Bạn có biết: Lạc Long Quân và Sùng Lãm ở 2 thời Hùng Vương khác nhau

Giá tượng Lạc Long Quân ở đình Nội Bình Đà, Hà Nội.

Nơi còn lưu được sự tích đầy đủ nhất về Lạc Long Quân là làng Xích Đằng, nay thuộc TP. Hưng Yên. Ngọc phả Lạc Long Quân ở đây do Hàn lâm học sĩ Nguyễn Bính thời Lê Hồng Phúc biên soạn, kể khá giống với Truyện họ Hồng Bàng trong Lĩnh Nam chích quái, rằng: Kinh Dương Vương thường dạo chơi dưới Thủy phủ, sau lấy con gái Động Đình quân Long Vương sinh ra Sùng Lãm (tức Lạc Long Quân) thay mình trị nước. Rồi: … Long Quân đã về Thủy phủ… Long Quân ở lâu tại Thủy quốc.

Thủy quốc là tên gọi khu vực nước ta được thành lập từ Kinh Dương Vương. Lạc Long Quân là vua của Thủy phủ, thông tin rất rõ ràng. Nước Xích Quỷ, đọc phiên thiết là Xủy – Thủy, là tên gọi trực tiếp của Thủy quốc thời Kinh Dương Vương – Lạc Long Quân, mà được các thần tích gọi là thời Kinh triều Lạc Thị.

Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả chép: Long Quân họ Hùng tên Lạc, húy Sùng Giác, hiệu là Hùng Hiền Vương, thống nhất cơ đồHùng Hiền Vương ở ngôi 269 năm, sau về biển, hoá sinh bất diệt, làm Động Đình Đế Quân.

Về trăm người con cùng bọc trứng của Lạc Long Quân đã được chia làm 2 nhánh lên rừng và xuống biển. Khi chia tay Lạc Long Quân nói với Âu Cơ: Ta là giống rồng thuộc loài Thủy tộc, nàng là dòng Tiên trên núi… Nay ta chia ra năm mươi người con quay về Thủy phủ mà chia trị các nơi… Những người con theo cha Lạc Long Quân về Thủy phủ chính là những vị Thủy thần cai quản các nơi đầu sông góc biển.

Ngọc phả về Việt Nam Lạc Thị ở vùng Thuận Thành (Bắc Ninh): Tổ thờ ở Á Lữ. Tổ đi chu du thiên hạ, kiến xem hình thế. Một lần qua làng, thấy trước có 3 chẽ sông quanh co. Sau có 3 ngọn núi nhấp nhô đẹp đẽ. Sơn thủy hữu tình. Nhân đó dựng hành cung ở bờ sông, đặt tên là Nghi Giang cung. Chợt thấy 3 con rồng, mình dài vài trượng, lưng to mấy vòng. Trên đỉnh đầu có ấn vàng. Trong ấn nổi lên 2 chữ LẠC VƯƠNG.

Ngọc phả Lạc Long Quân chép: Lại đặt tướng văn là Lạc hầu, tướng võ là Lạc tướng; con trai vua là Quan lang, con gái vua gọi là Mỵ Nương… Các Lạc hầu, Lạc tướng do đó là tên gọi những người con đã theo cha Lạc Long Quân về biển, cai trị các vùng ở miền đất Lạc. Như vậy trong Lạc Long Quân là hình tượng của vị thủ lĩnh đứng đầu Thủy quốc, khởi đầu cho họ Lạc của các Lạc hầu, Lạc tướng ở vùng sông nước, đồng bằng ven biển.

Dưới thời Lạc Long Quân cuộc chiến tranh duy nhất được kể là cuộc chiến với Đế Lai để chiếm nàng Âu Cơ, do có truyền thuyết nói rằng Âu Cơ là ái thiếp của Đế Lai, chứ không phải con gái: … Đế Lai quay về nơi ở không thấy Âu Cơ, sai quần thần tìm kiếm khắp nơi trong thiên hạ. Long Quân có thần thuật ẩn hiện biến hóa ra muôn trạng, yêu tinh quỷ mị, rồng rắn, tê giác, voi. Những kẻ tìm đến đều sợ hãi không dám tiếp tục tìm nữa. Đế Lai đành phải quay về. Cuộc chiến này đã loại bỏ quyền lực của chính dòng Đế Minh (tức Đế Lai) mà đem đến sự lên ngôi chủ thiên hạ của Lạc Long Quân.

Sự kiện Long Quân đánh đuổi Đế Lai tranh đoạt ngôi vị chủ thiên hạ (trong hình ảnh bà Âu Cơ) còn được lưu truyền ở ngay vùng đất Thăng Long. Truyện Hồ tinh trong Lĩnh Nam chích quái kể rằng khi con cáo chín đuôi làm hại người ở Long Biên, Long Quân bèn ra lệnh cho Lục bộ thủy phủ dâng nước lên phá vỡ hang đá, làm thành một đầm nước lớn. Hồ Tây – đầm Xác Cáo là di tích của thời kỳ Lạc Long Quân mở Thủy quốc Động Đình nơi rốn rồng Long Đỗ của của dòng sông Hồng.

Trong khi đó, cái tên Sùng Lãm với họ Sùng lại gắn với hình tượng của dòng lên núi của các Sơn thần. Như đã từng trình bày, Kinh Dương Vương cũng là Tản Viên Sơn Thánh và là vua Đại Vũ trị thủy bên dòng sông Đà. Cha của Đại Vũ là Sùng bá Cổn, cũng từng đảm nhận việc trị thủy thời Nghiêu Thuấn. Thông tin về nước Sùng, một nước thời Tam Đại Trung Hoa, theo wikipedia: Tương truyền vào thời Hạ, cha của vua Vũ là Cổn được phong là Sùng Bá đã lập nên thành trì nước Sùng, sau khi Cổn bị giết thì đất ấy từ đó liên tục không có vua. Kinh Dương Vương là cha của Lạc Long Quân, nên đây chính là mối liên hệ dẫn đến việc Lạc Long Quân cũng mang họ Sùng từ Sùng bá Cổn.

Về nước Sùng, truyền thuyết chép tiếp: Nước Sùng thời Ân Thương dời đô sang chỗ khác… Quốc quân nước này trong giáp cốt văn được gọi là “Tông hầu”, người trong họ từng giữ chức khuyển quan nên gọi là “khuyển tông”… Dưới thời Đế Tân, Sùng Hầu Hổ mật báo việc Chu Văn Vương mưu đồ tạo phản với vương thất nhà Thương. Văn Vương về sau liền khởi binh diệt luôn nước Sùng, lấy đô thành của nước này dựng nên Phong Kinh. 

Theo đó, nước Sùng trong thư tịch cổ là:
– Nơi Đại Vũ trị thủy, tức là kinh đô Trung Hoa thời Hạ Vũ.
– Nơi đóng đô của Sùng Hầu Hổ, Bắc Bá Hầu dưới thời Ân Trụ Vương. Tông hầu nghĩa là nước của “tổ tông” Trung Hoa, tức còn là đất gốc từ thời Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn.
– Là Phong kinh của thời Chu Văn Vương.

Thư tịch cổ cho thông tin hết sức quan trọng. Cha của Đại Vũ là Cổn, là thủ lĩnh vùng đất Sùng. Do vậy, nước Sùng của Sùng Hầu Hổ thời Ân Thương cũng chính là nơi Đại Vũ trị thủy, tức là miền Bắc Việt ngày nay. Hình ảnh Tản Viên Sơn Thánh trong truyền thuyết Việt bao gồm những sự tích của cả thời Đại Vũ trị thủy và Sùng Hầu Hổ thời Ân Thương. 

Nước Sùng còn in dấu ấn trong sử Việt với tên Sùng Lãm của cha Lạc Long Quân. Còn ở Bình Đà, nơi thờ Lạc Long Quân thì có ghi chép 4 đời chúa họ Sùng có là Sùng Nghiêm, Sùng Quyền, Sùng Huề và Sùng Lãm. Lạc Long Quân được coi là người khởi đầu triều Hùng nên các chúa họ Sùng sau đó cũng thuộc về các đời Hùng Vương, mà Hùng triều kết thúc bằng sự kiện Thục Vương đánh Hùng Duệ Vương. 

Sùng Công còn là một trong Tam vị Tản Viên Sơn Thánh. Vị Tả kiên thần Cao Sơn của Thánh Tản có tên là Nguyễn Sùng. Đây hẳn cũng là một vị chúa họ Sùng đã cùng Sùng Hầu Hổ chống giặc Thục. Ngọc phả về Tản Viên Sơn Thánh ở vùng Sơn Tây kể: … Vua (Hùng Duệ Vương) rất yêu mến bèn phong người em thứ hai của Sơn Thánh ông Sùng Tả Kiên Thần là Tả đô đài Đại phu, người em thứ ba ông Hiển Hữu Kiên Thần làm Hữu đô đài Đại phu. Vua tôi đức hợp, thiên hạ thái bình, vạn dân gặp được thời no đủ. Bốn biển ngưỡng cảnh tượng thái hòa. Duệ Vương vì công lao đó mà ban cho búa sắt, cùng hưởng lành với đất nước…. Phong Sơn Thánh là Nhạc phủ kiêm Thượng đẳng, tăng cấp ông Sùng làm Cao Sơn Đại vương, ông Hiển làm Quý Minh Đại vương.

Thần tích ở vùng Bắc Giang về Cao Sơn Đại vương (thần tích Lỗ Hạnh) kể rằng Cao Sơn sinh ra ở đạo Hồng Châu… Thế rồi đạo Hồng Châu chọn ông Cao Sơn đi dự tuyển. Khi nhà vua thấy ông ứng đối lưu loát, có tài văn võ, là người có năng lực tài cao. Vua bèn cho ông Cao Sơn quản quân sự, làm Đô chỉ huy sứ Tả đạo Tướng quân…. Vua nghe vậy rất vui mừng, bèn gọi ông Cao đến giao cho 5 ngàn quân, trước tiên đi tuần… Khi đó Sơn Thánh cùng với ông Cao tiến quân đến đồn giặc Thục ở xứ Sóc Sơn đạo Bắc Kinh, đánh một trận lớn… Lại ban cho ông Cao Sơn về thực ấp ở đạo Kinh Bắc. Ông bái tạ, trở về nơi trị nhậm. Khi đó đương trời mùa thu, ông ngồi ở trong doanh trại. Bỗng thấy trời đất mù mịt, mây mù nổi lên như hình dải lụa đỏ. Thấy ông Cao Sơn bay ra theo mây, tới núi Đào Động đạo Thái Nguyên thì không thấy nữa, tức là ông đã hóa.

Câu chuyện Cao Sơn đánh Thục trong sử Việt là việc Sùng Hầu Hổ chống lại Chu Văn Vương, mà kết thúc là Văn Vương chiếm được đất Sùng, lập Phong kinh ở đó. Truyền thuyết Việt kể thành Thục Vương được vua Hùng nhường ngôi liền về Phong Châu đóng đô, lập đền miếu thờ các vua Hùng. Nước Sùng – Phong Châu chính là đất gốc tổ của Trung Hoa, mà giáp cốt văn gọi là “Tông hầu”, là nơi khởi phát của dòng họ Hùng từ thời Đế Minh Hữu Hùng Hoàng Đế Hiên Viên thống trị vạn bang chư hầu thiên hạ.

Dòng họ Hùng truyền qua thời Nghiêu Thuấn, qua thời Hạ từ Đại Vũ, rồi Thương Ân, được ngọc phả Hùng Vương chép là 18 đời vua Hùng. Sùng Hầu Hổ là thủ lĩnh vùng đất tổ họ Hùng và được kể dưới tên Cao Sơn Đại vương trong cuộc chiến chống Thục Vương (Chu Văn Vương).

Đất Sùng là đất gốc tổ “Tông hầu” nơi Thái tổ Đế Minh mở nước bên dãy Thái Sơn, Đế Thuấn đi cày ở Lịch Sơn, Đại Vũ trị thủy ở Long Môn núi Tản, Lạc Long Quân dựng Thủy quốc bên đầm Xác Cáo, Sùng Hầu Cao Sơn phò giúp Duệ Vương, cũng là nơi Thục Vương Cơ Xương khởi đầu nước Văn Lang.

Cao Sơn Đại vương trong Nhất thành khả cách chân kinh.
Đình Lỗ Hạnh, Hiệp Hòa, Bắc Ninh, nơi thờ Cao Sơn Đại vương đánh Thục thời Hùng Duệ Vương.
Tranh tố nữ ở đình Lỗ Hạnh.

Ngọc phả sự tích ba vị là con thứ triều Hùng Huy Vương Việt Thường Đàm Gia Đại vương, Du Di Hoàng hậu và Hệ Hộ Cung phi

Dịch theo bản khai Thần tích thần sắc thôn Tổ, làng Thượng Trì, tổng Thượng Trì, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông.

Xưa Hùng Vương Sơn nguyên Thánh Tổ ngôi báu trời Nam Tiền Hoàng đế tạo dựng cơ đồ, thủy tổ trời Nam, nước Cổ Việt Thường họ Hùng 18 đời thánh vương ngự trị trời Nam, khai mở cơ đồ Việt. Nước biết một dòng mở vận đế thánh vua sáng. Núi xanh vạn dặm xây nền cung điện đô thành. Khai vật giúp người, thống lĩnh 15 bộ, thế trấn phiên bang (Xét xưa Lạc Long Quân, Âu Cơ sinh một bầu trăm trứng, nở ra điềm trăm trai, đến khi trưởng thành Vua kiến phong hầu, lập bình phong phiên dậu, chia thành 15 bộ. Thứ nhất là Sơn Tây, thứ hai là Sơn Nam, thứ ba là Hải Dương, thứ tư là Kinh Bắc, thứ năm là Ái Châu, thứ sáu là Hoan Châu, thứ bảy là Bố Chính, thứ tám là Ô Châu, thứ chín là Ai Châu (Ai Lao?), thứ mười là Hưng Hóa, thứ mười một là Tuyên Quang, mười hai là Cao Bằng, mười ba là Lạng Sơn, mười bốn là Quảng Đông, mười lăm là Quảng Tây). Kế thừa ngôi báu thành đất Viêm Hồng. Có vua trị nước hơn hai ngàn năm, mãi giữ tông phái vững như bàn đá. Hiển ứng linh thiêng ở Nghĩa Lĩnh. Truyền trăm đời đế vương nước Nam, đóng ngự muôn năm thánh điện núi Hùng Vương, Thánh tổ trời Nam. Nền nước cơ đồ mãi vững muôn năm, lâu dài vạn thế. Bèn lập miếu điện, cung lăng. Dòng dõi con cháu hoàng gia phân ra ở trị các ngọn núi, góc biển. Ở quận Giao Chỉ các nơi phủ, huyện, dân thôn, động, sách đều phụng thờ, hương lửa lưu truyền vạn năm sáng mãi, không thể mất được.

Đời sau có thơ khen rằng:
Nam thiên khởi triệu tự Hùng Vương
Vạn cổ huân danh lập kỷ cương
Nhất thống tương truyền thập bát thế
Nhị thiên dư tải ức niên hương.
Nhất bào bách noãn giai sinh thánh
Lưỡng tế thăng thiên bất tử phương
Vạn cổ lưu truyền sơn hải tại
Danh đồng thiên địa ức niên phương.

Lại nói, đời triều Kinh thứ sáu là Huy Vương lên ngôi, đóng đô ở sông Bạch Hạc Việt Trì, tên nước là Văn Lang, kinh đô tên là thành Phong, lập ra kỷ cương đất nước xem các vua đời trước mà định làm phép tắc. Đề cao pháp độ trùm vạn đời làm chuẩn hình. Lấy đức giáo hóa nhân dân. Ban điều nhân đức, nghiệm việc chính trị. Ra sức yên dân chúng. Đề ra phép tắc, nêu cao quy định. Người đương thời đều gọi là bậc vua hiền vậy.

Khi đó bốn bể thanh bình, vạn dân no đủ. Con vua cháu đế nhàn chơi xem phong cảnh sông núi, đất trời. Khi tiết xuân tháng ba, Vua cùng với Cung phi thứ ba là công chúa Hàn Nương đi xe ngự về Hoan Châu (nay tức là Nghệ An) thăm viếng các nơi lăng mộ tổ tiên. Một hôm Vua đi đến vùng đất thôn Tổ xã Thượng Trì, huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai. Hôm đó (mùng 10 tháng Giêng), nhân dân làm lễ bái mừng, xây dựng hành cung. Vua ở tại đất đó (tức là đất thôn Tổ), thấy nhân dân thuần hậu, phong cảnh hữu tình, bên sông ấp dân đều sống ở trên đường lớn, đều một màu đào liễu. Vua dừng xe đóng quân một đêm tại đây.

Khi đó trong thôn có một miệng giếng. Ấp dân dựng cung cho Vua ở tại bên cạnh giếng. Khi mặt trời đã ngả chiều tối, Cung phi đi chơi xem chỗ có giếng để tắm rửa. Thị nữ đến lấy nước ở giếng. Trong lúc Cung phi đang tắm bỗng thấy trong giếng có một con rắn hoa dài hơn 10 thước, từ trong giếng bò thẳng ra, quấn lấy Cung phi ba vòng. Cung phi mơ màng sợ hãi. Thị nữ chạy về cung vội tâu. Vua nghe lời tâu báo bèn sai quần thần cùng đi ra. Bỗng thấy trong khoảnh khắc con rắn bò thẳng xuống miệng giếng mà biến mất. Cung phi tỉnh lại, đứng dậy đi về. Thấy thân có đấy nước dãi mùi thơm ngào ngạt. Cung phi kể lại mọi việc trước sau.

Vua rất tức giận, truyền binh sĩ và nhân dân tát cạn nước giếng để tìm con rắn nhưng không thấy. Bỗng nhiên mưa gió nổi lên, sấm sét vang rền. Quân dân đều sợ hãi bỏ chạy. Vua nghĩ rằng hẳn là nơi giếng này có có thủy thần đóng quản, không thể không. Nơi đó trời đất tạo nên giếng thiêng vậy. Vua bèn lệnh cho quần thần làm lễ chay mà tạ. Lễ xong đêm đó Vua nằm ở trong cung, mơ màng thiếp đi. Bỗng thấy có một người áo mão đường hoàng từ trong giếng đi ra tiến thẳng đến nơi Vua, dập đầu làm lễ. Vua bèn hỏi rằng:

  • Họ tên như thế nào? Có việc gì mà tới đây?

Người đó tâu rằng:

  • Thần vốn là con của Động Đình Đế, quyền quản bãi sông Thượng Trì, kiêm đóng ở trong giếng của ấp thôn (tức là thôn Tổ). Thần vâng mệnh Thiên đế tái giáng xuất thế ở dương gian, đầu thai nhập làm con vua, cũng là mệnh làm Thủy tào vậy. Hôm nay may mắn gặp vua đến chính nơi cung trại chốn trang thôn này. Xin đến để nói về việc đầu nhập này.

Nói chưa xong thì Vua đã tỉnh lại, biết là điềm báo mộng, nghĩ thấy:

  • Tất là Thiên đình đã định cho vị thần long của Thủy quốc vào nhập làm con trai nhà ta. Sự đã rõ ràng.

Vua cho gọi thị thần đến chép lại điềm giấc mộng của mình để sau này so nghiệm. Hôm đó Vua lên đường trở về Hoan Châu (sau đổi là Nghệ An) thăm các nơi lăng mộ tổ tiên. Từ đó Cung phi có mang thai. Đến ngày 12 tháng Giêng năm Nhâm Tuất là đến kỳ mãn nguyệt, sinh được một người con trai, thân thể cao lớn, diện mao đẹp lạ, khác hẳn người thường. Vào lúc sinh ra mưa gió tối tăm, mây khói mù mịt. Giữa ban ngày mà trong thành như trời tối. Sấm sét vang rền rung trời chuyển đất. Triều đình trong nước đều lấy làm kỳ lạ. Sinh được tròn năm Vua bèn đặt tên là Quan lang Đàm Gia. Năm tháng thay nhau, đến khi trưởng thành, Vua nhớ đến điềm mộng rắn quấn trước đây từ nơi giếng thôn Tổ (tức thôn Tổ xã Thượng Trì). Vua bèn cho thôn Tổ là ấp thang mộc, giao cho ông đương thời quyền quản, các lợi lộc đều được hưởng từ đất đó. Ông vốn có thiên tư thông minh chính trực, tài cao đức lớn, tính thật là khoan nhân, yêu mến dân tình. Đang khi đó ngoài bể yên bình, trong phủ vô sự. Ông thường đi xe nhàn chơi vãng cảnh xem vẻ thú vị của núi sông. Một hôm ông trở về chơi ở ấp thang mộc. Nhân dân làm lễ bái mừng, xây dựng một cung để ở tại chốn đất cung trước kia (cung trước kia Vua đã ngự ở bên nơi giếng nước, có điềm ứng rắn quấn mà sinh ra ông Gia).

Ông bèn dừng xe trú ở đó, phủ dụ phụ lão nhân dân. Lấy lòng nhân mà giáo hóa trở thành mỹ tục. Giúp người nghèo, nuôi người già. Phát nhiều tiền bạc, vải vóc để nuôi dưỡng dân tình được no đủ. Ơn nhân đức sâu lớn như biển, như núi. Không có ai sống ở đó không coi ông như cha mẹ.

Lại nói, khi đó ở thôn Nội xã Thượng Trì có gia đình ông Bộ trưởng họ Phan, có hai người con gái. Một người tên là nàng Du Di. Một người tên là nàng Hệ Hộ. Cả hai đều là bậc hào kiệt trong giới nữ, anh tài ở trên thế gian, chính thật là thần nữ thủy cung, nhan sắc tuyệt trần sánh cùng với Hằng Nga trên mặt trăng.

 Xét xưa thời Hùng Vương tương truyền ông họ Phan vốn là người thôn Nội xã Thượng Trì, tên là Vĩnh. Khi ông làm chức Bộ trưởng, vợ là Vương Thị Hàm cũng là người ở cùng làng. Lấy nhau được 3-4 năm thì bà có mang thai. Được 7 tháng, một hôm bà Vương Thị Hàm đi ra ngoài bãi sông Thượng Trì để tắm gội. Bỗng nhiên bà lao xuống sông mà hóa. Sự việc xảy ra như vậy, không thể cứu vãn được. Do đó ông Vĩnh trong lòng rất thương nhớ tình cảm của vợ, ngày ngày buồn bã. Vào lúc trăm ngày, ông bèn mời pháp sư đến gọi hồn. Việc xong ông trở về nhà. Đêm hôm đó ông nằm mộng thấy đi đến bên bờ sông bỗng gặp vợ ở đó. Ông nửa mừng nửa lo, than vãn tình cảm trước sau. Vợ ông nắm lấy tay ông, than vãn xong thì nói với ông rằng:

  • Thiếp vốn là con gái Động Đình Long cung. Trước sinh ra ở trên Dương thế, đầu nhập vào làm con gái nhà Vua dưới Long cung. May mắn cùng với chàng được kết phối, vốn thề cùng nhau kết liên tới khi đầu bạc. Than ôi, cầm sắt nhân duyên, uyên ương hòa hợp mới được 3-4 năm, sớm có điềm giọt sành. Đến gần ngày mãn nguyệt mà chưa thể sinh nở bởi việc Thiên đình đã định, không thể ở tiếp trên trần thế. Do vậy mà sông Ngân cầu Ô Thước ngăn trở khó qua. Lại trở về Thủy quốc, quản chưởng Long cung, sớm ngày bên Vua cha. Cai quản ở gác ngọc thâm cung. Tuy đã hai đường khó nối, nhưng cùng một mối tâm tư vậy. Trên trên trần thế nghĩa sinh thành, đức lớn cù lao, đâu dám quên. Mối kết tóc tình sâu duyên ân ái, vẫn luôn nhớ vậy. Trách ông trời không cho được đoàn tụ. Nay thiếp đã đến kỳ sinh nở được một bầu bốn trứng, đã nở ra hai nam và hai nữ, đều sẽ thành hình người. Xin hãy mang về trần thế để báo đáp nghĩa của chàng, làm niềm vui an ủi. Xin hãy mang về nuôi dưỡng. Chớ phụ lòng thiếp.

Lại thấy ngâm rằng:
Tảo thời quá bộ vãng (giang?) biên,
Thuỷ thượng phù phù tứ noãn viên
Long huyết giai sinh long huyết tử
Nhất bào nam nữ, thị giai hiền.

Ngâm xong ông bỗng tỉnh lại, biết là nằm mộng. Khi đó canh gà một khắc. Ông cảm lời trong mộng nên đi thẳng ra ngoài bờ sông để tìm xem. Ở trên bãi sông không thấy có gì. Ông mới đưa mắt ra ngoài sông, thấy có 4 trứng nổi ở trên mặt nước cạnh bờ, đều cụm vào một nơi. Ông bèn lấy tay vớt và thả xuôi dòng. Nhưng tất cả trứng đều quấn lấy thân ông, không chịu trôi đi. Ông nhớ lại đúng như điềm trong mộng nên vớt bốn trứng, đem gói vào trong bung, mang về nhà. Trong chốc lát thấy trứng bỗng nhiên trở nên to lớn. Mỗi trứng dài một thước.

Khi ấy là ngày 16 tháng Giêng, bốn trứng cùng nở thành bốn người con, hai trai hai gái, đều thật khác người thường. Ông theo lời vợ trong mộng mà đặt tên: một là Minh Bào, một là Hổ Lang, một là Du Di, một là Hệ Hộ. Đến khi trưởng thành hai người con trai đều là bậc anh hùng hơn đời, trí dũng vượt người. Hai người con gái có hình dung chim sa cá lặn, có diện mạo hoa nhường nguyệt thẹn, anh hoa tuyệt thế, nhan sắc phi thường, đều là bậc hào kiệt trong giới nữ vậy. Về hành trạng của hai người con trai thì có tích riêng.

Khi đó ông Gia đến chơi nơi đất đó (tức thôn Tổ), nghe tiếng thơm hai nàng cũng rung động. Ông Gia bèn sai sứ thần gọi ông Phan đến, hỏi cưới hai nàng. Ông Phan vâng mệnh nhận gả. Hôm đó làm biểu dâng tấu về triều. Vua đồng ý. Bèn làm sính lễ xong thì đón về đô phủ. Lập người chị làm Chính phi, người em làm Thứ phi.

Khi đó ông lên đường trở về thành vào triều chầu vua. Qua vài tháng, nơi ấp thôn đó (tức thôn Tổ) người và vật đều không yên, bị tật bệnh rất nhiều. Trong giếng thường thường có rắn quái xuất hiện. Nhân dân đều sợ hãi. Một hôm nhân dân lập đàn cầu đảo trời đất thần linh. Cầu xong đêm hôm đó nhân dân đều ngủ say, bỗng thấy một vị quan nhân, áo mũ đường đường tiến thẳng đến. Nhân dân đều đứng lên hỏi rằng:

  • Dám hỏi vị quan nào đến đây?

Vị quan nhân đó nói rằng:

  • Ta vốn là một tiểu thần. Nay vâng mệnh Thiên đế xuống báo cho nhân dân cùng biết. Nay vị Chủ quan đã trở về kinh thành, nơi cung này không có người nắm quyền. Do đó mà ôn dịch địa phương gây loạn, xâm nhập vào trong cung, gây ra nhiễu hại nhân dân. Nếu như muốn dân vật được yên, hãy mau đón Chủ chưởng trở về thì tất âm binh sẽ đều tan.

Nói xong, quan nhân bay lên không mà đi. Nhân dân tỉnh lại biết giấc mộng đó. Ngay hôm đó nhân dân tụ tập cùng dâng tâu lên triều đình, xin làm lễ đón ông về cung ấp. Vua đồng ý cho. Ông cùng với hai bà phi vâng mệnh trở về cung ấp. Khi đó quân của ông đi đến đâu thì gió thổi theo, mưa nổi lên ù ù như tiếng sấm vang vào tai, tiến thẳng về cung ấp. Nước trong giếng sóng nổi cuồn cuộn. Rắn hoa, cá, ba ba đều nổi lên. Ông đi trở về đến nơi (tức ngày mùng 4 tháng Năm), nhân dân làm lễ bái mừng, tu sửa cung để ở. Từ đó mọi việc đều yên.

Ông ở đó được quãng nửa năm. Khi ấy có giặc Ân là Thạch Linh Thần tướng đến xâm phạm. Trăm vạn quân mạnh tiến thẳng vào Giao Nam, muốn chiếm lấy nước. Thư từ biên cương báo gấp. Vua rất lo lắng liền gọi quần thần đến cùng hỏi kế sách. Các đình thần đều nhìn nhau, bó tay không có phương sách nào. Vua bèn xây một đàn, trai giới đốt hương để cầu trời đất trăm thần âm phù giúp nước. Lại gọi các quần thần đến hội ở đàn trong ba ngày. Mưa to gió lớn, trên đàn mù mịt. Bỗng thấy có một lão nhân, cao hơn 9 thước, râu tóc bạc trắng, ngồi ở ngã ba đường, cười nói nhảy múa. Mọi người thấy đều cho là người lạ, vào tâu với Vua. Vua thân ra đón vào trong đàn, hỏi rằng:

  • Nay có giặc phương Bắc đến xâm phạm. Thắng thua thế nào, xin được chỉ giáo cho.

Lão nhân hồi lâu lấy tay bốc một quẻ rồi nói rằng:

  • Nếu như cầu được người thì giặc này sẽ sớm dẹp yên được.

Vua lại hỏi:

  • Cầu người này ở phương nào được?

Lão nhân lại nói:

  • Việc ở Vu nữ.

Nói xong, Lão nhân bay lên không mà đi. Vua nghĩ đó là Lạc Long Quân đến dạy. Thế là Vua sai sứ đi khắp nơi cầu tìm trong thiên hạ. Khi đến làng Phù Đổng quận Vũ Ninh có một gia đình phú ông sinh được một người con trai, lên ba tuổi tên là Thiết Xung Thần Vương. Chỉ ăn uống mà lớn lên, không biết nói năng. Bà mẹ nghe tiếng sứ giả đến chiêu mộ, mới nói đùa rằng:

  • Con nhà ta tới nay biết ăn uống, mà không biết đánh giặc để lấy chức trọng của triều đình, để báo đáp ơn sâu nuôi mớm.

Bỗng nhiên nghe mẹ nói, thì người con mở miệng nói rằng:

  • Mẹ cho gọi sứ lại đây.

Thần Vương nói với sứ giả rằng:

  • Hãy mau về báo với Vua xin được một con ngựa sắt cao mười thước, một cây gậy sắt dài mười trượng, đem lại cho tôi. Vua sẽ không còn lo lắng gì.

Nói xong, sứ giả trở về tâu lại với Vua. Vua rất mừng, bèn lệnh chọn các quan lang phụ đạo (tức là con cháu dòng dõi Hùng Vương) 10 bổ Thủy thần, 10 bộ Sơn thần, dẫn 3 vạn quân mạnh theo giúp ứng chiến cho Thần Vương. Hôm đó đúc thành ngựa sắt, gậy sắt, đem lại giao cho Thần Vương.

Lại nói, khi ấy ông Gia nhận mệnh đi xuất chinh, giao phó cho gia thần, nhân dân trông giữ cung sở cùng với phụng chầu hai vị cung phi. Ngày đó nhân dân làm lễ bái mừng, đáp rằng:

  • Thân dân dám xin được lập đền thờ sông để làm tỏ đức của Chủ quan, để trừ miễn được yêu khí gây hại trong thôn.

Ông bèn nói với phụ lão nhân dân:

  • Hãy lấy nơi cung mà ta đang ở làm nơi chính. Hoặc sau khi  ta đi dẹp giặc mà nhân dân có thấy lũ yêu gây hại thì dân chúng hãy đến ở nơi cung sở gọi thỉnh ta về giúp cho.

Nhân dân đều nghe theo lời dặn đó. Hôm ấy (ngày 12 tháng Mười) ông mổ trâu khao hưởng quân sĩ, chiêu mộ được hơn năm trăm người gia thần thủ túc. Ngày hôm sau Chủ quan cất quân đến chầu vua. Các đạo quân sĩ đều khấu tạ trước Vua lĩnh mệnh ra quân. Vua truyền đem ngựa sắt, gậy sắt cùng các đạo Sơn thủy, quân giới đến hội cùng Thần Vương, theo tùy tùng dẹp giặc. Ngay hôm đó chia làm hai đạo thủy bộ cùng tiến (Đàm Gia thuộc thiuyr đạo, Đốc lĩnh thuyền rồng đi trước quân đội).

Thần Vương nhảy lên ngựa, hô một tiếng:

  • Ta là Thiên tướng đây.

Ngựa chạy như bay, chốc lát đã đến thẳng chân núi Vũ Ninh miền Yên Việt. Các đạo thủy bộ cùng theo tiếp chiến, đánh một trân lớn với Thạch Linh Thần tướng ở bên núi. Quân Ân đều thua. Bắt sông Thạch Linh Thần tướng, chém đi. Còn lại các đạo thủy bộ tiếp chiến, truy sát chém được hơn năm ngàn đầu giặc mà vẫn chưa diệt hết. Gậy sắt của Thần Vương bị rơi mất, Thần Vương bèn lấy tay nhổ tre dẹp sạch giặc. Đi thẳng đến núi Sóc xã Vệ Linh huyện Kim Hoa thì bèn bỏ áo, cưỡi ngựa xông lên trời theo mây mà đi. Nay vẫn còn dấu riêng ở trên vách núi. Sau này nhân dân lập đền để thờ phụng tại đó (Việc phong tặng cùng với sắp đặt ruộng thờ có ở trong bản chính tích riêng).

Lại nói, ông Gia dẹp yên giặc Ân xong bèn vâng chiếu trở về thành, vào tâu Vua. Vua rất mừng, ngay hôm đó mở yến tiệc lớn, khao hưởng quân sĩ. Vua bèn phong ông Gia là Hải Dương Vương, Chính phi làm Hoàng hậu. Ông bèn vâng thừa mệnh vua, làm lễ khấu tạ, đi trị Hải Dương. Khi ấy, ông trở về cung ấp. Hôm đó (là mùng 10 tháng Mười) nhân dân làm lễ bái mừng. Ông mới dừng giá ở lại, cởi giáp nghỉ quân, cùng với phụ lão nhân dân trong mười ngày. Bái yết  tổ tiên quê ngoại (ở đất thôn Nội). Giao phó cho nhân dân thôn Tổ lấy nơi cung sở làm sinh từ, sau này làm nơi thờ tự. Lại cho nhân dân 10 nén vàng để phòng về sau tu sửa cung sở. Phụ lão nhân dân đều lĩnh mệnh nhận lấy. Việc xong, Chủ quan cùng với hai bà phi hôm đó cất quân đi xe loan đến quản Hải Dương. Ông đến nơi công sở,

Trị quản được vài năm. Khi ấy nơi huyện phủ Nam Sách bị nước lũ dâng lên, làm sạt lở đất đai hơn mấy trăm dặm. Vua bèn lệnh cho ông dẫn quân đến phòng đường sông trị thủy. Hôm đó ông đi đến nơi có đất lở. Ông đến nơi thì trong vòng một ngày, nước lũ ở đó tự rút. Ông ở đó được 10 ngày thì những nơi bị sạt lở đều được yên ổn. Việc xong, ông làm biểu, dẫn quân trở về, tiến theo đường thủy. Một hôm đi đến địa phận Ngọc Động Hà Đới, tại một khúc sông nhỏ. Bỗng nhiên gió lớn nổi lên một trận. Sóng nước cuồn cuộn vạn dăm. Rắn hoa, cá, ba ba trên ngàn dặm đều nổi lên mặt nước, hướng về phía thuyền của ông. Sấm sét vang rền. Trời đất mù mịt. Thuyền của ông chìm mà hóa. Hôm đó (mùng 2 tháng Chín) nhân dân làm biểu dâng tấu lên bệ hạ. Vua nghe vậy thì ngay hôm đó Vua cùng với hai vị phi nhân đi tới nơi đó (tức là Ngọc Động Hà Đới), truyền cho binh sĩ và nhân dân xây dựng đền để thờ tự.

Vua sai trăm quan cùng nhân dân làm lễ yên vị. Việc xong thì trở xe trở về thành đô, làm lễ tế. Lại ban chiếu gọi hai cung phi trở về kinh, không ở xứ Hải Dương nữa. Ngày hôm đó hai vị cung phi đi xe trở về triều chầu vua, làm lễ nhận tang. Vua bèn bao phong cho mỹ tự, được vạn năm hưởng lộc, cùng với quốc gia mãi mãi là hằng thức. Ngày hôm đó truyền cho các nơi ấp hưởng lộc đến tề tựu ở kinh thành đón sắc chỉ và thần hiều trở về nơi cung sở mà thờ phụng. Phong là:

  • Phong Đàm Gia Đại vương.

Lại nói, khi ấy thôn Tổ xã Thượng Trì đón mang sắc chỉ thần hiệu trở về nơi đền phụng thờ. Khi đi đón trên đường thì thấy trên trời có một đám mây ngũ sắc nổi lên, ngay phía trên đầu xe. Khi đón về đến đền bỗng thấy có một tấm vải đỏ từ trên không rơi xuống thẳng vào trong giếng. Có ba tiếng sấm vang lên, rung trời chuyển đất. Nhân dân đang khi làm lễ đều sợ hãi, cho là sự lạ, làm biểu dâng tâu kể lại. Vua nghe vậy phán rằng:

  • Con ta vốn là thần của ấp các người, là chủ trưởng long cung động giếng, là tinh hoa sinh ra trên đời cũng tại đất này. Nay hóa trở về nơi cũ, linh thiêng lại trở về trong giếng. Sự tất như vậy, không phải nghi ngờ. Nay đã hiển thần như thế thì Trẫm lại phong mỹ tự để mang về đền cho dân chúng phụng thờ.

Lại phong là: phong Đương cảnh Thành hoàng Đàm Gia Đại vương. Cho thôn Tổ xã Thượng Trì làm nơi thờ, hai kỳ xuân thu sai quan đến bày tế. Từ đó quốc đảo dân cầu có rất nhiều linh ứng. Người đời sau có thơ khen rằng:

Sinh vi đế tử giáng vi thần
Vạn cổ phương danh tại xã dân
Ngọc tỉnh hiện tồn lưu thánh tích
Thiên vô lão dã thuỷ vô trần.

Lại nói, khi ấy ông Gia sinh được một người con trai, khoảng 5 tuổi. Vua sớm cho lập làm Thái tử để nối vị trí Hải Dương Vương. Than ôi, đạo trời như vậy. Một nhà đều là linh quan của Thủy quốc, không phải người trên trần thế. Một hôm hai vị cung phi cùng với Thái tử dập đầu tạ trước bệ, xin được trở về quê ngoại để bái yết gia đường, thăm hỏi nhân dân. Vua đồng ý, ban thêm cho vàng bạc, vải vóc hơn ngàn cân. Hai cung phi đi thuyền rồng, theo đường thủy mà đi. Đến sông Nhị thì trời đã tối. Hai vị phi nhân dừng thuyền trú tại đó. Đến quãng nửa đêm, bỗng nghe từ đáy sông có tiêng hô to rằng:

  • Cần mau hội quân, đưa giá đón hai vị phi nhân của Chủ chưởng Long cung trở về đô phủ của Thủy quốc. Việc này đã định chỉ trong vòng 5 ngày tới. Chủ quan truyền lệnh như vậy.

Tiếng hô xong thì thấy có tiếng hơn ngàn người đều đáp vâng. Trong chốc lát đều thấy ngừng. Trời đã bắt đầu sáng. Gia thần thị nữ nghe được sự lạ đó bèn cùng nhau bàn tán. Hai vị cung phi phát hiện được liền nói rằng:

  • Các người gia thần thị nữ đều đã nghe được việc này. Chớ có để lộ ra ngoài nhân gian, mà gây ra sự nghi ngờ.

Đám người hầu nghe lời giáo huấn đó, nghĩ rằng các phi nhân chủ của họ không phải người trần, tất là Long quân Thủy quốc đã định lúc trở về. Do đó cấm họ không được khoa trương, tiết lộ.

Lại nói, hai vị phi nhân khi ấy đi về đất ấp quán (tức đất thôn Nội xã Thượng Trì). Hôm đó (11 tháng Tám) nhân dân làm lễ bái mừng. Phi nhân bái yết gia tiên. Việc xong hai vị phi nhân cùng với Thái tử trờ về thôn Tổ làm lễ bái yết đền chính thờ Chủ quan. Ngày đó (11 tháng Tám) nhân dân làm lễ bái mừng. Tối đó phi nhân dừng xe ở đất ấy. Đến đêm, khi gà đã gáy canh ba, bỗng thấy hai phi nhân đều cùng đi đến miệng giếng. Thị nữ đi sau lén đợi xem, thì nghe thấy hai vị phi nhân gọi lên 3 tiếng, đi vào trong giếng, đều nghe tiếng đáp. Nước từ đáy giếng đều tự có tiếng vù vù không ngừng.

Hai vị phi nhân và Thái tử đi thẳng ra làm lễ ở ngoài sông, cùng với mấy người thị nữ buộc tóc. Bỗng thuyền rồng nổi lên trên mặt nước. Cá, ba ba hai bên bơi theo, dẫn thuyền rồng đến bên bãi sông. Hai vị phi nhân cùng Thái tử và thị tì đều xuống thuyền, đi ra giữa sông thì chìm mà tự biến, sinh hóa bất diệt.

Nhân dân ở nơi đó (tức thôn Nội và thôn Tổ) đều lấy làm lạ, làm biểu dâng tấu. Vua nghe vậy một lúc phán rằng:

  • Gia đình con ta vợ chồng đều là thủy thần xuất thế để trợ vận. Việc đã yên, thì đều cùng hóa về Thủy quốc vậy.

Ngay hôm đó Vua lệnh cho trăm quan (16 tháng Tám) trở về bày tế, đem sắc chỉ trở về cung ấp cho nhân dân phụng thờ.

  • Phong Du Di Hoàng hậu Đại vương.
  • Phong Đương cảnh Thành hoàng Đại vương.
  • Phong Hệ Hộ Cung phi Đại vương.

Thôn Tổ xã Thượng Trì phụng thờ ba vị. Cùng thôn Nội phụng thờ hai nhị, làm đền tạo lệ chính.

Lại nói, đến thời Trưng nữ Vương (Trưng Trắc, Trưng Nhị) cũng là người cháu gái Hùng Vương, thật là bậc thánh thần trên đời, hào kiệt trong giới nữ, khởi nghĩa binh, chiêu dụ các tướng nữ, quân nữ cùng anh hùng hào kiệt diệt trừ Tô Định, đến hội quân ở cửa sông Hát Môn, lập đàn cầu đảo trăm thần âm phù dẹp giặc. Khi ấy Trưng Vương tiến quân đi đến đền thờ của ông ở thôn Tổ xã Thượng Trì vào cầu đảo. Đến đêm hôm đó bỗng thấy có ba con rắn hoa rực rỡ từ giếng xuất hiện, tiến thẳng vào trong đền, đều lên nằm trên gác thượng. Trưng Vương biết là có nhiều linh ứng bèn truyền dựng một cây cờ ở sân trước, làm lễ cầu đảo chúc rằng:

  • Xin hãy âm phù giúp nước, dẹp yên quân giặc. Nếu đuôi cờ chỉ về phía Bắc thì quân ta sẽ thắng. Còn nếu quân giặc mạnh Tô Định thắng thì lá cờ hãy quay trở về chỉ hướng Nam.

Đọc chúc xong thì gió mây nổi lên, lá cờ chuyển thẳng chỉ sang hướng Bắc. Trưng Vương làm lễ tạ, cất quân thẳng tiến, đánh một trận lớn, Tô Định thua chạy. Trưng Vương khôi phục lại tất cả đất đai Nam bang. Giặc Tô đã dẹp yên xong. Trưng Vương lên ngôi, mở tiệc mừng lớn. Rồi phong thêm mỹ tự cho trăm thần, hương lửa không ngớt vậy. Trưng Vương phong là:

  • Phong Du Di Hoàng hậu Đại vương.
  • Phong Đương cảnh Thành hoàng Đàm Gia Linh ứng Đại vương.
  • Phong Hệ Hộ Cung phi Đại vương.

Lại nói, thời Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương tất cả là qua 349 năm đến khi nước Nam có bốn họ Đinh, Lê, Lý, Trần khai mở cơ đồ, thần thường giúp nước giúp dân, có nhiều hiển ứng linh thiêng, nên trải qua các đời đế vương đều có truy phong mỹ tự, vạn năm hưởng lộc, hương lửa không ngừng, cùng với nước nhà yên hưởng. Thịnh thay!

CHÙA ĐOAN MINH – DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT

1. THÔNG TIN CHUNG

Tên gọi: Chùa Đoan Minh 

Tên khác: Chùa Thổ Hà

Địa chỉ cụ thể: Làng Thổ Hà, phường Vân Hà, tỉnh Bắc Ninh

Vị trí địa lý và không gian cảnh quan:

Mô tả vị trí: Nằm ở trung tâm làng Thổ Hà cổ bên bờ Bắc sông Cầu.

