CHÙA ĐOAN MINH – DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT

1. THÔNG TIN CHUNG

Tên gọi: Chùa Đoan Minh 

Tên khác: Chùa Thổ Hà

Địa chỉ cụ thể: Làng Thổ Hà, phường Vân Hà, tỉnh Bắc Ninh

Vị trí địa lý và không gian cảnh quan:

Mô tả vị trí: Nằm ở trung tâm làng Thổ Hà cổ bên bờ Bắc sông Cầu.

Yếu tố phong thủy: Nằm ở trên một thế đất đẹp hướng Nam ghé Tây, phía trước cách khoảng sân rộng là đình Thổ Hà.

Niên đại khởi dựng và các lần trùng tu:

Tương truyền chùa Thổ Hà được nhân dân làng Thổ Hà xây dựng từ lâu đời với quy mô nhỏ, ban đầu chỉ là am động. Công trình kiến trúc cổ hiện nay được khởi dựng từ trước năm 1580 thời Mạc (thế kỷ XVI). Trải qua thời gian ngôi chùa đã được tu sửa nhiều vào thời Nguyễn (thế kỷ XIX) hiện nay ngôi chùa vẫn bảo lưu được kiến trúc cổ.

2. GIÁ TRỊ LỊCH SỬ

Nhân vật được thờ: 

Thờ Phật với hệ thống tượng Phật giáo Đại thừa Việt Nam. Chùa xây dựng bởi cùng Sơn môn Bổ Đà. Khu nhà tổ còn có gian mẫu, thờ Tam tòa thánh mẫu và công đồng.

Sự kiện lịch sử, văn hóa gắn liền với di tích:

Bia Cung sao sự tích thánh ở đình Thổ Hà chép: Đời vua Thục An Dương Vương có một người từ Bắc quốc đến đạo Kinh Bắc, phủ Bắc Hà, huyện An Việt và ở nhờ chùa Đoan Minh Tự của trang Thổ Hà. Ngày đêm giảng kinh đọc sách, có sức màu nhiệm như thần, trong trang có nhiều con em theo học. Một hôm Người bảo học trò rằng: 

  • Ta sinh ra từ thủa Hồng Mông, cho nên ta thông minh khác thường. Mẹ ta vốn là người từ bi, huyền diệu mà sinh ra, tên là Mỹ Thổ Hoàng. Có một đêm mẹ ta nằm mơ thấy nuốt một vì sao ngưu tinh, thế là mẹ có thai đủ 81 năm. Đến ngày 7 tháng giêng năm Canh Thìn nách tay phải của mẹ rung động rồi sinh ra ta. Khi ta mới ra đời đầu đã bạc, chân có chữ, ta không có bố, khi đẻ mẹ vịn vào cây mận cho nên lấy họ ta là Lý, tên là Lão Đam, tên chữ Lý Bá Dương, lại có tên là Thái Thượng.

Lúc bấy giờ có giặc Xích Tỵ, Lão Tử vâng mệnh vua đi trừ quỷ dữ. Người đọc thần chú rồi dùng gậy trúc lấy hương phù thư lên phóng đi 4 phương, yêu quái đều hết, dân trang làm ăn yên ổn. Nhà vua ban thưởng cho thực ấp ở huyện An Việt. Sau được vua phong làm Thượng đẳng thần, phong cho mẹ ngài là Đoan Từ chi nhân.

Sau này Ngài lại giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa, được nhà vua phong là Đương cảnh Thành hoàng Thái Thượng Bản giác Linh phù và phong cho mẹ ngài là Đoan Ý Trinh thục Nhu hòa Huệ ân Diệu mỹ Thổ Hoàng Thái hậu.

3. KIẾN TRÚC VÀ NGHỆ THUẬT

Bố cục mặt bằng tổng thể và các hạng mục chính:

Mô tả bố cục: Kiến trúc của chùa theo kiểu “Nội công ngoại quốc” có quy mô lớn, gồm: tam quan, sân chùa, toà tiền đường, tòa thượng điện, 2 dãy hành lang, tòa Phật động và nhà tổ. Qua sân sau rộng là khu nhà tổ.

Mô tả từng hạng mục: Nền tiền đường cao, có 3 bậc bó bằng đá tảng xanh. Toà tiền đường 7 gian 2 chái, thượng điện 5 gian, toà giữa Phật động 5 gian 2 chái, 2 dãy hành lang mỗi dãy 10 gian. Khu đất Tổ có 9 gian. Trong chùa kết cấu vì kèo theo kiểu chồng rường đấu kê, độc trụ truyền thống. Các cấu kiện kiến trúc bằng gỗ lim. Tường bao được xây bằng gạch chỉ, ngoài phủ vữa, quét vôi trắng. 

Nghệ thuật trang trí, điêu khắc: 

Kiến trúc: Tòa tiền tế mặt ngoài kiến trúc với mái đao, bậc thềm đá cổ. Bên thềm còn giữ được một số rồng bậc thêm cổ thời Mạc còn nguyên vẹn. Bờ nóc chính giữa đắp nổi bức đại tự chữ Hán: “Đoan Minh tự”. Hiện chùa xây thêm tam quan mới bên ngoài.

Phía trước tòa tiền đường chùa Thổ Hà là đôi rồng đá uốn khúc (rồng yên ngựa) đặt trên bệ cao, có dòng chữ đề mua năm Giáp Thân, được xác định là năm 1580 thời Mạc Mục Tông. Và một đôi nghê đá xanh thời Lê Trung hưng (thế kỷ XVII). Đây là những hiện vật cổ có giá trị lớn về mặt nghệ thuật và khoa học.

Chạm khắc gỗ: Hệ thống đầu bẩy chùa Đoan Minh có chạm khắc thờ Hậu Lê kỹ lưỡng. Bên trong chùa đa phần để trơn và trang trí hoành phi, tranh khắc sơn.

4. GIÁ TRỊ HIỆN VẬT

Bài trí thờ tự: 

Hệ thống tượng cổ: 

Hiện nay chùa Thổ Hà còn bảo lưu được khá nhiều hiện vật hệ thống tượng Phật cổ, khoảng gần 50 pho tượng. Hệ thống tượng chính nằm ở tòa thượng điện và tiền đường. 

Thượng điện có nhiều tượng cổ giá trị được bày theo lớp là tượng Quan Âm Chuẩn Đề, Phật Di Lặc, Phật A Di Đà, tượng Thích Ca sơ sinh. Trong cùng là tượng Phật Thích Ca kích thước lớn, phía trên là bộ Tam Thế Phật. Hai bên thượng điện là tượng Thập điện Diêm vương, Quan Thế Âm Bồ tát, Đại Thế Chí Bồ tát…

Phía trước thượng điện có hoành phi: Quỳnh khuyết châu cung. Nghĩa là: Cửa quỳnh cung ngọc

Bộ cửa võng chạm rồng phượng, hoa lá có hoành phi: Long hoa hội. Nghĩa là: Hội rồng hoa.

Và đôi câu đối:

Phi nẵng phi kim, thiên địa tương chung thuỷ

Bất thường bất trú, phật pháp nhất tính tâm.

Nghĩa là:

Không xưa không nay, cùng trước sau với trời đất 

Không đi không ở, một tính lòng theo phép phật.

Tiền tế bố trí hai tượng Hộ pháp lớn và Bát bộ kim cương, tượng Văn Thù và Phổ Hiền cùng khá nhiều tượng hậu cổ. Hoành phi phía trên tượng Hộ pháp:

Bất nộ nhi uy. Nghĩa là: Không dữ mà có oai

Lập ư vô quá. Nghĩa là: Giữ ở ngưỡng không quá.

Câu đối ở giữa tiền tế:

Tứ cố phong quang, tuệ nhật từ vân tự tại

Nhất thiên cảnh thắng, danh lam cổ tự trường lưu.

Nghĩa là:

Bốn phía phong quang, ngày tuệ mây từ tự tại

Một trời thắng cảnh, danh lam chùa cổ mãi còn.

Hai bên hành lang bố trí 18 vị La Hán, phía cuối là ban Thánh hiền và Thánh tăng. Hoành phi ban Thánh tăng: Tú khí chung linh. Nghĩa là: Khí đẹp đúc thiêng. Hoành phi ban Thánh hiền (Đức chúa ông): Âm dương hợp đức. Nghĩa là; Đức âm dương hòa hợp.

Nằm sau chùa chính là tòa Phật động được thể hiện với rất nhiều tượng nhỏ và hai ban Đế Thích và Phạm Thiên. Phật động thể hiện sự tích Phật Thích Ca từ lúc sơ sinh, đi tu đến lúc đắc đạo. Phía trên Phật động là bức hoành phi lớn sơn nâu thếp vàng đề: Đoan Minh tự, với niên hiệu Khải Định năm Tân Dậu (1921)

Câu đối hai bên Phật động:

Chí đạo cực chí đạo tinh, minh mặc tự tồn chân chủ tể

Thiên hạ khê thiên hạ cốc, thâm vi trực thám đại nguyên đầu.

Nghĩa là:

Đạt đến mức tinh cực của đạo, lặng lẽ tự tại thực chúa tể

Khắp chốn hang ngõ trong thiên hạ, thâm diệu thẳng truy lớn đầu nguồn.

Trong nhà tổ cũng có ban thờ phật, thờ mẫu và ban thờ tổ với nhiều tượng cổ có giá trị nghệ thuật. Ở chính giữa gian nhà tổ, là nơi thờ Phật có bức cửa võng sơn son thếp vàng, chạm khắc rồng chầu, rồng phượng, tùng trúc và hoành phi: Liên trì hải hội. Nghĩa là: Hội biển ao sen. Phía trên là một bức cuốn thư sơn son thếp vàng, chạm hình hoa cúc hóa long.

Câu đối gian giữa:

Phạm vũ ngộ huyền cơ, nhất nhi nhị nhị nhi nhất

Thiền sư vô biệt ngữ, tâm tức phật phật tức tâm.

Nghĩa là:

Mái Phạn ngộ huyền cơ, một mà hai, hai mà một

Thiền sư không nói khác, tâm là phật, phật là tâm.

Gian thờ mẫu gồm Tam tòa Thánh mẫu và các hàng chầu, các quan hoàng… Phía trước gian có câu đối:

Thiên địa sơn hà, dục tú chung anh lưu chính khí

Thần tiên phật thánh, trừ tai giáng phúc lẫm linh thanh.

Nghĩa là:

Trời đất núi sông, nuôi đẹp đúc anh lưu chính khí

Thần tiên phật thánh, trừ tai giáng phúc tỏ linh thiêng.

Đồ thờ tự cổ: 

Ngoài hệ thống tượng phật, mẫu, tổ, còn nhiều bát hương gốm Thổ Hà cổ, các bức chạm trang trí được sơn son thếp vàng hình hoa lá, chim thú (ở khu nhà thờ tổ) hay tứ linh (khu Thánh hiền và Thánh tăng), hoa lá và chữ Phạn hay chữ tượng hình (ở thượng điện).

