Bạn có biết: Có 3 vị Triệu Đà đều là các đời Hùng Vương nước Việt

Đại Việt sử ký toàn thư chép: Triệu Vũ Đế ở ngôi bẩy mươi mốt (71) năm, thọ một trăm hai mươi mốt (121) tuổi. Với tuổi thọ xưa nay… không hề có này thì chắc chắn rằng kỷ Vũ Đế nhà Triệu không phải chỉ có 1 vị vua Triệu Đà. Khảo chứng các tư liệu từ các góc độ khác nhau cho phép nhận ra có tới 3 nhân vật đều được gọi là Triệu Đà và cả 3 đều là các đời Hùng Vương kế tiếp nhau trong một giai đoạn lịch sử bản lề của người Việt.

Triệu Vũ Đế ở điện Long Hưng thuộc xã Xuân Quan, Văn Giang, Hưng Yên.

Tần Vương đánh Thục, xây thành Cổ Loa

Tấm bia thời Lê năm Chính Hòa thứ 10 (1689) có tên “Chính Pháp điện thạch bi” ở đền Thượng Cổ Loa chép: Đại Việt suy tôn An Dương Vương là hoàng đế, khởi từ đất Ba Thục, định đô ở Phong Khê, lấy nỏ rùa thần đuổi quân Tần, xây thành trì mà cố thủ, ngàn dặm nhập vào nước Âu Lạc ta. Theo tấm bia này thì việc An Dương Vương đã dùng nỏ thần là để chống lại quân Tần, chứ không phải Triệu Đà như thường kể. Vậy Triệu Đà trong truyền thuyết thực ra là chỉ quân Tần vì nhà Tần vốn mang họ Triệu. Theo Sử ký Tư Mã Thiên, thủy tổ của Tần là Tạo Phụ đánh xe cho Chu Mục Vương và được phong đất ở Triệu thành, từ đó lấy tên đất làm họ.

Ở am thờ công chúa Mỵ Châu trong Cổ Loa trên bảng gỗ có khắc một bài thơ cổ, có đoạn thơ được dịch giả Đỗ Văn Hỷ dịch như sau:
Thành hoang khuất khúc xanh rì cỏ
Việc cũ đau lòng biết hỏi ai?
Tần Việt nhân duyên thành cập oán
Non sông vận kiếp tới mày ngài.
Điều lạ là bài thơ gọi mối tình của Mỵ Châu và Trọng Thủy là “Tần Việt nhân duyên”. Công chúa Mỵ Châu là Việt thì đã rõ. Như thế, còn lại Trọng Thủy phải là hoàng tử của vua Tần, họ Triệu.

Câu chuyện tình ngang trái Mỵ Châu – Trọng Thủy kể về sự kết thúc của nhà Thục bởi sự tấn công bất ngờ của quân Tần. An Dương Vương từng xây thành đắp lũy để chống Tần, nhưng cuối cùng cơ đồ đã mất. Tần chiếm được thành Cổ Loa, kinh đô phồn hoa bậc nhất khu vực phương Nam khi đó.

Báo cáo khảo cổ thành Cổ Loa cho biết, các bức thành chính được xây ở quãng thế kỷ thứ III TCN chia thành 2 giai đoạn. Giai đoạn đầu đắp bằng cách đổ đất. Giai đoạn sau là áp dụng “công nghệ” nện đất, tương tự với kỹ thuật đắp thành ở phương Bắc khi đó. Với lớp đắp ở thành Trung cao tới 2,5m, rộng 24 m, các nhà khảo cổ đã tính toán lượng khối lượng đất đá cần khai thác, vận chuyển lên đến hàng triệu mét khối. Lượng nhân công huy động cho đắp thành lên tới hàng vạn người làm việc liên tục trong 3 năm. Vậy nếu lớp thành đầu được xây bởi An Dương Vương thì lớp thành tiếp theo phải là do nhà Tần xây dựng. Chỉ có nhà Tần vào giữa thế kỷ thứ III TCN mới đủ tiềm lực, nhân lực để xây nên tòa thành lớn nhất Đông Nam Á này.

Trong đền Thượng Cổ Loa có ban thờ quan Tứ trụ triều đình. Một trong 4 vị tứ trụ này là Hữu Thừa tướng Lý Ông Trọng. Đức thánh Chèm Lý Ông Trọng được biết rõ là một đại tướng của nhà Tần, lấy con gái của Tần Thủy Hoàng là Bạch Tĩnh Cung công chúa và được cử đi trấn thủ người Hồ ở đất Lâm Thao. Xem vậy thì người đã trấn thủ Loa thành dưới thời Tần, không ai khác chính là Lý Thân, phò mã của Tần Thủy Hoàng.

Đình làng Đình Vỹ, xã Yên Thường, huyện Gia Lâm thờ vị thần là Quý Minh Đại vương, mà theo thần tích ở đây chính là Trọng Thủy, con của Triệu Đà. Làng Đình Vỹ cùng với các làng Đa Vạn, Song Tháp, phường Châu Khê, Từ Sơn, Bắc Ninh gần đó thờ Triệu Vũ Đế và có chung bản thần tích có tên là Ký sự đền linh họ Triệu. Câu chuyện bi thương Trọng Thủy – Mỵ Châu bên thành Cổ Loa được ghi chép theo một cách khác lạ, chưa từng được biết trong thần tích này:

Vương rút kiếm chém Mỵ Châu, rồi theo Kim Quy mà đi. Sau vài tháng Trọng Thủy, Trương Hống, Trương Hát dẫn quân đuổi tới cửa Biện, thấy thi thể Mỵ Châu đeo một chiếc túi, hai chiếc thoa vàng, đúng là tích vật. Trọng Thủy cầm túi mà khóc, tình vợ chồng từ nay ly biệt. Rồi ôm Mỵ Châu trở về thành Ốc, an táng ở núi Yên Phụ. Tháng 4 vào đầu giờ Dần ngày mồng 5, lấy dao trúc mà giết Ngỗng tế Mỵ Nương. Do cảm động nghĩa tử thê lương, người dân Yên Phụ đắp một mộ phần phụng sự. Đến xã Nội Trà ngày 10 tháng 4 nằm mộng mà chết. Dân Nội Trà cũng đắp một mộ phần. Nhân dân phụng sự đem về thành Ốc an táng thành mộ phần. Tới tháng 6 ngày 10, thấy bóng hình Mỵ Châu ở trên giếng, thấy Toán tâm tính mất hết mà đi ra. Toán quay đầu muốn đuổi theo ôm lấy bóng hình mà không được, rơi xuống đáy giếng mà chết.

Như đã nhận định ở trên, Trọng Thủy là vương tử của nhà Tần Triệu thời kỳ đầu, khi đánh An Dương Vương ở thành Cổ Loa. Con của Trọng Thủy là Triệu Lạc Linh lên ngôi xưng Đế, tương ứng là Tần Thủy Hoàng Đế. Còn phần chép về Triệu Đà trong Ký sự đền linh họ Triệu lại là chuyện của Triệu Vũ Đế thời kỳ Tần mạt.

Chính pháp điện bi ký ở đền Thượng Cổ Loa.

Long Hưng Triệu Vũ Đế khởi nghĩa kháng Tần

Đền Đồng Sâm có lưu bản thần tích, ghi là thần tích xã Thượng Gia, tổng Đồng Sâm. Theo như ghi chép trong đó thì thần tích Thượng Gia đã được các cụ bô lão ở địa phương sưu tầm từ nhà quan Thượng thư bộ Lễ ở Vĩnh Phúc, kết hợp với các nguồn sử sách có được mà biên soạn nên. Đồng Sâm là nơi thờ Triệu Vũ Hoàng Đế và Trình Thị Hoàng Hậu, tương truyền đây là nơi hai người gặp gỡ trên đất quê của Hoàng hậu Trình Thị.

Câu đối ở đền Đồng Sâm:
炎郊創始與圖保龍父僊母之子孫同大漢時雙帝國
戚里屹成宫闕萃茶海桐江之靈秀亦潘隅外弌神京
Viêm Giao sáng thủy dư đồ, bảo long phụ tiên mẫu chi tử tôn, đồng đại Hán thời song đế quốc
Thích lý ngật thành cung khuyết, tụy Trà hải Đồng giang chi linh tú, diệc Phan Ngung ngoại nhất thần kinh.
Nghĩa là:
Khởi sáng cơ đồ chốn Viêm Giao, cha Rồng mẹ Tiên che chở cháu con, ngang thời nhà Hán hai đế quốc
Lập nên cung quán nơi quê ngoại, sông Vông biển Trà tụ họp linh tú, cùng ngoài Phiên Ngung một kinh thành.

Thần tích Thượng Gia kể: Năm thứ 44 thời An Dương Vương, kỷ nhà Thục (Tần Thủy Hoàng năm 33) nhà Tần sai Hiệu úy Sử Lộc đem thuyền chở quân sĩ đào ngòi vận chuyển lương thực thâm nhập vùng Lĩnh Nam, chiếm đất Lục Lương đặt các quận Quế Lâm, Nam Hải, Tượng Quận, cho Nhâm Hiêu làm Nam Hải úy, Đế [Triệu Đà] làm Long Xuyên lệnh (tức huyện Nam Hải), đem bọn bị biếm trích đến đóng ở Ngũ Lĩnh (năm ấy Đế 31 tuổi). Tiếp đó thần tích kể Triệu Đà đi đến trang Đường Sâm, lấy nàng Lan con gái họ Trình ở đây, sinh ra Trọng Thủy. Triệu Đà cho lập hành cung tại Đường Sâm, sau này là nơi thờ tự Triệu Đà và Hoàng hậu Trình Thị.

Nguyên văn chữ Nho của đoạn kể trên về Triệu Đà: “Đế vi Long Xuyên lệnh (tức Nam Hải huyện), lĩnh trích đồ thú Ngũ Lĩnh”. Đoạn thông tin này bị hiểu là Triệu Đà dẫn đám dân đi lính thú của nhà Tần tấn công nước Việt. Nhưng đọc kỹ thì không phải vậy. Hiểu chính xác phải là Triệu Đà được cử làm huyện lệnh Long Xuyên, cũng là huyện Nam Hải. Triệu Đà nhận lĩnh việc đưa những người phu dịch (“đồ”) đến vùng Ngũ Lĩnh. Làm gì có chuyện những người có tội bị biếm trích lại là quân lính để tấn công phương Nam. Đây là việc nhà Tần tăng cường nhân công cho việc xây dựng ở nước Nam, tương tự việc phu dịch xây Vạn lý trường thành ở phía Bắc. Triệu Đà là một lệnh trưởng chịu trách nhiệm dẫn dân phu đến vùng núi Ngũ Lĩnh.

Đoạn trích trên cũng cho biết, Triệu Đà đi đến vùng đất Thái Bình (Đồng Sâm), rồi lấy vợ, sinh con, còn lập cả hành cung (dựng nhà để ở) tại đó. Vậy là Thái Bình hay vùng Bắc Việt lúc này đã nằm trong lãnh thổ của nhà Tần thì Triệu Đà mới có thể ngụ cư, làm huyện lệnh và dẫn dân phu đi đến đó.

Đền Đồng Sâm là đền chính được nhiều nơi trong vùng tham gia phụng sự như: thôn Đa Cốc, xã Thanh Bình; thôn Đồng Sâm, xã Hồng Thái; xã Quốc Tuấn. Ngoài ra còn có làng Đông Thổ, xã Lê Lợi nay vẫn còn nhiều sắc phong cho Triệu Vũ Đế và Trình Thị Hoàng Hậu. Ngoài huyện Kiến Xương thì khu huyện Hưng Hà, thôn Quan Hà, xã Cộng Hòa có di tích thờ cả Triệu Vũ Đế và Triệu Việt Vương. Bên huyện Thái Thụy có di tích thôn Tuấn Nghĩa, xã Thái Thành và thôn Cam Đoài, xã Thụy Liên thờ Triệu Đà. Hiện chùa Cam Đoài vẫn lưu giữ được sắc phong và bài vị cổ thờ Triệu Đà.

Câu đối của Nguyễn Công Trứ đề ở đền Đồng Sâm:
當年戈馬低刘項
自昔山河截北南
Đương niên qua mã đê Lưu Hạng
Tự tích sơn hà triệt Bắc Nam.
Nghĩa là:
Đang thời giáo ngựa khinh Lưu Hạng
Từ đó non sông tách Bắc Nam.
Câu đối này cho biết Triệu Vũ Đế nổi lên cùng thời với Lưu Bang và Hạng Vũ, tức là khởi nghĩa chống Tần mà lập quốc.

Sử ký Tư Mã Thiên, Tần Thủy Hoàng bản kỷ chép: Năm thứ 33 (năm 216 TCN), Thủy Hoàng đưa những người thường trốn tránh, những người ở rể và những người đi buôn đánh lấy đất Lục Lương, lập thành Quế Lâm, Tượng Quận, Nam Hải cho những người bị đi đày đến đó canh giữ.

Sách Hoài Nam tử cho biết tiếp: Trong 3 năm, [quân Tần] không cởi giáp dãn nỏ. Giám Lộc không có đường chở lương, lại lấy binh sĩ đào cừ cho thông đường lương để đánh nhau với người Việt. Giết được quân trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống. Nhưng người Việt đều vào trong rừng, ở với cầm thú, không ai chịu để cho quân Tần bắt. Họ cùng nhau đặt người Tuấn kiệt lên làm tướng để ban đêm ra đánh quân Tần, đại phá quân Tần và giết được Đồ Thư.

Người Tuấn kiệt” lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Tần thắng lợi của dân Âu Lạc là ai? Các sử gia đời nay cho rằng đó là Thục Phán. Nhưng năm 216 TCN Tần Thủy Hoàng đã đánh chiếm vùng đất Việt, lập quận huyện đầy đủ, còn đâu nước nào nữa mà có Thục An Dương Vương? Nếu An Dương Vương là người kháng Tần những năm 216 – 207 TCN, thì Tần đã đánh ai ở đất Lục Lương năm 216 TCN?

Dịch Hu Tống có thể đọc thành Dịch Hậu Tông, nghĩa là dòng dõi cuối cùng của Dịch Vương. Dịch Vương là Chu Văn Vương, người đã viết Kinh Dịch, mở đầu vương triều Chu của Trung Hoa. Dịch Hu Tống, dòng dõi cuối cùng của nhà Chu là Chu Noãn Vương, đã bị Tần diệt năm 256 TCN ở đất Âu Lạc. Vương triều Chu Thục như vậy đã kết thúc năm 256 TCN, nên người lãnh đạo nhân dân Việt kháng Tần không phải là dòng dõi vua Thục.

So sánh thời gian này với hành trạng của Triệu Đà. Triệu Đà làm huyện lệnh Long Xuyên, rồi được Nhâm Hiêu trao lại quyền cai quản ở Nam Hải. Tiếp theo Nam Việt Úy Đà liệt truyện chép: Khi nhà Tần bị tiêu diệt, Đà lập tức đánh chiếm lấy cả Quế Lâm, Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vũ Vương. Còn Đại Việt sử ký toàn thư chép: Giáp Ngọ, năm thứ 1 [207 TCN] (Tần Nhị Thế năm thứ 3). Vua (Triệu Đà) chiếm lấy đất Lâm Ấp và Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vương.

Triệu Đà chứ không phải ai khác vào năm 207 TCN đã chiếm lại 3 quận Quế Lâm (hoặc Lâm Ấp), Tượng Quận và Nam Hải mà Tần thành lập trên đất Việt năm 216 TCN. Vì vậy Triệu Đà mới là “người Tuấn kiệt” đã lãnh đạo nhân dân Âu Lạc kháng Tần thắng lợi được nhắc đến trong sách Hoài Nam tử.

Sách Hoài Nam Tử ghi: [Nhà Tần] sai Úy Đà Đồ Thư đem lâu thuyền xuống Nam đánh Bách Việt… Làm sao Đồ Thư lại là Triệu Đà được? Đúng hơn phải hiểu: Đà = Đầu = Đô. “Úy Đà Đồ Thư” nghĩa là Đô úy Đồ Thư. Úy Đà là chức vụ chứ không phải tên riêng. Như vậy Triệu Đà có nghĩa là vua Triệu đầu, không phải tên thật của Triệu Vũ Đế. Càng không phải Triệu Đà đã cùng Đồ Thư dẫn quân Tần đánh Bách Việt.

Một tư liệu khác nói về Triệu Đà là lời trăn trối của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn với vua Trần Anh Tông khi nhà vua hỏi kế sách đối phó với giặc phương Bắc. Hưng Đạo Vương tâu rằng: “Nước ta thuở xưa, Triệu Vũ Vương dựng nghiệp, Hán đế đem binh đến đánh, Vũ Vương sai dân đốt sạch đồng áng, không để lương thảo cho giặc chiếm được, rồi đem đại quân sang châu Khâm, châu Liêm đánh quận Trường Sa, dùng đoản binh mà đánh được, đó là một thời…“.

Lời kể của Hưng Đạo Vương về hành trạng Triệu Vũ Đế xét kỹ thì thấy không giống gì với chính sử hiện nay. Triệu Đà khởi nghiệp ở Nam Hải tại Quảng Đông thì còn mang đại quân sang “châu Khâm, châu Liêm” đánh chiếm làm gì nữa? Kỳ lạ hơn, Triệu Đà còn dùng kế vườn không nhà trống và lối đánh “du kích”, dùng đoản binh để chống giặc phương Bắc. Nhà Hán có tấn công chiếm lãnh thổ Nam Việt thời Triệu Đà lúc nào đâu mà phải bỏ cả ruộng đồng để đánh du kích? Lời kể của Trần Hưng Đạo chỉ có thể hiểu được nếu Triệu Đà chính là người đã lãnh đạo nhân dân Việt kháng Tần, bắt đầu từ huyện Long Xuyên (Long Biên) rồi mới tiến sang chiếm châu Khâm, châu Liêm và các quận khác. Lối đánh vườn không nhà trống, dùng đoản binh của Triệu Vũ Đế được Trần Hưng Đạo noi theo là cách người Việt bỏ vào rừng, ngày trốn, đêm ra đánh Tần như Hoài Nam tử đã kể.

Chuyện người Tuấn kiệt chống Tần rất giống chuyện của Hiếu Cao Tổ Lưu Bang trong Hoa sử. Sử ký Tư Mã Thiên, Cao Tổ bản kỷ cho biết Lưu Bang vốn là một đình trưởng nhỏ ở đất Bái, khi thay mặt huyện đưa những người bị đày đến Lịch Sơn, giữa đường nhiều người bỏ trốn. Lưu Bang tự xét đến nơi thì tất cả đều sẽ trốn hết, cho nên khi đến cái đầm ở phía Tây ấp Phong thì dừng lại, đang đêm, thả tất cả những người bị đày ra rồi cùng họ vào núi Mang Đường trốn tránh.

Việc đưa những người đi đày cũng trùng với thời điểm năm 216 TCN Tần Thủy Hoàng đưa những người thường trốn tránh, những người ở rể và những người đi buôn dời từ quận Tam Xuyên sang 2 quận lân cận. Sự kiện Lưu Bang thả dân phu giữa đường áp giải và bắt đầu cuộc khởi nghĩa chống lại nhà Tần có thể tính từ năm này.

Thần tích Thượng Gia kể: Năm thứ 50 đời An Dương Vương (Tần Nhị Thế năm thứ 2), Nhâm Hiêu bệnh nguy kịch nói với Đế rằng: “Nghe nói bọn Trần Thắng làm loạn, lòng dân chưa biết theo ai. Đất này là nơi hẻo lánh, ta sợ bọn giặc xâm phạm đến đây nên muốn cắt đường mà tự phòng bị (là nơi Tần mở đường qua Việt), đợi xem các nước chư hầu biến động ra sao. Nhà Tần đã mở một con đường độc đạo để đi sang Việt. Tần Thủy Hoàng bản kỷ chép: Năm thứ 35, sai làm con đường thông từ huyện Cửu Nguyên đến đất Vân Dương, đục núi, lấp các khe núi, nhờ vậy đường đi suốt và thẳng. Đây cũng là con đường mà Tần Thủy Hoàng thường “Đông du”.

Thần tích Thượng Gia kể tiếp: Đến khi bệnh nguy cấp Nhâm Hiêu nói: “Đất Phiên Ngung dựa núi cách sông, Đông Tây mỗi chiều dài mấy nghìn dặm, lại có người Tần giúp đỡ, nên cũng đủ để dựng nước hưng vương, làm chủ một phương. Các vị trưởng sử trong quận không ai có thể bàn được, chi nên phải triệu ông đến bảo”. Nhân đó cho Đế thay mình. Nhâm Hiêu mất, Đế lập tức truyền hịch đến các cửa ải Hoành Bồ, Dương Sơn, Hoàng Khê rằng: “Quân giặc đã đến. Các quân binh cắt đường tự thủ”. Hịch truyền đến các châu huyện đều hưởng ứng theo. Thế rồi giết hết các trưởng sử do Tần cắt đặt, thay bằng những người bạn bè thân thích của mình cai quản. Rồi phát binh đánh Thục Vương.

Đoạn thần tích này nói Triệu Đà đã tiếp ý của Nhâm Hiêu, loại bỏ các quan của Tần ở trong quận, nhưng lại “phát binh đánh Thục Vương”. Đã giết các trưởng sử của Tần thì phải phát binh đánh Tần mới đúng. Tất cả sự trùng hợp về không gian, sự kiện nêu trên cho thấy Thục Vương trong chuyện Triệu Đà là chỉ nhà Tần. Người đã khởi nghĩa kháng Tần trên đất Việt không phải ai khác chính là Triệu Đà.

Về núi Trâu Sơn Truyện Giếng Việt trong Lĩnh Nam chích quái kể: Giếng Việt ở miền Trâu Sơn huyện Vũ Ninh. Đời vua Hùng Vương thứ ba, nhà Ân cử binh sang xâm chiếm nước Nam, đóng quân ở dưới núi Trâu Sơn. Hùng Vương cầu cứu Long Quân, Long Quân truyền đi tìm bậc kỳ tài trong thiên hạ thì sẽ dẹp được giặc. Sóc Thiên vương ứng kỳ mà sinh, cưỡi ngựa sắt đánh giặc. Tướng sĩ nhà Ân đều bỏ chạy. Ân Vương chết ở dưới chân núi, biến thành vua ở địa phủ, dân phải lập miếu thờ, lâu năm suy dần đền miếu bỏ hoang. Qua đời Chu tới đời Tần, có người nước ta là Thôi Lượng làm quan cho nhà Tần đến chức Ngự sử đại phu, thường qua vùng này thấy cảnh suy tàn, chạnh lòng thương cảm, bèn sửa sang sang lạ đền miếu… Sau các tướng Nhâm Hiêu, Triệu Đà đem quân xâm chiếm phương Nam, đóng quân ở núi này.

Truyện kể Thôi Vỹ là con Thôi Lượng sau khi chữa bệnh cho Nhâm Hiêu, ngã xuống hang tại núi Trâu Sơn, lạc vào Ân Vương thành, được Ân hậu tiếp đãi tiệc rượu… Bỗng thấy có một người râu dài, bụng to tiến lên dâng biểu, quỳ xuống mà tâu rằng: “Ngày mồng 3 tháng giêng, người phương Bắc là Nhâm Hiêu đã bị thần Xương Cuồng đánh chết”. Tâu xong, Hậu bèn nói: “Dương quan nhân hãy đưa Thôi công tử trở về trần thế”. Ân hậu tiễn khách quay vào. Dương quan nhân bèn bảo Vỹ nhắm mắt, ngồi lên vai mình. Hơn một khắc sau đã đến tới đỉnh núi. Dương quan nhân biến thành một con dê đá đứng ở trong núi, nay con dê ấy còn ở sau chùa Việt Vương trên núi Trâu Sơn. Đoạn trích này là dữ liệu cho biết khu vực núi Trâu Sơn từng có chùa thờ Triệu Việt Vương, tức là thờ Triệu Đà.

Dấu vết thờ Triệu Vũ Đế ở Bắc Ninh còn lưu giữ ở 2 khu vực. Một là ở 2 làng Song Tháp và Đa Vạn ở thị xã Từ Sơn. Hai là ở 6 làng thuộc huyện Quế Võ là Hữu Bằng, Cựu Tự, Kim Sơn, Long Khê (xã Ngọc Xá), Châu Cầu, Thất Gian (xã Châu Phong). Các ngôi đình của 6 làng này trước đây thờ Triệu Vũ Đế làm thành hoàng làng, nay đều đã không còn. Duy nhất ở chùa Hữu Bằng (Ngọc Xá, Quế Võ) còn giữ được một bức tượng gỗ Triệu Vũ Đế, tuy đã bị hư hỏng khá nặng.

Thông tin về di tích thờ Triệu Đà ở Bắc Ninh như trên thoạt xem tưởng không có gì quan trọng so với các khu vực khác thờ Triệu Đà là Thái Bình (đền Đồng Sâm) hay Hưng Yên (đình Xuân Quan), nhưng đây lại thực là thông tin quý giá và mới mẻ về công nghiệp của Triệu Vũ Đế ở nước ta. Tại sao khu vực huyện Quế Võ lại từng có đậm đặc tục thờ Triệu Vũ Đế như vậy? Nơi này gắn với công nghiệp của vị đế vương đầu tiên của nước Nam Việt như thế nào?

Trước hết cần nhận ra rằng khu vực huyện Quế Võ (Bắc Ninh) chính là địa danh Vũ Ninh với núi Trâu Sơn, là địa danh hay được nhắc tới trong truyền thuyết Việt. Trâu Sơn nay gọi thành Châu (Châu Phong, Châu Cầu), nằm gần khu vực Lục Đầu Giang, trên tuyến đường quốc lộ 18 ngày nay. Đây là địa bàn rất thuận tiện cho việc giao thông cả thủy lẫn bộ, lại có núi đồi và sông nước, khá hiểm trở dễ cho việc ẩn náu, phòng thủ, tiến lui.

Cũng Truyện Giếng Việt như trên cho biết Trâu Sơn là nơi mà hai tướng Nhâm Hiêu và Triệu Đà đã đóng quân vào thời Tần. Nhiều thần tích khác cũng kể về việc Triệu Đà khi đánh nước Âu Lạc đã từng đóng quân ở Vũ Ninh. Như vậy nguyên do của tục thờ Triệu Đà ở đây là vì nơi đây từng là một nơi đồn quân quan trọng của Triệu Vũ Đế.

Tuy nhiên, vấn đề khó lý giải ở chỗ là nếu chỉ chiếu theo chính sử thì Triệu Đà chưa từng sang miền Bắc nước ta bao giờ. Triệu Đà làm quan huyện Long Xuyên (ở Quảng Tây?), thay Nhâm Hiêu ở Nam Hải (Quảng Đông?), rồi chiếm Quế Lâm, Tượng Quận lập nên nước Nam Việt. Mãi tới sau khi Cao Hậu nhà Hán mất, Triệu Đà mới “nhân đó, dùng uy lực uy hiếp nơi biên giới, đem đồ đạc của cải đút lót các nước Mân Việt, Tây Âu Lạc để bắt họ lệ thuộc theo mình” (Sử ký Tư Mã Thiên). Vậy tại sao lại có nhiều di tích của Triệu Đà ở Bắc Việt như vậy? Triệu Đà lấy vợ ở Thái Bình khi nào? Đóng quân ở Bắc Ninh khi nào? Thấy rồng bay lên ở Long Biên khi nào?

Di tích và tư liệu dân gian rõ ràng nói những điều khác so với cách giải thích của chính sử ngày nay về Triệu Đà. Những địa danh và những câu chuyện về thời khởi nghĩa của Triệu Đà đều nằm ở Bắc Việt. Nói cách khác, Triệu Đà vốn khởi nghĩa ở miền đồng bằng sông Hồng, chống lại nhà Tần. Đây là cuộc khởi nghĩa của người Việt kháng Tần như sách Hoài Nam tử đã chép.“Người Tuấn kiệt” được nói tới là Triệu Đà, chứ không phải An Dương Vương như sự “tưởng tượng” của các sử gia ngày nay. “Quân trưởng Tây Âu” đã bị giết rồi, làm gì còn An Dương Vương nào lúc này nữa.

Chuyện người Việt bỏ vào rừng, “đánh du kích” chống quân Tần là lời giải cho tục thờ Triệu Việt Vương ở núi Trâu Sơn. Trâu Sơn là điểm đóng quân phòng thủ rất thuận lợi như đã nói ở trên, là nơi mà Triệu Đà đã cầm đầu người Việt dựa vào thế sông núi vùng Lục đầu giang mà chống Tần.

Đại Việt sử ký toàn thư chép: … (Tần Thủy Hoàng năm thứ 33) nhà Tần phát những người trốn tránh, người ở rể người đi buôn, ở các đạo ra làm binh, sai hiệu úy Đồ Thư đem quân lâu thuyền, sai Sử Lộc đào ngòi vận lương, đi sâu vào đất Lĩnh Nam, đánh lấy miền đất Lục Dương, đặt các quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng Quận, cho Nhâm Hiêu làm Nam Hải úy, Triệu Đà làm Long Xuyên lệnh. Quận Tam Xuyên thời Tần vốn là đất của Đông Chu đã bị gộp chung thành quận Nam Hải. Tam Xuyên còn gọi là Long Xuyên vì hai chữ Tam và Long dùng đổi cho nhau, Tam là con số 3 chỉ phương Đông, phương của Rồng trong Dịch học.

Nhâm Hiêu được nhà Tần bổ làm quan ở quận Long Xuyên chứ không phải Nam Hải. Dẫn chứng rõ ràng là Truyện Mộc tinh trong Lĩnh Nam chích quái: … khi Tần Thủy Hoàng bổ Nhâm Hiêu làm quan lệnh Long Xuyên, Nhâm Hiêu cấm không được nạp lễ người sống, thần Xương Cuồng tức giận vật chết Nhâm Hiêu. Truyện Giếng Việt trong Lĩnh Nam chích quái cũng xác định thêm điều này. Thôi Vỹ chữa bệnh cho Nhâm Hiêu rồi bị ngã xuống hang tại vùng Vũ Ninh. Nhâm Hiêu không thể ở đâu xa ngoài vùng đất Long Biên – Bắc Ninh ngày nay.

Triệu Đà làm quan của huyện Long Xuyên và được Nhâm Hiêu trao lại quyền hành. Như vậy Nhâm Hiêu là quan tiền nhiệm của Triệu Đà ở Long Xuyên. Có thế thì việc Nhâm Hiêu trao quyền cho Triệu Đà mới hợp lẽ. Nếu Nhâm Hiêu ở Nam Hải, Triệu Đà ở Long Xuyên thì làm sao mà trao quyền được? Tại sao Nhâm Hiêu trao quyền lại cho Triệu Đà? Vì sao mà quan của một quận lớn lại dễ dàng từ bỏ chức vụ quyền hành cho người khác? Lý do việc này đã được Sử ký Tư Mã Thiên chép trong Nam Việt Úy Đà liệt truyện:

Nhâm Hiêu, ốm sắp chết, mời huyện lệnh Long Xuyên là Triệu Đà đến nói:
– Tôi nghe bọn Trần Thắng làm loạn. Nhà Tần làm điều vô đạo, thiên hạ khổ cực. Bọn Hạng Vũ, Lưu Quý, Trần Thắng, Ngô Quảng đều dấy binh tụ tập quân sĩ, tranh giành thiên hạ. Trung Quốc loạn lạc chưa biết lúc nào yên. Những người hào kiệt phản Tần đều đứng lên cả. Nam Hải ở nơi xa lánh, tôi sợ quân giặc xâm lấn đến đây, nên định dấy binh chặn đứt con đường mới để tự phòng bị, đợi chư hầu có sự thay đổi.

Nhâm Hiêu ốm sắp chết thì còn quan tâm chuyện thiên hạ làm gì? Nguyên nhân sâu xa của việc mời Triệu Đà đến là Nhâm Hiêu thấy thiên hạ nổi lên chống Tần khắp nơi, sợ hại đến mình, muốn “tự phòng bị” nên gọi Triệu Đà đến để gánh đỡ gánh nặng này.

Nhâm Hiêu khi nói với Triệu Đà có đề cập đến việc “chặn đứt con đường mới”. Đây là con đường mà Tần Thủy Hoàng mới mở (Tần Thủy Hoàng bản kỷ): Năm thứ 35, sai làm con đường thông từ huyện Cửu Nguyên đến đất Vân Dương, đục núi, lấp các khe núi, nhờ vậy đường đi suốt và thẳng. Con đường mà Tần Thủy Hoàng mới mở đi ra biển là qua quận Nam Hải, nơi Nhâm Hiêu và Triệu Đà sau đó cai quản. Đây cũng là con đường mà Tần Thủy Hoàng đã đi tuần thú ở phía Đông năm thứ 37 (211 TCN): lên Cối Kê tế vua Vũ, nhìn ra biển Nam Hải dựng đá khắc công đức nhà Tần.

Nhâm Hiêu không ốm chết mà… bị thần Xương Cuồng tức giận “vật chết”. Viên huyện lệnh Long Xuyên là Nhâm Hiêu đã bị nhân dân Long Xuyên nổi dậy giết, rồi họ tôn Triệu Đà lên làm thủ lĩnh, vì ai cũng sợ kháng Tần không thành công, phải chịu hậu quả.

Nơi Triệu Đà bắt đầu cuộc khởi nghĩa kháng Tần là Long Xuyên. Long Xuyên hay Long Biên chỉ là 2 cách đọc khác nhau của quận Tam Xuyên thời Tần. Theo dịch học thì số 3 (Tam) là chỉ phương Đông, tượng trưng bởi con rồng. Long Biên ngày nay là nơi có điện Long Hưng thờ Triệu Vũ Đế ở làng Xuân Quan (Văn Giang, Hưng Yên). Sách Từ điển di tích văn hóa Việt Nam dựa vào các tư liệu cũ chép sự tích đền Long Hưng như sau: Triệu Đà người huyện Chân Định, đầu thời Tần làm quan lệnh Long Châu, sau làm Nam Hải úy. Đến đời Hán được phong làm Nam Việt Vương. Triệu Đà cho con cầu hôn nhà Thục để lấy bí mật nỏ thần, nhân đó diệt nhà Thục lập ra nhà Triệu. Tương truyền Triệu Đà đi tuần phương Nam qua xã Nam Quan thấy có rồng vàng hiện ra, cho là đất lành bèn dựng hành cung, gọi là điện Long Hưng. Về sau dân dựng đền thờ trên nền điện cũ. Triệu Đà là thấy rồng vàng bay lên ở Long Hưng, bắt đầu cuộc khởi nghĩa kháng Tần. Rồng bay lên là lấy ý trong hào ngũ của quẻ Càn: Phi long tại thiên, chỉ việc thành nghiệp của bậc đế vương.

Theo Thiên Nam ngữ lục thì Triệu Đà khi tiến quân từ Quảng Đông đánh An Dương Vương đã thấy rồng xuất hiện trên sông Nhị Hà:
Binh phân chi dực hữu chi
Triệu thuyền thẳng tới đỗ kề bên sông
Bỗng đâu thấy rồng nổi lên
Dự mừng thánh chúa lập nên cơ đồ.

Khi họ Triệu diệt được An Dương Vương, xưng vua thì do đó mà đổi tên thành Thăng Long:
Hiệu xưng là Triệu Vũ Hoàng
Chín lần xem trị bốn phương đẹp lòng
Long Biên thành hiệu Thăng Long
Vì xưa rồng dậy dưới sông Nhị Hà.
Có thể thấy khả năng tên thành Thăng Long là do Triệu Vũ Đế đã đặt cho vùng đất quanh Hà Nội ngày nay, với trung tâm ở khu vực ven sông Hồng thuộc Gia Lâm – Văn Giang.

Câu đối ở điện Long Hưng (Xuân Quan, Long Biên, Hà Nội) khẳng định Triệu Vũ Đế tiếp nối thời Hùng Vương:
拔地巍崔芳蹟不随秦漢去
冲天砥柱英標長揭貉雄來
Bạt địa nguy thôi phương tích bất tùy Tần Hán khứ
Xung thiên để trụ anh tiêu trường yết Lạc Hùng lai.
Nghĩa là:
Bạt đất cao lồng, danh tiếng thơm bất khuất thời Tần Hán
Động trời cột ngọc, chí anh hùng giữ mãi buổi Lạc Hùng.

Đền Đồng Sâm ở xã Hồng Thái, Kiến Xương, Thái Bình thờ Triệu Vũ Hoàng Đế và Trình Thị Hoàng Hậu trên quê ngoại.

Triệu Việt Vương lập quốc Nam Việt

Thần tích xã Hạ Mạo, Phú Thọ: Xưa Hùng Vương đời thứ 17 là Hùng Huy Vương sinh người con trai thứ tên là Hùng Ánh. Hùng Ánh thiên tư dũng lược, diện mạo lạ thường, thông minh nhanh hiểu biết, vượt trội hơn người anh. Huy Vương yêu quý muôn lập làm người nối ngôi. Chàng Ánh cố gắng nhường cho anh. Khi ấy phong tục còn chất phác. Các con vua đều gọi là quan chàng, cho nên có tên là quan Chàng Ánh. Đến khi Duệ Vương nối ngôi, phong Chàng Ánh làm Vương tử, ban cho họ Lê.

Khi giặc Thục đến xâm lăng, Chàng Ánh chỉ huy quân binh, có công chống Thục. Từ đó Chàng Ánh nắm quyền triều chính. Duệ Vương về sau trở nên biếng nhác, chìm đắm trong hoan lạc, không quan tâm đến chính sự, việc binh quốc gia buông lỏng. Chàng Ánh hết sức can ngăn nhưng Duệ Vương không nghe. Chán ngán, Chàng Ánh đi ra bộ ngoài, không muốn tham dự vào chính sự quốc gia. Sau giặc Thục đánh Duệ Vương, thế nước nhà Hùng mất. Chàng Ánh rất hận mới luyện binh tuyển tướng, cẩn thận giữ gìn cương giới, bèn tự xưng là Hậu Hùng Vương, không thần phục An Dương Vương. Xưng là nước Việt Tây, nay là Quảng Tây.

Vợ vương là con gái Đông Chu Quân có mang 3 năm, sinh một bầu năm con trai vào giờ Ngọ ngày 14 tháng 3 năm Mậu Thân. Đến khi trưởng thành đều có tướng mạo khác thường, mũi cao, mắt xếch. Một người trên đầu có 7 chấm đỏ, sau lưng có 27 nốt ruồi đen. Một người một tay dài quá gối, mắt xếch tới tai. Một người mắt phượng mũi rồng. Một người mặt vuông tai to, râu đen, tóc xanh, thân dài 10 thước. Năm chàng đều là những người phi thường. Hùng Vương rất vui mừng, hoàng hậu chưa đặt tên nên nhân theo cổ tục khi đó đặt là Chàng Cả, Chàng Hai, Chàng Ba, Chàng Tư, Chàng Út mà gọi.

Gặp lúc có tướng Tần Triệu Đà dẫn quân chiếm phương Nam. An Dương Vương có nỏ thần, quân Triệu gặp nhiều thất bại. Hùng Vương (tức là Chàng Ánh, Hậu Hùng Vương ở Việt Tây) sai Chàng Hai đến quân Tần nói với Triệu Đà rằng:
– An Dương có thù với chúng tôi. Nay phụng nghe đại quân đánh Thục, nước tôi tuy nhỏ cũng xin dẫn ba ngàn quân trợ giúp. Tôi vì báo thù mà trợ giúp ngài định quốc..

Đà bèn cử sứ về nước sai con trai Trọng đến thông hiếu kết nghĩa, sau lại cầu hôn với An Dương để cho Trọng làm con rể, ở đó trộm lấy phá hủy lẫy nỏ. Trọng về báo, phát sứ sang Việt. Hùng Vương bèn lệnh Chàng Út dẫn ba ngàn quân giúp Triệu Đà đánh Thục chiếm nước thành công. Triệu Đà lên ngôi là Vũ Đế, nhưng vẫn cắt Quảng Tây cho Việt.

Theo thần tích Hạ Mạo, Chàng Út là con của Việt Tây Vương Hùng Ánh (Hậu Hùng Vương), đã dẫn quân cùng với Triệu Vũ Đế đánh Thục (tức là quân Tần) thắng lợi, lập quốc và phục thù nhà. Vợ của Chàng Út là “hoàng hậu họ Triệu”, tức là con gái của Triệu Vũ Đế. Triệu Vũ Đế còn ban sắc phong cho Chàng Út là Út Ngọ Lôi Mao Đại vương, cai quản một vùng đất riêng Quảng Tây. Có thể thấy, đây là sự kiện lập nước Nam Việt của nhà Triệu. Danh xưng triều đại nhà Triệu không lấy theo họ cha (họ Lê của Hùng Ánh) mà lấy theo họ mẹ, do dòng bên mẹ có Triệu Vũ Đế là hoàng đế của cả khu vực.

Câu đối ở đình Hạ Mạo, Phú Thọ:
雄貉紀傳來滅蜀平吳明在史
粵西相遜後龍祥山壯莫成莊
Hùng Lạc kỷ truyền lai, diệt Thục bình Ngô minh tại sử
Việt Tây tương tốn hậu, long tường sơn tráng mạc thành trang.
Nghĩa là:
Hùng Lạc ký truyền nay, diệt Thục bình Ngô rạng ở sử
Việt Tây cùng nhường đó, điềm rồng thế núi bãi thành trang.

Đây là thông tin hết sức mới lạ về nguồn gốc nhà Triệu của nước Nam Việt, cho phép giải mã được những khúc mắc lịch sử hiện tại về thời kỳ Hậu Hùng Vương. Có thể tóm tắt lại diễn biến của thời kỳ này theo những thông tin mới thu nhận từ thần tích Hạ Mạo như sau. Hùng Vương thứ 18 là dòng Tiên Phượng theo mẹ Âu Cơ lên núi lập nước Văn Lang, tương ứng với vị vua Chu cuối cùng là Chu Noãn Vương. Tác phẩm thơ Thiên Nam ngữ lục có đoạn về thời gian này như sau:
Kể từ Hùng tổ trị dân
Lên ngôi sánh với thánh nhân Đào Đường
Tới nay Chu mạt Noãn Vương
Ông cha con cháu giữ giàng trị dân…
Ấm bao nhiêu, rét bấy nhiêu
Vườn Chu ải giậu, Tần trèo đãng hoa.

Giặc Thục tấn công và diệt Hùng Vương là nước Tần. Một chư hầu của Hùng Vương mang họ Lê không thần phục Tần đã cát cứ đất Quảng Tây mà xưng vương. Đây là vị Vũ Vương, tức là vị vua đầu triều, của nước Nam Việt. Vũ Vương có người vợ là con gái của Đông Chu Văn Quân, tức là dòng dõi nhà Chu. Khi Triệu Đà khởi nghĩa chống Tần, Vũ Vương cử các con cùng quân đội giúp Triệu Đà định được thiên hạ. Triệu Đà lên ngôi Hoàng đế, xưng là Triệu Vũ Đế. Triệu Vũ Đế phong cho Vũ Vương họ Lê làm vua đất Việt Tây như một chư hầu. Con Út của Vũ Vương họ Lê là người có công trong việc diệt Tần lập quốc, được Triệu Vũ Đế gả con gái cho, là Triệu hậu. Út Ngọ Lôi Mao lên nối ngôi cha ở Quảng Tây tức là Triệu Văn Vương trong lịch sử. Họ Triệu của nước Nam Việt lấy theo họ bên ngoại (theo Triệu Vũ Đế) từ đây.

Bách Việt triệu tổ cổ lục của họ Nguyễn ở Thanh Oai cho thông tin về vua Triệu: Nguyễn Thận là con trai Hùng Dực Công và bà Trần Thị Quý – người làng Chân Định (nay là làng Đại Định, xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai – Hà Nội), sau lấy vợ kế là bà Nguyễn Thị Sinh… Chị ruột Nhâm Hiêu lấy viên quan Thái giám họ Triệu tên là Cao, không có con, bèn đem Nguyễn Thận cho Triệu Cao nuôi, đổi tên họ là Triệu Đà.

Về đoạn sử này, Cổ Lôi ngọc phả truyền thư chép là Triệu Vương lúc nhỏ có tên là Nguyễn Thận, cùng với Chử Đồng Tử nương tựa vào nhau, mò cua bắt ốc ở bãi Tự Nhiên mà sống. Sau đó Nguyễn Thận gặp và đi theo Nhâm Hiêu về Bắc. Chị ruột Nhâm Hiêu lấy quan thái giám Triệu Cao, không có con, nên nhận Nguyễn Thận về nuôi, đổi tên thành Triệu Đà… Triệu Cao là thái giám mà lại lấy vợ để có con? Thông tin này gián tiếp chỉ ra rằng đây không phải nói tới thái giám Triệu Cao của nhà Tần.

Triệu Đà lấy họ theo Triệu Cao và lập nước Nam Việt. Như vậy bản cổ lục này có ý nói Triệu Cao là vị tổ của nhà Triệu Nam Việt, nói cách khác là Triệu Cao là Triệu Vũ Đế. Chữ Cao ở đây nghĩa là vị tổ đầu tiên. Còn Nguyễn Thận trong chuyện này là Triệu Quang Phục, chứ không phải Triệu Đà ở Đồng Sâm.

Làng Quảng Minh, Mỹ Hưng, Thanh Oai thờ một vị Đại vương họ Triệu và thường được các “tín đồ” của Cổ Lôi ngọc phả dẫn rằng đây là nơi thờ Triệu Đà, người Việt chính cống, bởi trong Cổ Lôi ngọc phả kể về một vị Nguyễn Cẩn (hay Thận), là con của Hùng Dực Công (em của Hùng Duệ Vương), sau làm con nuôi của Triệu Cao và đổi sang họ Triệu, rồi làm vua nước Nam Việt… Làng Quảng Minh có vẻ cũng thích thú việc thành hoàng quê mình là vị Hoàng đế khai quốc Triệu Đà nên khá tin vào câu chuyện trên. Nhưng thực ra Cổ Lôi ngọc phả không hề có chữ nào nói về Triệu Đà cả, vì như họ đã ghi đây là ông Nguyễn Cẩn hoặc Nguyễn Thận, chưa từng chép tên Đà. Tức là bản thân vị họ Triệu được nhắc đến trong Cổ Lôi ngọc phả không phải là Triệu Đà.

Ngọc phả Hạ Mạo phối hợp với thần tích của làng Mạo Phổ bên cạnh cho biết vị vua Triệu, cháu của Hùng Duệ Vương cùng Sơn Thánh chống Tần là Út Ngọ Lôi Mao hay Triệu Quang Phục. Đây không phải là Triệu Đà, người xưng Vũ Đế, bởi Triệu Vũ Đế không phải dòng dõi quý tộc Hùng Vương và khởi nghĩa ban đầu là ở đất Chân Định, không phải ở vùng Phong Châu. Triệu Vũ Đế thực ra là cũng là vị Cao Tổ họ Triệu, nên Cổ Lôi ngọc phả chép thành Triệu Cao. Triệu Quang Phục Nguyễn Cẩn là “con nuôi” của Triệu Cao Tổ là chính xác.

Triệu Quang Phục có cha là Triệu Túc, hay Hậu Hùng Vương (em Hùng Duệ Vương) trong ngọc phả Hạ Mạo. Mẹ của ông là Duyên Hòa Thánh mẫu thờ ở Mạo Phổ, là con gái Đông Chu Quân, tức triều vua Hùng đời cuối. Triệu Quang Phục đã cùng với Triệu Đà (được kể thành Sơn Thánh) khởi nghĩa chống Tần thắng lợi. Triệu Đà xưng là Vũ Đế, còn Triệu Quang Phục sau đó xưng vương, tức là Triệu Việt Vương. Triệu Vũ Đế gả con gái cho Triệu Quang Phục nên từ đó nước Nam Việt theo họ Triệu (chi tiết giống Nguyễn Cẩn theo Triệu Cao làm con nuôi và đổi họ).

Như vậy, vị Triệu công chính vị ở Quảng Minh hay Nguyễn Cẩn trong Cổ Lôi ngọc phả là Triệu Quang Phục, người sau này trở thành Nam Việt Vương. Đây là một vị khác, không phải Vũ Đế Triệu Đà ở Đồng Sâm (Thái Bình), người là Cao Tổ đã xưng Đế cả thiên hạ Trung Hoa sau khi diệt Tần thắng Sở. Vị “Tả Hoàng hậu” họ Trần ở Quảng Minh tương ứng với con gái Đông Chu Quân, vợ của Hậu Hùng Vương Triệu Túc.

Câu đối đình Hạ Mạo ở Phú Thọ.

 Sự tích về Triệu Quang Phục đánh du kích ở đầm Dạ Trạch rồi lên ngôi lập nước Nam Việt, xưng Đế sánh ngang với nhà Hán còn được kể trong nhiều tư liệu, mà sẽ được dẫn trong một bài viết khác. Như vậy, có thể tóm tắt về 3 vị vua Hùng mang “họ Triệu” như sau:

  1. Triệu Đà đánh An Dương Vương trong truyện Mỵ Châu – Trọng Thủy là Tần Vương, vì nhà Tần vốn mang họ Triệu.
  2. Triệu Vũ Đế được kể trong Sử ký Tư Mã Thiên là người lấy vợ ở Thái Bình, khởi nghĩa kháng Tần ở núi Châu Sơn, chiếm Long Biên.
  3. Triệu Việt Vương là Triệu Quang Phục, con rể của Triệu Vũ Đế, tiếp ngôi của Vũ Đế chống giặc ở Dạ Trạch rồi lập nước Nam Việt, xưng Đế (Triệu Văn Đế).
Hoành phi Tự đế kỳ quốc ở đình Đa Vạn, Gia Lâm, Hà Nội.
Tượng Triệu Vũ Đế bị bỏ trong kho chùa ở vùng Châu Sơn thuộc Quế Võ, Bắc Ninh.
Long Hưng điện ở Xuân Quan, Văn Giang, Hưng Yên.

Bạn có biết: Bà chúa kho là vợ vua Hùng Vương thứ 18

Nếu như Triệu Công Minh, một vị tướng của phe nhà Ân Thương trong Bảng phong thần được tôn làm Thần tài ở Trung Quốc, thì ở nước ta vị thần tài ban phát phúc lộc lại là một nữ tướng, vợ vua Hùng đời cuối của dòng Lạc Thị.

Công chúa Thanh Bình ở Thượng Lát.

Bà chúa kho thời Hùng Vương

Ở thôn Thượng Lát, phường Vân Hà, Bắc Ninh có một ngôi đền thờ Bà chúa kho đặc biệt, không phải là Bà chúa kho ở vào thời Lý mà là Bà chúa kho từ thời Hùng Vương. Lịch sử Bà chúa kho ở Thượng Lát được giới thiệu như sau: Nhà Vua xuất quân từ núi Nghĩa Lĩnh gần ngã ba sông Việt Trì đem toàn bản bộ đến Tiên Lát, có địa hình thuận lợi cho việc chuẩn bị đánh giặc. Thế giặc rất mạnh từ phương Bắc tràn sang, lại có tù trưởng Cao Bằng là Lục Đinh làm nội ứng đánh chiếm nước ta. Các bản bộ đóng trại làm các công việc chuẩn bị còn để lại các địa danh như: bộ Trê, bộ Trạ, bộ Ngạnh, bộ Nứa, bộ Trắng, bộ Hồng. Mỗi bộ trong coi một việc, đó là Lục bộ. Hệ thống trung ương thời phong kiến sơ khai đến thời phong kiến tập quyền nhà Lý còn lập lại tổ chức này. Có một công việc mà nhà Vua không trao cho ai đó là kho vàng bạc và binh sách. Vua trao cho con gái trực tiếp làm thủ kho tại Trại Cung. Tên Trại Cung là nơi hạ trại canh giữ kho cung ứng cho Lục bộ và ba quân nên gọi tắt là “Trại Cung”. Thủ kho là công chúa Thanh Bình, con Vua nước Văn Lang. Công chúa đã tỏ ra có tài cung ứng kịp thời cho Lục bộ, ba quân và cho Thạch Tướng quân đánh giặc đem lại hòa bình cho đất nước….

Cuốn Lịch sử đảng bộ Việt Yên nói về dòng dõi Công chúa Thanh Bình: Tổ tiên vua Hùng là Đế Nghi chuyên chăm lo việc cấy lúa, vua Hùng thứ 7 là Lang Liêu lúc nào cũng nghĩ về hạt thóc. Công chúa là chắt chút của các bậc Tiên vương, là thủ kho, là kế thừa dòng máu của các bậc tiên đế, giản dị, thực tế trung thực và công tâm. Công chúa làm thủ kho thường kỳ nước ta bội thu lúa nước. Thời kỳ biết làm bạc nén và vàng sống. Việc quan trọng bậc nhất là cung ứng kịp thời. Công chúa làm thủ kho đã xứng đáng với niềm tin cậy của ba quân.

Bà chúa kho là một vị công chúa thời Hùng Vương 18, cai quản việc cung ứng cho Lục bộ quân đội chống lại tướng giặc là Lục Đinh từ Cao Bằng cùng với Thạch Linh Thần tướng. Câu đối ở đền Bà chúa kho Thượng Lát:
Hùng thị thập bát thế thánh vương ngự trị
Tiên trang thiên vạn lý Bộ Cung sáng thành.

Thời Hùng Duệ Vương (vua Hùng thứ 18) thường được chép là chống lại quân Thục. Như thế giặc Lục Đinh ở đây tương đương với quân Thục. Có liên hệ: Lục Đinh đọc phản thiết là Đục = Thục.

Hùng Vương Thánh Tổ ngọc phả kể, thời Hùng Vương thứ sáu “vua Ân muốn xâm lăng đất nước. Vào năm Giáp Tí bỗng thấy biên giới phía Bắc có thư gửi cấp báo. Tướng giặc Ân là Thạch Linh thần tướng khởi binh từ phía Bắc tiến sang, giáo giáp kín trời, tinh kỳ rợp đất”. Ở làng Phù Đổng có cậu bé Gióng mới lên ba, theo lời hiệu triệu của vua Hùng đã hóa thành một thiên tướng, dẫn quân chống giặc. “Thần vương cầm roi sắt chỉ huy tiên phong, lệnh khiến các quan hành quân tiếp ứng, chỉ phút chốc đã đến dưới chân núi Vũ Ninh, miền Yên Việt, đại chiến với Thạch Linh thần tướng bên núi. Quân Ân thua to, tan chạy. Thạch Linh thần tướng bị bắt sống rồi chém đầu”.

Thạch Linh Thần tướng ở Việt Yên là chiến trường giữa Thánh Gióng và giặc Ân, tướng cầm đầu cũng là Thạch Linh Thần tướng. Nói cách khác đời Hùng Vương cuối của thời kỳ Kinh triều Lạc thị (Hùng Duệ Vương) là triều Ân Thương. Còn Thục Vương ở thời này chính là vua Hùng đã cùng Thánh Gióng đánh giặc Ân tại miền Yên Việt.

Nghi môn ngoài của đền Bà chúa kho ở Thượng Lát với dòng chữ Chúa Tiên cung.

Nữ tướng Ân trong hội Phù Đổng

Lễ hội làng Phù Đổng, nay đã là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, được tổ chức hàng năm tái hiện lại cuộc chiến thần thánh giữa Phù Đổng Thiên Vương và giặc Ân vào thời điểm hơn 3.000 năm trước. Trong lễ hội, các làng ở Phù Đổng lựa chọn 28 cô gái vị thành niên đóng làm tướng giặc. Các cô gái trẻ trang điểm xinh xắn, ăn mặc lộng lẫy, đầu đội mũ hoa, tay cầm quạt lông hoặc trống ngồi trên kiệu. Mỗi nữ tướng Ân dẫn đầu một đội quân khoảng 15 người phục dịch. 28 đội quân Ân do các các nữ tướng cầm đầu lên tới hơn 400 người.

Cũng ở lễ hội Phù Đổng, phường hát Ải Lao có bài hát mở màn rằng:
Nhớ đời thứ sáu Hùng Vương
Ân sai hai tám tướng cường nữ nhung
Xâm cương cậy thế khoe hùng
Quân sang đóng chặt một vùng Vũ Ninh.

Lễ hội ở Sóc Sơn, nơi Phù Đổng Thiên Vương bay về trời sau khi thắng giặc, có tục lệ chọn một cô gái đồng trinh đóng làm tướng giặc Ân. Trong ngày chính hội sau lễ rước, nghi lễ “chém tướng” Ân được tiến hành như một hình thức đánh dấu mốc son chiến thắng cuối cùng của Phù Đổng Thiên Vương trước quân Ân.

Bài hát Ải Lao và lễ hội Gióng cho biết rõ ràng rằng cầm đầu quân đội nhà Ân là các nữ tướng. Như vậy, tướng Ân là Thạch Linh thần tướng ở chân núi Vũ Ninh cũng là một nữ tướng. Lịch sử cho biết, thời nhà Ân các nữ tướng cầm đầu quân đội ra trận thường cũng là vợ của vua Ân. Nổi tiếng nhất là bà Phụ Hảo, vợ của vua Ân Vũ Đinh, là nữ tướng đã cầm quân chinh phạt các nước như Khương Phương, Ba Phương, Thổ Phương, Đông Di… Mộ Ân hậu Phụ Hảo được phát hiện ở thôn Tiểu Đồn, huyện An Dương, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc, là một trong những ngôi mộ táng bề thế bậc nhất của thời kỳ Ân Thương. Các hiện vật trong mộ cho biết Phụ Hảo còn có “miếu hiệu” là Mẫu Tân, căn cứ vào dòng chữ khắc trên một chiếc đỉnh vuông và các đồ minh khí bồi táng kèm theo.

Nữ tướng Ân trong hội Phù Đổng năm 2022.

Phúc lộc thần Ma Cô Tiên

Trong kho tàng huyền sử Việt có một câu chuyện vô cùng kỳ dị nói tới Diêm Vương và các hồn ma bóng quỷ. Đó là Truyện Giếng Việt, bắt đầu như sau: “Giếng Việt ở miền Trâu Sơn huyện Vũ Ninh. Đời vua Hùng Vương thứ ba, nhà Ân cử binh sang xâm chiếm nước Nam, đóng quân ở dưới núi Trâu Sơn. Hùng Vương cầu cứu Long Quân, Long Quân truyền đi tìm bậc kỳ tài trong thiên hạ thì sẽ dẹp được giặc. Sóc Thiên vương ứng kỳ mà sinh, cưỡi ngựa sắt đánh giặc. Tướng sĩ nhà Ân đều bỏ chạy. Ân Vương chết ở dưới chân núi, biến thành vua Địa phủ, dân phải lập miếu thờ, lâu năm suy dần đền miếu bỏ hoang.”

Truyện Giếng Việt kể tiếp, đến đời Tần, có quan Ngự sử là Thôi Vĩ đã cho trùng tu lại miếu Ân Vương. Con trai của Thôi Vĩ là Thôi Lượng, sau đó đã đi lạc đường trên núi Trâu Sơn, đến được Ân Vương Thành và gặp mặt Ân Hậu. Ân Hậu tiếp đãi Thôi Vĩ một cách ân cần rồi cho Dương Quan dẫn Thôi Vĩ về. Sau đó Ân Vương đã sai vị Ma Cô Tiên đến trao cho Thôi Lượng thuốc ngải chuyên chữa bệnh u bướu và ban cho một người con gái để kết làm vợ, lại ban cho một viên ngọc Long Tụy, trong cặp ngọc báu thư hùng mà vua Ân mang theo người khi chết ở Trâu Sơn. Ma Cô Tiên được biết là một vị thọ thần và phúc thần trong văn hóa phương Đông, thường hay được thể hiện trong hình dáng một tiên nữ hiến đào trên những chiếc đĩa đựng hoa quả Trung Quốc.

Thần tích làng Phùng Dị, một làng ở vùng núi Châu Sơn cũng kể tương tự chuyện Giếng Việt: Tương truyền rằng ở Kinh Bắc có bộ Vũ Ninh, phủ Từ Sơn, huyện Vũ Ninh, xã Bằng Dực. Thời Hùng Vương, Ân Vương đem quân đến xâm chiếm nước Văn Lang, đến đất của trang này thấy cảnh đất núi non la liệt, hình như một con ngựa ngọc, nên đặt tên là Châu Sơn. Ân Vương trú binh tại đó.

Khi ấy Hùng Vương nghe tin, liền cầu đảo Long Quân. Long Quân hóa thành Phù Đổng Đại vương cưỡi ngựa sắt mà phá được quân Ân. Ân Vương chết ở dưới chân núi, làm vua Địa phủ. Trang dân ở châu đó lập miếu phụng thờ, thời thường tế lễ. Lâu ngày miếu suy trở thành hoang phế. Đến thời Tần có người bản trang nước ta là Túc Đặng làm quan nhà Tần đến chức Ngự sử Đại phu, thường qua miếu này, thấy cảnh hoang tàn, chạnh lòng thương cảm, cho tu sửa lại đền miếu để giữ việc tế tự. Lệnh cho dân bản trang tuân theo như trước mà thờ. 

Sau này có người Triệu Đà dẫn quân trị nước An Nam, đóng quân ở tại núi, đến nơi miếu mà nghiêm trang thờ tự. Khi đó Ân Vương cảm ơn phục trợ uy linh của ông Túc Đặng bèn sai một đệ nhất mỹ nữ tên là Ma Cô Tiên, giáng sinh vào ngày mùng 6 tháng Giêng năm Mậu Thìn, đến ngày mùng 10 tháng 10 thì thăng hóa, để giúp tương trợ dân nghèo, khai khẩn ruộng vườn, dựng nên một cái chợ. Cái chợ này có tên là Việt, nay là chợ Nghè. Giúp dân an nghiệp, dư giả. Một hôm người bản trang bỗng thấy trên mặt đất mưa to gió lớn nổi lên, sấm nổ chấn động, biết là ngài đã có linh ứng. Người dân cảm công đức đó bèn lập đền phụng thờ, hương khói không ngừng.

Núi Trâu Sơn hay Châu Sơn là núi Vũ Ninh, ngày nay nằm ở huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Như trên đã biết, người chết trận dưới chân núi không phải vua Ân mà là Ân Hậu. Cũng vì thế mà trong Truyện Giếng Việt, Thôi Vĩ chỉ gặp được Ân Hậu, không gặp Ân Vương. Ân Hậu “hiển linh” và được thờ phụng tại vùng núi Châu Sơn dưới tên Ma Cô Tiên, như tại một loạt các di tích còn ở đây. Rõ nhất là tại ngôi chùa mang tên Ma Cô Tiên, nằm ở thôn Châu Cầu, xã Châu Phong. Chùa còn lưu được nhiều bia ký từ thời Lê, nhưng đặc biệt các chữ Ma có trên bia đều bị đục bỏ. Rải rác ở các thôn quanh núi Trâu như ở Phùng Dị, Hữu Bằng có những ngôi miếu nhỏ thờ Ma Cô Tiên. 

Từ Ma Cô đọc thiết âm là Mô, là cách phát âm khác của từ Mẫu. Chữ Tiên có thể là đọc sai của chữ Tân. Nói cách khác, Ma Cô Tiên có thể được hiểu là Mẫu Tân, vị Ân Hậu mà tên đã được đúc rõ trên đáy chiếc Dương quang, cổ vật thời Ân Thương. Vua Ân cuối cùng là Ân Trụ Vương mang tên Đế Tân. Có thể Mẫu Tân – Ma Cô Tiên chính là vợ của Đế Tân.

Ma Bà ở miếu Giếng tại Phùng Dị.

Mẫu Bạch Kê ở Cổ Loa

Liên quan đến các âm hồn tác quái, truyền thuyết Việt còn có truyện Thục An Dương Vương xây thành Cổ Loa, thành cứ xây lại đổ. Vua chay giới cầu đảo, thì có Rùa Vàng hiện lên xưng là sứ giả Thanh Giang. Thanh sứ cho biết, đây là bởi vong hồn của Vương tử đời trước báo thù. Vong hồn này ẩn náu trong núi, cùng với yêu quái nguyên là tinh con gà trắng (Bạch Kê Tinh) hóa thành ở quán Ma Lôi bên núi, tụ tập gây hại. An Dương Vương cùng thần Kim Quy đi đánh yêu quái, bắt được Bạch Kê Tinh đem giết đi.

Ở núi Thất Diệu, nay thuộc khu vực xã Yên Phụ, Yên Phong, Bắc Ninh, có ngôi miếu Bạch Kê, trong đó thờ một vị “Mẫu Nghi Thiên Hạ” gọi là Mẫu Bạch Kê. Cùng trên núi đó có đình làng Yên Phụ và ngôi đền Núi cùng thờ đức Vua Bà Ma Vương. Ở đây còn có một cái ao được gọi là Giếng Cô Tiên, gắn với truyền thuyết Bạch Kê và việc xây thành Cổ Loa.

Từ những di tích tín ngưỡng ở núi Yên Phụ có thể thấy Bạch Kê Tinh ở Cổ Loa chính là Ma Cô Tiên, một phi nhân của Ân Vương hay của “Vương tử đời trước” đã báo oán Thục Vương khi xây thành. Làng Ma Lôi có quỷ tinh gà trắng hiện hình vào người con gái chủ quán cũng chính là nói đến vị Ma Cô Tiên.

Truyền thuyết kể, An Dương Vương sau khi diệt được Bạch Kê Tinh liền sai đào núi Thất Diệu, lấy được nhiều nhạc khí cổ và xương cốt, đốt tan thành tro đem đổ xuống dòng sông. Xương người chết xưa kia chất đầy trong núi, tạo nên oan khí vô cùng, nên mới hình tượng thành Ma Cô Tiên – Bạch Kê Tinh gây hại. Những địa danh như ngã ba Sọ, chợ Chờ, đò Lo ở vùng Yên Phong cũng gắn nỗi ám ảnh của người dân xưa kia khi phải đi qua vùng núi này.

Truyện Rùa Vàng kể sau khi An Dương Vương cùng thần Kim Quy giết con Gà trắng trong quán Ma Lôi, “Vua liền sai đào núi Thất Diệu, lấy được nhiều nhạc khí cổ và xương cốt, đốt tan thành tro đem đổ xuống dòng sông. Trời gần tối, Vua và Rùa Vàng leo lên núi Việt Thường thấy quỷ tinh đã biến thành con chim cú, ngậm lá thư bay lên chiên đàn”.

Việc Thục Vương đào được nhiều nhạc khí cổ ở núi Việt Thường, rồi thấy chim Cú mèo ngậm lá thư bay lên chiên đàn không ngờ lại là một hình ảnh rất thật của thời đại nhà Ân Thương cách nay hơn 3.000 năm. Trên nhiều đồ đồng tế khí của nhà Ân thường dùng hình chim Cú trong tạo hình. Một chiếc bình đồng có hình chim Cú như vậy được thấy ở Việt Nam.

