Đọc dịch một số câu đối ở đền Hát Môn

Dan the Hat Mon

Đàn thề Hát Môn.

Đền Hát Môn, nơi Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, là một di tích có nhiều minh văn lưu lại trong các bức hoành phi, câu đối. Những câu đối ở ngôi đền này đều do các bậc đức cao vọng trọng, học nhiều hiểu rộng soạn viết và cung tiến từ thời Nguyễn. Do đó đây là những câu đối có văn phong, thi pháp hay, ca ngợi tinh thần và sự nghiệp của Hai Bà Trưng.
Thời gian trước tác giả Phạm Hy Sơn đã từng đọc và dịch một số câu đối ở đền Hát Môn. Gần đây, trong cuốn sách mới xuất bản Đền Hát Môn di tích lich sử quốc gia đặc biệt, nhóm chuyên gia của Viện nghiên cứu Hán Nôm cũng đã có phần đọc và dịch rất chi tiết các hoành phi câu đối ở đền này. Tuy nhiên, do tính chất của cổ văn dùng trong câu đối rất súc tích, sử dụng nhiều điển cổ và thông tin của cổ sử nên để hiểu thêm về những câu đối ở đền Hát Môn, bài viết dưới đây xin đưa ra một cách giải nghĩa cho một số câu đối khó dịch của di tích lịch sử này.

Câu 1

大義復夫讎猶令東漢當辰嶺南六十五城勞逺略
鴻圖肇國統從此皇丁而後越甸數千餘載定天書
Đại nghĩa phục phu thù, do lệnh Đông Hán đương thời, Lĩnh Nam lục thập ngũ thành lao viễn lược
Hồng đồ triệu quốc thống, tòng thử Hoàng Đinh nhi hậu, Việt Điện sổ thiên dư tải định thiên thư.

21558761_1473665936057985_2705221036556420372_nSách Đền Hát Môn chép chữ “lệnh” 令 thành chữ “kim” 今.
Ở câu đối này triều “Hoàng Đinh” đối lại với nhà “Đông Hán”, rõ ràng là chỉ triều đại do vua Trưng lập nên. Trong câu đối nói triều Hoàng Đinh này cách thời điểm viết câu đối (thời Nguyễn – thế kỷ 19) “trên mấy nghìn năm”. Vì thế đây không thể là triều Đinh của Đinh Tiên Hoàng vào thế kỷ 10 được. Triều Đinh của Đinh Bộ Lĩnh cũng không có liên quan gì tới Hai Bà Trưng cả, nên đưa vào câu đối này không hợp lý.
Đinh là một dịch tượng chỉ phương hướng. Đinh, hay Tĩnh là tính chất của phương Tây. Vì Hai Bà Trưng khởi nghĩa từ “Châu Phong”, là vùng đất Tây Thổ, nên triều đại của Trưng Vương có tên là Đinh. Đinh là quốc danh của triều đại Trưng Vương còn lưu truyền mãi tới thời nhà Nguyễn như trong câu đối trên.
Dịch:
Nghĩa lớn báo thù chồng, sánh ngang Đông Hán cùng thời, sáu mươi lăm thành Lĩnh Nam lập kế lớn
Cơ đồ dựng quốc thống, từ đó Hoàng Đinh về sau, trên mấy nghìn năm Việt Điện định sách trời.

Câu 2

越祖百男閒出英雌能復國
唐初雙女未聞閨綉自興王
Việt tổ bách nam, gián xuất anh thư năng phục quốc
Đường sơ song nữ, vị văn khuê tú tự hưng vương.

Duong so

Câu đối này trong sách Đền Hát Môn lẫn lộn vị trí 2 từ “gián” (nhàn) 閒 và văn 聞. Chính xác như trong ảnh thì ở vế đối đầu là chữ 閒, đọc là “gián” với nghĩa là xen lẫn. Vế sau phải là “văn” 聞 với nghĩa là nghe thấy.
Thời sơ Đường ở đây không phải thời đầu nhà Lý Đường (thế kỷ 7), mà là nói tới thời Đường Nghiêu Ngu Thuấn. Đó là lấy tích hai bà Nga Hoàng và Nữ Anh mà so sánh với Hai Bà Trưng. Nga Hoàng và Nữ Anh là hai con gái của Đế Nghiêu được gả cho Đế Thuấn. Khi Đế Thuấn mất hai vị vương phi này đã tự vẫn theo chồng ở sông Tương. Còn hai bà Trưng khi chồng là Thi Sách bị giặc giết thì lại tự mình phất cờ khởi nghĩa, giành thắng lợi, xưng vua. Hai Bà sau đó cũng tử tiết trên sông, do đó được so với 2 vị nữ thần sông Tương thời Đường Ngu.
Dịch:
Tổ Việt trăm trai, xen có anh thư hay phục quốc
Sơ Đường đôi gái, chưa nghe khuê tú tự xưng vua.

Câu 3

西江姊妹神湘女
東漢縱横霸粵王
Tây Giang tỷ muội thần Tương nữ
Đông Hán tung hoành bá Việt vương.
Tây Giang ở đây không phải nghĩa là sông Tây, mà là chỉ Hai Bà khởi nghĩa ở miền đất phía Tây (của biển Đông). Giang = Dương, chỉ biển. Tây Giang hay Giang Tây là tên khác của vùng đất Tĩnh Hải dưới thời nhà Đường. Cái tên này còn gặp trên các viên gạch “Giang Tây quân” trong các di tích thời Đường ở nước ta.
Dịch:
Tây Giang em chị thần Tương nữ
Đông Hán dọc ngang xứng Việt vương.

Câu 4

馬鐙一戎征死了貪残猶(裭?)魄
象棚三(據?)戰生還矍鑠尙驚魂
Mã đặng nhất nhung chinh tử liễu tham tàn do sỉ? phách
Tượng bằng tam cứ? chiến sinh hoàn quắc thước thượng kinh hồn.

 

Câu đối này dùng một số chữ dị thể nên việc đọc ở các tác giả không thống nhất. Như chữ ở vế đối đầu Phạm Hy Sơn đọc thành hổ (虎?), dịch thành “con cọp”, còn sách Đền Hát Môn đọc là “quý” 愧 nghĩa là thẹn, xấu hổ. Bài này đề xuất đọc là “sỉ” 裭. “Sỉ phách” là mất vía.
Vế đối sau cũng có chữ dị thể khó đọc. Sách Đền Hát Môn đọc thành “cứ” (據?) nhưng lại ghi chữ là 捷 (tiệp). Câu đối này do vậy rất khó hiểu chính xác nên dịch thường không thoát ý.
Dịch:
Bước ngựa một xa chinh, dù mất tham tàn còn khiếp vía
Lầu voi ba trận chiến, sống về quắc thước thật kinh hồn.

Câu 5

旰宵東雒中興主
鞅掌西湖矍鑠翁
Cán tiêu Đông Lạc trung hưng chúa
Ương chưởng Tây Hồ quắc thước ông.

“Cán tiêu” 旰宵 nghĩa đen là chiều tối, chỉ sự tối tăm, suy vi. Sách Đền Hát Môn chép thành “can tiêu” 干標, không có nghĩa.
Đông Lạc chỉ nhà Đông Hán, đóng đô ở Lạc Dương. “Trung hưng chúa” chỉ Hán Quang Vũ, người được coi là phục hưng nhà Hán. “Quắc thước ông” là người khỏe mạnh, chỉ Mã Viện.
Câu đối dùng những hình ảnh đối lập “cán tiêu” – “trung hưng”, “ương chưởng” – “quắc thước”, để nhấn mạnh, ca ngợi tầm vóc của cuộc khởi nghĩa của Trưng Vương.
Dịch:
Đông Hán tối tăm này chúa hưng 
Tây Hồ nhọc nhằn kia ông khỏe.

Câu 6

順徔古有虞嬪南面奚裨天下治
剛猛史称孫妹東行莫雪使君仇
Thuận tòng cổ hữu Ngu tần, Nam diện hề tì thiên hạ trị
Cương mãnh sử xưng Tôn muội, Đông hành mạc tuyết sứ quân cừu.
“Ngu tần” ở đây nói tới các vị phu nhân của Đế Thuấn (Ngu Thuấn) là Nga Hoàng và Nữ Anh. “Nam diện” là trong tích “quay mặt phương Nam mà xưng vương”, chỉ việc làm vua. Vế này so sánh Hai Bà Trưng với 2 phi tần đã giúp Đế Thuấn.
“Tôn muội” có thể nói tới em gái Tôn Quyền của Đông Ngô, quyết đi theo chồng là Lưu sứ quân (Lưu Bị). Vế này so sánh Trưng Vương khởi nghĩa báo thù chồng, cương quyết như em gái Tôn Quyền.
Dịch:
Tòng thuận xưa có phi tần vua Ngu, quay mặt phương Nam giúp trị thiên hạ
Dũng mãnh sử nêu em gái họ Tôn, đi về phía Đông rửa thù sứ quân.

Câu 7

縱不金刀天再造
未應銅柱地分疆
Túng bất kim đao thiên tái tạo
Vị ưng đồng trụ địa phân cương.
Câu đối này tương truyền do Cao Bá Quát đề ở cột trụ nghi môn đền Hát Môn. Các tài liệu thường dịch câu đối này không chính xác do Cao Bá Quát sử dụng cụm từ chiết tự trong vế đối này. Trong vế đối thứ nhất có cụm từ “kim đao” 金刀 là chiết tự của chữ Lưu 劉, họ của các vua nhà Hán.
Vế đối thứ nhất nói tới chí khí của Trưng Vương đã khởi nghĩa chống quân Hán, lập nên một “thiên hạ”, một mảnh trời riêng của mình. Vế đối thứ hai nói tới cột đồng do Mã Viện nhà Đông Hán dựng nên, nhưng ở đây lại là để đánh dấu phân giới đất đai với Trưng Vương. Trưng Vương thậm chí còn không bằng lòng với vị trí cột đồng phân giới này.
Dịch:
Mặc không Lưu Hán trời riêng tạo
Chẳng nhận cột đồng đất rạch biên.

Câu 8

爾城以北分中国
銅柱而南入帝圖
Nhĩ thành dĩ Bắc phân Trung Quốc
Đồng trụ nhi Nam nhập đế đồ.
Câu đối này nêu 2 sự vật. Một là tòa thành làm địa giới giữa nhà Hán và nước của Trưng Vương (sử chép là Man thành ở Quảng Tây). Hai là cột đồng, cũng dùng để xác lập địa đồ đế vương. Khí phách của câu đối ở chỗ “phân Trung Quốc” và “nhập đế đồ”, khẳng định triều đại của Trưng Vương ngang hàng với nhà Hán, cùng phân chia thiên hạ Trung Hoa và cùng xưng đế.
Dịch:
Thành kia làm Bắc chia Trung Quốc
Đồng trụ về Nam nhập đế đồ.

Câu 9

始終臣節坤貞吉
咫尺神祠萃引孚
Thủy chung thần tiết Khôn trinh cát
Chỉ xích thần từ Tụy dẫn phu.
Câu đối này dùng 2 quẻ của Chu Dịch. Quẻ Khôn mang tính chất bền vững, tốt đẹp nên gọi là “trinh cát”. Quẻ Tụy nghĩa là tụ tập, có lời hào nhị: Dẫn cát, vô cữu, phu nãi lợi dụng thược (dẫn dắt, lôi kéo nhau theo đường công chính, không lỗi, tâm thành lễ mọn vẫn được tốt lành). “Tụy dẫn phu” là việc tập hợp mọi người dẫn tới niềm tin thành kính.
Dịch:
Trước sau giữ lễ, sự bền đẹp của quẻ Khôn
Gang tấc đền thần, dẫn tín tâm của quẻ Tụy.

Câu 10

湯武鉞旄三戰後
雄庞城郭百年前
Thang Vũ việt mao tam chiến hậu
Hùng Bàng thành quách bách niên tiền.
Thang chỉ vua Thành Thanh, người sáng lập nhà Thương của Trung Hoa. Vũ chỉ Vũ Vương, người đánh Trụ diêt Ân, lập nên nhà Chu. “Thang Vũ việt mao” chỉ khí thế khởi nghĩa mạnh mẽ của những vị khai mở triều đại.
Dịch:
Thang Vũ phất cờ ba cuộc sau.
Hùng Bàng thành dựng trăm năm trước.

