Lược sử chùa Sắc Tứ – Kim Sơn, núi Đại An ở Khánh Hòa

Nguồn: http://quangduc.com/a23871/chua-sac-tu-kim-son

Kim Sơn thiên cổ tự,
Bi Trí hiện tùy duyên,
Chân tâm vô sở trụ,
Điều Ngự Giác Hoàng viên.

Tại vị trí toạ lạc chùa Sắc Tứ Kim Sơn hiện nay thì trước đây – trước năm Tân Sửu, Niên hiệu Hưng Long, triều vua Trần Anh Tông (1301) – đã tồn tại một ngôi chùa. Nhưng ta chưa thể biết ngôi chùa có trước đấy do ai tạo lập và tạo lập vào lúc nào . Bởi vì cho đến nay chúng ta chưa có đủ những tài liệu đáng tin cậy ghi chép về việc này. Hơn nữa ngôi chùa có trước đó đã bị hư hại đến mức hầu như không còn bao nhiêu dấu tích ngay từ trước năm 1301. Do vậy, giới thiệu về lịch sử chùa Kim Sơn, xin bắt đầu từ cái mốc 1301 ấy.
Lần theo dấu chân Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông – Đức “ĐẠI THÁNH TRẦN TRIỀU TRÚC LÂM ĐẦU ĐÀ TĨNH TUỆ GIÁC HOÀNG ĐIỀU NGỰ TỔ PHẬT” – trong thời gian Ngài du hóa xứ Chiêm Thành (từ tháng 3 đến tháng 11 năm Tân Sửu – 1301), chúng ta sẽ thấy hiện rõ sự xác lập Kim Sơn Tự.
Như ta đã biết , sau khi lãnh đạo toàn dân Đại Việt đánh thắng quân xâm lược Nguyên Mông, bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và cuộc đấu tranh gìn giữ hòa bình, gây dựng cuộc sống ấm no cho dân chúng đang trên đà phát triển tốt đẹp, thì vua Trần Nhân Tông, theo truyền thống cực kì siêu việt của Vương Triều Nhà Trần là sớm trao quyền lại cho thế hệ trẻ. Ngài đã nhường Ngôi lại cho Thái tử Trần Anh Tông, lên làm Thái Thượng Hoàng. Sự kiện này diễn ra vào tháng 3 năm Quí Tị (1293). Và trong sáu năm (1293 đến 1299) song song với việc trực tiếp cố vấn cho vua Trần Anh Tông còn non trẻ lãnh đạo quốc gia, Thượng Hoàng Trần Nhân Tông thực hiện ý nguyện từ lâu của mình (và cũng là truyền thống của Cha Ông) là xuất gia tu hành. Thượng Hoàng đã thực tập cuộc sống của người xuất gia tại Vũ Lâm[1]. (Tại đây vốn đã có sẵn một hành cung của Nhân Tông. Chính vì Nhân Tông tập sự xuất gia ở đây nên hoàng cung trở thành chùa Vũ Lâm). Năm 1299 , Thượng Hoàng chính thức xuất gia tại chùa Hoa Yên, núi Yên Tử, lấy hiệu là Hương Vân Đầu đà (sau đổi thành Trúc Lâm Đầu Đà, hay còn gọi là Trúc Lâm Đại Sĩ, Hương Vân Đại Đầu Đà) trở thành một vị cao tăng, là người kế thừa chính thức của Thiền phái Yên Tử, thế hệ thứ 6 tiếp nối vị Tổ sư thứ 5 là thiền sư Huệ Tuệ. Hơn thế nữa, chính Trúc Lâm là người khai sáng và xây dựng Thiền phái Trúc Lâm – một Thiền phái đậm đà bản sắc Phật giáo Việt Nam. Đồng thời, Trúc Lâm cũng là người thiết lập một Giáo Hội Phật Giáo thống nhất và nhập thế tích cực với tinh thần từ bi, cởi mở, khai phóng, bao dung và hòa hợp vốn là cốt tủy của sinh hoạt Phật giáo. Rồi cũng chính tinh thần từ bi, dung hợp, khai phóng ấy, chính sự mở rộng cánh cửa tâm thức và tấm lòng thiết tha với dân tộc ấy làm trụ cột tạo nên sức mạnh Đại Việt, và là yếu tố chính yếu thiết lập và duy trì nền thái bình thịnh trị của quốc gia, dân tộc thời Trần. Điều này cũng có nghĩa là truyền thống Vương triều Trần đều chủ động và tích cực dùng Chánh Pháp (Phật Pháp) trong sự nghiệp lãnh đạo quốc gia. Riêng trong lĩnh vực quan hệ giữa các dân tộc, các vị vua Trần, mà điển hình là Hoàng Đế Thiền sư Trần Nhân Tông, đã triệt để dùng chánh pháp để giáo hóa, xây dựng và củng cố tình đoàn kết dân tộc, hóa giải mọi mâu thuẫn trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng, tương thân tương ái, nhầm đạt mục tiêu vì Nước (Nước mạnh) vì Dân (Dân giàu).
Với tâm nguyện củng cố và phát triển sự hòa hợp đoàn kết dân tộc một cách lâu dài, bền vững, và cũng để hoằng hóa Phật Pháp tại xứ Chiêm Thành, mà vào tháng 3 năm Tân Sửu (1301) Trúc Lâm đi thăm Chiêm Thành. Ngài đi với tư cách một vị du tăng, với một số tăng sĩ tùy tùng. Trên đường đi xuống phía Nam, Trúc Lâm có ở tại am Tri Kiến của trại Bố Chính[2]. Rồi từ trại Bố Chính, Trúc Lâm đi sang Chiêm Thành. Thời gian Trúc Lâm vân du tại Chiêm Thành khá dài, từ tháng 3 đến tháng 11 Tân Sửu (1301) mới trở về Yên Tử. Và như vừa nêu, đây là một cuộc vân du của một vị cao tăng, đứng đầu Giáo Hội Phật Giáo thống nhất Đại Việt, và được Chúa Chiêm Thành nghênh tiếp với tư cách ấy. Trong thời gian lưu trú tại Chiêm Thành, Trúc Lâm đã đàm đạo với Chúa Chiêm Thành là Chế Mân. Cuộc tiếp xúc này chắc chắn là cuộc tiếp xúc thân mật. Chúa Chiêm Chế Mân tiếp một vị cao tăng Đại Việt, nhưng đồng thời cũng là tiếp một vị lãnh đạo tinh thần tối cao, có uy lực rất lớn trong triều đình và toàn thể quốc dân. Vả lại, căn cứ trên quan hệ đoàn kết dân tộc giữa Triều đình Đại Việt (với tư cách dân tộc Kinh) và xứ Chiêm Thànnh (với tư cách là dân tộc Chăm – Chàm) trong giai đoạn Thượng Hoàng Trần Nhân Tông lãnh đạo Quốc gia Đại Việt, thì ta có thể biết chắc Chúa Chiêm lúc ấy là Chế Mân đã hết sức khâm phục và có tình cảm đậm đà với Trúc Lâm. Như ta cũng đã biết, khi quân xâm lược nhà Nguyên, do Toa Đô chỉ huy binh thuyền gây chiến và chiếm đánh Chiêm Thành vào cuối năm 1282, Thượng Hoàng Trần Nhân Tông đã cử Tiến sĩ Nguyễn Khả Lạt (em ruột Trung Liệt Hầu Nguyễn Khoái) làm chánh tướng, thiền sư Phùng Đạo Phong làm tham tán quân vụ, chỉ huy 2 vạn quân và 500 chiến thuyền với đầy đủ quân trang, quân dụng vào sát cánh cùng quân dân Chiêm đánh tan quân Nguyên, tiêu diệt toàn bộ 300 chiến thuyền với trên 1 vạn rưỡi quân lính, quét sạnh doanh trại và quan quân của Toa Đô ở cửa biển Quy Nhơn, khiến tên bại tướng này phải thu nhặt tàn quân bỏ chạy ra hồ Đại Lãng, Ô Lý Việt Lý (Bình-Trị-Thiên ngày nay) vừa cướp bóc, vừa vỡ hoang trồng tỉa hoa màu mà sống [3]. Nước mắt, máu xương của quân dân Việt (Kinh) đã đổ xuống để bảov ệ dân tộc Chiêm, chiến thắng cuộc xâm lược của quân Nguyên vào xứ Chiêm Thành. Chính ơn nghĩa sâu dày này và những hành động xây đắp tình thân hữu bền chặt Việt (Kinh) – Chiêm khác nữa của Vương triều Trần đã khiến chúa Chiêm càng thêm kính mộ đối với Trúc Lâm. Nhân đây, cũng cần nhắc thêm lại một điều. Sau chiến thắng cuộc chiến tranh Nguyên – Chiêm (1283-1284), lo ngại giặc Nguyên sẽ quay lại đông hơn, mạnh hơn, quyết liệt hơn, chúa Chiêm Chế Mân đã xin vua Trần cho toàn bộ quân Việt (Kinh) tiếp tục ở lại đất Chiêm để chuẩn bị kháng chiến lâu dài và di chuyển vào phía Nam có vị thế thuận lợi hơn xây đắp thành trì , như xây thành Quan Đông (tức là cửa ải phía Đông, nay là xã Ninh Đông, huyện Ninh Hòa) và xây tháp Pô-klong – Grai (sau ta quen gọi là tháp Chàm) tại địa điểm nay thuộc thị xã Phan Rang tỉnh Ninh Thuận, để tăng cường thực lực và thu phục nhân tâm.
Cùng thời gian trên , ngoài 2 vạn quân Việt (Kinh) trụ lại, và thường dân Việt ra vào xứ Chiêm Thành để buôn bán ngày càng đông, còn có không ít quan, dân Nam Tống bại trận trước quân Nguyên vào năm Kỹ Mão (1279) và vô số người Hoa (gốc Bách Việt) vùng Giang Đông cùng chạy sang tá túc tại đất này. Trong số những người Hoa này có những môn đồ của thiền phái Lâm Tế – Thiếu Lâm Tự. Ngoài việc tạo lập nơi ăn chốn ở cû, để có nơi học hành, thi văn, luyện võ, học nghề, trị bệnh cứu người như đã có từ thời nhà Lý, cả người Việt (Kinh), người Hoa cùng lập khá nhiều chùa chiền ở khắp vùng Nam Hà, nhất là khu vực Trung Châu (từ nam đèo Hải Vân đến Đồng Nai) , mà tập trung nhiều ở xứ Trầm Hương (Khánh Hòa ngày nay). Việc xây dựng và phát triển ngày một nhiều chùa chiền như vậy chắc chắn là được chúa Chiêm tán thành và hỗ trợ. Mà sự tán thành hỗ trợ này của chúa Chiêm Chế Mân rõ ràng là một hệ quả tất yếu của tấm lòng kính mộ của Chế Mân đối vớ triều đình Đại Việt, mà đặc biệt là đối với thượng hoàng Trần Nhân Tông. Điều này cũng còn có nghĩa, Chế Mân có lòng kính mộ đối với phật giáo do mộ vị phật tổ Đại Việt (Đức Điều Ngự Giác Hoàng Nhân Tông) hóa độ. Sự trạng này được Trần Chí Chính, trong lời đề từ bức tranh Trúc Lâm Đại Sĩ Xuất Sơn Đồ , viết : ”Có lúc Ngài (Trúc Lâm) viễn du hóa độ cho các lân ban, phía Nam đến tận Chiêm Thành, đã từng khất thực trong thành. Chúa nước Chiêm Thành biết được điều đó hết sức kính trọng thỉnh mời, dâng cúng trai lễ, sắp sẵn thuyền bè nghi trượng, thân hành tiễn ngài về nước và đem đất đai hai châu làm lễ cúng dàng cho Ngài. Ấy là Thuận Châu , Hóa Châu vậy.”[4]
Trong thời gian lưu trú tại Chiêm Thành, ngoài việc đàm đạo với vua quan, các vị tu hành, lãnh tụ tôn giáo… tại phủ Đồ Bàn (Quảng Nam ngày nay), Trúc Lâm còn đi thăm viếng, quan sát tình hình Phật giáo ở nhiều nơi trên đất Chiêm. Rất tiếc, cho đến nay chúng ta vẫn chưa biết được một cánh đầy đủ chi tiết hành trạng của Trúc Lâm trong suốt 7, 8 tháng lưu hóa tại Chiêm Thành. Gần đây, do phát hiện và sưu tầm được một số tư liệu quí (sách vở, các bản chép tay của Cử nhân Nguyễn Tạo…) và sau khi khảo sát lại các bộ sử sách hiện có (nhất là các bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư , Đại Nam Nhất Thống Chí…) kể cả các bộ sách sử Phật giáo Việt Nam, cũng như sau khi trực tiếp khảo sát một số di tích Lịch sử – Văn hóa ở Khánh Hòa, đã phần nào giúp cho việc khôi phục lại ành trạng của Trúc Lâm tại xứ Trầm Hương (Khánh Hòa). Tất nhiên, ở đây chỉ trình bầy những việc nào của Trúc Lâm có liên quan trực tiếp đến chùa Kim Sơn.
Thời còn là xứ Chiêm Thành, vùng đất mà sau này có tên (theo tiếng Việt) là NhaTrang, được gọi theo tiếng dân tộc Chàm, phiên âm từ chữ Ya-Tran. Từ sau khi Thượng Hoàng Trần Nhân Tông vào thăm thì tên gọi chính thức vùng này theo chữ Việt – Nho là “NhaTrang”. Đây là một cửa biển phía đông xứ Trầm Hương (vì vậy mà sau này, Lê Quí Đôn gọi là Đông Hương, còn Tiến sĩ Lam Trà Nguyễn Văn Chương, trong sách Trung Châu Nhân Vật Kí gọi là Cù Huân Hải Khẩu [5]. Việc Thượng Hoàng Trần Nhân Tông gọi (đặt tên) cho khu vực cửa biển này là NhaTrang không đơn thuần vì âm của hai chữ Việt Nho này rất gần với hai âm tiếng Châm Ya-Tran, mà có lẽ quan trọng hơn cả, 2 chữ NhaTrang này có ý nghĩa xác định sự hình thành và phát triễn một cuộc sống sung túc, giao thương buôn bán hết sức nhộn nhịp của khu cửa biển này. Sau này , trong sách Trung Châu Nhân Vật Ký, Lam Trà Tiến sĩ Nguyễn Văn Chương đã mô tả cửa biển NhaTrang đúng như sự tiên đoán, xác định của Thượng Hoàng Trần Nhân Tông ngay từ năm 1301. Lam Trà Tiến sĩ cho biết : Xứ này, từ thời Hoàng đế Trần Nhân Tông vào thăm Chiêm Thành, gọi là cửa biển NhaTrang. Đến thời Lê Trung Hưng lại gọi là Đông Hương, cũng gọi là cửa biển Cù Huân ấy vậy. Tại cửa biển có đầm cù lao,cầu Bến Cá, tức là chợ NhaTrang. Thuyền buôn các nơi mỗi ngày ước khoảng hơn trăm chiếc, ra vào buôn bán sản vật. Chính vì sớm nhận ra cảnh sống sung túc nhộn nhịp như vậy mà Thượng Hoàng Trần Nhân Tông đã ngự đề 4 chữ Việt – Nho: ”NHATRANG TÂN THỊ” để gọi vùng đất giàu đẹp này. (NHA là mầm non, TRANG là một tụ điểm dân cư phong phú tươi đẹp, Tân là bến, THỊ chính là thị tứ , tức là chợ). Như vậy, chúng ta có thể xác định rằng tên gọi NHATRANG (một danh từ Việt – Nho) để chỉ vùng cửa biển này là Thành phố NhaTrang, chính thức có từ ngày đó (1301).
Địa điểm được Trúc Lâm đến thăm trước nhất có thể là nơi có tên gọi là Đại Điền (gồm 4 thôn : Đại Điền Trung, Đại Điền Đông, Đại Điền Nam, Đại Điền Tây – nay là các xã Diên Điền, Diên Sơn huyện Diên Khánh tỉnh Khánh Hoà). Địa điểm này chính là nơi lưu xuất và truyền tụng một câu chuyện (sự tích) có từ thời Hùng Vương. Chuyện kể rằng : Vào thời các Vua Hùng có bà Tinh Vệ Mễ Nương – con gái đầu của Hùng Càng Vương – cùng chồng là Chấn Long Thần Phi “du hạ nam phương” có đem hạt dưa từ Trường Sa vào trồng tại vùng đất dưới chân Hòn Dữ (về sau, Thượng Hoàng Trần Nhân Tông mới đặt tên cho núi là Đại An, và tên này tồn tại cho đến tận ngày nay). Do vùng đất này trồng rất nhiều dưa nên thường được gọi là xứ đồng dưa (qua điền xứ).
Núi rừng bao quanh xứ Đại Điền có rất nhiều lâm đặc sản quí, đặc biệt là cây trầm (trầm hương). Gặp lúc bão lụt nhiều cây trầm gãy đổ trôi xuống lại bị sóng biển đánh tấp lên đầy cả xứ Đồng dưa. Cư dân kéo lên chất thành từng đống đốt. Khói hương thơm tỏa ngào ngạt tẩy trừ mọi sơn lam, chướng khí, dịch bệnh. Cây trầm trở thành một loài cây hết sức quí giá. Từ đó xứ Đồng dưa còn có một biệt danh là xứ Trầm hương (sau này “Xứ Trầm Hương”trở thành biệt danh của tỉnh Khánh Hòa).
Vợ chồng bà Tinh Vệ Mễ Nương – Chấn Long Thần Phi hô hào dân chúng trong vùng đem đất cát lấp thành lũy dài gọi là trường sa lũy để ngăn sóng biển. Lũy này nối từ đèo Ninh Mã tới Cần Lương, tạo thành vịnh Vân Phong ở phía Bắc. Còn lũy Thủy Triều chạy dài từ mũi Cầu Hin, Bãi Dài đến mỏm Chà Đà, tạo thành vịnh Cam Ranh ở phía Nam. Trước mặt Bạch Hổ Sơn (còn gọi là đồi Trại Thủy ở giữa NhaTrang) là quần đảo có tên là Hòn Tre , do Chấn Long Thần Phi dời núi từ phía Tây ra làm tấm bình phong chắn gió cho NhaTrang (Ngày đó đảo này được trồng toàn là tre nên có tên Hòn Tre). Được bao bọc bằng các lũy và các núi (đảo ) chắn gió đó, cù lao NhaTrang [6] rất an toàn, bình yên trên mặt biền hiền hòa. Do vậy mà NhaTrang cũng được gọi là Cù Huân [7]. Sự tích xứ Đồng dưa – Trầm hương, dời núi, đắp lũy của vợ chồng bà Tinh Vệ được phản ánh bằng một bài thơ rất hay ghi trong sách Trung Châu Nhân Vật Ký:
Đại Điền cổ xứ thị trầm hương,
Đông chí phong ba nịch thủy luân,
Tinh Vệ, Chấn Long di thực hải,
Hoằng khai gia lý phú diên khang.
Tạm dịch:
Đại Điền xưa ấy xứ Trầm Hương,
Đông tới phong ba nước ngập tràn.
Tinh Vệ, Chấn Long dời chắn biển,
Mở ra thôn xóm mãi yên lành.

Sau khi hoàn thành công nghiệp dời núi,đắp lũy tạo cuộc sống yên bình cho xứ Trầm Hương , ông bà Tinh Vệ – Chấn Long theo sóng biển về nơi không dấu tích. Để ghi nhớ công ơn sự nghiệp của vợ chồng bà, dân chúng lập đền thờ Bà tại núi Đại An. Nhưng đến cuối triều Hùng Duệ Vương (258 trước Tây lịch) Thục Phán trị nước, bị ngoại tặc thôn tính, ngôi đền này bị triệt phá.
Khi lên xứ Trầm Hương – Đại Điền, nhớ lại tích xưa, tưởng niệm công đức của vợ chồng Bà Tinh Vệ – Chấn Long Thượng Hoàng Trần Nhân Tông tôn phong Bà Tinh Vệ là THIÊN Y THÁNH MẪU, và bàn với Chúa Chiêm Chế Mân cho trùng tu lại ngôi đền thờ ông bà Tinh Vệ. Chúa Chiêm Chế Mân đã cho trùng tu ngôi đền. Trên mái trước đền tạc 4 chữ Nho THIÊN Y THÁNH MẪU [8] và 2 bên trụ đèn tạc đôi câu đối do chính Thượng Hoàng Trần Nhân Tông ngự đề :
Tinh Vệ hận chí năng điền hải
Chấn Long cừu lực khả di sơn.
Nghĩa là:
Chí Bà Tinh Vệ (giận) có thể lấp biển,
Sức ông Chấn Long (thù) khả dĩ dời núi.
Cùng lúc với việc trùng tu đền thờ Thiên Y Thánh Mẫu là việc xây dựng một ngôi chùa dưới chân núi Đại An. Với tên chùa cũng do chính Đức Điều Ngự (Trần Nhân Tông) đặt là ĐẠI AN TỰ. Chắc chắn việc đặt tên chùa là ĐẠI AN không phải là ngẫu nhiên. Hai chữ ĐẠI AN thể hiện rất rõ quyết sách của Hoàng Đế Thiền sư Trần Nhân Tông là phục hưng quốc gia Đại Việt và tạo dựng cuộc sống yên bình tươi đẹp mãi mãi cho dân tộc Chiêm. Điều này được khẳng định rất cụ thể rõ ràng trong đôi câu đối mà Đức Điều Ngự Trần Nhân Tông ngự đề cho chùa:
Đại Việt cơ đồ tu hưng phục
An Chiêm sự nghiệp lại diên khang.
Và như vậy Hoàng Đế Thiền Sư Trần Nhân Tông, cũng tức là Đức Điều Ngự Giác Hoàng Tổ Đại Việt, là người đã khai sáng, lập chùa Đại An [9].
Đến ngày 12 tháng 7 năn Tân Sửu (1301), Trúc Lâm rời chùa Đại An trở lại thăm một di tích -thắng cảnh ở núi Gành – nằm sát cửa Đông Hương (Theo Đại Nam Nhất Thống Chí, núi Gành thuộc thôn Ngọc Toản, huyện Vĩnh Xương, phủ Diên Khánh) cách Nha Trang Tân Thị (tức thành phố Nha Trang ngày nay) chừng 2 dặm (khoảng 3 km) về hướng Tây Bắc. Thấy phong cảnh nơi đây thật đẹp đẽ, thanh tịnh, núi Gành trông như chiếc bình bát bằng vàng (kim âu) của Phật Tổ, in bóng trên mặt biển xanh như ngọc [10], trên núi lại còn lưu dấu tích một ngôi chùa không rõ do ai khai sơn, lập chùa từ bao giờ. Đây đúng là một chốn A-Lan-Nhã lí tưởng cho tu hành, Trúc Lâm liền quyết định cho xây dựng lại thành một Thiền Tự và đặt tên là KIM SƠN TỰ và ngự đề đôi câu đối cho chùa:
Kim âu lãng thủy ngọc hoàn qui
Sơn tự thiền tông hội phước trì.
Nghĩa là:
Bát vàng soi bóng trên mặt nước ngọc qui tụ về
Ngôi chùa thiền (Phật) trên núi tụ hội phước đức mãi mãi.
Sự kiện vừa nêu được ghi chép khá rõ ràng, cụ thể trong sách Trung Châu Nhân Vật Ký như sau: ”Tân Sửu niên, thất nguyệt, nhị thập nhật, Thượng Hoàng Trần Nhân Tông tự Đại An Tự đáo hải biên , quan kỳ cảnh vật hữu tình gian sơn hùng vĩ, mạng Thiền sư Thích Đạo Phong tái lập Phật tự vi KIM SƠN TỰ. Hựu ngự đề:
Kim âu lãng thủy ngọc hoàn qui
Sơn tự Thiền tông hội phước trì.”
Qua đoạn ghi chép trên cho chúng ta thấy: trước khi Đức Điều Ngự Trần Nhân Tông đến, nơi đây (núi Gành) đã có chùa nhưng rõ ràng ngôi chùa này đã đỗ nát, không người trông coi. Cho nên Đức Trần Nhân Tông đã cho xây dựng lại (tái lập Phật Tự), ban tên chùa là KIM SƠN TỰ, xác định chùa theo Thiền phái (mà đương nhiên là Thiền phái Trúc Lâm) và người được giao trọng trách”tái lập phật tự” là Thiền sư Thích Đạo Phong. như vậy ta có thể xác định được rằng chính Đức Việt Phật Trần Nhân Tông là người khai sinh, lập chùa Kim Sơn tại núi Gành (nay thuộc thôn Ngọc Hội, Xã Vĩnh Ngọc thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa). Chấp nhận sự kiện này thì ngày 12 tháng 7 Âm lịch hàng năm sẽ là ngày kỉ niệm lập Chùa, còn ngày Đức Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông thị hiện Niết Bàn sẽ là ngày giỗ Tổ Sư khai sáng chùa (?).

 

 

 

 

 

 

Ghi Chú : Đây là sơ lược lịch sử chùa . Do việc thu thập và xác minh các tài liệu lịch sử chưa thật đầy đủ và độ chính xác còn bị giới hạn , cho nên rất mong quí vị Thiện tri thức , các nhà nghiên cứu quan tâm giúp đỡ chỉ dẫn để trong tương lai chùa Sắc Tứ Kim Sơn sẽ có được một bản lịch sử chùa hoàn chỉnh .

[1]Làng Vũ Lâm, Phủ Diên Khánh – Ninh Bình. Nay thuộc xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.

[2]Thánh Tăng Ngữ Lục chép: ”Sau ở chùa Phổ Minh của phủ Thiên Trường,Thượng Hoàng mời đến các danh tăng, mở lớn các trường giảng,trải mấy năm đèn vân du phương ngoài, đến trại Bố Chính, chọn am Tri Kiến để ở.” ”Tri Kiến”, theo Ô Châu Cận Lục, là nơi đóng cơ quan hành chính của trại bố chính (Tri Kiến cố chi huyện kiến. Có thể nói đây là ngôi chùa đầu tiên được biết của vùng đất Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính ,mà Lý Thánh Tông đã thu phục và định danh trên bản đồ Đại Việt, nay là Bố Trạch (Quảng Bình) và 2 huyện Vĩnh Linh,Gio Linh (Quảng Trị).

[3]Để rồi đến mùa hè năm Ất Dậu (1285), hắn ra Bắc làm Đại Nguyên soái đem 50 vạn quân của Vân Nam cùng 50 vạn quân do cái gọi là Trấn Nam Vương Thoát Hoan cầm đầu sang đánh nước ta. Cuộc xâm lăng qui mô cực lớn này như ta đã thấy, đã bị thất bại thảm hại. Gần 1 trệu quân Nguyên bị quân dân Đại Việt tiêu diệt, chỉ có Thoát Hoan thoát chết nhờ chui vào ống đồng để lính khiêng chạy trốn về Tư Minh (Quảng Tây).

[4]Châu Ô, Châu Lý được nhà Trần đặt tên là Thuận Châu, Hóa Châu vào năm 1307. Việc thu phục 2 châu này như vậy là diễn ra một cách hết sức hòa bình êm thắm.

Sách lược ngoại giao bình đẳng và đoàn kết dân tộc của Thượng Hoàng Trần Nhân Tông (trong đó phải kể cả đến việc gả Công chúa Huyền Trân cho Chế Mân) đã đem lại những thành quả chính trị và an ninh thật to lớn cho quốc gia Đại Việt lúc bấy giờ.

