Lý Nam Việt Đế và Triệu Việt Vương

Sử sách Việt có những chuyện viết rõ bằng chữ nghĩa hẳn hoi nhưng các sử gia bao đời nay cứ phải đi tìm chân lý ở tận đâu đâu…

Người Tây chép sử Nam nói rằng: Sử nước Nam mãi đến đời Trần mới bắt đầu làm, thì những đời trước tất phải theo sử Tàu mà chép ra. Đời Tiền Lý sử Tàu đã không có thì sử thần nước Nam lấy đâu mà chép? Vậy thì thế nào cũng có chỗ bịa đặt, mà có một điều khiến cho nhiều người tin là bịa đặt là chuyện Nhã Lang đi gửi rể và đổi móng rồng, y như chuyện Trọng Thủy và Mỵ Châu” (H. Maspero, trích theo Đại Nam dật sử của Ứng học Nguyễn Văn Tố).

Ông Tây Maspero nói có lý … một phần. Sử Nam ngoài chép theo sử Tàu còn chép theo … “dật sử”, tức là sử trong dân gian người Việt. “Móng rồng” trong chuyện Nhã Lang – Cảo Nương không phải bịa đặt, mà là hình tượng của một câu chuyện lịch sử có thật, khác “móng rùa” của chuyện Trọng Thủy – Mỵ Châu…

Đại Việt sử ký toàn thư chép về Lý Bôn: “Mùa xuân, tháng giêng, vua nhân thắng giặc, tự xưng là Nam Việt Đế, lên ngôi, đặt niên hiệu, lập trăm quan, dựng quốc hiệu là Vạn Xuân, ý mong cho xã tắc truyền đến muôn đời vậy.
Lý Bôn là Nam Việt Đế. Sách nào cũng chép vậy, từ Việt sử lược tới An Nam chí nguyên. Nam Việt Đế tức là vua nước Nam Việt. Không hiểu sao các sử gia lại chép chỉ còn là Lý Nam Đế?

Câu đối ở Quán Giang (Hoài Đức – Hà Nội), nơi thờ Lý Bôn, bắt đầu bằng: “Hồng duy Nam Việt triệu cơ…”.
Lý Bôn là vua nước Nam Việt. Nam Việt là nước do Triệu Đà (Triệu Vũ Đế) lập nên, đô đóng ở Phiên Ngung (Quảng Đông). Như vậy Lý Bôn chính là Triệu Vũ Đế, là người Việt (Giao Chỉ) đầu tiên xưng đế, mở đầu một thời đại huy hoàng của sử Việt. Lý Nam Việt Đế là cách gọi theo kiểu sử Việt lấy họ vua và tên nước mà gọi. Triệu Vũ Đế là cách gọi của Hoa sử theo quốc danh và miếu hiệu của vua. Tuy 2 tên nhưng là một người.

Ở Quán Giang Lý Bôn được thờ với tên Cử Long Hưng. Còn ở đình Xuân Quan (Văn Giang – Hưng Yên) Triệu Vũ Đế lập điện Long Hưng bên bờ sông Hồng. Long Hưng nghĩa là Hưng Vương, ứng với câu đối ở Phủ Giầy: “Hưng Vương vĩ lược cao thiên cổ”.
Hưng Vương Lý Bôn cũng là Long Hưng Triệu Vũ Đế, và cũng chính là “Hán” vương Lưu Bang của Hoa sử.

Hoi Bat Trang Lễ hội làng Bát Tràng, nơi thờ Lưu thiên tử và hoàng hậu

Tương tự, tiếp theo Lý Bôn các sử gia xác định có thời Triệu Việt Vương dựa vào đoạn chép của An Nam chí nguyên Việt sử lược: “Năm Nhân Thọ thứ hai thời Tùy Văn Đế, người cầm đầu châu là Nguyễn (Lý) Phật Tử chiếm Việt Vương Thành”. Vì có “Việt Vương Thành” nên suy ra có Việt Vương và kết luận Việt Vương này là Triệu Việt Vương (!?).

Thực ra chuyện Hậu Lý Nam Đế dưới thời Tùy Văn Đế chiếm Việt Vương Thành là thành … Việt Trì (Phong Châu), cổ thành của người Việt từ thời Chu Văn Lang.

Còn để xác định Triệu Việt Vương dựa vào chữ “Việt Vương Thành” thì cách xác định sau còn chính xác hơn: Việt Vương là vua nước … Nam Việt, họ Triệu tức là con cháu Triệu Vũ Đế. Triệu Việt Vương là vua Nam Việt của nhà Triệu. Triệu Việt Vương tiếp ngôi của Lý Nam Việt Đế thì không phải là vua Nam Việt thì là gì?

Dật sử Việt chép Triệu Quang Phục (Triệu Việt Vương) đóng quân ở đầm Dạ Trạch (Hưng Yên), nằm mộng thấy rồng vàng hiện lên, trao cho móng rồng. Lấy móng rồng đó làm mũ đâu mâu. Từ đó đánh đâu thắng đấy…

Dinh Da Hoa Đền Dạ Trạch thờ Triệu Quang Phục và Chử Đồng Tử

Đầm Dạ Trạch gần bãi Tự Nhiên, gắn với truyền thuyết Chử Đồng Tử và Tiên Dung thời Hùng Vương. Lĩnh Nam chích quái chép sự tích của Chử Đồng Tử và Triệu Quang Phục vào trong một truyện Đầm Nhất Dạ. Tuy nhiên, suy nghĩ kỹ thì thấy người trao móng rồng cho Triệu Việt Vương không phải là Chử Đồng Tử. Chử Đồng Tử tu tiên, chỉ có “bảo bối” là trượng lạp (gậy nón), cưỡi hạc, chứ không cưỡi rồng. Rồng là hình tượng của đế vương mà Chử Đồng Tử thì không làm vua bao giờ.

Người trao móng rồng cho Triệu Quang Phục chính là … Triệu Vũ Đế ở điện Long Hưng (Xuân Quan – Văn Giang) ngay bên cạnh đầm Dạ Trạch. Móng rồng mà dùng làm mũ thì có khác gì là vương miện? Ý nghĩa của việc này là Triệu Vũ Đế (Lý Bôn) đã trao vận hội đế vương (Long Hưng) cho Triệu Quang Phục. Điều này nhấn mạnh triều đại Nam Việt của Triệu Việt Vương là vương triều chính truyền của Triệu Vũ Đế (Lý Bôn – Lưu Bang).

Vế đối về Triệu Việt Vương ở đình Phù Sa (Ninh Bình): “Đâu mâu thánh vũ hưng Nam Lý”, mô tả rất chính xác ý nghĩa của mũ đâu mâu. Triệu Việt Vương là người đã “hưng Nam Lý”, tức là đã chấn hưng nước Nam Việt từ Lý Bôn.

Người tiếp nối Triệu Vũ Đế chấn hưng Nam Việt là Triệu Văn Vương hay Triệu Mạt. Mạt <-> Một. Triệu Mạt là vị vua họ Triệu thứ nhất, cũng là Triệu Đà (Đà <->Đầu). Mạt còn đọc là Muội <-> Mùi <->Dê <-> Dương, là vua Triệu ở Dương Thành (Phiên Ngung).

Thành Phiên Ngung (Quảng Đông) còn có tên là Ngũ Dương Thành với hình tượng 5 vị tiên cưỡi 5 con dê. Thực ra Dương nghĩa là phương Đông, nơi mặt trời lên. Ngũ Dương nghĩa là 5 đời vua nhà Triệu phía Đông (gồm cả Triệu Vũ Đế Lưu Bang).

Sau khi Lữ Hậu mất Triệu Văn Vương đã nối tiếp Triệu Vũ Đế Lưu Bang cai quản đất Nam Việt, xưng đế ngang với nhà Tây Hán. Truyền thuyết Việt chép là Triệu Việt Vương và Lý Phật Tử giảng hòa, chia đôi lãnh thổ, lấy bãi Quân Thần làm ranh giới… Không rõ giữa Triệu Việt Vương và Lý Phật Tử thì ai là Quân ai là Thần. Có lẽ ai có vương miện “móng rồng” thì sẽ là Quân, người kia là Thần.

Triều đại của Lý Phật Tử là triều Tây Hán của các vua danh Hiếu, cũng là con cháu Lý Bôn – Lưu Bang. Lý Phật Tử không có mũ đâu mâu móng rồng của Triệu Vũ Đế nên có vấn đề về danh nghĩa so với triều đại Nam Việt của Triệu Việt Vương. Vì thế Nhã Lang mới được cử đi ở rể để lấy trộm đâu mâu…

Chuyện Nhã Lang – Cảo Nương là hình ảnh của chuyện Minh Vương Triệu Anh Tề làm con tin ở nhà Tây Hán, lấy Cù Thị về lập làm Hoàng hậu và sứ giả Tây Hán là Thiếu Quý xúi giục Cù Thị và Triệu Ai Vương hàng nhà Tây Hán. Anh Tề và Nhã Lang cận nghĩa. Cù Thị và Cảo Nương cận âm.

Sử ký Tư Mã Thiên, Nam Việt Úy Đà liệt truyện có đoạn:
“[Triệu] Hồ mất, thụy là Văn Vương. Anh Tề lên ngôi thay, lập tức giấu ngay ấn Vũ Đế của Triệu Đà“.

Thì ra ấn Vũ Đế của Lưu Bang nằm trong tay nhà Triệu. Đây chính là “móng rồng” mà Triệu Việt Vương đã nhận từ thần nhân. Có thể khi Lữ Hậu mất, người nhà họ Lữ (Lữ Gia) đã lấy ấn Hoàng đế của Lưu Bang mang về phương Nam, rồi tôn một người cháu Lưu Bang lên làm vua nước Nam Việt.

Ấn Vũ Đế là “móng rồng” đã bị Anh Tề giấu. Sau khi Triệu Anh Tề mất Cù Hậu lập thái tử Hưng lên là Triệu Ai Vương, hẳn ấn Vũ Đế nằm trong tay Cù Hậu. Nhà Tây Hán cử Thiếu Quý sang dụ, cả Triệu Ai Vương và Cù Hậu vào chầu như các nước chư hầu, xin nội thuộc. Có thể Cù Hậu đã nộp lại ấn Vũ Đế cho Hiếu Vũ Đế.

Nàng Cảo Nương – Cù Thị phản quốc, sau đó bị tể tướng Lữ Gia giết, rồi đưa Triệu Kiến Đức lên ngôi vua Nam Việt là Triệu Vệ Dương Vương.

Khi Lộ Bác Đức nhà Tây Hán tấn công, quân Nam Việt thất bại. Ngũ Dương Thành thất thủ, Vệ Dương Vương đã cùng tể tướng Lữ Gia lên thuyền nhẹ chạy về cửa biển Giao Chỉ.

Den Van Coi

Đền thờ Lữ Gia ở Vân Côi

Câu đối ở đền thờ Lữ Gia tại Vân Côi (Nam Định):
Triệu thị hữu thiên tồn xã tắc
Hán nhân vô địa xuất lâu thuyền.

Dịch:
Còn trời họ Triệu còn xã tắc
Không Hán, lên thuyền đất chẳng chung.

Theo truyền thuyết người Việt thì Triệu Việt Vương thua Lý Phật Tử, bỏ chạy và chết ở cửa biển Đại Nha. Đây chính là vị vua Triệu cuối cùng, Triệu Vệ Dương Vương. Có thể Vệ Dương Vương đã bị bắt ở vùng cửa sông Đáy (Nam Định, Ninh Bình) ngày nay, là nơi tập trung có các đền thờ Triệu Việt Vương và Lữ Gia.

Vệ còn đọc là Duệ, có nghĩa là cuối cùng. Dương là phía Đông. Triệu Vệ Dương Vương nghĩa là vị vua cuối cùng của nhà Triệu phía Đông… Bởi vì sau đó còn nhà Triệu phía Tây là Nam Triệu của Tây Vu Vương (Tây Lý Vương).

Truyền thuyết Triệu Việt Vương trong dật sử Việt đã chép đầy đủ những sự kiện chính của 4 đời vua Triệu nước Nam Việt kể từ Văn Vương Triệu Mạt tới Vệ Dương Vương Triệu Kiến Đức. Dật sử dân gian còn đầy đủ và chính xác hơn chính sử chép theo sách Tây sách Tàu.

Bốn nhà Triệu trong sử Việt

Có lẽ đoạn sử rối rắm, gây nhiều tranh cãi nhất trong sử Việt là giai đoạn từ Thục An Dương Vương tới Triệu Đà. Không sách nào khớp với sách nào, từ sử ta tới sử Tàu, từ cổ thư tới truyền thuyết. Sử sách gì mà chép những chuyện không thể hiểu nổi, kiểu như An Dương Vương 80 tuổi mới sinh con Mỵ Châu, Triệu Đà thọ 121 tuổi…
Lịch sử không dễ mất đi mà không để lại dấu vết gì. Sự thật ở ngay trước mắt nhưng lại rất xa. Với “tuổi thọ” 121 năm của Triệu Đà thì có thể thấy… trong hình tượng Triệu Đà này có ít nhất là 2, thậm chí là 3 nhân vật lịch sử thật sự. Xin lần lượt bàn từng “vị” Triệu Đà theo dòng thời gian.

Triệu Đà – Trọng Thủy
Nhà Triệu thứ nhất là họ Triệu của vua Tần. Tần Thủy Hoàng có tên Triệu Chính, theo họ mẹ ở nước Triệu. Triệu Chính là con của Trọng Thủy và nàng Mỵ Châu trong truyền thuyết Việt.
Năm 256 trước Công nguyên Tần Chiêu Tương vương diệt nhà Chu, thu chín cái đỉnh về Tần. Thiên tử đã mất thì thiên hạ cũng thay đổi. Đế quốc Tần bắt đầu từ đây chứ không phải đợi đến lúc Tần Thủy Hoàng thống nhất sáu nước.
Sử Việt chép cũng thời gian năm 257 TCN Thục An Dương Vương đánh Hùng Vương lập nước Âu Lạc. Sự kiện này thực ra chính là việc Tần diệt Chu trong Hoa sử.
Truyền thuyết Việt thì chép thành họ Triệu (Triệu Đà) cho con là Trọng Thủy ở rể, lừa lấy mất nỏ thần, đuổi An Dương Vương chạy ra biển. Mối tình Mỵ Châu – Trọng Thủy chính là cuộc hôn nhân Tần – Việt với kết cục bi thảm, ai oán, kết thúc sự tồn tại của vương triều Chu gần 1000 năm.

Long Hưng Triệu Vũ Đế
Khoảng năm 218 Tần Thủy Hoàng sai Úy Đồ Thư phát 50 vạn binh, chia làm 5 đạo quân tấn công Bách Việt. “Trong 3 năm, [quân Tần] không cởi giáp dãn nỏ. Giám Lộc không có đường chở lương, lại lấy binh sĩ đào cừ cho thông đường lương để đánh nhau với người Việt. Giết được quân trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống. Nhưng người Việt đều vào trong rừng, ở với cầm thú, không ai chịu để cho quân Tần bắt. Họ cùng nhau đặt người Tuấn kiệt lên làm tướng để ban đêm ra đánh quân Tần, đại phá quân Tần và giết được Đồ Thư“ (Hoài Nam tử).
Các sử gia ngày nay cho rằng “người Tuấn kiệt” ở đây là Thục Phán. Nhưng như vậy quá rối rắm và vô lý. Thục Phán đã là vua Âu Lạc từ năm 257 TCN, sao tới năm 218 TCN lại được các tướng suy tôn làm thủ lãnh? Âu Lạc đã bị Tần diệt, có còn vua đâu nữa?
Khởi nghĩa kháng Tần của người tuấn kiệt tại Giao Chỉ không phải là Thục Phán. Xét về thời gian và hành trạng thì người Tuấn kiệt lãnh đạo dân Âu Lạc lúc này phải là … Lưu Bang. Do chế độ hà khắc của Tần Thủy Hoàng, Lưu Bang là một quan nhỏ dưới thời Tần, khi dẫn dân phu đi Lịch Sơn vì phu dịch bỏ trốn nhiều quá, biết khó tránh tội chết, nên đã tự mình dựng cờ “khởi nghĩa”, được mọi người hưởng ứng. Khởi nghĩa của Lưu Bang thắng lợi cũng đúng vào sau lúc Tần Thủy Hoàng mất (năm Tần Nhị Thế thứ 3, tức 206 TCN). Hình thức và thời gian khởi nghĩa này thật khớp với ghi chép của Hoài Nam tử ở trên.
Theo Sử ký Tư Mã Thiên thì Lưu Bang là người đất Phong, làm đình trưởng ở huyện Bái, khởi nghĩa ở núi Mường Đăng. Lưu Bang cũng là Lý Bôn trong sử Việt. Lý Bôn được thờ rất nhiều ở vùng xứ Đoài, là đất Phong Châu phía Tây Giao Chỉ xưa. Đất Bái là Thái Bình (Thái Bình đọc lái là Bái Đình), được chép là quê của Lý Bôn. Mường Đăng, nơi Lý Bôn trảm xà khởi nghĩa, hẳn là vùng Thái Nguyên – Bắc Giang, nay có tục thờ Lý Bôn. Lưu Bang – Lý Bôn, người khởi đầu triều Tiền Lý của sử Việt.
Lý Bôn được sử Việt gọi là Lý Nam Đế, người phủ Long Hưng đất Thái Bình. Long Hưng hay Hưng Lang là danh xưng của Lý Bôn – Lưu Bang, đã bị biến thành Hán Vương.
Bất ngờ hơn khi truyền thuyết Việt có chuyện Triệu Vũ Đế lập điện Long Hưng ở Xuân Quan (Văn Giang, Hưng Yên). Và theo Thiên Nam ngữ lục thì chính Triệu Vũ Đế mới là người đã nhân thấy rồng bay lên trên sông Nhị Hà mà đặt tên cho thành Thăng Long, chứ không phải Lý Công Uẩn. Triệu Vũ Đế họ Lý, danh xưng Long Hưng thì hẳn chính là Lưu Bang – Lý Bôn. Như vậy trong truyền thuyết Việt Lưu Bang được gọi là Triệu Vũ Đế.
Câu đối ở điện Long Hưng:
Bạt địa nguy thôi phương tích bất tùy Tần Hán khứ
Xung thiên vũ trụ anh tiêu trường yết Lạc Hùng lai.

Dịch:
Bạt đất mênh mông, danh tiếng thơm bất khuất thời Tần Hán
Động trời khắp chốn, chí anh hùng giữ mãi buổi Lạc Hùng.

Cũng vị Triệu Vũ Đế này còn lấy vợ là Trình Thị ở đất Đồng Xâm – Kiến Xương – Thái Bình. Sử ký chép Triệu Đà quê ở Chân Định… Chân Định là tên cũ của đất Kiến Xương, là nơi Lưu Bang lấy … Lữ Hậu, ở vùng đất Bái (Thái Bình).