Nam Triệu Trưng Vương

Khởi nghĩa Trưng Vương là một cuộc khởi nghĩa độc đáo, có tầm vóc to lớn trong lịch sử nước ta. Lễ hội đền Hát Môn, nơi nổ ra cuộc khởi nghĩa, đã được xếp hạng là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Các bài viết, khảo cứu về Trưng Vương đã có nhiều, lại một lần nữa được tập hợp trong cuốn sách Đền Hát Môn di tích lịch sử quốc gia đặc biệt vừa xuất bản 2017.
Tuy nhiên, những câu hỏi tồn nghi về khởi nghĩa Hai Bà Trưng trong các tài liệu này vẫn chưa được làm rõ một cách thỏa đáng. Ngoài việc cho rằng ông Thi Sách tên là Thi chứ không phải Sách thì có lẽ không có thông tin khám phá gì nhiều trong những tài liệu này.

IMG_3360Tế lễ hội đền Hát Môn.

Dưới đây, xin nêu một số điều đáng chú ý rút ra từ các tư liệu dân gian về khởi nghĩa Trưng Vương ở khu vực Hát Môn.
Thần tích về tướng Hoàng Thông thời Hai Bà Trưng ở đình Yên Dục, xã Hiệp Thuận, Quốc Oai, Hà Nội kể:
Xưa vua Hùng Vương truyền mười tám đời, phương Nam mở nước, non sông ứng vận sao Dực sao Chẩn, đất Bắc mới phong, phân thuộc về sao Đẩu sao Ngưu. Sau vua Thục An Dương Vương làm vua được năm mươi năm thì họ Triệu lấy mất. Đến thời thuộc về nhà Hán ở trang Kiều Lộc, có một nhà họ Hoàng tên là Sáng, vợ là Phùng Thị Tam.
Ông bà lành hiền nhân đức, sớm nào cũng thắp hương thờ trời, trước làm sao sau làm vậy. Năm Nguyên Phong nhà Hán thứ năm nhằm hôm mười hai tháng mười bà Phùng thị nằm mộng thấy đỏ rực trong nhà…
Được hơn một năm,… Ngài sinh ra hình dáng mặt mũi như hoa, da như mỡ. Đến khi lớn tài kiêm văn võ, tài giỏi hơn cả người mới đặt tên là Thông. Bấy giờ có tên Tô Định, người nhà Hán sang làm quan Thái thú, giết oan ông Thi Sách, thuế dịch nặng nề, dân không chịu được, kẻ hào kiệt khắp nước nổi lên.
Bấy giờ bà Trưng Trắc giận tên Tô Định giết chồng, bà ấy chiêu tập quân lính thu dụng hào kiệt để đuổi đánh tên Tô Định. Ngài ở trang Kiều Lộc cùng khởi quân hiệp cùng các xứ đi theo bà Trưng Trắc lấy lại các phủ huyện. Tên Tô Định chay thoát. Ngài đuổi đến trang Trảo Oa thì giết được.
Tướng Hoàng Thông ở Hiệp Thuận (gần Hát Môn) như vậy sinh vào năm Nguyên Phong thứ sáu. Nguyên Phong là niên hiệu của Hiếu Vũ Đế nhà Tây Hán. Năm Nguyên Phong thứ sáu là năm 105 TCN. Vậy mà Hoàng Thông lại theo Hai Bà Trưng, đánh đuổi, thậm chí còn là người đã giết được Tô Định. Nếu theo sử sách ngày nay, khởi nghĩa Hai Bà Trưng nổ ra ở Hát Môn năm 40 sau Công nguyên. Tính từ năm Nguyên Phong thứ sáu tới lúc này thì Hoàng Thông đã là 145 tuổi. Thần tích nhầm hay… sử gia nhầm?
Câu đối ở đình Yên Dục (dẫn theo sách Đền Hát Môn di tích lịch sử quốc gia đặc biệt):
Mộng Hiệp nhất đóa vân, Sài Lĩnh chung anh đĩnh sinh hiển hách
Uy soái tam thôn sĩ, Lộc Thành ứng nghĩa thu phục sơn hà.
Dịch nghĩa:
Một đám mây lành đất Mộng Hiệp, núi Sài linh thiêng sinh ra bậc hiển hách
Uy linh thống soái ba thôn, quân sĩ thành Lộc ứng nghĩa thu phục non sông.
Thông tin về năm sinh của vị tướng đã giết Tô Định ở vùng sông Hát núi Sài vào năm Nguyên Phong nhà Tây Hán cho thấy khởi nghĩa của Hai Bà Trưng tại Hát Môn không phải xảy ra vào thời Đông Hán. Hai Bà Trưng khởi nghĩa thực chất nổ ra ngay sau khi nhà Triệu Nam Việt ở Phiên Ngung bị diệt vào thời Tây Hán.
Thần tích đền Hát Môn thì chép:
Trưng Vương thu được hơn 60 thành, giành lại đất Nam, dẹp yên giặc Tô Định. Nước Nam thống nhất, bách quan nghênh giá đón Trưng Vương vào thành Chu Diên, lên ngôi tự xưng là Trưng Vương, phong cho Nhị Nương là Phó vương, được tự do ra vào cung cấm, tham dự triều chính. Vua họ Trưng đóng đô ở Mê Linh, đặt quốc hiệu là Triệu.
Thần tích đền Hát Môn như thế cho biết quốc hiệu nước của Trưng Vương là Triệu. Đối chiếu với Truyện Nam Chiếu trong Lĩnh Nam chích quái:
“Người Nam Chiếu là con cháu Triệu Vũ Đế”. Khi Lộ Bác Đức tấn công Nam Việt thì “Con cháu họ Triệu tản mát bốn phương, sau trở về Thần Phù, Hoành Sơn, là những xứ vắng vẻ không người. Khi bộ hạ đông đúc họ bèn đóng tàu thuyền thỉnh thoảng ra bể đột nhập vào nội địa cướp người ven bể, giết các quan lệnh của nhà Hán. Dân đều sợ phục, gọi là Nam Triệu, sau gọi sai là Nam Chiếu”.
So sánh 2 thông tin này thì thấy rõ nước Triệu (Nam Triệu) của Trưng Vương chính là xuất phát từ nước Nam Việt của Triệu Vũ Đế. Điều này một lần nữa xác định thêm nhận định rằng khởi nghĩa của Trưng Vương phải nổ ra vào thời Tây Hán. Trưng Vương là hậu quân của nhà Triệu Nam Việt đã rút về Phong Châu chống lại nhà Tây Hán.

IMG_3516Lễ rước của các làng trong hội đền Hát Môn.

Câu đối khác của đình Yên Dục:
Hiển thánh tích trưng Sài lĩnh mộng
Phù vương tâm bạch Hát giang ba.
Dịch nghĩa:
Di tích thờ bậc hiển thánh rạng rỡ núi Sài
Lòng sáng phò vua trào dâng nơi sông Hát.
Các câu đối ở đình Yên Dục đều nói tới mối liên quan giữa tướng Hoàng Thông với núi Sài và sông Hát. Sông Hát là nơi Trưng Vương khởi nghĩa, liên hệ với tướng Hoàng Thông thì dễ hiểu. Nhưng còn Sài Sơn ở Quốc Oai thì liên quan gì đến vị tướng này và tới khởi nghĩa Hai Bà Trưng?
Để lý giải điều này thì cần biết Sài Sơn là di tích gắn với thừa tướng nhà Triệu là Lữ Gia. Tương truyền là nghĩa quân Lữ Gia đã tử tiết ở núi Sài. Như vậy hậu quân của nhà Triệu Nam Việt chính là nghĩa quân của Lữ Gia đã rút từ Phiên Ngung về Phong Châu.
Theo thần tích của thôn Nại Xá, nơi từng có đền thờ Thi Sách, thì Trưng Vương có tên thời con gái là Ả Lã. Ả Lã nghĩa là con gái họ Lã. Trưng Vương là con gái của thừa tướng Lữ Gia. Ông Thi Sách, chồng của Trưng Vương, như thế không ai khác chính là vị vua Triệu cuối cùng của nước Nam Việt là Triệu Kiến Đức, người đã bị quân Tây Hán truy sát ở cuối sông Hát.
Mối thù không đội trời chung giữa họ Lữ – nhà Triệu với Tây Hán đã làm nên cuộc khởi nghĩa Trưng Vương và sự chống đối bền bỉ sau này của Nam Triệu – Nam Chiếu ở vùng Phong Châu – Tây Bắc Việt. Mối thâm thù này được ghi lại qua các câu đôi ở các di tích như câu đối do Cao Bá Quát đề ở cột trụ cổng đền Hát Môn:
縱不金刀天再造
未應銅柱地分疆
Túng bất kim đao thiên tái tạo
Vị ưng đồng trụ địa phân cương.
Câu đối này thường bị hiểu sai do Cao Bá Quát đã dùng phép chiết tự ở đây. Trong vế đối thứ nhất cụm từ “kim đao” 金刀 là chỉ chữ Lưu 劉, họ của các vua Hán. Câu đối này có thể được dịch như sau:
Mặc không Lưu Hán trời riêng tạo
Chẳng nhận cột đồng đất rạch biên.

img_8025-2.jpg
Ngoại đình đền Hát Môn.

Tương tự, câu đối tại đền Đồng Xâm (Thái Bình) nơi khởi nghiệp Triệu Vũ Đế:
靈跡億年遺鉄斧
帝图四百少金刀
Linh tích ức niên di thiết phủ
Đế đồ tứ bách thiểu kim đao.
Dịch:
Tích thiêng vạn năm lưu búa sắt
Đất vua bốn hướng chẳng họ Lưu.
“Thiết phủ” là chiếc búa sắt lưu ở đền Đồng Xâm, là một linh vật của đất Thái Bình, tương truyền là cây búa Triệu Vũ Đế được ban cho khi khởi nghiệp. Kim 金 đao刂là chiết tự của chữ Lưu 劉 như nói ở trên.
Câu đối ở đền thờ Lữ Gia tại chân núi Gôi (Vụ Bản, Nam Định):
趙氏有天存社稷
漢人無地出楼船
Triệu thị hữu thiên tồn xã tắc
Hán nhân vô địa xuất lâu thuyền.
Dịch:
Còn trời họ Triệu còn xã tắc
Không Hán, lên thuyền đất chẳng chung.
Họ Lữ đã cùng vua Triệu Vệ Dương Vương kiên quyết lên thuyền đi về Giao Châu chống lại Tây Hán.
Mối tương quan Triệu Vũ Đế – Lữ Gia – Trưng Vương thể hiện rất rõ. Nước Nam Việt từ Triệu Vũ Đế khởi lập không mất, mà nó được truyền thừa sang phía Tây qua cuộc khởi nghĩa của Trưng Vương, lập nên nước Nam Triệu, rồi còn hùng bá một phương tới mãi sau này với tên Nam Chiếu.

Triệu Vũ Đế và núi Trâu Sơn

Cuốn sách Nhà Triệu mấy vấn đề lịch sử do Trung tâm nghiên cứu văn hóa minh triết vừa mới xuất bản tập hợp một số bài nghiên cứu của các tác giả có tiếng hiện nay bàn về vai trò của Triệu Đà trong sử Việt với ý muốn công nhận nhà Triệu là một triều đại chính thống trong sử Việt. Các bài viết này dẫn luận khá nhiều thông tin và tư liệu thành văn, khảo cổ, tín ngưỡng dân gian. Trong số đó đặc biệt đáng chú ý là thông tin của Bảo tàng Bắc Ninh về tục thờ Triệu Đà ở tỉnh này.
Theo thống kê của các tác giả Nguyễn Văn An và Lưu Ngọc Thành trong sách này tại tỉnh Bắc Ninh hiện còn lưu giữ được các sắc phong thờ Triệu Vũ Đế ở 2 khu vực. Một là ở 2 làng Song Tháp và Đa Vạn ở thị xã Từ Sơn. Hai là ở 6 làng thuộc huyện Quế Võ là Hữu Bằng, Cựu Tự, Kim Sơn, Long Khê (xã Ngọc Xá), Châu Cầu, Thất Gian (xã Châu Phong). Các ngôi đình của 6 làng này trước đây thờ Triệu Vũ Đế và phu nhân Trình Thị làm thành hoàng làng, nay đều đã không còn. Duy nhất ở chùa Hữu Bằng (Ngọc Xá, Quế Võ) còn giữ được một bức tượng gỗ Triệu Vũ Đế, tuy đã bị hư hỏng khá nặng.