Di sản Hán Nôm quan trọng: 

Trong chùa Thổ Hà ngoài những câu đối và hoành phi đã giới thiệu ở trên còn nhiều câu đối và hoành phi khác, đều là cổ, được sơn son thếp vàng, chạm khắc tinh xảo, nội dung sâu sắc, phong phú. Ví dụ, câu đối ở tiền tế:

Bái thủ nhiệt Chiên đàn, thành cách dao khung tam giới phủ

Tín tâm trì Phật hiệu, danh tiêu tịnh vực cửu liên trì.

Nghĩa là:

Chắp tay thắp Chiên đàn, lòng thành tới khắp phủ ba giới

Lòng tin giữ tên Phật, danh tỏ chốn tịnh hồ chín sen.

Câu đối ở thượng điện:

Cửu phẩm liên đài, kim tương đoan nghiêm thuỳ tiếp dẫn

Thất trùng bảo thụ, ngọc hào xán lạn phóng quang minh.

Nghĩa là:

Đài sen chín tòa, tướng vàng đoan nghiêm trùm dẫn tiếp

Cây báu bảy tầng, ánh ngọc rực rỡ phóng hào quang.

Câu đối khác ở thượng điện:

Nhiễu phật tòa, lễ phật biên, tâm phật tâm nhân vô nhị niệm

Xuy pháp loa, kích pháp cổ, nhiên pháp cự tăng hữu lục hoà.

Nghĩa là:

Quanh tòa Phật, lễ bên Phật, tâm Phật lòng người không hai ý

Thổi loa pháp, đánh trống pháp, lửa pháp đuốc tăng có sáu hòa.

Câu đối ở nhà thờ tổ:

Tứ đại huyền không, dương khánh âm siêu vô hạn lạc

Quần sinh giác ngộ, dân khang vật phụ hữu dư xuân.

Nghĩa là:

Bốn đại huyền không, dương vui âm độ mừng vô hạn

Chúng sinh giác ngộ, dân khỏe vật mạnh xuân có dư.

Hệ thống bia đá chùa Đoan Minh còn 12 tấm. Đáng chú ý nhất là tấm bia “Thủy tạo đại thạch bi. Các chung tam quan Đoan Minh tự bi” dựng vào năm Vĩnh Trị thứ 4 (1679). Nội dung bia về việc xây dựng gác chuông và tam quan của chùa. Đây là tấm bia bốn mặt, kích thước lớn, chạm khắc hoa sen, nghê thú, được dựng ở trước sân chùa. 

Ở khu Phật động có tấm bia “Tam bảo thị độ bi” tạo năm Thịnh Đức thứ 1 (1653) là bia cổ nhất của chùa nói về việc lập Tam bảo ở bến chợ. Cạnh đó có cây hương 4 mặt tạo năm Vĩnh Thịnh thứ 6 (1710) ghi danh người góp tiền xây dựng và tu sửa chùa.

Ở nhà tổ có một số bia đá sau:

Lập thạch bi ký” tạo năm Tự Đức thứ 9 (1856) về việc gửi giỗ cho song thân của ông Trịnh Đắc Tỉnh và bà Nguyễn Thị Nhuận.

Tự Đức bát niên” tạo năm 1855 về việc gửi Hậu.

Hậu Phật bi ký” tạo năm Tự Đức thứ 8 (1855) về việc lập Hậu.

Hậu Phật bi ký” tạo năm Tự Đức thứ 9 (1856) ) về việc lập Hậu.

Hậu Phật bi kỵ” tạo năm Tự Đức thứ 10 (1857) ) về việc gửi giỗ.

Ngoài ra trong nhà tổ còn mấy tấm bia tiêu đề “Ký công thạch bi” và “Hậu Phật bi ký”…. 

Trong cơ sở thác bản bia từ thời Pháp còn có thác bản các tấm bia sau của chùa Đoan Minh:

Đoan Minh tự tạo Bổ Đà bi ký” tạo năm Đức Long thứ 5 (1633) về việc quyên góp tạo núi Bổ Đà ở chùa Đoan Minh. Bia ghi danh sách những người tham gia đóng góp.

Đoan Minh tự tạo thạch lô bia ký” tạo năm Thịnh Đức thứ 1 (1653) về việc tu sửa chùa Đoan Minh. Năm Mậu Tý (1648) xây tường liễu, gồm 56 bức, trùng tu gác chuông, dựng cầu ở chợ gồm 12 gian. Năm Kỷ Sửu (1649) mua đá lát đường vào chùa Đoan Minh. Đến nay dựng bia ghi tên những người đã đóng góp công đức.

Hiện trong gian nhà mẫu của chùa có 1 chuông đồng cổ cỡ nhỏ, tiêu đề Cung phụng phật thánh, niên đại Cảnh Thịnh thứ 7 (1799).

5. LỄ HỘI VÀ PHONG TỤC VĂN HÓA

Lễ hội chính: 

Lễ hội làng Thổ Hà là lễ hội chung cho đình và chùa Thổ Hà nhằm tôn vinh Thành hoàng làng Lão Tử và thánh mẫu Thổ Hoàng Phu nhân, mẹ của ngài. Đây là một lễ hội đặc sắc, đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia vào năm 2012. Hội lệ chính của chùa được tổ chức trong các ngày 20, 21, 22 tháng Giêng âm lịch, ngoài nghi lễ dâng hương cúng Phật còn có các trò chơi dân gian như đấu vật, chọi gà, đánh cờ tướng, bơi chải bắt vịt, hát quan họ…

6. KẾT LUẬN

Văn bản công nhận di tích: Chùa Thổ Hà được xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia, theo Quyết định số 226-QĐ/BT, ngày 05/02/1994 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa thông tin.

Ngày 11/02/2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Mai Văn Chính đã ký Quyết định số 266/QĐ-TTg xếp hạng Quần thể Di tích kiến trúc nghệ thuật đình, chùa, từ chỉ Thổ Hà, phường Vân Hà, tỉnh Bắc Ninh là Di tích quốc gia đặc biệt.

Chùa Đoan Minh.

Rồng và nghê đá trước cửa chùa

Bia tứ diện niên hiệu Vĩnh Trị thứ 4 (1679) trong sân chùa Đoan Minh.

Thượng điện chùa Đoan Minh.

Tượng Bát bộ Kim cương.

Hoành phi Đoan Minh tự và Phật động.

Bia Tam bảo thị độ bi niên hiệu Thịnh Đức thứ 1 (1653)

Nhà tổ chùa Đoan Minh.

Chính gian thờ Phật ở nhà tổ chùa Đoan Minh.

Gian thờ mẫu chùa Đoan Minh.

Chuông đồng thời Cảnh Thịnh thứ 7 (1799).

Bia Hậu Phật chùa Đoan Minh.

Đình Thổ Hà, di tích quốc gia đặc biệt

1. THÔNG TIN CHUNG

Tên gọi: Đình Thổ Hà 

Tên khác: Đình làng Thổ Hà

Địa chỉ cụ thể: Làng Thổ Hà, phường Vân Hà, tỉnh Bắc Ninh

Vị trí địa lý và không gian cảnh quan:

Mô tả vị trí: Nằm ở trung tâm làng Thổ Hà cổ bên bờ Bắc nhìn ra sông Cầu, phía sau là chùa Đoan Minh phía trước là bến đò.

Yếu tố phong thủy: Theo bản Mục lục của làng thì phong cảnh Thổ Hà bốn phía xinh tươi, phía Đông một dải đất tựa hình rồng quay về chốn tổ, phía Tây một trái núi trông như dáng hổ ngồi chầu, hướng về phương Nam là sông Nguyệt núi Hằng, sách trời đã định, tựa lưng phương Bắc ngon Lát phong, Phúc lĩnh hun đúc khí thiêng.

Niên đại khởi dựng và các lần trùng tu:

Theo tấm bia “Thủy tạo đình miếu bi” thì đình Thổ Hà được xây dựng năm Ất Sửu 1685, thời vua Lê Hy Tông niên hiệu Chính Hòa, hoàn thành năm Nhâm Thân 1692 và đã được trùng tu vào thời Nguyễn thế kỷ XIX. Năm 2009 đình Thổ Hà được đại trùng tu và nâng cao như hiện nay.

2. GIÁ TRỊ LỊCH SỬ

Nhân vật được thờ: 

Đình Thổ Hà thờ đức Thánh ông là Thái Thượng Lão Quân, còn gọi là Lão Đam hay Lão Tử, đức Thánh bà là Thái Hậu Đoan Ý Phu nhân, mẹ của Lão Tử và thờ tổ sư nghề gốm là ông Đào Trí Tiến.

Sự kiện lịch sử, văn hóa gắn liền với di tích:

Bia Cung sao sự tích thánh ở đình Thổ Hà chép: 

Đời vua Thục An Dương Vương có một người từ Bắc quốc đến đạo Kinh Bắc, phủ Bắc Hà, huyện An Việt và ở nhờ chùa Đoan Minh Tự của trang Thổ Hà. Ngày đêm giảng kinh đọc sách, có sức màu nhiệm như thần, trong trang có nhiều con em theo học. Một hôm Người bảo học trò rằng: 

  • Ta sinh ra từ thủa Hồng Mông, trời đất mới mở mang, cho nên ta thông minh khác thường. Năm xưa mẹ ta kể chuyện rằng: mẹ vốn là người từ bi, huyền diệu mà sinh ra, tên là Mỹ Thổ Hoàng. Có một đêm mẹ ta nằm mơ thấy nuốt một vì sao ngưu tinh, thế là mẹ có thai đủ 81 năm. Đến ngày 7 tháng giêng năm Canh Thìn nách tay phải của mẹ rung động rồi sinh ra ta. Khi ta mới ra đời đầu đã bạc, chân có chữ, ta không có bố, khi đẻ mẹ vịn vào cây mận cho nên lấy họ ta là Lý, tên là Lão Đam, tên chữ Lý Bá Dương, lại có tên là Thái Thượng.

Quanh vùng nơi ở của người không ai xảy ra tật bệnh, nên người trong trang thường bảo nhau rằng: đó là khí sinh thánh tổ, chẳng phải người thường, các nơi cũng đến xin làm thần tử. Từ đó danh vang thiên hạ, người đến theo học càng đông. 

Lúc bấy giờ trong nước có giặc Quỷ mũi đỏ (Xích Tỵ), một vị quan thị hầu vua bị bệnh ngã nhào xuống đất và sau đó bệnh tật lan khắp mọi nơi, trong nước nhiều nơi mắc bệnh, người ốm người chết thiệt hại rất nhiều. Nhà vua vội truyền hịch đi các nơi: nếu ai trừ được giặc Quỷ vua sẽ gia phong tước lộc. Lão Tử liền vâng mệnh đến nơi có giặc Quỷ, người liền niệm chú rằng: “Đạo pháp bản vô đa, nam thần quán Bắc Hà, đô lai tam thất tự, tận diệt thế gian ma”. Đọc chú xong, Người lại thư phù vào gậy trúc và phóng đi bốn phương, các nơi đều yên ổn. Quan địa phương tâu với triều đình, vua liền mời Lão Tử đến ban thưởng, mở tiệc khoản đãi và phong người là Đệ nhất nhân (người tài nhất). Lại cho ngài được hưởng thực ấp ở vùng An Việt huyện. 

