Thần phả về thánh Tam Trinh ở Mai Động

Bản thần tích về Thánh Tam Trinh do Đông các đại học sĩ Nguyễn Bính (người làng Sơn Đồng huyện Hoài Đức tỉnh Hà tây) làm ở bộ Lễ triều Lê biên soạn vào niên hiệu Hồng Phúc nguyên niên (1572) đời vua Lê Anh Tông. Năm 1737 bản thần tích này lại được Nguyễn Hiền giữ chức Quản giám bách thần chép lại vào niên hiệu Vĩnh Hựu (1735 – 1740) đời vua Lê Ý Tông. Sau này thần tích được lưu ở bộ Lễ triều Nguyễn (1802 – 1945).
Bản dịch theo sách Làng cổ Mai Động (Đức thánh Tam Trinh) do GS. Vũ Ngọc Khánh chủ biên, Trần Lan Châu sưu tầm biên soạn, xuất bản năm 2003.

Chép trong bản chính của Bộ Lễ nhà Nguyễn tập thứ 3.
Đời Hùng Vương là đời vua dựng nên non sông đất nước, truyền ngôi suốt 2000 năm, lập nên đất đai muôn dặm, dựng kinh đô, gây nghiệp lớn, mở nước theo nghĩa của nhà vua sáng suốt, công bằng. Vua giúp dân, xây đời no ấm, mở mang suốt mười lăm bộ, gọi là Bách Việt, xứng đáng là Vua Tổ vậy.

Đến cuối đời Hùng, thần linh của sông núi, cũng hay ứng hiện dưới cõi đời, đầu thai làm con cái các nhà dân chúng, nhằm giúp nước cứu dân, nhà nào có phúc thì gặp thần ứng vào.
Tương truyền rằng:
Đời Hùng Vương truyền được đến 18 đời thì vận trời đã hết. Tiếp đến về đời (nội thuộc) nhà Đông Hán, đất Long Biên cũng bị chiếm luôn. Thời kỳ này có một người tên là Triệu Cẩn, là nhà từng có quyền thế trong vùng, vợ là bà Tạ Thị Thành, cũng thuộc dòng dõi trâm anh, thi lễ, hai bên xứng đôi, kết nghĩa vợ chồng. Hai ông bà chuộng nghĩa, hay làm phúc, làm việc thiện cứu giúp mọi người.
Nhưng ông Triệu Cẩn đã ngoài 60 tuổi, bà Tạ Thị Thành đã bốn mươi tư mà vẫn chỉ có vài mụn con gái. Hai người khao khát có được một cậu con trai nối nghiệp. Một đêm, bà Thành nằm mộng thấy một ông tiên đi từ trên núi xuống, hẹn cho một viên ngọc trắng. Bà Thành liền cho vào miệng nuốt ngay. Khi chợt tỉnh, bà liền nói với chồng. Triệu Cẩn cho là điềm lành. Từ đó bà Thành thụ thai, đến ngày mồng 5 tháng Giêng năm Nhâm Dần vào giờ Dần sinh được một con trai, tướng mạo khác thường, có cốt cách khác các trẻ em khác. Ba tuổi đã biết lễ nghĩa, hay kính nhường, nghe người ta học mà biết chữ, biết thưởng thức âm thanh.
Bẩy tuổi, cậu bé được đi học, năm 13 tuổi kinh sử đã làu thông. Cậu lại còn tinh tường võ nghệ, sĩ tử đương thời ai cũng thán phục, đều coi như là con nhà Thần Thánh. Thầy học yêu lắm mới đặt tên cho là Tam Trinh. Năm 18 tuổi, cha mẹ ông đều mất, ông Trinh liền chọn đất tốt và đặt mộ cha mẹ vào đấy. Sau ba năm chôn cất, ông ra mở trường dạy học trò, nhờ vậy mà đất Nam Châu (bãi phía Nam) từ dân không biết chữ đã trở thành vùng đất văn hóa. Nhân dân mến mộ ông lắm và tôn ông lên làm Châu trưởng. Ông chăm lo đời sống trong châu, sắp xếp mọi việc làm ăn, mở mang việc học, dân chúng rất được nhờ cậy. Ít lâu sau ông dời đến phía Nam đất Long Biên. Đến trại Mai Động, huyện Thanh Đàm (năm 1752 vì kiêng húy vua Lê Duy Đàm đổi là Thanh Trì, phủ Thường Tín) thấy dân chúng còn trong tình trạng nghèo khổ, làng xóm tiêu điều, không được học chữ, liền cắm đất dựng nhà ở đó (chính là bên sông Kim Ngưu xưa). Ông lại mở trường dạy học, chỉ vừa một năm, dân chúng đã rất mến trọng. Đức độ của ông truyền xa và được nhiều người lấy làm gương.
Cũng năm ấy, có tên Tô Định cất quân xâm phạm bờ cõi, xâm chiếm vùng đất rộng lớn của nước ta, dân chúng điêu linh, chưa có ai ra tay cứu vớt. May sao có cháu xa của vua Hùng tên Trắc là người con gái tài giỏi bậc thần, bậc thánh ở cõi đời, dấy binh lừng lẫy, đem quân đánh giặc Hán. Khi khởi binh, bà Trưng làm lễ cầu các bậc thần linh, Bà Trưng mật xin thần núi Tản Viên họp bách thần lại, ở cửa sông Hát Môn, lập đàn tế cáo trời đất, xin các thần linh ứng vào một người dưới trân gian, được non sông muôn vật ủy thác, được muôn dân tin cậy, cây cỏ trông nhờ…
Vua Trưng khấn trời: “Xét như nước mình các đời trước đều có các bậc anh minh, đời đời sáng nghiệp, là đất nước nhân nghĩa, có giáo hóa nên nhân dân yên ổn vui đời, làm lụng chuyên cần, chẳng biết đến binh đao. Nay Tô Định là loài dê chó, thường hống hách lộng quyền, tàn bạo ức hiếp ngược đãi dân ta, đất trời, thần linh, người người đều căm giận. Tôi (tức vua Trưng) là cháu xa Hùng Vương nhắc đến dân tình là ssa nước mắt, hôm nay đau lòng vì nước, dựng cờ nghĩa vì nước trừ kẻ hung tàn bạo ngược, xin các vị thần linh về đàn tế chứng giám cho. Tôi nguyện dấy binh dẹp giặc, cứu nước cứu dân, dựng lại nghiệp xưa của tông tổ, cứu dân chúng khỏi vòng nước lửa, lầm than, không phụ lòng của Trời cao, không phụ vẻ linh thiêng của tông miếu, xin các Tiên tổ ở dưới suối vàng, hô mây, gọi gió, dồn âm binh, hàng trăm hàng nghìn đội, truyền hịch khắp nước Nam, từ các châu huyện đến các trang ấp, ai là người thông minh tài trí, đức độ hơn người thì cho đến giúp dân”.
Phiên thần đến mách tin cho Tam Trinh, nói rõ chiếu cầu bậc trạng nguyên trong thiên hạ. Ông cảm động lắm, ngay từ hôm ấy, liền chọn lấy trai tráng tuyển làm 5000 quân đều từ trại Mai Động. Các bậc già làng thấy ông làm vậy, đều đến sửa lễ vật (xin với vua Trưng) làm thần tử. Tam Trinh thề với bách thần sông núi, khao thưởng quân lính, tiến đến dinh Trưng Nữ Vương, vào làm lễ xin theo. Vua Trưng đang kén người tài, thấy ông đang sức trai, tài thao lược vị tất ai đã được thế, trên hiểu thiên văn, dưới tường địa lý, không điều gì là không am hiểu, liền phong ông chức Đô úy, cử ông chia đường tiến binh đánh vào dinh lũy của Tô Định. Một trận dẹp tan, Tô Định thua chạy, ta chém được chánh tướng, lấy đầu vài nghìn thuộc hạ của giặc. Từ đấy ông theo Vua Trưng bình định được cả 65 thành, thu về nước Nam như cũ.
Bà Trưng lên ngôi vua, ở ngôi 3 năm, đến khi có giặc Mã Viện sang đánh, liền phong cho Tam Trinh chức Liệt hầu, giao quyền phụ chính lo việc trị loạn, sai ông đem quân giữ cửa ải. Quân ông vừa đến, chưa kịp bài binh bố trận thì quân Hán đã đến. Giặc đang sung sức, đánh sẽ bất lợi, cho nên ông sai đóng cửa ải, không nghênh chiến, không chịu nộp cửa ải! Tướng Hán cả giận, phá cửa tiến vào bờ cõi nước ta. Ông thấy quân Hán đang mạnh, liền dẫn binh về trại Mai Động (sau gọi là trang Mai Động) đóng quân lại xem sao. Quân Hán đêm đến bủa vây. Ông cưỡi ngựa ra đón đánh, phá vây mà ra. Đến quãng đường, khu có nhiều đồi núi, ông nghe nói Vua Trưng đã lỡ cơ trời, liền ngửa mặt lên trời than rằng: Than ôi, cơ đồ của Vua Trưng như giấc mông xuân vậy! Việc thần, việc người vua lo liệu đến thế, biết ta bây giờ chỉ có Trời mà thôi. Ông liền ruổi ngựa chay lên đỉnh núi rồi biến mất. Đó là ngày mông 10 tháng 2. Nhân dân thương tiếc, dâng lễ và lập đền thờ…
Ghi thêm:
– Đời vua Đại Hành nhà Lê, xét phong các thần linh thấy linh hiển liền gia phong làm thần hoàng địa phương: “Tối linh đại vương, thần hiệu là: Nam Sơn Tam Trinh hiển ứng đại vương”. Hành lễ kiêng hai màu trắng và màu đỏ.
– Tam Trinh Nam Sơn đại vương linh ứng ở nhiều nơi. Đời Trần Thái Tông đánh Nguyên Mông, có cho người đến tế cầu phù hộ, ông linh ứng giúp vua đánh bại tướng Ô Mã Nhi. Liền gia phong thêm các chữ hiệu: “Anh triết Hộ quốc Hộ dân Bảo cảnh Hiển hiệu Đại sĩ”.
– Thời Lê Thái Tổ đánh quân Minh Liễu Thăng, thần lại linh ứng giúp, vua bèn gia phong thêm các chữ: “Phổ tế Cương nghị Anh linh”, truyền chiếu chỉ cho dân Mai Động trùng tu miếu điện.
Ngày sinh tế mồng 5 tháng Giêng, giết lợn đen, làm bánh chưng, bánh dày, hát múa, mở hội kéo co, đánh cờ, vật, liền trong 3 ngày.
Ngày hóa tế mồng 10 tháng 2, giết trâu và lợn làm tế lễ, bánh chưng, bánh dày, rượu, trầu cau.
Ngày lễ tiệc mở vào 14 tháng 8, lễ vật như trên, hát xướng 3 ngày.
Năm đầu Hồng Phúc, tháng Giêng, ngày tốt.

Thần tích Giao Châu Đặng thái thú ở nghè Gia Lâm

Tấm bia thời Lê lưu tại nghè Gia Lâm, xã lệ Chi, Gia Lâm, Hà Nội khắc sự tích vị Thái thú Giao Châu họ Đặng thời Hán, có công giáo dân hóa lý, dẹp yên 7 quận, hy sinh vì nước, hiển ứng nhiều đời.

IMG_4310

Gia Lâm xã thần tích bi ký  嘉林社神跡碑記

漢昭帝時累朝一位大王譜籙(艮支部上等)國朝禮部正本
昔雄王山原聖祖啟運應圖二十年餘雄王建國青山萬里創雄都宫殿之基碧水一泓開聖帝明王之道以度物濟人統十五部號之百越為肈祖焉
詩云
初開南越自涇陽一統山河十八王十八世傳千古在億年香火億年芳
却説
粤昔西漢時內地龍編猶屬我國間有鄧公諱 運其先人繼世承資蔭配本郡人謝氏諱謹傳家詩禮累世簪纓所謂當門而配公課童頗精醫術樂能行善事賑資救苦無一人不遂其生無一物不寧其养小善亦為十堊不作半點害人休着意毫利己莫私心此地方皆稱其積善之家必有餘慶
公年近六旬謝氏年四十餘然男子尚晚後謝氏夣見蛇精入懷而有孕時(甲午年二月十一日)生下一男天資穎異相貌殊常三歲而知禮義能敬讓聞學而知聽音而審七歲入學經史精通才能武蓺命名曰居士當時士子多嘆服之共稱為聖童公年十八父母皆爼落三年喪畢公潛心墳典教誨士民聞交州教化未明綱疇未叙公循循然善誘之而後民知禮義也南州華風公之功也
民皆暮之共推為州長時漢昭帝命周章為交州太守章聞公教化服人為之疏舉帝大嘉之封列 侯公既受命行縣邑觀民風適至京北道 (古號北江郡)順安府嘉林縣嘉林寨見民風樸陋學術寡聞公乃傳設行在于嘉林寨地頭以教文字
纔得一年民皆慕之值珠崖儋耳蒼梧廣信番禺麓冷七郡商長作亂騷動民生帝聞之咨廷臣疇能了此以為本州太守岑彭舉公德望服人必能安集帝許之命為州守 使平賊
公乃選嘉林寨得家下二百餘移檄諸郡縣來附者以萬数刻日直擣九真命将士分屯堅守不得挑戰因遣文吏移檄論之以信義示之以祸福賊聞之感悟束甲來降七郡告平公遂振旅還州府(即龍編地)
自公為太守刑罰清省民皆安業公暇復詣嘉林行在曉人以恩誼民皆拜謝請因此舍為後為祀所公許之日卽遂並囘州府居之
及至哀帝時間有王莽亂公将兵守開公兵方至安南不意漢兵猝至公曰漢兵方拒莽何故往南.使閉關不約漢将大忿破關門直入境.公見漢兵盛至卽引兵退囘州府無何漢兵夜至重園公騎馬拒戰解得園出至龍編處仰天而嘆曰人臣事君必死無二不圖至此知我者.其天乎遂爼于龍編地不見卽化矣(時八月初十日)
一項間江濤湧沸蛟龍送出漢兵皆驚遂引去以事聞之帝遣使諭祭于龍編地勅封福神準許府民立廟祀之餘如九真南海日南海陽加林等處常被公教化者皆迎美字囘民奉事
及至平帝聞公名績表見於漢有功遣使勅封一封濟世護國居士大王
曁至陳太宗時寇元來侵京城被陷陳國俊奉命祈禱百神各諸祠經一日適至京北順安府嘉林縣嘉林區(陳時為庄)夜宿神祠祈神陰扶討賊俟平勅封上等神
夜至四更末國俊公乃朦朧睡去忽夢見一老翁上頭白髮從此而來自稱居士靈神謂曰我北朝正氣南國遺踪學富五車直擬青雲得路聞将軍東往平冦自願從乃陰扶護法立功勿可憂之神人言訖没变矣項間将公醒出暗想夢中顯有靈神所助定明日拜謝返囘京國已而出戰於白藤江忽然天地晦冥風濤湧出帥将帥兵神靈發動蛇蛟向扶於水上陳國公乃刀戰一陣馬兒大敗斬得正将與裨将數萬頭血可船行屍如山積自此
盡除元冦陳國公反囘奏于太宗曰元賊早平亦賴於神助太宗乃加封陰扶一位當境城隍護法居士大王興國同休永為𢗝武欽哉
却説自以而後稔着靈應故多有帝王加封美字
迨至黎太祖起義平明柳昇及得天下太祖乃加封一位普濟剛毅英靈勅旨頒嘉林庄重修廟殿以奉祀之猗歟休哉
一奉開生化各节與諱字切禁運謹居士準許嘉林庄奉祀
一生神二月十一日正例禮用上齊盤下黑猪𥸷酒唱歌三日卽止
一化神八月初十日正例禮用上齊盤下牛猪𥸷酒白方圓餅
一例慶賀祈福三月初十日禮用上齊盤下随宜唱歌十日卽止
洪福元年孟春吉日翰林禮院東閣大學士臣阮炳奉撰正本
皇朝永祐六年仲秋吉日管監百靈知殿雄嶺少鄉臣阮賢再遵舊正本

Phiên âm:
Gia Lâm xã thần tích bi kí
Hán Chiêu Đế thời lũy triều nhất vị đại vương phổ lục (cấn chi bộ thượng đẳng) quốc triều lễ bộ chính bản.
Tích Hùng Vương Sơn nguyên Thánh tổ khải vận ứng đồ nhị thập niên dư. Hùng Vương kiến quốc thanh sơn vạn lí sáng hùng đô cung điện chi cơ, bích thủy nhất hoằng khai thánh đế minh vương chi đạo. Dĩ độ vật tế nhân thống thập ngũ bộ hiệu chi Bách Việt vi triệu tổ yên.
Thi vân:
Sơ khai Nam Việt tự Kinh Dương
Nhất thống sơn hà thập bát vương
Thập bát thế truyền thiên cổ tại
Ức niên hương hỏa ức niên phương.
Tức thuyết:
Việt tích Tây Hán thời nội địa Long Biên do thuộc. Ngã quốc gian hữu Đặng Công húy Vận, kỳ tiên nhân kế thế thừa tư ấm, phối bản quận nhân Tạ Thị húy Cẩn, truyền gia thi lễ lũy thế trâm anh, sở vị đương môn nhi phối. Công khóa đồng pha tinh y thuật, lạc năng hành thiện sự, chẩn tư cứu khổ, vô nhất nhân bất toại kỳ sinh, vô nhất vật bất ninh kỳ dưỡng, tiểu thiện diệc vi thập ác bất tác bán điểm hại nhân, hưu trứ ý hào lợi kỷ mạc tư tâm, thử địa phương giai xưng kỳ tích thiện chi gia, tất hữu dư khánh.
Công niên cận lục tuần, Tạ Thị niên tứ thập dư nhiên nam tử thượng vãn. Hậu Tạ Thị mộng kiến xà tinh nhập hoài nhi hữu dựng. Thời (Giáp Ngọ niên nhị nguyệt thập nhất nhật) sinh hạ nhất nam, thiên tư dĩnh dị, tướng mạo thù thường, tam tuế nhi tri lễ nghĩa, năng kính nhượng, văn học nhi tri, thính âm nhi thẩm. Thất tuế nhập học kinh sử tinh thông, tài năng vũ nghệ mệnh danh, viết cư sĩ đương thời. Sĩ tử đa thán phục chi Công, xưng vi Thánh đồng. Công niên thập bát, phụ mẫu giai trở lạc.
Tam niên tang tất, Công tiềm tâm phần điển giáo, hối sĩ dân. Văn Giao Châu giáo hóa vị minh, cương trù vị tự. Công tuần tuần nhiên thiện dụ chi nhi hậu dân tri lễ nghĩa dã. Nam Châu hoa phong công chi công dã. Dân giai mộ chi cộng thôi vi Châu trưởng.
Thời Hán Chiêu Đế mệnh Chu Chương vi Giao Châu thái thú. Chương văn Công giáo hóa phục nhân vi chi sớ cử đế đại gia chi phong Liệt hầu. Công ký thụ mệnh hành huyện ấp, quan dân phong thích chí Kinh Bắc đạo (cổ hiệu Bắc Giang quận) Thuận An phủ Gia Lâm huyện Gia Lâm trại, kiến dân phong phác lậu, học thuật quả văn. Công nãi truyền thiết hành tại vu Gia Lâm trại địa đầu dĩ giáo văn tự. Tài đắc nhất niên dân giai mộ chi.
Trị Châu Nhai Đam Nhĩ Thương Ngô Quảng Tín Phiên Ngu Lộc Lĩnh thất quận thương trưởng tác loạn, tao động dân sinh. Đế văn chi tư đình thần trù năng liễu thử dĩ vi bản châu Thái thú. Sầm Bành cử Công đức vọng phục nhân, tất năng an tập. Đế hứa chi mệnh vi châu thú sử bình tặc.
Công nãi tuyển Gia Lâm trại đắc gia hạ nhị bách dư, di hịch chư quận huyện lai phụ giả dĩ vạn sổ. Khắc nhật trực đảo Cửu Chân, mệnh tướng sĩ phân truân kiên thủ, bất đắc thiêu chiến. Nhân khiển văn lại di hịch luận chi dĩ tín nghĩa kì chi dĩ họa phúc. Tặc văn chi cảm ngộ thúc giáp lai hàng. Thất quận cáo bình. Công toại chấn lữ hoàn châu phủ (tức Long Biên địa).
Tự công vi thái thú hình phạt thanh tỉnh, dân giai an nghiệp. Công hạ phục nghệ Gia Lâm hành tại hiểu nhân dĩ ân nghị. Dân giai bái tạ, thỉnh nhân thử xá vi hậu vi tự sở. Công hứa chi nhật tức toại tịnh hồi châu phủ cư chi.
Cập chí Ai Đế thời gian hữu Vương Mãng loạn. Công tương binh thủ khai công binh phương chí An Nam bất ý Hán binh thốt chí. Công viết Hán binh phương cự Mãng hà cố vãng Nam, sử bế quan bất ước. Hán tướng đại phẫn, phá quan môn trực nhập cảnh. Công kiến Hán binh thịnh chí tức dẫn binh thối hồi châu phủ. Vô hà Hán binh dạ chí trọng viên. Công kị mã cự chiến giải đắc viên xuất, chí Long Biên xứ ngưỡng thiên nhi thán viết: Nhân thần sự quân tất tử vô nhị bất đồ chí thử tri ngã giả, kì thiên hồ, toại trở vu Long Biên địa bất kiến tức hóa hĩ (thời bát nguyệt sơ thập nhật).
Nhất hạng gian giang đào dũng phí giao long tống xuất. Hán binh giai kinh toại dẫn khứ. Dĩ sự văn chi Đế khiển sứ dụ tế vu Long Biên địa, sắc phong phúc thần, chuẩn hứa phủ dân lập miếu tự chi dư như Cửu Chân Nam Hải Nhật Nam Hải Dương Gia Lâm đẳng xứ, thường bị Công giáo hóa giả giai nghênh mĩ tự hồi dân phụng sự.
Cập chí Bình Đế văn Công danh tích biểu kiến vu Hán hữu công, khiển sứ sắc phong Nhất phong Tế thế Hộ quốc Cư sĩ Đại vương.
Kỵ chí Trần Thái Tông thời khấu Nguyên lai xâm, kinh thành bị hãm. Trần Quốc Tuấn phụng mệnh kì đảo bách thần các chư từ kinh nhất nhật, thích chí Kinh Bắc Thuận An phủ Gia Lâm huyện Gia Lâm khu (Trần thời vi trang) dạ túc thần từ, kì thần âm phù thảo tặc sĩ bình sắc phong thượng đẳng thần.
Dạ chí tứ canh mạt Quốc Tuấn Công nãi mông lông thụy khứ, hốt mộng kiến nhất lão ông thượng đầu bạch phát tòng thử nhi lai, tự xưng Cư sĩ linh thần, vị viết: Ngã Bắc triều chính khí, Nam quốc di tung, học phú ngũ xa trực nghĩ thanh vân đắc lộ. Văn tướng quân Đông vãng bình khấu, tự nguyện tòng nãi âm phù hộ pháp lập công, vật khả ưu chi thần nhân ngôn cật một biến hĩ hạng gian.
Tướng Công tỉnh xuất ám tưởng mộng trung hiển hữu linh thần sở trợ, định minh nhật bái tạ, phản hồi kinh quốc dĩ nhi xuất chiến vu Bạch Đằng giang. Hốt nhiên thiên địa hối minh, phong đào dũng xuất, suất tướng suất binh thần linh phát động xà giao hướng phù vu thủy thượng. Trần Quốc công nãi đao chiến nhất trận Mã Nhi đại bại, trảm đắc chính tướng, dữ tì tướng sổ vạn đầu huyết khả thuyền hành thi như sơn tích tự thử. Tận trừ Nguyên khấu Trần Quốc Công phản hồi tấu vu Thái Tông viết Nguyên tặc tảo bình diệc lại vu thần trợ. Thái Tông nãi gia phong Âm phù Nhất vị Đương cảnh Thành hoàng Hộ pháp Cư sĩ Đại vương Hưng quốc Đồng hưu Vĩnh vi Kỳ vũ khâm tai.
Tức thuyết: Tự dĩ nhi hậu nhẫm trứ linh ứng, cố đa hữu đế vương gia phong mĩ tự.
Đãi chí Lê Thái Tổ khởi nghĩa bình Minh Liễu Thăng, cập đắc thiên hạ. Thái Tổ nãi gia phong Nhất vị Phổ tế Cương nghị Anh linh, sắc chỉ ban Gia Lâm trang trùng tu miếu điện dĩ phụng tự chi y dư hưu tai.
Nhất phụng khai sinh hóa các tiết dữ húy tự thiết cấm Vận Cẩn Cư sĩ, chuẩn hứa Gia Lâm trang phụng tự.
Nhất sinh thần nhị nguyệt thập nhất nhật chánh lệ lễ dụng thượng trai bàn, hạ hắc trư tế tửu xướng ca tam nhật tức chỉ.
Nhất hóa thần bát nguyệt sơ thập nhật chánh lệ lễ dụng thượng trai bàn hạ ngưu trư tế tửu bạch phương viên bính.
Nhất lệ khánh hạ kì phúc tam nguyệt sơ thập nhật lễ dụng thượng trai bàn hạ tùy nghi xướng ca thập nhật tức chỉ.
Hồng Phúc nguyên niên mạnh xuân cát nhật. Hàn lâm lễ viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính phụng soạn chính bản.
Hoàng triều Vĩnh Hữu lục niên trọng thu cát nhật. Quản giám bách linh tri điện Hùng lĩnh thiểu hương, thần, Nguyễn Hiền tái tuân cựu chính bản.

Dịch nghĩa:

Bia ký thần tích xã Gia Lâm
Bản phả lục một vị đại vương công thần triều Hán Chiêu Đế (chi Cấn bộ thượng đẳng), Bộ Lễ quốc triều chính bản.
 Xưa Hùng Vương Sơn nguyên Thánh tổ khai vận mở đồ hơn hai mươi năm. Vua Hùng lập nước núi xanh vạn dặm, xây kinh đô Hùng, dựng nền cung điện, nước biếc thăm thẳm, bắt đầu đạo đế thánh vua minh, giúp vật giúp dân, thống nhất 15 bộ lấy tên là Bách Việt, là tổ tiên đầu tiên vậy.
Có thơ rằng:
Ban sơ Nam Việt từ Kinh Dương
Thống nhất núi sông mười tám vương
Mười tám đời truyền ngàn xưa đó
Vạn năm hương lửa vạn năm hương.
Truyền rằng:
Xưa nước Việt ta, Long Biên còn thuộc về Tây Hán. Bấy giờ có ông họ Đặng, tên húy là Vận, tổ tiên ngày trước đã được ban tước phong, đời nay kế thừa gia tài phúc ấm. Ông lấy vợ người bản quận, họ Tạ, tên húy là Cẩn, con nhà thi lễ, dòng dõi trâm anh, hai người rất xứng đôi. Thủa nhỏ ông rất tinh thông y thuật, thích làm điều thiện, vốn tính hay ban chẩn, giúp đỡ người nghèo, không ai là không giúp đỡ sinh sống, không vật nào bệnh tật mà không chăm dưỡng, từ việc nhỏ đến việc ác lớn đều không phạm, không có ý tư lợi cá nhân, được người địa phương đều nói là tích thiên thì gia đình sẽ gặp nhiều điều phúc.
Năm ông gần 60 tuổi, Tạ Thị đã ngoài 40 mà chưa có con trai. Về sau Tạ Thị nằm mơ thấy một con rắn tinh nhập vào mà có thai. Vào ngày 11 tháng 2 năm Giáp Ngọ, bà sinh được một cậu con trai, tướng mạo khác thường, thiên tư kỳ lạ. Năm lên 3 tuổi đã biết lễ nghĩa, thường hay kính nhường, theo học mà hiểu, nghe nhạc biết thẩm thấu. Lên 7 tuổi cho đi học, tinh thông kinh sử, rất giỏi võ nghệ, là một Cư sĩ đương thời. Sĩ tử ai nấy đều thán phục và gọi Ông là “Thánh đồng” (Thánh trẻ con). Năm 18 tuổi, cha mẹ qua đời. Ba năm phục tang xong, trong lòng ông thầm nghĩ phải lấy điển lễ lớn để dặn dạy sĩ dân.
Bấy giờ dân Giao Châu học hành chưa thấu, tam cương, cửu trù chưa biết thứ bậc. Ông liền thuận theo tự nhiên khuyên bảo những điều tốt lành. Nhờ đó mà dân biết được lễ nghĩa. Phong cách tốt đẹp của Nam châu có được cũng có công của Ông. Cảm phục sĩ dân mến mộ và cùng tôn ông làm Châu trưởng.
Thời Hán Chiêu Đế sai Chu Chương làm Thái thú Giao Châu. Chu Chương nghe danh tiếng Ông giáo hóa quy phục được dân chúng bèn dâng sớ tiến cử lên vua. Vua rất vui mừng, liền phong ông chức “Liệt Hầu”. Ông nhận mệnh đi xuống huyện ấp xem xét cuộc sống dân tình và phong cảnh nơi đây. Đến đạo Kinh Bắc (tên xưa là quận Bắc Giang), phủ Thuận An, huyện Gia Lâm, trại Gia Lâm, thấy phong tục tập quán nơi đây còn lạc hậu, kỹ nghệ còn sơ sài, Ông liền truyền thiết lập một nơi tại trại Gia Lâm để dạy học cho nhân dân. Mới được một năm, nhân dân đều ngưỡng mộ kính phục.
Gặp lúc tù trưởng của 7 quận: Châu Nhai, Đam Nhĩ, Thương Ngô, Quảng Tín, Phiên Ngung, Lộc Lĩnh, (Quế Lâm?) làm loạn, quấy nhiễu dân sinh. Vua nghe tin liền nói đình thần nào có thể dẹp yên sẽ cho làm Thái thú bản châu. Sầm Bành tiến cử ông có đức vọng, quy phục được lòng người, tất sẽ dẹp được. Vua bằng lòng lệnh ông cho cầm đầu châu đi dẹp loạn.
Ông tuyển chọn ở trại Gia Lâm được hơn 200 người, lại truyền hịch đi các quận huyện đến giúp thêm được vài vạn người. Ngay hôm đó tiến thẳng đến Cửu Chân, lệnh cho các tướng sĩ phân ra các đồn để giữ vững, không được khiêu chiến. Nhân đó, sai quan văn truyền hịch, khuyên cho họ hiểu tín nghĩa, bảo họ thấy rõ điều họa phúc. Giặc nghe thấy tỉnh ngộ bỏ binh khí, mũ giáp ra hàng, 7 quận giặc loạn đã được dẹp yên. Ông cho rút quân về phủ (tức đất Long Biên).
Từ khi ông làm Thái thú, hình phạt được giảm nhẹ, dân chúng đều được yên ổn làm ăn. Ông lại thong thả đến cung Gia Lâm, dạy cho dân hiểu về ân nghĩa và tình đoàn kết. Nhân dân thấy đó mà cảm phục bèn thưa với Ông “nơi đây ngày nay là học đường, ngày sau làm nơi phụng thờ”. Ông bằng lòng, rồi cùng sĩ tốt về châu phủ.
Tới thời Ai Đế gặp lúc Vương Mãng nổi loạn, Ông mang quân đi trấn giữ cửa ải. Quân ông đi đến An Nam, bất ngờ quân Hán kéo đến. Ông nói, quân Hán đang đánh nhau với Vương Mãng thì cớ gì lại kéo sang nước Nam, liền sai đóng cửa quan không cho vào. Tướng Hán rất tức giận sai phá cửa quan tiến thẳng vào. Ông thấy quân Hán thế rất mạnh, liền rút quân về châu phủ. Chẳng bao lâu quân Hán đến kịp, nhân lúc đêm tối, chúng bủa chặt vòng vây. Ông cưỡi ngựa cự chiến, thoát vòng vây chạy ra ngoài. Đến Long Biên, ông ngửa mặt lên trời mà than rằng: Kẻ bề tôi vì vua mà chết, không có hai lòng, ta đến nông nỗi này có lẽ chỉ có trời mới hiểu vậy! Rồi quay lại không nhìn thấy Long Biên mà hóa (nhằm ngày 10/8). Một dải sông rộng nổi sôi sóng, giao long đưa tiễn.  Quân Hán kinh sợ quay đầu chạy.
Việc này đến tai vua, vua sai sứ giả đến cúng tế ở đất Long Biên, phong làm phúc thần, cho người dân trong phủ lập miếu thờ, cùng với các nơi như Cửu Chân, Nam Hải, Nhật Nam, Hải Dương, Gia Lâm, là những nơi Ông đã có công giáo hóa nhân dân, đều đón mĩ tự về phụng thờ.
Đến vua Bình Đế nghe sự tích của Ông có công giúp Hán đã sai sứ giả sắc phong Nhất phong Tế thế Hộ quốc Cư sĩ Đại vương.
Tới tời Trần Thái Tông, giặc Nguyên xâm phạm, kinh thành bị vây. Trần Quốc Tuấn phụng mệnh cầu đảo bách thần, các đền miếu đều ghé qua, tới đạo Kinh Bắc, phủ Thuận An, huyện Gia Lâm, khu Gia Lâm (thời Trần là trang), ban đêm trú trong miếu thần, cầu thần âm phù dẹp giặc, sẽ phong là thượng đẳng thần.
Tới cuối canh tư Quốc Tuấn Công chợp mắt, bỗng mơ thấy một ông lão đầu bạc trắng tiến đến, tự xưng là Cư sĩ linh thần, nói rằng: ta là chính khí của Bắc triều, vết lưu của nước Nam, học vấn phong phú 5 xe, con đường sự nghiệp có thể coi là thành đạt, nay nghe tướng quân sang Đông dẹp giặc, tự nguyện theo âm phù giúp phép lập công, xin chớ lo lắng. Dứt lời thì biến mất trong không gian bao la. Tướng công tỉnh dậy, nhớ lại giấc mộng có thần thiêng hiển hiện trợ giúp, định ngày lành bái tạ, về lại kinh đô mà xuất chiến ở sông Bạch Đằng. Bỗng thấy trời đất mờ tỏ, gió to sóng lớn xuất hiện, quân tướng xuất hiện, thần linh phát động rắn rồng nổi lên mặt nước. Trần Quốc Công vung đao xông trận, Mã Nhi thua to, chém được tướng cầm đầu, còn tì tướng đầu rơi cả vạn, máu chảy thành sông, thây chất như núi.
Trừ hết giặc Nguyên, Trần Quốc Công về tâu lên Thái Tông rằng dẹp giặc Nguyên là có sự trợ giúp của thần. Thái Tông liền gia phong Âm phù Nhất vị Đương cảnh Thành hoàng Hộ pháp Cư sĩ Đại vương Hưng quốc Đồng hưu Vĩnh vi Kỳ vũ, kính vậy.
Truyền rằng: Từ đó về sau, đều linh thiêng hiển ứng, cho nên được nhiều các bậc đế vương phong thêm mĩ tự.
Đến đời Vua Lê Thái Tổ khởi nghĩa dẹp giặc Minh Liễu Thăng, lấy được thiên hạ, Thái Tổ liền phong thêm: “Nhất vị Phổ tế Cương nghị Anh linh”. Sắc chỉ ban cho trang Gia Lâm trùng tu miếu điện để phụng thờ Ngài một cạnh trọng thể.
Phụng khai các tiết ngày sinh, ngày hóa cùng chữ húy “Vận, Cẩn, Cư sĩ” nhất thiết cấm. Cho phép trang Gia Lâm được phụng thờ.
Nhất sinh Thần ngày 11 tháng 2, theo lệ chính: lễ dùng trên mâm chay, dưới thịt lợn đen, xôi, rượu, ca hát, 3 ngày thì dừng.
Nhất hóa Thần ngày mùng 10 tháng 08, chính lệ lễ dùng trên mâm chay, dưới trâu lợn, xôi, rượu, bánh dày.
Nhất lệ khi làm lễ mừng cầu phúc ngày 10 tháng 3, lễ dùng trên mâm chay, dưới tùy nghi hành lễ, ca hát mười ngày thì dừng.
Ngày lành tháng Giêng mùa Xuân năm Hồng Phúc nguyên niên bậc bề tôi Đại học sĩ Đông các của Viện Hàn Lâm là Nguyễn Bính phụng soạn bản chính.
Ngày lành tháng đầu Thu Hoàng triều Vĩnh Hựu năm thứ 6 bậc bề tôi là quan Bộ Lại Nội các, tuân theo bản chính cũ viết.

 

Thần tích Giao Châu Đặng thái thú ở trang Triền Đổ, Hải Dương

Đình làng Lý Đỏ, xã Tân Việt, huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương hiện còn lưu được một tấm bia đá khắc sự tích vị thần được thờ ở làng, là một vị họ Đặng, làm Thái thú Giao Châu dưới thời Tây Hán, có công dạy học cho nhân dân và dẹp loạn ở bảy quận Giao Châu.

IMG_5144

TÔN THẦN SỰ TÍCH BI CHÍ 尊神事迹碑誌

Hán Chiêu đế triều công thần nhất vị đại vương phổ lục (cấn chi bộ thượng đẳng) quốc triều lễ bộ chính bản.
Tích Hùng Vương Sơn nguyên Thánh tổ khải vận ưng đồ nhị thập niên dư. Hùng Vương kiến quốc thanh sơn vạn lý, sáng hùng đô cung điện chi cơ, bích thủy nhất hoằng, khải thánh đế minh vương chi đạo, độ vật tế nhân, thống thập ngũ bộ hiệu chi Bách Việt, vi triệu tổ yên.
Hựu thi vân:
Sơ khai Nam Việt tự Kinh Dương
Nhất thống sơn hà thập bát vương
Thập bát thế truyền thiên cổ tại
Ức niên hương hỏa ức (niên?) phương.
Tức thuyết:
Việt tích Tây Hán thời nội địa Long Biên do thuộc ngã quốc gian, hữu Đặng Công húy Vận, kì tiên thụ phong thế thừa tư ấm, phối bản quận nhân Tạ Thị húy Cẩn, truyền gia thi lễ lũy thế trâm anh, sở vị đương môn nhi phối. Công khóa đồng pha tinh y thuật, lạc hành thiện sự hảo chẩn tế.
Công niên cận ngũ tuần, Tạ Thị tứ thập dư nữ hữu sổ nhân, nam tử thượng vãn. Hậu chí Giáp Ngọ niên bát nguyệt thập nhất nhật sinh hạ nhất nam, tướng mạo thù thường, thiên tư dĩnh dị, tam tuế tri lễ nghĩa, thường năng kính nhượng, văn học nhi tri, minh âm nhi thẩm. Thất tuế nhập học nãi mệnh danh viết Thiện Quang. Thập hữu tam tuế thông sử tử pha tri vũ nghệ. Đương thần sĩ tử đa thán phục chi cộng xưng vi “thánh đồng”.
Thập hữu bát tuế khảo tỉ giai thư lạc hĩ. Tam niên tang tất, Công tiềm tâm phần điển giáo hối sĩ dân. Văn Giao Châu giáo hóa vị minh cương trù vị tự. Công tuần tuần nhiên yên dụ chi nhi hậu dân tri lễ nghĩa dã. Nam châu hoa phong công chi Công dã. Dân giai mộ chi cộng thôi vi Châu trưởng.
Thời Hán Chiêu Đế mệnh Chu Chương vi Giao Châu thái thú. Chương văn Công giáo hóa phục nhân vi chi sớ cử Hán đế đại hỉ chi phong “liệt hầu”.
Công ký thụ mệnh hành huyện ấp, quan dân phong thích chí Hải Dương đạo (tích hiệu Hồng Châu) Thượng Hồng phủ, Đường An huyện, Triền Đổ trại, kiến dân phong phác lậu, học thuật quả văn, nãi truyền thiết lập học đường dĩ giáo văn tự. Tài nhất niên dân giai mộ chi.
Trị Châu Nhai, Đam Nhĩ, Thương Ngô, Quảng Tín, Phiên Ngu, Lộc Lãnh (Quế Lâm?) thất quận thương trưởng tác loạn, tao động dân sinh. Đế văn chi tư đình thần trù năng liễu? thử dĩ vi bản châu Thái thú. Sầm Bành cử Công đức vọng phục nhân tất năng an tập. Đế hứa chi mệnh vi châu thủ sử Công bình tặc.
Công tuyển đắc cường tráng bản trang nhị thập bát nhân, di hịch chư quận huyện lai phụ giả dĩ vạn sổ, khắc nhật trực đảo Cửu Chân, mệnh tướng sĩ phân truân kiên thủ bất đắc thiêu chiến. Nhân khiển văn lại di hịch luận chi hiểu dĩ tín nghĩa kì dĩ họa phúc. Tặc văn chi cảm ngộ thúc giáp lai hàng. Thất quận cáo bình. Công toại chấn lữ hoàn phủ (tức Long Biên địa).
Tự công vi Thái thú hình phạt thanh tỉnh, dân giai an nghiệp. Công hạ phục nghệ vu Triền Đổ trang hành tại hiểu nhân dĩ ân nghị. Dân giai bái tạ, thỉnh nhân thử kim vi học đường hậu vi tự sở. Công hứa chi toại dữ sĩ tốt quang tịnh hồi châu phủ sử đại trí cống vu Hán đế.
Thời Công niên thất tuần nhất nhật tọa phủ đường hốt kiến xích quang tự thân trung phi xuất đằng không tự biến tức nhật vô bệnh nhi một hĩ (thời Bính Ngọ niên nhị nguyệt sơ thập nhật).
Nhân dân gia thần sĩ tốt giai đại kinh nãi hành biểu tấu vu Hán đế, toại dĩ sự văn chi khiển sử dụ tế vu thử địa (Long Biên), sắc phong phúc thần, chuẩn hứa phủ dân lập miếu tự chi dư như Cửu Chân, Nam Hải, Nhật Nam, Hải Dương, Triền Đổ đẳng xứ thường bị Công giáo hóa giả giai nghênh mĩ tự hồi dân lập miếu tự chi.
Hất chí Hán Bình Đế danh tích biểu kiến vu Hán hữu công, nãi khiển sử sắc phong nhất phong bản cảnh thành hoàng Đông biên Uy quốc Duệ trí Anh linh Thiện quang Tự công Linh phù Tôn thần, chuẩn hứa Triền Đổ, Cửu Chân, Nam Hải, Nhật Nam, Hải Dương chư từ ? gian phụng sự.
Chí Tống Thái Bình gian khiển Hầu Nhân Bảo ? tướng binh nhị thập vạn thủy lục tịnh tiến ? đạo Nam xâm. Thời Lê Đại Hành tự tướng đại phát tinh binh thập vạn cự chiến, tiến chí Thượng Hồng phủ Đường An huyện chu binh viết thủy khiển tiến chí đế dữ tướng suất nhập vu thử từ (miếu?) chí túc vu thần từ chi thần âm phù thảo tặc Hầu, bình gia phong Thượng đẳng.
Minh nhật đề binh xuất chiến Nguyên binh quả (hiệu?) kỳ tướng Nhân Bảo cập khâm ? đẳng giai tựu hí hựu
? đại tướng Biện. Phụng huân hoàn kinh sư khải hoàn, hậu hưởng tướng sĩ, nhân vị viết Nguyên tặc tảo bình diệc lại vu âm phù mặc trợ toại gia phong bách thần, nhất phong Thiện Quang Tế thế Hộ quốc Tí dân Phù vận Dương vũ Dực thánh Bảo cảnh Hiển hỗ Hậu đức Chí nhân Phu cảm Hiển ứng Triệu mưu Tá tỵ Thiện văn Bác tể Phổ thí Từ huệ Hậu ân Hoành mô Viễn lược Cương nghị Đốc thật Thùy hưu Quả đoạn Hùng nghị Phúc diễn Thông minh Duệ trí Hùng (?) Dũng quyết Anh uy Linh cảm Diệu thông Hùng kiệt đại vương.
Tức thuyết: Tự thử dĩ hậu giai nhẫm trứ linh ứng cố đa hữu niên vương gia phong mĩ tự.
Đãi chí Trần Thái Tông thời Nguyên Khương lai xâm, kinh thành bị hãm. Trần Quốc Tuấn mệnh kỳ đảo bách thần các chư từ, kinh nhất vị đại vương diệc hữu hiển ứng âm phù cập bình đắc Mã Nhi tặc. Thái Tông nãi hoài phong mĩ tự Nhất vị Đại vương Linh ứng Anh triết Hiển hữu Trợ thuận.
Kỵ chí Lê Thái Tổ khởi nghiệp bình Minh Mộc Liễu Thăng, cập đắc thiên hạ. Thái Tổ nãi gia phong Nhất vị Phổ tể Cương nghị Anh linh, sắc chỉ ban Triền Đổ trại trọng tu miếu điện dĩ phụng chi y thứ hưu tai.
Hoàng triều Cảnh Hưng niên gian toại gia phong Duyên phúc Tích khánh.
Phụng khai sanh hóa các tiết dữ húy tự thiết cấm Thiện Quang, chuẩn hứa Triền Đổ trại tự chi.
Nhất sinh thời bát nguyệt thập nhất nhật chính lệ nhập biển tự sơ lục nhật lệ hữu khai đình, lễ mộc dục, lễ dụng thượng trai bàn, hạ sinh mễ tế tửu, bạch viên bính, xướng ca, chí nhất thập nhất nhật tức chỉ.
Nhất hóa thần nhị nguyệt sơ thập nhật chính lệ, lễ dụng thượng trai bàn, hạ tùy nghi hành lễ xướng ca tịnh cấm.
Hồng Phúc nguyên niên mạnh xuân cát nhật Hàn Lâm Lễ Viện Đông Các đại học sĩ thần Nguyễn Bính phụng soạn chính bản.
Hoàng triều Vĩnh Hữu lục niên thu nguyệt cát nhật, Nội các Lại bộ tái tuân cựu chính bản phụng.
Vi Duy Tân nhị niên lục nguyệt nhị thập tứ nhật phụng tuyên.

Dịch nghĩa:
Bản phả lục một vị đại vương công thần triều Hán Chiêu Đế (chi Cấn bộ thượng đẳng), Bộ Lễ quốc triều chính bản.
Xưa Hùng Vương Sơn nguyên Thánh tổ khai vận mở đồ hơn hai mươi năm. Vua Hùng lập nước núi xanh vạn dặm, xây kinh đô Hùng, dựng nền cung điện, nước biếc thăm thẳm, bắt đầu đạo đế thánh vua minh, giúp vật giúp dân, cai quản 15 bộ lấy tên là Bách Việt, là tổ tiên đầu tiên vậy.
Có thơ rằng:
Ban sơ Nam Việt từ Kinh Dương
Thống nhất núi sông mười tám vương
Mười tám đời truyền ngàn xưa đó
Vạn năm hương lửa vạn năm hương.
Truyền rằng:
Xưa nước Việt ta, Long Biên còn thuộc về Tây Hán. Bấy giờ có ông họ Đặng, tên húy là Vận, tổ tiên ngày trước đã được ban tước phong, đời nay kế thừa gia tài phúc ấm. Ông lấy vợ người bản quận, họ Tạ, tên húy là Cẩn, con nhà thi lễ, dòng dõi trâm anh, hai người rất xứng đôi. Thủa nhỏ ông rất tinh thông y thuật, thích làm điều thiện, vốn tính hay ban chẩn, giúp đỡ người nghèo.
Năm ông gần 50 tuổi, Tạ Thị đã ngoài 40, sinh được mấy người con gái mà chưa có con trai, về sau, vào ngày 11 tháng 8 năm Giáp Ngọ, bà sinh được một cậu con trai, tướng mạo khác thường, thiên tư kỳ lạ. Năm lên 3 tuổi đã biết lễ nghĩa, thường hay kính nhường, theo học mà hiểu, nghe nhạc biết thẩm thấu. Lên 7 tuổi cho đi học, liền đặt tên là Thiện Quang. Năm 13 tuổi, tinh thông kinh sử, rất giỏi võ nghệ, sĩ tử đương thời ai lấy đều thán phục và khen là “Thánh đồng” (Thánh trẻ con).
Năm 18 tuổi chẳng may cha mẹ
qua đời. Ba năm phục tang xong, trong lòng ông thẩm nghĩ phải lấy điển lễ lớn để dặn dạy sĩ dân. Bấy giờ dân Giao Châu học hành chưa thấu, tam cương, cửu trù chưa biết thứ bậc, ông liền thuận theo khuyên bảo những điều tốt lành. Nhờ đó mà dân biết được lễ nghĩa. Phong cách tốt đẹp của Nam Châu có được cũng có công của ông. Cảm phục sĩ dân mến mộ và cùng tôn ông làm Châu trưởng.
Lúc này, Hán Chiêu Đế sai Chu Chương làm Thái thú Giao Châu. Chu Chương nghe danh tiếng ông giáo hóa quy phục được dân chúng bèn dâng sớ tiến cử lên vua. Vua rất vui mừng, liền phong ông chức “Liệt Hầu”. Ông nhận mệnh đi xuống huyện ấp xem xét cuộc sống dân tình và phong cảnh nơi đây. Đến trại Triền Đổ, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, đạo Hài Dương (xưa gọi là Hồng Châu), thấy phong tục tập quán nơi đây còn lạc hậu, kỹ nghệ còn sơ sài, ông liền truyền cho nhân dân thiết lập một học đường để dạy học cho nhân dân. Mới được một năm, nhân dân đều ngưỡng mộ kính phục.
Gặp lúc tù trưởng của 7 quận: Châu Nhai, Đam Nhĩ, Thương Ngô, Quảng Tín, Phiên Ngung, Lộc Lĩnh, (Quế Lâm?) làm loạn, quấy nhiễu dân sinh. Vua nghe tin liền nói đình thần nào có thể dẹp yên sẽ cho làm bản châu Thái thú. Sầm Bành tiến cử ông có đức vọng, quy phục được lòng người, tất sẽ dẹp được. Vua bằng lòng lệnh ông cho cầm đầu châu đi dẹp loạn.
Ông tuyển chọn trai tráng của bản trang được 28 người, lại truyền hịch đi các quận huyện đến giúp thêm được vài vạn người. Ngay hôm đó tiến thẳng đến Cửu Chân, lệnh cho các tướng sĩ phân ra các đồn để giữ vững, không được khiêu chiến. Nhân đó, sai quan văn truyền hịch, khuyên cho họ hiểu tín nghĩa, bảo họ thấy rõ điều họa phúc. Giặc nghe thấy tỉnh ngộ bỏ binh khí, mũ giáp ra hàng, 7 quận giặc loạn đã được dẹp yên. Ông cho rút quân về phủ (tức đất Long Biên).
Từ khi ông làm Thái Thú, hình phạt được giảm nhẹ, dân chúng đều được yên ổn làm ăn. Ông lại thong thả đến học đường ờ trang Triền Đổ, dạy cho dân hiểu về ân nghĩa và tình đoàn kết. Nhân dân thấy đó mà cảm phục bèn thưa với ông “nơi đây ngày nay là học đường, ngày sau làm nơi phụng thờ”. Ông bằng lòng, rồi cùng sĩ tốt về châu phủ, sai người thay tiến cử lên Hán Đế.
Năm đó ông vừa tròn 70 tuổi. Một hôm, ông đang ngồi tại phủ đường, bỗng một ánh sáng đỏ bay lên không trung rồi biến mất. Hôm đó là ngày 10 tháng 02 năm Bính Ngọ. Nhân dân, gia thần, sĩ tốt đều rất hoảng sợ, bèn làm biểu tâu lên Hán Đế. Đế liền sai sứ về dụ tế tại nơi đất này (Long Biên) và ban sắc phong phúc thần. Cho phép dân trong phù lập miếu phụng thờ. Còn các nơi như Cửu Chân, Nam Hải, Nhật Nam, Hải Dương, Triền Đổ là những nơi do ông giáo hóa đều đón mỹ tự về phụng thờ.
Đến thời Hán Bình, vua biết được danh tiếng cúa ông có công lao với nhà Hán, liền sai sứ mang sẳc đến phong tặng cho ngài là: “Bản cảnh Thành hoàng Đông biên Uy quốc Duệ trí Anh linh Thiện quang Tự công Linh phù tôn Thần”. Cho phép Triền Đổ, Cửu Chân, Nam Hải, Nhật Nam, Hải Dương các nơi cùng thờ phụng.
Đến đời nhà Tống, niên hiệu Thái Bình, vua Tống sai bọn Hầu Nhân Bảo mang 20 vạn quân thủy bộ sang xâm chiếm nước ta. Vua Lê Đại Hành tự mình mang 10 vạn quân tinh nhuệ đến cự chiến với giặc. Quân ta tiến đến huyện Đường An, phủ Thượng Hồng thì gặp quân Tống theo đường thủy kéo vào. Vua cùng tướng soái bèn cho quân vào đền Thần ở bên sông trú binh. Đêm cầu khấn Thần âm phù giúp đánh giặc, sau khi dẹp yên quân giặc sẽ tấn phong “Thượng đẳng”. Sáng hôm sau đề binh xuất chiến, quân giặc Nguyên quả nhiên bị thất bại nặng nề. Tướng Hầu Nhân Bảo cùng các tướng và quân giặc đều bị giết, bắt sống được đại tướng Biện. Quân ta chiến thắng trở về.
Sau đó, Vua khao thưởng tướng sĩ, nhân đó nói rằng: “Quân giặc Nguyên sớm dẹp được yên là nhờ có Thần âm phù trợ giúp”, gia phong cho thần là: Thiện Quang Tế thế Hộ quốc Tí dân Phù vận Dương vũ Dực thánh Bảo cảnh Hiển hỗ Hậu đức Chí nhân Phu cảm Hiển ứng Triệu mưu Tá tỵ Thiện văn Bác tế Phổ thí Từ huệ Hậu ân Hoành mô Viễn lược Cương nghị Đốc thật Thùy hưu Quả đoán Hùng nghị Phúc diễn Thông minh Duệ trí Hùng (?) Dũng quyết Anh uy Linh cảm Diệu thông Hùng kiệt đại vương.
Truyền rằng: Từ đó về sau, đều linh thiêng hiển ứng, cho nên được nhiều các bậc đế vương phong thêm mỹ tự.
Đến thời Trần Thái Tông, giặc Nguyên Khương xâm lấn nước ta, kinh thành bị vây hãm. Trần Quốc Tuấn phụng mệnh cầu đảo bách thần ờ các đền, Đại vương cũng linh thiêng ứng hợp âm phù, dẹp tan được giặc Mã Nhi, Thái Tông bèn phong mỹ tự: “Nhất vị Đại vương Linh ứng Anh triết Hiển hựu Trợ thuận”.
Đến đời Vua Lê Thái Tổ khởi nghĩa dẹp giặc Minh, chém tướng Mộc Liễu Thăng, lấy được thiên hạ, Thái Tổ liền phong thêm: “Nhất vị Phổ tế Cương nghị Anh linh”. Sắc chỉ ban cho trại Triền Đổ trùng tu miếu điện để phụng thờ Ngài.
Hoàng triều Cảnh Hưng (1740 – 1786), được phong thêm “Diên phúc tích khánh”.
Phụng khai các tiết ngày sinh, ngày hóa cùng chữ húy “Thiện Quang” nhất thiết cấm. Cho phép trại Triển Đổ được phụng thờ.
Nhất sinh Thần ngày 11 tháng 8, theo lệ chính: Từ ngày mùng 6 mở cửa đình, lễ mộc dục (tắm gội); lễ dùng trên mâm chay, dưới thịt, xôi, rượu, bánh dầy, ca hát, đến ngày 11 thì dừng.
Nhất hóa Thần ngày mùng 10 tháng 02, chính lệ lễ dùng trên mâm chay, dưới tùy nghi hành lễ, cấm ca hát.
Ngày lành tháng Giêng mùa Xuân năm Hồng Phúc nguyên niên bậc bề tôi là Đại học sĩ Đông các của Viện Hàn Lâm – Nguyễn Bính phụng soạn bản chính. Ngày lành tháng đầu Thu – Hoàng triều Vĩnh Hựu năm thứ 6 bậc bề tôi là quan Bộ Lại Nội các, tái tuân theo bản chính cũ phụng viết.
Ngày 24 tháng 6 năm Duy Tân thứ 2 cung kính phụng khắc bia./.

Nho văn:
漢昭帝朝功神一位大王譜籙(艮支部上等)国朝礼部正本
昔雄王山原聖祖啟運膺圖二十年餘雄王建国青山萬里創雄都宫殿之基碧水一泓啟聖帝明王之道以度物濟人統十五部號之百越為肈祖焉
又詩云
初開南越自涇陽
一統山河十八王
十八世傳千古在
億年香火億(年)芳
却説
粤昔西漢辰內地竜編猶属我国間有鄧公諱運其先受封世承姿蔭配本郡人謝氏諱謹傳家詩礼累世簪纓所謂當門而配公課童頗精醫術樂行善事好賑济
公年近五旬謝氏四十餘女有数人男子尚晚後至甲午年八月十一日生下一男相貌殊常天資穎異三歲知禮義常能敬讓聞學而知明音而審七歲入學乃命名曰善光十有三歲通史子頗知武藝當辰士子多嘆服之共稱為聖童十有八歲考妣皆狙落矣三年喪畢公潛心墳典教誨士民聞交州教化未明綱疇未叙公循循然焉誘之而後民知禮義也南州華風公之功也
民皆暮之共推為州長辰漢昭帝命周章為交州太守章聞公教化服人為之疏舉漢帝大喜之封列侯
公既受命行縣邑觀民風適至海陽道(昔号洪州)上洪府唐安縣繵堵寨見民風樸陋學術寡聞乃傳設立學堂以教文字纔一年民皆慕之
值珠儋耳蒼梧廣信番禺麓冷(?)七郡商長作乱騷動民生帝聞之咨廷臣疇能(了?)此以為本州太守岑彭舉公德望服人必能安集帝許之命為州守使公平賊
公選得强壯本庄二十八人移檄諸郡縣來附者以萬数刻日直擣九真命將士分屯坚守不得挑戰因遣文吏移檄論之曉以信義示以祸福賊聞之感悟束甲來降七郡告平公遂振旅還府(即龍編地)
自公為太守刑罰清省民皆安業公暇復詣於纏堵庄
行在曉人以恩誼民皆拜謝請因此今為學堂後為祀所公許之遂與士卒光並回州府使代致貢于漢帝
辰公年七旬一日坐府堂忽見赤光自身中飛出騰空自変即日無病而没矣辰(丙午年二月初十日)
人民家臣士卒皆大驚乃行表奏于漢帝遂以事聞之遣使諭祭于此地(竜編)敕封福神準許府民立廟祀之餘如九真南海日南海陽纏堵等處常被公教化者皆迎美字囬民立庙祀之
迄至漢平帝名績表見於漢有功乃遣使敕封一封本境城隍東邊威国睿智英灵善光字公灵扶尊神準許瀍堵九真南海日南海陽諸祠?間奉事
至宋太平間遣侯仁宝?将兵二十萬水陸並進?道南侵辰黎大行自将大發精兵十萬拒戰進至上洪府唐安縣週兵曰水遣進至帝與将帥入于此祠(庙?)至宿于神祠祗神陰扶討賊侯平加封上等明日提兵出戰元兵果(𪵊?)其将仁宝及欽?等皆就戲又𫉬大将卞奉勲還京師凱還後享将士因謂曰元賊早平亦賴於陰扶黙助遂加封百神一封善光濟世護国庇民扶運揚武翊聖保境顯祜厚德至仁孚感顯應肇謀佐𨐓善文博济普施慈惠厚恩宏謨遠畧剛毅篤寔垂休果断雄毅福衍聰明睿知雄勇厥英威灵感妙通雄傑大王
却説自此以後皆稔著灵應故多有年王加封美字
迨至陳太宗辰元羌來侵京城被陷陳国俊命祈禱百神各諸祠經一位大王亦有顯應陰扶及平得馬兒賊太
宗乃褱封美字一位大王灵應英蜇顯佑助順曁至黎太祖起業平明木柳昇及得天下太祖乃加封一位普济剛毅英灵勅旨頒瀍堵寨重修庙殿以奉之猗次休哉
皇朝景興年間遂加風延福錫慶
奉開生化各节與諱字切禁善光準許纏堵寨祀之
一生辰八月十一日正例入扁自初六日例有開庭礼沐浴礼用上齊盘下牲粢酒白圓餅唱歌至一十一日即止
一化神二月初十日正例礼用上齊盘下随宜行礼唱歌並禁
鴻福元年孟春吉日韩林礼院東阁大學士臣阮炳奉撰正本
皇朝永佑六年秋月吉日內阁吏部再遵舊正本奉
為維新二年六月二十四日奉鐫

Lịch đại đế vương miếu (Trung Quốc Bắc Kinh)

Dịch từ trang https://baike.baidu.com/item/%E5%8E%86%E4%BB%A3%E5%B8%9D%E7%8E%8B%E5%BA%99/3263484

Vào tháng 1 năm 2019, di tích bảo vệ văn hóa trọng điểm quốc gia của Hoàng gia này sẽ tròn 15 năm từ khi ra mắt. Chương trình tu bổ Miếu Lịch đại Đế vương đã được phê duyệt, và hiện đang đóng cửa để sửa chữa. Dự kiến sẽ bắt đầu xây dựng vào nửa đầu năm nay và mở cửa trở lại sau khi hoàn thành vào năm 2020.
Miếu Lịch đại Đế vương, thường gọi là Đế vương miếu, tọa lạc tại số 131 phố Nội Đại, cửa Phụ Thành, quận Tây Thành, thành phố Bắc Kinh. Được khởi dựng vào thời Minh Gia Tĩnh năm thứ mười (1531), ban đầu là nền chùa Bảo An, tới năm Minh Gia Tĩnh thứ 9 (1530) thì được cải tạo lại và trùng tu năm Thanh Ung Chính thứ 9 (1729).
Miếu Lịch đại Đế vương là nơi các vua hai triều Minh Thanh thờ tự các vị hoàng đế mở nghiệp và các vị khai quốc công thần của các triều đại trong quá khứ. Vua Càn Long đã điều chỉnh nhiều lần và cuối cùng xác định 188 vị đế vương được thờ tự tại đây. Càn Long thậm chí còn đưa ra quan điểm về “dòng giống Trung Hoa không bao giờ tuyệt”. Đây là một di tích kiến trúc tinh xảo của Trung Quốc, là nơi thu hút người Hoa trong và ngoài nước thờ cúng Viêm Hoàng tổ tiên, tôn vinh các nhà hiền triết, tăng cường niềm tự hào lịch sử và sự gắn kết dân tộc, một địa điểm ngưng tụ văn hóa quan trọng của Trung Quốc.

Giới thiệu
Miếu Lịch đại Đế vương ban đầu được xây dựng thời Minh Gia Tĩnh thứ 9 (1530), là nơi các vua hai triều đại Minh Thanh cúng tế tổ tiên, có địa vị tương đương với Thái miếu và Khổng miếu, cùng gọi là 3 ngôi miếu lớn của hoàng gia Minh Thanh tại Bắc Kinh.
Người Trung Quốc từ cổ tới nay có tập quán cúng tế tổ tiên, Tam Hoàng được xem là tổ tiên đầu tiên của người Trung Quốc, nên các đế vương các đời đều ngưỡng mộ. Các vị hoàng đế ban đầu là những tấm gương cho các thế hệ tiếp theo học hỏi và noi dõi, vì vậy việc cúng tế  các vị vua này được chú trọng.
Ban đầu, hoàng đế sáng lập nhà Minh là Chu Nguyên Chương đã xác định cúng tế 16 vị đế vương. Hoàng đế Thuận Trị nhà Thanh định đô ở Bắc Kinh sau đó xác định 25 vị vua được thờ cúng. Các thời Khang Hy, Ung Chính, Càn Long đã đặc biệt coi trọng Miếu Lịch đại Đế vương. Khang Hi từng ban một sắc lệnh: ngoài những người vô đạo bị xử chết và các vị phản quốc, tất cả các hoàng đế đã từng lên ngôi đều được lập bài vị trong đền.
Càn Long sau khi điều chỉnh, cuối cùng xác định 188 vị đế vương để thờ tự, từ Minh Gia Tĩnh năm thứ 9 đến cuối thời nhà Thanh có 380 năm, tại Miếu Lịch đại Đế vượng tổng cộng đã cử hành hơn 662 lễ cúng tế lớn.
Miếu Lịch đại Đế vương chiếm 21.500 m2, hiện là nơi ngôi đền duy nhất ở Trung Quốc thờ Tam Hoàng Ngũ Đế Trung Hoa, các bậc đế vương các đời cùng với các văn thần võ tướng của hoàng gia các nhà Minh Thanh. Đó là bằng chứng lịch sử cho tiến trình phát triển quốc gia nhiều dân tộc thống nhất kế thừa liên tục không ngừng của Trung Quốc.
Thời Dân quốc sau đó việc thờ cúng bị dừng lại, chuyển cho ngành giáo dục sử dụng. Thời thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chuyển cho Trường trung học nữ đệ tam của thành phố Bắc Kinh sử dụng, sau đó đổi tên thành Trường trung học 159 Bắc Kinh.
Năm 1979 được công nhận là di tích bảo tồn văn vật của thành phố Bắc Kinh. Năm 1996 Quốc vụ viện công bố là di tích bảo tồn văn vật trọng điểm quốc gia.

Bài trí
Điện Sùng thánh Cảnh đức được đặt ở vị trí trung tâm, toàn điện là kiến trúc mái chính và 2 chái bên, cùng với Thái Hòa điện của Cố Cung nằm cùng một cấp, trung bình cao 21m, mặt chính có 9 gian, vào sâu 5 gian, theo tiêu chí lễ chế đế vương “cửu ngũ chi tôn”.
Bên dưới là một loại gạch lát sàn được làm đặc biệt cho hoàng gia, còn được gọi là “gạch vàng”. Các viên gạch vàng mang lại cho mọi người cảm giác mịn màng và ngọc bích, và chúng không bị trơn khi bước lên. Các hạt rất mịn và dày đặc. Các “gạch vàng” được sử dụng để cải tạo đã được làm trong các “lò ngự” ở Tô Châu ngày nay. Các vật liệu, nung và chế biến có quy trình nghiêm ngặt. Trước khi đặt, chúng được xử lý bằng cách ngâm dầu và mài bề mặt.
Trong sảnh chính, có bảy cung khám phụng thờ bài vị của 188 hoàng đế các đời Trung Quốc. Trong khám thờ ở vị trí chính trung là bài vị Phục Hy, Hoàng Đế, Viêm Đế, hai bên phải trái chia ra có 6 khám, dùng thờ Ngũ Đế và Hạ, Thương, hai nhà Chu, Cường Hán, Thịnh Đường, Ngũ đại thập quốc, Kim, Tống, Nguyên, Minh các đời, tất cả là 185 bài vị đế vương.
Điện Cảnh đức Sùng thánh Đông Tây hai bên có các điện thờ, dùng để thờ cúng Bá Di, Khương Thượng, Tiêu Hà, Gia Cát Lượng, Phòng Huyền Linh, Phạm Trọng Yêm, Nhạc Phi, Văn Thiên Tường, tất cả 70 bài vị của các vị đại hiền tướng, danh tướng. Ở giữa, Quan Vũ một mình lập một miếu, thành ra miếu trong miếu khá đặc biệt.
Điện Cảnh đức Sùng thánh trong Miếu Lịch đại Đế vương, cửa Cảnh Đức, hai điện phối thờ Đông và Tây chủ yếu còn giữ được  các đồ thời nhà Minh để lại, trong khi các bức tranh tường và gạch tráng men chủ yếu là vào thời Càn Long của triều đại nhà Thanh.
Mặc dù Cố Cung, Di Hòa Viên, Thiên Đàn, Khổng Miếu và các tòa nhà khác đều được xây dựng từ thời nhà Minh, nhưng không có nhiều hiện vật của nhà Minh được bảo tồn. Do đó Miếu Lịch đại Đế vương nơi còn giữ lại được một số lượng lớn các cấu kiện thời Minh là rất hiếm.

Lịch sử xây dựng
Triều Minh dời đô về Bắc Kinh, việc tế tự các đế vương thời trước được tiến hành hoặc ở Nam Kinh hoặc ở vùng ngoại ô Bắc Kinh tại điện văn hóa Cố Cung. Hoàng đế Gia Tĩnh vào năm thứ 9 (1530) đã khởi dựng Miếu Lịch đại Đế vương ở Bắc Kinh, thờ cúng các nhân vật được thu tập trước đây từ Nam Kinh, chỉ dùng bài vị, không làm tượng. Năm Gia Tĩnh thứ 14 (1545) loại bỏ Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt và Mục Hô Lý cùng 5 bài vị đại thần nhà Nguyên.
Sau đó, ngôi đền cũ ở Nam Kinh đã bị bỏ hoang. Miếu Lịch đại Đế vương Bắc Kinh trở thành nơi duy nhất trong cả nước thờ phụng đế vương các đời. Trong lịch sử lâu dài của lịch sử Trung Quốc, một loạt các nhân vật từ Tam Hoàng Ngũ Đế cho đến các đế vương các đời đã được hình thành. Việc tế tự các vị này của hậu thế là một bộ phần của lễ chế quốc gia từ xưa.
Ngay từ thời kỳ Tiên Tần, Sách “Lễ Ký, Tế pháp”, đã nêu rằng việc “làm pháp cho dân”, “hy sinh vì việc công”, “vất vả gây dựng đất nước”, “chế ngự thiên tai”, “giảm thiểu hoạn lớn” đều được linh ứng mà tế tự, từ Phục Hy, Viêm Đế, Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Chu Văn Vương, Vũ Vương đều là những nhân vật tiêu biểu quan trọng cho thờ cúng.
Các triều đại Tần và Hán đối với việc thờ cúng Tam Hoàng Ngũ Đế cùng các đế vương các đời trước được duy trì liên tục và có sự phát triển thay đổi: từ lăng mộ đến đền thờ, từ cúng tế từng nhân vật đến các nghi lễ tập thể. Từ thờ cúng các đế vương mở nước đến thờ các đế vương giữ nghiệp, từ thờ cúng các đế vương người Hoa Hạ – Hán đến thờ cúng các đế vương của các dân tộc khác, từ chủ yếu thờ các đế vương tới thờ các hiền thần có công vun đắp trong quá trình phát triển.

Triển lãm lịch sử phát triển Miếu
Triển lãm lịch sử phát triển Miếu Lịch đại Đế vương tại điện phía Đông, chủ yếu giới thiệu Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương, Minh Gia Tĩnh Chu Hậu Thông, Thanh Thuận Trị Đế Phúc Lâm, Thanh Khang Hy Đế Huyền Diệp, Thanh Ung Chính Đế Dận Chân, Thanh Càn Long Đế Hoằng Lịch là 6 vị hoàng đế nhà Minh và Thanh đã sáng lập, bổ sung và phát triển việc thờ cúng Miếu Lịch đại Đế vương. Việc làm của họ tạo thành dòng phát triển chính của hệ thống nghi lễ thờ cúng tại Miếu Lịch đại Đế vương.

Tế tự
Ở điện chính của ngôi đền thờ tự các nhân vật chính, 38 vị chính được đặt tại đây. Trong phần trưng bày giới thiệu cả các hoàng đế sáng lập và các hoàng đế giữ nghiệp, cả các nhân vật đế vương người Hoa Hạ – Hán và cả các nhân vật người dân tộc khác, phản ánh đặc điểm lịch sử của quốc gia đa sắc tộc thống nhất tiếp nối ở Trung Quốc. Thêm vào đó cũng giới thiệu với công chúng nhiều văn thần võ tướng lớn, bao gồm nhiều nhân vật lịch sử nổi tiếng, nhờ đó làm phong phú nội dung của triển lãm.
Khu đơn nguyên thứ nhất: Chủ yếu để thờ các nhân vật đế vương thời Tam Hoàng Ngũ Đế.
Khu đơn nguyên thứ hai: Thờ các nhân vật thời Tần Thủy Hoàng, Tào Tháo, Dương Kiên.

Triển lãm
Họ tên là biểu tượng hình ảnh cá nhân, nó gắn với bạn theo mỗi người từ lúc sinh ra. Tuy nhiên, bạn có thể không biết hết ý nghĩa của nó. Chẳng hạn, họ của bạn bắt nguồn từ đâu, sống ban đầu ở đâu, có bao nhiêu năm lịch sử, có bao nhiêu vị tiên hiền, đặc biệt tổ tiên của bạn là ai? Có liên quan đến Tam Hoàng Ngũ Đế không? Đối với hầu hết mọi người, đó là một bí ẩn rất thú vị cần được trả lời.
Triển lãm chuyên đề “Tam Hoàng Ngũ Đế và họ trăm nhà” có tuyến trưng bày chủ yếu gồm 8 vị hoàng đế cổ xưa Phục Hy, Viêm Đế, Hoàng Đế, Thiếu Hạo, Chuyên Húc, Đế Khốc, Nghiêu Đế, Thuấn Đế, mà từ đó phát triển ra cho tới nay thành trăm họ khác nhau. Trước tiên, giới thiệu các vị thủy tổ của mỗi họ (bao gồm viễn tổ và tiên tổ), biển hiệu đề họ, sảnh đường nối liền, các quận có thờ họ, các họ khác có liên hệ huyết thống, dòng gốc đã phát di ra các nơi, các bậc tiên hiền xưa cùng các thắng tích quan trọng.
Tại trung tâm thờ Tam Hoàng Ngũ Đế của Miếu Lịch đại Đế vương tổ chức triển lãm chuyên đề “Tam Hoàng Ngũ Đế và họ trăm nhà”, giúp bạn tìm kiếm nguồn gốc tổ tiên, thông qua những tri thức liên quan về văn hóa dòng họ, làm sâu sắc hơn việc lý giải thủy tổ cộng đồng dân tộc Trung Hoa – Tam Hoàng Ngũ Đế.
Hy vọng rằng khi bạn bước vào phòng triển lãm “Tam Hoàng Ngũ Đế và họ trăm nhà”, bạn thực sự có thể cảm thấy: Trăm họ một nhà, bắt nguồn từ Hoa Hạ!
Kèm theo danh sách họ trăm nhà trong triển lãm:
Theo hệ từ Viêm Đế : Khương, Lữ, Khâu (Khâu), Sài, Đinh, Cao, Hứa, Lô, Tạ, Thôi, Thân, Lôi, Dịch, Liên, Hướng, Tập, Cung, Kỉ, Phương, Chương, Nhạc, Tiêu, Tề, Hạ, Nhiêu.
Theo hệ từ Hoàng Đế: Nhâm, Trương, Vương, Chu, Ngô, Trịnh, Dương, Quách, Cổ, Tương, Thái, Mao, Tiết, Hàn, Hà, Vu, Thiệu, Ngụy, Khang, Phùng, Cát, Uông, Dư, Cáo.
Theo hệ từ Thiếu Hạo: Kim, Tần, Triệu, Mã, Lương, Từ, Hoàng, Giang, Lí.
Theo hệ từ Chuyên Húc: Chúc, Tào, Chu, Đổng, Lục, Phan, Ôn, Tô, Cố, Nghiêm, Phí, Sở, Hạ, Tằng, Bạch, La, Long, Trang, Hùng, Diệp, Bành, Tiễn, Trầm.
Theo hệ từ Đế Khốc: Thang, Tống, Tiêu, Khổng, Đái, Lâm, Vũ, Đặng, Phó.
Theo hệ từ Nghiêu Đế: Y, Kì, Đào, Đường, Lưu, Đỗ, Phạm, Phòng, Hồng.
Theo hệ từ Thuấn Đế: Diêu, Ngu, Trần, Hồ, Điền, Viên, Trâu, Chân, Tôn.

Kiến trúc
Bước vào cửa Cảnh Đức về phía Bắc là khoảng sân lớn nhất của Miếu Lịch đại Đế vương. Ở giữa sân là điện Cảnh Đức Sùng Thánh, là kiến trúc chủ thể của Miếu Lịch đại Đế vương. Theo bản vẽ “Đại Thanh hội điển đồ”, điện Cảnh Đức Sùng Thánh, rộng 9 gian, mái phủ, góc mái uốn cong, rường cột năm sắc, nền lát đá. Ở phía Nam, có ba cấp bệ, ở giữa có 3 cấp, ở mỗi bên trái và phải đều có một cấp. Phía Đông và Tây có 1 bệ, ở giữa đều có 2 cấp. Điện Cảnh Đức và Ngự Bi đình ban đầu được làm bằng men xanh. Vào năm Càn Long thứ 29 chúng được đổi thành men vàng.
Tên điện Cảnh Đức Sùng Thánh có ý là “cảnh ngưỡng đức chính, sùng thượng thánh hiền” (ngưỡng mộ chính đức, tôn tùng thánh hiền). Kiến trúc này cho dù ở các hình chế, mái, cột, dầm, phù điêu, họa sắc cùng các hạng mục bên trên là phong cách của kiến trúc hoàng gia, theo quy định tối cao. Chỉ có cung điện, lăng mộ và các tòa nhà hoàng gia mới có thể sử dụng hình thức này.
Điện Cảnh Đức Sùng Thánh rộng chín gian, sâu năm gian, tượng trưng nghĩa “Cửu ngũ chí tôn” của Thiên tử. Mỗi không gian được bao quanh bởi bốn cột theo cả hai chiều rộng và sâu được gọi là một gian. Không phụ thuộc vào kích thước, gian là đơn vị thấp nhất trên mặt bằng của điện, tùy theo vật đặt trong gian to hay nhỏ mà gian được thiết kế to nhỏ và ít nhiều tương ứng. Xét các di chỉ thời nhà Thương và các đồ tế tự nhà Hán thì số gian trong các kiến trúc sớm của Trung Quốc chủ yếu là số chẵn, và ở giữa gian phải là một trụ cột. Mọi người chỉ có thể vào và ra từ một phía. Vì vậy, nó dần dần thay đổi thành số lẻ. 9 gian là đẳng cấp cao nhất.
Tòa điện này làm theo kiểu mái trùm, góc cong, và gạch của nó là gạch tráng men vàng. Các trụ cột của nó được tạo thành từ 60 loại gỗ tốt, và các bức tranh của nó là rồng vàng trên ấn. Trong điện treo tấm biển do Hoàng đế Càn Long ngự đề. Bên trên biển có 4 chữ “Báo công quan đức”. Trong điện chia làm 7 khám thờ, và tổng cộng phụng sự 188 bài vị của các đế vương trong quá khứ. Bài vị nền đỏ chữ vàng. Sảnh chính được xây dựng trên một bục cao, và có một cái đài trước đền. Có lan can đá ở các hướng Đông, Tây và Nam. Có ba bệ ở phía Nam của đài, ở giữa là đường đi cho vua.
Kiến trúc tổng thể của điện Cảnh Đức Sùng Thánh trang nghiêm và trang trọng, với giá trị thẩm mỹ cao.

Đặc điểm kiến trúc
Miếu Lịch đại Đế vương Bắc Kinh là một di tích bảo tồn văn hóa trọng điểm quốc gia. Đây là một di sản kiến trúc lịch sử cấp hoàng gia. Miếu Đê vương là một quần thể kiến trúc, theo bố cục được thiết kế trên xà, giữa có tuyến trục. Ở trục giữa trên là nơi có kiến trúc đẹp cao cấp. Từ phía Nam đến phía Bắc, có một bức tường tranh lớn, sau đó là cổng miếu, và sau đó là cửa Cảnh Đức. Sau đó là tòa nhà chính điện Cảnh Đức Sùng Thánh, sau điện có kho đựng đồ tế khí. Ở chính điện hai bên phải trái có 4 đình Ngự Bi cùng các điện phối thờ Đông và Tây.
Trục trung tâm từ cửa Miếu, cửa Cảnh Đức, điện Cảnh Đức Sùng Thánh, kho tế khó chiếm từ Bắc hướng Nam. Kiến trúc thực tế hàng ngàn năm của Trung Quốc cho rằng ở Bắc hướng Nam là hướng quay lý tưởng nhất. Thiên văn học cổ đại dựa vào các chòm sao chia thành Thanh Long, Bạch Hổ, Chu Tước, Huyền Vũ, đại diện cho các hướng Đông Tây Nam Bắc. Vì người xưa thường quay mặt về phía nam để quan sát, do đó bản đồ các thiên tượng được trình bày trên Nam dưới Bắc, và những vị vua cai trị các thời đại đã quay mặt phương Nam để trị thiên hạ.
“Kinh Dịch” nói: Thánh nhân quay mặt phương Nam để lắng nghe thiên hạ, hướng về chỗ sáng mà trị vì. Ở các kiến trúc cổ của Trung Quốc trong bố cục thì chính điện thường nằm ở vị trí trung tâm. Miếu Lịch đại Đế vương có bố cục tại trung tâm là điện Sùng Thánh. Tòa nhà này vượt lên cao cách biệt với mái đầm góc bay, dùng gạch tráng men màu vàng. Chiều rộng của đại điện rộng khoảng 51m, và chiều sâu của năm gian là khoảng 27m. Nó là lễ chễ “Cửu ngũ chí tôn”. Ngôi đền cao 21m và có 60 cây cột trụ gỗ Chò. Nóc điện là các cột lớn với các dầm xà khổng lồ chống đỡ mái đền. Đại điện bên trong vẽ hoa văn xoắn, các mảng bám bên ngoài được vẽ rồng vàng cuốn ấn, đặc biệt tráng lệ.
Thần vị của Tam Hoàng Ngũ Đế cùng với các đế vương các thời được phụng thờ trong điện Cảnh Đức Sùng Thánh. Lớp chính điện này có quy cách tương đồng như của Tử Cấm Thành. Sảnh chính nằm trên một bục đài cao. Phía trước điện có một cái bục rộng, lan can đá và đường đi của vua hạm khắc hoa văn mây núi. Thần vị của các công thần danh tướng các đời được sắp xếp “văn Đông võ Tây”, được thờ ở trong các điện phối thờ bên Đông và Tây. Các điện phối thờ Đông và Tây được kiến trúc bằng các ngói men đen, mái đầm, nóc hướng cao. Hai bên điện chính có 4 ngự bi đình, có kiến trúc đẹp, lợp ngói men vàng, mái đầm, nóc hướng cao. Bên trong đình để bia chạm khắc các hình sông núi biển hồ. Các bia ngự của Ung Chính và Càn Long to cao hùng vĩ, chạm trổ tinh vi.  Trán bia được chạm khắc hình tròn chim đại bàng và rồng, từ cao nhìn xuống, oai nghiêm khác thường, so với các loại bia ngự khác trên cả nước là loại tốt nhất. Những con rùa dưới tượng đài cũng vô cùng to lớn, cổ kính và mạnh mẽ.
Ở phía Đông Nam Miếu có một số tòa nhà như nhà bếp, kho, chỗ giết mổ, giếng, và một tháp chuông. Cổng đền rất long trọng, với hai bia Hạ Mã trước cửa và một bức tranh tường đỏ khổng lồ. Trên bia Hạ Mã có dòng chữ “Quan chức, nhân dân đều xuống ngựa ở đây” khắc bằng tiếng Hán, tiếng Mông Cổ, tiếng Mãn, cho thấy sự uy nghi và tôn quý của Miếu Lịch đại Đế vương.
Hiện trạng của Miếu Lịch đại Đế vương là diện mạo của thời kỳ huy hoàng nhất của Thanh Càn Long, có bố cục rất nghiêm ngặt và tráng lệ, khí thế to lớn. Vì nó chủ yếu giữ lại cấu trúc ban đầu khi nhà Minh xây dựng, giá trị kiến ​​trúc và giá trị văn hóa là vô cùng lớn. Đây là ngôi đền hoàng gia duy nhất hiện còn ở Trung Quốc.

Trang trí nghệ thuật
Các trang trí ở Miếu Lịch đại Đế vương đã được các chuyên gia khảo sát và chia làm 3 giai đoạn:

  1. Trang trí thời Minh Gia Tĩnh khi mới xây dựng, tức năm 1530.
  2. Trang trí thời Thanh Ung Chính khi đại tu, tức năm 1729.
  3. Trang trí thời Càn Long khi sửa chữa, tức năm 1764.

Những trang trí có giá trị nhất trong Miếu Lịch đại Đế vương là những bức làm khi khởi lập, những bức này vẫn còn được bảo tồn trong Miếu tới nay, nhưng tiếc là người thường không dễ nhìn thấy. Trên trần của điện Cảnh Đức Sùng Thánh có mảng tranh trên trần, có ba gian tranh vẽ, trang trí hết sức kỹ thuật, là những bức tranh rất có giá trị của nhà Minh. Ở cửa Cảnh Đức bên sườn cao cũng có một bức tranh màu về thời kỳ Minh Gia Tĩnh khởi tạo, cũng ở trên trần nhà. Trang trí của nó khác với chính điện, và thợ có tay nghề kém tinh tế hơn trong đại điện.
Ngoài ra, tường phía Đông là nhà bếp nhà kho, cũng còn lưu được một số dấu tích trang trí từ thời khởi lập. Ở khu giết mổ có ở mặt Nam và Tây mỗi phía còn một mảnh trang trí. Các thế hệ sau này đã thực hiện các bức tranh thời nhà Thanh trên lớp phủ cũ, vì vậy họ để lại một số dấu vết.
Ngoài bức tranh trần ba gian điện Cảnh Đức Sùng Thánh còn có mẩu bức tranh bằng tấm gỗ trắng. Điều này cho thấy đó là tác phẩm gốc của thời Minh Gia Tĩnh. Sau đó, các đường gờ không được sửa chữa nhiều lần. Tại sao nhà Thanh khi đại tu sửa di tích đã không động tới bức tranh của Minh Gia Tĩnh? Chuyên gia về xây dựng cổ đại đã phân tích rằng có thể nhà Thanh muốn để lại một thông điệp cho các thế hệ tương lai.
Những bức trang trí quy mô lớn do nhà Thanh làm cũng là một lý do giải thích việc này. Nếu người sở hữu phải xây dựng lại cung điện cũ, họ không có nhiều nguồn tài lực. Do đó chỉ làm lại những trang trí ở bên dưới là đủ. Các bức tranh thời Minh được làm ban đầu trên trần nhà, và người thường không nhìn thấy chúng, vì vậy chúng sẽ không được thay thế. Có lẽ do đó đã vô tình được bảo tồn. Cũng có thể là nếu dỡ bỏ các bức phía trên thì sẽ động chạm đến các vật bên dưới, không thuận tiện để di dỡ.

Lễ hội tế tự
Miếu Lịch đại Đế vương ban đầu được xây dựng năm Minh Gia Tĩnh thứ 9 (1531), tiếp tục được sử dụng vào thời nhà Thanh, cho tới nay đã có 470 năm lịch sử. Miếu Lịch đại Đế vương là trung tâm thờ tổ tiên Phục Hy, Viêm Hoàng, là nơi duy nhất trong cả nước tập trung điện thờ Tam Hoàng Ngũ Đế, đế vương các đời và các công thần danh tướng cùng với các vị tiên hiền Trung Hoa ở trong một miếu điện thờ thần thánh. Hiện đây là di tích bảo vệ văn vật trọng điểm quốc gia, có giá trị lịch sử cao. Nó được mở cửa cho công chúng vào năm 2004 sau khi chính phủ đầu tư mạnh vào việc sửa chữa toàn diện vào năm 2000.
Việc khai trương Miếu Lịch đại Đế vương Bắc Kinh đã mang lại một sản phẩm du lịch mới trong thị trường du lịch tại đây. Do bối cảnh văn hóa và lịch sử đặc biệt, Miếu Lịch đại Đế vương đã trở thành điểm thu hút mới của các công ty lữ hành lớn trong nước. Năm 2004, Miếu Lịch đại Đế vương bắt đầu tổ chức lại các hoạt động tế tự tổ tiên người Hoa. Với sự hỗ trợ của Tổng cục Du lịch thành phố Bắc Kinh, các hoạt động nghi lễ của Miếu Lịch đại Đế vương được tổ chức hàng năm, kết hợp với tìm hiểu lịch sử của đất nước, thử nghiệm ẩm thực quốc gia và các trò vui chơi cấp quốc gia cùng với Miếu tạo ra một sản phẩm du lịch riêng biệt. Nó đã đóng một vai trò quan trọng trong việc quy tập người Hoa trong trong và ngoài nước. Nó đã trở thành một địa điểm tinh thần cho người Hoa trong và ngoài nước để tìm kiếm gốc rễ và tổ tiên. Nó trở thành điểm biểu tượng mở rộng của tuyến du lịch văn hóa và trở thành điểm quan trọng của Thế vận hội nhân văn 2008.

Lễ nhạc
Con người ngày nay khá xa lạ với hệ thống nghi lễ cổ xưa. Các nghi lễ cổ xưa đã mất từ ​​lâu. Nền tảng của lễ nhạc cổ đại là Chu Lễ. Lễ nhạc thời Chu nay khó tìm được dấu vết. Tuy nhiên, văn hóa lễ nhạc truyền thống, như máu và nước, đã thấm vào máu thịt của dân tộc Trung Hoa, và luôn ảnh hưởng đến quan niệm, tâm lý, hành vi và cảm xúc của người ngày nay.
Lễ nhạc là gì? Các học giả tin rằng: nghi thức và âm nhạc là tất cả các mô phỏng hoặc biểu hiện của vũ trụ và quy luật tự nhiên. Nghi lễ được xây dựng theo các nguyên tắc khác nhau của thế giới, luân chuyển bốn mùa, sự phát triển lẫn nhau của sáu khí và các nguyên tắc phù hợp của tất cả mọi thứ. Âm nhạc là thành phần và sự chuyển động của quy luật tự nhiên. Quy luật của sự thay đổi và mô phỏng và cảm giác của hình thức. Quà tặng và âm nhạc được tạo ra để đáp ứng nhu cầu của xã hội. Nghi lễ chủ yếu được sử dụng để phân biệt đối xử, để phân biệt các cấp bậc cao quý của từng thành viên để họ làm rõ tình trạng, nhiệm vụ và nghĩa vụ tương ứng.
Âm nhạc chủ yếu được sử dụng “cầu hòa”, điều chỉnh cảm xúc bên trong của con người và điều phối các mối quan hệ tương thân tương thích giữa người với người. Cả hai nghi thức và âm nhạc đều phải ở mức độ vừa phải. Nếu vượt qua phạm vi, nó sẽ gây hỗn loạn. Lễ và nhạc như anh chị em sinh đôi, không thể tách rời. Trong hệ thống văn hóa lễ nhạc, lễ chiếm vị trí chính, nhạc là để phối hợp. Nói chung, các nghi lễ khác nhau cần có nhạc và múa khác nhau, và không được trộn lẫn, cũng như và những người ở đẳng cấp độ khác nhau thì dùng các loại lễ nhạc mức độ khác nhau. Từ hoàng đế, chư hầu, đại phu đến các học giả, múa nhạc được sử dụng một cách nghiêm ngặt nhất định. Quy mô của ban nhạc, số lượng các nhóm nhảy, các bản nhạc diễn tấy, lời từ cho ca xướng và thậm chí các quy trình biểu diễn đều dựa trên các dịp âm nhạc khác nhau và bản sắc khác nhau của các nhạc sĩ, không được vượt khác.

Miếu không Phật
Có một câu truyền miệng phổ biến ở khu vực Bắc Kinh về Miếu Lịch đại Đế vương: “Có nước không cầu, có bia không tượng, có chuông không trống, có miếu không Phật”. Một số người thường coi miếu và Phật là một. Trên thực tế, có rất nhiều ngôi miếu không có Phật. Người xưa để tế tự các vị thần tự nhiên đã thiết lập các đàn tế, như ở Bắc Kinh Thiên Đàn, Địa Đàn, Nguyệt Đàn, Nhật Đàn, Xã tắc Đàn, v.v. Các đàn tế này thường được đặt ngoài trời. Hầu hết việc cúng tế tổ tiên xưa được thực hiện trong nhà, và những nơi thờ cúng tổ tiên được gọi là đền thờ hoặc miếu thờ.
Đàn cùng với miếu ban đầu được làm khá sơ sài. Sau này, một số nơi việc tế tự các vị thần tự nhiên được đổi lại thành miếu, ví dụ như miếu lớn để thờ Thái Sơn. Thêm vào đó, với sự du nhập của Phật giáo và sự truyền bá Đạo giáo, các công trình tôn giáo thường được gọi tên chung là miếu, chẳng hạn như nhiều ngôi chùa “miếu” Phật giáo và đền thờ Đạo giáo ở trên núi. Theo cách này, cùng một từ “miếu”, nhưng một số là các kiến trúc tôn giáo và một số vẫn được sử dụng cho việc cúng tế. Miếu Lịch đại Đế vương ở Bắc Kinh không phải là nơi tu tập của tôn giáo xét theo đối tượng thờ. Họ không phải là các vị thần hay chư Phật. Họ là tổ tiên của thời lịch sử của Trung Quốc, từ Tam Hoàng Ngũ Đế đến Hạ, Thương, Chu, Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh các bậc đế vương cùng với các công thần danh tướng.
Miếu Lịch đại Đế vương ở Bắc Kinh là một ngôi đền hoàng gia trong triều đại nhà Minh và nhà Thanh. Nó được thành lập vào thời Minh Gia Tĩnh thứ mười năm 1531 và có lịch sử hơn 470 năm. Các triều đại nhà Minh và nhà Thanh phụng sự tổ tiên Trung Hoa và các tiên hiền trong lịch sử, thực hiện một loạt nghi lễ trong ngôi đền linh thiêng và trang nghiêm này. Hoạt động nghi lễ này được tổ chức vào mùa xuân và mùa thu hàng năm theo hệ thống nghi lễ quốc gia. Hoàng đế Minh Gia Tĩnh, Hoàng đế Thanh Khang Hy, Ung Chính và Càn Long đã đích thân đến tế lễ ở Miếu Lịch đại Đế vương Bắc Kinh. Trong thời gian bình thường, hoàng đế đã chỉ định một đại thần triều đình đến tế lễ.
Do đó, Miếu Lịch đại Đế vương có một địa vị chính trị quan trọng, cũng giống Thái Miếu là nơi các vị hoàng đế nhà Minh và nhà Thanh thờ cúng tổ tiên trực tiếp của mình và Khổng Miếu là nơi thờ phụng Khổng Tử, gọi chung là ba ngôi miếu hoàng gia Minh Thanh ở Bắc Kinh. Để dùng cho việc thờ cúng ở Miếu Lịch đại Đế vương, một ngôi miếu có địa vị lịch sử rất cao, kiến trúc của nó được làm theo những tiêu chuẩn rất cao và phong cách hoàng gia sang trọng, khí phái. Ngày nay, Miếu Lịch đại Đế vương đã chính thức mở cửa, đã được sửa chữa và khôi phục một phần theo đúng hình dáng ban đầu và mô hình của thời Càn Long của nhà Thanh. Kiến trúc này là một “tượng đài của văn hóa nhân loại”, và kiến trúc sư nổi tiếng Lương Tư Thành gọi kiến trúc cổ là “cột mốc của lịch sử”. Miếu Lịch đại Đế vương ở Bắc Kinh là một công trình kiến trúc kinh điển “đất này không danh tiếng mà thắng có danh tiếng”. Nó nói với mọi người về thông tin lịch sử và văn hóa phong phú.

Có một nền văn hóa Việt Nam (V)

Bài của nhà văn Hoài Thanh do Hội Văn hóa cứu quốc Việt Nam xuất bản, Hà Nội, 1946.

V

Trở lên chúng ta đã chứng minh rằng dân tộc Việt Nam vốn có một nền văn hóa và một nền văn hóa ấy rất có giá trị, chúng ta đã đánh liều nêu ra một vài tính chất căn bản của văn hóa Việt Nam từ trước đến nay. Sau cùng chúng ta đã xét lại vấn đề văn hóa Việt Nam sau này, và tuy đứng về một quan điểm riêng chúng ta cũng đi đến một kết luận như hai ông Nguyễn Đình Thi và Nguyễn Hữu Đang trong quyển Một nền văn hóa mới.
Chúng ta đã nhìn về quá khứ và cũng đã nhìn tới tương lai. Nhìn về quá khứ, chúng ta đã nắm được một niềm tin chắc chắn. Nhìn tới tương lai, chúng ta đã thấy rõ đường đi. Vậy chúng ta có thể vững lòng đi tới. Một ngày mai xán lạn đương chờ đợi chúng ta./.

Có một nền văn hóa Việt Nam (IV)

Bài của nhà văn Hoài Thanh do Hội Văn hóa cứu quốc Việt Nam xuất bản, Hà Nội, 1946.

IV

Song như thế chưa đủ. Trong một bữa tiếp kiến các đại biểu văn hóa, Hồ Chủ Tịch đã thừa nhận văn hóa Việt Nam sau này cần phải có tính chất dân tộc nữa, và Chủ tịch có nói thêm rằng:
“Gốc của văn hóa mới, là dân tộc: nếu dân tộc hóa mà phát triển đến cực điểm thì tức là tới chỗ thế giới hóa đó; vì, lúc bấy giờ văn hóa thế giới sẽ phải chú ý đến văn hóa của mình, phải làm bạn với văn hóa của mình, và văn hóa của mình sẽ chiếm được một địa vị ngang với các nền văn hóa thế giới. Mình có thể bắt chước những cái hay của bất kỳ nước nào ở Âu Mỹ, nhưng điều cốt yếu là sáng tác. Mình đã hưởng cái hay của người thì mình cũng phải có cái hay cho người ta hưởng. Mình đừng chịu vay mà không trả”.
Bằng vào những lời ấy, ta thấy rằng đối với Hồ Chủ tịch, tính chất dân tộc và tính chất quốc tế là một, vì cả hai đều do sáng tác mà ra, và Chủ tịch nhấn đi nhấn lại cào cái ý cần phải sáng tác, một hai khuyên ta phải sáng tác.
Như vậy rất đúng. Trong khi hoạt động về văn hóa ta không cần băn khoăn tự hỏi công trình văn hóa ta đương xây có tính chất dân tộc hay không,. Nếu công trình kia quả thực xuất từ tâm trí ta, nếu nó là một công trình sáng tác, tự nhiên nó sẽ mang tất cả bản sắc của giống nòi và của ta. Một bà mẹ có cần gì phải tâm tâm niệm niệm rằng sẽ đẻ một đứa con cho giống mình. Nếu đứa con ấy do chính bà sáng tác ra, không phải con xin hàng xóm, ắt không nhiều thì ít thế nào nó cũng giống cái cốt cách, cái tâm tính của bà. Và cho dầu ngày thường bà chỉ ăn bánh mì,, pho mát, đứa con bà vẫn thế.
Nói một cách khác, muốn dân tộc hóa nền văn hóa Việt Nam, tức là đặt ra vấn đề sáng tác. Trước là sáng tác những phương sách cấp thiết để giải quyết mọi vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội trong phạm vi đời sống Việt Nam. Nói sáng tác, chữ ấy hoặc có kẻ cho là lớn quá. Nhưng ít ra thì cũng phải cải tác. Bởi vì những điều kiện của đời sống Việt Nam, giống nòi, cảnh thổ, khí hậu, di sản tinh thần, chế độ kinh tế, tình hình chính trị v.v… đã là những điều kiện riêng thì những vấn đề Việt Nam cũng phải có những cách giải quyết riêng, không giống hẳn một phương sách nào đã được dùng trên thế giới.
Thứ nữa là sáng tác những công trình thuộc về tình cảm. Về phương diện này xưa nay, dân tộc ta vẫn nhiều khả năng. Một ngày kia thế giới hiểu ta hơn và ta cũng hiểu ta hơn, thì chắc chắn những công trình sáng tác của ta về phương diện này sẽ là một sự cống hiến rất quý vào kho tàng chung của nhân loại. Giờ đây súng đạn ta ít, tha hồ cho thiên hạ nói xấu ta, chính ta cũng nói xấu ta. Nhưng trong thế giới ngày mai, một khi súng đạn không còn là thước đo giá trị con người, sứ mệnh chúng ta sẽ vô cùng quan trọng. Chúng ta sẽ đưa đến, trong thế giới ngày mai, không phải một tôn giáo hay một triết lý mà dần hau đến đâu cũng chẳng mấy ai theo; chúng ta sẽ đưa đến, bàng bạc và linh động trong những nét, những lời, cả trong khí huyết nữa, một cách sống, một nhịp sống, hơn nữa, một đạo sống riêng để thay cho cái hỗn loạn, cái điên rồ vẫn ngự trị trong nền văn minh cũ đang phá sản. Đến lúc đó, người ta mới thấy dân tộc Việt Nam là cần cho nhân loại. Nó mà mất thì, sẽ tiêu diệt với nó một giá trị tinh thần vào bậc nhất. Tôi biết vô số người đương bảo tôn điên. Nhưng mặc. Về phương diện này không thể không tin ở sức sáng tạo lạ lùng của nòi giống.
Khó khăn hơn cả vẫn là sáng tác về học thuật tư tưởng. Ta phải thành thực nhận rằng xưa nay về học thuật tư tưởng ta rất kém. Nguyên do, như đã nói trên kia, là vì ta kém óc trừu tượng và khái quát. Không biết từ nay về sau ta có thể luyện thêm được cơ năng ấy không. Nhưng có một điều ta nghiệm thấy là ngôn ngữ phương Tây đều có tinh thần trừu tượng và khái quát đến một trình độ rất cao. Trừu tượng và khái quát có khi cơ hồ hóa ra quái dị. Người Pháp nói: “J’aime ce livre, j’aime vos paysants, j’aime ma patric, j’aime ma mère, j’aime mon chien. Bao nhiêu mối tình khác nhau, không nên lẫn lộn với nhau: yêu, thương, thích, mến, ưa mà cũng biểu diễn bằng một chữ! Thực nghèo nàn và khô khán quá lắm! Ai có ngờ chính chữ aimer mà cũng vô tình đến thế. Xét cho cùng chỉ vì trừu tượng và khái quát. Cái nguy của văn hóa phương Tây là ở đó; nhưng phương Tây mạnh cũng nhờ đó. Ta cần phải nắm cho được sức mạnh ấy. Cho nên, mặc dầu nước nhà độc lập, thanh niên trí thức Việt Nam vẫn cần phải biết cho đến nơi đến chốn một sinh ngữ phương Tây, không những để giao thiệp với người, để thâu thái kiến thức của người, mà còn để luyện thêm óc trừu tượng và khái quát cần cho mọi sự phát minh về khoa học, về triết học. Tôi không biết chắc ta sẽ thành công hay thất bại. Tôi lại nghĩ rằng thành công cũng có thể có một hai điều nguy hiểm về sau. Nhất là nếu vì lòng tự ái hẹp hòi, ta để cho những công trình sáng tác về tư tưởng ràng buộc ta, vương gót ta trên đường tiến hóa. Song những nhu yếu của thời đại, của dân tộc thôi thúc ta. Cả triều lưu của thế giới lôi cuốn ta. Dầu sao ta cũng phải cố gắng.

***

Vấn đề dân tộc hóa đặt ra vấn đề sáng tác. Mà một điều kiện cần để sáng tác là đại chúng. Cho nên văn hóa Việt Nam sau này phải được đại chúng hóa. Đại chúng hóa không những có lợi cho dân chúng mà lại có lợi cho văn hóa. Ai cũng phải nhận rằng sáng tác không phải sự nghiệp riêng của một người. Đó là sự nghiệp chung của đoàn thể ký thác vào một người, người ấy cố nhiên ohair mang trong mình tất cả tâm tình hoặc tất cả trí năng của đoàn thể. Một ít nhà học giả sống một cuộc sống lẻ loi không thể có sự nghiệp gì về văn hóa. Hãy xem trong lịch sử ta biết bao nhiêu thế hệ nhà nho kế tiếp nhau mài miệt trong sách vở của thánh hiền mà nào có sáng tác được gì đâu. Ấy chỉ vì họ thiếu sự nâng đỡ, sự thôi thúc của quảng đại quần chúng. Đến nỗi ngay chuyện văn chương là chuyện suốt đời của họ mà họ cũng chẳng lưu lại được gì đáng gọi là văn chương. Trong khi ấy, người bình dân Việt Nam, không học và cũng không dụng ý làm văn, đã sáng tạo nên những công trình văn chương bất hủ. Và các nhà nho như Đoàn Thị Điểm, như Nguyễn Du, như Nguyễn Công Trứ sở dĩ sự nghiệp còn lưu lại đến ngày nay là cũng bởi đã biết thoát ly ra khỏi sách vở để sống cuộc sống thực bên ngoài. Xem thế đủ rõ những khả năng dị thường của đại chúng về văn hóa. Hiện giờ hơn chín mười phần trăm người trong nước hoàn toàn sống trong u tối. Biết bao tài năng bị hy sinh một cách vô lý và tàn nhẫn. Ngày mai đây, nếu bấy nhiêu con người đều biết đọc, biết viết, đều có những kiến thức phổ thông tì cái quang cảnh cả một dân tộc cùng đứng dậy vươn mình lên ánh sáng chẳng những sẽ khiến ai nấy đều hởi lòng hởi dạ mà đồng thời sẽ thêm rất nhiều sinh khí cho văn hóa Việt Nam, sẽ phá tan cái không khí lạnh lùng giờ đây vẫn bao trùm cõi học.
Văn hóa phải khơi nguồn từ đại chúng: đó là một điều nhất định. Một khi văn hóa đi xa đại chúng ắt sẽ mất dần sức sáng tạo, sẽ khô héo dần đi. Văn hóa cũng như một cái cây, không thể sống lơ lửng giữa trời. Muốn cho nó đâm chồi nảy lộc, phải cho gốc rễ nó ăn sâu vào đất, nước. Các nhà nho ngày xưa đã không hiểu như thế, các nhà văn hóa sau này chớ rơi vào cái lầm của người trước. Nếu họ không phải từ trong đại chúng bước ra thì họ cũng phải đi sát với đại chúng, hơn nữa, phải đại chúng hóa mới hòng gây được sự nghiệp đáng ghi. Mà muốn đại chúng hóa trong tình thế bây giờ thì chỉ có một con đường: con đường cứu nước. Bởi vì giờ đây đại chúng đương lo giết giặc dựng nước để giành quyền sống. Muốn đại chúng hóa ắt phải lấy quyền sống của đại chúng làm quyền sống của mình, phải tranh đấu trong hàng ngũ đại chúng, phải hòa với đại chúng làm một. Cứu nước, đồng thời văn hóa sẽ cứu mình, vì sẽ được hưởng thụ mức sống mạnh mẽ và dồi dào của đại chúng.
Nói tóm lại văn hóa Việt Nam sau này cần phải khoa học hóa vì ta cần phải học những cái hay của người, nhưng chỉ học không, không đủ, còn phải dân tộc hóa nghĩa là phải sáng tác, mà một điều kiện thiết yếu để sáng tác là đại chúng hóa.

 

 

Có một nền văn hóa Việt Nam (III)

Bài của nhà văn Hoài Thanh do Hội Văn hóa cứu quốc Việt Nam xuất bản, Hà Nội, 1946.

III

Đó, đại khái một vài tính chất căn bản của văn hóa Việt Nam từ xưa đến nay. Còn từ nay về sau? Văn hóa Việt Nam rồi đây có còn giữ những tính chất ấy nữa không? Điều ấy ai mà biết trước. Duy có điều chắc chắn là chúng ta không nên bắt buộc văn hóa Việt Nam sau này phải giữ mãi những tính chất ngày trước. Chúng ta còn sống ắt chúng ta còn biến đi. Bắt ngày mai phải giống hệt hôm qua là một chuyên điên rồ, một chuyện tối vô lý. Muốn sống mà lại muốn giữ cho bằng được những gì Việt nam trong thời trước là tự mâu thuẫn với mình. Gọi bằng Việt Nam là một sự thực luôn luôn thay đổi với cuộc sống không ngừng. Làm sao có thể níu lại cuộc sống không ngừng? Cái điều hôm nay ta gọi là tính chất Việt Nam có phải từ bao giờ vẫn là tính chất Việt Nam đâu. Khi ta cho hai câu:
“Thấy bạn mà chẳng thấy chàng,
Bâng khuâng như mất lạng vàng trên tay”.

có tính chất Việt Nam hơn hai câu của Chiêu Lỳ:
“Bắc yến, Nam hồng thư mấy bức,
Đông đào, Tây liễu khách đôi nơi”.
là ta nhìn theo con mắt bây giờ. Nếu ta có thể nhìn theo con mắt người xưa, trước hồi Bắc thuộc, khi chưa có ca dao lục bát và cũng chưa có thơ Việt luật Đường, thì cả bốn câu ấy chẳng câu nào có tính chất Việt Nam. Cái điều gọi bằng tính chất Việt Nam trong ca dao là một sự sáng tạo sau này của người Việt. Đã thế có cần gì phải khư khư thủ cựu.
Huống chi bản tính người Việt Nam xưa nay lại không ưa gì chuyện bế quan tỏa cảng. Cha ông ta có hồi thi hành chính sách ấy cũng chỉ là sự cùng bất đắc dĩ mà thôi. Ta vẫn thường mở rộng cửa để đón gió bốn phương. Nho, Phật, Lão ta không từ chối đã đành trên con đường Nam tiến, ta còn sẵn sàng dung nạp mọi tín ngưỡng của dân thổ trước. Sau khi ở Quảng Nam, ở Bình Định, người Chăm đành bỏ tháp Chàm không hương khói, chúng ta đã thay họ trong công việc phụng thờ. Ngay các giáo sĩ phương Tây lúc mới đến xứ ta cũng đều được tự do truyền giáo. Các nhà sư của ta hồi bấy giờ không hề bài xích họ. Chính họ nói với ta thế, trong các tập bút ký còn lưu lại ngày nay. Xem thế thì muốn cho văn hóa sau này có tính chất Việt Nam mà lại bài xích, những gì không phải Việt Nam, cũng là tự mình mâu thuẫn với mình nữa.

***

Dẫu sao ta tìm hiểu hôm qua không phải để ràng buộc ta vào hôm qua, để nô lệ hôm qua mà cốt để sửa soạn ngày mai, để tìm những bài học có thể hướng dẫn ta trong ngày mai. Vấn đề tương lai của văn hóa Việt Nam là một vấn đề tối quan trọng, ta không thể bỏ qua.
Có nhiều người nghĩ rằng thời đại này là thời đại lạ lùng nhất trong lịch sử Việt Nam. Văn minh phương Tây đã đến với ta một cách đột ngột và gây nên ở xứ ta nhiều vấn đề rắc rối, khác hẳn những vấn đề cha ông ta từng gặp và từng giải quyết trên bước đường tiến hóa của giống nòi. Nhưng nghĩ kỹ, thời đại này ta thấy lạ lùng chỉ vì một lý do rất giản dị là có ta trong đó. Ta hãy quên mình trong khoảng khắc, hay trong khoảnh khắc, thử đặt mình lên trên thời đại để nhìn các thời đại kế tiếp nhau trong lịch sử nước nhà với một thái độ hoàn toàn khách quan, ta sẽ thấy thời đại ta đương sống đây vẫn có chỗ giống nhiều thời đại đã qua và cha ông ta ngày xưa cũng đã từng giải quyết những vấn đề tương tự với các vấn đề hiện đương khiến ta băn khoăn suy nghĩ. Chẳng hạn, lần đầu tiên người Hán truyền cho ta cái thuật làm đồ sắt cùng với học thuyết Khổng Mạnh, chắc những sự biến thiên do đó gây nên trong xã hội Việt Nam cũng sâu sắc, cũng mạnh mẽ chẳng kém gì những sự biến thiên ta chứng kiến hôm nay và sự hoang mang của ông cha ta cũng chẳng khác gì sự hoang mang của ta trước tàu bay, tàu lặn và khoa học, triết học phương Tây. Nhưng cha ông ta cũng chỉ hoang mang trong một thời hạn và chẳng mấy chốc đã biết thích nghi cùng hoàn cảnh mới.
Vậy ông cha ta đã xử trí như thế nào? Cha ông ta đã không e dè, không ngần ngại đón tất cả, nhận tất cả nền văn minh mới mẻ từ phương Bắc truyền sang, từ những kỹ thuật cần cho đời sống vật chất đến những học thuật cần cho sự tổ chức đời sống chính trị, xã hội và tinh thần. Tuy thế, sau bao nhiêu thế kỷ, người Việt Nam vẫn không bị đồng hóa, vẫn giữ được bản sắc riêng. Ấy là vì, mặc dầu không có dụng ý rõ ràng, chung quy ta chỉ mượn tư tưởng của người, còn những gì sâu thẳm trong lòng ta đại khái vẫn của ta. Xem thế đủ biết văn hóa Việt Nam vốn xây dựng trên những căn bản tinh thần tiềm tàng mà vô cùng kiên cố. Nếu không, làm sao chịu đựng được một sự công phá trường kỳ như thế, Cha ông ta đã tiếp cái cành văn hóa Trung Quốc vào cái gốc văn hóa Việt Nam. Thiết tưởng giờ đây chúng ta vẫn có thể giải quyết vấn đề văn hóa một cách tương tự như vậy. Chúng ta cũng chẳng cần phải dè dặt gì. Chúng ta hãy đón những cái hay, tất cả những cái hau của người về kỹ thuật cũng như về học thuật có thể giúp ta cải tạo đời sống của ta. Chúng ta hãy mạnh bạo đi tới. Chúng ta hãy khoa học hóa nền văn hóa Việt Nam. Và ta chẳng lo gì mất gốc, vì trong lòng ta vẫn có những căn bản tinh thần của nòi giống cũng như trong thân thể ta vẫn trụ lưu dòng khí huyết của cha ông.
Về phương diện này, phong trào thơ mới khởi lên từ 1932 là một cuộc thí nghiệm rất đáng chú ý. Lúc đầu các nhà thơ mới có cái dụng ý theo mới một cách hoàn toàn, mới về ý, về lời, cả về điệu nữa. Người ta muốn phá vỡ những khuôn khổ xưa, người ta táo gan làm những câu thơ mười hai chân như thơ Pháp. Nhưng hồn thiêng của cha ông còn nương trong tiếng nói đã ngăn ngừa không cho con cháu làm loạn. Bấy nhiêu sự ngông cuồng đều mệnh yểu. Chắc mấy chốc người ta lại trở về với lục bát, với song thất lục bát, hai thể thơ Việt, với thất ngôn, một thể thơ đã nhập tịch từ lâu, với thơ tám chữ, một biến thể của điệu ca trù ngày trước. Chung quy gọi bằng thơ mới, hầu hết là những bài tứ mới điệu xưa. Mà chính điệu thơ, mới là điều quan hệ. Nó phát biểu phần sâu sắc nhất trong tâm khảm người ta.
Người ta thường nói nền văn hóa. Thiết tưởng văn hóa Việt Nam rất hợp với nghĩa chữ nền. Ở đây quả thực chỉ có một cái nền, không có lâu đài văn hóa nào hết. Song chính nhờ thế mà trên nền kia, ta có thể tùy tiện xây dựng những lâu đài hợp với nhu cầu của thời thế, của dân tộc, và một khi những lâu đài ấy không hợp nữa, ta có thể dễ dàng san phẳng đi để dựng lên những lâu đài khác. Đời sống tinh thần của ta rất dồi dào, ta mang trong mình rất nhiều khả năng về văn hóa, nhưng trên đường học thuật tư tưởng, ta đi ra với hai bàn tay trắng, nên không có gì vướng víu, ta có thể tha hồ mượn những cái hay của người làm của ta. Người phương Tây rất ngạc nhiên thấy ta hôm qua chỉ biết có Tứ Thư, Ngũ Kinh mà hôm nay bỗng tin theo những thuyết rất mới mẻ, rất cấp tiến của khoa học, triết học hiện kim. Họ không biết rằng học thuật tư tưởng không phải là những căn bản tinh thần của dân tộc ta. Tư tưởng nào có lợi cho đời sống của dân tộc thì ta theo, nhưng một khi tình thế đổi thay, tư tưởng ấy trở nên có hại cho đời sống chung, ta sẽ trút bỏ dễ dàng không tiếc hối. Vậy cứ tình thế bây giờ, mặc dầu vì chế độ thực dân ác độc, trong tám mươi năm nay, ta chỉ thấy khổ và khoa học mà chẳng hưởng thụ dược bao nhiêu, ta cũng phải đón lấy khoa học phương Tây. Không những ta phải gắng thâu thái mọi kiến thức khoa học mà ta còn phải tập lấy phương pháp khoa học để tổ chức đời sống vật chất và tinh thần của dân tộc ta. Và chắc chắn thế nào ta cũng sẽ thành công bởi vì đại khái ta chỉ làm lại cái công việc cha ông ta đã làm rất nhiều lần trong lịch sử, trải qua các thời đại đồ đá cũ, đồ đá mới, đồ đồng, đồ sắt v.v…

Có một nền văn hóa Việt Nam (II)

Bài của nhà văn Hoài Thanh do Hội Văn hóa cứu quốc Việt Nam xuất bản, Hà Nội, 1946.

II

Tuy vậy, mỗi trạng thái văn hóa, cũng như một chiếc lá trên cành, vẫn mang trong mình những tính chất chung cho toàn thể. Cho nên nếu ta nghiên cứu kỹ càng một vài trạng thái, chẳng hạn nếu ta nghiên cứu tiếng Việt và văn chương tiếng Việt – ít hơn nữa – một vài quy tắc của tiếng Việt và một vài tác phẩm có giá trị bằng tiềng Việt, thì ta cũng có thể hiểu ít nhiều về bản sắc Việt Nam.
Trước hết là TIẾNG VIỆT. Ta hãy nghĩ rằng thứ tiếng ta nói với nhau hôm nay, bao nhiêu lớp người trước ta đã từng nói. Biết bao tình ý đã gửi vào trong đó. Tiếng Việt chính là người bạn tâm tình đã chia sẻ vui buồn với giống nòi ta trên con đường thời gian vòi vọi. Giờ đây nó vẫn giữ lại cho ta hồn thiêng của cha ông ngày trước. Nếu ta biết hỏi chuyện, tất nó sẽ nói với ta nhiều điều hay.
Có điều tiếng Việt đã đi qua nhiều thời, nến nó không mang tâm lý riêng của một thời nào và bởi thế nó chỉ có thể cho ta một vài ý niệm căn bản nhưng trừu tượng về văn hóa Việt Nam. Muốn có hình ảnh rõ ràng hơn, cần phải đi sâu vào một vài tác phẩm văn chương vừa mang dấu tích một thời vừa có tính cách vĩnh viễn. Trong những tác phẩm ấy bản sắc Việt Nam sẽ thể hiện ra một cách phức tạp hơn, nhưng cũng cụ thể hơn, dễ nhận hơn.
Học tiếng Việt và văn chương tiếng Việt mà nhằm vào mục đích ấy thì sẽ có ích hơn, có thú vị hơn, ít ra thì cũng sẽ khỏi phải quanh quẩn trong ba cái điển tích khó khăn và tránh được cái nạn tầm chương trích cú nó đã chôn sống biết bao thế hệ thư sinh.
Ví dụ người ta sẽ để ý rằng tiếng Việt có hàng vài chục chữ để dịch nghĩa chữ porter trong tiếng Pháp: xách, ôm, quây, khiêng, mang v.v… và hàng mấy chục chữ để dịch chữ vous trong tiếng Pháp: anh, ông, bà, em, chú, cậu, bác v.v… Tiếng Việt rất giàu nhưng cũng rất nghèo vì trong bấy nhiêu chữ không có một chữ nào địch đúng nghĩa chữ porter hay chữ vous vì không có một chữ nào trừu tượng và khái quát như chữ porter và chữ vous. Tiếng Việt tả rất đúng tình cảnh riêng trong từng trường hợp mà không ghi được chỗ đồng nhất trong nhiều trường hợp khác nha. Do đó người ta sẽ thấy rõ một vài điều sở trường và sở đoản trong tinh thần ta, tức là trong văn hóa ta.
Một ví dụ nữa: người ta sẽ để ý đến quan niệm cá nhân trong tiếng Việt. Người ta sẽ thấy ở đây quan niệm cá nhân không có giới hạn hẹp hòi và rõ rệt như trong tiếng nói phương Tây. Người này và người nọ rất dễ dàng hòa lẫn với nhau. Cho nên mới có những câu như câu:
Ai về Đồng Tỉnh, Huê Cầu
Để thương, để nhớ, để sầu cho ai;
Trong đó một chữ mà chỉ hai người: chữ ai thứ nhất chỉ người đi, chữ ai thứ nhì chỉ người ở;
như câu:
Đường mây cười tớ ham rong ruổi
Trường liễu thương ai chịu lạnh lùng;

trong đó có tiếng cười mà không thấy người cười, có tình thương mà không thấy người thương;
và như câu:
Ơn nước nợ trai đành nỗi bận
Cha già nhà khó cậy nhau cùng.
Trong đó cả người nói lẫn người nghe đều hòa làm một trong một chữ nhau.
Người ta cũng sẽ để ý đến nhịp điệu riêng của câu thơ Việt. Người ta sẽ thấy câu thơ Việt ưa nhịp chẵn hơn nhịp lẻ. Không những ưa nhịp chẵn trong những bài vè hai, vè bốn hay lục bát, điều ấy đã hiển nhiên. Mà còn ưa nhịp chẵn trong những câu số chữ lẻ như trong câu hát giặm và câu song thất. Một câu hát giặm năm chữ, một câu ngũ ngôn cũng năm chữ.
Hát giặm:
Em con nhà nông nghệ,
Việc khuya sớm cày bừa.
Khi đi sớm về trưa,
Năng buổi trưa phải chịu.
Mưa buổi chiều phải chịu.
Ngũ ngôn:
Lởm chởm gừng vài khóm,
Lơ thơ tỏi mấy hàng,

Vẻ chi là cảnh mọn.
Mà cũng đến tang thương.
Trông bên ngoài thì tưởng như giống nhau, nhưng cứ đọc lên sẽ thấy khác nhau một trời, một vực. Ấy chỉ vì câu hát giặm để nhịp chẵn về sau, còn câu ngũ ngôn lại kết thúc bằng nhịp lẻ. Một bên là 1+2+2, một bên là 2+2+1.
Nếu ta so sánh câu thất ngôn và câu song thất ta cũng thấy như vậy:
Tầm Dương giang đầu dạ tống khách.
Câu thơ này của Bạch Cư Dị đã được dịch ra tiếng Việt bằng câu:
Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách.
Hai câu cùng một ý và cũng bảy chữ như nhau. Ấy thế mà mỗi câu một khác. Một bên là 2+2+2+1, một bên là 1+2+2+2. Hẳn cốt cách Việt Nam trong tâm tình Phan Huy Vịnh, người dịch thơ, phải vững vàng lắm mới có thể cùng một ý và cùng một câu bảy chữ mà lại đi theo một nhịp riêng. Câu thơ Hán kết thúc bằng nhịp lẻ có vẻ lơ lửng, chưa dứt; cái thể của nó còn muốn đi xa. Câu thơ Việt kết thúc bằng nhịp chẵn hình như đã tìm được nơi yên nghỉ. Câu thơ đọc hết, tâm trí người ta không còn thắc mắc, băn khoăn gì nữa, người ta thấy bình tĩnh, yên ổn vô cùng.
Ấy đại khái học tiếng Việt và văn chương tiếng Việt có thể giúp ta hiểu ta, hiểu bản tính văn hóa ta là thế! Sau cùng xin dẫn thêm ví dụ này nữa. Đọc mấy câu đầu trong bản Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm, người ta sẽ nhận thấy cái cảnh chiến tranh dựng lên đột ngột và hung bạo và trong câu thơ như còn quằn quại, còn dằn vặt một mối đau thương.
Thuở trời đất nổi cơn gió bụi
Khách má hồng nhiều nỗi truân chiên.
Người ta cũng sẽ nhận thấy tiếng kêu Trời tức tối, thống thiết trong hai câu:
Xanh kia thăm thẳm từng trên!
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này?

Thực khác xa lời thơ bay bướm và bát ngát trong nguyên văn chữ Hán:
Thiên địa phong trần!
Hồng nhan đa truân.

Du du bỉ thương hề!
Thùy tạo nhân?
Cả Ông Trời trong nguyên văn cũng có vẻ hiền lành như tiếng kêu Trời rất nhẹ nhàng của người chinh phụ: Thùy tạo nhân? Nhận xét như thế người ta sẽ thấy rõ phần sáng tác của người dịch. Người ta sẽ hiểu vì sao một bản thơ dịch lại có thể xem là một áng thơ kiệt tác, một điều rất ít thấy trong văn chương nước ngoài.
Nhưng nếu cứ tìm ví dụ trong sự nghiên cứu một vài trạng thái văn hóa, cứ đi vào chi tiết thì không thể nào nói hết trong khuôn khổ bài tiểu luận này. Ta đành nhìn vào đại thể vậy. Nhìn vào đại thể thì mặc dầu văn hóa Việt Nam đã nhiều lần biến đi cùng với các phương diện khác trong đời sống chung, nhưng hình như dưới cái nhất thời vẫn có cái gì vĩnh viễn – nghĩa là tương đối vĩnh viễn. Bên cạnh những tính chất riêng của từng thời, vẫn có một vài tính chất chung cho nhiều thời.
Ai cũng biết trong các công trình văn hóa có một phần thuộc về tư tưởng, một phần thuộc tình cảm. Phần tư tưởng là phần rõ ràng, là phần dễ nhận thấy hơn cả. Không ai có thể không nhận rằng Trung Hoa có một nền văn hóa phong phú, vì bao nhiêu học thuyết đã nảy nở trên đất nước Trung Hoa. Cũng không ai có thể không nhìn nhận cái phong phú của nền văn hóa phương Tây vì ở phương Tây đã sản xuất ra biết bao công trình khoa học, triết học, nghĩa là những công trình thuộc về tư tưởng. Nhằm vào phương diện ấy mà xét, thì quả thực văn hóa Việt Nam không có gì. Cách đây chừng mười lăm năm có một cuộc biện luận giữa các nhà học giả xứ ta về vấn đề quốc học. Người bảo: ta vốn có một nền quốc học, người bảo không. Mặc dầu có xúc phạm đến lòng tự ái của ta, ta cũng phải nhận rằng những người sau này nói phải. ta khồng có một nền quốc học, nếu quốc học là học thuật riêng của nước ta. Trải mấy ngàn năm lịch sử ta cơ hồ không có sáng tác gì về học thuật. Ấy cũng vì ta kém óc trừu tượng và khái quát, điều kiện căn bản để phát minh về tư tưởng. Một lần khác, có dịp, sẽ xin giải thích kỹ càng hơn về vấn đề này. Nhưng không có học thuật riêng không phải là không có gì. Văn hóa không chỉ gồm những công trình thuộc về tư tưởng. Hơn nữa tư tưởng tuy là phần rõ ràng nhất, nhưng đâu có phải là phần sâu sắc nhất, quan trọng nhất trong tâm trí người ta. Trong dòng tư duy, đó chỉ là những làn sóng lởn vởn trên mặt. Bên dưới tư tưởng, còn có tình cảm và bên dưới tình cảm và tư tưởng, còn có gì nữa ít khi nhận thấy mà cũng ít khi cảm thấy. Ấy là những nhịp điệu riêng của một người hay chung cho một nòi giống. Phần sâu sắc ấy trong lòng ta đại khái vẫn của ta, tính cách ngoại lai rất ít. Đặc sắc của văn hóa Việt Nam là ở đó, chứ không ở học thuật mà xưa nay ta vẫn quen vay mượn của người.
Điều cốt yếu đối với ta thực không phải là tư tưởng. Điều cốt yếu đối với ta là tình, hơn nữa, là điệu. Hãy xem tục ngữ ta hầy hết là những câu có vần, có điệuk, khác hẳn với tục ngữ Pháp, với tục ngữ Tàu. Trong một câu tục ngữ như câu được làm vua, thua làm giặc, chữ thua đối thanh với chữ được, chữ giặc đối thanh với chữ vua, chữ vua lại vần với chữ thua. Thanh âm hưởng ứng với nhau rất là mật thiết, nhịp điệu rất đều đặn, rất rõ ràng. Có thanh âm ấy, nhịp điệu ấy mới lưu truyền được đến đời sau cái ý “gọi rằng vua, gọi rằng giặc chẳng qua chỉ là chuyện mạnh yếu, chuyện được thua”, mặc dầu cái ý kiến rất già dặn, rất táo bạo, rất hay. Nó vừa thiết thực, vừa sâu sắc, có thể nói nó đã lật đổ cái thuyết “thay trời trị nước” mà bọn học giả Đông có, Tây có, đã nhai đi nhai lại trong mấy ngàn năm. Một cái ý kiến đặc sắc và có giá trị như thế mà cũng phải nương vào thanh âm, vào nhịp điệu mới lưu truyền được đến đời sau, điều ấy đủ chứng rằng người Việt chúng ta sống trong nhịp điệu, trong thanh âm nhiều hơn trong tư tưởng. Tâm lý ấy có giống tâm lý trẻ con. Trẻ con thường vẫn ca hát luôn miệng mà chẳng mấy khi quan tâm đến ý nghĩa lời ca. Song chúng ta chớ lấy thế làm thẹn, chúng ta chớ nghĩ rằng như thế nghĩa là dân tộc ta còn ấu trĩ, còn dã man, còn mọi rợ, không hơn gì những dân tộc mọi rợ ở Phi châu. Chúng ta còn trẻ, tức là chúng ta còn nhiều sinh lực, chúng ta còn có thể đi xa. Huống chi trẻ mà không phải sơ sinh. Chúng ta mang trong mình hơn hai ngàn năm lịch sử. Biết bao dân tộc tuổi chưa bằng ta mà đâu còn trẻ được như ta. Ta trẻ, tức là ta có thuật trường sinh vậy.
Vậy văn hóa Việt Nam quý ở phần tinh cảm hơn ở phần tư tưởng, ở phần tiềm thức hơn ở phần hữu thức. Nhưng chính vì thế mà văn hóa Việt Nam rất khó hiểu đối với học giả phương Tây. Tình cảm cùng với nhịp điệu vẫn tiềm tàng ở những nơi sâu thẳm trong lòng ta không phải là điều có thể phân tích giảng giải một cách dễ dàng. Muốn hiểu, cần phải sẵn mối đồng tình, cần phải là người đồng điệu. Cùng đồng thị là người Việt Nam và cùng chung sống trong một thời đại mà hai phái thơ cũ, thơ mới còn chưa hiểu được nhau. Cho nên người phương Tây khó mà hiểu được những công trình phát biểu cái phần sâu sắc trong lòng người Việt, ví dụ như những công trình nghệ thuật, văn chương.

***

Văn hóa Việt Nam lại còn đặc tính này nữa cũng khiến nó khó hiểu đối với học giả phương Tây. Nó không thiên về lượng. Ta có thể tưởng tượng cái vẻ ngạc nhiên và khinh bỉ của người phương Tây khi ta bảo họ rằng văn hóa Việt Nam rất có giá trị và giá trị chính của văn hóa Việt Nam là ở nghệ thuật văn chương. Họ sẽ hỏi ta: “Thế, sao văn chương các anh không hề có cái phong phú của văn chương Pháp mà về nghệ thuật các anh cũng chẳng có một công trình nào đồ sộ như Đế Thiên, Đế Thích của giống người Cờ Me”. Quả có thế, cha ông ta không có những thi phẩm mà nội một chương cũng đã dài ngót mười một ngàn câu như thi phẩm của Lamartine. Cha ông ta cũng không hề có công trình kiến trúc nào có thể gọi là đồ sộ. Nếu muốn nhiều, muốn to thì các công trình văn hóa của ta quả không có gì nhiều và to. Nhưng sao lại cứ muốn nhiều, muốn to? Bỏ được cái tính chuộng nhiều, chuộng to nó rất vô lý trong câu chuyện nghệ thuật, văn chương, người ta sẽ thấy một câu ca dao trên sáu dưới tám có thể quý hơn hàng trăm pho sách nặng nề và một vài đường nét đơn sơ có thể quý hơn cả một lâu đài đồ sộ.
Vả chăng, khi người ta chỉ liếc mắt nhìn qua một cách hờ hững, khi người ta không từng sống triền miên trong đó thì tất cả quá khứ văn hóa Việt Nam người ta chỉ thấy có một khối, đời Lý cũng như đời Trần, đời Trần cũng như đời Lê, đời Nguyễn, người ta không nhận thấy phong thái riêng từng thời, từng người nên không thấy phong phú. Trước mắt người ta chỉ có một cái toàn thể nghèo nàn và bất di bất dịch. Điều đó không có gì lạ. Chính chúng ta cũng thường có cảm giác rằng người da đen, người nào cũng giống người nào và từng thấy có những người mình vào hạng có tuổi không làm sao phân biệt được người Pháp này với người Pháp kia, vì thấy người nào mắt mũi cũng giống nhau. Cần phải tinh ý và cũng cần phải nhiều thì giờ mới nhận rõ cái cốt cách một câu thơ Đoàn Thị Điểm và cốt cách một câu thơ Nguyễn Du, mặc dầu thơ Đoàn Thị Điểm với thơ Nguyễn Du khác nhau xa. Cha ông ta ngày xưa không hay lập dị, không cố tìm cho có một bản lãnh riêng. Nhưng mỗi người sống trong một thời riêng, trong một hoàn cảnh riêng nên tự nhiên cũng có bản lãnh riêng. Văn hóa Việt Nam chỉ có vẻ nghèo nàn với những người không tinh ý. Thực ra, công trình văn hóa tuy không nhiều, không đồ sộ nhưng vẫn tiêu biểu cho một đời sống tinh thần dồi dào và nhiều vẻ.

Có một nền văn hóa Việt Nam (I)

Bài của nhà văn Hoài Thanh do Hội Văn hóa cứu quốc Việt Nam xuất bản, Hà Nội, 1946.

20190420_143906

I

Một số học giả người Pháp vẫn thường bảo Việt Nam không có một tí vốn liếng gì về văn hóa. Theo họ, suốt mấy ngàn năm lịch sử dân tộc này chỉ biết có vay mượn mà thôi. Dân tộc này không hề có chút cống hiến vào kho tàng văn hóa của nhân loại và giá thử, một ngày kia, dân tộc này có diệt vong, điều ấy tuyệt nhiên không có quan hệ gì đối với đời sống tinh thần chung.
Kể học giả người Pháp mà nói liều lĩnh như thế cũng là lẽ đương nhiên. Họ đã đến xứ ta hay khảo sát xứ ta với tâm lý người chiến thắng. Với họ trước kia chúng ta đã là những người chiến bại, những người tôi tớ. Còn họ đã là chủ nhà. Mà xưa nay, mấy khi chủ nhà không khinh thị tôi tớ, mặc dầu cứ bình tĩnh mà xét, đã chắc gì ai kém ai hơn.
Đó là một lẽ. Song lẽ ấy không đủ để giải thích câu nói liều lĩnh trên kia. Bởi vì dân tộc Chiêm Thành, dân tộc Cờ Me (Khmer) cũng đứng vào địa vị chiến bại mà văn hóa của họ vẫn được học giả người Pháp chú ý và trân trọng hơn. Sở dĩ một số học giả người Pháp khinh thị văn hóa Việt Nam đến nỗi dám quả quyết rằng văn hóa Việt Nam không có, ấy cũng vì nền văn hóa Việt Nam khác hẳn các nền văn hóa phương Tây, khó mà nhận ra được. Nhất là họ lại đang quen nhận xét một cách rất nông nổi và thiển cận.
Tuy vậy, như trên đã nói, người Pháp mà khinh thị văn hóa Việt Nam thì không có gì đáng lấy làm lạ. Điều đáng lấy làm lạ là chính người mình cũng tự khinh thị mình. Óc nô lệ đến thế thật là cùng cực. Sự nhồi sọ của người Pháp đã khiến một số đồng bào ta tin rằng chẳng những ta hoàn toàn bất lực về kinh tế, về chính trị mà cũng hoàn toàn bất lực về văn hóa.
Ai là người quan tâm đến vận mệnh nước nhà, của nòi giống, thấy thế mà có thể dửng dưng? Nếu quả người Việt Nam tuyệt nhiên không có khả năng gì về văn hóa, nếu quả lịch sử tinh thần của dân tộc Việt Nam chỉ là một con số không đồ sộ, thì ta còn hy vọng gì ở tương lai? Nếu quả bọn chúng ta vốn bất tài, trong mấy ngàn năm, chúng ta khó có thể nhất đán trở nên những bậc đại tài đủ sức xây đắp một nền văn hóa tương lai tráng lệ. Trong lịch sử mấy khi có những chuyện lạ lùng như thế. Cho nên không gì buồn bằng cảm thấy cái bất lực của giống nòi về văn hóa. Hay giả thử một điều khó có thể có được, là dân tộc ta trở nên hùng cường vào bậc nhất trên thế giới nhưng vì văn hóa chúng ta cũng chỉ biết có vay mượn mà thôi, thì tương lai ấy thực không đủ cho ta hởi lòng, hởi dạ. Ta vẫn muốn giàu, muốn mạnh, nhưng chúng ta không hể chỉ mộng làm một người trọc phú. Tất cả những người Việt nam thành thực đều băn khoăn đi tìm một niềm tin ở nòi giống, vì có tin ở nòi giống mới có thể tin ở mình, một người Việt Nam, lại có thể không hèn kém hay sao? Mà một khi đã cho mình hèn kém, hơn nữa, đã tin rằng cha ông mình mấy ngàn năm nay vẫn hèn kém, tì cuộc sống không còn có nghĩa lý gì nữa!

***

Nhưng sự thực có đến nỗi buồn thảm như thế không? Dân tộc Việt Nam có quả hoàn toàn bất lực về văn hóa không? Ta quyết rằng không. Và ta nói thế không phải vì lòng ta muốn thế. Ta sẽ hết sức vô tư và khách quan. Ta sẽ can đảm nhìn thẳng vào sự thực, vô luận sự thực ấy như thế nào.
Sự thực thì ta vốn có một nền văn hóa. Nền văn hóa ấy cố nhiên không thể tìm thấy trong những bài kinh nghĩa, những bài văn sách, những bài thơ, bài phú chữ Hán, nói rộngj ra, trong những tác phẩm Hán Việt, nghĩa là trong những tác phẩm bằng chữ Hán của người Việt. Đời này sang đời khác, các nhà nho xứ ta mỗi khi cầm bút viết văn tàu chỉ lặp đi lặp lại những ý, những lời của thánh hiền Trung Quốc. Nhưng dân tộc Việt Nam đâu phải chỉ có những nhà nho. Ta hãy đi về nơi thôn quê và lắng tai nghe câu hát đậm đà của người thôn nữ. Đó không phải là văn hóa hay sao? Ta hãy ghé vào những ngôi chùa cổ và để ý nhìn những bức chạm của người xưa. Đề tài có thể vay mượn của người, song những đường nét kia vẫn nặng mang tâm tình Việt Nam, vẫn ghi rõ nhịp sống Việt Nam chứ sao? Ta hãy ngẫm nghĩ về những lời ta đương nói. Chữ dùng có lẽ đến ba phần tư là chữ Hán. Song ta mượn chữ Hán mà ta đọc theo lối ta, ta xếp đặt theo cú pháp tiếng ta, ai dám bảo tiếng ta không phải một công trình văn hóa của người Việt? Ngay các nhà nho chỉ biết nô lệ theo người những khi cầm bút viết văn Tàu, thế mà đến khi nhận trách nhiệm đặt pháp luật để thi hành trong nước thì lại tỏ ra là những người có óc sáng tạo. Pháp luật xứ ta, nhất là pháp luật đời Hồng Đức, vẫn có nhiều tính chất riêng của dân tộc ta.
Nhưng ta cần gì phải đến pháp luật, đến ngôn ngữ, đến nghệ thuật văn chương hay đến tôn giáo, phong tục v.v… để chứng rằng ta vốn có một nền văn hóa. Nội một điều nhận xét đơn sơ này cũng đủ cho ta tin như thế. Văn hóa đâu có phải là một vật lạ lùng từ trên trời rơi xuống. Văn hóa chỉ là một phương diện – phương diện tinh thần – trong đời sống của một dân tộc. Phương diện ấy, chúng ta tách riêng ra cho tiện bề nghiên cứu, nhưng nó vốn có quan hệ mật thiết với các phương diện khác trong đời sống chung, như kinh tế, chính trị v.v…hơn nữa nó vốn cùng các phương diện khác là một, trong cái toàn thể là đời sống chung. Nói một cách nôm na, văn hóa cũng như kinh tế, như chính trị, chỉ là một mặt của sự thực, của đời sống chung. Đã thế, nói rằng dân tộc Việt Nam không có một nền văn hóa riêng là một câu nói vô lý, vì dân tộc Việt nam vẫn là một dân tộc riêng, vẫn có một cuộc sống riêng, điều ấy không ai chối cãi.

***

Vậy ta có thể nói quyết rằng: dân tộc Việt nam vốn có một nền văn hóa. Cái điều có kẻ không tin là giá trị của nền văn hóa ấy. Nhưng ta tự hỏi: căn cứ vào đâu mà đánh giá một nền văn hóa? Tất phải căn cứ vào thực tiễn. Vì, xét cho cùng, văn hóa chỉ là sự cố gắng của loài người để giành quyền sống. Vậy mà đứng về quan điểm ấy, không thể không nhìn nhận giá trị của văn hóa Việt Nam. Chứng cớ hiển nhiên là nó đã giúp chúng ta tồn tại.
Nếu ta không có những khả năng dị thường về văn hóa, dám chắc rằng nòi giống ta đã tiêu diệt tự bao giờ. Giải đất chúng ta ở đây, đâu phải là chốn thiên đường. Chúng ta đâu phải là những đứa con cưng của tạo hóa. Kể từ hồi tiền sử, nước non này đã chứng kiến biết bao nhiêu nhân họa, thiên tai kế tiếp nhau không ngớt. Biết bao nhiêu giống người đã lần lượt đến chiếm xứ này, nhưng chung quy ở không được nên đã lần lượt tiêu vong. Trong tất cả các giống người đã bước chân tới đây, hình như chúng ta là những kẻ ở đây được lâu hơn cả. Được thế cũng bởi chúng ta biết mình là con nhà cực và hết sức phấn đấu với cuộc đời cơ cực. Sống trong một hoàn cảnh ác liệt, chúng ta đã biết luyện mình cho thích nghi cùng hoàn cảnh. Văn hóa Việt Nam đã được hun đúc trong những điều kiện tự nhiên và lịch sử gay go ấy nên rất có giá trị.
Chính nền văn hóa rất có giá trị ấy đã cứu chúng ta. Bởi vì văn hóa tức là đời sống tinh thần của dân tộc, tuy vốn do những điều kiện vật chất chi phối nhưng trở lại nó lại ảnh hưởng đến đời sống vật chất. Nói một cách khác, mọi hành vi của cá nhân cũng như của đoàn thể đều do tinh thần đưa đường chỉ lối. Vậy không có sự hướng dẫn của văn hóa, làm sao cha ông ta từng bao lần đánh bại xâm lăng? Không có sự hướng dẫn của văn hóa, làm sao cha ông ta có thể lần theo bờ biển mà khai thác một giải đất hàng mấy ngàn cây số, từ Hoành Sơn đến mũi Cà Mau? Không có sự hướng dẫn, không có sức bảo tồn của văn hóa, làm sao cha ông ta tiếp xúc với người Hán có đến hai ngàn năm mà vẫn thoát được cái nguy đồng hóa?
Giống Hán, chúng ta đều biết, là một giống người có sức đồng hóa mãnh liệt vô cùng. Nó đã đồng hóa không biết bao nhiêu giống người ngày xưa, nó vẫn gọi chung là Tây Nhung, Bắc Địch, Nam Man, Đông Di. Tất cả những giống người Việt từ bờ sông Dương Tử đến biên giới Việt Nam đều bị nó đồng hóa, trừ một giống là giống Lạc Việt chúng ta. Lúc chúng ta bắt đầu gặp người Hán thì chúng ta chỉ là một nhóm người con con dễ thường không đầy một triệu và may lắm cũng chỉ mới tiến đến giai đoạn đồ đồng. Chúng ta đã gặp một khối người mạnh hơn, đông hơn không biết bao nhiêu lần, và nhất là đi trước chúng ta hàng maays trăm năm nay trên con đường văn hóa, Thế mà sau một ngàn năm Bắc thuộc về chính trị và ngót một ngàn năm nữa Bắc thuộc về tinh thần, ta vẫn không tiêu tan trong khối Hán, ta vẫn giữ được bản lãnh của ta, Càng nghĩ đến điều đó bao nhiêu, ta càng ngạc nhiên bấy nhiêu và càng thêm lòng tin vào nòi giống. Hãy thử tìm trong lịch sử thế giới được bao nhiêu dân tộc cùng lâm vào một tình cảnh nguy nan như thế mà vẫn đủ sức giải nguy?
Nền văn hóa Việt nam không có giá trị phi thường thì nòi giống Việt Nam làm gì được thế. Nhưng văn hóa Việt Nam như thế nào? Những gì là đặc tính văn hóa Việt Nam? Hiện giờ không ai có thể chiều lòng ta mà trả lời câu hỏi ấy một cách đầy đủ và có trả lời cũng chỉ là liều lĩnh mà thôi. Bởi vì muốn nhận thức một cách đầy đủ và chắc chắn bản sắc cố hữu của văn hóa Việt Nam, lẽ tất nhiên phải nghiên cứu tất cả mọi trạng thái văn hóa trong xã hội Việt Nam thời trước, như học thuật, ngôn ngữ, văn chương, nghệ thuật, luân lý, tôn giáo, pháp luật, phong tục vân vân…

Phường Trường Súng

Trích bài viết của L. Cadière đăng trong Những người bạn của cố đô Huế, BAVH năm 1925.
Bản dịch của Hà Xuân Liêm, NXB Thuận Hóa, 2002.

II. NHỮNG HỒI KÝ VỀ CHÚA NGUYỄN
Chúng tôi sẽ không cho bắt đầu phường Trường Súng từ hướng cực Đông của con đường mang cùng tên với phường này. Như vậy chúng tôi sẽ phải nói đến toàn bộ vùng Phủ Cam. Người ta đã cho con đường Trường Súng một chiều dài quá mức. Con đường này đã được phân ra, và phần bên dưới từ cầu chợ Phủ Cam xuống đã được đặt là đường kè bờ sông mang tên là Forçant. Con đường này sẽ còn rút ngắn lại nữa, và điều này hợp lý. Vậy chúng ta sẽ khởi hành từ nhà ga, vì từ đó đến nơi ra khỏi thành phố, con đường dẫn tới Trường Súng, rất đáng được mang cái tên của di tích lịch sử này.
Con đường Trường Súng này như đã được định ranh giới cho đến xưởng máy vôi Long Thọ, hai bên đường được bao viền bởi nhiều dấu vết kỷ niệm mà các chúa Nguyễn của Huế, qua tiến trình nhiều thế kỷ, đã để lại nơi đây.

*
**

Tôi không hiểu có còn một bản đồ về phường Nhà Ga không, vì trước khi xây dựng con đường sắt làm sao khỏi dẫn đến sự đảo lộn hoàn toàn vùng đất này, có một số di tích lịch sử rất lý thú có thể đã bị phá hủy mà kỷ niệm về chúng đã bị quên lãng hẳn, hoặc chỉ được lưu giữ bởi những người mà người ta không dễ gì đến hỏi han tham cứu. Trong vùng đất mà ngày nay người ta dựng lên xưởng làm nước đá của ông Bogaert, ngày xưa đã có những chuồng nuôi voi của nhà chúa. Chúng ta cũng sẽ thấy những chuồng khác nuôi voi ở thượng lưu, gần Trường Súng. Xưa kia, nhiều đội tượng binh được lập rải rác ở nhiều nơi. Chính trong Hoàng cung cũng có một đội tượng binh, và những đội khác thì có chuồng nhốt ở trung tâm làng Kim Long. Tôi đã nói ở một bài khác, tất cả những điều có liên quan đến các con vật đi diễu hành và đi đánh trận này (BAVH, 1922). Hôm nay tôi không nói lại ở đây nữa.
Những chuồng voi này được thiết lập trên con đường phục vụ giao thông cho chuyến đò ngang gọi là đò Trường Súng. Con đò này tạo sự thông thương giữa bờ phải với bờ bên trái con sông. Nếu người ta tiếp tục đi theo con đường này về hướng Nam, thì có một đoạn giốc đứng dẫn lên đỉnh một vách đứng thống ngự gần nhà Ga, và con đường đã kéo dài ra bởi đoạn mà các bản đồ của Sở Công chánh gọi là đường “song song phía Tây”, ngày xưa đường này thường được dùng trước khi người ta cho mở đại lộ Nam Giao.
Về phía trái, người ta thấy có ngôi chùa Phật giáo là chùa Báo Quốc, mà ông Labonde đã kể cho chúng ta biết về lịch sử của nó (BAVH, 1917), và về phía phải có hai ngôi miếu quan trọng: miếu Lịch Đại, và miếu thờ vua Lê Thánh Tôn. Miếu Lịch Đại, được xây dựng trên đất Dương Xuân, và được dành để thờ “các triều vua chúa” ngày xưa (*). Miếu này được xây dựng vào năm Minh Mạng thứ tư, như bức hoành ở gian giữa miếu đã chỉ rõ điều này: “Minh Mạng năm thứ tư, tháng năm, ngày tốt tạo lập (9 Jiun – 8 Juill. 1823). Toàn bộ được trở mặt về hướng Nam và gồm có ngôi miếu chính năm gian, hai nhà tả hữu vu, ngôi tả vụ bên trái ở hướng Đông, ngôi hữu vu bên phải ở hướng Tây. Ở gian chính giữa của ngôi miếu chính người ta thờ các vị hoàng đế huyền thoại hoặc thuộc lịch sử vào thời đầu của đế quốc Trung Hoa. Gian thứ nhất bên trái, nghĩa là gian về hướng Đông tôn trí những bài vị của các vị vua thuộc cổ tích, hoặc có tính cách bán lịch sử của nước Nam, người ta đã phối thờ vào gian này vị vua lập nên triều đại quốc gia đầu tiên là Đinh Tiên Hoàng. Gian thứ nhất bên phải, hướng Tây, được dành để thờ các vị vua sáng lập ra triều đại nhà Tiền Lê, các vị Hoàng đế chính của triều đại nhà Lý. Gian thứ hai bên trái và bên phảo được kính cẩn dành để thờ một số vị vua đời nhà Trần và nhà Hậu Lê. Cuối cùng, hay dãy tả vu hữu vu tôn trí những bài vị các vị công thần của các vua nói trên, mười lăm vị thờ ở tả vu và mười lăm vị thờ ở hữu vu. Vua Minh Mạng thích định quy tắc thờ tự một cách tỉ mỉ cũng như mọi điều khác, nên vào năm 1830, ngài cho chạm bài vị Sãi Vương, để đưa vào thờ ở Văn Miếu, một cách thuần túy và đơn giản, ngài đã bỏ những tôn thờ vinh dự dành cho vua Lê Anh Tôn. Vào năm 1835, ngài cho thỉnh bài vị Thái Công Vọng vào thờ ở Võ Miếu.
Với toàn thể các ngôi nhà ấy, ở đàng sau còn có một ngôi nhà để sửa soạn đồ lễ cúng hiến, tất cả được một bức tường không cao lắm bao quanh. Trước mặt tiền chính,  người ta cho xây lên một cổng tam quan có 3 cửa vào miếu mà ngày xưa có trình bày nhiều câu văn khắc, cả bên trong lẫn bên ngoài. Trên của chính giữa, ở bên trong người ta đọc được câu văn khắc: “Khi nhìn ở phía trước thì quang cảnh này rất tuyệt diệu” và câu văn khắc ở bên ngoài là: “Các vị hoàng đế và các vị quốc chúa kế vị nhau“. Trên hai cửa ở bên trái, hướng Đông, ở bên phải, hướng Tây thì bên phía trong khắc: “Nguyên tắc về lễ mà các đấng tiên vương đã vạch ra, chói lọi trong sử sách thời quá khứ“, và “Ảnh hưởng đáng trọng của chư vị tiên vương đem lại thái bình an lạc cho Nam quốc“; và ở phía ngoài khắc: “Danh thơm về đạo đức của các tiên vương hiện nay vẫn còn phảng phất nơi đây cũng như trong các thế kỷ quá khứ” và “Quy tắc trị nước cũng lan truyền khắp phương Bắc phương Nam“. Những câu chữ khắc này nay không còn nữa.
Năm Thành Thái thứ 14 (1902), đều được trùng tu toàn bộ. Điều này không muốn nói rằng miếu đang ở tình trạng tốt (ĐNNTC, q.1 tờ 16).

*
**

Miếu thờ Lê Thánh Tôn cũng không còn. Miếu đã bị triệt hạ và người ta chuyển hết vật liệu đi nơi khác, để dùng vào các công việc khác. Người ta không còn thấy gì hơn là cái nền miếu, những mảnh vụn của tường thành và phần bên dưới cổng vào mà phần trên của nó đã được xây theo một kiểu thức đặc biệt. Miếu này không quan trọng bằng miếu Lịch Đại, mà chỉ có một mái nhà ở giữa với phần máu nhô ra trước mặt. Miếu này xây về mặt hướng Đông. Vị hoàng đế mà người ta thờ trong đó thì ngày xưa, tại Huế, cũng đã có một miếu thờ riêng, nhưng miếu này đã bị hư hoại từ lâu, khi vua Gia Long cho xây lại miếu này, vào năm 1809, ở phía Đông và có hơi xích xuống phía miếu Lịch Đại…. (Lược đoạn nói về vua Lê Thánh Tôn).

*
**

Nếu từ miếu Lịch Đại, người ta đi theo con đường “song song hướng Tây”, leo qua nhiều ụ đất nhỏ màu hơi đỏ, thì khi đi hết hai hoặc ba trăm mét người ta đến một ngôi miếu được dành để thờ Hỏa Thần, miếu dựng trên địa vực làng Phú Xuân.
Ngôi miếu này vừa được cải dụng; chính quyền đã nhượng lại cho Đệ Cửu, thuộc thành phố Huế (phường Nhà Ga) là đình phường tại đây và thờ các vị thổ thần vùng ngoại ô.
Chính vào năm Minh Mạng thứ 5 (1824), nhà vua đã xuống dụ xây dựng miếu Hỏa Thần, ngài đã phong cho vị Hỏa Thần một đạo sắc phong. Hằng năm, ngày 23 tháng 6 âm lịch, người ta phải dân tế thần một lễ tam sinh: trâu, heo, dê và xôi. Các quan tỉnh Thừa Thiên được ủy nhiệm cúng tế, và 9 người dân làng Phú Xuân được giao cho việc canh gác, giữ gìn ngôi miếu. Vào năm 1825, việc xây miếu hoàn thành, vua Minh Mạng đã ban hành một chỉ dụ cho tổ chức lễ khánh thành vào ngày 15 tháng 6 âm lịch (30 Juillet) để làm lễ “an vị thần vị” của thần. Một đại biểu của Lục bộ đứng làm chánh tế biểu lễ.
Ngày xưa, miếu Hỏa Thần được xây dựng trong kinh thành, ở phía Bắc kinh Ngự Hà, trên địa vực làng Phú Xuân. Tôi không tìm được tư liệu chỉ rõ năm nào thì đền được chuyển về vị trí mà chúng tôi đang nghiên cứu hiện nay.
Vào năm Đồng Khánh nguyên niên (1886), người ta thiết thêm ở miếu này nhiều thần vị của các Hỏa Bác Thần mà ngôi miếu của Hỏa Bác Thần vừa bị triệt hạ.
Ngôi cổ miếu thờ Hỏa Bác Thần cũng có lịch sử của nó. Chính vào năm 1826, vua Minh Mạng đã cho xây dựng miếu này. Vua đã ban hành một sắc chỉ về vấn đề không kém thú vị để nghiên cứu tín ngưỡng của người nước Nam.
Súng đại bác có một tầm quan trọng cực kỳ trong nghệ thuật chiến tranh; sức mạnh phá địch của súng do một oai linh đáng sợ mà có. Tuy nhiên cho đến bây giờ, người ta chưa hề có một sự thờ cúng thần đại bác. Vậy, Trẫm xuống dụ cho các quan có thẩm quyền chọn một nơi thích đáng và xây lên một ngôi miếu tại đó, và người ta sẽ tôn thờ vị đại bác thần tại miếu này, vài những lúc phải có, thì lễ cúng bái thần được cử hành tại miếu. Ngoài ra, Trẫm sẽ phong cho vị thần này tước hiệu: “Linh Uy viễn Chấn hỏa Bác chi Thần”. Các quan phải tuân theo lời dụ này. Miếu sẽ được xây trên địa vực làng Phú Xuân, hàng năm, vào ngày mùng một tháng 9 âm lịch, các quan phải dâng một lễ tế ở miếu này cũng như ở miếu Hỏa Thần, một quan Quản vệ của súng Đại bác và Hỏa thần sẽ đứng ra chủ tế trong lễ này; 9 người dân làng Phú Xuân được giao nhiệm vụ giữ miếu“.
Vào năm 1836, vua Minh Mạng đã quy định việc thờ cúng tám khẩu đại bác đã được chở vào Sài Gòn vào những năm trước, trong dịp nổi loạn của Lê Văn Khôi, sau đó súng lại được đưa về Huế sau khi khôi phục được thành Gia Định (Sài Gòn) và quân nahf vua chiến thắng. Tám khẩu thần công này đã nhận được sắc phong tước để thờ cúng. Đó là “Thần Vũ Phá địch Thượng tướng quân Bác vị Oai linh chi Thần”. Tước này được khắc trên biển đồng của một khẩu súng, Một ngôi đền được dựng lên để thờ tám khẩu đại bác thần công này; mỗi năm trong đền đó, vị quản vệ Thần công và Đại bác sẽ lo liệu sửa lễ dâng cúng tám vị thần công này. Một chỉ dụ khác đã quy định chỉ rõ việc thờ cúng các khẩu thần công này, trước khi xây dựng ngôi đền, trong chính xưởng để súng; tại đây một ông Quản vệ của Thần công và Đại bác cũng đã phải dâng biện một lễ cúng vào ngày mồng 2 tháng 9 âm lịch mỗi năm. Người ta thấy rằng vua Minh Mạng đã nôn nóng để tỏ sự biết ơn của ngài đối với những khẩu đại thần công đã đem lại chiến thắng cho ngài đối với cuộc nổi loạn đáng sợ đã đe dọa ngôi báu của ngài.
Vào năm 1844, vua Thiệu Trị cho đặt vào miếu Hỏa Bác Thần, một số thần vị của vài ba khẩu súng cũng được nâng cao giá trị thiêng liêng của chúng lên. Một chỉ dụ lạ lùng đã dành để nói về việc này: chỉ dụ ấy đã cho chúng ta biết lịch sử của các khẩu súng đó và đồng thời, nó cũng cho chúng ta biết về những tình cảm của nhà vua.
Ngày xưa, người ta rất thánh phục cây cung và những mũi tên. Ngày nay người ta đã sáng chế ra súng thần công, chúng đã bỏ xa sau lưng chúng tất cả những vũ khí về quân sự và chúng nắm hết mọi giá trị về chiến tranh.
Đấng cao hoàng Gia Long của Trẫm, được trời phú cho tất cả mọi phẩm chất, về quân sự cũng như về nhân sự, đã chỉ hay những đạo quân của ngài với sự thành công trọn vẹn và đã bình định được toàn quốc gia. Trong những trận đánh của ngài, ngài đã sử dụng một khẩu súng có giá rất đắt, khẩu súng có tiếng nổ uy nghiêm của sấm sét, và nó làm cho khắp nơi đều run sợ. Nhờ vào thứ vũ khí đó, ngài đã phục hưng được triều Nguyễn và nhất thống toàn quốc dưới vương quyền của ngàu, và nhờ nỗ lực của ngài, ngài đã mở rộng biên cương của quốc gia. Thứ vũ khí này, mạnh hơn tất cả các thứ vũ khí mà người ta đã từng thấy, nó đã vượt qua cả Kiếm Hán và Cung Đường.
Dưới triều Minh Mạng, phụng du nhà vua, khẩu súng này đã nhận tước phong là “Võ Công Lương khí Bửu thương”.
Hoàng đế Minh Mạng, phụ hoàng của Trẫm, mà đức độ của ngài đã thấm nhuần toàn vương quốc và võ công của ngài đã vang dội vượt qua cả biên giới, vào mùa xuân, ngài đã đi săn để giải lao. Vào ngày hôm đó, trong vùng mà người ta đã bao vây, có một con cọp rất lớn, nhảy từ núi ra, bắt người để ăn thịt, mà không có ai dám đuổi nó. Phụ hoàng của Trẫm, đầy dũng khí uy nghi đáng sợ, đã chụp ngay khẩu súng quý mà ngàu thường dùng, kê súng lên vai và bắn chết ngay con cọp hung dữ, và như vậy, ngài đã giải thoát cho những người dân luôn luôn lo sợ quanh vùng. Khẩu súng ấy được phụ hoàng Trẫm ban cho tên là “Sát Hổ thương” (Về khẩu súng này, xin xem bài: Lăng Gia Long (L. Cadière) trong BAVH, 1923). Sau đó, ngài luôn luôn dùng khẩu súng này trong những cuộc săn bắn mà ngài tổ chức để săn các động vật phá hoại mùa màng.
Khi Trẫm còn nhỏ, Trẫm thường theo hầu phụ hoàng; ngài đã dạy cho Trẫm những quy tắc lễ giáo, Trẫm đã luyện tập võ nghệ. Phụ hoàng Trẫm đã ban cho Trẫm khẩu súng quý mà ngài thường sử dụng nó, ngài dạy Trẫm tập bắn cho trúng đích; nhờ hồng ân đấng cao xanh, Trẫm đã ngắm bắn trúng đích, và khẩu súng được phong tên là “Toản Võ thương”.
“Ngày xưa, vào thời nhà Hán, người ta đã xây dựng một ngôi miếu, trong đó thiết lập sự thờ tự cây kiếm; vào thời đại nhà Đường, người ta đặt vào xưởng quân giới một cây cung lớn và một cây tên dài, mà người ta thường tôn thờ cung tên ấy khi có lễ tế Trời, tế Đất; người ta đặt lễ vật trước những vũ khí ấy, để tỏ lòng cầu nguyện mà người ta muốn cầu cho sức mạnh chiến trận của chúng. Hiện nay, người ta dùng súng đại vác và súng thường để đánh quân địch với sức mạnh hơn nhiều, những thứ vũ khí ấy bẩm sinh một sức mạnh siêu nhiên, vậy nên Trẫm hạ chỉ dụ rằng khẩu “Võ Công Lương Khí Bửu Thương”, sẽ được gọi “Thần Võ Phá Địch Đại Tướng Quân Oai Linh chi Thần”. Khẩu súng tay “Sát Hổ thương”, bên cạnh tên gọi cũ, được phong tước “Thần Võ Oai Linh Đại Tướng quân…” Khẩu súng “Toản Võ Thương”, ngoài tên thường gọi, cũng sẽ được gọi “Thần Võ Hộ Quốc Oai Linh, Đại Tướng quân…“.
Các đạo sắc phong được giao cho súng, các bài vị để dành cho súng để thờ trong miếu “Hỏa Bác Thần”, có mục đích nhắc người ta nhớ lại giá trị của các vũ khí bằng cách thờ tự chúng liên tục, và trong các lễ cúng hiến thường kỳ, nhắc người ta nhớ lại các vũ khí đó mà quân nổi loạn bị dẹp tắt và dân được hưởng hòa bình.
Trong các gian ở hai bên miếu thờ, người ta sẽ đặt hai ban thờ thứ cấp, trên bàn thờ bên trái, sẽ thờ vị thần “Võ Công…” và thần súng “Sát Hổ…”; trên bàn thờ bên phải người ta dành để thờ thần súng “Toản Võ Thương”. Ở mỗi bàn thờ, cũng như ở mỗi bàn thờ tại Hỏa Bác thần miếu, mỗi năm, người ta dâng cúng một con heo luộc, một mâm xôi, và ba mâm quả. Vị Quản Vệ Thần Công và Đại Bác sẽ đứng chủ lễ lễ tế này”.
Ngày nay, sau việc cải dụng miếu Hỏa Bác Thần, việc thờ tụng tất cả các vị thần có tiếng nổ như sấm vang và có sức phá hoại, nhưng lại là những vị thần bảo hộ sức mạnh của quốc gia ấy, được đem thờ, theo như người ta nói với tôi, trong miếu Hội Đồng, xây trên địa vực làng Triều Sơn.
Theo tín ngưỡng dân gian An-nam, tất cả mọi vật đem lại sự phụng sự con người đều được xem là có bẩm sinh đức hạnh đặc thù cần phải bồi đắp, bởi vì đức hạnh này có thể hiển lộ ra, khi con người có vận may hạnh phúc; hoặc nó có thể tạo nên sai lầm, và lúc đó chính là sự thiệt hại cho con người. Hơn nữa, những vật này đều được xem như nằm dưới sự che chở của một vị thần, vị thần này sẽ sử dụng chúng theo ý muốn để đem lại phúc hoặc họa cho con người. Cũng chính một số trong các vật này, khi chúng mang tính cách dị thường, hoặc bởi những công việc lặp đi lặp lại mà chúng đã đem đến cho con người, hoặc bởi những tai họa mà chúng gây ra cho con người, thì đều được xem đó là chính những vị thần và phải tôn thờ như vậy. Ở đây không phải là nơi để nói rộng về các lý thuyết này, cũng không phải là nơi để dẫn ra những ví dụ, vì chúng nhiều vô số. Mặt khác dân gian còn tôn thờ nhiều yếu tố, trong số đó thì “Bà Hỏa” giữ một vai trò quan trọng nhất.
Chúng ta thấy rằng sự thờ cúng chính thức của nhà nước thuận theo những tín ngưỡng thờ cúng của dân gian. Thần Súng, mà vua Minh Mạng đã cho dựng miếu thờ, và theo những quy định đã ghi thành văn bản, chính quyền địa phương phải dâng vật cúng nhiều lần trong năm cho thần súng thờ trong miếu đó, đều phù hợp tương ứng với “Bà Hỏa” mà dân gian tôn thờ. Mặt khác, các khẩu đại bác vốn có một hỏa lực mạnh, và chúng đã đảm trách những công việc không gì sánh nổi cho vương quốc: bởi vậy , chúng được đặt dưới sự bảo hộ của một vị thần, vị thần này đã ban cho chúng sức mạnh mà chúng hiện có, và vị thần này đã đặt sức mạnh này vào việc phụng sự Quốc GIa. Vậy phải đền đáp những ân huệ của vị thần này bằng sự thờ phụng chính thức. Cũng vì vậy mà một vị quan có phẩm trật cao coi về Thần Công và Đại Bác tức là quan Quản Vệ, được giao trách nhiệm lo biện lễ thờ cúng vị thần ấy.
Ngoài những khẩu đại bác và những súng cầm tay được thần hóa mà chúng ta vừa nói đến, thì một số khác cũng đã nhận được những vinh dự như vậy. Mọi người đều biết những khẩu Đại Thần Công, có 9 khẩu tất cả, được đặt trước cửa Ngọ Môn. Đó là những “Vị chỉ huy tối cao của quân đội hay là những vị Đại Tướng Quân, mà tính cách Uy Nghi của các vị Đại Tướng Quân ấy cũng ngang với với vẻ Uy Nghi của các vị Thần, không có gì sánh nổi” (BAVH 1914). Linh mục Kofffler vào năm 1750, cũng đã thấy được những khẩu thần công tương tự đặt ở cổng vào chính dinh của Võ Vương, một vị chúa Nguyễn ở Huế; và ông Dampier, một khách du lịch người Anh đã sống ở Thăng Long (Hà Nội) vào cuối thế kỷ thứ XVII, cũng đã thấy được một khẩu đại thần công như thế và cũng giữ nhiệm vụ của vị thần siêu phàm bảo hộ cho vương quốc, đặt trước cung ohur Trịnh Căn (BAVH, 1915). Những khẩu đại thần công hiện nay ở Hoàng Cung, cũng như những khẩu đại thần công ngày xưa, hẳn đã mang tính cách tôn giáo. Chúng đã mang tính chất này ở nơi chiều kích của chúng, tính chất này tưởng chừng là có một sức mạnh rất lớn. Nhưng, những súng cầm tay đơn giản cũng đã có sức mạnh của một vật siêu phàm, như vua Thiệu Trị đã nói về điều này trong chỉ dụ của ngài. Bởi vậy, người ta phải thờ tự tôn sùng các vị thần công ấy, hay đúng hơn là vị thần đã trao cho chúng sức mạnh của chúng. Tôi nói cái gì nhỉ? Những ống đồng tầm thường mà buổi chiều, khi đêm xuống, buổi sáng, vào lúc bình minh, người ta cho nổ lệnh đóng mở các cửa Kinh Thành; và, vào buổi trưa, cho nổ để chỉ nửa ngày thì đều được những người lính có phận sự giữ để cho nổ lệnh ấy gọi là “Ông Linh”, và họ cũng tổ chức việc cúng bái thờ phụng chúng, thật là thô lỗ và ấu trĩ, hay là cúng bái ông thần đã cho chúng tính năng hiệu lực đó (**).

*
**

Không phải là không có ý định mà người ta đã đặt ở vùng này những ngôi miếu thờ Hỏa Thần và thờ Hỏa Bác thần. Cẩ hai ngôi miếu ấy có quan hệ chặt chẽ với nhau với một toàn bộ những kỷ niệm có liên quan đến pháo binh.
Chúng ta thấy ngay rằng, những xưởng đúc súng đại bác đều đặt ở một hoặc hai cây số trên đỉnh đồi vùng chúng ta đang đứng; và, không xa các xưởng đúc đại bác là các kho thuốc súng. Chúng taooi đã nói đến chuyến đò ngang, gần nhà Ga, làm phương tiện nối vờ phải của con sông với bờ bên trái, có tên là đò Trường Súng, có nghĩa là “trường bắn súng đại bác”. Chính là chuyến đò ngang này đã đưa những toán lính ở Vệ Hỏa Pháo sang sông để đi lên trường bắn. Chính Trường Súng lại nằm cạnh miều Hỏa Bác Thần, ngày nay trở thành đình chung của phường Đệ Cửu. Thực vậy, trước đền này, trên bờ những đám ruộng như tấm thảm xanh của vùng thung lũng nhỏ, có một cái giếng cổ, tất cả dân làng lân cận đều ăn uống nhờ nước giếng này; bởi vậy, giếng phải có từ thời rất xa xưa. Giếng có cái tên gọi là giếng Trường Bia. Giếng này nằm ở cực hạ của miitj miều trũng nhỏ, vùng trũng này dài khoảng một trăm mét, rộng từ hai mươi đến ba mươi mét, trũng này tách ngọn đồi nhỏ trên đó người ta xây miếu Hỏa Bác Thần với một mô đất khác trên đó, chính giữa các vườn tộng, người ta xây lên ngôi chùa Huệ Lâm thuộc Phật giáo theo lời những người dân ở vùng đó thì chính trong vùng trũng này người ta đã thực hiện những lần tập bắn. Hẳn đây là sân tập bắn súng cầm tay, vì, đối với việc tập bắn đại bác, thì phải tập ở một nơi khác như chúng ta sẽ đến xem sân bắn đó, ở phía Tây miếu thờ Đại Bác thần. Thật là thú vị khi đến viếng chùa Huệ Lâm. Sát bên chùa , có một cái giếng cổ, hiện nay đã cạn, với hang cột bằng nề đỡ cái tời (treuil) gang ngang, ngày xưa dùng kéo gàu múc nước. Hơi xa một ít, người ta cũng thấy một cái mộ nhỉ, được trang trí một mô típ mỹ miều của ngành điêu khắc, tháp mộ nhỏ này trà táng xương cốt của nhà sư gọi là “Thiền sư, Hòa thượng Tịnh Công, được vua ân ban thụy hiệu này“.

*
**

Về phía Tây của ngôi miếu Bác Hỏa Thần, những ngọn đồi nhỏ tiếp nhau hạ thấp dần sườn đồi xuống một cách nhẹ nhàng và chìm sơn mạch xuống cánh đồng bằng toàn ruộng. Tại cánh đồng đó có hai mô đất lớn, gọi theo tiếng nước Nam là “Hòn Mô” tức là “những mô đất để làm bia bắn”, nhắc lại dấu tích trường tập bắn súng của Pháo binh. Cả hai mô đất trường bắn đều nằm trên địa vực làng DươnG Xuân Hạ. Mô thứ nhất nằm gần thôn Xuân Giang, mà chúng ta sẽ đến xem tức khắc, vì vấn đề là cung vui chơi của Võ Vương gần đấy; mô này đo được 32 bộ chiều dài, 20 bộ chiều rộng và gần 2m chiều cao. Mô thứ hai, không xa miếu Thành Hoàng, có chiều kích gần bằng mô trên, nhưng nó lại cao hơn nhiều: dài 35 nộ, rộng 15 bộ và cao gần đến 5. Cả hai gò đất ấy, ngày nay đều giảm thấp xuống và đã bị cây cỏ hoang dại xâ, chiếm; nhưng những chiều kích của chúng còn lưu dấu có thể cho ta đoán được tầm quan trọng ngày xưa và công dụng của chúng vậy.
Người ta nói đến việc xây dựng “Một sân bắn cho súng đại bác” vào năm 1747, trong tháng 9 âm lịch, kéo dài từ mồng 4 tháng October đến mồng 3 Nomvembre. Chính dưới triều Võ Vương, vị chúa đã tổ điểm nhiều cho Huế, và chúng ta sẽ gặp tức khắc một kỷ niệm mới. Người ta không nói rõ nơi mà trường bắn này đã được lập, nhưng một cách chắc chắn là nơi mà chúng tôi hiện đứng đây.
Thực vậy, tôi không biết chỗ nào khác, trong các vùng quanh Huế, có mang cái tên Trường Súng này. Người ta đã tập bắn súng đại bác ở Thanh Phước, những bục bắn ở đây được dành cho các khẩu súng của Thủy quân; bục bắn này được sử dụng vào đầu thế kỷ thứ XIX, nhưng Biên niên triều Nguyễn lại nói rõ là việc xây dựng từ 1642. Cũng vậy, bục bắn mà Dutreuil de Rhins đã thấy ở Thuận An, vào năm 1876, dùng để tập bắn súng tay. Hơn nữa, thật là bình thường khi cho rằng Trường Súng nằm cạnh vùng mà tại đó người ta đúc hỏa pháo; thế mà, người ta đã biết điều này, từ hơn một thế kỷ, xưởng đúc đại bác lại nằm khoảng chưa đầy một cây số phía bên trên vùng mà chúng tôi đang đứng. Một lý luận mới lại xuất hiện từ sự hiện hữu cung điện mùa hạ của Vĩ Vương, ở cách trường bắn vài trăm mét về bên trên. Chúng ta đang ở vào năm 1747. Thế mà, từ khi lên ngôi chúa từ năm 1738, Võ Vương đã không ngừng xây dựng cung điện; vào năm 1744, tất cả đều hoàn thành; nói một cách đúng đắn, thì cách một khoảng ngắn nằm phía trên sân bắn, đã có cung Trường Lạc dùng làm nơi nghỉ mát cho Võ Vương. Vị chúa này đã thường tổ chức những cuộc nghỉ ngơi tại đây. Hiển nhiên là Võ Vương đã xây dựng trường bắn đại bác không xa cung điện của ngài, để kiểm soát những bài tập luyện đội quân hỏa pháo của ngài. Vậy, một cách chắc chắn là trường bắn mà chúng tôi đang nói đây thì sự thiết lập nên nó đã được nói đến trong các tập Biên Niên Sử năm 1747.
Trường bắn này không phải là vô dụng. Pierre Poive, thương gia người Pháp đã đến Huế vào thời này, đã cung cấp cho chúng ta chứng cứ. “Ngày 10 [Novembre 1749]. Tôi đã đến viếng một ông quan lớn hay còn gọi là quan Hieou tlaon(***). Ông quan này có nhiệm vụ tập luyện bắn súng đại bác, ông đã gởi cho tôi biết những lời biện giải của ông mà ông không có khả năng nhận cho tôi, và ông đã cầu xin tôi hãy lui tới nhà ông ba hoặc bốn lần trong tháng này [12 hoặc 13 Nomvembre]”.
Tôi tin rằng những bục bắn này cũng đã được dùng để làm bãi tập cho những Vệ Hỏa Pháp và vệ lính bộ, trong tiến trình của thế kỷ thứ XX. Nhưng tôi không thể dựa ý trên một tư liệu nào cả….
(Lược bỏ đoạn cuối).

* Lịch Đại Đế Vương Miếu – Con đường đi đến miếu này khá khó tìm. Người ta đi theo con đường lớn Nam Giao, và ngay sau khi đi ngang qua đường sắt ngã vào Đà Nẵng, thì quay về phía phải, đi dọc theo cổng chắn của nhà ga, và leo lên cái dốc dẫn đến cách núi đá thẳng đứng thống ngự cả vùng nhà ga; một con đường đất nhỉ, đi khá khó khăn, dẫn đến miếu Lê Thánh Tôn và đến miếu Lịch Đại Đế Vương – hoặc là, sau khi đi qua kênh Phủ Cam ở cầu Ga, đi theo đường Trường Súng, vượt qua con đường ga ngập nước, và sau độ một trăm mét đi theo con đường chạy về phía trái, xuyên qua đường đi Quảng Trị, và các lối của xưởng sửa chữa, leo lên cái dốc dần đến đỉnh vách núi đá thẳng đứng thống ngự vùng nhà Ga, và tiếp tục đi đến miếu Lịch Đại. – Người nước Nam thường đọc thành Lịch Đợi hay Lịch Đại.
** Cũng là một điều thú vị để nói rằng, hoặc theo quan điểm lịch sử, hoặc theo quan điểm niềm tin của An-nam, về miếu thờ thần Mưa được xây dựng gần đền thờ Thần Súng. Hai miếu thờ này đã dự phần vào cùng một vòng thờ phụng, cũng như sự thờ phụng các vị Thần khác nhau: thần nước, thần bốn mùa, thần gió; các miếu thờ các vị thần này đều được xây dựng trong vùng Thuận An, ở cửa con sông Hương, và sự thờ phụng các vị thần núi.
*** Ông Hữu Trọng, danh hiệu thường để gọi một trong bốn vị quan lớn của vương quốc, mà danh hiệu hành chánh của ông là “Nội Hữu”.