Sơn Tinh Thủy Tinh

Dịch đoạn Ngọc phả Hùng Vương đời thứ 18:

Truyền tới Hùng Chiêu Vương, ở ngôi tám mươi năm.
Hùng Trinh Vương, một trăm bảy mươi năm.
Hùng Võ Vương, chín mươi sáu năm.
Hùng Việt Vương, một trăm lẻ năm năm.
Hùng Định Vương, chín mươi chín năm.
Hùng Triều Vương, chính mươi hai năm.
Hùng Nghĩ Vương, hai trăm năm.
Trải qua 16 đời, đều xứng là thời Trị Bình. Truyền đến đời Hùng thứ mười bảy là Hùng Nghị Vương, một trăm sáu mươi năm. Vua lập thái tử là Hùng Tuyền vương, kế nối chính thống. Tuyền Vương có tư chất thánh triết, anh hùng dưới trời, trong sửa võ lược, ngoài giữ biên cương, dốc chí hưng thịnh trị bình, giữ yên Trung Quốc. Xa noi nền trị của các bậc tiền vương, kính sùng trời đất, kính trọng quỷ thần, trời ban phúc lành, mến giúp quốc sự. Vì thế Vua càng gia tăng sùng chuộng, kính tín thần nhân, truyền hịch cho thần dân thiên hạ sửa thêm đền miếu, nghi vệ trang nghiêm, ngày ngày đều dâng hương hoa tỏ lòng thành kính phụng thờ. Châu huyện nào có quan cai quản thì mỗi tháng đôi lần viên quan ấy phải đến làm lễ mật khấn bách thần cầu nguyện cho mệnh mạch quốc gia dài lâu. Vua đích thân lên núi Nghĩa Lĩnh xem lăng điện của các bậc tổ tông cùng linh điện các danh tướng tiết liệt, khai quốc công thần, thảy đều cho sửa sang tu bổ, tăng thêm tầng cao vươn như chọc trời, lâu đài bốn phía, ánh sáng cuốn đất, một bầu phong cảnh, dựng đàn bái lễ. Truyền cho văn võ triều thần sửa sang áo mũ năm màu, tùy theo phẩm tước xếp thứ tự, mỗi tuần nghiêm túc làm lễ độ pháp quy mô, cho việc triều đình được trung chính.
Khi đó Vua chưa có thái tử kế vị, nên đại giá đi thăm các cung tiên Tam Đảo, Tản Viên, xem khắp địa thế những nơi núi non lạ kỳ phong cảnh tươi đẹp, cho dựng các điện miếu, phụng khấn cầu con. Nhưng số thời đã hết, cơ đồ họ Hùng đã đến hồi kết thúc.
Vua không chiêm bao được điềm gấu lớn, sau sinh được con gái hai nàng, đều là những trang thục nữ phụ đức trinh hiền, phong tư tuấn nhã, so ra thì Tề Khương, Nga Nữ chỉ là hạng tầm thường, chất ngọc thân tiên hợp thành. Công chúa thứ nhất tên là Mị Xu [Châu] Tiên Dung. Công chúa thứ hai tên là Mị Nương Ngọc Hoa. Vua rất yêu quý. Công chúa Mị Xu được Vua gả cho Trử Công đồng tử (huyện Hương Yên, phủ Sơn Nam). Còn công chúa Mị Nương, Vua muốn cầu bậc anh kiệt, nên chưa định ngày lành. Vua cho lập hai ngồi lầu ở sông Việt Trì, trước cửa treo biết đề: 
Quán chơi trăng cầu hiền;
Lầu kén rể đãi hiền.
Vua cho công chúa thứ hai ở đó. Vua truyền hịch đi bốn phương, cần rể hiền quý để trao ngôi họ Hùng. Ai là tài tử văn nhân, hãy đến tụ hội ở thành Phong Đô, vua chọn kỳ tài, để gả công chúa. Do đó anh hùng hào kiệt bốn biển hăng hái háo hức đến tụ tập ở quốc đô. Vua ngự tuyển người tài trong thiên hạ, có nghìn kinh vạn sách, nhòm xét ở cung tường Khổng Mạnh, bốn khoá ba truyền, chẳng khiêm nhường thao lược của Tôn Ngô. Hiền tài trong thiên hạ đều có mặt cả ở trường thi. Nhưng phần nhiều được mặt này thì mất mặt kia, cùng lóc lóc trôi tuột cả, đều chưa phải là bậc toàn tài của đương thời. Duy có Sơn Tinh Tản Viên và Thuỷ Tinh Động Đình là hai bạn đồng học cùng thầy, có nhiều thuật pháp thông thiên, nhưng không đến kịp để dự thi cùng mọi người. Ngày mồng sáu tháng Giêng năm Giáp Tí, Sơn Tinh và Thủy Tinh hai thần mới biết nước đang cầu tìm rể hiền. Hai tướng giao ước trong ngày cấp tới kinh thành, dâng lời tâu lên Vua:
– Bọn thần thẹn nỗi kém tài, sống thừa trong vương quốc. Trộm nghe thánh thượng mở khoa thi kén rể hiền. Bọn thần đến muộn, nhưng muốn được thi tài mong gặp vận may không lọt ra ngoài hịch chiêu hiền của thánh thượng.
Vua cả mừng, bèn lên xe đến sông Bạch Hạc ngự thi tuyển cho hai người. Sơn Tinh đến ngồi ở đầu sông. Thủy Tinh trở về dưới đáy nước. Trong khoảnh khắc bỗng thấy mây mưa nổi lên giữa dòng, mặt sông gió tung bụi cuốn. Đáy biển vang tiếng động ầm ầm, trên không chớp loè loang loáng. Giao long, ngư kình từng đoàn theo sóng tung lên muôn vạn lớp, kình ngạc côn nghê điệp điệp nuốt muôn sóng ngàn sông. Một bầu trời đất, muôn trũng sóng cồn. Trong khoảng tranh tối tranh sáng, những ai trông thấy đều phải lạnh tim lạc phách. Sơn Tinh tay trái cầm quyển sách, tay phải cầm cây gậy, miệng niệm thần chú mà chỉ. Muôn quái nghìn kỳ, thảy đều do trượng đầu vung quét. Một biến một hoá, đều là diệu pháp thần cơ. Sơn Tinh mới biến hóa sách thần phép ước, nghìn kỳ vạn vật, trăm thú đến chầu. Một khoảnh giữa sông bỗng nổi lập đầu núi ngũ nhạc, cao hơn ngàn trượng. Núi mây năm sắc, Thứu Lĩnh rồng bay phượng múa, lân quỳ, voi trắng chín ngà chầu phục. Voi núi hổ mạnh theo về. Vạn thú nghìn chim tụ hội. Dù Thủy Tinh phép lạ cũng khó vượt Sơn Tinh. Sơn Tinh một biến một hóa, sách thần ước lớn, lấy gậy chỉ ra. Tự nhiên ngọn núi giữa sông biến mất, vạn vật hóa đi đều quay về vùng đất rừng núi Tản Viên.
Vua thấy hai hiền tài đều có phép thuật như nhau, không biết nên chọn gả công chúa cho người nào. Vua bèn lên xe trở về cung, sai sứ giả triệu hai người hiền đến bảo:
– Trẫm chỉ có một đứa con gái, như viên ngọc Lam Điền, ngày trước vua Thục cầu hôn không gả. Nay hai khanh đều là bậc anh hùng. Nghe nhạc Ngô thì Hán sầu thảm. Hán ca hát thì Tần khóc lóc. Chưa biết phải thẩm định thế nào cho tiện. Vậy ai đem sính lễ đến trước thì trẫm gả cho người ấy.
Thủy Tinh liền trở về cung điện ở Động Đình, lại còn phải tìm chọn lễ vật cho thật kỳ lạ. Sơn Tinh thì chỉ xuống lầu, cầm gậy chỉ lên trời, nhẩm khấn xin sính lễ. Một lát liền thấy voi trắng chín ngà cùng các đồ châu lạ vật dị, tất cả từ trên trời hiện xuống. Sơn Tinh thu lấy, vừa đúng giờ Tí đã đưa các đồ sính lễ đến trước lầu rồng. Vua bèn gọi công chúa đến gả cho Sơn Tinh. Sơn Tinh nghênh rước ngay về sơn động ở núi Tản Viên. Đến giờ Mão, Vua lại thấy Thuỷ Tinh cũng đem đủ lễ vật đến. Vua nói:
– Sơn Tinh đã đem lễ đến trước rồi! Việc cưới xin đã xong. Theo đúng lời hẹn ước, chớ nên hối tiếc.
Vua là người có đạo vợ chồng, giữ nguyên phong tục, làm vua lấy đức giáo hóa nhân dân, rủ áo chắp tay, được nghề canh cửi tằm tang lạc thịnh, có có phong cách để lại của thời thái cổ. Thời vua trị vì đất nước làm việc thi ân có nhân cho dân chúng. Biển vui sông xanh, hoàng gia yên sự, tám cõi đều chầu, dân không gian dối, đều tuần theo chính giáo, chế độ cai trị quy mô, đất đai thống nhất.
Vua lệnh cho các hiền thần xem trời đất âm dương, năm khí núi sông, quan sát tượng trời, lấy núi Nghĩa Lĩnh định quê hương, đặt là điện Nghĩa Động, nay là xã Nghĩa Cương. Trưởng tạo lệ là thôn Trung Nghĩa. Cấp cho ruộng trên từ Tuyên Quang, dưới tới Việt Trì, để phục vụ việc hương hỏa tế tự, cho quốc gia nối mạch dài lâu.
Từ khi Thuỷ Tinh đưa đồ sinh lễ không được, nên có ý bất bình, oán hận, bỏ về thuỷ cung. Từ đó tình bạn học cùng thầy trở thành oán cừu. Hàng năm tháng Sáu tháng Bảy, Thủy Tinh lại dẫn vạn thủy binh tiến thẳng đến núi Tản Viên, gây mưa to gió kớn, sấm chớp sáng lòe. Hai tướng giao chiến. Sơn Tinh mới tấu cáo về với vua cha. Hùng Tuyền Vương rất tức giận, liền sai Sơn Tinh thu thập trăm vạn cân sắt, truyền trăm thợ giỏi, luyện đúc khuôn thành lưới sắt. Dài hai trăm ba mươi sáu trượng. Rộng năm mươi trượng, chặn ngang ở bến Đoan Hương huyện Từ Liêm, ngăn cắt Thủy Tinh không thể qua lại.
Thủy Tinh phải mở riêng một đường thủy sông Tiểu Giang, trên từ thôn Cốc một nhánh nhỏ chảy tới sông Tích một dòng, từ Hát Môn huyện Phúc Lộc, dưới tới phủ Lị Nhân xứ Sơn Nam, thông ra tới cửa biển Thần Phù. Thời thường vẫn căm hận dẫn thủy binh đến giao chiến, xưa nay thường có.
Tuyền Vương hưởng nước khoảng một trăm năm mươi năm, rồi muốn nhường ngôi cho Sơn Tinh Tản Viên. Sơn Tinh cố từ không dám nhận. Tuyền Vương nói:
– Cơ đồ họ Hùng đã hết, con gái không kế tục được.
Tản Viên còn do dự chưa quyết thì vua Thục nghe tin Tuyền Vương nhường ngôi cho con rể quý Tản Viên. Thục Vương viện cớ… (bị thiếu).

Vua Hùng gặp tiên

Dịch đoạn Ngọc phả Hùng Vương cầu gặp tiên ở Tam Đảo, sau thời Phù Đổng Thiên Vương đánh giặc Ân:

Thái tử là Hùng Huy Vương nối ngôi kế thừa đại thống. Huy Vương từ khi kế vị cố gắng chuyên lo chính trị, theo thanh thế vang lừng về sau, cất cung khoá giáp, không phải dùng binh, chỉ lo an dưỡng muôn dân, sửa sang chính sự giáo hoá. Rồi đó lấy chuyện trước làm răn, không dám làm càn dâng lễ dối khiến cho Trời giận giáng tai ương, giặc ngoài biên xâm phạm, sáu đời thừa huởng thái bình bỗng trở thành thời loạn. Từ đó vua kính sùng đạo trời, kính việc quỷ thần. Phàm các nơi trên núi dưới biển ở đâu có thần thiêng đều sai trăm quan văn võ đến xây cất miếu điện, hoạ vẽ thánh tượng, thành tâm phụng thờ. Vua mới ngự ở điện Kính Thiên, cho xây cất đài dao điện ngọc, tô vẽ tường cung, trang hoàng miếu vũ, bố trí nghi vệ, nhất nhất trang nghiêm. Các đồ tế khí cũng đều cho vẽ rồng mây, ngày đêm đèn hương không ngớt. Hàng tháng cứ ngày sóc vọng Vua thường trai giới lên ngự chầu. Bên cạnh điện từ xưa có một ngôi chùa, nguyên là nơi khi xưa có các bảo vật của các bậc thánh đời trước, nơi tu luyện thân tâm, thuốc thiêng diệu dụng, được phép thành tiên, hoá sinh bất diệt, giữa ban ngày bay lên trời. Dấu tích bắt đầu tại chùa này, nơi được các bộ chúng thần giáng thế giúp đỡ, núi sông chung đúc linh thiêng lạ đẹp. Tinh thần trời đất, Tứ đại Thiên vương, Bát bộ Kim cương, Nhị thập bát tú cùng trăm thần tụ hội, truyền trông nom tinh núi, tinh nước, sông ngòi biển núi, trăm thú đến chầu, tất cả đều quy về một mối. Xưa gọi là chùa Từ Sơn Cảnh Thừa Long (nay là chùa Thiên Quang Hòa Thượng thiền tự).
Vua đến ngự ở đó, truyền cho trăm quan tả hữu tu sửa trong chùa, cả bốn vách chùa đều cho vẽ các ảnh tượng màu sắc huy hoàng, trồng thêm cây hoa, làm nên thành một nơi cảnh đẹp. Vua bèn truyền chiếu hịch cho dân các châu huyện phủ xã, nơi nào có tăng ni, đạo sĩ, các xứ hội đồng, chọn tuyển các bậc tăng lưu lục tuần, cấp phát áo mũ, tụ hội đạo chúng để thuyết pháp giảng giải chân kinh, khai mở nguồn đạo. Đầy cung hương hoa, bốn mùa thơm phức.
Vua lại sai quần thần mồng một và ngày rằm dâng lễ chay. Hai ban văn võ đứng chầu nghiêm trang. Vua kính cẩn đọc sớ tâu lên bề trên. Cửu Tiêu tuy cao, nhưng đèn hương bay thấu áng mây lành. Một tấm lòng thành cảm cách thông đến trời. Cầu tất ứng, ước nguyện đều được theo ý.
Một ngày tốt có hương trời, bỗng thấy một lão ông mình vàng mặt ngọc cưỡi mây bay đến. Vua lạy chào rồi mời lão ông vào trong chùa ở chính điện. Lão ông nói:
– Ta là thần miền Tây Vực, cư trú lâu ngày ở Biển Giác, chu du trên thuyền Bát Nhã, không nhiễm lòng trần, tẩy niềm tục Niết Bàn. Nay thấy nơi đây có lòng thành cảm cách, râm ran tiếng cầu kinh xướng kệ, cho nên ta cảm ứng mà đến đây. Vua mừng thầm: “Người có lòng thanh tịnh, ý trời sẽ thông”.
Trong chốc lát, cụ già lấy trong ống tay áo ra một chiếc móng rồng, một khối ngọc trời, đem trao cho vương. Liền đó một đám mây ngũ sắc hiện ra sáng loá cả núi rừng. Lão ông bay lên trời mà đi.
Vua mới biết đó là đức Phật thượng thiên giáng ngự, bèn sụp quỳ vọng bái. Ngày hôm ấy vua truyền cho trăm quan triều thần ăn ở chay tịnh rồi lập đàn cúng ở cung điện trong chùa. Triệu trăm quan đến hội ở núi Thượng Linh, khấn rằng:
– Ngày hôm nay tôi may mắn được gặp một vị lão ông tặng cho một vật lạ, không biết nên đem làm gì cho được quý báu? Chư vị thần linh nếu hay biết nguyện xin ứng chỉ giáo cho.
Vừa khấn xong bỗng thấy trên không rực sáng, rồi một đám mây lành sà xuống. Tứ đại Thiên vương hiện lên giữa đàn, hiện mình cao bảy thước, mày râu bạc trắng, đầu đội mũ hoa, sắc hình rực rỡ. Vua đón mời vào trong điện, sửa sang áo mũ lạy chào. Tứ đại Thiên vương nói với Vua:
– Thứ mà Lão ông đã tặng là của quý của Hoàng Thiên, một dùng chế ra chuôi kiếm, một dùng chế ra ấn phù ngọc quý, cần phải mài dũa cho thật sáng để làm vật quốc bảo. Nói xong Thiên vương lại bước lên mây mà đi.
Vua hướng về phía đầu núi mà vái vọng. Cũng nhân việc này vua cho đắp thánh tượng đặt ở trong chùa để phụng thờ. Rồi đó Vua ngự giá về cung, sai đem khối ngọc trời khắc thành quả ấn, đem chiếc móng rồng tạc thành chuôi kiếm. Trên ấn khắc chữ “Vương Linh ấn”, trên chuôi gươm khắc chữ “Thiên Linh kiếm”.
Từ đó xã tắc vô lo, triều đình yên tĩnh. Vua nghiệm ra một điều rằng lẽ trời rất mực huyền vi, đối với đạo trời vua dốc lòng ngày một thêm sùng chuộng. Một ngày kia tiết trời tạnh sáng, muôn cảnh đều tươi mới, quần hồng áo tía đầy thành, người và cảnh vật dịu yên trong ánh thiều quang. Triều đình có kỷ cương, đặt khoa cử chọn kẻ sĩ. Lấy đạo đức nhân từ làm chính. Cầu tìm những bậc thần từ tài giỏi. Nhiều kẻ sĩ tốt đẹp hội mây tại triều đình. Đông đúc các bậc hiền thần, đến nơi cử đế. Thật là thời thịnh, ngày hội văn minh.
Một hôm Vua bày tiệc ở Long Lầu. Quần thần dâng lời tâu:
– Chúng thần nghe nói núi Tam Đảo là nơi quần tiên thường hay đến tụ hội, tinh thành trong sạch, đến đó có thể gặp được tiên.
Vua vốn trọng việc quỷ thần, nên nghe vậy rất thích thú, liền truyền cho xa giá đi ngắm xem phong cảnh. Xe loan đến nơi, mừng thấy đồi vóc núi gấm, lâu đài lớp lớp toả sáng ngàn tầm, động biếc khe xanh, vạn dòng lặng tung bọt sóng. Cảnh vật tranh sắc, hoa cỏ đua thơm. Đầu ngọn núi nhỏ có ngôi chùa cổ tên là chùa Tây Thiên dựng trên khoảnh núi địa thế như con rồng trắng bay sà xuống. Vua bèn cho dựng đàn tràng, sửa dọn lễ chay, sai quần thần dâng tiến đứng chầu. Vua làm lễ bái yết, mở một tràng công đức ở trong chùa, sớm cầu tối nguyện trong bảy ngày bảy đêm, trai gái bốn phương kéo về dự hội đông như mây họp. Mọi người cùng vui thăm xem cảnh vật. Dẫu chim chóc chốn sơn lâm cũng được nghe kinh, tuy cá tôm dưới khe suối cũng vui nghe giảng kệ. Một lòng công đức, ban phúc. Vua lại đến bên khe Thạch Bàn để xem tiên cảnh. Bỗng thấy trên lầu điện nguy nga khói sương lấp lánh, bốn phía quần hội rồng mây, mông lung đài sen đất Phật hiện lên. Một bầu núi non, đúng là cảnh Bồng Lai thú vị. Vua bèn vào chùa Phù Nghi, lập đàn Vọng Tiên, khấn lời cầu nguyện Hoàng Thiên. Rồi Vua truyền gọi triều thần văn võ đến hội chầu, áo mũ nghiêm trang. Vua đọc văn khấn chúc:
– Nguyện Hoàng Thiên cho các vị thần tiên giáng xuống cho được có dịp hạnh ngộ, thoả lòng mong ước ba sinh.
Đọc chúc xong vua sụp xuống lạy tạ. Nhưng sau ba ngày vẫn không thấy bóng dáng của các vị tiên đến. Vua hồi hộp lo lắng, nhưng không biết phải làm thế nào. Vua bèn đến chỗ núi đầu rồng, lập đài Vọng Tiên mà lòng kiên trì cầu khấn. Đêm ấy vua chiêm bao thấy thần linh hiện lên bảo rằng:
“Tây Thiên chi thượng
Bất kiến hạ tướng.
Niệm Đông túc các,
Nhân cửu cư thượng khẩu vượng.”
Vua nhận được bài thơ thần bốn câu đó xong liền xa giá về cung. Về đến dưới núi thấy một mỹ nhân phong tư xinh đẹp, cốt cách thanh cao đang đứng bên điện Cẩm Miếu xem xa giá nhà vua. Vương thích nhan sắc cô gái ấy, muốn lấy làm vợ. Đến khi về cung, Vua hỏi:
– Nhà nàng ở đâu?
 Cô gái đáp:
– Thiếp là tiên nhân giáng sinh xuống trần ở Đông Lộ làm con của một gia đình trưởng lão. Thiếp đã mấy mùa hoa vịnh sử ngâm kinh, che châu giấu ngọc để đợi bậc anh hùng. Gần đây trộm nghe bệ hạ đại giá đến Tây Thiên, dựng đàn tràng muốn cầu tiên tử. Thiếp vì thế dẫu chẳng phải xa xôi cũng đến xem, may duyên trời tiền định cho thiếp được gặp quân vương, xin nguyện phụng hầu nơi màn trướng không phụ nguyện ước ba sinh.
Vua nghe lời kể của mỹ nhân, mới biết là thần tiên sai đưa tiên nữ đến cho mình. Thế là Vua sai quần thần sắm sửa sính lễ, rồi ngự xa giá đến nhà Trưởng ông ở Đông Lộ xin nạp sính lễ. Rồi đó Vua đón hôn trở về thành Phong Đô, lập tiên nương làm vương phi chính nhất. Chưa đầy năm Ngọc Tiêu mang thai, rồi sinh một con trai tư chất bẩm sinh thông minh, anh tài trác việt. Đến tuổi trưởng thành được vua cha lập làm Thái tử nối quốc thống, hiệu là Hùng Vĩ Vương. Về sau, Vua cùng hoàng phi học được tiên thuật, hưởng nước được 200 năm, Vua truyền cho con lên ngôi trị vì. Vua thọ sánh ngang tuế nguyệt Kiều Bành, hoá sinh bất diệt.
Ninh Vương nối vị, kế thừa ngôi báu các đời tiên vương. Lúc mới nắm quyền, các việc chính sự thi thố kể cũng khả quan. Vua thường lấy ấn kiếm đưa cho quần thần xem mà bảo:
– Trẫm có hai vật báu linh thiêng, lo gì không trị được thiên hạ?
Từ đó thần uy càng chấn động, thanh thế lên cao, những kẻ gian phu trong bốn phương thảy đều vỡ mật run tim. Trong nước thái hoà, biên cương vô sự, thiên hạ ngợi khen là bậc vua hiền. Hưởng nước được 100 năm thì băng.

Tiểu kết trong Ngọc phả Hùng Vương về thời dựng nước

Thien dia nhat nguyet

Dịch đoạn bàn về thời dựng nước trong Ngọc phả Hùng Vương.

Ngọc phả Hùng Bảo bàn rằng: Đất Việt từ Hồng Bàng Thị kế tiếp sau là cháu ba đời của Thần Nông, Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình Quân, đều là đạo sáng vợ chồng, là gốc của phong hóa. Cai trị được là nhờ có đức giáo hóa cho nhân dân, rủ áo chắp tay. Bốn phương trăm họ đều thần thuộc. Vạn dân được cày ruộng soi giếng, ăn nên làm ra. Trời đất trăng sao đều tỏ, âm dương đều chính. Bốn mùa khí hậu an hòa. Thái tổ bởi phong tục tốt đó mà lệnh cho Hiền Vương kế tục Dương Vương cai trị phương Nam, lấy con gái Đế Lai là Âu Cơ, tên là nàng Âu Lạc, sinh ra sự lành trăm trai, là khởi thủy của Bách Việt nước Nam, hưởng quốc qua các năm, có hơn trăm bậc đế vương, là sự trường tồn.
Khi đó nước giàu thọ, nhiều nam giới, mười tám lá ngọc, cơ đồ vững lập, trị hưởng quốc gia lâu dài, sách trời ước định. Thời kỳ này đầy đủ là hai ngàn sáu trăm hai mươi hai năm. Từ cổ tới nay chưa từng có. Ban đầu bày xếp ơn đức yên nhân dân, các nơi đều an vui, thiên hạ thái bình, chuyên nghề làm nông tang, không có binh đao. Bốn cõi núi bể sáng yên.

Nguyên văn phiên âm:

Hùng Bảo án viết, Việt tự Hồng Bàng Thị kế Thần Nông chi hậu, tam thế tôn dã. Kinh Dương Vương thú Động Đình Quân nữ, minh phu phụ chi đạo, chính phong hoá chi nguyên, cư trị tắc dĩ đức hoá dân, thuỳ y củng thủ. Tứ phương bách tính, dĩ thần thuộc sự. Vạn dân tắc canh điền giám tỉnh, tuế tác nhập tức. Thiên địa nhật nguyệt tinh thần, âm dương dĩ chính. Tứ thần tiết hậu. Thái tổ chi thuần phong dư lệnh Hiền Vương kế Dương Vương chính trị Nam phương, thú Đế Lai chi nữ tính Âu Cơ danh Âu Lạc nương, đĩnh sinh bách nam chi tường, vi Nam quốc Bách Việt thuỷ. Hưởng quốc lịch niên, dư bách đại đế vương. Tối vi trường cửu.
Thì quốc phú thọ đa nam, thập bát diệp bảo đẳng, hồng đồ bảo đỉnh, vĩnh trị hưởng quốc, thiên thư định ước, mãn tải kỷ niên, nhị thiên lục bách nhị thập nhị niên, tự cổ dĩ lai, vị chi hữu dã, sơ thi đức huệ, anh? ư nhân dân, quần phương an nhạc, thiên hạ thái bình, chuyên sự nông tang chi nghiệp, vô hữu binh qua, tứ dã hải nhạc quang bình.

Đế Minh, Đế Nghi, Kinh Dương Vương

Dịch lại Ngọc phả Hùng Vương, đoạn đầu tiên về ba vị Đế Minh thái tổ, Đế Nghi đế bá, Kinh Dương Vương hoàng phụ.

Xưa kia từ thời Hoàng Đế, cháu ba đời của Viêm Đế là Đế Minh, sinh ra Đế Nghi, rồi đi tuần du phương Nam, đến núi Ngũ Lĩnh. Đế Minh gặp được con gái của Vụ Tiên nương, mà sinh ra Kinh Dương Vương, húy là Lộc Tục. Vua ở ngôi hai trăm năm mươi năm, thọ hai trăm năm mưới bảy năm. Hóa tiên về biển cùng với con gái Động Đình Quân là Ngọc Dung.
Vua có dung mạo đoan chính, thông minh thánh trí, vượt trội hơn tầm của Đế Nghi. Đế Minh thấy có trí tuệ kỳ lạ, có ý lập kế tự, muốn truyền ngôi báu cai quản muôn nước. Nhưng Dương Vương cố nhường cho anh. Thế là Đế Minh lập Đế Nghi nối ngôi, cai trị phương Bắc, còn phong cho Kinh Dương Vương cai trị thiên hạ ở mặt Nam, xưa là quận Giao Chỉ. Kinh Dương Vương đổi thành động Xích Quỷ, tên là nước Xích.
Xưa Dương Vương vào ngày mồng năm tháng hai năm Nhâm Tuất, vâng lệnh đem quân lính dời đến núi Nam Miên, trấn giữ và cai trị đất nước. Trên đường Vua ngắm xem phong thủy, chọn nơi hình thế thắng địa, có đại cuộc chân long quý mạch, để lập đô ấp, trấn trị thiên hạ. Qua đất Hoan Châu (xưa là Hoan Châu, nay là Nghệ An) Vua ngắm xem hình thế, thấy được một vùng có quý cuộc phong cảnh tươi đẹp, như lâu đài muôn nhẫn, gọi là Hùng Bảo Thứu Lĩnh, tất cả có 199 núi, xưa gọi là Cựu Đô Ngàn Hống. Vùng đất này non biển đúc linh, núi sông khe hồ hội chầu, tụ họp ở cửa Hội Thống ven giáp biển, đường núi quanh co, đường sông uốn khúc, địa thế rồng cuộn hổ ngồi, bốn hướng cùng trông, bèn xây dựng đô thành cung điện lâu đài cửa ngọc, làm nơi cho bốn phương triều cống.
Bấy giờ khí xuân ấm áp, vô vàn cảnh sắc. Vua bản tính thích phong thuỷ bèn lên thuyền ngự tuần du ngoài biển, đi xem núi sông, trải xem hình đất, lạc ra ngoài biển. Bất giác thấy thuyền rồng đã thẳng đến xứ hồ Động Đình, núi xanh nước biếc. Vua sai dừng thuyền, đứng lên xem, chợt thấy một người con gái lưng eo xinh đẹp, dung nhan tuyệt sắc, từ dưới đáy nước đi đến. Thật là một cuộc hội ngộ hiếm có xưa nay. Vua bèn sai chèo thuyền đến gần. Vua nói:
– Tiên nữ đẹp quá, từ đâu đến đây?
Thiếu nữ đáp:
– Thiếp tên là Thần Long, chính là con gái Động Đình Quân, ở trong thâm cung cửa ngọc, từ lâu đợi bậc anh hùng, nay trời cho được gặp gỡ, nguyện được theo phụng hầu khăn túi.
Vua vui mừng đẹp ý, bèn dắt vào trong thuyền rồng. Vua cùng người con gái quay giá trở về thành đô, lập Thần Long làm chính cung.
Ngày sau Vua lại đi tuần thú, rong ruổi xem khắp các nơi sông núi, đến xứ Sơn Tây thấy một nơi địa hình trùng điệp, sông đẹp núi lạ. Vua bèn thân ngự giá lên núi, tìm mạch đất, nhận thấy khí mạch từ núi Côn Lôn xuất ra, theo từ động núi Ngũ Lĩnh Vân Nam của cả nước, tiếp gặp Ải Môn Ngưỡng Đức nước lớn, như hình chữ Bát. Xuyên núi thấu mạch dẫn tới Cao Bình, Lạng Sơn, Càn Hải chín châu. Các núi cao vút, bỗng nổi lên thành ba ngọn núi [Tam Đảo], rồng trắng giáng khí ở châu Thái Nguyên, chợ trời bàn đá [Thiên Thị Thạch Bàn], nước chảy khe trên, ngược núi ngược sông, mạch dẫn liên miên.
Đưa tới các châu Bảo Lạc, Bằng Du, Thu Vật, Lục Yên, đầu nguồn nước từ Hoàng Hà, Hán Giang, Lô Giang, Càn Thủy, mà chảy dẫn mạch giáng khí, gặp nước ròng mạch nhỏ Ải Môn, rồng dẫn đi xa, tới núi Nam Miên là đất Tuyên Quang, thế rõ từ núi Tụ Long, liền tới châu Thu Vật, biến ra toà Kim tinh cao muôn nhẫn.
Mạch đất chảy ở giữa chia trái phải. Sông Hán, sông Hoàng, sông Bảo hai bên dẫn mạch. Chảy tới Lâm Thao, Đoan Hùng, Hạ Hoa, Thanh Ba, Sơn Vi, Tây Lan, Phù Khang, đến chùa Long Hoa, thôn Việt Trì ở ngã ba sông Bạch Hạc. Núi lạ sông đẹp, ngọc tụ nước ngưng, chân đá giáp nước, trái phải cùng đổ về, là chính đường của vạn nhánh, hội tụ chính khí. Bên ngoài chia các huyện Nam Giang, Bắc Giang, Thiên Lịch Giang, Tô Lịch, Tam Dương. Bỗng dựng lập núi Tam Đảo. Cung bên trái là rồng xanh, nghìn núi vạn sông chảy ra ở Lập Thạch, Bạch Nê, Châu Diên. Núi xanh nước biếc, đất sáng như mở ngọc bội, các núi giúp chuyển, tới xứ Kinh Bắc các núi Chu, Sóc, Trà, Từ, Mộc Hoàn, Tích An, An Lão phục chầu. Dẫn đến xứ Hải Dương các núi Đông Triều, Hoa Phong, Yên Tử, thoát ra biển tám xã Đồ Sơn, là đầu rồng chầu án.
Bên phải đất từ Ba Thục, Hán Giang, Hoàng Giang, Thao Giang, núi dẫn sông theo, tới mười sáu châu Tuyên Quang, Hưng Hóa, châu Đà Bắc, Thanh Nguyên, Bạn Hà, Đà Hà, đến huyện Bất Bạt thì nổi lên núi Tản Viên. Cung bên phải là hổ trắng. Núi chầu vạn nhánh, nổi lên ở Mỹ Lương, Minh Nghĩa, Phúc Lộc, Viễn Sơn Thạch Thất, An Sơn, Tây Sơn, Sài Sơn, Tử Trầm, Hữu Bật đến xứ Sơn Nam Chương Đức, Đại Yên, núi Hương Tích sơn, núi Thạch Na, Nam Công, núi Vũ Phượng, núi Đội Điệp, núi Nghi Dương, chầu vào mà thoát, đến cửa biển Thần Phù ỏ núi Chính Đại thuộc Ái Châu, thoát đến Chích Trợ sơn, cửa Vạn Lý, làm đầu hổ chầu án. Lấy sông Bạch Hạc làm Nội minh đường. Lấy Ngã Ba Lãnh, Đại Giang, huyện Nam Giang làm Trung minh đường. Mặt nước như ấn ngọc trông phù vàng. Tiền Hải, Cổ Yếm, Tượng Sơn làm Ngoại minh đường. Nghìn non cúi phục, vạn thuỷ chầu nguồn, đều hướng về núi tổ Nghĩa Lĩnh.
Nhìn thấy tất cả hình thế ấy, Vua nhận ra thế cục của đất Bắc quý đẹp hơn đô thành cũ Hoan Châu, bèn lập điện ở núi Nghĩa Lĩnh. Vua thường ngự giá đến đất bên nơi ngoại này, lập dựng đô thành Phong Châu, đặt quốc hiệu là Văn Lang. Rồi vua ngự giá về cựu đô ở Hoan Châu. Việc dựng đô thành của vua, trước bắt đầu ở núi Thứu Lĩnh, sau lại định đô ấp, vị trí của chính điện, thành trời ao vàng, ở núi Nghĩa Lĩnh, làm đô ấp của họ Việt Thường xưa tại đó.
Bấy giờ vua đi tuần thú trở về cung điện ở núi Nghĩa Lĩnh. Cung phi con gái đế quân là Thần Long cùng với Vua sống ở núi Kỷ Lĩnh, điềm rồng khí chính, thụy thánh có mang. Mang thai mười lăm tháng mười ngày. Đến kỳ mây rồng năm sắc giáng xuống chính điện. Vua sinh hạ Lạc Long quân, tên huý là Sùng Tục. Trước Long Quân có tỏ điềm rồng ứng tốt, ánh sáng đầy nhà, trong trướng tỏa hương thơm. Qua tuần sinh hạ Lạc Long Quân, tư chất phi thường, tự có khí tượng đế vương. Vua mới lập làm hoàng thái tử. Thái tử trưởng thành, tài năng hơn người, thông minh nhanh nhẹn, tài thần trí thánh, anh hùng hiểu biết. Năm tháng tăng thêm, Đế lệnh với triều đường trăm quan rằng: Ta thừa mệnh trời mà trị vạn dân, giữ yên cơ đồ, sắc lệnh cho Thái tử khâm sai cùng với trăm quan cử hành lễ đi tuần thú lãnh thổ, chính là để xem núi sông, những nơi biển non kỳ lạ. Vua khiến Thái tử điều trăm viên tướng mạnh, ba vạn binh tinh đi tuần thú nước nhà, xem xét bốn bể, địa thế núi sông.
Thái tử đi đến Nam Bang, thế đất theo núi sông dẫn mạch mà đến, lên núi tìm theo mạch rồng, tựu ở xứ Tuyên Quang, châu Thu Vật, Tụ Long, nhìn thấy mạch đất rồng chạy đến, Nghĩa Lĩnh đúc thiêng,  gặp qua thượng lưu sông Hoàng Hà, Nhị Hà, Đầu Giang, Hán Lô Giang, đầu nguồn một nhánh chảy ra, nuôi dưỡng che chở nước Nam, từ Tây rồng đến, từ châu Bảo Lạc núi Côn Lôn trên dưới hai bờ, cho đến cửa ải, nước lớn từ Ngũ Lĩnh, Thái tổ Côn Lôn của đất nước, đất tổ Linh Sơn Phong Thứu. Trăm vạn đầu núi dựa Đông Tây Nam Bắc, làm được như bầy con. Lấy Côn Lôn Ngũ Nhạc đại tổ quốc làm Thái tổ, cha mẹ, cùng vạn nước đầu núi góc biển, một mối quy đồng. Thái tử trí thánh thông minh, tài anh mưu lớn, là vị vua có chí trị, danh hiền Việt cổ.
Thái tử có tâm với các bậc tổ, quay về nước lớn thăm hỏi tổ là Đế Minh, bác là Đế Nghi. Thái tử là người có hiếu đễ lớn, trung tín khiêm nhường, có tam cương ngũ thường, là bậc có đức cả. Thái tổ mới đặt quốc thư phong cho Kinh Dương Vương là Thái Tổ Cao Hoàng Đế nước Nam, phong cho Lạc Long Quân là Hiền Vương nước Nam, cai trị Nam Bang. Vạn dân trong thiên hạ đều hân hoan, trăm họ yên vui. Đế tổ, Đế bá coi Thái tử như cốt nhục, xem như tinh túy đất trời, quý như châu ngọc vàng báu, vật quý cũng không bằng.
Đế tổ sắc phong tặng thêm cho Thái tử sách vàng, thẻ bài rồng, lụa ngọc, xe sách một mối, áo mũ chầu trời, áo bào cổn rồng, thắt lưng ngọc, giày vàng, cờ lọng quạt, ô vàng chiêng trống, xe loan giá rồng, voi ngựa tướng binh, lại ban cho đồ thần lụa vàng (vật quý lớn của trời Nam), ngọc châu mã não, quý lạ các vật, lại ban cho xe giá có chuông. Thái tử hồi giá khải hoàn về Nam Man, phụng giúp vua cha cai quản vạn dân.
Thời Thái tổ Đế Minh trong triều có vị Thiên sư biết thông trời đất người, xem thấy hết quỷ thần, chức vị ở Bắc triều là quan tướng, văn võ đều toàn. Nay theo lệnh Đế tổ sai Thiên sư giúp nước cho Thái tử cai quản Nam Bang, xem phong thủy, tìm đất lập nước định kinh đô, xây dựng thành trì, sửa sang chính điện, tạo nên cung thất, lãnh thổ đất đai, đặt tên sông núi, lập định ấp đô, địa đồ đất nước, sắp quan xếp tướng, đặt lệnh trấn các xứ, phủ, huyện, xã, châu, trang, động. Trên rừng dưới biển, nước có Thiên sư phụ giúp Vua cai trị bốn biển. Trăm họ nhân dân thiên hạ cùng hưởng phúc thái bình. Các chư hầu Bách Man đều xưng thần phụ thuộc.

 

Vua Hùng đánh giặc Ân

Dịch lại Ngọc phả Hùng vương, đoạn đánh giặc Ân, bắt đầu từ thời Hùng Quốc Vương, con trưởng của Lạc Long và Âu Cơ.

HVNP.png

Quốc Vương chưa tỏ sự lý của trời đất nên trong cung còn nhiều thuyết hoang đường, lấy đó làm cách cảm. Quần thần tấu thỉnh lên bệ hạ nên dùng một kế, chế lập ra một đàn tràng. Vua nghe theo lời tâu. Có một bà mo xưng có tài như thần. Vua sai bắt bà mo giam trong cung. Sau đó vua sai lập một đàn tế riêng, dùng các lễ dối, voi trắng không ngà, voi đen ba chân, ngựa đỏ năm chân để cầu đảo với Trời. Vua bảo triều thần:
– Trẫm dùng kế ấy để xem bà mo có biết giả trá hay không?
Hoàng Thiên tuy cao, nhưng nghe xong không bằng lòng, xem đến các đồ lễ trên đàn thì hoàn toàn không linh ứng. Hoàng Thiên bèn giáng tai ương để cảnh báo vua không có đức.
Vương mới nghiệm biết trời đất báo ứng ngay trước mắt. Đến năm Thân tháng Thân, thần khí âm dương rơi rụng. Mưa gió không điều hòa. Khí thời không chính. Đức của người làm vua không được thuần.
Vua mới cho sứ đưa bà mo đến bảo:
– Ngươi biết dò xét cơ trời. Nay trong nước có điềm chẳng lành. Ngươi có thể bay lên trời tìm hỏi xem lý do thế nào, về báo cho Trẫm biết.
Bà mo bèn làm phép, trong khoảng ba canh, tự nằm mộng đến trước cửa khuyết Ngọc Hoàng, quỳ tâu rằng:
– Tôi vâng mệnh quốc vương lên tâu thiên đình. Nay trần thế đang có biến. Xin cho biết nguyên do như thế nào?
Ngọc Hoàng phán rằng:
– Ngươi mau trở về báo cho Vua biết. Lưới trời lồng lộng, thưa mà không thể lọt. Trần hoàn lóc lóc, có cầu có nguyện tất được tòng tâm. Vua nay tự kiêu ngoa, truyền làm lễ vật giả dối. Đó là do trời báo phạt, không chỉ giáng bấy nhiêu tai ương mà thôi. Ba năm sau tất sẽ có nạn giặc lớn!
Nghe phán xong, bà mo liền tỉnh lại. Bà mo tâu lại mọi chuyện với vua. Vua nghe nói cả kinh, vẫn cho bà mo ở lại trong cung để xem lời nói của bà ta có nghiệm hay không. Vua lại sai triều quan dựng đàn chay cầu lớn ở giữa kinh đô, các lễ vật như voi ngựa, vàng bạc, ngọc quý, trân châu, mã não đều dùng đồ vật thật, đặt ở giữa cung, bày trí các lễ nghi. Vua thân đến tế, đọc rằng:
– Ngu si lầm lỗi, đem vật dối dâng lễ Hoàng Thiên. Sự hãy nhãn tiền, xét xem đủ thấy. Cúi xin Thượng đế chuyển hoạ làm lành, thay tai giáng phúc. Cúi ngước, cậy nhờ ơn đức Hồng quân!
Khấn xong, bỗng thấy mây gió cuồn cuộn, sắc trời mông lung, khói hương trên đàn bay lên, mây lành toả sắc. Vua bàng hoàng kinh sợ, khấu đầu lạy tạ rồi lên xe giá về cung điện. Vua lại sai bà mo lên trời tấu lên Thượng đế rằng: Vua nước Nam hiện đã biết phải lấy đức trị. Để thần dân trong thiên hạ được yên ổn, xin được miễn cho việc tai ương.
Thượng Đế phán rằng:
– Vua nước Nam đã hối lỗi, sẽ được ban phúc lại. Chỉ còn giặc giã, Thạch Linh thần tướng là tướng nước Bắc đã có lệnh sai xuống rồi. Nếu nhà vua có nhân luân, đại nghĩa cương thường, duy trì chính thể sáng tỏ thì vua sẽ gặp được điều lành.
Bà mo tỉnh mộng, tâu lên Vua rằng:
– Vua nay đã biết hối lỗi, đã được Trời xét soi. Tuy năm sau có giặc, nhưng trời cho nhân tài sinh ra để giúp nước. Vua không phải lo nghĩ nhiều!
Vua tin lời.
Thời Việp Vương, người giàu vật nhiều nên mới có sàm thần tấu lời, không tin bà mo, đùa lễ giả với trời. Thời này không có phong tục kính lễ. Vua Ân muốn xâm lăng đất nước. Vào năm Giáp Tí bỗng thấy biên giới phía Bắc có thư gửi cấp báo. Tướng giặc Ân là Thạch Linh thần tướng khởi binh từ phía Bắc tiến sang, giáo giáp kín trời, tinh kỳ rợp đất. Quả đúng như lời bà mo đã nói. Vua bèn thành tâm lập đàn trai giới, thắp hương cầu khấn. Các quan triều đến cầu niệm suốt trong ba ngày, trông mong lúc trời đất, tiền thánh tổ Long Quân âm phù cho tướng giúp yên. Được một tháng, trời ứng mưa to sấm gió nổi lên. Bỗng thấy một cụ già thân cao hơn 9 thước, mày râu bạc phơ ngồi ở ngoài đường, cười nói ca hát nhảy múa. Ai trông thấy cũng phải lấy làm lạ, cho là bậc kỳ nhân. Sứ giả vào tâu Vua. Vua đích thân ra đón, mời vào đàn tế, hỏi rằng:
– Nay quốc gia có việc, giặc tới xâm lăng, thắng thua chưa biết thế nào, xin lão ông cho chỉ giáo. Lão ông trầm ngâm hồi lâu rồi đáp:
– Ta từng đến khắp đáy bể cửa trời, biết tới sách thần phép ước trời đất. Sẽ thử vận mà bói một quẻ. Rồi nói với Vua:
– Ba năm sau, giặc xâm lăng nước này, sẽ có được người tới, giặc sẽ được dẹp!
Lão ông lại nói chuyện với Vua, chân tình giảng giải, rồi tặng cho Vua một cuốn sách thần. Nói xong cụ già vút lên không bay đi. Vua biết đó là Long Quân đã hiện ứng trợ giúp. Thế là vua sai sứ giả đi tìm khắp nơi trong nước.
Sứ giả đến làng Phù Đổng, huyện Tiên Du. Làng ấy có người nhà giàu tuổi đã 79. Trước nhà có mảnh vườn trồng các loại trà hoa. Bà lão cũng đã 59 tuổi. Sáng sớm ngày 6 tháng giêng năm Quý Hợi bà vào vườn hái hoa hái chè, thấy một dấu chân to lớn. Bà lấy làm lạ, bèn gọi chồng đến, quả nhiên thấy có dấu chân của thần nhân. Trưởng ông bảo vợ bước chân trái dẫm vào đó. Tự nhiên lúc đó khí trời của thần cảm ứng. Bà lão thấy cảm động trong người, mắt hoa, rồi mang thai. Đến ngày 8 tháng Tư năm Giáp Tí đầy tháng bà sinh một con trai. Con được đúng một tuổi thì Trưởng ông qua đời lúc 80 tuổi. Chỉ còn mẹ già sáu mươi bú mớm nuôi con. Lên ba tuổi đặt tên là Đổng Thiết, ăn uống lớn phổng, nhưng không biết nói cười. Ngày hôm ấy cậu bé đang nằm trong võng, mẹ cậu nghe sứ giả đi tìm người có đại tài dẹp loạn. Bà mẹ nói vui với sứ giả rằng:
– Lão sáu mươi tuổi mới sinh được một đứa con trai. Nay đã ba tuổi, chỉ biết ăn uống mà không biết đánh giặc để triều đình trọng thưởng quan tước mà trả ơn bú mớm cho mẹ.
Sứ giả đi qua. bỗng nhiên Đổng Thiệt ngồi dậy, mở miệng nói:
– Xin mẹ gọi sứ giả quay lại, con có việc cần nói. Mong mẹ đón lại sử giả về đây.
Thần vương nói với sứ giả rằng:
– Ta là Thiết Xung thần tướng đây! Trời sinh ra ta để giúp nước, dẹp loạn cứu dân. Ngươi về triều tâu với vua cho ta một con ngựa sắt cao 10 thước, một cây roi sắt dài 10 thước, một chiếc nón sắt rộng 3 thước, đưa mấy thứ ấy đến đây cho ta để đánh giặc Ân. Vua không phải lo gì nữa!
Sứ giả nghe lời nói của Đổng Thiết, trở về chính điện ở núi Nghĩa Lĩnh tâu Vua mọi việc. Vua triệu tập quần thần trăm quan để bàn. Triều đình liền can ngăn rằng:
– Triều đình hiện nay oai trời rộng lớn, tướng mạnh tướng nhiều. Dù giặc Ân xâm chiếm phương Nam, cũng đã có người can đảm đối đầu. Huống hồ đứa trẻ ba tuổi sao có thể đánh giặc được. Vả lại việc binh là việc quốc gia đại sự, liên quan đến an nguy của hoàng gia, chớ nên xem nhẹ. Xin bệ hạ thận trọng lựa chọn người có đại tài, cử làm đại tướng. Không nên chỉ nghe lời nói bên ngoài mà không thấy tận mắt vậy.
Vua nói:
– Trẫm theo mệnh trời, trị nước yêu dân, tin việc thần nhân trước đây đã báo ứng. Đích thực là Tiền thánh Đế quân đã hiển linh về báo để giúp nước. Trẫm tin như lời đó thật không phải là sai, không nên nghi ngờ.
Vua sai các tướng tìm các đồ sắt đủ 50 trăm cân, truyền cho trăm thợ rèn để rèn thành ngựa sắt cao mười tám thước, có đủ năm tạng, roi sắt dài mười thước, nón sắt rộng ba thước. Đến giờ Mão ngày 7 tháng Giêng năm Bính Dần Vua sai quan Tiết chế dẫn 10 vạn hùng binh đem ngựa sắt roi sắt nón sắt đến làng Phù Đổng. Đổng Thiết cười rằng:
Vua theo đúng hẹn,
Vận nước lâu bền.
Quân giặc phải tan,
Một ngày giúp nước,
Thiên cổ danh vang.
Rồi Đổng Thiết nói với mẹ và họ hàng thân thích rằng: “Tính con hay ăn, xin soạn cho các món trâu rượu, hoa quả”. Dân làng nghe thế nhà nhà đem trâu rượu đến. Chỉ trong chốc lát cậu bé đã ăn xong để lên đường đi lập công giúp nước, đền đáp công ơn của cha mẹ, làng xóm và ơn Vua.
Ngày hôm ấy mặt trời vừa đúng chính Ngọ, Đổng Thiết cười vang một tiếng, duỗi tay vươn vai, tiếng vang như sấm, ánh mắt loé sáng như chớp, thân mình cao hơn 18 thước. Vì chưa kịp may quần áo nên sai 10 vạn quân đi bẻ hoa lau đem về kết thành đồ mặc. Đổng Thiết lạy tạ mẹ rằng:
– Mẹ là bậc thánh trên trời. Con là Thần vương. Một ngày lập công to lớn, vạn năm hương lửa vô cùng!
Thần Vương nhảy lên ngựa sắt, cầm roi sắt, đội nón sắt, thét vang như sấm chớp, rằng:
– Ta là Thần tướng, vâng sắc chỉ xuống giúp nước!
Ngựa sắt nhảy mạnh, bay lên không mà phi, lập tức tới nơi Vua ngự. Thần vương cầm roi sắt chỉ huy tiên phong, lệnh khiến các quan hành quân tiếp ứng, chỉ phút chốc đã đến dưới chân núi Vũ Ninh huyện Yên Việt, đại chiến với Thạch Linh thần tướng bên núi. Quân Ân thua to tan chạy. Thạch Linh thần tướng bị bắt sống rồi chém đầu. Bọn giặc còn lại chưa diệt hết, nhưng roi sắt đã bị rơi mất. Thần vương bèn nhổ lấy các bụi tre gai vung lên quét sạch quân Ân.
Khi đến núi Sóc xã Vệ Linh huyện Kim Hoa, thần vương cởi bỏ bộ áo hoa lau, cưỡi ngựa bay lên không mà bay đi. Nay nơi ấy vẫn còn dấu chân ngựa in trên lèn đá.

Hùng Việp Vương nghĩ đến thần vương có công lớn giúp nước, nhưng chưa từng gặp mặt, không biết lấy gì báo đáp, bèn truy tôn thần là Phù Đổng thiên vương, cùng với Thánh mẫu dựng đền thờ trên nền nhà ở làng cũ, cấp 100 mẫu ruộng để đèn hương phụng thờ. Sau lại phong là Xung Thiên Thần Vương (ngày xưa thần Bắc Đẩu Tinh Quân giáng sinh làm Xung Thiên Thần Vương), lập miếu đường ngàn năm thiêng hưởng hương lửa, cơm thịt phụng sự.
Vua sau đó lại cho xây lại điện Cửu Trùng Tiêu trên núi Nghĩa Lĩnh làm Kính Thiên linh điện. Thời thường cầu đảo, vâng lĩnh ý trời. Từ đó trời biển thái bình. Nhà Ân trải 27 đời vua hơn 640 năm không dám đem quân sang đánh nước Nam. Vua hưởng nước 87 năm, thọ 100 tuổi.

 

Mẹ Âu Cơ sinh trăm trai

Dịch lại Ngọc phả Hùng Vương, đoạn mẹ Âu Cơ sinh trăm trai, Hùng Quốc Vương trị nước:

ngoc-pha-hung-vuong.jpg

Khi ấy có con gái của Đế Lai tên là Âu Cơ, là một thiếu nữ hiền đức, sống ở quê mẹ tại huyện Thanh Nguyên châu Đà Bắc của Giao Chỉ. Một hôm nàng Âu Cơ đi chơi ở châu Trường Sa, gặp khi vua đi tuần thú ở Đà Giang. Vua thấy Âu Cơ dung nhan xinh đẹp, tư chất kiều diễm, rất vừa ý, bèn lấy làm vợ, lập làm chính phi hoàng hậu. Thề rồi tới khi Kinh Dương Vương hai trăm năm bảy tuổi, ở ngôi hai trăm năm mươi năm, thì phong Lạc Long Quân lên nối ngôi chính thống ra ở tại núi Nghĩa Lĩnh, kinh thành đô ở núi Phong, triều đại quản lý việc nước nhà, lấy đức cai quản nhân dân.
Bấy giờ nàng Âu Cơ là chính phi, vào năm Nhâm Thân tháng Giêng ngày 4 có thai, điềm rồng đẹp ứng, mây lành năm sắc, hương trời đầy phòng. Trong 3 năm 3 tháng 10 ngày ở tại Ngũ Lĩnh. Trong cung điện hàng ngày thường có mây lành năm sắc, ánh rồng sáng lạn. Tới đầy tuần sinh nở, vào năm Canh Ngọ ngày 5 tháng 12 mặt trời chiếu đúng giờ Ngọ, cái thai trong bụng Âu Cơ chuyển động, mây rồng đầy nhà, ánh sáng loé lên. Trong trướng, hoàng phi sinh ra một bọc trăm trứng, trong như ngọc châu, hương lạ thơm nức. Sơ sinh ở núi Nghĩa Lĩnh, đất tổ Phong Thứu, dưới lọng ngọc đầu núi bên đầm sen.
Hiền Vương thấy hoàng phi sinh tú bào hết sức dị thường, là điều lạ của quốc gia trước nay trong thiên hạ. Vua bèn triệu hội đồng bách quan văn võ triều thần đến chầu ở chính điện. Giờ Ngọ hôm ấy ở giữa thành nội Kính Thiên ba tiếng thiêng vang lên rung trời chuyển đất, núi sông cây cỏ muôn vật đều kinh hoàng, mây lành ngũ sắc sáng bừng khắp ba ngàn thế giới. Muôn chim bay chầu trên các lâu đài điện các. Dưới núi làn nước tung sóng cuộn dâng. Trăm kình nghê muông thú, muôn vật cá tôm đội gió mưa về chầu. Vua thấy quốc gia có điềm lành kỳ lạ, bèn xuống chiếu cho bá quan văn võ sửa sang áo mũ trai giới tịnh khiết đến tề tựu ở điện Kính Thiên, đèn hương phụng hầu chầu lạy Hoàng thiên Thượng đế, Tứ phủ vạn linh.
Ngày hôm ấy vào giờ Thân bỗng thấy một áng mây xanh từ phía Tây bay đến hội ở sân Kính Long điện ngọc. Rồi bốn vị thiên tướng hiện ra rất kỳ lạ. Các vị tướng ấy cao hơn nửa trượng, đầu đội mũ hoa, mình mặc cẩm bào xanh, lưng thắt đai ngọc khăn rồng, chân đi hài sắt, nói cười đều loé hào quang lưỡi lửa, cùng cầm long đao, lệnh rằng: Ngọc Hoàng thượng đế xuống sắc cho Nam Miên, Hiền Vương quản nước, bọc rồng trăm trứng nở ra trăm trai trị nước. Trời lệnh sai các đại thần vương phù giúp bảo hộ. Vậy ban sắc này.
Hiền vương mới nhận long bài, truyền các quan văn võ ngước lên trời vái vọng, rồi dập đầu lạy tạ.
Thần vương nói: Bào ngọc trăm trứng, thần oai rạng thiêng, điềm rồng giáng sinh. Thiên sứ báo cho Hiền vương đặt bào ngọc lên chiếc mâm vàng đem đến ngôi chùa cổ ở núi Viễn Sơn, tức là chùa Từ Sơn Thiên Quang Hoà Thượng ở ngọn Thứu Lĩnh, đặt ở trong chùa, chọn quan trai giới chầu hầu, đèn hương không ngớt. Bào này sẽ sinh ra trăm trai thần tướng. Hiền Vương hãy thành tâm cầu trời, tới tháng Giêng bào sẽ nở. Nói xong Tứ đại thần vương lại làm gió mưa mây sấm, bay lên không biến hóa.
Hiền vương thành tâm cầu trời. Thế là vào ngày rằm tháng giêng, mây lành bay phủ khắp đất trời, núi sông rừng biển, nở ra trăm con trai. Trong khoảng một tháng các chàng trai không cần bú mớm mà lớn bật lên như người trưởng thành, tướng mạo phương phi, dáng hình kỳ tú, thân cao ba thước bảy tấc, cái thế anh hùng.
Hiền vương triệu phi tần sáu cung đến phát các tấm gấm lĩnh để khâu may 100 bộ áo mũ cấp cho các chàng trai. Một ngày ba lần làm các trò vui như du ngoạn hoa lá hồ sen, được một trăm ngày. Đầy trăm ngày vào ngày 20 tháng 7 cả trăm chàng trai đều cười vang, nói lớn:
Trời sinh bậc thánh
Trị nước sinh vua
Thanh bình bốn biển
Thiên hạ vững yên.
Thế là một trăm hoàng tử đều đến trước sân rồng. Hiền Vương đến ngự thấy các vị thần tướng nhà trời đầu đội mũ đồng, mình mặc áo bào giáp sắt, chân đi hia bạc, lưng thắt khăn rồng quá độ, tướng mạo sang quý sáng láng, mắt sáng như sao, miệng nhả hào quang hoả khí, tay cầm thần kiếm linh trượng, chày ngọc búa sắt, dàn hàng đứng hai bên tả hữu đối nhau. Bỗng không trung biến hoá, nhất thời mưa gió nổi lên, bay vây quanh núi Nghĩa Lĩnh, trên điện núi non mất hình, sông suối tràn dâng sóng vỗ, không ai biết được chuyện gì xẩy ra. Sau ba giờ bầu trời lại tạnh sáng. Đó là 8 vị tướng xưng là Bát bộ Kim Cương vâng sắc chỉ của Chư Phật Thượng Đế sai đến thăm nom 100 vị vương tử, nay đã trưởng thành các bậc thánh thần đôn hậu minh mẫn. Tám tướng phụng mệnh đưa các hoàng tử đến lạy mừng vua cha, trị bình trong nước. Trời ban cho Hiền vương một lệnh long bài, một quả bảo ngọc thần ấn, một cặp ngọc trắng, một thanh kiếm thần, một quyển Sách trời, một chiếc thước ngọc, đặt trên mâm vàng, tất cả đều đặt trong chính điện. Hiền Vương vâng mệnh vào điện đón nhận, coi đó là điềm lành lớn trời ứng ban để trị yên thiên hạ.
Hiền Vương thấy 100 con trai bỗng nhiên trở nên cao lớn, thân cao bảy thước ba tấc, tay cầm thần khí thiên bảo, chia hàng đứng hai bên phải trái, hầu triều lạy mừng vua cha. Hiền Vương nhận việc của Tám tướng tấu về, một trận mưa gió chấn động, sấm chớp sáng lòa, trên không biến hóa khải hoàn về Trời.
Cùng ngày Hiền Vương xuống chiếu rằng: Trời sinh trăm con thánh văn thần võ, hùng tài đại lược, giúp nước yên bình, thiên hạ ngước trông, thi nhân hoá đức, cha con vua tôi cùng vui.
Vua cho triệu bách quan đến lạy mừng, hai ban công đồng bàn việc đổi hiệu thay tên, trăm con trai trăm hiệu, xếp thứ tự. Trăm hoàng tử đều có tài lớn, tư chất hơn người, anh hùng chưa từng có, thần tài thánh trí. Các quan triều đình lúc ấy cũng không ai có thể phân biệt được người anh minh quyết đoán hơn, khó đặt được danh thần tên xưng.
Triều đình tâu lên Vua rằng:
– Nước có Thánh vương, sinh các hiền tướng, đều là những bậc trong triều không ai sánh bằng, vậy nên chúng thần không ai dám bàn định danh hiệu các hoàng tử. Kính thỉnh Vua cha tìm người tài để định danh hiệu cho các thần tướng.
Hiền vương phán rằng:
– Chính sự lớn của triều đình cần có người anh tài. Trẫm vâng mệnh Trời gây dựng cơ đồ lớn lao, mở nước trị dân, theo mệnh trời sinh được trăm con trai. Trẫm cùng trăm quan thành tâm thiết lập đàn chay, kính cẩn cầu khấn tâu lên Hoàng Thiên, đấng ngự hội tụ của vạn linh, để đặt định trăm danh hiệu.
Bấy giờ vua lên đàn tràng khấn lễ cầu đảo lớn vừa xong, tự nhiên có cảm ứng, có vị thần ở phương Tây tới, mây rồng ngũ sắc, núi sông sáng rạng. Khi đó, có một cụ già tướng mạo trượng phu, râu tóc bạc phơ, dáng điệu tiên ông, đầu đội mũ trời gấm lĩnh, mình mặc áo vải nhuộm nâu, chân đi giày cỏ, tay cầm gậy tre, ra chơi ở bến sông Bạch Hạc Việt Trì, tại chùa Hoa Long. Ông già rửa chân bên sông, trên tảng đá phẳng trên con sông gọi là sông Nhị Hà.
Hôm ấy có quan trong triều là Tướng quân nguyên soái tiết chế trấn thủ đô thành Phong Châu đang ngồi trên ngôi lầu ở bên sông Việt Trì. Quan Nguyên suý trông thấy ông Tiên đang xem phong thủy, mặt hướng nhìn các sông Bạch Hạc Hoàng Hà Manh Hà, chân đạp lên tảng đá hình lưng rùa. Triều quan sai sứ giả nghênh đón tiên ông lên lầu hỏi chuyện với Nguyên soái. Quan đem hết sự thể bộc bạch chân tình, mở tiệc khoản đãi rồi mời ông về cung điện trên núi Nghĩa Lĩnh. Triều quan vào tâu vua.
Vua thân hành ra mời cụ già vào cung, dùng đại lễ, mở tiệc chúc mừng. Vua hỏi cụ già rằng:
– Tiên sinh từ đâu đến ngao du phong cảnh ở đây? Nay trong nước có chuyện, nhờ cụ chỉ giáo cho.
Tiên ông ha hả cười vang. Vua vẫn đứng nói chuyện, hỏi Tiên ông:
– Nước sinh được trăm con trai, có trí tuệ cùng tài như nhau, cho nên khó đặt định danh hiệu thần xếp thứ tự luận anh em. Kính nhờ Tiên ông đặt tên, định thứ bậc giúp cho.
Cụ ông đáp:
– Ta sinh ở thời Hoàng Đế, theo học đạo Phật, ngao du nơi hải ngoại, xem hết trời đất, đi thăm thế giới, đến tận Nam Miên, thấy phong cảnh đẹp. Vua nay muốn đặt tên cho trăm con trai. Ta có một quyển sách thần có thể bói biết được tinh thần trời đất trăng sao, gọi tên các phép tiên.
Vua nói: Nước đã có thành tâm cầu đảo, đúng là cầu tất ứng.
Tiên ông nói: Lão thành tâm bốc một quẻ trong Thiên thư xem tới trời định thế nào. Trước là để xác lập vương tử, cùng với tên gọi cho trăm trai. Xem tướng trăm trai thì Vua sẽ cử được người tài lập làm con trưởng, phân định thứ bậc anh em
Tiên ông lấy bút viết ra, đặt tên cho các thần tướng, đặt lên chiếc mâm vàng. Để phân định thứ bậc anh em, trăm trai đến hội ở chính điện. Mọi người đồng thanh cần phải có một huynh trưởng đứng đầu. Một người được gọi tên được lập làm Thái tử nối ngôi vua. Còn 99 người khác lần lượt đến trước mâm vàng nhận danh hiệu được ban. Từ đó thứ bậc anh em phân định rõ ràng, ai nấy đều vui. Xếp đặt việc đặt tên đã xong, tự nhiên có một làn mây xanh bay đến trên không trung, Tiên ông biến hoá bay về Thượng giới.
Vua nói: Triều đình lòng kính cầu khẩn, trên đàn thành tâm được cảm ứng, thần đến từ phương Tây bày cách, mới biết lão Phật tiên ông hiển ứng giáng đàn giúp nước. Hôm nay lệnh các quan bái hạ. Trẫm lập một ngôi chùa tên là Từ Sơn Tuyên Quang Hoà Thượng Vạn Đức Thiền Sư. Ban bố cho trăm quan thường xuyên cầu khấn, cầu Phật ứng cho.
Trăm trai trăm tên. Con trưởng tên tục là Hùng Lân, sau đổi là Hùng Quốc Vương. Các con thứ có tên là Xích Lang, Quỳnh Lang, Mật Lang, Thái Lang, Vĩ Lang, Huân Lang, Yến Lang, Tiêu Lang, Tĩnh Lang, Tập Lang, Ngọ Lang, Cấp Lang, , Yêu Lang, Hộ Lang, Thục Lang, Khuyến Lang, Chiêm Lang, Vân Lang, Khương Lang, La Lang, Tuần Lang, Tán Lang, Đường Lang, Kiều Lang, Dũ Lang, Ác Lang, Hạn Lang, Khoán Lang, Trị Lang, Nhiễu Lang, Lý Lang, Trâm Lang, Tróc Lang, Sát Lang, Lãng Lang, Sái Lang, Chiểu Lang, Kiềm Lang, Trường Lang, Thuận Lang, Tẩm Lang, Siêm Lang, Triệu Lang, Ích Lang, những người trên theo cha về biển.
Hương Lang, Thiêm Lang, Thận Lang, Văn Lang, Vũ Lang, Linh Lang, Tịnh Lang, Dị Lang, Quản Lang, Cao Lang, Tế Lang, Mã Lang, Thiệu Lang, Khang Lang, Chỉnh Lang, Đào Lang, Nguyên Lang, Miên Lang, Xuyến Lang, Kỹ Lang, Thỏa Lang, Phái Lang, Tài Lang, Trừng Lang, Triệu Lang, Cố Lang, Lưu Lang, Lộ Lang, Quế Lang, Diêm Lang, Huyền Lang, Nhị Lang, Tào Lang, Nguyệt Lang, Sâm Lang, Thập Lang, Triều Lang, Quán Lang, Canh Lang, Thải Lang, Lôi Lang, Thấu Lang, Việt Lang, Vệ Lang, Mãn Lang, Long Lang, Tổ Lang, ? Lang, gồm những người theo mẹ lên núi.
Từ đó các hoàng tử đều đã có tên gọi, thành người chủ ở các phương, thông minh mẫn tiệp, trí dũng kiêm toàn, tài lạ đẹp đẽ, lòng hiếu mạnh mẽ, sức thần mắt rồng, thiên tư như mặt trời. Anh em đều có tài lớn, giúp nước ở chính triều đường, định vị thứ đứng đầu trăm quan.
Vua cha bèn dựng hầu lập bình phong, chia nước làm 15 bộ, xác định cương giới, các đầu núi góc biển, cử ra trăm quan trấn thủ, gìn giữ các phương. Một là Sơn Tây, hai là Sơn Bắc, ba là Sơn Nam, bốn là Hải Dương, năm là Ái Châu, sáu là Hoan Châu, bảy là Bố Chính, tám là Ô Châu, chín là Ai Lao, mười là Hưng Hóa, mười một là Tuyên Quang, mười hai là Lạng Sơn Cao Bằng, mười ba là Quảng Đông Quảng Tây, mười bốn là núi Ngũ Lĩnh Vân Nam, mười lăm là Chiêm Thành. Bộ chủ các xứ. Nước 15 bộ, là Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Quế Hải, Vũ Định, Hoài Hoan, Cửu Trinh, Nhật Nam, Tân Hưng, Cửu Đức, Văn Lang.
Vua mới phân định các xứ, cai quản vạn dân. Khi đó lệnh cho anh em trăm trai có tài thần báu quý, cai quản rõ ràng các nơi. Trăm nơi núi sông một mối, xe sách quy mô chế độ đồng nhất, bốn biển một nhà, xưng thần phụ thuộc. Ơn hiếu nghĩa đức, sáng lòng nhân, trí tuệ, xuất thánh sinh hiền, không gian không ác, giúp đỡ mà trị, lấy đạo làm sáng, lấy giáo hóa làm đẹp. Vạn dân hân hoan, trăm họ ca hát, thiên hạ thái bình. Vua quân đổi đức, trị nước hưng thịnh, triều đình chuyên chính, dân theo cổ, lễ phục, tạo nhạc, mưa thuận gió hòa, nông tang lạc nghiệp. Nước có vua trưởng, là phúc của xã tắc. Dân coi triều đình là cha mẹ. Triều đình coi dân như con đỏ. Địa lợi nhân hòa, binh mạnh nước giàu, không động đao thương. Thiên hạ cùng hưởng niềm vui thái bình. Vua tôi cùng tốt, làm theo điều nghĩa, để tới vạn đời. Thế nước tăng thịnh, thật là to lớn, khó gì so bằng. Sau này có cung phi ở các bộ, sinh thêm hơn năm mươi người trai gái, tới lúc trưởng thành đều có tư chất tốt đẹp.
Sau đó Long Quân nhường ngôi, chọn con trưởng Thái tử tên Hùng Lân Lang, đổi thành Hùng Quốc Vương, nối ngôi thay triều, ra quản vạn dân, ngự chính ở cung kiền tại núi Nghĩa Lĩnh. Nay Hùng Vương xe sách thống nhất cai quản thiên hạ. Còn các người em vua 99 người. Khi đó Long Quân nói với Âu Cơ rằng:
– Ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên, giống loài không hợp nhau, chung sống với nhau thực cũng khó. Vì thế ta phải lìa nhau thôi. Chia 50 con theo cha về biển, làm Thuỷ tinh. Chia 50 con theo mẹ về núi, làm Sơn tinh, làm hiển rạng cho các vương tử, trấn ngự khắp các vùng núi biển, đều là với danh nghĩa thần thuộc. Vua bèn đặt quan văn gọi là Lạc hầu, đặt tướng võ gọi là Lạc tướng. Các vương tử gọi là Quan Lang. Các vương nữ gọi là Mị Nương. Các quan hữu ti gọi là Bồ Chính.
Thời bấy giờ trên chính nhân luân, dưới hậu phong hoá, thi hành việc gì ai cũng được thích nghi. Vua vì thế được rũ áo khoanh tay, hoà mục trong chốn cửu trùng. Dân nhờ thế được đào giếng cấy ruộng, vui sống ở nơi thôn dã. Không một người dân nào bị xua đuổi không chốn sinh cư, không một vật nào không được yên bề nuôi dưỡng. Công thành trị định, vượt hơn các vua trước, dẫu là thời thái cổ cũng không bằng. Hưởng ngôi trị nước dài lâu. Đời đời cha truyền con nối, đều gọi là Hùng Vương. Đó là Thuỷ tổ của Bách Việt. Hiền vương ở ngôi ba trăm sáu mươi ba năm, sau về biển, hoá sinh bất diệt, làm Động Đình Đế quân.
Thái tử là Hùng Quốc vương đứng đầu trăm anh em tôn thừa nghiệp lớn, Quốc Vương sau khi nối ngôi chính thống, chuyên lo giáo hóa đạo đức, khuyến khích nông tang, khiến dân không lo nghèo thiếu, nước có tích luỹ của dư. Bốn biển yên bình, không ai gian xảo giả dối, phong tục hồn thuần chất phác. Xét xem xuyên suốt cho đến bấy giờ, vua là bậc có nhiều công hưng trị, càng sáng tỏ hơn các đời trước, được người đời tôn xưng là bậc hiền quân. Bấy giờ vua truy ơn các bậc thánh trước, bèn thực hiện việc chia đất phân cõi, lập các bộ Sơn tinh Thuỷ tinh, định làm các tộc, đổi làm trăm họ, đặt ra chức vụ trăm quan, phong tên cho trăm thần, phân chia đầu núi góc biển, hùng cứ mỗi phương. 50 tên tộc trấn ở các đầu núi, cửa khe non ngàn, cùng gọi là quan lang, phiên thần, thổ tù mà truyền dẫn. 50 tên tộc trấn ở các góc biển, vực suối cửa sông, các thần linh trên nước, tiện để bảo hộ dân sinh, giúp phù tông xã. Dựng hầu lập bình phong, chia nước thành 15 bộ đất đai, xác định cương giới. Tất cả đều có người trưởng phụ tá. Người chủ gọi là Bô (bố), bố gọi là Trá (cha), con trai gọi là Côn (con). Nam nữ theo phụ giúp, khi đó đều là những người tài giỏi. Hậu thế đổi thành quan lang, phiên thần, thổ tù phụ đạo. Các họ tông của các công thần khai quốc được cha truyền con nối, vạn đời coi giữ Nam Bang. Còn các nhánh tông phái của bộ chủ Hùng Vương đời đời trị nước, giữ mãi phương Nam.

Ngọc phả sự tích Quốc mẫu Tây Thiên Tam Đảo tối linh từ

Dịch từ bản Ngọc phả chữ Nho chép tay hiện đang lưu ở đền Hóa Tây Thiên, xã Đại Đình, Tam Đảo, Vĩnh Phúc.

20190508_084143

Bản quốc toàn dân kính hiệu Ngọc phả sự tích Quốc mẫu Tây Thiên Tam Đảo tối linh từ
Truyền lại để đời sau thờ phụng.

Nước Việt Nam ta, tổ quốc vua Hùng, ngày 12 tháng 7 năm Mậu Thìn (tức là năm 1988), tỉnh Vĩnh Phú, huyện Tam Đảo, xã Đồng Tranh, thôn Phù Liễn, Nguyễn Văn Ánh tuổi 76 phụng kính Thượng đẳng Thánh mẫu, chấp bút rõ ràng thừa sao chính bản Ngọc phả sự tích Tây Thiên, y như trước đây truyền lại, theo trước phụng sự đền thiêng quốc mẫu Tây Thiên.
Chuyện bày tới mai sau trong văn thờ tích thiện thường giúp yên giáng ứng, sắc phong chung đúc trạng nguyên tới nay, bậc tôn kính giúp nước cứu dân, lên ngôi rồng, cùng nhau mãi ngưỡng vọng phật thánh, cúi lạy bậc kính tôn.
Theo ở chính sự của bản xã Đại Đình, thôn Sơn Đình nguyên có tục trọng vọng bái Thánh mẫu Tây Thiên, đảo tất thông, cầu tất ứng, giáng phúc nhiều ơn, mọi người đều có phúc. Nên họp tại Đền Thượng, hội nghị Đền Đông trên lầu. Các chức sắc mục, trên dưới tiến đến, cùng một lòng tôn quý Ngọc phả phụng sự, sửa sắp tôn sùng đền Thánh mẫu, phụng sự ngàn năm, oai thiêng rộng lớn, cùng với các công trình, cố lấy tài mà chép truy lại xem cây lớn cội rễ thế nào để làm thành Ngọc phả. Hàng ngàn người chư tôn tín thiện, tăng thêm lòng lành, sinh điều hội họp, mong giáng phúc, được kết quả thành đủ, thời nay lập thành phủ miếu, truyền quốc danh cổ tích, phụng sao cho đời sau truyện cổ Tam Đảo sơn Trụ quốc mẫu Đại vương.

Nước Việt xưa Hùng Vương đóng đô trị nước, lấy hiệu là Văn Lang. Khi đó ở đảo Tây Thiên, phủ Đoan Hùng, huyện Tam Dương, xã Đông Lộ, trong xã có một Trưởng ông của xóm tên Phiêu Hùng, tuổi gần 40 mới lấy bà tên Lũy Tây. Trưởng ông là con người khí trượng, khôi ngô, thể hiện người anh hùng khoáng đạt, 40 tuổi vẫn còn như trẻ, thuộc dòng dõi Hùng Vương theo như Ngọc phả. Trong một ngày ông bà nằm mộng là hành du lên trên núi Tam Đảo, đến chùa Tây Thiên ngủ lại, dâng hương cầu đảo, mật khấn ở trong chùa. Trong ngày đó họ nằm chờ cầu ứng mộng. Đến khoảng ngoài canh ba khi đang mơ màng, chợt thấy trong người bàng hoàng, bên góc có mây ngũ sắc bay vào chùa. Hương khói đầy phòng, nghênh đón mây lành. Trong mây vàng hiện lên một dải tinh mỹ bay lượn trong mây. Trước sân chùa thấy một khối mây trắng, xa lập một quần tiên 7, 8 người đều mặc xiêm áo. Người thì ca hát, người thì nhảy múa, người thì gảy đàn, người thì ngâm thơ quanh bà Đào Thị. Đến lúc trời mờ sáng thì bay về phía Tây. Bà tỉnh lại mới biết đây là ứng mộng lành.
Từ đấy trở đi chuyển động tâm thần, mang thai hơn 14 tháng, đến ngày mồng 10 tháng 5 năm Giáp Thân sinh hạ một người con gái. Lúc mới sinh trong phòng khí sáng huy hoàng, ánh hồng sáng lạn, sắc mặt tươi tốt. Cả nhà đều biết trước sau đây là kỳ nhân giáng hạ từ Cửu thiên. Lên 3-4 tuổi, yểu điệu sánh phượng, mặt sáng như mặt trời bởi thời phượng. Nhan sắc như phượng, được bồi thêm nét thang tĩnh, có vẻ chim sa cá lặn, như hoa nhường nguyệt thẹn, mọi mặt đều đáng ca tụng.
Sáu tuổi đã thông thạo văn ấn, được mệnh danh là Thẩm, húy là Nhược Cảm. Trưởng ông và Thái bà rất mực yêu thương, chăm sóc. Tới năm 11-12 tuổi không có môn nữ tắc, nữ công nào không tường tận. Lại có tài năng võ nghệ, binh thư thao lược, các môn cưỡi ngựa, múa kiếm không có môn nào không thông thạo. Thực là người con gái anh hùng hào kiệt. Từ thời Đường Ngu đến đó chưa có ai có trí bằng.
20 tuổi đã anh hùng dũng mãnh, tài lược cầm quân. Người đến cầu đều là các bậc hào kiệt trong huyện. Đều thấy là một lãng tử hùng kiệt, vẻ ngoài tốt lành rõ ràng, có thuật thần tiên, một lúc vừa là thần, là thánh rành rành, lại vừa là chúa vừa là tiên, biến hóa thần thông, xuất nhập nhiều đường, không phải là dạng nhân gian thông thường. Trong xã đều gọi là bậc đệ nhất đại phu. 
Thời bấy giờ có giặc nước Ngô xâm lăng, trong nước hết sức lo sợ. Hùng Vương có chiếu loan báo trong thiên hạ, kêu gọi ai là anh hùng giải phóng nước Ngô Thục tới mùa xuân thu, thiên hạ yên bình, cứu nhân gian thoát cảnh binh đao, yên nước nhà khỏi cảnh hồn kinh phách lạc, lo sợ đầy rẫy.
Kim Nương nghe thấy chiếu chỉ liền tức tốc kêu gọi người bản bộ, xã Đông Lộ 50 người, Quan Nội 150 người, xã Sơn Đình 100 người, xã Quan Ngoại 150 người, xã Quyết Trung 10 tráng sĩ, cùng với các nơi đến tập hợp ở huyện đường, được tất cả 3000 tráng sĩ, theo về Phong Châu, Việt Trì, xin được vào yết kiến Hùng Vương.
Hùng Vương thấy là một đại tài, bèn giao tinh binh 10 vạn, ngựa chiến 3 ngàn, cùng 50 bộ quân thủy theo diệt phá Ngô Thục xâm lược. Kim Nương thống chế thủy bộ quân, vào tháng 2 ngày 29 ra quân dẹp giặc trước. Nàng lệnh hành trình từ kinh thành tiến quân chia thành 3 đạo. Một đạo tinh binh 3 vạn, ngựa mạnh 1 ngàn, từ Phong Châu tiến đến đạo Hưng Hóa, phủ châu Ngưu Giang, cùng với quân nữ Ngô Thục quyết chiến. Một đạo hộ quốc chống Ngô Thục, binh hùng 5 vạn, danh tướng 1 ngàn, ngựa 3 ngàn, cùng nhau từ sông Ấn đến sông Mã trực chiến cùng với quân Ngô Thục. Một đạo cuối hộ quốc giúp Hùng, 4 vạn ẩn binh, ngựa 24, tướng 1 ngàn viên, tiến đến Sóc Sơn tuân lệnh phân tán thành 3 vạn cùng giao chiến với quân Ngô Thục. Ba đạo vạn binh mã cùng tiến đánh, gặp tại chiến trường, giết được quân giặc Ngô Thục rất nhiều. Quân Ngô Thục đại bại, vứt bỏ giáo giáp, bỏ chạy về động của mình, về sau không dám quay lại xâm chiếm.
Kim Nương rút quân về phòng ngự, quay về triều đình. Hoàng đế thấy việc quốc sự vui mừng, bèn mở tiệc. Các tướng sĩ Tây Thiên được ban quan tước. Kim Nương được phong là Tam Đảo Sơn Trụ Quốc Mẫu Đại vương. Ngày 28 tháng 2 toàn huyện quê hương bái giá.
Tương truyền rằng Kim Nương đã dẹp được giặc Ngô, lập công lớn, cùng các tướng bản bộ và binh mã về quê, mổ trâu dê đãi quân sĩ, bái tạ cha mẹ, mời các phụ lão, anh hùng hào kiệt đến ăn mừng.
Ngày tháng qua đi, Thái ông Thái bà tuổi đã ngoài 80, không bệnh mà mất. Kim Nương làm lễ an táng cha mẹ vào ngày 10 tháng Giêng.
Công chúa lúc nhàn rỗi đi ngắm sơn thủy giải khuây, đến các nơi, liền truyền cho tổng xứ, tức là xã Quan Nội lập làm tả cung, Quan Đình và Nhân Lý là nơi thân thuộc lập hữu cung, xã Quyết Trung lập là hạ cung. Lại phụng sự đến núi Tam Đảo, miếu Tây Thiên, ngự tại trong đình, bỗng thấy mây năm sắc từ trên trời hạ xuống, phủ khắp một bên gian phòng. Lại có một vị thiên sứ từ trong mây xuất hiện nói rằng tuân lệnh Thượng Đế triệu Công chúa về triều. Công chúa liền về nhà tắm gội rồi Công chúa cùng với thiên sứ bay về trời.
Những gì còn lại được phụng thờ các đời ở miếu Tây Thiên. Lưu truyền thờ phụng. Sĩ Nông Công Thương một lòng cầu đảo, tất được ứng nghiệm, nhân gian lưu truyền là ngày 11 tháng 2.
Do có công phù Hùng diệt Ngô Thục, phù Đinh Lê, nên được sắc phong Quốc mẫu Đại vương, gia tặng sắc phong làm Tam Đảo sơn Trụ quốc mẫu đại Đệ nhất Thượng thượng đẳng Phúc thần. Xuân thu bốn mùa làm quốc tế, vạn năm cùng với đất nước nhớ ghi, lập miếu đình lưu truyền ngàn thu, vạn đời. Từ Đinh Lê Lý Trần đều đồng lòng thờ phụng Thánh mẫu Đại vương của thần điện Nam Bang. Thiên hạ đồng lòng cầu đảo, cầu lộc được lộc, lưu thông, cầu bình an, cầu phong chức, an cư lạc nghiệp, giúp nước cứu dân. An cư lạc nghiệp, vạn vạn đời nước Nam không quân giặc xâm chiếm, cả nước hòa bình. Đình nhận được quang vinh truyền đời đời, ngày sau đều cảm nhận được tiếng thơm xưa nay.

Văn Tây Thiên Quốc Mẫu

Bản văn chép bằng chữ Nôm lưu tại đền Hóa, Tây Thiên năm 1988.

Tay Thien

Phụng kính lòng tiên cẩn mệnh
Vận tuần thánh mẫu giáng đàn chứng minh.
Tối anh linh Tây Thiên tú khí
Tả Phù Nghi hữu thượng Bồng Châu
Vạn dân thiên hạ khấu đầu
Quốc gia này cũng sở cầu mộc ân.
Ông bà trưởng giả lão tuần
Dân hiền trướng ngọa, kiệm cần lo âu.
Lễ sở cầu nhất tâm kính tiến
Lòng chí thành thấu đến hoàng thiên
Sắc sai thánh mẫu chúa tiên
Rẽ năm mây xuống kết liền trần gian.
Chốn thiên ban thu bà lóng lánh
Phóng hào quang giáng sinh trần cảnh khi nay
Da ngà mắt phượng mày ngài
Tiên nga miệng nở hoa tóe mây tuyết điểm
Nghệ thi thư không kém thanh minh
Gần xa nô nức yến anh
Tin đi thư lại khắp danh Tấn Tần.
Nào có để bụi trần vướng vít
Lánh cõi trần vui thú chốn tiên
Tiên cung vứt chiếc áo vàng
Hô phong hóa phép áo liền ra
Ba mảnh lưu vực đình nhà
Mảnh bay làng Mạ, mảnh ra Xuân Đình.
Tự nhiên anh linh chính ngự
Tiếng đồng khấn cả đâu đâu
Ai muốn lên cầu Tiên Chúa
Lên Tây Thiên dục tú anh linh
Thạch Bàn quấn khúc hồi long
Thánh cung chính vị, Chấn cung thượng tòa
Đại bao la long chầu hổ phục
Cầm phượng thụy mênh mông cửa đền
Chín suối bao quanh bên gành chim điểu
Trống canh vang trong truyền loa ếch thú
Khêu ếch trong thành đánh mõ giao canh
Chim thời đánh phách đánh sênh
Thú cầm hoa quả tiến trình đài phi.
Sóc vọng kỳ triều thần bái mệnh
Các triều thần chư tướng tôn nghiêm
Bốn mùa hoa quả trên cành
Dưới khe nước tựa hình quân reo.
Thủa Hùng triều tới nơi lục đại
Hiếm lo hoàng tử chưa sinh
Hùng vương tu lễ tiến trình
Nguyện xin Hoàng tử giáng sinh nơi đời.
Thánh mẫu tới nơi ngọc bệ
Giáng chúng sinh chung thủy kết duyên
Thánh tự ra kết chúa tiên
Sẽ cho hoàng tử duy truyền nơi ngôi.
Thư giao lai đằng hoằng như khí
Sánh cõi trần vui thú chốn tiên
Cứ trong ngọc tỉ duy truyền
Sắc phong Thánh mẫu chính tiên đền rồng.
Phù quốc tộ đại hồng đại lộc
Câu phàm dân đại đức bi lê
Vương sĩ quân thần khẩn đảo
Vánh canh khuya mộng báo phân minh
Phạm Lê đôi ả chí tình
Lam Sơn khởi nghĩa giúp thành Lê quân.
Sắc phong quốc mẫu nguyên huân
Phúc sinh đệ nhất nước thần anh linh.
Địa phương truy, truy truyền kế thế
Ức vạn niên quốc tế linh từ
Trước là bái tạ vua cha
Sau lại quốc mẫu cùng là chư dinh.
Tối anh linh Thạch Bàn điện thượng
Mẫu Tây Thiên thánh thượng đoan trang
Ngôi rồng chính lập đền vàng
Bên chùa bên miếu rõ ràng uy nghi
Hai bên khe thênh thênh nước chảy
Trước cửa đền suối ấy Giải Oan
Du du phóng bộ ngàn quan
Từ từ bước khoan khoan gót ngọc
Suối Giải Oan nước trong như lọc
Tẩy trần ai vứt đục sạch rồi
Cảnh Tây Thiên là cảnh bầu trời
Khi nhàn hạ dạo chơi du lịch
Trong sườn non róc rách nước khe
Vẳng tai nghe sênh phách nhịp nhàng
Đủng đỉnh lên chơi chốn Thạch Bàn
Trông nước chảy tuần hoàn khuất khúc
Lên chốn ấy biến màu tuần tục
Rất ngàn quan đưa tứ túc từ
Thanh nhàn hướng cảnh cõi thừa dư
Cõi tốt nhất một tòa thiên tạo
Ai là kẻ chân tu đắc đạo
Lên Tây Thiên Tam Đảo mà tu
Ai ơi chớ ngại công phu
Dốc lòng thành kính cũng như một lòng
Dù ai có bệnh kêu van
Đến cúng cửa mẹ thời can cửa nhiều
Khó điều nhất trai tồn tẩy
Lại nhờ mẹ chẩy anh trung
Tả hà đức hiếu linh từ
Dốc lòng thành kính cũng như một lòng
Mẫu ban công cùng là tiếp lộc
Hóa cho ngọc đúc tiền xe
Mong tuổi thọ cao cả hải Bắc
Lại nhờ mẹ ngọt nước trường sinh
Già thời mạnh khỏe tinh nhanh
Trẻ thời đến tuổi công danh gặp thời.
Chớ lo gì vạn niên vận thủy
Dốc một lòng khẩn đảo cho chuyên
Cầu trai trai ắt được hiền
Có khi cầu gái gái lên nữ tài.
Gặp phải khi thời hoạn nạn
Động đất khó con lắm thay
Lễ khi kịp phải đặt bày
Thỉnh mời thánh mẫu ngày dày chứng minh.
Mẹ hành binh hô phong hoán vũ
Đâu đấy đều vui thú thảnh thơi
Mẹ cho hạ cũng như xuân
Phong đăng hoa cốc muôn dân thái hòa
Trước cửa tòa đua nở
Trên đền rồng đã khái ngang ca
Tiêu thiều nhã nhạc vang vang
Tiếng tơ tiếng trúc tiếng đàn chen nhau
Gảy mấy câu tình tang tích tịch
Thú hữu tình tích tịch tình tang
Có khi bà ngự đài ngang
Vào ra ba dốc, khi sang ngũ hồ
Khi hò hô bà dạo chơi bát cảnh
Khi lại ngồi bát cảnh tiên bang
Khi bà sang chốn tuần hoàn
Khi lên thượng đế luận bàn quốc gia
Nước du hòa mà dân xã thịnh
Đâu đấy đều nhập thiện Thuấn Nghiêu
Anh linh tự cổ chí triều
Sắc phong thánh mẫu chính tiên đền rồng.

Hồn Trương Ba, xương da hàng thịt

IMG_0392.JPG

Sách báu Vua Trời
Bổ sung của huyện Đường Hào, xã Liêu Hạ

Triều Lý năm Long Thụy thứ hai (tức năm Tống Nhân Tôn hiệu Chí Hòa thứ hai), người huyện Đường Hào, xã Liêu Hạ là Trương Ba, ba đời tu thiện, thích uống rượu, cờ cao nổi tiếng trong nước, như thần tiên giữa người trần vậy. Khi đó có người nước Bắc là Trọng Huyền, nghe tiếng của Ba, đánh xe đến lều, cùng Ba đấu trí. Ba chơi cờ thấy thế thắng Huyền, mới có lời đại ngôn rằng:
– Thắng thua đã rõ, có là Đế Thích cũng khó phân giải.
Bỗng thấy một ông cụ đầu bạc, cầm một cây gậy đên mách cho Huyền đi thế cờ như vậy. Ba vô cùng sợ hãi, lấy cớ đi uống nước mà rời chiếu. Ba đi ngay vào vườn, bẻ cau, chuối xanh làm vật hiến tế, sắp xếp vuông vắn. Cau chuối còn đang xanh, dâng lên, thì cau trở nên tròn lớn, chuối trở nên chín vàng. Ba chắp tay nói:
– Tiên ông từ đâu tới đây? Cờ pháp tối cao, nguyện được biết danh tính để tôn sư nhận sự giảng dạy.
Ông lão nói:
– Ta là Đế Thích của cung 33 cõi trời.
Nhân đó lấy trong tay áo mấy nén hương mà tặng, rồi nói:
– Khi có việc gấp, đốt hương này, ta sẽ đến cứu giúp.
Ba cùng Huyền lại dập đầu bái. Ngửng đầu lên đã không thấy người. Ba liền hầu giá, cất hương quý đi. Vài năm sau Ba chết, qua được trăm ngày, vợ con nhớ tới việc hương thần, mới cầm đốt hương.
Đế cưỡi mây giáng hạ, hỏi rằng:
– Chồng bà chết được bao lâu rồi?
Đáp rằng: Đã ngoài trăm ngày.
Đế lại hỏi:
– Trong làng này có ai mới mất không?
Đáp rằng:
– Có người đồ tể mới mất được vài ngày.
Đế lập tức gọi Tam phủ Công đồng tới hoàn hồn Trương Ba nhập vào thân thể của người đồ tể. Sau đó hai gia đình vợ con tranh nhau vì thân hình đồ tể mà tính nết của Trương Ba (ngạn ngữ có câu rằng: Hồn Trương Ba, xương da hàng thịt, là chỉ việc này). Sự việc được bàn luận khắp nơi. Ngưỡng nhờ ơn của Vua Trời đã tái sinh nên dựng miếu ở xã Liêu Hạ, hướng Càn, cùng với người trong làng thờ phụng Vua Trời và Tam phủ.
Tới triều Lê Thái Tổ khai quốc, đến cầu đảo ở đền Vua, bình được giặc Liễu Thăng, cung tạ ơn trời. Triều Mạc Thái bảo Đà quốc công gặp tai nạn, đến cầu đảo, được sự bảo hộ, đã trùng tu lại điện báu, kính cẩn làm lễ tạ, cho phép xã Liêu Hạ (thôn Đình Sơn, thôn Nho Lâm) cùng với hai xã Thư Thị, Thổ Cốc, theo lệ phụng thờ, nước đảo dân cầu, linh thiêng rất mực. Mùa xuân năm Kỷ Tị, Đồng bình chương sự Thái tể Vinh quốc công Hoàng Anh mắc bệnh, sai người đến cầu, cũng được âm phù, bệnh thuyên giảm. Đã cho làm lại cột mái, tô cột vẽ tượng, đáp tạ ơn sâu (xem Bảo kính huyên tâm thượng tập cũng có thuật lại chuyện này).

Phiên âm:
Phụ Đường Hào huyện Liêu Hạ xã. Thiên Đế bảo lục

Phụ Đường Hào huyện Liêu Hạ xã. Thiên Đế bảo lục.
Lý triều Long Thuỵ nhị niên (tức Tống Nhân Tôn Chí Hoà nhị niên), Đường Hào huyện Liêu Hạ xã nhân, Trương Ba, tam thế tu thiện tính thị tửu, dịch cao thông quốc, diệc thần tiên trung nhân dã. Thần hữu Bắc quốc nhân Trọng Huyền, văn Ba danh, thặng hưng tạo lư, dữ Ba đấu trí. Ba chi kỳ thế, ký thắng vu Huyền, hựu đại ngôn viết:
– Thắng phụ dĩ thành, tuy hữu Đế Thích diệc nan phân giải.
Hốt kiến nhất bạch tẩu, chấp cung trượng chỉ kỳ Huyền viết, hành thế như thử. Ba đại kinh, ẩm thủ tỵ tịch, sư sự chi. Tức nhập viên trung, chiết tân lang thanh tiêu hiến chi, kỳ phương chiết dã. Tân tiêu lang do tại bào trung, cập hiến, tắc lang dĩ viên đại tiêu dĩ hoàng thục hỹ. Ba củng thủ vấn viết:
– Tiên ông hà xứ đắc lai, kỳ pháp tối cao, nguyện tường tính danh, đắc thừa sư giáo.
Tẩu viết:
– Ngã thị thượng giới Tam thập tam thiên cung Đế Thích.
Nhân thủ tụ trung hương sổ châu tặng chi, vị viết:
– Hữu cấp, thiêu chi, ngã lai tương cứu.
Ba dữ Huyền khể thủ tái bái. Đài đầu dĩ vô nhân hỹ. Ba tức phụng giá, hương trân tàng chi. Sổ niên Ba mệnh cố, kinh kỷ bách nhật. Thê tử truy ức thần hương sự, tận tướng thiêu chi.
Đế đằng vân giáng hạ, vấn viết:
– Nhữ phu vong kỷ hà thần.
Đối viết:
– Ngoại bách nhật.
Đế vấn:
– Nhữ hương hữu tân vong bĩ.
Đối viết:
– Hữu đồ trung, vong tài sổ nhật.
Đế tức triệu Tam phủ công đồng, hoàn Trương Ba hồn, nhập đồ trung hình thể. Hậu lưỡng gia thê tử giao tranh, tắc hình đồ nhi tính Ba (ngạn hữu chi viết: Hồn Trương Ba xương da hàng thịt, cái chỉ thử dã). Thủ đàm vô địch, ngưỡng hạ Thiên Đế tái sinh chi ân, nãi thiết miếu Liêu Hạ xã chi càn phương, hiệp dữ hương nhân, phụng sự Thiên Đế cập Tam phủ.
Chí Lê triều Thái tổ khai quốc, kiền đảo đế từ, bình Liễu Thăng chi khấu. Cung tạ thiên ân. Anh triều Thái bảo Đà quốc công, ngộ tai kiền đảo, ngưỡng mông bảo hữu, trùng tu bảo điện, cung hành tạ lễ, chuẩn hứa Liêu Hạ xã (Đình Sơn thôn, Nho Lâm thôn) cập Thư Thị, Thổ Cốc nhị xã, y cựu phụng sự, quốc đảo dân kỳ, nhẫm trứ linh ứng. Kỷ Tị niên xuân, Đồng bình chương sự Thái tể Vinh quốc công Hoàng Anh bệnh, bình nhân kiền đảo, ngưỡng hạ âm phù, bệnh giả dĩ khởi. Nhất tân đống vũ, đan doanh khắc dũng, đáp tạ hồng hưu (kiến Bảo Kính huyên tâm thượng tập, diệc cụ lục yên).

Nho văn:

附唐豪縣遼下社天帝寶籙
李朝龍瑞二年(即宋仁尊至和二年)唐豪縣遼下社人,張巴,三世修善,性嗜酒,奕髙通國,亦神仙中人也,辰有北國人仲玄,聞巴名,乘興造廬,與巴鬪智,巴之棋勢,既勝于玄,又大言曰,勝負已成,雖有帝釋,亦難分觧,忽見一白叟,執恭杖指示玄曰,行勢如此,巴大驚,飲手避席,師事之,即入園中,折新榔青蕉献之,其方折也,新蕉榔猶在胞中,及献,則榔已圓大蕉已黃熟矣,巴拱手問曰,仙翁何處得来,碁法最髙,願詳姓名,得承師教,叟曰,我是上界三十三天宫帝釋,因取袖中香数株贈之,謂曰,有急,燒之,我来相救,巴與玄𥡞首再拜,擡頭已無人矣,巴即奉這香珍藏之,数年,巴命故,經己百日,妻子追憶神香事,盡將燒之.
帝騰雲降下,問曰,汝夫亡幾何辰,對曰,外百日,帝問,汝鄊有新亡否,對曰,有屠中,亡𦆵数日,帝即召三府公同,還張巴𩲉,入屠中形體,後两家妻子交争,則形屠而性巴(諺有之曰, 𩲉張巴,昌䏧行𦧘,葢指此也)手談無敵,仰荷天帝再生之恩,乃設庙遼下社之乾方協與鄉人,奉事天帝,及三府.
至黎朝太祖開國,䖍禱帝祠,平柳昇之宼,㳟謝天恩,莫朝太保佗國公,遇災,䖍禱,仰蒙保佑,重修宝殿,㳟行謝禮,準許遼下社(亭山村儒林村)及書柿土穀二社,衣舊奉事,國禱民祈,稔着灵應,己巳年春,同平章事太宰荣國公黃攖病,伻人䖍禱,仰荷隂扶,病者以起,一新棟宇,丹楹刻桶,答謝洪休(見宝鏡煊心上集,亦具錄焉)

Sách báu Vua Trời

IMG_5835

Phủ Khoái Châu, huyện Thiên Thi, trang La Trừng, trại Trì La

Sách báu Vua Trời

Xưa kia Nam Việt Hùng Vương khai sáng, vua tổ lập nền, mười tám đời truyền, hơn hai ngàn năm, ngọc sáng thái bình, âu vàng vững nước. Hậu Trần tiên sinh có thơ rằng:
Sơ khai Nam Việt từ Kinh Dương
Nhất thống núi sông mười tám vương
Thần truyền thánh kế còn thiên cổ
Hai ngàn năm lẻ vạn năm hương.
Đây là tổ của Bách Việt, là thời thịnh vượng thái hoà.
Cháu của Kinh Dương Vương là Chiêu Vương, đóng đô ở Việt Trì, sông Bạch Hạc, tên nước là Văn Lang. Chiêu Vương là người khoan nhân, trí tuệ, tôn sùng Phật pháp, kính sự thánh thần, chăm lo lấy dân làm gốc, được gọi là bậc hiền quân. Thời đó trong nước yên bình, trong phủ vô sự. Nhân dân vui vẻ, sung túc, đàn hát. Thiên hạ hưởng cảnh tượng thái bình.
Con trưởng của vua đi ngao du thiên hạ, khi tới đất quận Sơn Nam, phủ Khoái Châu, huyện Thiên Thi, trang La Trừng, trại Trì La, một ngày thấy gió táp mưa sa, trời đất mù mịt, ngày giống như đêm. Dân Trì La khiếp sợ, không dám ra đường. Trong khoảnh khắc trời đất sáng trở lại. Bỗng thấy một cây đại thụ bay đến dựng đứng ở chính giữa khu đất đầu rồng, dài hơn một trượng. Mùi gỗ ngào ngạt, cành lá sum xuê.
Dân Trì La tâu việc lạ lên triều đình. Chiêu Vương loan giá xem xét, biết cây bạch đàn tím này là linh mộc, đây là điềm đại cát. Vua liền truyền cho dân Trì La lập đài lộ thiên, bày lư hương, hàng năm hương đèn thờ cúng vậy. Dân được lệnh phải chăm sửa.
Vua hành lễ cúng trời, loan giá về cung. Từ đó nước cúng dân cầu, trai giới thành tâm, đến dưới cây gỗ thiêng cầu nguyện cho đất nước được mưa thuận gió hòa, dân gian giải bệnh cầu thai, rất linh ứng.
Hùng Vương truyền mười đời tới Tạo Vương. Cây thiêng ở Trì La đã trải qua hơn bảy trăm năm, cành lá vẫn tươi tốt. Trời xuân tốt lành, tháng Hai ngày mồng một, chỗ cây thiêng trời đất mờ tối, mây bay năm màu, dây lửa quấn phủ. Linh mộc có ba vòng hào quang sáng chói, mưa gió mù mịt. Dân Trì La dân kinh sợ phủ phục. Khi trời sáng lại, nhân dân đến xem thì thấy một dấu chân người lớn ba bộ in trên thân cây. Trên bệ thờ lộ thiên hương tự cháy, bốc mùi thơm ra xung quanh. Nhân dân Trì La dân lấy làm kinh dị, lại tâu về triều đình.
Tạo Vương loan giá đến xem, cho là vì hoàng gia có đức thịnh, tất có thánh nhân xuất thế, sẽ bảo vệ quốc gia, chắc chắn không phải điều tầm thường. Vua lập tức truyền dân sở tại lập chùa tự thờ cúng, khiến cho nhân dân, nước nhà có việc cầu đảo sẽ thành. Vua hành lễ rồi loan giá về triều. Từ đó nước cúng dân cầu, hương đèn không dứt.
Lại nói, Vua có một người họ hàng (là con gái của Hy Vương) tên là Minh Hoa công chúa, nhan sắc đẹp lạ, dáng dấp tuyệt thế, môi son má phấn, mắt phượng mày ngài, bản tính như hoa yêu kiều, không nhiễm tục trần, từ lúc sinh ra chỉ ăn chay, thích mùi vị của hương hoa. Chín tuổi ở triều đình tự nguyện xuất gia theo Phật. Hy Vương thấy con gái thành tâm mộ Phật, truyền xây chùa ở trong cung điện theo ý nguyện. Từ đó công chúa chay trường theo Phật, tinh thông Phật pháp.
Tới khi Tạo Vương lên ngôi, công chúa được tôn làm Thế tôn Bồ tát. Năm 71 tuổi công chúa nghe nói ở Trì La có cây linh mộc, trong có một người khổng lồ, xưa vua truyền cho lập chùa thờ cúng. Lòng thơm luyến cảnh, truyền giá du xuân, đến nơi thì mặt trời đã về tà. Công chúa ngửa lên xem cây thiêng, chợt hiện ra một con rắt không từ trên trời rơi xuống, quấn lấy công chúa Minh Hoa ba vòng. Công chúa sợ hãi nép xuống, bàng hoàng như mơ. Bỗng thấy mặt trăng mặt trời đều rơi xuống nhập vào mồm mà nuốt hết. Trong phút chốc con rắn không bay lên không biến mất. Công chúa chợt tỉnh lại, quay về vương phủ. Trăm ngày sau Công chúa do đó mà có mang. Chỗ dấu chân người khổng lồ trên cây thiêng cũng tự nhiên phình lớn, to như mặt trăng mặt trời, thường có mây bay năm màu, che phủ trên cây thiêng. Mọi người đều lấy làm lạ.
Công chúa Minh Hoa có mang được 7-8 tháng thì Tạo Vương truyền vào cung đình, nói:
– Chín tuổi theo Phật, tới nay đã đã hơn bảy mươi năm, đã làm Bồ tát, sao lại vui ham hoa nguyệt, để tiếng cười cho nhân gian.
Công chúa giải bày chuyện khi đến xem cây thiêng có con rắn không quấn thân thành thực tâu lên. Vua không tin, giáng đi đất Ô Lý (tức là đất Chiêm Thành).
Sau mấy tháng người dân Trì La thấy ở chỗ cây thiêng ban đêm nghe tiếng gió phần phật như tiếng sấm, trên cây thiêng sáng láng, giống như ánh lửa. Chỗ gỗ phình to lại càng thêm lớn. Người dân trại bẩm tâu sự việc. Vua cho là yêu quái, liền truyền lập đàn nhiều bậc ở giữa cung đình, cúng tế tắm gội trong ba ngày liền, triệu tập các tăng ni cùng trăm quan làm lễ cầu đảo.
Vua khấn:
– Quả nhân thấy cây quái này cùng với công chúa bảy mươi tuổi có mang, không biết họa phúc ra sao. Do đó tấu cáo lên Hoàng Thiên, bách thần, chư phật, khẩn nguyện tốt xấu cho ứng mộng, để lòng trần biết được huyền cơ.
Tối hôm đó lúc giữa canh hai, Vua lờ mờ chợp mắt, thấy mây lành năm màu, điện ngọc lưu ly, cung rồng rực rỡ, lầu phượng huy hoàng, Ngọc Hoàng ngự ở chính giữa, bách quan tề tựu đông đủ. Bỗng nghe Ngọc Hoàng truyền phán quan giữ sổ Thiên đình gọi Tạo Vương tới sân. Ngọc Hoàng mắng rằng:
– Bây giờ thời vận đã đến lúc gặp cực, dưới thế giới ba mươi ba cõi trời nhiều tai ương kỳ dị, tật bệnh đói khát, chết chóc đầy đường, âm dương hỗn tạp, giặc yêu quỷ đến thật nhiều. Thiên đình lo lắng cho dân chúng hạ giới nên giao mệnh cho Đế Thích Đề Hoàn Thiên Vương ứng thai vào cây thiêng bạch đàn. Lại mệnh cho Đông Quang chủ bộ, Tây Quang chủ bộ hai vị đầu thai vào công chúa Minh Hoa, giáng sinh nhân thế, cùng giúp Đế Thích Thiên Vương trừ giặc quỷ ở Nam Châu, cứu tật khổ cho nhân gian, mà duy trì kéo dài mạch mệnh của quốc gia. Quân vương như thế mà lại giáng biếm Công chúa. Nay do đã biết chí thành cầu đảo, phải ngay lập tức đón Công chúa về cung thì miễn cho tội này.
Vua tỉnh giấc, kinh sợ, hành lễ bái tạ, lập tức lệnh cho đình thần đón công chúa Minh Hoa về lại phủ điện. Vua thân ra đón tạ, kính lễ sự đó. Lại sai Thủy tào phán quan Diêm La bộ soái (Xét Diêm La bộ soái cũng là dòng dõi Hùng Vương, con cháu trăm trứng từ Long Vương. Cha là Hùng Độ làm Bố Chính bộ chủ. Mẹ là Vũ Thị Đoan, mơ thấy giao long mà có mang thần. Tới năm Quý Tỵ ngày mồng mười tháng Mười sinh ra Diêm La Công, lấy tên là Đà. Năm mười bốn tuổi ông đã văn võ kiêm toàn, anh hùng cái thế, dũng lược hơn người, đứng trước sóng cả như đứng trên đất bằng. Vua cho mời vào triều nhận chức, thi thố nhiều tài lạ, được cất nhắc làm Chưởng quản thuyền rồng Lạc Long tướng quân. Năm mười chín tuổi Vua sai làm tướng dẫn quân đánh giặc Diêm La ở ngoài Nam Hải. Ông phụng mệnh trị được chúa Diêm La, lại được triệu về triều làm Chưởng bình Diêm La nguyên soái, Thuỷ đạo đại tướng quân, lại nhận mệnh phó nhậm trấn cửa biển, làm Thuỷ đạo chủ bộ) đến trại Trì La nơi có cây thiêng, trông coi việc hương đèn, đợi xem điềm ứng ra sao.
Vừa được một năm thì nhân dân trong thiên hạ gặp nhiều tai ách, tật bệnh, yêu tà làm loạn, chiếm khắp nhân gian. Trời đất mù mịt, không phân ngày đêm. Dưới sông biển là giao long, trên rừng núi là hổ báo, quấy nhiễu làm hại nam nữ. Lại có quỷ Mũi đỏ, thần Ma sói, khởi binh làm loạn, thường ăn thịt người, uống máu người, vào lửa không cháy, vào nước không chìm. Có khi bay lên không nghênh chiến, có khi giáp công dưới nước. Quân lính tới ba mươi vạn, biến hiện thật vô cùng, cướp giữ Lưỡng Quảng Đông Tây, mười sáu châu đều là đất giặc quỷ. Triều đình ra đánh đều bị hại phần lớn, quan tướng không có phương sách.
Vua rất lo lắng, nhớ tới việc Hoàng Thiên báo mộng là ba năm sau nước sẽ có giặc quỷ, quả nhiên là nghiệm, mà Thiên vương giáng thế, giúp nước cứu dân, chưa thấy xuất hiện.
Vua lại cho lập một đàn tế, trai giới cầu đảo trời đất trong ba ngày. Năm Giáp Tí tiết xuân ngày mồng 9 tháng 1, cái bọc trên cây thiêng ở Trì La đã qua ba năm, bỗng nghe có tiếng sét đánh một tiếng thình, trời rung đất chuyển, mưa gió tối tăm, giữa ngày mà như đêm. Người dân Trì La kinh sợ, nằm rạp xuống mà xem, thấy mây tụ năm màu, bao trùm trên cây thiêng, hào quang sáng lòa, khí lành rực rỡ, sao trời cùng tụ, rồng phượng bay quanh, bầu trời vang tiếng véo von, nhã nhạc tấu hài hòa. Chốc lát một tiếng nổ vang rền, ánh lửa phóng ra bốn phía. Cây thiêng vỡ tan bay lên trời, chỗ bụng bào trên cây vỡ ra, xuất lộ 2 bọc. Nước chảy ra đều thành nước ngọt. Chỉ còn lại một khối dài ba bốn thước, cứng như sắt đá, khối nước có một bọc, mây năm màu phủ ở trên.
Diêm La vương kinh dị, phụng tâu về triều đình. Vua thân hành đến chỗ bọc thai, nghênh đón về cung điện, truyền lập lầu rồng ở trước sân, đặt bọc thai ngọc tím, thường có mây năm màu phủ ở trên. Vua cùng trăm quan trai giới hành lễ, cầu nguyện Thiên vương xuất thế, để giúp nước nhà, để hết tai biến.
Ngày mười lăm tháng Giêng bỗng thấy trời đất mùi mịt, trên lầu bọc thai phóng hào quang bốn hướng, khí lành rực rỡ. Bọc thai tự nổ một tiếng kinh động trời đất. Vua cùng trăm quan sợ phục trước lầu, ngưỡng xem thấy Đế Thích Thiên Vương ngự tại đầu rồng trước lầu, mây lành năm màu, đầu đội mũ bình thiên, thân khoác áo rồng, tay cầm kim bài.
Minh Hoa công chúa mang thai đã 3 năm, một tiếng nổ lớn, bỗng có hai người xuất ra từ trên đầu Công chúa, hình dáng cao lớn, tướng ngũ nhạc triều thiên, tam đình bằng phẳng, mặt đỏ như mặt trời, to lớn đường đường, áo bào năm sắc, khăn ngọc chói ngời, tay cầm long đao, đứng hai bên phải trái Đế Thích Thiên Vương. Công chúa hóa thân chỉ còn 2 búi tóc, một búi ở bên Đông Quang, một búi ở bên Tây Quang.
Chốc lát bóng mây tan đi. Trời đất lại sáng. Vua cùng trăm quan bái hạ. Bỗng nghe Đế Thích Thiên Vương truyền tả hữu hai ông rằng:
– Thiên đình lệnh cho ta giáng sinh ở Nam Châu, giúp vua nay trừ lũ quỷ, hãy nhanh chóng tuyển tướng điều binh theo ta dẹp giặc, không được trì hoãn.
Hai ông phụng mệnh lập tức triệu Diêm La bộ soái dẫn một ngàn thiên binh diệt giặc. Nhị công lại hô lớn một tiếng, hai búi tóc bỗng nhiên biến hóa. Búi thứ nhất biến thành Ngựa lửa, thân dài chín thước, ông Tả cưỡi. Một búi khác biến thành Lân ngọc, ông Hữu cưỡi.
Ba vị (Vua Trời và hai ông) tiến trên không trung. Diêm La hành quân theo đường thuỷ, tiến đến chỗ quân giặc. Hai ông huy đao vang lừng, tiếng thét lẫm liệt như sấm, hào quang phóng bốn phía. Thiên binh cùng vùng dậy tấn công. Ngựa lửa, Lân ngọc phun lửa. Quân thuỷ của Diêm La tiếp chiến. Mây mưa mờ mịt. Giặc quỷ kinh sợ, tan tác, tất cả biến thành tro bụi. Chỉ có quỷ Mũi đỏ không thể tự biến, chém được ngàn đầu, mang về kinh đô. Lũ hổ báo, giao long, yêu quái nhất loạt đều dẹp yên.
Ngày 10 tháng 6 Đế Thích cùng hai ông bay lên năm tầng mây mà hóa. Diêm La bộ soái trong hôm đó liền về triều tâu lại chuyện. Vua nghe vậy than thở mà rằng:
– Nhân dân đã được chuyển họa thành phúc, chuyển tai ương thành tốt đẹp, kính thánh đức mây lành ngày tốt, liệu trời đất khí hòa gió xuân, ơn dày Vua Trời cùng hai vị đại pháp lực xoay chuyển càn khôn.
Vua bèn truyền xây điện ở trong sân rồng, thờ phụng ba vị, đáp tạ ơn thần.
Ngày 29 tháng 6 Diêm La Công xuống thuyền rồng đi Phong Châu, đến sông Tam Kỳ thì sóng gió nổi lên. Diêm La Công thân biến thành rắn, dài hơn mười trượng, bò thẳng xuống Tam Kỳ mà hoá sinh bất diệt. Tướng sĩ liền về triều đình, phụng tâu lại sự việc. Vua liền lệnh cho đình thần tới Tam Kỳ hành lễ, lập đền thờ phụng. Lại truyền sửa sang tượng thần ba vị cùng tượng Diêm La công, đón vào bảo điện, ngày tháng phụng thờ, cầu đảo linh nghiệm.
Vua lệnh giá đến trại Trì La, trước lập hành cung, coi xem địa hình, rồng như hình con rắn lớn, thế sông uốn lượn như rồng bao quanh. Vua ngự ở chỗ cây thiêng, thấy một mảnh đất thực là rồng, khu dải bảy sao, sau đầu mũ ngọc, trái phải lớp lớp cùng quay đầu hướng về. Trái phải có giếng mắt rồng, cá bơi hướng chầu, sao vàng đứng vững, dải Ngân bao bọc, ngựa trời quỳ, hoa sen nở, giữa gian ba sao cùng mặt trăng mặt trời chợt dậy, thành một vùng đất quý trời tạo.
Vua truyền lập đền ở chính giữa đầu rồng, dựa Quý hướng Đinh, thế sông chầu bên trong, núi sao ứng theo bên ngoài. Lại truyền chọn lấy loại gỗ bạch đàn tím cẩn kính tạo tượng thần Đế Thích Thiên Vương để thờ. Tiếp truyền lập chùa ở chỗ đất hình rồng. Làm xong thì cho phép trại Trì La hai giáp Đông Tây ngày tháng lo hương đèn, miễn cho việc binh lương. Xuân (tháng 3 ngày 10), thu (tháng Chín ngày 12) làm lễ quốc tế. Ban cho 30 quan tiền, đặt 12 mẫu ruộng thờ, tuân theo mà thờ cúng. 6 trang trong trại (Yên Canh, Liễu Cầu, La Trừng, Trại Thung, Cổ Lễ, Lưu Xá) đều được miễn đóng binh lương, hàng ngày giúp thờ cúng ở đền Vua Trời tại Trì La.
Vua đề thơ rằng:
Trì La thắng địa rất oai linh
Xứ xứ chầu về kính đế đình
Vua Trời giáng sinh di tích đó
Vạn năm hương lửa quốc gia lừng.
Vua quay giá về cung, tặng phong Tam thiên thiên Giới nội Đế Thích Đề Hoàn Đại phu Ngọc bệ hạ, Nhật Quang Thiên tử Thánh vương, Nguyệt Quang Thiên tử Thánh vương là ba vị thiên thần thượng đẳng và Diêm La bộ soái Môn tiền Tôn thần.
Lại truyền rằng, Hùng Vương truyền mười tám đời tới Tình Vương không có con, nhường ngôi cho An Dương Vương. Tương truyền ở Ái Châu (tức Thanh Hóa nay), phủ Thuận Thiên, huyện Lôi Dương, xã Biện Sơn có ông Phạm Đạt đến quận Sơn Nam đóng quân, lấy bà Lục Nương họ Đinh của trại Trì La, nhờ cậy ba bốn năm. Vợ chồng ra sức làm việc thiện. Hơn bốn mươi tuổi chưa mơ thấy điềm gấu rắn. Một bữa ông nói với vợ rằng:
– Tiên tổ nhà ta đều xứng là gia đình thiện đức, tôn trọng ngũ luân, ban phát cho người nghèo khó. Tôi và bà đều làm việc nhân, tu đức, không dám vì mình hại người, chưa mảy may phạm tội ác nào, bồi đắp quả thiện lâu dài, mà chưa thấy được hương quế. Hay là do đạo nhân nghĩa còn thiếu sót nên ý trời còn chưa tỏ. Tôi nghe nói điện Vua Trời giúp dân giúp nước, cầu là được, vạn sự như ý. Tôi cùng bà thành tâm cầu tự, nhạn bay mong mỏi, sao cho thỏa nguyện bình sinh.
Theo ý đó hai người đến đền cầu tự. Đêm mộng thấy thần nhân báo rằng:
– Ta thích đánh cờ, ông có biết chơi cờ không?
Ông Phạm trả lời:
– Thần vốn không biết chơi cờ.
Thần nhân nói:
– Cờ là cốt yếu của họa phúc, là sự huyền vi của trời đất, người trần khó biết. Ông đã thành tâm cầu tự, ta xét gia đình ông có phúc lớn lắm, nên ưng cho ông quân Xe cờ đá về làm của quý trong gia đình.
Dứt lời đem trao cho. Ông Phạm vui mừng nhận kính cẩn nhận lấy và bái tạ. Khi tỉnh lại, yên lặng suy nghĩ, nhà ta phúc hậu, Hoàng Thiên sẽ ban cho con cái. Vợ chồng hành lễ bái tạ rồi về.
Sau mấy tháng bà Đinh có mang. Qua sáu bảy tháng thì ông Phạm nghe rằng người chú ruột của mình qua đời. Vợ chồng lại đến đền làm lễ, sau đó về Biện Sơn để giúp mai táng.
Năm Kỷ Mùi ngày 9 tháng 3, ánh sáng lành tỏa khắp xã Biện Sơn, phu nhân sinh hai con trai, mặt mũi khôi ngô sáng sủa, tư chất lẫm liệt, hàm én mày ngài, mắt phượng hình rồng, tay dài quá gối, chân có 7 túm lông, được đặt tên là Đá Công và Dũng Công.
Đến năm tám tuổi trí dũng siêu quần, theo học Ngô tiên sinh. Sau mấy năm tam lược lục thao của Bách gia chư tử đều thông thuộc (Hoàng Thạch trao cho Trương Lương binh thư có 3 phần Thượng, Hạ, Trung là Tam lược; Binh thư của Thái Công có Rồng, Hổ, Văn, Võ, Báo, Khuyển là Lục thao), văn võ toàn tài, bạn bè đều sợ phục.
Hai ông tuổi trẻ, cha mẹ mất sớm, có người họ tộc Võ có uy thế trong ấp thấy hai ông có kỳ tài nên nuôi dưỡng trợ giúp, định gả con gái cho, nhưng hai ông không theo. Họ Võ thấy hai ông cương dũng, cho đi bắt trộm cướp. Hai ông theo kẻ gian đến huyện Thiên Thi, quán ngoài Trì La thì trời đã tối, cổng làng đã đóng. Hai ông nhìn xa thấy bên ngoài có một cung quán (tức là hành cung nơi Tạo Vương từng ngự khi đến đây), bèn nghỉ ngơi ở đó.
Đêm đó dân các họ tộc ở Trì La đều nằm mơ thấy một vị quan lớn quần áo chỉnh tề, thân cưỡi ngựa hồng, tùy tùng đi theo mấy chục người, tiến thẳng vào trong ấp, triệu các chức sắc của ấp đến nói: Ta tuân lệnh của Đế Thích Thiên Vương, là Long thần của đất này. Hiện đang có hai vị quý nhân được Thiên đình cử đến đây, là phúc thần, đang ở hành cung bên ngoài. Dân ấp các người mau ra bái kiến, đón về, không được chậm trễ.
Người dân trong ấp tỉnh mộng, nghe bên hành cung ngoài phảng phất có tiếng người, như đang có rất nhiều binh mã. Mọi người đều kinh sợ, tụ tập nhau báo lại, kể đầy đủ giấc mộng, không hẹn mà cùng nhau mở cửa ra ngoài nơi quán, thấy hai vị đang ngủ say. Mọi người cùng đồng thanh hỏi:
– Hai vị ở đâu tới đây?
Hai ông dậy trả lời rằng:
– Chúng tôi vốn là con của gia đình họ Phạm, đến tìm hỏi người thân thuộc bên họ ngoại.
Người dân trong ấp biết đây là con của nữ họ Đinh, chưa chịu bái phục, đồng tâm tôn kính phụng dưỡng ngay, còn muốn xem đạo trời ra sao. Hai ông ở quán ngoài mấy tháng thì dân ấp gặp bệnh dịch. Dân làm lễ cầu trời đất, lại mộng thấy quan quân tới chỗ dân ở nói:
– Trời cao đã lệnh cho Long thần báo mộng ấp này đón quý nhân làm phúc thần mà lại dám nghi ngờ. Thiên đình mới phạt ấp các người không được yên đó.
Dân ấp tỉnh lại sợ hãi, vội đón hai ông, kể lại 2 giấc mộng, làm lễ bái mừng. Bốn năm năm sau, sự việc như thần báo, hai ông tuổi mười bảy, mình cao mười thước, anh hùng kiêu dũng, tay có thể nâng sắt đá ngàn tạ, đi xa trăm dặm nhẹ như hồng mao. Khi đó Thục Vương có giặc Đại Man, đông hàng chục vạn, chiếm giữ Tuyên Quang, Cao Bình, Hưng Hóa. Triều đình đánh không dẹp được. Vua truyền hịch tìm người tài. Hai ông tham gia ứng thí, văn võ tài năng vô địch. Vua liền cho người anh làm Bình Man Đô nguyên soái Đại tướng quân, người em làm Thiên Quan Nguyên soái Đại tướng quân, cấp cho năm mươi vạn tinh binh diệt giặc.
Hai ông tuân lệnh, chiêu mộ con cháu các gia đình hào kiệt làm bộ hạ thân cận, cộng được một ngàn ba trăm người (các họ tộc ở Trì La đã theo hai ông dẹp giặc là Như Nguyễn, Hào Nguyễn, Tá Đinh, Tào Đinh, Tấn Đinh, Sĩ Đinh, Giảo Phạm, Mai Phạm, Vị Hà, Thưởng Đỗ, Bân Đỗ, Đán Trần, Kế Đào, Quý Lê, Thưởng Đặng, Hoàn Đặng, Tố Giả, Đoan Tự, đều là những tì tướng, lính tốt). Ngay hôm đó chia thành các đạo quân, tiến vào đất giặc, đại chiến một trận. Quân Man thua to, chém được 3 tướng Man, hơn ngàn thủ cấp, thu hết cờ trống khí giới, đem về kinh đô. Vua nghe vậy rất vui mừng, truyền hai ông vào dự tiệc mừng. Hai ông xin phép được về yết bái hai bên nội ngoại. Vua đồng ý, ban cho vàng bạc, châu báu, nhung lụa, mỗi thứ mười thăng, cùng voi ngựa, binh sĩ theo về quê quán.
Hai ông về yết tạ ở từ đường, mở tiệc mừng, rồi lại về quê ngoại ở Trì La. Tháng 3 ngày 15 yết tạ ở từ đường bên ngoại, truyền cho tu sửa cung quán (tức là nơi đã tạm trú qua đêm trước đây) để làm chỗ bày tiệc. Đến hành cung mở tiệc mừng, tự đem năm ngàn quan tiền để sửa chữa đền chùa Vua Trời. Hai ông nói với dân Trì La rằng:
– Chúng tôi cùng các phụ lão bên quê ngoại là có tình, cũng là nghĩa thầy trò, thân lại thêm thân, trời cho như vậy. Chúng tôi có mười thoi vàng giao cho dân ấp làm tiền công để mua thêm ruộng vườn xung quanh làm như hành cung. Sau này chúng tôi mất, thì nơi nay bày yến tiệc sẽ là nơi thờ phụng.
Phụ lão đều đồng ý như vậy. Hai ông làm thơ rằng:
Thiên địa sinh ta vốn có tình
Danh lưu nhân thế tử như sinh
Trì La hương lửa ngàn xuân vẫn
Sinh đã vinh mà tử cũng vinh.
Lại có thơ rằng:
Giúp cho đất nước dựa vào dân
Vạn cổ cương thường có tấm thân
Đến xứ núi sông ta ở cảnh
Một vùng cá nước vạn năm xuân.
Hai ông đến bái tạ đền Vua Trời rồi về triều gặp Vua, xin cho nhận trại Trì La làm nơi thang mộc. Vua đồng ý. Phong cho người anh là Thái Bảo Quốc, đổi người em làm Thiên Cung Bảo Điện tướng quân.
Quán ngoại Trì La một thời nổi tiếng. Gian điện Vua Trời rực rỡ. Thần thường hiển linh cùng Trương Ba (người huyện Đường Hào, xã Liêu Hạ, vốn là thần tiên giáng thế) đánh cờ ở đất này, là nhờ hai ông đã thành tâm thờ cúng mà thần giáng phúc.
Hai ông làm quan qua hơn mười năm. Tới thời Triệu Úy Đà ở Sơn Nam đánh Thục Vương. Vua lệnh cho hai ông đánh dẹp, cùng với Đà giao chiến ba bốn năm. Quân Đà thua nhiều lần, chỉ còn chờ phân thắng bại. Đà giả xin hòa. Vua đồng ý. Hai ông cố can ngăn vì nuôi hổ để họa. Vua không nghe. Hai ông xin được về quê. Vua đồng ý. Hai ông từ biệt ra về, than rằng:
– Thế nước nguy rồi.
Bèn về đất Trì La. Ngày 25 tháng 12 đến đền Vua Trời, vào sau đền rồi hóa. Ngày đó mọi người nhìn xa thấy bên đền có sợi dây lửa dài mười trượng bay lên không biến mất. Người dân trại đem chôn cất. Mối đất bồi lên mộ, mọi người đều lấy làm lạ. Vua thương tiếc tướng hiền lương, truyền sửa sang hành cung để thờ, tặng phong mỹ tự cùng với đất nước:
Phong Hiển thánh Linh thông Đại vương.
Phong Đại quan Bảo điện Đại vương.
Lại kể rằng Uý Đà nghe hai ông đã mất, liền trực tiếp cầu hôn con gái Thục Vương lấy con trai mình là Trọng Thủy. Vua đồng ý. Trọng Thủy lấy trộm nỏ thần Linh Quy hủy đi. Vua đánh cùng Đà đại bại. Đà chiếm được Nam Bang, thâm oán hai ông, phá hủy đền thờ, thu lại sắc chỉ, ấp dân phải lưu tán.
Nhà Triệu truyền được bốn đời, tới Tập Vương thì thế nước suy nhược. Đông Hán Quang Vũ chiếm được đất Nam, sai thần là Tô Định làm thái thú Nam Châu. Định là kẻ tham lam, giết hại huyện lệnh Thi Sách, là chồng của Trưng nữ Vương (Trưng Trắc, Trưng Nhị vốn là dòng dõi Hùng Vương, con của quan lệnh Phong Châu, chị em đều có kỳ tài). Trưng nữ khởi binh đánh Tô Định, báo thù chồng. Đại tướng Huệ Lực tích cực theo chiến trận để báo thù cho cha (Huệ Lực là con của huyện lệnh Đường Hào, cha bị Tô Định giết, mẹ lúc đó có mang chạy đến ở trong chùa La Trừng, sinh ra Huệ Lực theo Trưng nữ báo thù cho cha).
Huệ Lực đầu tiên đóng doanh trại ở trại Trì La, mật cầu ở đền Vua Trời để được âm phù giúp đánh quân hung tàn. Ban đêm mộng thấy hai Thiên tử tay cầm long đao nói:
– Chúng ta tuân lệnh Vua Trời giúp vua dẹp giặc.
Liền tiến binh, chém được Tô Định. Hơn năm mươi thành đều quy phục. Trưng Vương lên ngôi, mở tiệc mừng công.
Huệ Lực giúp dân Trì La tạo lại đền thờ Hai vị và đền Vua Trời. Một tối, Huệ Lực cùng dân Trì La đều mơ thấy thần nhân báo trời giáng cho cây gỗ dâu ở trước đền, nên dùng đó để làm tượng Nhật Quang, Nguyệt Quang Thiên tử. Khi đến đền xem thì đúng là thấy có cây gỗ dâu đặt ở cửa đền, đem vào trong đền. Lại thấy hai con rắn dài hơn một trượng, toàn thân vảy năm màu ở dưới tượng hai vị Thiên tử. Huệ Lực truyền lấy gỗ dâu tạc thành tượng hai vị Thánh vương. Mở tiệc mừng lớn, lệnh hợp nhất trang La Trừng và trại Trì La. Giáp Tây phù giá Nhật Quang Thiên tử, giáp Đông phù giá Nguyệt Quang Thiên tử.
Việc xong tâu về triều. Trưng Vương lại khen tặng ba vị thiên thần thượng đẳng: Tam thập tam thiên Đế Thích Đề Hoàn Thánh đế Bệ hạ, Nhật Quang Thiên tử Thánh Vương, Nguyệt Quang Thiên tử Thánh vương. Cùng với Đá Công, Dũng Công, Diêm La Công, đều phong làm bản thổ thành hoàng. Còn các tộc tì tướng làm thần bộ hạ thủ điện. Cho phép Trì La hương đèn thờ cúng. Trải Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương, gồm ba trăm bốn mươi chín năm, Nam Bang có bốn họ Đinh, Lê, Lý, Trần khai sáng hồng đồ, đế đức giúp nước giúp dân, đều rất linh nghiệm.
Trần Thái Tôn có con gái là Huyền Trân công chúa, được gả cho chúa Chiêm Thành để báo ơn cũ. Chúa Chiêm mất, bầy tôi muốn đem đốt Công chúa trên giàn lửa. Trần Thái Tôn nghe vậy lập tức cầu đền Đế, làm lễ cầu gió. Công chúa xuống thuyền rồng chạy ra ngoài biển. Gió lớn thổi buồm giúp lánh nạn thoát khỏi.
Sau này công chúa Thiều Ninh lại đến đền cầu tự, bỗng thấy hai búi tóc đặt hai bên trái phải của đền. Nhân dân tâu rõ việc ấy lên. Thái Tôn lệnh cho đình thần đến đền làm lễ, truyền để búi tóc vào hai cái hộp, chôn ở phía dưới hai vị Thánh chủ. Lại tưởng nhớ tới ngày trước công chúa Minh Hoa (người sinh ra hai vị Thiên tử), hai búi tóc là điềm lành. Bèn truy tặng mỹ tự cho ba vị thượng đẳng cùng các tôn thần bản thổ. Trải triều Trần 12 đời đến Lê Thái Tổ, Tiền Lê Hậu Lê, đều có giúp nước ích dân, đế vương các đời xưa đều truy tặng mỹ tự, hương lửa ngàn thu cái đức ấy.

Đại học sĩ Nguyễn Bính phụng soạn.

Lại ở huyện Thiên Thi, xã Liễu Cầu có hai chị em vì loạn lạc vào đến nước Ai Lao. Họ mật cầu Vua Trời bảo hộ. Bỗng nhiên thấy đi bộ như bay, về tới quê quán. Khi đến làm lễ tạ, việc xong thì hình hài biến mất, chỉ còn hai búi tóc lưu lại (xem Lĩnh Nam trích quái).
Ngày 12 tháng 6 (14 xã đại hội làm lễ ca hát).

IMG_5036