[5]Xin xem một bài thơ của Lam Trà Tiến sĩ trong sách Trung Châu Nhân Vật Ký:
CÙ HUÂN XU HẢI TẶC.
Cù Việt kình thiên hận bạch đầu,
Huân chưng hạo thủy khí lăng châu,
Bạch Hổ triều dương xu hải tặc,
Thanh Long bảo đị thổ hoàng thâu.
Tạm dịch:
CÙ HUÂN ĐUỔI GIẶC BIỂN.
Trắng đầu Cù Việt đứng canh trời,
Giọt châu khói tỏa nước bốc hơi,
Bạch Hổ núi ngăn quân cướp biển
Rồng Xanh gò nổi giặc thân vùi.

[6]Nay gồm 14 phường xung quanh dòng sông Ngọc Hội, kéo dài từ cửa Hà La Sơn – Đồi La San, cho đến cửa bé.

[7]Cù: cù lao, Huân Chưng: chỉ sóng nổi lăn tăn như nước trong nồi mới bắt đầu sôi.

[8]Ngôi đền này đến thời Chế Bồng Nga dấy đông can qua chống phá triều đình Đại Việt, và cho triệt phá đình Đại An thờ bà Tinh Vệ tức là Thiên Y Thánh Mẫu. Đến thời nhà Nguyễn, Phan Thanh Giản nhân đi qua đây, vì không rõ gốc tích bà Tinh Vệ Mễ Nương, nên viết về sự tích bà Chúa Chàm với tên gọi nửa Nho (Việt) nửa Chiêm (Chàm) là Thiên Y A Na, khiến mọi người lầm tưởng bà Chúa Chàm với Bà Chúa xứ Trầm Hương – Thiên Y Thánh Mẫu – là một.

[9]Rất tiếc , trải nhiều lần can qua dưới thời Chế Bồng Nga và sau đó, Đại An Tự đã bị phá hủy hoàn toàn. Chùa Đại An chỉ còn được ghi lại trong sách Trung Châu Nhân Vật Ký.

[10]Thời bấy giờ bao quanh núi Gành toàn là biển.

Khởi nghĩa Hai Bà Trưng trong dòng sử dân gian

Cổ Lôi ngọc phả truyền thư cùng với Bách Việt triệu tổ cổ lục được dòng họ Nguyễn ở Thanh Oai cất như bảo vật, giữ kín, cấm con cháu không được tiết lộ ra ngoài trong nhiều năm. Ở cuối mỗi bài phả đều có thơ dặn lại: “Bất dụng tha nhân, biệt ngoại truyền”…
Tới nay nội dung chính của các cuốn phả ký này đã được một số học giả nghiên cứu trình bày, như trong những bài viết của TS. Lã Duy Lan. Tuy nhiên khi thông tin được nêu ra, cuốn ngọc phả này đã bị nhiều chỉ trích là “bịa đặt”, vì trong ngọc phả hầu hết các nhân vật lịch sử cổ của Việt Nam đều mang họ của Nguyễn, và các địa danh quan trọng trong cổ sử Việt đều nằm ở quanh khu vực Thanh Oai…
TS Lã Duy Lan cho biết, theo Cổ Lôi ngọc phả truyền thư thì sau khi cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng thất bại, quan lại nhà Hán đi hỏi han, ghi chép về lai lịch của Hai Bà ở ngay tại vùng Cổ Lôi. Khi ấy, ông nội của Hai Bà Trưng cũng vẫn còn sống, là một vị trưởng lão mà khi hai vị còn bé, ông thường dạy cho các cháu hát và gõ trắc (hay phách), kéo nhị. Biết được ý đồ truy lùng của giặc, ông cùng dân trang bàn nhau dấu kín tung tích thật, tuyệt đối không hé lộ cho bọn giặc biết. Vì thế mà khi dân chúng được tập trung lại, quan lại nhà Hán hỏi nhà Hai Bà ở đâu thì họ chỉ nói là ở bến ong (tức bến nước ven sông được xếp bằng đá ong). Hỏi đến tên, thì họ chỉ nói là hai bà khi còn bé hay ca hát, bà chị gõ trắc, bà em kéo nhị và chồng bà chị bị quan Thái thú giết, không tìm thấy xác, còn ngoài ra, họ không nói thêm điều gì… Từ đó có tên bà Trưng Trắc, Trưng Nhị quê ở Phong Châu (bến ong) và ông Thi Sách (với nghĩa là mất xác)…
Cổ sử dân gian lưu truyền hàng ngàn năm, qua nhiều thời đại. Trong hoàn cảnh luôn bị kẻ thù truy tìm, truy sát, bằng mọi cách xóa đi dấu vết lịch sử thì người xưa đã buộc phải dồn nén các thông tin lịch sử thật sự vào trong một khu vực nhỏ xung quanh làng xã mình, phải giải thích các tên họ các anh hùng nghĩa sĩ một cách “nôm na”, dùng những từ đồng âm khác nghĩa mà ám chỉ nghĩa thật, phải diễn đạt các sự kiện lịch sử theo hình thức “nửa thật nửa hư”. Tuy nhiên nếu đọc kỹ những ghi chép này và so sánh đối chiếu, phân tích thì vẫn có thể thấy được “ngọc trong đá”. Những cuốn ngọc phả được gìn giữ và lưu truyền này thực sự mang những thông tin lịch sử quý báu, giúp chúng ta hiểu và có thể khôi phục lại được lịch sử của thời kỳ này.

dinh-leĐình Tri Lễ (Thanh Oai, Hà Nội) nơi thờ Lữ Gia.

Cổ Lôi ngọc phả truyền thư cung cấp nhiều chi tiết, nội dung mới và lạ so với chính sử, đặc biệt đối với thời kỳ cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Trước hết Ngọc phả cho biết nơi khởi nghĩa và đóng đô của Hai Bà Trưng là Phong Châu và Phong Châu cũng là Mê Linh. Tác giả Lã Duy Lan cũng đã trích dẫn các sách Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn, Đường thư, Văn hiến thông khảo của Mã Đoan Luân thời Nguyên đều chép: “Mê Linh là Phong Châu”.
Như thế Mê Linh là tên gọi khác của vùng đất Phong Châu, nơi có kinh đô nước ta thời các vua Hùng và là nơi Hai Bà Trưng khởi nghĩa. Thực ra Mê Linh đọc thiết là Minh, mà Minh đô chính là kinh đô thời Hùng Vương, khởi dựng từ vị vua Hùng đầu tiên là Đế Minh. Những tài liệu trên thêm một lần nữa khẳng định điều này.
Đặc biệt về thân thế nguồn gốc và nguyên nhân cuộc khởi nghĩa của Hai Bà được bản Ngọc phả chép khá chi tiết, đầy đủ cả bên nội bên ngoại. Cụ thể:
Ông Lã Hùng Định (thuộc dòng dõi Lữ Gia, Tể tướng nhà Triệu), nguyên là Lạc tướng bản huyện (Mê Linh), bị nhà Hán ép nhận chức Giao Chỉ quận vương, trước lấy bà Trần Thị Đoan, sinh ra Lã Nam, sau lấy bà Đinh Thị Đào, người Mường, con gái Lạc tướng Vũ Ninh tên là Đinh Công Tạo, sinh ra cô Lý (Trưng Trắc), cô Huệ (Trưng Nhị) và chàng út hay Khổng Chủng.
Tiếp đó, cụ Nguyễn Năng Tế thuộc dòng dõi Triệu Vũ Đế Nguyễn Thận, nguyên là Lạc tướng huyện Chu Diên, khi ấy đã già (gần 70 tuổi), giao quyền lại cho con rể là Đặng Thành. Cụ Nguyễn Năng Tế, trước lấy cụ bà Đào Thị Dực sinh được 3 người con là Chiêu Nương, Nguyễn Khắc Trung (còn gọi Chiêu Trung), Nguyễn Đỗ Lý. Khi các con trưởng thành, cụ bà Đào Thị Dực qua đời. Nhiều năm sau, cụ Tế lấy vợ kế, là bà Tạ Cẩn Nương còn trẻ.
Con gái đầu của cụ Nguyễn Năng Tế là Chiêu Nương lấy ông Đặng Thành, sau được kế chức Huyện lệnh trưởng Chu Diên, sinh ra các vị (theo thứ tự) Đặng Xuân, Đặng Nghiêm, Đặng Tiến, Đặng Đình, Đặng Trần. Đặng Xuân (anh) lấy cô Huệ (Trưng Nhị) sinh hai con trai. Đặng Nghiêm (em) lấy cô Lý (Trưng Trắc) chưa có con.
Thông tin của Ngọc phả về xuất xứ và người thân của Hai Bà Trưng rất lạ. Hai Bà Trưng mang họ Lã của ông Lã Hùng Định, là dòng dõi tể tướng Lữ Gia nhà Triệu. Chồng Bà Trưng Trắc có họ Đặng, con trai của lệnh trưởng Chu Diên, cháu ngoại của ông Nguyễn Năng Tế. Ông Nguyễn Năng Tế, sau được coi là “linh hồn của cuộc khởi nghĩa” Hai Bà Trưng, lại là dòng dõi Triệu Vũ Đế (vua Triệu Nam Việt).
Chỉ xét những thông tin này cũng đã đủ thấy khởi nghĩa của Hai Bà Trưng được nói đến thực chất là cuộc khởi nghĩa “hậu” Nam Việt của nhà Triệu, với các tướng lĩnh cầm đầu đều là dòng dõi, họ hàng của tể tướng Lữ Gia và vua Triệu. Như vậy thì khởi nghĩa này không thể xảy ra vào thời Đông Hán sau Công nguyên được vì nhà Triệu Nam Việt kết thúc năm 111 TCN khi Lộ Bác Đức nhà Tây Hán bắt được vua Triệu Vệ Dương Vương, cách thời Đông Hán hơn 100 năm và cách cả một triều đại nhà Tân của Vương Mãng. Khởi nghĩa của Hai Bà Trưng phải nổ ra vào thời điểm ngay sau khi nhà Triệu Nam Việt sụp đổ, là sự phục thù, phục quốc của con cháu vua Triệu và họ Lữ.
Ngọc phả Cổ Lôi kể vị vua lập nên nhà Triệu (Triệu Đà) Nam Việt có tên ban đầu là Nguyễn Thận. Thực ra họ Nguyễn này (và họ Nguyễn có bộ tộc phả ở Thanh Oai nói chung) nguyên là họ Lý, sau mới đổi sang thành họ Nguyễn (dưới thời Trần?). Chỉ có họ Lý thì mới có lịch sử lâu đời như vậy, từ thời “Bách Việt triệu tổ”. Vì Lý là lửa, chỉ ánh sáng, chỉ thủ lĩnh. Họ Lý nghĩa là chỉ các vị vua trong cổ sử.
Như thế nhà Triệu Nam Việt từ ông Nguyễn Thận phải mang họ Lý. Lý Thận là tên của Triệu Vũ Đế. Rất có khả năng Lý Thận = Lý Bôn = Lưu Bang. Vị “cao tổ” đầu tiên của nhà Triệu mang họ Lý, tức là Lưu Bang.
Ngọc phả cũng cho biết có Tây Lý Vương là người đã cho xây thành ở Đông Anh (Cổ Loa) để chống lại quân Hán và Tây Lý Vương cũng thuộc dòng dõi nhà Triệu. Khởi nghĩa của Tây Lý Vương như thế về thực chất cũng nằm trong loạt khởi nghĩa thời hậu Nam Việt cùng với khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Đây là dẫn chứng khác cho thấy các vua nhà Triệu vốn mang họ Lý nên mới gọi là Tây Lý Vương, tức là vua Lý của vùng Tây thổ (Phong Châu), đối lập (nối tiếp) triều đại Nam Việt ở phía Đông, kinh đô ở Dương Thành (Phiên Ngung – Quảng Đông).
Trong Cổ Lôi ngọc phả thì cụ Lã Hùng Định là người phụ trách Mê Linh và nắm chức Giao Chỉ quận vương. Bản thân chữ Định là thuộc tính trong Dịch học chỉ hướng Tây. Lã Hùng Định nghĩa là vị thủ lĩnh họ Lã ở phía Tây (tương đương với Tây Lý Vương?).
Còn cụ Nguyễn Năng Tế, dòng dõi Triệu Vũ Đế, làm chức huyện lệnh Chu Diên, sau đó nhường quyền cho con rể là Đặng Thành. Hiểu đúng thì Chu Diên là châu Dương, tức là vùng đất phía Đông hay chính là vùng Phiên Ngung thời Nam Việt. Nguyễn Năng Tế chuyển đọc thành Lý Lang Từ, có thể hiểu là vị vua phía Đông (Từ là thuộc tính từ ái của phương Đông).
Nguyễn Năng Tế là dòng dõi vua Triệu Nam Việt cai quản đất Châu Diên – miền Đông, rồi truyền lại cho Đặng Thành. Có thể cả Nguyễn Năng Tế và Đặng Thành đều chỉ những vị vua nhà Triệu Nam Việt. Cuộc khởi nghĩa của Bà Trưng như vậy bắt đầu từ 2 dòng dõi và 2 khu vực: họ Lý (Triệu) ở phía Đông và họ Lã ở phía Tây.
Theo Cổ Lôi ngọc phả kể lại thì ban đầu các vị Lã Hùng Định, Đặng Thành và một số người khác bàn bạc với nhau, liên kết chống lại ách đô hộ, nhưng khi đang chuẩn bị lực lượng thì bị Tô Định phát hiện, giết chết. Mối thù nhà ấy, cùng với mối hận mất nước, đã được thế hệ con, cháu của họ tiếp tục nung nấu, để rồi chỉ mấy năm sau, đã bùng lên thành ngọn lửa khởi nghĩa dữ dội, mà những người hăng hái, nhiệt huyết nhất trong số đó, chính là hai chị em bà Trưng, con gái “Giao Chỉ quận vương” Lã Hùng Định.
Nguyên nhân khởi nghĩa của Trưng Vương đúng là vừa vì nước (Nam Việt) vừa trả thù nhà (cho cha là Lữ Gia và chồng là vua Triệu). Bà Trưng Trắc lấy chồng là Đặng Xuân, con của huyện lệnh Chu Diên Đặng Thành. Như thế Bà Trưng là con dâu hoàng gia nhà Triệu, cũng là dòng dõi (chính xác hơn là con gái) thừa tướng Lữ Gia.
Lữ Gia là chỉ cả gia tộc họ Lữ nói chung nên trong các ghi chép có nhiều Lữ Gia ở những nơi khác nhau. Theo chính sử thừa tướng đương triều Lữ Gia cùng vua Triệu cuối cùng là Triệu Vệ Dương Vương đã lên thuyền rút từ Phiên Ngung về Giao Chỉ khi bị quân nhà Hiếu tấn công. Lữ Gia hy sinh ở cửa biển Nam Định (núi Gôi, Vụ Bản) là vị này.
Còn Lữ Gia chống lại quân nhà Hiếu ở vùng Phong Châu (như ở Hà Tây cũ hay Vĩnh Phú) là con cháu của thừa tướng Lữ Gia trên. Cổ Lôi ngọc phả có nói đến Lã Nam, con trai đầu của cụ Lã Hùng Định ban đầu cũng tụ quân chống lại nhà Hán. Lã Nam có thể là vị Lữ Gia được thờ ở vùng Thanh Oai, Quốc Oai.

cua-vongCửa võng đình Tri Lễ (Thanh Oai, Hà Nội), nơi thờ Lữ Gia làm thành hoàng.

Trong Cổ Lôi ngọc phả còn nói đến nhiều tình tiết của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng khác. Khi hiểu một cách rộng hơn việc dồn nén (sự giải thích của người ghi chép đời sau) các địa danh của cuộc khởi nghĩa vào 1 vùng ở Thanh Oai thì Ngọc phả này đúng là cuốn sử rất đầy đủ về khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Trong đó điểm quan trọng nhất cần khẳng định: khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở Phong Châu là cuộc khởi nghĩa của hậu quân nhà Triệu nước Nam Việt do con cháu họ Lữ và họ Lý cầm đầu, chống lại nhà Hiếu (Tây Hán), nhằm phục thù cho thân sinh phụ mẫu hay các phu quân chết trận trước đó và phục quốc Nam Việt với 2 phần Đông (Chu Diên) và Tây (Mê Linh).

Long và Ly

Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Kiều Thu Hoạch đã so sánh quan niệm về con Rồng và hình tượng Tứ linh trong văn hóa Việt Nam và Trung Quốc. Trong Tứ linh của người Việt 4 con vật thiêng được biết là Long, Ly, Quy, Phượng với loài Rồng (Long) đứng đầu. Nhưng sách Lễ ký của Khổng Tử, tài liệu sớm nhất nói về Tứ linh, lại cho một trật tự khác: Lân, Phụng, Quy, Long. Từ đó tác giả đi đến nhận định là người Trung Quốc không coi trọng con Rồng (xếp nó vào cuối cùng trong Tứ linh) mà đề cao con Lân…
Tại sao có sự khác biệt trong quan niệm về Tứ linh giữa Việt Nam và Trung Quốc? Các “linh vật” nghĩa là gì? Con Rồng – Long có mặt trong văn hóa phương Đông từ khi nào? Con Ly hay Lân là con gì? Những câu hỏi này thực sự chưa bao giờ được tìm hiểu một cách kỹ lưỡng, trong khi hình tượng Rồng và Kỳ Lân lại là hình ảnh thường gặp trong các vật phẩm kiến trúc, trang trí điêu khắc cổ của cả Việt Nam và Trung Quốc.
Trước hết cần xác định Tứ linh là 4 loài vật biểu trưng trong văn hóa phương Đông từ rất lâu. Tứ linh là 4 loài đứng đầu 4 giới sinh vật. Khái niệm này bắt nguồn từ học thuyết Ngũ hành. Bảng kê đầy đủ về Ngũ hành được thấy trong sách Lã Thị xuân thu của Lã Bất Vi đời Tần, có thể tóm tắt như sau (4 mùa hay Tứ thời dùng 4 hành hay 4 đức để biểu hiện):
– Mộc đức: mùa Xuân, phương Đông, màu Xanh. Động vật tiêu biểu là loài có vảy.
– Hỏa đức: mùa Hè, phương Nam, màu Đỏ. Động vật tiêu biểu là loài chim có lông vũ.
– Kim đức: mùa Thu , phương Tây, màu Trắng. Động vật tiêu biểu là loài thú có lông mao.
– Thủy đức: mùa Đông, phương Bắc, màu Đen. Động vật tiêu biểu là loài giáp giới.
Phương vị về các loài vật và màu sắc tương tự cũng thấy trong quan niệm: “Hành tiền chu điểu nhi hậu huyền vũ, Tả thanh long nhi hữu bạch hổ” (Lễ ký). Chu – Huyền – Thanh – Bạch là 4 màu Đỏ – Đen – Xanh – Trắng, giống như trong Lã Thị xuân thu. Điểu – Vũ – Long – Hổ tương ứng là 4 loài vật đại diện cho 4 giới có lông vũ – giáp giới – vảy – lông mao (vũ, giáp, lân, mao). Các vị trí Tiền – Hậu – Tả – Hữu tương đương với các hướng Nam – Bắc – Đông – Tây (khi đứng quay mặt về phương Nam).
Bộ tứ Chu tước – Huyền vũ – Thanh long – Bạch hổ được xác thực bằng hiện vật trên các gương đồng Bát quái của thời Chiến Quốc. Ở Việt Nam cũng có những chiếc gương như vậy đã được phát hiện, trong khu vực khảo cổ miền Trung.

guong-bat-quaiGương Bát quái thời Chiến quốc (ảnh Hồ Xuân Em).

Về con Rồng Thuyết văn giải tự của Hứa Thận từ thời đầu Công nguyên ghi: Long, lân trùng chi trưởng. Rồng đứng đầu loài có vẩy. Hình ảnh con rồng xuất hiện rất sớm trên các đồ đồng từ thời Ân Thương dưới dạng Quỳ long (rồng 1 chân). Thường cặp đôi với rồng thời kỳ này là hình con Phượng (quỳ phượng). Như trên, Rồng là con vật biểu trưng của hướng Đông, màu xanh. Xanh hay Thanh – Thang, cũng là Thương, là màu biểu tượng của nhà Thương. Rồng còn là “Long vương”, gắn liền với biển. Ở cả Trung Quốc và Việt Nam thì chỉ có hướng Đông mới có biển.

lien-rongChiếc liễn đồng thời Đông Chu trang trí toàn bằng hình rồng.

Nguyên mẫu của rồng hẳn là loài Rắn. Chỉ cần “vẽ rắn thêm chân” là ra con rồng. Rồng là hình tượng kết hợp giữa loài rắn và cá sấu, dùng biểu tượng cho phương Đông.
Rồng đứng đầu các loài có vảy, Phượng là vua các loài chim. Còn Lân là loài vật đứng đầu các loài có lông mao, theo ngôn ngữ ngày nay nghĩa là động vật có vú. Ví dụ, Chu Hy (thế kỷ 12) trong chú thích cho bài Lân chi chỉ của Kinh Thi đã viết về con Lân như sau:
Lân, loại thú mình giống con chương, đuôi bò, móng ngựa, thú đứng đầu trong các loài có lông… Chân con lân không đạp lên cỏ tươi, không dẫm lên côn trùng còn sống… Con Lân có một sừng, đầu sừng có thịt, cho nên không thể húc cụng, ấy là nhân.
Bản thân chữ Lân 麟 trong dùng bộ Lộc 鹿, tức là một dạng như con hươu.
Mô tả của các thư tịch về con Lân rõ như vậy nhưng không hiểu sao ngày nay con Lân bị biến thành một con vật đầu rồng, mình ngựa, thân toàn vảy là vảy, chẳng thấy lông mao đâu. Con thần thú đứng đầu các loài lông mao mà mình lại mang toàn vẩy là thế nào? Rõ ràng đã có sự nhầm lẫn giữa Kỳ Lân và con Long mã. Kỳ Lân không thể nào là loài thú đầu rồng mình ngựa, thân toàn vảy được.
Sự lầm lẫn của Trung Quốc về con Lân xuất phát từ việc… ở Trung Quốc không hề có con Lân này. Mãi đến thời nhà Minh đoàn thuyền của Trịnh Hòa đi sang châu Phi mang về một con hươu cao cổ dâng vua Minh, cho rằng là con Lân… Đúng là “kỳ” Lân… Một loài linh vật đứng đầu Tứ linh Trung Hoa mà lại phải đi mượn ở tận châu Phi… Chả nhẽ Khổng Tử ngồi ở châu Phi để viết Lân kinh?
Kinh Xuân Thu do Khổng Tử soạn còn gọi là Lân kinh vì tương truyền Khổng Tử lúc sinh ra có Kỳ Lân xuất hiện nhả ngọc và khi soạn kinh đến đời Chu Kính Vương thì nước Lỗ săn được con Lân bị què chân trái phía trước. Khổng Tử thấy đó nghĩ đạo của mình đã cạn, liền dừng soạn kinh.
Vậy con Lân là con gì và vì sao Khổng Tử xếp con Lân đứng đầu Tứ linh?
Xét bài Lân chi chỉ, một bài thơ trong chính phong của Kinh Thi. Đây là bài thơ ca ngợi dòng dõi Văn Vương nhà Chu:
Lân chi chỉ. Chân chân công tử. Hu ta lân hề.
Lân chí đính. Chân chân công tính. Hu ta lân hề.
Lân chi giác. Chân chân công tộc. Hu ta lân hề.
Dịch thơ (Tản Đà):
Chân con lân
Trán con lân
Sừng con lân
Công tử có nhân
Công tôn, công tộc có nhân.
Con lân chừ con lân!
Bài này nằm trong phần Chu Nam, tức là thơ phong dao của vùng đất phong của Chu Công. Chu Công là em trai của Chu Vũ Vương, người đã có công lớn trong việc diệt nhà Ân Thương, khởi lập nên vương triều Chu. Chu Công được phong ở nước Lỗ, chính là đất quê của Khổng Tử.
Bài thơ trên cho thấy rõ con Lân là biểu tượng của nhà Chu, là vương triều nối tiếp thời Ân Thương. Đây chính là lý do vì sao Khổng Tử xếp con Lân đứng đầu Tứ linh. Lân là hình ảnh của thiên tử Chu, của thời Chu. Con Rồng ở thời Chu được xếp dưới cùng cũng dễ hiểu vì Long là biểu tượng của nhà Ân Thương như đã nói ở trên. Nhà Chu diệt Ân thì hiển nhiên con Lân sẽ phải đứng đầu Tứ linh và con Rồng xếp xuống hàng cuối.
Con Lân tượng trưng cho nhà Chu vì là con thần thú của hướng Tây (xem Lã Thị xuân thu ở trên). Nhà Chu cũng là triều đại xuất phát từ hướng Tây. Chu = Châu = Chiêu, hướng buổi chiều hay phía Tây. Như thế con Lân ở hướng Tây, chỉ nhà Chu, đối lập với con Rồng ở hướng Đông, chỉ nhà Thương.
Tiếng Việt gọi Lân là con Ly. Chữ Kỳ Lân đọc phản thiết cho âm Ly. Như thế Kỳ Lân hay Ly chỉ là một. Đặc biệt, chữ mang âm Ly (酈) còn là tên khác của nước Lỗ. Đây là chỉ dẫn vì sao các sự tích của con Lân – Ly lại liên quan đến nước Lỗ.
Ly thực ra là tên quẻ Ly, trong Hậu thiên bát quái dùng để chỉ hướng Tây. Nước Lỗ của Chu Công được biểu trưng bởi con Ly thì phải là nằm ở phía Tây của Trung Hoa, vì con Ly – Lân không thể là phía Đông được. Định vị nước Lỗ lại nằm ở bán đảo Sơn Đông là hoàn toàn không phù hợp với thư tịch, cũng như thực tế không hề có loài vật nào phù hợp ở đó để gọi là Lân – Ly cả.
Loài vật đứng đầu các loài thú lông mao tuy có thể là con Hổ hay Voi. Nhưng với mô tả là loài vật dạng như con hươu, có 1 sừng, không ăn các con vật khác, hiếm khi xuất hiện (sống đơn lẻ) thì Lân phải là con… Tê giác. Loài Voi thường sống thành bầy đàn, khá dễ gặp thời cổ, không khớp với mô tả về con Lân. Loài Hổ thì không có sừng và là loài hung dữ, ăn thịt.
Con Tê giác còn được gọi là con Tây (bản thân chữ Tây 西 còn âm đọc là Tê), hoàn toàn khớp với phương vị của con Lân – Ly.
Cũng trong Kinh Thi phần Chu Nam có bài Quyển nhĩ nói tới một loại cốc đựng rượu hình con Tê:
Trắc bỉ cao cương
Ngã mã huyền hoàng
Ngã cô chước bỉ tự quang
Duy dĩ bất vĩnh thương.
Dịch:
Muốn lên trên sống núi cao
Ngựa em quá bệnh, thế nào lên đây?
Chén sừng tự rót vơi đầy
Khỏi đau thương mãi uống say, say vùi.
Bà hậu phi nhà Chu lên núi, nhớ chồng đi xa nên rót rượu vào “tự quang” uống mà say.
Tự quang 兕觥, còn đọc là Hủy quang, thực ra không phải là chén rượu bằng sừng con Tê. Đây là một loại đồ vật bằng đồng mô phỏng hình Tê giác, dùng để đựng rượu, từng phổ biến ở thời Tây Chu. Một chiếc Hủy quang như vậy cũng được thấy ở Lào (xem hình).

huy-quangHủy quang thời Tây Chu ở Lào.