Trong Truyện Rùa vàng, Bạch Kê tinh ẩn hình trong người con gái của quán trọ ở chân núi tại làng Ma Lôi gần thành Cổ Loa. Nói cách khác, Bạch Kê là tinh nữ có tên là Ma Lôi. Chữ Ma thực ra là âm đọc khác của Má – Mụ – Mẫu, chỉ một vị thần nữ.

Núi Thất Diệu là nơi Bạch Kê tinh hóa thành con chim cú bay lên cây chiên đàn ngậm lá thư tâu đến trời trong truyền thuyết thành Cổ Loa. Núi Thất Diệu nay ở xã Yên Phụ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Nơi đây có ngôi đền thờ một vị công chúa con vua Hùng. Theo thần tích của đền, “thời Hùng Duệ Vương, công chúa nhiều lần hiển hách âm phù quân tướng nhà Hùng dẹp giặc. Khi quân Thục lấy được nước Lạc Việt xây thành Cổ Loa thì công chúa sai ngàn vạn âm binh phá thành. Sau nhờ thần Kim Quy, vua Thục mới xây xong được thành”.

Đôi câu đối ở nghi môn miếu Bạch Kê, khẳng định Mẫu Bạch Kê là dòng dõi Hồng Lạc:
Hồng Lạc di phong trang thể thế
Tiên Long dư duệ khải hồng cơ.

Trong cấm cung của đền có bức tượng thờ chính bằng gỗ, thể hiện một vị Mẫu, đầu đội mũ mào gà, gọi là Mẫu Bạch Kê. Mẫu Bạch Kê ở đây được kể là dòng dõi Lạc Hồng, miêu duệ Rồng Tiên của vua Hùng. Điều này tương ứng với câu nói của thần Kim Quy: “Cái tinh khí ở núi này là con vua đời trước”. Thục An Dương Vương đã đánh dẹp triều Hùng rồi xây thành Cổ Loa. Bạch Kê là một vị nữ tướng, dòng dõi của nhà Hùng, hiện lên báo oán ở núi Thất Diệu, làm cho thành cứ xây lại đổ.

Ở Yên Phụ (Yên Phong, Bắc Ninh), Mẫu Bạch Kê còn được thờ tại đình và đền dưới tên Vua Bà Ma Vương. Đối chiếu với truyền thuyết về Ma Cô Tiên trong Truyện Giếng Việt ở núi Châu Sơn thì Mẫu Bạch Kê chính là Ân Hậu, vợ của vua Ân trong cuộc chiến với Thánh Gióng. Ân Hậu cũng là tướng cầm đầu quân đội nhà Ân sang đánh nước Văn Lang, được ngọc phả Hùng Vương gọi là Thạch Linh thần tướng.

Tượng mẫu Bạch Kê ở Yên Phong, Bắc Ninh.

Bà Vu nữ trong Hùng Vương ngọc phả

Hùng Vương Thánh Tổ ngọc phả kể khá chi tiết về bà Vu nữ, người được Hùng Vương sủng hạnh, đến mức thay đổi cả lễ với trời:

Diệp Vương noi theo quy chế của tiền vương, cũng có chí chăm việc nuôi dân. Nhưng kế thừa nền thái bình đã lâu, ngòi rãnh dễ tràn, lại chỉ muốn hưởng yến tiệc yên vui, không chịu khó nghĩ suy chính sự. Bấy giờ có bà mo có phép tinh thông sự trời đất quỷ thần. Vua chất vấn thấy quả là bà mo có biết những việc này. Vua gọi là Tiên nhân, cho vào trong cung, thường khi có việc thì hỏi đến. Ngày sau đình thần có lời tâu rằng:

  • Mo sử từ trước tới nay thật mênh mông. Một phụ nữ ngốc nghếch chỉ vì bàn luận vu vơ về sự lý của trời đất mà được vào cung vua thuyết giảng mơ hồ những chuyện hoang đường. Bệ hạ lấy đó làm lạ mà bị mê hoặc. Nay chúng thần xin tấu thỉnh bệ hạ thử nói một cách, làm một cách khác, lập riêng một chiếu đàn xem sao.

Vua thuận theo lời tấu đó, bèn sai dẫn bà mo vào trong cung. Sau đó vua sai lập một đàn tế riêng, dùng các lễ dối, voi trắng không ngà, voi đen ba chân, ngựa đỏ năm chân để cầu đảo với Trời.
Vua bảo đình thần:

  • Trẫm dùng kế ấy để xem bà mo có biết giả trá hay không?

Hoàng Thiên tuy ở cao, nhưng nghe xong không bằng lòng, xem đến các đồ lễ trên đàn thì hoàn toàn không linh ứng. Hoàng Thiên bèn giáng tai ương để cảnh báo vua không có đức.
Vua mới nghiệm biết trời đất báo ứng ngay trước mắt. Trong vòng nửa năm nhật nguyệt tinh thần rơi rụng. Mưa gió không điều hòa. Khí thời không chính. Đức của người làm vua không được thuần. Vua mới cho sứ đưa bà mo đến bảo:

  • Ngươi biết dò xét cơ trời. Nay trong nước có điềm chẳng lành. Ngươi có thể bay lên trời tìm hỏi xem lý do thế nào, về báo cho Trẫm biết.

Bà mo quay về, đến canh ba thấy mờ mịt như nằm mộng, đến thẳng trước cửa khuyết Ngọc Hoàng, quỳ tâu rằng:

  • Tôi vâng mệnh Quốc vương lên tâu thiên đình. Nay trần thế đang có biến. Xin cho biết nguyên do như thế nào?

Ngọc Hoàng phán rằng:

  • Ngươi mau trở về báo cho Vua biết. Lưới trời lồng lộng, thưa mà không thể lọt. Trần hoàn lóc lóc, có cầu có nguyện tất được theo lòng. Vua nay tự kiêu ngoa, truyền làm lễ vật giả dối. Đó là do trời báo phạt, không chỉ giáng bấy nhiêu tai ương mà thôi. Ba năm sau tất sẽ có nạn giặc lớn!

Nghe phán xong, bà mo tỉnh lại, tâu lại mọi chuyện với vua. Vua nghe nói cả kinh, vẫn cho bà mo ở lại trong cung để xem lời nói đó có nghiệm hay không. Vua lại sai triều quan dựng đàn chay cầu lớn ở giữa kinh đô, các lễ vật như voi ngựa, vàng bạc, ngọc quý, trân châu, mã não đều dùng đồ vật thật, đặt ở giữa cung, bày trí các lễ nghi.
Vua thân đến tế, khấn rằng:

  • Ngu si lầm lỗi, đem vật dối dâng lễ Hoàng Thiên. Sự còn trước mắt, xét xem đã thấy. Cúi xin Thượng Đế chuyển hoạ làm lành, thay tai giáng phúc. Cúi ngước, cậy nhờ ơn đức Hồng Quân!

Khấn xong, bỗng thấy mây gió cuồn cuộn, sắc trời mông lung, khói hương trên đàn bay lên, mây lành toả sắc.
Vua bàng hoàng kinh sợ, khấu đầu lạy tạ rồi lên xe giá về cung điện. Vua lại truyền bà mo lên trời tâu lên Ngọc Hoàng chiếu cố để yên quốc gia, để lành cho chúng dân. Do đó bà mo lại lên trời tâu lên rằng:

  • Vua nước Nam hiện đã biết phải lấy đức trị, để thần dân trong thiên hạ được yên ổn, xin được miễn cho điều tai ương.

Thượng Đế phán rằng:

  • Vua nước Nam đã hối lỗi, sẽ được ban phúc lại. Chỉ còn giặc là Thạch Linh Thần tướng từ phương Bắc đến xâm chiếm đất nước, thì nay có lệnh sai Thiết Xung Thần vương xuống giúp cho Vua được điều lành.

Bà mo tỉnh mộng, tâu ngay lên Vua rằng:

  • Vua nay đã biết hối lỗi, đã được Trời xét phúc. Tuy năm sau có giặc, nhưng trời cho nhân tài sinh ra để giúp nước. Vua không phải lo nghĩ nhiều!

Vua tin lời. Thời Diệp Vương, người giàu vật nhiều nên mới có sàm thần tấu lời, không tin bà mo, đùa lễ giả với trời. Thời này nước Nam không có phong tục kính lễ Trời. Vua Ân muốn xâm lăng đất nước. Vào năm Giáp Tí bỗng thấy biên giới phía Bắc có thư gửi cấp báo. Tướng giặc Ân là Thạch Linh thần tướng khởi binh từ phía Bắc tiến sang, giáo giáp kín trời, tinh kỳ rợp đất. Quả đúng như lời bà mo đã nói.

Sự tích về bà Vu nữ thời Hùng Vương đánh giặc Ân còn được nhắc tới trong một số thần tích khác, như thần tích làng Thổ Hoàng (Ân Thi, Hưng Yên), chứng thực về sự kiện người vợ vua Hùng này góp phần vào sự tan rã của triều đại Lạc Vương cuối cùng (nhà Ân Thương), thay thế bằng Thục triều Văn Lang.

Bà chúa kho công chúa Thanh Bình quản khố cho cả Lục bộ của quân đội của Thạch Linh thần tướng. Cái tên “Thạch Linh thần tướng” lại gắn với Ma Cô Tiên có một ý nghĩa đặc biệt. Thạch Linh nghĩa là linh khí của đá (ngọc). Ma Cô Tiên trong văn hóa cổ được biết là vị phúc thần mang lại tài phúc cho nhân gian. Ví như Thôi Vĩ đã được Ma Cô Tiên cho viên ngọc Long Tụy của Hoàng Đế mà trở nên giàu có. Còn ở núi Thất Diệu, sau khi An Dương Vương diệt Bạch Kê tinh đã cho đào núi, lấy được nhạc khí và xương cốt cổ. Ân hậu Ma Cô Tiên chính là vị cổ thần chưởng quản cổ khí, tài lộc từ thời Hùng Vương.

Bia chùa Ma Cô Tiên ở Châu Cầu, Bắc Ninh.

Bạn có biết: Bàn Vương, vị tổ của 12 họ người Dao là một vị vua Hùng

Tượng Bàn Vương ở Ba Chẽ, Quảng Ninh.

Người Dao là một bộ phận chính của nhà Thương Ân, có nguồn gốc từ thời Đế Cao Tân. Sang thời Chu, vùng đất quanh trung lưu sông Trường Giang là nước Sở nên đây cũng là đất nước của người Dao vào thời này. Các vua Sở mang họ Hùng, mà trong tiếng Dao nghĩa là Vương.

Long khuyển Bàn Hồ

Tất cả nhánh của dân tộc Dao đều tôn thờ Bàn Vương là thủy tổ của mình. Ghi chép sớm nhất về Bàn Vương người Dao là truyện Bàn Hồ trong Hậu Hán thư, như sau: Ngày trước thời họ Cao Tân có giặc Khuyển Nhung, trong lúc Đế bị bệnh bèn xâm phạm, mà chinh phạt vẫn không khắc chế được. Bèn chiêu mộ hỏi khắp thiên hạ, người có thể lấy được đầu tướng Khuyển Nhung là Ngô tướng quân, sẽ ban cho ngàn dật vàng ròng, phong ấp vạn nhà, gả con gái cho. Vừa lúc đó Đế có con chó, lông năm sắc, tên gọi Bàn Hồ.

Sau khi lệnh ban xuống, Bàn Hồ đã tha được đầu người đến dưới cửa khuyết, quần thần kinh ngạc xem kỹ, thì chính là đầu của Ngô tướng quân. Đế rất mừng… đem con gái gả cho Bàn Hồ… Bàn Hồ được cô gái, cõng lên mà chạy vào Nam Sơn… Qua ba năm, sinh được mười hai người con, sáu nam sáu nữ… Con cháu của họ ngày càng sinh sôi… Ngày nay là  họ người man ở Trường Sa, Vũ Lăng.

Một điểm hết sức đáng chú ý là Bàn Hồ được xác định xuất hiện ở thời Đế Cao Tân, là vị Đế thứ ba trong Ngũ đế Trung Hoa, sau Hoàng Đế và Đế Chuyên Húc. Theo truyện kể dân gian, thần tích và các truyện thơ Dao, đặc biệt là trong Quá sơn bảng văn, sách cổ của người Dao về nguồn gốc và sự di cư của dân tộc Dao, thì Bàn Hồ là con Long Khuyển được Bình Vương gả con gái và phong là Bàn Vương sau khi có công lớn giết được Cao Vương. Vợ chồng Bàn Hồ sinh được 12 người con (6 con trai, 6 con gái) đều được ông là Bình Vương ban sắc thành 12 họ là: Bàn, Lan, Mãn, Uyển, Đặng, Trần, Lương, Tống, Phượng, Đối, Lưu, Triệu, như các họ của người Dao ngày nay.

So sánh với chính sử Trung Hoa, Trúc thư kỷ niên, cuốn Biên niên sử viết trên thẻ tre từ thời Chiến Quốc, chép: Cao Tân thị có người vợ tên là Giản Địch, vào tiết xuân phân, khi chim huyền điểu tới thì đang theo Đế đi làm lễ tế giao để cầu tự, bấy giờ cùng người em gái của mình tắm ở sông Huyền Khâu. Có con chim huyền điểu ngậm quả trứng mà đánh rơi, trứng ấy có năm màu rất đẹp, hai người tranh nhau đi lấy, rồi dùng giỏ ngọc úp lên. Giản Địch lấy được trứng trước, bèn nuốt vào bụng, thế rồi mang thai, sau đấy xẻ ngực mà sinh ra Tiết. Tiết lớn lên rồi làm chức Tư đồ cho vua Nghiêu, vì có công với dân mà được nhận phong ở đất Thương. Trải qua mười ba đời sinh ra Chủ Quý. Vợ của Chủ Quý tên là Phú Đô, nhìn thấy có luồng khí trắng vắt ngang mặt trăng trong lòng rung cảm, thế rồi sinh ra Thang vào ngày Ất, bởi thế mới có hiệu là Thiên Ất.

Truyền thuyết “huyền điểu sinh Thương” cho biết nhà Thương là dòng dõi từ Đế Cao Tân từ thời Đế Nghiêu, vợ là Giản Địch do nuốt trứng ngũ sắc của chim huyền điểu mà sinh ra ông Tiết. Dòng dõi 14 đời của ông Tiết là vua Thành Thang. Đối chiếu truyền thuyết của người Dao với truyền thuyết Trung Hoa có thể thấy người Dao có tổ tiên chính là ông Tiết, dòng dõi họ Cao Tân. Ông Tiết là tổ của nhà Thương, nên người Dao cũng là thành phần dân tộc gốc của nhà Thương, khởi dựng từ Thiên Ất Thành Thang.

Trúc thư kỷ niên chép về Thành Thang: Thang đi về phía Đông tới bên bờ sông Lạc, ngắm nhìn đàn tế của Đế Nghiêu, lại ném ngọc bích xuống sông, lùi ra phía sau mà đứng. Sau đấy một cặp cá màu vàng nhảy vọt lên, một con chim đen theo đó mà đậu xuống dưới đàn tế, hóa thành hắc ngọc. Lại có con rùa đen xuất hiện, trên lưng có hoa văn màu đỏ sắp thành chữ, nói là Hạ Kiệt vô đạo, Thành Thang sẽ thay thế hắn. Có vị thần Đào Ngột xuất hiện ở núi Bi. Có vị thần dắt theo con sói trắng, miệng ngậm cái móc, đi vào triều đình nhà Thương.

Những điềm báo Thành Thang làm thiên tử trong Trúc thư kỷ niên mô tả Ngũ sắc: cá vàng, chim đen, rùa mai đỏ, thần ở núi (xanh), sói trắng. Ngũ sắc là biểu tượng của Ngũ hành. Người có Ngũ sắc nghĩa là người nắm được Ngũ hành, hay nắm được thiên hạ. Con sói trong chuyện của Thành Thang cùng với Ngũ sắc cho thấy sự tương đồng với truyện Long Khuyển Bàn Hồ của người Dao. Vị Bàn Vương (Long Khuyển Bàn Hồ) đã diệt Cao Vương, lấy con gái của vua mà sinh ra 12 họ người Dao chính là Thành Thang, người đã diệt Hạ Kiệt, lên ngôi thiên tử của nhà Thương.

Ghi nhận khác của người Xá, là một tộc người rất gần với người Dao có thờ Bàn Hồ, kể rằng: Thời Đế Cao Tân, trong cung có một bà già tai to bị đau tai. Trăm chim vào chầu, quan ngự y cắt ra thì xuất hiện Long Khuyển. Đó là Kim Long giống tằm, nuôi được tám tháng, Kim Long thân dài 8 thước, cao 5 thước, toàn lông ngũ sắc, bèn ban hiệu là Bàn Hồ.

Người Dao tuyển thậm chí còn có thờ tượng Long khuyển Bàn Hồ trong khu rừng cấm của thôn bản như ở thôn Chù Lìn, xã Hồ Thầu (Tam Đường, Lai Châu). Người Dao Thanh Phán ở Quảng Ninh xây riêng một ngôi miếu và đặt tượng Bàn Vương để thờ tại Ba Chẽ.

Trong truyền thuyết Việt có dòng theo cha Lạc Long Quân xuống khai phá vùng đồng bằng ven biển ở phía Đông. Ban đầu đó là nhà Hạ Trung Hoa. Nhà Thương nối tiếp nhà Hạ, vẫn lấy Rồng làm biểu tượng, nhưng lại gọi là Long Khuyển. Khuyển hay Khang là tính chất của hướng Tây. Cẩu (chó) cũng là cửu, chỉ hướng Tây. Long Khuyển nghĩa là tộc người dòng Rồng ở phía Tây, bởi phần hướng Đông là nhà Hạ.

Tượng Long khuyển trong rừng cấm Chù Lìn.

Bàn Canh vượt Trường Giang

Người Dao tôn thờ Bàn Vương là tổ. Nhà Thương cũng có vị vua tổ là Bàn Canh, nổi tiếng bởi những cuộc thiên di liên tục, 5 lần dời đô, lập nên nhà Ân Thương, tức là nhà Thương thứ hai. Kinh Thư có 3 thiên Bàn Canh thượng, trung và hạ nói đến việc vua Bàn Canh dời đô. Các vua Thương dời đô nhiều lần đến mức… dân gian có cụm từ “lang thang”, chỉ sự di cư bất định như các vị vua (lang) nhà Thương (thang).

Sách cúng người Dao còn kể: Vào năm Dần Mão, nạn hạn hán xảy ra, con cháu người Dao rơi vào cảnh thiếu đói, cơ cực nên phải thiên di vượt biển tìm nơi sinh sống. Với sự che chở của Bàn Cổ đại vương, 12 tộc họ người Dao vượt biển thành công. Để lưu truyền cho đời sau, họ đã viết sách “Quá Sơn Bảng Văn” kể lại quá trình thiên di đầy gian khổ, ca ngợi Bàn Vương.

Câu chuyện Bàn Vương đã qua núi, vượt bể này là như nhắc tới một cuộc thiên di của người Dao từ thời rất xa xưa. “Vượt bể” ở đây là vượt sông lớn, chứ người Dao vốn không sinh sống ở bên bờ đại dương để có thể vượt biển. Có thể thấy truyền thuyết Bàn Vương vượt bể của người Dao là nói đến vua Bàn Canh, người đã dẫn một bộ phận dân nhà Thương vượt qua sông Trường Giang, lập nên đất Ân ở vùng phía Bắc sông này.

Một trong những kinh đô của nhà Ân Thương được biết là di chỉ khảo cổ Bàn Long Thành, là một tòa thành đất trên một khu vực khai quật rộng tới 1 km2, nay ở tỉnh Hồ Bắc, ngay phía Bắc sông Dương Tử. Di chỉ có hàng trăm ngôi mộ cổ với nhiều hiện vật đồ đồng, đồ gốm, đồ ngọc có niên đại vào đầu và trung kỳ thời Ân Thương. Đây là dấu ấn rõ ràng nhất của sự kiện Bàn Canh dẫn dân Thương vượt hà. Long là từ chỉ vua nên Bàn Long Thành tức là thành của Bàn Vương.

Hậu Hán thư kể chú chó Bàn Hồ đi về Nam Sơn, sinh ra 6 người con trai và 6 người con gái, thành tổ tiên của 12 họ người Dao. Hướng Nam xưa nay là hướng Bắc nay, tượng bởi quẻ Cấn – núi. Số 6 là con số chỉ hướng Nam xưa (Bắc nay) trong Hà thư. Chi tiết Bàn Vương (hay Bàn Hồ) đã dẫn người Dao bơi 7 ngày bảy đêm trên đại dương để đến nơi ở mới cũng tương đồng với việc nhà Thương đã năm lần bảy lượt di cư.

Tín ngưỡng thờ Bàn Hồ của người Dao đã cho thấy bà con là một bộ phận người dân đã lập nên nhà Thương Ân, triều đại được truyền thuyết Việt xếp vào dòng những người con theo cha Lạc Long Quân xuống khai phá miền biển hướng Đông Nam xưa. Ngọc phả Hùng Vương gọi là đời Hùng Huy Vương, vị vua Hùng kế tiếp thời kỳ trung hưng của nhà Hạ.

Tranh thờ: Bàn Vương dẫn người Dao “quá hải”.

Bàn Vương – Hùng Duệ Vương

Trúc thư kỷ niên cho biết, năm thứ 32 đời vua Vũ Đinh nhà Ân “chinh phạt người Quỷ Phương, đóng trú ở đất Kinh”. Sự kiện Ân Cao Tông phạt nước Quỷ Phương, nhưng lại đóng quân ở đất Kinh Sở tại Hồ Nam – Hồ Bắc cho thấy vùng đất này nằm trong đất của nhà Ân. Có thể nói, đất Kinh vốn là địa bàn gốc của nhà Thương từ vua Thành Thang, trước khi Bàn Canh thiên di lên phía Bắc lập Ân.

Nước Quỷ Phương hay Cửu Phương, nghĩa là nước nằm về phía Tây lãnh thổ nhà Ân Thương. Cửu là số 9, chỉ hướng Tây của Hà thư. Nước Quỷ Phương là khu vực Tứ Xuyên, ứng với nền văn hóa Tam Tinh Đôi của thời kỳ này. Chỉ có vùng Tứ Xuyên với nền văn minh Kim Sa rực rỡ giàu có từ hơn 1.000 năm trước Công nguyên mới có thể khiến Cao Tông nhà Ân Thương khổ cực suốt 3 năm trời mới chiếm được.

