Giết ngựa trắng ăn thề dòng máu
Chỉ phong vương con cháu họ Lưu
Bất thành Lữ Hậu âm mưu
Phương Nam lại nổi bụi màu can qua.
Xưng Vũ Đế Triệu Đà vua Việt
Tướng Lữ Gia giúp nghiệp oai hùng
Đô thành đóng cõi Phiên Ngung
Lọng vàng, xe lớn ung dung đi về.
Triều mười bảy Cảnh Thiều Hùng Triệu
Ánh Lạc Hồng lại chiếu non sông
Ba đời vua chốc như không
Bác Đức tiến đánh, Thái Long di rời.
Author: Bách Việt 18
Thời phục hưng
Thời cơ đến Chu tiêu diệt Ngụy
Đây Đinh Hoàn từ đất Tứ Xuyên
Phục Hoa Văn Giác dựng quyền
Đại Cồ Việt quốc danh truyền thiên thu.
Dương Kiên phế vua Chu, lập Tuỷ
Đánh Hoa Nam thống nhất sơn hà
Tới đây ta lại là ta
Trang vàng Hùng sử lật ra rạng ngời.
Tính cần kiệm một đời vì nước
Trọng nông tang điền tịch làm gương
Đại Hành danh nổi bốn phương
Mở mang văn hoá, giao thương mọi bề.
Tiếc thay trời chẳng vì nhân thế
Lầm trao ngôi Dạng Đế xa hoa
Bắt dân đào, vét vận hà
Biến Lạc Dương thành một toà Đông Đô.
Vườn Tây Uyển thay hoa bằng lụa
Người kéo thuyền vua chúa dạo sông
Dốc quân tiến đánh Liêu Đông
Sức dân cạn kiệt, lửa hồng bùng lên.
Nghĩa của từ Triệu
Những hoành phi câu đối ở đền Hùng như những thông điệp ẩn chứa từ xưa để lại, nếu suy nghĩ có thể thấy khá nhiều điều.
Trước hết nói về bức hoành phi Triệu Tổ Nam bang ở đền Trung. Chữ “Triệu” theo từ điển ngày nay nghĩa là “gây, phát sinh, mở mang”, hay đều là động từ cả. Nhưng nếu là động từ thì không thể nào dịch được câu trên, chẳng nhẽ là “Mở mang tổ gốc nước Nam”?
Để động từ thì không đúng cách trình bày của hoành phi, vì tất cả các hoành phi khác đều là cụm danh từ. Sách ở đền Hùng dịch là “Tổ muôn đời của nước Việt Nam”, rõ ràng là không sát nghĩa vì ép từ “triệu” thành “muôn đời” (triệu đời?), làm gì có chữ “đời” nào ở đây đâu.
Cách hiểu chính xác hơn thì “Triệu” nghĩa là “Chúa”, một nghĩa cổ của từ này, nay không còn dùng. Triệu Tổ Nam Bang nghĩa là “Chúa tể (tổ) nước Nam”, nghĩa rất rõ ràng.
Ở đền Thượng còn có bức hoành phi “Triệu Cơ vương tích“. Tương tự nếu dịch “triệu” ở dạng động từ thì câu này không thể dịch nổi vì vừa “mở nền móng” (Triệu Cơ) đã có dấu tích (vương tích). Cũng sách ở đền Hùng dịch là “Dấu tích nền móng đầu tiên của vua“, nghe quá gượng ép và tối nghĩa.
Phải hiểu “Triệu Cơ vương tích” là “Dấu tích của vua chúa họ Cơ“. Họ Cơ là họ của nhà Chu. Đền Thượng theo
truyền thuyết là của Hùng Vương thứ sáu sau khi thắng giặc Ân lập nên. Thắng giặc Ân thì rõ ràng là nhà Chu.
Đền Thượng được gọi là Cửu trùng thiên điện hay Kính thiên điện. Dịch Cửu trùng thiên điện thành điện trên chín tầng trời thì không chính xác. Cửu trùng là cách xưng hô đối với vua (cửu trùng = trùng cửu = trường cửu). Cửu trùng thiên điện là điện Kính thiên, đồng nghĩa.
Họ Cơ cũng là họ của Hiên Viên Hoàng Đế. Hiên Viên là vua nước Hữu Hùng, tức là vua Hùng khai quốc. Hoàng Đế là Ngọc Hoàng thượng đế, tức là “thiên”, ông trời của phương Đông. Vua chúa Trung Hoa xưa xưng là “thiên tử”, ý nói mình là con cháu của Hiên Viên, hay con cháu họ Hùng. Việc vua xưng là thiên tử có lẽ chỉ bắt đầu từ thời
Chu. Trước đó Hạ, Thương, Ân chưa thấy xưng thiên tử cho dù đã có không ít nước chư hầu. Nguyên nhân như đã biết: nhà Chu cùng họ với Cơ với Hoàng Đế.
Núi Nghĩa Lĩnh trước khi Hùng Vương lập điện Kính thiện thì đã có đền thờ thần lúa với hạt lúa khổng lồ ở trên đỉnh. Trên đền Thượng còn có câu đối bắt đầu là “Thần thánh khải Viêm Bang…“, tức là nói đến Viêm Đế Thần Nông.
Ở núi Nghĩa Lĩnh còn có tích Thục Phán sau khi được Hùng Vương nhường ngôi, cảm ơn công đức của Hùng Vương nên đã lập cột đá thề, thề trung thành với họ Hùng. Chuyện này thật khó hiểu vì làm gì có chuyện nhường ngôi một cách dễ dàng như vậy, lại là sau khi Hùng Vương vừa đánh thắng Thục Phán. Và Thục Phán cùng Hùng Vương có dây mơ rễ má thế nào mà Thục Phán lại thề trung thành với họ Hùng?
Nay nếu nhìn theo góc độ Thục Phán chính là Cơ Phát, người đã đánh nhà Ân diệt vua Trụ (Hùng Vương) thì ta hiểu rõ ý nghĩa của cột đá thề. Đó là cột đá thề trung thành với quốc tổ Hùng Vũ và là biểu tượng khi Cơ Phát lên ngôi “thiên tử” – con cháu vua Hùng.
Tóm lại có thể hiểu lịch sử cả cụm di tích đền Hùng như sau: Cơ Phát với sự giúp đỡ của Phù Đổng thiên vương diệt được giặc Ân (đánh Trụ) về Phong Châu (đất của Cơ Xương) lên núi Nghĩa Lĩnh, nơi trước đó là đền thờ Thần Nông, lập điện kính cáo trời đất (Kính thiên điện – đền Thượng), lập cột đá thề trung thành với họ Hùng (với quốc tổ Hùng Vũ Hiên Viên), rồi lên ngôi xưng là “thiên tử” Chu.
Ngày giỗ tổ
Tôi nghe kể chuyện các vua Hùng
Lập nước mở mang khắp bốn phương
Nam tiến đất bình Nghiêu Thuấn Vũ
Đông dương biển động Lạc Long Thương
Hồng hồng sắc đỏ đào xuân Việt
Hùng tráng Văn Lang sáng đế vương
Sự cũ ngàn thu lưu linh tích
Qui chầu rồng hạc kính tông đường.
Hùng Duệ
Vận suy bĩ cuối đời nhà Hiếu
Hùng Duệ lên xưng hiệu triều Tân
Phục cổ cải chế việc công
Muốn hưng nghiệp nước bội phần khó khăn.
Quốc lực cạn loạn dân nổi dậy
Khắp bắc nam chống lại triều đình
Cờ hồng quyết trận nhục vinh
Đệ tử đạo Giáo hợp thành Xích My.
Lũ giặc cỏ ngụy uy Cao Tổ
Núi Lục Lâm thảo khấu được thời
Lỡ làng vận nước cơ trời
Thương thay Vương Mãn đầu rơi ngai vàng.
Trải mười tám triều Hùng đất nước
Lúc hưng suy thời cuộc bể dâu
Vạn năm đào đỏ sắc màu
Cửu trùng thiên điện cúi đầu kính vua.
Thời nô lệ nước Tấn
Thói man rợ quen thân du mục
Lấy đất đai chia tước phong vương
Bóc lột, vơ vét đủ đường
Xa hoa Vương Khải, Thạch Sùng đua nhau.
Vua ngu độn có đâu như thế
Hỏi ếch kêu Huệ Đế tức cười
Bát vương chi loạn khắp nơi
Đô thành tan nát, người người đói ăn.
Loạn Ngũ Hồ chia phân đất nước
Khổ dân Hoa sống kiếp lầm than
Hết Tiên Ty đến Khiết Đan
Hung Nô, Mông, Tạng bầy đàn cắn nhau.
Nửa đế quốc mở đầu Đông Tấn
Hán dùng Hoa để trị người Hoa
Phỉnh dân quên chuyện nước nhà
Phương Nam yên ổn dĩ hoà mươi năm.
Qua Liêu Tống, Tề, Lương tiếp nối
Thế Hán Hoa thay đổi cán cân
Nam triều truyền tới Bá Trần
Người Bách Việt dành lại phần Hoa Nam.
Dòng Thác Bạt trên miền Hoa Bắc
Học theo Hoa, Tiên tộc tiến nhanh
Cải họ Nguyên, chuyển kinh thành
Nước Ngụy hưng vượng phong thanh Bắc triều.
Vong quốc sử
Vong quốc sử hay chưa Hùng tộc?
Đảo đất trời Nam Bắc đổi ngôi
Mưu gian Lu Tối gạt đời
Đắng cay Hoa Việt, than ôi sơn hà!
Ngã Nam Giao can qua nương trú
Đất Lạc Hồng kẻ sỹ nắm quyền
Tinh hoa, nhân kiệt mọi miền
Về chung đất tổ giữ nền văn minh.
Thằng Mặt Ngựa lĩnh binh bình định
Tổng tiến công chiếm đánh phương Nam
Than đen đổ lẫn đá vàng
Trống đồng thu triệt, ngựa mang đúc về.
Thời Linh Đế xa hoa hủ bại
Lũ hoạn quan gà mái gáy trưa
Mua danh, bán tước, hiếp vua
Triều đình man hãn lộ ra rõ rành.
Quận Cự Lạc tài anh nổi dậy
Quấn khăn vàng Trưng Trắc phất cờ
Vì thơ sách, vì cơ đồ
Vì nghiệp Hùng tộc báo thù một phen.
Sáu nhăm thành Lĩnh Nam quyết chiến
Đàn áp dân Hà Tiến, Tào Lao
Thương ôi đất nhuộm máu đào
Voi rơi nước mắt, sông trào lệ thu!
Lịch sử. Hùng Hoa
Nước Nhĩ Hà dòng Thao cuồn cuộn
Mặt biển Đông dậy sóng xuất rồng
Thay cha nối nghiệp Lạc Long
Triều thứ chín đức Hải Lang hào hùng.
Khởi nhà Hạ Khải vương đoạt định
Tránh giao tranh Bá Ích di cư
Thanh Long – Bạch Hổ từ giờ
Hoa – Di cuộc chiến hơn thua không ngừng.
Nên vương quốc đúc đồng dựng đỉnh
Mở biên thùy bờ cõi chín châu
U – Minh đô đóng hai đầu
Bốn trăm năm lẻ đỏ mầu Hồng Bang.
Ham săn bắn Thái Khang lưu lạc
Bắn mặt trời Hậu Nghệ cứu dân
Hạn hán khô cạn ao đầm
Vua u tối để con dân bần hàn.
Hữu Ngu giúp Thiếu Khang phục Hạ
Thời Trung Hưng khai phá Cối Kê
Xăm mình, lội nước đắp đê
Đất thờ vua Vũ thành quê thành nhà.
Bốn ngàn năm dân Hoa dân Việt
Trang sử vàng bước tiếp người xưa
An ấp còn đó Hoa Lư
Bồng Lai quê Mẹ bây giờ Hạ Long.
Dã sử
Hùng Dương
Kể năm đã vạn năm có lẻ
Vừng hồng soi rạng tỏ nơi nơi
Nước non có lúc đầy vơi
Thay nhau trị mười tám đời Hùng Vương.
Triều thứ nhất Hùng Dương – vua Cả
Đức Phục Hy xuân kỷ ứng hành
Sắc hình là chiếm màu xanh
Đất đai làm chủ Động Đình – biển Đông.
Khởi Dịch học kết thừng làm số
Qui chép thư, long mã chép đồ
Biết ăn, biết mặc ấm no
Đồng bào chung sức, cơ đồ dựng xây.
Hùng Hiển
Triều thứ hai Thần Nông Viêm Đế
Hùng Hiển Vương tổ phụ bức phương
Ánh hồng nối tiếp tình thương
Xuân càng đậm sắc, hạ càng sáng tươi
Trên đồng xanh mồ hôi đổ nặng
Tay gieo trồng dẫu nắng dẫu mưa
Dậy dân làm lúa thu mùa
Vạn năm ơn đó, chuyện xưa vẫn còn.
Hùng Nghị. Hùng Diệp
Qua cái thủa ăn hang ở lỗ
Triều thứ ba Hùng Nghị Thái Khang
Trấn Tây xưng đức Bảo Lang
Quần cư sinh sống Mễ Cương một dòng.
Phương gió lạnh mùa đông Thái Tiết
Triều thứ tư Hùng Diệp Quan Lang
Chặt tre buộc ghép thành hàng
Mảng bè vận chuyển dọc ngang sông hồ.
Tiền lập quốc bốn bề hội đủ
Dấu còn đây đất mẹ dưỡng thành
Bao năm truyền mãi sử xanh
Gian nan thủa mới nên hình nước non.
Khởi nghĩa chống Tần
Thủy Hoàng mất nơi nơi nổi dậy
Các chư hầu muốn lấy đất xưa
Quan Phục Trần Thắng xưng vua
Bên đầm Dạ Trạch đôi mùa giao tranh.
Hận nước cũ Hạng Lương, Hạng Tịch
Đất Cối Kê thiết lập quân binh
Dương Châu thành lũy chiếm nhanh
Tôn Sở Vương cờ nghĩa dành về tay.
Chém rắn trắng oai này Xích Đế
Chốn Mường Đăng khởi nghĩa Lý Bôn
Phong Châu cờ đỏ trống dồn
Bái Công vào trước kinh Tần yên dân.
Cậy sức mạnh đốt cung Hạng Vũ
Tiếm xưng vua Từ Sở Bá Vương
Hưng Suy đối kháng đôi đường
Tranh hùng thắng bại, Ô Giang kết hồi.