Người bái tạ đức vua và trở về Thổ Hà trang. Về tới nơi Người liền cho xây dựng cung doanh trị sở. Khi xây xong Người cho mời các bô lão trong trang và tất cả học trò đến mở tiệc ăn mừng. Lúc sắp sửa ăn bỗng thấy đám mây năm sắc từ từ sa xuống đất, trong mây thấp thoáng có bóng người mặc áo đỏ, Lão Tử liền theo đám mây cưỡi rồng đỏ mà biến mất. 

Sau đó vua xây thành Cổ Loa có những u hồn và tà ma quấy nhiễu, cứ xây xong lại đổ. Vua lo lắm, liền xa giá đến Thổ Hà trang cầu đảo. Chợt có thần nhân hiện lên bảo vua rằng: xin vua cứ hồi kinh, không lo ngại gì. Rồi Người sai Thanh Giang sứ (tức thần Kim Quy) đến giúp, giết Bạch kê tinh trong núi Thất Diệu, lại đào được hài cốt Bạch kê đem đốt đi, từ đó yêu ma tan hết, lại đào thấy nhạc khí thời cổ (như chiêng, trống đồng). Thành xây nửa tháng vừa xong, vua hàng năm cứ đến ngày 22 tháng 2 xa giá đến làm lễ để tỏ lòng tôn kính một vị thần linh tuấn, đó là lẽ thường vậy. 

Lại phong cho là Đương cảnh thành hoàng Thái Thượng Bản giác Linh phù Thượng đẳng phúc thần. Phong mẹ là Đoan ý Trinh thục Nhu hòa Huệ ân Diệu mỹ Thổ Hoàng Thái hậu. Từ đó về sau nghiệm thấy linh ứng nên các triều đại đế vương đều phong mỹ tự.

3. KIẾN TRÚC VÀ NGHỆ THUẬT

Bố cục mặt bằng tổng thể và các hạng mục chính:

Mô tả bố cục: Đình chính chữ công gồm đại đình, ống muống và hậu cung phía sau. Phía trước là nhà tiền đình, hai bên sân đình có tả vu và hữu vu nằm trong nghi môn nội. Phía trục đường nhất chính đạo dẫn thẳng ra phía bờ sông là nghi môn ngoại. Một bên phải đình phía sau có nhà thờ Mẫu, thờ mẹ của Lão Tử.

Mô tả từng hạng mục: Tòa đại đình có 5 gian 2 chái, dài 27m rộng 16m với bốn mái đao cong lợp mũi hài. Nghệ thuật điêu khắc ở ngôi đại đình là tiêu biểu nghệ thuật điêu khắc đình làng thời Hậu Lê.

Tòa tiền tế có 3 gian với bốn mái đao và nghệ thuật điêu khắc thời Nguyễn xen với thời Lê. Trong tòa tiền tế đặt 7 tấm bia đá.

Nghệ thuật trang trí, điêu khắc: 

Chạm khắc gỗ: Nghệ thuật trang trí điêu khắc trong tòa đại đình trên các cấu kiện kiến trúc thể hiện nét đặc sắc qua các chủ đề khá đa dạng và phong phú với hình rồng, phượng, nghê, lân, tiên nữ … Điêu khắc đình Thổ Hà được chạm trên hầu hết các thành phần kiến trúc của đình như: đấu kê, con rường, kê đầu dư, ván nong câu đầu … Hệ thống 22 chiếc đầu bẩy chạy xung quanh đại đình được chạm khắc tinh tế mang phong cách Hậu Lê.

Đặc biệt bộ cửa võng đình Thổ Hà làm vào năm 1692 được sơn son thếp vàng đục chạm rất công phu. Bộ cửa võng đình Thổ Hà đã được công nhận là Bảo vật quốc gia vào tháng 12 năm 2020.

Kiến trúc: Đình Thổ Hà nhìn từ bên ngoài với hai lớp Tiền tế và Đại đình với các mái đao lớp lớp. Xung quanh Đại đình xây tường lửng dưới có ô vuông để hình hoa cúc bằng gốm nung, trên tường tạo bậu gỗ gắn ván gỗ và chấn song. Xung quanh phần hiên đình được bó bằng đá xanh.

4. GIÁ TRỊ HIỆN VẬT

Bài trí thờ tự: Chính giữa đại đình là nơi đặt hương án, phía trên là bộ cửa võng Bảo vật quốc gia. Hai bên hương án bầy bộ bát bửu và chấp kích và đặt cây hương đá (đèn đá) cổ. Hai bên gian chính có bộ ngựa hồng, ngựa bạch và quản mã cổ, kích thước lớn. Đặc biệt là có 2 cỗ kiệu bát cống cổ sơn son thếp vàng cho Thánh và Mẫu, chạm rồng, phượng rất đẹp. Dải ống muống đặt hương án và hai hàng phỗng chầu. Trong hậu cung đình Thổ Hà xây bệ cao, trên đặt ngai và bài vị Lão Tử. 

Đồ thờ tự cổ có hương án, bát hương, bát bửu, chấp kích, quán tẩy, ngai thờ, ngựa thờ, kiệu cổ … Phía ngoài Tiền tế có treo một chiếc mõ gỗ lớn hình cá, hiện vật khá độc đáo.

Di sản Hán Nôm quan trọng: 

Trong đại đình Thổ Hà còn hàng chục câu đối cổ sơn son thếp vàng, nội dung hết sức độc đáo, ca ngợi công đức của Thái Thượng Lão Quân, là bậc Tiên Thánh Thần thời nhà Chu, sánh ngang với Khổng Tử và Phật Thích Ca. Câu đối hai bên cửa võng:

Qui giải hiệu linh, Thất Diệu sơn trung truyền dịch quỉ

Long năng thừa hóa, ngũ vân trang hạ ký đăng tiên.

Nghĩa là:

Rùa biết nghiệm linh thiêng, trên núi Thất Diệu truyền chuyện sai khiến quỉ

Rồng tài mau biến hóa, dưới trang mây năm sắc lưu tích lên tiên.

Câu đối khác ở gian phải của đại đình:

Đông Chu phong vũ thị hà thì, biệt bả thanh hư khai Đạo Giáo

Nam Việt sơn hà duy thử địa, độc truyền ảo hóa tác Thần Tiên.

Nghĩa là:

Mưa gió Đông Chu đây một thời, riêng giữ chốn thanh hư, mở Đạo Giáo

Núi sông Nam Việt chỉ đất đó, một truyền phép màu nhiệm, tạo Thần Tiên.

Câu đối ở gian trái của đại đình:

Huyền tham Thích điển công tỉ Ni Sơn, Đạo Đức nhất kinh truyền chí bảo

Quyết bản Khương công thuật khai Hoàng Thạch, thần tiên chung cổ hiển linh tung.

Nghĩa là:

Huyền diệu vào tích Thích Ca, công đức như núi Ni Sơn, Đạo Đức kinh một bộ truyền báu vật.

Phù quyết gốc từ Khương Công, pháp thuật mở tảng Đá Vàng, Thần Tiên tự cổ xưa sáng dấu linh.

Tại đình Thổ Hà còn lưu giữ được nhiều bản sắc phong cổ, trong đó có các sắc phong niên hiệu Dương Hòa thứ 3 (1637) và thứ 5 (1639) đời vua Lê Thần Tông, niên hiệu Cảnh Hưng thứ nhất (1740), thứ 44 (1783) đời vua Lê Hiển Tông, niên hiệu Quang Trung năm thứ 5 (1792),  niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 4 (1796) đời vua Quang Toản, niên hiệu Tự Đức năm thứ 6 (1853). Các sắc phong này hiện được sao, dịch và treo ở trong đình, cùng bảng Lược sao sắc văn qua các triều vua phong tặng. 

Ngoài Tiền tế của đình có một chiếc khánh đá cỡ lớn, chạm hình 2 con rồng chầu chữ. 7 tấm bia đá còn lưu giữ tại tiền tế và 1 tấm bia trong đại đình, được bảo quản tốt, chữ còn sắc nét, trang trí hoa văn, có niên đại từ thời Lê trung hưng đến thời Nguyễn. Nội dung các bia nói về cung tiến công đức, gửi giỗ, các sắc phong, về việc tranh chấp 2 xã Thổ Hà và Yên Viên và bản sao sự tích thánh. Cụ thể như sau:

  • Thủy tạo đình miếu bi” dựng năm Chính Hòa (1692) nói về quá trình xây dựng đình Thổ Hà.
  • “San lý đoạn bi” năm Vĩnh Thịnh thứ 10 (1714) về phán quyết đối với việc tranh chấp của 2 xã Thổ Hà và Yên Viên ruộng và bãi tha ma.
  • “Nhất cung tiến đại vương mã bi” năm Long Đức thứ 3 (1734) về việc tạo tác một đôi ngựa bạch, hồng và cung tiến vào đình.
  • “Bản xã nguyện bi” năm Cảnh Hưng thứ 37 (1776) về việc dùng tiền lãi đóng tô dung cho dân và dùng cho xướng ca thờ Thánh.
  • “Tự Đức nhị thập tứ niên ngũ nguyệt nhật” năm Tự Đức thứ 24 (1871) khắc 4 bản sắc phong thời Lê của đình.
  • “Ký kỵ thạch bi” năm Tự Đức thứ 11 (1858) vể việc gửi giỗ cho 2 anh em ông Bùi Tá Thông và Bùi Tá Cơ.
  • “Long phi Tân Mùi mạnh hạ tạo bi” năm Tân Mùi (thời Tự Đức 1871) khắc 4 sắc phong thời Cảnh Hưng thứ 44, Cảnh Thịnh, Quang Trung và Tự Đức.
  • “Cung sao thánh tích” năm Thành Thái thứ 9 (1897) khắc sự tích về Thái Thượng Lão Quân.

Trong đại đình còn có bảng văn Mục lục, ca ngợi phong cảnh và quê hương Thổ Hà.

Thần tích các vị thành hoàng  Lý Lão Đam Thượng đẳng thần, Thái Hậu Đoan Ý Phu nhân cùng 3 vị tổ nghề gốm sứ (Khởi nghệ tiên triết Đào Kính Trí, Tiên thánh sư Hứa Vĩnh Phúc, Tiên thánh sư Lưu Phong Tú) hiện còn được lưu giữ tại viện Hán Nôm.

5. LỄ HỘI VÀ PHONG TỤC VĂN HÓA

Lễ hội chính: 

Lễ hội làng Thổ Hà là một trong những lễ hội đặc sắc đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia vào năm 2012. Hội lệ được tổ chức trong ba ngày 20, 21, 22 tháng Giêng âm lịch. Hiện nay, hội Thổ Hà ba năm mới tổ chức rước một lần.

