Cao bình Vân cứ

Tại làng Mỹ Ả – Đông Mỹ – Thanh Trì – Hà Nội có ngôi đình nhỏ thờ một vị thành hoàng làng là Cao Biền, viên quan đô hộ An Nam thời Đường. Vào khoảng những năm Đường Hàm Thông Cao Biền được nhà Đường cử làm đại tướng sang An Nam để giải quyết vấn đề Nam Chiếu. Cao Biền hạ được thành Đại La do quân Nam Chiếu đang trấn giữ, đánh bại được các thổ mán, sát hại hơn một nửa quân Nam Chiếu. Từ đó Cao Biền ở lại Giao Châu làm tiết độ sứ.

CIMG0527

Cổng đình Mỹ Ả.

Câu đối ở đình Mỹ Ả:
Phụng ấn Đường triều, Bắc quốc thiên thu công tại xứ
Cao bình Vân cứ, Nam bang vạn cổ ngưỡng hồng ân.
Vế đối thứ hai có từ “Vân” cần hiểu Vân là Vân Nam, thủ đô của quân Nam Chiếu. “Vân cứ” là quân cát cứ từ Vân Nam, hay quân Nam Chiếu.
Dịch:
Vâng ấn triều Đường, nghìn thu Bắc quốc công nghiệp ở xứ
Giỏi dẹp Nam Chiếu, vạn thế Nam bang ngưỡng mộ ân sâu.
Tuy nhiên trong Thiên Nam ngữ lục lại ghi một thông tin hoàn toàn khác với chính sử. Cao Biền sang An Nam và đã đánh dẹp quân của … nhà Hậu Lý Nam Đế:

Sơ vâng chiếu chỉ bước sang
Đến miền Gia Định, Quế Dương dần dà
Những quan Hậu Lý ngày xưa
Con em hợp quẩy được và ngàn quân
Hợp làm tiết nghĩa trung thần
Tiểu nhi bái tướng, phụ nhân anh hùng.

Làm sao Nam Chiếu lại là tàn quân của Lý Phật Tử được?

Dinh Kim LanĐình Kim Lan.

Ở một nơi khác thờ Cao Biền là làng gốm Kim Lan, nay thuộc Gia Lâm – Hà Nội, tại bái đường đình Kim Lan có câu đối:
Thảo Nam Chiếu trúc Đại La thành, khai Thiên Uy banh lưu ngọc kỷ
Khuyến nông tang truyền chân đào nghệ, an dân tế thế hựu kim xương.
Dịch:
Dẹp Nam Chiếu đắp Đại La thành, khơi kênh Thiên Uy, công nghiệp còn lưu sàng ngọc
Khuyến nông tang truyền nghề làm gốm, yên dân giúp thế, ân đức mãi ghi hộp vàng.
Về việc Cao Biền đắp thành Đại La và truyền nghề nông nghề gốm xin bàn trong một bài khác. Ở đây muốn nói tới thông tin Cao Biền “khai Thiên Uy banh”, mở kênh Thiên Uy. Chuyện này tóm tắt như sau. Cao Biền đi thị sát đến “châu Ung, Quảng” thấy đường biển nhiều ghềnh đá làm đắm thuyền, vận chở không thông nên cho quân đến đục đá mở đường. Nhưng lòng kênh ở đây có một chỗ đá cứng như sắt, búa đục không được. Cao Biền cáo trời khiến sấm sét phá tan ghềnh đá. Vì thế kênh đào xong gọi là kênh Thiên Uy.
Vấn đề xác định kênh Thiên Uy ở đâu đã được nhiều người bàn luận. Người thì cho là ở bên Quảng Tây. Người thì bảo ở Vân Nam. Chỉ có ở Việt Nam còn lưu vết khá rõ con kênh này là Kênh Sắt (Thiết Cảng) ở Diễn Châu Nghệ An. Vẫn còn lưu được bia Thiên Uy kính tân tạc hải phái bi có niên hiệu Hàm Thông nhà Đường (năm 870), văn bia do Bùi Hình, Chưởng Thư ký của Tiết độ sứ Giao Châu Cao Biền soạn. Đây là một trong những văn bia cổ nhất còn giữ được ở nước ta.
Diễn Châu Nghệ An cũng là nơi có nhà thờ họ Cao “Bột Hải triều Nam” ở Nho Lâm Diễn Thọ. Dòng họ này nổi tiếng làm nghề khai mỏ luyện quặng sắt. Điều này cho thấy rõ ràng địa chất khu vực này có nhiều quặng sắt ngầm, lòng sông bị hóa sắt nên việc khai mở kênh mới khó khăn như vậy. Họ Cao ở Diễn Thọ cũng có thể có quan hệ với Cao Biền.
Còn có bài thơ Quá Thiên Uy kính của Cao Biền để lại như sau:
Sài lang khanh tận khước triều thiên,
Chiến mã hưu tê chướng lĩnh yên.
Quy lộ hiểm hy kim thản đãng,
Nhất điều thiên lý trực như huyền.
Dịch (Lê Nguyễn Lưu):
Sài lang chôn sạch lại chầu vua
Ngựa chiến thôi kêu cõi núi mờ
Đường hiểm nay về bằng phẳng rộng
Một lèo nghìn dặm thẳng như tơ.
Bài thơ trên cho thấy kênh Thiên Uy do Cao Biền mở nằm gần nơi mà Cao Biền đã đi đánh dẹp quân Nam Chiếu. Tới đây thì sự việc trở nên khó hiểu. Kênh Thiên Uy không thể nằm ở Vân Nam vì đây là “Vân cứ” của quân Nam Chiếu. Nam Chiếu cho tới tận thời Đại Lý chưa hề mất vùng đất Vân Nam vào tay nhà Đường. Cao Biền không thể đào kênh ở Vân Nam được. Kênh Thiên Uy ở cửa biển Quảng Tây thì còn vô lý hơn vì chỗ đó chưa từng bao giờ có quân Nam Chiếu. Còn Kênh Sắt ở Nghệ An thì liên quan gì tới Nam Chiếu?
Thiên Nam ngữ lục lại một lần nữa cho thêm thông tin mới về kênh Thiên Uy :

Việt Nam bốn bể chín châu
Biền thu về một lầu lầu bản chương
Chơi tuần đến Lâm Ấp hương
Dưới sông đá mọc, trên ngàn núi ngăn.

Kênh Thiên Uy ở vùng đất của Lâm Ấp. Như vậy thì Kênh Sắt ở Nghệ An là phù hợp vì vùng này từng là vùng của Lâm Ấp. Nghệ An cũng là vùng đất mà Mai Hắc Đế đã đắp thành luỹ khởi nghĩa duới thời Đường.
Truyền thuyết Việt còn kể chuyện Cao Biền trảm long sông Trà Khúc (Quảng Ngãi), phá long mạch của Nam Chiếu. Trà Khúc là đất Lâm Ấp chứ Nam Chiếu đi đằng nào mà vào đến đây?
Nam Chiếu – Hậu Lý Nam Đế – Lâm Ấp cuối cùng thì có quan hệ gì với nhau? Vấn đề này chỉ trở nên sáng tỏ dưới ánh sáng của Sử thuyết họ Hùng.
Hậu Lý Nam Đế – Lý Phật Tử chính là Khu Liên, người lập nước Lâm Ấp. Dật sử chép nhà Tùy thu phục Lý Phật Tử và Bát Lang là hình ảnh cuộc đánh dẹp của quân Tùy diệt nước Lâm Ấp sau 600 năm tồn tại của quốc gia này.
Nhưng tàn quân Lâm Ấp chưa hết. Họ Phạm (họ vua Lâm Ấp) vẫn quay lại cùng khởi nghĩa với Mai Thúc Loan và Phùng Hưng. Phạm Thị Uyển là Mai hoàng hậu lúc 18 tuổi, đã chiến đấu chống quân Đường hy sinh bên sông Tô Lịch. Hai anh em song sinh của bà là Phạm Miện, Phạm Huy là tướng của Phùng Hưng. Câu “Tiểu nhi bái tướng, phụ nhân anh hùng” phải chăng có phần nào liên quan đến việc này?
Khởi nghĩa của Mai Hắc Đế và Bố Cái Phùng Hưng từ Đường Lâm – Tây Thanh Nghệ, vùng đất Lâm Ấp xưa, chính là khởi đầu của nước Nam Chiếu. Phùng Hưng đã tiến lên chiếm toàn bộ vùng Tây Bắc (Phong Châu đô hộ phủ) gồm cả Vân Nam. Hậu Lý – Lâm Ấp – Nam Chiếu là một phần lịch sử phía Tây và Nam của nước ta đã bị lãng quên trong chính sử.

Văn nhân góp ý:
…Diễn Châu Nghệ An cũng là nơi có nhà thờ họ Cao “Bột Hải triều Nam” ở Nho Lâm Diễn Thọ. Dòng họ này nổi tiếng làm nghề khai mỏ luyện quặng sắt… Cao Biền có tước hiệu là Bột hải công …, khai kênh thiên uy tránh sóng dữ biển Đông được phong Bột hải công … điều này giúp khẳng định: Bột hải là chép sai, chính xác phải là Bạt hải hay Bát hải nghĩa là biển Đông, số 8 là số chỉ phương đông trong Hà Thư (Đồ).

Phần hương, Quế Hải

Câu đối ở trước cửa đình Gia Phương, quê Đinh Bộ Lĩnh ở Gia Viễn – Ninh Bình.
Phấn hương trở đậu thiên thu tại
Quế Hải dư đồ nhất thống sơ.

Dịch:
Làng Phấn nay nghìn thu lễ cúng
Quế Hải xưa qui thống địa đồ.

Phấn hương” với nghĩa làng Phấn, là địa danh khá thú vị. Tương truyền Đinh Bộ Lĩnh sinh tại thôn Văn Bòng, thuộc sách Bông, nay là Gia Phương – Gia Viễn – Ninh Bình. Rất có thể Phấn là từ ký âm hay cách đọc cổ của tên làng Bông.

Một cách giải thích khác là Phấn có thể là ghi sai của từ Phần. “Phần hương” được hiểu là từ tích quê của Hán Cao Tổ có cây Phần, cây Du mọc ở đầu làng nên Phần hương là quê hương… Giải thích kiểu “word by word” này mà vẫn khối người tin. Hiếu Cao Tổ Lưu Bang người “huyện Bái đất Phong”, chứ làm gì có cây phần cây du nào.

Đại Nam quốc sử diễn ca viết về Lý Bôn như sau:

Cỏ cây chan chứa bụi trần
Thái Bình mới có Lý Phần hưng vương.

Lý Phần là tên khác của Lý Bôn. Dã sử Hoa đã lấy tên “Phần” này cho rằng là chỉ quê quán của Lưu Bang. Ngược lại dã sử Việt thì lấy tên Hưng vương (Hơn vương hay Hán vương) của Lưu Bang lắp vào thành quê Long Hưng – Thái Bình của Lý Bôn. Đây là vết tích cho thấy Lưu Bang Hán Cao tổ và Lý Phần Hưng vương của Việt chỉ là một.

Thiên Nam ngữ lục có câu:

Cho nên con chẳng có cha
Lang bồn lẩn lút người ta dày vò.

Chữ “lang bồn” tác giả khảo cứu Thiên Nam ngữ lục đành chịu, không biết là thành ngữ gì. Chỉ cần thay “bồn” bằng “bang” thì sẽ rõ. “Lang bang”, hay “lang ba lang bang” nghĩa là đi khắp nơi. Nói cách khác “bồn” là cách đọc cổ của “bang”.

Có thể thấy rõ liên hệ sau:
Bang (trong Lưu Bang) = bồn (như trên) = phần (trong Phần Du, quê của Lưu Bang)
Bôn (trong Lý Bôn)= Phần (tên Lý Phần) = Bông (sách Bông hay thôn Bông, quê Đinh Bộ Lĩnh) = Phấn (trong câu đối Phấn hương).

DinhGiaPhuong

Đền vua Đinh ở thôn Văn Bòng, Gia Phương, Gia Viễn, Ninh Bình

Trong câu đối trên vế sau có nói Đinh Bộ Lĩnh đã thống nhất vùng Quế Hải. Cũng như trong lời tựa của Lĩnh Nam chích quái có mở đầu: “Quế Hải tuy ở ngoài cõi Lĩnh ngoại…“. Như vậy Quế Hải là chỉ nước ta thời trung đại.

Quế Hải thường được giải nghĩa là: Quế = Quế Lâm hay Quảng Tây, Hải = Nam Hải hay Quảng Đông. Tuy nhiên như vậy thì Quế Hải thời Đinh đâu có vươn tới Quảng Đông. Làm sao Đinh Bộ Lĩnh có thể nhất thống cả Quế Lâm lẫn Nam Hải được?

Còn cách giải thích “Nam Hải có cây quế, nên gọi là Quế Hải” thì không thể tin được. Giữa biển làm gì có cây quế nào? Quế Hải cũng không tương đương với Nam Hải.

Chính xác hơn:
– Quế = Quí, một trong thập can chỉ hướng Tây (tương tự như trong Quế Lâm hay Quí Châu).
– Hải là … Hải.
Quế Hải là từ tương đương với Tĩnh Hải, chỉ vùng đất phía Tây của biển Đông, tương ứng chính xác với tước phong Tĩnh Hải tiết độ sứ của nhà Đinh Lê. Từ đời Đinh Lê về sau người ta không dùng từ Tĩnh Hải nữa mà thay vào đó bằng Quế Hải như trong Lĩnh Nam chích quái. Phải chăng bởi vì quốc gia đã độc lập, không lấy từ “Tĩnh Hải” của thời tiết độ sứ nội thuộc?

Thiên Nam ngữ lục trong đoạn về Cao Biền còn có một số địa danh nữa:

Sơ vâng chiếu chỉ bước sang
Đến miền Gia Định Quế Dương dần dà.

Gia Định được chú thích là Gia Bình – Bắc Ninh ngày nay. Nhưng như vậy không ổn vì Gia Định là nơi Cao Biền đánh dẹp quân Hậu Lý – Nam Chiếu:

Ngày sau Biền mới ra quân
Gia Định yên trần quét sạch như tro.

Gia Định ở đây phải là vùng đất có phạm vi lớn hơn. Rất có thể:
–    Định = Đinh, chỉ phía Tây.
–    Gia với nghĩa là phủ, trị sở.
Gia Định là trị sở phía Tây. Có thể Gia Định tương đương với “Đinh Bộ” của Đinh Bộ Lĩnh.

Còn Quế Dương rõ ràng là từ tương đương với Quế Hải vì Dương = Hải (đại dương nghĩa là biển).

Một loạt những tên địa danh Gia Định, Quế Dương, Quế Hải, Giang Tây đều là những từ chỉ vùng Bắc và Bắc Trung Việt ngày nay, là Tĩnh Hải sứ từ thời Đường.

Nòng nọc đứt đuôi

Trong kho tàng truyện Nôm Trê cóc kiện nhau là câu chuyện ngụ ngôn đầy ý nghĩa. Cóc sống trên bờ, đến kỳ sinh nở đẻ xuống ao, nở ra nòng nọc. Cá Trê thấy thế dẫn về làm con mình. Cóc phát đơn kiện đòi con nhưng quan trên về tra xét, thấy lũ nòng nọc con bơi dưới nước giống như Trê, nên xử Cóc thua. Oan khuất tày đình. May nhờ có thầy Nhái bén “tư vấn”, đợi đến khi nòng nọc đứt đuôi, nhảy lên bờ thì cả nhà Cóc lại đoàn tụ. Cóc thắng kiện.

Trecoc

Bức tranh dân gian Đông Hồ đã diễn tả rất sinh động câu chuyện này. Hình ảnh chú Cóc hai tay giơ trên đầu dâng đơn kiện lên quan “thái thú” cá chép. Xung quanh toàn là họ hàng nhà tôm cá, không có lấy một chú ếch nhái nào. Nòng nọc thì đang còn đuôi, bơi bên cá Trê. Xét xử như vậy những tưởng Cóc sẽ thua. Nhưng Cóc vẫn hùng hồn tuyên bố (chữ trên tranh):

Giỏ ai quai nấy rành rành
Giương vây thích ngạnh tranh hành chẳng xong.

Sự thật cuối cùng sẽ trở về đúng chỗ của nó dù xung quanh có huyên náo như thế nào.
Câu chuyện này còn có chứa thâm ý gì?

Bức tranh Đông Hồ Thầy đồ cóc cho biết con cóc vốn là “thầy đồ”, là người đã sản sinh ra văn tự, chính là đàn “nòng nọc” đầu to chữ khoa đẩu xưa. Thầy đồ cóc là biểu tượng của văn hóa Việt. “Con cóc là cậu ông trời”, chỉ nghiến răng cũng đã làm Trời phải sợ.

Cóc quen vui thú bờ hồ,
Khi ra đài các, khi vô cung đình.

Chú Cóc Việt đơn giản nhưng thật cao quí, đầy hãnh diện.

Đàn chữ khoa đẩu nòng nọc của nền văn hóa Việt sinh ra ở dưới nước, bị cá Trê cướp đoạt mất. Nước (thủy) trong Dịch học là tượng trưng của phương Bắc ngày nay. Con cá Trê đen nhẻm, chuyên rúc bùn ao là hình ảnh của hắc tặc – giặc phương Bắc. Hán tộc đã cướp không đàn chữ “nòng nọc” của người Việt, gọi thành “chữ Hán”. Cuộc kiện tụng ngàn năm xem “cái chữ” thuộc về ai bắt đầu.

Quan tòa xét xử như trong bức tranh đều là họ hàng tôm cá cả. Một mình chú Cóc Việt đâm đơn, đòi lại chân lý, đòi lại công bằng. “Chữ Hán” là của người Việt. Cái điều tưởng như vô lý, “thế giới” ai ai cũng cười nhạo này rồi cuối cùng cũng trở về đúng vị trí của nó.

Hãy nghe lời Cóc mắng Trê trên công đường:

Trê kia chớ có huyên hoa,
Hùm dầu có cánh ta đà chẳng ghê.
Quả tình nào có hồ nghi,
Ra điều bán dạ lâm trì khó coi.
Phù sinh mấy kiếp ở đời,
Làm cho rắn cắn được voi còn chầy.
Chỉ nghề dạy khỉ leo cây,
Xui nguyên dục bị, chỉ hay bày trò.
Ai ngờ xã thử thành hồ,
Chỉ điều cậy thế làm cho hại người.
Biết rằng hươu chết tay ai,
Mỏ chim, nanh chuột tranh hơi còn nhiều.

Đoạn này truyện Nôm dùng toàn thành ngữ: “hùm dầu có cánh”, “bán dạ lâm trì” “rắn cắn voi”, “dạy khỉ leo cây”, “xã thử thành hồ”, “hươu chết tay ai”… Chửi rất hay và rất đúng. “Thầy đồ cóc” có khác, rất lắm chữ. Cái lý ở đời không thể nào đổi trắng thay đen được, không thể dùng quyền thế mà lấn át sự thật.

Và cái sự kiện tụng ở đây đã không chỉ còn dừng lại ở phân xử chữ Nho là của ai nữa. Điển tích “săn hươu” là chỉ “thiên hạ”. “Thiên hạ” Trung Hoa thực sự là của ai?

Đầu năm Nhâm Thìn đã tìm thấy chữ Lạc Việt khắc trên đá ở Bình Quả – Quảng Tây, với niên đại vào thời kí đỉnh cao của ‘văn hóa xẻng đá lớn’ cách đây 4000 – 6000 năm. Nòng nọc khoa đẩu cuối cùng cũng đứt đuôi để lên bờ, trở về với cha ông Cóc của mình. Lời “tiên tri” trong câu chuyện Trê cóc đã thành sự thực.

Đáng nói là loại chữ Lạc Việt cổ này có sớm hơn chữ giáp cốt nhà Thương tới 1000 năm và “chắc chắn có nguồn gốc sâu xa với chữ giáp cốt cổ”. Nói vậy tức là chữ Lạc Việt là chính là tiền thân của chữ giáp cốt đời Ân Thương được tìm thấy Ân Khư. Nhà Thương là một triều đại dùng chữ Việt, tức là triều đại của người Việt.

Con chữ, cái nền tảng của văn minh đã được phát hiện. Chân lý này thật “nhái bén”: sự thật không cần kiện mà vẫn thắng. Đã đến lúc phải trả lại “nòng nọc” cho “cóc”. Không phải chỉ trả chữ Nho cho người Việt mà còn phải trả cả văn hóa lịch sử Trung Hoa cổ đại về đúng quê cha đất tổ Việt Nam.

Cao Biền là tướng … Lạc Diêu

Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn viết:
Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng chầu hổ phục, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước.
Cao Vương ở đây được cho là Cao Biền, viên quan đô hộ dưới thời nhà Đường, người đã đuổi quân Nam Chiếu ra khỏi An Nam đô hộ phủ và xây thành Đại La. Nhưng tại sao Chiếu dời đô lại gọi quan đô hộ nhà Đường là Vương (Cao Vương) trong một văn bản quan trọng, mang tính dời đô lập quốc như vậy? Cao Biền là tướng giặc ngoại xâm hay là một vị quan cai trị chính thống, có công với người Việt? Liệu Cao Vương ở đây là Cao Biền hay … Cao Lỗ, người đã xây thành Cổ Loa?
Lĩnh Nam chích quái, truyện Tướng quân họ Cao ở Vũ Ninh có kể việc thần Cao Lỗ, tướng của An Dương Vương, đã hiển linh phù trợ Cao Biền chống giặc Nam Chiếu. Cao Biền sau khi gặp thần, tỉnh mộng có bài thơ:
Bách Việt điện khu vũ,
Nhất nhung đình sơn xuyên.
Thần linh năng trợ thuận,
Đường ra cảnh tộ diên.
Dịch:
Bách Việt vững phong cương,
Ba quân dẹp chiến trường.
Thần tiên phù chính nghĩa,
Muôn năm vững triều Đường.
Theo bài thơ này thì triều Đường là một triều đại của người Bách Việt (?!).
Cao Biền theo Cựu Đường thư là người Bột Hải. Bột Hải được “ghi chú” là ở Mãn Châu, miền Bắc Trung Quốc. Có thật vậy không?
Cao Biền và Cao Lỗ là 2 người cùng họ, lại cùng xây thành Cổ Loa – Đại La. Vì vậy mới có chuyện thần Cao Lỗ phù trợ cho Cao Biền. Họ Cao theo Bách gia tính là một họ cổ của Trung Hoa từ thời Chu, có xuất xứ từ vùng Bột Hải. Nhưng không thể có chuyện Cao Lỗ là người Bột Hải ở tận Mãn Châu được. Trái lại, trong đền thờ họ Cao ở Nho Lâm – Diễn Thọ (Nghệ An) thì họ Cao phát tích từ “Bột Hải triều Nam”. Bột Hải triều Nam hay Bát Hải Động Đình, chính là biển Đông. Bát là số 8, con số chỉ phương Đông. Cao Lỗ và Cao Biền đều là người Việt chính cống, quê gốc ở vùng quanh biển Đông Việt Nam.
Một dẫn chứng khác để khẳng định vị trí Bột Hải trong cổ sử là đền Đức Thánh Cả ở Thái Đường (nay thuộc xã Thái Bình – Ứng Hòa – Hà Nội). Đền thờ một vị thần thời Hùng Vương, đã cùng Phù Đổng thiên vương giúp vua Hùng đánh dẹp giặc Ân ở vùng… “châu Hoan, châu Ái”. Sau khi thần hóa được phong là Bột Hải đại vương và thờ ở Thái Đường.
Thật khó hiểu, giặc Ân nào ở vùng Thanh Nghệ? Châu Hoan châu Ái là vùng đất ven biển Đông nên Bột Hải phải là biển Đông, chứ không thể ở tận Mãn Châu, nơi mà thời nhà Ân người Trung Hoa còn chưa hề đặt chân tới.
Câu đối trong đền Đức Thánh Cả ở Thái Đường:
Đệ lục đại Hùng Vương thần tướng huy đao kình khô ngạc đoạn
Kỷ thiên thu Đông Hải Ân binh tuyệt mệnh kích chiết chu trầm.
Dịch:
Hùng Vương thứ sáu triều xưa, thần tướng vung đao, kình đứt sấu đoạn
Biển Đông nghìn thu thủa trước, quân Ân hết số, kích gãy thuyền chìm.
Từ “Đông Hải” trong vế đối chỉ rõ Bột Hải đại vương là người cầm quân đánh thủy binh của giặc Ân ở vùng biển Đông. Bột Hải chính là chỉ biển Đông.
Bột Hải đại vương đóng quân ở Đại Đường Châu (Thái Đường), là nơi nay có đền thờ thần trên bờ sông Đáy. Sông Đáy như vậy thời Hùng Vương có tên là sông Đại Đường. Phải chăng đây là con sông chảy qua đất Đường thời Nghiêu Thuấn?

Van PhucĐình Vạn Phúc.
Một tài liệu khác cũng xác định Cao Biền là người Bách Việt là thần tích đình Vạn Phúc (Hà Đông, Hà Nội). Theo thần tích này thì Cao Biền là “người Quảng Tín, Thương Ngô”, lấy vợ là Ả Lã Đê Nương, người Tuyên Quang. Sau khi dẹp được giặc Nam Chiếu, Cao Biền tự cho mình có công cao, xưng là Quốc vương thiên tử, phong cho Ả Lã Đê Nương là Nga Hoàng cung phi.
Quốc vương thiên tử có thể là tam sao thất bản của tên Lạc Vương:
– Lạc – Nác – Nước – Quốc.
Còn tên Nga Hoàng cung phi thì rõ ràng lấy theo tên vị vương phi của đế Thuấn. Ả Lã Đê Nương sau khi Cao Biền về Bắc đã ở lại làng Vạn Phúc, mở mang nghề tơ lụa cho người dân trong vùng. Do vậy làng lụa Vạn Phúc Hà Đông tới nay thờ bà Quốc vương thiên tử Nga Hoàng đại vương làm thành hoàng làng.
Lạc Vương hay Hùng Quốc Vương cũng có thể là tên của Đế Thuấn trong cổ sử. Cao Biền như vậy coi mình tiếp nối công đức của Lạc Vương Đế Thuấn, phong cho vợ là Nga Hoàng. Điều này cũng cho thấy Đế Thuấn là vị vua đã mở cõi Lạc Việt xưa.

CIMG9999Đền thờ Hậu Lý Nam Đế ở khu Mỹ Đình.
Trong thần tích Việt ngoài Cao Biền còn có Lý Thiên Bảo được gọi là Quốc vương thiên tử, như ở các khu Dịch Vọng, Mỹ Đình, Mễ Trì. Như trên, có thể Lý Thiên Bảo đã được gọi là Lạc Vương. Còn Lý Phật Tử ở vùng này được thờ với tên Diêm La thiên tử. Có thể:
–    Diêm La thiên tử = Diêm Vương = Quỷ Vương = Tây Vương = Thục Vương hay Chiêu Vương.
Lý Phật Tử nối ngôi Lý Thiên Bảo, như vậy hợp thành tên Chiêu Lạc vương hay Chiêu Liệt hoàng đế, tức là danh xưng của Lưu Bị nước Thục thời Tam Quốc.
Sử cũ chép (Đại Nam quốc sử diễn ca):
Cao Biền là tướng lạc điêu,
Tài danh sớm đã dự vào giản tri.
Và giải thích rằng Cao Biền có tên Lạc Điêu ngự sử vì… có tài bắn cung, một phát trúng 2 con chim điêu (xạ lạc song điêu). Đây là chép sử kiểu suy diễn, giống như giải thích cụm từ “Diên Chỉ chi Ngung” là “cõi đất diều rơi” vậy… Kiểu này khéo phải gọi Cao Biền là “Anh hùng xạ điêu” mất. Ở Ninh Bình còn có chuyện Cao Biền cưỡi diều bay qua đây bị một đạo sĩ địa phương ra tay bắn gãy cánh, rơi xuống thành núi Cánh Diều…
Nay với liên hệ Quốc vương thiên tử = Lạc Vương, thì danh hiệu Lạc Điêu của Cao Biền chính xác phải là Lạc Diêu. Lạc là đất Lạc Việt. Điêu, hay Diêu, thực ra là từ Giao. Chữ Diêu này cũng gặp trong tên Diêu Trọng Hóa của Đế Thuấn. Lạc Diêu hay Lạc Giao chỉ rõ vùng Giao Chỉ Lạc Việt hoặc là cõi Nam Giao, nơi Cao Biền, cũng như Đế Thuấn, dựng nghiệp và cai quản.
Lạc Diêu còn có thể là Lạc Diên hay Lạc Dương, là đô thành của nhà Đông Chu. Đây chính là vùng Cổ Loa của Cao Lỗ, hay Đại La do Cao Biền xây đắp.
Đối với các vị tiền nhân có nguồn gốc “phương Bắc” như Triệu Đà và Sĩ Nhiếp, chính sử Việt hết sức lúng túng trong việc nhận định là Vương hay là Giặc. Lạc Diêu Cao Biền cũng vậy. Chỗ thì ca ngợi như một người có công đánh đuổi giặc Nam Chiếu, dựng thành Đại La. Chỗ thì coi như một kẻ thâm độc, một thầy phù thủy đã trấn yểm tinh khí An Nam. Nay có thể thấy rõ, Cao Biền là người Việt chính cống, quê gốc ở Bột Hải – Biển Đông, là tướng cai quản vùng đất Lạc Việt – Giao Chỉ thời Đường. Lạc Diêu cũng là vùng đất được khai mở bởi Đế Thuấn từ thời cổ sử.
Câu đối ở đền Bột Hải đại vương có thể lấy ý từ bài thơ Bạch Đằng hải khẩu của Nguyễn Trãi:
Sóc phong xuy hải khí lăng lăng
Khinh khởi ngâm phàm quá Bạch Đằng
Ngạc đoạn kình khô sơn khúc khúc
Qua trầm kích chiết ngạn tằng tằng
Quan hà bách nhị do thiên thiết
Hào kiệt công danh thử địa tằng
Vãng sự hồi đầu ta dĩ hĩ
Lâm lưu phủ ảnh ý nan thăng.
Văn nhân góp ý:
Lĩnh Nam chích quái, truyện Tướng quân họ Cao ở Vũ Ninh có kể việc thần Cao Lỗ, tướng của An Dương Vương, đã hiển linh phù trợ Cao Biền chống giặc Nam Chiếu. Cao Biền sau khi gặp thần, tỉnh mộng có bài thơ:
Bách Việt điện khu vũ,
Nhất nhung đình sơn xuyên.
Thần linh năng trợ thuận,
Đường ra cảnh tộ diên.
Dịch:
Bách Việt vững phong cương,
Ba quân dẹp chiến trường.
Thần tiên phù chính nghĩa,
Muôn năm vững triều Đường.
Theo bài thơ này thì triều Đường là một triều đại của người Bách Việt (?!).
Đây là bổ chứng sáng giá cho Sử thuyết Hùng Việt.
Đường phát âm là Thoòng -Thường. Sử Việt gọi là Việt Thường. Tương tự Tùy là Sùi – Sủy – Sở – Thủy chính là Tủy Việt. Sử gia Trung quốc cố tình bỏ đi chữ Việt để chỉ còn Tùy – Đường trong lịch sử, mánh đổi trắng thay đen này thực đơn giản mà xem ra hiệu quả … mãi đến nay vẫn còn tác dụng tốt khiến biết bao người vẫn chưa nhận ra …

Lịch Tam Hoàng chí Tam Vương

Câu đối ở đền Hùng:
Lịch Tam hoàng chí Tam vương, thần truyền thánh kế.

Đĩnh bách nam khai Bách Việt, tổ thiện tôn bồi.

Nguyễn Khắc Xương dịch:
Trải qua ba đời đến ba đời vương, thánh thần truyền dõi.
Sinh trăm trai nở trăm giống Việt, tổ tiên xây đắp, con cháu vui bồi
.
Phần dịch của Nguyễn Khắc Xương biến các danh từ riêng (Tam Hoàng, Tam Vương, Bách Việt) thành danh từ chung, làm mất hết ý nghĩa lịch sử của câu đối.
Câu đối này nói rõ từ đời Tam Hoàng đến đời Tam Vương truyền nối nhau, đều là tổ tiên, lịch sử mở nước của Bách Việt. Trong khung cảnh của đền Hùng thì Tam Hoàng lẫn Tam Vương rõ ràng cũng là những đời vua Hùng. Vậy Tam Hoàng và Tam Vương ở đây là những ai?
Phần đầu của các vế đối gồm 3 âm tiết một đoạn, kết cấu theo kiểu của Tam tự kinh. Tam tự kinh là sách  “vỡ lòng” để học chữ Nho, được biên soạn từ thời Tống. Phần nói về khởi đầu lịch sử Trung Hoa trong sách này như sau:
Kinh tử thông, Độc chư sử.
Khảo thế hệ, Tri chung thủy:
Tự Hy Nông, Chí Hoàng Đế,
Hiệu Tam Hoàng, Cư thượng thế.
Đường hữu Ngu, Hiệu Nhị Đế,
Tương ấp tốn, Xưng thịnh thế.
Hạ hữu Vũ, Thương hữu Thang,
Châu Văn Võ, Xưng Tam Vương…

Dịch:
Thông kinh sách, Đọc truyện sử.
Xét mối đời, Biết trước sau:
Từ Hy Nông, Đến Hoàng Đế,
Kêu Ba Hoàng, Thời thượng thế
Đường và Ngu, Là Hai Đế,
Nhường vái nhau, Xưng thịnh trị.
Hạ có Vũ, Thương có Thang
Chu Văn Võ, Xưng Ba Vương.

Như vậy theo Tam tự kinh:
– Tam Hoàng gồm: Phục Hy, Thần Nông và Hoàng Đế, là các vị vua thời thượng cổ (thượng thế).
– Tam Vương gồm: Hạ Vũ, Thương Thang và Chu Văn Vương – Chu Vũ Vương là các vị vua lập nên 3 triều đại thời cổ sử Hạ – Thương – Chu, gọi là Tam Đại.
– Ngũ đế gồm: Đường Nghiêu, Ngu Thuấn (Nhị Đế) và Tam Vương ở trên.
Câu đối ở đền Hùng trên đã nêu rõ thời Tam Hoàng và Tam Vương là lịch sử của người Bách Việt. Từ Phục Hy, Thần Nông, thậm chí Hoàng Đế Hiên Viên – ông tổ của Trung Hoa cổ đều là các triều đại của người Việt. Và cả thời Tam Đại huy hoàng của Trung Hoa là nhà Hạ, nhà Thương và nhà Chu cũng đều là những … Hùng triều khác nhau mà thôi. Tất cả cùng một gốc “Đĩnh bách nam khai Bách Việt” mà ra cả. Tam Hoàng, Ngũ Đế đều là lịch sử của người Bách Việt.
Dịch lại câu đối:
Từ Tam Hoàng đến Tam Vương, thần dõi truyền, thánh nhân kế tục
Sinh trăm trai mở Bách Việt, tổ thiện đức, con cháu bồi vun.
Có lẽ người Việt nên lấy những câu đối ở đền Hùng để làm “Tam tự kinh” về lịch sử cho mình vì nay có quá nhiều người đến những câu “ba chữ vỡ lòng” này về sử Việt cũng không hiểu và không muốn hiểu.

Long mạch Tản Viên

Tản Viên Sơn Thánh (Sơn Tinh) được coi là vị đệ nhất phúc thần của nước Việt, đứng đầu trong tứ bất tử. Tương truyền rằng thần rất linh thiêng và ứng nghiệm. “Linh khí không thể lường được. Vượng khí đời nào hết” (Truyện núi Tản Viên – Lĩnh Nam chích quái). Ngọn núi Ba Vì hay núi Tản Viên của Sơn Tinh cũng được cho là nơi phát gốc long mạch cho kinh đô nước Việt… Vậy thần phép của Tản Viên Sơn Thánh là gì? Lần theo thần tích Việt và thần thoại Trung Hoa, sẽ cho câu trả lời về phép thần của Sơn Tinh và long mạch của núi Tản.
Quê hương và thời niên thiếu của Sơn Tinh
Theo các thần tích vùng Sơn Tây, Vĩnh Phú thì Tản Viên Sơn Thánh là người ở động Lăng Xương (Thanh Thủy – Phú Thọ ngày nay), tên là Nguyễn Tuấn (Nguyễn Tùng), con ông Nguyễn Cao Hạnh (Hành) và bà Đinh Thị Điêng (Đen). Khi lớn lên nhận bà Ma Thị Cao Sơn ở núi Ngọc Tản làm mẹ nuôi.

LangXuong

Đền Lăng Xương, nơi sinh ra Thánh Tản

Động Lăng Xương có thể là Lang Xương, trong đó Lang là Vua. Động Lăng Xương như vậy có nghĩa là nơi quê gốc của Vua. Vua ở đây chính là thần Tản Viên.
Mẹ đẻ của Nguyễn Tuấn là bà Đinh Thị Điêng hay Đen, còn gọi là Thái Vĩ. Đinh là hướng Tây. Đen là tên của sông Đà xưa. Đinh Thị Đen có nghĩa chỉ Thái bà (Thái Vĩ hay Thái Thủy) là người ở Tả ngạn sông Đà (dòng sông Đà ở quãng chân núi Ba Vì đổi hướng chảy lên phía Bắc, nên tả ngạn sông nằm ở phía Tây).
Bà mẹ nuôi Ma Thị Cao Sơn có lẽ cũng chỉ có nghĩa là Mẫu Thượng Ngàn vì: Ma = Má = Mẫu, Cao Sơn = Thượng Ngàn. Bà Ma Thị Cao Sơn ở Ba Vì được thờ như Mẫu thượng ngàn, là người cai quản núi Ba Vì trước khi “di chúc” lại cho Thánh Tản.
Long mạch Tản Viên
Tản Viên Sơn Thánh đã đi khắp nơi, dựng nhiều hành cung trên đất Việt. Hiện tại hệ thống các hành cung của Tản Viên còn lại gồm:
Thượng cung thần điện là đền Thượng, nằm trên đỉnh Tản của Ba Vì.
Tây Cung gồm đền Trung trên núi Chàng Rể và đền Hạ ở bờ hữu sông Đà, đối diện với quê Lăng Xương.
Nam Cung là đền Ao Vua.
Đông Cung là đền Và ở cạnh thị xã Sơn Tây, cạnh sông Hồng. Hội đền Và khi tổ chức còn có sự tham gia của làng Duy Bình, nơi có đền Dội ở đối diện bên kia bờ sông Hồng, tương truyền là nơi Thánh Tản đã lấy nước tắm bên sông.
Bắc Cung là đền Thính ở Tam Hồng – Yên Lạc – Vĩnh Phúc. Thính là đọc tránh âm của Thánh. Bắc Cung Thượng là đền Tranh ở Trung Nguyên – Yên Lạc – Vĩnh Phúc. Yên Lạc cũng là nơi có di chỉ khảo cổ Đồng Đậu, với tầng văn hóa từ thời Phùng Nguyên.
Theo thần tích đền Và thì cung Trung và cung Hạ (Tây Cung) là nơi cầu đảo, tế lễ. Đông Cung là nơi “nghe tâu bày các việc”. Bắc Cung là nơi nghỉ ngơi.
Tuy gọi là Đông – Tây – Nam – Bắc cung nhưng nếu nhìn trên bản đồ thì các cung này nằm gần như trên cùng một đường thẳng chạy theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, cắt vuông góc với sông Hồng ở gần Sơn Tây.  Đây là cũng là hướng “tọa Cấn hướng Khôn”, hướng của đền Thượng như ghi trong thần tích đền Và.
Longtruong
Lĩnh Nam chích quái cho biết Sơn Tinh đã “làm một con đường thẳng như sợi dây từ Bạch Phiên Tân lên thẳng phía Nam núi Tản Viên tới động An Uyên”. Có thể thấy con đường này chính là từ bến thuyền trên sông Hồng cạnh Sơn Tây (nay là phà Mông Phụ – Vĩnh Thịnh), chạy thẳng lên đền Thượng theo hướng Đông Bắc – Tây Nam (hướng Cấn – Khôn).
Liệu việc bố trí “ngũ hành cung” theo một đường thẳng, với phương vị nhất định như vậy có phải chính là long mạch của núi Tản? Có phải đây chính là cây gậy thần của Sơn Tinh chặn ngang dòng sông Hồng để trị thủy? Trước các đền thờ Tản Viên người ta đều xây giả sơn và thờ ngũ hổ (ngũ hành). Sơn Tinh có thể là ông tổ của môn phong thủy địa lý học phương Đông.
Đế xuất hồ Chấn
Đông Cung Tản Viên nay là đền Và, ở làng Vân Già, cạnh thị xã Sơn Tây. Tương truyền khi Tản Viên đi qua đây thấy có đám mây che phủ, cho là điềm lành, nên dựng hành cung ở đây, gọi là Vân Già. Thực ra Vân Già chỉ là tên phiên thiết âm Nôm của từ Và mà thôi.
Đông Cung là nơi có cung điện chính, được chép là nơi Tản Viên “nghe tâu bày các việc”. Đền tới nay được dựng với hệ thống tượng như một triều đình. Như vậy thì rõ ràng Tản Viên đã lên ngôi vua. Đền Và = Vua = Vũ.
Nam Cung Tản Viên đóng tại Ao Vua. Thần Tản Viên được người Mường gọi là Bua Thơ hay Bua Ba Vì. Bua = Vua. Rõ ràng Tản Viên không phải chỉ dừng lại là con rể của Hùng Vương cuối cùng (thứ 18) mà chính là một vị vua Hùng, có tên là Vua=Vũ. Quê Tản Viên ở Lăng Xương hay Lang Xương cũng khẳng định thêm điều này. Vua Vũ Tản Viên đã dựng hành cung khắp nơi. Nếu Tản Viên chỉ là con rể vua Hùng thì đã không thể dựng nhiều hành cung như vậy.
Hoành phi ở đền Và:
XuathoChan
Xuất hồ Chấn
Và đôi câu đối ở nghi môn:
Đề vu Tây, hỗ trấn nguy nguy thiên bính thọ?
Xuất hồ Chấn, cố cung hách hách nhật đồng quang.
Những câu này lấy ý trong thuyết quái truyện của Kinh Dịch: “Đế xuất hồ Chấn”. Chấn là quẻ của phương Đông. “Xuất hồ Chấn” ý nói đế vương tại Đông Cung (đền Và). Thông tin này một lần nữa khẳng định Tản Viên đã là bậc đế vương, là một vị vua Hùng. Tản Viên chính là vua Vũ, là Đại Vũ trị thủy trong Hoa sử.
Tiên trượng ước thư
Theo thần tích đền Và, phép thuật của Tản Viên bắt đầu từ việc đi chặt cây trên núi Tản gặp Thái Bạch Thần Tinh, được truyền cho cây gậy thần đầu sinh đầu tử. Từ đó Nguyễn Tuấn xưng là Thần Sư, bắt đầu đi cứu dân độ thế. Bảo bối thứ hai của Thánh Tản bắt đầu từ việc cứu được con rắn thần, là con trai Long Vương ở Động Đình. Sau khi xuống thăm Long cung Tản Viên đã được tặng quyển sách ước. Tản Viên từ đó dùng gậy thần và sách ước đi khắp nơi, lấy được công chúa Ngọc Hoa, chiến thắng Thủy Tinh, đánh quân Thục,…
Hiện nay ở các cung điện cũ của thần Tản Viên đều có nhắc đến 2 bảo vật gậy thần sách ước trên. Câu đối ở đền Và (Đông Cung) ở thôn Vân Già, Sơn Tây:
Tiên trượng ước thư truyền dật sử
Đông cung Tây trấn ngật linh từ.
Dịch:
Gậy thần sách ước dã sử truyền
Cung Đông trấn Tây đền linh tỏ.
Hay câu đối khác cùng một ý tại đền Và:
Thần vi chi linh, địa vi chi linh, diệc nhân sùng vi chi linh, ngật nhĩ Đông cung Tây trấn
Sơn đắc kỳ thuật, thủy đắc kỳ thuật, túc kim dục đắc kỳ thuật, diêu hô tiên trượng ước thư.
Dịch:
Thần linh thiêng, đất linh thiêng, vĩ nhân linh thiêng, Cung Đông trấn Tây cao ngất
Núi thành thuật, sông thành thuật, đạo đức thành thuật, gậy thần sách ước diệu kỳ.

BacCungThuong

Bắc Cung Thượng – Đền Tranh

Câu đối khác ở chính điện đền Tranh:
Tây Tản di truyền, trúc trượng anh linh phù quốc thịnh
Bắc cung hiển thuật, sách ước thiểm? pháp độ dân an.
(? là những chữ Nho không đọc được)
So sánh với chuyện vua Vũ trong thần thoại Trung Hoa:
… Vũ đang đứng trên bờ quan sát sức mạnh của dòng nước thì thấy một ông già mặt trắng trẻo, mình cá, nhảy lên từ dòng sông … Ông già tự xưng là Hà Bá. Vị thần này cho Vũ một phiến đá to màu xanh… Đó chính là Hà Đồ”.
Rồi tiếp theo còn có chuyện Vũ gặp một con rắn thần ở trong hang, rắn dẫn Vũ tới gặp Phục Hy và Phục Hy trao cho Vũ một thanh Ngọc giản, có thể đo đạc được trời đất.
Có thể thấy chuyện Sơn Tinh được gậy thần sách ước và chuyện Đại Vũ được Hà đồ, Ngọc giản chỉ là một. “Ông già mặt trắng” có thể chính là Thái Bạch Thần Tinh. Thái Bạch = Thái Hạo (Hạo là sáng, bạch), cũng là tên khác của Phục Hy trong truyền thuyết. Phục Hy tương truyền có mình rắn. Phục Hy là người tìm ra Bát quái nên hoàn toàn có thể Phục Hy chính là Thái Bạch Tử Vi thần tướng. Phục Hy là vị thần chấn Đông nên cũng có thể là Long Vương Động Đình.
Theo truyện Dịch thì Phục Hy là người đã chép Hà đồ từ lưng con Long Mã (= con rồng, rắn thần). Còn vua Vũ vẽ Lạc Thư từ lưng con Thần Qui. Có thuyết khác lại cho rằng cả Hà đồ lẫn Lạc thư đều do Đại Vũ nghĩ ra. Dù thế nào thì rõ ràng phép thần của Tản Viên Sơn Thánh chính là Hà Lạc, được tiếp thụ từ tiền nhân và sáng tạo thêm trong quá trình trị thủy.
Sơn Tinh – Thủy Tinh
Trong các câu đối đã nêu tại Đông Cung có nói tới “Tây Trấn”, “đề vu Tây” (ở tại phương Tây). Tại sao lại là Tây? Lý do rất rõ: Tản Viên (Nguyễn Tuấn, Nguyễn Tùng) là Tốn Vương, Tốn là quẻ chỉ hướng Tây. Tản Viên Nguyễn Tuấn chính là vị Tuấn Lang (Hùng Việt) trong Hùng triều ngọc  phả.
Thủy Tinh là con trai Long Vương Động Đình, điều này cho thấy Động Đình chính là biển Đông ngày nay, chứ không phải đầm Vân Mộng ở Vân Nam. Hơn nữa cơn đại hồng thủy thời Sơn Tinh là một cơn đại hồng thủy biển, chứ không phải lũ lụt sông thông thường. Lĩnh Nam chích quái còn chép hướng tiến công của Thủy Tinh là “mở một dải sông Tiểu Hoàng Giang từ Lý Nhân ra Hát Giang, vào sông Đà Giang để đánh ập sau lưng núi Tản Viên” (Lý Nhân có thể là Nhân Lý, một làng ở gần thị xã Sơn Tây). Với hướng đi thế này thì cơn hồng thủy phải là đến từ biển Đông. Nước từ biển Đông dâng sang Sơn Tây của Tản Viên.
Sơn Tinh đánh Thủy Tinh tương ứng với Đại Vũ trị thủy. Theo thần thoại Trung Hoa thì Đại Vũ khi trị thủy đã đánh nhau với thần nước Cộng Công. Như vậy Cộng Công chính là Thủy Tinh trong truyền thuyết Việt.
Cộng Công quyết một phen sống mái với Vũ nên đã dâng nước lên cao, cao đến tận đất Không Tang”.
Không Tang phiên thiết cho từ Khang. Đất Không Tang chính là vùng Khang ấp của vua Vũ. Khang cũng là tính chất của phương Tây. Nói cách khác, Không Tang là vùng Sơn Tây, nơi xảy ra cuộc chiến giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh. Khang Ấp chính là Tây Trấn – Sơn Tây, nơi có Đông Cung của vua Vũ (Và).

Nghimon-1
Nghi môn đền Và

Người lạ dùng ảo thuật ở Gia Ninh
Lĩnh Nam chích quái, truyện núi Tản Viên: “đại vương Sơn Tinh họ Nguyễn, cùng vui với các loài thủy tộc ở đất Gia Ninh, huyện Phong Châu”.
Việt sử lược về sự thành lập của nước Văn Lang: “Đến thời Trang Vương nhà Chu ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng ảo thuật áp phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang, hiệu là nước Văn Lang, phong tục thuần hậu chất phác, chính sự dùng lối kết nút. Truyền được 18 đời đều gọi là Hùng Vương.”
Tới đây ta hiểu, “người lạ dùng ảo thuật ở bộ Gia Ninh” đã áp phục các bộ lạc chính là Tản Viên Sơn Thánh, người đã tập hợp nhân dân Việt trong cuộc đấu tranh chống nạn hồng thủy. Phép “ảo thuật” ở đây không gì khác là Hà đồ và Lạc thư, là Dịch học của người họ Hùng. Quốc tổ họ Hùng không phải là một thầy phù thủy, mà là một nhà khoa học vào thủa bình minh của dân tộc.
Tản Viên Sơn Thánh là người đã dựng nghiệp họ Hùng của dân Việt từ việc trị thủy an dân thắng lợi, là Hùng Việt Tuấn Lang trong Hùng triều ngọc phả, là Đại Vũ, người lập nên nhà Hạ, mở đầu thời kỳ lịch sử của người Hoa Việt trên 4000 năm trước.

Đô Dương, Mã bất tiến

DinhHoiPhu

Đình Hội Phụ, quê hương của các tướng Đào Kỳ – Phương Dung

Trong tác phẩm Anh hùng Lĩnh Nam, bác sĩ Trần Đại Sỹ có kể lại câu chuyện khá cảm động của hai vợ chồng Đào Kỳ và Phương Dung, là tướng của Hai Bà Trưng, đóng ở vùng Bắc sông Đuống. Trong trận Cấm Khê Đào Kỳ đã bị thương, về đến Cổ Loa thì mất. Phương Dung tuẫn tiết theo chồng. Câu đối còn truyền lại nói về hai vị tướng này:
Vị lý Phục Ba thi, loan giá lâm lưu không ẩm hận
Bất ly Tiên trấn giáp, Loa thành qui mã thượng trì thanh.
Dịch nghĩa:
Chưa bọc xác Phục Ba, cạnh sông xe loan còn vang uất hận.
Không rời giáp Tiên Trấn, ngựa về Cổ Loa, vẫn vọng âm thanh.

LangDaoKy

Lăng Đào Kỳ ở Mai Lâm – Đông Anh

Câu đối khác tương truyền có ở đền thờ Đào Kỳ – Phương Dung ở làng Hội Phụ:
Giao Chỉ tượng thành công dư lục thập thành giai kiện tướng.
Đô Dương mã bất tiến hậu thiên vạn tải hữu linh thần.
Bác sĩ Trần Đại Sỹ dịch là:
Voi Giao Chỉ đã thành công, hơn sáu mươi thành đều công tướng giỏi
Ngựa Đô Dương chậm bước, nên muôn ngàn năm sau thần vẫn linh.

Tuy nhiên, câu đối này nếu dịch như vậy thì có chỗ không ổn. “Mã bất tiến” đúng nghĩa phải là “không tiến lên được”, không phải là “chậm”. Nếu hiểu là “ngựa Đô Dương” không chịu tiến thì thành ra vì Đô Dương không chịu đi ứng cứu nên Đào Kỳ – Phương Dung mới tử trận và hóa thần? Thật vô lý. Đô Dương là tướng của Hai Bà sau đó còn kiên cường chiến đấu ở Cửu Chân chống giặc. Chẳng nhẽ câu đối ở đền thờ này nói tới chuyện “bất hòa” nào đó giữa Đô Dương và Đào Kỳ – Phương Dung?

Hiểu chính xác hơn: “Mã bất tiến” đây là quân của Mã Viện đã không thể tiến lên được bởi sự kháng cự của Đô Dương. Đây là một bằng chứng cho thấy cuộc đàn áp của Mã Viện đã không hoàn toàn thành công như sử vẫn chép. Sau khi Hai Bà mất, Đô Dương lui về giữ Cửu Chân và đã cản được bước tiến của Mã Viện xuống phía Nam. Đô Dương không phải chỉ cầm cự được với Mã Viện trong 2 năm như chính sử viết, mà Mã Viện đã “không thế tiến” được qua đất của Đô Dương.

Vậy Đô Dương, người thực tế đã tiếp nối thành công sự nghiệp của Trưng Vương là ai? Sử cũ hầu như không cho biết gì về Đô Dương cả. Người đã ngăn được bước tiến của giặc Mã phương Bắc không thể không có những vết tích để lại.

Theo Thiên Nam ngữ lục thì Mã Viện và quân Hai Bà đã giảng hòa và dựng cột đồng làm mốc giới ở Man Thành (Bắc Quảng Tây). Cột đồng Mã Viện dựng nên chính nơi Mã Viện đã không thể tiến thêm được nữa, tức là nơi đánh mốc giữa nhà Đông Hán và nước của Đô Dương. Biên giới này nằm ở nơi Đô Dương trấn giữ là Cửu Chân.
Cửu Chân cương lý dư, địa thượng Bắc Nam công bán tại

Rõ ràng Cửu Chân, nơi phân chia Nam Bắc không thể là vùng Thanh Hóa mà phải ở Quí Châu, nơi có Man Thành và cột đồng được dựng.
Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” là lời đe dọa của Mã Viện sẽ bẻ gãy mốc giới để tấn công tiêu diệt Giao Chỉ. Cột đồng như vậy là hình ảnh tương trưng cho sự bất khuất của quân dân Giao Chỉ chứ không phải là biểu trưng thành tích của Mã Viện.

Trong câu đối trên từ “” được dùng để chỉ quân Đông Hán nói chung chứ không riêng gì Mã Viện. Và như vậy đối lại, từ “Tượng” ở vế trên cũng là danh từ riêng, chỉ quân vua Trưng, chứ không phải là chỉ “voi Giao Chỉ” như vẫn dịch. Tượng là phương Tây, Mã là phương Bắc.

Một lần nữa lại thấy triều đại của vua Trưng có thể đã được gọi là Tây, cũng như trong câu:
Tiếp Lạc khai Đinh, quan miện xưng vương tam tải sử

Đinh= Tây, Tượng = Tây. Tới đây ta hiểu vì sao lại có hình ảnh Trưng Vương cưỡi voi. Đó là hình ảnh của vua Trưng trên ngôi Hoàng đế của nước Tượng – Tây – Đinh.
Có sách ghi cha của Hai Bà Trưng cũng có tên là Hùng Định, có phải cũng muốn nói Hai Bà là dòng giống vua Hùng ở hướng Tây?
Liệu Tượng ở đây có phải muốn nói tới Tượng quận đời Tần?

Theo Văn nhân, Đô Dương có thể chính là Khu Liên / Khu Đạt, người lập nên nước Lâm Ấp, và là Đạt Vương của người Choang ở Quảng Tây.
Theo gia phả họ Phạm:
Sau khi Triệu Đà chống lại nhà Nam Hán, lập nên nước Nam Việt (207 trc CN) sáp nhập nước Âu Lạc vào Nam Việt và thu gom cả đất Nam Hà (xứ Lâm ấp). Chỉ đến khi nhà Hán xâm chiếm lại Nam Viêt, nhà Triệu bị diệt vong (111 trc CN) thì họ Lý xưng vương xứ Lâm Ấp. Mãi đến đời Lý Khu Kiên mất, họ Phạm kế vị với 19 đời vua trải qua gần 500 năm (140-605), đóng đô tại thành Châu Sa…

Dễ dàng thấy rằng Lý Kiên là tên phiên thiết của Liên, hay Lý Khu Kiên = Khu Liên. Thông tin Khu Liên họ Lý, là Đô Dương lại đóng ở Cửu Chân sau khởi nghĩa Hai Bà Trưng dẫn đến một suy nghĩ khác. Khu Liên hay Đô Dương có thể chính là Lý Thiên Bảo trong cuộc khởi nghĩa tiếp theo vì:
Lý Thiên phiên thiết là Liên. Lý Thiên Bảo = Bảo Liên = Khu Liên.

Nơi Khu Liên khởi nghĩa được biết là Tượng Lâm, có thể là gồm Tượng quận và Lâm Ấp, tức là Vân Nam và Quảng Tây. Địa bàn này hoàn toàn trùng với ghi chép về Lý Thiên Bảo ở Ai Lao (đất người Di ở Vân Nam – Quí Châu) và Đạt Vương ở Quảng Tây. Nước “Lâm Ấp” ở vị trí miền Trung Việt Nam ngày nay như vậy không phải bắt đầu từ Khu Liên mà là từ sau khởi nghĩa Bà Triệu vào thời Ngô của Tôn Quyền, với vị vua đầu tiên họ Phạm (Phạm Hùng).

Lý Thiên Bảo theo sử Việt chạy về Cửu Chân rồi lập nước Dã Năng ở Ai Lao, lên ngôi Đào (Đoài) Lang Vương. Đoài = Định Đoạt = Đạt, là quẻ Đoài chỉ phương Tây. Như vậy Đoài Lang Vương của người Ai Lao Di có thể cũng là Đạt Vương của người Choang ở Quảng Tây. Nước của Đô Dương như trong các câu đối về Hai Bà Trưng có tên là Đinh hay Tượng, tức là Tây. Nước của Lý Thiên Bảo và Lý Phật Tử lập nên sau này cũng sẽ là Tây, là nước Thục.

Thật bất ngờ khi biết khởi nghĩa Trưng Vương đã dẫn đến sự hình thành nước Thục của Lý Phật Tử – Lưu Bị. Như vậy khởi nghĩa Hai Bà Trưng không gì khác chính là khởi nghĩa Hoàng Cân cuối đời Đông Hán. Quân Hai Bà Trưng dùng màu vàng làm cờ hiệu có lẽ muốn nhấn mạnh tính “Lạc Hùng chính thống” của mình theo quốc tổ Hữu Hùng Hoàng Đế. Giặc Mã không tiến được trước quân của Đô Dương – Lý Thiên Bảo /Lưu Biểu ở Quí Châu rõ ràng như vậy chính là quân của Tào Tháo.

Dịch lại câu đối ở đền Đào Kỳ – Phương Dung theo nghĩa mới phát hiện:
Giao Chỉ, Tượng thành công, dư lục thập thành giai kiện tướng.
Đô Dương, Mã bất tiến, hậu thiên vạn tải hữu linh thần.
Dịch là:
Chốn Giao Chỉ quận Tượng thành công, sáu mươi thành lẻ đâu cũng là tướng giỏi
Gặp Đô Dương giặc Mã hết lối, muôn ngàn năm sau mãi mãi có thần thiêng.

NgheLeXa

Nghè Lê Xá thờ Đào Kỳ – Phương Dung ở Đông Anh với câu đối:
Cử mục sơn hà vô Hán tướng,
Thệ tâm thiên địa hữu Trưng vương.

Dịch:
Ngước mắt núi sông không tướng Hán
Tâm nguyền trời đất có vua Trưng.

Khởi nghĩa Hai Bà Trưng quả là một thời bi tráng. Dưới sự đàn áp tàn bạo của quân Đông Hán, khởi nghĩa vẫn không thất bại mà cả một vùng Lĩnh Nam đã được giữ vững, buộc giặc Hán phải cắm mốc phân biên, khai mở một triều đại mới của người Việt là nước Thục của họ Lý.

Văn nhân góp ý:

Tiến sĩ Nguyễn Việt trong bài “Nguồn cội hình thành truyền thuyết Thánh Gióng” cho biết:
Hậu Hán thư có nói đến công trạng của Nhâm Diên khi làm thái thú Cửu Chân (24-29 sau Công nguyên) đã hòa giải được với man Dạ Lang để giảm được quân tuần tra đồn trú.
Nhưng do cách nhìn nhận cũ Cửu chân là vùng Thanh Hóa nước Việt nên tác giả đã lấy đấy làm dẫn chứng cho ý kiến của mình: có người Man Dạ lang ở ngoài Quý châu.
Đoạn văn : … Nhâm Diên khi làm thái thú Cửu Chân (24-29 sau Công nguyên) đã hòa giải được với man Dạ Lang… đã xác định: Cửu chân chính là Quý châu   và là đất của Âu – Lạc như tư liệu lịch sử viết: ‘Qúy châu bản Tây Âu – Lạc việt chi địa’.

Sự nghiệp trăm năm

Câu đối ở đền Hát Môn thờ Hai Bà Trưng:
Mẫu phúc thụ tư, miếu mạo Tương linh thiên tải hậu
Nhân sinh ngưỡng chỉ, thần công Đông Hán bách niên tiền

Câu đối này tuy đơn giản nhưng có 2 chỗ cần suy nghĩ. Ở vế đầu có tên riêng “Tương linh” không rõ nghĩa là gì. Ở vế sau có nói tới “bách niên tiền” – “trăm năm trước”. Trăm năm là so với thời điểm nào, tại sao khởi nghĩa Hai Bà Trưng lại kéo dài tới trăm năm?

Chữ “Tương linh” đối với “Đông Hán” rõ ràng là tên riêng, chỉ Hai Bà Trưng. Có thể có mấy cách giải thích:
– “Tương linh” là thần sông Tương, lấy tích Nga Hoàng Nữ Anh mà chỉ Hai Bà. Nga Hoàng Nữ Anh là con của Đế Nghiêu được gả cho Đế Thuấn. Khi Đế Thuấn mất hai vị vương phi này đã tự vẫn theo chồng ở sông Tương. Còn Hai Bà Trưng khi Thi Sách bị giặc giết thì tự mình phất cờ khởi nghĩa, giành thắng lợi, sau đó khi Mã Viện tấn công chị em đã tự vẫn ở sông Hát. Liên hệ sự so sánh này với câu đối đã trình bày ở bài trước tại đền Hát Môn:
Việt tổ bách nam, gián xuất anh thư năng phục quốc
Đường sơ song nữ, vị văn khuê tú tự hưng vương.
Dịch:
Trăm trai tổ Việt, chợt có bậc anh thư tài phục quốc
Đôi gái sơ Đường, có nghe đấng khuê tú tự xưng vua.

– Một khả năng khác: “Tương” là chữ ghi kỵ húy của vua Trưng. Trong đền Hát Môn không thấy chỗ nào có chữ Trưng cả, mà chỉ dùng Tương để chỉ Trưng vương. Ví dụ như trong câu:

Tây Giang tỉ muội thần Tương nữ
Đông Hán tung hoành bá Việt vương.
Dịch:
Ngang dọc Việt vương làm bá chủ thời Đông Hán
Chị em Trưng nữ hoá thần thánh ở sông Tây.
Tây Giang ở đây có lẽ chỉ sông Hát.

Việc chữ Tương dùng ghi kỵ húy cho tên Trưng cho thấy khả năng Hai Bà có họ… Trương. Tương = Trương = Trưng. Trong bách gia tính của người Hoa Việt không hề có họ Trưng nên khả năng Hai Bà mang họ Trương thì hợp lý hơn.

Vấn đề thứ hai về cụm từ “bách niên tiền” phức tạp hơn. Nếu hiểu thông thường “thần công Đông Hán bách niên tiền” có nghĩa là “thần công của nhà Đông Hán trăm năm trước”. Tuy nhiên dịch như vậy thành ra vô lý. Câu đối trong đền thờ Hai Bà Trưng không thể ca ngợi “thần công” của nhà Đông Hán được. Còn “trăm năm trước” thì càng chẳng biết tính trăm năm là từ lúc nào. Câu đối này làm ra vào khoảng thời Nguyễn, từ thời Đông Hán đến thời Nguyễn có cả ngàn năm, làm sao tính có trăm năm được?

Về đối thứ hai cần hiểu như sau:
– “Thần công Đông Hán” không phải là “thần công của nhà Đông Hán” mà là thần công (của Hai Bà Trưng) vào thời Đông Hán.
– “Bách niên tiền” không hiểu là vào trăm năm trước mà là trong vòng trăm năm xưa.
Như vậy vế đối này hiểu là:
Người đời còn ngưỡng mộ, công nghiệp trăm năm thời Đông Hán xưa.

Tới đây thì có vấn đề phải bàn. Theo sử Trưng nữ vương khởi nghĩa thành công, lên ngôi vua năm 40 sau CN. Sau đó chỉ vẹn vẻn có 3 năm,  tới năm 43 Hán Quang Vũ sai Phục Ba Mã Viện sang đàn áp. Vậy “thần công trăm năm” của Hai Bà ở đây là gì?

Thiên Nam ngữ lục có kể chuyện khác với chính sử. Mã Viện đánh nhau long trời lở đất với Hai Bà Trưng, không thắng được, phải giảng hòa, dựng cột đồng ở Man Thành (Quảng Tây). Hai Bà sau đó không may bị nhiễm bệnh mà mất.

Theo chính sử, người kế tục Hai Bà là Đô Dương, đã kháng cự thành công quân Mã Viện ở Cửu Chân. Hàng loạt khởi nghĩa tiếp theo của Chu Đạt, Lương Long, Triệu Thị Trinh cho thấy sự nghiệp khởi đầu từ Hai Bà Trưng đã không chỉ dừng lại có 3 năm, mà đây là một cuộc kháng chiến… trường kỳ, trong suốt thời Đông Hán, tới thời Tam Quốc mới mở ra cục diện khác…

Dịch lại câu đối trên:
Đền miếu nghìn thu, linh thiêng phúc lớn từ Trưng Mẫu
Sự nghiệp trăm năm, ngưỡng mộ người đời thủa Hán Ngô.

Cuộc khởi nghĩa của Trưng nữ vương nổ ra trên bảy quận Hoa Nam thời Đông Hán đã không thất bại. Trái lại khởi nghĩa nối tiếp khởi nghĩa, kéo dài cả trăm năm, làm nhà Đông Hán lung lay tận gốc và sụp đổ, dẫn đến cục diện hai nước của người Bách Việt là Thục và Ngô chống giặc Ngụy.

Nếu gạch “Giang Tây chuyên” là gạch của Tĩnh Hải quân thì “Tây Giang” ở câu đối trên cũng có thể nghĩa là đất Tĩnh Hải. Như vậy sẽ hợp lý hơn vì khó mà trong cùng một vế có tới 2 con sông (Tây Giang và sông Tương).

Văn nhân góp ý:
Bách Việt thân, Tôi đang suy nghĩ, có thể 2 chữ Việt hiện thường dùng lẫn lộn thực ra chỉ 2 khái niệm khác nhau có thể phân biệt rạch ròi:
– Chữ Việt bộ Mễ là chữ Việt Tĩnh dùng chỉ đất nước – quốc gia. (đất thì tĩnh)
– Chữ Việt bộ Qua (tẩu?) là chữ Việt động dùng chỉ dân tộc – dòng giống (người
thì động). Có phân biệt như thế mới có thể lý giải … tại sao lại có tới 2 chữ Việt?

Tản Viên

Tôi nghe kể chuyện thánh Tản Viên
Lang Xương quê mẹ chốn thần tiên
Mười tháng sinh con bao khó nhọc
Nghìn năm vết đá dấu lưu truyền.

Ngọc Lĩnh mây bay tự bao đời
Thần truyền gậy trúc phép nơi nơi
Hiển hiện diệu kỳ trang sách ước
Bao trùm Hà Lạc khắp đất trời.

Ngũ hành bày trận chắn ngang sông
Thắng thủy Sơn Tinh thủa Lạc Hồng
Xuất Chấn đế vương trong chín cõi
Nguy nga Tây trấn chốn Đông cung.

Núi cao, sông rộng, đất xanh mầu
Công ơn vua Vũ biết bao sâu
Thống nhất Ba Vì, khai sử Việt
Linh thần bất tử mãi mai sau.

Đinh và Đường

Đền Hát Môn ở cửa sông Hát, Hà Nội ngày nay, tương truyền là nơi Hai Bà Trưng đã hội thề, phất cờ khởi nghĩa chống lại quân Đông Hán. Thiên Nam ngữ lục còn ghi lại lời thề này:

Một xin rửa sạch thù nhà
Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng

DantheHatMon

Đàn thề Hát Môn

Trong đền có câu đối:
Đại nghĩa phục phu thù, do kim Đông Hán đương thời, Lĩnh Nam lục thập ngũ thành lao viễn lược
Hồng đồ triệu quốc thống, tòng thử Hoàng Đinh nhi hậu, Việt Điện sổ thiên dư tải định thiên thư.

Trong vế thứ nhất có chữ “thời” được ghi bằng chữ “thìn” do kỵ húy vua Thành Thái. Như vậy câu đối này có khoảng vào thời nhà Nguyễn.

Ở câu đối này về Hai Bà Trưng một lần nữa lại thấy xuất hiện triều nhà Đinh, tương tự như trong câu đối tại đền Đồng Nhân (cũng là một câu đối thời Nguyễn):
Tiếp Lạc khai Đinh, quan miện xưng vương tam tải sử
Khu Tô kháng Mã, sơn hà hoàn ngã vạn niên phương.

Trong câu đối nói rõ triều Hoàng Đinh này cách nay “trên mấy nghìn năm”. Vì thế đây không thể là triều Đinh của Đinh Tiên Hoàng vào thế kỷ 10 được. Triều Đinh của Đinh Bộ Lĩnh cũng không có liên quan gì tới Hai Bà Trưng cả, nên đưa vào câu đối này không hợp lý.

Triều “Hoàng Đinh” đối lại với nhà “Đông Hán” ở đây rõ ràng chỉ triều đại do vua Trưng lập nên. Ý nghĩa chữ Đinh như đã trình bày ở bài trước có nghĩa là:
Đinh = Tây = Thục.
Đinh là quốc danh của triều đại Trưng Vương còn lưu mãi tới thời Nguyễn.
Còn chữ “Hoàng” liệu có phải trong từ … “Hoàng Cân”, khởi nghĩa Khăn vàng cuối thời Đông Hán?

Dịch câu đối trên:
Nghĩa lớn báo thù chồng, sánh ngang Đông Hán một thời, sáu mươi năm thành Lĩnh Nam lâu kế sách
Lạc Hồng mở quốc thống, từ buổi Hoàng Đinh về sau, trên mấy nghìn năm nước Việt lập sử xanh.

Chữ “định thiên thư” đây nên hiểu khác với “Tiệt nhiên định phận tại thiên thư” của bài Nam quốc sơn hà. “Thiên thư” hay Kinh thư là cuốn sách ghi chép lịch sử của Trung Hoa cổ đại. “Định thiên thư” đi với “triệu quốc thống” (mở truyền thống quốc gia) thì không phải phận nước do trời định mà chính khởi nghĩa của Hai Bà đã mở ra lịch sử mấy ngàn năm của giống Lạc Hồng.

Một cấu đối khác ở đền Hát Môn cũng không kém phần kỳ bí:
Việt cổ bách nam, gián xuất anh thư năng phục quốc
Đường sơ song nữ, vị văn khuê tú tự hưng vương.

Kỳ lạ nhất chính là chữ “Đường sơ song nữ”. Hai Bà Trưng khởi nghĩa thì liên quan gì đến thời “Sơ Đường” của mấy trăm năm sau?

Để hiểu được câu này cần làm rõ nghĩa từ “Đường”. “Đường” ở đây không phải là nhà Đường từ Lý Uyên. Đúng hơn phải là đất Đường thời Nghiêu Thuấn. Đường với nghĩa là Nam, chỉ Nam Giao thời cổ, nơi Nghiêu Thuấn đã khai phá, mở mang và lập quốc thống.

Chữ “Đường” này có thể là “Thường” trong từ “Việt Thường”, tên gọi nước ta thời cổ sử. Như vậy thời “Đường Sơ” là thời đầu của sử Việt, hoàn toàn phù hợp với khởi nghĩa của Hai Bà Trưng.

Cũng có thể hiểu khác. Thời Đường Ngu có hai vị Nga Hoàng và Nữ Anh được đế Nghiêu gả cho Đế Thuấn. Đế Thuấn đi tuần ở phương Nam mất, hai vị vương phi đã khóc lóc thảm thiết và nhảy xuống sông Tương tự tự. Phải chăng câu đối muốn so sánh việc này với khí phách của Hai Bà Trưng, tuy chồng mất (Thi Sách bị giết), nhưng không theo thói khuê nữ thường tình, mà tự dựng cờ khởi nghĩa, lên ngôi vua?

Dịch nghĩa:
Trăm trai tổ Bách Việt, bỗng sinh bậc anh thư có tài phục quốc
Đôi gái thời Đường Ngu, có nghe đấng buồng khuê tự khởi nghiệp vương.

Hai câu đối đền Hát Môn cho hai thông tin liên quan tên gọi nước ta thời cổ. Thứ nhất là “Đinh” với nghĩa là phương Tây, quốc danh thời Trưng Vương. Thứ hai là “Đường” với nghĩa “Nam”, chỉ rõ đất Việt là tiếp nối từ thời Đường Nghiêu Ngu Thuấn khai mở Nam Giao xưa.