Den Trinh Thi Đền thờ Hoàng hậu Trình Thị ở Đồng Xâm, Kiến Xương, Thái Bình

Lưu Bang và Lữ Hậu còn được thờ đúng họ tên tới nay ở ngay đình Bát Tràng – Hà Nội, cạnh điện Long Hưng ở Xuân Quan. Ngoài ra, ở làng Trâu Lỗ (Hiệp Hòa – Bắc Giang) có thờ Vua ông Vua bà, không rõ lai lịch, có thể cũng chính là Lưu Bang và Lữ Hậu vì suốt lịch sử Hoa và Việt chỉ có 2 vị này là có thể đều cùng gọi là vua được.
Tư liệu dân gian cho phép đoán định Triệu Vũ Đế hay Triệu Đà trong sử Việt là Lưu Bang – Lý Bôn phần nào cũng sáng tỏ hơn những thông tin khác về Triệu Đà. Triệu Đà là huyện lệnh huyện Long Xuyên, có thể hiểu là chuyện Lưu Bang ban đầu là đình trưởng đất Bái (phần Đông Giao Chỉ) dưới thời Tần. Hoặc nói tới chiến công của Lưu Bang giết thái thú quận Tam Xuyên ở Ung Châu là Lý Do, con thừa tướng Lý Tư nhà Tần.
Chuyện Nhâm Ngao trao quyền quận Nam Hải cho Triệu Đà, Triệu Đà nhân đó đánh chiếm Quế Lâm, Tượng Quận có thể cũng là hành trạng của Lưu Bang khi khởi nghĩa kháng Tần, thắng lợi ở 3 vùng đất mà Tần chiếm của Việt trước đây.
Triệu Vũ Đế – Lý Bôn lập ra nước Nam Việt, nên có tên Lý Nam Đế. Có thể triều đại mà Lưu Bang lập nên gọi đúng là nhà Triệu, nước Nam Việt, chứ không phải Hán. Hiếu Cao Tổ Lưu Bang không dính dáng gì tới Hán cả. Lưu Bang là người khai mở kỷ nhà Triệu (thứ hai) năm 206 TCN trong sử Việt.

Nhà Triệu – Lữ Gia
Nếu Triệu Vũ Đế là Lưu Bang, vậy nhà Triệu với 5 đời vua được ghi trong sử sách là như thế nào?
Ở Quảng Tây đã tìm thấy mộ của Triệu Mạt với ấn “Văn đế hành tỷ”. Nhà nghiên cứu Nguyễn Cung Thông cho gợi ý: Triệu Mạt là Triệu Một, tức là vị vua đầu của nhà Triệu. Như vậy nhà Triệu Nam Việt bắt đầu từ Triệu Văn Vương chứ không phải Triệu Vũ Đế.
Nhà Triệu này xuất hiện sau khi Lữ Hậu mất năm 180 TCN như Sử ký Tư Mã Thiên chép. Nhà Triệu thứ ba này mới là nhà Triệu đã chiếm Mân Việt và Tây Âu Lạc. Sự có mặt của tể tướng 4 đời vua Triệu là Lữ Gia cho thấy có thể nhà họ Lữ (của Lữ Hậu) sau khi thất bại nắm quyền ở phương Bắc đã tôn một người con hay cháu của Lưu Bang lên làm vua Nam Việt. Vị vua này gọi là vua đầu Triệu Mạt. Vì nhà Triệu này được chuyển tiếp một cách không chính thức nên không có vua Vũ Đế, mà bắt đầu bằng Triệu Văn Vương. Triệu Vũ Đế đã là Lưu Bang, cũng là ông tổ của nhà Triệu Nam Việt.
Nhà Triệu thứ ba ở Phiên Ngung kết thúc khi Phục Ba tướng quân Lộ Bác Đức của nhà Hiếu tấn công Nam Việt. Lữ Gia và Triệu Thuật Dương Vương lên thuyền nhẹ chạy từ Phiên Ngung về cửa biển ở đất Bái (đất của họ Lữ). Huyền sử Việt chép thành chuyện Triệu Việt Vương bị Lý Phật Tử đuổi, chết ở cửa Đại Nha (Nam Định).
Lữ Gia lui về Phong Châu lập phòng tuyến chống nhà Hiếu (Tây Hán) dọc sông Lô. Phong Châu là đất gốc của Triệu Vũ Đế Lưu Bang – Lý Bôn. Tàn quân nhà Triệu lui về đây cũng hợp lý. Đền thờ Lữ Gia nay có ở Nam Định và vùng Vĩnh Phúc, Sơn Tây là dấu vết của cuộc chiến này.

Den Trang Dong Nơi thờ Lữ Gia ở thôn Tràng Đông, xã Trưng Vương, Việt Trì

Nam Triệu – Tây Lý Vương
Việc Lữ Gia và Triệu Thuật Dương Vương rút về Phong Châu cho thấy đã có một cuộc di cư lớn của nhóm người Tày Thái từ Quảng Đông về Tây Giao Chỉ khi Lộ Bác Đức tấn công Phiên Ngung (năm 111).
Tư liệu của nhà nghiên cứu Lương Nghị về đền thờ Lữ Gia ở thôn Tràng Đông, xã Trưng Vương, Việt Trì cho biết:
Sau khi Lữ Gia mất, đang lúc giao thời một người chắt của Triệu Đà là Nguyễn Vụ với danh nghĩa con cháu nhà Hùng, tự lên ngôi vua ở cố đô Văn Lang, đổi tên Loa Thành thành Tây Vu Thành, lấy hiệu là tây Lý Vương. Nhà vua hiệu triệu nhân dân nổi dậy chống Hán, lấy Tây Vu Thành làm căn cứ chống giặc. Đồng thời cử con là Lang Tề sang nhà Tây Hán điều đình để chấp nhận vương triều của mình. Nhà Hán ép Lang Tề lấy vợ Hán nhưng Lang Tề không chịu, bèn về nước liên kết với các hào kiệt chống Hán. Các quân sĩ của Lữ Gia còn lại tiếp tục chiến đấu dưới lá cờ của Tây Lý Vương. Cuộc chiến đấu kéo dài 14 năm sau, làm cho quân Hán vô cùng khốn đốn, sau đó mới vị tiêu diệt.
Tư liệu này hoàn toàn trùng hợp với chuyện Nam Chiếu trong Lĩnh Nam chích quái cho biết “người Nam Chiếu là con cháu Triệu Vũ Đế”. Khi Lộ Bác Đức tấn công Nam Việt thì “Con cháu họ Triệu tản mát bốn phương, sau trở về Thần Phù, Hoành Sơn, là những xứ vắng vẻ không người. Khi bộ hạ đông đúc họ bèn đóng tàu thuyền thỉnh thoảng ra bể đột nhập vào nội địa cướp người ven bể, giết các quan lệnh của nhà Hán. Dân đều sợ phục, gọi là Nam Triệu, sau gọi sai là Nam Chiếu”.
Cái tên Nguyễn Vụ của người chắt Triệu Đà cũng tương tự trường hợp sách Tàu đổi họ của Lý Thân (Lý Ông Trọng) thành Nguyễn Thân. Nguyễn Vụ hay Lý Vụ, Lý Vũ, tức là vua Lý. Vùng Tây Vu trong Lĩnh Nam chích quái gọi là đất Nam Triệu, do họ Lý lãnh đạo, giao hảo với nhà Tây Hán (cử Lang Tề đi sứ), chống Đông Hán, rồi hàng phục nhà Hậu Lý của Lý Bí – Lưu Bị thời Gia Cát Vũ Hầu (chuyện Mạnh Hoạch).
Tây Vu Thành không phải là Loa Thành ở Cổ Loa, mà là vùng đất phía Tây Giao Chỉ (đất Phong), nơi có cố đô Việt Trì từ thời Lang Xương Chu Văn Vương (Văn Lang). Danh xưng Tây Lý Vương cho thấy rõ con cháu Triệu Vũ Đế mang họ Lý của Lý Bôn. Tây Lý Vương là triều Lý Nam Triệu ở phía Tây, phân biệt với triều Lý Nam Việt ở phía Đông (Phiên Ngung) trước đó. Nam Triệu được sử Việt còn gọi là triều Hậu Lý Nam Đế, về sau hàng phục nhà Tùy năm 602.

Biểu đối chiếu 4 nhà Triệu trong sử ViệtBon nha Trieu

Họ Lý của nhà Triệu bắt đầu từ Lý Bôn – Lưu Bang. Năm Quý Tỵ 208 TCN Lý Bôn khởi nghĩa chống Tần thắng lợi trên đất Âu Lạc. Lý Bôn, người Việt Giao Chỉ đầu tiên xưng Đế, mở nước Vạn Xuân. Xác định họ Lý truyền từ Lưu Bang Triệu Vũ Đế, sang Nam Việt Triệu Văn Vương rồi Nam Triệu Tây Lý Vương đã làm thông suốt một mảng thời gian quan trọng trong sử Việt, kết nối lịch sử phần Đông với Tây, Nam với Bắc.

Nam Triệu và Nam Chiếu

Trong Lĩnh Nam chích quái có một câu chuyện rất thật, không có chút huyền thoại hay “chích quái” nào nhưng lại khó hiểu nhất vì chẳng hề ăn khớp tí gì với chính sử. Đó là Truyện Nam Chiếu. Nay xin “đọc lại” câu chuyện này, không cần phải “giải mã” gì, chỉ cần đối chiếu với những gì đã và đang biết về lịch sử bị lãng quên của miền Tây và Nam nước ta.

Câu đầu tiên của Truyện Nam Chiếu khẳng định: “Người Nam Chiếu là con cháu vua Vũ Đế Triệu Đà”. Câu khẳng định này đúng là đánh đố người đọc ngày nay. Nam Chiếu được coi là quốc gia của người Di Bạch vùng Vân Nam, sao lại là con cháu Triệu Đà được? Nhưng đích thực, câu mở đầu này đã xác định nước “Nam Chiếu” thực chất là ở đâu.

Triệu Vũ Đế dựng nước Nam Việt, đóng đô ở Phiên Ngung – Quảng Đông. Thành phần dân tộc chính vùng này là nhóm người Tày Thái. Nam Chiếu là con cháu Triệu Đà, tức là một quốc gia người Thái. Lịch sử Nam Chiếu cho biết quốc gia người Thái này đã từng trải rộng trên đất Tây Bắc Việt Nam, Lào và Bắc Thái Lan.

Nước Nam Chiếu ở trong truyện không phải mới bắt đầu vào thời Đường như nước Nam Chiếu theo chính sử ở Vân Nam, mà có gốc gác từ thời Tây Hán. Khi Lộ Bác Đức tấn công Nam Việt thì “Con cháu họ Triệu tản mát bốn phương, sau trở về Thần Phù, Hoành Sơn, là những xứ vắng vẻ không người. Khi bộ hạ đông đúc họ bèn đóng tàu thuyền thỉnh thoảng ra bể đột nhập vào nội địa cướp người ven bể, giết các quan lệnh của nhà Hán. Dân đều sợ phục, gọi là Nam Triệu, sau gọi sai là Nam Chiếu”.

Đất Hoành Sơn mà ở gần cửa Thần Phù thì là đèo Ngang giữa Ninh Bình và Thanh Hóa, chứ không phải Hoành Sơn ở Quảng Bình. Con cháu họ Triệu như vậy trở về vùng Ái Châu tụ tập.

Đoạn ghi chép trên rất giống với chuyện… Man vương Mạnh Hoạch chống lại các vị quan họ Chu của nhà Đông Hán trong thần tích làng Hương Ngải – Sơn Tây. Mạnh Hoạch hoạt động cả một dải từ Hưng Hóa tới Ái Châu, làm quan cai trị ở Giao Châu lúc đó phải lao đao… Nam Triệu như vậy là tên gọi nước của Mạnh Hoạch từ thời Đông Hán, là vùng đất phía Tây Giao Chỉ.

Tiếp theo, “Đến đời Ngô, Tôn Quyền sai Đái Lương, Lữ Đại làm thú mục để đánh dẹp. Quân Nam Chiếu ở cả một vùng từ núi Thiên Cầm tới Hà Hoa, Cao Vọng, Hoành Sơn, Ô Tung, Hải Ngạn, Sử Bộ, Trường Sa, Quế Hải, Vọng Cái, Lỗi Lôi, núi cao bể rộng, sóng gió hiểm trở, không có một vết chân người. Quân Nam Chiếu ở đấy thường lấy việc cướp bóc để sinh sống, đánh giết thú mục, không thể ngăn cản nổi.

Đây cũng là thành tích của Mạnh Hoạch khi phần đất phía Đông Giao Chỉ được Sĩ Nhiếp Ngạn Uy dâng cho Ngô Tôn Quyền. Đoạn trên cho biết một loạt các địa danh “từ núi Thiên Cầm tới Hà Hoa, Cao Vọng, Hoành Sơn, Ô Tung, Hải Ngạn, Sử Bộ, Trường Sa, Quế Hải, Vọng Cái, Lỗi Lôi”. Các địa danh này hẳn nằm ở Tây Bắc và Tây Thanh Nghệ ngày nay, là đất Nam Triệu của Mạnh Hoạch.

Mạnh Hoạch hay Mãnh Hoàng, có thể chỉ là cách gọi vị vua của người Mường Mán. Mãnh Hoàng là con cháu họ Triệu, sau khi kinh đô Phiên Ngung của Nam Việt thất thủ đã rời về Tây Giao Chỉ và hùng cứ một vùng, liên tục chống lại các quan lại nhà Hán rồi tới nhà Ngô. Tiếp theo thì như đã biết, Vũ Hầu Gia Cát, thừa tướng của nhà Thục đã vượt Lô Giang, tiến vào Tây Bắc bình định, thu phục Mãnh Hoàng. Mãnh Hoàng tiếp tục cai quản khu vực Nam Triệu này dưới hình thức tự trị, độc lập.

Truyện Nam Chiếu kể tiếp: “Cuối đời Tấn thiên hạ rối loạn, có người thổ tù là Triệu Ông Lý cũng là con cháu của Triệu Vũ Đế, anh em đông đúc, thảy đều dũng lược hơn người, ai nấy đều nể phục, cùng hợp lại với quân Nam Chiếu, được hơn hai vạn người, lại đem châu báu ngà ngọc hiến cho nước Tây Bà Dạ, xin chỗ sinh sống ở vùng đất trống ven bờ biển.

Nếu đối chiếu với tộc phả họ Phạm:
Cuối đời Hùng Duệ Vương (258 trước CN) con trai trưởng của Phạm Duy Minh ở xứ Đằng Châu, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên ngày nay là Đại lang Phạm Duy Hinh cùng Lý Thành (con Lý Thân – Lý Ông Trọng) trấn thủ đất Nam Hà gồm 2 châu là Ái châu (Bình Trị Thiên) và Trung châu (gọi là xứ Lâm Ấp) – tức là Nam Trung bộ ngày nay.

Sau khi Triệu Đà chống lại nhà Nam Hán, lập nên nước Nam Việt (207 trước CN) sáp nhập nước Âu Lạc vào Nam Việt và thu gom cả đất Nam Hà (xứ Lâm Ấp). Chỉ đến khi nhà Hán xâm chiếm lại Nam Việt, nhà Triệu bị diệt vong (111 trc CN) thì họ Lý xưng vương xứ Lâm Ấp. Mãi đến đời Lý Khu Kiên mất, họ Phạm kế vị với 19 đời vua trải qua gần 500 năm (140-605), đóng đô tại thành Châu Sa ( xã Tịnh Châu huyện Sơn Tịnh tỉnh Quảng Ngãi ngày nay).”

Có thể thấy Triệu Ông Lý, con cháu Triệu Đà, là họ Lý, bắt đầu từ Lý Thân (Lý Ông Trọng). Vùng đất Tây Giao Chỉ là vùng Lâm Thao, nơi Lý Ông Trọng trấn giữ người Hồ dưới thời Tần.

Đặc biệt truyền phả họ Nguyễn còn chép rằng Triệu Đà chính là Lý Ông Trọng. Chuyện này tuy còn nhiều nghi vấn, nhưng có thể có phần nào là sự thật khi con cháu Triệu Đà cũng là con cháu của Lý Thân, chiếm vùng đất Tây Giao Chỉ dưới thời Hán.

Vùng Tây Giao Chỉ là đất của Mãnh Hoàng (Mạnh Hoạch), còn gọi là Nam Triệu, thời Tam quốc đã hàng phục nước Thục nhờ công của Vũ Hầu Gia Cát. Khi nhà Tấn diệt Thục, Tấn chỉ chiếm được vùng Xuyên Thục phía Bắc của nước này. Phần phía Nam vẫn do Mãnh Hoàng tự trị kiểm soát. Theo Truyện Nam Chiếu thì lúc này Triệu Ông Lý, con cháu Triệu Đà – Lý Thân, đã lên nắm quyền cai quản ở đây. Triệu Ông Lý chống lại nhà Tấn, “cùng hợp với quân Nam Chiếu”, tức là hợp với quân của họ Phạm ở phía Nam vùng ven biển Trung Bộ theo như tộc phả họ Phạm chép.

Truyên Nam Chiếu chép: “Khi ấy, nước Tây Bà Dạ chia đều đất ra thành hai lộ. Một lộ trên từ Quý Châu, dưới tới Diễn Châu gọi là lộ Già La, trên từ Cầm Châu xuống tới Hoan Châu gọi là lộ Lâm An giao cho Nam Chiếu và Triệu Ông Lý thống lĩnh. Sau đó, ông Lý xây thành ở tổng Cao Xá, đất Diễn Châu, đông giáp với biển, tây tới nước Bà Dạ, nam tới Hoành Sơn, tự xưng làm chúa.”

Có thể thấy nước Nam Chiếu trong truyện ở thời kỳ nhà Tấn chính là xứ Lâm Ấp hay Nam Hà trong tộc phả họ Phạm. Xứ này bao gồm 2 phần:
– Phần lộ trên từ Quý Châu tới Diễn Châu do Triệu Ông Lý cai quản. Lộ này có tên Như Hoàn, hay Già La, sách khác gọi là Như La, Gia Viễn. Đây là phần đất liền không giáp biển, là Tây Giao Chỉ, gồm cả đất Lào ngày nay. Tên gọi Già La hay Như La cho thấy vùng này chính là nước Lỗ (La) của thời Chiến Quốc. Đây cũng là đất Lâm Thao thời Tần, trước do Lý Ông Trọng cai quản, sau đó giao cho con cháu Lý Thân.
– Lộ dưới từ Cầm Châu tới Hoan Châu gọi là Lâm An, do con cháu họ Phạm quản lý. Đây là phần giáp biển, ven biển miền Trung ngày nay. Tên lộ Lâm An cho thấy đây là đất Yên (An) thời Chiến Quốc, đã được nhà Tần giao cho Phạm Duy Hinh, con của tướng Phạm Duy Minh ở Đằng Châu cai quản.