Loài Tê giác chỉ sinh sống ở vùng cận nhiệt đới và nhiệt đới. Không thể có con Tê giác nào lại sống được ở vùng giá tuyết như đất Sơn Đông. Nước Lỗ nơi có nhiều con Tê – con Ly ở phía Tây thì chỉ có thể là khu vực nước Lào ngày nay. Và khi nước Lỗ ở đất Lào thì trung tâm của thiên hạ Trung Hoa thời Chu chỉ có thể là vùng Bắc Việt – Vân Nam – Quảng Tây.
Con Tê đúng là con thần thú một sừng, hình dáng như con hươu, đứng đầu các loài có lông mao, biểu trưng cho hướng Tây. Nhà Chu (thời Chu) lấy con Lân làm biểu tượng, xếp lên hàng đầu của Tứ linh. Cặp đối lập Long – Ly thực chất là sự đối lập của 2 dòng tộc trong lịch sử Trung Hoa theo trục Đông – Tây, giữa nhà Thương và nhà Chu, giữa dân Hoa và Di. Trong truyền thuyết Việt đó là cặp Âu (Âu Cơ) – Lạc (Lạc Long Quân), Sơn Tinh – Thủy Tinh và Hùng – Thục. Hiện vật của thời kỳ này là 2 dòng đồ đồng hiện hữu tại Việt Nam và Trung Quốc. Một là dòng đồ đồng Đông Sơn (trống đồng nói chung, ở vùng Vân Nam, Quảng Tây và Bắc Việt). Một dòng thứ hai là đồ đồng “Hán” hay đồ đồng Thương Chu của phía Đông Bắc Trung Hoa. Trong dòng đồng khí Tây Nam (Đông Sơn) rất ít khi gặp hình tượng con rồng, mà chủ yếu là hình ảnh hươu nai, bò mộng, hổ. Trong khi hình ảnh rồng gặp ở hầu hết các đồ vật của dòng đồ đồng Thương Chu phía Đông.

ngoc-ky-lanKỳ Lân ngọc tại Căm pu chia.

Người Việt ngày nay quan niệm cha Lạc Long Quân là tổ, theo dòng Lạc Long đi về phía Đông nên đặt con rồng lên đầu Tứ linh. Tuy nhiên, lịch sử và truyền thuyết ghi chép rằng nước Văn Lang bắt đầu bằng dòng những người con lên núi theo mẹ Âu Cơ, đặc trưng bởi trống đồng. Mà lên núi thì làm gì có Rồng, nên lấy con Lân làm chủ đạo mới là đúng.
Với việc phục hồi nguyên mẫu của con Lân – Ly là loài Tê – Tây thì định vị Trung Nguyên của Trung Hoa thời Chu chắc chắn phải dời xa về phương Nam, nơi có loài vật này sinh sống. Con Tê như thế đúng là một “linh vật Việt”, thậm chí còn là linh vật đứng đầu trong Tứ linh. Việc đúc, khắc con Lân thành ra con Long mã vừa làm nghèo nàn đi hình ảnh Tứ linh (bị trùng lặp giữa Long và Long mã), vừa có phần bất kính với tổ tiên, chạy theo “đồ Tàu” mà quên đi loài vật đặc trưng vốn có của văn hóa Việt là con Tê. Đã đến lúc cần phát động phong trào thay Long mã bằng Tê, di dời mấy con “sư tử ngựa” Tàu ra khỏi Tứ linh Việt, trả lại sự linh thiêng của lịch sử và văn hóa Việt cho người Việt.

te-chuong-dinh

Hình Tê giác trên Chương đỉnh ở Huế.

Nước Tây Âu và tướng Trang Kiểu

Sử ký Tư Mã Thiên, Tây Nam Di liệt truyện kể:
Lúc trước vào thời Uy Vương nước Sở, sai tướng quân tên là Trang Kiểu đem quân dọc theo thượng nguồn sông, đánh lấy các vùng từ Ba, Kiềm Trung sang phía Tây. Trang Kiểu vốn là dòng dõi của Sở Trang Vương. Kiểu đến đầm Điền, đầm rộng ba trăm dặm, bên đầm là đất bằng màu mỡ rộng mấy ngàn dặm, bèn đem quân uy hiếp lấy gộp vào nước Sở. Muốn về báo tin, nhưng gặp lúc quân nước Tần đánh lấy các quận Ba, Kiềm Trung của nước Sở, đường bị nghẽn chẳng thông, do đó quay lại, làm vua của người nước Điền, đổi áo theo thói của người ở đấy để làm kẻ đứng đầu.
Sử ký Tư Mã Thiên, Bạch Khởi Vương Tiễn liệt truyện kể:
Bạch Khởi là người Mi, làm tướng cho Tần Chiêu Vương,… Bạch Khởi đánh Sở, phá Yên, được 5 thành. Cùng năm, đánh Sở, phá Dĩnh, đốt Di Lăng, tiến suốt đến Cánh Lăng. Sở Vương bỏ Dĩnh, chạy về phía Đông đến Trần. Tần lấy Dĩnh đặt làm Nam Quận. Bạch Khởi được phong là Vũ An Quân. Vũ An Quân lấy đất Sở định quận Vu, Kiềm Trung.
Dấu vết địa danh Kiềm Trung và Điền vẫn còn lại cho tới nay. Kiềm hay Kiềm Trung là Quý Châu, không có gì phải nghi ngờ vì tới nay Quý Châu còn gọi tắt là Kiềm và đây là địa danh Kiềm Trung đạo thời nhà Đường. Đất Điền cũng được xác định rõ ràng là vùng Vân Nam, nơi có văn hóa Điền và chiếc Điền vương chi ấn.
Tuy nhiên khi định vị 2 vùng đất này rõ như vậy thì thông tin trong Sử ký Tư Mã Thiên liên quan tới 2 vùng đất Kiềm và Điền trở nên vô cùng khó hiểu. Nước Sở vốn được định vị ban đầu ở Hồ Bắc và Hồ Nam. Vậy làm sao Sở lại có thể cử một tướng quân đánh xuống vùng Quý Châu, rồi sang tận Vân Nam? Còn nước Tần theo định vị ngày nay ở khu vực Thiểm Tây, sao lại có chuyện tướng Tần là Bạch Khởi đi đánh nước Sở lại vòng xuống chiếm vùng Kiềm Châu (Quý Châu) ở tận phương Nam? Hình như có “bàn tay vô hình” nào đó đã “lái” các tướng Tần và Sở xuống vùng phía Nam này… Sự thật chắc chắn không phải vậy. Chỉ có thể… các sử gia Tàu đã cố ý xác định sai vị trí của Tần và Sở nên mới ra nông nỗi vậy.
trang-kieuThứ nhất có thể thấy rõ, nước Tần có địa phận chính nằm ở vùng Tứ Xuyên chứ không phải Thiểm Tây. Có vậy thì tướng Bạch Khởi mới sang tiến chiếm vùng Quý Châu (Kiềm Trung). Vị trí Tứ Xuyên của Tần còn cho phép giải thích nhiều tư liệu khác liên quan sau này như chuyện Tần chiếm Việt, Tần Thủy Hoàng Đông du hay chuyện Triệu Đà – Lưu Bang khởi nghĩa kháng Tần…
Thứ hai, Trang Kiểu không phải tướng của nước Sở ở đất châu Kinh tại Hồ Nam Hồ Bắc mà phải là một nước khác, cũng gọi là Sở. Nước này là Lạc vì Lạc = Nác = Nước, còn Sở = Sủy = Thủy. Vì 2 từ này đồng nghĩa nên trong tư liệu cổ thư dễ nhầm lẫn. Lạc Sở mới là nước Sở được nói tới trong các câu “mênh mông bể Sở” hay “bể Sở sông Ngô”, vì nước Kinh Sở ở Hồ Nam Hồ Bắc vốn không hề có “bể”. Lạc là đất Lạc Việt, tức vùng Bắc Việt và Quảng Tây ngày nay. Nơi này trực tiếp có vùng bờ biển là vịnh Bắc Bộ hay biển Đông.
Thời Chiến Quốc đất Lạc là nơi nhà Chu đóng đô hay Lạc Ấp (Lạc Dương), tức Đông Đô của nhà Đông Chu. Trang Kiểu là “miêu duệ của Sở Trang Vương” thực ra nghĩa là dòng dõi của Chu Trang Vương. Chu Trang Vương là Cơ Đà, vị vua thứ ba của nhà Đông Chu, đóng đô ở đất Lạc.
Ở Việt Nam ngày nay còn di tích và di chỉ xác thực về vị Trang Vương này. Đó là chùa Hương ở trên dãy núi Hồng Lĩnh tại Hà Tĩnh. Ở đó có nền Trang Vương, tương truyền là nơi Trang Vương đến thăm con gái là Diệu Thiện tu tại Hương Tích… Câu thơ của Tồn trai Bùi Dương Lịch viết về chùa Hương:
Vân túc Trang Vương hà đại chỉ.
Dịch
Xe mây đâu chốn Trang Vương cũ…
Tác giả Văn nhân trong bài viết Điền quốc – Trang Kiểu đã chỉ ra rằng: Trang = Tlang = Lang, chỉ thủ lĩnh; Kiểu = Cảo = Cửu, là số 9 chỉ phía Tây. Trang Kiểu nghĩa là Lang Cửu hay thủ lĩnh phía Tây. Phía Tây hay Cảo – Kiểu là vùng đất của nhà Tây Chu, đóng đô ở đất Cảo.
Kiềm có nghĩa là màu đen, tương đương với từ Ô hay Âu. Kiềm như vậy là Âu. Quý Châu chính là đất Âu. Còn Vân Nam ở phía Tây Kiềm Trung nên gọi là đất Tây Âu.
Vùng đất Âu ở Vân Nam Quý Châu là vùng đất cũ của nhà Tây Chu. Đông Chu nằm trên đất Lạc, Tây Chu nằm trên đất Âu, hợp lại chính là nước Âu Lạc do An Dương Vương lập nên được kể đến trong truyền thuyết Việt. Triều đại An Dương Vương là vương triều Chu kéo dài bao gồm cả Tây và Đông Chu.
Trang Kiểu là tướng của nhà Đông Chu vào cuối thời Chiến Quốc, được cử đi trấn thủ chống Tần ở vùng Vân Nam và Quý Châu. Sau đó vùng Quý Châu (Kiềm Trung) bị tướng Tần là Bạch Khởi tấn công chiếm mất. Trang Kiểu chỉ còn lại vùng Vân Nam, lập nên quốc gia riêng là Điền quốc.
Như thế cuộc chiến Chu – Tần bắt đầu ngay từ lúc này, dưới thời Tần Chiêu Tương Vương. Truyền thuyết Việt chép là Triệu Đà khởi binh đánh An Dương Vương đến vùng Vũ Ninh thì bị chặn lại. Vũ Ninh tức là vùng đất của Ninh Vương Cơ Phát hay Chu Vũ Vương, người khởi đầu nhà Tây Chu. Vũ Ninh là đất Tây Chu, là vùng Vân Quý như đã nói ở trên.
Diễn biến tiếp theo thì như đã biết, Tần Chiêu Tương Vương cử hoàng thái tôn của mình là Doanh Tử Sở, truyền thuyết Việt gọi là Trọng Thủy, giả cầu hôn con gái vua Chu (= Châu) là Mỵ Châu. Sau đó Doanh Tử Sở đã dẫn quân Tần đánh Lạc Dương (Cổ Loa), đuổi vị vua cuối cùng là Chu Noãn Vương chạy xuống phía Nam đi ra biển mà mất. Nước Âu Lạc của nhà Chu (An Dương Vương) bị diệt vào năm 256 TCN dưới thời Tần Chiêu Tương Vương.
Vào lúc này Tần đã chiếm được đất Kiềm Trung (Quý Châu) và Lạc Việt (Bắc Việt và Quảng Tây). Vùng nước Âu Lạc cũ chỉ còn lại đất Điền hay Tây Âu do Trang Kiểu làm chủ là chưa bị Tần chiếm. Có thể sau đó tướng Đồ Thư của Tần đã tấn công đất Tây Âu vì sách Hoài Nam tử chép Tần phát binh “giết được quân trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống”. Dịch Hu Tống hay Dịch Hậu Tông, tức là dòng dõi của Dịch Vương, tức Chu Văn Vương (người đã viết Chu Dịch). Trang Kiểu là miêu duệ của Chu Trang Vương nên cũng chính là dòng dõi sau này của Chu Văn Vương.
Không rõ diễn biến tiếp theo ra sao đối với vùng đất Điền nhưng qua thời Hán, khi Lữ Hậu mất, lại xuất hiện nước Tây Âu. Đây là nước mà Triệu Đà đã “dùng uy lực uy hiếp nơi biên giới, đem đồ đạc của cải đút lót… để bắt họ lệ thuộc theo mình” (Nam Việt Úy Đà liệt truyện).
Lịch sử nước Văn Lang – Âu Lạc của người Việt như thế đang từng bước sáng tỏ tới từng chi tiết trong sử thuyết Hùng Việt.

Sử kí – Tây Nam Di liệt truyện

Dịch giả: Tích Dã

Hán – Tư Mã Thiên soạn
Lưu Tống – Bùi Nhân tập giải
Đường – Tư Mã Trinh sách ẩn, Trương Thủ Tiết chính nghĩa.

Có hàng chục quân trưởng người Di ở miền tây nam, Chính nghĩa: Ở phía nam của quận Thục. trong đó lớn nhất là quân trưởng nước Dạ Lang. Sách ẩn: Tuân Duyệt nói: “Là nước thuộc quận Kiền Vi.” Vi Chiêu nói: “Nhà Hán đặt thành huyện, thuộc quận Tang Kha.” Xét: Hậu Hán thư chép: “Nước Dạ Lang phía đông liền quận Giao Chỉ, nước này ở phía nam hồ, có quân trưởng vốn sinh ra từ cây tre, nhân đó lấy làm họ Trúc.” Chính nghĩa: Là các châu Khúc-Hiệp ở bờ nam sông lớn của châu Lư, vốn là nước Dạ Lang. Phía tây nước ấy có hàng chục quân trưởng người Mi Mạc, Chính nghĩa: Ở phía nam đất Thục xuống phía dưới về phía tây. Huyện Mi Phi ở phía bắc châu Diêu, cách tây kinh bốn ngàn chín trăm ba mươi lăm dặm về phía nam là chỗ của người rợ Mi Mạc. Sách ẩn: Là tên ấp của người Di, quân trưởng ấp này cùng họ với quân trưởng nước Điền. lớn nhất là quân trưởng nước Điền. Tập giải: Như Thuần nói: Điền, đọc là ‘điên’. Ngựa điên có từ nước này.” Sách ẩn: Thôi Hạo nói: “Sau đặt thành huyện, là chỗ mà quan Thái thú quận Việt Tủy đóng sở trị.” Chính nghĩa: Các châu Côn-Lang vốn là nước Điền, cách tây kinh năm ngàn ba trăm bảy chục dặm. Có hàng chục quân trưởng ở chỗ từ nước Điền lên phía bắc, lớn nhất là quân trưởng nước Cung Đô, người ở đây đều búi tóc, cày ruộng, có làng ấp. Ở phía tây ngoài chỗ ấy từ huyện Đồng Sư về phía đông, Sách ẩn: Hán thư chép là huyện Đồng Hương. phía bắc đến huyện Diệp Du Tập giải: Vi Chiêu nói: “Tại quận Ích Châu. Diệp, đọc là ‘diệp’.” Chính nghĩa: Có đầm Diệp ở phía bắc châu Mi hơn một trăm dặm. Huyện Diệp Du thời Hán ở phía tây đầm Trạch. Huyện Mi Phi quận Ích Châu vốn là nước thuộc Diệp Du Vương. là chỗ của người Tủy, người Côn Minh, Tập giải: Từ Quảng nói: “Quận Vĩnh Xương có huyện Tủy Đường.” Sách ẩn: Thôi Hạo nói: “Là tên hai nước.” Vi Chiêu nói: “Tủy là huyện thuộc quận Ích Châu.” Chính nghĩa: Tủy, đọc là ‘tủy’, là châu Tủy ngày nay. Côn Minh là huyện thuộc châu Tủy, có lẽ phía nam liền huyện Côn Minh, nhân đó đặt tên ấy. người ở đây đều bện tóc, dời theo bầy vật nuôi, không thường ở một chỗ, không có quân trưởng, đất rộng khoảng mấy ngàn dặm. Có hàng chục quân trưởng ở từ chỗ của người Tủy về phía đông bắc, lớn nhất là quân trưởng nước Tư-Tạc. Tập giải: Từ Quảng nói: “Huyện Tư tại quận Hán Gia. Tạc, đọc là ‘tạc’, tại quận Việt Tủy.” Sách ẩn: Phục Kiền nói: “Là tên hai nước.” Vi Chiêu nói: ” Huyện Tư thuộc quận Thục, huyện Tạc thuộc quận Việt Tủy.” Chính nghĩa: Tư, đọc là ‘tư’. Quát địa chí chép: “Châu Tạc vốn là chỗ ngoài phía tây quận Thục, là chỗ của người Miêu Khương, người Tủy. Địa lí chí chép: “Có huyện Tư.” Hoa dương quốc chí chí chép: “Núi Cung Hiệp thuộc châu Nhã vốn là núi Cung Tạc, là chỗ của người nước Cung, người nước Tạc.Có hàng chục quân trưởng ở chỗ từ nước Tạc Đô về phía đông bắc, lớn nhất là quân trưởng nước Nhiễm Mang, Sách ẩn: Xét: Ứng Thiệu nói: “Quận Vấn Giang vốn là nước Nhiễm Mang. Đọc là ‘vô giang’ phiên.” Chính nghĩa: Quát địa chí chép: “Là chỗ của người Khương ngoài phía tây quận Thục, các châu Mậu-Nhiễm vốn là nước Nhiễm Mang. Hậu Hán thư chép là trong núi nước Nhiễm Mang có sáu nhóm người Di, bảy nhóm người Khương, chín nhóm người Đê, đều có bộ lạc.” người dân ở đây có thói ở một chỗ hoặc di chuyển, chỗ này ở phía tây của quận Thục. Có hàng chục quân trưởng ở chỗ từ nước Nhiễm Mang về phía đông bắc, lớn nhất là quân trưởng nước Bạch Mã, Sách ẩn: Là tên ấp của người rợ, là người Đê Bạch Mã. Chính nghĩa: Quát địa chí chép: “Các châu Thành-Vũ ở miền Lũng Hữu đều là chỗ của người Đê Bạch Mã, quân trưởng nước ấy là người họ Dương trú ở trên núi Cừu Trì châu Thành.” đều là người Đê. Đấy đêu là người Man-Di ở ngoài phía tây nam quận Ba-Thục.

Lúc trước vào thời Uy Vương nước Sở, sai tướng quân tên là Trang Cược đem quân ngược theo sông Giang đánh lấy các nước từ quận Ba-Thục-Kiềm Trung về phía tây. Chính nghĩa: Đọc là ‘kì lược’ phiên. Các châu Lang-Côn là chỗ mà Trang Cược làm vua. Trang Cược vốn là dòng dõi của Trang Vương nước Sở. Sách ẩn: Cược, đọc là ‘cự chước’ phiên. Là em của Trang Vương nước Sở, từng làm kẻ cướp. Cược đến đầm Điền, đầm rộng ba trăm dặm, Sách ẩn: Địa lí chí chép: “Quận Ích Châu có huyện Điền Trì, có đầm ở phía tây bắc.” Hậu Hán thư chép: “Nguồn nước đầm này sâu rộng, lại đổi thành nông hẹp như dòng nước chảy ngược, cho nên gọi là đầm Điền.” bên đầm là đất bằng màu mỡ rộng mấy ngàn dặm, bèn đem quân uy hiếp lấy gộp vào nước Sở. Muốn về báo tin, nhưng gặp lúc quân nước Tần đánh lấy các quận Ba-Kiềm Trung của nước Sở, đường bị nghẽn chẳng thông, do đó quay lại, làm vua của người nước Điền, đổi áo theo thói của người ở đấy để làm kẻ đứng đầu. Thời nhà Tần thường mở đường năm thước, Sách ẩn: Là nói đường sàn rộng năm thước. Chính nghĩa: Quát địa chí chép: “Đường năm thước ở châu Lang.” Nhan Sư Cổ nói: “Chỗ ấy chật hẹp, cho nên đường chỉ rộng năm thước.” có đặt quan lại ở một số nước ấy. Được hơn chục năm thì nhà Tần mất. Kịp lúc nhà Hán nổi lên lại đều bỏ các nước ấy mà chỉ mở đường nhỏ ở quận Thục. Có người dân ở quận Ba-Thục lẻn ra buôn bán, thu mua ngựa của người Tạc, nô lệ và bò lông dài của người Bặc, Chính nghĩa: Các châu Ích-Nam Nhung ngày nay phía bắc kề núi lớn là nước Bặc xưa. Sách ẩn: Vi Chiêu nói: “Huyện Bặc thuộc quận Kiền Vi, đọc là ‘bồ bắc’ phiên. Phục Kiền nói: “Lúc trước ở kinh sư có kẻ hầu gái người Bặc.”, do đó người quận Ba-Thục giàu có.

Năm Kiến Nguyên thứ sáu (năm 135 TCN), quan Đại hành là Vương Khôi đánh nước Đông Việt, người nước Đông Việt giết vua của mình tên là Sĩnh để báo tin. Khôi nhân oai quân sai quan Lệnh huyện Bà Dương là Đường Môn đến báo cho vua nước Nam Việt biết. Vua nước Nam Việt mời Mông ăn món tương củ. Tập giải: Từ Quảng nói: Củ, đọc là ‘cũ’. Bùi Nhân xét: Hán thư âm nghĩa chép: “Cây củ giống cây lúa nhưng lá như lá cây dâu, lấy lá của nó để làm giấm tương, ngon, người quận Thục cho là món ăn quý.” Sách ẩn: Xét: Lưu Đức nói: “Cây củ như cây dâu, quả của nó dài hai-ba tấc, vị chua, lấy hạt của nó để làm tương, ngon.” Lại nói: “Cây củ leo cây khác mà lớn lên, không phải là cây gỗ. Người đất Thục ngày nay có trồng cây này, quả như quả dâu nhưng vị cay như gừng, không chua.” Lại chú rằng lá như lá cây dâu là sai. Quảng chí chép: “Quả màu đen, vị cay, trừ hơi tiêu cơm.” Mông hỏi từ đâu, nói: “Theo đường sông Tang Kha ở phía tây bắc, sông Tang Kha rộng mấy dặm, Chính nghĩa: Thôi Hạo nói: “‘Tang kha’ là cọc buộc thuyền.” Hoa dương quốc chí của họ Thường chép: “Vào thời Khoảnh Tương Vương nước Sở sai Trang Cược đánh nước Dạ Lang, đem quân đến nước Thư Lan, buộc thuyền ở bờ rồi lên đánh trên đất. Đã diệt nước Dạ Lang, cho là nước Thư Lan có cọc buộc thuyền, bèn đổi tên nước ấy thành nước Tang Kha. qua dưới thành Phiên Ngu.” Mông về đến thành Tràng An, hỏi nhà buôn đến từ quận Thục, nhà buôn nói: “Riêng quận Thục có món tương củ, lén đem nhiều ra bán ở nước Dạ Lang. Nước Dạ Lang kề sông Tang Kha, sông này rộng hơn một trăm bước, đủ để đi thuyền. Vua nước Nam Việt đem tiền của đến để sai khiến người nước Dạ Lang, phía tây đến ấp Đồng Sư, nhưng cũng không bắt người các nước ấy thần phục được.” Mông bèn dâng thư khuyên nhà vua rằng: “Vua nước Nam Việt ngồi xe lọng vàng cắm cờ tiết bên trái, có đất rộng hơn vạn dặm trải từ đông sang tây, mang tiếng là bầy tôi ở ngoài nhưng thực là chúa của một châu. Nay đem quân từ các quận Trường Sa-Dự Chương đến đánh thì đường sông có nhiều chỗ ngăn cách, khó đi. Thần trộm nghe nước Da Lang có được khoảng chục vạn quân mạnh, nếu chèo thuyền theo sông Tang Kha mà ra chỗ người ta không ngờ đến tới cũng là một cách hay để đánh người Việt vậy.” Nhà vua nghe theo. Bèn bái Mông làm Lang trung tướng đem một ngàn người, hơn một vạn người chở đồ dùng tiền lương theo từ đường cửa Tạc quận Ba-Thục đi vào, rồi gặp vua nước Dạ Lang tên là Đa Đồng. Mông ban cho nhiều đồ dùng, tỏ uy đức để dụ, hẹn đặt ra quan lại, sai con của Đa Đồng làm quan Lệnh. Người các ấp nhỏ kề nước Dạ Lang đều ham tơ lụa của nhà Hán, lại cho là con đường mà quân nhà Hán hiểm trở nên chẳng đánh lấy mình được, nèn nghe theo lời hẹn của Mông. Mông về báo, liền lập nên quận Kiền Vi, phát lính của quận Ba-Thục sửa đường từ nước Bặc thẳng đến sông Tang Kha. Sách ẩn: Địa lí chí chép: “Nước Dạ Lang lại có sông Đồn, phía đông chảy đến huyện Tứ Hội quận Nam Hải mà vào biển, đấy là sông Tang Kha. Người quận Thục là Tư Mã Tương Như cũng nói nên đặt quận ở các nước Cung-Tạc của người Di miền tây nam. Bèn sai Tương Như làm Lang trung tướng đến dụ, cùng đến chỗ người Di miền tây nam, đặt ra một quan Đô úy, hơn chục huyện, thuộc vào quận Thục.

Vào lúc ấy, người bốn quận Ba-Thục Tập giải: Từ Quảng nói: “Là các quận Hán Trung-Ba-Quảng Hán-Thục.” mở đường đến chỗ người Di miền tây nam, chở lương ăn đến cấp. Được mấy năm mà đường chẳng thông, rất nhiều quân lính đói mệt gặp phải hơi ẩm mà chết; mà người Di miền tây nam lại nhiều lần làm phản, phát binh đến đánh cũng tổn hao không có công gì. Nhà vua lo, sai Công Tôn Hoằng đến hỏi xem việc ấy. Hoằng về báo nói là việc ấy không được lợi. Kịp lúc Hoằng làm Ngự sử đại phu là lúc lúc đang đắp thành Sóc Phương để dựa vào sông Hà đuổi rợ Hồ, Hoằng nhân đó nói người Di miền tây nam gây hại, nên tạm bỏ, dốc sức đánh nước Hung Nô. Nhà vua bèn bỏ việc đến chỗ người Di miền tây nam, chỉ đặt một quan Đô úy của hai huyện thuộc nước Dạ Lang ở miền tây nam, lại sai người quận Kiền Vi tự giữ lấy. Chính nghĩa: Sai người quận Kiền Vi tự giữ lấy mà dần dần tu sửa quận huyện của mình.