Lễ hội Thổ Hà tôn vinh Thành Hoàng làng Lão Tử. Phần lễ chính của hội là rước hai kiệu chính là Kiệu Ông và Kiệu Bà. Người tham gia đoàn rước là nhân dân ba xóm của làng Thổ Hà. Đoàn rước chính là nét đặc sắc nhất của Lễ hội Thổ Hà. Vào ngày chính hội 21 tháng giêng, từ sáng sớm đoàn rước đã tập trung tại Từ chỉ làng Thổ Hà. Đoàn rước rất phong phú, có rước cờ Thần, cờ Ngũ hành Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ, cờ Tứ linh Long Ly Quy Phương. Đặc biệt có các nhân vật ba ông Tam Đa và hai em đóng Tiên đồng Ngọc nữ, đội quan tướng mặc trang phục tuồng cổ. Đoàn rước có đội múa sinh tiền nam thanh thiếu niên, đội múa tiên nữ thanh thiếu niên, đội múa trống của các xóm. Lễ vật luôn có mâm lễ bò nguyên con và các đồ lễ. Đoàn rước tiến chậm rãi về đình làm lễ tạo nên phần đặc sắc nhất của hội Thổ Hà.

Phần hội xưa có nhiều trò chơi dân gian như đấu vật, chọi gà, đánh đu, đi chữ, đập niêu, đi cầu kiệu… Diễn xướng dân gian hát quan họ trên sông, hát tuồng, hát chèo, hát ca trù cũng là nét đặc sắc khác của hội Thổ Hà. Thổ Hà là một trong những làng quan họ cổ của tỉnh Bắc Ninh.

6. KẾT LUẬN

Văn bản công nhận di tích: Đình Thổ Hà đã được xếp hạng là di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh cấp quốc gia theo Quyết định số 29-VH/QĐ của Bộ Văn hóa ngày 13 tháng 01 năm 1964.

Ngày 11/02/2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Mai Văn Chính đã ký Quyết định số 266/QĐ-TTg xếp hạng Quần thể Di tích kiến trúc nghệ thuật đình, chùa, từ chỉ Thổ Hà, phường Vân Hà, tỉnh Bắc Ninh là Di tích quốc gia đặc biệt.

Di tích đình Thổ Hà

Bức Cửa võng đình Thổ Hà được công nhận là bảo vật Quốc gia

Câu đối và kiệu cổ đình Thổ Hà.

Rước kiệu Thánh Ông trong lễ hội Thổ Hà.

Tiên đồng, Ngọc nữ, Tam đa trong đoàn rước lễ hội Thổ Hà.

Quan tướng trong đoàn rước lễ hội Thổ Hà.

Hát quan họ trên sông bên bến Thổ Hà.

Các câu đối đền Cuông, Nghệ An

Đền Cuông ở xã Xuân Ái, Nghệ An dưới chân núi Mộ Dạ, là nơi An Dương Vương cầm sừng văn tê bảy tấc rẽ nước đi ra biển, kết thúc thời kỳ nhà Thục, hóa thần biển linh thiêng.

Nghi môn ngoài

萬古文明開故國
九重宮殿對高山
Vạn cổ văn minh khai cố quốc
Cửu trùng cung điện đối cao sơn.
Dịch nghĩa:
Vạn cổ văn minh mở nước cũ
Chín tầng cung điện đối non cao.
Tác giả: Đặng Văn Thụy.

崑崙城人道思龍萬古民祠歐歌樂利
暮亱山地傳舞鳯億年帝統紀念欽崇
Côn Lôn thành nhân đạo Tư Long, vạn cổ dân từ, âu ca lạc lợi
Mộ Dạ sơn địa truyền vũ phượng, ức niên đế thống kỷ niệm khâm sùng.
Dịch nghĩa:
Núi Mộ Dạ đất truyền phượng múa, muôn năm kỷ niệm tôn sùng dòng đế
Thành Côn Lôn người ngỡ rồng bay, vạn cổ hát ca vui mừng đền dân.
Tác giả: Cao Xuân Dục.

水去螺城通𧉻海
風臨夜嶺蓋陽𦥄
Thủy khứ Loa thành thông bạng hải
Phong lâm Dạ lĩnh cái dương đài.
Dịch nghĩa:
Nước đến thành Loa qua biển bạng
Gió về núi Dạ phủ đài cao.
Tác giả: Đặng Văn Thụy.

人傑著靈聲仰聖赫英乎庙貌
乾坤逢泰運苛天保護之威儀
Nhân kiệt trứ linh thanh, ngưỡng thánh hách anh hồ miếu mạo
Càn khôn phùng thái vận, hà thiên bảo hộ chi uy nghi.
Dịch nghĩa:
Người giỏi nổi tiếng thiêng, ngưỡng thánh anh tỏ thay miếu mạo
Trời đất gặp vận lớn, mong trời bảo hộ thật uy nghi.

德大巍巍存越地
功成赫赫拓南天
Đức đại nguy nguy tồn Việt địa
Công thành hách hách thác Nam thiên.
Dịch nghĩa:
Đức lớn nguy nga cùng đất Việt
Công thành rạng rỡ mở trời Nam.

Nghi môn trong

天像地形半月築成僊化鶴
民和神福三辰不害罪維魚
Thiên tượng địa hình, bán nguyệt trúc thành tiên hóa hạc
Dân hòa thần phúc, tam thời bất hại tội duy ngư.
Dịch nghĩa:
Tượng trời hình đất, nửa tháng xây nên, tiên hóa hạc
Hòa dân phúc thần, nhiều khi tránh họa lúc hiểm nghèo.
Tác giả: Cao Xuân Dục.

保國護民天地無私之雨露
除邪殺鬼日月悉照之春陽
Bảo quốc hộ dân, thiên địa vô tư chi vũ lộ
Trừ tà sát quỷ, nhật nguyệt tất chiếu chi xuân dương.
Dịch nghĩa:
Giúp dân giữ nước, mưa móc đất trời là vô tư
Diệt quỷ trừ tà, ánh xuân nhật nguyệt chiếu ngời rạng.
Tác giả: Cao Xuân Dục.

堂上金龟微聖瑞
庭前雀彩献神威
Đường thượng kim quy vi thánh thụy
Đình tiền tước thải hiến thần uy.
Dịch nghĩa:
Trên điện rùa vàng ngời điềm thánh
Trước đình sắc công tỏ oai thần.

萬民奴隸人咸慕
千里江山國永存
Vạn dân nô lệ nhân hàm mộ
Thiên lý giang sơn quốc vĩnh tồn.
Dịch nghĩa:
Vạn dân tùy phục, người đều nhớ
Nghìn dặm non sông, nước mãi còn.
Tác giả: Cao Xuân Khôi.

Bình phong cạnh nhà bia

螺城自古銘青史
鶴嶺而今雀夜山
Loa thành tự cổ minh thanh sử
Hạc lĩnh nhi kim tước Dạ sơn.
Dịch nghĩa:
Thành Loa từ cổ đề trong sử sách
Núi Hạc tới nay công trên Dạ sơn.

Tác giả: Đồ Tương.

T

七寸文犀歸海岸
千秋夜嶺獨高𦥄
Thất thốn văn tê quy hải ngạn
Thiên thu Dạ lĩnh độc cao đài.
Dịch nghĩa:
Bảy tấc sừng tê về bờ biển
Nghìn thu núi Dạ dựng đài cao.
Tác giả: Đồ Tương.

Tam quan mặt ngoài

分定天書北有古城南古廟
靈傳地勝山留文雀海文犀
Phân định thiên thư, Bắc hữu cổ thành Nam cổ miếu
Linh truyền địa thắng, sơn lưu văn tước hải văn tê.
Dịch nghĩa:
Sách trời phân định, Bắc có thành cổ, Nam có miếu
Đất lành truyền thiêng, núi lưu chim công, biển lưu tê.
Tác giả: Đặng Văn Thụy.

天無淫雨烈風海瞻顯聖
地有崇山秀嶺亭集群賢
Thiên vô dâm vũ liệt phong, hải chiêm hiển thánh
Địa hữu sùng sơn tú lĩnh, đình tập quần hiền.
Dịch nghĩa:
Trời không mưa to gió lớn, biển ngưỡng thánh tỏ
Đất có núi đẹp non cao, đình tụ quần hiền.
Tác giả: Cao Xuân Dục.

帝王五十年功在生靈名在史
聖神千萬古山為庙殿海為螢
Đế vương ngũ thập niên, công tại sinh linh danh tại sử
Thánh thần thiên vạn cổ, sơn vi miếu điện hải vi huỳnh.
Dịch nghĩa:
Đế vương năm mươi năm, công tại sinh linh, danh tại sử
Thánh thần nghìn vạn cổ, núi làm miếu điện, biển làm đèn.
Tác giả: Cao Xuân Dục.

天之大道曰生行雲施雨
神之爲德其盛保國護民
Thiên chi đại đạo viết sinh, hành vân thí vũ
Thần chi vi đức kỳ thịnh, bảo quốc hộ dân.
Dịch nghĩa:
Đại đạo của trời là sinh, làm mây gieo mưa
Đức ban của thần rất thịnh, giữ nước giúp dân.
Tác giả: Cao Xuân Khôi.

主君錫福弘軟人物安存
上等靈祠擁?????
Chủ quân tích phúc hoằng nhuyễn nhân vật an tồn
Thượng đẳng linh từ ung ? ? ? ? ?

Tam quan mặt trong

五彩竜城天子氣
一行虎步太平容
Ngũ thái long thành thiên tử khí
Nhất hàng hổ bộ thái bình dung.
Dịch nghĩa:
Năm sắc thành rồng khí thiên tử
Một hàng bộ hổ vẻ thái bình.
Tác giả: Đồ Tương.

德及灵禽夜嶺當年儀瑞雀
威????山?處斬妖雞
Đức cập linh cầm, Dạ lĩnh đương niên nghi thụy tước
Uy trấn? quỷ? mị?, Diệu? sơn thử? xứ trảm yêu kê.

Dịch nghĩa:
Đức tới chim thiêng, đỉnh Dạ năm nay còn công lành
Oai trấn quỷ mị, núi Diệu chốn đó chém gà yêu.

泮水靈犀龍海月明登素魄
却書彩鳯雀山星耀見祥光
Phán thuỷ linh tê, long hải nguyệt minh đăng tố phách
Khước thư thái phượng, Tước sơn tinh diệu kiến tường quang.
Dịch nghĩa:
Sừng tê thiêng rẽ nước, biển rồng trăng soi tỏ hồn sáng
Phượng rực rỡ mang thư, núi Cuông sao chiếu thấy ánh lành.

四千年演轄幾桑滄龍堆壁聚
億萬禩驩州好風景鳯嶺松高
Tứ thiên niên Diễn hạt kỷ tang thương, long đôi bích tụ
Ức vạn tự Hoan châu hảo phong cảnh, phượng lĩnh tùng cao.
Dịch nghĩa:
Bốn nghìn năm hạt Diễn bao cuộc bể dâu, gò rồng đá tụ
Muôn vạn thờ châu Hoan đẹp vùng phong cảnh, núi phượng thông cao.
Tác giả: Đặng Văn Thụy.

帝王統紀開全越
今古山河奠我驩
Đế vương thống kỷ khai toàn Việt
Kim cổ sơn hà điện ngã Hoan.
Dịch nghĩa:
Kỷ thống đế vương mở toàn Việt
Sông núi xưa nay vững đất Hoan.

Bái đường

休休焉保國护民聖澤留恩億年乘祀
洋洋乎在上在下神机感應歷代欽崇
Hưu hưu yên, bảo quốc hộ dân, thánh trạch lưu ân ức niên thừa tự
Dương dương hồ tại thượng tại hạ, thần cơ cảm ứng lịch đại khâm sùng.
Dịch nghĩa:
Yên lành thay, giữ nước giúp dân, ơn thánh thấm lưu, muôn năm thờ nối
Tràn trề đó, ở trên ở dưới, cơ thần cảm ứng, các đời kính tôn.
Tác giả: Cao Xuân Dục.

Hậu cung

半幅江山留故國
八方風雨會中都
Bán bức giang sơn lưu cố quốc
Bát phương phong vũ hội trung đô.
Dịch nghĩa:
Nửa bức non sông lưu nước cũ
Tám phương mưa gió hội giữa đô.
Tác giả: Đặng Văn Thụy.

區貉千秋開帝國
暮山萬古仰神祠
Âu Lạc thiên thu khai đế quốc
Mộ sơn vạn cổ ngưỡng thần từ.
Dịch nghĩa:
Âu Lạc nghìn thu mở đế quốc
Núi Mộ vạn năm ngưỡng đền thần.
Tác giả: Đặng Văn Thụy.

神格思洋洋在上
王靈也赫赫厥聲
Thần cách tai dương dương tại thượng
Vương linh dã hách hách quyết thanh.
Dịch nghĩa:
Vẻ thần đó dương dương ở trên
Nét thiêng vua rờ rỡ tiếng vang.

一統輿圖開宇宙
千秋廟????
Nhất thống dư đồ khai vũ trụ
Thiên thu miếu ? ? ? ?

Tứ Hải Thái Bình, tín ngưỡng thờ Hải thần ở Thái Bình

Thái Bình là tỉnh có cửa chính của sông Hồng đổ ra biển nên trong tín ngưỡng thờ thủy thần ở đây đặc biệt xuất hiện một hệ thống các vị thần biển mà nơi khác không có. Tuy nhiên, điều khác lạ nữa là các thần biển ở Thái Bình không phải chỉ có 1 vị, mà lại có đủ cả bốn phương tứ hải. Bản chất các vị Hải thần này ra sao, sẽ được làm sáng tỏ qua phân tích hệ thống các di tích thờ thủy thần ở Thái Bình.

Các vị hải thần được nói đến ở Thái Bình là những vị thủy thần, tức là những vị thần có nguồn gốc từ thời Hùng Vương, liên quan đến việc trị thủy, có thể là hiển linh qua các thời. Tên gọi “thủy thượng linh thần” hay “thủy tinh” dùng trong Hùng Vương Thánh Tổ ngọc phả để chỉ những người con của Lạc Long Quân đã được chia trị các vùng đầu sông góc biển. Phân biệt với các vị sơn thần là dòng theo mẹ Âu Cơ trị nhậm các nơi núi rừng, đồi gò.

Nếu từ “Sơn” được dùng chỉ các vị tổ thời Hùng Vương ở miền rừng núi thì từ “Hải” là để chỉ các vị thủ lĩnh cai quản vùng sông nước. Hải không chỉ có nghĩa là biển, mà là vùng ven sông nước nói chung. Do đó không chỉ có Đông Hải, Nam Hải, mà còn có Bắc Hải, Tây Hải, cho dù về mặt địa lý ở phía Bắc và Tây nước ta không hề có biển.

Phải chú ý là tên gọi các hải thần rất dễ lẫn với các nhân thần, tức là những nhân vật lịch sử ở thời kỳ gần hơn, đã từng cai quản hay có công nghiệp ở vùng ven biển Đông. Phổ biến nhất là Đông Hải Đại vương Đoàn Thượng, một vị tướng nổi lên cuối thời Lý chống lại nhà Trần ở miền duyên hải. Cũng là tên Đông Hải Đại vương còn có vị tướng thời Lê là Nguyễn Phục, từng phụ trách việc quân lương, đã trung nghĩa tử tiết chịu tội để bảo vệ cho đoàn quân khỏi mưa bão trên biển Đông.

Nam Hải còn vốn là tên để chỉ khu vực miền Bắc nước ta thời kỳ trước Công nguyên, nên những vị quân chủ của nước ta khi đó khi hóa được tôn thần là Nam Hải Đại vương. Đó là vua An Dương Vương, người khi cùng đường chạy ra biển theo thần Kim Quy mà hóa. Đó cũng có thể là Triệu Vũ Đế, người đã khởi nghĩa chống Tần từ đất Thái Bình, nên được tôn là Nam Hải Đại vương hay Nam Hải Tạo lực.

Còn có Đại Càn Quốc gia Nam Hải Tứ Vị Hồng Nương, tuy là thủy thần nhưng theo một mạch tín ngưỡng khác với thủy thần họ Hùng. Tên gọi Đại Càn Quốc gia Nam Hải cho thấy Nam Hải ở đây là chỉ “quốc gia”, chứ không phải là chỉ miền biển.

Cũng là thời Hùng Vương với tên gọi là Nam Hải, nhưng lại không phải là thủy thần. Đó là Quan Âm Diệu Thiện, con gái vua Hùng đã đi tu đắc đạo ở vùng đất Nam Hải. Quan Âm Nam Hải là vị sơn thần điển hình bởi đây chính là bà chúa Ba, tức bà chúa Thượng Ngàn.

Các di tích thờ Hải thần ở Thái Bình có thể được chia thành ba tuyến như sau.

Cụm di tích ven sông Luộc

Sông Luộc là dòng sông không đổ trực tiếp ra biển mà có dòng chảy ngang nối giữa sông Hồng và sông Thái Bình. Sông Luộc chảy qua địa phận hai huyện Hưng Hà và Quỳnh Phụ, với số các di tích thờ Hải thần tương ứng là 6 di tích ở Hưng Hà và 7 di tích ở Quỳnh Phụ. Có thể thấy đây là còn số khá khiêm tốn khi so với những cụm di tích ở phía Nam Thái Bình.

Trong số các Hải thần vùng sông Luộc chiếm lượng di tích nhiều nhất là thần Đông Hải. Sự tích vị thần này thường là không được biết rõ. Duy nhất ở xã Phú Sơn, huyện Hưng Hà có sự tích vị Đông Hải Đà La Đại vương hiển linh vào thời Lý đánh giặc Hồ Tôn Tinh.

Một số di tích khác ở vùng sông Luộc thờ Nam Hải, hiếm hơn có thần Tây Hải, nhưng cũng tương tự, đều không rõ sự tích. Thần Bắc Hải không thấy xuất hiện trong các di tích tín ngưỡng ở khu vực này.

Cụm di tích ven sông Diêm Hộ

Diêm Hộ là một sông nhỏ, bắt nguồn từ phía Nam huyện Quỳnh Phụ nhưng lưu vực của nó chủ yếu nằm ở huyện Đông Hưng và Thái Thụy. Thế nhưng điều lạ là lưu vực sông nhỏ Diêm Hộ lại là nơi có số lượng các vị Hải thần nhiều nhất. Huyện Đông Hưng có khoảng 14 di tích. Huyện Thái Thụy có khoảng 16 di tích. Số liệu này cho thấy mức độ dày đặc các di tích thờ Hải thần ở ven sông Diêm Hộ. Đơn cử như ở 1 xã Thái Sơn, huyện Thái Thụy, là tổng Trừng Hoài xưa, có tới 8 di tích thờ Hải thần. Trong đó 1 làng xưa chia thành vài thôn, mỗi thôn thờ 1 hoặc 2 vị ngay trong cùng 1 làng, với đầy đủ bộ 4 vị Đông Hải, Nam Hải, Tây Hải và Bắc Hải.

Với số lượng và mức độ phong phú đủ Tứ Hải thần như vậy thì có thể nhận định rằng vùng sông Diêm Hộ là nguồn gốc phát sinh của tín ngưỡng thờ Hải thần ở Thái Bình. Cũng ở khu vực này, các thần đã được thờ với sự tích tương đối rõ ràng hơn, mà cụ thể có thể thấy qua một số di tích.

Nam Hải Đại vương ở đình đền An Cố, Thái Thụy là vị thần có sự tích khá đầy đủ, cho biết ngài mang họ Phạm, là một vị tướng thời Hùng Duệ Vương. Khi ngài cai quản đã dẹp yên nạn hồng thủy, trừ thiên tai dịch bệnh cho nhân dân trong vùng. Ngài dạy bảo thần dân làm ăn thịnh vượng. Khi đất nước có giặc Thục xâm phậm, ngài cùng với Tản Viên Sơn Thánh, Cao Sơn, Quý Minh đánh tan quân Thục. Có thể thấy sự tích về Nam Hải Đại vương ở An Cố không khác gì sự tích về Trung Thành Phổ Tế Đại vương của vùng sông Hồng. Vị thủy thần họ Đào này từng nắm chức vụ là Thổ Lệnh Thống quốc Lạc Long hầu Nam long Trưởng lệnh, tức là cùng hướng Nam trong bộ nhất bào ngũ tử.

Sự tích về Tứ Hải thần rất bất ngờ được biết qua di tích đình Lưu ở xã Đông Phương, huyện Đông Hưng. Theo thần tích của làng cho biết: dưới thời An Dương Vương, vua Thục mắc mưu quân Triệu Đà nên để đất nước rơi và tay giặc. Khi đó Vũ Cao Lỗ tướng công và một số trung thần con vua đã cùng ông Đồng phó tướng luyện binh. Được tin vua Thục thua trận rẽ nước xuống Trấn Thuỷ Phủ, hai ông chỉ còn biết kêu trời lạy đất cho quân sỹ trở về. Hai ông cho lui tới địa đầu vùng an lạc và cho quân nghỉ ở thôn An Vĩnh, nằm nghỉ trong miếu hai ông mộng thấy Thục An Dương Vương than vãn và phán rằng: Thượng đế đã phán xét chuẩn cho được trở lại Long Cung và truyền phong làm Nam Hải trấn trị hoành hợp các cửa sông để xoá đi cho tội lỗi đã qua vì trước đây hiếu thảo phụng sự Động Đình Đại đã có công. Ngoài ra hiện thân đã nhận việc là phối hợp với Đông Tây Bắc Hải các vị Long Vương đi cứu giúp dân cấy trồng được sinh lợi. Nói xong hai ông không thấy bóng dáng Thục An Dương Vương mà thấy một vị quan ở cổ miếu An Lạc xuất hiện. Tay trung thần cầm đao chiến của Thượng đế trao cho 2 ông, 2 ông đọc tờ chiếu, đọc xong trông lên cũng không thấy vị thần quan đâu. Hai ông liền ra sân lạy tạ Hoàng Thiên và quyết tâm thực hiện lời chiếu. Tiếp từ đó về sau các cửa sông, bờ biển nếu có gió bão, thuỷ tai dẫn đến đê điều bị phá huỷ, các vị thần đã luôn giúp dân trấn trị và hoành hợp thu được kết quả khả quan rất lớn. Do vậy các nơi đã lập đền miếu thờ tự – các vua trần gian hạ phối đều nam cấp duệ, hiện theo cửa sông thuộc phương nào là phong sắc với hàm vị: Đông – Tây –Nam – Bắc Hải Vĩnh trấn Đại Vương (sao từ bản gốc ở xã An Lạc trên đề Đình Lưu xã Đông Phương – Huyện Đông Hưng- cùng phụng sự).

Từ thần tích trên ta thu lượm được một số thông tin quý giá:

  • Thục An Dương Vương khi thua mất nước đã xuống Thủy phủ rồi được phong là thần Nam Hải, trấn trị các cửa sông. Thần tích gốc lấy từ xã An Lạc (nay là xã Đông Vinh cùng huyện Đông Hưng)
  • An Dương Vương hiển linh “phối hợp với Đông Tây Bắc Hải các vị Long Vương đi cứu giúp dân cấy trồng được sinh lợi”. Đây là thông tin rất then chốt cho biết các vị Hải thần là các Long vương hiển linh làm phúc thần cùng với An Dương Vương.
  • Các vua đời sau theo cửa sông thuộc phương nào là phong sắc với hàm vị: Đông – Tây – Nam – Bắc Hải Vĩnh trấn Đại Vương.

Như vậy Nam Hải An Dương Vương lại có liên quan đến Thủy phủ Động Đình và Tứ Hải Long Vương.

Một chút manh mối khác về Tây Hải Đại vương là ở đình Bái (Long Bối) xã Đông Hợp, huyện Đông Hưng kể rằng Tây Hải Đại vương là vị thần có công hộ đê thời Hồng Đức, phối thờ ở đây cùng với Đông Hải Nguyễn Phục và Nam Hải An Dương Vương. Sự tích tương tự về Tây Hải Đại vương hiển linh thời Lê còn gặp ở khu vực phía Nam Thái Bình trên lưu vực sông Trà Lý. Còn đối với thần Bắc Hải, là vị thần ít gặp thì không rõ sự tích, chỉ biết là phúc thần.

Sông Diêm Hộ cũng là nơi phát tích của sự tích vua cha Bát Hải Động Đình. Theo thần tích thôn Đào Động (nơi có đền Đồng Bằng thờ vua cha Bát Hải) thì Quý Nương sinh một bọc trứng, nở ra 3 con rắn. Con rắn thứ nhất ở cửa sông trang Đào Động. Con rắn thứ hai chạy về cửa sông trang Thanh Do. Con rắn thứ ba chạy về nằm ở trang Hoa Diêm. Ba địa điểm xuất thế của các vị thủy quan Động Đình này là Đào Động – Thanh Do – Hoa Diêm, đều nằm dọc theo sông Diêm Hộ. Ba con hoàng xà sau hóa thành ba vị tướng quân, giúp vua Hùng đánh Thục và xây dựng làng xóm quê hương miền Đào Động.

Cũng ở Đào Động còn thờ và có thần tích 5 vị hoàng tử con vua Bát Hải Động Đình là 5 vị thủy quan đã giúp vua Hùng đánh Thục rồi 5 vị được cử đi quản trị các cửa biển. Giống như thần Nam Hải ở An Cố, đây cùng là những người anh em sinh cùng bọc dưới thời Lạc Long Quân (vua cha Bát Hải), làm thủy thần trấn trị ngũ phương. Tức cũng là Ngũ vị tôn quan trong Công đồng Thoải phủ.

Sông Diêm Hộ ngày nay là dòng sông nhỏ, nhưng với sự phát tích dày đặc của các vị Hải thần ở đây thì rất có thể trong quá khứ nơi đây đã từng là cửa chính của sông Hồng đổ ra biển Đông. Có như vậy thì đây mới có thể tập trung nhiều nơi thờ Hải thần theo lối cổ như vậy.

Cụm giữa sông Trà Lý và sông Hồng

Khu vực thờ Hải thần ở phía Nam Thái Bình không bám theo 2 dòng sông lớn ở đây là sông Hồng và sông Trà Lý, mà phân bố ở khoảng giữa lưu vực hai con sông này. Có thể thủy văn thời cổ sử khác so với vị trí hiện tại của sông Hồng và sông Trà Lý.

Về số lượng di tích thờ Hải thần có huyện Vũ Thư với 3 di tích, TP. Thái Bình có 2 di tích. Huyện Kiến Xương có 12 di tích, huyện Tiền Hải có 7 di tích. Tuy số lượng di tích không hẳn nhiều như lưu vực sông Diêm Hộ nhưng các di tích ở đây thường là phối thờ 2, 3 vị Hải thần. Thường gặp là thần Đông Hải hoặc Nam Hải phối thờ với Tây Hải. Thần Bắc Hải không gặp ở khu vực phía Nam này.

Điển hình ở khu vực này là đền Vua Rộc tại xã Vũ An, huyện Kiến Xương, là một trong Chân Định tứ linh từ. Đền thờ 2 vị thần Đông Hải và Tây Hải Đại vương. Cho dù có sách cho rằng thần Đông Hải này là Đoàn Thượng thời Lý – Trần, nhưng ngay câu đối trong đền nói:

不記何年跡扥南交雙顯聖
相傳此地名髙真定四靈神
Bất ký hà niên, tích thác Nam Giao song hiển thánh
Tương truyền thử địa, danh cao Chân Định tứ linh thần.
Dịch:
Không biết tự năm nào, dấu thác Nam Giao hai hiển thánh
Lưu truyền nơi đất nọ, danh cao Chân Định bốn linh thần.

Câu đối cho biết đây là 2 vị cổ thần đã hiển thánh từ thời Nam Giao – Hùng Vương. Lạ nữa là câu đối khác trong đền đề:

瑞應金龜神爪依依留井上
威揚木馬健蹄隠隠仰橋邊
Thụy ứng Kim Quy, thần trảo y y lưu tỉnh thượng
Uy dương mộc mã, kiện đề ẩn ẩn ngưỡng kiều biên.
Dịch:
Linh ứng Rùa Vàng, móng thần y nhiên nơi giếng cũ
Oai dương Ngựa Gỗ, vó hùng thấp thoáng chốn cầu biên.

Không rõ tích thần trảo Kim Quy và dấu chân ngựa gỗ ở đây là nói tới sự tích nào. Rất có thể chỉ mối liên hệ tới vị Nam Hải An Dương Vương như ở huyện Đông Hưng đã kể trên.

Dù thế nào thì đền Vua Rộc chắc chắn là đền thờ các vị Hải thần. Điều này rõ ngay từ cái tên Rộc. Một số tác giả cho biết chữ Lạc có thể phục nguyên âm là Rộc, chỉ ruộng lúa. Tới nay người Mường vẫn gọi ruộng là rộc. Vua Rộc như vậy có thể là Vua Lạc hay Lạc Vương, phù hợp với thời Nam Giao mở nước.

Một sự tích lý giải khác cho đền vua Rộc lại có thể tìm thấy trong các đi tích thờ Hải thần trong cùng khu vực, là các di tích thuộc xã Bình Thanh cùng huyện Kiến Xương. Đây là tổng Đa Cốc xưa. Đình Đa Cốc thờ các vị Đông Hải Đại vương, Tây Hải Đại vương, Cao Sơn Quý Minh, Trưởng Thái Giám. Trong đó sự tích kể rằng Đông Hải Đại vương Đoàn Thượng là con trai thứ 4 của Lạc Long Quân xuất thế, đã được người em cùng bọc của mình là Tây Hải Đại vương hiển linh phù giúp. Tây Hải Đại vương là con trai thứ năm của Lạc Long Quân. Đáng chú ý là Đa Cốc nằm ở gần sông Hồng nên sự tích có yếu tố của dòng Lạc Long như ở các tỉnh Hà Nam, Hưng Yên.

Như vậy sự tích ở Đa Cốc hoàn toàn tương đồng với đền Vua Rộc từ việc thờ 2 vị Đông Hải và Tây Hải, họ Lạc (Rộc), hiển linh ở thời Lý-Trần. Nói cách khác đây vẫn là các vị Hải thần dòng Lạc Long như ở khu vực sông Diêm Hộ nói trên.

Một số nơi ở Kiến Xương thờ thần Tây Hải với ghi nhận là vào thời Hùng Vương như ở đình Cao Mại Nhân (xã Quang Trung), đình Thượng Hiền (thôn Phú Cốc xã Nam Bình).

Một cụm di tích đáng chú ý khác của Kiến Xương là 3 làng Quân Bác, Bác Trạch, Phương Trạch thuộc tổng Nam Huân xưa, nay thuộc xã Vân Trường và Phương Công của huyện. Nơi đây có sự tích về 3 vị Hải Linh thần là Nam Hải Linh quan, Đông Hải Linh quan, Tây Hải Linh quan với truyền thuyết kỳ vĩ: thân các ngài cao vạn trượng, đầu to trăm thước, lấy sông làm nhà, lấy biển làm vườn, hít thở ngàn dặm, phun nước vạn thùng, tựa có 800 ngôi sao phù giúp sáng rực. Thần quẫy đuôi thành dông bão, đứng hàng đầu trong các vị thủy thần… 

Đặc điểm riêng nữa của vùng phía Nam Thái Bình là bên cạnh thờ Tứ Hải Long vương, nơi đây còn thờ những vị hải thần chung khác như Thủy Hải, Đại Hải, Long Vương, đặc biệt là ở huyện Tiền Hải và khu vực gần với sông Hồng. Những vị hải thần này là những vị cũng từng gặp ở vùng sông Hồng phía tỉnh Hà Nam và Hưng Yên. Một số nơi ở Tiền Hải và TP. Thái Bình còn thờ thủy thần Quảng Lợi Bạch Mã, tức là thần Long Đỗ như ở vùng Thăng Long.

Tóm lại, qua việc phân tích các di tích thờ Hải thần ở Thái Bình có thể thấy nơi đây, nhất là vùng sông Diêm Hộ, là nơi phát sinh ra tín ngưỡng này. Bốn vị Đông Hải, Tây Hải, Nam Hải, Bắc Hải là những vị Long hầu thời Hùng Vương, trấn nhậm các vùng cửa sông góc biển, tham gia vào cuộc chiến đánh Thục lập quốc ban đầu của Lạc Long Quân (Bát Hải Động Đình). Đây cũng là bộ Ngũ vị tôn quan của Công đồng Thoải phủ. Trong tín ngưỡng hải thần, các vị được thờ dưới hình thức là các thủy thần hiển linh tạo phúc cho dân. Dấu vết của Tứ Hải Long vương như được nói đến trong các sách đạo Giáo thời Tần Hán không ngờ lại chính là từ vùng cửa sông Hồng đổ ra biển tại Thái Bình.

Hà Nội, rốn rồng của Thủy phủ Động Đình

Nằm ở giữa dòng chảy của sông Cái (sông Hồng), từ ngã ba Việt Trì tới khu vực Hà Nam, Hà Nội mở rộng ngày nay gồm các vùng nội đô Thăng Long xưa; vùng Sơn Tây giáp với chân núi Ba Vì; vùng Thanh Trì, Phú Xuyên ở Hữu ngạn sông Hồng; vùng , Đông Anh, Long Biên ở Tả ngạn sông Hồng. Với một địa bàn rộng lớn dọc theo các con sông lớn như vậy, số lượng các di tích thờ các vị thủy thần ở Hà Nội có lẽ đứng đầu trong các địa phương. Các vị thủy thần ở Hà Nội có những hình tượng như sau:

Linh Lang Đại vương

Linh Lang, vị thủy thần hồ Dâm Đàm là vị thần có nhiều hóa thân ở vào các thời. Số di tích thờ Linh Lang chỉ riêng ở Hà Nội tới nay theo thống kê đã lên đến 96 nơi. Theo thần tích lá cờ soái của Linh Lang khi ngài hóa bay đến đâu, nơi đó lập đền thờ, thì con số 172 nơi thờ thực tế còn hơn thế.

Hóa thân phổ biến nhất là Hoàng tử Linh Lang (Hoàng Lang) giúp vua Lý Thái Tông đánh giặc Vĩnh Trinh ở Nam Hải hay đánh giặc Tống. Di tích thờ Linh Lang thời Lý gặp ở hai bên bờ sông Hồng về phía Nam Hà Nội, rất dày đặc ở Long Biên và Thanh Trì, Thường Tín. Cụm di tích của Linh Lang trấn Tây thành Thăng Long như ở đền Thủ Lệ, Ngọc Khánh, Hào Nam là nơi sinh của ngài. Cùng với cụm này là khu vực Bình Đà, Thanh Oai, Quốc Oai cũng thường là sự tích thời Lý. Còn ở đền Voi Phục, nơi Linh Lang hóa thành con Giao long trườn xuống hồ Tây, trở thành thủy thần hồ Dâm Đàm.

Hóa thân Linh Lang thời Trần tạo nên một loạt các di tích liên quan tới nhau. Linh Lang thời Trần được gọi tên là Uy Đô Linh Lang. Chiến tích của Uy Linh Lang là đánh giặc Nguyên Mông bên sông Bạch Đằng. Yên Phụ là nơi sinh, có đền An Trì bên bờ hồ Trúc Bạch là đền thờ Uy Linh Lang rất lớn xưa kia. Nhật Tân là nơi hiển linh bọc trứng, hóa thành 7 con rồng bay lên bên bến sông Hồng mùa hoa gạo nở tháng Hai. Chùa Vân Hồ ở Hà Nội là nơi Linh Lang tu hành. Nơi hóa của Linh Lang được chép theo thần tích là ở Thanh Cù, Kim Động, Hải Dương.

Trong sự tích Linh Lang thời Trần lại thường nhắc tới thánh Linh Lang bắt đầu từ thời Hùng Vương. Bà phi của Diệu Đế sinh ra một bọc trứng, cho là điềm gở, mang bỏ ra bãi Nhật Chiêu. Đến tối trứng nở ra 7 con rồng, bay lên trời sáng rực một vùng. Đây là vị Linh Lang cùng với 7 giáp Đoài hồ (hồ Tây) hiển thánh. Cách thờ với sự tích nhiều lần hóa thân như vậy thấy rõ nhất ở đình Tây Hồ và qua bản ghi chép Linh Lang thần hóa lục.

Trong các sự tích về Linh Lang, hồ Dâm Đàm được chép là kinh đô của Thủy quốc Động Đình. Hồ Tây cũng là nơi Lạc Long Quân cùng với Lục bộ Thủy phủ dâng nước diệt con cáo chín đuôi Cửu vĩ Hồ, tương ứng với Linh Lang Đại vương và Đoài hồ Thất Giáp như được thờ ở phía Đông của Hồ Tây. Di tích Linh Lang và các bộ thủy phủ nằm bao bọc phía Đông của hồ Tây từ Nhật Tân, Quảng Bá, Nghi Tàm, Yên Phụ.

Còn một hóa thân ít thấy hơn là vị Linh Lang sinh vào thời Hùng Duệ Vương, đã cùng với Tản Viên Sơn Thánh đánh giặc Thục. Di tích thờ Linh Lang đánh Thục khá hiếm, ở Hà Nội có đình Huyền Kỳ trong Thanh Oai là thờ theo sự tích này.

Quý Minh Đại vương

Đứng thứ hai về số lượng di tích được thờ là Quý Minh Đại vương, thống kê ở toàn Hà Nội cho con số 84 nơi thờ. Sự tích Quý Minh chủ yếu là vị tướng thời Hùng Vương, nhưng cũng có 2 “dị bản” chính. Phổ biến nhất là Quý Minh là Hữu kiên thần trong bộ ba vị Tản Viên Sơn, là tướng thời Hùng Duệ Vương đánh Thục. Rõ nét nhất theo sự tích này là các di tích của vùng Sơn Tây gần núi Ba Vì. Rải rác khắp Hà Nội là những nơi thờ Quý Minh cùng với Cao Sơn, tức là dưới dạng là một vị Sơn thần.

Một biến thể của sơn thần Quý Minh là vị Hùng Lãng Công của làng Quan Nhân. Sự tích Hùng Lãng Công thời Hùng Vương đánh giặc Nam Chiếu ở Quan Nhân là một cách kể khác về sự nghiệp của thần Lãng Nhạc Quý Minh.

Bên cạnh vị sơn thần Lãng Nhạc Quý Minh Hà Nội còn có những di tích thờ thần Quý Minh với sự tích cổ hơn. Cũng là người em của Thánh Tản, nhưng là con của Lạc Long Quân, tức ở thời đầu của thời kỳ Hùng Vương. Vị Quý Minh này thường được thờ độc lập, với sự tích thần đi từ cửa biển Thần Phù qua Hoa Quật, Long Biên rồi đến ở bến Long Đỗ bên bờ sông Cái. Thần hóa tại đây, là nơi đền thờ Quý Minh ở phường Đông Hà xưa. Đền Đông Hà ở phố Hàng Gai nay không còn nữa, nhưng ký ức về ngôi đền và thần Quý Minh ở đây còn lưu lại trong ghi chép về tục tế Xuân ngưu của Thăng Long xưa.

Một khía cạnh thờ Quý Minh như thủy thần là trong tên phong Đông Hải Quý Minh như ở Thượng Đình hay khu vực Mễ Trì. Di tích miếu Đầm là minh chứng rõ ràng cho tính chất thủy thần của vị thần ở đây. Ngoài ra, đáng chú ý là việc thờ Quý Minh ở đình Đông Xã ở trên đường Thụy Khê. Theo sự tích ở đây thì Quý Minh là anh em đồng sinh với Cao Sơn Đại vương, nhưng lại sinh ra ở ven hồ Tây, với vai trò như một vị thủy thần.

Những vị thủy thần đồng bào

Hình tượng các vị thủy thần có bà mẹ mộng ứng điềm rồng sinh ra một bầu nở ra 5 (có chỗ là 3 hoặc 2) người con, có tướng mạo kỳ dị, tài sức hơn người, lớn lên phù Hùng dẹp Thục là sự tích rất phổ biến ở vùng đồng bằng sông Hồng. Nổi bật hơn cả là câu chuyện về 5 anh em con ông Bộ trưởng Đào Công Bột nhất bào ngũ tử, làm các Long hầu tứ hải thời Hùng Duệ Vương. Trong số đó thường thì vị thứ ba là Trưởng Lệnh được phong chức Thủy tào Phán quan quyền chưởng Trung Hoa quốc tể, tức là tể tướng cầm đầu thủy quân của nước Trung Hoa. 

Theo thần tích thì Thổ Lệnh Trưởng “sinh Bạch Hạc, thác Ba Lương” nên có 2 dòng sự tích. Một là cách kể về thần hiển linh ở ngã ba Bạch Hạc thời Đường Cao Tông trong cuộc đọ sức giữa Thổ Lệnh và Thạch Khanh. Trong dòng chuyện kể về Bạch Hạc Tam Giang là các di tích ở vùng Hoài Đức, Phúc Yên, Quốc Oai, Phúc Thọ, mà nổi tiếng là khu vực Tây Tựu với lễ hội bơi chải làng Đăm. Cùng với đó là một số di bản truyện Thổ Lệnh – Thạch Khanh như ở đình Viên Châu (Cổ Đô) thờ hai vị Thông Hà và Thủy Giang Linh ứng.

Một dạng sự tích theo nơi hóa của thần Thổ Lệnh Trưởng tại Đa Chất, Phú Xuyên, một làng đặc biệt bên ngã ba Tam Kỳ giang xưa. Các di tích dọc sông Hồng ở Thường Tín thường theo thần tích Trung Thành Phổ Tế Đại vương, tên phong của Trưởng Công Thổ Lệnh khi hóa. Hai cách kể ở Phú Xuyên hay ở Bạch Hạc nhìn chung khá giống nhau, nên nhận định rằng đây là một chuyện, một nhân vật là hoàn toàn hợp lý. Quan trọng hơn, nơi hóa của vị con thứ ba tại Đa Chất nằm không xa đền Lảnh, nơi thờ Quan lớn Đệ Tam của Thoải phủ. Sự tích Quan Đệ Tam cũng tương đồng từ một bọc nở ra 3 con Hoàng xà, rồi biến thành người giúp vua Hùng Duệ Vương đánh Thục. Quan Đệ Tam chính là Thổ Lệnh, vị Long hầu quyền cao nhất trong 5 người anh em.

Cùng sự tích nhất bào ngũ tử là các vị Quảng Xung, Quảng Bác, Quảng Tế, Quảng Xung, Quảng Hóa ở khu vực Thường Tín, Vân Đình như đình Giẽ Thượng, Giẽ Hạ, đền Hữu Vĩnh. Cũng là thủy thần xuất thế thời Hùng Vương đánh giặc, nhưng được kể là thời Hùng Vương thứ 8. Thực ra Hùng Vương thứ Tám, ở đây tương đương với Bát Hải Đại vương hay Bột Hải Đại vương, là người cha Đào Công Bột trong sự tích Thổ Lệnh – Thạch Khanh. Đáng chú ý là thần tích Hữu Vĩnh cho biết vị con cả Quảng Xung là con của Kinh Dương Vương. Nói cách khác đây chính là Lạc Long Quân cùng những người em của mình đã đánh đuổi dòng tộc phía Tây (Thục) lên núi mà lập nước họ Đào (Trung Hoa – Hạ).

Một nhóm thần tích và di tích khác về các vị thủy thần là ở vùng hồ Tây, tức hồ Dâm Đàm xưa. Các sự tích này thường có mối liên hệ với Linh Lang hay Uy Đô Linh Lang được thờ ở vùng này. Đó là hai vị Vương Đôi, Vương Ba thờ cùng với Uy Linh Lang ở đình Yên Phụ, là Thất Giáp Đoài hồ gồm Xích Giáp (Uy Linh Lang), Bạch Giáp, Hoàng Giáp, Hắc Giáp, Thanh Giáp, Chu Giáp, Tử Giáp như ở đình Nhật Tân. Khó nhận ra hơn là bộ ba vị thủy thần Triều Đình, Bảo Trung, Minh Khiết ở các di tích của tổng Hoàn Long, Hà Đông xưa  như Nghi Tàm, Quảng Bá, Tây Hồ, Tứ Liên. Ở phía Nam hồ Tây khu vực Hồ Khẩu (nay thuộc đường Thụy Khê) là tích về Cống Lễ Cá Lễ tại đền Dực Thánh và Vệ Quốc. 

Dạng sự tích Ông Dài, Ông Cộc, kể về 2 con rắn là thủy thần xuất thế, từng hộ đê sông Cái cũng là một cách kể về các nhân vật trong nhóm các vị thủy quan thời Lạc Long Quân. Di tích hai vị thủy thần như vậy có thể kể đến đình Yên Phú ở Thanh Trì. Rải rác còn có những cụm di tích thờ các thủy thần cùng bọc tương tự như ở miếu Mạch Lũng (Đông Anh) thờ Ba vị Đại vương thời Hùng Vương.

Thủy Tinh Công chúa

Gắn liền với sự tích nhất bào ngũ tử là bà mẹ đã sinh ra các vị thủy thần đó. Bà được tôn là Thủy Tinh Phu nhân và được thờ ở nhiều nơi. Bà phi sinh ra Uy Linh Lang là Mẫu Hàn Sơn ở Yên Phụ. Bà mẹ sinh ra 5 vị thủy thần thời Hùng Vương thứ 8 ở Thường Tín là mẫu Tiên Dung Châu. Mẫu Thăng Long ở Hồ Khẩu là người vợ của thủy thần Cá Lễ tại đây. Bà Hạo Nương ở Bồng Lai (Đan Phượng), sinh ra Linh Lang thời Lý.

Một vị mẫu khác được gọi đích danh là Mẫu Thoải, con của Động Đình Đế quân trong sự tích Liễu Nghị truyền thư, như đền Dầm tại Xâm Dương (Ninh Sở, Thường Tín). Đình làng Xâm Dương thờ các vị thủy thần của Tứ Hải, tức là có ý cho thấy rằng Mẫu Thoải, Xích Lân Long Nữ, là mẹ của các vị Linh Lang, thủy thượng linh thần. Tổng Xâm Thị xưa của huyện Thanh Trì cũng là nơi tập trung các di tích thờ Linh Lang như ở Xâm Hồ, Xâm Xuyên.

Trên vùng Hà Nội ngày nay rải rác ở các khu vực ven có các di tích thờ Mẫu Thủy Tinh ở dạng hiển linh phù trợ các đời sau, không rõ sự tích xuất xứ. Ví dụ như Nữ Bạch Ngọc Hồ Thuỷ tinh Lân tinh Công chúa thờ ở đền Đống Nước (Ngọc Hà) hay như Mẫu Thủy ở đền Giẻ Sen, Hoài Đức.

Thủy phủ Long Vương

Nói về các Thủy thần của thành Thăng Long không thể không nói tới thần Chính khí Long Đỗ. Vị thần này được thờ là thần trấn Đông Thăng Long tại đền Bạch Mã. Nhiều nơi gọi là thần Quảng Lợi Bạch Mã. Tuy nhiên tên gọi Bạch Mã liên quan đến con ngựa trắng trong sự tích hiển linh về sau, còn bản chất thực sự của thần là Long Đỗ, rốn rồng, tức là trung tâm, nơi kinh đô của Thủy quốc.

Người đã khai lập Thủy quốc ở vùng Động Đình, tức vùng sông biển đồng bằng Bắc Bộ, thì phải là Động Đình Đế Quân, cha của Động Đình Long Nữ (Mẫu Thoải). Động Đình Đế Quân có tên cúng trong Đạo giáo là Thủy phủ Phù Tang Cam Lâm Đại đế, tức là vị Đông Vương Đế Quân, vị thần chủ của các nam thần trong Đạo Giáo. Trên khu vực Hà Nội Thủy phủ Đại đế được thờ ít nhất ở Liễu Châu (Ba Vì) và vạn chài Liên Ngạc (Từ Liêm), theo như thần tích còn lưu lại ở đây.

Trong tục thờ ba vị thủy thần Thủy phủ như ở Liễu Châu thì sau Thủy phủ Đại đế là vị Thủy phủ Vô Biên Trang Nghiêm Vân Hải Long Quân. Vị này tương ứng trong sự tích ở Đào Xá (Thanh Thủy, Phú Thọ) là tên phong của ông Hùng Hải, người sinh ra các vị thủy thần cùng bọc. Như thế tương ứng thì Hải Vân Long Vương sẽ phải là Kinh Dương Vương, được tín ngưỡng theo góc nhìn của Thủy phủ.

Vị thần thủy phủ tiếp theo là Thủy phủ Đại Thiên Long Chủ Bát Hải Long Vương như tên thờ ở Liễu Châu. Đền thờ Bát Hải Động Đình Long Vương nay còn tại phố Hàng Than. Xét thứ bậc và tên gọi thì Bát Hải Long Vương chính là Lạc Long Quân, người con của Kinh Dương Vương – Hải Vân Long Vương và Mẫu Thoải Quý Nương.

Bát Hải Động Đình Long Vương là vị vua được xếp trong bộ ba thần chủ của tín ngưỡng Tam phủ xưa kia. Cùng với Thiên phủ Ngọc Hoàng, Địa phủ Diêm La thì Thủy phủ có Bát Hải vua cha. Tín ngưỡng thờ ba vua Tam phủ vốn từng khá phổ biến, nay còn di tích như như đền Tam phủ ở Thu Quế (Đan Phượng), ở chùa Thầy, hay trong chùa Giang Xá (Hoài Đức).

Cùng bộ với các thần Thủy phủ là Hà Bá Thủy quan, gặp tương đối nhiều (khoảng 7 di tích) ở Sơn Tây, Hà Đông, nhất là ở các vạn chài ven sông như Vạn Đài Thần (Đan Phượng), Vạn Hà Trì (Hoài Đức) hay Thủy Cơ Cấn Xá (Quốc Oai). Tuy được thờ như một dạng “nhiên thần”, đất có thổ công, sông có Hà Bá, nhưng vài nơi có sự tích cho biết Hà Bá là một vị tướng đã giúp vua Hùng đánh Thục. Xét vậy thì có thể Hà Bá chính là Lạc Long Quân (Linh Lang) hoặc Thổ Lệnh Trưởng (Bạch Hạc Tam Giang).

Một “nhiên thần” thực sự là ông Lốt Tam đầu Cửu vĩ Long vương được thờ ở đình Nam Dư Hạ, phường Lĩnh Nam. Đây là hình tượng hệ thống sông ngòi trên đồng bằng Bắc Bộ xưa, với Tam đầu trên nguồn là ba sông Đà, sông Lô, sông Thao, Cửu vĩ là chín nhánh sông Cái đổ ra biển Đông. Rốn rồng Long Đỗ là phần trung tâm của sông nằm ở đất Thăng Long xưa, là hồ Tây vốn nối liền với sông Nhị Hà.

Một dạng thủy thần làm mưa được biết ở vùng Linh Đàm là Bảo Ninh Long Vương, học trò của Chu Văn An. Thật khó biết đây là hóa thân của vị nào từ thời Hùng Vương, nhưng nhiều khả năng nhất đây là một trong các vị của sự tích nhất bào ngũ tử.

Lạc Thị Hồng Bàng

Cũng là dòng “thủy thần” nhưng “thủy” với nghĩa là những người con đã theo cha Lạc Long Quân xuống khai phá vùng đồng bằng Động Đình xưa, tức là những vị được thờ theo góc độ là “nhân thần”. Đầu tiên, chính là Lạc Long Quân được thờ đúng tên, đúng “chức danh” như ở đình Nội Bình Đà, hay đình  Trung Văn Ngọc Trục. Sự tích về Lạc Long Quân tất nhiên là xem trong Truyện họ Hồng Bàng của Lĩnh Nam chích quái.

Ở vùng Đại Mỗ có tín ngưỡng thờ Thủy Hải Long vương, là con của Lạc Long Quân. Vị thần này thường thờ cùng Ả Lã Nàng Đê nên khó xác định đây là “nhân thần” hay thần hiển linh đời Trưng Vương. 

Rải rác ở nhiều nơi thờ những người con của Lạc Long Quân đã có công xây dựng làng xã như Giám Sát Đại vương ở Đồng Trúc (Thạch Thất), Thông Đạt Đại vương ở Thịnh Liệt, Đại Long ở Tử Dương (Ứng Hòa), Nam Phổ ở Yên Thường (Gia Lâm), Hải Tế ở Kiều Mộc (Cổ Đô).

Cần chú ý là những người con của Lạc Long Quân không phải là các vua Hùng, vì các vị Hùng Vương là cách gọi của dòng theo mẹ Âu Cơ lên núi. Nói dễ hiểu hơn, Hùng Vương là con cháu, dòng dõi từ Âu Cơ. Còn những người con kế nghiệp Lạc Long Quân được gọi là các Lạc Vương, Lạc hầu, Lạc tướng, cai quản các vùng cửa sông góc biển vùng đồng bằng.

Chử Đồng Tử

Vị thần bất tử đã cùng với công chúa con vua Hùng bay lên cung trăng từ vùng đầm nước Dạ Trạch bên sông Hồng cũng được thờ ở Hà Nội. Ngay trong trung tâm thành phố, không hiểu sao các nơi thờ Chử Đồng Tử và Tiên Dung lại cùng nằm trên phố Thợ Nhuộm. Có thể nơi đây từng là nơi định cư của người dân đến từ vùng Khoái Châu, Hưng Yên chăng?

Ngoại thành phía Nam Hà Nội hai bên bờ sông Hồng có các di tích thờ Chử Đồng Tử như Chử Xá, nơi quê nội của ngài, hay ở Thanh Trì phía đối diện bên kia bờ sông. Đặc điểm của những nơi này là thờ đủ cả 3 vị Chử Đồng Tử, Tiên Dung và Tây Sa Công chúa.  Còn ở các huyện “miền núi” của Hà Nội như Mỹ Đức, Phúc Thọ, rải rác có 1-2 nơi thờ Chử Đồng Tử.

Thông thường những nơi thờ nhà Chử thì không phối thờ cùng các vị thủy thần khác như Linh Lang, Quý Minh, Thủy Tinh, Thổ Lệnh, dường như đây là những vị thần “kỵ nhau”. Điều này dễ hiểu, bởi Chử Đồng Tử được coi là một “loạn thần” của triều Hùng (Lạc triều) đã cướp công chúa và xây dựng quốc gia riêng ở đầm Dạ Trạch. Cái kết là Chử Đồng Tử đành “đi tu”, đắc đạo thành tiên mà bay lên trời, trả lại thiên hạ cho dòng dõi Lạc Thị.

Vào thời kỳ Lạc Long Quân khai phá Động Đình thì Hà Nội là vùng bán ngập nước ven sông biển, đồng bằng Bắc Bộ đang lộ dần ra do bước vào thời kỳ biển thoái. Những vị thủy thần ở đây là những vị thủ lĩnh của cộng đồng người sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, xăm mình, lội nước, đắp đê, mở làng mở xóm từng bước theo mực nước rút. Bãi biển ngàn năm nay đã thành nương dâu, nhưng sự nghiệp của các tiền nhân thời lập quốc còn sống mãi không thể quên trong hàng trăm di tích văn hóa tín ngưỡng trên mảnh đất rồng thiêng này.