Yếu tố phong thủy: Nằm ở trên một thế đất đẹp hướng Nam ghé Tây, phía trước cách khoảng sân rộng là đình Thổ Hà.

Niên đại khởi dựng và các lần trùng tu:

Tương truyền chùa Thổ Hà được nhân dân làng Thổ Hà xây dựng từ lâu đời với quy mô nhỏ, ban đầu chỉ là am động. Công trình kiến trúc cổ hiện nay được khởi dựng từ trước năm 1580 thời Mạc (thế kỷ XVI). Trải qua thời gian ngôi chùa đã được tu sửa nhiều vào thời Nguyễn (thế kỷ XIX) hiện nay ngôi chùa vẫn bảo lưu được kiến trúc cổ.

2. GIÁ TRỊ LỊCH SỬ

Nhân vật được thờ: 

Thờ Phật với hệ thống tượng Phật giáo Đại thừa Việt Nam. Chùa xây dựng bởi cùng Sơn môn Bổ Đà. Khu nhà tổ còn có gian mẫu, thờ Tam tòa thánh mẫu và công đồng.

Sự kiện lịch sử, văn hóa gắn liền với di tích:

Bia Cung sao sự tích thánh ở đình Thổ Hà chép: Đời vua Thục An Dương Vương có một người từ Bắc quốc đến đạo Kinh Bắc, phủ Bắc Hà, huyện An Việt và ở nhờ chùa Đoan Minh Tự của trang Thổ Hà. Ngày đêm giảng kinh đọc sách, có sức màu nhiệm như thần, trong trang có nhiều con em theo học. Một hôm Người bảo học trò rằng: 

  • Ta sinh ra từ thủa Hồng Mông, cho nên ta thông minh khác thường. Mẹ ta vốn là người từ bi, huyền diệu mà sinh ra, tên là Mỹ Thổ Hoàng. Có một đêm mẹ ta nằm mơ thấy nuốt một vì sao ngưu tinh, thế là mẹ có thai đủ 81 năm. Đến ngày 7 tháng giêng năm Canh Thìn nách tay phải của mẹ rung động rồi sinh ra ta. Khi ta mới ra đời đầu đã bạc, chân có chữ, ta không có bố, khi đẻ mẹ vịn vào cây mận cho nên lấy họ ta là Lý, tên là Lão Đam, tên chữ Lý Bá Dương, lại có tên là Thái Thượng.

Lúc bấy giờ có giặc Xích Tỵ, Lão Tử vâng mệnh vua đi trừ quỷ dữ. Người đọc thần chú rồi dùng gậy trúc lấy hương phù thư lên phóng đi 4 phương, yêu quái đều hết, dân trang làm ăn yên ổn. Nhà vua ban thưởng cho thực ấp ở huyện An Việt. Sau được vua phong làm Thượng đẳng thần, phong cho mẹ ngài là Đoan Từ chi nhân.

Sau này Ngài lại giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa, được nhà vua phong là Đương cảnh Thành hoàng Thái Thượng Bản giác Linh phù và phong cho mẹ ngài là Đoan Ý Trinh thục Nhu hòa Huệ ân Diệu mỹ Thổ Hoàng Thái hậu.

3. KIẾN TRÚC VÀ NGHỆ THUẬT

Bố cục mặt bằng tổng thể và các hạng mục chính:

Mô tả bố cục: Kiến trúc của chùa theo kiểu “Nội công ngoại quốc” có quy mô lớn, gồm: tam quan, sân chùa, toà tiền đường, tòa thượng điện, 2 dãy hành lang, tòa Phật động và nhà tổ. Qua sân sau rộng là khu nhà tổ.

Mô tả từng hạng mục: Nền tiền đường cao, có 3 bậc bó bằng đá tảng xanh. Toà tiền đường 7 gian 2 chái, thượng điện 5 gian, toà giữa Phật động 5 gian 2 chái, 2 dãy hành lang mỗi dãy 10 gian. Khu đất Tổ có 9 gian. Trong chùa kết cấu vì kèo theo kiểu chồng rường đấu kê, độc trụ truyền thống. Các cấu kiện kiến trúc bằng gỗ lim. Tường bao được xây bằng gạch chỉ, ngoài phủ vữa, quét vôi trắng. 

Nghệ thuật trang trí, điêu khắc: 

Kiến trúc: Tòa tiền tế mặt ngoài kiến trúc với mái đao, bậc thềm đá cổ. Bên thềm còn giữ được một số rồng bậc thêm cổ thời Mạc còn nguyên vẹn. Bờ nóc chính giữa đắp nổi bức đại tự chữ Hán: “Đoan Minh tự”. Hiện chùa xây thêm tam quan mới bên ngoài.

Phía trước tòa tiền đường chùa Thổ Hà là đôi rồng đá uốn khúc (rồng yên ngựa) đặt trên bệ cao, có dòng chữ đề mua năm Giáp Thân, được xác định là năm 1580 thời Mạc Mục Tông. Và một đôi nghê đá xanh thời Lê Trung hưng (thế kỷ XVII). Đây là những hiện vật cổ có giá trị lớn về mặt nghệ thuật và khoa học.

Chạm khắc gỗ: Hệ thống đầu bẩy chùa Đoan Minh có chạm khắc thờ Hậu Lê kỹ lưỡng. Bên trong chùa đa phần để trơn và trang trí hoành phi, tranh khắc sơn.

4. GIÁ TRỊ HIỆN VẬT

Bài trí thờ tự: 

Hệ thống tượng cổ: 

Hiện nay chùa Thổ Hà còn bảo lưu được khá nhiều hiện vật hệ thống tượng Phật cổ, khoảng gần 50 pho tượng. Hệ thống tượng chính nằm ở tòa thượng điện và tiền đường. 

Thượng điện có nhiều tượng cổ giá trị được bày theo lớp là tượng Quan Âm Chuẩn Đề, Phật Di Lặc, Phật A Di Đà, tượng Thích Ca sơ sinh. Trong cùng là tượng Phật Thích Ca kích thước lớn, phía trên là bộ Tam Thế Phật. Hai bên thượng điện là tượng Thập điện Diêm vương, Quan Thế Âm Bồ tát, Đại Thế Chí Bồ tát…

Phía trước thượng điện có hoành phi: Quỳnh khuyết châu cung. Nghĩa là: Cửa quỳnh cung ngọc

Bộ cửa võng chạm rồng phượng, hoa lá có hoành phi: Long hoa hội. Nghĩa là: Hội rồng hoa.

Và đôi câu đối:

Phi nẵng phi kim, thiên địa tương chung thuỷ

Bất thường bất trú, phật pháp nhất tính tâm.

Nghĩa là:

Không xưa không nay, cùng trước sau với trời đất 

Không đi không ở, một tính lòng theo phép phật.

Tiền tế bố trí hai tượng Hộ pháp lớn và Bát bộ kim cương, tượng Văn Thù và Phổ Hiền cùng khá nhiều tượng hậu cổ. Hoành phi phía trên tượng Hộ pháp:

Bất nộ nhi uy. Nghĩa là: Không dữ mà có oai

Lập ư vô quá. Nghĩa là: Giữ ở ngưỡng không quá.

Câu đối ở giữa tiền tế:

Tứ cố phong quang, tuệ nhật từ vân tự tại

Nhất thiên cảnh thắng, danh lam cổ tự trường lưu.

Nghĩa là:

Bốn phía phong quang, ngày tuệ mây từ tự tại

Một trời thắng cảnh, danh lam chùa cổ mãi còn.

Hai bên hành lang bố trí 18 vị La Hán, phía cuối là ban Thánh hiền và Thánh tăng. Hoành phi ban Thánh tăng: Tú khí chung linh. Nghĩa là: Khí đẹp đúc thiêng. Hoành phi ban Thánh hiền (Đức chúa ông): Âm dương hợp đức. Nghĩa là; Đức âm dương hòa hợp.

Nằm sau chùa chính là tòa Phật động được thể hiện với rất nhiều tượng nhỏ và hai ban Đế Thích và Phạm Thiên. Phật động thể hiện sự tích Phật Thích Ca từ lúc sơ sinh, đi tu đến lúc đắc đạo. Phía trên Phật động là bức hoành phi lớn sơn nâu thếp vàng đề: Đoan Minh tự, với niên hiệu Khải Định năm Tân Dậu (1921)

Câu đối hai bên Phật động:

Chí đạo cực chí đạo tinh, minh mặc tự tồn chân chủ tể

Thiên hạ khê thiên hạ cốc, thâm vi trực thám đại nguyên đầu.

Nghĩa là:

Đạt đến mức tinh cực của đạo, lặng lẽ tự tại thực chúa tể

Khắp chốn hang ngõ trong thiên hạ, thâm diệu thẳng truy lớn đầu nguồn.

Trong nhà tổ cũng có ban thờ phật, thờ mẫu và ban thờ tổ với nhiều tượng cổ có giá trị nghệ thuật. Ở chính giữa gian nhà tổ, là nơi thờ Phật có bức cửa võng sơn son thếp vàng, chạm khắc rồng chầu, rồng phượng, tùng trúc và hoành phi: Liên trì hải hội. Nghĩa là: Hội biển ao sen. Phía trên là một bức cuốn thư sơn son thếp vàng, chạm hình hoa cúc hóa long.

Câu đối gian giữa:

Phạm vũ ngộ huyền cơ, nhất nhi nhị nhị nhi nhất

Thiền sư vô biệt ngữ, tâm tức phật phật tức tâm.

Nghĩa là:

Mái Phạn ngộ huyền cơ, một mà hai, hai mà một

Thiền sư không nói khác, tâm là phật, phật là tâm.

Gian thờ mẫu gồm Tam tòa Thánh mẫu và các hàng chầu, các quan hoàng… Phía trước gian có câu đối:

Thiên địa sơn hà, dục tú chung anh lưu chính khí

Thần tiên phật thánh, trừ tai giáng phúc lẫm linh thanh.

Nghĩa là:

Trời đất núi sông, nuôi đẹp đúc anh lưu chính khí

Thần tiên phật thánh, trừ tai giáng phúc tỏ linh thiêng.

Đồ thờ tự cổ: 

Ngoài hệ thống tượng phật, mẫu, tổ, còn nhiều bát hương gốm Thổ Hà cổ, các bức chạm trang trí được sơn son thếp vàng hình hoa lá, chim thú (ở khu nhà thờ tổ) hay tứ linh (khu Thánh hiền và Thánh tăng), hoa lá và chữ Phạn hay chữ tượng hình (ở thượng điện).

Di sản Hán Nôm quan trọng: 

Trong chùa Thổ Hà ngoài những câu đối và hoành phi đã giới thiệu ở trên còn nhiều câu đối và hoành phi khác, đều là cổ, được sơn son thếp vàng, chạm khắc tinh xảo, nội dung sâu sắc, phong phú. Ví dụ, câu đối ở tiền tế:

Bái thủ nhiệt Chiên đàn, thành cách dao khung tam giới phủ

Tín tâm trì Phật hiệu, danh tiêu tịnh vực cửu liên trì.

Nghĩa là:

Chắp tay thắp Chiên đàn, lòng thành tới khắp phủ ba giới

Lòng tin giữ tên Phật, danh tỏ chốn tịnh hồ chín sen.

Câu đối ở thượng điện:

Cửu phẩm liên đài, kim tương đoan nghiêm thuỳ tiếp dẫn

Thất trùng bảo thụ, ngọc hào xán lạn phóng quang minh.

Nghĩa là:

Đài sen chín tòa, tướng vàng đoan nghiêm trùm dẫn tiếp

Cây báu bảy tầng, ánh ngọc rực rỡ phóng hào quang.

Câu đối khác ở thượng điện:

Nhiễu phật tòa, lễ phật biên, tâm phật tâm nhân vô nhị niệm

Xuy pháp loa, kích pháp cổ, nhiên pháp cự tăng hữu lục hoà.

Nghĩa là:

Quanh tòa Phật, lễ bên Phật, tâm Phật lòng người không hai ý

Thổi loa pháp, đánh trống pháp, lửa pháp đuốc tăng có sáu hòa.

Câu đối ở nhà thờ tổ:

Tứ đại huyền không, dương khánh âm siêu vô hạn lạc

Quần sinh giác ngộ, dân khang vật phụ hữu dư xuân.

Nghĩa là:

Bốn đại huyền không, dương vui âm độ mừng vô hạn

Chúng sinh giác ngộ, dân khỏe vật mạnh xuân có dư.

Hệ thống bia đá chùa Đoan Minh còn 12 tấm. Đáng chú ý nhất là tấm bia “Thủy tạo đại thạch bi. Các chung tam quan Đoan Minh tự bi” dựng vào năm Vĩnh Trị thứ 4 (1679). Nội dung bia về việc xây dựng gác chuông và tam quan của chùa. Đây là tấm bia bốn mặt, kích thước lớn, chạm khắc hoa sen, nghê thú, được dựng ở trước sân chùa. 

Ở khu Phật động có tấm bia “Tam bảo thị độ bi” tạo năm Thịnh Đức thứ 1 (1653) là bia cổ nhất của chùa nói về việc lập Tam bảo ở bến chợ. Cạnh đó có cây hương 4 mặt tạo năm Vĩnh Thịnh thứ 6 (1710) ghi danh người góp tiền xây dựng và tu sửa chùa.

Ở nhà tổ có một số bia đá sau:

Lập thạch bi ký” tạo năm Tự Đức thứ 9 (1856) về việc gửi giỗ cho song thân của ông Trịnh Đắc Tỉnh và bà Nguyễn Thị Nhuận.

Tự Đức bát niên” tạo năm 1855 về việc gửi Hậu.

Hậu Phật bi ký” tạo năm Tự Đức thứ 8 (1855) về việc lập Hậu.

Hậu Phật bi ký” tạo năm Tự Đức thứ 9 (1856) ) về việc lập Hậu.

Hậu Phật bi kỵ” tạo năm Tự Đức thứ 10 (1857) ) về việc gửi giỗ.

Ngoài ra trong nhà tổ còn mấy tấm bia tiêu đề “Ký công thạch bi” và “Hậu Phật bi ký”…. 

Trong cơ sở thác bản bia từ thời Pháp còn có thác bản các tấm bia sau của chùa Đoan Minh:

Đoan Minh tự tạo Bổ Đà bi ký” tạo năm Đức Long thứ 5 (1633) về việc quyên góp tạo núi Bổ Đà ở chùa Đoan Minh. Bia ghi danh sách những người tham gia đóng góp.

Đoan Minh tự tạo thạch lô bia ký” tạo năm Thịnh Đức thứ 1 (1653) về việc tu sửa chùa Đoan Minh. Năm Mậu Tý (1648) xây tường liễu, gồm 56 bức, trùng tu gác chuông, dựng cầu ở chợ gồm 12 gian. Năm Kỷ Sửu (1649) mua đá lát đường vào chùa Đoan Minh. Đến nay dựng bia ghi tên những người đã đóng góp công đức.

Hiện trong gian nhà mẫu của chùa có 1 chuông đồng cổ cỡ nhỏ, tiêu đề Cung phụng phật thánh, niên đại Cảnh Thịnh thứ 7 (1799).

5. LỄ HỘI VÀ PHONG TỤC VĂN HÓA

Lễ hội chính: 

Lễ hội làng Thổ Hà là lễ hội chung cho đình và chùa Thổ Hà nhằm tôn vinh Thành hoàng làng Lão Tử và thánh mẫu Thổ Hoàng Phu nhân, mẹ của ngài. Đây là một lễ hội đặc sắc, đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia vào năm 2012. Hội lệ chính của chùa được tổ chức trong các ngày 20, 21, 22 tháng Giêng âm lịch, ngoài nghi lễ dâng hương cúng Phật còn có các trò chơi dân gian như đấu vật, chọi gà, đánh cờ tướng, bơi chải bắt vịt, hát quan họ…

6. KẾT LUẬN

Văn bản công nhận di tích: Chùa Thổ Hà được xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia, theo Quyết định số 226-QĐ/BT, ngày 05/02/1994 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa thông tin.

Ngày 11/02/2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Mai Văn Chính đã ký Quyết định số 266/QĐ-TTg xếp hạng Quần thể Di tích kiến trúc nghệ thuật đình, chùa, từ chỉ Thổ Hà, phường Vân Hà, tỉnh Bắc Ninh là Di tích quốc gia đặc biệt.

Chùa Đoan Minh.

Rồng và nghê đá trước cửa chùa

Bia tứ diện niên hiệu Vĩnh Trị thứ 4 (1679) trong sân chùa Đoan Minh.

Thượng điện chùa Đoan Minh.

Tượng Bát bộ Kim cương.

Hoành phi Đoan Minh tự và Phật động.

Bia Tam bảo thị độ bi niên hiệu Thịnh Đức thứ 1 (1653)

Nhà tổ chùa Đoan Minh.

Chính gian thờ Phật ở nhà tổ chùa Đoan Minh.

Gian thờ mẫu chùa Đoan Minh.

Chuông đồng thời Cảnh Thịnh thứ 7 (1799).

Bia Hậu Phật chùa Đoan Minh.

Đình Thổ Hà, di tích quốc gia đặc biệt

1. THÔNG TIN CHUNG

Tên gọi: Đình Thổ Hà 

Tên khác: Đình làng Thổ Hà

Địa chỉ cụ thể: Làng Thổ Hà, phường Vân Hà, tỉnh Bắc Ninh

Vị trí địa lý và không gian cảnh quan:

Mô tả vị trí: Nằm ở trung tâm làng Thổ Hà cổ bên bờ Bắc nhìn ra sông Cầu, phía sau là chùa Đoan Minh phía trước là bến đò.

Yếu tố phong thủy: Theo bản Mục lục của làng thì phong cảnh Thổ Hà bốn phía xinh tươi, phía Đông một dải đất tựa hình rồng quay về chốn tổ, phía Tây một trái núi trông như dáng hổ ngồi chầu, hướng về phương Nam là sông Nguyệt núi Hằng, sách trời đã định, tựa lưng phương Bắc ngon Lát phong, Phúc lĩnh hun đúc khí thiêng.

Niên đại khởi dựng và các lần trùng tu:

Theo tấm bia “Thủy tạo đình miếu bi” thì đình Thổ Hà được xây dựng năm Ất Sửu 1685, thời vua Lê Hy Tông niên hiệu Chính Hòa, hoàn thành năm Nhâm Thân 1692 và đã được trùng tu vào thời Nguyễn thế kỷ XIX. Năm 2009 đình Thổ Hà được đại trùng tu và nâng cao như hiện nay.

2. GIÁ TRỊ LỊCH SỬ

Nhân vật được thờ: 

Đình Thổ Hà thờ đức Thánh ông là Thái Thượng Lão Quân, còn gọi là Lão Đam hay Lão Tử, đức Thánh bà là Thái Hậu Đoan Ý Phu nhân, mẹ của Lão Tử và thờ tổ sư nghề gốm là ông Đào Trí Tiến.

Sự kiện lịch sử, văn hóa gắn liền với di tích:

Bia Cung sao sự tích thánh ở đình Thổ Hà chép: 

Đời vua Thục An Dương Vương có một người từ Bắc quốc đến đạo Kinh Bắc, phủ Bắc Hà, huyện An Việt và ở nhờ chùa Đoan Minh Tự của trang Thổ Hà. Ngày đêm giảng kinh đọc sách, có sức màu nhiệm như thần, trong trang có nhiều con em theo học. Một hôm Người bảo học trò rằng: 

  • Ta sinh ra từ thủa Hồng Mông, trời đất mới mở mang, cho nên ta thông minh khác thường. Năm xưa mẹ ta kể chuyện rằng: mẹ vốn là người từ bi, huyền diệu mà sinh ra, tên là Mỹ Thổ Hoàng. Có một đêm mẹ ta nằm mơ thấy nuốt một vì sao ngưu tinh, thế là mẹ có thai đủ 81 năm. Đến ngày 7 tháng giêng năm Canh Thìn nách tay phải của mẹ rung động rồi sinh ra ta. Khi ta mới ra đời đầu đã bạc, chân có chữ, ta không có bố, khi đẻ mẹ vịn vào cây mận cho nên lấy họ ta là Lý, tên là Lão Đam, tên chữ Lý Bá Dương, lại có tên là Thái Thượng.

Quanh vùng nơi ở của người không ai xảy ra tật bệnh, nên người trong trang thường bảo nhau rằng: đó là khí sinh thánh tổ, chẳng phải người thường, các nơi cũng đến xin làm thần tử. Từ đó danh vang thiên hạ, người đến theo học càng đông. 

Lúc bấy giờ trong nước có giặc Quỷ mũi đỏ (Xích Tỵ), một vị quan thị hầu vua bị bệnh ngã nhào xuống đất và sau đó bệnh tật lan khắp mọi nơi, trong nước nhiều nơi mắc bệnh, người ốm người chết thiệt hại rất nhiều. Nhà vua vội truyền hịch đi các nơi: nếu ai trừ được giặc Quỷ vua sẽ gia phong tước lộc. Lão Tử liền vâng mệnh đến nơi có giặc Quỷ, người liền niệm chú rằng: “Đạo pháp bản vô đa, nam thần quán Bắc Hà, đô lai tam thất tự, tận diệt thế gian ma”. Đọc chú xong, Người lại thư phù vào gậy trúc và phóng đi bốn phương, các nơi đều yên ổn. Quan địa phương tâu với triều đình, vua liền mời Lão Tử đến ban thưởng, mở tiệc khoản đãi và phong người là Đệ nhất nhân (người tài nhất). Lại cho ngài được hưởng thực ấp ở vùng An Việt huyện. 

Người bái tạ đức vua và trở về Thổ Hà trang. Về tới nơi Người liền cho xây dựng cung doanh trị sở. Khi xây xong Người cho mời các bô lão trong trang và tất cả học trò đến mở tiệc ăn mừng. Lúc sắp sửa ăn bỗng thấy đám mây năm sắc từ từ sa xuống đất, trong mây thấp thoáng có bóng người mặc áo đỏ, Lão Tử liền theo đám mây cưỡi rồng đỏ mà biến mất. 

Sau đó vua xây thành Cổ Loa có những u hồn và tà ma quấy nhiễu, cứ xây xong lại đổ. Vua lo lắm, liền xa giá đến Thổ Hà trang cầu đảo. Chợt có thần nhân hiện lên bảo vua rằng: xin vua cứ hồi kinh, không lo ngại gì. Rồi Người sai Thanh Giang sứ (tức thần Kim Quy) đến giúp, giết Bạch kê tinh trong núi Thất Diệu, lại đào được hài cốt Bạch kê đem đốt đi, từ đó yêu ma tan hết, lại đào thấy nhạc khí thời cổ (như chiêng, trống đồng). Thành xây nửa tháng vừa xong, vua hàng năm cứ đến ngày 22 tháng 2 xa giá đến làm lễ để tỏ lòng tôn kính một vị thần linh tuấn, đó là lẽ thường vậy. 

Lại phong cho là Đương cảnh thành hoàng Thái Thượng Bản giác Linh phù Thượng đẳng phúc thần. Phong mẹ là Đoan ý Trinh thục Nhu hòa Huệ ân Diệu mỹ Thổ Hoàng Thái hậu. Từ đó về sau nghiệm thấy linh ứng nên các triều đại đế vương đều phong mỹ tự.

3. KIẾN TRÚC VÀ NGHỆ THUẬT

Bố cục mặt bằng tổng thể và các hạng mục chính:

Mô tả bố cục: Đình chính chữ công gồm đại đình, ống muống và hậu cung phía sau. Phía trước là nhà tiền đình, hai bên sân đình có tả vu và hữu vu nằm trong nghi môn nội. Phía trục đường nhất chính đạo dẫn thẳng ra phía bờ sông là nghi môn ngoại. Một bên phải đình phía sau có nhà thờ Mẫu, thờ mẹ của Lão Tử.

Mô tả từng hạng mục: Tòa đại đình có 5 gian 2 chái, dài 27m rộng 16m với bốn mái đao cong lợp mũi hài. Nghệ thuật điêu khắc ở ngôi đại đình là tiêu biểu nghệ thuật điêu khắc đình làng thời Hậu Lê.

Tòa tiền tế có 3 gian với bốn mái đao và nghệ thuật điêu khắc thời Nguyễn xen với thời Lê. Trong tòa tiền tế đặt 7 tấm bia đá.

Nghệ thuật trang trí, điêu khắc: 

Chạm khắc gỗ: Nghệ thuật trang trí điêu khắc trong tòa đại đình trên các cấu kiện kiến trúc thể hiện nét đặc sắc qua các chủ đề khá đa dạng và phong phú với hình rồng, phượng, nghê, lân, tiên nữ … Điêu khắc đình Thổ Hà được chạm trên hầu hết các thành phần kiến trúc của đình như: đấu kê, con rường, kê đầu dư, ván nong câu đầu … Hệ thống 22 chiếc đầu bẩy chạy xung quanh đại đình được chạm khắc tinh tế mang phong cách Hậu Lê.

Đặc biệt bộ cửa võng đình Thổ Hà làm vào năm 1692 được sơn son thếp vàng đục chạm rất công phu. Bộ cửa võng đình Thổ Hà đã được công nhận là Bảo vật quốc gia vào tháng 12 năm 2020.

Kiến trúc: Đình Thổ Hà nhìn từ bên ngoài với hai lớp Tiền tế và Đại đình với các mái đao lớp lớp. Xung quanh Đại đình xây tường lửng dưới có ô vuông để hình hoa cúc bằng gốm nung, trên tường tạo bậu gỗ gắn ván gỗ và chấn song. Xung quanh phần hiên đình được bó bằng đá xanh.

4. GIÁ TRỊ HIỆN VẬT

Bài trí thờ tự: Chính giữa đại đình là nơi đặt hương án, phía trên là bộ cửa võng Bảo vật quốc gia. Hai bên hương án bầy bộ bát bửu và chấp kích và đặt cây hương đá (đèn đá) cổ. Hai bên gian chính có bộ ngựa hồng, ngựa bạch và quản mã cổ, kích thước lớn. Đặc biệt là có 2 cỗ kiệu bát cống cổ sơn son thếp vàng cho Thánh và Mẫu, chạm rồng, phượng rất đẹp. Dải ống muống đặt hương án và hai hàng phỗng chầu. Trong hậu cung đình Thổ Hà xây bệ cao, trên đặt ngai và bài vị Lão Tử. 

Đồ thờ tự cổ có hương án, bát hương, bát bửu, chấp kích, quán tẩy, ngai thờ, ngựa thờ, kiệu cổ … Phía ngoài Tiền tế có treo một chiếc mõ gỗ lớn hình cá, hiện vật khá độc đáo.

Di sản Hán Nôm quan trọng: 

Trong đại đình Thổ Hà còn hàng chục câu đối cổ sơn son thếp vàng, nội dung hết sức độc đáo, ca ngợi công đức của Thái Thượng Lão Quân, là bậc Tiên Thánh Thần thời nhà Chu, sánh ngang với Khổng Tử và Phật Thích Ca. Câu đối hai bên cửa võng:

Qui giải hiệu linh, Thất Diệu sơn trung truyền dịch quỉ

Long năng thừa hóa, ngũ vân trang hạ ký đăng tiên.

Nghĩa là:

Rùa biết nghiệm linh thiêng, trên núi Thất Diệu truyền chuyện sai khiến quỉ

Rồng tài mau biến hóa, dưới trang mây năm sắc lưu tích lên tiên.

Câu đối khác ở gian phải của đại đình:

Đông Chu phong vũ thị hà thì, biệt bả thanh hư khai Đạo Giáo

Nam Việt sơn hà duy thử địa, độc truyền ảo hóa tác Thần Tiên.

Nghĩa là:

Mưa gió Đông Chu đây một thời, riêng giữ chốn thanh hư, mở Đạo Giáo

Núi sông Nam Việt chỉ đất đó, một truyền phép màu nhiệm, tạo Thần Tiên.

Câu đối ở gian trái của đại đình:

Huyền tham Thích điển công tỉ Ni Sơn, Đạo Đức nhất kinh truyền chí bảo

Quyết bản Khương công thuật khai Hoàng Thạch, thần tiên chung cổ hiển linh tung.

Nghĩa là:

Huyền diệu vào tích Thích Ca, công đức như núi Ni Sơn, Đạo Đức kinh một bộ truyền báu vật.

Phù quyết gốc từ Khương Công, pháp thuật mở tảng Đá Vàng, Thần Tiên tự cổ xưa sáng dấu linh.

Tại đình Thổ Hà còn lưu giữ được nhiều bản sắc phong cổ, trong đó có các sắc phong niên hiệu Dương Hòa thứ 3 (1637) và thứ 5 (1639) đời vua Lê Thần Tông, niên hiệu Cảnh Hưng thứ nhất (1740), thứ 44 (1783) đời vua Lê Hiển Tông, niên hiệu Quang Trung năm thứ 5 (1792),  niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 4 (1796) đời vua Quang Toản, niên hiệu Tự Đức năm thứ 6 (1853). Các sắc phong này hiện được sao, dịch và treo ở trong đình, cùng bảng Lược sao sắc văn qua các triều vua phong tặng. 

Ngoài Tiền tế của đình có một chiếc khánh đá cỡ lớn, chạm hình 2 con rồng chầu chữ. 7 tấm bia đá còn lưu giữ tại tiền tế và 1 tấm bia trong đại đình, được bảo quản tốt, chữ còn sắc nét, trang trí hoa văn, có niên đại từ thời Lê trung hưng đến thời Nguyễn. Nội dung các bia nói về cung tiến công đức, gửi giỗ, các sắc phong, về việc tranh chấp 2 xã Thổ Hà và Yên Viên và bản sao sự tích thánh. Cụ thể như sau:

  • Thủy tạo đình miếu bi” dựng năm Chính Hòa (1692) nói về quá trình xây dựng đình Thổ Hà.
  • “San lý đoạn bi” năm Vĩnh Thịnh thứ 10 (1714) về phán quyết đối với việc tranh chấp của 2 xã Thổ Hà và Yên Viên ruộng và bãi tha ma.
  • “Nhất cung tiến đại vương mã bi” năm Long Đức thứ 3 (1734) về việc tạo tác một đôi ngựa bạch, hồng và cung tiến vào đình.
  • “Bản xã nguyện bi” năm Cảnh Hưng thứ 37 (1776) về việc dùng tiền lãi đóng tô dung cho dân và dùng cho xướng ca thờ Thánh.
  • “Tự Đức nhị thập tứ niên ngũ nguyệt nhật” năm Tự Đức thứ 24 (1871) khắc 4 bản sắc phong thời Lê của đình.
  • “Ký kỵ thạch bi” năm Tự Đức thứ 11 (1858) vể việc gửi giỗ cho 2 anh em ông Bùi Tá Thông và Bùi Tá Cơ.
  • “Long phi Tân Mùi mạnh hạ tạo bi” năm Tân Mùi (thời Tự Đức 1871) khắc 4 sắc phong thời Cảnh Hưng thứ 44, Cảnh Thịnh, Quang Trung và Tự Đức.
  • “Cung sao thánh tích” năm Thành Thái thứ 9 (1897) khắc sự tích về Thái Thượng Lão Quân.

Trong đại đình còn có bảng văn Mục lục, ca ngợi phong cảnh và quê hương Thổ Hà.

Thần tích các vị thành hoàng  Lý Lão Đam Thượng đẳng thần, Thái Hậu Đoan Ý Phu nhân cùng 3 vị tổ nghề gốm sứ (Khởi nghệ tiên triết Đào Kính Trí, Tiên thánh sư Hứa Vĩnh Phúc, Tiên thánh sư Lưu Phong Tú) hiện còn được lưu giữ tại viện Hán Nôm.

5. LỄ HỘI VÀ PHONG TỤC VĂN HÓA

Lễ hội chính: 

Lễ hội làng Thổ Hà là một trong những lễ hội đặc sắc đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia vào năm 2012. Hội lệ được tổ chức trong ba ngày 20, 21, 22 tháng Giêng âm lịch. Hiện nay, hội Thổ Hà ba năm mới tổ chức rước một lần.

Lễ hội Thổ Hà tôn vinh Thành Hoàng làng Lão Tử. Phần lễ chính của hội là rước hai kiệu chính là Kiệu Ông và Kiệu Bà. Người tham gia đoàn rước là nhân dân ba xóm của làng Thổ Hà. Đoàn rước chính là nét đặc sắc nhất của Lễ hội Thổ Hà. Vào ngày chính hội 21 tháng giêng, từ sáng sớm đoàn rước đã tập trung tại Từ chỉ làng Thổ Hà. Đoàn rước rất phong phú, có rước cờ Thần, cờ Ngũ hành Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ, cờ Tứ linh Long Ly Quy Phương. Đặc biệt có các nhân vật ba ông Tam Đa và hai em đóng Tiên đồng Ngọc nữ, đội quan tướng mặc trang phục tuồng cổ. Đoàn rước có đội múa sinh tiền nam thanh thiếu niên, đội múa tiên nữ thanh thiếu niên, đội múa trống của các xóm. Lễ vật luôn có mâm lễ bò nguyên con và các đồ lễ. Đoàn rước tiến chậm rãi về đình làm lễ tạo nên phần đặc sắc nhất của hội Thổ Hà.

Phần hội xưa có nhiều trò chơi dân gian như đấu vật, chọi gà, đánh đu, đi chữ, đập niêu, đi cầu kiệu… Diễn xướng dân gian hát quan họ trên sông, hát tuồng, hát chèo, hát ca trù cũng là nét đặc sắc khác của hội Thổ Hà. Thổ Hà là một trong những làng quan họ cổ của tỉnh Bắc Ninh.

6. KẾT LUẬN

Văn bản công nhận di tích: Đình Thổ Hà đã được xếp hạng là di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh cấp quốc gia theo Quyết định số 29-VH/QĐ của Bộ Văn hóa ngày 13 tháng 01 năm 1964.

Ngày 11/02/2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Mai Văn Chính đã ký Quyết định số 266/QĐ-TTg xếp hạng Quần thể Di tích kiến trúc nghệ thuật đình, chùa, từ chỉ Thổ Hà, phường Vân Hà, tỉnh Bắc Ninh là Di tích quốc gia đặc biệt.

Di tích đình Thổ Hà

Bức Cửa võng đình Thổ Hà được công nhận là bảo vật Quốc gia

Câu đối và kiệu cổ đình Thổ Hà.

Rước kiệu Thánh Ông trong lễ hội Thổ Hà.

Tiên đồng, Ngọc nữ, Tam đa trong đoàn rước lễ hội Thổ Hà.

Quan tướng trong đoàn rước lễ hội Thổ Hà.

Hát quan họ trên sông bên bến Thổ Hà.

Bạn có biết: Kinh Dương Vương là vua Đại Vũ trị thủy ở sông Đà

Kinh Dương Vương, vị vua mở đầu thời kỳ dựng nước của người Việt chính là Tản Viên Sơn Thánh trong huyền sử Việt và được thờ cúng ở khắp nới tại nước ta. Tản Viên Sơn Thánh chống chọi với cơn hồng thủy hàng ngàn năm trước cũng là vua Đại Vũ, người đã trị thủy thắng lợi thời Đường Nghiêu – Ngu Thuấn trong lịch sử Hoa Hạ.

Tản Viên Sơn Thánh ở đền Thể Giao (Hà Nội)

1. Vua Vũ trị thủy ở Long Môn Thác Bờ trên sông Đà

Truyền thuyết cổ đại kể rằng, thời Đường Nghiêu hồng thủy mênh mông, nước ngập tới lưng trời. Vua Đại Vũ đi xem xét các nơi rồi đến đoạn hiểm trở nhất của sông Hắc Thủy, đục đá phá mỏm núi chắn ngang sông, khơi thông nước lũ. Nơi Đại Vũ phá đá trị thủy gọi là Vũ Môn. Vũ Môn có nước chảy xiết, hằng năm cá chép tập trung đến đây, con nào vượt qua được Vũ Môn thì hóa rồng. Nên nơi đây còn gọi là Long Môn hay Vũ Long Môn.

Đối với người Việt, cá vượt Vũ Môn là hình tượng rất thân thuộc, đã đi vào thơ văn, vào tranh dân gian, vào các mảng chạm khắc trang trí trong các đình làng quê lối xóm. Người Việt có câu ca dao:
Mồng bốn cá đi ăn thề
Mồng tám cá về cá vượt Vũ Môn.
Vũ Môn là nơi nào mà ca dao người Việt lại nói tới rõ ràng cả ngày tháng như một phong tục lâu đời vậy?

Sách Hà Nội địa dư do Dương Bá Cung soạn năm Tự Đức thứ 4 (1852) phần Sông Nhị Hà viết: … Có tên là Lô Giang hay còn gọi là sông Phú Lương. Nước sông cuốn theo phù sa sắc đỏ như son, tới mùa thu nước mới trong trở lại. Dòng sông bắt nguồn từ nội địa bên Vân Nam chảy xuống. Xét: sách Vũ Cống nói: “Dẫn nước sông Hắc Thủy đến núi Tam Nguy chảy nhập vào biển Nam Hải”. Nhà nho đời trước nói: “Có bốn dòng sông vùng Tây Di chảy về phương Nam ra biển, thứ nhất là Tây Nhị Hà”. Quế Đường Lê (Quý Đôn) viết: “Phủ Xa Lý có sông Lạn Thương và sông Cửu Long đều chảy vào Giao Chỉ, trở thành sông Phú Lương, tức là hạ lưu của sông Hắc Thủy vậy. Nước sông chia thành hai dòng chảy: một là sông Thao, một là sông Đà, hợp lưu ở ngã ba Bạch Hạc, gọi là sông Nhị Hà…

Tương tự, sách Hà Nội sơn xuyên phong vực thời Nguyễn cũng chép về sông Nhĩ Hà: Xét thiên Vũ Cống sách Kinh Thư có câu: “Dẫn nước sông Hắc Thủy đến núi Tam Nguy rồi ra biển Nam Hải”. Sái Phó dẫn lời của Phàn Xước đời Đường: “Có bốn dòng sông từ Tây Di chảy về phương đổ ra biển Nam Hải, một trong số đó là Tây Nhĩ Hà”. Ông Trình Tử nói: “Sông Hắc Thủy ở phía Tây đất Thục. Sông Nhĩ Hà và sông Hắc Thủy nối liền nhau, đổ thẳng ra biển Nam Hải”. Tra cứu sách Địa dư chí thì sông Nhĩ Hà bắt nguồn từ nội địa tỉnh Vân Nam. Vân Nam là đất Ba Thục xưa. Tra sách vở, bản đồ thấy phần đất nước ta nằm cách sông Hắc Thủy về phía Tây, như vậy là khớp với tên sông Nhĩ Hà nêu trên.

Các nhà Nho thời Nguyễn khi khảo cứu về sông Nhị Hà thường liên hệ với câu trong thiên Vũ Cống của Kinh Thư: “Dẫn nước sông Hắc Thủy đến núi Tam Nguy rồi ra biển Nam Hải”, và cho rằng Hắc Thủy đây là ngọn nguồn từ Vân Nam của sông Nhĩ Hà hay sông Hồng ngày nay. Vấn đề là thiên Vũ Cống nói về thời vua Đại Vũ của nhà Hạ Trung Hoa từ cách đây trên 4000 năm. Thế mà sao lại có nói đến con sông chảy qua Việt Nam và còn biết cả biển Nam Hải? Hạ Vũ ở chỗ nào mà có sông đổ ra biển Nam Hải (tức biển Đông)?

Không chỉ các nhà Nho nước Nam thời Nguyễn. Sách Đại Việt địa dư toàn biên của Nguyễn Văn Siêu – Bùi Quý (đầu thế kỷ 19) có bài Khảo cứu về nguồn lạch sông Nhị Hà, dẫn các tư liệu của Trung Quốc: Sách Lý Nguyên Dương Hắc thủy khảo chép rằng: Vũ Cống nói rằng: “dẫn nước sông Hắc Thủy đến núi Tam Nguy chảy vào biển”. Núi Tam Nguy chẳng biết ở đâu, cứ Lũng, Thục, Điền (Vân Nam) ba phương đứng chân đỉnh thì nước ở Lũng, Thục vốn không chảy vào biển. Duy 2 sông Lan Thương, Lô Giang ở tỉnh Vân Nam (Điền) đều phát nguyên từ Thổ Phồn chảy về phía Tây Bắc rồi chảy vào Nam Hải…

Hắc Thủy là dòng sông mà Đại Vũ đã khơi dòng trị thủy từ thủa hồng hoang. Vậy mà dòng sông này lại được xác định là thượng lưu của sông Nhĩ Hà (sông Hồng). Như thế rõ ràng Đại Vũ trị thủy chẳng phải ở đâu xa mà chính là ở vùng đất Bắc Việt ngày nay. Chỉ vì các chuyên gia sử địa cả ta và Trung Quốc không chịu nhìn nhận điều này nên mới vô cùng lúng túng khi so sánh cổ thư để khảo về dòng Hắc Thủy đổ ra biển Nam Hải. Đại Vũ mà trị thủy ở vùng trung lưu Hoàng Hà thì lấy đâu ra biển mà đổ (vì sông Hoàng Hà chảy lòng vòng ngược lên phía Bắc đổ ra biển Bột Hải), chưa nói gì còn đổ ra tận biển Đông (Nam Hải).

Nhà bác học Lê Quý Đôn trong sách “Kiến văn tiểu lục” đã ghi: “Dòng chính có một nhánh chảy xuống thành sông Hắc Thủy vào nước ta… đến sông Kim Tử thì nhập lại thành sông Đà. Sông này nước rất trong… Đường thủy khó đi với 83 ghềnh thác có tiếng hiểm trở mà Vạn Bờ là khó khăn hiểm trở nhất.

Còn nhà thơ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, người mà quê hương và bút danh gắn với vùng núi Tản sông Đà có bài thơ “Tự thuật” như sau, minh chứng cho tên Hắc Thủy (sông Đen) của dòng sông Đà:
Văn chương thời nôm na,
Thú chơi có sơn hà,
Ba Vì ở trước mặt,
Hắc Giang bên cạnh nhà.

Long Môn, nơi vua Vũ đã đục thông lòng sông Hắc Thủy, khơi dòng dẫn nước qua núi Tam Nguy về Nam Hải, là đoạn sông Đà chảy qua Thác Bờ nay ở tỉnh Hòa Bình, rồi vòng qua núi Ba Vì mà chảy vào sông Nhị Hà ra biển. Sách Đại Nam nhất thống chí đã chép như sau: “Ở địa phận Đà Bắc, gần châu lị, đằng trước trông ra sông Đà, có núi Long Môn, tên nữa là núi Thác Bờ, đá núi chắn ngang nửa dòng sông, thế nước xoáy mạnh ầm ầm, trông rất dữ dội. Đầu đời Lý, quân đi đánh Ma Sa đóng ở mỏm Long Thuỷ. Hồi đầu đời Lê đi đánh Đèo Cát Hãn, đường qua bờ Long Thuỷ, tức là chỗ này. Ngay giữa ghềnh đá có một chỗ rộng chừng 5-6 trượng, người ta gọi là Ao Vua, tức là bến sông Vạn Bờ xưa, thuộc xã Hào Tráng, châu Đà Bắc.”

Mỏm đá có bài thơ “Chinh Đèo Cát Hãn hoàn quá Long Thủy đê” (Chinh phạt Đèo Cát Hãn về qua bờ Long Thủy) của Lê Thái Tổ đề khắc tháng ba năm Nhâm Tý (1432) nay vẫn còn lưu trong khu di tích đền Thác Bờ. Đây là những minh chứng rõ ràng cho tên gọi Long Môn xưa của Thác Bờ trên sông Đà. Thác Bờ ở Hòa Bình xưa còn gọi là thác Vạn Bờ, được tạo bởi hàng trăm mỏm đá lớn nhỏ nhấp nhô như đàn voi khổng lồ giữa dòng sông Đà gầm thét ồn ào, sinh ra một kỳ khu hiểm lộ.

Sách Đại Nam nhất thống chí đã chép như sau: “Ở địa phận Đà Bắc, gần châu lị, đằng trước trông ra sông Đà, có núi Long Môn, tên nữa là núi Thác Bờ, đá núi chắn ngang nửa dòng sông, thế nước xoáy mạnh ầm ầm, trông rất dữ dội. Đầu đời Lý, quân đi đánh Ma Sa đóng ở mỏm Long thuỷ, hồi đầu đời Lê đi đánh Đèo Cát Hãn, đường qua đê Long thuỷ, tức là chỗ này. Ngay giữa ghềnh đá có một chỗ rộng chừng 5,6 trượng, người ta gọi là “ao vua”, tức là bến sông Vạn Bờ xưa thuộc xã Hào Tráng, châu Đà Bắc”…lại có tên núi nữa là núi Ngải.
Sách Đại Thanh nhất thống chí chép: “núi ở huyện Gia Hưng; trông ra sông cái…tương truyền trên núi có cây ngải tiên, mùa xuân nở hoa, sau khi mưa, hoa rụng xuống nước, con cá nào nuốt phải hoa ấy thì vượt được Long – môn mà hoá thành rồng. Nay núi Long môn châu Đà Bắc, trước mặt trông ra sông Đà, gần đê Long thuỷ, có lẽ là đấy”.

Như vậy, Thác Bờ trên dòng sông Đà còn có tên là Long Môn, là nơi có truyền thuyết “Cá vượt Vũ môn hóa rồng”. Vũ môn không phải là “cửa mưa” mà là cửa của vua Vũ (= Vua = Long). Long Môn hay Vũ Môn chính là nơi vua Đại Vũ nhà Hạ trị thủy, khơi thông dòng Hắc Thủy (tên khác của sông Đà) thời lập quốc người Việt Long Môn là nơi dòng sông Đà đổi dòng, chảy ngược lên phía Bắc để tránh dãy Ba Vì rồi đổ vào sông Thao và sông Lô tại ngã ba Bạch Hạc Việt Trì.

Còn theo các tư liệu như sách Giao Châu ký nói: “Có Long Môn (Cửa Rồng) nước sâu trăm tầm (phép đo đời nhà Chu 5 thước là một tầm), cá lớn vượt lên được đó thì thành rồng”. Sách Sơn Đường dị khảo nói: “Sông Long Môn ở huyện Gia Hưng, nước An Nam, nước sông đến đó, hai bờ cao ngất, đá lớn chấn ngang dòng sông, giữa mở 3 lối, nước tóe xuống như bay, cao mấy trượng, tiếng nước dội xuống, tiếng đá đập nhau kêu ầm ầm như trống thúc sấm vang, ngoài trăm dặm còn nghe tiếng. Thuyền đến đó, phải khiêng lên bờ mới đi được. Bên cạnh có hang và nhiều cá Anh Vũ. Chỗ sông sách kể đây tức là chỗ Thác Pha này đó”.

Núi Tam Nguy nơi sông Hắc Thủy dẫn nhập ra biển thời Đại Vũ cũng không phải ở Vân Nam. Khi xác định Long Môn là thác Vạn Bờ trên dòng sông Đà thì núi Tam Nguy không khó để nhận ra chính là ngọn núi Ba Vì, ngọn núi đã chắn dòng sông Đà ở Sơn Tây trước khi đổ ra ngã ba Bạch Hạc, Việt Trì.

Thời Đại Vũ cách đây trên 4000 năm, khi đó mực nước biển dâng cao hơn bây giờ. Căn cứ theo bậc thềm phù sa cổ để lại thì cửa sông đổ ra biển lúc này nằm vào sát vùng trung du ngày nay. Tam giác đồng bằng sông Hồng lúc đó là vùng bán ngập nước mà đỉnh của tam giác này là ngã ba Việt Trì. Do đó thời Đại Vũ ngã ba sông Bạch Hạc nằm không xa biển là bao nhiêu. Như thế câu chép của thiên Vũ Cống hoàn toàn chính xác với địa hình thủy văn ở vùng Bắc Việt lúc này: Dẫn nước sông Hắc Thủy đến núi Tam Nguy rồi ra biển Nam Hải. Tức là dẫn nước sông Đà đến ngã ba Bạch Hạc – Tam Đảo rồi ra biển Đông.

Bia đá có bài thơ “Chinh Đèo Cát Hãn hoàn quá Long Thủy đê” của Lê Thánh Tông ở Thác Bờ.

3. Vua Vũ là Tản Viên Sơn Thánh

Cuốn sách thờ cổ lưu truyền ở vùng chân núi Ba Vì là “Tản Viên Sơn từ di tích” có đoạn sau: “Thời Đường Nghiêu, hồng thủy bao trùm. Lạc Long Quân sai trăm người con trai cùng nhau trị thủy. Khi đó chỉ có Tản Viên đại vương có oai anh võ dũng, đức cao đạo lớn, có thuật thần tiên, bèn đọc ước chú làm cho đá vỡ tung, hiện thành cây gậy sắt, lấy gậy đó mà chỉ vào nước thì nạn thủy tai liền hết.”

So sánh đoạn sự tích này với truyền thuyết Trung Hoa cổ đại thì bất ngờ nhận ra rằng vua Đại Vũ trị thủy thời Đường Nghiêu chính là Tản Viên Sơn Thánh ở vùng núi Ba Vì. Sông Hắc Thủy, nơi Đại Vũ dùng “thuật thần tiên” bạt đá trừ thủy hoạn, vốn là tên của dòng sông Đà.

Hắc Thủy chính xác là sông Đà vì Đà = Đen = Hắc. Thượng nguồn sông Đà từ Vân Nam. Dòng sông trị thủy của Đại Vũ là sông Đà nên Đại Vũ chẳng phải ai khác chính là Tản Viên Sơn Thánh trong truyền thuyết Việt. Tản Viên quê ở Lăng Xương (Thanh Thủy, Phú Thọ) và thành nghiệp ở núi Ba Vì, đều là những nơi ở 2 bên tả và hữu ngạn dòng sông Đà – Hắc thủy này cả. Dòng sông Đà chảy tới ngã ba Bạch Hạc (Việt Trì) đổ nhập vào với sông Thao và sông Lô thành sông Hồng (Nhị/Nhĩ Hà hay Phú Lương), rồi chảy ra biển.

Sách “Kiến văn tiểu lục” của Lê Quý Đôn còn chép: “Thác Bờ ở địa phận động Dĩ Lý và Hào Trang thuộc Mộc Châu. Một ngọn núi đứng sững giữa dòng sông Đà. Đá lớn lởm chởm. Mỗi năm đến ngày 8 tháng 4 từng đàn cá ngược dòng bơi lên những chỉ có vài con cá chép là lên được. Sách Giao Châu ký viết rằng: Có Long Môn nước sâu đến trăm tầm, cá lớn vượt lên đến đấy sẽ hóa thành rồng. Sách Sơn Đường dị khảo viết: Sông Long Môn ở huyện Mông, phủ Gia Hưng, nước An Nam. Nước sông chảy đến đấy thì hai bên bờ đá lớn chắn ngang, nguy hiểm. Ở giữa mở ra ba đường, nước tung tóe, bay xa đến mấy trượng, ầm ầm như sấm dội trống vang, xa hơn trăm dặm mà vẫn còn nghe được. Đến đây thuyền phải kéo lên bờ mới đi được. Bên cạnh có hang lắm cá Anh Vũ. [Chỗ các sách trên nói tới] chính là đây… Hạ lưu của Vạn Bờ… có núi Ngải, ngó xuống sông Đà. Bờ bên kia là xứ Ngòi Lạt. Tương truyền trên núi có thứ cây ngải tiên, về mùa xuân hoa trôi xuống sông, đàn cá nào hớp được là lên được Long Môn hóa rồng.” 

Vũ Long Môn là Thác Bờ trên sông Đà, nơi Tản Viên Sơn Thánh đã khơi dòng trị thủy. Xứ Ngòi Lạt là quê hương của Sơn Thánh, nằm 2 bên bờ sông Đà ở đoạn giáp núi Ba Vì. Truyền thuyết ở Ba Vì kể Ngòi Lạt là đường nước mà Thủy Tinh đã mở để đánh tập hậu vào mặt Tây núi Tản. Nơi đây Sơn Tinh dùng lạt hóa ra lũy tre, cắm chông đá (Đá Chông) để chặn quân của Thủy Tinh. Cửa Ngòi Lạt chảy từ núi Tản ra sông Đà nay là Xóm Lặt, nơi có đền Hạ thờ Tản Viên Sơn Thánh ở xã Minh Quang, huyện Ba Vì. 

Hình tượng cá vượt Vũ Môn là một lời thề, là tấm gương ngàn năm của Tản Viên Sơn Thánh, vị vua lớn thời lập quốc, đã tìm tòi sáng tạo ra những tri thức về thế giới và nhân sinh (Hà đồ, Ngũ hành), nhờ đó nỗ lực vượt qua thiên tai, xây dựng cuộc sống ấm no cho nhân dân, đưa xã hội người Việt ở thủa hồng hoang phát triển lên một nấc thang mới.

So sánh với chuyện vua Vũ trong thần thoại Trung Hoa: “… Vũ đang đứng trên bờ quan sát sức mạnh của dòng nước thì thấy một ông già mặt trắng trẻo, mình cá, nhảy lên từ dòng sông… Ông già tự xưng là Hà Bá. Vị thần này cho Vũ một phiến đá to màu xanh… Đó chính là Hà đồ”. Rồi tiếp theo còn có chuyện Vũ gặp một con rắn thần ở trong hang, rắn dẫn Vũ tới gặp Phục Hy và Phục Hy trao cho Vũ một thanh Ngọc giản, có thể đo đạc được trời đất.

Chuyện Sơn Tinh được gậy thần sách ước và chuyện Đại Vũ được Hà đồ, Ngọc giản chỉ là một. “Ông già mặt trắng” có thể chính là Thái Bạch Thần Tinh. Thái Bạch = Thái Hạo (Hạo là sáng, bạch), cũng là tên khác của Phục Hy trong truyền thuyết. Phục Hy tương truyền có mình rắn. Phục Hy là người tìm ra Bát quái nên hoàn toàn có thể Phục Hy chính là Thái Bạch Tử Vi thần tướng. Phục Hy là vị thần chấn Đông nên cũng có thể là Long Vương Động Đình.

Theo truyện Dịch thì Phục Hy là người đã chép Hà đồ từ lưng con Long Mã (= con rồng, rắn thần). Còn vua Vũ vẽ Lạc Thư từ lưng con Thần Quy. Có thuyết khác lại cho rằng cả Hà đồ lẫn Lạc thư đều do Đại Vũ nghĩ ra. Dù thế nào thì rõ ràng phép thần của Tản Viên Sơn Thánh chính là Hà Lạc, được tiếp thụ từ tiền nhân và sáng tạo thêm trong quá trình trị thủy.

Nhờ có sự học hỏi, suy ngẫm về thế giới và xã hội, đúc kết nó trong cuốn Sách ước ngàn đời là Hà thư, Kinh Dương Vương – Tản Viên Sơn Thánh đã thành công trong trị thủy, an dân, chống giặc. Đó cũng là ý nghĩa của câu “Long hóa Vũ Môn”, cá vượt Vũ Môn hóa rồng, như bức giả sơn đắp tại đền Và.

Lĩnh Nam chích quái, Truyện núi Tản Viên: “Đại vương Sơn Tinh họ Nguyễn, cùng vui với các loài thủy tộc ở đất Gia Ninh, huyện Phong Châu”. Còn “Việt sử lược” về sự thành lập của nước Văn Lang: “Đến thời Trang Vương nhà Chu ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng ảo thuật áp phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang, hiệu là nước Văn Lang, phong tục thuần hậu chất phác, chính sự dùng lối kết nút. Truyền được 18 đời đều gọi là Hùng Vương”.

Tới đây ta hiểu, “người lạ dùng ảo thuật ở bộ Gia Ninh” đã áp phục các bộ lạc chính là Tản Viên Sơn Thánh, người đã tập hợp nhân dân Việt trong cuộc đấu tranh chống nạn hồng thủy. Phép “ảo thuật” ở đây không gì khác là Hà đồ và Lạc thư, là Dịch học của người họ Hùng. Quốc tổ họ Hùng không phải là một thầy phù thủy, mà là một nhà khoa học vào thuở bình minh của dân tộc.

Giả sơn Long hóa Vũ môn ở đền Và, Sơn Tây.

3. Kinh Dương Vương là vị Nam Thiên Thánh Tổ Tản Viên Sơn Thánh

Truyện họ Hồng Bàng chép: “Kinh Dương Vương để trị đất Nam, lấy hiệu nước là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương có tài đi dưới Thủy phủ, lấy con gái Long Vương ở hồ Động Đình, sinh ra Sùng Lãm hiệu là Lạc Long Quân, cho nối ngôi trị nước. Kinh Dương Vương không biết đi đâu mất.

Kinh Dương Vương được Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả thời Lê Đại Hành xếp là vị vua Hùng đầu tiên (Hùng Dương Vương), mở đầu các đời Hùng Vương. Các ngọc phả thời Hậu Lê cũng thường có bài thơ tán mở đầu rằng: “Sơ khai Nam Việt hữu Kinh Dương”. Còn Tản Viên Sơn Thánh cũng là một trong số những người con đã theo cha xuống biến, tương đương với thời đầu của các đời Hùng Vương, như Lĩnh Nam chích quái chép: Theo sách Thế Pháp tập thì: Xưa Lạc Long Quân và Âu Cơ sinh một bọc trăm trứng, mỗi trứng nở ra một người con trai. Long Quân đem 50 con về dưới bể. 50 con cùng ở với Âu Cơ phân nhau trị thiên hạ, hiệu là Hùng Vương. Mà đại vương núi Tản Viên chính là một trong năm mươi người con đi xuống bể, không phải là hạo khí của núi tụ nên vậy.

Tản Viên Sơn Thánh ở các di tích thờ phụng hiện nay (như ở đền Và, Sơn Tây, Hà Nội) được tôn là Nam Thiên Thánh Tổ. Vị Thánh Tổ khai mở trời Nam cũng chính là Kinh Dương Vương, người đã được vua cha Đế Minh phong cho cai quản phương Nam theo Truyện họ Hồng Bàng. Tản Viên Sơn Thánh đã được người mẹ nuôi là Ma Thị Cao Sơn Thần nữ lập chúc thư giao lại toàn bộ miền rừng núi cho cai quản. Bà mẹ Ma Thị Cao Sơn như vậy tương ứng với tên Cao Sơn (Ất Sơn) của Lộc Tục Đế Thuấn như đã trình bày trong bài trước.

Kinh Dương Vương vâng mệnh vua cha (Đế Minh) đi tuần thú ở Ngũ Lĩnh, làm vua phương Nam. Còn Tản Viên Sơn Thánh cũng có một vùng di tích được gọi là Ngũ hành cung Tản Viên ở miền Sơn Tây. Tản Lĩnh ngọc ký (ngọc phả về Tản Viên Sơn Thánh) chép: [Sơn Thánh] khi đó hoặc dạo chơi trên sông Tiểu Hoành, ngắm cảnh thú vị sông nước mênh mang. Đi qua đất các xã Cổ Đằng, Tam Sơn, Vật Lại, huyện Ma Nghĩa, ngắm nhìn vẻ đẹp núi sông, lập làm hành cung (nay là điện Trung thần cung). Lại đi qua 8 xã Thụy Diễm, Tam Sơn, Lễ Toàn, Nhân Lý, Văn Khê, Xuân Hương, An Phúc, Tùng Cao của huyện Phúc Lộc, lập thêm Nam thần cung ở cửa 12 khe của Bể Cạn. Lại thường đi săn tới xã An Diệu, huyện Mỹ Lương, lập cung điện Mang Sơn, rồi giữ ruộng thờ (72 mẫu nay tại xã An Diệu, và 200 mẫu nay ở xã Đông Triều làm dân tạo lệ) để cung cấp cho hậu thế làm hương lửa phụng thờ. Đến khi về đến núi Tản Viên. Động cũ là nơi đất này, ba ngọn núi vượt lên, vạn nhẫn cao vời, tốt đẹp u sảng, khó có thể tả hết. Lại thêm xóm thôn đông đúc, phong tục chất phác. Sơn Thánh rất yêu mến, bèn thiết lập trên đỉnh núi, thuộc đất Thủ Pháp 22 xóm (nay Thượng thần cung tọa Càn hướng Khôn là chính điện; Trung, Hạ thần cung là nơi cầu đảo; Đông thần cung là nơi yết kiến; Nam thần cung, Bắc thần cung là nơi trú ngự). Từ đó tuân mệnh Thượng Đế thường cùng với Tứ phủ Công đồng ở hải đảo mà đi tuần xem vạn sự trong nhân gian.

Hùng Vương Thánh Tổ ngọc phả thời Nguyễn chép: Ngày sau Vua (Kinh Dương Vương) lại đi tuần thú, rong ruổi xem khắp các nơi sông núi, đến xứ Sơn Tây thấy một nơi địa thế trùng điệp, sông đẹp núi lạ, non nước đúc thiêng. Vua bèn thân ngự giá lên núi, tìm mạch đất, nhận thấy khí mạch từ núi Côn Lôn xuất ra, theo từ động Vân Nam, Ngũ Lĩnh của nước lớn tiếp gặp Ải Môn Thủy Đỗ của sông Ngưỡng Đức, nước phân ra như hình chữ Bát…

Sự kiện Kinh Dương Vương đã đến vùng “Sơn Tây” nhìn thế đất, chọn long mạch và lập ra kinh đô tại Phong Châu, cũng là Tản Viên Sơn Thánh đã lập hành cung ở Ngũ Lĩnh. Dấu vết của cuộc đi tìm đất đóng đô này còn lưu tại di tích đình Cả Cao Bang ở vùng đất tổ tại thị xã Phú Thọ. Tại đình có bức hoành phi khác đề: Nguyên quốc Việt quang cơ, tạm dịch là: Rạng nền móng ban đầu của nước Việt. Ở đình còn sự tích rằng vua Hùng đã dừng chân tại đây, bên bờ sông Thao mà suy ngẫm và quyết định đóng đô tại Phong Châu. Nay ở đình Cả Cao Bang còn có phiến đá in sâu 2 dấu chân vua Hùng chọn đô.

Đình Cả Cao Bang còn có một bức đại tự, trước làm bằng đá đã bị hủy hoại trong chiến tranh, nay được làm lại bằng gỗ đề: Khởi bang thư vương. Tương truyền nơi đây là nơi Vua Hùng đã nhận được “Sách trời” để khởi dựng đất nước. Do vậy đình Cả Cao Bang còn gọi là đình Thư. Sự kiện vua Hùng (tức là Kinh Dương Vương) có được cuốn Thiên thư lại tương đồng với chuyện Tản Viên Sơn Thánh có được cuốn Sách ước của Long Vương Động Đình. Chính cuốn sách ước này đã giúp cho Sơn Thánh giành thắng lợi trong cuộc chiến với Thủy Tinh, tức là trong công cuộc trị thủy khi đó.

Điểm tương đồng khác để xác nhận rằng Kinh Dương Vương cũng là Tản Viên Sơn Thánh là việc Kinh Dương Vương có tài đi dưới Thủy phủ rồi lấy Thần Long, con của Động Đình Đế Quân. Còn Tản Viên Sơn Thánh khi ở bãi Trường Sa bên sông Đà đã cứu được con rắn thần là con của Long Vương Động Đình. Sau đó Long Vương mời Sơn Thánh xuống thăm Thủy cung và tặng cho cuốn sách ước, cho con của mình là Thủy Tinh kết bạn, tiễn Sơn Thánh về bằng bài thơ đầy tấm chân tình tương tư:

Không gặp làm sao có kiếp sinh
Khi đi là nghĩa, về là tình
Quay lên đỉnh Thứu, người còn vọng
Trở lại cung Rồng, khách chẳng đành
Một dải âm dương đôi tách ngả
Chín trời mây nước mộng ba canh
Tạm biệt cửa sông hai mắt dõi
Tương tư chốn ấy bởi xa tình.

Sự trùng khớp về thời gian (thời đầu Hùng Vương), tên gọi (Nam Thiên Thánh Tổ), khu vực cai quản và lập đô thành (Sơn Tây, Ngũ Lĩnh), phép thuật (Thiên thư – Sách ước) và cùng lấy con của Động Đình Đế Quân đã chứng minh rõ ràng rằng Kinh Dương Vương, vị vua Hùng mở đầu thời kỳ Kinh triều, đã được người Việt tôn thờ dưới tên là Tản Viên Sơn Thánh. Cùng với việc vua Đại Vũ trị thủy ở Long Môn Thác Bờ trên dòng sông Đà Hắc thủy thì thật rõ ràng Kinh Dương Vương vị vua đầu của Kinh triều Hùng Vương cũng là vua Đại Vũ, người được coi là mở đầu Hoa Hạ trong lịch sử.

Hoành phi Nam Thiên Thánh Tổ ở đền Và, Sơn Tây.
Dấu chân vua Hùng lập đô ở đình Cả Cao Bang, Tx. Lâm Thao, Phú Thọ.
Tượng cổ Tản Viên Sơn Thánh ở đền Đỗng Hoa, Thạch Thất, Hà Nội.
Núi Tản và dòng sông Đà.

Ngọc phả cổ chép về vị Cao Sơn Hiển Ứng Đại vương là công thần triều Hùng Huy Vương họ Việt Thường

Dịch từ thần tích làng Yến Vỹ, tổng Phù Lưu Thượng, phủ Mỹ Đức, tỉnh Hà Đông.

Bộ Thượng đẳng, thứ Sáu.

Xưa Hùng Vương Sơn nguyên Thánh Tổ Tiền Hoàng đế ngôi báu trời Nam mở tạo cơ đồ là thủy tổ Việt Nam, khai sáng họ Hùng Cổ Việt Thường 18 đời thánh vương ngự trị trời Nam, lập nên cơ đề to lớn của nước Việt. Nước biếc một dòng khởi đầu vận vua sáng thánh đế. Núi xanh vạn dặm dựng nền móng cung điện đô thành. Nuôi vật giúp người, thống quản 15 bộ, thế lớn trấn áp các chư phiên. Kế nối ngôi báu ở đất Viêm Hồng. Làm vua trị nước hơn ba ngàn năm. Mãi giúp tông phái vững như bàn đá. Hiển ứng linh thiêng ở Nghĩa Lĩnh. Truyền trăm đời đế vương ngự trị, muôn năm điện thánh núi Hùng, đất tổ trời Nam. Cơ đồ của đất nước mãi giữ muôn năm, vạn thế bền lâu. Lập miếu điện, cung lăng, con cháu dòng dõi hoàng gia tông phái, công thần lớn nhỏ phân đóng ở các nơi, giữ 15 bộ.

Khi ấy Lạc Long Quân lấy Âu Cơ là chính cung, sinh được một bầu trăm trứng, nở ra điềm trăm trai, đều là anh hùng trùm đời, trí dũng vượt người. Đến khi trưởng thành Vua bèn kiến phong hầu, lập phiên thuộc. Một là Sơn Tây, hai là Sơn Nam, ba là Hải Dương, bốn là Kinh Bắc, năm là Ái Châu, sáu là Hoan Châu, bảy là Ai Lao, tám là Ô Châu, chính là Bố Chính châu, mười là Hưng Hóa, mười một là Tuyên Quang, mười hai là Cao Bằng, mười ba là Lạng Sơn, mười bốn là Quảng Tây, mười lăm là Quảng Đông. Dấu tích đều không thể mất. Người đời sau có thơ khen rằng:

Nam thiên triệu tạo lập Hùng gia
Công đối càn khôn triệt hải hà
Thập bộ sơn thần giai đế tử
Diệc đồng miêu duệ thử vương gia.

Lại nói, triều Kinh thứ sáu truyền đến Huy Vương tại vị, đóng đô ở Việt Trì bên sông Bạch Hạc, lập nước tên là Văn Lang, kinh đô là thành Phong Châu. Huy Vương mới lên ngôi trong nước còn thiếu thốn, nên cái đức của vua lấy việc chuyên lo giáo dưỡng nhân dân làm gốc. Việc giao du tửu sắc, mê cảm tin vào thần tiên sao không phải là đức mất nước của hôn quân. Nên chăm lo bồi đức, giúp người, trợ nghèo, dưỡng lão. Đương thời đều gọi là bậc vua hiền vậy.

Lại nói khi đó nước ta tương truyền ở xã Vĩnh Thế huyện Siêu Lại phủ Thuận An xứ Kinh Bắc có một vị chủ trưởng một phương, họ Hùng tên Ân (cũng là dòng dõi Hùng Vương, kế nối quan lang, lấy vợ người cùng xã họ Nguyễn tên Liễu, đều là thuộc bộ Sơn thần). Qua được năm năm, loan phượng hòa hợp, sớm có điềm ứng thẻ ngọc. Nàng Liễu từ đó có mang. Đến khoảng tháng Ba một hôm đi đến chùa trên núi Phật Tích, bỗng thấy trên trời có ba đám mây, bên trong sáng rực rỡ. Được một lúc lại thấy có hổ vàng hai tay ôm lấy nàng Liễu chạy thẳng lên núi.

Từ  đó ông Ân nhớ nhung người vợ, buồn bã đi lên đỉnh núi, trong lòng tưởng nhớ, mắt nhìn ngang dọc tìm kiếm. Bỗng nhiên thấy có hổ vàng nằm ở trên gò đất dưới gốc cây to, cây cỏ um tùm. Nơi đó có tiếng người cất lên như tiếng vợ của ông, nói rằng:

  • Thiếp vốn là con gái Sơn thần, kết duyên cùng với lang quân làm vợ chồng thật vui mừng. Hình hổ sớm ứng điềm đến lúc phải trở về. Than ôi! Đạo trời như vậy không thể thay đổi. Thiếp xin từ biệt. Nay Thiên đình và Dương gian hai ngả, ơn sâu chưa báo, nhân duyên như vậy tình không nên lời. Nay thiếp đã đến kỳ mang thai, sinh được một người con cốt hổ, cũng là khí chung đúc của thiếp và chàng, xin được đưa về Dương thế cùng với chàng cho chàng được vui lòng, ghi khắc một điều tình thâm với chàng, sao không phải là thứ quý báu của gia đình vậy. Xin chàng hãy biết cho.

Ông Hùng nghe vậy đưa mắt nhìn vào trong thân cây lớn, không thấy có ai, chỉ có một con hổ vàng, lông 5 màu phủ khắp người nằm đó. Ông Hùng cúi đầu đi đến thì hổ biến mất. Ông đến nơi hổ nằm thấy có một bọc bầu lớn. Ông nhớ lại lời vừa nghe được liền hai tay ôm lấy bọc đó cất vào trong tay áo. Lại thấy có một phong thư trên giấy hồng. Ông bèn mở ra xem, thấy có bốn câu rằng:

Phong thư hảo tín giáng nhân gian
Lang quân đắc tự khán sơn thần
Xuất thế dĩ phù an xã? tắc?
Giao hồi nguyện báo dĩ thừa hoan.

Ông xem xong thì biết là người vợ đã ứng hiện, bèn đem bọc bầu trở về. Qua được 3 tháng 25 ngày, hôm đó trời đất tối tăm, sấm chớp rầm rì. Trên sông sóng nước cuộn dâng. Cây lớn trên rừng đều gãy đổ. Ông lấy làm sự lạ mà bọc bầu lớn không thấy nở. Ông bèn dùng gậy đập vào cũng không nứt ra. Ông Hùng ngạc nhiên bèn đặt bọc bầu đó ở nơi ven núi để chờ xem. Qua được khoảng 14 ngày đến giờ Ngọ ngày mùng 6 tháng Ba năm Canh Tuất bọc bầu vỡ nở ra một người con trai, mặt vuông tai to, lưng rộng vai dài, tay dài quá gối, dưới chân có dải lông, sau lưng lại có 28 điểm tinh tú. Vào ngày khi sinh hương thơm bay ngào ngạt. Lại thấy có hổ vàng từ trên núi chạy đến nơi sinh. Lại thấy trăm muôn thú đều đến chầu nơi đó. Bỗng thấy trời đất mờ mịt, mây xanh giăng giăng, mưa gió thổi đến. Được một lúc thì trời đất trong sáng trở lại. Xuất hiện người con trai có tướng mạo đường đường, dáng vẻ lẫm liệt.

Lại nói, ông Hùng lấy làm lạ, quả nhiên trời đã báo phúc. Ngay hôm đó (là mùng 5 tháng Năm) truyền cho gia thần cùng quân lính mổ trâu làm lễ tế trời đất, bách thần. Đang khi khấn tế bỗng thấy có một vị thần tướng cao lớn từ trên trời hạ xuống đàn, đầu đội mũ hoa, thân mặc áo hoàng bào, giáp vàng, tay cầm một đôi kiếm báu, đứng tại trong mây mà nói với ông Hùng rằng;

  • Nay Thiên đình cử ta xuống để báo cho ông biết. Vợ chồng ông tích đức thật là đã nhiều năm. Hoàng thiên soi tỏ. Hôm nay ta đem kiếm báu đến giao cho con của Hùng Vương. Đợi đến ngày sau tất sẽ làm được việc giúp nước cứu dân.

Nói chưa dứt lời thì đem kiếm báu, cung thần trao cho ông. Ông đang muốn hỏi thì thần tướng bỗng nhiên biến mất. Ông chợt tỉnh lại, biết quả là Thiên thần xuống báo. Khi đó trong lòng bàng hoàng, sợ hãi, nói với các gia thần binh sĩ rằng:

  • Nay Thiên đình đã cho Sơn thần xuất thế, đầu thai vào làm con nhà ta, không phải người thường trên nhân gian. Chi bằng tìm riêng lấy một nơi đất tốt để nuôi dưỡng tới lớn. Từng nghe nói rằng nơi thắng cảnh trời Nam (tức động Hương Tích) là nơi mà Quan Âm đã xuất thế tại đó, là chốn quần tiên mở hội đánh cờ vây.

Dứt lời bèn truyền gia thần sắm sửa ba mâm cỗ chay cùng hương hoa các đồ (hôm đó là ngày 16 tháng Hai) đi đến xã Yến Vĩ huyện Hoài An phủ Ứng Thiên làm lễ cúng Phật. Giao phó người con cho vị sư tên là Đạo Quang Hòa thượng. Hòa thượng thấy thể mạo phi thường như sơn thần xuất thế, nên xem như anh em sinh cùng bọc. Khi ấy gia thần cùng nhân dân xây nhà và ở ấp đó để phụng dưỡng. Qua được 5 năm nhà sư cùng với ông Hùng đặt tên cho người con là Hiển Quan.

Đến khi trưởng thành tuổi khoảng 15, khi đi ngoài đường hay lên núi thì trên đỉnh đầu có đám mây che trùm phúc, đều giống như hình chiếc ô mây vậy. Khắp một vùng trong sáng, mây bay mưa rơi, sấm động mây theo. Nhân dân thấy vậy đều sợ phục. Hiển Quan vốn thông minh, thiên tư trí tuệ, văn võ toàn tài, lòng nhân đức to lớn.

Khi ấu do vua có đức không tốt nên Thiên đình giáng tai ương. Thiên hạ hạn hạn lớn, hoa màu khô héo. Nhân dân ốm đau, khắp nơi trong nước đều thiếu thốn. Khi đó Vua bèn ban chiếu mở khoa thi tuyển tìm người hiền lương phương chính, hiếu đễ cùng với văn chương quảng bác, văn võ toàn tài. Hôm đó Hiển Quan đi thi tuyển cùng với Đông Hải Quan ở Thủy bộ, người ở vùng biển, cùng đến ứng tuyển. Lúc đó Vua nằm mộng lên trên chốn Thiên đình. Thượng Đế hạ chiếu cho Hiển Quan thuộc Sơn bộ cùng với Đông Hải Quan chính ở Thủy bộ để giúp cho công đức của Vua, để bảo vệ nhân dân.

 Vua nghe vậy mới tỉnh lại thì biết là mộng báo. Đến sớm ngày có hai vị quan đến trước bệ rồng ứng tuyển. Vua thân hỏi xét, thấy tâu đáp trôi chảy, không gì là không hiểu. Vua trong lòng rất vui mừng, nhớ tới điềm báo trong mộng thấy đúng là những người này. Vua bèn nói rằng:

  • Đúng là Sơn thần đã giáng thế để giúp nước cứu dân. Trẫm sẽ cho dựng một đàn trai giới, lệnh cho ông cầu đảo xin trời cho được mưa xuống để tưới cho hoa màu được tươi tốt, cứu nhân dân khỏi đói khát. Nếu quả được như trong giấc mộng của Trẫm thì khanh đúng là vị Sơn thần đó vậy.

Vua bèn cho lập đàn, sai Hiển Quan cầu đảo. Được một lúc thì mưa từ trên trời tuôn rơi, mây mù mù mịt, gió sấm cùng nổi lên. Vua sợ hãi, biết ông đúng là Sơn thần giáng đến để giúp nước. Bèn bái ông là Tư Mã quan, kiêm cả Thủy bộ. Được vài năm thì bái làm Đại tướng quân thống lĩnh cả Thủy đạo và Sơn bộ. Lại cho Yến Vĩ làm ấp thang mộc, lĩnh quản ba vùng Sơn Nam, Sơn Tây và Hải Dương, trấn giữ các đầu non góc biển, đều giao cho Hiển Quan nắm giữ.

Qua hơn mười năm. Lại nói, khi đó có Thạch Linh Thần tướng khởi binh phương Bắc đến xâm phạm nước Nam. Chiêng trống động trời, cờ xí rợp đất. Vua bèn sai sơn thần Hiển Quan dẫn quân đến chống cự ở đạo Sơn Nam. Lại sai Đông Hải Quan dẫn quân đến cự chiến ở miền duyên hải. Ông bèn lĩnh binh tiến thẳng đến Yến Vĩ huyện Hoài An phủ Ứng Thiên, lập một đồn doanh ở nơi gò đá hình con rùa (trước có 3 ngọn tam thai, bên trái có dòng nước nhỏ uốn quan, phía sau có 5 ngọn núi nhỏ chầu về chính cung, hai bên đều quay về chầu). Ông nói với nhân dân (tức là ấp thang mộc của ông xã Yến Vĩ) đến làm lễ bái mừng (là ngày mùng 6 tháng Giêng). Khi đó ông đang giữ trận chống giặc ở đất này đã được 3 năm. Ông thường sắp sửa cỗ chay, hương hoa ngũ vị, dâng hương làm lễ ở chùa Thiên Trù, cầu khẩn trời đất, núi sông, tinh tú cùng đến giúp nước, hỗ trợ cho được thành công dụng.

Khấn xong bỗng thấy trên trời vang lên ba tiếng sấm, ánh chớp khắp nơi. Ông bèn dẫn quân ra đánh giặc. Tất cả hơn mười hiệp mà không phân thắng bại. Ông bèn lên ngựa, tay cầm một đôi kiếm báu xông vào đồn chính của giặc. Quân Ân chạy tan tác, không dám xâm phạm nữa. Chỉ có đồn doanh của ông ở huyện (tức huyện Hoài An) đều được yên ninh, nhân dân yên lành. Còn các nơi khác đều nổi loạn. Vua vô cùng lo lắng bèn lập đàn cầu đảo trời đất. Quần thần hội chầu ở đàn ba ngày. Mưa gió nổi lên. Bỗng thấy có một lão nhân cao hơn 10 trượng, râu tóc bạc trắng (tức là Lạc Long Quân hiện xuống), giáng đàn giúp nước. Vua thân ra đón vào, mới hỏi kế sách dẹp giặc. Lão nhân bèn nói:

  • Nếu như cầu được người này thì giặc Ân tất sẽ dẹp yên được.

Vua lại hỏi:

  • Cầu ở nơi nào?

Lão ông bốc một quẻ bói, hồi lâu mới nói:

  • Hãy đến làng Phù Đổng quận Vũ Ninh hô rằng: Quốc gia gặp nạn, giặc Ân đến xâm chiếm.

Thiết Xung Thần tự nhiên sẽ mở miệng nói với sứ giả rằng:

  • Xin về báo với vua đúc cho một con ngựa sắt, một chiếc roi sắt. Đem đến đây cho ta. Vua sẽ không phải lo về giặc Ân nữa.

Sứ giả nghe vậy liền vội về triều tâu lại với Vua. Vua rất vui mừng bèn cho đúc ngựa sắt, roi sắt cùng với 10 bộ Sơn thần và 10 bộ Thủy thần. Hôm đó vua bái Hiển Quan là Cao Sơn Đại vương thống lĩnh 16 châu động cùng với Đông Hải Quan ở Thủy bộ theo Thần Vương đi dẹp giặc. Ngày đó vua đem ngựa sắt, roi sắt ban cho Thần Vương. Thần Vương (tức Phù Đổng Thiên Vương) liên nhảy lên ngựa. Ngựa chạy như bay. Sai quan quân đi theo sau. Thần Vương mới hô to một tiếng rằng:

  • Ta là Thiên tướng đây.

Chốc lát đã tới chân núi Vũ Ninh miền Yên Việt, cùng với cá bộ sơn thủy đánh một trận. Bỗng thấy trời đất mù mịt, sông núi tinh tú đều sa xuống, thủy phủ đều nổi lên. Thiết Xung Thần Vương đầu tiên bắt sống được Thạch Linh Thần tướng, chém tại chỗ. Hai bộ sơn thủy truy sát quân Ân, hơn năm ngàn các tướng cùng quân sĩ đều tận trừ. Một trận quét sạch. Quân giặc tự được dẹp yên. Thần Vương cưỡi ngựa sắt về thẳng đến núi Sóc huyện Kim Hoa thì bỏ áo, xuống ngựa, theo mây mà bay đi. Nay hiện vẫn còn dấu tích. Vua bèn phong là Phù Đổng Thiên Vương, có sự tích riêng.

Lại nói, Hiển Quan dẹp giặc thanh bình, dẫn quân mã trở về triều phụng chầu. Vua bèn bái là Chưởng nội các quân sự. Qua 6 năm sau khi đó Hiển Quan dập đầu bái tạ trước vua, thỉnh xin được về cung ấp để nghỉ ngơi, không dám tham gia vào quốc sự nữa. Vua bèn ban cho năm trăm nén vàng bạc, một chiếc áo gấm. Lại cho xã Yến Vĩ làm ấp thang mộc. (Hôm đó là mùng 6 tháng Mười) Hiển Quan lĩnh mệnh đường đường trở về cung ấp. Lại nói, khi ấy Hiển Quan ngồi thuyền rồng về đến cung ấp (tức là cung trước đây ở xã Yến Vĩ) bèn mở tiệc mừng. Qua một tháng sau mới nói với phụ lão nhân dân rằng:

  • Dân với ta tất đã thành nghĩa cũ, không phải tình ngày một ngày hai.

Nói xong, nhân dân tâu rằng:

  • Ơn như núi cao biển rộng.

Nhân dân tâu xong, ông lại cho 5 nén vàng. Nhân dân đều nhận mệnh đó. Hiển Quan bèn ngâm một bài thơ luật rằng:

Nhất đường tụ hội hoán tinh thần
Vạn cổ hương yên tại xã dân
Tuy thị tuý trung hoan ẩm ngữ
Tình lưu Yến Vĩ ức niên xuân.

Ngâm xong bỗng thấy trên trời có 7 tiếng sấm rền, trời đất mờ mịt, ban ngày mà như đêm. Lại thấy từ trong thân ông có hổ vàng nhảy ra, bay thẳng lên trời. Hiển Quan biến mất. Binh sĩ và nhân dân làm biểu dâng tấu lên vua (tức giờ Thân ngày mùng 6 tháng Mười một năm Giáp Thìn thì ông hóa). Vua nghe vậy liền sai sứ thần đem sắc chỉ về dân, sửa sang lại cung sở đền thờ. (Tức ngày mùng 6 tháng Giêng) nhân dân đón sắc chỉ về dân làm lễ khánh hạ để phụng thờ. Đáng phong thêm 4 chữ.

– Truy phong Cao Sơn Hộ quốc Tế thế Đại vương, cho phép xã Yến Vĩ huyện Hoài An phủ Ứng Thiên là đền chính phụng thờ.

– Truy phong Cao Sơn Đại thánh Sơn Hổ Đại vương cùng các nơi 72 đền có tích riêng.

Lại nói đến bốn triều Đinh Lê Lý trần khai sáng hồng đồ thường có giúp nước cứu dân anh linh hiển ứng nên các đời đế vương phong thêm mỹ tự, cùng với nước nhà hưởng phúc, mãi là thức lệ, sự tích không thể mất đi.

Phụ khai các ngày sinh hóa cùng các tiết lễ lệ khai như sau:

– Triều Lê phong ba chữ mỹ tự, đáng phong thêm, nhất thiết cấm màu vàng, cùng với các chữ húy nhất thiết cấm là Hổ, Hiển. Phong là Cao Sơn Đại Thánh Sơn Hổ Tế thế Đại vương

– Phong là Cao Sơn Hộ quốc Cứu dân Cương đoạn Thông minh Chính trực Đại vương. Cho phép xã Yến Vĩ huyện Hoài An phủ Ứng Thiên là đền chính phụng thờ.

– Ngày mùng 6 tháng Giêng là ngày lện chính phong sắc. Lễ dùng lợn gà, xôi rượu, hương hoa các thứ.

– Ngày 16 tháng Hai là ngày khánh hạ chính. Trước làm lỗ cỗ chay mười mâm. Sau làm lễ cỗ trâu, xôi rượu, ca hát ba ngày đêm.

– Ngày 12 tháng Sáu là lệ chính. Lễ dùng cỗ tam sinh, xôi rượu, bánh dày các thứ.

– Ngày mùng 6 tháng Ba là ngày lệ chính sinh thần. Lễ dùng lợn đen, xôi rượu các thứ.

– Ngày mùng 5 tháng Năm là chính lệ xuất chinh. Lễ dùng cỗ tam sinh.

– Ngày mùng 6 tháng tám là ngày quốc tế. Lễ dùng cỗ tam sinh, xôi rượu, ca hát đến ngày 15 thì ngừng.

– Ngày mùng 6 tháng Mười một là ngày chính hóa nhật. Lễ dùng lợn đen, xôi rượu, bánh dày, cùng với rượu vàng các thứ.

Hồng Phúc năm đầu ngày 29 tháng Tám, Bệ phẩm Thượng thư kiêm Lễ bộ quan Nguyễn Đăng Huy vâng soạn.

Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn.

Hoàng triều Vĩnh Hữu năm thứ 5 ngày tốt tháng Mười Quản giám Bách thần Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh, tiểu chức, tuân đúng theo chính bản của tiền triều chính bản vâng chép.

Bạn có biết: Lộc Tục và Kinh Dương Vương là 2 vị vua Hùng mở nước trời Nam

Truyện họ Hồng Bàng chép: “Đế Minh cháu ba đời họ Viêm Đế Thần Nông sinh ra Đế Nghi, sau nhân đi tuần về phía Nam đến núi Ngũ Lĩnh lấy được con gái bà Vụ Tiên rồi trở về, sinh ra Lộc Tục. Tục dung mạo đoan chính, thông minh phúc hậu, Đế Minh rất lấy làm lạ, muốn cho nối ngôi mình. Lộc Tục cố từ, xin nhường cho anh. Đế Minh liền lập Nghi làm kẻ nối ngôi để trị đất Bắc. Lại phong Lộc Tục là Kinh Dương Vương để trị đất Nam, lấy hiệu nước là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương có tài đi dưới Thủy phủ, lấy con gái Long Vương ở hồ Động Đình, sinh ra Sùng Lãm hiệu là Lạc Long Quân, cho nối ngôi trị nước. Kinh Dương Vương không biết đi đâu mất.

Truyện họ Hồng Bàng chỉ nói rằng Lộc Tục là Kinh Dương Vương, người đã “tuân mệnh vua cha” (Đế Minh) cai quản phương Nam. Tuy nhiên khi xem xét trên thực tế các di tích tín ngưỡng và thần tích về thời kỳ này thì có thể nhận ra có tới 2 vị vua mở nước Nam đều được gọi là Lộc Tục Kinh Dương Vương. Vị xuất hiện sớm hơn có thể gọi là Lộc Tục, còn vị xuất hiện sau gọi là Kinh Dương Vương.

Lộc Tục là con của Đế Minh và dòng Vụ Tiên ở vùng núi Ngũ Lĩnh, tức là Sơn thần trên vùng rừng núi. Như đã dẫn chứng trong bài trước, vị Lộc Tục này là một trong ba vị Hùng Vương Thánh Tổ, là Ất Sơn Thánh Vương của vùng đất tổ Phong Châu. Vị Lộc Tục này cũng là Đế Thuấn xuất xứ từ vùng núi Lịch ở Tuyên Quang, với các di tích thờ tự còn đậm đặc tại đây về việc ông đã mở mang sản xuất nông nghiệp, gieo mạ Bách Bung ở Lãng Sơn, cày ruộng bằng voi ở Lịch Sơn, làm đồ gốm, đánh bắt cá bên đầm Lôi Trạch.

Lộc Tục Đế Thuấn được Đế Nghiêu truyền ngôi theo lối truyền hiền và gả cho 2 công chúa là Nga Hoàng và Nữ Anh mà truyền thuyết vùng Phong Châu gọi là Hai cô Tiên Dung và Ngọc Hoa. Hai cô công chúa luôn được thờ cùng với ba vị Hùng Vương Thánh Tổ ở đền Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh cũng như ở các di tích khác của vùng đất tổ. Sự kiện này truyền thuyết Việt kể là chuyện vua Hùng kén rể mà Sơn Tinh lấy công chúa Ngọc Hoa. Ở nơi “lầu kén rể” xưa nay là chùa Hoa Long bên bến Việt Trì, có miếu thờ tượng hai công chúa Tiên Dung, Ngọc Hoa. Còn ở hai làng Vi và Trẹo (Vi Cương và Triệu Phú) ở thị trấn Hùng Sơn, là 2 làng gốc của đền Hùng trên núi Hy Cương, còn có lễ tục “Rước chúa gái”, tái hiện lại sự kiện công chúa con vua Hùng về nhà chồng là Sơn Tinh (tức Ất Sơn Lộc Tục).

Tấm bia Hùng Vương từ khảo đặt tại đền Thượng núi Hùng Nghĩa Lĩnh do tuần phủ Phú Thọ soạn năm Bảo Đại thứ 15 (1940) là tấm bia cho biết thông tin nhà Nguyễn lấy ngày 10 tháng Ba Âm lịch làm ngày quốc tế, giỗ tổ Hùng Vương. Tấm bia này khi nói về hai công chúa vua Hùng chép: “Chân núi phía Nam có miếu Giếng, thờ hai vị công chúa: Một là công chúa Tiên Dung con Hùng Vương thứ 3 (gả cho Chử Đồng Tử); một là công chúa Ngọc Hoa con Hùng Vương thứ 18 (gả cho Cao Sơn)”. Vị con rể vua Hùng lấy công chúa Ngọc Hoa ở đây không phải là Tản Viên Sơn Thánh mà là một vị khác, được ghi là Cao Sơn. Cao Sơn rõ ràng là tương ứng với vị Ất Sơn Lộc Tục.

Khi Lộc Tục Đế Thuấn mất, hai vị công chúa đã tuẫn tiết theo chồng ở sông Tương, trở thành hình ảnh “nữ trung Nghiêu Thuấn” trong văn học cổ. Di tích của sự kiện này là 2 ngôi đền 2 bên sông Lô, gần núi Lịch thờ 2 vị công chúa con vua Hùng là đền Thượng Núi Dùm và đền Hạ Tam Cờ tại thành phố Tuyên Quang. Bia đền Hiệp Thuận (đền Hạ Tam Cờ) do Thống đốc Hoàng Kế Viêm soạn năm Tự Đức thứ 28 ghi: “Thiên tử ban mệnh lớn, đền thờ Công Chúa Phương Dung nằm bên bờ sông phía Đông thành Tuyên Quang cùng sóng đôi tốt đẹp. Theo sử sách ở phía Bắc có dòng sông Tương đã đi vào lịch sử …“. Cùng với núi Lịch Đế Thuấn đi cày, sông Tương ở phía Bắc thành Tuyên thì lịch sử Lộc Tục ở miền Phong Châu đã trở nên rõ ràng.

Trong khi đó, vị vua có danh xưng là Kinh Dương Vương lại được thờ ở khu vực khác, với những sự tích công lao và sự nghiệp khác. Nói đến Kinh Dương Vương người ta thường nghĩ ngay đến lăng mộ ở Á Lữ (Thuận Thành, Bắc Ninh). Tuy nhiên ít người để ý rằng ở khu vực Thuận Thành Kinh Dương Vương có sắc phong gọi là Việt Nam Lạc Thị Đệ nhất. Sắc phong ở đền Á Lữ ghi: “Sắc chỉ Bắc Ninh tỉnh Siêu Loại huyện Á Lữ xã tòng tiền phụng sự Kinh Dương Vương miếu Khai sơ Sáng thủy Khởi minh Thùy hiến Uông nhuần Việt Nam Lạc Thị Linh ứng Trung đẳng thần…

Kinh Dương Vương được thờ ở vùng Bắc Ninh không phải trong bộ ba Hùng Vương Thánh Tổ mà trong bộ ba Việt Nam Lạc Thị gồm Việt Nam Lạc Thị Đệ nhất là Kinh Dương Vương, Việt Nam Lạc Thị Đệ nhị là Lạc Long Quân, Việt Nam Lạc Thị Đệ tam là Hùng Vương. Cách thờ này nhấn mạnh đến dòng họ Lạc gồm các Lạc Vương như trong thần tích vùng này chép:

Tổ thờ ở Á Lữ. Tổ đi chu du thiên hạ, kiến xem hình thế … Chợt thấy 3 con rồng, mình dài vài trượng, lưng to mấy vòng. Trên đỉnh đầu có ấn vàng. Trong ấn nổi lên 2 chữ LẠC VƯƠNG. Lối lên ở ngã ba sông. Cá, tôm, rùa, ba ba đi theo. Sóng to gió dữ không thể kể xiết. Sau đó một đi chơi vùng Đại Đoan (nay là Đại Bái – Đoan Bái sông), một đi chơi sông Nghi Tuyền (nay là Nghi An sông), một đi chơi sông Bình An (nay là Bình Ngô – Yên Ngô sông)… Dân bèn dựng miếu thờ…
Thủy thần ba vị tên chữ gọi là:
– Việt Nam Lạc Thị Đệ nhất Đại vương
– Việt Nam Lạc Thị Đệ nhị Đại vương
– Việt Nam Lạc Thị Đệ tam Đại vương.

Các di tích ở vùng Thuận Thành – Gia Bình thờ Việt Nam Lạc Thị có thể kể đến như:

  • Đình làng Đại Bái (Bưởi Nồi), Gia Bình nay được ghi là thờ Lạc Long Quân.
  • Đền làng Bình Ngô, Thuận Thành nổi tiếng với cuốn Hùng Vương ngọc phả, tức là thờ chính là Hùng Vương.
  • Đình làng Đoan Bái (Bưởi Đoan), cùng cụm di tích 4 làng Bưởi với làng Đại Bái, nay trở thành một nơi thờ đủ các vị thủy tổ Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Âu Cơ, Hùng Quốc Vương.
  • Đình làng Ngọc Xuyên (Bưởi Xuyên) thờ thần Bách Noãn.
  • Đình làng Đại Mão, Gia Bình, nơi thờ Tam vị Lạc Thị…

Nhiều thần tích thay vì nói đến triều Hùng Vương truyền 18 đời thì ghi là Kinh triều truyền 18 đời, tức là lấy Kinh Dương Vương là vị khởi đầu cho giai đoạn này. Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả soạn thời Lê Đại Hành cũng ghi Kinh Dương Vương là vị vua Hùng ở chi đầu (Hùng Dương Vương – chi Càn).

Điểm khác biệt khác giữa Kinh Dương Vương và Lộc Tục Đế Thuấn là việc Kinh Dương Vương lấy Thần Long Nữ con của Động Đình Đế Quân. Thần Long ở Động Đình hồ rõ ràng là dòng Thủy thần, khác hẳn với dòng Sơn thần như công chúa Ngọc Hoa ở vùng đất tổ. Thần tích Tiên Cát (Việt Trì, Phú Thọ) ghi:

Xưa Kinh Dương Vương vâng lệnh dẫn các tướng dời đến núi Nam Miên trấn giữ, chọn nơi hình thế thắng địa có để lập đô ấp, mới tới đất Hoan Châu (nay là xứ Nghệ An)… Bấy giờ khí xuân ấm áp, vô vàn cảnh sắc. Vua bản tính thích phong thuỷ bèn lên thuyền ngự tuần du ngoài biển, đi xem núi sông, trải xem hình đất nước, lạc ra ngoài biển. Bất giác thấy thuyền rồng đã thẳng đến xứ hồ Động Đình. Vua sai dừng thuyền, đứng lên xem, chợt thấy một người con gái lưng eo xinh đẹp, dung nhan tuyệt sắc, từ dưới đáy nước đi đến. Thật là một cuộc hội ngộ hiếm có xưa nay. Vua bèn sai chèo thuyền đến gần. Vua nói:
– Tiên nữ đẹp quá, từ đâu đến đây?
Thiếu nữ đáp:
– Thiếp tên là Thần Long, chính là con gái Động Đình Quân, ở trong thâm cung cửa ngọc, từ lâu đợi bậc anh hùng. Nay trời cho được gặp gỡ, nguyện được theo phụng hầu khăn túi.
Vua vui mừng đẹp ý, bèn dắt vào trong thuyền rồng. Vua cùng người con gái quay giá trở về thành đô, lập Thần Long làm chính cung.

Cuộc kỳ ngộ giữa Kinh Dương Vương và Thần Long Nữ mở đầu cho thời kỳ Kinh triều Lạc thị từ vùng sông nước Động Đình, khác hẳn chuyện vua Hùng kén rể Ất Sơn Lộc Tục cho công chúa Ngọc Hoa ở miền rừng núi. Ở giai đoạn Lộc Tục mới đang gọi là họ Hồng Bàng hay nước Nam bang. Còn đến Kinh Dương Vương lập quốc đã có tên nước Xích Quỷ. Xích Quỷ đọc thiết âm là Xủy – Thủy, chỉ rõ tính chất thủy thần của dòng Kinh Lạc. Bản thân Kinh cùng âm với kênh, Lạc là lạch hay nác, nước. Kinh triều Lạc thị là giai đoạn Thủy quốc (Xích Quỷ) trong thời đại Hùng Vương.

Câu đối ở đền Á Lữ:
Tương truyền Lĩnh động Tiên sinh Thánh
Tòng thử Viêm phương Quốc hữu Quân.

Tấm bia Hùng Vương từ khảo ở đền Thượng núi Hùng Nghĩa Lĩnh.
Đền thờ hai cô công chua sNgọc Hoa, Tiên Dung tại vị trí lầu kén rể xưa trong khuôn viên chùa Hoa Long (Việt Trì, Phú Thọ).
Dịch bia đền Hiệp Thuận (đền Hạ Tam Cờ) ở Tuyên Quang.
Đền Á Lữ (Thuận Thành, Bắc Ninh). Dòng chữ trên nghi môn Thủy tổ đài môn.
Sắc phong Kinh Dương Vương miếu Vietj Nam Lạc Thị ở đền Á Lữ, Thuận Thành, Bắc Ninh.
Ngai thờ Tam vị Việt Nam Lạc Thị ở đền Bình Ngô, Thuận Thành, Bắc Ninh.
Ngọc phi (vợ của Kinh Dương Vương) ở đền Tiên Cát (Việt Trì, Phú Thọ).

Con ngựa trong không gian văn hóa tín ngưỡng Việt

Bài đăng trên Tạp chí Năng lượng mới, số Xuân 2026

Mặc dù ngựa không phải là loài động vật bản địa trong tự nhiên ở Việt Nam nhưng trong văn hóa tín ngưỡng người Việt con ngựa có một vai trò đặc biệt, rất hay gặp và đa dạng về hình thức. Hình tượng ngựa có thể là thần Bạch Mã của kinh thành Thăng Long, thần thú Long mã, ngựa chiến của Thánh Gióng đánh giặc Ân, ngựa trong các di tích đình, đền, chùa đến ngựa trên các bức chạm gỗ, đá sinh động, ngựa trong tranh thờ của người Dao. Ngựa còn là biểu tượng của quẻ Khôn trong Kinh Dịch về sự tòng thuận, khôn ngoan đem đến sự bền vững, lâu dài cho đời sống con người.

Con giáp Ngọ – Ngựa

Trong 12 con giáp thì Ngọ là giờ giữa trưa, là thời điểm mặt trời lên cao nhất trong ngày. Ngọ còn có hàm ý là chỉ phương Nam về không gian và là tháng Năm trong Âm lịch. Ngọ gần âm với Ngũ, là con số 5 ở trung tâm của Hà thư và Lạc đồ. Ngọ cận âm với “ngự”, từ dùng cho vị trí của vua. Do đó, trong dân gian Ngọ cũng có nghĩa là thủ lĩnh, là Vua. Ví dụ như ở làng Hạ Mạo (Lâm Thao, Phú Thọ) thờ vị thần tên là Út Ngọ Lôi Mao với sự tích là chàng Út trong số 5 người anh em họ Lê đã lên ngôi Hậu Hùng Vương thời kỳ nước Nam Việt.

Thần Bạch Mã Long Đỗ

Đền Bạch Mã là ngôi đền trấn Đông trong Tứ trấn của thành Thăng Long. Đền thờ thần Chính Khí Long Đỗ và Quảng Lợi Bạch Mã Đại vương. Thần Long Đỗ là thành hoàng của thành Thăng Long, hiển linh dưới thời Cao Biền. Còn thần Bạch Mã là khi Lý Thái Tổ xây thành Thăng Long, thần đã hiện hình một con ngựa trắng đi quanh khu vực xây thành. Nhà vua đã xây theo vết chân ngựa đó, thành xây đến đâu chắc chắn đến đó. Long Đỗ hay Bạch Mã đều là cùng một vị thần, gọi theo sự tích hiển linh ở các thời khác nhau.

Thần Long Đỗ Bạch Mã nguyên gốc là Thủy phủ Phù Tang Cam Lâm Đại đế trong Đạo giáo, hay Động Đình Đế Quân, là vị thần cai quản phương Đông và Thủy phủ. Động Đình Đế Quân là cha của Động Đình Long Nữ, là ông ngoại của Lạc Long Quân trong truyền thuyết Họ Hồng Bàng của người Việt.

Rải rác ở các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Thanh Hóa thần được thờ là thành hoàng các làng dưới tên Quảng Lợi Bạch Mã hay Bạch Mã Lôi Công. Sự tích thần Bạch Mã ở đây được thể hiện dưới dạng một vị Thiên thần, khi xuất hiện thì trời nổi mưa gió, làm sấm sét, giúp nước an dân, dẹp giặc ngoại xâm.

Ở miền Nam từ Đà Nẵng trở vào có thần Bạch Mã Thái Giám, được thờ như một vị thượng đẳng thần cai quản các vùng đất. Nhiều nơi có sắc phong cổ cho vị thần này. Thái Giám nghĩa là người đứng đầu cai quản, giám sát mọi sự, thể hiện cấp bậc rất cao của vị thần này. Xét về sự tương đồng thì thần Bạch Mã Thái Giám cũng là thần Long Đỗ hay Động Đình Đế Quân.

Linh thú Long mã 

Vào thời thượng cổ vua Phục Hy thấy một con Long mã, đầu rồng, mình ngựa, xuất hiện trên sông. Trên lưng Long mã chở một đồ hình gồm có 10 đường nét, 50 chấm, gọi là Hà đồ. Nhà vua quan sát các chấm nầy, kết hợp với các hiện tượng thiên nhiên trong trời đất mà nghĩ ra cách tượng trưng Âm Dương, vẽ ra Bát Quái đồ. Hà nghĩa là Trời. Hà đồ là cuốn Sách trời, tượng trưng cho nền minh triết (Dịch học) sơ khởi của phương Đông. 

Hình tượng Long mã Hà đồ thường được đắp, vẽ trên các bức bình phong ở các đình, đền, nhất là từ vùng miền Trung trở vào phía Nam. Các phủ, điện ở cố đô Huế đặc biệt hay sử dụng hình Long mã Hà đồ đắp bằng cách ghép các mảnh gốm sứ màu. Long mã Hà đồ là biểu tượng cho khởi đầu của không gian tâm linh nên được đặt ở mặt trước của các tấm bình phong trên đường thần đạo của các di tích tín ngưỡng.

Ở một số di tích cổ, như ở đền Thượng Sóc Sơn (Hà Nội), có tượng Long mã được đắp ở trước đền, dạng như linh vật chầu trước di tích. Có nơi Long mã còn được làm bằng gỗ, có bánh xe để rước, thay cho ngựa, nhất là khi đối tượng thờ là những vị Thiên thần. Việc này xuất phát từ quan niệm Long mã là thú cưỡi của các vị thần tiên trên trời.

Về hình tượng ngựa thần còn có cặp Hỏa mã, Ngọc lân là thần thú của 2 vị Nhật Quang Thiên Tử và Nguyệt Quang Thiên Tử trong sự tích về Đế Thích như ở đền Xá (Ân Thi, Hưng Yên). Đây là hình ảnh của Mặt trời và Mặt trăng nhưng thể hiện từ góc nhìn của Ấn Độ giáo.

Ngựa chiến

Nói tới ngựa chiến không ai không nhớ ngay đến con Ngựa sắt phun lửa đã cùng Phù Đổng Thiên Vương diệt giặc Ân. Tương truyền khắp các vùng từ Sóc Sơn đến núi Châu Sơn rải rác có các dấu chân ngựa Gióng in trên các phiến đá lớn hay sụt lún thành ao hồ. Ở chân núi Sóc Sơn có đền Hạ Mã (xã Phù Linh), là nơi Thánh Gióng từng dừng ngựa, để lại yên cương và ngọc duẩn trước khi về trời. Nơi đây còn có cột đá buộc ngựa của Thánh. Phù Linh là làng tiến lễ Ngựa mã trong lễ hội đền Sóc Sơn vào ngày mùng 6 tháng Giêng hàng năm, là ngày Thánh Gióng bay về trời.

Một lễ hội khác cũng có ngựa mã là lễ hội Y Sơn (Hiệp Hòa, Thái Nguyên) thờ đức thánh Hùng Linh Công cũng đánh giặc Ân. Trong lễ hội, 5 giáp ở Y Sơn làm 5 cỗ voi và 10 cỗ ngựa hồng ngựa bạch bằng tre ngâm, dán giấy màu sặc sỡ, tập hợp thành đoàn quân voi, ngựa có quản, tướng (do nam và nữ thiếu niên đóng) ngồi ở trên. Đội tượng binh mã binh này là quân đội chính của đức Hùng Linh Công ra trận diệt giặc.

Hình tượng ngựa do các chiến tướng cưỡi xung trận hay gặp trong các bức tranh đắp nề ở các ngôi đền hay chạm gỗ ở đình làng. Một hình tượng ngựa chiến nữa gặp trong lễ hội dân gian đó là hình quân Mã trong trò đánh cờ người, được chơi diễn khá phổ biến ở nhiều lễ hội miền Bắc. Đánh cờ tướng vốn lấy theo cốt truyện Hán – Sở tranh hùng, được thể hiện trong các lễ hội nhằm ca ngợi, tái hiện lại chiến công của các vị thần thành hoàng là các vị tướng võ, vị vua dựng nước được thờ ở đây.

Ngựa rước

Ngựa là loài vật nhanh nhẹn, mạnh mẽ, bền bỉ, dẻo dai, dùng làm vật cưỡi rất quý thời xưa, chỉ những người có điều kiện và có chức tước mới cưỡi ngựa. Trong không gian thờ cúng, đối với các vị quan tướng thường có cặp Ngựa hồng Ngựa bạch làm bằng gỗ có bánh xe, trang trí đầy đủ yên cương, thêu hình chim phượng, rồng mây, đặt trong nội điện để thờ. Uy nghiêm hơn nữa trong việc thờ các vị thánh vương như Sĩ Nhiếp hay Lão Tử thì còn có tượng quan hầu dắt ngựa đi kèm. Vào ngày lễ hội, cặp ngựa hồng bạch này được kéo ra ngoài sân, bày phía trước các kiệu thờ và nếu hội có đám rước thì ngựa cũng được rước đi đầu. Ngựa trong trường hợp này thể hiện sự tôn vinh chính khí, uy linh của vị thần được thờ.

Đôi khi ngoài ngựa hồng và ngựa bạch còn gặp cả Ngựa đen, như trường hợp ở đình làng Hoài Thượng ở Thuận Thành (Bắc Ninh). Điều này liên quan đến vị thần được thờ là Bắc phương Hắc đế, vị thần phương Bắc, lấy màu đen làm biểu tượng.

Ngựa chầu

Ở nghi môn các đền thờ, miếu, đôi khi cả ở đình làng, thường có đắp nề nổi hay vẽ hình ngựa chầu. Thường gặp nhất là một bên Voi, một bên Ngựa, hoặc là một bên ngựa bạch, một bên ngựa hồng. Có thể có người quản mã kèm theo. Trong nội điện các di tích thờ trước gian hậu cung hai bên cũng có thể đắp hoặc vẽ ngựa chầu tương tự.

Những di tích lớn có thể dùng ngựa đá để chầu bên ngoài, đứng riêng rẽ hay trong lầu gác, hay có tượng quản mã dắt ngựa đi cùng. Đặc biệt hay thấy có ngựa đá đứng hoặc nằm ở các lăng tẩm như lăng, đền thờ các vị vua Trần, gắn với câu thơ bất hủ của Thượng hoàng Trần Nhân Tông: Xã tắc hai phen bon ngựa đá. Ngựa đá, Voi đá, Quan hầu cũng là những tượng được đặt thành hàng đứng chầu trước lăng các vị vua nhà Nguyễn ở Huế. Ngựa chầu thể hiện sự trang nghiêm, uy quyền của người được thờ trong di tích.

Ở miền Nam ngựa chầu ở các đình đền lại mang một sắc thái khác. Hay gặp ở đây là tượng ngựa ô, ngựa bạch, được đặt phía trước di tích, theo hình dạng đang đi, vươn cổ, bước chân, hơn là đứng trang nghiêm như ngựa chầu ở miền Bắc. Hình tượng ngựa Nam bộ mang tính chất công việc làng xã trong các lễ cầu phúc, kỳ yên, cầu mùa, hơn là ý nghĩa tôn vinh sự uy nghi của các vị thần được thờ như ở miền Bắc.

Ngựa của trong Đạo giáo Tam phủ

Trên các bức tranh thờ của người Dao theo lối Đạo giáo thường thể hiện các vị quan cưỡi ngựa. Điển hình là bức Thái úy trong bộ 3 bức tranh Hành sư (Tổng đàn). Tranh này thể hiện một vị thần với khuôn mặt hiền từ, cầm kiếm cưỡi ngựa với các vị quan hầu cũng cưỡi ngựa. Tranh thờ khác là tranh Tam Nguyên Quan vẽ 3 vị Thiên Quan, Địa Quan, Thủy Quan đều ở trạng thái cưỡi ngựa. Còn trong tranh Tứ trực Công tào thì vị công tào của Dương gian là vị cưỡi ngựa. Con ngựa như vậy là biểu hiện cho Dương gian, là một trong Tứ phủ theo quan niệm của người Dao.

Trên những bức tranh độ linh của các tộc người theo Đạo giáo như người Dao, người Cao Lan, người Tày, có vẽ các vị quan cưỡi ngựa trên dọc đường của linh hồn đi lên trời. Hình ảnh ngựa kéo xe còn gặp trên loại gương đồng “thần nhân xa mã đồ tượng” của thời Hán, mà trong đó xe ngựa như một phương tiện cho linh hồn đi trên con đường về với thế giới thần tiên (về Trời – Thiên phủ).

Nếu ở Dương gian có ngựa cưỡi của các vị quan, trên đường lên Trời (Thiên phủ) có xe ngựa, thì ở dưới Địa phủ có quỷ Mã diện (mặt ngựa), cùng với quỷ Ngưu đầu (đầu trâu), làm sai nha cho Diêm vương. Ngưu đầu Mã diện thường gặp ở trong tranh thờ hay trên mũ thầy cúng người Dao. Còn ở miền xuôi, như vùng Sơn Tây (Hà Nội) hay gặp những di tích thờ Tam phủ cổ có đặt tượng Ngưu đầu Mã diện, là hình thức tín ngưỡng khá tương đồng với Đạo giáo của người Dao.

Ngựa trong chùa

Trong chùa thờ Phật đôi khi có đặt tượng Mã đầu Quan Âm, thể hiện Quan Âm Bồ Tát ngồi trên đỉnh núi, gương mặt hiền hậu và ôm một con ngựa trắng, với ý nghĩa cứu độ, khuyến khích sự chuyên cần, bền bỉ, kiên trì trong tu và hành pháp.

Việc dùng hình ảnh ngựa trong các cảnh trang trí hay thấy ở chùa hơn là ở đình đền. Điển hình là cảnh đàn ngựa vui đùa hoặc ngựa đang vờn chơi với hươu nai rất sinh động, được chạm nổi trên lan can đá, tháp đá của chùa Bút Tháp (Thuận Thành, Bắc Ninh). 

Hình ngựa phi hay ngựa rước có lọng che còn thấy trong các bức tranh đồ thế, hay được khắc lên gỗ thành mộc bản để in làm giấy mã, dùng trong các nghi lễ cúng ở chùa.

Ngựa trong Kinh DịchCặp quẻ Càn – Khôn là 2 quẻ chính, bao trùm cả 64 quẻ của Kinh Dịch. Quẻ Càn có tượng là Trời, là nền Minh triết. Quẻ Khôn là Đất, là nền Khoa học. Lời quái của quẻ Càn là “Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh”. Còn lời quái của quẻ Khôn là “Nguyên, Hanh, Lợi, tẫn mã chi Trinh”, chỉ khác nhau ở chữ “tẫn mã”. Tẫn mã là ngựa cái, do quẻ Khôn có tượng là đàn bà. Người xưa dùng 2 con vật làm biểu tượng trong Kinh Dịch. Rồng bay trên trời dùng trong quẻ Càn, Ngựa đi dưới đất dùng trong quẻ Khôn. Ngựa đi là theo người điều khiển, ở đây ý muốn nói đến sự thuận tòng. “Tẫn mã chi Trinh” nghĩa là nền Khoa học phải theo sự định hướng hay được dẫn dắt bởi nền Minh triết thì sự nghiệp khoa học mới bền lâu. Hay nói đơn giản hơn, hành động lý trí của con người (Khôn) phải tuân theo sự chỉ dẫn của tư tưởng đúng đắn (Càn) thì mới được lâu dài.

Bạn có biết: Đế Nghiêu, Đế Thuấn là các vị vua Hùng được thờ trên núi Hy Cương

Vua Thuấn đi cày voi trong trò diễn ở Tứ Xã.

Tam tự kinh, cuốn sách các sĩ tử Việt xưa học nằm lòng, ghi:
Đường Hữu Ngu, hiệu nhị Đế
Tương ấp tốn, xưng thịnh thế.

Nghĩa là:
Đường, Hữu Ngu là hai Đế
Cùng nhường đất, gọi thịnh thế.

Đường Nghiêu, Ngu Thuấn là hai vị Đế thời cổ đại của Trung Hoa, nối tiếp thời Hoàng Đế Hiên Viên. Nhưng thật bất ngờ khi biết rằng Đế Nghiêu và Đế Thuấn chính là 2 vị vua Hùng thứ 2 và thứ 3 được thờ cùng với vua Hùng thứ 1 như những vị quốc tổ Hùng Vương trên đền Hùng ở núi Hy Cương.

Kinh Thư chép: “(Vua Nghiêu) sai Hi Thúc đến Nam Giao, quan sát mặt trời di chuyển về phương Nam, ghi ngày Hạ chí.” Hi Thúc cũng là Đế Thuấn, người đã tuân mệnh Đế Nghiêu đi khai mở đất Nam Giao, xem thiên tượng mà đề ra lịch pháp. Nam Giao rõ ràng là chỉ vùng phía Nam của đất Việt xưa thời đầu Hùng Vương.

Bài thơ được coi là “tuyên ngôn độc lập” của nhà Nguyễn ở chính điện Thái Hòa trong kinh thành Huế:
Văn hiến thiên niên quốc
Xa thư vạn lý đồ
Hồng Bàng khai tịch hậu
Nam phục nhất Đường Ngu.

Nghĩa là:
Nước ngàn năm văn hiến
Cơ đồ vạn dặm đồng
Từ Hồng Bàng mở nước
Phục Nam một Đường Ngu.

Bài thơ trong câu cuối nói trực tiếp rằng cõi Nam mở nước Hồng Bàng là từ Đường Nghiêu, Ngu Thuấn.

Ca dao Việt và quan họ Bắc Ninh lời cổ có câu hát: 
Rủ nhau đi cấy xứ đương
Cấy cho vua Thuấn ở đồng Lịch Sơn.

Câu hát nói đến một điển tích có từ lâu đời là vua Thuấn đi cày ở núi Lịch: Nguyên cha của Thuấn là người hung bạo, không biện biệt được người hay kẻ dở, người đương thời đặt tên là Cổ Tẩu (người mù mắt). Mẹ của Thuấn mất sớm, Cổ Tẩu tục huyền với người đàn bà sau này sinh ra Tượng. Vì có lời gièm pha của người kế mẫu và đứa em ngỗ nghịch cùng cha khác mẹ, Cổ Tẩu không ưa Thuấn và định bụng giết đi. Biết thế, nhưng Thuấn vẫn giữ trọn chữ hiếu đối với cha và người dì ghẻ ác nghiệt, hòa thuận với đứa em độc ác, không một lời than oán. Khi cha bắt đi cày ở đất Lịch Sơn cốt tìm cách trừ đi, vì nơi đây có tiếng là nhiều thú dữ hay ăn thịt người. Nhưng tấm lòng hiếu thảo và hòa mục của Thuấn động đến lòng trời, cả đàn voi ra giúp Thuấn cày đất và muông chim vô số đáp xuống nhặt cỏ hộ. Thấy không hại được Thuấn, Cổ Tẩu và người dì ghẻ sai Thuấn đánh cá ở Hồ Lôi Trạch, nơi có nhiều sóng to gió lớn, nhưng khi Thuấn đến thì sóng lặng gió yên.

Liên quan đến sự tích vua Thuấn đi cày, ở Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ có hội làng Tứ Xã với trò Trám. Tứ Xã là nơi có các di chỉ khảo cổ học nổi tiếng thời Hùng Vương như Gò Mun, Đồng Đậu con, Gót Rẽ… Trò Trám ở Tứ Xã là trò trình nghề tứ dân Sĩ – Nông – Công – Thương, trong đó có vai một người diễn tích “vua Thuấn cày voi” với lời hát ca trù như sau:

Vốn tôi đây dòng dõi thần minh
Kẻ tên hiệu tôi là Ngu Thuấn.
Nghĩ cha mẹ tôi càng oán hận
Hận ở điều ăn ở không cân.
Em dượng tôi ngạo mạn bất nhân
Ân tôi phải dĩ nông vi bản.
Tôi cũng mong hữu gia hữu sản,
Nhác trông lên núi Lịch tốt thay
Ân tôi phải bắt voi cày núi đá.

Sách Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn cho biết xã Yên Lịch ở dưới núi cũng có miếu Đế Thuấn, 6 xã trong 1 tổng cùng phụng thờ. Ruộng này nằm ở phía bên phải xứ Ngòi Vực, rộng chừng 1 trượng, khá dài. Nước sông Lô mùa thu thường tràn vào. Tương truyền, ở bên bến sông này Đế Thuấn làm đồ gốm. Bên cạnh chỗ dân cư, có một cái giếng cổ, người ta cho là Đế Thuấn đào giếng ấy. Ở đó cũng có miếu Đế Thuấn, trước miếu có ruộng hè, rộng chừng vài mẫu, khá sâu. Người ta cho đó xưa là đầm Lôi, nơi Đế Thuấn đánh cá và cày ruộng.

Lịch Sơn, nơi Đế Thuấn cày ruộng, đào giếng, làm gốm, đánh cá không ở đâu xa mà ở ngay huyện Sơn Dương của tỉnh Tuyên Quang. Cũng sách Kiến văn tiểu lục chép tiếp: Núi Sáng là ngọn cao nhất trong dãy núi Lịch. Trên núi Sáng cũng có đền thờ Đế Thuấn. Đằng trước núi lại đột khởi một ngọn núi đất hơi thấp, đỉnh núi như hình ghế chéo, trong núi có chỗ rộng ước dăm sào, có thể gieo được trăm bung mạ. Tương truyền chỗ ấy Đế Thuấn cấy lúa, nhân dân mới gọi là Bách Bung.

Núi Sáng còn có tên là Lãng Sơn, nay thuộc huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc. Địa danh Yên Lịch xưa đến nay vẫn còn, trong tên thôn An Lịch của xã Đông Lợi (Sơn Dương, Tuyên Quang). Trước đây nơi này được gọi là tổng Yên Lịch, nằm dưới chân núi Lịch, là một vùng ruộng lúa chiêm ven sông Lô. Đây là đầm Sấm hay Lôi Trạch được nói đến trong truyền thuyết về Đế Thuấn.

Sách Kiến văn tiểu lục cho biết: Núi Lịch ở xã Yên Lịch huyện Sơn Dương, từ núi Sư Khổng ở huyện Đương Đạo mà chạy xuống, tới nơi đất bằng thì đột ngột nổi lên một ngọn núi có 5-6 đỉnh, giăng ngang ra chia thành một nhánh tới Lập Thạch là Lãng Sơn, một nhánh tới Tam Dương là núi Hoàng Chỉ. Trong núi Lịch ở đỉnh cao nhất có 5-6 chỗ bằng phẳng như đền đài, có động Đế Thuấn rất thiêng. Hoa quả trên núi người ta có thể hái ăn, nhưng không được mang đi. Ai mang đi sẽ bị lạc vào mê lộ, không thể ra được. Phía trên động Đế Thuấn có đền Đế Nghiêu, cúng bằng cỗ chay.

Ở An Lịch tới nay vẫn lưu truyền rằng trên núi Lịch có di tích của Đế Thuấn. Trên núi có một ao nước rộng chỉ 5-6m nhưng rất sâu, xung quanh có những cây quýt tươi tốt. Người dân địa phương kể, quả của cây này có thể hái ăn, nhưng nếu chỉ nhỡ cất một quả trong túi mang về thì sẽ như bị che mắt, đi vòng quanh 7 lần không ra được khu Ao Trời đó.

Đình An Lịch từ xưa thờ Ất Sơn Đại Vương, là vị vua Hùng thứ ba trong Tam vị Hùng Vương Thánh Tổ được thờ ở đền Hùng (gồm Đột Ngột Cao Sơn, Viễn Sơn và Ất Sơn Thánh Vương). Cũng ở vùng chân núi Lịch này còn có nhiều di tích thờ ba vị vua Hùng như đình Quang Tất, đình Thọ Vực và đền Ất Sơn.

Đình Quang Tất ở xã Hào Phú (Sơn Dương, Tuyên Quang) thờ ba vị vua Hùng là Cao Sơn, U Sơn và Ất Sơn. Cụ thủ từ đình Quang Tất cho biết, trước đây ở bên đình có 2 ông ngựa trắng và hồng bằng gỗ, đến ngày hội, dân làng kéo 2 ông ngựa này ra Mả Vua ở ngòi nước dưới chân núi Lịch để làm lễ. Vị vua có đền thờ trên núi Lịch cũng là một trong những vị vua Hùng được thờ ở đình. Tức là Đế Thuấn chính là Ất Sơn Thánh Vương, được thờ là quốc tổ ở đền Hùng.

Đặc biệt hơn nữa, không xa đình Quang Tất còn có ngôi đền cổ không biết từ bao giờ. Ngôi đền mang tên đền Ất Sơn. Đây thực sự là một điều bất ngờ, một bằng chứng đến hiển nhiên về vua Hùng Ất Sơn là Lịch Sơn Đế Thuấn. Đền Ất Sơn cũng giống như ở đình Quang Tất và Thọ Vực thờ 3 vị vua Hùng. Nơi đây còn giữ được lễ hội Cầu đinh cầu lão cổ xưa với nhiều trò tích diễn. Khi được hỏi vì sao đền có tên là Ất Sơn thì cụ thủ từ cho biết nơi đây vốn từng mang tên này, sau cách mạng mới đổi thành châu Tự Do. Tra lại địa bạ cũ thì ra nơi đây vốn là tổng Át Sơn. Những chữ Ất – Át – Út Sơn đều chỉ là một vị thần, vị vua Hùng thứ 3 trong Tam vị Thánh tổ Hùng Vương.

Những di tích thờ Hùng Vương ở chân núi Lịch ở Tuyên Quang cho phép xác định Ất Sơn Thánh Vương chính là Đế Thuấn. Như thế còn vị vua Hùng thứ hai Viễn Sơn hay U Sơn phải là Đế Nghiêu, người đã nhường ngôi cho Đế Thuấn. Nếu Đế Minh là vị vua Hùng thứ 1 Đột Ngột Cao Sơn thì rõ ràng Đế Nghiêu và Đế Thuấn là các vị vua Hùng tiếp theo, được truyền thuyết họ Hồng Bàng gọi tên là Đế Nghi và Lộc Tục. Tên hiệu của các vị này trong Hùng Vương Thánh Tổ ngọc phả là Hùng Hy Vương và Hùng Hi Vương (hoặc Hùng Anh Vương). Chữ Hy – Hi rõ ràng liên quan trực tiếp đến tích Đế Nghiêu “mệnh Hy Thúc trạch Nam Giao” trong Kinh Thư và liên quan tới tên ngọn núi Hùng là Hy Cương.

Tấm hoành phi đặt tại đền Giếng trên núi Hy Cương: “Nam quốc Anh Hoàng“. Anh – Hoàng là tên của hai vị Nga Hoàng và Nữ Anh, con của Đế Nghiêu đã được gả cho Đế Thuấn. Đây là dẫn chứng trực tiếp về quan niệm cho rằng 2 vị công chúa thờ trên đền Hùng là con của Đế Nghiêu và vợ của Đế Thuấn.

Ở các di tích trên vùng đất tổ Hùng Vương, 2 công chúa Ngọc Hoa, Tiên Dung thường được thờ bằng ban Hai Cô, hoặc trở thành 2 vị “thành hoàng”, thờ cùng với 3 vị Cao Sơn, U Sơn và Ất Sơn. Khu vực ven sông Lô của huyện Phù Ninh, Phú Thọ có tục thờ Ất Sơn và Hai Cô là bởi đây là nơi Đế Thuấn đã rước dâu qua sông, từ vùng kinh đô ở Việt Trì về miền quê núi Lịch ở Tuyên Quang. Như vậy 2 công chúa Ngọc Hoa và Tiên Dung ở vùng này chính là hai vị Nga Hoàng và Nữ Anh, con của vua Nghiêu.

Đế Thuấn đi cày ở Lịch Sơn là Ất Sơn Thánh Vương, vị vua Hùng thứ 3 trong Tam vị Thánh tổ Hùng Vương. Lịch cũng nghĩa là “lịch pháp”, liên quan đến lịch khắc trên lưng rùa. Trong sử Việt có chuyện họ Việt Thường cống lịch rùa cho vua Nghiêu như sau: “Đời Đào Đường, phương Nam có Việt Thường thị qua hai lần sứ dịch sang chầu, dâng con rùa thần; có lẽ nó được đến nghìn năm, mình nó hơn ba thước, trên lưng có văn khoa đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở mang trở về sau. Vua Nghiêu sai chép lấy, gọi là quy lịch (lịch rùa)“.

Ngày nay di tích về Đế Nghiêu trên đất tổ Hùng Vương có đền Vua Nghiêu ở Chuế Lưu (Hạ Hòa, Phú Thọ). Miếu Ngu ở Thạch Trị (Thạch Hà, Hà Tĩnh) từng có bài vị thờ của Vua Nghiêu, Vua Thuấn. Đường Nghiêu và Ngu Thuấn được thờ ở vị trí thứ hai ở hai bên trong gian chính của miếu Lịch đại Đế vương tại Huế.

Đôi câu đối cổ từng treo ở đền Hùng trên núi Hy Cương khẳng địch thời kỳ Tam Hoàng Ngũ Đế nối tiếp nhau cũng là các triều đại vua Hùng, là thủy tổ của trăm giống Việt:
Lịch Tam Hoàng chí Tam Vương, thần truyền thánh kế
Đĩnh bách nam sinh Bách Việt, tổ thiện tôn bồi.

Nghĩa là:
Từ Tam Hoàng đến Tam Vương, thần dõi truyền, thánh nhân kế tục
Sinh trăm trai mở Bách Việt, tổ thiện đức, con cháu bồi vun.

Bài thơ ở chính điện Thái Hòa, Huế.
Tranh đắp vua Nghiêu đón vua Thuấn ở Huế
Cánh đồng Lịch Sơn ở Sơn Dương, Tuyên Quang.
Miếu Hùng Lô ở Phú Thọ nơi thờ Viễn Sơn và Ất Sơn Thánh Vương.
Miếu Ngu ở Thạch Trị, Hà Tĩnh nơi từng thờ Vua Nghiêu, Vua Thuấn.
Một số di tích Vua Nghiêu, Vua Thuấn trên vùng đất tổ

Bạn có biết: Vị vua Hùng đầu tiên là Hiên Viên Hoàng Đế

Truyện họ Hồng Bàng chép: Đế Minh cháu ba đời Viêm Đế Thần Nông sinh ra Đế Nghi, nhân đi tuần về phía Nam đến núi Ngũ Lĩnh mừng gặp và lấy được con gái bà Vụ Tiên rồi trở về, sinh ra Lộc Tục. Lộc Tục mặt mày sáng sủa, thông minh phúc hậu, Đế Minh rất lấy làm lạ, muốn cho nối ngôi mình. Lộc Tục cố từ, xin nhường cho anh là Đế Nghi. Đế Minh liền lập Đế Nghi làm người nối ngôi cai trị đất phương Bắc, phong cho Lộc Tục làm Kinh Dương Vương để cai trị đất phương Nam.

Người đầu tiên được nhắc đến trong lịch sử Việt là Đế Minh, cháu ba đời Viêm Đế Thần Nông. Do đó Đế Minh mới là vị vua mở đầu thời đại Hùng Vương trong dòng sử dân tộc.

Bản Nam Việt Hùng Vương ngọc phả soạn thời Lê Đại Hành ở đầu tiên chép: Kỷ Hồng Bàng Thị. Đế Minh, thống trị vạn bang chư hầu thiên hạ. Còn Đại Việt sử ký toàn thư cũng mở đầu như sau: Thời Hoàng Đế dựng muôn nước, lấy địa giới Giao Chỉ về phía Tây Nam, xa ngoài đất Bách Việt. So sánh 2 dòng sử từ ngọc phả Hùng Vương và chính sử (Đại Việt sử ký) thì thấy rõ Đế Minh cũng chính là Hoàng Đế, người đã dựng muôn nước, thống trị vạn bang chư hầu Thiên hạ.

Hoàng Đế là người mở đầu thời kỳ Ngũ Đế trong Hoa sử. Tam tự kinh, bài học vỡ lòng cho các sĩ tử Việt xưa ghi:
Khảo thế hệ, tri chung thủy
Tự Hy Nông, chí Hoàng Đế
Hiệu Tam Hoàng, cư thượng thế.

Nghĩa là:
Xét thế hệ, biết trước sau
Từ Hy Nông, đến Hoàng Đế
Gọi Tam Hoàng trên thượng thế
.

Hoàng Đế có tên là Hiên Viên, là tộc trưởng bộ tộc Hữu Hùng. Còn Thiên Nam ngữ lục, bộ “sử thi” bằng thơ Nôm thế kỷ XVII nước ta chép:
Tự vua Viêm Đế sinh ra
Thánh nhân ngưu thủ họ là Thần Nông,
Trời cho thay họ Hữu Hùng
Con cháu nối nghiệp cha ông thủ thành.

Thiên Nam ngữ lục cho biết rõ rằng người thay thế họ Thần Nông là họ Hữu Hùng. Nghĩa là Đế Minh (cháu 3 đời Viêm Đế Thần Nông) chính là họ Hữu Hùng, hay Hiên Viên Hoàng Đế.

Huyền sử Trung Hoa cho biết sau trận đánh quyết liệt giữa Hiên Viên với Xi Vưu ở Trác Lộc thì tất cả dân chúng các bộ lạc đều hoan nghênh Hữu Hùng Thị, tôn Hữu Hùng Thị lên ngôi Minh chủ, lấy hiệu là Hoàng Đế. Hoàng Đế sau khi áp phục được các bộ lạc được tôn là Minh chủ hay Minh đế, tức chính là Đế Minh trong truyền thuyết họ Hồng Bàng.

Hiên Viên Hoàng Đế được thờ là tổ của bách nghệ, như ngay tại chính giữa lòng phố cổ Hà Nội ở đình Kim Ngân và đình Trương Thị phố Hàng Bạc. Y miếu Thăng Long ở Hoàng Mai, Hà Nội thờ Hoàng Đế gắn với tác phẩm Hoàng Đế nội kinh tố vấn, là nền tảng của nền y học phương Đông. Miếu Lịch đại đế vương ở kinh thành Huế, nơi vua Minh Mạng cho xây dựng để phụng thờ các bậc đế vương đời trước, thờ Hoàng Đế ở vị trí hữu nhất trong gian chính trung.

Ở vùng đất tổ Phong Châu, như trên núi Nghĩa Lĩnh vị vua Hùng đầu tiên của người Việt được thờ là Đột Ngột Cao Sơn Thánh Vương, cùng với 2 vị vua kế tiếp là Viễn Sơn Thánh Vương và Ất Sơn Thánh Vương. Còn trong các ngọc phả vị vua Hùng đầu tiên này được gọi là Hùng Vương Sơn nguyên Thánh Tổ Tiền Hoàng Đế.

Đôi câu đối ở đến Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh vẫn còn ghi lại danh xưng của Đế Minh – Hoàng Đế, vị tổ của Bách Việt, mở muôn nước từ nơi ngã ba sông Việt Trì:
Thiên thư định phân, chính thống triệu Minh đô, Bách Việt sơn hà tri hữu tổ
Quang
nhạc hiệp linh, cố cung thành tụy miếu, Tam Giang khâm đái thượng triều tôn.

Nghĩa là:
Sách trời định chốn, chính thống dựng Minh đô, núi sông Bách Việt biết có tổ
Núi tỏa linh thiêng, cung cũ lập miếu đền, một dải Tam Giang hướng về nguồn.

Tượng Đột Ngột Cao Sơn ở Hiền Lương (Phú Thọ).
Đình làng Triệu Phú (Hùng Sơn, Phú Thọ) nơi lưu giữ những đồ thờ của đền Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh.