Đời Hạ Kiệt hoang dâm tàn bạo
Dựng lâu đài cung điện nguy nga
Dân chúng khốn khổ thán ca
“Mặt trời hãy tắt, chúng ta chết cùng!”
Dòng Đế Tiết Thành Thang nuôi chí
Tìm minh quân Y Doãn theo hầu
Mệnh trời chẳng phải đợi lâu
Cửu Di bất phục, rơi đầu hôn quân.
Tam Miêu kể từ lần Thuấn đế
Xuất Nam Giao, nay thế ngất trời
Hạ qua Xuân lại tới nơi
Long Tiên Lang triều thứ mười Hùng Huy.
Trùng trùng điệp uy nghi Ngũ Lĩnh
Đất trung tâm châu chính Kinh Dương
Quốc danh xưng hiệu Việt Thường
Xanh bên dòng nước sông Đường thủa xưa.
Qui tàng Dịch lưng rùa khắc chữ
Giáp cốt văn truyền tự mai sau
Thập can con số nhiệm màu
Mười tám vua nối tiếp nhau trị vì.
Author: Bách Việt 18
Hùng Vĩ
Dòng Trường Giang những khi tác quái
Ngập kinh thành nên phải dời đô
Vương tôn, quí tộc chẳng lo
Bàn Canh cùng với nông nô vượt hà.
Âu xiết kể trải qua gian khó
Thủa ban đầu Hùng Vĩ lập Ân
Kinh Man mở đất an dân
Triều thứ mười một, Thương lần thứ hai.
Phương Nam tiến đã ngoài vạn dặm
Từ Đào Đường nay chiếm Hoàng Hà
Đông Di, Nhung Địch đuổi ra
Trụ vương đô đóng Triều Ca, Lộc Đài.
Thần thoại
Lúc sơ khai chưa phân trời đất
Từ hư vô Bản Cả hiện lên
Múa rìu sáng thế mà nên
Hỗn mang bổ vỡ, thủy nguyên khởi đầu.
Chất nặng đục chìm sâu thành Lạc
Khí nhẹ bay tụ tán thành Hà
Cùng trời cùng đất sinh ra
Đội trời đạp đất chúng ta – Con người.
Lấy lửa trời xua màn đêm giá
Biết nghĩ suy dùng đá thay tay
Tiếng nói xuất hiện từ đây
Tựu Nhân hai chữ mà đầy triệu năm.
Danh Vũ Võng tiếp thời thần thoại
Đất có vua thoát cảnh bầy đàn
Cộng đồng đẽo đá, lưới đan
Xuống sông bắt cá, lên ngàn săn muông.
Dựng cọc tre mà trông bóng nắng
Đế họ Sào đã nắm không, thời
Tre to mọc ở mấy nơi?
Cây nêu còn tục, rõ trời phương Nam.
Hùng Hy. Hùng Thuấn
Nam Giao Chỉ một thời mở cõi
Hùng Hy Vương dòng dõi đế Minh
Đế Nghiêu đất nước thanh bình
Triều thứ sáu quốc hiệu danh Hồng Bàng.
Tiếp ngôi báu Lâm Lang, Hùng Thuấn
Triều thứ bảy đô đóng bản Bồ
Lạc Quốc dựng một cơ đồ
Ghi thời thịnh trị Đường Ngu đời đời
Đền Phong Châu ngút trời hương khói
Chữ vàng in Triệu Tổ Nam Bang
Từ sông Thao đến Châu giang
Dấu người Tày cổ bao ngàn đời nay.
Hùng Chiêu
Mổ bụng chú Ác Lai tàn bạo
Thánh đức dày Tây Bá Cơ Xương
Dĩu Lý tác Dịch phi thường
Sáu mươi tư quẻ rọi đường đi lên
Dựng nghiệp lớn xây nền văn hiến
An Dương Vương đánh chiếm nước Sùng
Cơ trời Âu – Lạc nên chung
Quốc Tiên Lang mở triều Hùng mười hai
Ngàn năm chẳng nhạt phai dòng máu
Chu Văn Vương con cháu Hiên Viên
Thiên di dấu tích còn nguyên
Lang Liêu, Cổ Thục một miền Vân Nam
Nước muôn dặm Văn Lang một mối
Chọn đô thành đóng cõi Châu Phong
Hai bề Xuyên Thục, biển Đông
Trên Hồ Nam, dưới Hồ Tôn rõ ràng.
Hùng Vũ
Trải dâu bể năm ngàn năm trước
Bên dòng Chu xanh mướt ruộng đồng
Đọ Sơn, sông Mã ghi công
Khai quốc Hùng Vũ, tổ dòng họ Cơ.
Nước sông Cả tới giờ vẫn chảy
Núi Hang Bua dấu hãy còn in
Họ Hùng lập quốc khai tên
Triều thứ năm đức Hiên Viên đứng đầu.
Trận Trác Lộc dầu dầu sương khói
Kim chỉ Nam dẫn lối đưa đường
Diệt Xuy Vưu chốn xa trường
Thu Cửu Lê cánh đồng Chum Hạ Lào.
Thắng Viêm Đế Đường Đào một giải
Cùng Vụ Tiên Đan Thủy nên duyên
Nước non mãi mãi kết liền
Hưng Bang Viêm Việt còn truyền đại danh.
Xếp vạch quẻ nên hình bát quái
Gói càn khôn trời biển gió mưa
Rồng bay, hạc múa, nai đùa
Hổ chầu, voi phục, sấu, rùa lội bơi.
Thuật cứu người Nội kinh tố vấn
Thấu đạo trời y thuật diệu minh
Âm dương luân chuyển, ngũ hành
Thông kinh, đả mạch tài tình, cao thâm.
Nhớ Hoàng Đế, nhớ ân Lụy Tổ
Dạy con dân canh cửi tằm tang
Dâu xanh, tằm nhả kén vàng
Kéo tơ, dệt lụa, tơ vương tay người.
Phù Đổng Thiên Vương
Tôi nghe kể chuyện Đức Thiên Vương
Ba tuổi nằm không rời khỏi giường
Bỗng chợt nghe loa tìm tướng giỏi
Bật dậy đòi ra chốn chiến trường.
Từ làng Phù Đổng đất Vũ Ninh
Ngựa sắt vung roi buổi xuất chinh
Theo vua Cơ Phát đi diệt Trụ
Lửa hồng chiếu đỏ ánh bình minh.
Trống đồng trước trận tiếng vang ngân
Ngựa Gióng xông pha phá tướng Ân
Roi gẫy, nhổ tre làm vũ khí
Đầu thù quật xuống, giặc tan thân.
Dựng nước có công diệt giặc thù
Hộ quốc nên nghiệp một nhà Chu
Danh chấn Trung Hoa, lừng bốn cõi
Về trời tiếng để mãi ngàn thu.
Chuyện trầu cau
Tôi nghe kể chuyện miếng trầu cau
Tình cảm gia đình mãi đậm màu
Tân, Lang, Lưu thị đều trọn nghĩa
Anh em, chồng vợ chết vì nhau.
Dưới trời cao vút ngọn cây cau
Quấn quít xanh xanh cánh lá trầu
Đá vôi vị nồng từ lòng đất
Trầu nhai cho nước hóa đỏ màu.
Nước đỏ có phải nước Hồng Bang?
Xích Quỷ – Quẻ Ly, đất của Lang
Câu chuyện trầu cau lưu truyền mãi
Ngàn năm têm đậm nghĩa xóm làng
Hùng Ninh
Tiếp nghiệp cha Ninh Vương Cơ Phát
Hội chư hầu chinh phạt Ác Lai
Lên ba Thánh Gióng anh hài
Tung hoành ngựa sắt, khiếp oai giặc thù
Đốt Lộc Đài ù ù lửa khói
Dứt nhà Ân để nối nhà Chu
Bạch kỳ lồng lộng trời thu
Thừa Văn Lang – vua mười ba triều Hùng
Đây đất nước trùng trùng điệp điệp
Bốn phương trời đẹp tuyệt non sông
Văn Lang, Âu Lạc rạng hồng
Vòng quay Hà Lạc trống đồng ngàn năm
Chu hoàng đế tôn Văn, xưng Vũ
Dời Phong Châu, trấn giữ Cảo Kinh
Phân phong an định dân tình
Tề – Tây, Yên – Bắc, Sở – Kinh, Lỗ – Lào
Ngô cùng Việt tiếp giao bờ biển
Tấn với Tần phương cóng xa xăm
Hiếu sinh mở đức nhà Ân
Vũ Canh được giữ đất phần An Huy.
Tam Thúc giám để nguy xã tắc
Chống mệnh trời nghịch tặc kết binh
Chu Công vâng lệnh triều đình
Dẹp quân phản loạn, đắp thành Cổ Loa
Một thể chế Trung Hoa đất nước
Móng Kinh Qui lại được giao truyền
Cao Lỗ, Thục Phán lưu tên
Chu Dịch, Tông Pháp đặt nền văn minh.
Hùng Việt
Kìa một thuở biển đầy sóng gió
Ngọn triều dâng khắp chốn thành sông
Trắng trời nước ngập mênh mông
Cuốn băng nhà cửa ruộng đồng lúa ngô
Cửa Long Môn đắp bờ khơi suối
Nước càng cao, dựng núi càng cao
Vượt bao vất vả gian lao
Dân theo Hùng Việt quản nào thiên tai
Ba dòng tộc chung vai gắng sức
Nghi, Minh, Long nên bức Ba Vì
Sa Pa bãi đá khắc ghi
Liên Sơn dịch phép diệu kỳ ngàn xưa
Biển Đồ Sơn bao mùa vẫn nhắc
Hội chư hầu đủ khắp bốn phương
Nước non nên lúc thịnh cường
Triều thứ tám đức Tản Viên rạng ngời
Còn đâu đó dấu thời mở nước
Vết Phùng Nguyên, Đại Vũ Sơn Tinh
Quốc gia, dân tộc thành hình
Dứt thời sơ sử, chuyển mình vươn cao.