Thánh Tam Giang và bài thơ Nam quốc sơn hà

Người Việt ai chẳng biết bài thơ Nam quốc sơn hà đã được vang lên trên phòng tuyến sông Như Nguyệt như một bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta chống giặc phương Bắc xâm lược… Có điều bài thơ này được chép với nhiều dị bản và truyền thuyết bao quanh, nửa hư nửa thật làm cho chẳng ai hiểu ngọn ngành thật sự ra sao.
Tương truyền bên dòng sông Như Nguyệt hai vị thần là Trương Hống, Trương Hát đã hiển linh đọc bài thơ trong đêm trước quân Tống… Nhưng cuộc chiến Việt – Tống này có sách thì chép là của Lê Đại Hành, sách khác lại là của Lý Thường Kiệt. Phải xác định ra sao về thời điểm ra đời của bài thơ này?
Dị bản chính của bài thơ được chép trong Lĩnh Nam chích quái:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư
Như hà Bắc lỗ lai xâm lược
Bạch phận phiên thành phá trúc dư.

Nước ta từ Ngô, Đinh, Tiền Lê đến tận Lý Trần đều là Đại Cồ Việt, Đại Việt. Vậy sao ở đây lại gọi là “Nam quốc”, “Nam đế”? Nước ta là “nước Nam” từ lúc nào? Quốc danh còn không rõ thì sao gọi là “tuyên ngôn độc lập” được?
Để giải đáp những câu hỏi trên cần xem lại chuyện về đức thánh Tam Giang Trương Hống Trương Hát trên cơ sở những nhận định mới về cổ sử Việt Nam.
Hiện nay dọc sông Cầu có tới hơn 300 nơi thờ anh em Trương Hống, Trương Hát. Mỗi nơi một tích, mỗi nơi một chuyện, nhưng đều tương tự nhau. Theo thần tích làng Vân Mẫu (Quế Võ – Bắc Ninh) vào thời Tiền Lý Nam Đế trong làng có bà Phùng Từ Nhan, một đêm nằm chiêm bao thấy Thần long quấn mình trên sông Lục Đầu. Sau đó bà mang thai, sinh hạ 5 người con. Bốn con trai tên là Hống, Hát, Lẫy, Lừng và một con gái là Đạm Nương … (Không rõ vì sao những vị này lại lấy họ Trương?)
Lớn lên Trương Hống, Trương Hát theo học tiên sinh Lã Thị người hương Chu Minh, lộ Bắc Giang. Tới khi Triệu Quang Phục khởi nghĩa ở đầm Dạ Trạch thì cả nhà họ Trương cùng dấy binh theo về… Triệu Quang Phục phong Trương Hống làm thượng tướng quân, Trương Hát làm phó tướng quân, Lã tiên sinh làm quân sư, Trương Lừng, Trương Lẫy làm tỳ tướng, Đạm Nương làm hậu binh lương và lo kế sách đánh giặc.

Dẹp xong giặc rồi, Triệu Việt Vương kéo quân về Long Biên sang sửa đô thành, khao thưởng tướng sỹ, úy lạo muôn dân.Vua Triệu phong thực ấp cho hai anh em họ Trương ở Kinh Bắc, Trương Hống ở làng Tiên Tảo, huyện Kim Anh, Trương Hát ở làng Tam Lư, huyện Đông Ngàn là nơi dấy binh cũ.

Hong Hat Lay Lung Tượng bốn vị Hống, Hát, Lẫy, Lừng ở Vân Mẫu

Trong cách nhìn mới, với việc xác định Triệu Việt Vương là vua nước Nam Việt thời trước Công nguyên thì có thể thấy anh em Trương Hống, Trương Hát là những công thần lập quốc của nhà Triệu. Lã tiên sinh, thầy học của Trương Hống Trương Hát, có thể chính là tể tướng Lữ Gia của nhà Triệu Nam Việt.
Như đã biết nhà Triệu Nam Việt đóng đô ở Dương Thành (Quảng Đông). Sử Việt thì chép Triệu Việt Vương đóng đô ở Long Biên, có lẽ là đã lấy nơi ông tổ nhà Triệu là Triệu Vũ Đế lập hành cung Long Hưng ở thời kỳ khởi nghĩa kháng Tần. Có liên hệ sau: Long Biên <-> Long Xuyên <-> Tam Xuyên <-> Tam Giang.
Long Xuyên là nơi “Úy Đà” khởi nghiệp theo Sử ký Tư Mã Thiên. Long Biên là nơi đóng quân của Triệu Vũ Đế (điện Long Hưng ở Xuân Quan).
Trương Hống Trương Hát được gọi là đức thánh Tam Giang. Tam Giang đây không phải là Ngã ba Xà, nơi bài thơ thần được đọc sau này, bởi vì ngã ba này chỉ có … 2 con sông: sông Cà Lồ và sông Cầu, đổ vào nhau. Tam Giang ở đây là chỉ quận Tam Xuyên dưới thời Tần, là nơi Lưu Bang Triệu Vũ Đế khởi nghĩa.
Như vậy khi Triệu Văn Vương lập nước Nam Việt, anh em Trương Hống, Trương Hát theo tể tướng Lữ Gia đã được phong cai quản vùng đất quận Tam Xuyên cũ, là vùng “từ Thái Nguyên tới Lục Đầu Giang”, như thần tích thánh Tam Giang cho biết.
Tiếp theo, khi Hậu Lý Nam Đế cầu hôn con gái của Triệu Việt Vương cho con trai mình là Nhã Lang thì hai anh em Trương Hống, Trương Hát đã can ngăn. Đại Nam quốc sử diễn ca chép:

Có người: Hống, Hát họ Trương
Vũ biền nhưng cũng biết đường cơ mưu,
Rằng: “Xưa Trọng Thuỷ, Mỵ Châu,
Hôn nhân là giả, khấu thù là chân.
Mảnh gương vãng sự còn gần,
Lại toan dắt mối Châu Trần sao nên?”.

Thì ra hai đại tướng quân cai quản vùng đất tổ Tam Xuyên đã phản đối việc Triệu Anh Tề lấy Cù Thị người nhà Hiếu (Tây Hán).
Lĩnh Nam chích quái kể tiếp, khi Triệu Việt Vương bị Hậu Lý Nam Đế đánh bại, Nam Đế đem lễ vật đến rước anh em Trương Hống Trương Hát, có ý muốn cho làm quan, nhưng hai vị kiên quyết giữ lòng trung thành, trốn vào ở núi Phù Long. Nam Đế nhiều lần cho người đến truy nã nên hai vị đành tuẫn tiết mà chết…
Trương Hống Trương Hát tự vẫn ở vùng “Đu Đổm” thuộc Thái Nguyên ngày nay. Phù Long phiên thiết là Phong. Núi Phù Long liệu có phải là đất Phong (Mường Đăng) nơi Lưu Bang khởi nghĩa?
Có thể thấy hành trạng của anh em họ Trương hoàn toàn trùng với tể tướng Lữ Gia, từ việc tham gia lập nước Nam Việt, phản đối cuộc hôn nhân với người nhà Hiếu, kiên quyết không theo Hậu Lý, rút về vùng núi phía Tây khi thất bại. Điều này càng củng cố lập luận Lã tiên sinh, thầy học của anh em họ Trương trong thần tích là tể tướng nhà Triệu Lữ Gia.

Nghe Trau Lo Tam Giang thần từ ở làng Trâu Lỗ

Ở làng Trâu Lỗ thuộc xã Mai Đình, Hiệp Hòa – Bắc Giang còn có nghè (đền) thờ đức thánh Tam Giang, nhưng lại cùng với 2 thành hoàng làng là Vua ông Vua bà. Trong nghè có 4 tượng: tượng Vua ông đội mũ bình thiên, tượng Vua bà và 2 tượng Trương Hống, Trương Hát hai bên như quan hầu. Dân làng chỉ biết “Vua ông Vua bà” là thành hoàng làng, nhưng không biết cụ thể đó là ai, ở thời nào, công trạng ra sao.
Trong sử Việt, chỉ có hai vị mà cả vợ cả chồng đều có thể được gọi là Vua là: Lưu Bang và Lữ Hậu. Trương Hống, Trương Hát là tướng của nhà Triệu Nam Việt. Nhà Triệu lấy Lưu Bang làm tổ (Triệu Vũ Đế), họ Lữ làm tể tướng (Lữ Gia). Trương Hống, Trương Hát lại cai quản đất khởi nghiệp Long Xuyên của Lưu Bang, nên việc đặt thờ hai anh em họ Trương bên cạnh Lưu Bang, Lữ Hậu (Vua ông Vua bà) là rất hợp lý. Lưu Bang và Lữ Hậu cùng được thờ tương tự ở đình làng Bát Tràng.
Ở Bắc Ninh còn có 2 làng Đồng Văn và Đồng Đoài (xã Thuận Thành) cạnh sông Cầu thờ thành hoàng là Tam Công. Theo thần tích thì đây là 3 vị tướng của nhà Triệu Nam Việt, có công chống Hán. Ba vị này được sắc phong là “Đống Sức anh nghị linh thông đại vương”, “Đống Dạ chính trực linh ứng đại vương” và “Thập làng phù vận cảm ứng đại vương”.
Dấu vết của nhà Triệu Nam Việt ở nước ta còn lại không nhiều, hầu hết các đền miếu của các nhân vật liên quan đều đã bị hủy bỏ hoặc thần tích bị thay đổi. Đây là do cái nhìn sai lầm tai hại của các sử gia về tính chính thống của nhà Triệu. Nay với nhận định rõ ràng Nam Việt Đế Lý Bôn là Triệu Vũ Đế, chuyện Triệu Quang Phục là chuyện 4 đời vua Triệu Nam Việt thì phải có một Kỷ nhà Triệu trong lịch sử nước nhà. Hơn thế nữa, chính nhà Triệu đã khởi đầu “nước Nam”, “vua Nam” mà danh lưu còn mãi tới ngày nay như trong bài thơ thần Tam Giang đức thánh đã đọc bên sông Như Nguyệt … (xem phần tiếp theo)

Chuyện Nam Việt

Kể chuyện cũ Mỵ Châu Trọng Thủy
Tráo móng rùa Chu mạt sang Tần
Thu tàn đông lại nghênh tân
Đức Thủy xưng đế muôn dân phục tùng.

Người Tuấn kiệt nẻo rừng Phong Bái
Chém bạch xà sức trải thu đông
Viêm Lưu một sắc cờ hồng
Long Xuyên nổi vận, Long Hưng dựng đài.

Mở nhà Triệu tỏ oai Vũ Đế
Chiếm Quế Lâm, Tượng Quận, Trường Sa
Dương Thành định đỉnh nguy nga
Nam Việt từ đó trải đà bao phen.

Cuộc Hơn – Thua lập nên nhà Hiếu
Tiếp ngôi trời đài miếu thiên thu
Bắc Nam thu một cơ đồ
Hiếu Cao mất để ấn phù cho ai?

Nhà họ Lữ từ nơi Chân Định
Cùng Lý Bôn khởi nghĩa gian truân
Rồi khi nước mở Vạn Xuân
Lữ Hậu chấp chính thay phần Hiếu tôn.

Đầm Dạ Trạch vuốt rồng gắn mũ
Triệu Văn Vương cùng Lữ tướng gia
Nam Việt nối gót ông cha
Bãi Quân Thần rạch sơn hà làm hai.

Hậu Lý Đế bày bài ở rể
Triệu Anh Tề chuyện kể Nhã Lang
Ai Vương, Cù Hậu qui hàng
Xưng thần, nộp ấn, phiên bang vào chầu.

Âu còn có Lữ Gia trung nghĩa
Phế Ai Vương Kiến Đức lên ngôi
Khó thay chống được mệnh trời
Phiên Ngung kết lại bốn đời Việt Vương.

Đánh Nam Việt cờ dương Bác Đức
Xuất lâu thuyền chạy lúc cùng đường
Hiếu Vũ bắt Vệ Dương Vương
Cửa Đại Nha tạc đoạn trường diệt vong.

Trên đất tổ châu Phong họ Lý
Tây Vu Vương Nam Triệu lại hưng
Sáu trăm năm khí anh hùng
Kiên cường chống lại Hán cùng Tấn quân.

Xem dã sử xoay vần tang hải
Chép tỏ tường trái phải trước sau
Triệu là đâu, Lý là đâu
Nam Việt non nước thủa đầu còn đây.

Lý Nam Việt Đế và Triệu Việt Vương

Sử sách Việt có những chuyện viết rõ bằng chữ nghĩa hẳn hoi nhưng các sử gia bao đời nay cứ phải đi tìm chân lý ở tận đâu đâu…

Người Tây chép sử Nam nói rằng: Sử nước Nam mãi đến đời Trần mới bắt đầu làm, thì những đời trước tất phải theo sử Tàu mà chép ra. Đời Tiền Lý sử Tàu đã không có thì sử thần nước Nam lấy đâu mà chép? Vậy thì thế nào cũng có chỗ bịa đặt, mà có một điều khiến cho nhiều người tin là bịa đặt là chuyện Nhã Lang đi gửi rể và đổi móng rồng, y như chuyện Trọng Thủy và Mỵ Châu” (H. Maspero, trích theo Đại Nam dật sử của Ứng học Nguyễn Văn Tố).

Ông Tây Maspero nói có lý … một phần. Sử Nam ngoài chép theo sử Tàu còn chép theo … “dật sử”, tức là sử trong dân gian người Việt. “Móng rồng” trong chuyện Nhã Lang – Cảo Nương không phải bịa đặt, mà là hình tượng của một câu chuyện lịch sử có thật, khác “móng rùa” của chuyện Trọng Thủy – Mỵ Châu…

Đại Việt sử ký toàn thư chép về Lý Bôn: “Mùa xuân, tháng giêng, vua nhân thắng giặc, tự xưng là Nam Việt Đế, lên ngôi, đặt niên hiệu, lập trăm quan, dựng quốc hiệu là Vạn Xuân, ý mong cho xã tắc truyền đến muôn đời vậy.
Lý Bôn là Nam Việt Đế. Sách nào cũng chép vậy, từ Việt sử lược tới An Nam chí nguyên. Nam Việt Đế tức là vua nước Nam Việt. Không hiểu sao các sử gia lại chép chỉ còn là Lý Nam Đế?

Câu đối ở Quán Giang (Hoài Đức – Hà Nội), nơi thờ Lý Bôn, bắt đầu bằng: “Hồng duy Nam Việt triệu cơ…”.
Lý Bôn là vua nước Nam Việt. Nam Việt là nước do Triệu Đà (Triệu Vũ Đế) lập nên, đô đóng ở Phiên Ngung (Quảng Đông). Như vậy Lý Bôn chính là Triệu Vũ Đế, là người Việt (Giao Chỉ) đầu tiên xưng đế, mở đầu một thời đại huy hoàng của sử Việt. Lý Nam Việt Đế là cách gọi theo kiểu sử Việt lấy họ vua và tên nước mà gọi. Triệu Vũ Đế là cách gọi của Hoa sử theo quốc danh và miếu hiệu của vua. Tuy 2 tên nhưng là một người.

Ở Quán Giang Lý Bôn được thờ với tên Cử Long Hưng. Còn ở đình Xuân Quan (Văn Giang – Hưng Yên) Triệu Vũ Đế lập điện Long Hưng bên bờ sông Hồng. Long Hưng nghĩa là Hưng Vương, ứng với câu đối ở Phủ Giầy: “Hưng Vương vĩ lược cao thiên cổ”.
Hưng Vương Lý Bôn cũng là Long Hưng Triệu Vũ Đế, và cũng chính là “Hán” vương Lưu Bang của Hoa sử.

Hoi Bat Trang Lễ hội làng Bát Tràng, nơi thờ Lưu thiên tử và hoàng hậu

Tương tự, tiếp theo Lý Bôn các sử gia xác định có thời Triệu Việt Vương dựa vào đoạn chép của An Nam chí nguyên Việt sử lược: “Năm Nhân Thọ thứ hai thời Tùy Văn Đế, người cầm đầu châu là Nguyễn (Lý) Phật Tử chiếm Việt Vương Thành”. Vì có “Việt Vương Thành” nên suy ra có Việt Vương và kết luận Việt Vương này là Triệu Việt Vương (!?).

Thực ra chuyện Hậu Lý Nam Đế dưới thời Tùy Văn Đế chiếm Việt Vương Thành là thành … Việt Trì (Phong Châu), cổ thành của người Việt từ thời Chu Văn Lang.

Còn để xác định Triệu Việt Vương dựa vào chữ “Việt Vương Thành” thì cách xác định sau còn chính xác hơn: Việt Vương là vua nước … Nam Việt, họ Triệu tức là con cháu Triệu Vũ Đế. Triệu Việt Vương là vua Nam Việt của nhà Triệu. Triệu Việt Vương tiếp ngôi của Lý Nam Việt Đế thì không phải là vua Nam Việt thì là gì?

Dật sử Việt chép Triệu Quang Phục (Triệu Việt Vương) đóng quân ở đầm Dạ Trạch (Hưng Yên), nằm mộng thấy rồng vàng hiện lên, trao cho móng rồng. Lấy móng rồng đó làm mũ đâu mâu. Từ đó đánh đâu thắng đấy…

Dinh Da Hoa Đền Dạ Trạch thờ Triệu Quang Phục và Chử Đồng Tử

Đầm Dạ Trạch gần bãi Tự Nhiên, gắn với truyền thuyết Chử Đồng Tử và Tiên Dung thời Hùng Vương. Lĩnh Nam chích quái chép sự tích của Chử Đồng Tử và Triệu Quang Phục vào trong một truyện Đầm Nhất Dạ. Tuy nhiên, suy nghĩ kỹ thì thấy người trao móng rồng cho Triệu Việt Vương không phải là Chử Đồng Tử. Chử Đồng Tử tu tiên, chỉ có “bảo bối” là trượng lạp (gậy nón), cưỡi hạc, chứ không cưỡi rồng. Rồng là hình tượng của đế vương mà Chử Đồng Tử thì không làm vua bao giờ.

Người trao móng rồng cho Triệu Quang Phục chính là … Triệu Vũ Đế ở điện Long Hưng (Xuân Quan – Văn Giang) ngay bên cạnh đầm Dạ Trạch. Móng rồng mà dùng làm mũ thì có khác gì là vương miện? Ý nghĩa của việc này là Triệu Vũ Đế (Lý Bôn) đã trao vận hội đế vương (Long Hưng) cho Triệu Quang Phục. Điều này nhấn mạnh triều đại Nam Việt của Triệu Việt Vương là vương triều chính truyền của Triệu Vũ Đế (Lý Bôn – Lưu Bang).

Vế đối về Triệu Việt Vương ở đình Phù Sa (Ninh Bình): “Đâu mâu thánh vũ hưng Nam Lý”, mô tả rất chính xác ý nghĩa của mũ đâu mâu. Triệu Việt Vương là người đã “hưng Nam Lý”, tức là đã chấn hưng nước Nam Việt từ Lý Bôn.

Người tiếp nối Triệu Vũ Đế chấn hưng Nam Việt là Triệu Văn Vương hay Triệu Mạt. Mạt <-> Một. Triệu Mạt là vị vua họ Triệu thứ nhất, cũng là Triệu Đà (Đà <->Đầu). Mạt còn đọc là Muội <-> Mùi <->Dê <-> Dương, là vua Triệu ở Dương Thành (Phiên Ngung).

Thành Phiên Ngung (Quảng Đông) còn có tên là Ngũ Dương Thành với hình tượng 5 vị tiên cưỡi 5 con dê. Thực ra Dương nghĩa là phương Đông, nơi mặt trời lên. Ngũ Dương nghĩa là 5 đời vua nhà Triệu phía Đông (gồm cả Triệu Vũ Đế Lưu Bang).

Sau khi Lữ Hậu mất Triệu Văn Vương đã nối tiếp Triệu Vũ Đế Lưu Bang cai quản đất Nam Việt, xưng đế ngang với nhà Tây Hán. Truyền thuyết Việt chép là Triệu Việt Vương và Lý Phật Tử giảng hòa, chia đôi lãnh thổ, lấy bãi Quân Thần làm ranh giới… Không rõ giữa Triệu Việt Vương và Lý Phật Tử thì ai là Quân ai là Thần. Có lẽ ai có vương miện “móng rồng” thì sẽ là Quân, người kia là Thần.

Triều đại của Lý Phật Tử là triều Tây Hán của các vua danh Hiếu, cũng là con cháu Lý Bôn – Lưu Bang. Lý Phật Tử không có mũ đâu mâu móng rồng của Triệu Vũ Đế nên có vấn đề về danh nghĩa so với triều đại Nam Việt của Triệu Việt Vương. Vì thế Nhã Lang mới được cử đi ở rể để lấy trộm đâu mâu…

Chuyện Nhã Lang – Cảo Nương là hình ảnh của chuyện Minh Vương Triệu Anh Tề làm con tin ở nhà Tây Hán, lấy Cù Thị về lập làm Hoàng hậu và sứ giả Tây Hán là Thiếu Quý xúi giục Cù Thị và Triệu Ai Vương hàng nhà Tây Hán. Anh Tề và Nhã Lang cận nghĩa. Cù Thị và Cảo Nương cận âm.

Sử ký Tư Mã Thiên, Nam Việt Úy Đà liệt truyện có đoạn:
“[Triệu] Hồ mất, thụy là Văn Vương. Anh Tề lên ngôi thay, lập tức giấu ngay ấn Vũ Đế của Triệu Đà“.

Thì ra ấn Vũ Đế của Lưu Bang nằm trong tay nhà Triệu. Đây chính là “móng rồng” mà Triệu Việt Vương đã nhận từ thần nhân. Có thể khi Lữ Hậu mất, người nhà họ Lữ (Lữ Gia) đã lấy ấn Hoàng đế của Lưu Bang mang về phương Nam, rồi tôn một người cháu Lưu Bang lên làm vua nước Nam Việt.

Ấn Vũ Đế là “móng rồng” đã bị Anh Tề giấu. Sau khi Triệu Anh Tề mất Cù Hậu lập thái tử Hưng lên là Triệu Ai Vương, hẳn ấn Vũ Đế nằm trong tay Cù Hậu. Nhà Tây Hán cử Thiếu Quý sang dụ, cả Triệu Ai Vương và Cù Hậu vào chầu như các nước chư hầu, xin nội thuộc. Có thể Cù Hậu đã nộp lại ấn Vũ Đế cho Hiếu Vũ Đế.

Nàng Cảo Nương – Cù Thị phản quốc, sau đó bị tể tướng Lữ Gia giết, rồi đưa Triệu Kiến Đức lên ngôi vua Nam Việt là Triệu Vệ Dương Vương.

Khi Lộ Bác Đức nhà Tây Hán tấn công, quân Nam Việt thất bại. Ngũ Dương Thành thất thủ, Vệ Dương Vương đã cùng tể tướng Lữ Gia lên thuyền nhẹ chạy về cửa biển Giao Chỉ.

Den Van Coi

Đền thờ Lữ Gia ở Vân Côi

Câu đối ở đền thờ Lữ Gia tại Vân Côi (Nam Định):
Triệu thị hữu thiên tồn xã tắc
Hán nhân vô địa xuất lâu thuyền.

Dịch:
Còn trời họ Triệu còn xã tắc
Không Hán, lên thuyền đất chẳng chung.

Theo truyền thuyết người Việt thì Triệu Việt Vương thua Lý Phật Tử, bỏ chạy và chết ở cửa biển Đại Nha. Đây chính là vị vua Triệu cuối cùng, Triệu Vệ Dương Vương. Có thể Vệ Dương Vương đã bị bắt ở vùng cửa sông Đáy (Nam Định, Ninh Bình) ngày nay, là nơi tập trung có các đền thờ Triệu Việt Vương và Lữ Gia.

Vệ còn đọc là Duệ, có nghĩa là cuối cùng. Dương là phía Đông. Triệu Vệ Dương Vương nghĩa là vị vua cuối cùng của nhà Triệu phía Đông… Bởi vì sau đó còn nhà Triệu phía Tây là Nam Triệu của Tây Vu Vương (Tây Lý Vương).

Truyền thuyết Triệu Việt Vương trong dật sử Việt đã chép đầy đủ những sự kiện chính của 4 đời vua Triệu nước Nam Việt kể từ Văn Vương Triệu Mạt tới Vệ Dương Vương Triệu Kiến Đức. Dật sử dân gian còn đầy đủ và chính xác hơn chính sử chép theo sách Tây sách Tàu.

Bốn nhà Triệu trong sử Việt

Có lẽ đoạn sử rối rắm, gây nhiều tranh cãi nhất trong sử Việt là giai đoạn từ Thục An Dương Vương tới Triệu Đà. Không sách nào khớp với sách nào, từ sử ta tới sử Tàu, từ cổ thư tới truyền thuyết. Sử sách gì mà chép những chuyện không thể hiểu nổi, kiểu như An Dương Vương 80 tuổi mới sinh con Mỵ Châu, Triệu Đà thọ 121 tuổi…
Lịch sử không dễ mất đi mà không để lại dấu vết gì. Sự thật ở ngay trước mắt nhưng lại rất xa. Với “tuổi thọ” 121 năm của Triệu Đà thì có thể thấy… trong hình tượng Triệu Đà này có ít nhất là 2, thậm chí là 3 nhân vật lịch sử thật sự. Xin lần lượt bàn từng “vị” Triệu Đà theo dòng thời gian.

Triệu Đà – Trọng Thủy
Nhà Triệu thứ nhất là họ Triệu của vua Tần. Tần Thủy Hoàng có tên Triệu Chính, theo họ mẹ ở nước Triệu. Triệu Chính là con của Trọng Thủy và nàng Mỵ Châu trong truyền thuyết Việt.
Năm 256 trước Công nguyên Tần Chiêu Tương vương diệt nhà Chu, thu chín cái đỉnh về Tần. Thiên tử đã mất thì thiên hạ cũng thay đổi. Đế quốc Tần bắt đầu từ đây chứ không phải đợi đến lúc Tần Thủy Hoàng thống nhất sáu nước.
Sử Việt chép cũng thời gian năm 257 TCN Thục An Dương Vương đánh Hùng Vương lập nước Âu Lạc. Sự kiện này thực ra chính là việc Tần diệt Chu trong Hoa sử.
Truyền thuyết Việt thì chép thành họ Triệu (Triệu Đà) cho con là Trọng Thủy ở rể, lừa lấy mất nỏ thần, đuổi An Dương Vương chạy ra biển. Mối tình Mỵ Châu – Trọng Thủy chính là cuộc hôn nhân Tần – Việt với kết cục bi thảm, ai oán, kết thúc sự tồn tại của vương triều Chu gần 1000 năm.

Long Hưng Triệu Vũ Đế
Khoảng năm 218 Tần Thủy Hoàng sai Úy Đồ Thư phát 50 vạn binh, chia làm 5 đạo quân tấn công Bách Việt. “Trong 3 năm, [quân Tần] không cởi giáp dãn nỏ. Giám Lộc không có đường chở lương, lại lấy binh sĩ đào cừ cho thông đường lương để đánh nhau với người Việt. Giết được quân trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống. Nhưng người Việt đều vào trong rừng, ở với cầm thú, không ai chịu để cho quân Tần bắt. Họ cùng nhau đặt người Tuấn kiệt lên làm tướng để ban đêm ra đánh quân Tần, đại phá quân Tần và giết được Đồ Thư“ (Hoài Nam tử).
Các sử gia ngày nay cho rằng “người Tuấn kiệt” ở đây là Thục Phán. Nhưng như vậy quá rối rắm và vô lý. Thục Phán đã là vua Âu Lạc từ năm 257 TCN, sao tới năm 218 TCN lại được các tướng suy tôn làm thủ lãnh? Âu Lạc đã bị Tần diệt, có còn vua đâu nữa?
Khởi nghĩa kháng Tần của người tuấn kiệt tại Giao Chỉ không phải là Thục Phán. Xét về thời gian và hành trạng thì người Tuấn kiệt lãnh đạo dân Âu Lạc lúc này phải là … Lưu Bang. Do chế độ hà khắc của Tần Thủy Hoàng, Lưu Bang là một quan nhỏ dưới thời Tần, khi dẫn dân phu đi Lịch Sơn vì phu dịch bỏ trốn nhiều quá, biết khó tránh tội chết, nên đã tự mình dựng cờ “khởi nghĩa”, được mọi người hưởng ứng. Khởi nghĩa của Lưu Bang thắng lợi cũng đúng vào sau lúc Tần Thủy Hoàng mất (năm Tần Nhị Thế thứ 3, tức 206 TCN). Hình thức và thời gian khởi nghĩa này thật khớp với ghi chép của Hoài Nam tử ở trên.
Theo Sử ký Tư Mã Thiên thì Lưu Bang là người đất Phong, làm đình trưởng ở huyện Bái, khởi nghĩa ở núi Mường Đăng. Lưu Bang cũng là Lý Bôn trong sử Việt. Lý Bôn được thờ rất nhiều ở vùng xứ Đoài, là đất Phong Châu phía Tây Giao Chỉ xưa. Đất Bái là Thái Bình (Thái Bình đọc lái là Bái Đình), được chép là quê của Lý Bôn. Mường Đăng, nơi Lý Bôn trảm xà khởi nghĩa, hẳn là vùng Thái Nguyên – Bắc Giang, nay có tục thờ Lý Bôn. Lưu Bang – Lý Bôn, người khởi đầu triều Tiền Lý của sử Việt.
Lý Bôn được sử Việt gọi là Lý Nam Đế, người phủ Long Hưng đất Thái Bình. Long Hưng hay Hưng Lang là danh xưng của Lý Bôn – Lưu Bang, đã bị biến thành Hán Vương.
Bất ngờ hơn khi truyền thuyết Việt có chuyện Triệu Vũ Đế lập điện Long Hưng ở Xuân Quan (Văn Giang, Hưng Yên). Và theo Thiên Nam ngữ lục thì chính Triệu Vũ Đế mới là người đã nhân thấy rồng bay lên trên sông Nhị Hà mà đặt tên cho thành Thăng Long, chứ không phải Lý Công Uẩn. Triệu Vũ Đế họ Lý, danh xưng Long Hưng thì hẳn chính là Lưu Bang – Lý Bôn. Như vậy trong truyền thuyết Việt Lưu Bang được gọi là Triệu Vũ Đế.
Câu đối ở điện Long Hưng:
Bạt địa nguy thôi phương tích bất tùy Tần Hán khứ
Xung thiên vũ trụ anh tiêu trường yết Lạc Hùng lai.