Đặc trưng của các đồ đồng đúc dưới thời Ân Thương là những hình vẽ các loài vật đầy thần bí, như hình con Quỳ (rồng một chân), hình chim Cú, Ve sầu, mặt Thao thiết. Một chiếc bình đồng có niên đại quãng thời đầu Tây Chu được phát hiện ở thành phố Lào Cai, trên đó trang trí bởi biểu tượng Ve sầu như gặp trên đồ đồng thời Thương. Lào Cai cũng là địa bàn sinh sống của nhiều người Dao với văn hóa Dao đậm nét, nhất là văn hóa tín ngưỡng. Cách thực hành các nghi thức tế lễ của người Dao luôn toát lên vẻ thần bí của một nền văn hóa lâu đời từ quá khứ.

Năm 1989 tại thị trấn Đại Dương Châu, huyện Tân Can, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc đã phát hiện một ngôi mộ cổ thời Thương với số hiện vật tìm thấy lên đến hơn 1.500 đồ vật. Điều đáng ngạc nhiên là bởi các đồ vật thời Thương sớm lại tìm thấy ở một địa điểm ở phía Nam sông Dương Tử. Đây là bằng chứng khảo cổ cho việc xác định nhà Thương vốn ban đầu xuất phát từ phía Nam sông Trường Giang.

Trong số 480 món đồ đồng tìm thấy ở Đại Dương Châu có một đồ vật được xếp hạng là quốc bảo của Trung Quốc, đó là con hổ đồng hai đuôi. Con hổ đồng được chế tác tinh xảo, toàn thân hổ được trang trí bởi hoa văn uốn cuộn như rồng. Trên lưng hổ có hình một con chim nhỏ đang ngồi một cách yên bình. Con “long hổ” hai đuôi này như gợi nhắc tới truyền thuyết Long Khuyển Bàn Hồ của người Dao.

Thời nhà Thương, chữ tượng hình bắt đầu trở nên phổ biến, hình thành một thể chữ khá chín muồi mà nay gọi là Giáp Cốt văn, do chúng thường được khắc trên yếm rùa và xương động vật. Giáp cốt văn tự được coi là khởi nguồn của các loại chữ tượng hình Trung Hoa sau này. Người Dao cũng có tục cúng Rùa với nghi lễ diễn xướng trang trọng trong các dịp lễ tết. Về chữ viết, cho tới nay người Dao là dân tộc vẫn sử dụng chữ Nho, cho dù nó được gọi là chữ “Nôm Dao”, bởi có tới hơn 85% chữ Dao đồng nhất hoàn toàn với chữ Nho. Các sách cúng, sách bói, lịch, sớ… của người Dao đều được ghi bằng chữ Nho một cách nguyên sơ nhưng thuần thục. Chắc chắn người Dao là một trong những bộ phận dân tộc chính đã làm nên chữ viết tượng hình Trung Hoa.

Người Dao ăn Tết riêng theo lịch Dao, mà như ở Thanh Hóa gọi là ăn “Tết năm cùng”. Tết này được bắt đầu vào cuối tháng 11 đầu tháng 12 âm lịch, sớm hơn Tết Nguyên đán 1 tháng. Tương tự, người Mông cũng có tục ăn Tết Mông vào cùng thời gian đầu tháng 12 âm lịch. Tết Nguyên đán ngày nay lấy tháng Dần làm tháng Giêng, gọi là lịch Kiến Dần. Đây là lịch ban đầu của thời nhà Hạ, sau tới nhà Hán lấy lại và từ đó không thay đổi. Còn nhà Thương khi lập nên vương triều đã lấy tháng Sửu (trước tháng Dần 1 tháng) làm tháng Giêng. Tết của người Dao và người Mông vào đầu tháng 12 âm lịch cho thấy nhóm người Miêu Dao vốn dùng lịch Kiến Sửu của nhà Thương. Đây là một dẫn chứng nữa cho thấy người Dao là thành phần chính của dân nhà Thương Ân.

Người Dao có tín ngưỡng thờ Tam Nguyên. Tranh thờ Tam Nguyên, dùng trong lễ cấp sắc và các lễ hội của người Dao thể hiện các vị quan là Thượng Nguyên Thiên Quan tứ phúc cúng vào rằm tháng Giêng, Trung Nguyên Địa Quan xá tội cúng vào rằm tháng Bảy, Hạ Nguyên Thủy Quan giải ách cúng vào rằm tháng Mười. Khái niệm Tam Nguyên hay Tam Quan tương tự như tín ngưỡng Tam phủ của người Kinh. Trên chiếc chày gỗ là dụng cụ của các thầy cúng người Dao cũng có khắc hình các vị thần của Thiên phủ, Địa phủ, Thủy phủ và Dương phủ. Đặc biệt, vị vua của Địa phủ đã được Truyện Giếng Việt trong Lĩnh Nam chích quái ghi nhận là Ân Vương, người đã chết trong trận chiến với Thánh Dóng. Ngày rằm tháng 7 cúng Địa Quan Xá Tội Đại vương cũng là một ngày tiết lễ lớn trong năm của người Dao.

Truyền thuyết Bàn Vương của người Dao có đoạn cuối kể rằng Bàn Vương đi săn sơn dương, chẳng may bị sơn dương húc chết, người Dao vô cùng thương tiếc, làm lễ cúng tế Bàn Vương… Sự việc này là nói tới chuyện Ân Trụ Vương đi săn “con hươu” của thiên hạ không thành, đã nhảy vào ngọn lửa ở Lộc Đài tại kinh đô Triều Ca để tự kết thúc trong cuộc chiến giữa nhà Chu và vua Ân. Lộc là hươu, là sơn dương, cũng là Lục, nghĩa là đất đai hay Địa phủ.

Tranh Hành sư, thần điện của người Dao, có Tam Thanh và Tam Nguyên quan.
Tượng đồng “hổ hai đuôi” thời Ân Thương.
Thiên hạ Trung Hoa thời Ân Thương.

Bạn có biết: Chử Đồng Tử đã tiếm ngôi vua Hùng thứ ba, lập nước riêng

Truyện đầm Dạ Trạch trong Lĩnh Nam chích quái mở đầu: ““Vua Hùng Vương thứ ba sinh hạ được một người con gái, đặt tên là Tiên Dung“. Tấm bia Hùng Vương từ khảo đặt tại đền Thượng núi Hùng Nghĩa Lĩnh chép: “Chân núi phía Nam có miếu Giếng, thờ hai vị công chúa: Một là công chúa Tiên Dung con Hùng Vương thứ 3 (gả cho Chử Đồng Tử); một là công chúa Ngọc Hoa con Hùng Vương thứ 18 (gả cho Cao Sơn)”. Như vậy Chử Đồng Tử lấy công chúa Tiên Dung là ở đầu thời kỳ Hùng Vương (Hùng Vương thứ 3), chứ không phải ở cuối thời kỳ này như quan niệm của nhiều người. Trong Hùng Vương ngọc phả thì Kinh Dương Vương là đời thứ 1, Lạc Long Quân là đời thứ 2 nên Chử Đồng Tử ở vào đời Hùng Vương thứ 3 là ngay sau thời Lạc Long Quân, khi tên nước đang là Xích Quỷ (Thủy quốc), kinh đô ở Động Đình hồ Tây. Đây là thời kỳ Kinh triều Lạc thị khai mở miền ven sông biển. Hoàn toàn không phải thời kỳ lên núi, có trống đồng và chim Âu như thường nghĩ.

Cũng vì xuất thế vào thời Thủy quốc Lạc Thị nên Chử Đồng Tử cũng là một vị Thủy thần, rất rõ qua hình thức phối thờ với những thủy thần khác như với Tứ Vị Càn Nương, với thần Cá Chép … Nhà Chử làm nghề đánh cá ở bãi Chử Xá, rồi khi cha mất Chử Đồng Tử trầm mình trong nước mà kiếm sống, nên tất nhiên khi hóa thần sẽ là thủy thần của vùng sông nước. Chử Đồng Tử còn có liên quan đến việc diệt Ngư tinh (chính là thần Cá Chép thờ ở đền Dạ Trạch) trong truyền thuyết.

Ngọc phả đền Hóa Dạ Trạch kể khi Chử Đồng Tử ở Quỳnh Viên gặp ông lão bạc đầu hát như sau:
Sơn chi cao hề! Thuỷ chi thâm
Trần trung thiển hữu thức kỳ âm
Thức kỳ âm hề, kết giai âm
Ký kết âm hề, tuy vạn lý diệc tầm.
Ký kết đắc nhi dữ chi du hề
Nguyện đối dữ sơn cao, thuỷ chi thâm.

Dịch là:
Núi cao chừ, nước sâu thăm thẳm
Cõi trần mấy ai hiểu âm này
Hiểu âm này chừ kết giai âm
Đã kết âm chừ dẫu vạn dặm cũng tìm
Đã kết được rồi thì cùng du chơi
Xin sánh cùng với núi cao nước sâu.

Lời hát của lão tiên ám chỉ việc kết hợp giữa “núi cao” và “nước sâu”, là sự việc quý giá, vạn dặm cũng tìm. Sự kết hợp đó sẽ làm nên công trạng “sánh cùng với núi cao nước sâu”. Khi đặt lời hát của tiên ông vào trong bối cảnh của Chử Đồng Tử thì sẽ thấy rõ ràng rằng thủy thần Chử Đồng Tử là “nước”, còn Tiên Dung Công chúa phải là “sơn”. Đây là một sự kết hợp sơn – thủy khác trong truyền thuyết Việt bên cạnh cuộc gặp gỡ của Lạc Long Quân và Âu Cơ hay của Sơn Tinh và Thủy Tinh. Sự kết hợp của 2 dòng lên núi và xuống biển đã được nhấn mạnh nhiều lần vào thời kỳ đầu của thời đại Hùng Vương, là nguồn gốc Tiên Rồng của trăm họ người Việt.

Ngọc phả làng Đông Tảo chép: Việc xong, ba người (Chử Đồng Tử, Tiên Dung Công chúa, Tây Cung Tiên nữ) lại đi. Phàm là trong huyện Đông An nơi nào ba người đến đều dựng gậy ở đất đó, lấy nón đội lên trên, tự nhiên trở thành lâu đài, thành thị, tài vật, hàng hóa. Từ đó gọi tên là bãi Tự Nhiên. Trong triều quan quân vui mừng mà đi đến tụ họp quá nửa. Vua cha Duệ Vương nghi ngờ là làm phản, bèn lệnh dẫn quân đến đánh. Khi đó trời đã tối, quan quân do đó đóng ở bên bờ trái.

Bức đại tự trước cung thờ ở đình Phương Trù ghi: Trạch quốc Tam Thanh 澤國三清, có ý nói rằng ba vị nhà Chử là người khởi đầu của một quốc gia vùng đầm lầy Dạ Trạch. Sự kết duyên kỳ ngộ giữa Chử Đồng Tử và công chúa con vua Hùng là cách diễn đạt hình tượng việc một chư hầu (Chử) của Thủy quốc đã chặn đường, tiếm ngôi vị của Lạc Vương tại khu vực phía Nam kinh đô Thăng Long (Động Đình). Vị Chử hầu sau đó đã lập thành một nước riêng, xây dựng lâu đài, cung điện, có quan quân theo về, với tên nước là Trạch quốc. Xung đột giữa Lạc Vương và Chử hầu rõ ràng đã xảy ra, với sự kiện vua Hùng dẫn quân đến đánh Trạch quốc, đóng quân ở bãi Tự Nhiên bên kia bờ sông Hồng.

Chử Đồng Tử cũng xây dựng cả một tín ngưỡng riêng mang xu hướng của Tiên đạo với cây gậy và nón thần (Âm – Dương) và thuật bất tử từ chốn Quỳnh Viên. Chử Đồng Tử trở thành Chử Đạo Tổ, vị tổ khởi đầu của Đạo giáo. Gia đình nhà Chử 3 người trở thành Tam Thanh của tín ngưỡng này. Tam Thanh là khái niệm 3 vị thánh khởi đầu trong Đạo giáo. Trạch quốc Tam Thanh là 3 vị tổ của vùng đầm Dạ Trạch, gồm có Chử Đạo Tổ là Thủy thần, Tiên Dung Công chúa là Sơn thần và Tây Cung Tiên nữ là Thiên thần (con của Tây Vương Mẫu – Mẫu Thượng Thiên). Khái niệm Tam phủ Thiên Nhạc Thủy như thế đã hình thành từ rất sớm, ngay trong truyền thuyết và tín ngưỡng thờ Chử Đồng Tử ở vùng đồng bằng sông Hồng.

Thời kỳ Thủy quốc Lạc Thị như vậy bị gián đoạn bởi Chử hầu lập Trạch quốc ở vùng Khoái Châu. Tiếc là Trạch quốc không tồn tại được lâu mà đã sớm một đêm bay về trời như Hậu Nghệ – Hằng Nga, nhưng ánh sáng bất tử của cung trăng vẫn tỏa sáng những đêm rằm trên miền sông nước Động Đình.

Ngai vị ba vị nhà Chử ở đền Dạ Trạch.
Hoành phi Trạch quốc Tam Thanh ở đình Phương Trù.
Gậy nón của Chử Thánh ở đền Dạ Trạch.
Bài văn giáng bút của Chử Đồng Tử Dạ Trạch tiên gia phú ở đền Đa Hòa.

Bạn có biết: Lạc Long Quân và Sùng Lãm ở 2 thời Hùng Vương khác nhau

Giá tượng Lạc Long Quân ở đình Nội Bình Đà, Hà Nội.

Nơi còn lưu được sự tích đầy đủ nhất về Lạc Long Quân là làng Xích Đằng, nay thuộc TP. Hưng Yên. Ngọc phả Lạc Long Quân ở đây do Hàn lâm học sĩ Nguyễn Bính thời Lê Hồng Phúc biên soạn, kể khá giống với Truyện họ Hồng Bàng trong Lĩnh Nam chích quái, rằng: Kinh Dương Vương thường dạo chơi dưới Thủy phủ, sau lấy con gái Động Đình quân Long Vương sinh ra Sùng Lãm (tức Lạc Long Quân) thay mình trị nước. Rồi: … Long Quân đã về Thủy phủ… Long Quân ở lâu tại Thủy quốc.

Thủy quốc là tên gọi khu vực nước ta được thành lập từ Kinh Dương Vương. Lạc Long Quân là vua của Thủy phủ, thông tin rất rõ ràng. Nước Xích Quỷ, đọc phiên thiết là Xủy – Thủy, là tên gọi trực tiếp của Thủy quốc thời Kinh Dương Vương – Lạc Long Quân, mà được các thần tích gọi là thời Kinh triều Lạc Thị.

Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả chép: Long Quân họ Hùng tên Lạc, húy Sùng Giác, hiệu là Hùng Hiền Vương, thống nhất cơ đồHùng Hiền Vương ở ngôi 269 năm, sau về biển, hoá sinh bất diệt, làm Động Đình Đế Quân.

Về trăm người con cùng bọc trứng của Lạc Long Quân đã được chia làm 2 nhánh lên rừng và xuống biển. Khi chia tay Lạc Long Quân nói với Âu Cơ: Ta là giống rồng thuộc loài Thủy tộc, nàng là dòng Tiên trên núi… Nay ta chia ra năm mươi người con quay về Thủy phủ mà chia trị các nơi… Những người con theo cha Lạc Long Quân về Thủy phủ chính là những vị Thủy thần cai quản các nơi đầu sông góc biển.

Ngọc phả về Việt Nam Lạc Thị ở vùng Thuận Thành (Bắc Ninh): Tổ thờ ở Á Lữ. Tổ đi chu du thiên hạ, kiến xem hình thế. Một lần qua làng, thấy trước có 3 chẽ sông quanh co. Sau có 3 ngọn núi nhấp nhô đẹp đẽ. Sơn thủy hữu tình. Nhân đó dựng hành cung ở bờ sông, đặt tên là Nghi Giang cung. Chợt thấy 3 con rồng, mình dài vài trượng, lưng to mấy vòng. Trên đỉnh đầu có ấn vàng. Trong ấn nổi lên 2 chữ LẠC VƯƠNG.

Ngọc phả Lạc Long Quân chép: Lại đặt tướng văn là Lạc hầu, tướng võ là Lạc tướng; con trai vua là Quan lang, con gái vua gọi là Mỵ Nương… Các Lạc hầu, Lạc tướng do đó là tên gọi những người con đã theo cha Lạc Long Quân về biển, cai trị các vùng ở miền đất Lạc. Như vậy trong Lạc Long Quân là hình tượng của vị thủ lĩnh đứng đầu Thủy quốc, khởi đầu cho họ Lạc của các Lạc hầu, Lạc tướng ở vùng sông nước, đồng bằng ven biển.

Dưới thời Lạc Long Quân cuộc chiến tranh duy nhất được kể là cuộc chiến với Đế Lai để chiếm nàng Âu Cơ, do có truyền thuyết nói rằng Âu Cơ là ái thiếp của Đế Lai, chứ không phải con gái: … Đế Lai quay về nơi ở không thấy Âu Cơ, sai quần thần tìm kiếm khắp nơi trong thiên hạ. Long Quân có thần thuật ẩn hiện biến hóa ra muôn trạng, yêu tinh quỷ mị, rồng rắn, tê giác, voi. Những kẻ tìm đến đều sợ hãi không dám tiếp tục tìm nữa. Đế Lai đành phải quay về. Cuộc chiến này đã loại bỏ quyền lực của chính dòng Đế Minh (tức Đế Lai) mà đem đến sự lên ngôi chủ thiên hạ của Lạc Long Quân.

Sự kiện Long Quân đánh đuổi Đế Lai tranh đoạt ngôi vị chủ thiên hạ (trong hình ảnh bà Âu Cơ) còn được lưu truyền ở ngay vùng đất Thăng Long. Truyện Hồ tinh trong Lĩnh Nam chích quái kể rằng khi con cáo chín đuôi làm hại người ở Long Biên, Long Quân bèn ra lệnh cho Lục bộ thủy phủ dâng nước lên phá vỡ hang đá, làm thành một đầm nước lớn. Hồ Tây – đầm Xác Cáo là di tích của thời kỳ Lạc Long Quân mở Thủy quốc Động Đình nơi rốn rồng Long Đỗ của của dòng sông Hồng.

Trong khi đó, cái tên Sùng Lãm với họ Sùng lại gắn với hình tượng của dòng lên núi của các Sơn thần. Như đã từng trình bày, Kinh Dương Vương cũng là Tản Viên Sơn Thánh và là vua Đại Vũ trị thủy bên dòng sông Đà. Cha của Đại Vũ là Sùng bá Cổn, cũng từng đảm nhận việc trị thủy thời Nghiêu Thuấn. Thông tin về nước Sùng, một nước thời Tam Đại Trung Hoa, theo wikipedia: Tương truyền vào thời Hạ, cha của vua Vũ là Cổn được phong là Sùng Bá đã lập nên thành trì nước Sùng, sau khi Cổn bị giết thì đất ấy từ đó liên tục không có vua. Kinh Dương Vương là cha của Lạc Long Quân, nên đây chính là mối liên hệ dẫn đến việc Lạc Long Quân cũng mang họ Sùng từ Sùng bá Cổn.

Về nước Sùng, truyền thuyết chép tiếp: Nước Sùng thời Ân Thương dời đô sang chỗ khác… Quốc quân nước này trong giáp cốt văn được gọi là “Tông hầu”, người trong họ từng giữ chức khuyển quan nên gọi là “khuyển tông”… Dưới thời Đế Tân, Sùng Hầu Hổ mật báo việc Chu Văn Vương mưu đồ tạo phản với vương thất nhà Thương. Văn Vương về sau liền khởi binh diệt luôn nước Sùng, lấy đô thành của nước này dựng nên Phong Kinh. 

Theo đó, nước Sùng trong thư tịch cổ là:
– Nơi Đại Vũ trị thủy, tức là kinh đô Trung Hoa thời Hạ Vũ.
– Nơi đóng đô của Sùng Hầu Hổ, Bắc Bá Hầu dưới thời Ân Trụ Vương. Tông hầu nghĩa là nước của “tổ tông” Trung Hoa, tức còn là đất gốc từ thời Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn.
– Là Phong kinh của thời Chu Văn Vương.

Thư tịch cổ cho thông tin hết sức quan trọng. Cha của Đại Vũ là Cổn, là thủ lĩnh vùng đất Sùng. Do vậy, nước Sùng của Sùng Hầu Hổ thời Ân Thương cũng chính là nơi Đại Vũ trị thủy, tức là miền Bắc Việt ngày nay. Hình ảnh Tản Viên Sơn Thánh trong truyền thuyết Việt bao gồm những sự tích của cả thời Đại Vũ trị thủy và Sùng Hầu Hổ thời Ân Thương. 

Nước Sùng còn in dấu ấn trong sử Việt với tên Sùng Lãm của cha Lạc Long Quân. Còn ở Bình Đà, nơi thờ Lạc Long Quân thì có ghi chép 4 đời chúa họ Sùng có là Sùng Nghiêm, Sùng Quyền, Sùng Huề và Sùng Lãm. Lạc Long Quân được coi là người khởi đầu triều Hùng nên các chúa họ Sùng sau đó cũng thuộc về các đời Hùng Vương, mà Hùng triều kết thúc bằng sự kiện Thục Vương đánh Hùng Duệ Vương. 

Sùng Công còn là một trong Tam vị Tản Viên Sơn Thánh. Vị Tả kiên thần Cao Sơn của Thánh Tản có tên là Nguyễn Sùng. Đây hẳn cũng là một vị chúa họ Sùng đã cùng Sùng Hầu Hổ chống giặc Thục. Ngọc phả về Tản Viên Sơn Thánh ở vùng Sơn Tây kể: … Vua (Hùng Duệ Vương) rất yêu mến bèn phong người em thứ hai của Sơn Thánh ông Sùng Tả Kiên Thần là Tả đô đài Đại phu, người em thứ ba ông Hiển Hữu Kiên Thần làm Hữu đô đài Đại phu. Vua tôi đức hợp, thiên hạ thái bình, vạn dân gặp được thời no đủ. Bốn biển ngưỡng cảnh tượng thái hòa. Duệ Vương vì công lao đó mà ban cho búa sắt, cùng hưởng lành với đất nước…. Phong Sơn Thánh là Nhạc phủ kiêm Thượng đẳng, tăng cấp ông Sùng làm Cao Sơn Đại vương, ông Hiển làm Quý Minh Đại vương.

Thần tích ở vùng Bắc Giang về Cao Sơn Đại vương (thần tích Lỗ Hạnh) kể rằng Cao Sơn sinh ra ở đạo Hồng Châu… Thế rồi đạo Hồng Châu chọn ông Cao Sơn đi dự tuyển. Khi nhà vua thấy ông ứng đối lưu loát, có tài văn võ, là người có năng lực tài cao. Vua bèn cho ông Cao Sơn quản quân sự, làm Đô chỉ huy sứ Tả đạo Tướng quân…. Vua nghe vậy rất vui mừng, bèn gọi ông Cao đến giao cho 5 ngàn quân, trước tiên đi tuần… Khi đó Sơn Thánh cùng với ông Cao tiến quân đến đồn giặc Thục ở xứ Sóc Sơn đạo Bắc Kinh, đánh một trận lớn… Lại ban cho ông Cao Sơn về thực ấp ở đạo Kinh Bắc. Ông bái tạ, trở về nơi trị nhậm. Khi đó đương trời mùa thu, ông ngồi ở trong doanh trại. Bỗng thấy trời đất mù mịt, mây mù nổi lên như hình dải lụa đỏ. Thấy ông Cao Sơn bay ra theo mây, tới núi Đào Động đạo Thái Nguyên thì không thấy nữa, tức là ông đã hóa.

Câu chuyện Cao Sơn đánh Thục trong sử Việt là việc Sùng Hầu Hổ chống lại Chu Văn Vương, mà kết thúc là Văn Vương chiếm được đất Sùng, lập Phong kinh ở đó. Truyền thuyết Việt kể thành Thục Vương được vua Hùng nhường ngôi liền về Phong Châu đóng đô, lập đền miếu thờ các vua Hùng. Nước Sùng – Phong Châu chính là đất gốc tổ của Trung Hoa, mà giáp cốt văn gọi là “Tông hầu”, là nơi khởi phát của dòng họ Hùng từ thời Đế Minh Hữu Hùng Hoàng Đế Hiên Viên thống trị vạn bang chư hầu thiên hạ.

Dòng họ Hùng truyền qua thời Nghiêu Thuấn, qua thời Hạ từ Đại Vũ, rồi Thương Ân, được ngọc phả Hùng Vương chép là 18 đời vua Hùng. Sùng Hầu Hổ là thủ lĩnh vùng đất tổ họ Hùng và được kể dưới tên Cao Sơn Đại vương trong cuộc chiến chống Thục Vương (Chu Văn Vương).

Đất Sùng là đất gốc tổ “Tông hầu” nơi Thái tổ Đế Minh mở nước bên dãy Thái Sơn, Đế Thuấn đi cày ở Lịch Sơn, Đại Vũ trị thủy ở Long Môn núi Tản, Lạc Long Quân dựng Thủy quốc bên đầm Xác Cáo, Sùng Hầu Cao Sơn phò giúp Duệ Vương, cũng là nơi Thục Vương Cơ Xương khởi đầu nước Văn Lang.

Cao Sơn Đại vương trong Nhất thành khả cách chân kinh.
Đình Lỗ Hạnh, Hiệp Hòa, Bắc Ninh, nơi thờ Cao Sơn Đại vương đánh Thục thời Hùng Duệ Vương.
Tranh tố nữ ở đình Lỗ Hạnh.

Bạn có biết: Kinh Dương Vương là vua Đại Vũ trị thủy ở sông Đà

Kinh Dương Vương, vị vua mở đầu thời kỳ dựng nước của người Việt chính là Tản Viên Sơn Thánh trong huyền sử Việt và được thờ cúng ở khắp nới tại nước ta. Tản Viên Sơn Thánh chống chọi với cơn hồng thủy hàng ngàn năm trước cũng là vua Đại Vũ, người đã trị thủy thắng lợi thời Đường Nghiêu – Ngu Thuấn trong lịch sử Hoa Hạ.

Tản Viên Sơn Thánh ở đền Thể Giao (Hà Nội)

1. Vua Vũ trị thủy ở Long Môn Thác Bờ trên sông Đà

Truyền thuyết cổ đại kể rằng, thời Đường Nghiêu hồng thủy mênh mông, nước ngập tới lưng trời. Vua Đại Vũ đi xem xét các nơi rồi đến đoạn hiểm trở nhất của sông Hắc Thủy, đục đá phá mỏm núi chắn ngang sông, khơi thông nước lũ. Nơi Đại Vũ phá đá trị thủy gọi là Vũ Môn. Vũ Môn có nước chảy xiết, hằng năm cá chép tập trung đến đây, con nào vượt qua được Vũ Môn thì hóa rồng. Nên nơi đây còn gọi là Long Môn hay Vũ Long Môn.

Đối với người Việt, cá vượt Vũ Môn là hình tượng rất thân thuộc, đã đi vào thơ văn, vào tranh dân gian, vào các mảng chạm khắc trang trí trong các đình làng quê lối xóm. Người Việt có câu ca dao:
Mồng bốn cá đi ăn thề
Mồng tám cá về cá vượt Vũ Môn.
Vũ Môn là nơi nào mà ca dao người Việt lại nói tới rõ ràng cả ngày tháng như một phong tục lâu đời vậy?

Sách Hà Nội địa dư do Dương Bá Cung soạn năm Tự Đức thứ 4 (1852) phần Sông Nhị Hà viết: … Có tên là Lô Giang hay còn gọi là sông Phú Lương. Nước sông cuốn theo phù sa sắc đỏ như son, tới mùa thu nước mới trong trở lại. Dòng sông bắt nguồn từ nội địa bên Vân Nam chảy xuống. Xét: sách Vũ Cống nói: “Dẫn nước sông Hắc Thủy đến núi Tam Nguy chảy nhập vào biển Nam Hải”. Nhà nho đời trước nói: “Có bốn dòng sông vùng Tây Di chảy về phương Nam ra biển, thứ nhất là Tây Nhị Hà”. Quế Đường Lê (Quý Đôn) viết: “Phủ Xa Lý có sông Lạn Thương và sông Cửu Long đều chảy vào Giao Chỉ, trở thành sông Phú Lương, tức là hạ lưu của sông Hắc Thủy vậy. Nước sông chia thành hai dòng chảy: một là sông Thao, một là sông Đà, hợp lưu ở ngã ba Bạch Hạc, gọi là sông Nhị Hà…

Tương tự, sách Hà Nội sơn xuyên phong vực thời Nguyễn cũng chép về sông Nhĩ Hà: Xét thiên Vũ Cống sách Kinh Thư có câu: “Dẫn nước sông Hắc Thủy đến núi Tam Nguy rồi ra biển Nam Hải”. Sái Phó dẫn lời của Phàn Xước đời Đường: “Có bốn dòng sông từ Tây Di chảy về phương đổ ra biển Nam Hải, một trong số đó là Tây Nhĩ Hà”. Ông Trình Tử nói: “Sông Hắc Thủy ở phía Tây đất Thục. Sông Nhĩ Hà và sông Hắc Thủy nối liền nhau, đổ thẳng ra biển Nam Hải”. Tra cứu sách Địa dư chí thì sông Nhĩ Hà bắt nguồn từ nội địa tỉnh Vân Nam. Vân Nam là đất Ba Thục xưa. Tra sách vở, bản đồ thấy phần đất nước ta nằm cách sông Hắc Thủy về phía Tây, như vậy là khớp với tên sông Nhĩ Hà nêu trên.

Các nhà Nho thời Nguyễn khi khảo cứu về sông Nhị Hà thường liên hệ với câu trong thiên Vũ Cống của Kinh Thư: “Dẫn nước sông Hắc Thủy đến núi Tam Nguy rồi ra biển Nam Hải”, và cho rằng Hắc Thủy đây là ngọn nguồn từ Vân Nam của sông Nhĩ Hà hay sông Hồng ngày nay. Vấn đề là thiên Vũ Cống nói về thời vua Đại Vũ của nhà Hạ Trung Hoa từ cách đây trên 4000 năm. Thế mà sao lại có nói đến con sông chảy qua Việt Nam và còn biết cả biển Nam Hải? Hạ Vũ ở chỗ nào mà có sông đổ ra biển Nam Hải (tức biển Đông)?

Không chỉ các nhà Nho nước Nam thời Nguyễn. Sách Đại Việt địa dư toàn biên của Nguyễn Văn Siêu – Bùi Quý (đầu thế kỷ 19) có bài Khảo cứu về nguồn lạch sông Nhị Hà, dẫn các tư liệu của Trung Quốc: Sách Lý Nguyên Dương Hắc thủy khảo chép rằng: Vũ Cống nói rằng: “dẫn nước sông Hắc Thủy đến núi Tam Nguy chảy vào biển”. Núi Tam Nguy chẳng biết ở đâu, cứ Lũng, Thục, Điền (Vân Nam) ba phương đứng chân đỉnh thì nước ở Lũng, Thục vốn không chảy vào biển. Duy 2 sông Lan Thương, Lô Giang ở tỉnh Vân Nam (Điền) đều phát nguyên từ Thổ Phồn chảy về phía Tây Bắc rồi chảy vào Nam Hải…

Hắc Thủy là dòng sông mà Đại Vũ đã khơi dòng trị thủy từ thủa hồng hoang. Vậy mà dòng sông này lại được xác định là thượng lưu của sông Nhĩ Hà (sông Hồng). Như thế rõ ràng Đại Vũ trị thủy chẳng phải ở đâu xa mà chính là ở vùng đất Bắc Việt ngày nay. Chỉ vì các chuyên gia sử địa cả ta và Trung Quốc không chịu nhìn nhận điều này nên mới vô cùng lúng túng khi so sánh cổ thư để khảo về dòng Hắc Thủy đổ ra biển Nam Hải. Đại Vũ mà trị thủy ở vùng trung lưu Hoàng Hà thì lấy đâu ra biển mà đổ (vì sông Hoàng Hà chảy lòng vòng ngược lên phía Bắc đổ ra biển Bột Hải), chưa nói gì còn đổ ra tận biển Đông (Nam Hải).

Nhà bác học Lê Quý Đôn trong sách “Kiến văn tiểu lục” đã ghi: “Dòng chính có một nhánh chảy xuống thành sông Hắc Thủy vào nước ta… đến sông Kim Tử thì nhập lại thành sông Đà. Sông này nước rất trong… Đường thủy khó đi với 83 ghềnh thác có tiếng hiểm trở mà Vạn Bờ là khó khăn hiểm trở nhất.

Còn nhà thơ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, người mà quê hương và bút danh gắn với vùng núi Tản sông Đà có bài thơ “Tự thuật” như sau, minh chứng cho tên Hắc Thủy (sông Đen) của dòng sông Đà:
Văn chương thời nôm na,
Thú chơi có sơn hà,
Ba Vì ở trước mặt,
Hắc Giang bên cạnh nhà.

Long Môn, nơi vua Vũ đã đục thông lòng sông Hắc Thủy, khơi dòng dẫn nước qua núi Tam Nguy về Nam Hải, là đoạn sông Đà chảy qua Thác Bờ nay ở tỉnh Hòa Bình, rồi vòng qua núi Ba Vì mà chảy vào sông Nhị Hà ra biển. Sách Đại Nam nhất thống chí đã chép như sau: “Ở địa phận Đà Bắc, gần châu lị, đằng trước trông ra sông Đà, có núi Long Môn, tên nữa là núi Thác Bờ, đá núi chắn ngang nửa dòng sông, thế nước xoáy mạnh ầm ầm, trông rất dữ dội. Đầu đời Lý, quân đi đánh Ma Sa đóng ở mỏm Long Thuỷ. Hồi đầu đời Lê đi đánh Đèo Cát Hãn, đường qua bờ Long Thuỷ, tức là chỗ này. Ngay giữa ghềnh đá có một chỗ rộng chừng 5-6 trượng, người ta gọi là Ao Vua, tức là bến sông Vạn Bờ xưa, thuộc xã Hào Tráng, châu Đà Bắc.”

Mỏm đá có bài thơ “Chinh Đèo Cát Hãn hoàn quá Long Thủy đê” (Chinh phạt Đèo Cát Hãn về qua bờ Long Thủy) của Lê Thái Tổ đề khắc tháng ba năm Nhâm Tý (1432) nay vẫn còn lưu trong khu di tích đền Thác Bờ. Đây là những minh chứng rõ ràng cho tên gọi Long Môn xưa của Thác Bờ trên sông Đà. Thác Bờ ở Hòa Bình xưa còn gọi là thác Vạn Bờ, được tạo bởi hàng trăm mỏm đá lớn nhỏ nhấp nhô như đàn voi khổng lồ giữa dòng sông Đà gầm thét ồn ào, sinh ra một kỳ khu hiểm lộ.

Sách Đại Nam nhất thống chí đã chép như sau: “Ở địa phận Đà Bắc, gần châu lị, đằng trước trông ra sông Đà, có núi Long Môn, tên nữa là núi Thác Bờ, đá núi chắn ngang nửa dòng sông, thế nước xoáy mạnh ầm ầm, trông rất dữ dội. Đầu đời Lý, quân đi đánh Ma Sa đóng ở mỏm Long thuỷ, hồi đầu đời Lê đi đánh Đèo Cát Hãn, đường qua đê Long thuỷ, tức là chỗ này. Ngay giữa ghềnh đá có một chỗ rộng chừng 5,6 trượng, người ta gọi là “ao vua”, tức là bến sông Vạn Bờ xưa thuộc xã Hào Tráng, châu Đà Bắc”…lại có tên núi nữa là núi Ngải.
Sách Đại Thanh nhất thống chí chép: “núi ở huyện Gia Hưng; trông ra sông cái…tương truyền trên núi có cây ngải tiên, mùa xuân nở hoa, sau khi mưa, hoa rụng xuống nước, con cá nào nuốt phải hoa ấy thì vượt được Long – môn mà hoá thành rồng. Nay núi Long môn châu Đà Bắc, trước mặt trông ra sông Đà, gần đê Long thuỷ, có lẽ là đấy”.

Như vậy, Thác Bờ trên dòng sông Đà còn có tên là Long Môn, là nơi có truyền thuyết “Cá vượt Vũ môn hóa rồng”. Vũ môn không phải là “cửa mưa” mà là cửa của vua Vũ (= Vua = Long). Long Môn hay Vũ Môn chính là nơi vua Đại Vũ nhà Hạ trị thủy, khơi thông dòng Hắc Thủy (tên khác của sông Đà) thời lập quốc người Việt Long Môn là nơi dòng sông Đà đổi dòng, chảy ngược lên phía Bắc để tránh dãy Ba Vì rồi đổ vào sông Thao và sông Lô tại ngã ba Bạch Hạc Việt Trì.

Còn theo các tư liệu như sách Giao Châu ký nói: “Có Long Môn (Cửa Rồng) nước sâu trăm tầm (phép đo đời nhà Chu 5 thước là một tầm), cá lớn vượt lên được đó thì thành rồng”. Sách Sơn Đường dị khảo nói: “Sông Long Môn ở huyện Gia Hưng, nước An Nam, nước sông đến đó, hai bờ cao ngất, đá lớn chấn ngang dòng sông, giữa mở 3 lối, nước tóe xuống như bay, cao mấy trượng, tiếng nước dội xuống, tiếng đá đập nhau kêu ầm ầm như trống thúc sấm vang, ngoài trăm dặm còn nghe tiếng. Thuyền đến đó, phải khiêng lên bờ mới đi được. Bên cạnh có hang và nhiều cá Anh Vũ. Chỗ sông sách kể đây tức là chỗ Thác Pha này đó”.

Núi Tam Nguy nơi sông Hắc Thủy dẫn nhập ra biển thời Đại Vũ cũng không phải ở Vân Nam. Khi xác định Long Môn là thác Vạn Bờ trên dòng sông Đà thì núi Tam Nguy không khó để nhận ra chính là ngọn núi Ba Vì, ngọn núi đã chắn dòng sông Đà ở Sơn Tây trước khi đổ ra ngã ba Bạch Hạc, Việt Trì.

Thời Đại Vũ cách đây trên 4000 năm, khi đó mực nước biển dâng cao hơn bây giờ. Căn cứ theo bậc thềm phù sa cổ để lại thì cửa sông đổ ra biển lúc này nằm vào sát vùng trung du ngày nay. Tam giác đồng bằng sông Hồng lúc đó là vùng bán ngập nước mà đỉnh của tam giác này là ngã ba Việt Trì. Do đó thời Đại Vũ ngã ba sông Bạch Hạc nằm không xa biển là bao nhiêu. Như thế câu chép của thiên Vũ Cống hoàn toàn chính xác với địa hình thủy văn ở vùng Bắc Việt lúc này: Dẫn nước sông Hắc Thủy đến núi Tam Nguy rồi ra biển Nam Hải. Tức là dẫn nước sông Đà đến ngã ba Bạch Hạc – Tam Đảo rồi ra biển Đông.

Bia đá có bài thơ “Chinh Đèo Cát Hãn hoàn quá Long Thủy đê” của Lê Thánh Tông ở Thác Bờ.

3. Vua Vũ là Tản Viên Sơn Thánh

Cuốn sách thờ cổ lưu truyền ở vùng chân núi Ba Vì là “Tản Viên Sơn từ di tích” có đoạn sau: “Thời Đường Nghiêu, hồng thủy bao trùm. Lạc Long Quân sai trăm người con trai cùng nhau trị thủy. Khi đó chỉ có Tản Viên đại vương có oai anh võ dũng, đức cao đạo lớn, có thuật thần tiên, bèn đọc ước chú làm cho đá vỡ tung, hiện thành cây gậy sắt, lấy gậy đó mà chỉ vào nước thì nạn thủy tai liền hết.”

So sánh đoạn sự tích này với truyền thuyết Trung Hoa cổ đại thì bất ngờ nhận ra rằng vua Đại Vũ trị thủy thời Đường Nghiêu chính là Tản Viên Sơn Thánh ở vùng núi Ba Vì. Sông Hắc Thủy, nơi Đại Vũ dùng “thuật thần tiên” bạt đá trừ thủy hoạn, vốn là tên của dòng sông Đà.

Hắc Thủy chính xác là sông Đà vì Đà = Đen = Hắc. Thượng nguồn sông Đà từ Vân Nam. Dòng sông trị thủy của Đại Vũ là sông Đà nên Đại Vũ chẳng phải ai khác chính là Tản Viên Sơn Thánh trong truyền thuyết Việt. Tản Viên quê ở Lăng Xương (Thanh Thủy, Phú Thọ) và thành nghiệp ở núi Ba Vì, đều là những nơi ở 2 bên tả và hữu ngạn dòng sông Đà – Hắc thủy này cả. Dòng sông Đà chảy tới ngã ba Bạch Hạc (Việt Trì) đổ nhập vào với sông Thao và sông Lô thành sông Hồng (Nhị/Nhĩ Hà hay Phú Lương), rồi chảy ra biển.

Sách “Kiến văn tiểu lục” của Lê Quý Đôn còn chép: “Thác Bờ ở địa phận động Dĩ Lý và Hào Trang thuộc Mộc Châu. Một ngọn núi đứng sững giữa dòng sông Đà. Đá lớn lởm chởm. Mỗi năm đến ngày 8 tháng 4 từng đàn cá ngược dòng bơi lên những chỉ có vài con cá chép là lên được. Sách Giao Châu ký viết rằng: Có Long Môn nước sâu đến trăm tầm, cá lớn vượt lên đến đấy sẽ hóa thành rồng. Sách Sơn Đường dị khảo viết: Sông Long Môn ở huyện Mông, phủ Gia Hưng, nước An Nam. Nước sông chảy đến đấy thì hai bên bờ đá lớn chắn ngang, nguy hiểm. Ở giữa mở ra ba đường, nước tung tóe, bay xa đến mấy trượng, ầm ầm như sấm dội trống vang, xa hơn trăm dặm mà vẫn còn nghe được. Đến đây thuyền phải kéo lên bờ mới đi được. Bên cạnh có hang lắm cá Anh Vũ. [Chỗ các sách trên nói tới] chính là đây… Hạ lưu của Vạn Bờ… có núi Ngải, ngó xuống sông Đà. Bờ bên kia là xứ Ngòi Lạt. Tương truyền trên núi có thứ cây ngải tiên, về mùa xuân hoa trôi xuống sông, đàn cá nào hớp được là lên được Long Môn hóa rồng.” 

Vũ Long Môn là Thác Bờ trên sông Đà, nơi Tản Viên Sơn Thánh đã khơi dòng trị thủy. Xứ Ngòi Lạt là quê hương của Sơn Thánh, nằm 2 bên bờ sông Đà ở đoạn giáp núi Ba Vì. Truyền thuyết ở Ba Vì kể Ngòi Lạt là đường nước mà Thủy Tinh đã mở để đánh tập hậu vào mặt Tây núi Tản. Nơi đây Sơn Tinh dùng lạt hóa ra lũy tre, cắm chông đá (Đá Chông) để chặn quân của Thủy Tinh. Cửa Ngòi Lạt chảy từ núi Tản ra sông Đà nay là Xóm Lặt, nơi có đền Hạ thờ Tản Viên Sơn Thánh ở xã Minh Quang, huyện Ba Vì. 

Hình tượng cá vượt Vũ Môn là một lời thề, là tấm gương ngàn năm của Tản Viên Sơn Thánh, vị vua lớn thời lập quốc, đã tìm tòi sáng tạo ra những tri thức về thế giới và nhân sinh (Hà đồ, Ngũ hành), nhờ đó nỗ lực vượt qua thiên tai, xây dựng cuộc sống ấm no cho nhân dân, đưa xã hội người Việt ở thủa hồng hoang phát triển lên một nấc thang mới.

So sánh với chuyện vua Vũ trong thần thoại Trung Hoa: “… Vũ đang đứng trên bờ quan sát sức mạnh của dòng nước thì thấy một ông già mặt trắng trẻo, mình cá, nhảy lên từ dòng sông… Ông già tự xưng là Hà Bá. Vị thần này cho Vũ một phiến đá to màu xanh… Đó chính là Hà đồ”. Rồi tiếp theo còn có chuyện Vũ gặp một con rắn thần ở trong hang, rắn dẫn Vũ tới gặp Phục Hy và Phục Hy trao cho Vũ một thanh Ngọc giản, có thể đo đạc được trời đất.

Chuyện Sơn Tinh được gậy thần sách ước và chuyện Đại Vũ được Hà đồ, Ngọc giản chỉ là một. “Ông già mặt trắng” có thể chính là Thái Bạch Thần Tinh. Thái Bạch = Thái Hạo (Hạo là sáng, bạch), cũng là tên khác của Phục Hy trong truyền thuyết. Phục Hy tương truyền có mình rắn. Phục Hy là người tìm ra Bát quái nên hoàn toàn có thể Phục Hy chính là Thái Bạch Tử Vi thần tướng. Phục Hy là vị thần chấn Đông nên cũng có thể là Long Vương Động Đình.

Theo truyện Dịch thì Phục Hy là người đã chép Hà đồ từ lưng con Long Mã (= con rồng, rắn thần). Còn vua Vũ vẽ Lạc Thư từ lưng con Thần Quy. Có thuyết khác lại cho rằng cả Hà đồ lẫn Lạc thư đều do Đại Vũ nghĩ ra. Dù thế nào thì rõ ràng phép thần của Tản Viên Sơn Thánh chính là Hà Lạc, được tiếp thụ từ tiền nhân và sáng tạo thêm trong quá trình trị thủy.

Nhờ có sự học hỏi, suy ngẫm về thế giới và xã hội, đúc kết nó trong cuốn Sách ước ngàn đời là Hà thư, Kinh Dương Vương – Tản Viên Sơn Thánh đã thành công trong trị thủy, an dân, chống giặc. Đó cũng là ý nghĩa của câu “Long hóa Vũ Môn”, cá vượt Vũ Môn hóa rồng, như bức giả sơn đắp tại đền Và.

Lĩnh Nam chích quái, Truyện núi Tản Viên: “Đại vương Sơn Tinh họ Nguyễn, cùng vui với các loài thủy tộc ở đất Gia Ninh, huyện Phong Châu”. Còn “Việt sử lược” về sự thành lập của nước Văn Lang: “Đến thời Trang Vương nhà Chu ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng ảo thuật áp phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang, hiệu là nước Văn Lang, phong tục thuần hậu chất phác, chính sự dùng lối kết nút. Truyền được 18 đời đều gọi là Hùng Vương”.

Tới đây ta hiểu, “người lạ dùng ảo thuật ở bộ Gia Ninh” đã áp phục các bộ lạc chính là Tản Viên Sơn Thánh, người đã tập hợp nhân dân Việt trong cuộc đấu tranh chống nạn hồng thủy. Phép “ảo thuật” ở đây không gì khác là Hà đồ và Lạc thư, là Dịch học của người họ Hùng. Quốc tổ họ Hùng không phải là một thầy phù thủy, mà là một nhà khoa học vào thuở bình minh của dân tộc.

Giả sơn Long hóa Vũ môn ở đền Và, Sơn Tây.

3. Kinh Dương Vương là vị Nam Thiên Thánh Tổ Tản Viên Sơn Thánh

Truyện họ Hồng Bàng chép: “Kinh Dương Vương để trị đất Nam, lấy hiệu nước là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương có tài đi dưới Thủy phủ, lấy con gái Long Vương ở hồ Động Đình, sinh ra Sùng Lãm hiệu là Lạc Long Quân, cho nối ngôi trị nước. Kinh Dương Vương không biết đi đâu mất.

Kinh Dương Vương được Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả thời Lê Đại Hành xếp là vị vua Hùng đầu tiên (Hùng Dương Vương), mở đầu các đời Hùng Vương. Các ngọc phả thời Hậu Lê cũng thường có bài thơ tán mở đầu rằng: “Sơ khai Nam Việt hữu Kinh Dương”. Còn Tản Viên Sơn Thánh cũng là một trong số những người con đã theo cha xuống biến, tương đương với thời đầu của các đời Hùng Vương, như Lĩnh Nam chích quái chép: Theo sách Thế Pháp tập thì: Xưa Lạc Long Quân và Âu Cơ sinh một bọc trăm trứng, mỗi trứng nở ra một người con trai. Long Quân đem 50 con về dưới bể. 50 con cùng ở với Âu Cơ phân nhau trị thiên hạ, hiệu là Hùng Vương. Mà đại vương núi Tản Viên chính là một trong năm mươi người con đi xuống bể, không phải là hạo khí của núi tụ nên vậy.

Tản Viên Sơn Thánh ở các di tích thờ phụng hiện nay (như ở đền Và, Sơn Tây, Hà Nội) được tôn là Nam Thiên Thánh Tổ. Vị Thánh Tổ khai mở trời Nam cũng chính là Kinh Dương Vương, người đã được vua cha Đế Minh phong cho cai quản phương Nam theo Truyện họ Hồng Bàng. Tản Viên Sơn Thánh đã được người mẹ nuôi là Ma Thị Cao Sơn Thần nữ lập chúc thư giao lại toàn bộ miền rừng núi cho cai quản. Bà mẹ Ma Thị Cao Sơn như vậy tương ứng với tên Cao Sơn (Ất Sơn) của Lộc Tục Đế Thuấn như đã trình bày trong bài trước.

Kinh Dương Vương vâng mệnh vua cha (Đế Minh) đi tuần thú ở Ngũ Lĩnh, làm vua phương Nam. Còn Tản Viên Sơn Thánh cũng có một vùng di tích được gọi là Ngũ hành cung Tản Viên ở miền Sơn Tây. Tản Lĩnh ngọc ký (ngọc phả về Tản Viên Sơn Thánh) chép: [Sơn Thánh] khi đó hoặc dạo chơi trên sông Tiểu Hoành, ngắm cảnh thú vị sông nước mênh mang. Đi qua đất các xã Cổ Đằng, Tam Sơn, Vật Lại, huyện Ma Nghĩa, ngắm nhìn vẻ đẹp núi sông, lập làm hành cung (nay là điện Trung thần cung). Lại đi qua 8 xã Thụy Diễm, Tam Sơn, Lễ Toàn, Nhân Lý, Văn Khê, Xuân Hương, An Phúc, Tùng Cao của huyện Phúc Lộc, lập thêm Nam thần cung ở cửa 12 khe của Bể Cạn. Lại thường đi săn tới xã An Diệu, huyện Mỹ Lương, lập cung điện Mang Sơn, rồi giữ ruộng thờ (72 mẫu nay tại xã An Diệu, và 200 mẫu nay ở xã Đông Triều làm dân tạo lệ) để cung cấp cho hậu thế làm hương lửa phụng thờ. Đến khi về đến núi Tản Viên. Động cũ là nơi đất này, ba ngọn núi vượt lên, vạn nhẫn cao vời, tốt đẹp u sảng, khó có thể tả hết. Lại thêm xóm thôn đông đúc, phong tục chất phác. Sơn Thánh rất yêu mến, bèn thiết lập trên đỉnh núi, thuộc đất Thủ Pháp 22 xóm (nay Thượng thần cung tọa Càn hướng Khôn là chính điện; Trung, Hạ thần cung là nơi cầu đảo; Đông thần cung là nơi yết kiến; Nam thần cung, Bắc thần cung là nơi trú ngự). Từ đó tuân mệnh Thượng Đế thường cùng với Tứ phủ Công đồng ở hải đảo mà đi tuần xem vạn sự trong nhân gian.

Hùng Vương Thánh Tổ ngọc phả thời Nguyễn chép: Ngày sau Vua (Kinh Dương Vương) lại đi tuần thú, rong ruổi xem khắp các nơi sông núi, đến xứ Sơn Tây thấy một nơi địa thế trùng điệp, sông đẹp núi lạ, non nước đúc thiêng. Vua bèn thân ngự giá lên núi, tìm mạch đất, nhận thấy khí mạch từ núi Côn Lôn xuất ra, theo từ động Vân Nam, Ngũ Lĩnh của nước lớn tiếp gặp Ải Môn Thủy Đỗ của sông Ngưỡng Đức, nước phân ra như hình chữ Bát…

Sự kiện Kinh Dương Vương đã đến vùng “Sơn Tây” nhìn thế đất, chọn long mạch và lập ra kinh đô tại Phong Châu, cũng là Tản Viên Sơn Thánh đã lập hành cung ở Ngũ Lĩnh. Dấu vết của cuộc đi tìm đất đóng đô này còn lưu tại di tích đình Cả Cao Bang ở vùng đất tổ tại thị xã Phú Thọ. Tại đình có bức hoành phi khác đề: Nguyên quốc Việt quang cơ, tạm dịch là: Rạng nền móng ban đầu của nước Việt. Ở đình còn sự tích rằng vua Hùng đã dừng chân tại đây, bên bờ sông Thao mà suy ngẫm và quyết định đóng đô tại Phong Châu. Nay ở đình Cả Cao Bang còn có phiến đá in sâu 2 dấu chân vua Hùng chọn đô.

Đình Cả Cao Bang còn có một bức đại tự, trước làm bằng đá đã bị hủy hoại trong chiến tranh, nay được làm lại bằng gỗ đề: Khởi bang thư vương. Tương truyền nơi đây là nơi Vua Hùng đã nhận được “Sách trời” để khởi dựng đất nước. Do vậy đình Cả Cao Bang còn gọi là đình Thư. Sự kiện vua Hùng (tức là Kinh Dương Vương) có được cuốn Thiên thư lại tương đồng với chuyện Tản Viên Sơn Thánh có được cuốn Sách ước của Long Vương Động Đình. Chính cuốn sách ước này đã giúp cho Sơn Thánh giành thắng lợi trong cuộc chiến với Thủy Tinh, tức là trong công cuộc trị thủy khi đó.

Điểm tương đồng khác để xác nhận rằng Kinh Dương Vương cũng là Tản Viên Sơn Thánh là việc Kinh Dương Vương có tài đi dưới Thủy phủ rồi lấy Thần Long, con của Động Đình Đế Quân. Còn Tản Viên Sơn Thánh khi ở bãi Trường Sa bên sông Đà đã cứu được con rắn thần là con của Long Vương Động Đình. Sau đó Long Vương mời Sơn Thánh xuống thăm Thủy cung và tặng cho cuốn sách ước, cho con của mình là Thủy Tinh kết bạn, tiễn Sơn Thánh về bằng bài thơ đầy tấm chân tình tương tư:

Không gặp làm sao có kiếp sinh
Khi đi là nghĩa, về là tình
Quay lên đỉnh Thứu, người còn vọng
Trở lại cung Rồng, khách chẳng đành
Một dải âm dương đôi tách ngả
Chín trời mây nước mộng ba canh
Tạm biệt cửa sông hai mắt dõi
Tương tư chốn ấy bởi xa tình.

Sự trùng khớp về thời gian (thời đầu Hùng Vương), tên gọi (Nam Thiên Thánh Tổ), khu vực cai quản và lập đô thành (Sơn Tây, Ngũ Lĩnh), phép thuật (Thiên thư – Sách ước) và cùng lấy con của Động Đình Đế Quân đã chứng minh rõ ràng rằng Kinh Dương Vương, vị vua Hùng mở đầu thời kỳ Kinh triều, đã được người Việt tôn thờ dưới tên là Tản Viên Sơn Thánh. Cùng với việc vua Đại Vũ trị thủy ở Long Môn Thác Bờ trên dòng sông Đà Hắc thủy thì thật rõ ràng Kinh Dương Vương vị vua đầu của Kinh triều Hùng Vương cũng là vua Đại Vũ, người được coi là mở đầu Hoa Hạ trong lịch sử.

Hoành phi Nam Thiên Thánh Tổ ở đền Và, Sơn Tây.
Dấu chân vua Hùng lập đô ở đình Cả Cao Bang, Tx. Lâm Thao, Phú Thọ.
Tượng cổ Tản Viên Sơn Thánh ở đền Đỗng Hoa, Thạch Thất, Hà Nội.
Núi Tản và dòng sông Đà.

Bạn có biết: Lộc Tục và Kinh Dương Vương là 2 vị vua Hùng mở nước trời Nam

Truyện họ Hồng Bàng chép: “Đế Minh cháu ba đời họ Viêm Đế Thần Nông sinh ra Đế Nghi, sau nhân đi tuần về phía Nam đến núi Ngũ Lĩnh lấy được con gái bà Vụ Tiên rồi trở về, sinh ra Lộc Tục. Tục dung mạo đoan chính, thông minh phúc hậu, Đế Minh rất lấy làm lạ, muốn cho nối ngôi mình. Lộc Tục cố từ, xin nhường cho anh. Đế Minh liền lập Nghi làm kẻ nối ngôi để trị đất Bắc. Lại phong Lộc Tục là Kinh Dương Vương để trị đất Nam, lấy hiệu nước là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương có tài đi dưới Thủy phủ, lấy con gái Long Vương ở hồ Động Đình, sinh ra Sùng Lãm hiệu là Lạc Long Quân, cho nối ngôi trị nước. Kinh Dương Vương không biết đi đâu mất.

Truyện họ Hồng Bàng chỉ nói rằng Lộc Tục là Kinh Dương Vương, người đã “tuân mệnh vua cha” (Đế Minh) cai quản phương Nam. Tuy nhiên khi xem xét trên thực tế các di tích tín ngưỡng và thần tích về thời kỳ này thì có thể nhận ra có tới 2 vị vua mở nước Nam đều được gọi là Lộc Tục Kinh Dương Vương. Vị xuất hiện sớm hơn có thể gọi là Lộc Tục, còn vị xuất hiện sau gọi là Kinh Dương Vương.

Lộc Tục là con của Đế Minh và dòng Vụ Tiên ở vùng núi Ngũ Lĩnh, tức là Sơn thần trên vùng rừng núi. Như đã dẫn chứng trong bài trước, vị Lộc Tục này là một trong ba vị Hùng Vương Thánh Tổ, là Ất Sơn Thánh Vương của vùng đất tổ Phong Châu. Vị Lộc Tục này cũng là Đế Thuấn xuất xứ từ vùng núi Lịch ở Tuyên Quang, với các di tích thờ tự còn đậm đặc tại đây về việc ông đã mở mang sản xuất nông nghiệp, gieo mạ Bách Bung ở Lãng Sơn, cày ruộng bằng voi ở Lịch Sơn, làm đồ gốm, đánh bắt cá bên đầm Lôi Trạch.

Lộc Tục Đế Thuấn được Đế Nghiêu truyền ngôi theo lối truyền hiền và gả cho 2 công chúa là Nga Hoàng và Nữ Anh mà truyền thuyết vùng Phong Châu gọi là Hai cô Tiên Dung và Ngọc Hoa. Hai cô công chúa luôn được thờ cùng với ba vị Hùng Vương Thánh Tổ ở đền Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh cũng như ở các di tích khác của vùng đất tổ. Sự kiện này truyền thuyết Việt kể là chuyện vua Hùng kén rể mà Sơn Tinh lấy công chúa Ngọc Hoa. Ở nơi “lầu kén rể” xưa nay là chùa Hoa Long bên bến Việt Trì, có miếu thờ tượng hai công chúa Tiên Dung, Ngọc Hoa. Còn ở hai làng Vi và Trẹo (Vi Cương và Triệu Phú) ở thị trấn Hùng Sơn, là 2 làng gốc của đền Hùng trên núi Hy Cương, còn có lễ tục “Rước chúa gái”, tái hiện lại sự kiện công chúa con vua Hùng về nhà chồng là Sơn Tinh (tức Ất Sơn Lộc Tục).

Tấm bia Hùng Vương từ khảo đặt tại đền Thượng núi Hùng Nghĩa Lĩnh do tuần phủ Phú Thọ soạn năm Bảo Đại thứ 15 (1940) là tấm bia cho biết thông tin nhà Nguyễn lấy ngày 10 tháng Ba Âm lịch làm ngày quốc tế, giỗ tổ Hùng Vương. Tấm bia này khi nói về hai công chúa vua Hùng chép: “Chân núi phía Nam có miếu Giếng, thờ hai vị công chúa: Một là công chúa Tiên Dung con Hùng Vương thứ 3 (gả cho Chử Đồng Tử); một là công chúa Ngọc Hoa con Hùng Vương thứ 18 (gả cho Cao Sơn)”. Vị con rể vua Hùng lấy công chúa Ngọc Hoa ở đây không phải là Tản Viên Sơn Thánh mà là một vị khác, được ghi là Cao Sơn. Cao Sơn rõ ràng là tương ứng với vị Ất Sơn Lộc Tục.

Khi Lộc Tục Đế Thuấn mất, hai vị công chúa đã tuẫn tiết theo chồng ở sông Tương, trở thành hình ảnh “nữ trung Nghiêu Thuấn” trong văn học cổ. Di tích của sự kiện này là 2 ngôi đền 2 bên sông Lô, gần núi Lịch thờ 2 vị công chúa con vua Hùng là đền Thượng Núi Dùm và đền Hạ Tam Cờ tại thành phố Tuyên Quang. Bia đền Hiệp Thuận (đền Hạ Tam Cờ) do Thống đốc Hoàng Kế Viêm soạn năm Tự Đức thứ 28 ghi: “Thiên tử ban mệnh lớn, đền thờ Công Chúa Phương Dung nằm bên bờ sông phía Đông thành Tuyên Quang cùng sóng đôi tốt đẹp. Theo sử sách ở phía Bắc có dòng sông Tương đã đi vào lịch sử …“. Cùng với núi Lịch Đế Thuấn đi cày, sông Tương ở phía Bắc thành Tuyên thì lịch sử Lộc Tục ở miền Phong Châu đã trở nên rõ ràng.

Trong khi đó, vị vua có danh xưng là Kinh Dương Vương lại được thờ ở khu vực khác, với những sự tích công lao và sự nghiệp khác. Nói đến Kinh Dương Vương người ta thường nghĩ ngay đến lăng mộ ở Á Lữ (Thuận Thành, Bắc Ninh). Tuy nhiên ít người để ý rằng ở khu vực Thuận Thành Kinh Dương Vương có sắc phong gọi là Việt Nam Lạc Thị Đệ nhất. Sắc phong ở đền Á Lữ ghi: “Sắc chỉ Bắc Ninh tỉnh Siêu Loại huyện Á Lữ xã tòng tiền phụng sự Kinh Dương Vương miếu Khai sơ Sáng thủy Khởi minh Thùy hiến Uông nhuần Việt Nam Lạc Thị Linh ứng Trung đẳng thần…

Kinh Dương Vương được thờ ở vùng Bắc Ninh không phải trong bộ ba Hùng Vương Thánh Tổ mà trong bộ ba Việt Nam Lạc Thị gồm Việt Nam Lạc Thị Đệ nhất là Kinh Dương Vương, Việt Nam Lạc Thị Đệ nhị là Lạc Long Quân, Việt Nam Lạc Thị Đệ tam là Hùng Vương. Cách thờ này nhấn mạnh đến dòng họ Lạc gồm các Lạc Vương như trong thần tích vùng này chép:

Tổ thờ ở Á Lữ. Tổ đi chu du thiên hạ, kiến xem hình thế … Chợt thấy 3 con rồng, mình dài vài trượng, lưng to mấy vòng. Trên đỉnh đầu có ấn vàng. Trong ấn nổi lên 2 chữ LẠC VƯƠNG. Lối lên ở ngã ba sông. Cá, tôm, rùa, ba ba đi theo. Sóng to gió dữ không thể kể xiết. Sau đó một đi chơi vùng Đại Đoan (nay là Đại Bái – Đoan Bái sông), một đi chơi sông Nghi Tuyền (nay là Nghi An sông), một đi chơi sông Bình An (nay là Bình Ngô – Yên Ngô sông)… Dân bèn dựng miếu thờ…
Thủy thần ba vị tên chữ gọi là:
– Việt Nam Lạc Thị Đệ nhất Đại vương
– Việt Nam Lạc Thị Đệ nhị Đại vương
– Việt Nam Lạc Thị Đệ tam Đại vương.

Các di tích ở vùng Thuận Thành – Gia Bình thờ Việt Nam Lạc Thị có thể kể đến như:

  • Đình làng Đại Bái (Bưởi Nồi), Gia Bình nay được ghi là thờ Lạc Long Quân.
  • Đền làng Bình Ngô, Thuận Thành nổi tiếng với cuốn Hùng Vương ngọc phả, tức là thờ chính là Hùng Vương.
  • Đình làng Đoan Bái (Bưởi Đoan), cùng cụm di tích 4 làng Bưởi với làng Đại Bái, nay trở thành một nơi thờ đủ các vị thủy tổ Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Âu Cơ, Hùng Quốc Vương.
  • Đình làng Ngọc Xuyên (Bưởi Xuyên) thờ thần Bách Noãn.
  • Đình làng Đại Mão, Gia Bình, nơi thờ Tam vị Lạc Thị…

Nhiều thần tích thay vì nói đến triều Hùng Vương truyền 18 đời thì ghi là Kinh triều truyền 18 đời, tức là lấy Kinh Dương Vương là vị khởi đầu cho giai đoạn này. Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả soạn thời Lê Đại Hành cũng ghi Kinh Dương Vương là vị vua Hùng ở chi đầu (Hùng Dương Vương – chi Càn).

Điểm khác biệt khác giữa Kinh Dương Vương và Lộc Tục Đế Thuấn là việc Kinh Dương Vương lấy Thần Long Nữ con của Động Đình Đế Quân. Thần Long ở Động Đình hồ rõ ràng là dòng Thủy thần, khác hẳn với dòng Sơn thần như công chúa Ngọc Hoa ở vùng đất tổ. Thần tích Tiên Cát (Việt Trì, Phú Thọ) ghi:

Xưa Kinh Dương Vương vâng lệnh dẫn các tướng dời đến núi Nam Miên trấn giữ, chọn nơi hình thế thắng địa có để lập đô ấp, mới tới đất Hoan Châu (nay là xứ Nghệ An)… Bấy giờ khí xuân ấm áp, vô vàn cảnh sắc. Vua bản tính thích phong thuỷ bèn lên thuyền ngự tuần du ngoài biển, đi xem núi sông, trải xem hình đất nước, lạc ra ngoài biển. Bất giác thấy thuyền rồng đã thẳng đến xứ hồ Động Đình. Vua sai dừng thuyền, đứng lên xem, chợt thấy một người con gái lưng eo xinh đẹp, dung nhan tuyệt sắc, từ dưới đáy nước đi đến. Thật là một cuộc hội ngộ hiếm có xưa nay. Vua bèn sai chèo thuyền đến gần. Vua nói:
– Tiên nữ đẹp quá, từ đâu đến đây?
Thiếu nữ đáp:
– Thiếp tên là Thần Long, chính là con gái Động Đình Quân, ở trong thâm cung cửa ngọc, từ lâu đợi bậc anh hùng. Nay trời cho được gặp gỡ, nguyện được theo phụng hầu khăn túi.
Vua vui mừng đẹp ý, bèn dắt vào trong thuyền rồng. Vua cùng người con gái quay giá trở về thành đô, lập Thần Long làm chính cung.

Cuộc kỳ ngộ giữa Kinh Dương Vương và Thần Long Nữ mở đầu cho thời kỳ Kinh triều Lạc thị từ vùng sông nước Động Đình, khác hẳn chuyện vua Hùng kén rể Ất Sơn Lộc Tục cho công chúa Ngọc Hoa ở miền rừng núi. Ở giai đoạn Lộc Tục mới đang gọi là họ Hồng Bàng hay nước Nam bang. Còn đến Kinh Dương Vương lập quốc đã có tên nước Xích Quỷ. Xích Quỷ đọc thiết âm là Xủy – Thủy, chỉ rõ tính chất thủy thần của dòng Kinh Lạc. Bản thân Kinh cùng âm với kênh, Lạc là lạch hay nác, nước. Kinh triều Lạc thị là giai đoạn Thủy quốc (Xích Quỷ) trong thời đại Hùng Vương.

Câu đối ở đền Á Lữ:
Tương truyền Lĩnh động Tiên sinh Thánh
Tòng thử Viêm phương Quốc hữu Quân.

Tấm bia Hùng Vương từ khảo ở đền Thượng núi Hùng Nghĩa Lĩnh.
Đền thờ hai cô công chua sNgọc Hoa, Tiên Dung tại vị trí lầu kén rể xưa trong khuôn viên chùa Hoa Long (Việt Trì, Phú Thọ).
Dịch bia đền Hiệp Thuận (đền Hạ Tam Cờ) ở Tuyên Quang.
Đền Á Lữ (Thuận Thành, Bắc Ninh). Dòng chữ trên nghi môn Thủy tổ đài môn.
Sắc phong Kinh Dương Vương miếu Vietj Nam Lạc Thị ở đền Á Lữ, Thuận Thành, Bắc Ninh.
Ngai thờ Tam vị Việt Nam Lạc Thị ở đền Bình Ngô, Thuận Thành, Bắc Ninh.
Ngọc phi (vợ của Kinh Dương Vương) ở đền Tiên Cát (Việt Trì, Phú Thọ).

Bạn có biết: Đế Nghiêu, Đế Thuấn là các vị vua Hùng được thờ trên núi Hy Cương

Vua Thuấn đi cày voi trong trò diễn ở Tứ Xã.

Tam tự kinh, cuốn sách các sĩ tử Việt xưa học nằm lòng, ghi:
Đường Hữu Ngu, hiệu nhị Đế
Tương ấp tốn, xưng thịnh thế.

Nghĩa là:
Đường, Hữu Ngu là hai Đế
Cùng nhường đất, gọi thịnh thế.

Đường Nghiêu, Ngu Thuấn là hai vị Đế thời cổ đại của Trung Hoa, nối tiếp thời Hoàng Đế Hiên Viên. Nhưng thật bất ngờ khi biết rằng Đế Nghiêu và Đế Thuấn chính là 2 vị vua Hùng thứ 2 và thứ 3 được thờ cùng với vua Hùng thứ 1 như những vị quốc tổ Hùng Vương trên đền Hùng ở núi Hy Cương.

Kinh Thư chép: “(Vua Nghiêu) sai Hi Thúc đến Nam Giao, quan sát mặt trời di chuyển về phương Nam, ghi ngày Hạ chí.” Hi Thúc cũng là Đế Thuấn, người đã tuân mệnh Đế Nghiêu đi khai mở đất Nam Giao, xem thiên tượng mà đề ra lịch pháp. Nam Giao rõ ràng là chỉ vùng phía Nam của đất Việt xưa thời đầu Hùng Vương.

Bài thơ được coi là “tuyên ngôn độc lập” của nhà Nguyễn ở chính điện Thái Hòa trong kinh thành Huế:
Văn hiến thiên niên quốc
Xa thư vạn lý đồ
Hồng Bàng khai tịch hậu
Nam phục nhất Đường Ngu.

Nghĩa là:
Nước ngàn năm văn hiến
Cơ đồ vạn dặm đồng
Từ Hồng Bàng mở nước
Phục Nam một Đường Ngu.

Bài thơ trong câu cuối nói trực tiếp rằng cõi Nam mở nước Hồng Bàng là từ Đường Nghiêu, Ngu Thuấn.

Ca dao Việt và quan họ Bắc Ninh lời cổ có câu hát: 
Rủ nhau đi cấy xứ đương
Cấy cho vua Thuấn ở đồng Lịch Sơn.

Câu hát nói đến một điển tích có từ lâu đời là vua Thuấn đi cày ở núi Lịch: Nguyên cha của Thuấn là người hung bạo, không biện biệt được người hay kẻ dở, người đương thời đặt tên là Cổ Tẩu (người mù mắt). Mẹ của Thuấn mất sớm, Cổ Tẩu tục huyền với người đàn bà sau này sinh ra Tượng. Vì có lời gièm pha của người kế mẫu và đứa em ngỗ nghịch cùng cha khác mẹ, Cổ Tẩu không ưa Thuấn và định bụng giết đi. Biết thế, nhưng Thuấn vẫn giữ trọn chữ hiếu đối với cha và người dì ghẻ ác nghiệt, hòa thuận với đứa em độc ác, không một lời than oán. Khi cha bắt đi cày ở đất Lịch Sơn cốt tìm cách trừ đi, vì nơi đây có tiếng là nhiều thú dữ hay ăn thịt người. Nhưng tấm lòng hiếu thảo và hòa mục của Thuấn động đến lòng trời, cả đàn voi ra giúp Thuấn cày đất và muông chim vô số đáp xuống nhặt cỏ hộ. Thấy không hại được Thuấn, Cổ Tẩu và người dì ghẻ sai Thuấn đánh cá ở Hồ Lôi Trạch, nơi có nhiều sóng to gió lớn, nhưng khi Thuấn đến thì sóng lặng gió yên.

Liên quan đến sự tích vua Thuấn đi cày, ở Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ có hội làng Tứ Xã với trò Trám. Tứ Xã là nơi có các di chỉ khảo cổ học nổi tiếng thời Hùng Vương như Gò Mun, Đồng Đậu con, Gót Rẽ… Trò Trám ở Tứ Xã là trò trình nghề tứ dân Sĩ – Nông – Công – Thương, trong đó có vai một người diễn tích “vua Thuấn cày voi” với lời hát ca trù như sau:

Vốn tôi đây dòng dõi thần minh
Kẻ tên hiệu tôi là Ngu Thuấn.
Nghĩ cha mẹ tôi càng oán hận
Hận ở điều ăn ở không cân.
Em dượng tôi ngạo mạn bất nhân
Ân tôi phải dĩ nông vi bản.
Tôi cũng mong hữu gia hữu sản,
Nhác trông lên núi Lịch tốt thay
Ân tôi phải bắt voi cày núi đá.

Sách Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn cho biết xã Yên Lịch ở dưới núi cũng có miếu Đế Thuấn, 6 xã trong 1 tổng cùng phụng thờ. Ruộng này nằm ở phía bên phải xứ Ngòi Vực, rộng chừng 1 trượng, khá dài. Nước sông Lô mùa thu thường tràn vào. Tương truyền, ở bên bến sông này Đế Thuấn làm đồ gốm. Bên cạnh chỗ dân cư, có một cái giếng cổ, người ta cho là Đế Thuấn đào giếng ấy. Ở đó cũng có miếu Đế Thuấn, trước miếu có ruộng hè, rộng chừng vài mẫu, khá sâu. Người ta cho đó xưa là đầm Lôi, nơi Đế Thuấn đánh cá và cày ruộng.

Lịch Sơn, nơi Đế Thuấn cày ruộng, đào giếng, làm gốm, đánh cá không ở đâu xa mà ở ngay huyện Sơn Dương của tỉnh Tuyên Quang. Cũng sách Kiến văn tiểu lục chép tiếp: Núi Sáng là ngọn cao nhất trong dãy núi Lịch. Trên núi Sáng cũng có đền thờ Đế Thuấn. Đằng trước núi lại đột khởi một ngọn núi đất hơi thấp, đỉnh núi như hình ghế chéo, trong núi có chỗ rộng ước dăm sào, có thể gieo được trăm bung mạ. Tương truyền chỗ ấy Đế Thuấn cấy lúa, nhân dân mới gọi là Bách Bung.

Núi Sáng còn có tên là Lãng Sơn, nay thuộc huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc. Địa danh Yên Lịch xưa đến nay vẫn còn, trong tên thôn An Lịch của xã Đông Lợi (Sơn Dương, Tuyên Quang). Trước đây nơi này được gọi là tổng Yên Lịch, nằm dưới chân núi Lịch, là một vùng ruộng lúa chiêm ven sông Lô. Đây là đầm Sấm hay Lôi Trạch được nói đến trong truyền thuyết về Đế Thuấn.

Sách Kiến văn tiểu lục cho biết: Núi Lịch ở xã Yên Lịch huyện Sơn Dương, từ núi Sư Khổng ở huyện Đương Đạo mà chạy xuống, tới nơi đất bằng thì đột ngột nổi lên một ngọn núi có 5-6 đỉnh, giăng ngang ra chia thành một nhánh tới Lập Thạch là Lãng Sơn, một nhánh tới Tam Dương là núi Hoàng Chỉ. Trong núi Lịch ở đỉnh cao nhất có 5-6 chỗ bằng phẳng như đền đài, có động Đế Thuấn rất thiêng. Hoa quả trên núi người ta có thể hái ăn, nhưng không được mang đi. Ai mang đi sẽ bị lạc vào mê lộ, không thể ra được. Phía trên động Đế Thuấn có đền Đế Nghiêu, cúng bằng cỗ chay.

Ở An Lịch tới nay vẫn lưu truyền rằng trên núi Lịch có di tích của Đế Thuấn. Trên núi có một ao nước rộng chỉ 5-6m nhưng rất sâu, xung quanh có những cây quýt tươi tốt. Người dân địa phương kể, quả của cây này có thể hái ăn, nhưng nếu chỉ nhỡ cất một quả trong túi mang về thì sẽ như bị che mắt, đi vòng quanh 7 lần không ra được khu Ao Trời đó.

Đình An Lịch từ xưa thờ Ất Sơn Đại Vương, là vị vua Hùng thứ ba trong Tam vị Hùng Vương Thánh Tổ được thờ ở đền Hùng (gồm Đột Ngột Cao Sơn, Viễn Sơn và Ất Sơn Thánh Vương). Cũng ở vùng chân núi Lịch này còn có nhiều di tích thờ ba vị vua Hùng như đình Quang Tất, đình Thọ Vực và đền Ất Sơn.

Đình Quang Tất ở xã Hào Phú (Sơn Dương, Tuyên Quang) thờ ba vị vua Hùng là Cao Sơn, U Sơn và Ất Sơn. Cụ thủ từ đình Quang Tất cho biết, trước đây ở bên đình có 2 ông ngựa trắng và hồng bằng gỗ, đến ngày hội, dân làng kéo 2 ông ngựa này ra Mả Vua ở ngòi nước dưới chân núi Lịch để làm lễ. Vị vua có đền thờ trên núi Lịch cũng là một trong những vị vua Hùng được thờ ở đình. Tức là Đế Thuấn chính là Ất Sơn Thánh Vương, được thờ là quốc tổ ở đền Hùng.

Đặc biệt hơn nữa, không xa đình Quang Tất còn có ngôi đền cổ không biết từ bao giờ. Ngôi đền mang tên đền Ất Sơn. Đây thực sự là một điều bất ngờ, một bằng chứng đến hiển nhiên về vua Hùng Ất Sơn là Lịch Sơn Đế Thuấn. Đền Ất Sơn cũng giống như ở đình Quang Tất và Thọ Vực thờ 3 vị vua Hùng. Nơi đây còn giữ được lễ hội Cầu đinh cầu lão cổ xưa với nhiều trò tích diễn. Khi được hỏi vì sao đền có tên là Ất Sơn thì cụ thủ từ cho biết nơi đây vốn từng mang tên này, sau cách mạng mới đổi thành châu Tự Do. Tra lại địa bạ cũ thì ra nơi đây vốn là tổng Át Sơn. Những chữ Ất – Át – Út Sơn đều chỉ là một vị thần, vị vua Hùng thứ 3 trong Tam vị Thánh tổ Hùng Vương.

Những di tích thờ Hùng Vương ở chân núi Lịch ở Tuyên Quang cho phép xác định Ất Sơn Thánh Vương chính là Đế Thuấn. Như thế còn vị vua Hùng thứ hai Viễn Sơn hay U Sơn phải là Đế Nghiêu, người đã nhường ngôi cho Đế Thuấn. Nếu Đế Minh là vị vua Hùng thứ 1 Đột Ngột Cao Sơn thì rõ ràng Đế Nghiêu và Đế Thuấn là các vị vua Hùng tiếp theo, được truyền thuyết họ Hồng Bàng gọi tên là Đế Nghi và Lộc Tục. Tên hiệu của các vị này trong Hùng Vương Thánh Tổ ngọc phả là Hùng Hy Vương và Hùng Hi Vương (hoặc Hùng Anh Vương). Chữ Hy – Hi rõ ràng liên quan trực tiếp đến tích Đế Nghiêu “mệnh Hy Thúc trạch Nam Giao” trong Kinh Thư và liên quan tới tên ngọn núi Hùng là Hy Cương.

Tấm hoành phi đặt tại đền Giếng trên núi Hy Cương: “Nam quốc Anh Hoàng“. Anh – Hoàng là tên của hai vị Nga Hoàng và Nữ Anh, con của Đế Nghiêu đã được gả cho Đế Thuấn. Đây là dẫn chứng trực tiếp về quan niệm cho rằng 2 vị công chúa thờ trên đền Hùng là con của Đế Nghiêu và vợ của Đế Thuấn.

Ở các di tích trên vùng đất tổ Hùng Vương, 2 công chúa Ngọc Hoa, Tiên Dung thường được thờ bằng ban Hai Cô, hoặc trở thành 2 vị “thành hoàng”, thờ cùng với 3 vị Cao Sơn, U Sơn và Ất Sơn. Khu vực ven sông Lô của huyện Phù Ninh, Phú Thọ có tục thờ Ất Sơn và Hai Cô là bởi đây là nơi Đế Thuấn đã rước dâu qua sông, từ vùng kinh đô ở Việt Trì về miền quê núi Lịch ở Tuyên Quang. Như vậy 2 công chúa Ngọc Hoa và Tiên Dung ở vùng này chính là hai vị Nga Hoàng và Nữ Anh, con của vua Nghiêu.

Đế Thuấn đi cày ở Lịch Sơn là Ất Sơn Thánh Vương, vị vua Hùng thứ 3 trong Tam vị Thánh tổ Hùng Vương. Lịch cũng nghĩa là “lịch pháp”, liên quan đến lịch khắc trên lưng rùa. Trong sử Việt có chuyện họ Việt Thường cống lịch rùa cho vua Nghiêu như sau: “Đời Đào Đường, phương Nam có Việt Thường thị qua hai lần sứ dịch sang chầu, dâng con rùa thần; có lẽ nó được đến nghìn năm, mình nó hơn ba thước, trên lưng có văn khoa đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở mang trở về sau. Vua Nghiêu sai chép lấy, gọi là quy lịch (lịch rùa)“.

Ngày nay di tích về Đế Nghiêu trên đất tổ Hùng Vương có đền Vua Nghiêu ở Chuế Lưu (Hạ Hòa, Phú Thọ). Miếu Ngu ở Thạch Trị (Thạch Hà, Hà Tĩnh) từng có bài vị thờ của Vua Nghiêu, Vua Thuấn. Đường Nghiêu và Ngu Thuấn được thờ ở vị trí thứ hai ở hai bên trong gian chính của miếu Lịch đại Đế vương tại Huế.

Đôi câu đối cổ từng treo ở đền Hùng trên núi Hy Cương khẳng địch thời kỳ Tam Hoàng Ngũ Đế nối tiếp nhau cũng là các triều đại vua Hùng, là thủy tổ của trăm giống Việt:
Lịch Tam Hoàng chí Tam Vương, thần truyền thánh kế
Đĩnh bách nam sinh Bách Việt, tổ thiện tôn bồi.

Nghĩa là:
Từ Tam Hoàng đến Tam Vương, thần dõi truyền, thánh nhân kế tục
Sinh trăm trai mở Bách Việt, tổ thiện đức, con cháu bồi vun.

Bài thơ ở chính điện Thái Hòa, Huế.
Tranh đắp vua Nghiêu đón vua Thuấn ở Huế
Cánh đồng Lịch Sơn ở Sơn Dương, Tuyên Quang.
Miếu Hùng Lô ở Phú Thọ nơi thờ Viễn Sơn và Ất Sơn Thánh Vương.
Miếu Ngu ở Thạch Trị, Hà Tĩnh nơi từng thờ Vua Nghiêu, Vua Thuấn.
Một số di tích Vua Nghiêu, Vua Thuấn trên vùng đất tổ

Bạn có biết: Vị vua Hùng đầu tiên là Hiên Viên Hoàng Đế

Truyện họ Hồng Bàng chép: Đế Minh cháu ba đời Viêm Đế Thần Nông sinh ra Đế Nghi, nhân đi tuần về phía Nam đến núi Ngũ Lĩnh mừng gặp và lấy được con gái bà Vụ Tiên rồi trở về, sinh ra Lộc Tục. Lộc Tục mặt mày sáng sủa, thông minh phúc hậu, Đế Minh rất lấy làm lạ, muốn cho nối ngôi mình. Lộc Tục cố từ, xin nhường cho anh là Đế Nghi. Đế Minh liền lập Đế Nghi làm người nối ngôi cai trị đất phương Bắc, phong cho Lộc Tục làm Kinh Dương Vương để cai trị đất phương Nam.

Người đầu tiên được nhắc đến trong lịch sử Việt là Đế Minh, cháu ba đời Viêm Đế Thần Nông. Do đó Đế Minh mới là vị vua mở đầu thời đại Hùng Vương trong dòng sử dân tộc.

Bản Nam Việt Hùng Vương ngọc phả soạn thời Lê Đại Hành ở đầu tiên chép: Kỷ Hồng Bàng Thị. Đế Minh, thống trị vạn bang chư hầu thiên hạ. Còn Đại Việt sử ký toàn thư cũng mở đầu như sau: Thời Hoàng Đế dựng muôn nước, lấy địa giới Giao Chỉ về phía Tây Nam, xa ngoài đất Bách Việt. So sánh 2 dòng sử từ ngọc phả Hùng Vương và chính sử (Đại Việt sử ký) thì thấy rõ Đế Minh cũng chính là Hoàng Đế, người đã dựng muôn nước, thống trị vạn bang chư hầu Thiên hạ.

Hoàng Đế là người mở đầu thời kỳ Ngũ Đế trong Hoa sử. Tam tự kinh, bài học vỡ lòng cho các sĩ tử Việt xưa ghi:
Khảo thế hệ, tri chung thủy
Tự Hy Nông, chí Hoàng Đế
Hiệu Tam Hoàng, cư thượng thế.

Nghĩa là:
Xét thế hệ, biết trước sau
Từ Hy Nông, đến Hoàng Đế
Gọi Tam Hoàng trên thượng thế
.

Hoàng Đế có tên là Hiên Viên, là tộc trưởng bộ tộc Hữu Hùng. Còn Thiên Nam ngữ lục, bộ “sử thi” bằng thơ Nôm thế kỷ XVII nước ta chép:
Tự vua Viêm Đế sinh ra
Thánh nhân ngưu thủ họ là Thần Nông,
Trời cho thay họ Hữu Hùng
Con cháu nối nghiệp cha ông thủ thành.

Thiên Nam ngữ lục cho biết rõ rằng người thay thế họ Thần Nông là họ Hữu Hùng. Nghĩa là Đế Minh (cháu 3 đời Viêm Đế Thần Nông) chính là họ Hữu Hùng, hay Hiên Viên Hoàng Đế.

Huyền sử Trung Hoa cho biết sau trận đánh quyết liệt giữa Hiên Viên với Xi Vưu ở Trác Lộc thì tất cả dân chúng các bộ lạc đều hoan nghênh Hữu Hùng Thị, tôn Hữu Hùng Thị lên ngôi Minh chủ, lấy hiệu là Hoàng Đế. Hoàng Đế sau khi áp phục được các bộ lạc được tôn là Minh chủ hay Minh đế, tức chính là Đế Minh trong truyền thuyết họ Hồng Bàng.

Hiên Viên Hoàng Đế được thờ là tổ của bách nghệ, như ngay tại chính giữa lòng phố cổ Hà Nội ở đình Kim Ngân và đình Trương Thị phố Hàng Bạc. Y miếu Thăng Long ở Hoàng Mai, Hà Nội thờ Hoàng Đế gắn với tác phẩm Hoàng Đế nội kinh tố vấn, là nền tảng của nền y học phương Đông. Miếu Lịch đại đế vương ở kinh thành Huế, nơi vua Minh Mạng cho xây dựng để phụng thờ các bậc đế vương đời trước, thờ Hoàng Đế ở vị trí hữu nhất trong gian chính trung.

Ở vùng đất tổ Phong Châu, như trên núi Nghĩa Lĩnh vị vua Hùng đầu tiên của người Việt được thờ là Đột Ngột Cao Sơn Thánh Vương, cùng với 2 vị vua kế tiếp là Viễn Sơn Thánh Vương và Ất Sơn Thánh Vương. Còn trong các ngọc phả vị vua Hùng đầu tiên này được gọi là Hùng Vương Sơn nguyên Thánh Tổ Tiền Hoàng Đế.

Đôi câu đối ở đến Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh vẫn còn ghi lại danh xưng của Đế Minh – Hoàng Đế, vị tổ của Bách Việt, mở muôn nước từ nơi ngã ba sông Việt Trì:
Thiên thư định phân, chính thống triệu Minh đô, Bách Việt sơn hà tri hữu tổ
Quang
nhạc hiệp linh, cố cung thành tụy miếu, Tam Giang khâm đái thượng triều tôn.

Nghĩa là:
Sách trời định chốn, chính thống dựng Minh đô, núi sông Bách Việt biết có tổ
Núi tỏa linh thiêng, cung cũ lập miếu đền, một dải Tam Giang hướng về nguồn.

Tượng Đột Ngột Cao Sơn ở Hiền Lương (Phú Thọ).
Đình làng Triệu Phú (Hùng Sơn, Phú Thọ) nơi lưu giữ những đồ thờ của đền Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh.