không người cứu giúp. Cho đến người cháu gái Hùng Vương tên Trắc, là bậc nữ trung hào kiệt, thánh thần nơi thượng thế, nổi hùng oai cất quân đến đánh. Thế mà đương khi ấy chưa có được người nam nhi có tài thao lược. Nữ tướng xuất quân, phát động thần linh. Trưng nữ bèn cáo tế Tản Viên Sơn Thánh và hội đồng trăm thần ở cửa sông Hát (tức xứ Sơn Tây), lập đàn cáo tế, chúc rằng:

  • Con người là dòng dõi của vạn vật trong trời đất, vốn là chủ của các sinh linh, gây dựng nên cây cỏ. Trải đời đời các thiên tử đế vương đời trước đều là thánh minh. Triều đình có đạo yêu dân lo nước, đức hóa thâm sâu, thiên hạ thanh bình, quốc gia vô sự. Nay có kẻ ngoại tộc tên Tô Định, loài dê chó thường cuồng xướng lộng hành, phá hoại chính sự, tàn hại nhân dân. Trời đất, người thần đều căm phẫn. Thiếp hiềm là một cháu gái của Hùng Vương, nhắc đến sinh linh Hoàng thiên rơi lệ. Ngày nay trong lòng đau xót, trượng nghĩa mà dẹp bạo tàn. Xin được trăm vị tôn linh thần về hội đàn chứng giám cho lời thề, giúp sức cho Trưng nữ thiếp dẫn quân dẹp giặc, giữ nước cứu dân. Để thiếp được phục tổ yên tông các chốn cũ, để yên sinh linh nơi ăn chỗ ở, đưa sinh linh khỏi nước lửa lầm than. Sau là để không phụ ý Hoàng thiên, yên nơi thiêng miếu thờ Tiên hoàng, an ủi tổ phụ nơi chín suối.

Chúc xong hô xuất âm binh ngàn hàng vạn đội. Lại truyền hịch đi các đạo châu huyện nước Nam, nếu có nhân tài văn võ đều đến giúp để giữ yên đất nước. Trong vài ngày đều cầm quân đến làm phiên thần, tiến đến đồn của Trưng nữ tự nguyện xin làm thần tử, hết sức lập công. Trưng nữ vui mừng, lập tức xuất quân.

Khi tiến đến đất trang Hoa Đào, quận Phụng, phủ Thái Bình, trấn Sơn Nam Hạ, bỗng thấy một nơi có thể dùng binh rất tốt. Bèn truyền quân cho lập một đồn để sau này ứng phó với quân Tô Định. Đêm đó Trưng nữ nằm ở nơi đồn quân, đến cuối canh ba thấy mơ màng như mộng. Bỗng thấy có 5 ông lão quần áo chỉnh tề, hình dung cổ quái từ trên trời hạ xuống trên đường  mà tiến đến, tự xưng là năm vị thành hoàng linh thần, dõng dạc nói:

  • Chúng ta vốn là dòng dõi họ Hùng, vâng thừa mệnh Thiên đình. Đã có quân vương tất có thần giáng ứng âm phù theo quân đội lập công. Ngày sau hiển linh cùng được phối thờ.

Lời thần dứt thì bay lên không mà biến mất. Lúc thần hiện là mồng 2 tháng 2. Trong một lúc Trưng nữ tỉnh lại, biết là thần linh ứng mộng đến trợ giúp. Sáng hôm sau bèn làm lễ bái tạ. Trưng nữ tiến quân thẳng đến đồn Tô Định, bao vây các hướng, đánh một trận lớn, bắt được chính tướng cùng các tì tướng cùng quân sĩ vài ngàn đầu. Thu được vô số khí giới, xe ngựa. Quân Tô Định thua chạy không biết nơi nào. Trưng nữ mới xây dựng 65 thành ở Lĩnh Ngoại, khôi phục lại hết đất Nam bang.

Từ đó thiên hạ thanh bình, quốc gia vô sự. Bèn lên ngôi xưng vương. Mới sai sứ giả ban chiếu phong cho các cấp tướng sĩ. Xong việc Vương mở tiệc lớn, sắc ban thêm các cấp bậc cho các tướng sĩ. Nhân đó nói:

  • Giặc Tô Định dẹp sạch cũng là nhờ có thần âm phù trợ giúp.

Bèn gia phong bách thần.

Gia phong 5 vị bản cảnh thành hoàng Trung quốc Hùng chấn Uy linh Ngưng hưu Thượng đẳng thần.

Đến khi vua Lê Đại Hành niên hiệu Thiên Phúc xem xét bách thần, thấy có nhiều linh hiển bèn gia phong 5 vị thành hoàng là Đôn ngưng Chính trực Hiển hữu Đại vương Thượng đẳng thần.

Gia phong Uy minh Hiển hữu Đao lợi Thiên linh Đống Phan Hiển ứng Đại vương.

Gia phong Uy trực Hiển hữu Cương nghị Hùng kiệt Hãn vệ xã Ba lãng thần Đại vương.

Gia phong Cương đoạn Chính trực Lôi điện Đống thần Hùng canh Linh thông Hiển vị Đại vương.

Gia phong Minh trực Linh quang Trấn võ Đông Bắc Phu ngưng Chương tấu Hậu đồng Lực lượng Đại vương.

Gia phong Hùng nghị Trấn Bắc Thông minh Chính trực Trí huệ Anh mẫn Trợ thuận An dân Đại la Thiên tử Đại vương.

Lại nói từ đó về sau có nhiều linh ứng, nên có nhiều đời đế vương gia phong mỹ tự.

Thời Trần Thái Tông, giặc Nguyên đến xâm phạm, kinh thành bị vây hãm. Trần Quốc Tuấn vâng mệnh cầu đảo bách thần ở các nơi đền miếu. 5 vị lại cũng có hiển ứng âm phù. Đến khi dẹp được giặc Mã Nhi, Thái Tông bèn phong thêm mỹ tự 5 vị Linh ứng Anh triết Hiển hữu Trợ thuận Đại vương.

Đến khi Lê Thái Tổ khởi nghĩa dẹp giặc Minh Liễu Thăng, có được thiên hạ, bèn bao phong 5 vị là Phổ tế Cương nghị Anh linh,

Sắc chỉ ban cho các khu Hoa Đào trùng tu đền miếu để phụng thờ. Thật là tốt đẹp thay!

Vâng khai ngày mộng thần cùng với các chữ húy (Lợi, Hãn, Đống, Trấn, La) nhất thiết tối kỵ cấm. Cho phép trang Hoa Đào thờ.

Chính lệ ngày thần hiện mồng 2 tháng 2, trên dùng cỗ chay phẩm quả, dưới dùng xôi trâu lơn, rượu, bánh trôi bánh chay, ca hát các trò, đánh cờ các trò trong 5 lễ chính thì dừng.

Tiệc hội đồng các khu cùng nhau chính lệ ngày mồng 10 tháng 8, lễ trên dùng mâm chay, dưới dùng trâu đen, xôi, rượu, ca hát ba ngày theo lệ thì ngừng.

Niên hiệu Hồng Phúc năm thứ 1 đầu xuân ngày tốt, Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính phụng soạn bản chính.

Hoàng triều Vĩnh Hữu năm thứ 6 giữa thu ngày tốt, Nội các Sử bộ tuân theo bản chính cũ vâng chép.

Đọc giải sự tích về Triệu Việt Vương

Trước những tư liệu mới về Triệu Đà ở miền Bắc Việt và Hậu Hùng Vương ở Phú Thọ (thần tích Hạ Mạo và Mạo Phổ) thì nay đã có thể xem xét lý giải được các sự tích về Triệu Việt Vương. Một sự tích Triệu Việt Vương điển hình là bản ngọc phả của thôn Kiều Ngõa, xã Lịch Đông, huyện Tây Chân, phủ Thiên Trường, đạo Sơn Nam Hạ, nay thuộc xã Liêm Hải, Trực Ninh, Nam Định. Đây là bản ngọc phả được lưu truyền ở địa phương, không phải dạng thần tích do Hàn lâm viện đại học sĩ Nguyễn Bính soạn, nên nó còn lưu giữ được các thông tin nguyên bản dân gian, chưa qua chỉnh lý của nhà nước phong kiến xưa.

Trang cuối ngọc phả thôn Kiều Ngõa.

Kể về nguồn gốc của Triệu Quang Phục, ngọc phả chép: Khi đó ở nước ta tại huyện Châu Diên, phủ Tam Đới, đạo Sơn Tây có một người họ Triệu tên Túc, vợ là Lý Thị Đàm. Tổ tiên của ông Túc vốn làm quan có tiếng, trải qua 6 triều thì về quê sinh sống.

Cha của Triệu Việt Vương là Triệu Túc, tổ tiên từng làm quan to qua 6 triều vua trước đây. Đây là thông tin khó hiểu nhưng cũng là manh mối xác định nguồn gốc của Triệu Việt Vương. Khi so sánh với thần tích Hạ Mạo (Phú Thọ) thì Triệu Túc tương đương với Chàng Ánh, dòng dõi Hùng Vương, quê ở Sơn Tây (Phú Thọ), làm quan nhiều đời trong triều Hùng. Bà mẹ Lý Thị Đàm tương đương với con gái Đông Chu Quân trong thần tích Hạ Mạo. Còn Triệu Quang Phục tương đương với Chàng Út Ngọ trong thần tích này.

Một điểm đáng suy nghĩ khác là ông Triệu Túc được biết là ở huyện Chu Diên. Chu Diên nghĩa là con chim màu đỏ, tương ứng với hình tượng Phượng hoàng ngậm bút ngọc bay đến trong tiếng sấm của thần tích Mạo Phổ. Lôi Mao hay lông sấm là hình ảnh gặp phổ biến trên trống đồng của nước Nam Việt. Rất có thể Chu Diên cũng là hình tượng biểu trưng của nước Nam Việt như được thể hiện trên các trống đồng. Ý nghĩa của hình chim Phượng hoàng đỏ là chỉ dòng Tiên của nhà Chu – Thục (An Dương Vương).

Ngọc phả Kiều Ngõa chép: Ông Túc rất vui mừng, cho rằng người con này tất sẽ hưng phục gia nghiệp, bèn đặt tên là ông Phục. Nếu Triệu Túc là dòng dõi Hùng Vương thì chữ Phục trong tên Triệu Quang Phục là có nghĩa phục hưng lại cơ đồ họ Hùng. Ở đây chỉ cơ đồ của nước Âu Lạc, đã bị nhà Tần chiếm mất vào thời Hùng Vương cuối cùng – thời An Dương Vương. Triệu Quang Phục là dòng dõi nước Âu Lạc của nhà Chu – Thục, đã tham gia khởi nghĩa chống lại nhà Tần mà phục quốc.

Ngọc phả kể: Ít lâu sau Lâm Ấp vào cướp bóc. Ông Bôn lập đàn bái ông Phục làm Tả tướng, Phạm Tu làm Hữu tướng, sai dẫn quân đánh phá. Từ đó Bắc đuổi Tiêu Tư, Nam dẹp Lâm Ấp. Triệu Quang Phục tham gia khởi nghĩa kháng Tần của Lý Bôn – Triệu Vũ Đế, được bái làm Tả tướng. Trong quá trình khởi nghĩa đó, Triệu Quang Phục được cử đánh dẹp quân Lâm Ấp ở phương Nam. Dấu vết của việc này là di tích thờ Triệu Việt Vương ở xa về phía Nam như đền Triệu Việt Vương ở xã Trinh Hà, Hoằng Hóa, Thanh Hóa.

Ngọc phả kể: Ông Phục tự lập là vua, hiệu là Triệu Việt Vương, đóng đô ở thành Long Biên. Đây là sự kiện Triệu Quang Phục được phong Vương ở vùng đất Bắc Việt sau khi khởi nghĩa chống Tần thắng lợi. Trong thần tích Hạ Mao thì Chàng Út Ngọ đã được Triệu Vũ Đế gả con gái cho và cho dùng chữ Triệu làm tên gọi. Trong Hoa sử gọi là Triệu Văn Vương, vị vua thứ hai của nước Nam Việt. Vị vua đầu là Triệu Vũ Vương, hẳn là để chỉ Triệu Túc – Hậu Hùng Vương.

Ngọc phả Kiều Ngõa kể: Ông Phục nhận được móng rồng ở đầm Dạ Trạch. Móng rồng là chiếc ấn rồng Văn Đế hành tỉ, mà nay đã tìm thấy trong mộ của Triệu Văn Đế tại Quảng Châu. Đây là sự kiện Triệu Văn Vương xưng Đế sau khi Lữ Hậu nhà Tây Hán mất. Với vị trí là Đại tướng quân và là con rể của Lý Bôn (Lưu Bang), khi cả Cao Tổ và Cao Hậu quy tiên, Triệu Quang Phục cho rằng mình mới là người nối ngôi chính thống nên đã xưng Đế và lập quốc gia riêng. Cũng vì sự tự xưng này mà Triệu Việt Vương còn được gọi là Hoàng đế trong các tư liệu xưa.

Ngọc phả kể: Việt Vương cũng dời đô về Ngọc Ninh. Ngọc Ninh ở đây hẳn là chỉ núi Vũ Ninh (Châu Sơn), từng là nơi đóng quân của Triệu Vũ Đế khi khởi nghĩa. Có thể Triệu Quang Phục đã tham gia khởi nghĩa cùng Triệu Vũ Đế ngay từ những ngày đầu ở núi Vũ Ninh. Ngoài ra, đây có thể còn chỉ sự kiện vua Triệu dời trị sở từ Long Biên về Phiên Ngung khi xưng đế, lập quốc Nam Việt.

Ngọc phả kể: Vương thường đi khắp thiên hạ, tìm chỗ lập đồn doanh để làm nơi phòng bị. Một hôm Vương xa giá tới thôn Kiều Ngõa, xã Lịch Đông, huyện Tây Chân, phủ Thiên Trường, đạo Sơn Nam. Vương truyền quân cùng nhân dân thiết lập một đồn sở. Vương thường xa giá đến đây đóng quân ở đồn, dạy dân trồng cấy, dân được lợi nhiều.

Sau khi khởi nghĩa thắng lợi và lên ngôi vua, Triệu Việt Vương từng đi khắp nơi, lập các đồn doanh ở vùng ven biển. Như vậy khu vực hành cung vua Triệu ở Ninh Bình (Thần Thiệu, Trùng Thượng, Trùng Hạ) thuộc về thời Triệu Văn Vương, không phải thời Vũ Đế Triệu Đà. Dẫn chứng khác là ở đền Thượng Hoàng Đan (Ý Yên, Nam Định) gần đó thờ đủ 5 đời nhà Triệu nước Nam Việt, chứ không chỉ một mình Triệu Việt Vương hay Triệu Vũ Đế.

Ngọc phả kể về sự kết thúc của Triệu Việt Vương: Địa phương lập đền chính ở nơi Vương hóa, viết thần hiệu là Triệu Việt Hoàng đế để phụng thờ. Tới nay vẫn còn đền (tức xã Độc Bộ, nay đổi là Lục Bộ). Lại nói, từ khi ông Phục hóa về sau nhân dân thôn Cầu Ngõa, xã Lịch Động đều bị tật dịch, súc vật không yên. Nhân dân đi bốc quẻ xem, mới lập miếu ở nơi đồn dinh, viết thần hiệu Việt Vương Hoàng đế để phụng thờ.

Các di tích ở vùng ven biển Nam Định như vậy là di tích hình thành từ nơi hóa của Triệu Việt Vương. Người đã hóa ở cửa biển Đại Nha lúc này không phải là Triệu Văn Vương thời khởi nghĩa kháng Tần, mà là Triệu Vệ Dương Vương, vị vua cuối của nhà Triệu Nam Việt. Người cháu của Lý Bôn là Lý Phật Tử, tức là vua Hiếu Vũ Đế, đã tấn công kinh đô Phiên Ngung. Triệu Vệ Dương lên thuyền chạy về phía Tây, về nơi quê cha đất tổ, nhưng khi đổ bộ vào vùng cửa biển Nam Định – Ninh Bình thì bị quân của Lộ Bác Đức truy sát. Vua Triệu đã bị bắt và tử tiết ở vùng ven biển này. Nhân dân sau đó lập đền thờ, không chỉ thờ vị vua cuối cùng của nhà Triệu mà là thờ cả triều đại nhà Triệu nước Nam Việt dưới tên Triệu Việt Vương.

Các di tích thờ phụng Triệu Vũ Đế và Triệu Việt Vương.

Như vậy, danh xưng Triệu Việt Vương ở nước ta có thể là:

  1. Triệu Trọng Thủy: Ai cũng biết chuyện Trọng Thủy là con trai của Triệu Đà, lừa gạt con gái của An Dương Vương lấy mất lẫy nỏ thần, dẫn đến cơ đồ nước Âu Lạc đắm chìm biển sâu. Thế mà vẫn có một người không biết tới chuyện này, đó là Tư Mã Thiên, vì trong Nam Việt Úy Đà liệt truyện không hề nhắc tới Trọng Thủy hay Mỵ Châu. Lý do là Trọng Thủy không phải con trai của Nam Việt Úy Đà, mà là vương tử của Tần Vương. Nhà Tần vốn mang họ Triệu do tổ tiên đánh xe ngựa cho Chu Mục Vương và được phân phong ở Triệu thành. Triệu Việt Vương thứ nhất do đó là Tần Vương.
  2. Triệu Vũ Đế: Vị quan lệnh Long Xuyên đã khởi nghĩa kháng Tần thành công, xưng Đế thiên hạ tất nhiên cũng là một vị vua Triệu của người Việt, nên gọi ông là Triệu Việt Vương hoàn toàn phù hợp. Các di tích ở miền Bắc Việt tại Thái Bình, Hưng Yên, Bắc Ninh và Hà Nội hiện đang gọi Triệu Vũ Đế là Triệu Việt Vương. Đây chính là Cao Tổ của họ Triệu, cũng là Lý Bôn hay Lưu Bang.
  3. Triệu Quang Phục: Là người nối tiếp ngôi của Nam Việt Đế Lý Bôn, Triệu Quang Phục tất nhiên là vua của nước Nam Việt, nên cũng được gọi là Triệu Việt Vương. Sự tích Hạ Mạo cho biết chàng Út Ngọ là dòng dõi Hùng Vương, tham gia khởi nghĩa kháng Tần cùng Triệu Vũ Đế, được gả con gái và phong là Triệu Vương, cai quản đất Nam Việt. Như thế Triệu Túc tương đương với Hậu Hùng Vương, còn Triệu Quang Phục là Út Ngọ Lôi Mao. Trong Sử ký Tư Mã Thiên thì Út Ngọ tương ứng là Triệu Văn Vương, mà ngôi mộ có ấn Văn Đế hành tỉ đã được phát hiện ở Phiên Ngung – Quảng Châu. Triệu Văn Đế khi lên ngôi đã có một số lần về thăm quê ở Bắc Việt và từng dẹp quân Lâm Ấp ở phía Nam nên rải rác vẫn còn các di tích hành cung Triệu Việt Vương của vị vua này ở Thanh Hóa, Ninh Bình.
  4. Triệu Vệ Dương Vương: Vị vua Triệu đã thất thủ thành Phiên Ngung, phải lên thuyền chạy về phía Tây, tới cửa biển Đại Ác ở Nam Định thì bị truy sát bắt giết cũng là Triệu Việt Vương. Di tích thờ Triệu Việt Vương ven bờ biển Nam Định – Ninh Bình có rất nhiều, chính là dành cho Triệu Vệ Dương Vương, vị vua cuối cùng của nhà Triệu nước Nam Việt.
Phả đồ so sánh các dòng sử về Triệu Việt Vương.

Ngọc phả ghi về Triệu Việt Vương Hoàng đế

Thần tích thôn Kiều Ngõa, xã Lịch Đông, huyện Tây Chân, phủ Thiên Trường, đạo Sơn Nam

(nay thuộc xã Liêm Hải, Trực Ninh, Nam Định)

Ngọc phả ghi về Triệu Việt Vương Hoàng đế

Chính bản của bộ Lễ quốc triều. Thượng đẳng thần.

Nước Việt xưa Càn Khôn định vị, Ly Khảm phân phương, giới hạn tong thiên thư theo sao Dực sao Chẩn. Từ họ Hùng dựng nghiệp, 18 đời truyền nhau hơn hai ngàn năm thịnh trị. Tới Duệ Vương không có người nối nghiệp (đều lên núi tu tiên), bèn nhường nước cho Thục An Dương Vương. Dương Vương có lòng vì dân vì nước, trị vì 50 năm thì Triệu Vũ lấy được nước, rồi nội thuộc Tây Hán. Trải qua Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, sai Tiêu Tư làm thứ sử đất Việt ta. Tư đối với người dùng hình nặng, pháp luật hà khắc, chính trị bạo ngược, tàn hại nhân dân. Khi đó đất Việt ta ai ai cũng lầm than, ca thán đối với thời này vậy. May sao ý trời muốn yên bình lòng người trong cảnh loạn lạc mà có người Long Hưng, Thái Bình, họ Lý tên Công Bôn, khởi binh ở châu Cửu Đức, cầu tìm hào kiệt khắp thiên hạ, chiêu dụ anh hùng bốn biển để nên kế lớn.

Đương khi đó còn chưa có được nam nhi thao lược, các tướng anh tài. Ông Bôn tích trữ quân lương, nhưng chưa phát động khởi nghĩa. Đáng tin thay! Đã có vua tất sẽ có thần tử. Đất Long Hưng không hướng mây mà mây ùn ùn kéo tới.

Đương khi đó ở nước ta tại huyện Châu Diên, phủ Tam Đới, đạo Sơn Tây có một người họ Triệu tên Túc, vợ là Lý Thị Đàm. Tổ tiên của Ông Túc vốn làm quan có tiếng, trải qua 6 triều thì về quê sinh sống. Đến đời ông Túc, vợ chồng cùng là những người phúc hậu, từ tâm, nhân ái, vốn lấy nho y làm nghề nghiệp. Khi vợ chồng tuổi đều đã cao mà việc sinh nở chưa thành. Một hôm bà Lý nằm chơi ở bên mái hiên phía Đông, lờ mờ thiếp đi, mơ màng như nằm mộng. Thấy thân mình lên đến Thiên đình. Ngọc Hoàng tuyên triệu đến trước điện mà phán rằng:

  • Gia đình ông Túc phúc hậu. Ta đã biết rõ nên đồng ý cho họ Triệu một cậu bé, đầu nhập làm con nhà họ Triệu.

Đang khi trong mộng, bà Lý bế được một tiên đồng, rồi bái tạ. Trên nửa đường trở về gặp một người cưỡi một con lân đỏ theo từ phương Nam mà tới, hô lớn rằng:

  • Đây đúng là gia đình có phúc mà bế được tiên đồng. Tiếc là nghiệp phúc chưa vẹn, phúc này không được tròn.

Nói xong thì bay lên không đi mất. Bà Lý bỗng nhiên tỉnh giấc. Từ đó cảm động mà có mang. Mang thai được 10 tháng đến năm Giáp Dần, ngày mồng 6 tháng Giêng thì sinh hạ được một người con trai. Vào lúc sinh có ánh sáng đỏ chiếu khắp nhà, khí lành bao phủ. Thấy một người con trai tướng mạo đường đường, thần phong lẫm liệt, bộ dạng giống y như đã gặp ở trong mộng. Ông Túc rất vui mừng, cho rằng người con này tất sẽ hưng phục gia nghiệp, bèn đặt tên là ông Phục. Xuân sinh, hè trưởng được 12 năm, thiên tư minh mẫn, tính vốn anh thông. Đến khi 15 tuổi tính tình anh uy rất vẻ, có tài dũng liệt, tinh thông thao lược, quán triệt văn chương, thực là bậc hào kiệt đương thời vậy.

Khi đó ông Phục thấy thứ sử Tiêu Tư gây cảnh tàn bạo với nhân dân, dùng hình nặng, chính sự trái ngược. Ông rất thương sinh dân lầm than, bèn tìm kiếm những kẻ sĩ có mưu trí, chiêu tập dân lưu tán, cầu hào kiệt khắp thiên hạ được ngàn người. Thế là khi ấy có nhiều tướng anh tài mà chưa có được quân chủ, hẳn là do đợi thời mới phát động.

Một hôm ông Phục nghe thấy Lý Công Bôn khởi binh ở châu Cửu Đức. Ngay hôm đó Ông dẫn quân mã, gậy sách tìm đến yết kiến ông Bôn. Ông Bôn gặp, thấy người có diện mạo khác thường, liền hỏi xem tài năng. Ông Phục ứng đối không gì là không nói tới. Ông Bôn rất mừng, những tưởng trời sai người đến để giúp cho vận nước. Ngày hôm ấy liền bái là Điều bát binh nhung, dẫn quân tiên phong cùng với ông Bôn đại chiến một trận với Tiêu Tư. Quân Tư thua to, bỏ thành chạy về nước Bắc.

Ít lâu sau Lâm Ấp vào cướp bóc. Ông Bôn lập đàn bái ông Phục làm Tả tướng, Phạm Tu làm Hữu tướng, sai dẫn quân đánh phá. Từ đó Bắc đuổi Tiêu Tư, Nam dẹp Lâm Ấp. Ông Bôn bèn lên ngôi hoàng đế, đóng đô ở Long Biên, lập nước tên Vạn Xuân, đặt trăm quan, định đô ấp, phong các công thần, tướng tá các cấp bậc. Bèn phong ông Phục là Quốc tể Long lĩnh hầu, nhận ấn Đại tướng quân, cho vào triều phụ chính.

Trải được 6 năm, nhà Lương lại sai Trần Bá Tiên dẫn mười vạn hùng binh, ba ngàn ngựa khỏe đến xâm chiếm phương Nam mà phục thù xưa, để rửa nhục cũ. Khi đó Lý Đế đón đồn quân ở hồ Triệt. Quân Lương không dám tiến gần. Một hôm nước hồ dâng cao. Quân của Bá Tiên theo đó mà tiến, đánh một trận lớn. Quân của Đế thua to. Đế bèn giao quyền cho Đại tướng Triệu Quang giữ nước. Đế vào động Khuất Liêu, không lâu sau thì Đế mất.

Khi đó ông Phục đi khắp nơi trong thiên hạ tìm chỗ hiểm trở để lập đồn doanh mà đóng quân. Một hôm Ông về đến đầm Nhất Dạ (đầm này ở xã Đa Hòa, huyện Đông An, phủ Khoái Châu, xứ Sơn Nam Hạ. Trước đây là đất ở của Chử Đồng Tử. Đến khi Đồng Tử bay lên trời cùng với gia thất, một đêm trở thành đầm, do đó có tên là đầm Nhất Dạ). Ông bèn thiết lập đồn doanh ở đất này, cùng với Bá Tiên giao chiến. Qua một năm mà không phân thắng bại. Khi ấy Lương đế lại lệnh cho tướng Dương Sàn dẫn quân đến tiếp ứng, quân ngày càng mạnh thêm. Quân của Ông gần đến lúc nguy bại, bèn lập đàn cầu đảo trời đất thần kỳ trong ba ngày. Thấy có một người đầu đội mũ trăm sao, thân khoác áo bào hồng, cưỡi rồng vàng từ trên trời hạ thẳng xuống, hô to một tiếng rồi nói với Ông rằng:

  • Nơi đây là đất của ta ngày trước ở tại đây.

Nói xong bèn tháo móng rồng trao cho ông Phục, lệnh đặt lên trên mũ đâu mâu và nói rằng:

  • Đến khi vào lúc chinh chiến thì hướng vào đâu sẽ thu được toàn thắng đến đó.

Ông Phục nhận được móng rồng, chưa kịp làm lễ bái hạ thì người đó bỗng nhiên biến mất. Từ đó Ông được móng rồng, đánh bại quân Lương, chém được tướng Dương Sàn. Quân Lương thua to, chạy về nước Bắc, không dám vượt biên giới nữa. Ông Phục tự lập là vua, hiệu là Triệu Việt Vương, đóng đô ở thành Long Biên.

Lại nói, Vương được nước qua mấy năm, thiên hạ thanh bình, quốc gia vô sự. Vạn dân chu cấp đầy đủ, hát ca vui mừng. Bốn biển trông cảnh tượng thái hòa. Vương thường đi khắp thiên hạ, tìm chỗ lập đồn doanh để làm nơi phòng bị. Một hôm Vương xa giá tới thôn Kiều Ngõa, xã Lịch Đông, huyện Tây Chân, phủ Thiên Trường, đạo Sơn Nam. Vương truyền quân cùng nhân dân thiết lập một đồn sở. Vương thường xa giá đến đây đóng quân ở đồn, dạy dân trồng cấy, dân được lợi nhiều.

Lại nói, khi Vương ở ngôi qua 20 năm, có người con của anh trai Tiền Lý Nam Đế tên là Phật Tử (tức là Phật Tử là cháu của Tiền Lý Nam Đế, con của Đào Lang Vương Lý Thiên Bảo), dẫn quân từ động Dã Năng đến cùng với Việt Vương tranh đoạt. Việt Vương thấy Phật Tử là dòng tộc Tiền Lý Nam Đế, không nỡ gây chiến, bèn chia nước làm đôi cùng trị, cắt giới là châu Quân Thần (tức xã Thượng Cát, Hạ Cát). Từ Thượng Cát trở về phía Tây cho Phật Tử cai quản. Phật Tử bèn dời đô về thành Ô Diên (tức xã Hạ Mỗ). Việt Vương cũng dời đô về Ngọc Ninh. Hai tướng cùng trị quốc.

Qua một năm sau Phật Tử biết Việt Vương có mũ đâu mâu móng rồng hướng đâu là tan đó. Vương có một con gái tên là Cảo Nương, tuổi tác tương đương với con trai Nhã Lang. Do đó Phật Tử sai sứ mang thư cầu hôn với Vương, thỉnh Cảo Nương với Nhã Lang cùng kết hôn. Vương đồng ý. Phật Tử sai con vào trong quân làm con tin. Vương rất yêu mến. Quần thần nhiều người can gián, nhưng Vương đều không nghe. Lại sai cho cùng với Cảo Nương ở Đông cung, gọi Nhã Lang là rể hiền. Từ đó Nhã Lang cùng Cảo Nương kết thân, tình vợ chồng keo sơn gắn kết. Được hơn một năm, một ngày Nhã Lang cùng với Cảo Nương ngồi uống nước, nhân đó hỏi Cảo Nương rằng:

  • Trước đây khi hai nước tương tranh, Vua cha có thuật lạ gì mà có thể đánh bại quân Lương?

Cảo Nương vô ý lấy mũ đâu mâu móng rồng cho xem. Nhã Lang biết là thần vật, ngày khác lấy đem tráo móng rồng. Việc xong nói với Cảo Nương rằng:

  • Ta cùng với nàng là tình vợ chồng, không thể phụ nhau được. Tuy nhiên đạo cha con lẽ nào lại chia biệt. Từ khi kết hôn vẫn chưa về nhà, chỉ cùng nàng tương hợp.

Dứt lời từ biệt, cưỡi ngựa trở về, báo với phụ thân Phật Tử. Phật Tử dẫn quân đến đánh. Việt Vương mất móng rồng, bèn lên ngựa chạy về phía Nam, chạy tới cửa biển Đại Nha thì quân họ Lý truy đuổi đến nơi. Vương biết khó thoát, bèn ngẩng lên trời mà than rằng:

  • Rồng vàng, rồng vàng phụ ta vậy sao!

Than rồi bèn nhảy xuống bên bờ biển mà chết (khi đó là 13 tháng 8). Từ khi Vương hóa về sau đều có nhiều hiển ứng linh thiêng. Địa phương lập đền chính ở nơi Vương hóa, viết thần hiệu là Triệu Việt Hoàng đế để phụng thờ. Tới nay vẫn còn đền (tức xã Độc Bộ, nay đổi là Lục Bộ).

Lại nói, từ khi ông Phục hóa về sau nhân dân thôn Cầu Ngõa, xã Lịch Động đều bị tật dịch, súc vật không yên. Nhân dân đi bốc quẻ xem, mới lập miếu ở nơi đồn dinh, viết thần hiệu Việt Vương Hoàng đế để phụng thờ. Bệnh tật đều khỏi ngay. Người và vật được yên ổn. Từ đó về sau nước cầu dân cúng có nhiều linh ứng. Trải Đinh, Lê, Lý, Trần bốn họ thay nhau khai sáng cơ đồ, đều có giúp nước cứu dân, nên qua các đời đều có đế vương gia phong mĩ tự Thượng đẳng phúc thần.

Đến cuối thời nhà Trần, họ Hồ tranh quyền, người Minh gậy loạn, sưu cao dịch nặng, chính trị trái ngược, tàn hại nhân dân. Dân bị hại và lo lắng rất nhiều. May là vì lòng người ghét loạn, ý trời mở nên cơ hội lớn. Triều ta Thái tổ Cao hoàng đế khởi nghĩa Lam Sơn, ba ngàn quân mạnh. Một hôm Đế tiến quân đi qua thôn Cầu Ngõa, xã Lịch Đông, huyện Tây Châu, phủ Thiên Trường, đạo Sơn Nam. Lúc đó mặt trời đã xuống núi. Đế bèn đóng quân ở đền Triệu Việt Vương. Đến cuối canh ba Đế mơ màng như mộng. Bỗng thấy một vị thần tướng, thân khoác áo giáp vàng, tay cầm qua vàng, tiến thẳng đến trước Đế, vừa chắp tay vừa bái chào, xưng tên xưng họ, tự xin theo cùng dẹp giặc. Đế tỉnh lại biết là thần linh ứng mộng, bèn ghi lại vào sách vàng để xem nghiệm về sau.

Sáng hôm đó Đế cử binh tiến đến chiếm thành Lục Hoa, đánh dẹp được giặc Minh, chém đại tướng Liễu Thăng. Thái tổ lên ngôi Hoàng đế ở Lam Sơn, niên hiệu là Thuận Thiên, đổi triều đại, đại xá thiên hạ. Nhân đó tặng phong mĩ tự cho các vị bách thần. Bèn tôn phong Triệu Việt Vương Hoàng đế, sắc chỉ Thượng đẳng thần, cho phép thôn Cầu Ngõa, xã Lịch Đông đón sắc về dân, trùng tu miếu điện để phụng thờ, lưu truyền hương lửa vạn đại vô cùng, mãi cùng vận nước, mãi là thức lệ, liên miên bất tận, không thể mất vậy.

Tốt thay!

Tôn phong Triệu Việt Vương Hoàng đế, cho phép thôn Cầu Ngoã, xã Lịch Đông, huyện Tây Chân, phủ Thiên Trường, đạo Nam Sơn phụng thờ.

Phụng khai các tiết sinh hóa và khánh hạ cùng với tên húy cấm hai chữ Quang, Phục.

Sinh thần ngày mồng 6 tháng Giêng, lễ dùng lợn đen, xôi, rượu, ca hát một ngày.

Ngày thánh hóa là 13 tháng 8, lễ dùng lợn đen, xôi, rượu, bánh trôi, cùng các thức vật.

Người bản thôn, cựu tiên chỉ Lê Văn Năng theo thần sắc phụng thờ mà tuân sao.

Hoàng triều niên hiệu Đồng Khánh thứ 9, ngày tốt tháng 8 đã sao.

Tập sử ký Xuân Lan

Triệu Vũ Hoàng Đế ở Long Hưng điện, Xuân Quan.

Đế họ Triệu, tên Đà, người Chân Định. Đầu thời Tần, Nhâm Hiêu ở Nam Hải bị bệnh, cho gọi gấp Đế tới. Đế đang làm chức lệnh ở Long Châu. Nhâm Hiêu nói:

– Nhà Tần vô đạo, thiên hạ cực khổ. Ta nghe Trần Thắng tạo loạn, thiên hạ không biết lúc nào được yên. Phiên Ngung có thế núi hiểm trở, vốn có biển Nam, Đông Tây vài ngàn dặm, lại cùng Trung Quốc nương tựa. Cũng là một nơi đứng đầu các châu, có thể lập nước riêng.

Hiêu mất. Đế đảm nhận việc úy của Nam Hải, bèn tức thời gửi hịch đi các nơi, chặn đường, tụ hợp quân đội, diệt các quan lại nhà Tần, tấn công chiếm Quế Lâm, Tượng quận, tự lập làm Nam Việt Vũ Vương, đóng đô ở thành Phiên Ngung. Khi Hán Vương dẹp Sở, lên ngôi, ban chiếu lập Đế làm Nam Việt Vương, sai Lục Giả đem ấn thao cùng với phù tín để thông sứ, khuyên hòa tập với Bách Việt để biên cương phía Nam không có tai hoạ. Khi Lục Giả đến, Đế ngồi xổm mà tiếp. Lục Giả nói:

– Vương là người Trung Quốc, phần mộ thân thích đều ở Chân Định. Nay nhân giữ khư khư đất Việt mà với thiên tử hán không chịu khuất phục. Điều này có thể được không?

Thế là Đế mới ngồi dậy, tạ lỗi rằng:

– Ta ở chốn man di đã lâu, nên đã quá thất lễ.

Rồi cùng tiếp Lục Giả. Được vài ngày nói:

– Nước Việt không có nhiều người có thể nói chuyện được cho đến khi tiên sinh đến, hàng ngày tôi được nghe những điều chưa từng được nghe.

Đế tặng cho Lục Giả túi đựng đồ đáng ngàn vàng. Lục Giả trở về nước Bắc. 

Đế cất quân xuống phía Nam, giao chiến với An Dương Vương đang đóng đô ở thành Cổ Loa. An Dương Vương lấy nỏ thần bắn ra. Đế bèn lùi quân về đóng ở chân núi Trâu Sơn (nay ở chân núi Trâu Sơn, huyện Vũ Ninh có miếu thờ Thánh đế), cùng với An Dương Vương đối đầu với nhau. Rồi Đế đề nghị thông hòa. An Dương Vương vui mừng, đồng ý từ Tiểu giang về phía Bắc do Đế cai trị, từ sông đó về phía Nam do Vương cai trị. 

Nhân đó Đế giả cách sai con là Trọng Thủy vào làm cận vệ, cầu hôn với con gái Vương là Mị Châu. Vương sơ ý không biết là kế gian nên đồng ý. Trọng Thủy dụ Mị Châu trộm lấy lẫy nỏ thần giấu đi, tìm một lẫy nỏ khác đổi móng của Rùa vàng, rồi nói dối với Mị Châu là muốn về thăm hỏi cha mẹ. Nhân đó nói:

– Tình cảm vợ chồng không thể nào mất. Ơn sinh thành của cha mẹ không thể đổi. Ta nay về thăm cha mẹ. Nhỡ sau này hai nước bất hòa, Bắc Nam cách trở. Ta đến đâu để có thể gặp được nhau?

Mị Châu nói:

– Thiếp thân là nữ nhi, mà nay gặp cảnh chia biệt, tình này khó vượt. Thiếp có một chiếc gối gấm lông ngỗng, thường mang theo người, đến nơi nào thì sẽ nhổ lông mà thả trên đường để biết là ở nơi đó.

Trọng Thủy giấu lẫy nỏ mà về, tâu lên Đế. Đế được việc đó rất vui mừng, bèn phát quân tấn công An Dương Vương.  Vương không biết là lẫy nỏ đã mất, vẫn ngồi chơi cờ mà tự cười rằng:

– Quân Bắc không sợ nỏ thần của ta sao?

Đế dẫn quân đến dưới thành. Vương dương nỏ thì thấy lẫy thần đã mất, đành thua chạy. Vương để Mị Châu ngồi sau ngựa mà chạy về phía Nam. Trọng Thủy nhận theo lông ngỗng. Vương chạy đến bờ biển thì cùng đường, không có thuyền chèo, bèn cầm sừng tê bảy tấc theo Rùa vàng mở đường nước vào biển mà đi ở xứ Hải Sơn, xã Cao Xá, quận Diễn Châu. Mị Châu ngẩng lên trời nói:

– Thiếp một lòng trung tín lại bị người lừa gạt. Nay xuống nước xin hóa thành châu ngọc để rửa sạch mối thù nhục này.

Mị Châu bèn nhảy xuống nước chết bên bờ biển. Trai ngọc uống vào hóa thành minh châu. Đế dẫn quân truy đến nơi thì thấy một vùng trống không, chỉ thấy thi thể của Mị Châu ở đó. Trọng Thủy ôm xác Mị Châu về chôn cất ở Loa thành, thi thể hóa thành đá ngọc. Trọng Thủy vì đó rất đau đớn, khi đến xứ Trang Dục tưởng như thấy hình thể Mị Châu, bèn đầu thân xuống giếng mà chết (tương truyền ngọc minh châu rửa bằng nước giếng này thì sẽ trở nên trong sáng).

Đế chiếm giữ nước Âu Lạc, khai mở đất đai, phương Nam đều bình được. Khi Lã Hậu nhà Hán không cho phép thông quan mua bán đồ sắt, Đế tức giận phát binh đánh hạ Linh Lăng, Trường Sa. Nhân binh uy đó lấy tài vật đút lót mà sai khiến Mân Việt và Tây Âu Lạc. Biên cương Đông Tây mở hơn vạn dặm, tự xưng là Nam Việt Vũ Đế, lên ngôi Hoàng đế, đi xe hoàng ốc, cắm cờ tả đạo, xưng “Chế”, cùng với Hán Trung Quốc đối đầu.

Hán Vương nhân mồ mả người thân của Đế ở tại Chân Định, đặt người giữ ấp đó ngày tháng phụng thờ, gọi con cháu Đế đến ban thưởng hậu hĩ, lại sai Lục Giả đi sứ, gửi thư cho Đế rằng:

– Trẫm là con vợ lẽ của Cao Đế. Khi có biến họ Lã, nhờ sức của các công thần mà dẹp được yên. Trẫm vì các vương hầu không cho chối từ nên không thể không nhận lên ngôi. Trước kia nghe Vương đem quân đánh biên giới, Trường Sa khổ sở không ngừng, Nam Quận lại càng khổ. Nước của Vương có thể được lợi riêng sao? Tất phải chết nhiều quân sĩ, hại các quan tướng tài, làm cho vợ góa chồng, con mồ côi, cha mẹ mất con. Được một mất mười. Trẫm không nhẫn tâm làm vậy. Có được đất của Vương cũng không thành lớn thêm. Có được tài vật của Vương cũng không giàu thêm. Xin cùng Vương bỏ những điều hiềm khích trước đây mà thông sứ như xưa.

Lục Giả đến, Đế nhận chiếu, hạ lệnh: 

– Trong một nước không thể hai người hùng cùng lập ngôi, không thể hai người hiền ở cùng một thời. 

Nhân đó Đế gửi thư xưng:

– Man di đại trưởng lão phu, thần, vốn là quan sứ ở Việt trước đây. May mắn Cao Đế ban cho thần ấn tỉ. Huệ Đế vì nghĩa không nỡ tuyệt. Lão phu ở Việt đã 49 năm, đến nay đã có cháu bồng rồi, nhưng ngày đêm thức ngủ không yên, ăn uống không biết vị ngon, mắt nhìn không thấy sắc đẹp, tai không nghe thấy tiếng chuông trống,  vì không được phụng sự nhà Hán vậy. Nay may mắn được ban cho thông sứ như trước, Lão phu dù chết xương cũng không nát.

Đế bèn nhận hòa với Hán Đế. Đương khi đó Đế hỏi Lục Giả rằng:

– Ta so với Hán Cao Đế thì thế nào?

Lục Giả nói:

– Vương sao dám so với Cao Đế được.

Đế nói: 

– Ta hận là không khởi binh ở Phong Bái, sao lại không bằng Hán?

Lục Giả sắc mặt tiu nghỉu.

Đế ở ngôi 71 năm, trải xuân thu thọ 120 tuổi. Đế thừa khi nhà Tần loạn, chiếm hữu Lĩnh Biểu, đóng đô ở Phiên Ngung. Thời Hán Văn Đế làm đế một phương, có lòng yêu dân, có trí tuệ giữ gìn đất nước, có võ công mạnh như Tàm Tùng, văn giáo vang nơi Tượng quận. Lấy thi thư mà giáo hóa phong tục trong nước. Lấy nhân nghĩa mà cố kết lòng dân. Dạy dân trồng trọt, dệt vải, nước giàu quân mạnh, Nam Bắc giao hòa. Thiên hạ vô sự. Là vị chủ có chân tài lược anh hùng. Trị nước một thời lâu dài vậy. 

Truyền đời Văn Vương, Minh Vương, Ai Vương, Vệ Dương Vương tất cả được 5 đời. Tới khi Hán Vũ Đế thôn tính lấy được nước đó, phân đặt các quan thú lệnh. Con cháu lại tụ tập tại những nơi vắng vẻ không người ở cửa biển Thần Phù, Hoành Sơn. Chế tạo thuyền bè, vượt biển đột nhập vào đất liền, cướp đoạt người ở bờ biển, giết các quan thú lệnh nhà Hán. Dân sợ phục, gọi là Nam Triệu.

Cho tới thời Ngô Tôn Quyền thì từ các xứ núi Thiên Cầm, Hà Hoa, Cao Vọng, Điểu Tồn, Hải Ngạn, Lại Bộ, Vọng Cái, Trang Chử, Thạch Song, Lôi Sơn, núi cao biển sâu, sóng gió hiểm trở, đều có nạn Nam Triệu, thường lấy việc cướp bóc làm nghề. Đồ đảng chúng khá mạnh, bèn lấy của cải châu báu đút lót cho nước Tây Bà Dạ để cầu cứu trợ.

Cuối thời Tấn, thiên hạ đại loạn, thổ tù Triệu Ông Dịch cùng  nhiều anh em đồ đảng dũng lược hơn người, nên được chúng phục theo. Cùng với đồ đảng Nam Triệu hơn hai vạn người chia giữ bờ biển ở các đầu thành 2 lộ. Trên từ Quỳ Châu đến Diễn Châu là lộ Già La. Từ Cầm Châu đến Hoan Châu là lộ Lâm An. Mổ trâu ngựa để kết thề. Do đó xây thành ở làng Cao Xá, Diễn Châu. Đông giáp biển, Tây đến nước Bà Dạ, Nam tới Hoành Sơn, do Triệu Ông Dịch cai quản.

Nhà Tấn lệnh cho tướng quân Tào Cam tiến đánh. Trải qua 4-5 năm, quân Tấn không chịu nổi khí núi chết quá nửa. Tấn rút quân về.

Sau Triệu Việt Vương, tên húy là Quang Phục, sinh ở làng Lan Cứu (nay là xã Xuân Lan), là hậu duệ của Cổ Tiên Thánh Đế. Thời Tiền Lý Nam Đế là Tả tướng quân. Nhà Lương Tiêu Diễn lệnh cho Trần Bá Tiên dẫn quân xâm chiếm phương Nam. Nam Đế tị cư ở động Khuất Liêu rồi mất tại đó. Việt Vương thay quyền nắm giữ đất nước, thấy sức lực không thể giữ bèn lùi về Dạ Trạch. Vùng này đất trũng thấp, khó đi bằng đường bộ. Vương dùng thuyền độc mộc nhân buổi tối ra đánh, cướp lấy lương thực, cầm cự lâu dài để làm quân giặc suy yếu. Trong 3-4 năm quân Lương không giao chiến được. Bá Tiên than rằng:

– Xưa gọi là đầm một đêm bay lên trời. Nay phải gọi là đầm một đêm trộm cướp vậy.

Đến khi Hầu Cảnh gây loạn, Bá Tiên trở về nước, giao lại cho tì tướng Dương Sàn cầm quân. Việt Vương trai giới lập đàn ở trong đầm, đốt hương cầu đảo trời đất cùng thần linh bản thổ. Bỗng thấy có thần nhân cưỡi rồng hạ xuống trong đầm, nói với Vương rằng:

– Nơi ta bay lên trời là chốn linh thiêng. Nhà ngươi đã thành tâm cầu khấn, ta vì đó mà đến cứu giúp để dẹp yên tai họa, loạn lạc.

Xong bèn tháo móng rồng trao cho Vương, nói là dùng để đặt ở mũ đâu mâu, nhằm hướng đó thì giặc tất đều sẽ bị diệt.

Nói xong thì bay về trời. Vương làm theo như lời đó. Quân Lương thua to, giết được tướng Dương Sàn. Đuổi diệt được quân Lương. Vương mới lập làm Triệu Việt Vương, vào ở trong thành Long Biên. Ban chiếu sửa hai thành Loa Lộc, Vũ Ninh. Đặt tên là nước Nam Việt. 

Lại có người họ tộc của Tiền Nam Đế là tướng Lý Phật Từ từ động Dã Năng trở về. Vương thấy Phật Tử là anh họ Nam Đế, không nỡ tận tuyệt, bèn cắt đất ở Cát Châu cho ở đó. Phật Tử cho con là Nhã Lang cầu hôn với con gái Vương là Quả Nương. Vương đồng ý. 

Nhã Lang nịnh vợ rằng:

– Xưa hai cha của chúng ta còn là thù địch, nay lại là kết hôn nhân, thật là điều tốt thay! Cha nàng có thuật gì mà có thể đánh được quân của cha ta?

Quả Nương không biết thâm ý, ngầm lấy mũ đâu mâu móng rồng cho chồng xem. Nhã Lãng âm thầm tráo đổi móng đó, lại nói riêng với Quả Nương rằng:

– Ta nay dứt tình để về thăm cha mẹ. Vạn nhất chẳng may có giặc, vua cha của nàng gặp bất lợi, thì qua nơi nào nàng hãy lấy lông ngỗng ở chiếc gối gấm mà đánh dấu đường. Ta sẽ đến tương trợ.

Nhã Lang về bàn mưu với cha. Phật Tử đem quân đến. Ban đầu Vương không biết, tập hợp lính, đốc quân, đem mũ đâu mâu ra đợi giặc. Quân giặc tiến áp đến rất đông. Vương biết thế lực không chống lại được bèn đem con gái chạy về phía Nam. Giặc đều đuổi đến gần. Vương hô lớn rằng:

–  Rồng vàng thần vương không giúp ta sao?

Bỗng Long vương chỉ cho thấy con gái Việt Vương tự rắc lông ngỗng, chính là giặc vậy. Vương rút đao mà chém. Vương cưỡi ngựa đến cửa biển Đại Nhã thì gặp nước ngăn trở bèn than rằng:

– Ta tới đường cùng rồi!

Rồng vàng mới rẽ nước thành đường, dẫn Vương đi vào trong nước. Quân Phật Tử đuổi đến chỉ thấy mênh mông không biết là đâu, bèn phải quay về.

Vương ở ngôi 23 năm, lập đền ở cửa biển Đại Nhã (nay là huyện Đại An) phụng thờ. Phật Tử sau rời đô về Phong Châu, ở ngôi 32 năm. Đến khi nhà Tùy đến xâm chiếm thì ra hàng và về Bắc. Người trong nước cũng lập đền ở cửa biển Tiểu Nhã phụng thờ, đối diện với đền Việt Vương.