Kịp đến năm Nguyên Thú thứ nhất (năm 122 TCN), Bác Vọng Hầu là Trương Khiên đi sứ nước Đại Hạ về nói là lúc ở nước Đại Hạ có thấy vải của người quận Thục, gậy tre của của người nước Cung, Tập giải: Vi Chiêu nói: “Là tre của người huyện Cung thuộc quận Thục.” Toản nói: “Cung là tên núi, đốt tre ở đấy cao mà ống đặc, làm gậy được.sai người hỏi đến từ đâu, nói: “Từ nước Thân Độc phía đông nam, Tập giải: Có bản Sử kí chép là nước Can Độc. Bùi Nhân xét: Hán thư âm nghĩa chép: “Còn có tên là nước Thiên Trúc, là nước của rợ Hồ có Phù Đồ.” cách khoảng mấy ngàn dặm, mua được từ nhà buôn quận Thục.” Có người nói là phía tây nước Cung khoảng hai ngàn dặm có nước Thân Độc. Khiên nhân đó nói to lên là nước Đại Hạ ở phía tây nam của nhà Hán rất thích đến Trung Quốc, nhưng lo người Hung Nô chặn đường đi. Nếu mở đường từ quận Thục đến nước Thân Độc lại gần mà có lợi không có hại. Do đó thiên tử liền sai bọn Vương Nhiên Vu, Bách Thủy Xương, Lữ Việt Nhân đi sứ, ra từ phía tây của chỗ người Di miền tây nam để đến nước Thân Độc. Đến nước Điền, vua nước Điền tên là Thường Khương bèn giữ lại, giúp cho hơn chục nhóm người tìm đường về phía tây. Hơn một năm đều bị người Côn Minh chặn lại, Tập giải: Như Thuần nói: “Bị người Côn Minh chặn đường.” Chính nghĩa: Người Côn Minh ở phía nam châu Tủy, là huyện Côn ngày nay. chẳng ai đến được nước Thân Độc.

Vua nước Điền nói chuyện với sứ giả của nhà Hán rằng: “Nhà Hán so với nước ta thì ai lớn hơn?” Kịp lúc đó vua nước Dạ Lang cũng hỏi như vậy. Là vì đường không thông, đều tự cho là chúa của một châu mà không biết nhà Hán rộng lớn đến nhường nào. Sứ giả về, đều nói to lên rằng nước Điền là nước lớn, đủ để thân thiết. Thiên tử cũng để ý đến nước ấy.

Kịp đến lúc vua nước Nam Việt làm phản, nhà vua sai Trì Nghĩa Hầu đến quận Kiền Vi phát quân người Di miền tây nam đi đánh. Vua nước Thư Lan sợ đi xa Sách ẩn: Thư, đọc là ‘tử dư’ phiên. Là tên nước nhỏ. Sau đặt thành huyện thuộc quận Tang Kha. thì người nước bên bắt lấy kẻ già yếu của mình, bèn dấy binh của nước mình làm phản, giết sứ giả và Thái thú quận Kiền Vi. Nhà Hán bèn sai tám viên Hiệu úy phát người có tội ở quận Ba-Thục từng đánh nước Nam Việt quay về đánh phá nước ấy. Gặp lúc nước Nam Việt đã bị phá, tám viên Hiệu úy của nhà Hán không xuống phía dưới, liền dẫn binh về đi đánh nước Thư Lan, là nước chặn đường đến nước Điền. Đã phá nước Thư Lan, rồi dẹp người Di miền tây nam đặt thành quận Tang Kha. Vua nước Dạ Lang lúc trước cậy thế của nước Nam Việt, kịp lúc quân Hán đã diệt nước Nam Việt mà quay về đánh các nước làm phản, vua nước Dạ Lang bèn vào chầu. Nhà vua cho làm Dạ Lang Vương.

Sau khi nước Nam Việt bị phá, kịp lúc quân Hán đánh diệt các nước Thư Lan-Cung Đô, lại giết vua của nước Tạc Đô, vua các nước Nhiễm Mang đều sợ hãi, xin thần phục đặt quan lại. Nhà Hán bèn lấy nước Cung Đô đặt thành quận Việt Tủy, lấy nước Tạc Đô đặt thành quận Thẩm Lê, lấy nước Nhiễm Mang đặt thành quận Vấn San, Tập giải: Ứng Thiệu nói: “Là huyện Mân Giang quận Thục ngày nay.” lấy đất của người Bạch Mã phía tây quận Quảng Hán lập nên quận Vũ Đô.

Nhà vua sai Vương Nhiên Vu đưa tin oai quân phá nước Nam Việt và người Di miền tây nam đến khuyên dụ vua nước Điền vào chầu. Vua nước Điền còn có mấy vạn quân, phía đông bắc kề mình có người các nước Lao Tẩm-Mi Mạc Sách ẩn: Lao Tẩm, Mi Mạc là hai nước có cùng họ với vua nước Điền. đều là người cùng họ giúp nhau, chưa chịu nghe theo. Người Lao Tẩm-Mi Mạc nhiều lần xâm phạm sứ giả, quan quan. Năm Nguyên Phong thứ hai (năm 109 TCN), thiên tử phát quân của miền Ba-Thục đánh diệt các nước Lao Tẩm-Mi Mạc, đem quân đến nước Điền. Lúc ấy vua nước Điền mới chịu theo hàng, cho nên không giết. Vua nước Điền rời khỏi chỗ người Di miền tây nam, đem người cả nước ra hàng, xin đặt quan lại rồi vào chầu. Do đó lấy nước Điền đặt nên quận Ích Châu, bán ấn vương cho vua nước Điền, sai lại làm vua của dân mình như trước.

Có đến hàng trăm quân trưởng của người Di miền tây nam, nhưng chỉ có vua các nước Dạ Lang-Điền nhận ấn vương. Điền là nước nhỏ mà được sủng ái nhất.

Thái sử công nói: Tổ tiên của vua nước Sở há có lộc trời chăng? Vào thời nhà Chu thì làm thầy của Văn Vương, được phong ở nước Sở. Kịp lúc nhà Chu suy mà vẫn có đất rộng năm ngàn dặm. Nhà Tần diệt chư hầu mà riêng dòng dõi của vua nước Sở còn làm vua nước Điền. Nhà Hán diệt người Di miền tây nam, nhiều nước bị mất nhưng riêng nước Điền được sủng ái. Mầm mối đến chỗ người Di miền tây nam là việc thấy tương củ ở thành Phiên Ngu, gậy tre của nước Cung ở nước Đại Hạ. Sau đó người Di miền tây nam bị chia cắt thành hai miền, Sách ẩn: Ý nói sau này người Di miền tây nam bị xua đuổi đi, rồi chia ở hai miền góc tây nam, đều thuộc quận huyện. cuối cùng đặt thành bảy quận. Tập giải: Từ Quảng nói: “Là các quận Kiền Vi, Tang Kha, Việt Tủy, Ích Châu, Vũ Đô, Thẩm Lê, Vấn Sơn.”

Sách ẩn: Thuật tán rằng:

“Ngoài cõi tây nam,
Trang Cược mở đường,
Biết nước Đại Hạ,
Bèn sai Đường Mông,
Lao Tẩm, Mĩ Mạc,
Lạ tục khác phong,
Dạ Lang lớn nhất,
Cung-Tạc xưng hùng,
Kịp đặt quận huyện,
Muôn đời ghi công.”

Vài suy nghĩ về thân thế Lý Công Uẩn – Đinh Bộ Lĩnh

Vị vua đầu tiên của triều Lý là Lý Thái Tổ có thân thế xuất xứ khá mờ ảo. Qua truyền thuyết chỉ biết rằng ông là con của bà Phạm Thị, sinh ra ở thôn Cổ Pháp (Bắc Ninh), lúc nhỏ tá túc trong chùa tại đây… Điều khó hiểu nhất là tại sao một nhân vật không có xuất xứ rõ ràng, có thể nói là “mồ côi” cha mẹ từ nhỏ như vậy mà bỗng nhiên tiến đoạt ngôi của nhà Tiền Lê một cách dễ dàng. Ngôi báu mà Đinh Tiên Hoàng mất công dẹp loạn các sứ quân, Lê Hoàn nam chinh bắc chiến, Lê Long Đĩnh huynh đệ tương tàn tranh ngôi mới có được. Thế mà Lý Công Uẩn chỉ vì có công… ôm xác vua khóc than, lại có thể dành được không gặp một cản trở nào, không phải động đến binh đao… Rõ ràng xuất xứ và công nghiệp của Lý Công Uẩn còn ẩn chứa những diễn biến lớn chưa được làm sáng tỏ.
Vài dòng trong Ngọc phả các vua triều Lê ở các di tích cố đô Hoa Lư, Ninh Bình hé lộ: Lý Công Uẩn hàng năm theo thiền sư Lý Vạn Hạnh vào hầu vua Lê (Lê Đại Hành) ở thành Hoa Lư, Công Uẩn được vua yêu, cho ở lại kinh thành học tập quân sự. Vua lại gả con gái cả là công chúa Lê Thị Phất Ngân, sinh ra Lý Phật Mã và đặc phong cho Công Uẩn làm Điện tiền cận vệ ở thành Hoa Lư. Dần dần, Công Uẩn thăng lên chức Điện tiền chỉ huy sứ.
Đây là một thông tin quan trọng vì nó cho biết Lý Công Uẩn là phò mã của vua Lê, được vua Lê gả con gái là Lê Thị Phất Ngân cho. Công chúa Lê Thị Phất Ngân hiện vẫn được thờ tại một số nơi ở vùng Ninh Bình, Hà Nam và Nghệ An vì bà là mẹ của các hoàng tử Lý Phật Mã (Lý Thái Tông) và Lý Nhật Quang. Phải là địa vị hoàng thân quốc thích như vậy thì Lý Công Uẩn mới có thể tiếp ngôi nhà Lê một cách dễ dàng, không gặp sự cản trở nào. Nhưng vấn đề lịch sử công nghiệp lập quốc của Lý Công Uẩn không dừng lại ở chỗ là phò mã của tiền triều. Thông tin này dẫn đến liên tưởng khác nữa…
Theo những điều mới biết trong sử thuyết Hùng Việt thì Lý Công Uẩn, vị vua đầu nhà Lý, cũng chính là Đinh Bộ Lĩnh, là thủ lĩnh của đất Đinh Bộ – Tĩnh Hải, đã gây dựng quốc gia sau khi triều đình Đại Việt – Đại Hưng ở Phiên Ngung bị nhà Tống tiến chiếm. Đinh Bộ Lĩnh theo sự tích hiện hành là con của Thứ sử Hoan Châu Đinh Công Trứ, đã đầu quân cho sứ quân Trần Lãm ở Bố Hải khẩu, được Trần Lãm yêu mến như thân thuộc và giao cho binh quyền. Tư liệu dân gian còn cho biết Trần Lãm đã gả con gái của mình là Trần Nương cho Đinh Bộ Lĩnh, rồi tuyên cáo trao lại quyền bính quân binh, còn mình lui về vui thú điền viên, chu du thiên hạ…
So sánh 2 thông tin của Lý Công Uẩn và Đinh Bộ Lĩnh thì có thể thấy cả 2 đều là con rể của tiền triều. Lý Công Uẩn lấy công chúa Lê Thị Phất Ngân, con gái vua Lê. Đinh Bộ Lĩnh lấy Trần Nương, con gái sứ quân Trần Lãm. Vì Lý Công Uẩn cũng là Đinh Bộ Lĩnh nên suy ra sứ quân Trần Lãm chính là vua Lê được nói tới. Vua Lê đây không phải Lê Đại Hành mà là dòng họ Lê khác…
Tác giả Văn Nhân đã đưa ra nhận định Đinh Bộ Lĩnh là Lý Tiến, phò mã của vua Lưu Cung nước Đại Hưng ở Phiên Ngung. Lý Tiến đọc phiên thiết là Liễn, Đinh Liễn là Đinh Bộ Lĩnh. Lưu Cung thực ra mang họ Lê vì cha là Lưu Tri Khiêm, Lưu Tri thiết Li, Lê.
Kết hợp 3 dòng thông tin ta có Lý Công Uẩn = Đinh Liễn = Lý Tiến là phò mã của vua Lê. Sứ quân Trần Lãm cũng chính là Lưu Cung hay Lê Cung. Lưu Cung vốn có tên là Lưu Nham, đọc phiên thiết cho chữ Lãm. Anh của Lưu Cung là Lưu Ẩn từng là Tiết độ sứ Thanh Hải quân. Sau khi Lưu Ẩn mất Lưu Cung tiếp nhận chức này. Tiết độ sứ Thanh Hải quân Lưu Nham có thể được hiểu thành sứ quân Trần Lãm vì Trần là Đông A, chỉ hướng Đông, cũng là vùng Thanh Hải. Sứ quân Trần Lãm xưng Trần Minh Công, hiểu đơn giản nghĩa là vị minh chủ ở phía Đông.
Bản thân tiểu sử của Trần Lãm cho biết ông là người gốc Quảng Đông, cha là Trần Công Đức sang chiếm giữ, lập nghiệp ở vùng ven biển Bố Hải Khẩu. Trần Công Đức như vậy tương ứng với Lưu Tri Khiêm, vốn là Thứ sử đất Phong Châu. Còn Bố Hải Khẩu không phải chỉ là đất Thái Bình mà là vùng Thanh Hải, cửa biển ở Quảng Châu.
Đình Xám (hay đình Hát) ở xã Hồng Quang, Nam Trực, Nam Định nơi thờ Trần Lãm có câu đối:
Bố Hải thiếp kình ba, hùng cứ danh lưu thiên cổ lục
Trường Châu ninh nhạn tháp, mặc phù công tại tứ phương dân.
Dịch:
Biển Bố lặng sóng kình, hùng cứ danh còn lưu ngàn thủa
Châu Trường vững non nhạn, bao trùm công giúp dân bốn phương.
Vế đối đầu nói tới việc “hùng cứ” của sứ quân Trần Lãm ở Bố Hải khẩu. Vế đối sau liên quan đến sự nghiệp công đức của Đinh Bộ Lĩnh ở Trường Châu (Ninh Bình).
Một đầu mối khác về sứ quân Trần Lãm là trong Thiền uyển tập anh có chuyện về Trưởng lão La Quý An:
Chân nhân họ Đinh… Trước khi thị tịch, sư gọi đệ tử là Thiền Ông đến bảo rằng:
– Trước đây Cao Biền đắp thành ở sông Tô Lịch, biết đất Cổ Pháp ta có khí tượng vương giả bèn đào sông Điềm Giang, đầm Phù Chẩn để cắt yểm long mạch, tất cả mười chín nơi. Ta đã khuyên Khúc Lãm đắp lại như cũ. Ta lại trồng một cây gạo ở chùa Minh Châu để trấn chỗ đất bị cắt long mạch, đời sau tất có bậc đế vương xuất hiện để vun trồng chính pháp của ta. Sau khi ta mất, ngươi nên cho đắp đất, dựng nhiều bảo tháp, dùng pháp thuật mà yểm tàng, không để cho người ngoài biết…
Nhân vật Khúc Lãm đã hồi phục long mạch do Cao Biền trấn yểm thì sẽ phải nhờ đó mà nên nghiệp vương. Khúc Lãm đã đắp lại chỗ trấn yểm ở Điềm Giang, không phải ở Cổ Pháp mà là sông Hoàng Long ở Hoa Lư. Phù Chẩn đọc thiết là Phấn, chính là sách Bông (biến âm thành Phấn), quê của Đinh Bộ Lĩnh
Sử thuyết Hùng Việt cho rằng Tiên chủ Khúc Thừa Dụ là Lưu Tri Khiêm, Trung chủ Khúc Hạo là Lưu Ẩn, còn Hậu chủ Khúc Thừa Mỹ là Lưu Cung. Như vậy Khúc Lãm cũng mang họ Lưu – Lê, chính là sứ quân Trần Lãm hay Lưu Nham (Lưu Cung). Đây là một dẫn chứng nữa về liên hệ của họ Khúc ở đất Hồng Châu và họ Lưu của nước Đại Hưng và là dẫn chứng xác nhận thêm nhận định rằng sứ quân Trần Lãm chính là Tiết độ sứ Lưu Nham, cũng như mối liên hệ giữa Lý Công Uẩn ở Cổ Pháp và Đinh Bộ Lĩnh ở Hoa Lư.
“Gia phả” triều đại Lê – Lý của Đại Hưng – Đại Việt nay viết thêm:

le-ly-2

Tới đây có thể tóm tắt lại giai đoạn lịch sử này như sau:
Cao Biền, vị Tiết độ sứ Tĩnh Hải quân đầu tiên sau khi đánh dẹp quân Nam Chiếu đã cho xây dựng một số căn cứ quân sự, trong đó có La thành (Thăng Long) và Hoa Lư. Vì quân Nam Chiếu vốn xuất phát từ vùng phía Nam (Trung Bộ) nên Hoa Lư lúc này đóng một vai trò quan trọng trong việc trấn giữ phía Nam. Sự có mặt của lớp gạch Giang Tây quân ở Hoa Lư, Hoàng thành Thăng Long và đất An Tôn (thành nhà Hồ) là bằng chứng của thời này. Khu vực ven biển Thái Bình cũng có một tiền đồn quân sự của Tĩnh Hải quân lúc này, với di vật là gạch Giang Tây quân tìm thấy ở Thái Thụy.
Sang thời Mạt Đường, Lưu Tri Khiêm hay Khúc Thừa Dụ là thứ sử Phong Châu bắt đầu dựng nghiệp, đầu tiên nhận chức Tiết độ sứ Tĩnh Hải cai quản toàn bộ đất Giao Châu. Con của Khúc Thừa Dụ là Khúc Hạo hay Lưu Ẩn không dừng lại đó mà đã dẫn quân đánh chiếm vùng Quảng Đông (Nghiễm Châu, Triệu Khánh), nhận tiếp chức Tiết độ sứ của đất Thanh Hải. Sang tới thời Lưu Nham, vị sứ quân Thanh Hải này đã xưng đế vương, lập quốc gia riêng lấy tên là Đại Việt, sau một thời gian đổi thành Đại Hưng. Truyền sử Việt gọi Lưu Nham là sứ quân Trần Lãm ở Bố Hải khẩu. Truyền thuyết dân gian (Thiền uyển tập anh) gọi là Khúc Lãm.
Lý Công Uẩn người ở châu Cổ Pháp (Bắc Ninh), con của thứ sử Hoan châu Đinh Công Trứ. Quê ngoại của Lý Công Uẩn như vậy là ở Cổ Pháp, còn quê nội là ở Hoa Lư. Lý Công Uẩn – Đinh Bộ Lĩnh đã “đầu quân” cho sứ quân Trần Lãm, tức là theo Hưng đế Lưu Nham, được Lưu Nham gả con gái cho là công chúa Lê Thị Phất Ngân hay Trần Nương.
Lý Công Uẩn tên thật là Liễn. Uẩn là chỉ làng Diên Uẩn, quê mẹ của ông. Lý Công Uẩn là vị tước công họ Lý ở làng Diên Uẩn. Lý Liễn hay Lý Tiến là phò mã của Lưu Nham, là người có công đánh Nam Chiếu và thu vùng Tây Bắc vào đất đai nước Đại Hưng. Lý Liễn được Lê Nham phong làm thứ sử Giao Châu, cai quản vùng đất phía Tây của nước Đại Hưng. Sử Việt chép thành Đinh Bộ Lĩnh đánh dẹp bọn Lã Xử Bình rồi tự lĩnh làm Giao Châu soái…
Nước Đại Việt – Đại Hưng truyền tới đời Hậu Chủ Lưu Sưởng – Lưu Kế Hưng thì bị nhà Tống tiến đánh. Tên vua Lưu Kế Hưng chỉ rõ nước mà Lưu Cung lập ra là nước Đại Hưng, không phải Đại Hán, được Lưu Sưởng kế tục. Khi kinh đô Hưng Vương phủ (Phiên Ngung) thất thủ, Lưu Sưởng bị bắt đưa về Tống. Những viên gạch Đại Việt quốc quân thành chuyên ở Hoa Lư và Hoàng thành Thăng Long là minh chứng của thời kỳ Đại Việt – Đại Hưng này trên đất Việt.
Khi nước Đại Hưng bị diệt, phò mã Lý Liễn ở Giao Châu nhận mình là truyền nhân của họ Lê (Lê Nham – Lưu Cung), giả theo nhà Tống, nhận sắc phong Tiết độ sứ Tĩnh Hải và Giao Chỉ quận vương. Ở trong châu thực chất Đinh Bộ Lĩnh – Lý Thái Tổ âm thầm chuẩn bị phục quốc, nhằm đòi lại cơ đồ nước Đại Việt mà bố vợ (Lưu Nham) đã lập nên. Đời Đinh Bộ Lĩnh việc này chưa làm được, đến đời con là Lý Thái Tông, sử Việt gọi là Lê Đại Hành tiếp tục công nghiệp. Cuộc chiến phá Tống của Lê Đại Hành – Lý Thái Tông mới là bắt đầu sự đụng độ giữa Việt và Tống. Phải tới thời Lý Thánh Tông, vị vua thứ 3 của nhà Lý, thì đất Tĩnh Hải Giao Châu mới đủ mạnh để xưng đế, lập quốc gia độc lập, lấy lại tên nước cũ là Đại Việt. Lý Thánh Tông chính thức tuyên bố họ Lý xưng vương, truy phong cho ông mình Đinh Liễn là Lý Thái Tổ, và cha mình Lê Đại Hành là Lý Thái Tông, tiến hành dời đô từ trị sở Giao Châu ở Hoa Lư về kinh Thành Thăng Long. Lịch sử nước Đại Việt như ta biết ngày nay bắt đầu từ đây…

Tái bút: 
Như trên, trong một số đoạn truyền thuyết Việt thì triều đình nước Đại Hưng ở Quảng Châu được gọi là triều Tiền Lê, Lưu Nham tương ứng với vua Lê Đại Hành. Xét vậy thì đoạn chuyện về Lê Long Đĩnh tranh ngôi với các huynh đệ cũng là chuyện của nước Đại Hưng.
Lưu Nham khi gần mất thì ngôi thái tử có 3 người con trai ngấp nghé là Tần vương Lưu Hoằng Độ, Tấn vương Lưu Hoằng Hi và Việt vương Lưu Hoằng Xương. Lưu Nham mất, con cả là Tần vương Lưu Hoằng Độ nối ngôi, lấy tên là Lưu Phần. Chỉ được ít lâu bị Lưu Phần bị người em là Lưu Hoằng Hi ra tay sát hại, đoạt ngôi, lấy tên là Lưu Thịnh. Lưu Thịnh sau đó giết hại nốt Việt vương Lưu Hoằng Xương.
Những cái tên Tần vương, Tấn vương và Việt vương này rất giống với thời Ngô ở Việt Nam. Còn chuyện 3 anh em họ Lưu tranh đoạt ngôi vua giống như chuyện 3 anh em Lê Long Đĩnh, Lê Long Việt và Lê Long Tích của triều Tiền Lê.
Lưu Thịnh đọc thiết là Lĩnh, còn Long Đĩnh cũng thiết Lĩnh. Như thế Lê Long Đĩnh tương ứng với Trung Tông Lưu Thịnh. Còn chuyện về sự xa hoa, trụy lạc của Lê Ngọa Triều có thể tương ứng với vị vua Lê cuối cùng của nước Đại Hưng là Lưu Sưởng.

VĂN BIA ĐẠI TÙY-THỨ SỬ LÊ HẦU VÀ LỊCH SỬ VIỆT NAM THẾ KỶ 6-7

Bài viết Trần Trọng Dương. Văn bia Đại Tùy Cửu Chân – Thứ sử Lê Hầu và lịch sử Việt Nam thế kỷ VI-VII. Suối nguồn. Nxb Hồng Đức. 2014. tr.13- 72.

Tấm bia Đại Tùy Cửu Chân quận Bảo An đạo tràng chi bi văn được giáo sư Đào Duy Anh phát hiện năm 1960 và ông đã công bố một bài nghiên cứu vào năm 1963. Tấm bia được tìm thấy tại đền thờ Lê Cốc (hay Lê Ngọc) làng Trường Xuân, xã Đông Minh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Giáo sư Đào gọi là “bia cổ Trường Xuân”, học giả Trần Văn Giáp gọi là “bia đời Tùy”, nay chúng tôi gọi tắt là “bia Đại Tùy Cửu Chân” để tiện trình bày. Văn bia hiện đang lưu trữ tại khu trưng bày hiện vật giai đoạn Bắc thuộc (tầng 1) trong Bảo tàng Lịch sử Quốc gia tại Hà Nội. Tác giả bài văn bia này là Kiểm hiệu Giao Chỉ quận, Nhật Nam quận thừa, kiêm Nội sử Xá nhân, Nguyên Nhân Khí người ở Lạc Dương, Hà Nam, Trung Quốc (xem chú thích 11 trong phần dịch). Văn bản được khắc vào năm Nhâm Dần, ghi niên hiệu đời nhà Tùy năm Đại Nghiệp thứ 14 (618). Từ năm 1960 đến năm 2012, văn bia này được coi là hiện vật văn hiến có niên đại sớm nhất tại Việt Nam [Đào Duy Anh 1963, Trần Văn Giáp 1969, Trịnh Khắc Mạnh 2008], trong đó có chứa nhiều sử liệu có giá trị không thấy được ghi nhận trong các bộ sử lớn của Trung Quốc và Việt Nam. Bài viết này sẽ tiến hành nghiên cứu về vấn đề văn bản học, sử liệu học của văn bia Đại Tùy để từ đó góp phần soi sáng những góc khuất chưa từng biết đến của lịch sử Việt Nam từ nửa sau thế kỷ thứ sáu đến đầu thế kỷ thứ bảy.

1. Một số vấn đề văn bản học của bia Đại Tùy Cửu Chân

Tấm bia Đại Tùy Cửu Chân có chiều cao quãng 152-153cm, rộng quãng 76-78 cm, dày 10,5cm. Tấm bia được làm bằng phiến thạch, nhưng trải qua gần 1.500 năm, đến nay chất đá đã bở thành nhiều lớp. Bố cục bia chia làm 3 phần: trán bia, thân bia và chân bia.
Phần trán bia (bi ngạch) được đẽo thành hình bán nguyệt cao 46 cm, diềm trán bia không đẽo góc vuông như các bia đời sau mà trực tiếp tạc lên đó hình đôi rồng liền thân , hai đầu rồng hướng sang hai bên cạnh bia, hướng miệng cắm vuông góc với mặt đất. Miệng rồng há, để lộ 4 cặp răng hàm bằng đều và hai chiếc răng nanh dài nhọn. Bờm rồng vuốt từ khóe miệng ra phía sau, áp sát theo thân rồng. Phía dưới cằm và trên môi trên chạm các tua râu bó sát đầu rồng. Phía trên đầu là lông mày tạc nổi, che phần hốc mắt phía trong. Ngay sau phần mày rồng, tai rồng và sừng rồng cũng kéo dài về phía sau áp theo khối thân. Riêng cuống tai dài bằng cả phần chính của tai. Giữa thân rồng có ba vạch khắc sâu. Cách tạc này cho thấy, bia được tạc khối chữ nhật trước, sau đó mới chém các cạnh mà chạm sâu vào thớ đá. Cách tạc này khiến cho hình mình rồng chính là phần trên cùng của trán bia (cả ở hai mặt, dù mặt âm không có chữ), bụng rồng ôm lấy phần không gian khắc chữ trên ngạch bia.

Phần chữ trên ngạch bia có thể khảo tả lại như sau. Trong phần bán nguyệt phía trong, còn lại trên trán bia, không gian được đặt ở chính giữa bởi một hình chữ nhật. Hình chữ nhật này được chia đều thành 12 ô vuông, và cách nhau bởi các gờ tự nhiên sau khi đã giật lòng tạo nét trong từng ô đó. Trong mỗi ô là một chữ triện khắc dương bản, là các chữ: 大隋九真 郡寶安道場之碑文. Các chữ này được sắp theo hàng dọc từ phải sang trái, gồm 4 hàng, mỗi hàng 3 chữ. Những phong cách mỹ thuật và thư pháp trên trán bia có thể cho phép đi đến nhận định rằng, tấm bia này giống như các văn bia đời Lục Triều khác hiện còn . Bia còn kỵ húy chữ “tùy”, nhà Tùy cho chữ “隨” có bộ quai xước (辶), trỏ việc chạy đi chạy lại long đong vất vả, nên mới dùng tự dạng “隋” . Từ tiêu chí mỹ thuật và văn tự học, có thể khẳng định, đây là một tấm bia nguyên bản có từ đời Tùy.

Phần thân bia cao 106 cm. Mặt bia nhiều chỗ đã bị bào mòn, nhiều chữ bị mờ không nhìn thấy chữ nữa. Bia không giật lòng, chữ viết được khắc trên mặt phẳng với trán bia. Phần phía dưới cùng bên tay phải của bia bị vỡ mất một miếng lớn, phía sau vỡ rộng hơn và cao hơn mặt trước. Dòng thứ nhất các chữ bị mất là “Nhân Khí soạn”, dòng thứ hai mở đầu bằng chữ “phù” và các chữ bị vỡ mất là “hỏa trạch”, dòng thứ 3 là chữ “dẫn” mở đầu, kết thúc là các chữ “kỳ hồi hướng phúc địa”, trong đó chữ “phúc địa” cũng đã bị vỡ mất. Mặt dương của bia có ba đường kẻ sọc, tạo thành 2 phần diềm bia nhỏ hai bên và ba không gian lòng bia dùng để khắc chữ. Hiện trạng văn bia chỉ còn đọc được khoảng 40-50 chữ. Song có thể đếm được văn bia có 26 dòng, mỗi dòng khoảng 38-40 chữ, viết bằng chữ chân (khải thư) . Dòng đầu tiên ghi lại tên bia, hết tên bia để quãng cách không gian, để phần cuối của dòng đó khắc tên và chức vụ của người soạn văn, dòng cuối cùng là tên người lập bia và niên đại dựng. Phần chân bia không rõ nguyên bản ra sao, còn hay mất. Chỉ thấy hiện vật trưng bày trong bảo tàng ngày nay được gắn liền trên một chân bia bằng bê tông! Trần Văn Giáp đoán có khả năng chân bia hiện vẫn còn ở địa phương [1969: 3]. Nhưng theo thông tin từ một số cán bộ văn hóa ở Thanh Hóa hiện nay, chân bia đã bị đem nung vôi vào quãng cuối những năm 1960. Bản rập của tấm bia mang số ký hiệu 20945 hiện đang lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, tiếc rằng bản rập có niên đại quá muộn nên cũng không có tác dụng nhiều cho việc giải độc tự dạng và khôi phục văn bản.

Văn bản còn lại nhiều chữ nhất đến nay còn giữ được là một bản sao của ông Chu Văn Liên, được thực hiện vào ngày mùng 9 tháng 4 năm Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Nhâm Dần (1962) có tên là Tùy thì Đại Nghiệp bi văn, hiện cũng được lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, số ký hiệu VHv.2369, có ghi nhận ông Nguyễn Tấn Minh là người kiểm duyệt việc sao chép. Văn bản này chép lại một bản sao vào đời Nguyễn, vào ngày 26 tháng 02 niên hiệu Thiệu Trị (1842). Bản này dùng để giao cho xã Đồng Pho để phụng thờ, lưu chiểu .

Bản chép đời Thiệu Trị nguyên chép lại một bản khác cổ hơn do thân hào các xã Phù Liễn, Đồng Pho, Vạn Lộc, Hữu Bộc thuộc tổng Thạch Khê huyện Đông Sơn đã hội họp cùng nhau, rửa bia đọc chữ, rồi sao chép lại vào ngày 28 tháng 4 năm Vĩnh Khánh thứ 3 (1731). Các cụ ở Thạch Khê đời Thiệu Trị đã dựa trên bản này mà chép thành năm bản, một bản lưu lại đền thờ Lê Cốc ở Thạch Khê, bốn bản còn lại giao cho các xã Phù Liễn, Đồng Pho, Vạn Lộc, Hữu Bộc để thờ truyền đời . Cũng theo Đào Duy Anh, ông đã nộp bài văn bia đời Vĩnh Khánh cùng các thần tích về Lê Hầu và vợ con ngài, biếu cho Thư viện Khoa học Trung ương năm 1963. Nhưng đến nay, chúng tôi chưa tìm ra ký hiệu của các sách này .

Dựa trên các văn bản văn bia, bản rập, các bản sao còn lại, nhiều thế hệ các nhà nghiên cứu đã tiến hành khảo dị, khôi phục và chú thích bài văn bia Đại Tùy Cửu Chân quận Bảo An đạo tràng chi bi văn này. Đầu tiên là bản in trong Văn khắc Hán Nôm Việt Nam (Tập 1, Từ Bắc thuộc đến thời Lý, Học viện Viễn Đông Bác cổ Pháp và Viện Nghiên cứu Hán Nôm thực hiện, Paris-Hà Nội 1998: 7-9). Năm 2000, phó giáo sư Trần Nghĩa công bố một bản chỉnh lý mới, kèm thêm các phần phiên âm khảo dị trong chuyên luận Sưu tầm và khảo luận tác phẩm chữ Hán của người Việt Nam trước thế kỷ X (tr. 262-271). Đối chiếu tất cả các bản trên, chúng tôi thấy tình trạng văn tự của văn bản này như sau. Bài minh có 30 câu, mỗi câu 4 chữ, độ dài văn bản là 120 chữ, hiện chỉ còn đọc được 102 chữ. Toàn bài văn bia có độ dài 957 chữ, hiện đã mờ mất 246 chữ, chỉ còn đọc được 711 chữ.

Đến đây chúng tôi thấy có thể chia ra làm ba hệ văn bản của bia Đại Tùy Cửu Chân quận Bảo An đạo tràng chi bi văn như sau.
(1) Hệ 1: [1a] văn bản gốc văn bia tại Bảo tàng (niên đại tuyệt đối 618) > [1b] bản dập thác bản văn bia (niên đại bản dập đầu thế kỷ 20) > [1c] các bản ảnh ấn lại thác bản này trong Tổng tập văn bia Việt Nam (2009), Một số vấn đề về văn bia Việt Nam (2008), [1d] các bản ảnh điện tử chụp văn bia và thác bản văn bia của chúng tôi (chụp năm 2012) được in lại trong lần xuất bản này, [1e] bản ảnh điện tử chụp lại thác bản văn bia của Viện NC Hán Nôm (niên đại: XX-2000).

(2) Hệ 2: các văn bản ghi chép-giải độc văn tự của đời sau. [2a] Bản chép tay của các cụ lão nhiều địa phương thực hiện vào năm Vĩnh Khánh thứ 3, gọi là bản 1731 (đã mất); [2b] Bản chép tay lại bản này vào đời Thiệu Trị, ta gọi là bản 1842. [2c] Bản chép tay lại bản Thiệu Trị vào năm Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Nhâm Dần, ta gọi là bản 1962. Hai bản [2a] và [2b] chúng ta không có trong tay. Bản [2a] khả năng cao là không thể tìm lại được. Bản [2b] có thể sưu tầm lại ở địa phương. Chúng tôi chỉ có bản [2c] để làm căn cứ đối chiếu.

(3) Hệ 3: các văn bản phục dựng của các nhà nghiên cứu. Trước nay chỉ có hai bản làm theo hướng này. Đó là bản của nhóm Phan Văn Các – Claudine Salmon năm 1998 và bản Trần Nghĩa năm 2000. Các tác giả đã tiến hành phục dựng một số vị trí đã mất, và cũng đã có những thảo luận khác nhau ở từng trường hợp cụ thể. Các phương pháp mà các nhà khoa học đưa ra là tiêu chí văn bản học, văn tự học, ngữ nghĩa học. Song, về cơ bản, hai bản này tuy không phải là bản gốc, và nếu tính về thời gian thì đây là hai bản muộn nhất, nhưng với phương pháp làm việc khoa học, đây có thể coi là hai bản tốt nhất đầy đủ nhất hiện còn.

Chúng tôi tạm lấy bản của nhóm Phan Văn Các và Claudine Salmon làm bản nền, bản Trần Nghĩa làm bản đối chiếu. Cách làm như vậy là ngược so với các thao tác văn bản học truyền thống. Sở dĩ như vậy là vì bản văn bia Đại Tùy Cửu Chân quận Bảo An đạo tràng chi bi văn còn lại đến nay đã tàn khuyết, hư hại nặng nề. Hiện chỉ còn đọc được vài chục chữ. Tuy nhiên, với vài chục chữ này, chúng tôi vẫn coi đây như là một văn bản gốc đáng tin cậy nhất để đưa ra những nhận định khoa học cuối cùng cho những vị trí ở trong các văn bản thuộc hệ 2 và hệ 3. Ví dụ, các hệ bản số 3 và số 2 không có tên phụ của bia, nay dựa trên bản gốc [1a] chúng tôi bổ sung thêm dòng này ngay đầu văn bản, rồi tiếp đó mới đến tên họ chức danh người soạn bia.

Ví dụ thứ hai, trước đây các nhà nghiên cứu có cân nhắc về tên hiệu con trai trưởng của Lê Hầu. Nhóm Phan Văn Các nhìn trên văn bia thì các nét bút còn lại không cho phép nghĩ rằng đó là chữ “益”, nên tạm để khuyết, và xác định tên của nhân vật này là “[…] Tự”. Nay dựa trên văn bia bản [1a] và bản 1962 [1c] , chúng tôi đưa ra hai kết luận như sau. (I) Tự dạng mà nhóm Phan Văn Các để khuyết là chữ “益”, vì lối viết liên bút trong hành thư khiến cho các nét chấm trong phần trên của chữ “ích” bị liền thành hai nét ngang ( ). (II) Tên hiệu của nhân vật này là “Ích Từ”. Nguyên văn chúng tôi xin đánh máy lại như sau: 長子益慈嗣… Sở dĩ, có thuyết cho đó là Ích Tự (益嗣) vì đọc sót chữ “từ”. Đoạn trên có thể phân tích như sau: “trưởng tử Ích Từ” là chủ ngữ, “tự” là động từ vị ngữ trong câu. Rất tiếc là sau chữ “tự” bị mất mấy chữ, nên không rõ tân ngữ/ hoặc bổ ngữ đầy đủ là gì, nhưng ngay sau đó còn một số chức danh và quan trọng nhất là chức Nhật Nam thứ sử. Chúng tôi tạm dịch cả câu như sau: “con trai trưởng [của Lê Hầu] tên hiệu là Ích Từ, nối [chức cha trước đây…], làm Thái thú quận Nhật Nam, kiêm [Tuyên] uy Tướng quân”. Bản 1962 là bản cũng khá muộn, song được sao chép có chủ đích về khoa học và có người giám sát về văn bản học, nên tạm thời có thể làm một bản tham khảo, đối chiếu. Bản Phan Văn Các có phục dựng được một số chữ và quan trọng nhất là lần đầu tiên có một bản làm đúng theo thao tác văn bản học, và bản này còn có trên 50 chú thích về từ ngữ, khảo dị, biện luận văn tự học. Bản của Trần Nghĩa chỉ có khoảng 20 chú thích. Đây chính là lý do khiến chúng tôi không lấy bản Trần Nghĩa mà chọn bản phục dựng của nhóm Phan Văn Các làm bản nền.

Công việc lần này của chúng tôi gồm:
1. Khảo tả lại tình trạng và mỹ thuật văn bia như đã thực hiện ở đầu bài khảo cứu.
2. Tái lập một số chữ đã bị mất thông qua con đường văn tự học, thi vận học, ngữ nghĩa học.
3. Tiến hành chú thích bổ sung các khái niệm Phật học, Nho học, nhân danh, địa danh, chức quan.
4. Phiên âm, hiệu điểm (chấm câu), ngắt ngữ đoạn.
5. Và quan trọng nhất, lần đầu tiên văn bản văn bia này được dịch sang tiếng Việt. Tuy nhiên, vì số lượng chữ mất quá nhiều, cho nên bản dịch này chỉ mang tính chất phỏng đoán ở nhiều đoạn (được đặt trong ngoặc vuông […] ), riêng đoạn giữa tàn khuyết nặng nhất, nên có khi chỉ dịch đôi ba chữ lẻ, không thể dịch thành một ngữ đoạn, chỉ có phần bài minh còn khá đầy đủ nên chúng tôi dịch đúng văn vận, một số câu, chữ bị mất thì được chúng tôi phỏng dựng bằng phương pháp ngôn ngữ học và từ chương học cổ điển.
Về cách trình bày, mỗi chữ bị mất đều được ký hiệu bằng một ô vuông (cả ở phần chính văn Hán văn và phần phiên âm), các chữ bị mờ trên văn bia hoặc trên các bản sao được đoán đọc thì tự dạng tái lập cùng phiên âm, dịch nghĩa của các vị trí tái lập đó sẽ được đặt trong ngoặc vuông. Các chú thích được đánh số ở cả chính văn, phiên âm và dịch nghĩa.

2. Sự nghiệp Lê Hầu và lịch sử Việt Nam thế kỷ 6-7 qua sử liệu bia Đại Tùy Cửu Chân

Về nội dung, tấm bia Đại Tùy Cửu Chân đề cập đến một nhân vật lịch sử họ Lê, giữ chức Thứ sử ở quận Cửu Chân, ông từng trải các chức Ái Châu Thứ sử, Đô đốc Ái-Đức-Minh-Lị-Hoan chư quân sự vào thời nhà Lương, sau giữ các chức Thường thị Uy vũ Tướng quân, Cửu Chân thứ sử, tước Mục Phong hầu. Cho nên, ông còn được Nguyên Nhân Khí gọi là Lê Hầu, Lê Thứ sử hay Sứ quân Lê.
Bài văn bia ghi lại việc Lê Hầu dựng đạo tràng Bảo An (chùa Bảo An) tại quận Cửu Chân. Như truyền thống dựng chùa tháp và lập bi văn, chúng ta có thể thấy, Lê Hầu chính là hưng công hội chủ để xây dựng chùa này. Sau khi dựng chùa, ông đã mời Nguyên Nhân Khí viết văn bia, khi đó ông này đang giữ các chức Kiểm hiệu Giao Chỉ quận, Nhật Nam quận thừa, kiêm Nội sử xá nhân. Xét về chức quan, thì Lê Hầu giữ chức vụ cao hơn Nguyên Nhân Khí. Nguyên Nhân Khí có lẽ khi đó ít tuổi hơn, nhưng vì là người “thông minh mẫn tiệp”, giỏi văn chương và hiểu sâu về đạo Phật, nên đã được Lê Hầu nhờ soạn minh văn. Nguyên Nhân Khí là người Bắc, đến làm quan tại Nhật Nam, là em trai của Nguyên Huy – một người đang rất được trọng vọng ở triều đình nhà Tùy thời bấy giờ (cụ thể xem chú thích 11 trong phần dịch văn bia ở sau). Việc Lê Hầu nhờ Nhân Khí, hẳn thấy được sự quan hệ ở tầm cấp cao của hệ thống chính quyền thời bấy giờ. Lê Hầu trước đó hẳn đã nghe được văn tài cũng như thưởng đọc các tác phẩm của Nhân Khí, nên mới giao trọng trách này cho ông. Và ta biết, bài văn bia này cũng là tác phẩm văn chương duy nhất còn lại của Nguyên Nhân Khí. Qua lời văn bia, ta có thể thấy phần nào văn tài cũng như học vấn về Phật giáo của nhân vật này:

夫 法理靈符,非世智之可求;
法性幽深,豈石言之所測。
故 梵魔之境,猶為化城;
三界之間,方稱火宅。
Phù,
Pháp lý linh phù, phi thế trí chi khả cầu;
Pháp tính u thâm, khởi thạch ngôn chi sở trắc.
Cố,
Phạm ma chi cảnh, do vi hóa thành;
Tam giới chi gian, phương xưng hỏa trạch.

Tạm dịch sang văn vần:
Ôi,
Pháp Phật thiêng liêng, trí tuệ thế gian há thửa cầu.
Pháp tính thâm sâu, lời nói của trời khôn đoán hết.
Nên,
Cảnh Phạm thiên, còn là hóa thành
Chốn tam giới, cũng là nhà lửa.

Quay trở lại với nội dung tấm bia, chúng ta thấy, văn bia này còn ghi lại nhiều địa danh hành chính cổ vào nửa sau thế kỷ 6, đầu thế kỷ 7, như quận Giao Chỉ, quận Nhật Nam, châu Đức, châu Ái, châu Lị, châu Minh, châu Hoan, huyện Cửu Chân, quận Cửu Chân, quận Nam, huyện Vệ An, Giao Chỉ và một số khe động ở quận Cửu Chân. Những mảnh chữ rời còn sót lại như vậy ít nhiều cho phép chúng ta mường tượng các cấp hành chính vào thời này. Khe và Động có khả năng là những đơn vị cư dân bản địa, hẳn sẽ có tên nhưng không thấy chép trong văn bia hoặc đã mờ mất, chỉ biết Lê Hầu từng đem ân đức tưới tắm ở các khe động này, khiến nhân dân đều an cư lạc nghiệp ([ân] toại phú dân) mà tôn sùng ông, theo về với ông.

Người đầu tiên nghiên cứu về Lê Ngọc/Lê Hầu là Le Breton, ông cho rằng Lê Ngọc là Đô hộ Giao Châu (sic), là người đã dựng một quốc gia riêng và đóng đô ở Trường Xuân (Cửu Chân), sau đó ông chia các vùng lãnh thổ cho các con. Con cả Ích Trí (sic) được giao trị nhậm ở Cửu Chân, con thứ hai là Trung Quốc được làm Tả Quốc, con gái Tưng Liệt (sic, có lẽ là Trung Liệt – TTD chú) được trấn ở Đông Kinh. Sau đó, gia tộc của Lê Ngọc đã bị nhà Đường đánh lui về Cửu Chân, rồi bị tiêu diệt. Ông cho rằng thời đại của Lê Ngọc tồn tại từ năm 612 đến năm 619 [Le Breton 1924: 29]. Tuy nhiên, học giả người Pháp lại không thấy dẫn sử liệu nào từ văn bia, ông cũng không nhắc đến sự tồn tại của bia này. Theo phán đoán của chúng tôi, ông đã chủ yếu dựa vào thần tích.

Năm 1960, giáo sư Đào Duy Anh đã trở về Thanh Hóa khảo sát thực địa. Trong chuyến điền dã này, ông đã phát hiện ra tấm bia Đại Tùy Cửu Chân tại Trường Xuân. Sau đó, giáo sư Đào Duy Anh đã kết hợp với các tư liệu thần phả sưu tầm được tại địa phương và xác định rằng Thứ sử Lê tên thật là Lê Cốc hay Lê Ngọc, tổ tiên làm quan đời Tấn ở Trung Quốc và được phong hầu, đến đời Lương thì đã trải được ba đời, đều được phong hầu cả. Đến đời Tùy thì Lê Hầu được bổ làm Tuyên Uy Tướng quân, Nhật Nam Thái thú, đến niên hiệu Đại Nghiệp thì đổi làm Cửu Chân Thái thú [Đào Duy Anh 1963: 27]. Những nghiên cứu của Le Breton và Đào Duy Anh sau đó được một số nhà nghiên cứu như Trần Quốc Vượng , Lê Cường [2007: 83] kế thừa. Những nghiên cứu trên tưởng đã khép lại về một nhân vật lịch sử vào cuối thế kỷ 6 – đầu thế kỷ 7. Thế nhưng, điểm đáng ngạc nghiên nhất mà khi chúng tôi thực hiện nghiên cứu này, là sau hơn 50 năm phát hiện, bia Đại Tùy Cửu Chân chưa từng được bất kỳ học giả nào tiến hành dịch chú, và lạ hơn nữa là chỉ có một vài thông tin trong tấm bia này được các nhà nghiên cứu khai thác, còn phần lớn các sử liệu về Lê Ngọc chủ yếu lấy từ… thần tích. Ví dụ: tên chức Đô hộ (có từ đời Đường về sau), tên con trai cả là Ích Trí (chứ không phải Ích Từ như văn bia), rồi Ích Trí được giao trị nhậm ở Cửu Chân (thay vì Thái thú Nhật Nam như văn bia), rồi con gái út là Trung Liệt trấn ở Đông Kinh (một địa danh rất muộn về sau này, thuộc miền Bắc),… Vì thế, những khảo cứu giới thiệu dưới đây, sẽ đưa ra một tình hình khác về Lê Ngọc so với những công trình trước đây.

Theo như văn bia Đại Tùy Cửu Chân, gia tộc họ Lê đến thời Lê Hầu là đã “ba đời tự lập” (tự vị tam đại) . Tổ tiên Lê Hầu vào đời Tấn, nhân loạn Vĩnh Gia (xem giải thích trong phần chú thích văn bia) nên đã chạy về phía Nam lánh nạn. Thân sinh của ông có khả năng đã làm Thứ sử Triều Châu kiêm [Tổng quản] Tướng soái. Sau đó, đến đời nhà Lương, Lê Ngọc mới chuyển về vùng phên dậu biên viễn phía Nam, giữ các chức Thứ sử Ái Châu, rồi Thứ sử quận Cửu Chân đồng thời kiêm luôn các chức Đô đốc Ái-Đức-Minh-Lị-Hoan ngũ châu chư quân sự, Thường thị Uy vũ Tướng quân. Việc các viên quan đứng đầu các châu quận đồng thời nắm luôn quyền quân sự là điều có thể hiểu được. Những thông tin ở trên cho phép đi đến nhận định rằng Lê Hầu đã chuyển đến làm quan và lưu trú tại Giao Châu cho đến khi ông mất, tức là thời gian lưu trú của ông ở Cửu Chân trên dưới 60 năm (xem giải thích thêm về tuổi tác của Lê Hầu tại chú về “Hữu Lương” trong phần chú thích). Như vậy, ông đã trị nhậm qua bốn triều đại là Lương (502-557), Trần (557-589), Tùy (581-618) và Đường (618-907). Văn bia Đại Tùy Cửu Chân quận Bảo An đạo tràng chi bi văn cho biết đời Lương, Lê Hầu giữ chức Ái Châu thứ sử kiêm Đô đốc quân sự năm châu Ái-Đức-Minh-Lị-Hoan. Cả giai đoạn nhà Trần, không thấy chép ông giữ các chức gì. Chỉ thấy đến đời Tùy ông vẫn giữ chức tướng quân, làm Thứ sử các quận châu, được ban Thường thị Uy vũ tướng quân và vẫn nhậm Ái Châu Thứ sử. Từ đời Lương ông đã được phong tước Mục Phong hầu, đến đời Tùy ông vẫn ở tước đó, không được tấn phong thêm.

Với một bề dày trên chính trường, trải giữ nhiều chức vụ tại Cửu Chân trong quãng 60 năm, Lê Hầu đã có những quan hệ mật thiết với tầng lớp quan lại ở khắp các nơi từ Ái Châu đến Nhật Nam. Chính vì lẽ đó, trong văn bia Đại Tùy Cửu Chân quận, chúng ta còn thấy một số các chức vụ quan lại ở một số nơi, ví dụ như Bằng Thừa Tự là Huyện lệnh huyện Cửu Chân. Thông tin này cho thấy, Bằng Thừa Tự là một viên quan dưới cấp của ông. Vào thời ông làm Thái thú quận Cửu Chân thì lị sở có khả năng là huyện Cửu Chân. Ngoài ra, còn có Huyện lệnh huyện Vệ An, hiện cũng chưa rõ huyện Vệ An ở đâu, và vị huyện lệnh này tên là gì, song có lẽ địa danh hành chính này cũng nằm đâu đó trong vùng đất Cửu Chân mà thôi.

Theo như nghiên cứu của giáo sư Đào Duy Anh, khi làm Nhật Nam Thứ sử, Lê Hầu đã lấy một người vợ ở đất Nhật Nam (Nghệ An ngày nay), sinh được ba người con trai và một con gái [Đào Duy Anh 1963: 27]. Qua tư liệu văn bia Đại Tùy Cửu Chân, chúng tôi thấy có nhắc đến con trai cả của ông tên là Ích Từ. Theo các tư liệu thần phả và các nghiên cứu của Le Breton và Đào Duy Anh, thì con trai trưởng của Lê Hầu hiệu là Ích Trí, tục gọi là đức Thánh Cả, con trai thứ hai là Trung Quốc, tục gọi là đức Thánh Hai, con thứ ba hiệu là Tham Xung được gọi là đức Thánh Lưỡng, vợ và con gái của ông không rõ tên nhưng thần hiệu là Tam Giang Trinh Liệt Thần Mẫu và Liệt Nữ Công Chúa [Le Breton 1924: 29; Đào Duy Anh 1963: 22]. Trên bia Đại Tùy Cửu Chân, đoạn nhắc đến trưởng nam Ích Từ còn thấy chép một số chức vụ như [Tuyên] uy Tướng quân, Nhật Nam Thái thú. Chưa nhà nghiên cứu nào trước đây nhắc đến chi tiết này. Chúng tôi tạm đưa ra giả thuyết rằng, khi Lê Hầu làm Thái thú quận Cửu Chân thì con trai cả của ông đồng thời giữ chức Thái thú quận Nhật Nam kiêm [Tuyên] uy tướng quân. Điều này lý giải vì sao, Nguyên Nhân Khí – một viên quan dưới quyền của Lê Ích Từ được mời viết minh văn cho bia Trường Xuân.

Đặt trong hệ thống các sử liệu trước nay về giai đoạn này, chúng tôi thấy văn bia Đại Tùy Cửu Chân đã góp thêm một số sử liệu bổ sung cho diện mạo chính trường Giao Châu giai đoạn này như sau. Khi Lê Hầu mới sinh (quãng năm 535-540, có lẽ sinh ở Triều Châu) , Lý Bôn đánh Thứ sử nhà Lương là Tiêu Tư. Năm 546, Thứ sử Giao Châu là Dương Phiêu đánh bại Lý Bôn ở thành Giao Ninh, năm sau Lý Bôn bị chém đầu [Lương thư q3, chuyển dẫn Đào Duy Anh 1963: 23]. Quãng những năm 550-557, khi đang ở độ tuổi khoảng từ 20-25 tuổi, Lê Ngọc giữ chức Ái Châu Thứ sử, Đô đốc quân sự năm châu. Đến năm 557, nhà Lương mất, nhà Trần lập quốc. Trong quãng từ năm 557-602, Lê Ngọc có khả năng vẫn trấn giữ đất Ái Châu. Trong khi, chính trường có nhiều biến động. Sách Trần thư chép, năm 558, nhà Trần sai Âu Dương Ngỗi đem con em là Thứ sử Giao Châu Thịnh đi đánh Chu Địch ở phía Bắc Ngũ Lĩnh. Sách Trần thư không hề chép thêm một chi tiết nào về Giao Châu giai đoạn này, mà chỉ chép các thông tin về vùng Quảng. Việt sử lược chỉ ghi chép một số biến động chính trị như sau. Thời Vũ Đế nhà Lương, có Trần Bá Tiên đã dẹp được Lý Bôn nên được giao làm Binh uy Tướng quân, Thứ sử Giao châu, rồi được gọi về Bắc. Đến năm 602, Lưu Phương làm Hành quân Tổng quản đánh Phật Tử ở thành Việt Vương và Đại Quyền ở Long Biên. Trong khoảng niên hiệu Đại Nghiệp (605-616) đời Tùy Dạng Đế vì Lâm Ấp làm phản nên vua nhà Tùy đổi Nhật Nam làm Hoan Châu, dùng Lưu Phương làm chức Hoan đạo Hành quân Tổng quản để đánh Lâm Ấp. Đánh xong, Lưu Phương khắc đá ghi công rồi trở về. Giữa đường bị bệnh mà chết. Năm 622, vua Cao Tổ nhà Đường trao cho Khâu Hòa (người Lạc Dương) chức Đại tổng Quản, tước Đàm quốc công, Hòa lại tâu xin đặt chức Đô hộ Phủ chúa. Những sử liệu trên cho thấy, những vùng đất có biến loạn, buộc các quan tướng triều Tùy đến đánh dẹp là thuộc phạm vi quận Giao Chỉ (tương ứng Bắc Bộ) và Lâm Ấp, không thấy có đoạn nào ghi chép về việc chinh phạt quận Cửu Chân do Lê Hầu trấn giữ trong quãng 60 năm.

Như vậy, khoảng thời gian từ những năm 557 đến năm 622, cả một vùng rộng lớn của quận Cửu Chân và quận Nhật Nam đều không thấy xuất hiện một dòng nào về việc chiến tranh tranh giành quyền lực với các thế lực phương Bắc. Điều ấy chứng tỏ rằng, Lê Hầu cùng với các con và thuộc tướng của mình đã tiến hành các phương thức chính trị hiệu quả. Một mặt, ông vẫn có những ứng xử mềm dẻo với chính quyền phương Bắc – để không bị nghi ngờ là kẻ có âm mưu làm phản. Mặt khác, đối với các thế lực quân sự tại quận Giao Chỉ, ông dường như “án binh bất động”. Tức là, ông chỉ chăm chú vào việc cai quản địa hạt của mình, và không tham gia vào các hoạt động tranh giành quyền lực của các thế lực địa phương. Về mặt ngoại giao, Lê Hầu trong khoảng 60 năm trải giữ các chức vụ quan trọng nơi vùng biên ải (Nhật Nam Thái thú, và Cửu Chân Thái thú) tiếp giáp và gần kề nhất đối với Lâm Ấp. Nhưng khi Lâm Ấp tỏ ra không thần phục ông cũng không khởi phát một cuộc chiến nào. Những việc chinh phạt ấy, dường như ông đã “đẩy” hết về các lực lượng của phương Bắc. Cuộc chinh phạt Lâm Ấp của Lưu Phương năm 605 hẳn đằng sau phải có bàn tay hậu thuẫn của các Thứ sử địa phương – Lê Hầu và Lê Ích Từ. Nhưng, những sử liệu hiện còn không thấy chép hai cha con ông có trực tiếp tham gia vào bất kỳ một trận tuyến nào. Văn bia chỉ ghi các hoạt động quân sự của Lê Hầu chủ yếu là huy động cơ binh để giữ an ninh trong phạm vi lãnh thổ. Đó là một sự khôn ngoan, sáng suốt đủ để an định cuộc sống của nhân dân và không làm hao tổn binh lực của bản quận, cũng như quyền lợi gia tộc. Có thể nói, Cửu Chân-Nhật Nam dưới thời của cha con Lê Hầu-Lê Ích Từ là một vùng đất thái bình, thịnh trị. Cho nên, Nguyên Nhân Khí trong văn bia Trường Xuân mới ca ngợi ông là “Lê hoàng” (vua Lê) của vùng đất này. Tên tước Mục Phong hầu dành tặng cho ông hẳn cũng vận đúng vào con người của ông.

Văn bia và những sử liệu không cho biết ông mất khi nào. Theo thần phả mà giáo sư Đào Duy Anh khai thác, sau khi nhà Đường diệt Tiêu Tiển thì Lê Hầu lui giữ Cửu Chân mà trấn thủ địa phương. Ông cùng các con đã kháng chiến với quân nhà Đường rồi tử trận [Đào Duy Anh tb2010: 90-92]. Trên đây là giả thuyết của Đào Duy Anh từ một số sử liệu gạn lọc được từ thần phả. Tuy nhiên, một số ghi chép trong Đại Việt sử ký toàn thư đã nêu ra bối cảnh lịch sử khiến cho chúng ta nghĩ đến nhiều khả năng khác. Năm 622, Khâu Hòa làm Thái thú Giao Châu, cậy uy thế của nhà Tùy, thường đi tuần các khe động ở biên giới, ở châu hơn 60 năm (sic), sở hữu rất nhiều châu báu, giàu như vương giả [1998: 188-189]. Nhưng thông tin “ở châu 60 năm” hẳn là có vấn đề. Bởi lúc mà Khâu Hòa chuyển về trấn nhậm ở biên viễn phía Nam là lúc ông đã 60 tuổi [Taylor 1982: 166], nhận xét này của Taylor trùng khít với các sử liệu trong Cựu Đường thư. Sách này chép: Cuối đời Đại Nghiệp Hòa lánh mình ở Hải Nam, quan lại ở đấy thường cướp của thuyền chài, bách tính đều hàm oan, nên dấy loạn. Khưu Hòa khi đó đang trị lý hai quận đều thi hành chính sách nhân ái, rất nổi tiếng nên được Tùy Dạng Đế sai làm Giao Chỉ Thái thú, vỗ về hào kiệt, rất được lòng người Man. Đến khi nhà Tùy mất, bọn Tiêu Tiển, Nịnh Trường Chân đem quân đến đánh. Hòa dẫn thủ lĩnh các châu Giao-Ái, đánh lui bọn Trường Chân. Bờ cõi vẹn yên. Sau đấy, Hòa mới biết nhà Tùy đã mất bèn theo Tiêu Tiển. Đến khi Tiển bị dẹp, thì Hòa lại lấy đất Hải Nam dâng về nhà Đường. Vua Đường sai sứ Lý Đạo Dụ đến trao chức Thượng Trụ quốc Đàm Quốc công-Giao Châu Tổng quản. Hòa lại sai Cao Sĩ Liêm dâng biểu xin về triều. Vua thuận cho. Lại thêm, Khưu Hòa mất năm Trinh Quán 11 (636), thọ 86 tuổi. Năm 60 tuổi ông nhậm chức tại Giao Châu, suy ra năm ông nhậm chức tại Giao Châu là năm 816. Những thông tin này cho thấy có khả năng xung đột giữa Khâu Hòa và Lê Hầu. Nếu như khả năng này xảy ra thì đây chính là nguyên nhân dẫn đến sự tiêu vong của dòng họ nhà Lê trên đất Cửu Chân đúng như giả thuyết của Le Breton và Đào Duy Anh.

Nhưng chúng tôi muốn hướng đến một giả thuyết khác, rằng Lê Hầu vẫn giữ chức Thái thú Cửu Chân cho đến hết đời. Tức là đã không xảy ra một cuộc chiến tranh nào giữa lực lượng của Lê Hầu cũng như của con trai ông – Thái thú Nhật Nam Lê Ích Từ với Thái thú Giao Châu-Khưu Hòa (từ 616 trở về sau). Có hai lý do khiến chúng tôi đưa ra giả thuyết như vậy.

Trước nay, các nhà khoa học cho rằng tấm bia Đại Tùy Cửu Chân do Lê Hầu dựng vào năm 618 tức là vào năm nhà Đường lật đổ nhà Tùy. Thế nhưng, văn bia vẫn cứ ghi “Đại Tùy” mà không ghi niên hiệu nhà Đường. Điều này chứng tỏ, Lê Hầu đã không đầu hàng nhà Đường mà đã đứng lên nổi dậy chống lại thế lực phương Bắc. Nhưng tính chi tiết thì không hẳn như vậy, văn bia Trường Xuân dựng vào ngày mùng 8 tháng 4 năm Nhâm Dần niên hiệu Đại Nghiệp thứ 14 (618), trong khi nhà Đường chính thức thay nhà Tùy vào ngày 18 tháng 6 năm này. Nghĩa là, bia dựng trước hai tháng mười ngày.

Thứ nữa, đến sau năm 618, Lê Hầu lúc đó có khả năng đã từ 85-90 tuổi, một độ tuổi đã rất cao để trực tiếp lãnh đạo chiến tranh để đến mức bị giết do thất bại. Cuối cùng, và quan trọng nhất, như chúng tôi đã phân tích ở trên, Lê Hầu luôn là một người có một độ lùi mẫu mực trên con đường chính trị, khiến cho suốt cuộc đời làm quan 60 năm, giữ chức Tướng quân năm quận, Thứ sử các châu quận của ông không hề phải “ra trận” một lần nào với các Thứ sử cùng cấp (như Lý Bôn, Lý Bí, Lý Phật Tử, Tiêu Tiển, Âu Dương Ngỗi, Chu Địch, Trần Bá Tiên…). Bất luận là triều đại nào, Lương, Trần hay Tùy ông đều mềm mỏng lĩnh chức để yên ổn với vùng đất “sinh địa” của mình. Những thay đổi triều đại dường như không có tác động nào đến cuộc đời chính trị của ông. Cho nên, từ sau năm 618, mặc dầu là quan nhà Tùy, nhưng trong bối cảnh toàn bộ lãnh thổ Hoa Hạ đã thuộc về nhà Đường, thì một người lão luyện về chính trị như ông cũng phải biết rằng vận của nhà Tùy đã hết. Khưu Hòa kiêu dũng vậy mà vẫn phải quy thuận huống hồ là một người chủ trương “vô vi nhi trị”, và đằm mình trong Phật pháp như ông.

Qua văn bia, ta vẫn thấy Lê Hầu vẫn là người thung dung trên dặm thanh vân, thảng thích trong nguồn Phật học (tâm tùy vô môn, thị yên du xứ). Ông đã cho xây dựng một số công trình như đạo tràng Bảo An (chùa bảo hộ sự an lành) , đài Sủng Tịnh (đài tôn thờ sự thanh tịnh) , và theo thông tin từ thần tích do giáo sư Đào Duy Anh khai thác, ông còn cho xây dựng thêm cả thọ oanh (sinh phần) . Có thể nói, sự mềm mỏng lão luyện trên chính trường cùng với tinh thần từ bi của nhà Phật đã làm nên công tích bình trị của Lê Hầu tại đất Cửu Chân-Ái châu-Nhật Nam.

Mặt khác, xét về cán cân lực lượng thì gia đình ông lúc đó đã chiếm đến 2/3 lãnh thổ thời và non nửa dân số thời bấy giơ . Ông giữ Cửu Chân, con trai ông giữ Nhật Nam, Khưu Hòa giữ Giao Châu. Cho nên, chiến tranh giữa Lê Hầu với nhà Đường đã là một chuyện khó xảy ra, xung đột giữa gia tộc nhà ông với Khưu Hòa có lẽ cũng khó trở thành hiện thực.

Việc ông cùng vợ con và tướng lĩnh khác được thờ làm phúc thần ở nhiều nơi trong Thanh Hóa ngày nay, theo chúng tôi, có lẽ không chắc là do ông đã hy sinh cho việc “đấu tranh giữ nước” (chúng tôi muốn chua thêm rằng khái niệm “đấu tranh giữ nước” là của đời sau dùng cho thế kỷ thứ 6-7). Người được thờ làm phúc thần còn là người suốt đời làm phúc cho nhân dân, khiến cho cuộc sống của dân được yên ổn hạnh phúc. Lê Hầu cùng gia tộc ông có lẽ thuộc về trường hợp này.

Xét ở khía cạnh nào đó, Lê Hầu có thể coi như là “một vị vua” ở vùng đất Cửu Chân-Nhật Nam vào cuối thế kỷ 6, đầu thế kỷ 7. Sự tự trị mang tính chất “mềm” đối với nhà Lương, nhà Trần, nhà Tùy cũng như nhà Đường đã làm nên tính ổn định cho sự độc lập, cho vương quyền của gia tộc họ Lê trên mảnh đất này. Sự độc lập ấy đã khiến Lê Hầu được nhân dân của Cửu Chân cũng như quan lại địa phương coi ông như là vị “Vương” của họ. Điều ấy được thể hiện qua hàng loạt các từ ngữ của Nguyên Nhân Khí dành cho ông trong văn bia Trường Xuân như Lê hoàng, vương cung, khâm minh (chữ dùng để ca ngợi vua Nghiêu), ngự điện, thiệu long (dùng để trỏ việc nhà vua kế nối sự nghiệp của tiên vương), nhân phong (từ dùng để ca ngợi công nghiệp trị lý của nhà vua)… Nguyên Nhân Khí đã coi ông như là “đấng triết vương ở nước Bội nước Dung làm phên giậu cho nhà Chu đời trước”, đã ca ngợi ông như là một vị Điều ngự “từ bi tính Phật, làu thông đạo học” để dắt đám lê dân còn mê muội đến với cõi Phật an lạc:
Lê hoàng kết thiêng,
Bốn bể hòa đồng.
Kính cẩn trên ngôi,
Chỉnh sửa huân nhung!
“Ơn trạch của ông đã tưới khắp, khiến muôn dân sung túc” giống như “ngọn gió xuân nuôi dưỡng muôn loài” (Mục Phong hầu). Nhân dân đời sau, nhớ đến công đức của Lê Hầu cũng như gia tộc ông nên đã tôn ông lên làm phúc thần ở nhiều nơi. Theo văn bia Tu tập uy linh miếu bi ký do tiến sĩ Nguyễn Thực soạn, đến thế kỷ 17, Lê Hầu đã được nhân dân thờ phụng, và tôn xưng là Cao Tổ Lê Ngọc hoàng đế . Theo khảo sát thực địa của giáo sư Đào Duy Anh, thì Lê Ngọc cùng với vợ và các con được thờ tại hơn trăm đền thờ tại Thanh Hóa ngày nay .

3. Văn bia Đại Tùy Cửu Chân: giá trị văn học và lịch sử Phật giáo

So với văn bia Xá lị tháp minh đời Tùy năm 601, thì văn bia Đại Tùy Cửu Chân có giá trị hơn hẳn về mặt văn học cũng như những thông tin sử học có liên quan đến các nhân vật lịch sử. Độ dài văn bia quãng trên 900 chữ, là một bài văn của đại bút Nguyên Nhân Khí. So với Xá lị tháp minh là một bài văn bia không có chất văn chương, thuần túy là “rập khuôn” theo một mẫu để chôn dưới các tháp xá lị do vua Tùy sai xây dựng. Tức là, bia Xá lị tháp minh chỉ có nêu những nội dung tương tự như vài chục bia xá lị được làm cùng đợt như vậy ở Trung Quốc.

Vì thế, ở phần này, chúng tôi thiết nghĩ cũng cần phải có đôi dòng khảo luận về thể thức, nội dung và nghệ thuật ngôn từ của văn bia Trường Xuân.
Về mặt nội dung, văn bia Trường Xuân rõ ràng được viết ra là nhằm mục đích ca ngợi Lê Hầu cũng như dòng họ nhà ông trong việc chăn dân. Thế nhưng, như phân tích của chúng tôi về phương thức chính trị của Lê Hầu ở phần trên, Lê Hầu tuy là người đứng ở vị trí “cai trị nhân dân”, nhưng ông luôn là người ứng xử như là một vị Phật sống để dẫn dắt nhân dân khỏi khổ ải lầm than của cõi nhân sinh. Ngay từ thời quãng 17 đến 25 tuổi, nhận thấy xã hội nhà Lương động loạn, ông đã tự đi tìm cho mình một mảnh đất mới xa xôi và an lạc. Cha ông là Thứ sử Triều Châu, còn ông đã chuyển về làm Thứ sử Nhật Nam (theo như thần tích), hay Thứ sử Ái châu. Khi đó, như ta biết, Nhật Nam hay Cửu Chân là mảnh đất biên viễn, là cực Nam của nhà Lương lúc bấy giờ. Phía Tây Bắc là giáp Đại Lý, phía Bắc giáp Giao Chỉ, phía Tây là giáp Bồn Man, phía Nam là giáp Lâm Ấp. Thường thì, trong tâm lý người đời, phải đi làm quan xứ ấy không khác gì phải đi đày, bởi khí hậu khắc nghiệt, nhiều lam chướng. Những câu chuyện chép trong một số bộ sử quan phương có thể cho thấy rõ việc này. Chuyện Lưu Phương, năm 605, dù có chiến thắng Lâm Ấp, nhưng cũng đã chết trên đường trở về. Chuyện tông thất nhà Đường chết nơi đất Giao Chỉ. Chuyện một viên quan nhà Đường sau đó, thà “khi quân” chịu chém đầu còn hơn phải đi nhậm chức ở Giao Châu. Thế nhưng, Lê Hầu đã chọn cái mảnh đất không ai muốn đến ấy, để xây dựng một triều đại 60 năm của mình kéo dài đến ba đời (từ ông, đến con trai ông Lê Ích Từ, và có thể cả cháu chắt ông nữa ). Chọn một nơi xa xôi như thế, Lê Hầu đã gần như cách li hoàn toàn khỏi những động loạn xã hội, những bể dâu thay đổi triều đại từ Lương, Trần, Tùy rồi đến Đường. Sự lựa chọn ấy thể hiện sự tinh tế và tầm viễn kiến của một người vừa lão luyện trên chính trường, vừa minh tuệ về mặt triết học nhân sinh.

Văn bia có ca ngợi ông một đoạn như sau:
“Ôi, Lê Hầu [sứ quân ta], [tính bẩm] thiên tư, đạo học dần đủ, trước xưng Thứ sử, [sau] gọi Lê Hầu. [Người trị lý đất Cửu Chân so với Hoa Hạ rộng lớn] như đấng triết vương ở nước Bội nước Dung [làm phên giậu cho nhà Chu thuở nọ], vì thế mới vâng mệnh [đến đây]. [Trước đây] khi [loạn] đời Vĩnh Gia, [tổ tiên ông lánh nạn đến]囗囗囗囗. [Thân phụ]囗囗囗囗囗囗, tổ cao làm [Tổng quản] tướng soái, Thứ sử quận Triều Châu. Khi nhà Lương còn đang cai trị, [ông] làm Đô đốc quân sự năm châu Ái-Đức-Minh-Lị-Hoan, [nhiếp] chức Thứ sử Ái [châu], 囗囗囗囗囗囗囗囗 tướng quân, [được] phong tước Mục Phong hầu. [Cho nên] mới biết [việc cũ], [nhà ông] tự lập đã ba đời, hưởng năm lâu dài [vậy]. Ông ở nhàn tĩnh nơi vùng đất mới yên ổn [tránh được những động loạn các đời Lương, Trần, Tùy], ơn trạch tưới khắp, khiến muôn dân sung túc. [Ông vốn là người ham chuộng Phật pháp], khi theo học luôn có đức lại giữ pháp môn, [nên] phẩm hạnh được viên mãn. [Ông] thường hay lễ Phật tụng kinh, [thấy] linh tượng tỏa sáng; [lại lấy] Thiền tông làm lòng, thường tự thảng thích trong đó”.

Mặc dầu, câu chữ trên văn bia không còn nguyên vẹn, song những khắc họa về thân thế, gia tộc, công nghiệp và đức hạnh của Lê Hầu dưới ngòi bút của Nguyên Nhân Khí, có thể nói là hiện lên một cách khá sắc nét, rõ ràng. Ông tư chất vốn là một người nhân từ, lại thêm từ nhỏ đã được học hành, cho nên đức tài đều viên mãn (đạo học tiệm cụ). Chính cái sở học, cái thiên tư ấy đã giúp ông có được cái quyết định đúng đắn: coi đất Ái Châu-Nhật Nam là một miền đất hứa, một miền đất để định cư mà an lạc, ông đã coi đó như là “sinh địa” của cuộc đời ông, gia tộc ông.

Trong văn bia, Nguyên Nhân Khí cũng ca ngợi về phép cư xử của Lê Hầu. Dưới nhãn quan của Nho gia, Nguyên Nhân Khí coi hành động “trấn giữ Ái Châu” của Lê Hầu là một hình mẫu ứng xử chính trị tiêu biểu của sự nghiệp “tu tề”. Ông viết: “[Người trị lý đất Cửu Chân so với Hoa Hạ rộng lớn] như đấng triết vương ở nước Bội nước Dung [làm phên giậu cho nhà Chu thuở nọ]”. Có thể nói, đây là một biểu hiện rất sinh động cho thấy Nho giáo đã được thực thi như thế nào ở Việt Nam trong thế kỷ 6 thế kỷ 7. Chính vì thế, Lê Hầu được phong tước là “Mục Phong hầu”. Chữ “mục phong” là một điển ngữ xuất nguồn trong Kinh thi để trỏ ngọn gió mùa xuân mát lành thổi đến khiến cho muôn cây cỏ tốt tươi, sinh sôi nảy nở. “Mục Phong” là cái đức của người quân tử, là cái dụng của bậc vương chủ. Trong văn bia, Nguyên Nhân Khí đã dùng nhiều từ ngữ của Nho gia để ca ngợi Lê Hầu, nhưng quan trọng hơn cả các từ ngữ đó đều mang sắc thái tôn vinh, xưng tụng đối với các vị vua, các vị quân chủ.

Song, điểm nổi trội hơn cả trong văn bia Đại Tùy Cửu Chân chính là nội dung về Phật học. Như trên đã nêu, Lê Hầu là người ham chuộng Phật pháp, thường hay tụng kinh, là người biết giữ pháp môn, phẩm hạnh viên mãn. Ông đã cho xây dựng chùa Bảo An, cho khắc bia Trường Xuân, cho dựng đài Sủng Tịnh,… đây đều là những công trình có liên quan đến việc hoằng dương Phật pháp. Chính vì thế, Nguyên Nhân Khí đã sử dụng sáu bảy chục thuật ngữ Phật giáo trong bài văn bia này để nói về sự nghiệp của “đại hộ pháp” họ Lê trên đất Cửu Chân. Trong vòng 60 năm cai trị ở mảnh đất này, ông đã đem ơn đức, ân trạch, đã đem ánh sáng trí tuệ của Phật pháp chiếu rọi cho lê dân, đã đem đuốc tuệ (trí cự), nước tuệ (tuệ thủy) để dẫn dắt chúng sinh thoát khỏi lầm than khổ ải. Cho nên, nhân dân mới coi ông như là một vị Phật sống, là người nối được chân tông, là đức “điều ngự” để “cứu vớt sinh linh”.

Đặt trong bối cảnh thời đại, thời Lương, Trần, Tùy là thời đại Phật giáo đang hết sức phát triển. Xã hội càng động loạn, con người càng cần đến chốn nương tựa tâm linh. Vào thời Lương, chùa Hồng Lô thuộc về Thiền tông. Cũng trong thời gian này, các thiền sư Thiên Trúc đã rộng truyền thiền pháp vào Trung Quốc. Trong đó nổi tiếng nhất là Bồ Đề Đạt Ma. Lương Vũ Đế nghe danh, mà mời vị sư này đến kinh đô Kiến Khang. Như thế, Phật giáo từ thời Lương đã đi vào chốn cung đình. Trải đến triều nhà Tùy, Phật giáo đã lên đến cực thịnh. Tùy Văn Đế từng tự nhận “công nghiệp của mình là do Phật pháp” (ngã hưng do Phật pháp), thậm chí sau còn chuyển sang bài xích Nho học, coi Phật giáo là quốc giáo. Tùy Văn Đế cũng là người dùng tôn giáo nhằm mục đích chính trị, ông này đã từng hiệu triệu sư tăng xuất sơn để “hành đạo vì quốc gia”. Đến thời Tùy Dạng Đế, thì ông vua bạo ngược này còn đích thân thụ giới của tông Thiên Thai, trở thành đệ tử nhà Phật. Nhà Tùy đã cho xây dựng hơn 5000 chùa tháp, tạo đắp vài vạn tượng Phật, phiên dịch vài vạn cuốn kinh Phật, khiến cho Phật giáo phát triển gấp bội so với các triều đại trước. Tùy Văn Đế còn cho xây dựng 83 tháp xá lị ở khắp nơi, trong đó có một tháp ở Long Biên (Bắc Ninh ngày nay).

Trong bối cảnh như vậy, việc Lê Hầu đi theo Phật pháp cũng là điều có thể hiểu được. Thế nhưng, lối “tu đạo” của Lê Hầu khác hẳn về chất so với các hoàng đế phương Bắc. Các vua Tùy Văn Đế, Tùy Dạng Đế tuy đẩy Phật giáo lên địa vị quốc giáo, khiến Phật giáo có địa vị tối cao, song cũng là những người đã thế tục hóa tôn giáo này. Hẳn không ít nhà sư đã nghe lời kêu gọi của Văn Đế mà lao vào cuộc chiến tranh “hành đạo” của ông vua này. Nhà Tùy, dựa trên chiêu bài Phật giáo để tiến hành thôn tính, chinh phạt hàng loạt các quốc gia láng giềng như Đột Quyết, Lâm Ấp, Khiết Đan, Cao Ly, Lưu Cầu, Y Ngô… Trong khi đó, Lê Hầu trong suốt 60 năm cai trị ở Cửu Chân, Nhật Nam ông không hề tiến hành bất kỳ một cuộc chiến tranh nào với các thế lực đương thời. Ông chuyên chú chăm lo cho dân chúng đi theo Phật pháp. Nhân Nguyên Khí ca ngợi ông là người “nối được chân tông”, hẳn cũng là vì thế.

Về mặt ngôn ngữ, văn bia Trường Xuân, tuy bị khuyết nhiều chữ, không còn đọc được toàn văn. Nhưng chúng ta còn thấy được thể thức, bố cục của văn bia thời này như sau. Ngoài tên bia trên bi ngạch, còn có tên phụ ở lòng bia. Ngay dưới tên phụ là chức tước tên tuổi, quê quán người soạn văn bia. Tên văn bản ghi rõ thể loại là “bi văn” trong đó, phần chính văn gồm đoạn thuyết lý duyên khởi về đạo Phật. Sau đó, là đoạn ký thuật về tông tộc, hành trạng, công nghiệp của Lê Hầu. Đoạn cuối là bài minh độc vận ca ngợi Phật pháp và công cuộc hoằng dương Phật giáo, dẫn dắt chúng sinh của Lê Hầu.

Văn bia Trường Xuân thể hiện rõ lối dùng văn xen kẽ giữa văn xuôi và văn biền ngẫu. Vì thế, có những đoạn lên xuống nhịp nhàng, cân đối mà thanh thoát, có những chỗ lại trần thuật lớp lang, giàu giá trị thông tin. Ví như:
Ôi,
Pháp Phật thiêng liêng, trí tuệ thế gian há thửa cầu;
Pháp tính thâm sâu, lời nói của trời khôn đoán hết.
Nên,
Cảnh Phạm thiên, còn là hóa thành;
Chốn tam giới, cũng là nhà lửa.
[Chúng sinh] khốn khổ, nhạo báng làm trái đạo […], [nên] khiến cho [thân…] phải chịu khổ ải.
Tùy cơ trời mà làm lợi cho muôn vật, [như] vua Dục Vương [dựng] tháp báu, Đế Thích [có] chùa chiền, [thực] đều [là để] chiêm ngưỡng dung nhan tôn quý. [Các đấng ấy] đã bắc cầu bến cứu vớt muôn loài, [khiến chúng sinh] hồi hướng về nơi tịnh độ đất phúc vậy.
Có thể thấy, ngay cả trong những đoạn văn xuôi, tác giả thỉnh thoảng xen cả những tiểu đối, khiến cho câu văn cũng trở nên duyên dáng hơn, mượt mà hơn.
Phần bài minh được tác giả soạn bằng thể 4 chữ thông dụng, với lối gieo vần độc vận. Lối gieo vần này khác so với một số bài minh đời Lí đời Trần. Nhưng nhìn chung, bút khí đi khá đều đặn, ngôn từ trau chuốt, ca ngợi nhưng không sáo mòn:
[Theo nối] chân tông,
Tâm pháp khó cùng.
Đức sinh 囗 ngự,
Xem dấu vương cung.
Từ bi tính Phật,
Học đạo làu thông.
Bừng bừng đuốc tuệ,
Dắt đám mung lung.
Nên xưng Điều ngự,
Làm đức Thế tông.
[Người] phá [đạo] pháp,
Thảy đều về không.
Lê Hoàng kết thiêng,
Bốn bể hòa đồng.
Kính cẩn trên ngôi,
Chỉnh sửa huân nhung.
Đẹp thay [Lê Hầu]!
Truyền nối hết lòng.
Tầng đài cao vút,
Giảng đạo thung dung .
[Lòng] [theo] [cửa] [Phật]
Tính [khua] cầu vồng.
Trong điện chính giác,
Mà tỏ thần công.
Nước tuệ nhuần tưới,
Hoa tiên thắm nồng.
Nên xem bia đá,
Gìn giữ nhân phong.
Hoa ngân [đầy] [đủ]
[Với] [thiên] [địa] [cùng]
Có thể nói, văn bia Đại Tùy Cửu Chân quận Bảo An đạo tràng chi bi văn tại Trường Xuân là một áng văn chương cổ có giá trị về mặt văn học.
Hình thức, nội dung, thể chức văn bia đã khá ổn định, do một người nổi tiếng tài hoa là Nguyên Nhân Khí soạn. Văn bia này đánh dấu mốc son khởi đầu cho thể loại bi kí cả ở mặt vật chất lẫn phương diện thể loại, để sau đó nó được tiếp tục phát huy trong thời đại Lí Trần. Văn chương Lí Trần trong đó bi kí Lí Trần là một đỉnh cao, đỉnh cao ấy bắt nguồn từ văn hóa đời Tùy-Đường. Hay nói cách khác, Tùy Đường là bệ phóng cho những yếu tố văn hóa, văn chương cho thời đại Lý Trần cũng như nhiều nước khác trong khu vực.

Với bài văn bia cũng như bài minh trong bia Đại Tùy Cửu Chân, Nguyên Nhân Khí là tác gia văn học sớm hàng đầu mà chúng ta hiện biết. Bài văn bia không chỉ có ý nghĩa cho văn học mà còn là hiện vật giá trị để cung cấp thông tin cho các ngành lịch sử, mỹ thuật cổ (điêu khắc, thư pháp),… Có thể nói, những thông tin sử liệu qua bia Đại Tùy Cửu Chân quận Bảo An đạo tràng chi bi văn tại Trường Xuân đã bổ sung một số cứ liệu quan trọng làm sáng tỏ hơn một giai đoạn lịch sử của mảnh đất Cửu Chân-Ái Châu-Thanh Hóa cũng như Nhật Nam-Hoan Châu-Nghệ An rộng hơn là lịch sử Việt Nam vào giai đoạn từ năm 557 đến 618 mà trước nay các bộ sử quan phương không hề nhắc đến. Những khôn khéo trong việc đối nội, đối ngoại, thù trong giặc ngoài cũng như lối “ứng xử mềm” của Lê Hầu đối với các triều đại phong kiến phương Bắc, đến nay vẫn còn nguyên giá trị thời sự và lịch sử!

Tài liệu tham khảo
1. Đào Duy Anh, “Cái bia cổ ở Trường Xuân với vấn đề nhà Tiền Lý”, Nghiên Cứu Lịch Sử, 50 (5.1963), tr. 22-28.
2. Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb. Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội, tb. 2010.
3. Đặng Xuân Bảng, Việt sử cương mục tiết yếu, Hoàng Văn Lâu dịch và chú giải, Nxb. Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 2000.
4. Le Breton, La Province de Thanh-Hoa, Imprimerie Kim Duc Giang, 1924.
5. Le Breton, Monuments et Lieux Historiques du Thanh Hoa (Contribution à l’inventaire des Vestiges), Revue Indochinoise, mars-avril-1921, XXIV, 3-4: 163-191.
6. Phan Văn Các – Claudine Salmon, Épigraphie en Chinois du Viet-Nam (Văn khắc Hán Nôm Việt Nam), Tập 1, École Française d’Extrême-Orient, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Paris-Hà Nội, 1998, tr. 1-12.
7. Nguyễn Du Chi, Hoa văn Việt Nam từ thời tiền sử đến nửa đầu thời kỳ phong kiến, Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội – Viện Mỹ thuật, Hà Nội, 2003.
8. Lê Cường, “Nghiên cứu Mỹ thuật truyền thống: chặng đường dài”, Nghiên Cứu Mỹ Thuật, Nxb. Mỹ Thuật, H, 2007, tr. 80-89.
9. Trần Trọng Dương, “Đinh Bộ Lĩnh-loạn sứ quân: từ sử liệu đến sử thực”, Tạp chí Nghiên Cứu Và Phát Triển, Huế, số 01.2012.
10. Trần Trọng Dương, “Biểu tượng núi vũ trụ Tu Di-Meru trong văn hóa Việt Nam và châu Á”, Tạp chí Nghiên Cứu Mỹ Thuật, 06. 2012, tr. 23-36.
11. Trần Văn Giáp, “Văn bia Việt Nam (công dụng thác bản văn bia Việt Nam đối với Khoa học Xã hội và những thác bản văn bia hiện còn có ở Thư viện Khoa học Xã hội”, Nghiên Cứu Lịch Sử, 118 (1.1969), tr. 3-6.
12. (Khuyết danh), XIII (?), Đại Việt sử lược, Trần Kinh Hòa biên hiệu, Soka daigaku Asia kenkyujo, Tokyo, 1987.
13. Nguyễn Quang Hà, “Về tấm bia đời Tùy (601) mới phát hiện tại chùa Giàn – Huệ Trạch tự (xã Trí Quả, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh)”, Thông Báo Khảo Cổ Học, 2012.
14. Nguyễn Quang Hồng vcs, Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, Nxb. KHXH, H, 1992.
15. Phạm Lê Huy, “Việc xây dựng tháp Xá lợi dưới thời Tùy Văn Đế và minh văn tháp Xá lợi mới phát hiện tại Bắc Ninh”, Thông Báo Khảo Cổ Học 2012.
16. Hoàng Lê, “Tình hình sưu tầm và nghiên cứu văn bia”, Tạp chí Khảo Cổ Học, số 02.1982.
17. Trịnh Khắc Mạnh, Một số vấn đề về văn bia Việt Nam, Nxb. KHXH, Hà Nội, 2008.
18. Trịnh Khắc Mạnh – Nguyễn Văn Nguyên – Philippe Papin, Corpus des Inscriptions Anciennes du Viet-Nam (Tổng tập thác bản văn khắc Hán Nôm Việt Nam), Tập 21, Viện Cao học Thực hành-Viện Nghiên cứu Hán Nôm-Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp. Hà Nội, 2009.
19. Lê Viết Nga, “Về hai cổ vật niên đại thời Tùy ở Bảo tàng tỉnh Bắc Ninh”, Báo Bắc Ninh, 2012.
20. Thủy kinh chú sớ, Lịch Đạo Nguyên chú, Dương Thủ Kính-Hùng Hội Trinh sớ, Đoàn Hy Trọng điểm hiệu, Trần Kiều Địch phúc hiệu, Nguyễn Bá Mão dịch, Nxb. Thuận Hóa-Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Huế, 2005 [dịch từ ấn bản Thủy kinh chú sớ, Cổ Tịch xuất bản xã, Giang Tô, 1999].
21. Ngô Thị Thanh Tâm, “Nghiên cứu văn bia huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa” (Luận văn Thạc sĩ Hán Nôm), Thư viện khoa Văn học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội, 2008.
22. Đinh Khắc Thuân, Văn bia thời Mạc, Nxb. KHXH, Hà Nội, 1996.
23. Keith Weller Taylor, The ‘twelve lords’ in tenth-century Vietnam, Journal of Southeast Asian Studies 14, 1 (March 1983), pp. 46-62.
24. Keith Weller Taylor, The Birth of Vietnam, University of California Press, Berkeley, 1983.
25. Trần Thái Tông, XIII, Thiền tông khóa hư ngữ lục, Tuệ Tĩnh (tk 14) dịch Nôm, Trần Trọng Dương khảo cứu-phiên chú, Nxb. Văn Học, TP. HCM.
26. Tỉnh ủy-Hội đồng Nhân dân-Ủy ban Nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Địa chí Thanh Hóa (Tập 2: Văn hóa xã hội), Nxb. KHXH, Thanh Hóa, 2004.
27. Lê Trắc, (1335) An Nam chí lược, Mạnh Nghị Trần Kinh Hòa dịch (Nxb. Thuận Hóa-Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Huế, tb. 2002.
28. Chu Quang Trứ, “Bia và bia chùa Việt Nam”, Mỹ thuật Lý Trần – Mỹ thuật Phật giáo, Nxb. Mỹ thuật, H, 2012, tr. 506-557.
29. Trần Quốc Vượng, “Xứ Thanh-vài nét về lịch sử-văn hóa”, Theo dòng lịch sử: những vùng đất, thần và tâm thức người Việt, Nxb. Văn Hóa, Hà Nội, 1996.
30. Khuyết danh, (đời Trần), (Đại) Việt sử lược, trong Tứ khố toàn thư (đời Càn Long nhà Thanh).
31. Chính Hòa thứ 18 (1697), Đại Việt sử ký toàn thư, Nội các quan bản, Bản khắc in, Bản dịch, 1998, Tập 1, Ngô Đức Thọ dịch chú, Hà Văn Tấn hiệu đính, Nxb. Khoa Học Xã Hội, Hà Nội.
32. 阮實。《修葺昭慶廟碑》。1996。
33. 阮實。《修葺威靈廟碑記》。 1635。
34. 丁福寶。《佛教大辭典》 。文物出本社, 北京, 1984。
35. 葉昌熾 (撰) 。 柯昌泗 (評) 。 《石語異同評》。 中華書局。 北京。 1994。
36. 張正烺 (名譽主編) 。 呂宗力 (主編) 。 《中國歷代官制大辭典》。 北京出版社。 北京。 1994。
37. [唐] 林寶 (撰) 。 《元和姓篡》。四庫全書。(總纂:紀昀,陸錫熊,孫士毅)。
38. [唐] 李吉甫。《元和郡縣圖志》。四庫全書。(總纂:紀昀,陸錫熊,孫士毅)。
39. [唐] 魏徵, 顏師古、孔颖达。《随書》。 中华書局。北京。 2008。
40. 辭源。 商務印書館。
41. 沈起炜。徐光烈。《中国历代職官词典》。 上海辭書出版社。 上海。 1992。
42. 許慎。《說文解字》。 段玉裁注。 清代陳昌治刻本。

Từ thần tích của một ngôi đình ở ngã ba sông Bạch Hạc

Đình Viên Châu ở xã Cổ Đô (Ba Vì, Hà Nội) là một ngôi đình cổ nằm trên khu đất ở khu vực hợp lưu của 3 con sông lớn của miền Bắc là sông Đà, sông Thao và sông Lô. Khu vực này được gọi là ngã ba Bạch Hạc (Bạch Hạc Tam Giang).
Theo thần tích thì đình Viên Châu thờ 2 vị thủy thần thời Hùng Vương. Bà mẹ của 2 vị này là một công chúa có tên Thụy Hoa, đi tu ở chùa trên đất làng Viên Châu. Một hôm công chúa ra bãi sông Viên Châu, mơ thấy rắn cuốn, về sinh đôi được 2 người con trai có dị tướng, đặt tên là Lân và Lý… Về sau 2 người con được vua phong làm “quản trưởng đội thuyền rồng, tả hữu thủy quân tuần sông“, có công cầu đảo mưa và hiển ứng báo vua đánh giặc Thục… Hai vị được sắc phong danh hiệu là:
– Thông Hà hiển ứng an dân đại vương
– Thủy Giang linh ứng đương cảnh đại vương.
Bà mẹ cũng được phong là Mục Phật công chúa và thờ ở am bên cạnh đình.

p1270862

Ngã ba Hạc nhìn từ Viên Châu.

Các di vật thờ ở đình Viên Châu đã bị mất mát khá nhiều. Đình còn lưu giữ được một số vế đối thờ như sau:
Vế đối khác:
春臺壽域竝生竝育遂吾胞
Xuân đài thọ vực tịnh sinh tịnh dục toại ngô bào.
Dịch:
Đài xuân cõi thọ, cùng sinh cùng dưỡng thỏa anh em.
Vế đối này nói tới sự việc hai anh em thủy thần cùng sinh đôi và lớn lên, lập công nghiệp tại đất Viên Châu.
青龍包白虎四民同樂奠洪基
Thanh long bao bạch hổ tứ dân đồng lạc điện hồng cơ
Dịch:
Rồng xanh ôm hổ trắng, bốn dân vui thích yên cơ nghiệp.
Khi xét kỹ thì sự tích 2 vị thần ở đình Viên Châu thì thấy đây cũng là chuyện của các vị thần Bạch Hạc Tam Giang. Viên Châu nằm đúng ngã 3 sông Bạch Hạc. Các vị Thần Bạch Hạc Tam Giang trong Lĩnh Nam chích quái là Thổ Lệnh và Thạch Khanh, đã hiển linh vào thời Đường khi xây đạo quán ở Bạch Hạc.
Truyện thần sông Bạch Hạc kể:
Khoảng các năm Vĩnh Huy đời Đường Cao Tông, Lý Thường Minh làm chức đô hộ đất Phong Châu … xây Đạo Thánh linh quán ở ven sông Bạch Hạc, đặt tượng Tam Thanh ở trong quán để phụng thờ. Lại xây hai ngôi am ở phía trước và phía sau quán, muốn tạc tượng thờ… Canh ba đêm ấy, mộng thấy có hai dị nhân, diện mạo hùng vĩ, phong tư nhàn nhã, đều mang theo quân hầu, trước hò sau hét, …, tranh nhau chiếm am trước… Hai người riêng xưng tên họ, một tên là Thạch Khanh, một tên là Thổ Lệnh. Thường Minh xin đọ tài nghệ, nếu ai thắng sẽ ở am trước. Thạch Khanh ứng tiếng mà chạy, mới tới bờ sông đã thấy Thổ Lệnh ở cạnh sông từ trước rồi… Thổ Lệnh được ở am trước…
Lý Thường Minh cho đắp tượng thờ thần Thổ Lệnh tại Thông Thánh Quán (nay là đền Tam Giang tại phường Bạch Hạc, Việt Trì) và Thạch Khanh được thờ ở đền Chi Cát (nay thuộc phường Tiên Cát, Việt Trì). Cuộc thi nhảy qua sông của hai vị thần đã để lại dấu ấn đến nay, một vết chân trước đền Tam Giang và một gót chân tại Bến Gót (nay thuộc phường Bến Gót, thành phố Việt Trì). Nếu từ đền Tam Giang hay Bến Gót mà “nhảy” qua sông thì chính là vùng đất Viên Châu.
Như đã từng nhiều lần khảo cứu, Thổ Lệnh Tam Giang là Trung Thành phổ tế đại vương, được thờ phổ biến ở khu vực Phú Xuyên (Hà Nội), cũng là vị Quan lớn đệ Tam của tín ngưỡng Tứ phủ, thờ chính tại đền Lảnh (= Lệnh) ở Duy Tiên, Hà Nam. Thần tích ở Viên Châu chép là “quản trưởng đội thuyền rồng” (= Trưởng Lệnh). Còn Thạch Khanh là Quan lớn đệ Ngũ Tuần Tranh của Thoải phủ. Thần tích ở Viên Châu chép là “tả hữu thủy quân tuần sông”.
Thổ Lệnh và Thạch Khanh là 2 anh em, 2 vị tướng đã giúp vua cha Bát Hải Động Đình, hay đức Lạc Long Quân đánh giặc Thục, lập nên vương triều đầu tiên của người Việt. Vì công lao phò vua lập quốc từ thời sơ sử này nên các vị quan lớn (các vị thủy thần Bạch Hạc) mới trở nên cực kỳ linh thiêng, được người dân nhiều nơi tôn thờ như vậy.
Đền Tam Giang ở Việt Trì vẫn trong lễ hội hàng năm vẫn diễn lại tích thần Thổ Lệnh đưa tiễn Tản Viên Sơn Thánh khi ngài đến thăm Bạch Hạc. Tương tự, trong thần tích đình Viên Châu thì Thông Hà và Thủy Giang đại vương đã báo mộng cho vua Hùng, phò tá Tản Viên Sơn Thánh đánh Thục. Thực ra “Tản Viên” ở trong chuyện này là Lạc Long Quân như đã nói ở trên.
Bà mẹ của 2 vị quan lớn của Thoải phủ là Quý Nương, cũng là Mẫu Thoải, là con gái Thần Long Động Đình. Bà là vợ của vua Kinh Dương Vương, người đã sinh ra Lạc Long Quân. Như vậy Thụy Hoa công chúa ở đình Viên Châu cũng là Mẫu Thoải. Đền thờ Xích Lân Long Nữ là đền Tiên Cát nay ở thành phố Việt Trì.

p1270875Đình Viên Châu ở xã Cổ Đô, Ba Vì, Hà Nội.

Câu đối khác còn lưu được, nay treo trước cung thờ ở đình Viên Châu là:
神異昭天一之生産瑶琪扵龜峒
英武顯乾三之躍誇屋纛扵龍宫
Thần dị chiêu Thiên nhất chi sinh, sản dao kỳ ư quy động
Anh vũ hiển Càn tam chi dược, khoa ốc đạo ư long cung.
Giải nghĩa câu đối này trong từng vế. Ở vế đối đầu, Thần dị là sự lạ, sự khác thường của thần. Thiên nhất: Thiên là quẻ Càn (Kiền). Thiên nhất là hào sơ cửu của quẻ Càn “Tiềm long vật dụng” (Rồng còn đang ẩn mình, chưa hành động). Ý chỉ lúc bắt đầu. Dao kỳ: là tạo ra 2 loại ngọc quý, ý chỉ 2 vị Thông Hà và Thủy Giang. Quy động: động rùa giải, có thể chỉ vùng đất bãi Viên Châu. Vế đầu nói đến sự ra đời kỳ lạ của 2 vị thánh vương tại đất Viên Châu.
Vế đối sau: Anh vũ: sức mạnh tài năng hơn người. Càn tam: Là hào cửu tam của quẻ Kiền “Quân tử chung nhật kiền kiền, tịch dịch nhược, lệ, vô cữu”. Hào này ý nói là người quân tử làm việc liên tục, cẩn thận, tránh lỗi. Khoa ốc đạo: Khoa trương thanh thế cờ xe. Ví dụ như Hoàng ốc tả đạo là xe mui vàng cắm cờ tiết mao, chỉ bậc quân trưởng. Long cung: cung rồng, chỉ cung vua hoặc thủy cung vì đây là 2 vị thủy thần. Vế sau nói tới công nghiệp của 2 vị thần này.
Dịch câu đối ở cung thờ Viên Châu:
Thần dị chiếu khi xuất thánh vương, đúc ngọc dao kỳ nơi động giải
Tài sức tỏ lúc gây công nghiệp, dương màu xe đạo chốn cung rồng.
Trong tên của 2 vị thủy thần ở đình Viên Châu là Thông Hà và Thủy Giang thì chữ Hà ở đây phải hiểu nghĩa là Trời, không phải nghĩa là sông. Thông Hà tương tự như Thông Thiên.

p1270943

Trang cuối trong thần tích đình Viên Châu.

Phần cuối thần tích đình Viên Châu còn kể một “sự lạ” khác:
…Nói tới Thục Vương (chính là An Dương Vương) ở ngôi được 50 năm thì Triệu Đà mang quân chiếm đất nước, cha truyền con nối được 5 đời thánh vương, trước sau tổng cộng là 149 năm. Đến đời Vệ Vương chỉ được 1 năm, Tô Định đem quân tới bờ cõi. Bà Trưng (là con gái của nhà họ Hùng), cất quân khởi nghĩa, tự xưng nữ vương, được 5 năm thì đến thời Đông Hán. Qua các thời Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương gồm 340 năm thì tới nước Nam. Các triều đại có Đinh, Lê, Lý, Trần 4 nhà khai sáng hồng đồ…
Phiên âm trích nguyên gốc từ thần tích:
Tức thuyết Thục Vương (tức An Dương Vương thị dã) tại vị phương ngũ thập niên gian, Triệu Đà nãi đề binh thủ quốc, phụ truyền tử kế đắc ngũ đại thánh vương, tiền hậu cộng nhất bách tứ thập cửu niên. Hựu chí Vệ Vương phương đắc nhất niên, Tô Định đề binh chiêm giới. Trưng nữ (tức Hùng gia tính nữ) hưng sư phương đắc ngũ niên tự xưng vương nữ thời chí Đông Hán. Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương phàm tam bách tứ thập niên chí thử Nam Bang. Lịch hữu Đinh, Lê, Lý, Trần tứ tính khai sáng hồng đồ…
Theo bản thần tích này thì vào thời Vệ Vương, vị vua cuối cùng của nhà Triệu Nam Việt, tướng Tô Định đã đem quân xâm chiếm bờ cõi. Sau đó Bà Trưng mới khởi nghĩa, xưng vương được 5 năm, rồi mới tới nhà Đông Hán.
Thông tin này hoàn toàn khác so với chính sử. Chính sử hiện nay cho rằng người đánh Triệu Vệ Vương (Thuật Dương Vương) là Lộ Bác Đức của nhà Tây Hán. Sau đó là thời kỳ cai trị của nhà Tân của Vương Mãng với các thái thú châu mục Đặng Nhượng, Tích Quang ở Giao Châu, rồi mới đến Tô Định làm thái thú Đông Hán và nổ ra khởi nghĩa của Trưng nữ vương. Thần tích đình Viên Châu lại cho biết người đánh Vệ Vương là Tô Định và khởi nghĩa của Trưng Vương nổ ra ngay sau đó, trước thời Đông Hán. Như thế khởi nghĩa Trưng Vương là vào thời Tây Hán, ngay sau khi nhà Nam Việt bị diệt. Tướng Tô Định trong thần tích tương đương với tướng Lộ Bác Đức của nhà Tây Hán.
Liệu có phải người biên lập thần tích ở Viên Châu đã nhầm? Hay chính sử đang bị nhầm?
Không phải chỉ có một mình thần tích đình Viên Châu cho biết một thời điểm khác của khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Thần tích của xã Phú Lạc (Cẩm Khê, Phú Thọ) theo bản dịch của Nguyễn Duy Hinh trong sách Tín ngưỡng thành hoàng Việt Nam (AE a9/6) cũng kể hoàn toàn tương tự:
… Triệu Đà được nước cha truyền con nối 5 đời cộng 149 năm. Đến đời Thuật Dương Vương kế ngôi chính thống vừa được một năm thì có Tô Định mang quân vào đất nước chiếm Trung Hoa, họ Triệu tàn tạ không người cứu nước. Đến đó cháu gái Hùng Vương húy là Trắc, là bậc nữ trung hào kiệt thánh thần trong đời oai hùng cử binh đánh thẳng đến thành Tô, đại phá. Tô Định thuy chạy. Bà Trưng bèn xây 65 thành ở Lĩnh Ngoại, khôi phục toàn bộ cảnh thổ nước Nam. Bà Trưng tức vị tự lập làm vua.
Hàng loạt những tư liệu dân gian ở nhiều nơi khác nữa cho thấy, có một cuộc khởi nghĩa của Trưng nữ vương nổ ra ngay sau khi nhà Triệu Nam Việt mất nước, dưới thời Hiếu Vũ Đế của nhà Tây Hán. Chính sử Việt hiện tại đang có sự nhầm lẫn về thời điểm và bản chất của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng.

Trung y hay Việt y?

Cuốn Y học tam tự kinh của tác giả Trần Tu Viên soạn đời nhà Thanh có phần đầu là chương Y học nguyên lưu (Nguồn gốc y học) được mở đầu như sau:
Y chi thủy. Bản Kỳ Hoàng.
Linh Khu tác. Tố Vấn tường.
Nạn Kinh xuất. Cánh dương dương.
Việt Hán quý. Hữu Nam Dương.
Lục kinh biện. Thánh đạo chương.
Dịch nghĩa:
Y học khởi đầu vốn từ Kỳ Bá và Hoàng Đế
Sáng tác bộ sách Linh Khu, giảng giải qua sách Tố Vấn.
Sách Nạn Kinh ra đời làm cho y học càng sáng tỏ hơn.
Cuối thời Việt Hán có thầy ở đất Nam Dương
Biện luận rõ 6 bộ kinh, làm rạng rỡ đạo thánh.

y-hoc

Bìa sách Y học Tam tự kinh.

Đây là bài kinh ba chữ cho các thầy thuốc Đông y học để biết được nguồn gốc, sự phát triển ban đầu của y học phương Đông. Tuy nhiên, vấn đề ít được các y sinh, y sư biết là những tác giả, những vị thần y khởi nguồn của y học phương Đông được bộ kinh này nhắc tới hóa ra đều là những người Việt.
Từ thời Thần Nông người phương Đông đã có những tìm hiểu, những khái niệm ban đầu về y học và các cách chữa trị các bệnh. Thần Nông được kể là đã nếm thử hàng trăm loại cây cỏ để kiểm tra các tính chất dược học của chúng và tổng kết lại thành cuốn Thần Nông bản thảo kinh. Tác phẩm này được coi là dược điển sớm nhất của Trung Hoa.
Đặc biệt Thần Nông đã phát hiện ra việc dùng Trà. Thần Nông lần đầu tiên nếm thử trà từ những chiếc lá chè trên cành trà bị cháy, được gió nóng của đám cháy đưa tới và rơi vào vạc nước sôi của ông… Vấn đề ở chỗ, Trà là loài cây đặc sản, chỉ mọc tự nhiên ở khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới. Nơi phát sinh của cây Trà ở phương Đông chủ yếu là vùng Vân Nam, Bắc Việt và Lào. Như vậy thì Thần Nông nếm chè chỉ có thể là ở khu vực này. Thần Nông không thể ở tận vùng sông Hoàng Hà như người Tàu đang “tưởng tượng”, mà Thần Nông chính là thời thái sơ lịch sử của người Việt.
Theo như đoạn Y học Tam tự kinh dẫn ở trên nguồn gốc của Y học phương Đông được tính bắt đầu từ 2 bộ sách vấn đáp giữa quân thần Hoàng Đế và Kỳ Bá, có tên là Linh KhuTố Vấn. Hai bộ sách này tổng cộng có 18 thiên, gộp thành sách Nội Kinh. Hoàng Đế thuộc dòng dõi Thần Nông, thủ lĩnh của Hữu Hùng Thị, sau khi thắng Xi Vưu đã được tôn làm vị vua đầu tiên của Trung Hoa. Thủ lĩnh của Hữu Hùng thì còn ai khác ngoài vua Hùng? Truyền thuyết Việt Hoàng Đế trong chính là Đế Minh, “cháu ba đời họ Viêm Đế Thần Nông”, vị vua Hùng đầu tiên của sử Việt.
Thiên Nam ngữ lục có câu:
Tự vua Viêm Đế sinh ra
Thánh nhân ngưu thủ họ là Thần Nông
Trời cho thay họ Hữu Hùng
Con cháu nối nghiệp cha ông thủ thành.
“Viêm Hoàng tử tôn”, con cháu Thần Nông, Hoàng Đế chính là người Hoa Việt. 2 người khởi đầu y học phương Đông cũng là 2 vị quốc tổ của người Việt.
Vị tổ nghề y tiếp theo được Y học Tam tự kinh nhắc tới là thần y Biển Thước với tác phẩm Nạn Kinh còn lưu lại tới nay. Biển Thước là một thầy thuốc sống vào thời Chiến Quốc. Sử ký Tư Mã Thiên trong Biển Thước Thương Công liệt truyện cho biết: “Biển Thước là người huyện Trịnh, quận Bột Hải, họ Tần, tên Việt Nhân”. Ông hành nghề y rất tài tình, cứu sống thái tử nước Quắc, chuẩn đoán chính xác bệnh tình của Tề Hoàn Công và từng sang thăm bệnh cho Tần Vũ Vương.
Vấn đề là quê hương của Biển Thước nằm ở đâu? Mộ của Biển Thước được người đời sau lập khắp nơi từ Thiểm Tây, Sơn Đông, Sơn Đông Hà Nam ở Trung Quốc. Các tài liệu khác nhau chỗ bảo Biển Thước người nước Tề, chỗ bảo nước Lỗ, chỗ nói nước Triệu. Thực sự thì Biển Thước người nước nào?
Trước hết cần xác định Biển Thước người quận Bột Hải thì Bột Hải đây không phải là vùng biển phía Bắc Trung Quốc giáp với Triều Tiên. Bởi vì vùng đất này thời trước là của các tộc người Liêu, người Di, không phải người Hoa. Mãi tới khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa mới sai tướng Mông Điềm vượt sông Hoàng Hà đánh chiếm lấy vùng Hà Sáo, lập các quận huyện mới và xây trường thành. Khu vực ven biển giáp Triều Tiên do vậy không thể nằm trong phạm vi thiên hạ Trung Hoa thời Tiên Tần.
Vậy Bột Hải quê của Biển Thước là ở đâu?
Bột Hải là từ mà cách đây không lâu vẫn được dùng ở Việt Nam để chỉ Biển Đông ngày nay. Ví dụ, trong vở tuồng Trưng Nữ Vương của Phan Bội Châu, tướng Tô Định khi xưng danh mào đầu nói:
Cõi Nam Quan quét sạch bụi trần
Miền Bột Hải trừng thanh bạch lãng.
Tô Định lập công nghiệp ở miền Bột Hải thì Bột Hải ở đây rõ ràng chỉ Biển Đông.

thai-duongĐền thờ Đức thánh cả Bột Hải đại vương ở Thái Đường.

Dẫn chứng khác, ở khu vực Vân Đình nay vẫn còn có đền thờ Đức thánh Cả tại thôn Thái Đường (xã Thái Bình, Ứng Hòa, Hà Nội). Đức thánh Cả ở đây có tên sắc phong là Bột Hải đại vương. Tuy nhiên, công trạng của vị thánh này lại là đánh giặc Ân ở vùng Hoan Ái. Câu đối trong đền ghi:
Đệ lục đại Hùng Vương, thần tướng huy đao, kình khô ngạc đoạn
Kỷ thiên thu Đông Hải, Ân binh tuyệt mệnh, kích chiết chu trầm.
Dịch:
Hùng Vương thứ sáu triều xưa, thần tướng vung đao, kình đứt sấu đoạn
Biển Đông nghìn thu thủa trước, quân Ân hết số, kích gãy thuyền chìm.
Câu đối này cho biết đức thánh Bột Hải đại vương đã đánh giặc Ân ở vùng biển Đông. Nói cách khác Bột Hải là tên gọi xưa của Biển Đông. Bột Hải thực ra là Bát Hải. Bát là số 8, con số chỉ phương Đông trong Hà thư.
Tên thật của thần y Biển Thước là Việt Nhân cho thấy rõ ràng ông là một người Việt chính cống. Huyện Trịnh ở bên bờ biển Đông của đất Việt có thể là vùng đất Thái Bình xưa vì nơi đây từng mang tên là Chân Định (tên cũ của huyện Kiến Xương). Chân Định đọc phiên thiết là Trịnh.
Văn chầu Quan lớn đệ Tam của Tứ phủ cũng cho biết:
Trịnh giang biên doành ngân lai láng
Đôi vầng hồng soi rạng Nam minh
Con vua Thoải quốc Động Đình
Đệ tam thái tử giáng sinh đền rồng.
Quan đệ Tam là con vua Bát Hải Động Đình ở chốn Nam minh. Nam minh là biển Nam, tức là biển Đông. Bát Hải như đã phân tích, tương đương với Bột Hải, chỉ biển Đông. Động Đình hồ nghĩa là cái hồ lớn ở phía Đông, tức là biển Đông.
Trong văn chầu cho biết nơi sinh Quan đệ Tam có con sông Trịnh. Quan đệ Tam và Vĩnh Công Bát Hải Động Đình là anh em sinh cùng bọc trứng ở đất Thái Bình, nay là đền Đồng Bằng (An Lễ, Quỳnh Phụ). Đây là dẫn chứng cho thấy khả năng huyện Trịnh quận Bột Hải, quê của Biển Thước là vùng huyện Kiến Xương xưa.
Tên Biển Thước là lấy danh theo một thầy thuốc nổi tiếng từ thời Hoàng Đế. Nếu đọc theo Hán văn, Biển Thước 扁鹊 dịch là “con chim khách dẹt”, chẳng có nghĩa gì cả. Rất có thể, đây là tên phát âm theoo tiếng Việt. Biển là… biển. Biển Thước là loài chim biển di cư, hay chim hải âu. Hoàng Đế là vị vua Hùng của người Việt ở Phong Châu (Phú Thọ ngày nay) nên tên của vị thần y thời Hoàng Đế đọc theo tiếng Việt là điều hiển nhiên.
Tiếp theo Y học Tam tự kinh nói tới vị thầy thuốc nổi danh là Trương Cơ, tự là Trọng Cảnh. Đây là tác giả của những cuốn sách y học nổi tiếng truyền lại như Thương Hàn luận, Kim quỹ yếu lược. Tiểu sử của vị y sư này cho biết, ông là người đất Nam Dương (Hà Nam) và từng làm thái thú quận Trường Sa.
Trương Trọng Cảnh hiện đang được cho là sống cuối vào thời Đông Hán. Tuy nhiên, chỗ bất cập là cuối thời Đông Hán thì Thái thú quận Trường Sa là Tôn Kiên, là bố của Tôn Quyền, người lập nên nhà Đông Ngô thời Tam quốc sau đó. Vùng đất Trường Sa khi đó thuộc họ Tôn Ngô, làm sao còn có vị họ Trương nào làm Thái thú Trường Sa lúc này?
Ngay trong Y học Tam tự kinh cho biết: Việt Hán quý, hữu Nam Dương. Tức là cuối thời Việt Hán có ông Trương Trọng Cảnh người quê ở Nam Dương.
Thời Hán được nói tới ở đây là “Việt Hán”. Trong 2 triều đại hiện lịch sử ghi nhận là Tây Hán và Đông Hán thì nhà Tây Hán mới có thể gọi là Việt Hán. Bởi vì Cao Tổ Lưu Bang là một người Việt, khởi nghĩa kháng Tần thành công lập nên nhà Hán (chính xác hơn là nhà Hiếu). Triều đại của Lưu Bang còn gọi là Viêm Lưu, chỉ triều đại của họ Lưu ở Viêm phương, tức phương Nam. Viêm Lưu là một triều đại Việt. Trong khi đó, nhà Đông Hán từ Hán Quang Vũ Lưu Tú là người Hán chính gốc nên triều đại này không thể gọi là Việt Hán.
Dẫn chứng khác là trong các truyện kể về Trương Trọng Cảnh có việc ông đã dùng các bài thuốc Lục vị và Bát vị độc dáo để chữa bệnh cho Hiếu Vũ Đế Lưu Triệt. Lưu Triệt là Vũ Đế của nhà Tây Hán. Như vậy, nhiều khả năng Trương Trọng Cảnh phải là một thầy thuốc sống vào cuối thời Tây Hán (khoảng thế kỷ 1 trước Công nguyên) chứ không phải thời Đông Hán (sau Công nguyên).
Y học nguyên lưu từ Thần Nông, Hoàng Đế tới các danh y khai mở nền y học phương Đông là Việt Nhân Biển Thước, Việt Hán Trương Cơ đều là người Việt. Nếu có ai đó định đăng ký bản quyền y học phương Đông thì phải gọi là Việt y, chứ không phải Trung y.

Những vị thủy thần của phủ Ứng Thiên

Thần phả đình Giẽ Hạ (xã Thịnh Đức, huyện Phú Xuyên, Hà Nội), khu vực thuộc phủ Ứng Thiên cũ, chép:
Vào ngày rằm tháng Giêng năm Giáp Thìn đệ nhị tiên cung tên là Tiên Dung Châu xuất thần giáng sinh. Nhân đó đặt tên là Giáng Tiên. Khi nàng trưởng thành, sắc đẹp tuyệt trần…, những lúc nhàn rỗi thường du ngoạn ở châu Phong, đất Giao Chỉ. Tình cờ gặp vua Hùng Vương thứ 8 là Huy Vương. Vua rất ưng ý liền phong làm cung phi chính thất.
Hai năm sau nàng có thai tròn 12 tháng. Lúc đó là ngày mồng 10 tháng 6 năm Giáp Ngọ nàng đến ngã ba sông Sa tắm gội. Đến ngày 12-6 sinh được một bọc, nở ra 5 người con trai. Người xưa vẫn ca ngợi “nhất bào ngũ tử”…
Khi trưởng thành 5 anh em này đều lần lượt nhiều lần lập công lớn, dẹp giặc đem lại yên bình cho đất nước… Sau khi hóa vua lại ban cho sắc chỉ phong vào hàng thượng đẳng thần. Cả năm anh em đều là quý tử… Vua ban sắc phong cho là Thủy thần…

image0021
Miếu thờ bà Tiên Dung Châu ở Giẽ Hạ.

Các đền thờ là:
1. Quảng Xung linh tế đại vương (xã Hữu Vĩnh, phủ Hoài An)
2. Quảng Bác uyên dung đại vương (xã Thịnh Đức, huyện Phú Nguyên)
3. Quảng Xuyên linh quang đại vương (xã Quảng Tái, huyện Sơn Minh)
4. Quảng Tế linh ứng đại vương (xã Bãi Nhiễm, huyện Duy Tiên)
5. Quảng Hóa cư sĩ đại vương (xã Vĩnh Tuy, huyện Thanh Trì).
Ở khu vực xã Thịnh Đức hiện còn đền thờ đức Quảng Bác đại vương, là con thứ 2 của Vua Hùng thứ 8. Đức thánh này được gọi là thánh Ba Sa, hay thủy thần Tam Giang.
Thần tích đình Giẽ Hạ về 5 vị thủy thần với đền thờ trong vùng phủ Ứng Thiên là một đầu mối để lần tìm lại sự tích, công nghiệp và nhân vật thật sự của các vị thần được thờ ở đây.
Câu đối tại ở đình Giẽ Hạ:
三两秀所鍾龍子仙孫七世譜
百千秋為烈丹庭紫誥歷朝恩
Tam lưỡng tú sở chung, long tử tiên tôn thất thế phổ
Bách thiên thu vi liệt, đan đình tử cáo lịch triều ân.
Dịch:
Đôi ba đúc ngời, con rồng cháu tiên truyền lưu thế phả
Trăm ngàn thu rạng, thềm son chiếu tía ơn ghi lịch triều.
Thần tích của đình Giẽ Hạ hoàn toàn tương đồng với sự tích về Trung Thành phổ tế đại vương, vị thần được thờ phổ biến ở khu vực Phú Xuyên – Hà Nam:
– Hùng Vương thứ 8 tương ứng trong thần tích về Trung Thành đại vương là ông Đào Công Bột hay Bột Hải đại vương. Bột = Bát, là số 8. Số 8 hay số 3 (trong Ba Sa) ở đây là chỉ hướng Đông, “bộ Hải Dương” hay vùng Biển Đông. Bức đại tự trong đình Giẽ Hạ Trạch tư Đông thổ 宅兹東土 (Yên định vùng đất Đông) cùng hàm ý này.
– 5 người con trai sinh ra cùng một bọc trứng họ Đào là Cự, Hồng, Trưởng, Quý Lân và Thạch Khanh. Ở sự tích tại Giẽ Hạ gọi là Quảng Xung, Quảng Bác, Quảng Xuyên. Quảng Tế, Quảng Hóa. Cả 5 người có công đánh giặc (giặc Thục) và là các thủy thần, phụ trách thủy quân, sông nước.
Như đã từng xác định, đây cũng là chuyện về Vĩnh Công Bát Hải Động Đình của đền Đồng Bằng (An Lễ, Quỳnh Phụ, Thái Bình). Bột Hải đại vương là Bát Hải Động Đình, là vua cha của Thoải phủ trong tín ngưỡng Tứ phủ. 5 người con là Ngũ vị quan lớn của ban Công đồng trong tín ngưỡng này. Trung Thành phổ tế đại vương là Thổ Lệnh hay Quan lớn đệ Tam, thờ chính ở đền Lảnh (Mộc Nam, Duy Tiên, Hà Nam). Còn Thạch Khanh, một trong 2 vị thần sông Bạch Hạc là Quan lớn đệ Ngũ tuần Tranh.
Trong sự tích ở đình Giẽ Hạ thì Quảng Bác đại vương là người con thứ hai, tức là tương ứng với Quan lớn đệ Nhị. Vị Quảng Xuyên đại vương ở Quảng Tái, nay thuộc xã Trung Tú của huyện Ứng Hóa, vẫn còn được thờ ở các làng tại đây. Vị Quảng Tế đại vương ở huyện Duy Tiên có thể tương ứng với Quan lớn đệ Tam, là khu vực đền Lảnh ở Duy Tiên. Trong 2 vị Quảng Hóa và Quảng Xuyên, không rõ vị nào là quan lớn đệ Tứ, vị nào là quan lớn đệ Ngũ, cần khảo cứu thêm.

image0041
Nghi môn đền Thiên Vựng ở Hữu Vĩnh.

Riêng người con thứ nhất, Quảng Xung đại vương, khá đặc biệt. Trong thần tích Giẽ Hạ ghi là thờ ở đền Hữu Vĩnh. Tại thôn Hữu Vĩnh, xã Hồng Quang của huyện Ứng Hòa nay có ngôi đền rất nổi tiếng, là đền Đức thánh Cả. Vị thánh này không rõ tại sao lại bị ghi chép thành một tướng dưới thời Lý Bôn, đánh dẹp giặc Lương. Trong khi đó, sách Đại Nam nhất thống chí cho biết: Đền Hữu Vĩnh ở xã Hữu Vĩnh, huyện Hoài An. Tương truyền thần là con của Kinh Dương Vương, tên là Quảng Xung.
Đôi câu đối ở nghi môn đền Vựng (đền Hữu Vĩnh):
四千餘年于兹鴻貉聖神秀水奇山標勝跡
百年萬世之下龍仙民族普風甘雨藉靈庥
Tứ thiên dư niên vu tư/ Hồng Lạc thánh thần/ tú thủy kỳ sơn tiêu thắng tích
Bách niên vạn thế chi hạ/ long tiên dân tộc/ phổ phong cam vũ tạ linh hưu.
Dịch:
Bốn ngàn năm dư ấy nay, thánh thần Hồng Lạc, sông đẹp núi lạ nêu thắng tích
Trăm năm vạn đời sau đó, dân tộc rồng tiên, gió lộng mưa thơm nhờ phúc thần.
Câu đối này nói sự tích của vị Đức thánh Cả tại Hữu Vĩnh đã có từ 4000 năm, từ thời Hồng Lạc, liên quan tới con rồng cháu tiên. Câu đối tương tự cũng thấy ở trong đình Giẽ Hạ. Nội dung này nhắc tới câu đối cũng ở nghi môn đền Đồng Bằng về Vĩnh Công Bát Hải Động Đình:
Tứ thiên niên quốc tục thượng thần, Bát Hải long phi truyền dị tích
Thập bát hiệu Hùng triều xuất thế, Đào giang hổ lược chấn linh thanh.
Dịch:
Bốn nghìn năm nước gọi thượng thần, biển Bát rồng bay truyền tích lạ
Mười tám hiệu triều Hùng xuất thế, sông Đào hổ lược dậy danh thiêng.
Có thể thấy Đức thánh Cả ở Hữu Vĩnh cũng là Vĩnh Công, là con Hoàng xà lớn trong 3 con Hoàng xà do Quý Nương sinh ra của sự tích đền Đồng Bằng. Ở đền Đồng Bằng có sự tôn sùng Vĩnh Công ở cả 2 ngôi, vừa là vua cha Bát Hải của Thủy phủ, vừa là Quan lớn đệ Nhất. Điều này có thể hiểu, người con đầu đã được tôn làm vua nên Quan lớn đệ Nhất khi đánh giặc Thục cũng là đức Vua cha Thoải phủ sau đó.
Vua cha Vĩnh Công Bát Hải từng được xác định là Lạc Long Quân, vị quốc tổ 4000 năm của người Việt. Như vậy, Đức thánh Cả ở Hữu Vĩnh cũng là đức Lạc Long Quân. Điều này giải thích vì sao đền Hữu Vĩnh nổi tiếng linh thiêng. Người dân địa phương thậm chí còn lưu truyền câu nói “Bất lộ trần ai”, không được tiết lộ điều gì về Đức Thánh Cả. Không ai được vào cung cấm của đền trừ thủ từ. Còn có chuyện, có cụ đồ ở làng vào cung cấm để đọc sắc phong và thần tích, chỉ mấy tháng sau đó bị chết không rõ nguyên nhân…

phu-ung-thienVị trí các địa danh di tích trong bài viết.

Câu đối tại đền Hữu Vĩnh của Thượng thư Bùi Bằng Đoàn viết:
國有永祠昭帝德
民懷安宅仰皇恩
Quốc Hữu Vĩnh từ chiêu đế đức
Dân Hoài An trạch ngưỡng hoàng ân.
Dịch
Đền quốc gia Hữu Vĩnh sáng đế đức
Đất nhân dân Hoài An ngưỡng ơn vua.
Theo như câu đối này thì Đức thánh Cả là một vị vua chứ không phải chỉ là một tướng quân thông thường. Trong đền 2 bên có đắp tượng ban văn và ban võ đầy đủ. Đã có sự nhầm lẫn, tam sao thất bản về thần tích của Xung Lang đại vương tại Hữu Vĩnh. Đây là hình ảnh của quốc tổ Lạc Long Quân, vị vua khởi sử của người Việt, không thể chép thành vị tướng thời Tiền Lý.
Sách Từ điển di tích văn hóa Việt Nam dẫn theo Đại Việt địa chí Bắc Thành đia dư chí lục cho biết đền Hữu Vĩnh có tên “Nam thiên hoàng đế từ“. Tương truyền đền thờ thần Quảng Xung là con của Kinh Dương Vương. Truyền thuyết nói vua Lê đi tuần qua miền này, thuyền đang đi trên sông Vĩnh thì gặp phải bãi cát, không tiến lên được. Vua lên bờ vào đền làm lễ cầu đảo, dòng sông lại thông suốt. Vua bèn phong cho thần là Nam Thiên hoàng đế.
Có lẽ chính tên Nam thiên hoàng đế này mà Đức thánh Cả thời Hùng Vương đã bị nhầm lẫn thành thời Tiền Lý Nam Đế. Quảng Xung đại vương như vậy rõ ràng đã là một vị vua lớn của trời Nam.
Bản thân chi tiết thần Xung Lang là con của Kinh Dương Vương cũng chứng tỏ điều này. Con cả của Kinh Dương Vương thì rõ là Lạc Long Quân. Như vậy bà Tiên Dung Châu thờ ở đình Giẽ Hạ hay đức Vua Bà ở đền Hữu Vĩnh phải là Quý Nương – Mẫu Thoải, hay là Xích Lân Long nữ vợ của Kinh Dương Dương.

image008
Miếu thờ Vua Bà bên cạnh đền Đức thánh Cả ở Hữu Vĩnh.

Câu đối khác ở chính điện đền Hữu Vĩnh, do tiến sĩ Nguyễn Thượng Hiền đề:
隆典奮崇祠五彩鸞章僊闕下
靈蹤傳古史千年雲駕海天歸
Long điển phấn sùng từ, ngũ thái loan chương tiên khuyết hạ
Linh tung truyền cổ sử, thiên niên vân giá hải thiên quy.
Dịch:
Điển rồng hưng đền lớn, nét phượng năm sắc xuống cửa tiên
Dấu thiêng truyền sử xưa, xe mây ngàn năm về trời biển.
Ngũ thái loan chương” có thể ám chỉ việc đức Vua Bà (Mẫu Thoải) sinh 5 người con rồng.
Về Ngũ vị tôn quan ở phủ Ứng Thiên còn có thể lẫn trong sự tích của thần Quý Minh đại vương. Ở đình Hoàng Xá (nơi khả năng là trị sở của phủ Ứng Thiên cũ), thờ Quý Minh đại vương, vị “Đệ Tam Tản Viên Sơn”, một trong Tam vị Tản Viên. Tuy nhiên rất khó xác định Quý Minh ở đây là Sơn thần hay Thủy thần. Đặc biệt ở góc mái của đình Hoàng Xá lại có một bức chạm riêng biệt hình chiếc thuyền bơi chải. Tục bơi chải là đặc trưng trong các lễ hội thờ các Thủy thần. Xét trong khung cảnh của phủ Ứng Thiên thì Quý Minh đại vương ở Hoàng Xá phải là Quan lớn đệ Tam của Thoải phủ, người anh em đã cùng Lạc Long Quân (được chép dưới tên Tản Viên Sơn Thánh) đánh Thục, giành ngôi, lập quốc. Quý là thứ 3 trong thứ tự Mạnh Trọng Quý. Quý Minh do đó tương ứng với Quan đệ Tam Thoải phủ.

image010
Bức chạm bơi chải ở đình Hoàng Xá.

Ở khu vực Ứng Hòa, quanh thị trấn Vân Đình còn một số di tích với sự tích tương tự. Tại thôn Thái Bình (xã Thái Đường) cũng có đền thờ Đức thánh Cả. Vị thánh này có tên phong là Bột Hải đại vương, với công tích giúp vua Hùng thứ 6 đánh… giặc Ân, nhưng lại bằng thủy chiến và ở châu Hoan châu Ái. Thật khó hiểu, giặc Ân nào trên sông nước ở vùng Thanh Nghệ?
Câu đối trong đền Đức Thánh Cả ở Thái Đường:
第六代雄王神將揮刀鯨刳鰐断
幾千秋東海殷兵絶命戟折舟沉
Đệ lục đại Hùng Vương, thần tướng huy đao, kình khô ngạc đoạn
Kỷ thiên thu Đông Hải, Ân binh tuyệt mệnh, kích chiết chu trầm.
Dịch:
Hùng Vương thứ sáu triều xưa, thần tướng vung đao, kình đứt sấu đoạn
Biển Đông nghìn thu thủa trước, quân Ân hết số, kích gãy thuyền chìm.
Từ “Đông Hải” trong vế đối chỉ rõ Bột Hải đại vương là người cầm quân đánh thủy binh của giặc Ân ở vùng biển Đông. Bột Hải chính là chỉ biển Đông ở nước ta. Châu Hoan châu Ái là vùng đất ven biển Đông nên Bột Hải phải là biển Đông. Trận thủy chiến đánh giặc Ân ở châu Hoan, châu Ái này không phải trận chiến trên cạn của Thánh Dóng diệt giặc Ân ở núi Trâu Sơn – Vũ Ninh.
Đức Thánh Cả ở Thái Đường là Bột Hải đại vương, tức là vị Quan lớn đệ nhất hay vua cha Bát Hải Động Đình. Khu vực này còn có 2 vị Đức thánh Trung và Đức thánh Hạ tương ứng với các vị Quan đệ nhị và Quan đệ tứ trong ban Công đồng Tứ phủ.
Để lý giải sự khác biệt của sự tích này cần nhắc lại bản chất cuộc chiến Hùng Thục thời vua cha Bát Hải Động Đình. Đây là cuộc chiến tranh giành vương vị của ông Khải – Lạc Long Quân với ông Ích sau khi Đại Vũ – Kinh Dương Vương mất. Ích cũng là Ất, là số 2 trong thập can (Giáp, Ất…). Địa bàn gốc của tộc người theo Bá Ích là vùng cựu đô Ngàn Hống ở châu Hoan từ thời Hoàng Đế – Đế Minh. Vì thế thần tích về Đức thánh Cả ở Thái Bình đã kể thành Hùng Vương thứ sáu (Hùng Lục Vương hay Lạc Vương) đánh giặc Ân ở Hoan Ái. Ân hay ơn là số 2. Ái cũng là từ biến âm của Ích – Ất. Trong các thần tích về Trung Thành phổ tế đại vương gọi là dẹp giặc ở Hồng Châu.
Phủ Ứng Thiên là nơi tập trung các vị thủy thần thời Hùng Vương. Vị thánh Cả là Lạc Long Quân, đức Vĩnh Công Bát Hải, vua cha của Thoải phủ. Còn 5 vị thủy thần khác là Ngũ vị tôn quan, làm nên ban Công đồng, là một triều đình đầy đủ, khởi đầu lịch sử người Việt.

p1270630Khúc sông Đáy ở cửa đền Hữu Vĩnh.

Viết thêm:
Tháng Tám giỗ cha…
“Cha” ở đây là đức vua cha của Thoải phủ, hay đức Bát Hải Động Đình, cũng là cha Lạc Long Quân của người Việt. Khu thờ chính của cha Bát Hải ở đền Đồng Bằng tại Quỳnh Phụ, Thái Bình.
Một “di bản”, “dị tích” của Lạc Long Quân là Đức thánh Cả Bột Hải đại vương ở thôn Thái Đường (Thái Bình, Ứng Hòa, Hà Nội). Có lẽ cũng vì nguồn gốc của vị này từ đất Thái Bình mà ở đây có xã Thái Bình. Bản thân tên phủ Ứng Thiên có thể cũng là sự linh ứng của vị Nam Thiên hoàng đế Lạc Long Quân này.
Đặc biệt theo ghi chép và tục thờ ở Thái Đường thì Đức thánh cả được thờ cùng với 4 bộ tướng là: Quý Minh thượng đẳng, Minh Pháp tôn thần, Chiêu Pháp tôn thần và Nguyễn thượng đẳng thần. Đức thánh Cả cùng với 4 bộ tướng hợp thành bộ 5 – Ngũ vị quan lớn của Tứ phủ.
Đây cũng là dẫn chứng trực tiếp cho thấy vị thần Quý Minh được thờ ở đình Hoàng Xá (cách đền Đức thánh Cả ở Thái Đường chưa đầy 1km) với bức đại tự “Sơn anh Hải tú” chính là bộ tướng của Bột Hải đại vương hay là Quan lớn đệ Tam của Thoải phủ. Chữ “Hải” ở đại tự tại Hoàng Xá là chỉ Bột Hải hay Biển Đông. Còn chiếc thuyền bơi chải ở góc mái đình là từ tục thờ Quý Minh, vị thủy thần đứng đầu (Trưởng Lệnh) trong Ngũ vị tôn quan của Thoải phủ.

than-tich-thanh-ca