Dịch:
Bạt đất mênh mông, danh tiếng thơm bất khuất thời Tần Hán
Động trời khắp chốn, chí anh hùng giữ mãi buổi Lạc Hùng.

Cũng vị Triệu Vũ Đế này còn lấy vợ là Trình Thị ở đất Đồng Xâm – Kiến Xương – Thái Bình. Sử ký chép Triệu Đà quê ở Chân Định… Chân Định là tên cũ của đất Kiến Xương, là nơi Lưu Bang lấy … Lữ Hậu, ở vùng đất Bái (Thái Bình).

Den Trinh Thi Đền thờ Hoàng hậu Trình Thị ở Đồng Xâm, Kiến Xương, Thái Bình

Lưu Bang và Lữ Hậu còn được thờ đúng họ tên tới nay ở ngay đình Bát Tràng – Hà Nội, cạnh điện Long Hưng ở Xuân Quan. Ngoài ra, ở làng Trâu Lỗ (Hiệp Hòa – Bắc Giang) có thờ Vua ông Vua bà, không rõ lai lịch, có thể cũng chính là Lưu Bang và Lữ Hậu vì suốt lịch sử Hoa và Việt chỉ có 2 vị này là có thể đều cùng gọi là vua được.
Tư liệu dân gian cho phép đoán định Triệu Vũ Đế hay Triệu Đà trong sử Việt là Lưu Bang – Lý Bôn phần nào cũng sáng tỏ hơn những thông tin khác về Triệu Đà. Triệu Đà là huyện lệnh huyện Long Xuyên, có thể hiểu là chuyện Lưu Bang ban đầu là đình trưởng đất Bái (phần Đông Giao Chỉ) dưới thời Tần. Hoặc nói tới chiến công của Lưu Bang giết thái thú quận Tam Xuyên ở Ung Châu là Lý Do, con thừa tướng Lý Tư nhà Tần.
Chuyện Nhâm Ngao trao quyền quận Nam Hải cho Triệu Đà, Triệu Đà nhân đó đánh chiếm Quế Lâm, Tượng Quận có thể cũng là hành trạng của Lưu Bang khi khởi nghĩa kháng Tần, thắng lợi ở 3 vùng đất mà Tần chiếm của Việt trước đây.
Triệu Vũ Đế – Lý Bôn lập ra nước Nam Việt, nên có tên Lý Nam Đế. Có thể triều đại mà Lưu Bang lập nên gọi đúng là nhà Triệu, nước Nam Việt, chứ không phải Hán. Hiếu Cao Tổ Lưu Bang không dính dáng gì tới Hán cả. Lưu Bang là người khai mở kỷ nhà Triệu (thứ hai) năm 206 TCN trong sử Việt.

Nhà Triệu – Lữ Gia
Nếu Triệu Vũ Đế là Lưu Bang, vậy nhà Triệu với 5 đời vua được ghi trong sử sách là như thế nào?
Ở Quảng Tây đã tìm thấy mộ của Triệu Mạt với ấn “Văn đế hành tỷ”. Nhà nghiên cứu Nguyễn Cung Thông cho gợi ý: Triệu Mạt là Triệu Một, tức là vị vua đầu của nhà Triệu. Như vậy nhà Triệu Nam Việt bắt đầu từ Triệu Văn Vương chứ không phải Triệu Vũ Đế.
Nhà Triệu này xuất hiện sau khi Lữ Hậu mất năm 180 TCN như Sử ký Tư Mã Thiên chép. Nhà Triệu thứ ba này mới là nhà Triệu đã chiếm Mân Việt và Tây Âu Lạc. Sự có mặt của tể tướng 4 đời vua Triệu là Lữ Gia cho thấy có thể nhà họ Lữ (của Lữ Hậu) sau khi thất bại nắm quyền ở phương Bắc đã tôn một người con hay cháu của Lưu Bang lên làm vua Nam Việt. Vị vua này gọi là vua đầu Triệu Mạt. Vì nhà Triệu này được chuyển tiếp một cách không chính thức nên không có vua Vũ Đế, mà bắt đầu bằng Triệu Văn Vương. Triệu Vũ Đế đã là Lưu Bang, cũng là ông tổ của nhà Triệu Nam Việt.
Nhà Triệu thứ ba ở Phiên Ngung kết thúc khi Phục Ba tướng quân Lộ Bác Đức của nhà Hiếu tấn công Nam Việt. Lữ Gia và Triệu Thuật Dương Vương lên thuyền nhẹ chạy từ Phiên Ngung về cửa biển ở đất Bái (đất của họ Lữ). Huyền sử Việt chép thành chuyện Triệu Việt Vương bị Lý Phật Tử đuổi, chết ở cửa Đại Nha (Nam Định).
Lữ Gia lui về Phong Châu lập phòng tuyến chống nhà Hiếu (Tây Hán) dọc sông Lô. Phong Châu là đất gốc của Triệu Vũ Đế Lưu Bang – Lý Bôn. Tàn quân nhà Triệu lui về đây cũng hợp lý. Đền thờ Lữ Gia nay có ở Nam Định và vùng Vĩnh Phúc, Sơn Tây là dấu vết của cuộc chiến này.

Den Trang Dong Nơi thờ Lữ Gia ở thôn Tràng Đông, xã Trưng Vương, Việt Trì

Nam Triệu – Tây Lý Vương
Việc Lữ Gia và Triệu Thuật Dương Vương rút về Phong Châu cho thấy đã có một cuộc di cư lớn của nhóm người Tày Thái từ Quảng Đông về Tây Giao Chỉ khi Lộ Bác Đức tấn công Phiên Ngung (năm 111).
Tư liệu của nhà nghiên cứu Lương Nghị về đền thờ Lữ Gia ở thôn Tràng Đông, xã Trưng Vương, Việt Trì cho biết:
Sau khi Lữ Gia mất, đang lúc giao thời một người chắt của Triệu Đà là Nguyễn Vụ với danh nghĩa con cháu nhà Hùng, tự lên ngôi vua ở cố đô Văn Lang, đổi tên Loa Thành thành Tây Vu Thành, lấy hiệu là tây Lý Vương. Nhà vua hiệu triệu nhân dân nổi dậy chống Hán, lấy Tây Vu Thành làm căn cứ chống giặc. Đồng thời cử con là Lang Tề sang nhà Tây Hán điều đình để chấp nhận vương triều của mình. Nhà Hán ép Lang Tề lấy vợ Hán nhưng Lang Tề không chịu, bèn về nước liên kết với các hào kiệt chống Hán. Các quân sĩ của Lữ Gia còn lại tiếp tục chiến đấu dưới lá cờ của Tây Lý Vương. Cuộc chiến đấu kéo dài 14 năm sau, làm cho quân Hán vô cùng khốn đốn, sau đó mới vị tiêu diệt.
Tư liệu này hoàn toàn trùng hợp với chuyện Nam Chiếu trong Lĩnh Nam chích quái cho biết “người Nam Chiếu là con cháu Triệu Vũ Đế”. Khi Lộ Bác Đức tấn công Nam Việt thì “Con cháu họ Triệu tản mát bốn phương, sau trở về Thần Phù, Hoành Sơn, là những xứ vắng vẻ không người. Khi bộ hạ đông đúc họ bèn đóng tàu thuyền thỉnh thoảng ra bể đột nhập vào nội địa cướp người ven bể, giết các quan lệnh của nhà Hán. Dân đều sợ phục, gọi là Nam Triệu, sau gọi sai là Nam Chiếu”.
Cái tên Nguyễn Vụ của người chắt Triệu Đà cũng tương tự trường hợp sách Tàu đổi họ của Lý Thân (Lý Ông Trọng) thành Nguyễn Thân. Nguyễn Vụ hay Lý Vụ, Lý Vũ, tức là vua Lý. Vùng Tây Vu trong Lĩnh Nam chích quái gọi là đất Nam Triệu, do họ Lý lãnh đạo, giao hảo với nhà Tây Hán (cử Lang Tề đi sứ), chống Đông Hán, rồi hàng phục nhà Hậu Lý của Lý Bí – Lưu Bị thời Gia Cát Vũ Hầu (chuyện Mạnh Hoạch).
Tây Vu Thành không phải là Loa Thành ở Cổ Loa, mà là vùng đất phía Tây Giao Chỉ (đất Phong), nơi có cố đô Việt Trì từ thời Lang Xương Chu Văn Vương (Văn Lang). Danh xưng Tây Lý Vương cho thấy rõ con cháu Triệu Vũ Đế mang họ Lý của Lý Bôn. Tây Lý Vương là triều Lý Nam Triệu ở phía Tây, phân biệt với triều Lý Nam Việt ở phía Đông (Phiên Ngung) trước đó. Nam Triệu được sử Việt còn gọi là triều Hậu Lý Nam Đế, về sau hàng phục nhà Tùy năm 602.

Biểu đối chiếu 4 nhà Triệu trong sử ViệtBon nha Trieu

Họ Lý của nhà Triệu bắt đầu từ Lý Bôn – Lưu Bang. Năm Quý Tỵ 208 TCN Lý Bôn khởi nghĩa chống Tần thắng lợi trên đất Âu Lạc. Lý Bôn, người Việt Giao Chỉ đầu tiên xưng Đế, mở nước Vạn Xuân. Xác định họ Lý truyền từ Lưu Bang Triệu Vũ Đế, sang Nam Việt Triệu Văn Vương rồi Nam Triệu Tây Lý Vương đã làm thông suốt một mảng thời gian quan trọng trong sử Việt, kết nối lịch sử phần Đông với Tây, Nam với Bắc.

Nam Triệu và Nam Chiếu

Trong Lĩnh Nam chích quái có một câu chuyện rất thật, không có chút huyền thoại hay “chích quái” nào nhưng lại khó hiểu nhất vì chẳng hề ăn khớp tí gì với chính sử. Đó là Truyện Nam Chiếu. Nay xin “đọc lại” câu chuyện này, không cần phải “giải mã” gì, chỉ cần đối chiếu với những gì đã và đang biết về lịch sử bị lãng quên của miền Tây và Nam nước ta.

Câu đầu tiên của Truyện Nam Chiếu khẳng định: “Người Nam Chiếu là con cháu vua Vũ Đế Triệu Đà”. Câu khẳng định này đúng là đánh đố người đọc ngày nay. Nam Chiếu được coi là quốc gia của người Di Bạch vùng Vân Nam, sao lại là con cháu Triệu Đà được? Nhưng đích thực, câu mở đầu này đã xác định nước “Nam Chiếu” thực chất là ở đâu.

Triệu Vũ Đế dựng nước Nam Việt, đóng đô ở Phiên Ngung – Quảng Đông. Thành phần dân tộc chính vùng này là nhóm người Tày Thái. Nam Chiếu là con cháu Triệu Đà, tức là một quốc gia người Thái. Lịch sử Nam Chiếu cho biết quốc gia người Thái này đã từng trải rộng trên đất Tây Bắc Việt Nam, Lào và Bắc Thái Lan.

Nước Nam Chiếu ở trong truyện không phải mới bắt đầu vào thời Đường như nước Nam Chiếu theo chính sử ở Vân Nam, mà có gốc gác từ thời Tây Hán. Khi Lộ Bác Đức tấn công Nam Việt thì “Con cháu họ Triệu tản mát bốn phương, sau trở về Thần Phù, Hoành Sơn, là những xứ vắng vẻ không người. Khi bộ hạ đông đúc họ bèn đóng tàu thuyền thỉnh thoảng ra bể đột nhập vào nội địa cướp người ven bể, giết các quan lệnh của nhà Hán. Dân đều sợ phục, gọi là Nam Triệu, sau gọi sai là Nam Chiếu”.

Đất Hoành Sơn mà ở gần cửa Thần Phù thì là đèo Ngang giữa Ninh Bình và Thanh Hóa, chứ không phải Hoành Sơn ở Quảng Bình. Con cháu họ Triệu như vậy trở về vùng Ái Châu tụ tập.

Đoạn ghi chép trên rất giống với chuyện… Man vương Mạnh Hoạch chống lại các vị quan họ Chu của nhà Đông Hán trong thần tích làng Hương Ngải – Sơn Tây. Mạnh Hoạch hoạt động cả một dải từ Hưng Hóa tới Ái Châu, làm quan cai trị ở Giao Châu lúc đó phải lao đao… Nam Triệu như vậy là tên gọi nước của Mạnh Hoạch từ thời Đông Hán, là vùng đất phía Tây Giao Chỉ.

Tiếp theo, “Đến đời Ngô, Tôn Quyền sai Đái Lương, Lữ Đại làm thú mục để đánh dẹp. Quân Nam Chiếu ở cả một vùng từ núi Thiên Cầm tới Hà Hoa, Cao Vọng, Hoành Sơn, Ô Tung, Hải Ngạn, Sử Bộ, Trường Sa, Quế Hải, Vọng Cái, Lỗi Lôi, núi cao bể rộng, sóng gió hiểm trở, không có một vết chân người. Quân Nam Chiếu ở đấy thường lấy việc cướp bóc để sinh sống, đánh giết thú mục, không thể ngăn cản nổi.

Đây cũng là thành tích của Mạnh Hoạch khi phần đất phía Đông Giao Chỉ được Sĩ Nhiếp Ngạn Uy dâng cho Ngô Tôn Quyền. Đoạn trên cho biết một loạt các địa danh “từ núi Thiên Cầm tới Hà Hoa, Cao Vọng, Hoành Sơn, Ô Tung, Hải Ngạn, Sử Bộ, Trường Sa, Quế Hải, Vọng Cái, Lỗi Lôi”. Các địa danh này hẳn nằm ở Tây Bắc và Tây Thanh Nghệ ngày nay, là đất Nam Triệu của Mạnh Hoạch.

Mạnh Hoạch hay Mãnh Hoàng, có thể chỉ là cách gọi vị vua của người Mường Mán. Mãnh Hoàng là con cháu họ Triệu, sau khi kinh đô Phiên Ngung của Nam Việt thất thủ đã rời về Tây Giao Chỉ và hùng cứ một vùng, liên tục chống lại các quan lại nhà Hán rồi tới nhà Ngô. Tiếp theo thì như đã biết, Vũ Hầu Gia Cát, thừa tướng của nhà Thục đã vượt Lô Giang, tiến vào Tây Bắc bình định, thu phục Mãnh Hoàng. Mãnh Hoàng tiếp tục cai quản khu vực Nam Triệu này dưới hình thức tự trị, độc lập.

Truyện Nam Chiếu kể tiếp: “Cuối đời Tấn thiên hạ rối loạn, có người thổ tù là Triệu Ông Lý cũng là con cháu của Triệu Vũ Đế, anh em đông đúc, thảy đều dũng lược hơn người, ai nấy đều nể phục, cùng hợp lại với quân Nam Chiếu, được hơn hai vạn người, lại đem châu báu ngà ngọc hiến cho nước Tây Bà Dạ, xin chỗ sinh sống ở vùng đất trống ven bờ biển.

Nếu đối chiếu với tộc phả họ Phạm:
Cuối đời Hùng Duệ Vương (258 trước CN) con trai trưởng của Phạm Duy Minh ở xứ Đằng Châu, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên ngày nay là Đại lang Phạm Duy Hinh cùng Lý Thành (con Lý Thân – Lý Ông Trọng) trấn thủ đất Nam Hà gồm 2 châu là Ái châu (Bình Trị Thiên) và Trung châu (gọi là xứ Lâm Ấp) – tức là Nam Trung bộ ngày nay.

Sau khi Triệu Đà chống lại nhà Nam Hán, lập nên nước Nam Việt (207 trước CN) sáp nhập nước Âu Lạc vào Nam Việt và thu gom cả đất Nam Hà (xứ Lâm Ấp). Chỉ đến khi nhà Hán xâm chiếm lại Nam Việt, nhà Triệu bị diệt vong (111 trc CN) thì họ Lý xưng vương xứ Lâm Ấp. Mãi đến đời Lý Khu Kiên mất, họ Phạm kế vị với 19 đời vua trải qua gần 500 năm (140-605), đóng đô tại thành Châu Sa ( xã Tịnh Châu huyện Sơn Tịnh tỉnh Quảng Ngãi ngày nay).”

Có thể thấy Triệu Ông Lý, con cháu Triệu Đà, là họ Lý, bắt đầu từ Lý Thân (Lý Ông Trọng). Vùng đất Tây Giao Chỉ là vùng Lâm Thao, nơi Lý Ông Trọng trấn giữ người Hồ dưới thời Tần.

Đặc biệt truyền phả họ Nguyễn còn chép rằng Triệu Đà chính là Lý Ông Trọng. Chuyện này tuy còn nhiều nghi vấn, nhưng có thể có phần nào là sự thật khi con cháu Triệu Đà cũng là con cháu của Lý Thân, chiếm vùng đất Tây Giao Chỉ dưới thời Hán.

Vùng Tây Giao Chỉ là đất của Mãnh Hoàng (Mạnh Hoạch), còn gọi là Nam Triệu, thời Tam quốc đã hàng phục nước Thục nhờ công của Vũ Hầu Gia Cát. Khi nhà Tấn diệt Thục, Tấn chỉ chiếm được vùng Xuyên Thục phía Bắc của nước này. Phần phía Nam vẫn do Mãnh Hoàng tự trị kiểm soát. Theo Truyện Nam Chiếu thì lúc này Triệu Ông Lý, con cháu Triệu Đà – Lý Thân, đã lên nắm quyền cai quản ở đây. Triệu Ông Lý chống lại nhà Tấn, “cùng hợp với quân Nam Chiếu”, tức là hợp với quân của họ Phạm ở phía Nam vùng ven biển Trung Bộ theo như tộc phả họ Phạm chép.

Truyên Nam Chiếu chép: “Khi ấy, nước Tây Bà Dạ chia đều đất ra thành hai lộ. Một lộ trên từ Quý Châu, dưới tới Diễn Châu gọi là lộ Già La, trên từ Cầm Châu xuống tới Hoan Châu gọi là lộ Lâm An giao cho Nam Chiếu và Triệu Ông Lý thống lĩnh. Sau đó, ông Lý xây thành ở tổng Cao Xá, đất Diễn Châu, đông giáp với biển, tây tới nước Bà Dạ, nam tới Hoành Sơn, tự xưng làm chúa.”

Có thể thấy nước Nam Chiếu trong truyện ở thời kỳ nhà Tấn chính là xứ Lâm Ấp hay Nam Hà trong tộc phả họ Phạm. Xứ này bao gồm 2 phần:
– Phần lộ trên từ Quý Châu tới Diễn Châu do Triệu Ông Lý cai quản. Lộ này có tên Như Hoàn, hay Già La, sách khác gọi là Như La, Gia Viễn. Đây là phần đất liền không giáp biển, là Tây Giao Chỉ, gồm cả đất Lào ngày nay. Tên gọi Già La hay Như La cho thấy vùng này chính là nước Lỗ (La) của thời Chiến Quốc. Đây cũng là đất Lâm Thao thời Tần, trước do Lý Ông Trọng cai quản, sau đó giao cho con cháu Lý Thân.
– Lộ dưới từ Cầm Châu tới Hoan Châu gọi là Lâm An, do con cháu họ Phạm quản lý. Đây là phần giáp biển, ven biển miền Trung ngày nay. Tên lộ Lâm An cho thấy đây là đất Yên (An) thời Chiến Quốc, đã được nhà Tần giao cho Phạm Duy Hinh, con của tướng Phạm Duy Minh ở Đằng Châu cai quản.

Lam Ap
Bản đồ trên ước vẽ 2 phần đất Già La và Lâm An từ thời Tấn. Đây là phạm vi nước Lâm Ấp vẫn được mô tả trong sử sách, có phía Đông giáp biển, Tây đến Vân Nam …

Truyện Nam Chiếu kể tiếp: “Nhà Đông Tấn sai tướng là Tào Khả đem quân sang đánh, Ông Lý mai phục ở rừng núi hiểm trở nơi đầu nguồn sông mà đánh, rồi lại tới nấp ở núi Liên Vị, địch tới thì mình đi, địch đi thì mình tới, sáng ra tối vào, cầm cự trong 4, 5 năm trời, không hề đối đầu. Quân Tấn không chịu nổi lam chướng, chết hơn quá nửa, bèn rút quân về.

Nhà Tấn sau khi diệt Thục và Ngô, tấn công xuống phương Nam. Nhưng gặp sự kháng cự của Mãnh Hoàng, rồi Triệu Ông Lý ở vùng Nam Triệu này, không tiến nổi. Vùng đất này như vậy vẫn giữ độc lập từ thời Tấn.

Lý Ông Nam Triệu tương đương với … Lý Nam Đế (Triệu = Chúa), trong sử Việt được gọi là triều Hậu Lý Nam Đế. Tới thời Tùy Cao Tổ năm 602 tướng Lưu Phương đã dụ hàng con cháu của Nam Triệu, đưa vùng đất La – Lỗ nhập vào đất Tùy. Năm 605 Lưu Phương cũng tấn công xuống phía Nam thắng lợi, đuổi họ Phạm chạy ra ngoài hải đảo, sát nhập nốt đất An – Yên vào nhà Tùy. Nước “Nam Triệu” của Triệu Ông Lý chấm dứt ở đây sau 600 năm tồn tại. Nhưng sau đó, một nước Nam Chiếu mới lại nổi lên…

Tộc phả họ Phạm viết: “Đến đời vua họ Phạm thứ 19 là Phạm Chí bị tướng nhà Tuỳ là Lưu Phương bất ngờ đột kích, cướp phá đô thành Châu Sa, vơ vét của cải , châu báu cùng 18 pho tượng vàng của 18 vua họ Phạm, khiến Phạm Chí và con là Phạm Trung chạy ra các vùng hải đảo quanh đảo Côn Lôn để cầu cứu, được 3, 4 vạn viện binh về cùng Mai Thúc Loan và cha con Phùng Hưng, Phùng An , diệt được quan quân nhà Đường và lập Mai Thúc Loan làm Bố Cái Đại vương, tức Mai Hắc đế (766).

Còn Truyện Nam Chiếu chép: “Quân Nam Chiếu tới cướp các xứ Nam thành, Đông thành, Trường An, quan lệnh không thể dẹp nổi. Tới khi nhà Đường thịnh lên, vua Ý Tông sai Cao Biền đem quân sang dẹp, không đánh nổi phải bỏ về.

Đoạn này nói tới cuộc khởi nghĩa thời Mai Thúc Loan – Phùng Hưng, tấn công chiếm thành Tống Bình (Trường An?). Phải tới Cao Vương Biền mới đuổi được quân Nam Chiếu của họ Phùng ra khỏi Đông Giao Chỉ, và đặt vùng này làm Tĩnh Hải quân. Nhưng phía Tây Giao Chỉ vẫn do Nam Chiếu chiếm giữ. Thậm chí còn mở rộng ra thành 6-7 “chiếu” theo như truyền thuyết về Khun Borom ở Lào.

oS7CpqZF.HNsjN4DR34N2Q
Đoạn cuối cùng của Truyện Nam Chiếu: “Tới đời Ngũ Đại vua Tấn là Thạch Kính Đường sai tướng tư mã là Lý Tiến đem 30 vạn quân đánh Đồ Sơn, quân Nam Chiếu bèn rút về biên giới Ai Lao, gọi là nước Đầu Mô, nay là đất Bồn Man”.

Thời Thạch Kính Đường thì Hoa Nam đã chia năm xẻ bảy, còn hơi sức đâu mà nhà Hậu Tấn đánh dẹp Nam Chiếu. Lúc này trên đất Tĩnh Hải là triều đại của Nam Hán Lưu Cung. Đoạn sử trên có thể nói tới sự kiện Cao Biền đánh Nam Chiếu từ thời Đường Ý Tông, hoặc chuyện Đoàn Tư Bình diệt Nam Chiếu, lập nước Đại Lý. Có điều sử Tàu đã biến chuyện Nam Chiếu bị diệt thành chuyện Nam Hán Lưu Cung cử Lý Tiến đánh Khúc Thừa Mỹ. Có thể Lý Tiến là tướng của Lưu Cung quãng năm 936 – 940 (thời Hậu Tấn) đã tấn công Nam Chiếu ở Tây Giao Chỉ, chứ không phải đánh Khúc Thừa Mỹ.

Phải nói Truyện Nam Chiếu trong Lĩnh Nam chích quái là một ghi chép rất đầy đủ và chân xác về lịch sử vùng Tây Giao Chỉ trong suốt một thời kỳ dài từ Đông Hán tới tận thời Ngũ Đại. 1000 năm lịch sử của miền Tây đã bị lãng quên, may mắn còn được lưu lại trong truyện. 600 năm Nam Triệu và 400 năm Nam Chiếu, kiên cường chống lại phương Bắc, huy hoàng mở các quốc gia người Thái khắp Đông Nam Á.

Hương Bổng Đổng Đằng

Văn bia đình Chèm do tiến sĩ Cao Dương Trạc (đỗ tiến sĩ khoa Ất Mùi năm 1715) chép: “Hương, Bổng, Đổng, Đằng là bốn vị tối linh của nước ta vậy.
Thường người ta nói đến Tứ bất tử Việt Nam là Tản Viên Sơn Thánh, Phù Đổng Thiên Vương, Chử Đồng Tử và Mẫu Liễu Hạnh. Vậy còn “bốn vị tối linh” này là những ai, có thành tích gì mà nhân dân tôn làm “tối linh” thần?
Cũng tại đình Chèm, chủ đề tứ linh được đề cập khá nhiều, từ những bức chạm trên mái đình đến bài thơ trong chính điện:
Tu linh thiBức chạm Phượng hàm thư với bài Tứ linh thi ở đình ChèmBài Tứ linh thi chạm ở mái đình Chèm (tương truyền làm từ thời Cao Biền):
Thụy vật tương toàn hữu tứ linh
Hiếu bằng khắc họa kiến văn minh
Vũ mao lân giáp tề xưng trưởng
Kim bích đan thanh các tiếu hình
Bính nhĩ thần cung phương tích tại
Hoảng nhiên thánh thế mỹ tường trình
Phù trì thượng ngưỡng vô cùng đức
Tái tục phù ê vịnh thái bình.
Hoàng đồ củng cố

Dịch (theo sách Danh nhân Lý Ông Trọng với di tích và lễ hội đình Chèm, năm 2011):
Vật đẹp trong đời có tứ linh
Hãy xem khắc họa thấy văn minh
Cánh lông mai vảy cùng khoe đẹp
Vàng biếc son xanh đủ mọi hình
Rực rỡ cung thần lưu dấu tốt
Nguy nga đất thánh rạng điềm lành
Chở che ngưỡng vọng bền ân đức
Lại thấy chim ca khúc thái bình!
Giữ vững non sông

Thử lần theo dấu vết các đền thờ và truyền tích để xem tứ linh thần nước Nam là những ai.

Hương – Thụy Hương Lý Thân
Vị thứ nhất “Hương” thì khá rõ, chính là người được thờ ở nơi có văn bia trên, là đình làng Thụy Hương, tức là Lý Ông Trọng. Làng Thụy Hương không hiểu sao ngày nay lại chép thành Thụy Phương. Tên làng như vậy đã có, vậy cái tên Chèm hẳn chỉ một sự tích khác.
Trong bài trước đã nêu Chèm là từ đọc sai của Chiêm (Từ Liêm thiết Chiêm). Vị tối linh thứ nhất của nước ta là đức thánh Chiêm, người đã có công đánh giặc Chiêm Hung Nô – Hồ vào thời nhà Tần. Lý Ông Trọng có tên thánh là Hy Khang Thiên Vương. Hy là từ phiên thiết của Hoa Di. Hy Khang nghĩa là “Uy trấn Hoa Di”, như bức hoành phi trong đền Chèm còn lưu.
Bên cạnh công trạng lịch sử khá rõ Lý Ông Trọng còn có công … giúp Sơn Tinh đánh Thủy Tinh. Thần tích đình Chèm ghi việc Lý Ông Trọng chém thuồng luồng, là đại tướng của Thủy Tinh, ở đoạn sông Hồng chảy qua làng.
Hay trong bản thần tích bằng thơ đình Vật Lại Sự tích thánh tản viên diễn ca cũng kể về việc quân của Thủy Tinh khi tấn công Sơn Tinh đi qua Chèm đã ăn thịt mẹ Lý Ông Trọng. Do vậy Đức thánh Chèm nổi giận, chăng lưới đón lõng quân của Thủy Tinh:
Ông Chèm báo oán Long Vương
Lưới giăng ngăn khúc bến giang đón về.
Thuở ấy Long tộc Thủy tề
Đem quân lên đánh Ba Vì Tản Viên.
Khi quân Thủy Tinh bị Sơn Tinh đánh thua chạy rút về thì:
Thủy quân nẻo cũ quen về
Ngày sau tức thì đến xã Từ Liêm.
Tiên binh xung lưới ông Chèm
Ai hòa chẳng được càng thêm lo lường.
Hội đồng cá rắn biên giang
Ông Chèm ra thấy lòng càng mừng thay.
Trả ơn thân mẫu khi nay
Dạng chân sông cả, đôi tay vơ quàng.
Bủa vây mọi khúc biên giang
Rắn rồng bắt lấy bật ngang vào đồi.
Thủy Tinh buộc phải chạy trốn theo đường sông Hát mà ra biển, không dám qua sông Hồng nữa.
Đoạn sông Hồng gần Chèm nay còn có bãi bồi lớn giữa sông tên là Võng La, có lẽ nhắc tới tích Lý Ông Trọng giăng lưới bắt thủy quái ở đây.
Câu đối ở đình Chèm tóm tắt sự tích Lý Ông Trọng như sau:
Đồng ảnh khiếp cường di, chung cổ thần uy dương Bắc tái
Thiết la tiêu thủy quái, ức niên thánh lực hộ Nam bang.

Dịch:
Tượng đồng khiếp cường di, ngàn xưa oai thần vang ải Bắc
Lưới sắt trừ thủy quái, vạn năm sức thánh giúp nước Nam.

Thành tích trừ thủy quái của Lý Ông Trọng xem ra… không ăn nhập gì lắm với việc ông trấn quần Hồ thời Tần. Một đại tướng, phò mã của Tần Thủy Hoàng, một nhân vật lịch sử rõ ràng, lại có truyền thuyết gắn với Sơn Tinh – Thủy Tinh. Thật chưa hiểu thế nào…

Bổng – Phù Đổng Thiên Vương
Rà hết truyền thuyết, lịch sử Việt chẳng thấy có vị thần nào có tên hay sinh ra ở làng “Bổng” cả. Chỉ có mỗi Phù Đổng thiết Phổng. Âm “ph” và âm “b” có thể đổi cho nhau trong cổ âm (ví dụ phòng – buồng, phật – bụt) nên Phổng còn đọc là Bổng. Hoặc chữ Phù nếu đọc là Bồ thì Phù Đổng = Bồ Đổng thiết Bổng.
Phép phiên thiết cho thông tin: thần “Bổng” là Thánh Gióng. Làng Phù Đổng là làng Bổng ở Tiên Du xưa. Gọi là Bổng vì Thánh Gióng mới 3 tuổi, ăn cơm cà của làng mà lớn “phổng”, nhanh như thổi, cưỡi ngựa sắt đánh giặc Ân ở Vũ Ninh. Thắng giặc ngài bỏ mũ áo lên núi Sóc Sơn rồi bay… “bổng” về trời…
Đúng là từ Thánh Gióng đã mở ra một thời đại “bay bổng” tuyệt vời của người Việt. Cùng với Ninh Vương Cơ Phát (Vũ Ninh) mở đầu nhà Chu kéo dài thiên thu, hình thành nền tảng văn hóa xã hội Trung Hoa rực rỡ.
Câu đối ở đền Phù Đổng:
Kiếm mã phấn Vũ Ninh, Hùng Lạc sơn hà kinh tái tạo
Miếu đình sâm Tiên Phổ, Viêm Giao vũ trụ ngưỡng dư linh.

Dịch:
Gươm ngựa động Vũ Ninh, Hùng Lạc non sông gây dựng lại
Sân miếu quang Tiên Phổ, Viêm Giao trời đất ngưỡng oai linh

Tiên Phổ ở đây là huyện Tiên Du.
Ngu monĐền Phù Đổng ở Bắc NinhĐổng – Huyền Thiên Trấn Vũ
Nếu “Bổng” là Phù Đổng thiên vương thì “Đổng” là ai?
Đền Bộ Đầu ở bên sông Hồng thuộc Thường Tín – Hà Nội hé lộ thân thế của vị thần này. Đền này tương truyền thờ Đổng Sóc thiên vương nhưng lại với những ghi chép sự tích hoàn toàn khác vị Phù Đổng thiên vương đánh giặc Ân ở trên. Thần tích kể có người đàn bà trong làng ra bờ sông gánh nước, bị thuồng luồng lôi tuột xuống sông. Bỗng thấy người con từ trên trời sà xuống cứu mẹ, giẫm chết hai con thuồng luồng. Người con cũng hóa luôn, để lại trên bờ sông một vết chân to lớn. Vì thế nên gọi là xã Bộ Đầu.
Den Bo DauĐền Bộ ĐầuVết chân lớn của thánh cũng gặp trong truyền thuyết Phù Đổng ở Tiên Du, mẹ Gióng đi làm đồng giẫm phải dấu chân lớn về nhà có mang sinh ra Thánh Gióng… Còn chuyện giết thuồng luồng trả thù cho mẹ thì đã gặp trong chuyện của Thánh Chèm ở trên.
Nay ở đền Bộ Đầu còn bức tượng đất nung của thần Đổng cao 7-8 mét, một tay cầm long đao, một tay cầm mộ tháp mẫu thân, chân giẫm giao long. Trước đây đền có mái cao, mở như gác chuông, đứng từ bến sông có thể chiêm ngưỡng được tượng thánh oai phong lẫm liệt, đang hướng mắt nhìn ra sông Hồng.
Câu đối ở đền Bộ Đầu:
Tự đa đào chú thành chân tượng
Trực thướng phi thăng sính dị long.

Dịch nghĩa:
Đúc bằng đất nung thành chân tượng
Bay từ trời xuống giết dị long.

Dong thien vuongTượng đất ở đền Bộ Đầu
Có thể thấy chữ Đổng ở đây là chỉ sự to lớn của thần. Thần Đổng là vị thần khổng lồ. Đổng là chép từ “Đùng” của tiếng Nôm.
Chữ Đổng 董 và chữ Trọng 重 viết và đọc gần như nhau nên chắc một phần sự tích của thần Đổng đã chép sang thành của thần Hương (Lý Ông Trọng). Từ đó mới có chuyện Lý Thân người to lớn, cao hai trượng, dày mười gang … Ông Trọng là mang nghĩa kính trọng, vì là đại tướng phò mã nhà Tần, chứ không phải nghĩa là to lớn về hình thể.
Phần khác vì chữ Đổng nằm trong phiên thiết của Phù Đổng nên sự tích ông Đổng lại lẫn nốt vào sự tích của thần Bổng Thánh Gióng.
Theo thần phả đền Bộ Đầu, thủa ấy, ở động Xích Thủy do Hùng Vương trị vì có thần tướng Đằng Xà nổi lên cướp bóc suốt từ rẻo Cao Bằng, Tuyên Quang, Hưng Hóa đến Thái Nguyên. Quân giặc được mô tả mặt thú hình yêu, đầu rắn mặt cá… như là hiện thân của những cơn lũ và những loài thủy quái làm hại dân lành.
Cao Bằng, Tuyên Quang, Hưng Hóa đến Thái Nguyên” là địa bàn trấn giữ giặc Hồ của Lý Thân (đất Lâm Thao). Thần tích này đã chép lẫn chuyện của Thánh Chèm vào đây. Tuy nhiên thần tích đền Bộ Đầu cho thấy rõ thần Đổng như vậy là một vị thần trị thủy, diệt thủy quái.
Lạ hơn nữa thần phả ở đền Bộ Đầu có tên “Bộ Đầu linh từ sự tích Đổng Sóc Thiên Vương Huyền Thiên Đại Thánh, Thành hoàng nhất vị“. Các sách cũ (theo Từ điển di tích văn hóa Việt Nam của Ngô Đức Thọ) đều cho rằng đền này thờ Huyền Thiên Đại Thánh chứ không phải Phù Đổng thiên vương.
Nằm đối diện bên kia sông Hồng có Trấn Vũ quán ở thôn Ngọc Trì – Thạch Bàn – Gia Lâm. Ở đó thờ Huyền Thiên Trấn Vũ, người có công giúp An Dương Vương dẹp yêu quái xây thành Cổ Loa. Nhưng ở đây Huyền Thiên lại là vị thần chuyên thu phục yêu quái các sơn thủy động, “trấn qui xà”. Tượng Huyền Thiên ở Ngọc Trì làm bằng đồng to lớn nặng tới 4 tấn…
Huyen ThienTượng đồng Huyền Thiên ở Ngọc Trì – Gia Lâm
Thì ra thần Đổng có thân hình, dấu chân to lớn, có công trừ yêu, trấn thủy quái chính là Huyền Thiên, tức là Lão Tử. Vị tổ của Đạo Giáo này thì rõ là phải giỏi nghề hàng yêu phục quỉ, nổi bật nhất là khiển thần Kim Qui giúp Thục An Dương Vương diệt yêu gà trắng Bạch Kê Tinh xây thành Cổ Loa.
Đằng – Vua Mây họ Phạm
Vị thần Đằng ở Kim Động tưởng là rõ nhưng cũng nhiều tồn nghi. Lĩnh Nam chích quái chép nguyên một chuyện về vị thần xứ Đằng Châu hiển linh trước nhà vua làm nửa sông mưa, nửa sông tạnh… Các sách chép không giống nhau là thần đã hiển linh với vị vua nào, chỗ là Lý Thái Tổ, chỗ là Lý Thái Tông, chỗ lại là Lê Long Đĩnh. Sự lộn xộn này nay cũng sáng tỏ vì Lý Thái Tổ cũng chính là Lê Long Đĩnh – Đinh Bộ Lĩnh (Long Đĩnh thiết Lĩnh).
Den vua MayĐền vua Mây ở Hưng YênĐền Đằng Châu ở Kim Động còn gọi là đền Vua Mây, thờ sứ quân Phạm Phòng Ất (Phạm Bạch Hổ) thời Đinh Tiên Hoàng. Nhưng theo tộc phả họ Phạm:
Cuối đời Hùng Duệ Vương (258 trước CN) con trai trưởng của Phạm Duy Minh ở xứ Đằng Châu, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên ngày nay là Đại lang Phạm Duy Hinh cùng Lý Thành (con Lý Thân – Lý Ông Trọng) trấn thủ đất Nam Hà gồm 2 châu là Ái châu (Bình Trị Thiên) và Trung châu (gọi là xứ Lâm Ấp) – tức là Nam Trung bộ ngày nay…
Như vậy nếu thần Hương là Lý Thân thì thần Đằng phải là Phạm Duy Minh. Có thể Phạm Duy Minh cũng chính là sứ quân Phạm Phòng Ất vì thời 12 sứ quân Việt Nam chỉ là bản chép của thời Chiến Quốc. Khai thiên trấn quốc Đằng Châu họ Phạm có thể là tướng trấn giữ vùng phía Đông ven biển thời nhà Tần. Con cháu họ Phạm sau này kế nghiệp trấn giữ vùng duyên hải ven biển miền Trung (Lâm Ấp).
Hương, Bổng, Đổng, Đằng – bốn vị tối linh của nước ta là 4 vị tướng có công lớn vào thời Chu Tần (Văn Lang – Âu Lạc):
Hương là Lý Thân, đại tướng phò mã trấn Chiêm Hồ của nhà Tần.
Bổng là Thánh Gióng, người cùng Chu Vũ Vương đánh Trụ dẹp Ân.
Đổng là ông khổng lồ Huyền Thiên Lão Tử, người giúp vua Chu dời đô từ Tây sang Đông về Lạc Ấp Cổ Loa, chuyên nghề trừ yêu diệt quái.
Đằng là vị họ Phạm, trấn giữ vùng ven biển, giỏi chuyện hô mây gọi gió.
Từng đoạn, từng sự tích của các vị này bị chép lẫn vào nhau, dẫn đến mỗi nơi chép một kiểu, người này nhầm vào người kia.
Tu linhBức chạm tứ linh ở đền ChèmNếu xét về phương hướng thì:
Hương là thần trấn phương Tây như Lý Thân giúp Tản Viên Sơn Thánh hay màu trắng trong tên Bạch Tĩnh công chúa. Hướng Tây có linh vật là chim phượng, nên thánh có tên là Chèm (Chim – Chiêm), người làng Hương thơm (Thụy Hương), rất giỏi chữ nghĩa, đỗ Hiếu liêm, đọc Tả truyện Xuân thu, … Đây rõ là một “văn tướng”, còn cái phần “khổng lồ” của Ông Trọng là chép nhầm từ ông Đổng mà ra.
Bổng là thần trấn phương Nam ngày nay, hướng Sóc phương của núi Sóc, nơi thần hóa. Bổng cũng là tính chất nhẹ, bay của phương Nam (như các từ “bốc”,”bức”). Phương Nam có linh vật là con Ly hay con Hổ (Hỏa). Thánh Gióng rõ là một Hổ tướng, cưỡi ngựa sắt phun ra lửa (hỏa)…
Đổng (Đùng) là thần trấn phương Bắc màu đen của Huyền Thiên. Linh vật là còn rùa, rất rõ trong hình ảnh của Huyền Thiên Trấn Vũ trấn qui xà, cử thần Kim Qui tới giúp An Dương Vương trừ yêu quái…
Đằng là thần trấn phía Đông ven biển, trong chuỗi liên hệ Đằng -> Đường -> Thương, Thương là tính chất từ ái của phương Đông, là màu xanh (Thanh). Linh vật phương Đông là con rồng, có tài cưỡi mây phun mưa. Vua của Mây thì chính là rồng…
Cả bốn vị tối linh Hương Bổng Đổng Đằng đều có thân thế sự nghiệp được ghi rõ trong Lĩnh Nam trích quái. Truyền thuyết Việt đúng là những câu chuyện “cổ tích”, tức là dấu tích của chuyện cổ, của lịch sử thật sự…

“Thi sử kinh nhân” Hồ Tông Thốc

Hồ Tông Thốc, dòng dõi họ Hồ ở Châu Diễn, đỗ trạng nguyên cuối thời nhà Trần, là một nhà thơ có tiếng của thời đó. Về khả năng làm thơ và … uống rượu của ông đã được người cháu họ là Hồ Nguyên Trừng mô tả trong tác phẩm Nam Ông mộng lục, bài Thi tửu kinh nhân (Thơ và rượu kinh người):
Người Diễn Châu Hồ Tông Thốc, thi đỗ từ trẻ, rất có tài danh. Ban đầu chưa nổi tiếng lắm, nhân đến Nguyên tiêu, có đạo nhân Pháp quan họ Lê giăng đèn mở tiệc, rước khách văn chương. Tông Thốc nhận giấy mời đề thơ. Trong một đêm, trên tiệc làm trăm bài thơ, uống trăm chén rượu, ai nấy xúm nhìn thán phục, không ai địch nổi. Từ đó danh động kinh đô, sau dùng văn tài làm thầy người. Làm quan thờ Trần Nghệ Vương, quan đế Hàn lâm học sĩ, Thừa chỉ kiêm Thẩm hình viện sứ, thơ rượu không ngày nào vắng. Tuổi ngoài tám mươi, mất tại nhà.
Làm trăm bài thơ một lúc đã là tài, còn uống đến trăm chén rượu một lúc thì quả là “kinh người”. Thơ rượu không ngày nào vắng mà thọ tới 80 tuổi!
Nhưng Hồ Tông Thốc không chỉ làm “kinh người” bởi thơ và rượu…
Trong dòng họ Hồ, Hồ Tông Thốc và Hồ Quý Ly đều cùng là cháu đời thứ 15 kể từ nguyên tổ Hồ Hưng Dật ở Quỳnh Đôi – Châu Diễn. Hồ Tông Thốc làm quan nhà Trần, từng được cử đi sang sứ triều Minh. Trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ còn ghi lại một bài thơ của ông trên đường đi sứ, đề ở đền Hạng Vũ như sau:
Bách nhị sơn hà khởi chiến phong
Huề tương tử đệ nhập Quan Trung,
Yên tiêu Hàm Cốc châu cung lãnh
Tuyết tán Hồng môn ngọc đấu không
Nhất bại hữu thiên vong Trạch tả
Trùng lai vô địa đáo Giang Đông
Kinh doanh ngũ tải thành hà sự
Tiêu đắc khu khu táng Lỗ Công.

Trong câu đầu tiên của bài thơ cụm từ “sơn hà” thì rõ là chỉ nước non, quốc gia. Hai chữ đầu vậy chắc chắn là tên một nước. Các chữ “Bách nhị” này được các sách hiện nay giải thích: nhà Tần đóng đô ở Quan Trung là nơi hiểm yếu, hai người có thể chống chọi trăm người nên mới có tên Bách nhị sơn hà.
Giải thích vậy xem ra không ổn, vì:
– Tại sao không phải 1 người chọi một trăm mà lại là 2 người? Một chọi trăm mới đúng là thành ngữ. Hơn nữa, làm gì có ai lấy chuyện bâng quơ như vậy để gọi tên quốc gia, “sơn hà” bao giờ.
– Nhà Tần khi Hạng Vũ khởi nghĩa đã đóng đô ở khoảng giữa hai nhà Đông Chu và Tây Chu, là chốn phồn hoa đô hội lâu đời, có đường thông ra tận cửa biển. Tần Thủy Hoàng xưng đại đế, có sợ ai đâu mà phải đóng ở chốn hiểm yếu, để đến nỗi tên nước gọi thành “Bách nhị”.
– Hạng Vũ người nước Sở, theo Sở Nghĩa Đế nổi dậy chống Tần, đâu phải là người Tần mà nói khởi nghĩa ở Quan Trung?
Thực ra trong chữ Nho, chữ Nhị 貳 phồn thể rất gần với chữ Việt 越, nhất là khi viết trong cổ văn. Đọc là “Bách Việt sơn hà”… cụm từ này rất thông dùng để chỉ non sông Bách Việt. Hạng Vũ khởi nghĩa ở Bách Việt, thật quá chính xác. Nước Sở chẳng phải thuộc Bách Việt thì là gì? Nhà Tần cũng là Bách Việt mà thôi.
Nguyên ý bài thơ của Hồ Tông Thốc xác định cuộc khởi nghĩa của Hạng Vũ chống Tấn là lịch sử Bách Việt, đã bị người đời sau “mắt mờ đọc quẹo”, Việt 越 thành nhị貳, thành ra nghĩa không thể hiểu nổi…
Hai chữ cuối của bài thơ là “Lỗ Công”, được giải thích khi Hạng Vũ chết đã được Lưu Bang dùng lễ mai táng như Lỗ Công. Lỗ Công là ai? Mai táng như Lỗ Công là trọng hay khinh?
Lỗ Công tức là Chu Công Đán, vương nước Lỗ. Chu Công là người đã phò tá Chu Thành Vương dẹp loạn, ổn định triều chính, gây tạo cơ nghiệp nhà Chu gần nghìn năm. Lễ nghi Trung Hoa đều bắt đầu từ Chu Công cả. Lưu Bang dùng lễ táng của Chu Công đối với Hạng Vũ thì có thể nói là thể hiện sự coi trọng hết mức.
Với những chú giải trên xin ghi dịch lại bài thơ Đề ở đền Hạng Vương của Hồ Tông Thốc như sau:
Bách Việt non sông nổi bụi hồng
Đem đoàn đệ tử đến Quan Trung
Khói tan Hàm Cốc cung châu lạnh
Tuyết rã Hồng Môn đấu ngọc không
Thua chạy giời xui đường Trạch Tả
Quay về đất lấp nẻo Giang Ðông
Năm năm lăn lộn hoài công cốc
Còn được vùi trong mả Lỗ Công.

Hồ Tông Thốc không chỉ là nhà thơ mà còn là một sử gia tài năng. Ông là người đã viết những cuốn sử đầu tiên của nước ta là Việt sử cương mục Việt Nam thế chí. Hai từ “Việt Nam” được dùng lần đầu tiên chính là trong tác phẩm của Hồ Tông Thốc từ thời Trần. Có thể thấy Hồ Tông Thốc không hề mơ hồ khi đưa những dẫn liệu lịch sử vào thơ văn. Thơ và rượu chỉ là nguồn cảm hứng chứ không làm cong đi tính sử của các dữ liệu mà ông để lại.
Theo gia phả họ Hồ Tam Công ở Nghệ An thì tên hiệu của Hồ Tông Thốc là Động Đình Ông. Tại sao Hồ Tông Thốc lại lấy Động Đình làm bút danh? Hồ Động Đình nếu ở Hồ Nam – Trung Quốc thì quá vô lý. Hồ Nguyên Trừng khi bị bắt nhà Minh bắt sang Bắc Kinh, viết sách lấy hiệu là Nam Ông, tưởng nhớ về phương Nam. Còn Hồ Tông Thốc … chẳng nhẽ là tưởng nhớ đến đất Hồ Nam?!
Thơ của Hồ Tông Thốc còn lưu lại được bài Du Động Đình họa Nhị Khê nguyên vận (Chơi Động Đình hoa vần thơ của Nhị Khê). Một số sách chép bài thơ, không hiểu Hồ Tông Thốc đi … du lịch ở tận Động Đình Hồ Nam lúc nào, nên sửa thành Du Đông Đình họa Nhị Khê…?!
Nguyên văn phiên âm bài thơ chữ Hán:
Tài thức như quân thượng thiếu niên
Văn chương ta ngã lão vô duyên
Dĩ tương đắc táng di hình ngoại
Bất phục công danh đáo chẩm biên
Biến báo chỉ kham nhàn ẩn khách
Tiễn ngư hà tất khổ lâm xuyên
Hạnh năng nhật nguyệt tần lai phỏng
Hưu quái Động Đình tự khánh huyền.

Câu kết thường được dịch theo nghĩa: Chớ ngại Đông Đình: khánh ngoắc lên!
Dịch thế này thì chẳng hiểu gì cả! Tại sao lại ngại đình Đông? Tại sao treo khánh lên làm gì?
Bài thơ trên làm vào quãng thời gian cuối đời của Hồ Tông Thốc. Khi Hồ Quý Ly soán đoạt ngôi của nhà Trần, chí hướng Hồ Tông Thốc và Hồ Quý Ly khác nhau nên Hồ Tông Thốc đã từ quan về đất Nghệ An ở ẩn. Bài thơ này do vậy miêu tả một người “tài thức” còn đang sung sức như “thiếu niên”, nhưng đã gạt “công danh” sang một bên mà “nhàn ẩn”.
Câu kết bài thơ như vậy phải hiểu là: Về hưu ở Động Đình như chiếc khánh màu huyền, ý nói đi ẩn, giữ mình thanh sạch như chiếc khánh đen tuyền, không gợn vết.
Hồ Tông Thốc về hưu ở Động Đình… Động Đình đây là biển Đông, chứ chẳng phải đầm, hồ nào ở Hồ Nam cả. Nơi ông cáo lão về quê là Nghĩa Đàn – Nghệ An. Từ đó mà đi ra biển Đông thì chẳng mấy bước, Hồ Tông Thốc “Du Động Đình…” thật chẳng khó khăn gì.
Hồ Tông Thốc sinh ra ở ven biển duyên hải Châu Diễn. Diễn nghĩa là vươn dài ra biển (“Dài … biển” thiết Diễn). Ông lớn lên và đi học ở Hồng Châu – Hưng Yên. Khi cáo lão lại về Nghệ An ẩn cư. Cả cuộc đời ông gắn với miền biển. Hơn nữa, là người chép huyền sử Việt, ông rất hiểu truyền thuyết họ Hồng Bàng mà trong đó Động Đình là quê mẹ của Lạc Long Quân, là cội nguồn của Bách Việt, nên đã lấy tên hiệu Động Đình Ông vậy.
Bài minh trên văn bia chùa Báo Ân, núi Non Nước (Ninh Bình), là một trong số ít những bài minh do Hồ Tông Thốc thảo còn lưu lại được, có đoạn:
Ôi! Phật pháp từ khi nhập vào Trung Quốc đến nay, khắp núi sông trong thiên hạ, những vùng đất danh thắng như nơi đây đều quy về nhà Phật. Nhưng Phật đặt ra Phật pháp để độ người, đó là cái tâm của Phật, còn người xây dựng chùa để thờ Phật thì đó lại không phải là ý muốn của Phật vậy…
Hoàng Việt niên hiệu Xương Phù năm thứ 7 (1383) ngày mùng 7 tháng Chạp năm Quý Hợi.

Tại sao văn bia ở Ninh Bình, nói về chùa về phật ở Ninh Bình lại nói Phật vào “Trung Quốc” là thế nào? Thời Trần đã làm gì có “Trung Hoa nhân dân quốc” mà gọi là Trung Quốc? Ở trên ghi là “Trung Quốc”, còn dưới thì ký “Hoàng Việt”…
Nhà sử học Hồ Tông Thốc đã ghi rõ: Trung Quốc là từ mà nhà Trần gọi quốc gia Hoàng Việt của mình. Trung Quốc là nước giữa thiên hạ, tức là… thiên tử. “Việt Nam” thời Trần (đúng nghĩa trong Việt Nam thế chí) chính là Trung Quốc!
Thời Trần, một bên là các vua họ Trần, gốc Mân Việt, một bên là nhà Nguyên, gốc … Mông Cổ, thì hiển nhiên nhà Trần mới chính là Trung Hoa chân truyền từ thời Tam đại. Nhà Trần gọi mình là Trung Quốc hoàn toàn đúng.
Cái làm “kinh người” của sử gia Hồ Tông Thốc còn là ở chỗ, chính ông là người đầu tiên đưa thời đại Hùng Vương vào chính sử. Nếu Lê Văn Hưu viết sử chỉ từ thời Triệu Vũ Đế (Triệu Đà) thì Hồ Tông Thốc đã rất mạnh dạn và sáng suốt chép toàn bộ thời Hồng Bàng vào sử. Sử quan vừa thoáng lại vừa sâu, cách viết sử có phương pháp rành mạch của ông đã được Ngô Sĩ Liên nhận xét và đánh giá cao, xếp ông còn vượt hơn Lê Văn Hưu và Phan Phụ Tiên. Ngô Sĩ Liên tiếp tục sự nghiệp Hồ Tông Thốc, đưa thời đại Hùng Vương vào trong Đại Việt sử ký toàn thư. 18 triều Hùng nước Việt nhờ vậy được lưu truyền trong con rồng cháu tiên mãi tới ngày nay.
Các tác phẩm Việt sử cương mụcViệt Nam thế chí của Hồ Tông Thốc hẳn còn chứa đựng nhiều thông tin xác thực và giá trị nên mới bị … “thất lạc” (?) dưới thời giặc Minh xâm lược. Ý đồ tiêu hủy sử sách Việt Nam của nhà Minh rất rõ ràng, sách gì cũng đốt, bia gì cũng đập, tứ đại khí An Nam đem nấu chảy làm vũ khí cả…
Cũng may Bài tựa sách Việt Nam thế chí của Hồ Tông Thốc còn lưu lại được đầy đủ. Trong đó đã nói rõ quan điểm sử học của Hồ Tông Thốc khi đưa những huyền thoại, truyền thuyết vào chính sử:
Có người hỏi tôi rằng: Bỏ cái lạ giữ cái thường là đạo của thánh hiền, tại sao ông lại câu nệ theo cũ, không nêu rõ lời mới để đổi hẳn thói mê hoặc của đời?
Tôi đáp rằng: … Cho nên những chuyện góp nhặt được đều là lượm lặt ở tiếng vang chuyện đồn, trích lấy đầu đuôi để cho biết rõ về phả ký từng đời mà thôi, còn những sự tích kỳ quái, lờ mờ khó xét, tạm giữ đó để chờ các bậc quân tử sau này, dám đâu xuyên tạc ra lời quái dị để mê hoặc người đời. Độc giả nên lưu tâm nhận kỹ, cố sức suy nghiệm thì sẽ rõ ngọc đá; thấy được tiếng vang hình bóng của lịch sử; tôi đâu tự dám cho ý mình là thoả đáng.

Những truyền thuyết trâu thần rắn quái lưu truyền trong sử từ Hồ Tông Thốc ấy nay đã … chờ được “các bậc quân tử sau này”. “Ngọc đá” tới nay đã phân minh. Từ “tiếng vang và hình bóng của lịch sử” đã phục dựng được gần như nguyên vẹn bức tranh cổ sử. Từng trang huyền sử Việt đang ngày càng hiện tỏ. Thi sử gia Hồ Tông Thốc chắc cũng được ngậm cười nơi chín suối; hay đang phù hộ cho cháu con trên con đường hoàn thành tâm nguyện của cha ông …
Câu đối ở nhà thờ Hồ Tông Thốc tại Nghệ An:
國慶家慶長先德榮封自今始
臣心子心一吾生報稱相謂何
Quốc khánh gia khánh trường, tiên đức vinh phong tự kim thủy
Thần tâm tử tâm nhất, ngô sinh báo xứng tương vị hà.
Dịch:
Bền lâu thế nước vận nhà, đức tổ tới nay vinh vẫn lớn
Như một lòng thần dạ tử, đời ta đã xứng báo đền chưa.

Sử thuyết họ Hùng

Chong đèn xem sử nước nhà,
Đường về nguồn cội thật là xa xăm.
Họ Hùng khai quốc vạn năm,
Núi Đọ, sông Mã, Quỳnh Văn thủa nào.
Phải đời Nghiêu đế xứ Đào,
Ruộng đồng xanh dải sông Thao bốn mùa?
Nam bang triệu tổ xa xưa.
Ân đức vua Thuấn như mưa ruộng cày.
Sơn Tinh – Hạ Vũ đâu đây?
Sông Đà trị thủy, núi này Tản Viên.
Lạc Long chiến thắng thiên nhiên,
Mở rộng bờ cõi khắp miền biển Đông.
Việt Thường lắm trĩ nhiều công,
Phải nhà Thương cũ bên dòng Trường Giang?
Lang Liêu lập nước Văn Lang,
Kinh đô Cổ Thục Vân Nam một vùng?
Nhà Chu với chín đỉnh đồng,
Phải thời Thục Phán trống đồng nước ta?
Đông Chu đô đóng Cổ Loa?
Xuân Thu, Chiến Quốc cũng là sử Nam?
Tiên Hoàng trùng nghĩa Thủy Hoàng,
Đinh – Tần thống nhất con đàn Hùng Vương?
Lý Bôn người gốc xứ Mường,
Tranh hùng Hạng Vũ, Trương Lương cùng thời?
Nam Việt riêng một cõi trời,
Triệu Đà chính lẽ vua người nước Nam.
Hiểm sâu Lưu Tú mưu gian,
Nhập nhèm Hoa – Hán, Bắc – Nam đánh quàng.
Bà Trưng khởi nghĩa Khăn Vàng?
Thân dù tử tiết, tiếng vang muôn đời.
Thục Ngô liên kết răng môi,
Ngô Quyền, Lý Bí hai nơi chống Tào?
Tùy, Đường triều đại thế nào,
Tiền Lê, Tiền Lý so vào khớp chăng?
Đại Việt từ thủa Thăng Long,
Ngàn năm độc lập, núi sông vẫn còn.
Ngẫm suy thấu đạo vuông tròn,
Dân Hoa, dân Việt cháu con vua Hùng.

Văn nhân tiếp vần:
Khiết đan Liêu Hán một dòng
Chiếm dân cướp nước xóa đi giống nòi
Để nay ai đó sụt sùi
Quỳ ôm đống mối ngỡ là mộ cha…

 

Lịch sử Đức thánh … Chiêm

Cong dinh ChemCổng đình Chèm thờ Lý Ông Trọng

Hương, Bổng, Đổng, Đằng là bốn vị tối linh của nước ta” (Lời tiếm bình Việt điện u linh của tiến sĩ thời Lê Cao Huy Diệu). “Hương” ở đây chỉ Lý Ông Trọng, người Thụy Hương, Từ Liêm. Đức Thánh Chèm như vậy được xếp ngang hàng với đức Phù Đổng thiên vương.
Lĩnh Nam chích quái chép Truyện Lý Ông Trọng:
Cuối đời Hùng Vương có người ở xã Thụy Hương, huyện Từ Liêm, đất Giao Chỉ họ Lý tên Thân. Khi đẻ ra rất to lớn, cao đến 2 trượng 3 thước… Đời An Dương Vương, Tần Thủy Hoàng muốn cất binh đánh ta, An Dương Vương bèn đem Lý Thân tiến nhà Tần. Thủy Hoàng mừng lắm, phong cho làm chức Tư lệ hiệu úy. Khi Thủy Hoàng đã lấy được cả thiên hạ, sai Lý đem quân giữ đất Lâm Thao, uy danh vang dội đến Hung Nô, Hung Nô không dám xâm phạm cửa ải, Thủy Hoàng phong Lý làm Phụ tín hầu, lại gả công chúa cho Lý.
Truyện kể Lý Ông Trọng này nghe ra … kỳ kỳ. Tần Thủy Hoàng đánh đông dẹp bắc thu phục cả thiên hạ, tới nước Việt thì thay vì chống lại, An Dương Vương lại còn cho “mượn” người làm tướng để giúp Tần chống giữ Hung Nô…
Nhưng truyện Lý Ông Trọng rõ ràng là truyện có thật, là một chuyện cổ xảy ra vào đời Tần vì được cả sách Trung Quốc chép. Sách Từ Nguyên viết:
Nguyễn Ông Trọng đời Tần, người Nam Hải, thân dài một trượng ba thước, khí chất đoan dũng, khác với người thường. Vua Thủy Hoàng sai cầm quân giữ đất Lâm Thao, thanh thế chấn động Hung Nô. Ông Trọng chết. Vua sai đúc tượng đồng để ở của Tư Mã, coi giữ cung Hàm Dương.
Lý Ông Trọng người Việt mà làm tới chức Tư lệ hiệu úy nhà Tần, được phong là Phụ Tín hầu, rồi còn làm phò mã nước Tần. Một người Việt chính gốc được đại đế lang sói như Tần Thủy Hoàng hậu đãi tới vậy. Lại còn từ Văn Lang sang tới tận Thiểm Tây để trấn giữ Hung Nô… Trong chuyện này có gì đó không bình thường…
Thần tích đình Chèm ghi: Lý Ông Trọng được Hùng Vương phong chức Chỉ huy sứ. Ngài giúp vua dẹp yên các loại giặc hay quấy nhiễu biên giới phía Tây và phía Nam khiến chúng sợ không dám xâm phạm bờ cõi nước Văn Lang.
Thần tích đình Trạo Thôn (Ân Thi – Hải Dương, quê mẹ Lý Ông Trọng)  thì viết luôn Lý Ông Trọng đánh giặc “Ai Lao và Chiêm Thành”, tưởng là vô lý nhưng lại rất chính xác. Phía Tây và Nam Văn Lang thì chẳng là đất Ai Lao và Chiêm Thành (sau này) là gì?
Vận dụng phép phiên thiết Hán văn cho ta một số thông tin bất ngờ:
Hung Nô thiết Hồ. Lý Ông Trọng trấn Hung Nô tức là trấn giữ người Hồ hay người Hời.
Từ Liêm thiết Tiêm, hay Chiêm. Đức thánh Chèm nghĩa là … Đức thánh Chiêm. Tên làng Chèm chỉ rõ công đức trấn giữ đất Chiêm của Lý Ông Trọng.
Tới đây không còn nghi ngờ gì nữa, thực ra Lý Ông Trọng làm tướng Tần để giữ vùng đất Tây và Nam nước ta chống lại người Hồ hay người Chiêm.
Đại Nam quốc sử diễn ca:
Hiếu liêm nhẹ bước thanh vân
Làm quan hiệu úy đem quân ngữ Hồ
Uy danh đã khiếp Hung Nô
Người về Nam quốc hình đồ Bắc phương.
Hung Nô = Hồ, rất rõ trong đoạn thơ trên.
Bài thơ trong Lĩnh Nam chích quái, Truyện Lý Ông Trọng:
Văn võ toàn tài đại trượng phu
Hàm Dương khiển tượng nhiếp quần Hồ
Vĩnh Khang nhất nhật đàm kinh mộng
Huyết thực Nam thiên tráng đế đồ.

Dịch:
Võ giỏi văn tài đấng trượng phu
Hàm Dương đồng tượng khiếp quần Hồ
Vĩnh Khang ứng mộng bàn kinh truyện
Hương lửa trời Nam vững đế đồ.

“Quần Hồ” là người Hời hay Chiêm. Trong các câu đối ở đình Chèm gọi là Hoa di hay Di Hạ. Hồ = Hời = Hoa = Hạ. Hoành phi ở đền Chèm ghi “Uy chấn Hoa Di”.
Câu đối ở cổng đình Chèm:
Hoa Di vọng biểu cao, đế khuyết do nghi đồng hữu ảnh
Miếu mạo nguy sơn trĩ, phật tân tự tín thủy vô ba.

Dịch:
Người Hời trông cột lớn, cửa vua còn ngờ tượng đồng vẫn có bóng hình
Đền miếu lồng núi cao, bến phật tự tin sông nước không còn sóng dữ.

Phuong dinhPhương đình ở đình Chèm

Câu ở tòa đại bái đình Chèm:
Thiên thùy nguyên tinh, Di Hạ lẫm hùng uy, đồng tượng thanh cao Tần Bắc trấn
Địa lưu cố trạch, âm dương đồng hiển tướng, kim chương trù điệp Việt Nam phong.

Dịch:
Trời buông khí nguyên, Di Hạ sợ hùng oai, tượng đồng thanh cao trấn Tần Bắc
Đất lưu nền cũ, âm dương cùng hiện tướng, sách vàng dày chất cõi Việt Nam.

Hoa Di hay Di Hạ có thể là con cháu dòng Đế Nghi phương Nam từ thời cổ, tức là nhóm người Môn – Khmer ở phía Tây và Nam nước ta. Phía Nam nước Văn Lang được biết có nước Hồ Tôn. Nước Hồ Tôn thì không phải người Hồ thì là người gì?
Lý Ông Trọng được Tần Thủy Hoàng gả công chúa Bạch Tĩnh Cung. Phân tích tên đức bà này:
– Bạch là màu chỉ phương Tây trong ngũ hành.
– Tĩnh là tính chất tĩnh khang của phương Tây theo Dịch lý.
Công chúa Bạch Tĩnh Cung nghĩa là Tây cung công chúa, một lần nữa xác nhận Lý Ông Trọng trấn giữ đất phía Tây của nhà Tần.
Truyền thuyết kể rằng tới thời Đường Kinh lược sứ Triệu Xương đi qua Từ Liêm, bến Vĩnh Khang nằm mộng gặp Lý Ông Trọng cùng giảng sách Xuân Thu, Tả truyện. “Vĩnh Khang ứng mộng bàn kinh truyện”.
Thiên Nam ngữ lục chép chuyện ứng mộng này như sau:
Thuyền qua đến quận Từ Liêm
Vĩnh Khang bến ấy nửa đêm đỗ nhờ
Canh khuya phảng phất mờ mờ
Chiêm bao thấy tướng tên là Trọng Ông.
Triệu Xương là người đã chiêu an Phùng An – Đỗ Anh Hàn (khởi nghĩa Phùng Hưng). Có phải chuyện hiển mộng ở bến Vĩnh Khang có ý nói nhờ Lý Ông Trọng đã bàn chuyện kinh sách, khuyên Triệu Xương lấy đức mà cai trị nên mới thu dẹp được họ Phùng?
Câu đối ở đình Chèm:
Bắc khuyết ngưỡng chân dung, vân ủng kim tinh vô tượng ngoại
Khang giang truyền hiển tích, ba hàm thiết khí hữu thanh trung.

Dịch:
Cửa Bắc ngưỡng chân dung, tinh vàng mây phủ ngoài không tượng
Sông Khang truyền hiện tích, võng sắt sóng bao trong có thanh.

Sông Khang, sông Khương liệu có phải ám chỉ sông … Mễ Khương không? Vùng đất Lý Ông Trọng trấn giữ kéo từ Lâm Thao (Phú Thọ) tới tận sông Mê Kông cũng đúng là đất Ai Lao – Chiêm Thành xưa.
Duệ hiệu thờ của Lý Ông Trọng tại đình Chèm là Hy Khang Thiên Vương.
– Hy = Hai = Hời, phía Nam
– Khang tức là Tây.
Hy Khang Thiên Vương là thần vương trấn vùng Tây và Nam.
Cũng có thể “Khang” có nghĩa là “trấn”, “yên”. Hy Khang Thiên Vương là vị thần vương trấn giặc Hồ ở phía Nam, tướng ứng với bức hoành phi “Uy trấn Hoa Di“.
Theo thần tích và Lĩnh Nam chích quái Lý Ông Trọng còn giúp Cao Biền đánh giặc Nam Chiếu. Lý do Lý Ông Trọng hiển linh giúp Triệu Xương và Cao Biền cũng chỉ ra rằng nơi mà uy linh của Ông Trọng trấn Hồ chính là vùng đất Nam Chiếu – Phùng Hưng, tức là vùng đất Tây và Nam nước ta ngày nay.
Tộc phả họ Phạm chép:
Cuối đời Hùng Duệ Vương (258 trước CN) con trai trưởng của Phạm Duy Minh ở xứ Đằng Châu, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên ngày nay là Đại lang Phạm Duy Hinh cùng Lý Thành (con Lý Thân – Lý Ông Trọng) trấn thủ đất Nam Hà gồm 2 châu là Ái châu (Bình Trị Thiên) và Trung châu (gọi là xứ Lâm Ấp) – tức là Nam Trung bộ ngày nay…
Thông tin Lý Thành, con Lý Thân trấn thủ đất Nam Hà – Lâm Ấp đã khẳng định một lần nữa vùng đất trấn giữ của Lý Ông Trọng. Nam Hà gồm 2 xứ. Xứ Nam do Lý Thành trấn giữ là vùng Tây Bắc và Thượng Lào ngày nay. Xứ Hà hay Hồ là đất người Hời, người Chiêm ở Trung bộ và Hạ Lào. Con Lý Ông Trọng ở Nam Hà – Lâm Ấp thì trước đó chính nơi đây đã là do Lý Ông Trọng trấn giữ.
Theo sử sách thì Lý Ông Trọng làm tướng Tần trấn giữ Hung Nô ở đất Lâm Thao. Lâm Thao không phải ở tận Cam Túc – Thiểm Tây. Lâm Thao là phần đất Lâm hay đất Nam trong Nam Hà, nơi có sông Thao chảy qua, hay nói cách khác Lâm Thao là vùng Tây Bắc ngày nay.

Tu linh 2Tứ linh trên mái đình Chèm.

Lý Thân, Tư lệ hiệu úy nhà Tần, phò mã của Tần Thủy Hoàng, trấn giữ người Hồ ở phía Tây và Nam Việt trên đất Chiêm. Vậy nhà Tần phải ở đâu mà cần giữ vùng “Ai Lao, Chiêm Thành” này? Hai vùng đất Tây và Nam này quan trọng thế nào mà phải có một đại tướng, phò mã trấn giữ?
Chuyện này chỉ có thể giải thích được theo sử thuyết họ Hùng. Tần đã diệt nhà Chu – Thục ở Văn Lang – Âu Lạc, sau đó dời đô về vùng giữa hai nhà Chu (Ung Thành – Quảng Tây?). Tuy nhiên, khi Tần Thủy Hoàng thống nhất lục quốc lại thiếu mất một số nước lớn là Lỗ, Yên và Tề. Lỗ là Lào, là vùng Tây Văn Lang. Yên là đất Chiêm, là vùng Nam Văn Lang. Nhà Tần đã cử đại tướng là Lý Thân trấn giữ hai vùng đất giáp với nước Lỗ và nước Yên (đất Nam Hà hay Ai Lao và Chiêm Thành sau này).
Câu đối đình Chèm:
Tần quan lỵ chỉ Trung Hoa tướng
Việt điện nguy nhiên thượng đẳng thần

Dịch:
Điện Việt còn đây thần thượng đẳng
Ải Tần chốn đó tướng Trung Hoa.
Lý Thân là tướng Tần, cũng là người Việt. “Trung Hoa tướng” lại là “Việt Điện thượng đẳng thần”. Nhà Tần của Trung Hoa cũng là một giai đoạn lịch sử của người Việt mà thôi.
Câu đối khác ở đình Chèm:
Lục hợp tiêu binh, tưởng kiến hùng uy kinh tuyệt vực
Thiên thu di miếu, nghi nhiên chính khí chướng cuồng lan.

Dịch
Sáu nước tan binh, oai hùng nhớ thấy khiếp biên cõi
Nghìn thu để miếu, chính khí như còn chặn sóng hung.

Câu đầu nói đến khi Tần Thủy Hoàng thống nhất lục quốc, Lý Ông Trọng giúp Tần trấn ngoài biên ải chống quân Hồ.
Câu sau nhắc tích Lý Ông Trọng giăng lưới sắt cản thủy quái giao long ở đoạn sông chảy qua Chèm.
Một cách hiểu khác: “di” là động từ, “di miếu” là “để lại đền miếu”.
Vậy: “tiêu” là động từ, “tiêu binh” là “dẹp hết quân binh”.
Ai dẹp hết quân binh của 6 nước? Chẳng nhẽ là Lý Ông Trọng? Từ nghĩa trên mà suy thì câu đối nói Lý Ông Trọng là tướng Tần Thủy Hoàng, đã dẹp tan quân của 6 nước, “hùng uy” còn kinh động ngoài biên ải!
Xét về những gì Tần Thủy Hoàng trọng đãi Lý Ông Trọng thì hoàn toàn có thể có chuyện trên. Lý Ông Trọng đỗ Hiếu liêm, được phong chức Tư lệ hiệu úy, Phụ Tín hầu, được gả công chúa Bạch Tĩnh Cung… Còn chức gì để có thể phong hơn nữa cho một vị tướng?
Với những chức như trên Lý Ông Trọng phải sánh ngang với đại tướng Mông Điềm của nhà Tần, người đã vượt Hoàng Hà đánh Hung Nô, lập Vạn lý trường thành. Hoàn toàn có thể Lý Ông Trọng là một đại tướng đã giúp Tần Thủy Hoàng dẹp yên 6 nước. Chí ít 2 trong số đó là Lỗ và Yên, tức là Ai Lao và Chiêm Thành sau này.

Văn nhân góp ý:
Sách Từ Nguyên viết:
Nguyễn Ông Trọng đời Tần, người Nam Hải,…
Sách sử Việt gọi là Lý ông Trọng người Giao chỉ … sao sách Tàu lại viết là Nguyễn… người Nam Hải. Nam Hải nay là Quảng Đông xưa là đất Đông Giao Chỉ bộ thì đúng rồi khỏi phải bàn.
Còn việc họ Lý bị sách Tàu đổi thành họ Nguyễn có lẽ… cũng tương tự như việc nhà Trần bắt người họ Lý nước Việt đổi thành họ Nguyễn vậy, … Giải thích là ‘né’ từ ‘Lý’ tên ông tổ nhà Trần, thực ra chỉ là … tưởng tượng của các quan viết sử mà thôi.
Thực chất của vấn đề là do sự định danh… lộn ngược trục Bắc – Nam mà ra. Hướng Xích đạo tượng trưng bởi màu đỏ và ngọn lửa .v.v.; chỉ miền nóng bức, văn minh sáng chói, giới Quý tộc ở đấy được cho mang họ Lý; lửa ↔Lý ↔Lê (Thời cổ lỗ xa xưa làm gì có họ, ngay tên riêng… theo 1 số nhà nghiên cứu thì có thể cũng chỉ có khoảng 600 – 700 năm trở lại đây).
Ngược với hướng Xích đạo tượng bởi màu đen và dòng nước .v.v.; chỉ miền khởi nguyên, lúc ban đầu còn mờ tối ngây thơ. Quốc gia ở hướng ấy gọi là Nguyên, là Mông, giới lãnh đạo được gán cho họ Nguyễn, nguyên ↔Nguyễn (Dịch học tuyệt đối không mang thang giá trị – đạo đức gán vào các Dịch tượng, nguyên chỉ là tiên khởi, mông là ngây thơ, Mun màu đen đơn thuần là màu sắc không phải là Man…, tất cả sự méo mó là do đám ‘Dịch tặc’ bịa ra).
Sở dĩ người Tàu lộn ngược Bắc – Nam vì… không lẽ các đấng ‘con trời’ chui ra ở vùng bắc Hoàng Hà là … Nam man sao …, chính sự việc lộn ngược lộn suôi này tự thân… ủng hộ mạnh mẽ hướng suy nghĩ của Bách Việt 18 về … Lý ông Trọng – Nguyễn ông Trọng.
Về nhân danh và địa danh trong bài khi vận dụng phép phiên thiết Hán văn cho ta nhiều thông tin bất ngờ:
Bài thơ trong Lĩnh Nam chích quái, Truyện Lý Ông Trọng:
Văn võ toàn tài đại trượng phu
Hàm Dương khiển tượng nhiếp quần Hồ
Vĩnh Khang nhất nhật đàm kinh mộng
Huyết thực Nam thiên tráng đế đồ.

*2 địa danh :
– Hàm Dương thiết Hương. Hương có thể chỉ làng Thụy Hương – quê Lý ông Trọng hoặc cũng có thể Hương chỉ chính ông Trọng. Như thế câu Hàm Dương đồng tượng khiếp quần Hồ ý thực sự là: tượng đồng ông Trọng khiếp quân Hồ… Xét ra… tới đây đã giải tỏa được sự vô lý: tượng ông Trọng đặt ở… Hàm Dương kinh đô nước Tần…
– Vĩnh Khang thiết vãng, vãng trong câu chỉ người xưa đã khuất  (ý chỉ ông Trọng). Như thế câu thơ thành ra … 1 ngày trong mộng thưa chuyện cùng người xưa đã khuất… Nếu quả đúng như vậy thì khỏi cần tìm bến Vĩnh Khang nữa… nó không hề có trên cõi trần…
*2 nhân danh :
– Hoa Di thiết Hy; Hy chính là Hồ như đã viết trong bài.
– Di Hạ thiết Dạ ….; thông tin thật quan trọng. Trước đây tôi nghĩ mãi về nước Dạ Lang, lang đồng nghĩa với vương với chúa thì đã rõ còn chữ Dạ thì đành chịu… giờ tự nhiên thông… Di Hạ người Di thời Hạ chính là người Di Lão trong sử còn gọi là Tây – Nam Di, Ai Lao Di hay người Liêu tử.
Nhà Hạ có cuộc chiến Hoa – Di mấy trăm năm… thì ra là cuộc chiến của con cháu Hùng Hoa vương – Hải lang và con cháu Dạ lang; Dạ lang nghĩa là chúa người Di lão, nước Dạ lang là nước của chúa Di Lão ở vùng Tây – Nam Trung Hoa…
Đám sử gia phù thủy đã dùng phép phiên thiết Hán văn nhảy múa trên nền lịch sử Trung Hoa khiến tất cả rối tung lên… mịt mù sương khói… tưởng rằng như thế mãi mãi không thể nào nhận ra Trung Hoa thật; nhưng…

Tây học và Cựu học

Thời buổi ngày nay người ta đua nhau cho con cho cái đi học nước ngoài từ … lớp vỡ lòng đến đại học. Những người đang có công ăn việc làm cũng chăm chăm để đi học, không Âu thì Mỹ. Người không có việc làm lại càng muốn xuất ngoại. Thời bây giờ đi học không ai còn theo cái chí học của Phan Bội Châu mà “Đông du” như xưa. Người ta đi học để mong cái bằng Tây học sẽ đem lại kiến thức cao siêu hơn, công ngon việc lành hơn, ví trí xã hội đứng trên nhiều người hơn…

Cơ hội Tây học ngày nay cũng nhiều. Đi xa thì có Mỹ, Anh, Pháp, Nga, Hà Lan, … Đi gần cũng không thiếu Úc, Thái Lan, Singapore, Nhật Bản,… Học bổng đại học, thạc sĩ, tiến sĩ,… không phải quá khó để nhận được đối với những người có học lực tốt. 2 năm, 3 năm hay 5 năm về là có bằng cấp thạc sĩ tiến sĩ “made in” nước ngoài…

Nhưng đời nay có mấy ai học làm … “kẻ sĩ”? Kẻ sĩ thời nào cũng vậy, là người có kiến thức và vì có hiểu biết đầy đủ nên là những người có trách nhiệm với quê hương, với đồng bào, với bạn bè. Người làm kẻ sĩ lấy nhân lấy lễ làm gốc, đối với bạn bè luôn chân tình và hết lòng, không cho phép với bạn bè “thấy chết mà không cứu”. Kẻ sĩ thời nay biết “trọng nghĩa khinh tài” thật ít. Thạc sĩ tiến sĩ Tây học ngày càng nhan nhản nhưng Tây học chỉ có học cái “khôn” mà không học cái “ngoan”. Quan trường đất Việt ngày nay mới đẻ ra lắm tham nhũng, tệ nạn đến vậy.

Kẻ sĩ nói được là làm được. Ngày nay người nói thì nhiều, người làm thì ít. Người làm như nói lại càng hiếm. “Chém gió” và múa “hoa chiêu” đã thành “nghề” của nhiều “nhân sĩ” Tây học đời nay.

Nước ta từ khi người Pháp tới, Tây học thay dần Cựu học. Nhân lễ nghĩa trí tín của Nho đạo bỏ đi đằng nào hết. Tây học dựa vào lý lẽ, nhằm vào công nghệ, pháp luật. Cựu học lấy văn làm gốc, văn là người, dựa vào tình người. Tây học có môn gọi đúng tiếng Tây là “nhân học” (humanities). Tiếng ta gọi là Khoa học Nhân văn. Chữ văn được thêm vào trong tiếng Việt thật đầy đủ và bao hàm hơn cái tiếng Tây nhiều.

Người Việt cứ cho rằng Cựu học dựa vào Tứ thư Ngũ kinh của Nho giáo bên Tàu, thôi thì đằng nào cũng là học theo người ta, Tàu hay Tây cũng đều vậy cả. Ít ai biết rằng Nho học của ta chẳng “Tàu” chút nào, mà là “Ta” từ gốc 100%. Thi, Thư, Dịch, Lễ, Nhạc được Khổng Tử đúc kết vào thời Đông Chu, chẳng phải ở đâu xa mà chính là vùng Việt Nam và lân cận ngày nay.

Thi là thơ, là văn. Học Thi không phải là học làm thơ, mà là học nói học viết.
Thư là sách, là lịch sử. Không biết sử thì như người mất gốc, lưu lạc ngay trên đất quê hương của mình.
Dịch là quan niệm, là triết học. Dịch là cái gốc làm nên văn hóa Việt Nam.
Lễ là cách đối nhân xử thế. Khổng Tử nói: “Không học Lễ thì không biết đi đứng ở đời”.

Không tự nhiên mà người Việt được đánh giá cao về tố chất, khả năng thích ứng, suy luận, tư duy logic… Bản lĩnh văn hoá, trình độ con người Việt có nguồn gốc cả 4-5 ngàn năm lịch sử. Cái tên nước Văn Lang từ thời Hùng Vương cũng đủ nói lên một dân tộc có “văn” từ bao đời.

Thời Trần, quân Mông Cổ khi đã chiếm cả vùng đất của nhà Tống vẫn bắt Đại Việt hàng năm phải cống nạp “nho sĩ, thầy thuốc, thầy bói, thầy tướng số và nghệ nhân giỏi, mỗi loại 3 người”. Người Mông Cổ hơn ai hết hiểu rõ cội nguồn Nho, Y, Lý, Số của Trung Hoa nằm ở đâu. Việt Nam tới nay vẫn tỏ rõ khả năng “xuất khẩu nhân tài” như Ngô Bảo Châu mới giải Fields toán học gần đây.

Cựu học có ít nhất từ Khổng Tử, tính rẻ cũng là 2 nghìn năm. Tây học vào nước ta mới có 200 năm. Bỏ cái 2 nghìn năm của “ta” để thay bằng cái 200 năm của Tây thì có vô lý quá không? Lẽ ra lấy Cựu mà nghinh Tân thì người ta lấy Tân mà nhìn vào Cựu. Dùng đồ Tây mới toanh thì hỏi làm sao có thể giải quyết được những vấn đề nghìn năm của “ta”?

Cái hậu quả của Tây học át Cựu học tới nay đã có thể thấy rõ ở Việt Nam. Chỉ quan tâm đến công nghệ và kinh tế thị trường nên môi trường sống bị ô nhiễm và xuống cấp nghiêm trọng. Một nước 80% dân số sống bằng nông nghiệp mà tìm được ngọn rau sạch, con cá lành để ăn cũng khó… Rừng núi, cây cối, động vật theo nhau … đội nón ra đi phục vụ thói quen tiêu dùng vô tội vạ … kiểu Tây… Khoáng sản được đào khắp nơi, mặt đất hóa thành hầm thành hố, thành bãi thải,… Thủy điện nhiều như cầu như cống, một đống nước treo trên cao, không đổ xuống đầu thì mới là lạ…

Chế độ pháp trị kiểu Tây mà áp dụng ở ta có lẽ khiến ai cũng phải thất vọng. Luật nhiều như ma trận mà thực thi luật thì ít. Luật chỉ để phục vụ một nhóm người bên trên mà thôi. Con dân thấp cổ bé họng chỉ thấy luật treo lơ lửng trên đầu mình như gông như gánh, lúc nào cũng có thể rơi xuống chẳng bởi lý do gì cả…

Ngày nay Tây học tiến bộ bắt đầu nói đến “phát triển bền vững”, “kinh tế xanh”… Nhưng những chữ “phát triển” và “kinh tế” vẫn nằm ở đầu. “Bền vững”, “xanh” chỉ là cái đuôi đằng sau, để gọi cho mốt mà thôi.

Khác với Tây học chăm chăm đi theo một cực, Cựu học phương Đông từ gốc đã xuất phát bởi quan niệm của Dịch là lưỡng lập, có trời có đất, có âm dương, có nam có nữ, có to có nhỏ, có càn có khôn, có lý có tình. Mọi thứ phải cân bằng thì mới tồn tại. Âm dương đối lập mà hoà hợp. Vừa cân bằng lại vừa dịch chuyển. Vì thế cái học, cái đạo xưa rất “thân thiện” với môi trường. Nền khoa học như vậy chắc chắn là “xanh”, chẳng cần lên gân lên cốt “kinh tế xanh”, “công nghệ sạch” làm gì…

Tây học đặt người lên trên cả trời đất, thì làm gì mà môi trường chẳng bị huỷ hoại, biến đổi khí hậu gây đại hồng thuỷ cận kề… Con người mà ở trên cả trời đất thì … chắc còn có nước kéo nhau lên cung trăng mà ở… Ở đó có chỗ sẵn cho các … chú Cuội… ngồi trông chị Hằng dưới gốc cây đa…

Cựu học xác định “trên trời dưới đất giữa hoà nhân gian”. Con người là trung tâm nhưng là một phần trong tổng thể không tách rời thiên – địa – nhân…

Dịch học nhấn mạnh sự “trung dung”, tức là trúng. Làm không cần đao to búa lớn mà phải biết làm đúng, làm trúng mới nên. Lời quẻ Khôn: “Nguyên, hanh, lợi, tẫn mã chi trinh”… “Nguyên, hanh, lợi” là các nguyên tắc Nhân bản, hợp lý và thiết thực. “Tẫn mã” là “ngựa cái”, ý nói đến sự tòng thuận. Có tòng thuận thì mới có “trinh”. Tức là phải biết tuân theo qui luật thì mới bền vững.

Ông tổ tín ngưỡng Đạo Giáo phương Đông Lão Tử cũng chẳng ở đâu xa, chính ngay bên thành Cổ Loa Việt Nam. Lão Tử cưỡi trâu, trâu cũng như ngựa, là nói đến đạo tòng thuận và đề cao đạo đức: “Người thuận theo đất, đất thuận theo trời, trời thuận theo Đạo, Đạo thuận theo tự nhiên” (Đạo đức kinh). Biết tòng thuận với tự nhiên thì mới bền vững.

Tây học sau nhiều năm lấy pháp trị là chính, nay lại nói đến “cộng đồng”, “sự tham gia”, “đồng quản lý”, … Nói nhiều mà mọi thứ vẫn rối tinh, đâu vẫn hoàn đó. Bởi vì bản chất của Tây học không thể đi được vào quần chúng một cách thật sự.

Còn trong văn hóa Việt tính cộng đồng, coi trọng người dân đã có từ lâu. Từ thủa khai quốc triều đại Việt dựa vào các “tế bào” xã hội là làng xã mà nên. “Phép vua thua lệ làng”, nói theo ngôn ngữ ngày nay tức là “chính sách quốc gia” không bằng “hương ước cộng đồng”. Cộng đồng trong tâm trong hồn người Việt vẫn còn nhưng đã và đang dần bị Tây hoá, biến thành những đơn vị hành chính khô khan. Khôi phục, phát huy năng lực cộng đồng theo kiểu Tây thật khó…

Lật thuyền mới biết dân như nước… câu Nguyễn Trãi nói về Hồ Quí Ly. “Đồng quản lý” cái gốc là ở dân. Dân như nước, nước chảy đá mòn, có gì mà không thể làm được…