Gậy thần sách ước. Ngọc phả cổ về Tản Viên Đinh Phi Thánh mẫu triều Hùng Việt Thường Thị, bộ Hạ

Bản ngọc phả được sao trong bản khai của làng Tang Ma, tổng Phương Giao, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ năm 1938. Bản ngọc phả này được chép là tổng hợp các bộ phả gồm: bộ Thượng về thời Hùng Vương, bộ Trung về Tiền Thánh mẫu, bộ Hạ về sự tích Sơn Thánh.

Bộ Hạ
Gậy thần sách ước

Tượng đá cổ ở đền Thượng Tản Viên

Khi đó Tùng Công còn đang lên núi Tản hái củi đem về bán mà nuôi mẹ, nên không có ở nhà. Những người trong động thấy việc như vậy bèn cùng ra nơi ấy (tức là bên góc ruộng nơi nhà Thái bà ở) mà làm lễ. Lúc ấy Tùng Công mới trở về đến nơi, thấy Thái bà còn đang nằm ở nơi đó, gió mưa mù mịt, nổi vù vù bốn mặt tựa như sấm vậy. Tùng Công cùng với người trong động khi đang tìm nơi làm lễ táng thì thấy mối đùn thành mộ (chính ở tại nơi góc ruộng có miệng giếng, có bàn thạch chính nơi dựng nhà, trước đây là chỗ sinh Tùng Công).
Lại kể rằng Tùng Công từ khi Thái bà tạ thế trong trăm ngày đều ở đó, nhà cửa cùng quẫn, tứ cố vô thân, sống trong căn nhà nhỏ ở chỗ xa xôi. Một hôm gần tối, thấy một lão bà từ bên ngoài đi vào, không biết từ đâu tới, là người rất kỳ lạ, đứng ở trước sân mà rằng:
Người con côi! Người con côi!
Quân tử vốn khó khăn
Hồng nhan nhiều gian nan
Con hiếu sẽ được yên
Muốn lập thân thành nên
Hãy về với mẹ nuôi
Dựa vào núi Tản thiêng.

Lời dứt thì biến mất. Tùng Công biết là mẫu thân dạy vậy, bèn làm một lễ nhỏ, cẩn thận đặt trước mộ nhà rồi đi. Sau cùng về với lão bà Ma Thị mà ở.
Đến một hôm lên núi Tản Linh chặt một cây to cành lớn. Trong hôm đó về báo cho người trong động (tức động Mang Bồi) cùng lên chặt gỗ. Nhưng mà ngày hôm sau đến nơi, thì thấy cây gỗ cành lá vẫn xuân xanh, tươi tốt như nguyên. Nguyễn Tùng lấy đó làm sự lạ thường, bèn lại một lần nữa chặt cây, rồi giả như đi về, quay lai nơi ấy để xem ra sao. Đến ban đêm thấy một ông lão thần cao hơn một trượng, râu tóc bạc phơ, đầu đội mũ hoa, mình khoác áo gấm, lưng thắt khăn đỏ, chân đi giày mây, tay phải cầm một cây gậy trúc, thong dong bước đi như hoa gấm đùa phượng, bút ngọc vờn rồng, nếu không là nơi Vườn Kỳ thì cũng thành vật lạ chốn Lãng Uyển. Theo sau có một hề đồng cầm một cái chuông đồng, lắc liền ba hồi. Lão ông miệng niệm thần chú, dùng gậy mà chỉ. Bỗng thấy vụt kéo tới một trận sấm gió bồng bột, sắc mây đê mê. Tinh thần hội đồng nơi đỉnh núi biến loạn. Mắt mày trời đất chao đảo quay cuồng. Cái cây lớn hồi sinh.
Nguyễn Tùng nhìn thấy rõ ràng bèn đứng dậy chạy lại nơi cây cổ thụ, hai tay ôm lấy ông lão mà hỏi rằng:
– Ông lão từ đâu đến đây? Từ đâu đến đây? Tên cụ là gì? Sao vì thương xót một cành cây già mà phụ nỗi mong mỏi của người dân đói lạnh?
Ông lão rằng:
– Ta là đại thần tinh núi, tên gọi Thái Bạch Thần Tinh Tử Vi Thiên Tướng, vâng sắc chỉ của Ngọc Hoàng xuống trông giữ vùng núi non. Nay cái cây này là cây ngô đồng quý, giúp thánh ra đời, lầu phượng dựng nên, chính là trời sinh mộc chủ trong núi Ngọc Tản, không thể chặt được. Trái lại, ta phải giúp giữ cây này để cầu cho non sông vững mạnh, đất nước bền lâu, vua trị được thấy có ngày thái bình vậy.
Nguyễn Tùng chắp tay vái mà nói:
– Lời nói của thiên tướng đã làm sáng tỏ lòng mong mỏi một bề. Lại bàn bụi trần khói bay, kiếp người phù du, có có không không, sinh sinh hóa hóa, cơ diệu khó đoán, sự biến khôn lường. Cả trời đất đều chung lý ấy. Tùng tôi nay nguyện được nhận gậy thiêng cùng với thần chú để cứu việc sinh tử người đời, để báo ân sâu cha mẹ, sau là có thể cầu được phúc vậy. Khỏi phải đi kiếm củi nuôi mẹ nữa.
Ông lão nghe lời nói biết là bậc đại hiếu, không phải dạng người thường, bèn lấy gậy thiêng cùng thần chú giao cho. Lại nói rằng:
– Một đầu gậy có thể cứu sống người. Đầu dưới có thể trừ diệt hại. Chỉ đất đất nứt, chỉ nước nước cạn, phép thật linh nghiệm, cơ thật diệu huyền. Nếu chỉ trời thì khắc mây bay mưa tạnh, chiếu tận cửu trùng. Hãy cẩn thận! Hãy cẩn thận! Không thể! Không thể!
Nói xong bay lên không mà đi. Nguyễn Tùng từ khi được gậy và chú, vui mừng liền trở lại núi Tản Linh, bái tạ mẹ nuôi mà nói rằng:
– Con nay có được gậy thiêng của thiên thần, có thể cứu rõ được sinh tử thế gian.
Việc xong thì về động cũ Lăng Sương, nhân từ đó xưng là Thần Vương. Mọi người trong động (tức là động Lăng Sương) đều kính phục. Tùng Công sửa sang lại nhà cửa lăng mộ, làm lễ bái yết các tiền nhân, nhờ thác nhân dân lo việc hương đèn. Mọi người đều làm lễ nhận việc đó (hôm đó là ngày 4 tháng 4).
Xong việc Thần Vương (tức Tùng Công) cùng ngày lên đường. Đi qua chỗ đất sách Thủ Pháp (thôn Cốc). Sách Thủ Pháp hay có nạn voi hổ hại, nhân dân rất khổ sở. Thần Vương đến nơi đất ấy, bỗng thấy một đám voi hổ hơn trăm con đang ngậm ba bốn người của sách Thủ Pháp. Lối về bị chắn mất bởi đàn trăm con thú chạy qua lại. Thần Vương lấy gậy chỉ vào, tức thì hổ Bắc voi Nam, cùng bỏ người ở nơi đất đầu gậy mà chạy mất. Thần Vương lại chỉ gậy ở đầu sinh. Những người đó đều sống lại. Nhân dân nơi ấy (tức sách Thủ Pháp) đều thấy việc lạ ấy, ngay hôm đó (ngày 5 tháng 5) cùng đến làm lễ bái hạ, xin làm thần tử. Thần Vương đồng ý. Từ đó voi hổ không dám xâm phạm, nhân dân đều được yên ổn nơi ruộng vườn đó. Thần Vương lại đi tiếp đến bên bờ sông, nhìn thấy sông lớn một màu, sương mù bay phủ mờ mịt. Bến sông không một chiếc thuyền. Thần Vương lấy gậy chỉ vào, tức thì nước rẽ mở thông suốt thành một con đường, đi qua đó như đi trên đất bằng vậy.
Vương đi đến trang Ma Xá châu Trung Độ (còn gọi là Trường Sa). Trên đường bỗng thấy đám trẻ chăn trâu đánh chết một con rắn đen rồi cùng đem mà reo đùa. Thần Vương thấy vậy động lòng thương xót muốn cứu, bèn nói với lũ trẻ chăn trâu rằng:
– Các ngươi sao lại đùa nghịch như vậy. Nay hãy bán lại con rắn này cho ta.
Lũ trẻ chăn trâu cười mà bằng lòng. Thần Vương lấy 36 văn tiền để mua, đem đến phía trên bãi Trường Sa, miệng đọc thần chú, dùng gậy thiêng chỉ vào. Tức thì như mộng mị chạy dẫn ở đầu gậy, con rắn sống lại. Rắn đen dập đầu bái tạ Thần Vương, trên đầu rắn có chữ Vương. Thần Vương đứng đó xem thì thấy rắn đen trở đi, giữa sông tách thành đường nước, mới biết đó là con của Long Vương (khi đó người ở Ma Xá thấy sự lạ đó đều đến làm lễ bái, xin làm thần tử).
Từ đó Thần Vương lại trở về nhà ở động Lăng Sương (tức là nhà và lăng của mẹ đẻ). Rắn đen trở về đến Động Đình, đem sự việc tâu lên. Đế Quân cảm công đức ấy bèn sai Thái tử (tức là con rắn đen) cùng với đô đốc Giao long đến đón Thần Vương ở động. Thần Vương tạ từ mẹ nuôi Ma Thị rồi theo sứ giả mà đến Thủy cung. Đi qua tường gấm cửa son, thấy gác ngọc lầu châu trùng trùng điệp điệp, tướng côn ngao ba ba lớp lớp hàng hàng, cùng với quân binh tôm, cá, rùa vây quanh hai bên. Đế Quân ngồi ngự ở chính giữa, mời Thần Sư đến ngồi ở long sàng bên phải, phán rằng:
– Gót rồng Đông Cung chính là Thái tử của Trẫm. Hôm trước đi dạo ở Tùng đài Linh điện, chẳng may gặp biến ở châu Trường Sa, may nhờ Ngài cứu khỏi, thật là ơn lớn. Hôm nay mời đến là muốn báo đáp tấm lòng ấy.
Thần Vương tâu rằng:
– Thủy phủ dương gian hai đường khác biệt. Cốt rồng sâu rộng, đâu chạm đến thổ địa. Nhà tôi vốn làm việc thiện đạo âm thầm, lại được thần phép. Buổi trước cũng có đi dạo mà cứu được sự biến, đó là bởi ở lòng người. Đâu ngờ hôm nay được gần dung nghi sáng rỡ. Không dám mong báo đáp vậy.
Cùng ngày khắp trong cung mở tiệc hội lớn, bày trải chiếu hoa rồng, thắp sáng bởi đèn dầu phượng, bình hương trướng ngọc, vàng bạc mã não, kỳ trân dị vật, đều là những thứ trên trần thế không có được. Tất cả bày ra la liệt trước mắt đều là cỗ ngọc đồ ngon. Đế Quân tự tay rót rượu mời. Thần Vương phục tâu rằng:
– Tôi thường vẫn mong gặp được những nơi kỳ khoáng. Nay may mắn đi xa vượt sóng mà tới được cảnh đây. Bình sinh chưa từng mơ thấy sự vui như vậy. Đâu dám không uống rượu cho say hết mình.
Tiệc xong, Đế Quân cảm tạ bằng vàng bạc châu báu. Thần Vương cố từ chối không nhận. Thái tử mới nói riêng rằng:
– Nay đã thấy mặt rồng, đúng là cơ hội ngàn năm có một. Công đức của Thần Sư như biển kình núi ngao, tiền tài đều nhẹ như lông hồng, báo đáp bao nhiêu cũng không đủ được công đức ấy. Nay Đế Quân có một quyển sách thần, truyền đủ phép lạ, nguyên gốc thông đất thấu trời đều ở trong cuốn sách thần ấy. Nếu Thần Sư muốn cầu, tôi sẽ tâu riêng với Đế Quân để xin cho được.
Thần Vương nói: Được. Thế là Thái tử tâu lên. Đế Quân cảm công đức của Thần Vương, liền mới lấy cuốn sách ấy ban cho. Thần Vương xem kỹ sách đó, rồi từ biệt. Long Quân sai Thái tử cùng dẫn quân tiễn tới tận bãi sông mới quay lại. Đời sau có người làm thơ khen làm chứng:

Không gặp làm sao có kiếp sinh
Khi đi là nghĩa, về là tình
Quay lên đỉnh Thứu, người còn vọng
Trở lại cung Rồng, khách chẳng đành
Một dải âm dương đôi tách ngả
Chín trời mây nước mộng ba canh
Tạm biệt cửa sông hai mắt dõi
Tương tư chốn ấy bởi xa tình.

Tiền Thánh mẫu. Ngọc phả cổ về Tản Viên Đinh Phi Thánh mẫu triều Hùng Việt Thường Thị, bộ Trung

Bản ngọc phả được sao trong bản khai của làng Tang Ma, tổng Phương Giao, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ năm 1938. Bản ngọc phả này được chép là tổng hợp các bộ phả gồm: bộ Thượng về thời Hùng Vương, bộ Trung về Tiền Thánh mẫu, bộ Hạ về sự tích Sơn Thánh.

Bộ Trung

Hình ảnh có thể có: 1 người, đang đứng và trong nhà

Lại kể rằng triều Kinh truyền 18 nhánh tới Duệ Vương, ngự ở đô thành Việt Trì bên sông Bạch Hạc, lập nước tên là Văn Lang, kinh đô là thành Phong Châu. Duệ Vương có tư chất thánh triết anh hùng, nối thừa sự nghiệp khai mở của tổ tông, vun đắp của các thế hệ, cơ đồ thịnh trị 17 đời, trong luyện võ lược, ngoài giữ biên phương, cố gắng hưng bình cho yên Trung Quốc, theo gương trị vì của các đời vua trước, khâm sùng đạo trời, kính sự quỷ thần, trời giáng điềm lành cùng với quốc gia. Người đời đều gọi là vị vua hiền vậy.
Trong thời của Duệ Vương ở động Thuận Bình, phủ Triệu Châu, xứ Thuận Hóa có một nhà trưởng bộ, họ Đinh tên Bích, Lấy vợ ở trang Hạ, xã Cao Quần, huyện Chân Định, phủ Kiến Xương, xứ Sơn Nam, họ Dương tên Hằng. Vợ chồng kết tóc, cầm sắt thanh hòa. Ngày tháng đi qua, Trưởng ông tuổi ngoài 50, Thái bà đã hơn 40 mà chưa thấy lan quế trước nhà nhập mộng. Trưởng ông vốn có đức hậu lòng nhân, trọng nghĩa khinh tài, rộng thí giúp người, không hề có chút hại người, tham tưởng vật lợi, tâm sáng cho việc cứu nhân, không gì là không có ý giúp đỡ, điều thanh kỳ thực là bậc chân thế hiền nhân, bản tính là người trong giới tuấn kiệt. Thái bà lại có lòng nhân ái, kính thuận khiêm tốn, ăn ở ôn hòa mà có đủ tứ đức, phong cách kính yên như Nam Giản, nhất nhất theo nhà họ Đinh, nối tiếp nét đẹp bóng tốt Cam Đường, đúng như Hằng Nga trên mặt trăng, thực là bậc nữ trung Nghiêu Thuấn.
Lại nói tới việc ngọc sứ, lan quế khi đó còn chưa thấy sinh. Một hôm Trưởng ông nói với Thái bà rằng:
– Vợ chồng chúng ta, tuổi nay đã cao, giọt sành chưa ứng, chưa động lòng trời thì không đạt được việc người, hẳn là còn thiếu. Chi bằng lúc này cố tìm đền thiêng mà trai giới thành tâm, làm lễ cầu đảo các thần kỳ tinh túy, núi sông trời đất, may thì có thể được ban rủ phúc lớn.
Dứt lời liền chuẩn bị lễ vật, hai vợ chồng cùng lên chùa Tây Thiên núi Tam Đảo, dâng hương cầu nguyện, cầu đảo mong được điềm lành giáng ứng, mong thấm ơn ban, vạn nhờ trời đất thần phật giúp cho được vậy. Khấn chúc xong thì mặt trời đã khuất sau núi, trời trở tối. Bèn lưu nằm tại đó để cầu ứng mộng. Đến cuối canh ba, Thái bà mơ màng như mộng, bỗng thấy trong chùa mây khói từ trên trời cao giáng xuống, bao phủ mù mịt. Trong chùa thấy một ông lão râu tóc bạch phơ, mình mặc áo xanh, đầu đội mũ trăm sao sáng láng, chân đi giày hình rùa tỏa sáng vạn nhẫn, tướng mạo đường đường, thầm oai lẫm liệt, tay cầm một cây gậy ngọc. Theo sao có 5-6 tiểu đồng mang đàn, sách, quạt lông cùng với một bầu rượu, tiến thẳng vào trong chùa, nói với Thái bà rằng:
– Hãy nghe mệnh! Thiên Đế lệnh cho ta đến. Vợ chồng bà quả là những người có lòng tốt. Hoàng Thiên đã thấy, xem xét cơ duyên, mới lệnh cho ta đem một viên ngọc trắng giao xuống.
Lão ông ném cho Thái bà, lại ngâm tụng rằng:
Trời cao có nẻo chiếu nhân gian
Có phúc đều do phúc báo hoàn
Ngọc báu nay ban cho đến chỗ
Đảo Sơn, Tản Lĩnh đối cùng ngang.

Ngâm xong lão ông bay lên trời cùng các đồng tử biến mất. Thái bà cầm ngọc cất vào trong bụng. Bỗng nhiên tỉnh lại, mới biết là nằm mộng. Bèn đem việc này kể lại với Trưởng ông. Sau khi dập đầu bái tạ trước điện Phật, vợ chồng quay về. Mới được trăm ngày, một hôm, đang khi giữa giờ Ngọ, bỗng thấy một con chim lạ lông cánh năm sắc, chân mỏ màu đỏ, từ trên trời hạ xuống, bay thẳng vào trong nhà, đậu ở trên nóc. Xung quanh phòng trong nhà trong chốc lát đều sáng bừng lên vậy. Thái bà thấy vậy tự nhiên chuyển ý mà hoài thai. Tới ngày 6 tháng Giêng năm Kỷ Sửu vào buổi tối cuối canh năm Thái bà đang ngủ bỗng thấy một đám mây hồng từ trên trời hạ thẳng xuống trước sân. Thái bà nhìn ra xem thì thấy trong đường mây có một người con gái rất đẹp, áo xiêm sáng lạn, cân đai huy hoàng, cưỡi trên xe mây, hai bên trái phải là quạt gấm, cùng với các thanh đồng, trinh nữ hơn mười người, cùng theo hai bên. Tiếng đàn sáo Tiêu Thiều, Nhã Nhạc vang lên. Từ từ mà hạ xuống trước sân, đi thẳng vào trong nhà. Thái bà cất hỏi thì bỗng nhiên tỉnh dậy thấy trời đã sáng.
Tới ngày mồng 7 đến lúc đầy kỳ sinh hạ một người con gái, phong tư đẹp lạ, cốt cách thanh kỳ, môi như hoa hợp dạ, sắc tựa vẻ phù dung, nét mặt như gương ngọc bình bạc, má hồng như lầu châu tường họa, thân tự phát ra mùi hương thơm ngào ngạt. Vào lúc đó khi sinh gió mưa mờ mịt, mặt trời như bị che khuất. Chỉ có nơi sinh nhà mái vẫn sáng quang, bốn bề vang vọng tiếng nhạc tiếng ca. Ba ngày sau mới thấy bầu trời sáng lên, tiếng ca mới ngừng.
Cha mẹ rất yêu quý. Được trăm ngày mới đặt tên là Đinh Thị Ngọc. Lúc Nương lên 3 tuổi trong động có một gia tộc lớn họ Mãn, tên là Trương, nhà có nhiều gia đinh nên sinh kiêu ngạo ngang ngược. Trưởng ông vốn tính thanh liêm, có lòng từ ái, tuy làm trưởng bộ mọi người trong động nhưng không hề phạm tơ hào hối lộ. Còn họ Mãn vốn hay có tâm nhũng hại, tham tài sắc, thấy Công thanh liêm chính trực, người trong động đều yêu kính mến mộ theo tâm đức của Công nên họ Mãn sinh lòng gây ác, thầm viện người ở động bên, kết bè đảng muốn gây hại, mưu giết Công. Có người báo với Công. Công trong lòng còn chưa tin.
Tới sau đó nửa tháng, vào lúc trời tối, bỗng thấy ông Mãn Trương cùng với hơn trăm người cầm theo khí giới sắc nhọn, tiến thẳng đến nhà Công. Công biết ý đó nên liền dắt Ngọc Nương chạy thoát. Khi đó ông có người em gái ruột (tên là Đinh Thị Điên) cùng theo ông đi trốn, cùng với Thái bà cộng là 4 người cùng chạy. Còn những người hầu trong nhà đều trốn đi các nơi. Mãn Trương tìm kiếm trong nhà không thấy một ai, rất là tức giận, liền đốt hủy cả nhà, lấy hết tài sản, dẫn quân binh trở về. Tới nửa đường gặp đàn hổ đón bắt Mãn Trương mà ăn thịt.
Lại nói Công từ lúc bị nhà họ Mãn gây hại thì chạy vào trong núi sâu mà đi, không quay trở lại. Công dẫn con cái cùng với em gái chạy bộ, cứ theo chân núi mà đi. Hơn mười ngày đêm đến các châu động xin ăn, trú ở ngoài dưới các gốc cây to hoặc đêm ở những nơi đó. Thái bà ôm Nương ngồi ở đâu thì thấy ở đó ánh sáng chiếu lên, cả khu sáng tỏ.
Một hôm ông đang đi trong chân núi, bỗng lạc mất đường. Cây cối rậm rạp, cây to chọc trời, các khe nước bao quanh, hổ báo chạy tới lui mà gầm rú, nhìn bốn phía có tới hơn trăm con chạy đến. Trưởng công nghĩ tưởng khó có thể thoát được nơi mãnh thú này. Chỗ đó rừng sâu rậm rạp, không có lối ra. Ông thấy thảng thốt bàng hoàng, rất kinh sợ, mới ôm dẫn vợ con cùng với em gái nhảy vào trong chỗ đó. Hổ thú chim chóc bao vây bốn phía, tiếng kêu như sấm nổi lên. Trưởng công và Thái bà đều than khóc. Duy chỉ có Ngọc Nương là vẻ mặt không đổi, cất tiếng cười, hô chỉ mắng chửi. Mãnh hổ tất cả đầu quay đầu không dám nhìn vào Nương (khi đó Ngọc Nương mới 5 tuổi). Đám hổ dần dần tiến lại. Trưởng ông rất sợ hãi mới ngửa mặt lên trời mà than rằng:
– Hoàng Thiên sao lại phụ người có lòng nhân mà không cứu vậy!
Ông vừa than xong, bỗng nổi lên một trận gió lớn, trời đất trong khoảnh khắc tối mờ. Rồi trong phút chốc trời đất sáng trở lại. Lũ hổ đều đã biến lui.
Lại thấy một lão ông thân dài 7 thước, quần áo vân gấm màu xanh, đầu đội mũ đốm, râu tóc bạc phơ, tay cầm một chiếc quạt lá cỏ và gậy trúc. Theo sao có 1 thanh đồng, tay cầm bầu rượu, không biết từ đâu tới. Chỉ thấy ở nơi đó vừa đi vừa cười, đọc bài thơ rằng:
Trong thân có ngọc cớ sao lo
Còn cười trời được, thật là ngô
Người lòng trong sạch đâu sợ nạn
Cuối cùng sẽ được việc không ngờ.
Ông nghe lão ông đọc ngâm biết là lòng trời muốn đùa với Công mà cho đàn hổ đến xem ý ra sao, mới có nạn đó vậy. Nên lão ông này tất là bậc thần tiên, thấy ông lúc cùng quẫn kêu đến trời mới giáng xuống mà báo giúp, chứ trên trần thế không có người nào như vậy. Ông mới vui mừng mà hỏi rằng:
– Lão ông từ đâu tới? Xin cho hỏi, chỗ này không có đường xá, bốn bề là khe vách cây cỏ, chỉ toàn là thú dữ, cây xơ xác, không thấy tiếng nhân dân ở đâu. Đường quay lại bị cản trở, mây móc tối tăm. Không biết đường đến đâu mới ra được chỗ có dân cư. Xin lão ông biết đường ở hướng nào chỉ giúp thoát khỏi chỗ tối tăm này.
Lão ông ngửa mặt lên trời cười mà đọc ngâm:
Đường mây lớp núi thấy trùng trùng
Người được ý này dễ thoát chung
Một phiến mây trùm trên bảo ngọc
Hướng Tây đi tới chỗ người cùng.

Lão ông đọc xong thì bay lên không mà đi. Ông bèn ngửa mặt lên xem xét, thấy một đám mây màu nhạt phủ bay trên trời phía trên đầu Ngọc Nương. Đám mây trôi đi trước. Công cùng Thái bà và em gái dắt Ngọc Nương nhìn mây mà đi theo hướng Tây. Được vài bộ thì thấy một tảng đá lớn chắn đường, không có lối đi. Công bèn xem xét ở quanh tảng đá, thấy một hang đá. Công chui vào hang đá lại thấy trong hang có một con đường nhỏ. Công cùng vợ con lách người mà đi, vượt qua hang đá thì mở thành đường lớn. Trong khoảnh khắc đã tới châu Hoan (tức là Nghệ An sau này), qua đền Khổng Tước (tức là đền Cuông). Công lại thấy lão ông ở đó, báo vào trong cửa đền. Công bèn đi theo để làm lễ tạ. Khi vào trong thì không thấy đâu nữa. Ngửa lên xem phía trên đền có dòng chữ lớn khắc trên biển được trang trí bằng vàng sáng láng, đề rằng:
Hùng Vương điện, Nam Thiên Thánh tổ”.
Công biết đấy là Hùng Vương đã xuống răn dạy. Công bèn làm lễ bái tạ trước điện.
Lại đi tới châu Ái, đến châu Đà Bắc. Công bèn ở đất đó. Công vốn thạo nghề phong thủy, thường đi tìm xem đất. Người dân ở các châu động tại Đà Bắc đều kính phục, cử làm thầy tướng địa lý. Công cùng với vợ ở đó, qua được 7-8 năm, trở nên giàu có phong lưu.
Khi ấy ở động Lăng Sương có một trưởng bộ, họ Nguyễn Cao tên Hành, gia thế giàu có, tính tình nhân ái, kính mến người trong động, lại thạo việc cung tên, thường đi săn bắn. Ông tuổi đã cao mà nhưng chưa thấy mộng lan quế. Thái bà mất sớm. Lúc ấy Cao Công nghe tiếng Đinh Công ở Đà Bắc là người có đức lớn, thường dùng gia tài đãi khách, giúp đỡ mọi người, thật là một người tốt. Cao Công đi săn ở nơi ấy (tức Đà Bắc), kết bạn với Đinh Công, giao tình thân sâu.  Một hôm Cao Công thấy em gái của Đinh Công (tức là bà Thị Điên), có ý yêu mến, nhờ mai mối đến hỏi cưới. Đinh Công vốn trọng tình cảm với Cao Công nên đã gả cho. Hôn lễ xong Cao Công bèn đón về nhà ở động Lăng Sương ở.
Vào lúc trời xuân hòa khí, Đinh Công cùng người thân đi ngắm sông núi, xem xét địa hình phong thủy, tới động Lăng Sương (động Lăng Sương bốn ở tại đất huyện Thanh Xuyên, phủ Gia Hưng, đạo Hưng Hóa, xứ Sơn Tây). Công đi ngắm phong cảnh đồng nội, lại thấy núi cao muôn vẻ, sông chảy miên man, non nước như vẽ, cây cối sum xuê, chim ca vượn hót véo von, đài phượng gác mây lung linh, thành một cảnh đệ nhất trời Nam. Đinh Công thấy quý cuộc của vùng đất, phong tục nhân dân thuần hậu, sơn thủy hữu tình, Công hứng khởi mới làm một bài thơ rằng:
Tạo hoá sinh thành tú khí linh
Lăng Sương đất ấy bốn kỳ hình
Lầu rồng gác phượng sinh hiền chúa
Voi phục lân chầu xuất thánh minh
Giếng ngọc giấu châu, sinh bất diệt
Ấn đeo chuôi bạc, thọ mà vinh
Dân phong thuần hậu cùng vui vẻ
Khắp chốn chầu tôn đất tối linh.

Lại nói Công đến chơi với ông Cao Hành được vài chục ngày thì quay về Đà Bắc. Khi ấy Ngọc Nương đã 16 tuổi. Một hôm (tức là ngày mồng 2 tháng 2), Thái bà không bệnh tự nhiên nằm trong nhà mà hóa. Công làm lễ an táng tại đó (tức động Thanh Khê, châu Đà Bắc). Qua mấy năm sau, ông Cao Hành đến đón Đinh Công trở về ở động Lăng Sương. Từ đó Công chuyển đến ở Lăng Sương. Ông là người có đức tính rất tốt, hiền, độ lượng hơn người, xứ ấy ai ai cũng phục, động Lăng Sương đều kính mến. Ông Hành tuy là em rể (lấy em gái nhà họ Đinh), nhưng đối xử với anh như cha mẹ sinh ra vậy. Khi đó Ngọc Nương tuổi đã 16, hoa xuân hương nhị, trăng thu đang rằm, có dung nhan chim sa cá lặn, có nét vẻ hoa thẹn nguyệt nhường, tính đức hiền hòa, là một người con gái hiếu thuận, trên đời khi ấy không có ai được như Nương. Trên lưng ở người Nương có điểm sao Thất diệu, không dùng nước lan mà tự có hương thơm, bẩm tính như tiên, dung mạo không như người phàm trần có được.Lại nói Đinh Công ở đất đó được quãng 3-4 năm. Than ôi, đạo trời gây nên bất hạnh! Em gái của Công qua đời (tức là vợ của ông Cao Hành, em ruột của Đinh Công, tên Đinh Thị Điên). Bà Đinh trước lúc lâm chung có dặn lại với anh trai (tức là Đinh Công) cùng với ông Nguyễn Cao (tức là chồng) rằng:
– Niệm tình bạn của anh, chồng của em mà xin lại gả cháu cho ông Nguyễn Cao để giữ quyền trông nom việc nhà. Em tất như thế mới được nhắm mắt yên lòng.
Đinh Công rất thương xót em gái, lại biết ông Nguyễn Cao là người có tình nghĩa, bèn đồng ý gả cho để nối tiếp vị trí của cô ruột. Từ đó Ngọc Nương lập gia thất, chỉ theo một thuyền, hiền thảo đảm đương việc nhà, sánh như thánh nữ Hằng Nga, cùng ngang vợ hiền Khương Phụ, duyên hài cầm sắt, tình như loan phượng, thấy điềm gót lân sắp có.
Ngày tháng đi qua, được hai năm rưỡi. Một hôm (ngày 15 tháng 4) trời đẹp hai vị Công (tức Đinh Công và Cao Công) đi ra ngoài săn bắn, ngắm cảnh núi sông, ngao du tìm rồng bắt hổ, bắn thỏ đuổi cáo làm thú vui. Nhân đó đi về đến Đà Bắc, thăm lại mộ của Thái bà.
Sau đó khoảng một tháng, lại trở về ở nhà. Tới trời mùa Đông tháng 12, một hôm (tức ngày 15) hai ông đi săn bắn, thầy trò trở về tới nơi chợ (tức là chợ Lăng Sương). Hai ông (tức Đinh Công và Cao Công) ngồi nghỉ, vui đùa uống rượu ở trong chợ. Rượu say bèn cùng nhau xuống khe nước mà tắm (khi đó ở gần chợ có một cửa khe giếng nhỏ). Tắm xong lại vào quán trong chợ thì bỗng nhiên thấy đau đầu rồi cùng nhau mất (khi đó Đinh Công đã 78 tuổi, Cao Công cũng đã 72 tuổi, ngày 15 tháng 12 cùng hóa).
Các gia nhân của hai ông thấy sự đó đều sợ hãi, chạy về động, gọi Thái bà (tức Ngọc Nương) cùng với người trong động cùng đến trong quán chợ, thì thấy hai ông đã hóa. Thái bà bèn làm lễ an táng ở nơi đất đó (tức là chợ Lăng Sương, đất An Bắc). Trong 3 năm các tiết, đều làm lễ tuần chay 49 ngày, làm trọn lễ hiếu. Ruộng đất của nhà chia mười phần, chỉ giữ lại một. Thái bà thật là người làm việc đức, giúp người nghèo, dưỡng người già, cứu người khi chìm đắm, giúp người lúc nguy nan, trọng nghĩa khinh tài. Hàng ngày thường giúp đỡ người dân các gia đình trong động. Không lấy tiền công, chỉ ăn cơm đủ bữa mà khi đi về dù nắng hạn mưa sương đều không rơi trên đầu. Hoặc đi kiếm củi phát cỏ, hoặc gánh nước cấy lúa, thì nơi bà ở trên trời có một áng mây màu nhạt tròn như một cái ô lớn che ngay trên đầu của Thái bà. Dù là vào những khi nắng lớn thì nơi Thái bá vẫn giâm mát. Hoặc khi mưa to giáng lũ thì chỗ Thái bà vẫn quang tạnh.
Một hôm Thái bà đang cấy ở ngoài đồng, bỗng nhiên thấy trên trời có tiếng kêu hô, bốn bề ảm đạm huy hoàng. Thái bà bèn ngước mắt lên nhìn thì thấy ở cái giếng trong nơi động (nơi đó có tên là xứ Đồng Cốc, tại chỗ ruộng lúa của Thái bà), mây lành khắp chốn, sương mù tỏa sáng. Có một con rồng cuốn lấy nước ở bên miệng giếng, phun sóng như châu ngọc.Từ đáy giếng bỗng chốc bốc lên mù mịt như mây khắp không trung, tỏa che mặt đất. Mùi hương đầu núi ngào ngạt. Rồng bay lên không mà đi.
Thái bà (tức là Đinh Thị Ngọc Nương) liền bỏ lúa đang cấy ở ruộng, đứng dậy nhìn lên trên trời. Lại thấy một đám mây năm sắc hình như một con chim điêu lớn bay trên trời, tiếng kêu như tiếng chuông đồng, từ từ từ trên trời mà hạ thẳng xuống đầu Thái bà. Một làn gió mát nổi lên, nhập vào trong thân như là đón người. Thái bà tự nhiên nhẹ bước đi trên không, đến bên giếng chỗ một bàn đá trắng (chỗ đó có một bàn đá trắng), bước lên đó mà tắm gội. Thân mình tự như bao bởi nước hương, khói mây thơm phức, khí lành dày đặc, núi sông anh dưỡng, sông biển đúc lành, cảm thấy khắp người như mây lành bao phục không dứt. Sau đó tự nhiên hoài ý mà có thai.
Khi ấy có người hào phú là Lê Hùng, cai quản trong động, muốn lấy Nương nhưng không được. Nay lại thấy Nương có mang thai thì trong lòng rất tức giận. Liền cùng với người trong động đến tụ tập ở ngoài quán, ngay hôm đó truyền mõ làng đến nhà bắt Thái bà ra quán để các chức sắc hỏi sự tình, bắt ăn phạt vạ họa hoang dâm. Thái bà nghe vậy mới đi theo người mõ ra tới quán. Thấy Lê Hùng và các hương chức hơn mười người, đều là họ hàng của Lê Hùng. Đám người trước là ra oai, truyền mõ cùng với Đinh Thị đến nhà Thái bà, lấy hết gia tài, bán đi khu đất. Thật là họa phạt vạ rất ô nhục. Phạt vạ được ba ngày, bỗng thấy một đàn hổ hơn mười con xông vào thẳng trong khu dân cư của động mà bắt hết bè đảng Lê Hùng, tất cả hơn mười người, đem tha xác lên trên đỉnh núi Thu Tinh rồi tản đi. Nhân dân trong động khi ấy đều kinh sợ chạy trốn. Những người đã mua đất đai đều đem trả lại cho Thái bà, không dám chiếm giữ. Nhưng Thái bà đã rất hận những người láng giềng xấu mặt, không ở tại đất đó nữa mà dựng nên một gian nhà cỏ ở ngoài khu dân cư nơi đầu ruộng cạnh chỗ giếng nước (giếng này là nơi Rồng vàng đã lấy nước cho Thái bà tắm gội, có đất đẹp quý cuộc, mạch dẫn Canh Tân, thế hợp Đinh Quý, trái phải có voi ngựa rồng hổ phượng chim, hình người đang bái, rùa rắn trống cờ, nhất nhất quay đầu cùng lại chầu, ở ngay phía sau có một động cao làm đài lầu, phía trước có dòng nước ở minh đường, cùng với giếng thành hình chữ Ngọc).
Lại nói Thái bà từ khi đến ở đất đó, mỗi tháng hai kỳ sóc vọng đều thấy hổ về nơi đó nằm chầu trước sân một lúc rồi đi. Thái bà có mang 14 tháng tới năm Đinh Tỵ vào ngày 14 tháng 1 đúng vào giữa đêm Thái bà đang nằm ngủ say, mơ màng như mộng, bỗng thấy một ánh hào quang xán lạn, lại thấy một vị quan y phục cân đai chỉnh tề, cưỡi một con ngựa trắng đến thẳng nơi Thái bà đang nằm, tay cầm một bức chiếu chỉ rồng, quỳ trước mặt Thái bà mà tuyên đọc rằng:
– Thời gian hạn định Thiên thần xuất thế đã đến. Khâm mệnh Thiên tào, báo sự này cho hiền nhân Đinh Thị biết. Nay sẽ sinh Thánh, quyền chưởng các thần kỳ ở Lăng Sương.
Quan nhân đọc xong cưỡi ngựa biến mất. Thái bà tỉnh lại thì trời đã sáng. Hôm ấy (ngày 15 tháng 1) Thái bà đang ngồi ở trên bàn đá trắng, bỗng thấy mây bay năm sắc, ánh hào quang chiếu xuống, chim phượng hổ báo trăm loài thú đến chầu ở nơi đó. Đến giờ Thìn sinh được một người con trai, hình dạng tuấn chỉnh, khí mạo khôi ngô, ba ngôi cân xứng, năm gò chầu về, cao vượt hơn hẳn bình thường, mắt như sao đẩu chiếu sáng, mặt như thái dương xán lạn. Vào lúc ra đời, trời đất mờ mịt, sấm sét ầm ầm, đáy giếng nổi sóng to, rồng vàng hạ xuống phun nước tắm rửa. Lại thấy chim điêu bay trên trời che cho chỗ sinh. Tiếng kêu tựa như âm nhạc Tiêu Thiều réo rắt, sáo trúc ca vịnh. Hổ ngậm đá nén bụng của Thái bà (tới nay hai tảng đá mà Thái bà nằm sinh cùng với bàn đá hiện còn ở bên cạnh giếng trong đền, tảng đá này vẫn còn dấu răng hổ ngậm đá nén).
Lại kể được trăm ngày sau mới đặt tên là Nguyễn Tuấn (tuy rằng ông Nguyễn Hành không sinh ra nhưng Thái bá thủ tiết theo chồng cho nên tuân theo dòng họ bên chồng mới đặt là Nguyễn). Khi Công được 6 tuổi, Thái bà một mình cô đơn không có người nương tựa. Nhân dân trong động tuy có cấp dưỡng nhưng vì sự sỉ nhục trước đây nên lòng vẫn còn oán hận. Ngày tháng đó không có cách sinh nhai nên mẹ con cùng dẫn nhau tới núi thiêng Thứu Lĩnh Ngọc Tản (tức là chính ở tại xứ Mang Bồi, châu Thủy Pháp, tổng Hoằng Nhuệ, huyện Thanh Xuyên) trú ở nơi đó. Lại cùng với một lão bà kia trên núi tên là Ma Thị (do ở nơi đất là Bùi nên người ta gọi là bà Bùi) Cao Sơn thần nữ (cha của Ma Thị Cao Sơn thần nữ là Ma Linh, mẹ là Hán Thị Ngạn, quê ở châu Bố Chính, do chạy loạn đến ở đất này, làm chủ quản một châu, nằm mộng thấy nuốt sao Thái dương, lại được điềm chim trắng trên núi cao mà sinh ra Ma Thị Cao Sơn thần nữ. Chính sinh ở đất Mang Bồi, châu Thủ Pháp, nay vẫn còn tồn nhà ở xưa), cùng kết giao. Được ba năm vì nhớ phần mộ của người thân nên mẹ con quay về động cũ Lăng Sương (sau đổi là Tuấn Công. Khi Công 2 năm 11 tháng nguyên có tên là Nguyễn Tùng), bắt đầu thụ mệnh theo học Lý Đường tiên sinh tên là Nhã. Năm 15 tuổi có chí cho việc học hành. Tuy cảnh nghèo sách mọn nhưng tính tình trời sinh lại vui vẻ, không thay đổi. Ngày ngày tha hồ bầu gió, sắc trăng mà tiêu dao, lấy rìu búa làm kế sinh nhai. Ban đêm tối theo đèn huỳnh án tuyết, rượu một bầu lấy làm thú vị. An bần lạc đạo, thật là có đại chí vậy.
Tuy nhiên đôi khi thấy mẹ cần lao khó nhọc, thương mẹ cùng khổ nên thường ôm sách thở dài, gạt lệ mà rằng:
– Sinh ra ta, chăm sóc ta, nuôi nấng ta, dưỡng dục ta là tình mẹ hiền vậy, đến ba lần chuyển dời chỗ ở. Tình cảnh nay như thế biết lấy gì an ủi cho lòng mẹ.
Năm tháng thường đến núi thiêng Ngọc Lĩnh cùng với lão bà Ma Thị than rằng:
– Than ôi! Than ôi! Vận trời tuần hoàn, sự người thường biến. Gần đây còn có thể cố ở động Lăng Sương, tạm sống an nhàn. Ngày nay rừng đã kiệt củi, không có cách để nuôi dưỡng mẹ già. Là người con có hiếu thì biết làm sao đây? Nên muốn nguyện làm nghĩa tử của lão bà, hàng ngày tiện việc kiếm củi, sau là có thể chăm sóc cho mẹ của con.
Lão bà nghe lời đó liền đồng ý. Nguyễn Tùng mới dẫn Lão mẫu đến ở cùng Lão bà tại núi Tản Viên. Được một năm rưỡi thì một hôm Thái bà (tức là mẹ đẻ của Công) đang ngủ bỗng thấy một đám mây mây hồng bay trên không trung, hạ thẳng xuống quanh Thái bà, tự nhiên nhẹ bước mà quay về nơi ở xưa tại động Lăng Sương (tức là ở nơi nhà cạnh giếng nước). Lại thấy có một dấu ấn rồng đóng lên tường trúc trong nhà, bên trên có tiếng đọc các chữ đó rằng:
Một áng mây hồng đến nhân gian
Mới gọi Tiên nương lên Quảng Hàn
Việc đời qua đi còn là thánh
Núi thiêng hương lửa mãi muôn vàn.

Tiếng đọc dứt thì Thái bà tỉnh lại, thấy dưới đầu gối có một tấm màu hồng như mây. Thái bà lấy làm lạ bèn nói lại sự mộng cho Nguyễn Tùng. Nguyễn Tùng thấy mẹ nói vậy bèn chào tạ Ma Thái bà rồi mẹ con lại quay về nhà ở Lăng Sương. Ở được bốn năm ngày thì một hôm (tức ngày 12 tháng 6) trong động có nhà cụ già nhờ Thái bà đi cấy lúa. Thái bà xuống ruộng cấy được một lúc, bỗng thấy trên trời mây đen nổi lên bốn bề, mưa gió lớn kéo đến. Tất cả những người đang cấy đều lên bờ chạy về. Thái bà cũng leo lên bờ mà về nhà (tức là ở nhà ở tại chỗ giếng nước). Mới đến sân thì bỗng thấy một đám mây trắng từ trên trời hạ thẳng xuồng đầu, tự nhiên mà hóa.

Hùng triều Việt Thường Thị. Ngọc phả cổ về Tản Viên Đinh Phi Thánh mẫu triều Hùng Việt Thường Thị, bộ Thượng

Bản ngọc phả được sao trong bản khai của làng Tang Ma, tổng Phương Giao, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ năm 1938. Bản ngọc phả này được chép là tổng hợp các bộ phả gồm: bộ Thượng về thời Hùng Vương, bộ Trung về Tiền Thánh mẫu, bộ Hạ về sự tích Sơn Thánh.

Bộ Thượng

Xưa Tiền Hoàng đế của đất nước – Nam Thiên Thánh tổ – Hùng Vương Sơn, dựng tạo cơ đồ to lớn, là thủy tổ Việt Nam, mở nước Cổ Việt Thường, Họ Hùng mười tám đời thánh vương ngự trị.

Xưa cháu ba đời của Viêm Đế là Đế Minh sinh ra Đế Nghi, lại đi tuần ở phương Nam nơi Ngũ Lĩnh (Ngũ Lĩnh tức là tên gọi tiếng Nam là động Vân Nam Bạch Hổ, nay là quận Giao Chỉ). Đế Minh gặp được nàng Vụ Tiên mà sinh ra Kinh Dương Vương. Kinh Dương Vương là người thông mính thánh trí, vượt hơn cả Đế Nghi. Đế Minh muốn truyền lại ngôi báu để trị vạn nước. Dương Vương cố nhường cho anh. Do vậy Đế Minh lập Đế Nghi làm trưởng mà trị ở phương Bắc, phong cho Kinh Dương Vương ở mặt Nam mà cai quản Thiên hạ. Khi đó tên nước ta là nước Xích Quỷ. Dương Vương tuân thừa ý chỉ liền theo oai trời mà tới núi Nam Miên, xem hình thắng nơi đó mà lập đô ấp. Lại đi qua Hoan Châu (sau tức là các xã Nội Thiên Lộc, Tả Thiên Lộc, Trình Hữu, huyện Thiên Lộc, phủ Đức Quang, xứ Nghệ An). Đế vượt qua xem hình thế, thấy được một bầu quý cuộc, lâu đài vạn nhận, gọi là núi Hùng Bảo Thứu Lĩnh, gồm 199 ngọn núi ở giáp cạnh cửa biển Hội Thống. Núi chạy cao rộng, nước chảy quanh co. Rồng cuộn hồ ngồi. Bốn bề nhìn xa thấy rộng. Đế mới lập đô thành để bốn phương tới triều cống.

Vào lúc đó khí xuân dung hòa, vạn cảnh nhuốm màu sắc. Vương bình sinh rất thích sông núi, bèn rời giá đi tuần du ngoài biển để trải xem cảnh trí đất đai. Bất giác thuyền rồng đến thẳng hồ Động Đình. Vương lệnh dừng thuyền ở trên hồ mà ngắm cảnh. Bỗng thấy một nữ nhân tư chất diễm lệ, từ đáy nước tiến đến, dung nhan tuyệt đẹp. Thực là kỳ ngộ hiếm xưa nay. Vương lệnh tiến thuuyền đến và hỏi:

–         Đẹp thay tiên nữ! Nàng từ đâu đến đây?

Đáp rằng:

–         Thiếp tên là Thần Long, chính là con gái Động Đình Quân, sống ở sâu trong cửa ngọc, đợi bậc anh hùng đã lâu. Nay trời cho gặp được, nguyện xin được theo hầu nâng khăn sửa túi.

Vương thích thú vui mừng mới dẫn vào trong thuyền, quay về đô thành, lập Thần Long làm chính cung. Ngày sau Vương lại đi tuần thú, xem ngắm núi sông. Xa giá đến xứ Sơn Tây, thấy một địa hình trùng điệp, núi lạ sông đẹp. Vương bèn tìm riêng mạch đất, nhận thấy từ trên núi Côn Lôn khí giáng qua sông nước Cửa Ải mà thoát mạch. Rồng chạy xa mãi đến núi Tụ Long, liền sang châu Thụ Vật xứ Tuyên Quang biến ra thành tòa Kim tinh vạn nhận. Mạch chạy tới Hạ Hoa, Thanh Ba, Sơn Vi, Tây Lan của phủ Lâm Thao, bên dưới tới chùa Hoa Long thôn Việt Trì ở sông Bạch Hạc là chỗ của mạch. Bên trái từ sông Lôi, rồng chạy nước theo tới các huyện Đông Lan, Sơn Dương, Đương Đạo, Tam Dương thì đột lập núi Tam Đảo, có cung Tiên bên trái làm Thanh long. Lại chạy qua núi Yên Tử xứ Đông Triều, Hải Dương, thoát tới ngoài biển các sông Đồ Bạn, sông Đà, tới huyện Bất Bạt thì bỗng dựng nên núi Tản Biên, bên phải cung tiên làm đầu Bạch hổ, tới Sơn Nam, Ái Châu, cửa biển Thần Phù là cửa lớn chính, loại qua bên dưới ngoài biển là núi Chích Trợ, cửa  Trà Lý làm đầu hổ chầu án. Lấy sông Bạch Hạc làm Nội minh đường, huyện Nam Xương sông Cái là, Trung minh đường. Nghìn núi cúi phục, vạn dòng chầu tôn, cùng theo núi tổ Nghĩa Lĩnh mà thu hết những hình thế đó.

Vương nhận thấy đất này có hình thế hơn thành Cựu đô, bèn lập chính điện ở núi Nghĩa Lĩnh, thời thường đến ngự ở đó. Bên ngoài lập đô Phong Thành, nay tức là thôn Việt Trì xã Bạch Hạc, huyện Bạch Hạc, là đô thành cũ. Lấy tên là nước Văn Lang, phía Đông giáp Nam Hải, phía Tây đến Ba Thục, phía Bắc tới hồ Động Đình, phía Nam giáp với Hồ Tôn. Đế dựng nước lập đô, việc hoàn thành thì về lại đô thành cũ Hoan Châu ở núi Thứu Lĩnh, đặt đô thành của Việt Thường Thị ở đó. Khi ấy Vương đi tuần thú về thì Thần Long có thai, điềm lành ánh hồng đầy nhà, trong màn trướng có mùi thơm. Ngày tháng đến tuần sinh ra Lạc Long Quân. Long Quân có tư chất phi thường, tự có khí tượng của bậc đế vương. Vương bèn lập làm hoàng thái tử.

Vào thời Vương trị vì có người con gái của Đế Lai tên là Âu Cơ, trở về sống ở quê mẹ tại động Lăng Sương, đi ra du ngoạn ở bãi Trường Sa. Long Quân thấy nhan sắc đó rất thích thú, mới lấy lập làm hoàng phi. Đến khi Kinh Dương vương sai Lạc Long Quân tới thành Phong Châu ở Nghĩa Lĩnh để nhận quốc sự. Kinh Dương Vương ở ngôi 160 năm thì mất. Con là Lạc Long Quân nối ngôi, lập tên hiệu chính là Hùng Hiền Vương.

Khi ấy Âu Cơ có mang, ba năm bao mươi ngày thì ở đầu núi Nghĩa Lĩnh có mây lành năm sắc sáng lạn. Rồi sinh ra một bầu trăm trứng, nở ra trăm người con trai, đều có tư chất anh hùng quán thế. Đến khi trưởng thành, Vương bèn cho phong hầu lập bình, chia nước thành 15 bộ. Một là Sơn Tây, hai là Sơn Nam, ba là Hải Dương, bốn là Kinh Bắc, năm là Ái Châu, sáu là Hoan Châu, bảy là Bố Chính, tám là Điểu Châu, chín là Ai Lao, mười là Hưng Hóa, mười một là Tuyên Quang, mười hai là Cao Bình, mười ba là Lạng Sơn, mười bốn là Quảng Đông.

Khi đó Long Quân nói với Âu Cơ rằng:

–         Ta là giống rồng, nàng là giống tiên, Tí Ngọ không cùng. Nhân đây cùng chia ra, 50 con theo cha về biển làm thủy tinh, đều là 50 thủy thần. 50 con theo mẹ lên núi là sơn tinh, đều là sơn thần. Cộng lại là trăm thần vậy.

Truyền rằng từ Kinh Dương Vương, Hùng Hiền Vương, Hùng Quốc Vương, Hùng Hi Vương, Hùng Hy Vương, Hùng Hoa Vương, Hùng Huy Vương, Hùng Ninh Vương, Hùng Chiêu Vương, Hùng Uy Vương, Hùng Trinh Vương, Hùng Việt Vương, Hùng Định Vương, Hùng Triều Vương, Hùng Nghị Vương, Hùng Duệ Vương là 18 thánh thế, núi sông một dải, xe sách trị nước, dựng lập 120 thành điện, tạo nếp phong hóa qua các đời mà trị, 18 đời thánh quân, di truyền con cháu các triều đại đế vương, cùng hưởng nước cộng 2655 năm, thọ 8678 năm, sinh 9860 hoàng tử công chúa, sinh cháu chắt dòng dõi cộng 14.370 người, trị ở nước Nam tại đầu núi góc biển đều có hùng đồ. Nay để lại ngọc phả, bảng vàng sách rồng, vạn thế trường tồn, mãi mãi không dứt. Theo phả ký Lê Đại Hành).

Khai mở Trời Nam, cơ đồ đất nước Việt Hùng. Nước biết một dòng, khởi vận thánh đế vua minh.  Núi xanh vạn dặm lập nền đô thành cung điện. Mở vật giúp người, cai quản 15 bộ, thế mạnh trước các chư hầu. Nối nghiệp làm rạng tỏ đất nước thành Viêm Hồng. Thay nhau trị nước hơn 2.000 năm, mãi giữ vững như bàn đá, hiển ứng linh thiêng ở Nghĩa Lĩnh, truyền trăm đời đế vương nước Nam, muôn năm thánh điện núi Hùng ngự trị. Là Thánh tổ Trời Nam, nền móng đất nước cơ đồ, mãi tôn sùng muôn năm, lưu đời vạn cổ. Bèn lập cung lăng miếu điện, con cháu dòng dõi hoàng gia được chia ở đầu núi góc biển tại địa giới quận Giao Chỉ.

Nhân dân phủ huyện các xứ trang động sách đều phụng thờ, hương lửa lưu truyền. Vạn cổ nhật nguyệt mãi sáng, muôn năm dấu vết không phai. Người đời sau có thơ khen rằng:

Trời Nam khởi vận từ Hùng Vương
Vạn cổ ban đầu lập kỷ cương
Thống nhất tương truyền mười tám vị
Hai ngàn năm lẻ mãi dâng hương
Một bầu trăm trứng cùng sinh thánh
Hai rể lên trời bất tử đường
Cùng bởi quốc triều nhiều sự lạ
Dấu đây Tản mẫu ở Lăng Sương.

Bài thơ về Tản Viên Sơn Thánh trong thần tích làng Tang Ma

Mười tám nhánh Hùng đồ củng cố
Hai ngàn năm cuồn cuộn khí lành.

Tinh thần cốt cách ngọc Lăng Sương
Mở chốn Rồng thiêng xuống thế dương
Khí mạo to cao còn tỏ thánh
Phong tư đẹp gọn khác người thường.

Ba sinh hương lửa vừa mới thấy
Phong lưu một nét cổ gia đường
Sáu tuổi mẹ cha về vực thọ
Bảy năm phụng tự chốn yên hương.

Trở học chuyên cần nơi động cũ
Linh sơn hái củi lúc khi đang
Ngô đồng chặt hạ gặp tiên lão
Gậy thần thu nhận cứu dân làng.

Lũ trẻ bên đường xem giết rắn
Thần chú đọc ngay cạnh bến phương
Động Đình cùng tới đền công đức
Chia tay Ngọc Tản nghĩa bao nhường.

Muôn đồ vạn bạc đều không đủ
Một cuốn sách thần vật dị thường
Trời cao cơ diệu nên linh ứng
Phép lạ hiếm truyền từ đế vương.

Vàng bạc ngọc ngà cầu được ước
Gió mưa sấm chớp nổi khôn lường
Chí hiếu mẹ cha tuân phép đạo
Dưỡng mẫu tạ ơn cung kính dâng.

Lão mẫu non khe di chúc lại
Thần nữ khói hương để miếu đường
Mẹ con một nhà, đời khó sánh
Thần tiên vạn cổ cũng không thường.

Nơi núi thảnh thơi ngàn vạn trượng
An nhàn ba sáu điện cung quang
Thế thời vua trị, Đường Nghiêu thịnh
Quảng đại Sơn Tinh, Ngu Thuấn vang.

Nhường ngôi mới tìm cầu Hoa Mị
Thủy Tinh thù kết một mối trường
Côn kình nhằm chém nơi đầu núi
Thủy thổ tách phân, rùa sấu quăng.

Theo trời là Tiên, người là Thánh
Trung thần với nước, hiếu gia đường
Búa việt giao cầm, vua bái tướng
Dẹp giặc hai đàng rơi tuyết sương.

Vách đá núi cao khắc sự nghiệp  
Vẻ vang ghi trúc bến sông Tương
Không ham làm khách trên trần thế
Muốn thành người ở chốn tiên phương.

Giúp nước một thời lo việc lớn
Hóa sinh cảnh hội lúc phi thăng
Hưng thịnh non sông cùng giữ mãi
Âm phù hộ quốc đạo thần vương.

Gió bụi đi qua nhàn một cuộc
Còn mãi đền đài giữ khói hương
Ngựa sắt thiên vương danh Phù Đổng
Đúc tướng người đồng thánh Thụy Hương.

Kìa như Tản Linh Sơn Thánh
là thánh, là tướng, là vua, là thầy, là tiên, là thần,
Lồng lộng sao! Vòi vọi sao!
Thật khó tả nổi.

Thuận việc cảnh đó ngàn vạn bái
Nguyện cùng trời đất phúc ghi văn.
 

Phiên âm

Thập bát diệp Hùng đồ củng cố
Nhị thiên niên(?) thuỵ khí uân nhân.

Lăng Sương cốt cách ngọc tinh thần
Bả thác Long linh giáng hạ trần
Khí mạo khôi ngang hỗn hiển thánh
Phong tư tuấn chỉnh dị thường nhân.

Tam sinh hương hoả tân tài kiến
Nhất chẩm phong lưu túc hữu nhân
Lục tuế nghiêm đường vi(?) thọ vực
Thất niên lăng lĩnh chỉ từ thân.

Thì hồi cố động tu cần học
Nhàn đáo Linh sơn tiện thái tân
Tiễn phạt ngô đồng phùng lão tẩu
Khâm thừa trúc trượng cứu sinh dân.

Lộ kiến hắc xà niêm mục thụ
Khẩu ngâm thần chú thố giang tân
Động Đình tương đáo thường công đức
Ngọc Tản nghinh lai tạ nghĩa nhân.

Trùng hoá vạn kim thường bất túc
Thần thư nhất quyển thụ kỳ chân
Huyền cơ linh ứng do thiên thượng
Bí pháp hy truyền tự đế quân.
 
Ước tức đắc kim ngân ngọc bảo
Chúc thi lai vũ điện phong vân
Tạ ân dưỡng mẫu tiên cung hiến
Chí hiếu từ thân địch phỉ cần.

Nhạc độc lão bà di chúc khế
Miếu đường thần nữ phó hương yên
Nhất môn mẫu tử trần vô đối
Vạn cổ thần tiên tục vị hoàn(?).
 
Sái lạc ức thiên vạn trượng nhạc
Tiêu dao tam thập lục cung xuân
Quốc vương long đại Đường Nghiêu? thịnh
Sơn thánh hồng hoằng Thuấn Ngu nhân.

Tốn vị phương cầu Hoa Mị phối
Kết nhân quang bản thuỷ tinh thần
Kình côn nhậm hướng sơn đầu đoạn
Miết ngạc không đầu thảo lý phân.

Thiên tắc tiên hề nhân tắc thánh
Gia vi hiếu tử quốc trung thần
Tuyết sương lưỡng lộ bình Man khấu
Phủ việt bát trì bái tướng quân.
 
Trúc bạch kiêm tương minh thịnh liệt
Sơn hà đới lệ ký nguyên huân
Lãn vi thế thượng trần ai khách
Hảo tác tiên bồng ngọc nhuận nhân.

Hộ quốc đẳng nhàn gian đại sự
Thăng thiên cảnh hội hoá sinh thân
Bảo đề tương dữ hưng đại? nhạ
Hộ quốc âm phù hữu đạo quân.
 
Xa giá phong trần nhàn nhất cục
Cung đài hương hoả thọ trường xuân
Phù Đổng thiên vương(?) dương thiết mã
Thuỵ Hương thánh tướng chú đồng nhân.
 
Kỷ hữu như Tản Linh Sơn Thánh
vi thánh vi tướng vi quân vi sư vi tiên vi thần,
đãng đãng hồ, nguy nguy hồ,
nan danh chi hỹ.

Tình cảnh niệm thuận thiên vạn bái
Nguyện đồng thiên địa phúc tư văn.

Thần tích Đinh Phi quốc mẫu của làng Tang Ma, tổng Phương Giao, huyện Thanh Thủy, Phú Thọ.

Nguyên văn chữ Nho

十八葉雄圖鞏固二千千瑞氣氲氤
凌霜骨格玉精神把托龍靈降下陳氣冒魁昂渾顯聖丰姿俊整異常人

三生香火辛纔見一枕風流夙有姻六歲嚴堂為壽域七年崚嶺祇慈親

時回故峒須勤學閑到灵山便採薪剪伐梧桐逢老叟欽承竹杖救生民

路見黑蛇𢫈牧竖口吟神咒措江津洞庭相到償功德玉傘迎来謝義仁

重貨萬金償不足神書一卷授其真玄机灵應由天上秘法希傳自帝君

約即得金銀玉宝祝施来雨電風雲謝恩養母先供献至孝慈親迪棐勤

岳瀆老婆遺嘱契庙堂神女付香煙一門母子塵無对萬古神仙俗未回

洒落億年干萬丈岳逍遙三十六宮春國王隆大唐卢(堯?)盛山聖洪弘舜禺仁

遜位方求花媚配結仁光本水晶神鯨鯤任向山頭断鱉鱷空投草裡分

天則仙兮人則聖家為孝子國忠臣雪霜兩路平蛮窛斧越癶持拜將軍

竹帛縑湘銘盛烈山河帶礪記元勳懶為世上陈哀客好作仙蓬玉潤人

護國等閒艱大事升天景會化生身保題相與興?偌護國陰扶有道君

車駕風塵閒一局宫臺香火壽長春扶董天?揚鐵馬瑞香聖將鑄銅人

幾有如傘靈聖山聖為聖為將為君為師為仙為神蕩蕩乎巍巍乎難名之矣

情景念㥧千萬拜
願同天地福斯文

Di tích thờ Tản Viên Sơn

Thư tịch của làng Ngọc Nhị, tổng Cẩm Đái, huyện Bất Bạt, tinh Sơn Tây (dịch từ bản khai năm 1938).

Xưa thời Hồng Bàng Thị, Kinh Dương Vương là dòng Thần Nông Thị. Kinh Dương Vương húy là Khư (quốc sử chép thành Lộc Tục), sinh ra Lạc Long Quân, húy là Nghi (quốc sử chép thành Sùng Lãm). Thời đó con gái của Đế Lai là Âu Cơ, tên là Mỹ (còn có tên là Thầm) ở tại động Lăng Sương (có thuyết cho rằng tổ của Vương Mẫu ở tại đó, thuộc huyện Thanh Nguyên), đi ra bãi Trường Sa (có thuyết cho rằng Vương Mẫu đi hái dâu ở bãi đó tại xã Sơn Bạn, huyện Bất Bạt). Long Quân yêu thích nhan sắc đó nên đã cùng quyến luyến. Mười tháng mang thai sinh ra trăm trứng. Sau khoảng một tháng (có chỗ cho là bảy ngày), trăm trứng nở ra những người con trai, không cần bú mớm mà vẫn lớn lên. Lúc mới sinh ra là ở Mộc Châu nên Mộc Châu là đất tổ.

Một ngày Long Quân nói với Âu Cơ rằng:

– Ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên, không cùng chủng loại, khó bề hợp tính, nên phải chia biêt, phân 50 người con theo cha về biển là Thủy tinh:

Lân Lang, Xích Lang, Quỳnh Lang, Mật Lang, Thái Lang, Vĩ Lang, Đổng Lang, Yến Lang, Tiêu Lang, Diệu Lang, Tĩnh Lang, Vân Lang, Tập Lang, Ngõ Lang, Cấp Lang, Tiếu Lang, Chẩn Lang, Hoan Lang, Chiêm Lang, Khương Lang, La Lang, Thăng Lang, Tán Lang, Quyền Lang, Đường Lang, Kiều Lang, Dũ Lang, Ác Lang, Hạn Lang, Liệt Lang, Ưu Lang, Thống Lang, Lý Lang, Thế Lang, Tường Lang, Tróc Lang, Tang Lang, Cốc Lang, Minh Lang, Tửu Lang, Chiểu Lang, Kết Lang, Điểm Lang, Trưởng Lang, Thuận Lang, Tẩm Lang, Thai Lang, Triệu Lang, Ích Lang.

50 người con theo mẹ lên núi là Sơn tinh:

Hương Lang, Thiêm Lang, Thận Lang, Văn Lang, Võ Lang, Linh Lang, Tịnh Lang, Hắc Lang, Quản Lang, Cao Lang, Tế Lang, Thỉnh Lang, Mã Lang, Chiếu Lang, Khang Lang, Chỉnh Lang, Đào Lang, Nguyên Lang, Cẩm Lang, Xuyến Lang, Yêu Lang, Yếu Lang, Phái Lang, Tài Lang, Lạm Lang, Triệu Lang, Quốc Lang, Lưu Lang, Lộ Lang, Quế Lang, Diêm Lang, Nhị Lang, Huyền Lang, Á Lang, Nguyệt Lang, Sâm Lang, Biện Lang, Triều Lang, Quản Lang, Canh Lang, Thải Lang, Lôi Lang, Thấu Lang, Việt Lang, Thuật Lang, Mãn Lang, Long Lang, Tỷ Lang, Tuấn Lang, Ninh Lang

Lên núi xuống biển, có sự thì cùng gọi nhau.

Vương tên Hương Lang, tức là tôn húy Tản Viên Tam Vị Đại vương vậy.

Thời Đường Nghiêu, hồng thủy bao trùm. Lạc Long Quân sai trăm người con trai cùng nhau trị thủy. Khi đó chỉ có Vương có oai anh võ dũng, đức cao đạo lớn, có thuật thần tiên, mới đọc ước chú làm cho đá vỡ tung tóe, hiện thành cây gậy sắt, lấy gậy đó mà chỉ vào nước thì nạn thủy tai mới hết, là người có công đầu vậy.

Đến khi quân Ngô nước Tần khởi binh, thỉnh Vương đến giúp, quả nhiên được đại thắng (hai chuyện này theo y như bản cũ mà không thể khảo được), tấu mừng.

Sau Đại vương theo miền biển mà về, vào cửa biển Thần Phù, lại qua các quận, muốn tìm được đất tốt, lên núi Đông Nhạc, Yên Tử, xem cảnh trí, nhân qua ở Phạm Xá, Hoa Quật. Rồi đó ngược sông Cái mà qua đất Long Biên (có chỗ cho là Đỗ). Tiếp tới bến Chấn, muốn ở lại đó nhưng rồi lại ngược sông Lô lên thượng nguồn, qua huyện Phúc Lộc, tới bến Bạn Phiên, nhìn về núi xanh Tam Đảo, đất quý hội loan là đô thành cũ của Hùng Vương. Nhân đó về Mộc Châu xem ngắm phong thủy, theo thế rồng uốn lượn cho đến núi Tản Viên, thấy có 3 ngọn cao vót hơn vạn nhận, thật là đẹp thay, mờ tỏ không thể gọi tên được. Lại thêm nhiều xóm thôn dân cư trù phú tập trung, bất giác thấy lòng trong sáng, chất phác mà thích thú vô cùng. Bèn mới mở một con đường lên, lập cung ở đỉnh đó, thuộc đất của sách Thủ Pháp (nay là Thượng thần cung theo hướng Cấn – Khôn làm chỗ ngự chính, còn Hạ thần cung là nơi để cầu đảo, cung Đông Tây là nơi cáo chúc, Nam Bắc thần cung là nơi tạm trú).

Vương lúc thì đi ra sông Tiểu Hoành xem đánh cá, qua các huyện Ma Nghĩa, Phúc Lộc, lạc tới xứ Bi Bi xã Cổ Đằng, thường tạm trú ở đó. Đến xã Tam Vật Lại thấy phong cảnh đẹp mà lập hành cung. Lại đi xem đánh cá ở sông Tiểu Hoành, qua tám xã Thuỵ Phiêu, Tam Sơn, Lễ Toàn, Nhân Lý, Văn Khê, Xuân Hương, An Phúc, Tung Cao của huyện Phúc Lộc, rồi xa giá trở về cung, xa trông cửa biển Thần Phù, sai người dân không được làm tắc đường thủy.

Lại thường đi săn tới xã An Diệu huyện Mỹ Lương, tạo cung Mang Sơn, lưu ruộng thờ để cho việc thờ cúng, định việc hàng năm tiết Xuân, tiết Đông nhân dân các xã theo như lệ đánh cá cùng nhau thờ phụng. Tháng 8, tháng 9 xã Tam Vật Lại phụng đón tới xã Khả Lê, lập làm điện thờ bằng tranh cỏ, đánh cá để tế các thần, cùng người dân địa phương đều đến đền để làm lễ phụng thờ.

Trước đó, Hùng Vương có một người con gái là Mị Nương, dung nhan tuyệt đẹp. Thục Vương Phán đến cầu hôn mà không được. Đến khi Vương gặp thấy thích mà cầu hôn. Đang lúc Thủy Tinh cũng đến tranh cưới, nên cùng đua thử phép tiên. Vương tay cầm gậy sắt, chỉ núi núi lở, chỉ đất đất nứt, chỉ nước nước cạn. Lại có thể ra vào trong đá như không. Thủy Tinh muốn chống với Vương, nhằm Vương, niệm thần chú, phun nước thần. Trong chớp mắt không trung hóa thành mây mưa, trời đất chuyển động.

Hùng Vương nói: Ta chỉ có một con gái, giờ có hai người hiền. Ai mà có sính lễ đem đến trước, ta sẽ gả cho.

Vương bèn chuẩn bị sính lễ đến trước, đón Mị Nương về động trên núi. Sau ba ngày, Thủy Tinh mới tới, tức giận không được nên dẫn các loài thủy tộc mà đánh đến mà chiếm lấy. Vương và Hùng Vương ngầm buông lưới sắt ở bến Thụy Hương của huyện Từ Liêm mà ngăn binh thủy tộc không tiến được. Thủy Tinh mới mở riêng một dải sông nhỏ cắt ngang từ Lị Nhân tới vùng sơn cước Quảng Oai nối lên thượng ngạn cửa sông Hát, ra sông Cái nhập vào sông Đà mà tấn công sau núi Tản Viên. Lại mở một sông nhỏ cắt ngang, gọi là sông Bờ theo mặt trước của núi Tản Viên.

Vương mới dùng phép thần, gọi người dân trên núi lấy tre làm rào giắt trên núi để ngăn. Lệnh cho người dân cứ thấy mai ngạnh nổi trên nước trước rào thì đều chém. Thây rắn, cá, ba ba, thuồng luồng nổi tắc cả dòng sông. Thủy Tinh lấy làm thù hận, nuôi quân tích oán, mỗi năm tháng Bảy tháng Tám thường đến khiêu chiến ở dưới núi, nên dân thường bị gió to nước lớn làm hại. Nguyên là Vương có một cuốn sách ước có phép tiên trường sinh, pháp lực rất lớn nên quân thủy tộc không thể gây họa.

Vương có tài dẹp loạn, giữ nước giúp dân, gìn giữ xã tắc nên người đời đều xưng là Chúa tể quốc gia Phúc thần đệ nhất. Mỗi khi lập triều đại mới thường mong có âm trợ nên sai sứ giả đến phong tặng thêm.

Vương đệ là Quý, mọi đức đều tốt, quảng đại khoan hòa, có tài lạ chí lớn, giúp nước yên dân, giúp vững xã tắc, ở bên đỉnh núi Nam, tên hiệu là Quý Vương Cao Sơn Tứ vị.

Lại tham khảo Giao Châu ký của Lỗ Công nói đến sự việc xưa tương truyền rằng Đại vương thường nói:

– Ta vốn là Sơn Tinh, nơi sống ở Nam Việt, gọi là Quốc chủ Đại Vương, cùng với Thủy Tinh ra trận giao chiến, thắng ở Phong Châu, nên nhân đó sống ở núi Gia Ninh. Lại xưng là cháu họ Nguyễn, sinh vào thời Chu Noãn Vương.

Vương thọ 109 tuổi, ngày 4 tháng 5 năm Giáp Tí bay lên hóa sinh. Trước đây Vương thường đi vãng du săn bắn tới xã An Diệu huyện Mỹ Lương, nghỉ ngơi tại đó, lập thành cung xá tên gọi là điện Mang Sơn. Lấy xã An Diệu làm dân tạo lệ phụng sự hương hỏa, mỗi năm xuân tháng 2 dùng trâu một con, dê một con, lợn hai con để làm nghi thức cúng tế.

Vương thường đi vãng du đến sông Tiểu Hoành xem đánh cá tới xã An Vệ huyện Ma Nghĩa thấy một khu Thanh Lan Bảo Sơn, có hình rồng chầu về tổ, mới lập làm cung xá để ở, lấy xã An Vệ làm tạo lệ phụng sự hương hỏa, mỗi năm mùa xuân tháng 2 dùng trâu một con, dê một con, lợn một đầu mà làm nghi lễ cúng tế.

Vương thường đi săn bắn tới xã Cổ Đằng huyện Ma Nghĩa nghỉ ngơi, lập cung xá gọi là Nam cung điện, ở xứ Bi Bi lập 4 cột đá, 8 con lợn đá gồm 1 lợn mẹ và 7 lợn con để lưu làm di tích. Lấy xã Cổ Đằng làm tạo lệ phụng sự hương hỏa, mỗi năm mùa xuân tháng 2 dùng trâu một con, dê một con, lợn một đầu mà làm nghi lễ cúng tế.

Vương thường đi vãng du sông Tiểu Hoành xe đánh cá đến xã Tam Sơn huyện Phúc Lộc lập làm cung xá một dãy, tạm trú ở đó, nay gọi là điện Cửu Miếu. Hàng nằm các xã Tam Sơn, Nhân Lý, Văn Khê, Xuân Hương, Lễ Toàn, An Phúc, Tung Cao lấy ngày 10 tháng 10 phụng nghênh tại điện Quán Thánh đến điện Cửu Miếu, cùng nhau thờ cúng, tới ngày 15 đánh cá để làm lễ cúng tế.

Đại mẫu của Vương thường du ở bãi Trường Sa, gặp Lạc Long Quân đi đến đó (tới xã Bạn Sơn tạo đền một dãy để phụng thờ, gọi là đền Trung cung, lấy xã Sơn Bạn làm tạo lệ phụng thờ hương hỏa, hàng năm mỗi xuân tháng 2 dùng lợn một đầu để làm nghi lễ cúng tế).

Các triều đại có phong mỹ tự. Các đạo sắc chỉ này được đựng trong 10 kiện…

(phần dưới là kê nội dung các sắc chỉ phong tặng mỹ tự, thời gian tu sửa các miếu điện, bạn tặng các tế phẩm cho các cung điện khác nhau thờ Tản Viên Sơn).

Văn tế Hùng Vương ngày 1 tháng 8

Văn tế Hùng Vương ngày 1 tháng 8 của làng Triệu Phú (Hy Cương, Việt Trì, Phú Thọ).

Bát nguyệt sơ nhất nhật văn
Cung duy Thánh vương
Nhật nguyệt chung quang, càn khôn dựng tú.
Thiên khởi Viêm Bang, sơ đầu thánh tổ.
Trị quốc an dân, kiến nghi xã tắc.
Thiết lập kỷ cương, bảo vệ sơn hà.
Lịch kiến quốc tự Xích Quỷ Nam Giao, chí Văn Lang kế tục.
Chí kim sơn hà thượng địa, chư di tích đắc bảo tồn Nghĩa Lĩnh sơn thượng.
Bách tính tử tôn, nhật thiêm đa thịnh vượng.
Dân phú quốc cường, địa bàn thiêm quảng đại.
Hùng Thị thập bát thế tương truyền.
Di dân hương hoả tôn phụng tổ tiên.
Bảo toàn di tích, bảo vệ giang sơn.
Dân tư di chúc, tẩm hiện ngôn truyền, thiên vạn niên bất dị.
Đệ niên dĩ kỳ tái vi lệ.
Thích trị thu thiên, nhật phùng sơ nhất.
Nhân Vương tổ thân chinh thám vấn chư phương thắng trận.
Dân hân hoan tác tịch nghinh vương.
Bài loan nghinh loan giá.
Xướng ca vi lạc, phụng sự Thánh Vương.
Lai nhật quân thần thượng lộ.
Dân hoan hỷ hợp đồng tái tịch.
Kim nhật cáo lễ, kỳ phúc kỳ an, kỳ ủng hộ nhân khang vật thịnh.
Thiên hạ thái bình, thiên tĩnh hải trừng.
Phù hộ quốc điền phong đăng hoà cốc,
Chư nhân đắc an khang trường thọ.
Tư Thánh tổ công ân thiên hải,
Tử tôn nguyện vạn đại bất vong.
Tẩm lại.

Nho văn

八月初一日文
恭惟聖王,日月鍾光,乾坤孕秀.
天啟炎邦,初頭聖祖.
治國安民,建宜社稷.
設立紀綱,保衛山河.
歷建國自赤鬼南交, 至文郎繼續.
至今山河尚地,諸遺跡得保存義嶺山上.
百姓子孫,日添多盛旺.
民富國強,地盤添廣大.
雄氏十八世相傳.
貽民香火尊奉祖先.
保全遺跡,保衛江山.
民思貽嘱,寔現言傳,千万年不易.
遞年以祈賽為例.
適值秋天,日逢初一.
因王祖親征探問諸方勝陣.
民訢歡作席迎王.
排鸞迎鵉 駕.
唱歌為樂,奉事聖王.
來日君臣上路.
民歡喜合仝再席.
今日告礼,祈福祈安,祈擁護人康物盛.
天下太平,天靜海澄.
扶護國田丰登禾穀,
諸人得安康長壽.
思聖祖功恩天海子孫願萬代不忘.
寔賴

Sự tích các vị thành hoàng xã Quế Lâm

IMG_0062

Sự tích các vị thành hoàng xã Quế Lâm (nay đổi là xã Quế Trạo)

Năm Hưng Long thứ tư, ngày 15 tháng 1, lương thần phụng sao một cuốn thần tích bản chính.

Chủ bộ quan triều Hùng Chính Lâm Đại vương họ Đặng húy Hồng, cùng với bà họ Trần húy Đoan, sinh một bọc nở được ba người con trai, con đầu tên là Cốt Sơn, thứ hai là Giao Sơn, thứ ba là Húc Sơn. Năm 24 tuổi cùng với cha cùng giúp vua Hùng thứ 18 là Duệ Vương đánh Thục Vương. Bản phả cổ, Trung bộ, hào thứ 6 quẻ Khôn.

Xưa nước Việt ta triều Hùng khai mở thánh đồ, mười tám đời vận đế thánh vua sáng, núi xanh vạn dặm dựng nên dáng đô thành cung điện, giữ phép trị nước hơn hai ngàn năm, mãi mãi giúp dòng dõi vững như bàn đá, mở vật giúp người quản mười lăm bộ, thế lớn mạnh trước phiên thần, hiển ứng linh thiêng ở Nghĩa Lĩnh, lưu truyền hương lửa ở núi Hùng, đời đời cha truyền con nối, cùng xưng tên là Hùng Vương, ngọc trắng xe sách, núi sông thống nhất, chính là tổ của Bách Việt. Người đời sau có thơ ca ngợi rằng:

Triều Hùng một mối các vương hầu

Mười tám đời truyền tên giống nhau

Năm lẻ hai ngàn dòng nhánh mãi

Lệ trời điện đẹp vững dài lâu.

Kể rằng thời cơ đồ họ Hùng mười tám lá truyền tới Duệ Vương đóng đô ở Bạch Hạc bên sông Việt Trì, đặt tên là nước Văn Lang, kinh đô là thành Phong Châu. Vua có tài hùng mưu lớn, tư chất minh thánh, kế nghiệp tổ dựng tông bồi, vững mạnh mười bảy đời Hùng đồ, trong sửa đức văn, ngoài phòng biên giới, lấy việc hưng bình làm chí hướng mà yên định Trung Quốc. Đương khi đó ở xứ Sơn Tây có một Chủ bộ quan, quê ở xứ Tuyên Quang, người châu Tụ Long, là dòng dõi danh tướng nhà họ Hùng, được Duệ Vương khi ấy phong là Chủ bộ quan. Khi đó triều Hùng yên sự, bồn biển thanh bình. Vua ở quê người núi Tiên, núi sông nước cũ, thấp cao Thần Phù Yên Tử, ngày hồng mây trắng, gió trăng hoa quả lúc lên khi xuống, trên dưới núi xanh nước biếc, bốn biển yên ninh.

Chủ bộ quan cũng đi chu du khắp phong cảnh thiên hạ, núi sông bốn hướng, qua sông ra bến, tản bộ dạo núi. Hoặc lúc đàn reo trúc múa, thơ văn gói cả đất trời, nhạc phượng ca loan, sắc tiếng Bồng Lai, thích gặp khi Tam Giang chủ trương câu cá, đón trăng nơi Ngũ Hồ theo dấu tiên, chơi ngắm tới lúc sương ráng hội cảnh, mây bay vạn hình như cổ, nước chảy quanh núi xanh, cuộn đẹp rời đi như đất trời hé lộ, thánh Nam, thần Bắc, ra vào phong cảnh chốn Trời Nam.

Một ngày Chủ bộ quan đi đến xã Quế Lâm (tức Quế Trạo), huyện Lập Thạch, phủ Tam Đới. Ông thấy xã Quế Lâm có địa thế nước dạt dào, núi vời vợi, đá nghiêng nghiêng, rồng bay hổ giữ, sông vạch núi theo. Phía trước có sông như hình rồng lại chầu. Phía sau có dãy núi cúi phục. Kim tinh dẫn mạch, tất cả đều quay về chầu ở đất này. Khi đó đang mùa xuân, khí trời ấm áp, khắp nơi khoe sắc. Ông nhận thấy là một vùng có thế cục quý giá, mới lập hành cung ở đất này, gọi tên là cung Thưởng Xuân, rồi ở lại đó.

Khi đó Chủ bộ quan lấy một người con gái là dòng dõi đời thứ sáu của họ Hùng, tên là Đạm Nương, lập làm đệ nhất cung phi, rước về cung Thưởng Xuân. Ở được vài năm thì bà Đạm Nương không bệnh mà mất. Lúc đó Chủ bộ quan đã 38 tuổi. Ông xem chọn được đất tốt để chôn cất tại đó (chôn tại đất Đông Thụy). Ông trở về cung ở xã Quế Lâm. Được ba bốn tháng, một hôm Bộ quan đi chơi đến xã Hoa Ngạc. Khi đó xã Hoa Ngạc có một người họ Trần tên Bảo, lấy người ở xã Quế Lâm là bà Nguyễn Thị Đường. Uyên ương hợp bạn, loan phượng vui bầy, tiếng đàn tiếng thơ đẹp vần, chiêng trống múa ca, vẻ mê ngày xuân bướm lượn, tình thư cưu thanh tốt. Thế rồi sinh được một con gái tên là Thụy Nương. Tuổi 20 mặt phấn má đào, ánh sắc như nước, nhan sắc tươi đẹp, phong tư yểu điệu, lại là người có bốn đức công dung ngôn hạnh không thiếu đức nào, thực là Hằng Nga trên thượng thế, là bậc quốc sắc đương thời.

Lúc ấy Chủ bộ quan du ngoạn nơi đất đó (tức là xã Quế Lâm), bỗng gặp Thụy Nương ở trên đường. Nhìn thấy nhan sắc của Thụy Nương, lòng vô cùng thích thú. Ông triệu nhân dân Quế Lâm đến hỏi. Dân nói đó là con gái nhà họ Trần, tuổi đã 24, thơ Đào Yêu chưa có người nghe ngâm. Ông nghe nhân dân nói vậy mới mời triệu ông Bảo đến, đãi tiệc thật hậu, xin được cùng Thụy Nương kết làm vợ chồng. Ông Bảo đồng ý, trở về nhà nói với Thụy Nương. Thụy Nương cũng vui lòng, đợi ngày lành tháng tốt định hôn lễ, sánh duyên lành kết hợp. Bộ quan mới cưới đón về nơi cung Quế Lâm. Được vài năm, tình nồng loan phượng, hòa hợp thư cưu, chú chuyên vào lầu nguyệt, tưởng vui buồn như giấc mộng trên đời, nhã hứng duyên hảo hợp phòng khuê. Tất thêm kỹ duyên tới điềm rắn ấu, ngắm trông điều lành mà chưa hề thấy.

Một hôm đang lúc ngày giỗ tiên tổ, vợ chồng mới cùng nhau than rằng:

– Ngoài ba mươi mà chưa có con là tội lớn bất hiếu. Nhà ta nay tuổi đã cao mà chưa mộng được điềm gấu rắn. Hay là do phạm phải điều dặn dò của cha mẹ, tổ tông nào đó. Chi bằng chia của để cầu phúc, yên được lòng người, trời mới có thương cho.

Do đó mới đem chia hết gia tài vào các đền thần chùa phật, chỗ nào chưa có nơi đều tu sửa, để cầu sinh được con. Khi ấy Bộ quan cho lập một ngôi chùa ở xã Quế Lâm, gọi là chùa Phù Long. Ngày thì tiến cúng hương hoa. Đêm thì tụng niệm chân kinh. Được ba bốn tháng, một hôm buổi tối Ông cùng với Thụy Nương đang ngồi ở trong chùa, cảm thấy mông lung. Bỗng thấy trước chùa có ba quả núi dựng cao, ở giữa có một thần tướng cưỡi hổ đen, đứng trên ba ngọn núi mà gọi Thụy Nương ra, nói rằng:

– Ba quả núi này tên một là Cốt Sơn, một là Giao Sơn, nữa là Húc Sơn. Hôm nay gia đình các ngươi có đức cầu đã nhiều. Ta đem ba ngọn núi này cho nhà các ngươi. Ngày sau tất sinh được ba con trai theo như mệnh này.

Dứt lời, lại thấy ở trên núi có một tiếng động lớn.  Chốc lát trong núi bay ra ba con rồng trắng, bay thẳng đến nằm bên thân Thụy Nương. Thụy Nương giật mình tỉnh dậy, mới biết là một giấc mộng Kê Vàng, tai vừa nghe bầy gà gáy sáng, phương Đông trắng dần. Bèn đem những điều trong mộng kể với Bộ quan. Bộ quan liền nói rằng:

Nhà ta phúc dày nên Trời đã biết thấu đó. Mộng này tất là Trời giáng điềm lành, sẽ sinh được quý tử. Dứt lời, Ông mới ngâm một bài thơ luật:

Tích thiện nhiều năm tất có nền

Hoàng Thiên ứng mộng đẹp cho điềm

Ba rồng chầu đến, tỏ điều tốt

Thêm đức nhà ta mừng sắp nên.

Ngâm xong Ông thuật lại sự việc trong mộng bằng cách viết lên vải lụa để cất cho mai sau. Lại thấy Thụy Nương có mang thai. Mang thai được 13 tháng tới năm Giáp Tý ngày 11 tháng 1. Tối đó Bộ quan nằm ở trong cung sở (tức cung Thưởng Xuân ở xã Quế Lâm), hồi hồi như mộng, bỗng thấy bên ngoài cửa vang lên ba tiếng kêu lớn, gọi Bộ quan rằng:

– Xin hãy mau mở cửa.

Ông bàng hoàng liền mở cửa đi ra. Nhìn khắp nơi không thấy ai, nhìn xa như từ trên trời có khí trời thanh hòa, chỉ thấy một đám mây trắng từ phương Tây bay đến. Trong khoảnh khắc đám mây lại biến mất. Ông lấy đó làm lạ mà không biết là điều gì.

Tới ngày hôm sau (tức ngày 12 tháng 1) mới thấy Thụy Nương sinh được một bọc, nở ra ba người con trai. Lúc đang sinh trên trời có ba tiếng sấm nổ, khí lành bay khắp, mùi hương thơm nức. Sinh được một trăm ngày sau thì Bộ quan theo sự việc trong mộng mới đặt tên người con trưởng là Cốt Sơn, người con thứ là Giao Sơn, người con út là Húc Sơn.

Năm 8 tuổi được vào học với Hiên Đường tiên sinh, xưng rằng:

Đây là một gia đình vững mạnh mới có điều phúc thế này, sinh được những người con trai có học vậy. Có ngày sẽ kiêm toàn văn võ, là những người con làm nổi danh gia đình.

Đến khi 15 tuổi, những người con không có sách vở của bách gia nào chưa xem. Người người cùng gọi là thánh đồng. Lại rất giỏi đấu cung tên, đọc binh sách Thái Công. Mỗi khi ngồi đàm thoại nghị luận, bạn bè hai bên không ai không kinh phục, đều xưng là lạ, cho là kỳ tài trong thiên hạ. Những bậc tuấn tú của thế gian so như kém cỏi. Các vị như rồng gặp mây mưa, những người khác như vật trong ao tù. Nên mới sáng tác một bài thơ vịnh ba ông rằng:

Sông dài bao dẫn hội màu trời

Sinh xuất chân Nho há ở nơi

Khen rộng sớm khuya cao tiếng giá

Cùng như huynh đệ ít trên đời.

Một ngày khí trời trong xanh, mặt trời mới ló, khi đang vui chơi với bạn bè, ba ông có hứng làm bài thơ luật vịnh rằng:

Mặt trời mới ló vạn dặm xuân

Ví như chúng tớ há lo bần?

Râu tóc mắt tai trời nào thiếu

Nam Dương nằm đợi giúp thánh quân.

Khi đó cuộc sống người dân xã Quế Lâm còn hoang sơ, phong tục chưa thuần. Ba ông đã lấy nhân nghĩa là cố kết lòng dân, lấy sự hòa thuận đúc thành mỹ tục. Lại dạy dân làm nông tang, ra sức chuyên cần. Do đó nhân dân được giàu có, phong tục trở nên thuần hậu. Thật là có công lớn với dân.

Khi ba ông tuổi được 22, Thụy Nương tự nhiên bị sốt nóng liên miên, hơn mười ngày dùng thuốc mà không đỡ, cầu khấn không linh hiệu. Thụy Nương mất ở tại nhà. Ba ông liền làm lễ tìm đất tốt chôn cất. Việc cúng tế hương khói trong gia đường ba năm liền, rất đỗi hiếu kính.

Lại rằng, thời đã đến lúc kết thúc, cơ đồ họ Hùng cận cuối. Duệ Vương sinh được 20 hoàng tử, 6 công chúa, đều lần lượt theo về với tiên tổ. Chỉ còn lại 2 người con gái, một tên là công chúa Mị Châu Tiên Dung, sau được gả cho Chử Đồng Tử. Người thứ hai tên là công chúa Mị Nương Ngọc Hoa. Cung trăng một vẻ, ngọc nhụy đương thì, lương duyên tốt đẹp chưa được định ước. Vua muốn tìm người tài đến lấy để nhường ngôi báu, bèn lập một lầu ở cửa thành Việt Trì, xuống chiếu truyền thần dân thiên hạ, ai có tài trí thông minh, anh hùng đức độ có thể tiếp được ngôi vua thì sẽ gả con gái cho.

Khắp bên sông thuyền bè, trước lầu xe ngựa, viết văn múa võ như hình động rắn rồng, sao đẩu lạc lạnh sông, trận võ về mà kinh hồn hổ báo, một trường sấm sét bay bạt biển. Anh hùng bốn biển trong nước đều lỡ mất duyên kia. Những người có duyên thì đều không có toàn tài, khó xưng đạt ý chỉ. Chỉ có Tản Viên Sơn Thánh, có kỳ tài thông trời thấu đất, phép thuật dời non lấp biển. Vua cho là nhân tài đứng đầu, bèn mời công chúa Ngọc Hoa đến gả cho Tản Viên Sơn Thánh. Khi đó, Vua đã ở ngôi 105 năm.

Thục Vương là Chủ bộ quan Ai Lao, cũng là tông phái Hùng Vương, mới nghe Duệ Vương tuổi trời đã đến lúc, mà 20 hoàng tử đều đã quy tiên, không có người lập trưởng, nên đã thừa cơ âm thầm phát động binh đao, từ phương Tây đến muốn tấn công để chiếm lấy nước này. Vua mới triệu Sơn Thánh đến hỏi kế sách. Sơn Thánh nói rằng:

– Đã hơn hai ngàn năm, mười bảy thánh quân, ơn sâu dày đã thấm vào trong xương tủy lòng người. Nay nước giàu quân mạnh. Oai đức của Bệ hạ vang cả ngoài cõi. Mà người Thục đã không tự thủ giữ, lại dám chống lại thì cơ sự thua bại đã rõ. Một khi Bệ hạ kêu gọi trừ dẹp Thục thì dân ta sẽ đều vì Bệ hạ mà chống lại giặc thù, phá họa này, Thục không thể thắng.

Vua nghe thế vô cùng vui mừng. Ngày hôm đó Sơn Thánh sai sứ đi truyền hịch tới triệu các phiên thần phụ đạo, dẫn quân về triều chống giặc. Một ngày tới xã Quế Lâm. Quan bộ chủ cùng với Ba ông đều được mời đến. Ba ông bèn tập hợp được 78 người dân xã Quế Lâm, 60 người dân xã Quế Nham cùng với binh phu ở huyện và bản bộ binh mã, được năm ngàn người, ngay trong ngày tiến quân hướng về kinh thành để bái yết. Vua thấy Ba ông, tức là con trai của Bộ quan, có tướng mạo đường đường, oai phong lẫm liệt, bèn nói rằng:

– Nước ta trời đã sinh được người con rể Tản Viên Sơn Thánh, thật là bậc thánh thần trên cao, lại có nhiều bậc kỳ tài để bảo hộ cho nhà họ Hùng của ta không gặp họa.

Hôm đó Sơn Thánh cùng với các tướng Bộ quan và Ba ông làm lễ bái tạ lĩnh mệnh, đường đường mà quay về. Người đời sau có thơ vịnh là:

Cửa ngọc xuất chinh phất phới cờ

Ba quân nghiêm giữ chẳng sai tơ

Việc công vó ngựa bay trong gió

Trướng hổ đâu nghi tuyết mòn giờ

Ly biệt một lần chia cách núi

Ruổi rong ngàn dặm tựa như mơ

Kiếm cung từ cổ anh hùng sự

Gánh hết gian nan lạnh nào chờ.

Khi quân Thục đã đến núi Mạn Nhai Châu (nay là địa phận miếu Yên Tây), Sơn Thánh cùng với các tướng tiến quân đến bản châu, nổ một tiếng lớn để phát lệnh, lập trận đóng quân ở đó. Sơn Thánh mới sai hai vạn quân mạnh tiến thẳng đến núi Mạn Nhai Châu, ở ngoài xa 50 dặm cho nổi trống khiêu chiến. Tướng Thục nghe vậy liền đưa 30 vạn quân đến tấn công quân Hùng. Quân Sơn Thánh giả vờ không đánh lại mà chạy về phục ở Thiên Táo. Quân Thục truy kích đến bản châu. Sơn Thánh mới đánh trống liên tục, lấy nỏ thần bắn vào đó. Quân phục kích vây lại, đại chiến với tướng Thục. Một trận chém hơn 5.000 quân. Quân Thục thua to, chạy trốn. Ba ông đuổi theo mà chém. Đám quân Thục không thể quay phát binh nữa. Mới gửi tấu về cho Duệ Vương. Vua mới ban chiếu cho rút về. Sơn Thánh và các tường phụng nghênh chiếu triệu hồi, khải hoàn trở về nước bái tạ.

Hôm đó Vua cho giết mổ để khao thưởng tướng sĩ, luận công mà ban thường, phong cho Sơn Thánh là Thượng đẳng thần phụ trách Nhạc phủ.  Phong cho Chủ bộ quan là Chính Lâm Đại vương từ đó (do vậy mà từ đấy xã Quế Lâm đổi thành xã Quế Trạo). Phong cho Cốt Sơn, Giao Sơn, Húc Sơn đều là Đại vương. Từ đó phúc thánh thấm sâu, ơn vua hưởng nặng, có duyên hương lửa sáng rạng.

Một hôm Chính Lâm Đại vương và Ba ông mới xin Vua cho được trở về cung quán. Vua đồng ý. Chính Lâm Đại vương mới trở về mở tiệc khao thưởng quân sĩ (tức ngày 12 tháng 8). Nhân dân xã Quế Lâm làm lễ bái, xin làm thần tử. Khi Chính Lâm Đại vương thọ 78 tuổi thì một hôm bỗng thấy bị đau quặn bụng mà mất (ngày 1 tháng 1. Chính Lâm Đại vương họ Đặng húy Hồng, sinh vào năm Canh Thìn ngày 10 tháng 6, sống thọ được 78 năm thì hóa). Ba ông mới dâng biểu tấu lên triều đình, làm lễ chôn cất, lập miếu ở xứ gò (tức là phần gò Đông Thụy) để phụng thờ về sau.

Lại kể rằng, được 3 năm, Thục Vương lại chuẩn bị cho cuộc chiến, đi xem xét cầu viện các nước láng giềng, chỉnh đốn quân đội trăm vạn, ngựa khỏe tám ngàn, chia thành 5 đạo. Chính binh 30 vạn, 5000 ngựa, theo đường núi Mạn Nhai châu Hoàng Tế mà đi. Đạo thứ hai ở cánh tả quân số 10 vạn, ngựa ngàn con, theo đường núi Lạng Sơn châu Văn Giản mà vào. Hậu quân 20 vạn, ngựa ngàn con, theo đường Đại Man mà đi. Ba đạo ở cánh phải có quân 10 vạn, ngựa 500 con đi theo châu Bố Chính Minh Linh. Một đạo thủy quân tàu thuyền 3000 chiếc, quân thạo thủy chiến 20 vạn tiến theo cửa Hội Thống châu Hoan. Thủy bộ cùng tiến, tiếng quân vang động.

Duệ Vương rất lo lắng, hỏi các đình thần thì đều nhìn nhau không có kế sách gì khả thi. Sơn Thánh mới tâu rằng:

– Trước đây Thục Vương ngông cuồng đã dẫn quân, tưởng oai như trời, xuất binh lẫm liệt, nhưng thất bại thảm hại. Hoàng đế Bệ hạ đã khoan hồng độ lượng, miễn cho không lật tổ phá đô. Nay lại không biết hối cải, tội muốn tái chiếm cơ đồ. Như thế trời đã định chắc phải vong vậy. Bệ hạ không phải lo nữa. Hiện nay đầu tiên cần bảo vệ thánh giá. Thần xin được lĩnh các tướng tài cùng với 30 vạn quân mạnh. Thiên hạ khắc sẽ được được định đoạt.

Vua đồng ý. Như vậy, Sơn Thánh điều hai vị tả hữu kiên thần ở động Lăng Sương trợ giúp. Lại truyền hịch triệu Ba ông dẫn quân theo đánh trận. Ba ông nghe hịch bèn chỉnh đốn binh mã đến hội quân với Sơn Thánh. Hôm đó, Ba ông đến gặp đại binh của Sơn Thánh tiến tới địa phận xã Lãng Sơn ở cùng huyện. Các ông bèn điều động nhân dân (nhân dân xã Quế Lâm) cùng với các binh sĩ từ cung sở của mình đến để làm lễ đón tiếp, xin được theo ra chinh chiến (Sau này hai xã Lãng Sơn, Quế Lâm mỗi năm ngày 27 tháng 8 quét dọn từ chốn đình ra đến bãi triền để hội tế, mổ trâu và ca hát vui chơi để tưởng nhớ sự tích Ba vị Đại vương làm lễ đón Sơn Thánh vậy).

Sơn Thánh cùng với hai vị thần tả hữu và Tam công Đại vương dẫn quân tiến thẳng đến kinh đô Thục cùng đánh chặn, thế như sấm sét. Sơn Thánh mới cử Tam công đánh hậu binh của quân Thục. Ba ông đánh một trận đại phá, bắt được một số quân Thục thì quay về giao hiến cho Sơn Thánh. Sơn Thánh mới giả viết một bức thư của Thục Vương, sai một quân địch đã đầu hàng biết việc, tự xưng là do Thục Vương sai khiến, cưỡi ngựa đưa đến đồn của cánh quân chính, mang thư cho tướng Thục rằng: Phía bên quân nhà Hùng có một thần nhân. Lệnh cho tướng quân phụng mệnh đến đánh nước người, chớ nên khinh động. Đợi có thư báo lại thì mới quyết định.

Tướng Thục từ khi nhận được thư đó lại tăng thêm phòng thủ. Từ đó khi các cánh quân giao chiến đều không dâng thư báo gấp về. Sơn Thánh mới tiến quân ngày đêm hơn 50 dặm đến thẳng kinh đô của Thục, chia quân tập kích. Nước Thục cáo cấp không ngừng. Sơn Thánh ước sách thần, hô gậy thần, đại phá được tướng cánh chính của địch. Binh mã đều bị bắt sống cả. Ba cánh quân thủy bộ tự nhiên chạy tan tác. Ba ông bèn truy sát, chém được ngàn đầu, treo dưới cổ ngựa. Quân Thục bị phá tan, chạy trốn về phương Bắc. Nhờ đó, Sơn Thánh quay cờ khải hoàn, đuổi sạch cánh quân chính của địch, rồi binh mã trở về kinh tấu báo.

Hôm đó Vua bèn nhường ngôi cho Sơn Thánh. Sơn Thánh cố từ chối không nhận. Nhân đó dâng lời can Vua rằng:

18 triều Hùng đều cơ căn cơ của lòng trời. Nay xem Bệ hạ sinh được 20 hoàng tử, đều đã thoát đi phiêu du chốn Bồng Lãng, không còn ở trên trần thế để mong kế tục ngôi vị. Đó là cơ đồ nhà Hùng đã mạt, vận nước kết hồi, ý trời quả nhiên như vậy, nay biết làm sao. Thục Vương vốn là Bộ quan Ai Lao, cũng là tông phái của nhà họ Hùng. Vua không nên vì mến một cảnh phương Nam mà cưỡng lại ý trời. Chi bằng triệu Thục Vương đến truyền lại ngôi sự. Còn thần xin cùng Bệ hạ chuyên vào thuật thần tiên, hưởng một cuộc sống thân ở chốn Lãng Uyển, Bồng Hồ, trường xuân sánh cùng năm tháng. Lầu rồng gác phượng chẳng nhiễm bụi trần. Non xanh nước biếc thưởng ngoạn. Quân tử vui vầy là vậy!

Vua nghe lời nói ấy liền triệu Thục Vương đến nhường ngôi cho.

Lại kể rằng Tam Công nghe chính lệnh về việc Vua nhường nước cho Thục bèn tạ triều đình xin được về cung sở an nhàn. Vua bèn thưởng cho 500 hốt vàng. Từ đó Tam Công chu du bốn biển, hoặc lúc bắt thỏ săn cáo, ngăm trăng sáng trên dòng nước, hoặc lúc làm ruộng, săn bắt, gió mát ngoài bãi triền. Một hôm Tam Công trở về chốn cung sở. Hôm ấy nhân dân đến lễ bái. Ba ông mới bày tiệc ở từ đường ngoài gò, làm lễ báo yết. Xong việc mới mời nhân dân phụ lão xã Quế Lâm đến uống rượu. Rót rượu mà nói với nhân dân rằng:

– Chúng tôi cùng với dân đã thành nghĩa lâu năm, không thể chỉ một ngày mà mất đi. Nay chúng tôi là những danh tướng của triều Hùng, không phải gia thần của chúa Thục. Bây giờ hoàng gia đã nhường ngôi cho Thục, tức là mọi nơi nhân dân đều là chỗ của chúa Thục. Thục chúa nhận ngôi tất sẽ triệu các cự thần, dòng dõi hoàng gia về giao việc. Chúng tôi chắc cũng sẽ bị gọi. Thờ 2 chủ là bất trung. Chúng tôi thà giao du ở núi trúc rừng đào, chứ không thể vì Thục. Chúng tôi có cung sở ở đây, là để phụng thờ cha mẹ tổ tiên. Sau này chúng tôi ngoài trăm tuổi, xin nhân dân cũng phụng thờ chung cho một chỗ. Lại có 500 hốt vàng ở đây xin gửi nhân dân dùng bày tỏ tấm lòng, để sau này làm việc hương lửa, cúng thần có chỗ cầu chúc vậy.

Nhân dân phụ lão đều nhận mệnh bái tạ. Tiệc xong, Ba ông mới vịnh một bài thơ rằng:

Một nhà tụ hội giáo tinh thần

Vạn cổ hương đèn tại xã dân

Ấy đó khi say vui lời rượu

Tình lưu thôn ấp muôn năm xuân.

Ngâm xong, ngày hôm sau bỗng thấy một đám mây trắng đên ở trên chỗ cung. Chốc lát gió mưa như sấm sét nổi lên. Lại thấy trên giữa cung có ba tiếng gọi lớn, kêu Ba ông nhanh chóng trở về lên Thiên đình (tức là ngày 19 tháng 11). Ba ông cùng hóa.

Hôm đó xã Quế Lâm đều ra ngoài nghênh đón Tam Công về cùng chôn cốt ở lăng Chính Lâm, tức lăng Đông Thụy. Chôn cất xong nhân dân lập miếu cùng với Chính Lâm Đại vương để thờ một chỗ. Xong xuôi, nhân dân làm lễ an vị. Khi đang làm lễ bỗng thấy sứ giả Thục đến triệu Tam Công. Thấy nhân dân đều đang việc tang, sứ thần bèn làm lễ bái tạ, gia phong Thượng đẳng thần. Khi ấy bỗng nhiên trời đất u ám, kinh trời động đất, trên gác nghe tiếng ầm ầm như sấm sét sắp nổi lên. Sứ thần mới biết đó là rất linh dị, bèn về triều tâu với Thục Vương. Thục Vương bèn theo mỹ tục của triều Hùng (tức là coi Tam Công đúng là trung thần) mà phong tặng sắc chỉ, cho đem về nhân dân được bảo hộ ở xã Quế Lâm để phụng thờ hương lửa, vạn đời cùng thịnh với đất nước. Gia phong các tên hiệu chức vị là Chính Lâm Đại vương, Cốt Sơn, Giao Sơn, Húc Sơn cùng là Đại vương. Còn như Quế Lâm, Quế Nham truyền đời sự tích, xã Hoa Ngạc có miếu thờ. Còn các xã có thờ phụng cộng tất cả 36 xã.

Lại kể rằng thời Trưng nữ vương tên Trắc, là bậc thượng thánh thần, bậc hào kiệt trong giới nữ, khởi binh trừ Tô Định, có hành quân qua chỗ cung Quế Lâm, trú đêm tại đây, truyền cho quân làm lễ cầu đảo ở cung Quế Lâm nơi chính đền phụng thờ 4 vị đại vương. Tối ấy, Trưng Vương lưu nghỉ ở trong cung. Tới nửa đêm mơ màng như mộng, bỗng thấy 4 người từ phương Tây đến, một người cưỡi hổ đen còn ba người cưỡi hổ trắng, thân mặc áo vàng áo trắng. Theo sau có binh sĩ giáo mác hàng ngàn, cờ xí rợp trời, tinh khí khắp đất, đến hội đứng trước Trưng nữ vương, tự nguyện phù giúp dẹp giặc, ra trận giúp nước. Vua Trưng mới hỏi tính danh thì tự xưng là Chính Lâm Đại vương và các Đại vương Cốt Sơn, Giao Sơn, Húc Sơn,

Là phúc thần của xã Quế Lâm. Vừa dứt lời thì bỗng tỉnh lại, mới biết là mộng, nghĩ là điềm tất thành công. Bèn làm lễ bái, khởi binh tiến đánh một trận. Tô Định đại bại, chạy trốn. Trưng nữ vương lên ngôi mới bao phong là Chính Lâm Phù vận Hộ quốc, lại phong Cốt Sơn Anh linh Dực thánh, phong Giao Sơn Tế thế Hiển ứng, phong Húc Sơn Hùng lược An dân là các Đại vương cùng quốc gia hưởng phúc. Lại ban sắc chỉ về trùng tu miếu điện, sai sứ thần đến tế, bốn mùa hương lửa, vạn đời không ngừng. Từ đó về sau, nước cầu dân cúng, đều rất linh thiêng, có nhiều linh ứng. Sau này các đời đế vương có phong thêm mĩ tự, vạn đời hưởng cúng cùng với trời đất mãi còn.

Thật tốt thay! Đẹp thay!

Cuối cùng:

Chính Lâm Đại vương, ngày sinh là ngày 1 tháng 1, ngày hóa là 10 tháng 6.

Tam công Đại vương, ngày sinh là ngày 12 tháng 1, ngày hóa là ngày 19 tháng 11.

Ngày 27 tháng 8 Tam Công làm lễ bái đón Tản Viên tại chốn bãi bằng tiếp giáp với xã Lãng Sơn. Hàng năm đúng ngày tháng đó hai xã Quế Lâm, Lãng Sơn làm lễ tới chỗ bãi đó cúng tế. Trên bày bài vị Tản Viên Sơn Thánh. Bên trái là bài vị của Tam công Đại vương. Bên phải là bài vị của một vị thành hoàng Đại vương của xã Lãng Sơn.

IMG_0065

Ngọc phả cổ chép về Nam Việt Vương Hoàng Thái hậu

Thần tích thôn Nhự Nương, làng Phương Để, tổng Phương Để, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Dịch theo bản khai năm 1938 lưu tại Thư viện Khoa học xã hội.

Ngọc phả cổ chép về Nam Việt Vương Hoàng Thái hậu 

Nước Việt xưa trời Nam mở vận, thánh tổ trị đồ hơn 2000 năm, lập tên Hùng Vương là tổ của Bách Việt. Cho tới khi triều Hùng suy mạt, thế nước kết thúc, thời tới vua thứ 18 là Duệ Vương không có con trai, sau nhường ngôi vị cho Thục An Dương Vương, được thêm 60 năm, có đế Triệu tên Úy Đà ở quận Hải Nam khởi binh hùng, lập đô thành ở quận Hải Nam, tự xưng là Triệu Vũ Đế, đến đánh Thục Vương để chiếm nước.
Khi đó nước ta tương truyền có khu Nhị Nương, trang Phương Để, huyện Thượng Nguyên, phủ Thiên Trường, quận Hải Nam. Lúc ấy ở trang Hoa Xá, huyện Lương Giang, phủ Thiệu Thiên, châu Ái có một vị tiên sinh họ Tình tên là Quang, vợ là Võ Thị Mỹ. Ông Tình vốn là gia đình có truyền thống thi thư, năm đời làm quan trong triều. Đến đời tiên sinh thì tinh thông Nho Y, hay tạo phúc, làm việc nhân nghĩa.
Khi Ông có tuổi đã năm mươi, Thái bà tuổi gần bốn mươi thì có nằm mộng thấy một ông lão xưng là thần núi Bán Nguyệt My, cho biết một hốc huyệt ở núi My để chuyển mộ của gia tiên táng tại đó. Sau được trăm ngày Thái bà nằm mộng thấy có một ngôi sao Thái âm rơi vào miệng. Thái bà bỗng nhiên có thai.Vì cảnh nghèo nàn bức bách nên mới dắt díu vợ con đến ở khu Nhị Nương, trang Phương Để, huyện Tây Chân, phủ Thiên Trường, quận Nam Hải.
Một tối nhân dân các họ ở trong khu cùng nằm mơ thấy có một vị quan áo mũ chỉnh tề, thân cưỡi ngựa hồng, theo sau hơn chục người, tiếp thẳng vào trong khi báo với các họ tộc rằng:
– Ta là chúa tể của Long Châu, cai quản ngôi chùa của dân chúng, đến báo cho nhân dân được hay. Nay có cha mẹ của Hoàng hậu họ Tình đang ở ngoài chùa. Hoàng hậu là chính theo mệnh Thiên đình, là phúc thần của dân chúng ở đây. Rạng ngày các ngươi mau ra nghênh đón về phụng dưỡng. Sau này dân chúng sẽ có được phúc dày. Nếu bỏ qua thì Hoàng Thiên sẽ trách, dân chúng không được yên.
Nhân dân các họ bỗng nhiên tỉnh giấc mộng kỳ lạ đó. Đến sáng ngày mọi người dân ra ngoài quán sở, cùng nói về giấc mộng giống nhau. Lập tức cùng vào trong chùa, thấy ông Quang và vợ con đang nằm đó. Mọi người các họ tộc mới hỏi:
– Ông từ đâu đến đây? Vì sao mà lại dẫn dắt vợ con ở đó?
Ông đáp rằng:
– Tôi vốn họ Tình tên Quang, vợ Võ Thị, vì cảnh nghèo bức bách nên phải đi tìm đất lành để nương tựa tấm thân.
Mọi người nghe vậy thấy ứng nghiệm với giấc mộng. Lại nhìn mà không thấy Hoàng hậu đâu cả. Khi nhìn kỹ hơn thấy Thái bà họ Võ đang có mang, ngầm nhận ra tất nhiên Hoàng hậu đang ở trong bụng đó. Các họ tộc nghênh đón vợ chồng họ Tình về ở trong ấp dân mà nuôi nấng.
Tới năm Quý sửu ngày 10 tháng 3 Thái bà đi ra chỗ bãi ngoài cửa ngã ba sông để tắm gội. Tắm gội xong Thái bà vừa mới đi lên bờ thì bỗng nhiên thấy trời đất mờ mịt, gió gào rung động như sấm, xung quanh mùi hương thơm ngát, khí lành sáng rạng. Đến ngày 12 tháng đó Thái bà sinh được một con gái, mặt như gương ngọc không chút bụi, tựa như bình bạc khinh trăng, mắt phượng mày ngài, mặt phấn môi hồng, nhan sắc tuyệt trần. Mọi người đến xem, lấy làm kinh sợ, nhớ tới điềm mộng quả nhiên đã ứng nghiệm. Được trăm ngày, cha mẹ mới đặt tên là Trang Nương.
Từ đó xuân qua hè đến, năm tháng như con thoi, tuổi đã 28, nhà khuê khóa ngọc, trong lưu chính nhụy, dung nhan chim sa cá lặn, trăng nhường hoa thẹn, tài văn bảy bước thành thơ, nghệ võ chính là dùng cùng tên, các việc nữ công không gì là không biết, trí tuệ thì nam giới cũng khó bằng.
Khi đó nhân dân bỗng nhiên mắc bệnh tật, người vật không yên. Cầu đảo nhiều lần mà không thấy khỏi. Nhân dân lại làm lễ chay ở trong chùa của ấp. Đêm đó mọi người nằm mơ thấy Long thần đến báo ứng:
– Các người đã được Hoàng Thiên giáng hạ cho thần nữ, sinh ta ở chỗ cửa sông đầu rồng. Dân chúng thấy chỗ đất giáng sinh mà vẫn cứ điềm nhiên, không chịu sửa lập. Vì thế mà Trời mới trách phạt. Nay các người mau mau tu dựng một đền thờ sống thì dân chúng sẽ tự được yên.
Nhân dân các họ bỗng nhiên tỉnh giấc, cùng nói thấy mơ giống nhau nên lập tức dựng một đền thờ sống tại nơi đó. Từ đó tật bệnh trong nhân dân tự nhiên khỏi.
Một ngày Trang Nương theo mẫu thân đi thăm với dì ruột ở đất quận Cửu Chân. Khi đó vua Triệu Úy Đà đang khởi binh đánh Thục. Lúc ấy người địa phương thấy Trang Nương có tài sắc lạ thường đã báo với vua Triệu. Vua bèn mời Thái bà cùng với Trang Nương vào trong phủ gặp mặt. Vua thấy dung mạo nhan sắc tưởng như tiên nữ Bồng Doanh, Lãnh Uyển, lòng đầy thích thú. Lập tức cho vào điện làm lễ cưới. Ban thưởng cho cha mẹ các đồ sính lễ. Lập làm chính cung.
Khi đó Triệu Vương và Thục Vương đanh giao tranh, chinh Đông dẹp Tây, chinh chiến bất thường. Nên đã cho dẫn Chính cung về ở khu Nhị Nương, trang Phương Để, truyền cho nhân dân trong ấp xây dựng cung phủ để Chính cung ở đó. Tự Chính cung về khu Nhị Nương tiếp quản dinh phủ, tích trữ quân lương, chiêu dụ anh hùng bốn biển đến tụ hội.
Thế rồi, Thục Vương nghe tin Triệu Vương có Chính cung đã xây dựng phủ ở khu Nhị Nương, tích trữ quân lương, chiêu dụ các tướng tài, liền sai quân đến vây bắt. Chính cung thấy quân Thục tiến tới, liền xuất quân cùng chiến đấu, phá vỡ vòng vây của quân Thục. Cung phi mới về thẳng quận Nam Hải cùng với Triệu Vương.
Sau đó Triệu Vương diệt Thục, lên ngôi Hoàng đế, lập Trang nương làm Hoàng hậu quản chính. Đồng ý cho khu Nhị Nương trang Phương Để làm con dân phụng thờ đền khi sống của Hoàng hậu, cấp thưởng cho 3000 quan tiền, lại miễn việc quân lương.
Đến khi Hoàng hậu tuổi ngoài bảy mươi, một ngày khi không có bệnh mà tắm gội, bỗng thấy trời đất mờ mịt, ban ngày giống như đêm. Khi đó Hoàng hậu tự nhiên mà hóa (ngày 6 tháng 11). Trăm quan trong triều làm lễ an táng ở đất trang Cao Bạt, quận Hải Nam.
Khi việc đã xong liền sai quan về đến khu Nhị Nương, trang Phương Để nơi sinh để sửa chữa đền thờ, nơi cung dinh tế lễ, lập việc thờ phụng. Vua lại phong các mỹ tự, vạn cổ hưởng hương lửa lễ lạt không cùng, cùng với quốc gia trường tồn, mãi mãi là phép tắc không đổi.
Từ Đinh, Lê, Lý, các triều đại đế vương đều có phong Cung túc Từ liêm Cẩn tiết Đôn thiện Mục thận Anh linh Bảo quốc An dân Chiêu đức Đoan trang bà Hoàng Thái hậu Tôn thần Thượng đẳng tối linh. Cùng với việc phong các chữ này là việc làm lễ tế quốc gia.
Năm Hồng Phúc thứ nhất, ngày 10 tháng 1. Hàn lâm viện Đông các đại học sĩ, thần là Nguyễn Bính phụng soạn.
Hoàng triều hiệu Vĩnh Hựu năm thứ ba, ngày tốt đầu tháng 2, Quản giám bách thần Tri điện Hùng lĩnh thiếu khanh, thần là Nguyễn Hiền, tuân theo đúng như triều trước mà sao chép.
Phụng kê, các sắc văn cho Thần đương cảnh Trình Thái hậu gồm 12 đạo như sau:
– Cảnh Hưng năm 44, ngày 16 tháng 5, một đạo sắc cho Thần đương cảnh Trình Thái hậu là Cảm ứng Thánh huệ Ngọc bảo Phương diễm Từ hoà Linh nghi Trinh thục Thuần ý Nhu gia Trang tĩnh Trung hiến Ôn lương Hoàng quân.
– Cảnh Hưng năm 44, ngày 26 tháng 7, một đạo gia phong là Phong tư Chính trực Ôn lương Yểu điệu Huy khiết Dung hành Khuê chương Văn vọng Anh dục Tú chung Thông minh Mẫu nghi Khôn thuận Quế cách Hoàng quân.
– Cảnh Hưng năm 44, ngày 26 tháng 7, lại một đạo gia phong Mậu công Thuần đức Tuý phạm Hoàng quân.
Ba đạo sắc trên được ban nhân khi Quốc vương trị vì khi đó khi tiến phong ngôi vua.
– Gia Long năm thứ 9, ngày 21 tháng 8, một đạo sắc chỉ qua các triều đại đã gia tôn mỹ tự nên đồng ý theo cũ phụng thờ.
– Minh Mệnh năm thứ 2, ngày 15 tháng 7, một đạo.
– Thiệu Trị năm thứ 2, ngày 7 tháng 8, một đạo.
– Thiệu Trị năm thứ 2, ngày 9 tháng 9, một đạo.
– Tự Đức năm thứ 3, ngày 3 tháng 7, một đạo.
– Tự Đức năm thứ 33, ngày 24 tháng 11, một đạo.
– Đồng Khánh năm thứ 2, ngày 1 tháng 7, một đạo.
– Duy Tân năm thứ 3, ngày 11 tháng 8, một đạo.
– Khải Định năm thứ 9, ngày 15 tháng 7, một đạo đồng ý riêng cho theo cũ phụng thờ (nhân ngày quốc khánh lần thứ 40 của vua khi đó).

Thừa sao theo bản chính bởi phó lý trưởng là Võ Thích đã ký.
Lý Trưởng đồng ý đóng dấu.

Văn ca trù ở đền Đồng Sâm thờ Triệu Vũ Đế và Hoàng hậu Trình Thị

Hiện ở đền Đồng Sâm (Kiến Xương, Thái Bình), nơi thờ Vũ Đế Triệu Đà và Hoàng hậu Trình Thị còn lưu được 8 bài ca trù dùng trong tiết lễ thu hát chầu thần. Các bài này đều có phần đầu là 2 cặp câu biền ngẫu (câu đối), ca ngợi công đức của Triệu Vũ Đế và Trình Thị Hoàng hậu. Còn phần sau là phần cầu tụng cho dân sinh. Xin giới thiệu đoạn đầu của 8 bài ca trù này.

Bài ca trù thứ nhất

聰明睿知
淑慎徽柔
月斧橫而七郡基開漢雄並世
桃夢叶而六宮儀表周后同符

Thông minh duệ trí
Thục thận huy nhu
Nguyệt phủ hoành nhi thất quận, khai Hán hùng tịnh thế
Đào mộng hiệp nhi lục cung, nghi biểu Chu hậu đồng phù.

Dịch nghĩa:

Thông minh sáng suốt
Hiền dịu nhẹ nhàng
R
ìu trăng ngang khắp bảy quận, mở nền hùng Hán sánh thời
Mộng đào hòa sáu cung,
phép tắc Chu hậu cùng hợp.

Giải nghĩa:

Nguyệt phủ (rìu trăng): tương truyền là chiếc búa hình mặt trăng, là búa khai quốc của Triệu Vũ Hoàng đế. Đôi búa ngọc này vốn từng lưu ở đền Đồng Sâm.

Thất quận: Nhà Triệu Nam Việt được lập ra trên các quận phía Nam thời Tần. Sau này thời Hán Vũ Đế đã chia đất nhà Triệu thành 7 quận là Giao Chỉ, Cửu Chân, Nam Hải, Hợp Phố, Quảng Tín, Thương Ngô, Nhật Nam.

Mộng đào: theo thần tích, trước đây ở Đồng Sâm có một người họ Trình tên là Liên, lấy bà Đinh Thị Ngoạn người bản trang, tuổi đã ngoài 40, nằm mơ nhặt được chiếc gương ngọc, rồi bống nhiên có mang, ngày tháng dần đủ, đêm rằm tháng 7 sinh được một người con gái, mặt như gương ngọc, sắc tựa hoa mai. Năm 18 tuổi công dung ngôn hạnh, tứ đức vẹn toàn. Cha mẹ đặt tên là nàng Lan. Nàng Lan là bà Trình Thị, là Hoàng hậu của Triệu Vũ Đế.

Chu hậu: bà Thái Tự là Chính phi của Chu Văn Vương, mẹ của Chu Vũ Vương, người sáng lập nhà Chu. Bà được gọi với những tên khác trong các bài ca trù này là Cơ Tự, Chu Cơ.

Lục cung: Hệ thống hậu cung cho các phi tần trong chế độ phong kiến Trung Hoa.

Bài ca trù thứ hai 

文武聖神
貞淑慈懿
基開七郡規摸空視項秦
表正六宮儀範遠同姬姒

Văn vũ thánh thần
Trinh thục từ ý

khai thất quận, quy không thị Hạng Tần
Biểu chính lục cung, nghi phạm viễn đồng Cơ Tự

Dịch nghĩa:

Thánh thần văn võ
Hiền hậu đoan trang
Bảy quận mở nền, quy mô không thua Tần Hạng
Sáu cung chính tỏ, khuôn phép sâu như Tự Cơ
.

Giải nghĩa:

Hạng Tần: Hạng Vũ là người nước Sở, đã khởi nghĩa đánh Tần, xưng là Sở Bá Vương.

Bài ca trù thứ ba

聰明出類
聖德超凡
南海建昌基雄爭漢北
番禺真定鼎帝始炎南

Thông minh xuất loại
Thánh đức siêu phàm
Nam Hải Kiến Xương , hùng tranh Hán Bắc
Phiên Ngu Chân Định đỉnh, đế thuỷ Viêm Nam.

Dịch nghĩa:

Thông minh ngoài hạng
Đức thánh siêu phàm
Nam Hải
nền Kiến Xương, tranh hùng Hán Bắc
Phiên Ngu đỉnh Chân Định, mở đế Viêm Nam.

Giải nghĩa:

Kiến Xương: vừa có nghĩa là xây dựng nền móng, vừa là tên của vùng đất Thái Bình, nơi có đền Đồng Sâm.

Chân Định: vừa có nghĩa là lập định đất nước một cách thực sự, vừa là tên cũ của vùng đất Thái Bình. Chân Định theo sử sách được chép là quê của Triệu Đà.    

Bài ca trù thứ tư

文武聖神
貞淑慈懿
揮月斧而圖成七郡漢世並雄
叶夢桃而儀表六宮桐鄉誌瑞

Văn võ thánh thần
Trinh thận từ ý
Huy nguyệt phủ nhi đồ thành thất quận, Hán thế tịnh hùng
Hiệp mộng đào nhi nghi biểu lục cung, Đồng hương chí thụy.

Dịch nghĩa:

Thánh thần văn võ
Hiền hậu đoan trang
Vung búa nguyệt mà dựng thành bảy quận, thời Hán sánh hùng
Hòa mộng đào mà phép tỏ sáu cung, làng Đồng bày tốt.

Bài ca trù thứ năm

河海鍾靈
山川毓秀
開七郡而炎邦帝始漢世並雄
叶夢桃而表宮天下母儀周姬

Hà hải chung linh
Sơn xuyên dục tú
Khai thất quận nhi Viêm Bang đế thủy, Hán thế tịnh hùng
Hiệp mộng đào nhi biểu cung thiên hạ, mẫu nghi Chu Cơ.

Dịch nghĩa:

Sông biển đúc thiêng
Nước non nuôi đẹp
Mở bảy quận là đế đầu Viêm Bang, thời Hán sánh hùng
Hòa mộng đào mà thiên hạ tỏ cung, phép mẫu Chu Cơ. 

Giải nghĩa:

Viêm Bang: Chỉ đất nước ở xứ nóng (viêm). Đáng chú ý là triều đại của Cao Tổ Lưu Bang lập nên nhà Hán được gọi là Viêm Lưu.

Bài ca trù thứ sáu

乾始坤生
海𣶬春育
圖開七郡並漢世之雄風
儀表六宮接周姬之芳躅

Càn thủy khôn sinh
Hải hàm xuân dục
Đồ khai thất quận, tịnh Hán thế chi hùng phong
Nghi biểu lục cung, tiếp Chu Cơ chi phương trục.

Dịch nghĩa:

Tạo Càn sinh Khôn
Dưỡng xuân bao biển
Mở đồ bảy quận, cùng
thời Hán đây ngọn gió hùng
Tạo lễ sáu cung, tiếp Chu Cơ đó lưu
thơm dấu.

Bài ca trù thứ bảy

聰明睿知
漙博淵泉
九真揚玉斧之威雄開漢地
七郡奠金甌之勢帝始南天

Thông minh duệ trí
Đoàn bác uyên nguyên
Cửu Chân dương ngọc phủ chi uy, hùng khai Hán địa
Thất quận điện kim âu chi thế, đế thủy Nam thiên.

Dịch nghĩa:

Thông minh sáng suốt
Bao quát thâm sâu
Cửu Chân
búa ngọc dương oai, hùng mở đất Hán
Bảy quận
âu vàng vững thế, đế tạo trời Nam.

Giải nghĩa:

Cửu Chân: một trong 7 quận thuộc nhà Triệu. Chi tiết Triệu Vũ Đế khởi nghĩa ở quận Cửu Chân là một thông tin mới, khác với chính sử.

Bài ca trù thứ tám

功同湯武
德比虞周
與北國爭雄低視六縱之計
為南邦帝始宏開七郡之圖

Công đồng Thang Võ
Đức tỉ Ngu Chu
Dữ Bắc quốc tranh hùng, đê thị lục tung chi kế
Vi Nam bang đế thủy, hoành khai thất quận chi đồ.

Dịch nghĩa:

Công ngang Thang Võ
Đức sánh Ngu Chu
Cùng
tranh hùng đất Bắc, theo kế sáu nước hợp tung
Là đế tạo bang Nam,
cơ đồ bảy quận mở rộng.

Giải nghĩa:

Thang Võ: Thành Thang và Võ Vương. Thành Thang là vị vua diệt Hạ Kiệt lập ra nhà Thương. Võ Vương diệt Ân Trụ Vương, lập ra nhà Chu.

Ngu Chu: Ngu Thuấn vầ Chu Văn Vương. Ngu Thuấn là vị vua nổi tiếng hiếu thảo. Chu Văn Vương cũng là người có tiếng nhân đức.

Lục tung: Kế sách hợp tung 6 nước để chống Tần thời Chiến Quốc.

Thần tích thôn Hương Lan, xã Trưng Vương, Việt Trì, Phú Thọ (Thiên Cổ miếu)

Phả lục về vị Đại vương Đô Chấu thời Hùng Vương

Xưa nước Việt có Thánh tổ trời Nam khởi dựng cơ đồ, trải xem chỗ lợi của núi sông hình thế mà kiến lập thành đô ở thắng địa Hoan Châu, nơi đất Nghĩa Lĩnh trùng tu cung điện, cha truyền con nối hơn hai ngàn năm. Trăm họ vui hát, Thiên hạ thái bình.

Thời tiên tổ ba đời của Đại vương là người Mộ Trạch, Hải Dương, họ Vũ, thơ văn xử thế, hiếu thảo giữ nhà. Đến tổ ba đời gặp bất hạnh, cha mẹ mất sớm, gia sản trống không, bữa đực bữa cái, trông vào vay mượn. Vợ chồng cùng nói rằng:

–       Nghèo nàn như thế này, không có cách sinh nhai, biết lấy gì để bớt đi nỗi khổ này?

Do vậy gói ghém chút tư trang hành lý sơ sài, tìm tới Đông Ngạn, Kinh Bắc, nhà của người bạn thân họ Nguyễn, cũng không thể chu cấp được. Nên bèn đi đến cung thành Việt Trì, trú ở bên ngoài thành.

Nhân xem phong thủy để cầu việc dạy học làm kế sống qua ngày. Đến trại Hương Lan, thấy núi hình chữ Vương, các nhánh sông tụ ở trước mặt, tuy là một mạch đất nhỏ mà tưởng như là ngọn núi ngọc có dư khí. Bèn chọn ở chỗ đó. Hàng ngày lấy việc dạy học cho trẻ con làm nghề nghiệp. Ở được quãng ba năm thì người dân trong thôn cho chỗ đó để làm nơi dạy học. Vợ chồng chăm chỉ chuyên cần. Ngày tháng qua nhanh, sinh hạ được một người con trai tên là Thê, tức là vị tổ đời thứ hai vậy.

Đến khi trưởng thành lại tìm về người bạn cũ ở Đông Ngạn, cưới con gái thứ của ông Nguyễn tên là Thục làm vợ, rồi trở về thôn nơi dạy học. Ông theo sự cấy cày, ra sức làm việc nhân nghĩa, gia tư trở nên đầy đủ, làm trưởng thôn dân.

Năm Đinh Tỵ tháng tư bà Nguyễn đến chùa Việt Trì hành hương làm lễ Phật, lúc về đến đêm nằm mộng thấy một ngư phủ thân hình to lớn, cầm lên núi một con cá ba đuôi dài hơn một thước, đến trước sân mà dâng cho bà Nguyễn lấy để ăn. Mùi vị thật hấp dẫn. Bà Nguyễn hỏi là vật gì. Ngư phủ nói rằng đây là đồ ăn rất tốt. Rồi người đó bỗng biến mất. Bà Nguyễn tỉnh dậy mới viết là một giấc mộng Kê Vàng.

Bà đem kể với Ông. Ông cho đó tất có điềm tốt lành. Bà Nguyễn từ đó có mang, đến năm Mậu Ngọ ngày 11 tháng 1 sinh được một người con trai. Ông nhân giấc mộng dâng cá cho rằng đó là ứng điềm quỷ thần nên đặt tên là Rô (ngày lệ của vị trưởng là tháng Giêng từ mồng 9 đến 12).

Sau đó 2 năm, bà Nguyễn lại sinh đôi hai người con trai. Ông vô cùng vui mừng thấy rằng đúng là thần đã ban cho. Đến năm Quý Dậu ngày 2 tháng 2, Ông cùng bà Nguyễn không bệnh mà mất. Ba người con cùng với các môn đệ thôn dân làm lễ chôn cất. Sau ba năm tang lễ hoàn tất (ngày lệ giỗ ông bà là mồng 2 tháng 2).

Truyền kể rằng ba anh em có tài sức dũng mãnh, lại kiêm cả việc tập bắn cung. Còn người anh hay xuống nước hàng ngày lấy việc đánh cá làm vui.

Một ngày vào cuối tiết xuân, vạn cảnh đều yên hòa, Duệ Vương lệnh cho thuyền đi trên sông Bạch Hạc để ngắm xem cá nước. Chiêng kêu hòa với tiếng trống, lọng vàng thuyền rồng dàn khắp dọc ngang trên sông nước, đan kết thành vân, trên dưới các đầu đường tấp nập vẻ đi lại, trông như đám hỷ chật nghẽn bên bến sông Lô.

Các anh em bèn vui mừng đến xem, trông thấy nghi vệ thái bình thì kêu lên:

–       Than ôi! Đại trượng phu thì phải như vậy.

Duệ Vương nghe thấy lấy làm lạ liền lệnh triệu kiến. Thấy hình dạng trang nghiêm, thân thể cường tráng đó, Vua hỏi tên họ. Các anh em cứ theo thật mà trả lời.

Nhân đó Vua lệnh lấy tên là Chàng Chấu để gọi (ngay hôm đó quyết cho các Chàng Chấu theo sau kiệu làm tùy tùng). Được vài tháng cử chỉ trở nên thân mật, mọi việc đều chu toàn. Vua lấy làm lạ, cho làm Đô sĩ. Một năm trong ba lần đi hộ giá thị tòng, thấm sâu thánh trạch ưu ái thiên ân, hương lửa cùng có duyên vậy.

Đến lúc lòng Trời có hạn, cơ nhà Hùng kết thúc. Duệ Vương tự vì giàu mạnh mà không tu chính đức, lấy ấn kiếm làm đồ giữ nước, lấy tửu sắc làm nền móng cho việc thủ thành, việc võ bị phế buông. Ngày đêm yến ẩm ở trong cung đình.

Thục Vương thừa cơ đến xâm lấn. Tướng sĩ đều cùng tử nạn. Thư từ biên thùy báo gấp mà Vua không nghe. Đến khi quân Thục đã đến gần, Vua còn đang say chưa tỉnh. Tướng sĩ trong nước hàng Thục nên cơ đồ họ Hùng đã hết. Than ôi, không có điều gì để nói về sự này nữa. Bể dâu đổi thay. Thế cuộc xoay vần. Thế này cũng đã không còn như vậy được nữa.

Các anh em từ đó dắt díu nhau về quê cũ, rời bỏ khăn mũ, phú quý rũ trần. Lấy ngày yên bình với nơi sông nước. Núi rành rành, nước rào rào, nhớ đến ngòi nước nhỏ trong xanh. Bèn chuyên việc đánh cá uống rượu, thực là những người nhàn hạ bậc nhất, không quan tâm đến thế sự.

Được năm sáu tháng khi Thục Vương lấy được nước, cho xây thành ở Việt Trì, rộng hơn ngàn trượng, cuốn quanh như vỏ ốc, tên gọi là Loa thành. Cứ xây lại đổ. Thục Vương lệnh tìm người để làm phu. Theo lệnh chỉ thi hành, sai quan tìm bắt các anh em. Các anh em đều nói rằng:

–       Chúng ta đều đã nhận ân sâu của Hùng Vương, chưa kịp báo đáp. Nay còn có tấm thân lại bắt theo triều khác. Cam tâm để người sau sai khiến được sao?

Liền cùng nhau trốn ra nơi thường câu cá, rập đầu trước trời mà nói:

–       Trời xanh trăng sáng, núi cao nước trong, các thánh họ Hùng nguyện giám cho lòng thành.

Khi đó là ngày 10 tháng 10. Bèn ôm đá cùng nhau nhảy xuống sông mà chết. Hôm sau người dân trong thôn trang vội vớt di hài mà an táng. Bỗng thấy mối đùn thành một gò đất lớn (ngày 9 đến 12 tháng 10 là ngày lệ hóa thần). Gò đất đó tức là khu Đồng Bò.

Thục Vương nghe việc này mới than rằng:

–       Các quan tướng của Duệ Vương đều theo sự sai khiến của ta. Chỉ có các Đô sĩ lại có nhân phẩm cao, chịu ơn vua mà cùng quyên sinh vì nghĩa như vậy.

Liền trong ngày lệnh lấy tên gọi trước đây mà Duệ Vương đã đặt để phong làm Đại vương. Sai người trong trang lập miếu để phụng thờ. Qua các thời họ Triệu, Tiền Lý, Hậu Lý, Đinh, Lê, Lý, Trần đều cảm lòng trung mà có mệnh phong cho sáng tỏ.

Đệ nhất vị Linh Lang Chàng Chấu đại vương;

Đệ nhị vị Linh Lang Chàng Chấu đại vương;

Đệ tam vị Linh Lang Chàng Chấu đại vương;

Trang Hương Lan phụng thờ.

Hồng Phúc năm thứ 2, ngày tốt cuối xuân, Đông các đại học sĩ Nguyễn phụng soạn.

Tự Đức năm thứ 1, ngày tốt giữa thu, Học trò bản trang họ Nguyễn phụng viết./.

Tháng 8 năm 2020, Quản trị viên Nhóm Đền miếu Việt, Thạc sĩ Nguyễn Đức Tố Lưu dịch nghĩa.

20200618_085723