Lam Ap
Bản đồ trên ước vẽ 2 phần đất Già La và Lâm An từ thời Tấn. Đây là phạm vi nước Lâm Ấp vẫn được mô tả trong sử sách, có phía Đông giáp biển, Tây đến Vân Nam …

Truyện Nam Chiếu kể tiếp: “Nhà Đông Tấn sai tướng là Tào Khả đem quân sang đánh, Ông Lý mai phục ở rừng núi hiểm trở nơi đầu nguồn sông mà đánh, rồi lại tới nấp ở núi Liên Vị, địch tới thì mình đi, địch đi thì mình tới, sáng ra tối vào, cầm cự trong 4, 5 năm trời, không hề đối đầu. Quân Tấn không chịu nổi lam chướng, chết hơn quá nửa, bèn rút quân về.

Nhà Tấn sau khi diệt Thục và Ngô, tấn công xuống phương Nam. Nhưng gặp sự kháng cự của Mãnh Hoàng, rồi Triệu Ông Lý ở vùng Nam Triệu này, không tiến nổi. Vùng đất này như vậy vẫn giữ độc lập từ thời Tấn.

Lý Ông Nam Triệu tương đương với … Lý Nam Đế (Triệu = Chúa), trong sử Việt được gọi là triều Hậu Lý Nam Đế. Tới thời Tùy Cao Tổ năm 602 tướng Lưu Phương đã dụ hàng con cháu của Nam Triệu, đưa vùng đất La – Lỗ nhập vào đất Tùy. Năm 605 Lưu Phương cũng tấn công xuống phía Nam thắng lợi, đuổi họ Phạm chạy ra ngoài hải đảo, sát nhập nốt đất An – Yên vào nhà Tùy. Nước “Nam Triệu” của Triệu Ông Lý chấm dứt ở đây sau 600 năm tồn tại. Nhưng sau đó, một nước Nam Chiếu mới lại nổi lên…

Tộc phả họ Phạm viết: “Đến đời vua họ Phạm thứ 19 là Phạm Chí bị tướng nhà Tuỳ là Lưu Phương bất ngờ đột kích, cướp phá đô thành Châu Sa, vơ vét của cải , châu báu cùng 18 pho tượng vàng của 18 vua họ Phạm, khiến Phạm Chí và con là Phạm Trung chạy ra các vùng hải đảo quanh đảo Côn Lôn để cầu cứu, được 3, 4 vạn viện binh về cùng Mai Thúc Loan và cha con Phùng Hưng, Phùng An , diệt được quan quân nhà Đường và lập Mai Thúc Loan làm Bố Cái Đại vương, tức Mai Hắc đế (766).

Còn Truyện Nam Chiếu chép: “Quân Nam Chiếu tới cướp các xứ Nam thành, Đông thành, Trường An, quan lệnh không thể dẹp nổi. Tới khi nhà Đường thịnh lên, vua Ý Tông sai Cao Biền đem quân sang dẹp, không đánh nổi phải bỏ về.

Đoạn này nói tới cuộc khởi nghĩa thời Mai Thúc Loan – Phùng Hưng, tấn công chiếm thành Tống Bình (Trường An?). Phải tới Cao Vương Biền mới đuổi được quân Nam Chiếu của họ Phùng ra khỏi Đông Giao Chỉ, và đặt vùng này làm Tĩnh Hải quân. Nhưng phía Tây Giao Chỉ vẫn do Nam Chiếu chiếm giữ. Thậm chí còn mở rộng ra thành 6-7 “chiếu” theo như truyền thuyết về Khun Borom ở Lào.

oS7CpqZF.HNsjN4DR34N2Q
Đoạn cuối cùng của Truyện Nam Chiếu: “Tới đời Ngũ Đại vua Tấn là Thạch Kính Đường sai tướng tư mã là Lý Tiến đem 30 vạn quân đánh Đồ Sơn, quân Nam Chiếu bèn rút về biên giới Ai Lao, gọi là nước Đầu Mô, nay là đất Bồn Man”.

Thời Thạch Kính Đường thì Hoa Nam đã chia năm xẻ bảy, còn hơi sức đâu mà nhà Hậu Tấn đánh dẹp Nam Chiếu. Lúc này trên đất Tĩnh Hải là triều đại của Nam Hán Lưu Cung. Đoạn sử trên có thể nói tới sự kiện Cao Biền đánh Nam Chiếu từ thời Đường Ý Tông, hoặc chuyện Đoàn Tư Bình diệt Nam Chiếu, lập nước Đại Lý. Có điều sử Tàu đã biến chuyện Nam Chiếu bị diệt thành chuyện Nam Hán Lưu Cung cử Lý Tiến đánh Khúc Thừa Mỹ. Có thể Lý Tiến là tướng của Lưu Cung quãng năm 936 – 940 (thời Hậu Tấn) đã tấn công Nam Chiếu ở Tây Giao Chỉ, chứ không phải đánh Khúc Thừa Mỹ.

Phải nói Truyện Nam Chiếu trong Lĩnh Nam chích quái là một ghi chép rất đầy đủ và chân xác về lịch sử vùng Tây Giao Chỉ trong suốt một thời kỳ dài từ Đông Hán tới tận thời Ngũ Đại. 1000 năm lịch sử của miền Tây đã bị lãng quên, may mắn còn được lưu lại trong truyện. 600 năm Nam Triệu và 400 năm Nam Chiếu, kiên cường chống lại phương Bắc, huy hoàng mở các quốc gia người Thái khắp Đông Nam Á.

Hương Bổng Đổng Đằng

Văn bia đình Chèm do tiến sĩ Cao Dương Trạc (đỗ tiến sĩ khoa Ất Mùi năm 1715) chép: “Hương, Bổng, Đổng, Đằng là bốn vị tối linh của nước ta vậy.
Thường người ta nói đến Tứ bất tử Việt Nam là Tản Viên Sơn Thánh, Phù Đổng Thiên Vương, Chử Đồng Tử và Mẫu Liễu Hạnh. Vậy còn “bốn vị tối linh” này là những ai, có thành tích gì mà nhân dân tôn làm “tối linh” thần?
Cũng tại đình Chèm, chủ đề tứ linh được đề cập khá nhiều, từ những bức chạm trên mái đình đến bài thơ trong chính điện:
Tu linh thiBức chạm Phượng hàm thư với bài Tứ linh thi ở đình ChèmBài Tứ linh thi chạm ở mái đình Chèm (tương truyền làm từ thời Cao Biền):
Thụy vật tương toàn hữu tứ linh
Hiếu bằng khắc họa kiến văn minh
Vũ mao lân giáp tề xưng trưởng
Kim bích đan thanh các tiếu hình
Bính nhĩ thần cung phương tích tại
Hoảng nhiên thánh thế mỹ tường trình
Phù trì thượng ngưỡng vô cùng đức
Tái tục phù ê vịnh thái bình.
Hoàng đồ củng cố

Dịch (theo sách Danh nhân Lý Ông Trọng với di tích và lễ hội đình Chèm, năm 2011):
Vật đẹp trong đời có tứ linh
Hãy xem khắc họa thấy văn minh
Cánh lông mai vảy cùng khoe đẹp
Vàng biếc son xanh đủ mọi hình
Rực rỡ cung thần lưu dấu tốt
Nguy nga đất thánh rạng điềm lành
Chở che ngưỡng vọng bền ân đức
Lại thấy chim ca khúc thái bình!
Giữ vững non sông

Thử lần theo dấu vết các đền thờ và truyền tích để xem tứ linh thần nước Nam là những ai.

Hương – Thụy Hương Lý Thân
Vị thứ nhất “Hương” thì khá rõ, chính là người được thờ ở nơi có văn bia trên, là đình làng Thụy Hương, tức là Lý Ông Trọng. Làng Thụy Hương không hiểu sao ngày nay lại chép thành Thụy Phương. Tên làng như vậy đã có, vậy cái tên Chèm hẳn chỉ một sự tích khác.
Trong bài trước đã nêu Chèm là từ đọc sai của Chiêm (Từ Liêm thiết Chiêm). Vị tối linh thứ nhất của nước ta là đức thánh Chiêm, người đã có công đánh giặc Chiêm Hung Nô – Hồ vào thời nhà Tần. Lý Ông Trọng có tên thánh là Hy Khang Thiên Vương. Hy là từ phiên thiết của Hoa Di. Hy Khang nghĩa là “Uy trấn Hoa Di”, như bức hoành phi trong đền Chèm còn lưu.
Bên cạnh công trạng lịch sử khá rõ Lý Ông Trọng còn có công … giúp Sơn Tinh đánh Thủy Tinh. Thần tích đình Chèm ghi việc Lý Ông Trọng chém thuồng luồng, là đại tướng của Thủy Tinh, ở đoạn sông Hồng chảy qua làng.
Hay trong bản thần tích bằng thơ đình Vật Lại Sự tích thánh tản viên diễn ca cũng kể về việc quân của Thủy Tinh khi tấn công Sơn Tinh đi qua Chèm đã ăn thịt mẹ Lý Ông Trọng. Do vậy Đức thánh Chèm nổi giận, chăng lưới đón lõng quân của Thủy Tinh:
Ông Chèm báo oán Long Vương
Lưới giăng ngăn khúc bến giang đón về.
Thuở ấy Long tộc Thủy tề
Đem quân lên đánh Ba Vì Tản Viên.
Khi quân Thủy Tinh bị Sơn Tinh đánh thua chạy rút về thì:
Thủy quân nẻo cũ quen về
Ngày sau tức thì đến xã Từ Liêm.
Tiên binh xung lưới ông Chèm
Ai hòa chẳng được càng thêm lo lường.
Hội đồng cá rắn biên giang
Ông Chèm ra thấy lòng càng mừng thay.
Trả ơn thân mẫu khi nay
Dạng chân sông cả, đôi tay vơ quàng.
Bủa vây mọi khúc biên giang
Rắn rồng bắt lấy bật ngang vào đồi.
Thủy Tinh buộc phải chạy trốn theo đường sông Hát mà ra biển, không dám qua sông Hồng nữa.
Đoạn sông Hồng gần Chèm nay còn có bãi bồi lớn giữa sông tên là Võng La, có lẽ nhắc tới tích Lý Ông Trọng giăng lưới bắt thủy quái ở đây.
Câu đối ở đình Chèm tóm tắt sự tích Lý Ông Trọng như sau:
Đồng ảnh khiếp cường di, chung cổ thần uy dương Bắc tái
Thiết la tiêu thủy quái, ức niên thánh lực hộ Nam bang.

Dịch:
Tượng đồng khiếp cường di, ngàn xưa oai thần vang ải Bắc
Lưới sắt trừ thủy quái, vạn năm sức thánh giúp nước Nam.

Thành tích trừ thủy quái của Lý Ông Trọng xem ra… không ăn nhập gì lắm với việc ông trấn quần Hồ thời Tần. Một đại tướng, phò mã của Tần Thủy Hoàng, một nhân vật lịch sử rõ ràng, lại có truyền thuyết gắn với Sơn Tinh – Thủy Tinh. Thật chưa hiểu thế nào…

Bổng – Phù Đổng Thiên Vương
Rà hết truyền thuyết, lịch sử Việt chẳng thấy có vị thần nào có tên hay sinh ra ở làng “Bổng” cả. Chỉ có mỗi Phù Đổng thiết Phổng. Âm “ph” và âm “b” có thể đổi cho nhau trong cổ âm (ví dụ phòng – buồng, phật – bụt) nên Phổng còn đọc là Bổng. Hoặc chữ Phù nếu đọc là Bồ thì Phù Đổng = Bồ Đổng thiết Bổng.
Phép phiên thiết cho thông tin: thần “Bổng” là Thánh Gióng. Làng Phù Đổng là làng Bổng ở Tiên Du xưa. Gọi là Bổng vì Thánh Gióng mới 3 tuổi, ăn cơm cà của làng mà lớn “phổng”, nhanh như thổi, cưỡi ngựa sắt đánh giặc Ân ở Vũ Ninh. Thắng giặc ngài bỏ mũ áo lên núi Sóc Sơn rồi bay… “bổng” về trời…
Đúng là từ Thánh Gióng đã mở ra một thời đại “bay bổng” tuyệt vời của người Việt. Cùng với Ninh Vương Cơ Phát (Vũ Ninh) mở đầu nhà Chu kéo dài thiên thu, hình thành nền tảng văn hóa xã hội Trung Hoa rực rỡ.
Câu đối ở đền Phù Đổng:
Kiếm mã phấn Vũ Ninh, Hùng Lạc sơn hà kinh tái tạo
Miếu đình sâm Tiên Phổ, Viêm Giao vũ trụ ngưỡng dư linh.

Dịch:
Gươm ngựa động Vũ Ninh, Hùng Lạc non sông gây dựng lại
Sân miếu quang Tiên Phổ, Viêm Giao trời đất ngưỡng oai linh

Tiên Phổ ở đây là huyện Tiên Du.
Ngu monĐền Phù Đổng ở Bắc NinhĐổng – Huyền Thiên Trấn Vũ
Nếu “Bổng” là Phù Đổng thiên vương thì “Đổng” là ai?
Đền Bộ Đầu ở bên sông Hồng thuộc Thường Tín – Hà Nội hé lộ thân thế của vị thần này. Đền này tương truyền thờ Đổng Sóc thiên vương nhưng lại với những ghi chép sự tích hoàn toàn khác vị Phù Đổng thiên vương đánh giặc Ân ở trên. Thần tích kể có người đàn bà trong làng ra bờ sông gánh nước, bị thuồng luồng lôi tuột xuống sông. Bỗng thấy người con từ trên trời sà xuống cứu mẹ, giẫm chết hai con thuồng luồng. Người con cũng hóa luôn, để lại trên bờ sông một vết chân to lớn. Vì thế nên gọi là xã Bộ Đầu.
Den Bo DauĐền Bộ ĐầuVết chân lớn của thánh cũng gặp trong truyền thuyết Phù Đổng ở Tiên Du, mẹ Gióng đi làm đồng giẫm phải dấu chân lớn về nhà có mang sinh ra Thánh Gióng… Còn chuyện giết thuồng luồng trả thù cho mẹ thì đã gặp trong chuyện của Thánh Chèm ở trên.
Nay ở đền Bộ Đầu còn bức tượng đất nung của thần Đổng cao 7-8 mét, một tay cầm long đao, một tay cầm mộ tháp mẫu thân, chân giẫm giao long. Trước đây đền có mái cao, mở như gác chuông, đứng từ bến sông có thể chiêm ngưỡng được tượng thánh oai phong lẫm liệt, đang hướng mắt nhìn ra sông Hồng.
Câu đối ở đền Bộ Đầu:
Tự đa đào chú thành chân tượng
Trực thướng phi thăng sính dị long.

Dịch nghĩa:
Đúc bằng đất nung thành chân tượng
Bay từ trời xuống giết dị long.

Dong thien vuongTượng đất ở đền Bộ Đầu
Có thể thấy chữ Đổng ở đây là chỉ sự to lớn của thần. Thần Đổng là vị thần khổng lồ. Đổng là chép từ “Đùng” của tiếng Nôm.
Chữ Đổng 董 và chữ Trọng 重 viết và đọc gần như nhau nên chắc một phần sự tích của thần Đổng đã chép sang thành của thần Hương (Lý Ông Trọng). Từ đó mới có chuyện Lý Thân người to lớn, cao hai trượng, dày mười gang … Ông Trọng là mang nghĩa kính trọng, vì là đại tướng phò mã nhà Tần, chứ không phải nghĩa là to lớn về hình thể.
Phần khác vì chữ Đổng nằm trong phiên thiết của Phù Đổng nên sự tích ông Đổng lại lẫn nốt vào sự tích của thần Bổng Thánh Gióng.
Theo thần phả đền Bộ Đầu, thủa ấy, ở động Xích Thủy do Hùng Vương trị vì có thần tướng Đằng Xà nổi lên cướp bóc suốt từ rẻo Cao Bằng, Tuyên Quang, Hưng Hóa đến Thái Nguyên. Quân giặc được mô tả mặt thú hình yêu, đầu rắn mặt cá… như là hiện thân của những cơn lũ và những loài thủy quái làm hại dân lành.
Cao Bằng, Tuyên Quang, Hưng Hóa đến Thái Nguyên” là địa bàn trấn giữ giặc Hồ của Lý Thân (đất Lâm Thao). Thần tích này đã chép lẫn chuyện của Thánh Chèm vào đây. Tuy nhiên thần tích đền Bộ Đầu cho thấy rõ thần Đổng như vậy là một vị thần trị thủy, diệt thủy quái.
Lạ hơn nữa thần phả ở đền Bộ Đầu có tên “Bộ Đầu linh từ sự tích Đổng Sóc Thiên Vương Huyền Thiên Đại Thánh, Thành hoàng nhất vị“. Các sách cũ (theo Từ điển di tích văn hóa Việt Nam của Ngô Đức Thọ) đều cho rằng đền này thờ Huyền Thiên Đại Thánh chứ không phải Phù Đổng thiên vương.
Nằm đối diện bên kia sông Hồng có Trấn Vũ quán ở thôn Ngọc Trì – Thạch Bàn – Gia Lâm. Ở đó thờ Huyền Thiên Trấn Vũ, người có công giúp An Dương Vương dẹp yêu quái xây thành Cổ Loa. Nhưng ở đây Huyền Thiên lại là vị thần chuyên thu phục yêu quái các sơn thủy động, “trấn qui xà”. Tượng Huyền Thiên ở Ngọc Trì làm bằng đồng to lớn nặng tới 4 tấn…
Huyen ThienTượng đồng Huyền Thiên ở Ngọc Trì – Gia Lâm
Thì ra thần Đổng có thân hình, dấu chân to lớn, có công trừ yêu, trấn thủy quái chính là Huyền Thiên, tức là Lão Tử. Vị tổ của Đạo Giáo này thì rõ là phải giỏi nghề hàng yêu phục quỉ, nổi bật nhất là khiển thần Kim Qui giúp Thục An Dương Vương diệt yêu gà trắng Bạch Kê Tinh xây thành Cổ Loa.
Đằng – Vua Mây họ Phạm
Vị thần Đằng ở Kim Động tưởng là rõ nhưng cũng nhiều tồn nghi. Lĩnh Nam chích quái chép nguyên một chuyện về vị thần xứ Đằng Châu hiển linh trước nhà vua làm nửa sông mưa, nửa sông tạnh… Các sách chép không giống nhau là thần đã hiển linh với vị vua nào, chỗ là Lý Thái Tổ, chỗ là Lý Thái Tông, chỗ lại là Lê Long Đĩnh. Sự lộn xộn này nay cũng sáng tỏ vì Lý Thái Tổ cũng chính là Lê Long Đĩnh – Đinh Bộ Lĩnh (Long Đĩnh thiết Lĩnh).
Den vua MayĐền vua Mây ở Hưng YênĐền Đằng Châu ở Kim Động còn gọi là đền Vua Mây, thờ sứ quân Phạm Phòng Ất (Phạm Bạch Hổ) thời Đinh Tiên Hoàng. Nhưng theo tộc phả họ Phạm:
Cuối đời Hùng Duệ Vương (258 trước CN) con trai trưởng của Phạm Duy Minh ở xứ Đằng Châu, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên ngày nay là Đại lang Phạm Duy Hinh cùng Lý Thành (con Lý Thân – Lý Ông Trọng) trấn thủ đất Nam Hà gồm 2 châu là Ái châu (Bình Trị Thiên) và Trung châu (gọi là xứ Lâm Ấp) – tức là Nam Trung bộ ngày nay…
Như vậy nếu thần Hương là Lý Thân thì thần Đằng phải là Phạm Duy Minh. Có thể Phạm Duy Minh cũng chính là sứ quân Phạm Phòng Ất vì thời 12 sứ quân Việt Nam chỉ là bản chép của thời Chiến Quốc. Khai thiên trấn quốc Đằng Châu họ Phạm có thể là tướng trấn giữ vùng phía Đông ven biển thời nhà Tần. Con cháu họ Phạm sau này kế nghiệp trấn giữ vùng duyên hải ven biển miền Trung (Lâm Ấp).
Hương, Bổng, Đổng, Đằng – bốn vị tối linh của nước ta là 4 vị tướng có công lớn vào thời Chu Tần (Văn Lang – Âu Lạc):
Hương là Lý Thân, đại tướng phò mã trấn Chiêm Hồ của nhà Tần.
Bổng là Thánh Gióng, người cùng Chu Vũ Vương đánh Trụ dẹp Ân.
Đổng là ông khổng lồ Huyền Thiên Lão Tử, người giúp vua Chu dời đô từ Tây sang Đông về Lạc Ấp Cổ Loa, chuyên nghề trừ yêu diệt quái.
Đằng là vị họ Phạm, trấn giữ vùng ven biển, giỏi chuyện hô mây gọi gió.
Từng đoạn, từng sự tích của các vị này bị chép lẫn vào nhau, dẫn đến mỗi nơi chép một kiểu, người này nhầm vào người kia.
Tu linhBức chạm tứ linh ở đền ChèmNếu xét về phương hướng thì:
Hương là thần trấn phương Tây như Lý Thân giúp Tản Viên Sơn Thánh hay màu trắng trong tên Bạch Tĩnh công chúa. Hướng Tây có linh vật là chim phượng, nên thánh có tên là Chèm (Chim – Chiêm), người làng Hương thơm (Thụy Hương), rất giỏi chữ nghĩa, đỗ Hiếu liêm, đọc Tả truyện Xuân thu, … Đây rõ là một “văn tướng”, còn cái phần “khổng lồ” của Ông Trọng là chép nhầm từ ông Đổng mà ra.
Bổng là thần trấn phương Nam ngày nay, hướng Sóc phương của núi Sóc, nơi thần hóa. Bổng cũng là tính chất nhẹ, bay của phương Nam (như các từ “bốc”,”bức”). Phương Nam có linh vật là con Ly hay con Hổ (Hỏa). Thánh Gióng rõ là một Hổ tướng, cưỡi ngựa sắt phun ra lửa (hỏa)…
Đổng (Đùng) là thần trấn phương Bắc màu đen của Huyền Thiên. Linh vật là còn rùa, rất rõ trong hình ảnh của Huyền Thiên Trấn Vũ trấn qui xà, cử thần Kim Qui tới giúp An Dương Vương trừ yêu quái…
Đằng là thần trấn phía Đông ven biển, trong chuỗi liên hệ Đằng -> Đường -> Thương, Thương là tính chất từ ái của phương Đông, là màu xanh (Thanh). Linh vật phương Đông là con rồng, có tài cưỡi mây phun mưa. Vua của Mây thì chính là rồng…
Cả bốn vị tối linh Hương Bổng Đổng Đằng đều có thân thế sự nghiệp được ghi rõ trong Lĩnh Nam trích quái. Truyền thuyết Việt đúng là những câu chuyện “cổ tích”, tức là dấu tích của chuyện cổ, của lịch sử thật sự…

Lịch sử Đức thánh … Chiêm

Cong dinh ChemCổng đình Chèm thờ Lý Ông Trọng

Hương, Bổng, Đổng, Đằng là bốn vị tối linh của nước ta” (Lời tiếm bình Việt điện u linh của tiến sĩ thời Lê Cao Huy Diệu). “Hương” ở đây chỉ Lý Ông Trọng, người Thụy Hương, Từ Liêm. Đức Thánh Chèm như vậy được xếp ngang hàng với đức Phù Đổng thiên vương.
Lĩnh Nam chích quái chép Truyện Lý Ông Trọng:
Cuối đời Hùng Vương có người ở xã Thụy Hương, huyện Từ Liêm, đất Giao Chỉ họ Lý tên Thân. Khi đẻ ra rất to lớn, cao đến 2 trượng 3 thước… Đời An Dương Vương, Tần Thủy Hoàng muốn cất binh đánh ta, An Dương Vương bèn đem Lý Thân tiến nhà Tần. Thủy Hoàng mừng lắm, phong cho làm chức Tư lệ hiệu úy. Khi Thủy Hoàng đã lấy được cả thiên hạ, sai Lý đem quân giữ đất Lâm Thao, uy danh vang dội đến Hung Nô, Hung Nô không dám xâm phạm cửa ải, Thủy Hoàng phong Lý làm Phụ tín hầu, lại gả công chúa cho Lý.
Truyện kể Lý Ông Trọng này nghe ra … kỳ kỳ. Tần Thủy Hoàng đánh đông dẹp bắc thu phục cả thiên hạ, tới nước Việt thì thay vì chống lại, An Dương Vương lại còn cho “mượn” người làm tướng để giúp Tần chống giữ Hung Nô…
Nhưng truyện Lý Ông Trọng rõ ràng là truyện có thật, là một chuyện cổ xảy ra vào đời Tần vì được cả sách Trung Quốc chép. Sách Từ Nguyên viết:
Nguyễn Ông Trọng đời Tần, người Nam Hải, thân dài một trượng ba thước, khí chất đoan dũng, khác với người thường. Vua Thủy Hoàng sai cầm quân giữ đất Lâm Thao, thanh thế chấn động Hung Nô. Ông Trọng chết. Vua sai đúc tượng đồng để ở của Tư Mã, coi giữ cung Hàm Dương.
Lý Ông Trọng người Việt mà làm tới chức Tư lệ hiệu úy nhà Tần, được phong là Phụ Tín hầu, rồi còn làm phò mã nước Tần. Một người Việt chính gốc được đại đế lang sói như Tần Thủy Hoàng hậu đãi tới vậy. Lại còn từ Văn Lang sang tới tận Thiểm Tây để trấn giữ Hung Nô… Trong chuyện này có gì đó không bình thường…
Thần tích đình Chèm ghi: Lý Ông Trọng được Hùng Vương phong chức Chỉ huy sứ. Ngài giúp vua dẹp yên các loại giặc hay quấy nhiễu biên giới phía Tây và phía Nam khiến chúng sợ không dám xâm phạm bờ cõi nước Văn Lang.
Thần tích đình Trạo Thôn (Ân Thi – Hải Dương, quê mẹ Lý Ông Trọng)  thì viết luôn Lý Ông Trọng đánh giặc “Ai Lao và Chiêm Thành”, tưởng là vô lý nhưng lại rất chính xác. Phía Tây và Nam Văn Lang thì chẳng là đất Ai Lao và Chiêm Thành (sau này) là gì?
Vận dụng phép phiên thiết Hán văn cho ta một số thông tin bất ngờ:
Hung Nô thiết Hồ. Lý Ông Trọng trấn Hung Nô tức là trấn giữ người Hồ hay người Hời.
Từ Liêm thiết Tiêm, hay Chiêm. Đức thánh Chèm nghĩa là … Đức thánh Chiêm. Tên làng Chèm chỉ rõ công đức trấn giữ đất Chiêm của Lý Ông Trọng.
Tới đây không còn nghi ngờ gì nữa, thực ra Lý Ông Trọng làm tướng Tần để giữ vùng đất Tây và Nam nước ta chống lại người Hồ hay người Chiêm.
Đại Nam quốc sử diễn ca:
Hiếu liêm nhẹ bước thanh vân
Làm quan hiệu úy đem quân ngữ Hồ
Uy danh đã khiếp Hung Nô
Người về Nam quốc hình đồ Bắc phương.
Hung Nô = Hồ, rất rõ trong đoạn thơ trên.
Bài thơ trong Lĩnh Nam chích quái, Truyện Lý Ông Trọng:
Văn võ toàn tài đại trượng phu
Hàm Dương khiển tượng nhiếp quần Hồ
Vĩnh Khang nhất nhật đàm kinh mộng
Huyết thực Nam thiên tráng đế đồ.

Dịch:
Võ giỏi văn tài đấng trượng phu
Hàm Dương đồng tượng khiếp quần Hồ
Vĩnh Khang ứng mộng bàn kinh truyện
Hương lửa trời Nam vững đế đồ.

“Quần Hồ” là người Hời hay Chiêm. Trong các câu đối ở đình Chèm gọi là Hoa di hay Di Hạ. Hồ = Hời = Hoa = Hạ. Hoành phi ở đền Chèm ghi “Uy chấn Hoa Di”.
Câu đối ở cổng đình Chèm:
Hoa Di vọng biểu cao, đế khuyết do nghi đồng hữu ảnh
Miếu mạo nguy sơn trĩ, phật tân tự tín thủy vô ba.

Dịch:
Người Hời trông cột lớn, cửa vua còn ngờ tượng đồng vẫn có bóng hình
Đền miếu lồng núi cao, bến phật tự tin sông nước không còn sóng dữ.

Phuong dinhPhương đình ở đình Chèm

Câu ở tòa đại bái đình Chèm:
Thiên thùy nguyên tinh, Di Hạ lẫm hùng uy, đồng tượng thanh cao Tần Bắc trấn
Địa lưu cố trạch, âm dương đồng hiển tướng, kim chương trù điệp Việt Nam phong.

Dịch:
Trời buông khí nguyên, Di Hạ sợ hùng oai, tượng đồng thanh cao trấn Tần Bắc
Đất lưu nền cũ, âm dương cùng hiện tướng, sách vàng dày chất cõi Việt Nam.

Hoa Di hay Di Hạ có thể là con cháu dòng Đế Nghi phương Nam từ thời cổ, tức là nhóm người Môn – Khmer ở phía Tây và Nam nước ta. Phía Nam nước Văn Lang được biết có nước Hồ Tôn. Nước Hồ Tôn thì không phải người Hồ thì là người gì?
Lý Ông Trọng được Tần Thủy Hoàng gả công chúa Bạch Tĩnh Cung. Phân tích tên đức bà này:
– Bạch là màu chỉ phương Tây trong ngũ hành.
– Tĩnh là tính chất tĩnh khang của phương Tây theo Dịch lý.
Công chúa Bạch Tĩnh Cung nghĩa là Tây cung công chúa, một lần nữa xác nhận Lý Ông Trọng trấn giữ đất phía Tây của nhà Tần.
Truyền thuyết kể rằng tới thời Đường Kinh lược sứ Triệu Xương đi qua Từ Liêm, bến Vĩnh Khang nằm mộng gặp Lý Ông Trọng cùng giảng sách Xuân Thu, Tả truyện. “Vĩnh Khang ứng mộng bàn kinh truyện”.
Thiên Nam ngữ lục chép chuyện ứng mộng này như sau:
Thuyền qua đến quận Từ Liêm
Vĩnh Khang bến ấy nửa đêm đỗ nhờ
Canh khuya phảng phất mờ mờ
Chiêm bao thấy tướng tên là Trọng Ông.
Triệu Xương là người đã chiêu an Phùng An – Đỗ Anh Hàn (khởi nghĩa Phùng Hưng). Có phải chuyện hiển mộng ở bến Vĩnh Khang có ý nói nhờ Lý Ông Trọng đã bàn chuyện kinh sách, khuyên Triệu Xương lấy đức mà cai trị nên mới thu dẹp được họ Phùng?
Câu đối ở đình Chèm:
Bắc khuyết ngưỡng chân dung, vân ủng kim tinh vô tượng ngoại
Khang giang truyền hiển tích, ba hàm thiết khí hữu thanh trung.

Dịch:
Cửa Bắc ngưỡng chân dung, tinh vàng mây phủ ngoài không tượng
Sông Khang truyền hiện tích, võng sắt sóng bao trong có thanh.

Sông Khang, sông Khương liệu có phải ám chỉ sông … Mễ Khương không? Vùng đất Lý Ông Trọng trấn giữ kéo từ Lâm Thao (Phú Thọ) tới tận sông Mê Kông cũng đúng là đất Ai Lao – Chiêm Thành xưa.
Duệ hiệu thờ của Lý Ông Trọng tại đình Chèm là Hy Khang Thiên Vương.
– Hy = Hai = Hời, phía Nam
– Khang tức là Tây.
Hy Khang Thiên Vương là thần vương trấn vùng Tây và Nam.
Cũng có thể “Khang” có nghĩa là “trấn”, “yên”. Hy Khang Thiên Vương là vị thần vương trấn giặc Hồ ở phía Nam, tướng ứng với bức hoành phi “Uy trấn Hoa Di“.
Theo thần tích và Lĩnh Nam chích quái Lý Ông Trọng còn giúp Cao Biền đánh giặc Nam Chiếu. Lý do Lý Ông Trọng hiển linh giúp Triệu Xương và Cao Biền cũng chỉ ra rằng nơi mà uy linh của Ông Trọng trấn Hồ chính là vùng đất Nam Chiếu – Phùng Hưng, tức là vùng đất Tây và Nam nước ta ngày nay.
Tộc phả họ Phạm chép:
Cuối đời Hùng Duệ Vương (258 trước CN) con trai trưởng của Phạm Duy Minh ở xứ Đằng Châu, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên ngày nay là Đại lang Phạm Duy Hinh cùng Lý Thành (con Lý Thân – Lý Ông Trọng) trấn thủ đất Nam Hà gồm 2 châu là Ái châu (Bình Trị Thiên) và Trung châu (gọi là xứ Lâm Ấp) – tức là Nam Trung bộ ngày nay…
Thông tin Lý Thành, con Lý Thân trấn thủ đất Nam Hà – Lâm Ấp đã khẳng định một lần nữa vùng đất trấn giữ của Lý Ông Trọng. Nam Hà gồm 2 xứ. Xứ Nam do Lý Thành trấn giữ là vùng Tây Bắc và Thượng Lào ngày nay. Xứ Hà hay Hồ là đất người Hời, người Chiêm ở Trung bộ và Hạ Lào. Con Lý Ông Trọng ở Nam Hà – Lâm Ấp thì trước đó chính nơi đây đã là do Lý Ông Trọng trấn giữ.
Theo sử sách thì Lý Ông Trọng làm tướng Tần trấn giữ Hung Nô ở đất Lâm Thao. Lâm Thao không phải ở tận Cam Túc – Thiểm Tây. Lâm Thao là phần đất Lâm hay đất Nam trong Nam Hà, nơi có sông Thao chảy qua, hay nói cách khác Lâm Thao là vùng Tây Bắc ngày nay.

Tu linh 2Tứ linh trên mái đình Chèm.

Lý Thân, Tư lệ hiệu úy nhà Tần, phò mã của Tần Thủy Hoàng, trấn giữ người Hồ ở phía Tây và Nam Việt trên đất Chiêm. Vậy nhà Tần phải ở đâu mà cần giữ vùng “Ai Lao, Chiêm Thành” này? Hai vùng đất Tây và Nam này quan trọng thế nào mà phải có một đại tướng, phò mã trấn giữ?
Chuyện này chỉ có thể giải thích được theo sử thuyết họ Hùng. Tần đã diệt nhà Chu – Thục ở Văn Lang – Âu Lạc, sau đó dời đô về vùng giữa hai nhà Chu (Ung Thành – Quảng Tây?). Tuy nhiên, khi Tần Thủy Hoàng thống nhất lục quốc lại thiếu mất một số nước lớn là Lỗ, Yên và Tề. Lỗ là Lào, là vùng Tây Văn Lang. Yên là đất Chiêm, là vùng Nam Văn Lang. Nhà Tần đã cử đại tướng là Lý Thân trấn giữ hai vùng đất giáp với nước Lỗ và nước Yên (đất Nam Hà hay Ai Lao và Chiêm Thành sau này).
Câu đối đình Chèm:
Tần quan lỵ chỉ Trung Hoa tướng
Việt điện nguy nhiên thượng đẳng thần

Dịch:
Điện Việt còn đây thần thượng đẳng
Ải Tần chốn đó tướng Trung Hoa.
Lý Thân là tướng Tần, cũng là người Việt. “Trung Hoa tướng” lại là “Việt Điện thượng đẳng thần”. Nhà Tần của Trung Hoa cũng là một giai đoạn lịch sử của người Việt mà thôi.
Câu đối khác ở đình Chèm:
Lục hợp tiêu binh, tưởng kiến hùng uy kinh tuyệt vực
Thiên thu di miếu, nghi nhiên chính khí chướng cuồng lan.

Dịch
Sáu nước tan binh, oai hùng nhớ thấy khiếp biên cõi
Nghìn thu để miếu, chính khí như còn chặn sóng hung.

Câu đầu nói đến khi Tần Thủy Hoàng thống nhất lục quốc, Lý Ông Trọng giúp Tần trấn ngoài biên ải chống quân Hồ.
Câu sau nhắc tích Lý Ông Trọng giăng lưới sắt cản thủy quái giao long ở đoạn sông chảy qua Chèm.
Một cách hiểu khác: “di” là động từ, “di miếu” là “để lại đền miếu”.
Vậy: “tiêu” là động từ, “tiêu binh” là “dẹp hết quân binh”.
Ai dẹp hết quân binh của 6 nước? Chẳng nhẽ là Lý Ông Trọng? Từ nghĩa trên mà suy thì câu đối nói Lý Ông Trọng là tướng Tần Thủy Hoàng, đã dẹp tan quân của 6 nước, “hùng uy” còn kinh động ngoài biên ải!
Xét về những gì Tần Thủy Hoàng trọng đãi Lý Ông Trọng thì hoàn toàn có thể có chuyện trên. Lý Ông Trọng đỗ Hiếu liêm, được phong chức Tư lệ hiệu úy, Phụ Tín hầu, được gả công chúa Bạch Tĩnh Cung… Còn chức gì để có thể phong hơn nữa cho một vị tướng?
Với những chức như trên Lý Ông Trọng phải sánh ngang với đại tướng Mông Điềm của nhà Tần, người đã vượt Hoàng Hà đánh Hung Nô, lập Vạn lý trường thành. Hoàn toàn có thể Lý Ông Trọng là một đại tướng đã giúp Tần Thủy Hoàng dẹp yên 6 nước. Chí ít 2 trong số đó là Lỗ và Yên, tức là Ai Lao và Chiêm Thành sau này.

Văn nhân góp ý:
Sách Từ Nguyên viết:
Nguyễn Ông Trọng đời Tần, người Nam Hải,…
Sách sử Việt gọi là Lý ông Trọng người Giao chỉ … sao sách Tàu lại viết là Nguyễn… người Nam Hải. Nam Hải nay là Quảng Đông xưa là đất Đông Giao Chỉ bộ thì đúng rồi khỏi phải bàn.
Còn việc họ Lý bị sách Tàu đổi thành họ Nguyễn có lẽ… cũng tương tự như việc nhà Trần bắt người họ Lý nước Việt đổi thành họ Nguyễn vậy, … Giải thích là ‘né’ từ ‘Lý’ tên ông tổ nhà Trần, thực ra chỉ là … tưởng tượng của các quan viết sử mà thôi.
Thực chất của vấn đề là do sự định danh… lộn ngược trục Bắc – Nam mà ra. Hướng Xích đạo tượng trưng bởi màu đỏ và ngọn lửa .v.v.; chỉ miền nóng bức, văn minh sáng chói, giới Quý tộc ở đấy được cho mang họ Lý; lửa ↔Lý ↔Lê (Thời cổ lỗ xa xưa làm gì có họ, ngay tên riêng… theo 1 số nhà nghiên cứu thì có thể cũng chỉ có khoảng 600 – 700 năm trở lại đây).
Ngược với hướng Xích đạo tượng bởi màu đen và dòng nước .v.v.; chỉ miền khởi nguyên, lúc ban đầu còn mờ tối ngây thơ. Quốc gia ở hướng ấy gọi là Nguyên, là Mông, giới lãnh đạo được gán cho họ Nguyễn, nguyên ↔Nguyễn (Dịch học tuyệt đối không mang thang giá trị – đạo đức gán vào các Dịch tượng, nguyên chỉ là tiên khởi, mông là ngây thơ, Mun màu đen đơn thuần là màu sắc không phải là Man…, tất cả sự méo mó là do đám ‘Dịch tặc’ bịa ra).
Sở dĩ người Tàu lộn ngược Bắc – Nam vì… không lẽ các đấng ‘con trời’ chui ra ở vùng bắc Hoàng Hà là … Nam man sao …, chính sự việc lộn ngược lộn suôi này tự thân… ủng hộ mạnh mẽ hướng suy nghĩ của Bách Việt 18 về … Lý ông Trọng – Nguyễn ông Trọng.
Về nhân danh và địa danh trong bài khi vận dụng phép phiên thiết Hán văn cho ta nhiều thông tin bất ngờ:
Bài thơ trong Lĩnh Nam chích quái, Truyện Lý Ông Trọng:
Văn võ toàn tài đại trượng phu
Hàm Dương khiển tượng nhiếp quần Hồ
Vĩnh Khang nhất nhật đàm kinh mộng
Huyết thực Nam thiên tráng đế đồ.

*2 địa danh :
– Hàm Dương thiết Hương. Hương có thể chỉ làng Thụy Hương – quê Lý ông Trọng hoặc cũng có thể Hương chỉ chính ông Trọng. Như thế câu Hàm Dương đồng tượng khiếp quần Hồ ý thực sự là: tượng đồng ông Trọng khiếp quân Hồ… Xét ra… tới đây đã giải tỏa được sự vô lý: tượng ông Trọng đặt ở… Hàm Dương kinh đô nước Tần…
– Vĩnh Khang thiết vãng, vãng trong câu chỉ người xưa đã khuất  (ý chỉ ông Trọng). Như thế câu thơ thành ra … 1 ngày trong mộng thưa chuyện cùng người xưa đã khuất… Nếu quả đúng như vậy thì khỏi cần tìm bến Vĩnh Khang nữa… nó không hề có trên cõi trần…
*2 nhân danh :
– Hoa Di thiết Hy; Hy chính là Hồ như đã viết trong bài.
– Di Hạ thiết Dạ ….; thông tin thật quan trọng. Trước đây tôi nghĩ mãi về nước Dạ Lang, lang đồng nghĩa với vương với chúa thì đã rõ còn chữ Dạ thì đành chịu… giờ tự nhiên thông… Di Hạ người Di thời Hạ chính là người Di Lão trong sử còn gọi là Tây – Nam Di, Ai Lao Di hay người Liêu tử.
Nhà Hạ có cuộc chiến Hoa – Di mấy trăm năm… thì ra là cuộc chiến của con cháu Hùng Hoa vương – Hải lang và con cháu Dạ lang; Dạ lang nghĩa là chúa người Di lão, nước Dạ lang là nước của chúa Di Lão ở vùng Tây – Nam Trung Hoa…
Đám sử gia phù thủy đã dùng phép phiên thiết Hán văn nhảy múa trên nền lịch sử Trung Hoa khiến tất cả rối tung lên… mịt mù sương khói… tưởng rằng như thế mãi mãi không thể nào nhận ra Trung Hoa thật; nhưng…

Lênh đênh qua cửa Thần Phù

Có một vùng đất nặng phù sa cổ tích là vùng cửa Thần Phù, nằm giáp giữa Ninh Bình, Thanh Hóa và Nam Định.
Chuyện về thần Áp Lãng Chân Nhân ở Thần Phù được Hồ Nguyên Trừng ghi lại trong sách Nam ông mộng lục, tóm tắt như sau:
Đời Tống Nhân Tông, nhà Lý nước An Nam đem binh thuyền đi đánh Chiêm Thành. Tới cửa Thần Đầu thì bỗng có sóng gió nổi lên liên tục mấy ngày liền, không sao qua được. Hoàng Đế phải nhờ một Đạo Sĩ ở trong núi gần đó giúp yên sóng. Ngày trở về Hoàng Đế liền phong cho đạo sĩ hiệu là Áp Lãng Chân Nhân.
Chân Nhân người họ La, còn tên thì chưa rõ, chỉ gọi theo đạo hiệu là Áp Lãng Chân Nhân. Trong số các con cháu của Chân Nhân, có La Tu đỗ Tiến Sĩ, làm quan thời Trần Nghệ Vương, được phong tới chức Thẩm Hình Viện Sứ.
Nam Ông mộng lục
của Hồ Nguyên Trừng là tài liệu sớm nhất ghi về Áp Lãng Chân Nhân, xác định vị đạo sĩ này xuất hiện vào thời Tống Nhân Tông, nhà Lý nước ta. Tống Nhân Tông trị vì từ năm 1022 đến năm 1063. So với sử Việt thì trong thời gian này chỉ có một lần vua Lý đi đánh Chiêm Thành là năm 1044 Lý Thái Tông ngự giá thân chinh, chiếm được quốc đô Phật Thệ của Chiêm Thành, chém Sạ Đẩu. Còn trận Lý Thánh Tông bắt vua Chiêm Thành là Chế Củ xảy ra năm 1069, không còn là thời Tống Nhân Tông nữa.

Den Nhan Pham
Ban thờ Áp Lãng Chân Nhân  ở đền Nhân Phẩm, Yên Mô, Ninh Bình

Câu đối ở chính điện Thần Phủ hải môn từ ở thôn Nhân Phẩm – Yên Mô – Ninh Bình:
Diên lĩnh quan binh, tiên Đinh Hoàng chính thống
Càn môn tức lãng, đang Hồng Đức tam niên.
Dịch:
Núi Diều xem quân, trước thời Đinh Hoàng chính thống
Cửa Càn yên sóng, vào năm Hồng Đức thứ ba.
Càn môn
hay cửa Càn Phù là cửa sông Càn đổ ra biển, cũng là cửa Thần Phù.
Diên lĩnh là núi Cánh Diều, nay ở thành phố Ninh Bình. Thần Áp Lãng như vậy đã xem quân của vua Đinh “duyệt binh” ở Hoa Lư, trước khi vua Đinh lên ngôi chính thống (?).
Thật là không biết vị Áp Lãng Chân Nhân này cuối cùng xuất hiện ban đầu vào thời nào: Lý, Tiền Lê hay thời Đinh? Thần tích đền Nhân Phẩm thôi thì cho hết thành thời “Hùng Vương”. Hùng Vương là lúc nào mà vua Hùng có thể cưỡi thuyền đánh phương Nam được?
Những câu chuyện thời Đinh – Tiền Lê – Hậu Lý ở vùng Hoa Lư – Ninh Bình cứ lẫn lộn vào nhau, cùng một chuyện mà lúc chép vào người này, lúc chép vào người kia. Quanh khu vực Thần Phù có rất nhiều đền thờ vua Lê Đại Hành phối thờ cùng Lý Thái Tông vì … công nghiệp 2 vị này như nhau. Lê Đại Hành – Lý Thái Tông là người đã cho xây dựng hệ thống phòng thủ ở khu vực cửa Thần Phù. Thành Thiên Phúc của Lê Đại Hành được cho là ở vùng núi Yên Thắng – Ninh Bình này. Có thể vì thế mà Lê Đại Hành đã tôn thờ một vị thủy thần ở đây làm Áp Lãng Chân Nhân để phù hộ cho công trình phòng thủ biển của kinh đô.
Lý Thái Tông chắc cũng còn đang đóng đô ở Hoa Lư. Nếu triều Lý đã về Thăng Long từ đời Lý Công Uẩn thì Lý Thái Tông đã không quan tâm đến công trình phòng thủ cho Hoa Lư này nhiều như vậy.
Tiền Đinh Hoàng chính thống” trong câu đối trên như vậy phải hiểu là vào thời trước khi Đinh Hoàng (hay Đinh Triệu, Đinh Lý) tuyên bố triều đại chính thức trên đất Tĩnh Hải, tức là thời kỳ 2 vị vua Lý đầu tiên ẩn họ Lê. Như vậy mọi thông tin về Áp Lãng Chân Nhân sẽ khớp hoàn toàn với nhau. Đây là vị đạo sĩ ở triều Lê Đại Hành – Lý Thái Tông đã cầu đảo giúp yên sóng cho đoàn thuyền đi bình Chiêm của vị vua Lê – Lý này qua cửa Thần Phù.
Cửa Thần Phù là vị trí chiến lược quan trọng vì là cửa sông đổ ra biển, thuyền bè miền Bắc có thể để tiến xuống phía Nam, là ranh giới tự nhiên giữa Nam và Bắc do dãy núi đá vôi chạy từ Hòa Bình xuống Ninh Bình rồi đâm ra biển. Trên đường bộ thì quan ải là đèo Ba Dội (Tam Điệp), còn đường thủy thì chính là Cửa Thần Phù. Cũng vì thế mà thời nhà Hồ, Hồ Quý Ly để chống quân Minh đã sai lấy đá lấp ngã thông từ sông Hổ (hạ lưu của sông Vân Sàng – TP Ninh Bình ngày nay) sang đến cửa biển Thần Phù. Nhà Hồ đóng đô ở Tây Đô (Thành nhà Hồ ở Thanh Hóa) nên cửa Thần Phù là hải khẩu trọng yếu chặn thuyền giặc tiến xuống kinh thành.
Danh thần Nguyễn Trãi khi đi qua đây đã có bài Quá Thần Phủ hải khẩu, nói tới việc này:
Giang sơn như tạc anh hùng thệ
Thiên địa vô tình sự biến đa
Hồ Việt nhất gia kim hạnh đổ
Tứ minh tòng thử tức kình ba.

Dịch:
Giang sơn còn đó, đâu anh kiệt
Trời đất vô tình, biến đổi qua
Hồ – Việt một nhà nay lại thấy
Từ đây bốn bể lặng kình ba.

Anh hùng thệ” rõ ràng là chỉ chuyện Hồ Quí Ly lấy đá ngăn sông. Bài thơ nói, lịch sử từ nhà Hồ tới thời Hậu Lê đã thay đổi. Nước nhà đã thống nhất, Hồ Việt một nhà. Hồ Việt một nhà tức là Nam Bắc một nhà, Tây Đô – Đông Đô thống nhất. Người Hồ hay người Hời (người Chăm) lại cùng một nhà với người Việt ở miền Bắc. Bởi vì Lê Thái Tổ là người Chăm (người Hồ) nên cuộc kháng chiến của Lê Lợi từ vùng Lam Sơn – Thanh Hóa, giải phóng Thanh Nghệ rồi Đông Đô, đúng là đã thống nhất Hồ Việt một nhà như Nguyễn Trãi viết.
Bài thơ của Trần Minh Tông ngự chế về Bạch Đằng Giang có câu:
Sơn hà kim cổ song khai nhãn,
Hồ Việt doanh thâu nhất ỷ lan.

Phần lớn các dịch giả đều cho rằng “song khai nhãn” là nói tới 2 lần nhà Trần đánh quân Nguyên; còn “Hồ Việt” là chỉ Đại Việt và nhà Nguyên. Tuy nhiên có thể hiểu khác chính xác hơn. Hai lần “mở mắt” ở sông Bạch Đằng là 2 “bài học” cho kẻ thù phương Bắc. Lần thứ nhất dưới thời Lê Đại Hành phá Tống. Lần thứ hai là triều Trần đánh quân Nguyên. Thế mới là
tính chuyện “kim cổ” – trước nay. Còn lần đầu tiên, trận thắng của Ngô Vương Quyền thì không kể tới (vì trận đó đâu có ở sông Bạch Đằng này). Nhà Trần và nhà Nguyên, 2 bên vừa đánh nhau trối chết 2-3 bận, thì không thể viết là Nguyên Trần (Hồ Việt) “cùng” dựa lan can (“nhất ỷ lan”) được. Tương tự như trong bài Quá Thần Phù hải khẩu của Nguyễn Trãi, không thể nói nhà Hậu Lê và nhà Minh, 2 nước vừa giao tranh lại là “Hồ Việt một nhà” được. Hồ là người Hời. Người Hời hay người Chăm đã cùng phối hợp với nhà Trần trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông. Vì thế mới có thể nói là “Hồ Việt cùng dựa lan can” ngắm sông được.
Hiểu lại như vậy thì 2 câu trên rất rõ ý. Câu thứ nhất nói về kẻ thù phương Bắc 2 lần thất bại trên sông Bạch Đằng. Câu thứ hai nói tới sự đoàn kết thành công của người Chăm và người Việt trong cuộc kháng chiến.
Hồ Việt doanh thâu nhất ỷ lan” rõ ràng là nói người Hồ và người Việt dù lúc thắng hay lúc bại cũng vẫn cùng một thuyền (nhất ỷ lan).
Dịch lại 2 câu thơ trên:
Núi sông sau trước hai bài học
Hời Việt được thua cùng một thuyền.

Hồ và Việt đã từ lâu cùng “một nhà”, “một thuyền”. Nay sự kiện Đại Việt và Chiêm Thành thống nhất dưới thời Nguyễn cũng cần nhìn lại, đây cũng là “Hồ Việt nhất gia kim hạnh đổ” mà thôi, không phải ai thôn tính xâm chiếm ai cả.
Lê Hồng Đức (Lê Thánh Tông) đi đánh Chiêm Thành qua cửa Thần Phù cũng đã viết thơ, có câu:
Hồ Vương uổng tải điền hà thạch,
La Viện khinh thừa áp lãng chu.

Dịch:
Hồ Quí Ly hoài đá chắn sông
Tiên La Viện lướt thuyền yên sóng.

Dinh Phu Sa
Đình Phù Sa, Yên Mô, Ninh Bình

Núi Thần Phù, nơi còn chữ Thần của Lê Thánh Tông khắc trên vách đá, ngày nay nằm cách biển khoảng 10km. Ngược dòng thời gian xa nữa thì từ thời Tiền Lý có chuyện Triệu Việt Vương bại trận, cùng đường tới cửa Đại Nha (Đại Ác). Đại Nha nay là nơi có chùa Độc Bộ, thuộc Ý Yên – Nam Định, trên sông Đáy. Khu vực tổng Thần Phù xưa cũng có nhiều nơi thờ Triệu Việt Vương. Như đình làng Phù Sa (Yên Mô – Ninh Bình) có câu đối:
Phi lai độc mộc Lương vô địa
Tập khứ đâu mâu Lý hữu thiên.

Dịch:
Thuyền độc mộc tới lui, quân Lương sạch đất
Mũ đâu mâu đánh tráo, họ Lý lên ngôi.

Triệu Việt Vương ở đầm Dạ Trạch dùng thuyền độc mộc nhỏ mà đuổi quân Lương. Rồi Lý Phật Tử đánh Triệu Việt Vương không thắng, giảng hòa, phân đất Đông Tây. Sau đó Lý Phật Tử cho con trai là Nhã Lang cầu hôn với con gái của Triệu Việt Vương là Cảo Nương, nhân cơ hội đánh cắp mũ đâu mâu thần của vua. Triệu Việt Vương mất mũ thần, bại trận, chạy đến cửa Đại Nha thì được thần rồng xuất hiện, đã chém con gái, rồi rẽ sóng xuống biển theo thần mà đi mất.
Xem chuyện trên và chuyện Triệu Đà đánh Thục An Dương Vương không thắng, lấy núi Trâu Sơn – Vũ Ninh làm ranh giới phân đất, Trọng Thủy lừa Mỵ Châu lấy móng rùa thần, An Dương Vương thua chạy ra biển… 2 chuyện này có thể chỉ là một truyền thuyết.
Triệu Việt Vương tương ứng với An Dương Vương. An Dương Vương cũng được gọi là Việt Vương. An Dương Vương có họ Triệu, hay nước Âu Lạc của An Dương Vương có thể là nước Triệu, nơi Doanh Tử Sở nhà Tần đã ở rể. Tử Sở là Trọng Thủy.
Triệu Đà trong chuyện trên tương ứng với Lý Phật Tử, hay Hậu Lý Nam Đế. Triệu Đà có thể có họ Lý, là dòng dõi của Lý Nam Đế, tức là con cháu của Lý Bôn – Lưu Bang.
Nhà Hán do người họ Lưu – Hán (Hiếu) Cao Tổ dựng nên. Nhà Triệu do Triệu Vũ Đế dựng nên. Vậy Triệu Vũ Đế không phải họ Triệu. Các triều đại phong kiến Trung Hoa không như Việt Nam, không lấy họ vua làm tên nước. Ví dụ nhà Chu họ Cơ, nhà Tần họ Doanh, nhà Tùy họ Dương, nhà Đường họ Lý, …
Triệu Vũ Đế không phải họ Triệu mà có thể là họ Lý. Đình Long Hưng ở Xuân Quan – Văn Giang cho thấy Triệu Vũ Đế còn gọi là Hưng Vương như Lý Bôn. Nước của Triệu Vũ Đế là Nam Việt. Nếu Triệu Vũ Đế họ Lý thì hẳn phải gọi là … Lý Nam Đế, vua của nước Nam Việt không phải Nam Đế thì là gì. Chính vì vậy mà một số chuyện của Triệu Vũ Đế lẫn lộn với chuyện của Lý Nam Đế như Nhã Lang con Hậu Lý Nam Đế so với Trọng Thủy con Triệu Vũ Đế.
Xa hơn nữa, có thể người được nói tới ở điện Long Hưng – Xuân Quan và lấy vợ là Trình Thị ở Đồng Xâm – Thái Bình không phải Triệu Đà, mà chính là Hưng Vương Lý Bôn khởi nghiệp đất Phong, lấy vợ là Lữ Hậu ở đất Bái (Thái Bình thiết Bái). Đình Bát Tràng ngay cạnh Xuân Quan thờ … Lưu thiên tử (Lưu Bang) và Lữ Hậu, phần nào cũng cho thấy Triệu Vũ Đế ở đình Xuân Quan là Hưng Vương Lý Bôn (Lý Nam Đế).
Truyền thuyết Việt chép “đủ thứ” vào trong 1, rối như bòng bong, gỡ rối thật là gian nan. Cùng một họ Triệu có thể là chuyện của Triệu-Chúa Chu-Thục An Dương Vương, của Triệu Chính (Tần Thủy Hoàng), của Triệu Đà rồi đến của Triệu Việt Vương. Cùng một họ Lý nhưng lúc là chuyện của Hưng Vương Lý Bôn (Lưu Bang), lúc là của Triệu Ông Lý (Triệu Đà), lúc là của Lý Phật Tử…
Cuối cùng khu vực cửa biển Đại Ác – Thần Phù này còn một dấu tích nữa thời cổ sử là di tích của tể tướng Lữ Gia. Tương truyền tể tướng ba đời nhà Triệu là Lữ Gia khi thất thủ ở Sài Sơn, bị quân Hán đuổi đã chạy về đến núi Côi ở đất Thiên Bản Nam Định và chết ở đó. Chuyện Lữ Gia là một trong 6 chuyện lạ đất Thiên Bản (Thiên bản lục kỳ). Đền thờ Lữ Gia ở làng Vân Côi (Vụ Bản – Nam Định) có câu đối:
Huy thiên sự nghiệp phiên châu đỉnh
Chấn địa linh thanh hải khẩu từ.

Dịch:
Sự nghiệp rạng trời, giúp nước xa
Linh thiêng phủ đất, đền cửa biển.

Câu đối cho thấy vùng núi Côi này trước đây là cửa biển. Khu vực Vụ Bản trước đây thuộc phủ Nghĩa Hưng. Nay xã Nghĩa Hưng nằm ở vùng đất lấn ra biển ở cửa sông Đáy, cách núi Côi, cách cửa Đại Nha xưa hàng chục km. Bãi bể đã thành ruộng lúa, nhưng sự linh thiêng, lạ kỳ của vùng núi và biển gặp nhau này vẫn còn mãi, với từng cái tên anh hùng, từng vị thần bất tử. Trời đất vô tình, vạn vật biến đổi. Vùng đất này đã chứng kiến bao thăng trầm, chìm nổi của lịch sử.

Lênh đênh qua cửa Thần Phù
Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm.

Hưng Vương vĩ lược cao thiên cổ

Theo chính sử thì vị vua xưng đế đầu tiên của nước ta là Lý Nam Đế, có tên thật là Lý Bôn, người phủ Long Hưng – Thái Bình. Năm 541 Lý Bôn khởi nghĩa đánh đuổi thứ sử Giao Châu của nhà Lương là Tiêu Tư, giải phóng nước ta sau mấy trăm năm Bắc thuộc. Năm 544 Lý Bôn xưng là Nam Việt Đế, lấy hiệu là Thiên Đức, đặt tên nước là Vạn Xuân, đóng đô ở thành Long Biên…

Một cuộc khởi nghĩa toàn thắng, mạnh mẽ như rồng bay lên (Long Hưng). Một triều đại mang tên thật hùng tráng – Vạn Xuân. Nhưng những câu hỏi về triều đại này đặt ra lại thật quá nhiều…

Quê Lý Bôn là ở đâu?
Người bảo Thái Bình là tỉnh Thái Bình ngày nay. Người bảo đó là ở Hà Tây nơi có nhiều đền thờ Lý Nam Đế. Sau một số nghiên cứu và hội thảo các nhà sử học nước ta nay xác định … quê của Tiền Lý Nam Đế là ở thôn Cổ Pháp tận Thái Nguyên. Lý Bôn hồi nhỏ có theo Phổ Tổ thiền sư đi tu …

Đọc những thông tin trên thật không hiểu đang nói đến Lý Bôn hay … Lý Công Uẩn nữa. Cũng là ở sinh ở Cổ Pháp, đi tu ở chùa. Cũng là rồng bay lên (Long Biên – Long Hưng – Thăng Long)…

Lý Nam Đế, rồi Triệu Việt Vương, Lý Phật Tử là ở thời nào? Bia cổ thời Tùy Cao Đế mới phát hiện ở Luy Lâu (Bắc Ninh) cho thấy, vào thời gian cuối thế kỷ VI chẳng có triều đại Lý nào đóng đô ở Long Biên hết…

Lần theo những dấu tích trong dân gian để giải mã “truyền thuyết” nhà Tiền Lý.

Den Vua Cha
Đền thờ Lý Nam Đế ở Vân Cát – Kim Thái – Vụ Bản – Nam Định

Một trong những nơi thờ Lý Nam Đế là ở khu vực Phủ Giầy – Nam Định. Đền Lý Nam Đế gọi là đền Đức Vua Cha, nằm cạnh Phủ Vân Cát (nơi sinh Thánh Mẫu Liễu Hạnh). Có lẽ cũng may mắn nhờ vì nằm ở khu vực tín ngưỡng dân gian sâu sắc như Phủ Giầy mà ngôi đền này còn lưu được một số tư liệu quí về Lý Bôn tới nay.

Đôi câu đối thứ nhất ở đền Lý Bôn tại Vân Cát:
Hưng Vương vĩ lược cao* thiên cổ
Tế thế phong công ký Vạn Xuân.

(* Một số tài liệu chép vế đầu là “lưu thiên cổ”, nhưng không đúng với thực tế câu đối treo ở đền này, cũng như nếu dùng chữ “lưu” sẽ bị lặp ý với chữ “ký” ở dưới).

Câu đối có dòng lạc khoản ghi “Kiến Phúc nguyên niên”, tức là làm vào năm 1883 dưới triều vua Nguyễn Phúc Ưng Đăng.

Cái tên Hưng Vương của Lý Bôn không phải chỉ nhắc đến một lần. Một câu đối khác cũng ở Vân Cát:
Tiền Phật Tử nhi hưng sơn hà nhất thống
Tự Vạn Xuân dĩ hậu hương hỏa ức niên.

Dịch:
Từ Vạn Xuân về sau, vạn năm hương khói
Trước Phật Tử hưng nghiệp, thống nhất núi sông.

Khu vực Phủ Giầy trước đây thuộc phủ Nghĩa Hưng. Cũng như các nơi thờ Lý Bôn ở Thái Bình nằm trên đất Hưng Hà, giáp Hưng Yên. Đại Nam quốc sử diễn ca thì ghi:

Cỏ cây chan chứa bụi trần
Thái Bình mới có Lý Phần Hưng vương.

Đoạn khác:

Vạn Xuân mới đặt quốc danh
Cải nguyên Thiên Đức, đô thành Long Biên
Lịch đồ vừa mới kỷ niên
Hưng Vương khí tượng cũng nên một đời

Lại một lần nữa gọi danh hiệu của Lý Nam Đế là Hưng Vương.

Thần tích Quán Giang ở Hoài Đức thì gọi thẳng luôn tên chữ của Lý Bôn là Cử Long Hưng. Với từng đó bằng chứng thì không còn nghi ngờ gì nữa, Lý Bôn đã từng được gọi là Hưng Vương hay Lang Hưng.

Chữ “Hưng” này là điểm quan trọng khi xác nhận Lý Bôn chính là Hùng Trịnh Hưng Đức Lang trong Hùng triều ngọc phả ở Đền Hùng Phú Thọ. Hưng Vương Lý Bôn cũng là Lưu Bang Hán Cao, người mở đầu triều Hiếu của Trung Hoa. Hưng = Hơn, đổi thành Hớn, Hán. Lưu Bang là người thắng Hạng Vũ trong cuộc chiến Hán – Sở, Hưng – Suy tranh hùng nên được gọi là Hưng Vương.

Lưu Bang – Lý Bôn theo Hoa sử là người đất Phong, khởi nghĩa chống Tần những năm trước Công nguyên ở đất Bái, có tên là Bái Công. Đối chiếu với địa danh Việt thì đất Phong là vùng Phong Châu, là xứ Đoài, nơi nay có nhiều đền thờ Lý Bôn (từ Hà Tây sang Vĩnh Phúc, Thái Nguyên). Còn đất Bái nơi Lưu Bang “hưng” nghiệp là vùng Nghĩa Hưng – Long Hưng – Hưng Hà – Hưng Yên, tức là vùng Thái Bình – Nam Định – Hưng Yên ngày nay.

Theo sử Việt thì Lý Bôn là người Thái Bình. Thái Bình viết lại là Bình Thái, thiết Bái. Như vậy quê Thái Bình trong sử sách của Lý Bôn chính là
đất Bái nơi Lưu Bang khởi nghĩa. Lý Bôn người Thái Bình là Bái Công khởi nghĩa chống Tần.
Phạm Sư Mạnh trong bài Hành quận có xưng: “Lũng lại tranh nghênh sứ Bái qua”. Phạm Sư Mạnh là người Kinh Môn – Hải Dương. Đất Thái Bình – Bái này là vùng đồng bằng sông Hồng ven biển thì đúng hơn là ở Vân Nam.
Xứ Bái cũng có thể là quê của Lữ Hậu, nơi có Triệu Vũ Đế ở Đồng Xâm (Thái Bình) và Lữ Gia tể tướng lui về chết ở Thiên Bản (Nam Định).
Thái Bình đọc lái là Bái đình. Lưu Bang là Đình trưởng đất Bái khi khởi nghĩa chống Tần.
—-

Cổ sử Việt có nhiều chuyện chép lẫn lộn những sự kiện cách nhau cả ngàn năm vào trong một. Như trong truyền thuyết họ Hồng Bàng thì Cha Lạc Long ra biển khai mở Hoa Hạ vào 4000 năm trước lại chép cùng chuyện Mẹ Âu Cơ Lang Xương đánh Sùng Lãm lập nước Văn Lang ở Phong Châu của 1000 năm sau đó. Rồi chuyện Thục Phán thay Hùng Vương lập nước Âu Lạc vào đầu thời Chu, cách thời điểm Tần Triệu diệt nhà Chu – Thục của An Dương Vương cũng có trên 800 năm. Nay tới chuyện Lý Bôn – Lý Công Uẩn, cách nhau tới hơn 1200 năm. Thế mới biết sự nhiễu loạn, nhầm lẫn trong sử Việt tới mức nào.

Câu đối ở làng Vân Cát về Lý Nam Đế:
Hiệu kiến Vạn Xuân khai chính thống
Tử thành thập bát ứng đồ thư.

Dịch:
Lập nước Vạn Xuân mở ra nền chính thống
Thành người họ Lý ứng nghiệm địa đồ thư.

Tử thành thập bát” là chiết tự của chữ Lý 李 , họ của Lý Nam Đế. Chiết tự dạng này được biết nhiều trong bài sấm trên cây gạo về sự xuất hiện của Lý Công Uẩn ở Cổ Pháp:
Thụ căn diểu diểu
Mộc biểu thanh thanh
Hòa đao mộc lạc
Thập bát tử thành
Chấn cung kiến nhật…

Bài trước đã cho biết Lý Nam Đế còn được gọi là Hưng Vương hay Lang Hưng. Còn Thiên Nam ngữ lục thì chép Lý Công Uẩn khi lên ngôi đã đổi tên nước thành Hưng Quốc:

Thùy y củng thủ cửu trùng
Cải nguyên Hưng quốc, đề phong trong ngoài.

Lý Bôn và Lý Công Uẩn có gì quan hệ với nhau mà truyền thuyết nhà Tiền và Hậu Lý lại lẫn lộn đến như vậy?

Vào thời Ngũ đại thập quốc năm 930 Lưu Cung đánh Khúc Thừa Mỹ ở Giao Châu, thống nhất 2 miền Tĩnh Hải và Thanh Hải vào nước Đại Việt gồm Việt Đông, Việt Tây và … Việt Nam (Quảng Đông, Quảng Tây và Bắc Việt ngày nay).
Sau đó năm 947 (theo Trần Trọng Kim) Lưu Cung nhận mình là dòng dõi của Lưu Bang nên đổi tên nước thành Đại Hán, sử Tàu chép là Nam Hán để phân biệt với Bắc Hán của Lưu Sùng. Sự thực thì Hán Cao Tổ Lưu Bang là Hưng Vương Lý Bôn nên Lưu Cung phải mang họ Lý – Lý Cung và tên nước phải là Đại Hưng, chứ không phải Đại Hán. Đồng tiền Đại Hưng bình bảo cũng như Hưng Vương phủ ở Quảng Đông đã xác nhận tên nước Đại Hưng ở thời kỳ này.

Chính vì sự kiện “cải nguyên Hưng quốc”, nối tiếp quốc thống của Hưng Vương Lý Bôn, mà truyền thuyết thời Tiền Lý đã có những chi tiết chép lẫn lộn giữa Lý Bôn và Lý Cung.

Câu đối tiếp theo ở đền Vân Cát – Nam Định:

Phá Lâm Ấp trục Tiêu Tư, phục viễn linh thanh, Đinh Lý ngật kim hô hách trạc
Hiệu Vạn Xuân tự Thiên Đức, hưng vương chế độ, Lạc Hồng tự cổ dĩ văn minh.

Dịch:
Phá Lâm Ấp đuổi Tiêu Tư, tiếng linh truyền xa, Đinh Lý tới nay ngời rạng tỏ
Hiệu Vạn Xuân năm Thiên Đức, chế độ hưng vương, Lạc Hồng từ cổ vốn văn minh.

Câu đối này một lần nữa nói tới tên Hưng Vương của Lý Nam Đế, gọi là Hưng vương chế độ.
Đặc biệt trong câu đối trên chỉ thấy nói: từ thời Đinh Lý tới nay tiếng oai linh của Lý Nam Đế còn rạng tỏ. Sau nhà Tiền Lý là nhà Đinh, rồi tới Hậu Lý. Chẳng thấy nhà Tiền Lê của Lê Hoàn ở đâu cả?

Ở vế đối sau cụm từ Lạc Hồng chỉ một thời đại (thời Hùng Vương), nên đối lại cụm từ Đinh Lý ở vế trước cũng là chỉ một thời đại. Đinh Lý không phải là 2 triều đại Đinh và triều Hậu Lý, mà là chỉ một triều đại. Câu đối đã gọi rất chính xác. Đinh Lý nghĩa là triều Lý ở trên đất Đinh bộ – Tĩnh Hải, phân biệt với triều Lý của Lưu Cung (Lý Cung) ở Quảng Đông, gồm cả 2 vùng Thanh Hải và Tĩnh Hải.

Câu đối ở Vân Cát cũng tương tự như câu đối ở Quán Giang – Hoài Đức:
Hồng duy Nam Việt triệu cơ, Lạc Hùng Ngô Thục dĩ tiền, hách trạc tuấn linh, Thiên Đức kỷ nguyên sơ nhất thống
Lịch khảo đế vương thế tự, Đinh Triệu Trần Lê nhi hậu, hỗn hoàng di điển, Vạn Xuân kiến quốc kháng thiên thu.

Đinh Triệu ở đây với nghĩa là Chúa Đinh bộ (Triệu = Chúa), tức là triều đại bắt đầu từ … Đinh Bộ Lĩnh – thủ lĩnh của Đinh bộ.

Hai cụm từ Đinh Triệu Đinh Lý ở 2 câu đối về Lý Nam Đế đã một lần nữa xác nhận giả thuyết về thời Hậu Lý trên đất Tĩnh Hải (Giao Châu). Không có những triều đại Đinh, Lê, Lý riêng biệt ở thời kỳ này mà chỉ có một triều vua Lý duy nhất trên vùng đất Đinh bộ, gọi là Đinh Triệu hay Đinh Lý.

Lý Công Uẩn mở đầu triều Lý chính là Đinh Bộ Lĩnh. Tiếp tới Lê Đại Hành là vua Lý Thái Tông ẩn họ Lê. Hai vị vua Lý đầu tiên đã lấy họ Lê, nhận tước phong Tĩnh Hải tiết độ sứ, Giao Chỉ  quận vương để che mắt nhà Tống. Phải đến vị vua Lý thứ ba là Lý Thánh Tông mới công khai lấy lại họ Lý chính thức của Hưng Vương Lý Bôn, lấy tên nước riêng là Đại Việt.

Sự lắt léo của thời kỳ lập quốc Đại Việt này đã dẫn đến trong truyền thuyết Việt có chuyện Lý Bôn chép lẫn các sự kiện của nhiều thời đại khác nhau, từ Lưu Bang khởi nghĩa chống Tần ở Phong Bái, tới Lưu Cung lập nước Đại Hưng thời Mạt Đường, sang Lý Công Uẩn làm vua trên đất Tĩnh Hải. Dấu vết của các thời đại này tuy đã bị nhòa theo thời gian và bởi sự tô trát của con người, nhưng đâu đó trong dân gian, chốn đền miếu, cổ tích vẫn còn lưu được những mảnh vỡ của lịch sử. Những mảnh vỡ này chỉ có thể ghép lại được nếu có một nền tảng sử thuyết xuyên suốt thời gian, giúp khôi phục lại hình ảnh lịch sử chân thực ban đầu.

Tranh Ly Bon
Tranh thờ Lý Bôn và hoàng hậu ở Vũ Thư – Thái Bình

Hưng Vương, Hưng Quốc là những danh hiệu, danh quốc huy hoàng trong sử Việt, nay đã bị lãng quên. Nhắc lại những cái tên này có khi lại bị quy là “phản động”, đòi “phục hưng” chế độ. Nhưng chuyện Cha, chuyện Mẹ, chuyện tổ tiên nòi giống, thấy mà không nói thì cũng  chẳng thể nào ăn ngon ngủ yên được.
Đúng là:

Nước còn sử mất ngẩn ngơ
Con Hồng cháu Lạc bao giờ lại Hưng?

Rồng bay biển Bát

Đạo Mẫu được biết là một tín ngưỡng rất cổ xưa, nay đã thành di sản văn hóa ở Việt Nam. Hệ thống thờ mẫu Tứ phủ phổ biến ở mọi nơi với tục hầu đồng và hát chầu văn khá độc đáo. Tuy nhiên có một câu hỏi rất đơn giản mà khó trả lời đối với tín ngưỡng này: tại sao lại gọi là Đạo Mẫu khi mà trong đó thờ rất nhiều nam thần? Vị thần lớn nhất của Tứ phủ là vua cha Bát Hải Động Đình, người sinh ra một số Mẫu, Quan lớn và các ông Hoàng. Chỉ có 4 mẫu cai quản 4 phủ: Trời Đất Núi Sông, nhưng lại có tới 10 ông Quan lớn và 10 ông Hoàng.
Lần tìm về gốc của Đạo Mẫu và hệ thống Tứ phủ thì không thể không ghé đền Đồng Bằng, nay thuộc xã An Lễ – Quỳnh Phụ – Thái Bình. Nơi đây là đền thờ vua cha Bát Hải Động Đình cùng quần thể một loạt đền thờ các Quan lớn khác ở vùng lân cận. Tóm tắt thần tích đền Đồng Bằng như sau:
Trên bờ sông Vĩnh, thuộc Đào Hoa Trang, Trấn Sơn Nam, Quận Giao Chỉ có 2 vợ chồng ông Phạm Túc và bà Trần Thị là người Trang An Cố (thuộc Thuỵ Anh – Thái Bình ngày nay) đã lớn tuổi, sống phúc hậu mà không có con. Một lần, họ ngược dòng đánh cá đến Trang Hoa Đào và tình cờ gặp cô gái nhỏ bên sông Vĩnh. Ông bà đón cô gái về nuôi tại An Cố, đặt tên là Quý Nương. Mấy năm sau, khi tròn 18 tuổi, Quý Nương rất xinh đẹp, đoan trang.
Một lần Quý Nương ra cửa sông tắm, thì có một con Hoàng Long hiện lên quấn chặt lấy người. Một thời gian sau, Quý Nương có thai. Bà trở về quê Hoa  Đào trang sinh sống. Bà mang thai đúng 13 tháng, vào đúng đêm ngày mồng 10 tháng giêng bà sinh ra một cái bọc giữa ánh hào quang phát sáng rực. Quý Nương sợ  hãi, ôm bọc thai thả xuống sông Vĩnh. Cũng đêm ấy có một người cất vó bên sông tên là Nguyễn Minh vớt được cái bọc đó. Ông rạch bọc ra thì thấy có ánh sáng phát chói loà, từ trong bọc chui ra 3 con Hoàng Xà, đầu rồng mình rắn. Con lớn nhất vượt sông lên bờ, chui vào náu thân trong một giếng nước. Đó chính là giếng thiêng trong cấm cung đền Đồng Bằng bây giờ. Còn 2 Hoàng Xà nhỏ, bơi xuôi theo dòng nước chảy dọc sông Vĩnh, một con dạt vào Thanh Do Trang (thuộc Thái Ninh bây giờ), con nhỏ nhất bơi đến tận An Cố trang (Mai Diêm – Thuỵ Anh).
Lại nói vua Hùng ngày ấy đã già, lại không con trai nối dõi. Giặc Thục nhân cơ hội liên kết với Ai Lao, Vạn Tượng, Chiêm Thành đem quân sang tấn công Văn Lang.  Vua Hùng lập đàn cầu Trời được Thanh Y Tiên Ông mách cho về Hoa Đào trang mà triệu, sẽ có dị nhân đánh tan giặc biển.
Vua Hùng sai sứ giả về Hoa Đào trang (tức đất An Lễ bây giờ) để truyền chỉ dụ triệu kỳ nhân dẹp giặc. Sứ giả đến bên giếng xướng truyền sắc chỉ thì thấy Hoàng Xà hiện ra rồi bỗng hoá thành một chàng trai lực lưỡng, tuấn tú hơn người. Ngài  nhận chỉ dụ, nhờ sứ giả báo với Vua Hùng là sẽ triệu 2 em, tuyển 10 tướng, chiêu mộ binh sĩ trong 10 ngày, rồi xuất quân đánh giặc trên cả 8 cửa biển nước Nam, hứa sau 3 ngày là giặc tan. Từ đó, ngài có tên là Vĩnh Công …

Sắc phong đời vua Lý Thánh Tông cho thần là Tam kỳ linh ứng Vĩnh Công Đại Vương Bát Hải Động Đình. Lễ hội đền Đồng Bằng tổ chức hàng năm vào tháng 8 âm lịch hàng năm (Tháng Tám giỗ cha…).
Theo thần tích trên thì Vua cha Bát Hải Động Đình là một nhân thần (nhân vật lịch sử có thật đã được thần thánh hóa) ở thời Hùng Vương, có công dẹp yên giặc Thục. Nhưng tại sao Bát Hải Động Đình lại là người bắt đầu đạo Mẫu ở Việt Nam? Và đã là ở thời Hùng Vương thì Vua cha Bát Hải chẳng nhẽ không phải là vua Hùng?
Câu đối ở đền Sinh, tương truyền là nơi Quý Nương sinh Hoàng Xà:
Đào Giang Động Khẩu kỳ thiên tích
Sinh hóa thần tiên vạn cổ truyền.

Dịch:
Sinh hóa thần tiên truyền vạn thế
Sông Đào cửa Động tích kỳ nghìn.

Chữ Động 洞 trong Động Đình hay Đào Động ở đây không phải chỉ khu vực hay đơn vị hành chính. “Động khẩu” – cửa Động cho thấy đây là tên riêng. Động là tính chất của phương Đông. Động khẩu là cửa biển phía Đông. Động Đình hồ là cái hồ lớn phía Đông hay chính là biển Đông. Vua cha Bát Hải Động Đình không hề ở hồ Động Đình bên Vân Nam, có 8 cửa thông ra biển như kiểu giải thích nguyên nghĩa thông thường. Hồ Vân Mộng ở Vân Nam ở xa biển đi máy bay chẳng tới, nói gì đến có 8 cửa biển.

Tamquan-2Tam quan đền Bát Hải Động Đình

Câu đối ở cổng tam quan đền Đồng Bằng:
Tứ thiên niên quốc tục thượng thần, Bát Hải long phi truyền dị tích
Thập bát hiệu Hùng triều xuất thế, Đào giang hổ lược chấn linh thanh.

Dịch:
Bậc thượng thần bốn nghìn năm đất nước, rồng bay biển Bát truyền tích lạ
Xuất thế gian mười tám hiệu triều Hùng, hổ chầu sông Đào nổi linh thiêng.

Căn cứ vào việc Bát Hải Động Đình đánh Thục giúp Hùng Vương thứ 18 mà các tác giả trước đây cho rằng chuyện này xảy ra vào cuối thời Hùng, cách đây chỉ có 2000 năm. Câu đối trên đọc kỹ cho thấy thông tin hoàn toàn khác. Bát Hải Động Đình đã là thần từ 4000 năm nay và xuất thế vào thời 18 đời Hùng Vương.
Trong câu đối trên Bát Hải là địa danh chứ không phải tên người. “Rồng bay biển Bát” chỉ tích Hoàng Xà xuất hiện ở vùng biển. Đối lại, “hổ chầu sông Đào” chỉ các vị Quan lớn dưới trướng Vĩnh Công. Bát không phải là số 8 (trong 8 cửa biển) mà là con số chỉ phương Đông của Hà Thư. Bát Hải là chỉ biển Đông ngày nay. Bát Hải Động Đình là vua biển Đông.
Truyền thuyết về nguồn gốc Mẫu Thoải, người cai quản Thủy phủ trong đạo Mẫu, cho thông tin về Long vương Động Đình:
– Mẫu Thoải là con gái Long Vương ở Ðộng Ðình hồ, gặp Kinh Dương Vương đi tuần thú phương nam, hai người kết hôn, sinh ra Lạc Long Quân, thuỷ tổ của tộc Việt.
– Mẫu Thoải là con gái Long Vương ở hồ Ðộng Ðình, lấy Kinh Xuyên, sau bị vợ hai của Kinh Xuyên là Thảo Mai đố kỵ, vu oan, nên bị chồng nhốt cũi bỏ vào rừng cho thú ăn thịt nhưng Bà được cứu thoát, đới sau kính phục đức độ của Bà, suy tôn là Mẫu Thoải.
Hai truyền thuyết trên chỉ là một vì Xuyên = Giang = Dương. Kinh Xuyên = Kinh Dương Vương.
Mẫu Thoải là người đã kết hôn với Kinh Dương Vương, sinh ra Lạc Long Quân. Tới đây thì thấy rõ Vua cha Bát Hải Động Đình chính là Thần Long Động Đình trong truyền thuyết Họ Hồng Bàng, là ông ngoại của Lạc Long Quân. Câu hỏi về đạo Mẫu được giải đáp. Đạo Mẫu không phải chỉ là đạo thờ các bà mẹ với nguyên lý của thời mẫu hệ, mà là đạo khai mở từ đức Lạc Long ở biển Đông, tôn thờ dòng tộc Động Đình bên ngoại của mình.
Cũng vì thế mà quốc mẫu Âu Cơ không được xếp thành thánh Mẫu nào cả trong hệ thống Tứ phủ vì Âu Cơ là cháu Đế Nghi, Đế Nghi là cha của Lộc Tục – Kinh Dương Vương. Âu Cơ là bên họ nội của Lạc Long Quân.
Câu đối ở cột đá trên đền Hùng – Phú Thọ:
Vân ám Động Đình long đồ giáng
Nguyệt khoa Lĩnh biểu hạc qui lai.

Dịch:
Mây phủ Động Đình Rồng xuất thế
Trăng soi Nghĩa Lĩnh Hạc bay về.

Câu trên mỗi chỗ chép một khác nhưng chắc chắn bắt đầu bằng “Vân ám Động Đình”, là nơi cha Rồng xuất hiện. Trong truyền thuyết Lạc Long Quân luôn gắn liền với quê mẹ ở Động Đình. 50 người con theo cha xuống biển tức là về quê ngoại ở biển Đông. Có thể Vua cha Bát Hải Động Đình cũng chính là Lạc Long Quân, người cha của dân Việt. Điều này giải thích vì sao tín ngưỡng Tứ phủ và vua cha Bát Hải lại được người Việt coi trọng như vậy.
Câu đối ở điện thờ vua cha Bát Hải tại đền Đồng Bằng:
Bình Thục trứ nguyên huân, mỹ tai Hồng Lạc sơn hà, bi kệ trường minh Đào Động miếu
Lịch triều long tự điển, tế thử Á Âu phong hội, sương uy do tại hải môn thu.

Dịch:
Trải triều đại thịnh dày năm xưa, đúng đây hội tục Á Âu, màn uy còn tại tiết thu cửa biển
Dẹp quân Thục công đầu tiếng nổi, đẹp thay Lạc Hồng sông núi, bia đá mãi sáng nơi miếu Động Đào.

Đào Động – Hoa Đào trang là đất của vua cha Bát Hải Động Đình. Cũng ngay gần đền Đồng Bằng, bên huyện Thái Thụy của Thái Bình, trong thần tích đền Bà Chúa thờ Vương Chiêu Quân thời Tây Hán cho biết vùng này xưa được gọi là “Phủ Hạ bát đụn tang”. Chữ “bát” ở đây cũng tương tự như trong Bát Hải, là con số chỉ phương Đông. “Phủ Hạ bát đụn tang” phải hiểu là Gò đất lớn ở phía Đông của nhà Hạ.
Đào – Hoa – Hạ chỉ là một, chỉ vùng đất xứ nóng. Lạc Long Quân ở đất Đào hay Hoa Hạ, thật quá chính xác. Nếu Tản Viên – Kinh Dương Vương là Hạ Vũ trị thủy thì Lạc Long Quân chính là Hạ Khải của Hoa sử. Sau thời kỳ biển tiến, gây cơn đại hồng thủy thời Hạ Vũ, nước biển rút xuống, hình thành “Đồng Bằng” châu thổ sông Hồng (Đào giang). Lạc Long Quân cùng 50 người con tiến xuống chinh phục vùng Đồng Bằng ven biển Động Đình, khai mở nhà Hạ của Hoa sử.
Tới đây ta chợt hiểu bài ca dao:

Gió Động Đình mẹ ru con ngủ
Trăng Tiền Đường thức đủ năm canh
Tiết trời thu lảnh lành lanh
Cỏ cây khóc hạ, hoa cành thương đông
Bổng bồng bông, bổng bồng bông
Võng Đào mẹ bế con rồng cháu tiên.

Nếu lấy 2 câu đầu và cuối:
Gió Động Đình mẹ ru con ngủ…
Võng Đào mẹ bế con rồng cháu tiên.

Thì thật rõ ràng đạo Mẫu của Việt Nam bắt đầu từ Động Đình thời Đào – Hoa – Hạ của Lạc Long Quân.
Câu đối ở chính điện đền Đồng Bằng:
Phù dực Hùng triều, Đào lãng ân lưu giang dĩ Bắc
Thái bình Thục lỗ, Động thiên uy chấn hải chi Nam.

Dịch:
Phò giúp triều Hùng, sóng Đào lưu ơn nơi sông Bắc
Dẹp yên giặc Thục, trời Động oai nổi chốn biển Nam.

Động thiên” thêm một lần nữa cho thấy “Động” không phải là từ chỉ đơn vị hành chính mà là tên riêng, chỉ phương Đông.
Vấn đề hóc búa nhất khi giải mã truyền thuyết này: Vĩnh Công Bát Hải Động Đình đã giúp vua Hùng đánh giặc Thục, tuyển mộ các vị quan lớn từ Quan đệ nhất, Quan đệ nhị, Quan đệ tam,… đều là của thời Hùng đánh Thục. Bát Hải Động Đình đã xác định là thời Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân cách đây 4000 năm. Vậy làm sao có thể là thời Hùng Vương 18 đánh Thục? Thời Thục An Dương Vương chỉ mới cách đây hơn 2000 năm. Cũng tương tự nhiều thần tích chép Tản Viên Sơn Thánh trị thủy từ thủa hồng hoa lại giúp vua Hùng đánh Thục ở cuối triều Hùng, thật vô cùng kỳ bí.
Chỉ khi nhận ra Tản Viên là Hạ Vũ, Lạc Long Quân là Hạ Khải thì vấn đề trên trở nên sáng tỏ. Cuộc chiến Hùng – Thục thứ nhất mà phần thắng thuộc về Hùng vương không phải ở thời Thục Phán An Dương Vương mà là cuộc tranh giành vương vị của Hạ Khải với con cháu của dòng Đế Nghiêu (Đế Nghi) cách đây 4000 năm. Kết quả ông Bá Ích phải dẫn dòng họ Cơ của Hùng Vũ chạy lên đất Kỳ Sơn. Con cháu họ Cơ sau này là Chu Văn Vương – Chu Vũ Vương làm nên cuộc chiến Hùng – Thục thứ hai, với phần thắng thuộc về nhà Chu Thục trước Ân Trụ Vương cách đây 3000 năm.
Mọi việc trở nên thật rõ ràng. Tản Viên Sơn Thánh là Hạ Vũ, tổ của nhà Hạ nên truyền thuyết mới chép thánh Tản giúp vua Hùng đánh Thục. Thực ra người đánh Thục là con của Hạ Vũ, là ông Khải – Lạc Long Quân – Bát Hải Động Đình. Nhưng vì Tản Viên – Hạ Vũ là ông tổ đầu tiên của nhà Hạ nên truyền thuyết vẫn chép vào thành Sơn Tinh đánh Thục.
Cuộc chiến Hùng – Thục thứ nhất này còn thể hiện ngay trong truyền thuyết Họ Hồng Bàng khi Lạc Long Quân và Âu Cơ “thủy hỏa xung khắc”, chia đàn con Bách Việt thành 2 nhánh. Nhánh theo mẹ Âu Cơ lên rừng lập nước Văn Lang, đô ở Phong Châu là nhánh Thục. Nhánh theo cha Lạc Long xuống biển Động Đình, xây dựng Hoa Đào trang.
Lạc Long Quân nhờ sự giúp đỡ của bên ngoại ở Động Đình phía Đông đã làm cuộc “đảo chính”, đánh nhóm dòng tộc phía Tây (Thục), lập nên nhà Hạ. 10 vị Quan lớn của Tứ phủ hẳn là các quan trấn giữ các vùng dưới triều Hạ. Bên ngoại Lạc Long Quân do đó đã được tôn thờ trong Đạo Mẫu. Dấu vết nhà Hạ để lại chính là cả một hệ thống đạo Mẫu cổ xưa với đầy đủ nghi lễ, thứ bậc và chỉ có ở Việt Nam. Đạo Mẫu xuất hiện từ thời Lạc Long Quân, tức là còn có trước Đạo Giáo của Lão Tử hình thành thời Chu Thục sau này. Đạo Mẫu không phải là tín ngưỡng chịu ảnh hưởng của Đạo Giáo như vẫn nghĩ. Tuy nhiên cả 2 đều coi Ngọc Hoàng thượng đế, tức là Hoàng Đế Hiên Viên ở ngôi cao nhất. Đây là 2 tín ngưỡng của nhà Hạ và nhà Chu khác nhau nhưng có chung một nguồn gốc dân tộc từ thời Hùng Vũ (vua Hùng).
Câu đối ở đền Đồng Bằng:
Bát Hải linh từ, đại đế phong thần lưu thiên cổ
Động Đào cố địa, phù Hùng hiển thánh chấn Tam Giang.

Dịch:
Đền linh Bát Hải, đế vương phong thần lưu nghìn thủa
Đất cũ Động Đào, giúp Hùng hóa thánh nổi Tam Giang.

Tam Giang là tên cũ chỉ nước Việt, nơi có 3 con sông Đà Lô Thao gặp nhau ở ngã ba Bạch Hạc.
Thật kỳ lạ, trong truyền thuyết Việt có đầy đủ mọi thứ của Hoa sử, khớp tới từng chi tiết. Nhà Hạ, thời kỳ đầu lịch sử của người Hoa, bắt đầu chính từ vùng Đồng Bằng ven biển Động Đình. Nay năm Nhâm Thìn 2012, cha Rồng lại xuất hiện trên biển Bát. Lịch sử 4000 năm của người Việt sẽ được trả về đúng chủ nhân của nó.
Văn nhân góp ý:
…Đào Động – Hoa Đào trang là đất của vua cha Bát Hải Động Đình… đọc bài viết rồi mới nhận ra … chữ Hoa và chữ Hải đã nằm sẵn trong danh xưng: Hùng Hoa vương – Hải lang.
Bài viết thực quan trọng đối với Sử Thuyết Hùng Việt … xin cảm ơn Bách Việt 18.

Khun Borom

Người Thái ở Việt Nam, người Lào và người Thái Lan đều coi Khun Borom là vị vua đầu tiên của mình. Khun Borom là tên đọc theo tiếng Thái Lan và Lào. Người dân tộc Thái Tây Bắc Việt Nam gọi là Khun Bó Dôm. Dôm cũng là tên của con sông Nậm Rốm (chính xác là Nặm Dôm), chảy qua Điện Biên sang Lào đổ vào sông Mê Kong. Theo truyền tích của người Thái Lào thì Khun Borom đầu tiên đã xây dựng Mường Then thành trung tâm của hoàng gia. Mường Then được ký âm chữ Nho là Mãnh Thiên, thời Nguyễn là trấn Ninh Biên, nay là Điện Biên Phủ.
Borom không phải là tên riêng mà là danh xưng. Bằng chứng là danh xưng này còn được hậu duệ của Khun Borom cai trị vương quốc Ayutthaya sau này sử dụng như: Borom Maratcha hay Borom Trailokanat.
Không rõ Dôm tiếng Thái nghĩa là gì, nhưng rất có thể con sông Dôm chảy qua kinh đô của vương quốc thì gọi là con sông Cả hay sông Cái. Bó Dôm tiếng Thái có thể tương đương với Bố Cái của tiếng Việt, trong đó một từ là ghi âm, một từ dịch nghĩa.

Khun Borom được các sử gia Thái Lào xác định là vua Bì La Các (Piloko), người khởi đầu nước Nam Chiếu vào đầu thế kỷ 8 dưới triều Đường. Bì La (Pilo) thiết Bố. Bì Lô Các cũng là Bố Cái. Như vậy có thể thấy Khun Borom của người Lào Thái chính là Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng của Việt Nam, người đã khởi nghĩa chống nhà Đường vào thế kỷ 8:
Thanh chấn Lý Đường, Thuận Đức niên gian uy Bắc khấu
Vận thừa Mai Đế, Phong thành phủ lỵ thái Nam Bang.

Niên hiệu của Khun Borom – Bố Cái được câu đối trên chép là Thuận Đức, đóng đô tại Phong Thành, lập nước là Nam Bang. Có thể thấy Phong thành đây chính là Mường Then – Điện Biên, nằm ngay cạnh tỉnh Phong Xa Lỳ của Lào. Nam Bang là nước phía Nam hay Nan Chao (theo tiếng Thái nghĩa là nước của người phương Nam). Nan Chao là Nam Chiếu.
Sách Lịch sử Thái Lan chép (Wyatt, David K.):
Năm Khai Nguyên thứ 26 (738), Bì La Các cầu Đường trợ giúp đánh bại La Quân Chiếu Điên Chi Thác, Lãng Khung Chiếu Chí La Quân, Thi Lãng Chiếu Bàng La Điên, Việt Tích Chiếu Vu Tặng, Mông Hề Chiếu Nguyên La, sách nhập ngũ chiếu. Nhà Đường phong cho Bì La Các làm Vân Nam Vương, ban danh là Mông Quy Nghĩa. Bì La Các lấy vùng tây Nhị Hà (tức Nhĩ Hải) làm cơ sở kiến lập nên Nam Chiếu Quốc. Năm sau, dời đô về thành Thái Hòa (tức thành cổ Đại Lý ngày nay).
Đoạn trên cho một thông tin: đất Nam Chiếu của Bì La Các ban đầu nằm ở “tây Nhị Hà”, tức là phía Tây sông Hồng ngày nay. Chú dẫn thành “hồ Nhĩ Hải” ở Vân Nam là sai hoàn toàn. Thành Thái Hòa như vậy có thể chính là Mường Then ở Điện Biên, là Đại Lỵ Phủ (Talifu) như trong câu đối, chứ không phải ở Đại Lý – Vân Nam sau này. Tây Nhị Hà cũng là đất của Bố Cái Phùng Hưng chiếm đóng trước khi tấn công Tống Bình.
Theo cuốn Lịch sử Lào của Viravong M.S.  (1964) thì vào năm 50 sau CN (thời Hán Quang Vũ?) người Lào ở Nam Trung Hoa dưới áp lực của người Hán đã chia thành 2 nhóm. Nhóm ở lại gọi là Ai Lao. Nhóm di chuyển xuống phương Nam gọi là Ngai Lao. Thời kỳ tiếp theo nhóm Ngai Lào đã hình thành 6 thành phố mới. Nếu đối chiếu với 6 chiếu của Nam Chiếu thì trùng khớp:
1.    Mong-Sui là Mông Huề
2.    Lang-Kong là Lãng Khung
3.    Theng-Tsieng là Đằng Đạm
4.    Tse-Lang là Thi Lãng
5.    Mong-Tse là Mông Xá.
6.    Ia-Tse còn lại có thể Việt Tích.
Còn theo sử Lào – Thái (Manich, 1967) thì Khun Borom đã cử 7 hoàng tử đi chiếm 7 khu vực khác nhau thuộc đất Lào, Việt Nam, Thái Lan, Burma và Vân Nam. Ngoại trừ khu vực Kammuon trên đất Burma được chiếm vào thời gian muộn hơn, còn 6 khu vực trước đó có thể so trùng khớp với 6 chiếu trên :
1.    Khun Lo chiếm Mường Xoa, nay là Luong Phra Bang. Mường Xoa ứng với chiếu Mông Xá. Khun Lo được coi là tổ tiên của nước Lang Xang (Triệu Voi) sau này.
2.    Khun Khamphong chiếm Chiengsen (Chiềng Sen?), vùng đông bắc Thái Lan, quãng Chiềng Mai. Chieng Sen ứng với chiếu Đằng Đạm.
3.    Khun Chet Chang chiếm Xieng Khouang (Chiềng Khoảng?), là đất Bồn Man hay Bồn Thác, sau này qui về Việt Nam dưới triều Lê. Bồn Thác là chiếu Việt Thác.
4.    Khun In chiếm Lan-Pya sau là vùng Ayutthaya trên đất Thái Lan. Có thể đây là chiếu Lãng Khung (Lang-Kong như ở trên) vì vùng này nằm ở trung lưu sông Mê Kong – Khung giang.
5.    Khun Pha Lan chiếm Mường Teh-Hoh, được xác định là Sipsong Panna ở Vân Nam. Có thể đây là chiếu Thi Lãng.
6.    Khun Chusang chiếm Mường Chulni, được cho là vùng Hứa Phần và một phần Bắc Việt, có thể tương ứng với chiếu Mông Huề (hay Mong Sui ở trên).
Như vậy 6 chiếu khởi đầu của Bì La Các hoàn toàn khớp với vùng đất mà 6 hoàng tử của Khun Borom đã chinh phục. Rõ ràng 6 chiếu này không phải nằm chỉ ở Vân Nam mà là một khu vực rộng lớn từ Tây Bắc Việt, Lào, tới Thái Lan.

oS7CpqZF.HNsjN4DR34N2Q

 6 Chiếu người Thái

Tổng hợp các thông tin có thể tóm tắt lịch sử người Thái tới thời Khun Borom như sau:
–    Người Thái ban đầu nằm trong tộc Mi, là tộc người theo Lạc Long quân tiến lên hướng ”Đông Nam”, là thành phần chính của nhà Hạ ở vùng Quảng Đông Quảng Tây.
–    Thời Chu một phần tộc Mi di chuyển sang hướng Tây về vùng Vân Nam, thành nước Điền vào cuối thời Chiến Quốc.
–    Thời Hiếu Vũ Đế khi Lộ Bác Đức đánh nhà Triệu. Con cháu nhà Triệu chạy xuống phía Tây (Vân Nam – Điện Biên) và Nam về tận cửa Thần Phù như ghi trong Lĩnh Nam chích quái, Truyện Nam Chiếu.
–    Cuối triều Tân của Vương Mãng, tiền nhân họ Phùng là Phàn Sùng cầm đầu quân Xích Mi chống lại quân Lục Lâm của Hán tặc. Xích Mi nghĩa là tộc người Mi ở phương Nam. Tộc Mi là nhóm Tày Thái. Tiếp theo Hán Quang Vũ cử Mã Viện tấn công phương Nam, dẫn đến việc chia tách Ai Lao và Ngai Lao ở trên.
–    Thời Tam Quốc, Gia Cát Vũ Hầu của Thục thu phục Nam Man Mạnh Hoạch (Mạnh = Mãnh = Mường), có thể một phần người Thái đã di cư tiếp xuống phía Nam lúc này. Mạnh Hoạch có lẽ là thủ lĩnh của cả người Thái lẫn người Môn-Khmer (Mường, Xá) ở vùng Tây Bắc.
–    Khi nhà Tấn diệt nhà Thục của Lưu Bị, đất phương Nam của Thục thuộc Mạnh Hoạch bị chia tách, một phần theo về cùng con cháu bên ngoại của Lưu Bị – Khu Liên làm nên nước Lâm Ấp.
–    Khi Lâm Ấp bị nhà Tùy diệt thì tiếp theo Mai Hắc Đế khởi nghĩa chống nhà Đường ở vùng Nghệ An. Mai Hắc Đế là đế của tộc người Mi – Mai, hay người Thái. Khởi nghĩa thất bại, nghĩa quân rút về vùng Bồn Man. Vùng Bồn Man này có lẽ không trùng với vương quốc Bồn Man sau này ở Xiêng Khoảng, mà nằm ở Tây Nghệ An – Thanh Hóa, tức là đất Hứa Phần.
–    Bố Cái Phùng Hưng – Khun Borom nối vận Mai Hoàng và tiền nhân họ Phùng từ châu Đường Lâm (vùng Hứa Phần) đã làm nên Nam Chiếu, vương quốc của người Thái huy hoàng trong lịch sử.
Theo thông tin về Bì La Các thì Phùng Hưng khởi nghĩa ban đầu không phải chống lại triều Đường, trái lại còn được sự ủng hộ của Đường Huyền Tông để thu phục 6 chiếu từ tay người Lawa – Xá, nói chung là người Môn – Khmer hay tộc Cơ của các châu Cơ Mi (Kimi), sống ở vùng này trước đó. Nam Chiếu chống lại triều Đường bắt đầu từ đời con của Bì La Các là Cáp Lỗ Phong hay Khun Lo trong sử Lào.
Tên Khun Lo và Cáp Lỗ Phong cho thấy vùng đất Lào xưa có tên là nước Lỗ. Vào thời trước công nguyên thì đây là khu vực của người nhóm Môn-Khmer, tiền thân người Cămpuchia bây giờ. Vì thế mới có chuyện mộ ông Lỗ Ban, tổ sư nghề mộc của nước Lỗ thời Chiến Quốc lại thấy ở Angkor Wat như được mô tả trong Chân Lạp phong thổ ký. Khổng Tử người nước Lỗ dậy học trò bên sông Thù, sông Tứ, có thể chính là sông Mê Kong vì Tứ là chỉ phương Tây, tương đương với Khung giang.
Một số từ Thái và họ người Thái có thể hiểu như sau:
– Bồn Man là ký âm chữ Nho của từ Bản Mường, nghĩa là đất nước theo tiếng Thái. Ví dụ người Thái nói Mường Lào, Mường Việt nghĩa là nước Lào, nước Việt.
– Tạo (trong tiếng dân tộc Thái) = Thao (trong tiếng Thái Lào), nghĩa là Thiêu, chỉ ngọn lửa, là biểu trưng của người lãnh đạo.
– Họ Lư (Lư Cầm), hay người Lự, họ Lò có lẽ cũng là từ Lỗ hay La mà ra, là quẻ Ly chỉ phương Tây trong Hậu thiên bát quái.
– Họ Cầm có thể từ chuỗi Điểu – Cầm – Chim.
– Điểu còn có thể biến thành Điêu, rồi thành họ Đèo, như Đèo Văn Trí ở Lai Châu thời Pháp còn gọi là Điêu Văn Trí, là con của Đèo Văn Sinh hay Cầm Sinh. Điêu = Cầm.

Nam Hải thần tiên

Thần thoại Trung Hoa:
Nam Hải, trên núi Tiểu Ngu có Mẹ Quỷ (Quỷ mẫu), có khả năng sinh ra mọi giống quỷ trên trời dưới đất. Mẹ Quỷ mỗi ngày sinh ra mười quỷ, sáng sinh ra quỷ con, tối lại ăn mất. Nay đất Thương Ngô có thần Quỷ Cô, chính là Mẹ Quỷ vậy. Mẹ quỷ đầu hổ, chân rồng, mi mắt mãng xà, mắt giao long.
Chuyện về Quỷ Mẫu ở Nam Hải có nét tương đồng với truyện cổ tích Việt Nam Cây nêu ngày Tết, kể rằng loài quỷ sống ở ngoài biển Đông.

Sách Sơn hải kinh, có chuyện Tinh Vệ điền hải, kể về con gái của Viêm Đế Thần Nông là Nữ Ai bị chết đuối ngoài biển Đông, biến thành chim Tinh Vệ thường ngậm gỗ đá ở núi Tây để lấp biển. Thần Nông Trung Hoa ở chỗ nào mà lại có biển Đông?

Các thần thoại của Trung Hoa chép trong các sách Sơn Hải kinh, Hoài Nam Tử, Trang Tử, … đều có từ thời Tiên Tần. Thời kỳ này theo chính sử, Trung Hoa còn chưa tiến xuống phương Nam. Vậy mà trong thần thoại Trung Hoa từ thời thái cổ lại đầy rẫy chuyện xảy ra ở Nam Hải hay biển Đông. Lại còn có cả địa danh Thương Ngô, không rõ chỗ nào nhưng chắc chắn ở Nam Trường Giang. Trung Hoa như vậy phải nằm ở nơi có biển “Nam Hải”, chứ không thể là vùng sa mạc ở ven sông Hoàng Hà được.

Thời Thần Nông còn có người Túc Sa biết làm muối từ nước biển. Nghề muối chỉ có thể có ở vùng nhiệt đới, nơi ánh nắng mặt trời đủ nóng để phơi nước biển tạo thành muối. Viêm Đế như vậy rõ ràng là một vị vua của xứ nóng ven biển. Là biển có muối chứ không phải chỉ là nơi có mặt nước rộng trong lục địa.

Trang Tử, Nam Hoa kinh, Tiêu dao du:
Biển Bắc có con cá gọi là cá Côn, mình dài không biết mấy ngàn dặm. Nó biến thành con chim gọi là chim Bằng, lưng rộng biết mấy ngàn dặm, khi tung cánh bay thì cánh nó như đám mây trên trời. Biển (Bắc) động thì nó dời về biển Nam, biển Nam là Ao trời.
Trang Tử sống vào thời Chiến Quốc, ở đất Mông (nước Tống?). Thời đó người Trung Hoa còn chưa vượt qua nước Sở, vậy làm sao Trang Tử có thể biết có cõi biển Nam (Nam minh), lại còn có hình cái Ao (mô tả chính xác hình ảnh của biển Đông) như vậy?
Rất có thể Trang Tử người nước Tống, là vùng đất Quảng Đông bây giờ, phía Nam đất này giáp biển Đông. Vì vậy trong tác phẩm Nam hoa kinh ông thường dùng khá nhiều hình ảnh về biển Đông hoặc biển Nam minh.

Đối chiếu với tư liệu của người Việt, Thiên Nam ngữ lục chép về Kinh Dương Vương:
Kinh Dương ngày ấy đi chơi
Thuyền trăng buồm gió tếch vời Nam minh.

Ở chốn Nam minh ấy Kinh Dương Vương gặp con gái Thần Long:
Nàng rằng: thiếp con Động Đình
Thần Long là hiệu, Nam minh là nhà.

Như vậy Nam minh chính là Động Đình, là biển Đông, nơi Kinh Dương Vương lấy con gái Thần Long Động Đình.

Thần Long Động Đình vẫn còn lưu tồn trong tín ngưỡng thờ mẫu ở Việt Nam, một tín ngưỡng tối cổ, từ thời mẫu hệ. Đó là vua Bát Hải Động Đình, vua cha của hầu hết các mẫu và các vị quan trong hệ thống thờ tứ phủ. Bát là số 8, con số chỉ phương Đông. Bát Hải là biển Đông.

Bát Hải cũng là Bột Hải, là chốn tiên cảnh, có các đảo Bồng Lai, Doanh Châu và Phương Trượng của thần thoại Trung Hoa. Các đảo này hẳn nằm trong quần thể vịnh Hạ Long, một kỳ quan thiên nhiên thế giới trên biển.

Bột Hải cũng là nơi Tần Thủy Hoàng phái Từ Phúc ra biển tìm thuốc trường sinh. Ở Việt Nam cũng còn dấu vết của Yên Kỳ Sinh, một danh y thời Tần đã ở vùng biển Đông tìm hái cây thuốc Thạch xương bồ ở Yên Tử (Quảng Ninh).

Tại sao người Việt lại gọi vùng biển Đông là biển Nam minh hay Nam Hải? Không phải là vì biển này nằm ở phía Nam của Trung Quốc. Nam đây là hướng của … Kim chỉ Nam, chỉ vào phương Bắc, nay Nam Bắc đã bị lộn ngược.

Đông Nam là hướng mà Lạc Long quân đã dẫn 50 người con xuống biển:
Cha con xuống ở thủy cung
Mở mang chế độ, quan phòng đông nam.

50 người con theo mẹ Âu Cơ về Phong Châu lập nước Văn Lang, thì ắt hẳn 50 người theo cha xuống biển tiến lên phía Nam (phía Bắc ngày nay) đã khai mở nhà Hạ của Trung Hoa. Lạc Long Quân cùng các con tiến dọc ven biển từ vịnh Bắc bộ dọc tới tận Phúc Kiến, Triết Giang. Dấu tích để lại là nền văn hóa đá mới Hạ Long, vươn sang tận Philippin. Nam Hải chính là nơi lưu dấu thời khởi đầu “Nam tiến” của người Việt.

Thời Đông Chu ở Việt Nam còn có tích về công chúa Diệu Thiện và Trang Vương tại Hương Sơn Hà Tĩnh. Công chúa Diệu Thiện tu hành ở núi Hương Sơn. Trang Vương đến thăm con, để lại nền hành cung ở núi này. La sơn phu tử Nguyễn Thiếp có bài thơ về Hương Sơn:
Vân túc Trang Vương hà đại chỉ
Thụ suy Trần tử nhất phong am
.
Dịch:
Xe mây đâu chốn Trang Vương nghỉ
Trận gió rung cây Trần tử am.

Vua Trang Vương thời Đông Chu thì hẳn là Chu Trang Vương, vị vua thứ ba từ khi nhà Chu dời đô về Đông Đô Lạc Ấp. Phải chăng Đông Ngàn (tên vùng đất Cổ Loa) chỉ là một cách gọi khác của Đông Đô?

Đối chiếu tích Diệu Thiện và Trang Vương với chuyện Nam Hải Quan Âm thì có thể thấy hai chuyện chỉ là một. Công chúa Diệu Thiện, con của Chu Trang Vương Cơ Đà đi tu ở Hương Sơn, đã được “phật hóa” thành Quan Âm bồ tát, vị bồ tát gần gũi nhất, linh thiêng nhất, nghìn tay nghìn mắt đối với người Việt.

Nhà Tần đánh Lĩnh Nam, đặt ra quận Nam Hải ở Quảng Đông. Triệu Vũ Đế lập nước Nam Việt đóng đô ở Phiên Ngung. Biển Đông – Nam Hải từ thời Chu Tần vẫn luôn sống động trong lòng người Việt. Vùng ven biển ở Hải Phòng, Quảng Ninh thờ Nam Hải đại vương, là tướng Phạm Tử Nghi thời nhà Mạc, từng quấy phá châu Khâm, châm Liêm của nhà Minh như Lý Thường Kiệt vậy. Phan Kế Bính viết truyện các danh nhân lịch sử Việt Nam đặt tên là Nam Hải dị nhân liệt truyện. Rồi cả tiến sĩ người Bành Hồ Thái Đình Lan bị đắm thuyền, trôi sang Việt Nam, được triều đình Huế đưa về, lúc về có chép Hải Nam tạp trứ, kể lại những gì tai nghe mắt thấy trên nước Đại Nam.

Nam Hải là đất Việt, người Việt, là chốn tiên cảnh của thần thánh Hoa Việt từ thời thái cổ. Nam Hải không phải là biển Nam Trung Quốc, mà là biển của vùng mở đất Nam Giao theo dấu chân của Lạc Long cùng các con tiến về Đông Nam.