Huu BangChùa Hữu Bằng ở Ngọc Xá, Quế Võ, Bắc Ninh.

Thông tin về di tích thờ Triệu Đà ở Bắc Ninh như trên thoạt xem tưởng không có gì quan trọng so với các khu vực khác thờ Triệu Đà là Thái Bình (đền Đồng Xâm) hay Hưng Yên (đình Xuân Quan), nhưng đây lại thực là thông tin quý giá và mới mẻ về công nghiệp của Triệu Vũ Đế ở nước ta. Ở Thái Bình có nhiều di tích thờ Triệu Đà vì đó là nơi ông lấy vợ là hoàng hậu Trình Thị. Ở vùng Văn Giang – Hưng Yên có đền thờ Triệu Vũ Đế là vì đó là nơi ông từng đóng quân khi khởi nghĩa và thấy rồng bay lên (Long Hưng) trên sông Nhị Hà. Còn tại sao khu vực huyện Quế Võ lại từng có đậm đặc tục thờ Triệu Vũ Đế như vậy? Nơi này gắn với công nghiệp của vị đế vương đầu tiên của nước Nam Việt như thế nào?
Trước hết cần nhận ra rằng khu vực huyện Quế Võ (Bắc Ninh) chính là địa danh Vũ Ninh với núi Trâu Sơn, là địa danh hay được nhắc tới trong truyền thuyết Việt. Trâu Sơn nay gọi thành Châu (Châu Phong, Châu Cầu), nằm gần khu vực Lục đầu giang, trên tuyến đường quốc lộ 18 ngày nay. Đây là địa bàn rất thuận tiện cho việc giao thông cả thủy lẫn bộ, lại có núi đồi và sông nước, khá hiểm trở dễ cho việc ẩn náu, phòng thủ, tiến lui.
Về núi Trâu Sơn Truyện Giếng Việt trong Lĩnh Nam chích quái kể:
Giếng Việt ở miền Trâu Sơn huyện Vũ Ninh. Đời vua Hùng Vương thứ ba, nhà Ân cử binh sang xâm chiếm nước Nam, đóng quân ở dưới núi Trâu Sơn. Hùng Vương cầu cứu Long Quân, Long Quân truyền đi tìm bậc kỳ tài trong thiên hạ thì sẽ dẹp được giặc. Sóc Thiên vương ứng kỳ mà sinh, cưỡi ngựa sắt đánh giặc. Tướng sĩ nhà Ân đều bỏ chạy. Ân Vương chết ở dưới chân núi, biến thành vua ở địa phủ, dân phải lập miếu thờ, lâu năm suy dần đền miếu bỏ hoang.
Qua đời Chu tới đời Tần, có người nước ta là Thôi Lượng làm quan cho nhà Tần đến chức ngự sử đại phu, thường qua vùng này thấy cảnh suy tàn, chạnh lòng thương cảm, bèn sửa sang sang lạ đền miếu…
Sau các tướng Nhâm Ngao, Triệu Đà đem quân xâm chiếm phương Nam, đóng quân ở núi này.
Truyện kể Thôi Vỹ là con Thôi Lượng sau khi chữa bệnh cho Nhâm Ngao, ngã xuống hang tại núi Trâu Sơn, lạc vào Ân Vương thành, được Ân hậu tiếp đãi tiệc rượu…
Bỗng thấy có một người râu dài, bụng to tiến lên dâng biểu, quỳ xuống mà tâu rằng: “Ngày mồng 3 tháng giêng, người phương Bắc là Nhâm Ngao đã bị thần Xương Cuồng đánh chết”. Tâu xong, Hậu bèn nói: “Dương quan nhân hãy đưa Thôi công tử trở về trần thế”.
Ân hậu tiễn khách quay vào. Dương quan nhân bèn bảo Vỹ nhắm mắt, ngồi lên vai mình. Hơn một khắc sau đã đến tới đỉnh núi. Dương quan nhân biến thành một con dê đá đứng ở trong núi, nay con dê ấy còn ở sau chùa Việt Vương trên núi Trâu Sơn.
Đoạn trích này là dữ liệu cho biết khu vực núi Trâu Sơn từng có chùa thờ Triệu Việt Vương, tức là thờ Triệu Đà, hoàn toàn khớp với thông tin mà bảo tàng Bắc Ninh cho biết về tục thờ Triệu Vũ Đế ở vùng Quế Võ. Chùa Hữu Bằng (xã Ngọc Xá) nay còn tượng Triệu Vũ Đế có thể coi là ngôi “chùa Việt Vương” mà Truyện Giếng Việt đã nói tới.

Bia daHàng bia đá ở chùa Hữu Bằng.

Cũng Truyện Giếng Việt như trên cho biết Trâu Sơn là nơi mà hai tướng Nhâm Ngao và Triệu Đà đã đóng quân vào thời Tần. Nhiều thần tích khác cũng kể về việc Triệu Đà khi đánh nước Âu Lạc đã từng đóng quân ở Vũ Ninh. Như vậy nguyên do của tục thờ Triệu Đà ở đây là vì nơi đây từng là một nơi đồn quân quan trọng của Triệu Vũ Đế.
Tuy nhiên, vấn đề khó lý giải ở chỗ là chiếu theo chính sử thì Triệu Đà chưa từng sang miền Bắc nước ta bao giờ. Triệu Đà làm quan huyện Long Xuyên (ở Quảng Tây?), thay Nhâm Ngao ở Nam Hải (Quảng Đông?), rồi chiếm Quế Lâm, Tượng Quận lập nên nước Nam Việt. Mãi tới sau khi Cao Hậu nhà Hán mất, Triệu Đà mới “nhân đó, dùng uy lực uy hiếp nơi biên giới, đem đồ đạc của cải đút lót các nước Mân Việt, Tây Âu Lạc để bắt họ lệ thuộc theo mình” (Sử ký Tư Mã Thiên). Vậy tại sao lại có nhiều di tích của Triệu Đà ở Bắc Việt như vậy? Triệu Đà lấy vợ ở Thái Bình khi nào? Đóng quân ở Bắc Ninh khi nào? Thấy rồng bay lên ở Long Biên khi nào?
Di tích và tư liệu dân gian rõ ràng nói những điều khác so với cách giải thích của chính sử ngày nay về Triệu Đà. Những địa danh và những câu chuyện về thời khởi nghĩa của Triệu Đà đều nằm ở Bắc Việt. Nói cách khác, Triệu Đà vốn khởi nghĩa ở miền đồng bằng sông Hồng, chống lại nhà Tần. Đây là cuộc khởi nghĩa của người Việt kháng Tần như sách Hoài Nam tử đã chép:
Trong 3 năm, [quân Tần] không cởi giáp dãn nỏ. Giám Lộc không có đường chở lương, lại lấy binh sĩ đào cừ cho thông đường lương để đánh nhau với người Việt. Giết được quân trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống. Nhưng người Việt đều vào trong rừng, ở với cầm thú, không ai chịu để cho quân Tần bắt. Họ cùng nhau đặt người Tuấn kiệt lên làm tướng để ban đêm ra đánh quân Tần, đại phá quân Tần và giết được Đồ Thư.
“Người Tuấn kiệt” được nói tới là Triệu Đà, chứ không phải An Dương Vương như sự “tưởng tượng” của các sử gia ngày nay. “Quân trưởng Tây Âu” đã bị giết rồi, làm gì còn An Dương Vương nào lúc này nữa.

Trau Son 2Núi Trâu Sơn nhìn từ quốc lộ 18.

Chuyện người Việt bỏ vào rừng, “đánh du kích” chống quân Tần là lời giải cho tục thờ Triệu Việt Vương ở núi Trâu Sơn. Trâu Sơn là điểm đóng quân phòng thủ rất thuận lợi như đã nói ở trên, là nơi mà Triệu Đà đã cầm đầu người Việt dựa vào thế sông núi vùng Lục đầu giang mà chống Tần.
Một liên hệ khác, Truyện Đầm Dạ Trạch cũng có thông tin liên quan tới Triệu Việt Vương ở núi Trâu Sơn:
… Đến đời tiền Lý Nam Đế, bọn nhà Lương đem quân sang xâm lược, vua Lý Nam Đế sai Triệu Quang Phục làm tướng cự địch. Quang Phục đem quân ẩn nấp trong đầm. Đầm sâu rộng lớn, bùn lầy, rất khó ra vào, Quang Phục dùng thuyền độc mộc, dễ bề đi lại, quân giặc khó biết tung tích ở đâu. Đêm đến dùng thuyền độc mộc lẻn ra đột kích, đánh cướp lương thực, cầm cự lâu ngày làm cho quân giặc mệt mỏi, trong ba bốn năm không hề đối diện chiến đấu…
… Quang Phục nghe tin Nam Đế mất, bèn lên ngôi lấy hiệu là Triệu Việt Vương, xây thành ở Trâu Sơn, huyện Vũ Ninh.
Triệu Quang Phục lên ngôi thay Lý Nam Đế thì phải đóng đô ở chốn phồn hoa đô hội, chứ sao lại vào núi Trâu Sơn làm gì? Ở đây phải hiểu là thành Trâu Sơn của Triệu Việt Vương vốn là căn cứ chống giặc từ khi khởi nghĩa chưa thành công. Mạnh dạn hơn, những chuyện Triệu Quang Phục ẩn nấp trong đầm, dùng thuyền lẻn ra đột kích, chính là chuyện Triệu Đà trú quân ở núi Trâu Sơn chống Tần.
Các tài liệu tới nay rất hay nhầm lẫn Triệu Quang Phục với Triệu Đà vì cả hai đều là Triệu Việt Vương. Ví dụ, cũng trong cuốn sách mới xuất bản đã dẫn ở đầu bài có đăng ảnh đình Phù Sa (ở Yên Mô, Ninh Bình) và ghi chú là đình thờ Triệu Đà. Thực tế là đình Phù Sa thờ Triệu Quang Phục, nằm trong hệ thống các di tích thờ vua Triệu này ở vùng cửa sông Đáy (cửa Đại Ác, nơi Triệu Quang Phục theo truyền thuyết đã tử tiết).
Câu đối ở đình Phù Sa:
兜鍪聖武興南李
獨木神兵走北梁
Đâu mâu thánh vũ hưng Nam Lý
Độc mộc thần binh tẩu Bắc Lương.
Dịch:
Đâu mâu võ thánh dấy Nam Lý
Độc mộc binh thần đuổi Bắc Lương.

Phu SaĐình Phù Sa ở Yên Lâm, Yên Mô, Ninh Bình.

Sự nhầm lẫn này không phải ngẫu nhiên, mà thực ra chuyện Triệu Quang Phục chính là chuyện của nhà Triệu Nam Việt. Khởi nghĩa của Triệu Quang Phục vùng đầm Dạ Trạch là nói tới thủa ban đầu của Triệu Vũ Đế ở núi Trâu Sơn – Vũ Ninh. Sau đó, như đã biết, Triệu Vũ Đế chuyển quân về đóng ở Long Biên, nơi có di tích điện Long Hưng (Xuân Quan) ngày nay. Từ đó, đế nghiệp của họ Triệu bắt đầu hưng thịnh, với việc thấy rồng vàng bay lên trên sông Hồng.
Về đoạn sử này, Cổ Lôi ngọc phả truyền thư chép là Triệu Vũ Đế lúc nhỏ có tên là Nguyễn Thận, cùng với Chử Đồng Tử nương tựa vào nhau, mò cua bắt ốc ở bãi Tự Nhiên mà sống. Sau đó Nguyễn Thận gặp và đi theo Nhâm Ngao về Bắc. Chị ruột Nhâm Ngao lấy quan thái giám Triệu Cao, không có con, nên nhận Nguyễn Thận về nuôi, đổi tên thành Triệu Đà…
Đây là cách kể khác của phần đầu khởi nghĩa Triệu Đà – Triệu Việt Vương tại “đầm Dạ Trạch” (cùng nơi với Chử Đồng Tử) và liên quan đến Nhâm Ngao. Đầm Dạ Trạch của Triệu Việt Vương như thế không phải ở bãi Tự Nhiên (Long Biên) mà là ở Trâu Sơn – Vũ Ninh, nơi ngày nay còn ngôi “chùa Việt Vương” với tục thờ Triệu Vũ Đế tại huyện Quế Võ.

2017-08-24 (1)Vị trí các khu vực được nói tới liên quan đến Triệu Vũ Đế.

Tóm tắt lại phần khởi nghiệp của Triệu Đà ở đồng bằng sông Hồng: Triệu Vũ Đế người Chân Định (có thể là Chân Đăng, đời Trần là vùng Việt Trì – Phú Thọ như được tiến sĩ Phạm Sư Mạnh nói tới trong bài Tuần thị châu Chân Đăng), lấy vợ là bà Trình Thị ở Kiến Xương (Thái Bình). Sau đó tụ tập nhân dân Việt chống Tần ở vùng núi Trâu Sơn (Bắc Ninh). Khi Nhâm Ngao mất (bị thần Xương Cuồng vật chết) Triệu Đà tiếp vị trí của Nhâm Ngao ở Long Biên và bắt đầu cuộc khởi nghĩa kháng Tần thắng lợi.
Đây cũng chính là đoạn đầu khởi nghĩa của Lưu Bang trong Hoa sử. Lưu Bang người đất Phong (Phong Châu – Vĩnh Phú), lấy bà Lữ Trĩ (Trình Thị thiết Trĩ) ở đất Bái (Thái Bình phản thiết Bái). Một lần áp giải dân phu đi làm ở Lịch Sơn (Lịch Sơn là dãy núi giữa Tuyên Quang và Vĩnh Phúc ngày nay vẫn mang tên này), giữa đường dân phu bỏ trốn nhiều. Lưu Bang biết theo luật pháp nhà Tần quan áp giải để dân phụ trốn như thế sẽ phải chịu tội chết, nên đã thả hết dân phu và cùng nhau lên núi ẩn náu (núi Trâu Sơn – Vũ Ninh). Mười năm lẩn tránh trong núi, lấy cướp làm nghề (truyền thuyết gọi là đánh du kích ở đầm Dạ Trạch), chống đối lại nhà Tần.
Núi Trâu Sơn là địa danh Mang Đường nơi Lưu Bang tụ tập bè đảng ban đầu trong Sử ký Tư Mã Thiên. Nơi mà Lữ Hậu (Trình Thị) đã theo “khí mây” mà tìm đến với Lưu Bang.
Tới khi Tần Thủy Hoàng mất, viên huyện lệnh (Nhâm Ngao) đất Bái (lúc này là huyện Long Xuyên ở khu vực Long Biên – Từ Sơn) vì lo lắng loạn lạc nên theo lời Tiêu Hà cho mời Lưu Bang về trợ giúp. Sau đó viên huyện lệnh này lại đổi ý, dẫn tới việc nhân dân trong thành nổi dậy, giết Nhâm Ngao (Truyện Giếng Việt kể là bị thần Xương Cuồng vật chết), rồi tôn Lưu Bang làm thủ lĩnh (Bái Công). Lưu Bang chém con rắn trắng (truyền thuyết Việt chép là thấy rồng vàng bay lên ở Long Hưng), bắt đầu cuộc khởi nghĩa kháng Tần.
Rồng bay lên là lấy ý trong hào ngũ của quẻ Càn: Phi long tại thiên, chỉ việc thành nghiệp của bậc đế vương. Rõ ràng ý nghĩa của hình ảnh “Long hưng” sâu sắc hơn chuyện chém rắn như cách kể của Hoa sử.

Rong Phu SaRồng ở đình Phù Sa.

Chi tiết trong Cổ Lôi ngọc phả truyền thư chép Triệu Đà lấy họ theo Triệu Cao phải hiểu đây là Triệu Cao… Tổ, tức là Cao đế Lưu Bang. Lưu Bang trong sử Việt được chép là Lý Bôn. Triệu Quang Phục nối nghiệp của Nam Đế Lý Bôn, “hưng Nam Lý”. Triệu Quang Phục tức chính là các vị vua Triệu nước Nam Việt đã tiếp ngôi của Cao đế Lưu Bang ở miền Nam
Vấn đề Triệu Đà trong sử Việt nay nhìn nhận lại, không chỉ ở việc công nhận sự chính thống của triều đại này, mà cần làm sáng tỏ thân thế và sự nghiệp vị “Hưng đế” đầu tiên của nước Nam người Việt. Triệu Đà – Lý Bôn – Lưu Bang là một nhân vật sinh ra gặp cảnh loạn lạc, thời thế tạo anh hùng, đã buộc phải nắm lấy ngọn cờ khởi nghĩa, lật đổ nhà Tần, lập nên triều Hiếu huy hoàng của người Việt.

Các bộ tứ trong thần điện Việt: Tứ pháp

Tứ pháp là bộ bốn vị thần Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện (Mây, Mưa, Sấm, Chớp), được kể trong Truyện Man Nương. Chuyện xảy ra dưới thời Sỹ Nhiếp, liên quan tới vị sư đến từ Ấn Độ là Khâu Đà La. Tứ pháp được tạo tượng thờ từ thân cây dung thụ, nơi ẩn chứa đứa con gái của Man Nương và Khâu Đà La và được tin là các thần cầu mưa rất linh ứng.
Sự tích Tứ pháp được tóm tắt trong câu đối sau ở chùa Đậu (chùa Thành Đạo thờ Pháp Vũ ở Thường Tín, Hà Nội):
萬古仰玄功涸潤枯繁嘉惠普霑南海甸
两間鍾灝氣樹藏石化慶源溯自士王朝
Vạn cổ ngưỡng huyền công, hạc nhuận khô phồn, gia huệ phổ triêm Nam hải điện
Lưỡng gian chung hạo khí, thụ tàng thạch hóa, khánh nguyên tố tự Sỹ Vương triều.
Dịch:
Vạn năm ngưỡng phép thiêng, thấm hạn tưới khô, ơn lành phủ khắp điện Nam Hải
Hai gian đúc khí lớn, giấu cây hóa đá, nguồn tốt đến từ triều Sỹ Vương.
Thụ tàng” chỉ chuyện Man Nương sinh con, mang cho Khâu Đà La, Khâu Đà La giấu đứa bé trong cây Dung thụ, sau trở thành Tứ pháp. “Thạch hóa” chỉ chuyện phần cây Dung thụ có đứa bé con Khâu Đà La cứng như đá, rìa búa bổ vào đều mẻ. Sau được tạc thành Thạch Quang Phật.
Trong các bài viết trước đây đã từng xác định, Tứ pháp là bốn tính chất hay là hiện thân của thần dông tố Indra, vị thần tối cao của đạo Bà La Môn. Khâu Đà La và bản thân Sỹ Nhiếp là những tu sĩ theo Bà La Môn giáo.

Bia chua DauBia đá “Tu tạo Pháp Vũ tự bi” chùa Đậu.

Chùa Đậu ở Thường Tín còn gọi là chùa Vua, không phải là chùa dành cho vua chúa (Sỹ Nhiếp không xưng vua), mà là chùa thờ Vua. Vua ở đây là thần Phạm Thiên – Đế Thích của đạo Bà La Môn. Chùa này theo các tư liệu vốn có tên là Kính Thiên điện hay điện thờ Trời.
Tương tự, ở thành phố Hà Nội cũng có chùa Vua thờ thần Đế Thích. Khu vực chợ gần đó gọi là chợ Trời, không phải là chợ ở ngoài trời, mà là khu vực thờ ông Trời. Chùa Vua đúng tên mà nay còn ghi ở đó là Thiên Đế điện.
Đế Thích là vị thần cai quản thời tiết và chiến tranh. Cũng vì vậy mà dân gian kể thành ra Đế Thích rất giỏi chơi cờ. Chơi cờ tướng là nghệ thuật điều binh khiển tướng, tức là tổ chức chiến tranh.

Thiên Đế điện – chùa Vua Hà Nội.

Đạo Bà La Môn như vậy rất thịnh hành dưới thời Sỹ Nhiếp ở cả miền Bắc và miền Trung Việt. Họ Phạm của Sĩ Nhiếp cũng như họ Phạm ở Lâm Ấp có thể vừa là pháp danh trong đạo, vừa là họ. Trong quan niệm của Bà La Môn thì tầng lớp thống trị là con của thánh thần. Thần Bà La Môn là Phạm Thiên nên người cai quản đất nước cũng mang họ Phạm.
Như thế trung tâm Luy Lâu vốn khởi đầu không phải là bởi Phật giáo mà là đạo Bà La Môn. Chỉ sau khi Sỹ Nhiếp mất thì Phật giáo ở đây mới bắt đầu nổi lên, bằng sự xuất hiện của sư tổ Khương Tăng Hội, chép dịch kinh và truyền đạo. Việc Khương Tăng Hội từng sang Kiến Nghiệp để thuyết giáo cho Tôn Quyền nay có thể hiểu lại.
Khi Sỹ Nhiếp mất, Tôn Quyền cho Lữ Đại sang thay họ Sỹ – Phạm cai quản Giao Châu. Việc Đông Ngô khuyến khích Phật Giáo ở Giao Châu như thế còn có ý nghĩa về chính trị, nhằm loại bỏ “tàn dư” của thời Sỹ Nhiếp do Bà La Môn giáo thống trị. Giao Châu từ đó chuyển sang chịu ảnh hưởng của đạo Phật. Trong khi khu vực miền Trung vẫn tiếp tục do họ Phạm lãnh đạo và tiếp tục theo Bà La Môn giáo. Khương Tăng Hội không chỉ từ Giao Châu sang thuyết giáo Tôn Quyền mà có thể đã dựa vào Tôn Quyền để khuếch trương Phật giáo tại Giao Châu, nơi vốn là lãnh địa của Bà La Môn giáo họ Phạm.
Vị sư tổ Thiền tông Khương Tăng Hội đã soạn các bản kinh bằng chữ Nho rõ ràng là với mục đích truyền bá Phật Giáo ở Giao Châu sau thời Sỹ Nhiếp. Tác phẩm Lục độ tập kinh của Khương Tăng Hội do đó không phải là kinh nguyên văn của Ấn Độ được dịch mà là sách do Khương Tăng Hội sáng tác với mục đích truyền giáo vào Giao Châu – Trung Quốc. Chính vì vậy mà trong Lục độ tập kinh ta thấy xuất hiện có những mô típ điển hình của truyền thuyết Việt như chuyện sinh trăm trứng hay chuyện sừng tê bảy tấc rẽ nước (An Dương Vương). Thiền sư Lê Mạnh Thát đã từng lấy đây làm dẫn chứng để cho rằng các truyền thuyết của nước ta là đi chép từ kinh của Ấn Độ. Như vậy là không hợp lý. Ngược lại, đây là những truyền thuyết Việt đã được Khương Tăng Hội vận dụng đưa vào trong kinh Phật để cho phù hợp với tâm lý và tư tưởng người Việt khi mới truyền giáo. Thủ pháp truyền giáo này được áp dụng ở thời kỳ đầu du nhập đạo Phật sang phương Đông như thời Đông Tấn có sư Tuệ Viễn đã dùng các điển tích của Trang Tử để giảng đạo Phật ở Trung Quốc.
Việc một khu vực chuyển từ ảnh hưởng của Bà La Môn giáo sang Phật giáo gặp rất phổ biến ở thời kỳ đầu của Phật giáo. Sự việc này được hình ảnh hóa thành ra 2 vị thần tối cao của Bà La Môn giáo là Indra (Đế Thích) và Brahma (Phạm Thiên) trở thành 2 vị hộ pháp khi Phật tổ ra đời. Trong các chùa ngày nay thường gặp tượng của Phạm Thiên và Đế Thích đặt ở 2 bên tượng Cửu long (Thích Ca sơ sinh) hoặc thờ thành ban Đức Ông riêng.

Duc OngBan thờ Đức Ông chùa Bộc.

Ở chùa Bộc có ban thờ Đức Ông nằm phía bên trái chính điện. Bức tượng Đức Ông này có quần áo trang phục như một vị vua và được cho là hình tượng của vua Quang Trung. Tuy nhiên, đôi câu đối hai bên ban thờ này chép:
洞裡無塵大地山河留棟宇
光中化佛小天世界轉風雲
Động lý vô trần, đại địa sơn hà lưu đống vũ
Quang trung hóa Phật, tiểu thiên thế giới chuyển phong vân.
Dịch:
Trong động bụi không, đất rộng núi sông lưu đền mái
Giữa quang phật hóa, một trời thế giới chuyển gió mưa.
Đoạn câu đối “tiểu thiên thế giới chuyển phong vân” là chỉ thần Đế Thích, vị thần cai quản chuyện làm mưa làm gió ở trên thế giới này đã theo Phật. Tứ pháp, Vân Vũ Lôi Điện, là hiện thân của thần Đế Thích, bắt nguồn từ Bà La Môn giáo du nhập vào Giao Châu dưới thời Sỹ Nhiếp. Sau này, từ khi Khương Tăng Hội soạn kinh và truyền giáo ở Giao Châu thì các điện thờ Tứ pháp mới chuyển hóa thành các chùa thờ Phật.

Bàn về loại gạch Lý gia đệ tam đế Long Thụy Thái Bình tứ niên tạo

Loại gạch có dòng chữ  Lý gia đệ tam đế Long Thủy Thái Bình tứ niên tạo là loại gạch sớm nhất của nhà Lý còn để lại cho tới nay. Loại gạch này gặp ở một số di tích quan trọng, cụ thể là:
1. Hoàng thành Thăng Long: đây là lớp gạch gặp khá nhiều, nằm trên các lớp gạch Giang Tây quânĐại Việt quốc quân thành chuyên. Ở Thăng Long loại gạch này còn dùng để xây tháp Báo Thiên (nay đã mất dấu tích) vì Phạm Đình Hổ trong sách Tang thương ngẫu lục đã chép:
… Những hòn gạch hoa, hòn viên nào cũng khắc chữ “Lý gia đệ tam đế Long Thụy Thái Bình tứ niên tạo”. Lại có câu thơ:
Lý Thị cố cơn thành mậu thảo
Thái Bình duy tích uỷ tàn chuyên.
(Lý Thị nền xưa vùng cỏ tốt
Thái Bình hiệu cũ đống sành hoang). 

P1120725

2. Chùa Phật Tích, Bắc Ninh: Ngôi chùa này nổi tiếng với bức tượng Phật ngồi trên tòa sen của đời Lý. Dưới nền chùa Phật Tích ở Tiên Du, Bắc Ninh đã phát hiện một nền tháp được xây dựng có sử dụng loại gạch Lý gia đệ tam đế Long Thụy Thái Bình tứ niên tạo (ảnh từ Internet).

cdv-nenmong-10_jpg

3. Tháp Tường Long, Đồ Sơn, Hải Phòng:
Ở trên dãy Đồ Sơn còn một nền tháp khá lớn được xây dựng bằng những viên gạch Lý gia đệ tam đế Long Thụy Thái Bình tứ niên tạo. Tương truyền rằng vua Lý Thánh Tông khi đi qua đây, đêm nằm mộng thấy rồng vàng xuất hiện, nên cho xây một tòa tháp cao, đặt tên là Tường Long. Di vật còn lại ở khu vực này ngoài nền gạch có nhiều viên gạch có chữ còn có một phần bệ tượng Phật thời Lý trang trí tương tự như bệ tượng Phật ở chùa Phật Tích.

IMG_5731 (2)So sánh các viên gạch ở 3 địa điểm khác nhau trên có thể thấy những viên gạch này đều làm theo một tiêu chuẩn, hình chữ nhật, ở chính giữa có ô gồm 2 dòng chữ 李家第三帝龍瑞太平四年造 (Lý gia đệ tam đế Long Thụy Thái Bình tứ niên tạo) bằng loại chữ khải khá đẹp và giống nhau.
Khó có thể chấp nhận rằng những viên gạch này làm từ cùng một chỗ, rồi mang vận chuyển đi các nơi cách xa nhau như vậy để xây. Nhiều khả năng khuôn chữ và khuôn gạch là thống nhất, từ một chỗ. Còn gạch được sản xuất ở từng địa phương có di tích.
Dù thế nào thì sự đồng nhất giữa các viên gạch này cho thấy các di tích này được làm một cách tập trung từ triều đình của Lý Thánh Tông, cùng một lúc, cùng một khuôn, chứ không phải hành động ngẫu nhiên của các địa phương. Bản thân chữ “tạo” trên gạch có thể không phải chỉ là làm ra viên gạch đó, mà là chỉ công trình dùng loại gạch này được xây dựng năm như ghi trên gạch. Nói cách khác, những viên gạch này là một dạng văn bia của các di tích mà chúng được dùng để xây nền móng.
Về nghĩa, Lý gia đệ tam đế thì đã rõ là vua Lý Thánh Tông. Nhưng tại sao gạch xây thành Thăng Long lại là gạch của vua Lý Thánh Tông chứ không phải Lý Thái Tổ? Lý Thái Tổ theo sử sách hiện tại đã cho dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, nhân đi trên sông Hồng thấy rồng vàng bay lên nên đặt tên kinh thành là Thăng Long. Nhưng tại sao không tìm thấy viên gạch nào mang niên hiệu Thuận Thiên của Lý Thải Tổ ở Thăng Long cũng như ở các nơi khác? Thay vào đó lại là việc xây dựng thành Thăng Long và một loạt các điểm khác dưới thời Lý Thánh Tông, năm thứ 4.
Căn cứ vào hiện vật khảo cổ để lại là những viên gạch được ghi chữ rõ ràng thì người xây thành Thăng Long, và hiển nhiên cũng là người đã dời đô ra Thăng Long, phải là vị vua thứ ba của nhà Lý là Lý Thánh Tông.
Thêm vào đó Lý Thánh Tông mới là người đã đặt tên nước là Đại Việt. Trước đó, 2 vị vua đầu nhà Lý không thấy sử sách chép gọi tên nước là gì. Như thế Lý Thánh Tông khi lên ngôi đã chính thức xưng hoàng đế, đặt tên nước là Đại Việt và tiến hành dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long.

IMG_5704

Một phần bệ tượng Phật và chân cột chạm hoa sen còn lại ở khu tháp Tường Long.

Còn sự kiện thấy rồng bay lên trên sông Hồng được xác nhận bằng di tích tháp Tường Long ở Đồ Sơn của Lý Thánh Tông. Tường Long nghĩa là rồng hiện hình tỏ tường. Tháp Tường Long nằm trên dải núi Đồ Sơn hình như một con rồng 9 khúc đang ngậm ngọc (đảo Hòn Dấu). Đồ Sơn cũng rất gần với của sông Hồng đổ ra biển là cửa Thái Bình. Nếu tính đường sông thì từ kinh đô Thăng Long tiến ra biển gần nhất chính là đi về cửa Thái Bình giữa Hải Phòng và tỉnh Thái Bình ngày nay.
Đặc biệt, niên hiệu của vua Lý Thánh Tông ghi trên gạch cũng liên quan tới sự kiện này. Long Thụy Thái Bình nghĩa là chỉ điềm rồng (long thụy) khi vua lên ngôi (thái bình), hoặc thậm chí chỉ rồng bay lên trên đất Thái Bình, tức là khu vực Đồ Sơn.
Con Rồng ở đất Thái Bình có khả năng chỉ… Lạc Long Quân, mà được vùng này thờ là vua cha Bát Hải Động Đình tại đền Đồng Bằng (Quỳnh Phụ, Thái Bình). Câu đối ở đền Đồng Bằng:
四千年國俗尚神捌海龍飛傳異蹟
十八號雄朝出世洮江虎略振靈聲
Tứ thiên niên quốc tục thượng thần, Bát Hải long phi truyền dị tích
Thập bát hiệu Hùng triều xuất thế, Đào giang hổ lược chấn linh thanh.
Dịch:
Bốn nghìn năm nước gọi thượng thần, biển Bát rồng bay truyền tích lạ
Mười tám hiệu triều Hùng xuất thế, sông Đào hổ lược dậy danh thiêng.
Những viên gạch Lý gia đệ tam đế Long Thụy Thái Bình tứ niên tạo là bằng chứng xác thực việc thiên đô từ Hoa Lư ra Thăng Long đã xảy ra dưới thời Lý Thánh Tông. Lịch sử của nhà Lý do đó buộc phải xem xét lại, để trả về đúng vị trí và công nghiệp cho 3 vị vua đầu triều Lý.

Đồng Cổ Sơn thần là ai?

Bài của tác giả Hoàng Tuấn Công cho rằng các đền Đồng Cổ ở Thanh Hóa không phải là thờ thần trống đồng mà là thờ thần núi Tam Thai hay núi Khả Lao.
http://nongnghiep.vn/den-dong-co-tho-ai-post159518.html
Xin bàn thêm về ý kiến này.

IMG_9156Đền Đồng Cổ ở phố Thụy Khê, Hà Nội.

Trong thần điện Việt không có “thần núi” với nghĩa là quả núi được tôn lên thành thần. Người Việt không thờ những vật thiên nhiên làm thần, mà chỉ tôn thờ những nhân vật có thật làm thần. Những cái tên gọi kiểu Thần núi, Thần sông… là chỉ “chức danh” của các vị thần, hay của các nhân vật có thật được tôn vinh. Nó tương tự như có ông Chủ tịch phường nhưng ông ta là người thật chứ không phải là “cái phường” được tôn làm Chủ tịch.
Hiểu như vậy thì Đồng Cổ Sơn thần đúng là một vị thần núi, nhưng là một nhân vật lịch sử được đảm nhận vai trò làm thần ở núi Đồng Cổ. Nhân vật đó là ai?
Trong bài trên có dẫn sách Thanh Hóa kỷ thắng:
“…Trong đền thờ thần có trống đồng (…). Nguyên thần là tinh khí của trái núi, rất linh ứng. Xưa Hùng vương đi đánh Chiêm Thành trú binh dưới chân núi Khả Lao, đêm mộng thấy thần nhân nói rằng:
– Nguyện được đem trống đồng đi phù trợ vương chiến thắng.”
Như thế vị thần Đồng Cổ này đã có từ thời Hùng Vương, dùng trống đống trợ vua đánh giặc Chiêm Thành.
Câu đối ở đền Đồng Cổ (Thụy Khê, Hà Nội):
可牢山毓秀鍾英萬古灵聲長不泯
蘇瀝水营祠勒石前朝御墨尚留香
Khả Lao sơn dục tú chung anh, vạn cổ linh thanh trường bất miến
Tô Lịch thủy doanh từ lặc thạch, tiền triều ngự mặc thướng lưu hương.
Dịch:
Núi Khả Lao sinh tú đúc anh, vạn cổ tiếng thiêng dài bất tận
Nước Tô Lịch lập đền khắc đá, tiền triều đề ngự lưu tôn hương.
Chiếu theo dòng sử mới thì vị thần trồng đống chính là Cao Lỗ. Phân tích từ ngữ ta thấy Khả Lao và Cao Lỗ là tương đồng:
– Khả = Cả = Cao
– Lao = Lão = Lỗ, vốn là từ chỉ nước Lào hay nước Lỗ xưa.
Còn có Khả Lao đọc phản thiết là Khao Lả = Cao Lỗ.
Khả Lao hay Cao Lỗ nghĩa là vị thủ lĩnh đứng đầu nước Lỗ hay nước Lào.
Vị trí nước Lỗ xưa là vùng lưu vực sông Mã, tức là phần Bắc Lào và vùng Thanh Hóa ngày nay. Đó cũng là nơi có thần Đồng Cổ và có những nơi sản xuất trống đồng từ xa xưa ở Đông Sơn.
Như vậy Đồng Cổ Sơn Thần chính tướng quân Cao Lỗ hay vị thái sư Chu Công của nhà Chu.
Sự tích Cao Lỗ chế nỏ thần từ chiếc móng rùa của thần Kim Quy chỉ việc Chu Công viết hào từ để hoàn thiện bộ Kinh Dịch, và cũng là chỉ việc Cao Lỗ chế tạo trống đồng, một pho sách Dịch khắc trên đồng. Nhà Hạ có Liên Sơn Dịch, là Dịch khắc trên đá núi. Nhà Thương có Quy Tàng Dịch, là Dịch khắc trên mai rùa (trong hình tượng Thanh Giang – Thương sứ Kim Quy). Còn nhà Chu nay với phát hiện Trống đồng là chiếc nỏ thần của Chu Công – Cao Lỗ thì có thể gọi là Đồng Cổ Dịch – Dịch đúc trên trống đồng. Trống đồng – Dịch lý là ánh sáng soi đường cho người Việt trong đời sống cũng như trong việc chống ngoại xâm.
Đồng Cổ Dịch hay Dịch trống đồng một lần nữa xác định chủ nhân của Kinh Dịch là người Việt và lịch sử văn hoá phương Đông buộc phải viết lại.

Các bộ tứ trong thần điện Việt: Hoa Lư Tứ trấn

Hoa Lư là kinh đô đầu tiên của nước ta tính từ thời phục hưng – độc lập, từ khi Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi tới khi nhà Lý dời đô về Thăng Long. Là kinh đô nên nơi đây cũng có bộ 4 vị thần đóng vai trò Tứ trấn, trấn giữ 4 phương của kinh thành. Không có tư liệu nào cho biết chính xác phương vị của Tứ trấn Hoa Lư, nhưng khi xét từng vị một sẽ thấy cần xoay lại phương vị này một góc 90 độ ngược chiều kim đồng hồ so với quan niệm hiên nay.
Hoa Lư nằm phía Nam của thành Thăng Long nên ở 2 phương vị Bắc và Nam, tứ trấn Hoa Lư trùng với tứ trấn Thăng Long.

Trấn Bắc – Thiên Tôn: Thiên Tôn là cách gọi khác của Huyền Thiên đại thánh mà thôi vì Lão Tử trong Đạo Giáo là Thái Thanh Đạo Đức Thiên Tôn. Thiên Tôn – Huyền Thiên phải là vị thần trấn Bắc, không thể là trấn Đông như quan niệm hiện tại ở Hoa Lư.
Công nghiệp của vị Thiên Tôn ở Hoa Lư trùng khớp với Huyền Thiên ở Cổ Loa, với thành tích chủ yếu là giúp Thục An Dương Vương xây thành. Nơi thờ chính là ở thôn Đa Giá (Ninh Mỹ, Hoa Lư). Tại đây có động Thiên Tôn và đền Đa Giá thờ thần. Ngọn núi nơi có động Thiên Tôn cũng được gọi là núi Vũ Đương Sơn, tức là ngọn núi mà Huyền Thiên đã tu hành trong truyền thuyết.
Động Thiên Tôn là một di tích rất cổ, là tiền đồn cửa ngõ của Hoa Lư. Ở đây tìm thấy cả những viên gạch Giang Tây quân (thời Đường) và Đại Việt quốc quân thành chuyên (thời Đại Việt) như dưới nền thành Hoa Lư. Phía trên động có một chùa nhỏ, nhưng không thờ Phật, mà thờ Tam Thanh (của Đạo Giáo) cùng với Quan Âm Diệu Thiện và cha mẹ của bà là Trang Vương và hoàng hậu. Chùa này cùng với động Thiên Tôn tương truyền do Cao Biền xây.
Tại sao Hoa Lư lại lấy thần Thiên Tôn làm thần trấn giữ cửa ngõ kinh thành? Nếu Cổ Loa là nơi Huyền Thiên – Lão Tử thành nghiệp, thì Ninh Bình rất có thể chính là quê hương, nơi sinh của Lão Tử – Thiên Tôn. Đó là lý do vì sao thần Thiên Tôn lại rất gắn bó với Hoa Lư.

Gach Dai Viet

Mảnh gạch có chữ Đại Việt ở động Thiên Tôn.

Trấn Đông – Quý Minh: Hiện tại vị thần này đang được cho là thần trấn Nam của Hoa Lư. Đền thờ chính của thần là đền Trần trong quần thể di tích danh thắng Tràng An. Trần là chữ ghép Đông A, chỉ vị thần trấn Đông.
Vì ở Hoa Lư có cả thần Cao Sơn và Quý Minh nên nhiều tác giả đã nhầm lẫn khi cho rằng đây là 2 người anh em của Tản Viên Sơn Thánh. Ở núi Ba Vì đúng là có bộ ba Tản Viên, Cao Sơn và Quý Minh, nhưng đó đều là các thần núi. Thần Quý Minh ở Hoa Lư lại là một vị thủy thần. Lễ hội Tràng An đặc trưng bởi tiết mục đua thuyền rồng, thể hiện rõ điểm này.
Trong đền Trần Tràng An còn có tượng thờ Quý Nương, là mẹ của Quý Minh. Đây cũng là điểm để phân biệt với thần Quý Minh trong Ba Vì. Quý Nương hay nàng Ba (trong thứ tự Mạnh, Trọng, Quý) là mẹ của vua cha Bát Hải Động Đình, vị thủy thần của biển Đông đánh Thục 4000 năm trước. Quý Minh tức là vị Quan thứ Ba hay Quan lớn đệ Tam Thoải phủ, là anh em cùng bọc trứng với vua cha Bát Hải. Vua cha Bát Hải như đã nói trong bài về Tứ phủ là Lạc Long Quân.
Quan lớn đệ Tam là người đứng đầu (Trưởng Lệnh) thủy binh của Lạc Long Quân, đứng đầu Ngũ vị tôn quan của ban Công đồng trong Tứ phủ. Nơi đóng quân và nơi hóa của vị này là ở Yên Lệnh (nơi an nghỉ của Trưởng Lệnh) hay ở đền Lảnh (Duy Tiên, Hà Nam). Phạm vị phía Đông Hoa Lư thuộc về khu vực hoạt động của Quan đệ Tam. Do đó Hoa Lư lấy Quý Minh làm thần trấn Đông là hợp lý.

Trấn Nam – Cao Sơn: Trong bài về Thăng Long Tứ trấn đã bàn nhiều tới nhân vật trấn Nam Cao Sơn và xác định đó là Cao Biền, thầy phong thủy nổi tiếng thời Đường. Cao Biền không chỉ là người xây thành Đại La mà còn là người xây thành cả Hoa Lư. Những viên gạch Giang Tây quân của Tĩnh Hải Tiết độ sứ Cao Biền xác thực việc này. Ngay chi tiết tiền đồn của Hoa Lư là động Thiên Tôn do Cao Biền xây cũng là dẫn chứng khác về đóng góp của Cao Biền với thành Hoa Lư. Cao Biền đánh giặc Nam Chiếu, tiến tới sào huyệt khởi nguồn của Nam Chiếu ở Nghệ Tĩnh, cho sửa chùa Hương Tích trên núi Hồng Lĩnh. Đó là vì sao ở động Thiên Tôn lại có di tích của Cao Biền dựng để thờ Quan Âm Diệu Thiện và Trang Vương (là 2 người thờ ở chùa Hương Tích – Hà Tĩnh).
Trấn Nam của Hoa Lư do đó là thần Cao Sơn hay Cao Biền – Cao Hiển. Một trong những nơi thờ  Cao Sơn là chùa Bái Đính cũ.
Theo bia ở đền Kim Liên thì nơi các vị tướng của Lê Tương Dực gặp đền Cao Sơn trong rừng là ở huyện Phụng Hóa, thuộc Nho Quan hoặc Tràng An, chưa rõ chính xác nơi nào.

Dam HoaBan thờ vợ Cao Hiển ở đình Đại Bạch Mai.

Khảo cứu thêm, tại sao trấn Nam Cao Sơn đại vương lại là Cao Biền. Đền Kim Liên, nơi thờ chính của thần Trấn Nam Thăng Long Cao Sơn có tấm bia đá cổ được vớt ở bến Bồ Đề về kể lại sự việc thần hiển linh giúp Lê Tương Dực dẹp loạn lên ngôi. Hội đền Kim Liên khi tổ chức vào ngày 15-16/3 Âm lịch hàng năm đều có nơi là Bạch Mai, Phương Liệt và Quỳnh Lôi rước kiệu đến, chứng tỏ những nơi này thờ cùng một vị thần với đền Kim Liên. Tuy nhiên, đình Đại, nơi cũng thờ Trấn Nam Cao Sơn đại vương ở Bạch Mai, lại có thần tích chép đó là Cao Hiển, người Bắc quốc…
Câu đối ở đình Đại Bạch Mai:
凌雲彩筆星斗動文光飄然身上僊宮出世名留前北史
浮水石碑古今傳異事獨是匡扶帝統平胡功在我南邦
Lăng vân thái bút tinh đẩu động văn quang, phiêu nhiên thân thượng tiên cung, xuất thế danh lưu tiền Bắc sử
Phù thủy thạch bi cổ kim truyền dị sự, độc thị khuông phù đế thống, bình Hồ công tại ngã Nam bang.
Dịch:
Bút sáng tỏa mây, sao Đẩu động ánh văn, thân nhẹ bay lên cung tiên, xuất thế danh lưu sử Bắc trước
Bia đá dạt sông, xưa nay truyền sự lạ, một tay phù trợ triều đế, dẹp Hồ công ở nước Nam ta.
Vế đối đầu nói ca ngợi văn tài của Cao Hiển khi đỗ đạt ở Bắc quốc. Vế đối sau đề cập rất rõ chuyện bia đá trôi sông được vớt lên, và chuyện phù trợ Lê Tương Dực lên ngôi. Tức là khẳng định Cao Hiển ở đình Đại cũng chính là Cao Sơn đại vương của đền Kim Liên. Cũng là người đã đánh giặp giặc Hồ ở nước Nam.
Hoành trướng ở đình Đại: Lưỡng quốc phong vương hiệu, chỉ ra rằng Cao Sơn đại vương là người Bắc được phong thần ở nước Nam. Đình Đại Bạch Mai còn thờ cả vợ ông Cao Hiển, cũng như đình Phương Liệt thờ bà Đàm Hoa là vợ Cao Sơn.

Luong quocHoành trướng Lưỡng quốc phong vương hiệu ở đình Đại Bạch Mai.

Việc liên hệ Cao Hiển với Cao Biền không phải chỉ bây giờ mới có. Trong Hải Dương địa dư, tổng đốc Hải Dương thời Nguyễn là Phan Tam Tinh đã nhận xét về đền thần Cao Vương ở Hải Dương như sau:
Nay khảo xem quan chế đời Tống không thấy có chức Đại thừa tướng, quan danh sử truyện cũng không có bề tôi nào họ Cao tên Hiển cả. Vả, Khánh Lịch ngang với đời vua Lý Thái Tông, Cao Vương có công với nhà Tống thì nhà Tống thờ là đáng, cớ chi lập miếu thờ lại sang cả nước ta? Duy Cao Biền nhà Đường là Quận vương Bột Hải, từng sang làm Tiết độ sứ [nước ta], hoặc trước kia tướng tá có lập đền thờ, rồi dân sở tại nhân đấy mà thờ, cứ thế truyền sai đi mà thôi.

Trấn Tây – Không Lộ thiền sư: Như vậy vị trí còn lại là trấn Tây phải dành cho Không Lộ thiền sư. Ở Hoa Lư vị này được chép là Nguyễn Minh Không, quê ở Đàm Xá (Gia Viễn, Ninh Bình). Nay ở Đàm Xá còn đền thờ thánh Nguyễn khá đẹp. Nguyễn Minh Không có công chữa bệnh cho vua Lý nên được phong là Lý triều quốc sư… Tuy nhiên, thân thế sự nghiệp của vị quốc sư này còn rất nhiều điều chưa sáng tỏ.
Một trong những nơi thờ chính của Không Lộ thiền sư là chùa Keo tại làng Hành Thiện (Xuân Hồng, Xuân Trường, Nam Định). Ở đây sự tích của vị thiền sư này lại bị lẫn lộn với vị Dương Không Lộ, cũng là thiền sư nhưng quê ở Thái Bình.
Cũng tại Hành Thiện còn có ghi chép cho rằng Không Lộ thiền sư là đạo sĩ Thông Huyền trong câu chuyện hai vị Giác Hải và Thông Huyền hạ tắc kè thời Lý Nhân Tông. Vua lấy đó làm lạ, làm một bài thơ khen:
Giác Hải tâm như hải
Thông Huyền đạo lại huyền
Thần thông cùng biến hóa
Một Phật, một thần tiên.
Nếu Giác Hải là tu Phật thì Thông Huyền là một đạo sĩ (“thần tiên”). Mà bản thân Không Lộ thiền sư có lẽ không hẳn là người tu Phật hoặc tu theo dòng Mật tông, chứ không phải Thiền tông. Với những gì ông làm như đi trên không, có phép rút đất, chữa bệnh cho vua… thì có vẻ ông là một pháp sư (thầy phù thủy) hơn là một tăng sĩ của đạo Phật. Việc đặt Không Lộ thiền sư vào một trong Tứ trấn Hoa Lư cũng cho thấy ông là một pháp sư, giỏi nghề trấn yểm.

Dai phap su

Hoành phi Đại pháp sư ở trước cung cấm chùa Keo Hành Thiện.

Bia đá tại chùa Keo Hành Thiện ghi rõ: ”Thần Quang tự Đại pháp sư bi”. Tức là gọi Không Lộ là Đại pháp sư. Hoành phi trong chùa cũng ghi vậy. Đôi câu đối về Không Lộ thiền sư ở chùa Keo Hành Thiện:
幽秘會三玄地可縮天可升靈跡渺茫四器併隨雷雨化
神通超六智水衣濡火衣熱塵寰遊戱百針特為帝王醫
U bí hội tam huyền, địa khả súc, thiên khả thăng, linh tích diểu mang, tứ khí tinh tùy lôi vũ hóa
Thần thông siêu lục trí, thủy bất nhu hỏa bất nhiệt, trần hoàn du hí, bách châm đặc vị đế vương y.
Dịch:
Thâm bí đủ tam huyền, phép rút đất, phép bay không, tích thiêng mênh mông, bốn vật hội theo mưa sấm hóa
Thần thông vượt lục trí, nước không chìm, lửa không nóng, cõi trần dạo chơi, trăm kim chuyên chữa bệnh đế vương.

Buc cham Hanh Thien 2

Một mảng chạm bên nóc mái ngoài cung cấm chùa Keo Hành Thiện.

Còn một liên hệ khác, đó là chuyện Pháp sư diệt Mộc tinh được nói tới trong Lĩnh Nam chích quái. Truyện Mộc tinh có đoạn cuối như sau:
…Đến đời vua Đinh Tiên Hoàng có pháp sư Văn Du Tường vốn người phương bắc, đức hạnh thanh cao, đã từng đi qua nhiều nước, biết được tiếng các dân man, học được thuật làm nanh vàng và răng đồng, năm hơn 80 tuổi sang nước Nam ta. Tiên Hoàng lấy lễ thầy trò mà tiếp, pháp sư bèn dạy cho nghề tạp kỹ để làm trò vui cho thần Xương Cuồng xem mà giết y. Đoàn tạp kỹ này có Thượng Kỵ, Thượng Can, Thượng Hiểm, Thượng Đát, Thượng Toái, Thượng Câu. Hàng năm tới tháng 11 lại dựng lầu Phi Vân cao 20 thước, dựng một cây đứng ở trong, tết vỏ gai làm dây chão dài 136 thước, đường kính rộng 2 tấc, lấy mây mà quấn ngoài rồi chôn hai đầu dây xuống đất, giữa gác lên cây. Thượng Kỵ đứng lên trên dây mà chạy nhanh 3,4 lần, đi đi lại lại mà không ngã. Kỵ đầu đội khăn đen, mình mặc quần đen. Dây của Thượng Can dài 150 thước, có một chỗ mắc chạc ba. Can hai tay cầm hai cán cờ. Hai người đi trên dây, gặp nhau ở chỗ chạc ba thì lại tránh, lên xuống mà không ngã. Khi thì Thượng Đát lấy một tấm gỗ lớn rộng 1 thước 3 tấc, dày 7 tấc đặt lên trên cây cao 17 thước 3 tấc, Đát đứng ở trên nhảy 2, 3 cái, tiến tiến lùi lùi điên đảo. Khi thì Thượng Toái lấy tre đan thành lồng hình như cái lờ bắt cá, dài 5 thước, tròn 4 thước rồi chui vào đứng thẳng mình mà lăn. Khi thì Thượng Câu vỗ tay nhảy nhót, la hét kêu gào, chuyển động chân tay, vỗ đùi vỗ bụng, tiến lùi lên xuống, hoặc cưỡi ngựa bôn tẩu, cúi mình xuống lấy vật ở dưới đất mà không ngã. Khi thì Thượng Hiểm ngả mình nằm ngửa lấy thân đỡ một cái gậy dài rồi cho đứa trẻ trèo lên mà không rớt xuống. Khi thì cho bọn ca hát gõ trống khua chiêng, ca múa rầm rĩ. Lại giết súc vật mà tế. Thần Xương Cuồng tới, thấy thế bèn đến xem, pháp sư đọc mật chú rồi lấy kiếm mà chém. Thần Xương Cuồng cùng bộ hạ đều chết hết, không thể trở lại thành yêu nữa. Lệ tiến lễ hàng năm bèn bỏ, dân lại sống yên lành như xưa.
Cái tên pháp sư Văn Du Tường nếu so ra với Dương Không Lộ thì rất gần nhau. Tường – Dương. Văn Du hay Vân Du, cùng nghĩa với Không Lộ. Như đã biết, thời Đinh của nước ta chính là thời kỳ đầu của nhà Lý. Vì thế nói pháp sư thời Đinh thì cũng là Lý pháp sư hay Lý triều quốc sư.
Không Lộ ở Ninh Bình còn được gọi là ông Khổng Lồ, là người có những sự tích kỳ lạ như gánh núi, bắt cá… Nay nếu ông Khổng Lổ có thêm “chặt cây”, diệt Mộc tinh thì cũng là tương đồng.
Đặc biệt hơn nữa, trong văn hóa dân gian còn bảo lưu được tục diễn trò rối đầu gỗ ở khu vực Nam Định. Trò này còn gọi là trò Ổi Lỗi mà trung tâm là 6 đầu rối bằng gỗ, gọi là các thánh tượng, được diễn với nghi thức thờ thánh, tức là thờ các vị “pháp sư” Từ Đạo Hạnh và Không Lộ. 6 “thánh tượng” này do đó rất giống với 6 vị đoàn tạp kỹ biểu diễn của pháp sư Văn Du Tường là: Thượng Kỵ, Thượng Can, Thượng Hiểm, Thượng Đát, Thượng Toái, Thượng Câu. Thánh tượng đọc thiết âm là Thượng. Như thế 6 nhân vật tham gia diễn trò trừ thần Xương Cuồng là 6 thánh tượng Kỵ, Can, Hiếm, Đát, Toái, Câu. Sự tích pháp sư trừ thần Xương Cuồng hóa ra thuộc về Không Lộ thiền sư.

Buc cham Hanh Thien 3

Mảng chạm những đầu người đầy thần bí ở chùa Keo Hành Thiện.

Để kết thúc khảo cứu tổng hợp về Tứ trấn, xin bàn thêm về vai trò của các pháp sư trong lịch sử. Có thể thấy thời đại nào các pháp sư cũng đóng vai trò quan trọng, tham gia vào chính sự của đất nước. Từ thời Hùng Vương đã có Lão Tử, vị đại giáo chủ của Đạo Giáo, khuyên răn vua Chu trong thời suy mạt. Hoặc chính các quan cai trị đứng đầu một khu vực là các pháp sư hay tu sĩ như trường hợp của Sĩ Nhiếp và Cao Biền. Cho đến như Không Lộ làm quốc sư – đại pháp sư cho triều Đinh – Lý hẳn cũng đã góp công đáng kể vào việc kiến thiết nước Đại Việt lúc ban đầu với những việc như chữa bệnh, đúc tứ đại khí An Nam, diệt trừ tà (thần Xương Cuồng)…

Đạo hiếu và nhà Chu

Sách Luận ngữ có câu: Tử viết: Đệ tử, nhập tắc hiếu, xuất tắc đễ, cẩn nhi tín, phiếm ái chúng, nhi thân nhân, hành hữu dư lực, tắc dĩ học văn.

Câu này về sau được một tác giả thời Thanh quảng diễn thành bài thơ Đệ tử quy:
Phép người con, Thánh nhân dạy
Hiếu đễ trước, kế cẩn tín.
Yêu bình đẳng, gần người nhân
Có dư sức, thì học văn…

Sách về Đệ tử quy của TS Thái Lễ Húc ngày nay giảng đoạn kinh “nhập môn” này như sau:
Chúng ta hồi tưởng lại lịch sử mấy ngàn năm của Trung Quốc triều đại nào có lịch sử lâu nhất, quốc vận hưng thịnh nhất. Đó là triều nhà Chu. Bao nhiêu năm vậy? 800 năm. Vậy xin hỏi: Tại vì sao triều nhà Chu có thể kéo dài đến được 800 năm? Dựa vào cái gì vậy? “Hiếu” và “Đễ”. Chúng ta chỉ đọc qua “Triều nhà Chu 800 năm”, biết được lẽ đương nhiên mà không biết được sở dĩ nhiên…
Triều nhà Chu, khai quốc là Chu Văn Vương, Chu Võ Vương. Ông nội của Chu Văn Vương là Thái Vương. Thái Vương sinh ra ba người con trai, anh cả là Thái Bá, anh thứ hai là Trung Dung, người thứ ba là Vương Quý. Vương Quý sinh ra Chu Văn Vương. Chu Văn Vương lại sinh ra Chu Võ Vương và Chu Công. Khi Chu Văn Vương mới được sinh ra, Thái Vương vừa nhìn thấy đã cảm thấy Chu Văn Vương có tướng Đế Vương, có tướng Thánh Chủ. Thế nhưng phụ thân của Chu Văn Vương xếp ở hàng thứ ba. Kết quả là bác lớn và bác kế của ông nhận ra khi phụ thân thấy cháu nội thì trên mặt vui vẻ, họ hiểu rõ phụ thân của họ muốn đem ngôi vua truyền cho đứa cháu nội này. Các bác rất hiểu tâm cảnh của phụ thân, cho nên họ không nói không rằng, dựa vào lý do giúp phụ thân đi hái thuốc, liền cùng hẹn nhau với em kế của ông là Trung Dung cùng nhau đi lên núi. Sau khi đi rồi thì họ không trở lại nữa. Bởi vì họ hy vọng phụ thân có thể làm tốt được ý nguyện của mình, không cần phải bận lòng bởi họ là con lớn, để có thể trực tiếp truyền ngôi cho Vương Quý là con trai thứ ba, sau đó Vương Quý truyền ngôi cho Chu Văn Vương.

Ở đoạn này TS Thái Lễ Húc nói chưa hết thông tin. Thái Vương nhà Chu là Cổ Công Đản Phụ có 3 người con: Thái Bá, Trọng Ung và Quý Lịch (Vương Quý). Trong cách gọi tên xưa thì con cả là Thái (Mạnh), con thứ là Trọng, con thứ ba là Quý. Thái Bá và Trọng Ung đã hiểu ý cha, cùng nhau rời đi, nhưng không phải lên núi mà là đi về vùng đất Kinh. Về sau Thái Bá là vị vua khởi đầu của nước Ngô là Ngô Thái Bá. Thái Bá mất, không có con nên em là Trọng Ung lên tiếp ngôi.

Chu Văn Vương đối với phụ thân của ông là Vương Quý đều là sáng sớm, buổi trưa, buổi tối, một ngày ba lần thăm hỏi, nên gọi là “thần hôn định tỉnh” (sáng thăm tối viếng). Ba lần thăm viếng phụ thân, vừa đến thì xem thần sắc của phụ thân, tiếp theo là xem tình hình ăn uống của phụ thân. Nếu như phụ thân ăn uống được rất tốt, ông liền cảm thấy rất là an tâm. Nếu như phụ thân ăn được rất ít thì ông rất lo lắng. Do bởi có được thân giáo như vậy, cho nên con trai của ông là Võ Vương và Chu Công cũng học được rất tốt. Chu Võ Vương cũng rất là hiếu kính đối với Chu Văn Vương. Có một lần Chu Văn Vương bị bệnh, Chu Võ Vương hầu ở bên cạnh mười hai ngày không hề cởi áo giải đãi, mũ trên đầu cũng không lấy xuống, hầu hạ phụ thân ông mười hai ngày nghiêm túc. Do bởi hiếu tâm như vậy, phụ thân ông rất mau khỏi bệnh…
Có một lần Chu Võ Vương bị bệnh, Chu Công liền ở ngay trước mặt của tổ tông họ, vào lúc đó gọi là Thái miếu, viết ra một văn kỳ thọ, mong cầu giảm bớt đi thọ mạng của chính mình để cho huynh trưởng của ông có thể trường thọ… Cho nên khi Chu Công đọc xong văn kỳ thọ, chí thành có thể cảm thông, vì vậy sức khỏe của Chu Võ Vương liền được hồi phục. Bài văn cầu thọ này còn để ở trong Thái miếu.
Trải qua một khoảng thời gian, Chu Võ Vương qua đời, tiếp theo là Chu Thành Vương kế vị. Chu Công giúp đỡ ông. Bởi vì Thành Vương vẫn còn trẻ, kết quả Chu Võ Vương giúp Chu Thành Vương chọn được mấy vị thầy giáo, Thái sư là Khương Thái Công, Thái Bảo chính là Chu Công.

Chỗ này cần chỉnh lại thông tin một chút. Thái sư của Chu Thành Vương là Chu Công. Còn Thái bảo là Thiệu Công. Khương Thái Công Lã Vọng không làm thầy vua Chu Thành Vương vì có lẽ ông đã quá già sau cuộc chiến với Trụ Vương (lúc Văn Vương gặp Lã Vọng thì ông đã 80 tuổi) và ông đã về cai quản đất phong của mình là nước Tề, không ở trong triều đình Chu nữa.

Vào lúc đó quốc gia có những lời giảo ngôn, đều nói là: “Có phải Chu Công muốn đoạt lấy thiên hạ hay không?”. Có rất nhiều lời đồn đại như vậy. Chu Công không đợi cháu của ông lên tiếng. Chính ông tự mình dời đến Sơn Đông, để cho cháu ông dễ làm người, không nên bị những lời sàm ngôn này ảnh hưởng… Sau này Thành Vương xem được sắc thư của ông trong chiếc rương quý mới hiểu rõ lòng trung thành và nhiệt tình của ông, rất hối hận và sai người đi đón ông về.

Đoạn này cũng có điều cần bàn. Các tư liệu khác nói rằng khi bị tiếng oan Chu Công đã dời đến nước Sở, chứ không phải Sơn Đông. Các sử gia sau nay cho rằng vì Chu Công được phong ở nước Lỗ nên ông lui về ở nước Lỗ ở vùng bán đảo Sơn Đông mới hợp lý. Thực ra Chu Công không về nước Lỗ vì nước Lỗ đã có con của ông là Lỗ Bá Cầm cai quản. Nơi Chu Công lui về chỉ có thể là Lạc Ấp – Đông Đô của nhà Chu, nơi an trí đám ngoan dân của nhà Thương sau cuộc nổi loạn của Vũ Canh. Lạc Ấp thì tất nhiên không phải ở Sơn Đông. Nhưng tại sao các sách lại chép thành Chu Công lui về nước Sở?
Chu Công không có liên quan gì đến nước Sở của Sở Hùng ở vùng sông Dương Tử cả. Gọi là Sở bởi Sở = Sủy = Thủy = Nước = Nác = Lạc. Nước Sở ở đây tức là đất Lạc hay Lạc Ấp, Lạc Việt. Nơi Chu Công lui về là vùng Lạc Việt, hay Bắc Việt ngày nay.
Các sách giảng về câu của Khổng Tử trong Luận ngữ đã lấy chuyện khởi đầu của nhà Chu làm gương về hiếu đễ. Có lẽ Khổng Tử còn sống cũng sẽ lấy chuyện này mà giảng vì ông đánh giá rất cao nhà Chu, thường nói mình “nằm mộng gặp Chu Công”. Cách ứng xử của các vị vua đầu triều Chu thực sự là tấm gương sáng ngàn đời về đạo hiếu đễ.

Ngoc tong

Ngọc tông, vật dùng thờ cúng có từ thời Hạ (văn hóa Lương Chử).
Ống tông cùng với đĩa bích ngọc là hình ảnh vuông tròn, bánh chưng bánh dày, âm dương.

Thật trùng khớp khi câu chuyện về đạo hiếu này cũng in đậm trong truyền thuyết Việt. Đó là câu chuyện chàng Lang Liêu, không phải là con cả của vua Hùng, nhưng nhờ có tấm lòng hiếu thảo động tới trời nên đã làm ra bánh chưng bánh dày, thành kính dâng lên thờ cúng cha mẹ và tiên tổ và được truyền ngôi báu của nước Văn Lang.
Lang Liêu chế ra bánh chưng bánh dày không ai khác chính là Chu Văn Vương. Văn Vương là người đã viết ra Kinh Dịch, được truyện Việt Nam kể hình tượng hóa bằng bánh chưng bánh dày – bánh trăng bánh giời hay đạo Âm Dương. Chi tiết Lang Liêu được nhận ngôi mà không phải là con cả tương tự chuyện Thái Bá và Trọng Ung nhường lại ngôi cho Vương Quý.
Tác giả Đệ tử quy đã hơi quá khi sửa câu nói của Khổng Tử từ “Nhập tắc hiếu, xuất tắc đễ” thành “Thủ hiếu đễ”. Khổng Tử không nói lấy Hiếu làm đầu, làm căn bản, vì mô hình con người quân tử của Khổng Tử rộng hơn, bao trùm hơn đạo Hiếu. Hiếu đễ là quan trọng hàng đầu đối với nhân sinh hạnh phúc. Nhưng để thành nghiệp cho một vương triều 800 năm thì không thể thiếu những phẩm chất được kể sau: “Cẩn nhi tín, phiếm ái chúng, nhi thân nhân, hành hữu dư lực, tắc dĩ học văn”.
Chu Văn Vương khi là Tây Bá hầu của nhà Ân đã được biết là người rất có “thánh đức”, được lòng nhân dân và các chư hầu. Trong khi đó Trụ Vương ngày càng bạo ngược, lòng người ngày càng nghiêng về hướng Tây. Thánh đức của Văn vương chính là từ đức tính “phiếm ái chúng” (yêu tất cả), thể hiện ví dụ như bằng hình tượng con Lân, biểu tượng của nhà Chu: Chân con lân không đạp lên cỏ tươi, không dẫm lên côn trùng còn sống. Hình tượng này rất đúng với tư tưởng “phiếm ái chúng” của Khổng Tử.
Chu Văn Vương cũng là điển hình cho đức “nhi thân nhân” (gần người nhân) trong câu chuyện Văn Vương gặp Lã Vọng. Lã Vọng vốn là một ông lão cao tuổi, đóng vai một người câu cá ven đường khi gặp Văn Vương. Thế mà Văn Vương đã mời ông về giúp sức, gây dựng cơ nghiệp cho nhà Chu. Lã Vọng sau được phong là Khương Thái Công, người cầm đầu quân đội nhà Chu tiến đánh, tiêu diệt Trụ Vương. Sự tích Văn Vương gặp Lã Vọng là một điển hình về tinh thần “cầu hiền” xưa.

La VongTích Văn Vương gặp Lã Vọng trên một ngôi đình ở xứ Huế.

Truyền thuyết Việt cũng có chuyện “cầu hiền” tương tự. Đó là khi giặc Ân tấn công nước ta (cũng là Ân – Trụ Vương), vua Hùng cho sứ giả đi loan tin khắp nơi tìm người tài giỏi giúp nước. Ở làng Phù Đổng có cậu bé ba tuổi xung phong ra diệt giặc được vua cho đúc gậy sắt, ngựa sắt, nón sắt… Tinh thần cầu hiền ở chỗ không nề hà gì việc là cậu bé hay ông lão. Cứ có tài năng là được giao trọng trách.
Chuyện Thánh Dóng và Lã Vọng đánh giặc Ân là cùng một chuyện. Dóng = Vọng. Có lẽ Thánh Dóng thọ 103 tuổi như Lã Vọng mới đúng, bỏ đi 100 thành còn 3 tuổi. Thánh Dóng đánh giặc Ân ở Vũ Ninh là chuyện Khương Thái Công Lã Vọng giúp Vũ Vương phạt Trụ diệt Ân.
Câu “hành hữu dư lực, tắc dĩ học văn” ở đây có thể hiểu là tùy theo năng lực mà học lấy tri thức. “Văn” ở đây không phải là văn nghệ, văn hóa. Hiểu vậy thì tư tưởng của Khổng Tử thành tầm thường quá: Có thời gian rảnh thì đi xem văn nghệ?!
Văn của thời kỳ này là kiến thức khoa học, mà thời này được đúc kết trong Dịch học. Chính Dịch lý là ánh sáng soi đường cho gia tộc Chu có được thiên hạ từ tay Trụ Vương và dẫn dắt cả thiên hạ Trung Hoa đi lên văn minh. Chu Văn Vương – Lang Liêu là người đã viết nên Kinh Dịch nên mới có danh hiệu là Văn Vương, mở ra nước Văn Lang huy hoàng kéo dài trong 800 năm.

Xin ghi lại chuyện này với bài thơ Hiếu với trời đất:

Tôi nghe kể chuyện nước Văn Lang
Lang Liêu dâng cha chẳng bạc vàng
Mà tấm lòng thành gói trời đất
Vuông tròn đúc đủ tình thế gian.

Âm dương một đạo để ngàn đời
Rọi sáng đường đi cả tộc người
Bánh chưng bánh dày vui ngày Tết
Tưởng nhớ Lang xưa với sách trời.

Các bộ tứ trong thần điện Việt: Tứ trấn Thăng Long

Trước hết thử bàn về khái niệm Tứ trấn. Khái niệm này chỉ áp dụng cho một khu vực nhất định mà mỗi “trấn” chiếm một phương vị của 4 phương xung quanh khu vực đó. Trong khi Tứ linh cũng theo 4 phương nhưng vì không có khu vực trung tâm cố định nên phương vị của Tứ linh không rõ ràng như Tứ trấn.
Điểm thứ hai cần bàn là khu vực được trấn giữ này là khu vực có tầm quan trọng, thường là kinh đô của quốc gia. Có là kinh đô thì mới cần đến 4 vị thần trấn 4 hướng. Trong dân gian có 2 nơi có bộ thần Tứ trấn là cố đô Hoa Lư và kinh thành Thăng Long, cho thấy khái niệm Tứ trấn đi liền với khu vực kinh thành.
Điểm thứ ba là khái niệm thần “trấn” phương của kinh thành thì phải là những vị thần có khả năng “trấn” áp tà ma, bảo vệ vượng khí cho kinh đô. Những vị võ tướng dù đánh giặc rất giỏi cũng không thể đóng vai trò “trấn trạch” được vì đánh giặc và trấn tà là 2 lĩnh vực hoàn toàn khác nhau. Các vị tướng đánh giặc do đó chủ yếu sẽ nằm ở bộ Tứ linh, chứ không phải Tứ trấn.
Như vậy, các vị thần trấn phương phải là những… Pháp sư, tức là những người có “phép” trừ yêu dẹp quỷ, thông thạo phong thủy địa lý, có khả năng trấn trạch,…  Như vậy thì mới có thể là thần bảo hộ một phương của kinh thành. Đây là khái niệm quan trọng, mang tính phát hiện khi xét tới các bộ Tứ trấn trong 2 kinh đô xưa của nước Việt.

THĂNG LONG TỨ TRẤN
Dễ nhận ra lai lịch nhất là thần Trấn Bắc – Huyền Thiên Trấn Vũ. Đền thờ vị này là đền Quán Thánh nằm ở đầu phố Thụy Khuê bên Hồ Tây. Như đã từng xác định, Huyền Thiên đại thánh là Lão Tử, vị tổ của Đạo Giáo. Thời Đường Lão Tử được phong là Thái Thượng Huyền Nguyên Hoàng Đế, liên quan tới sự kiện lên ngôi của Lý Thế Dân Đường Thái Tông ở cửa Huyền Vũ. Huyền Vũ là phía Bắc.
Lão Tử tất nhiên rất giỏi công việc của một “pháp sư”, trừ yêu dẹp quỷ. Lão Tử vốn là quan thủ thư của nhà Chu, khi Tây Chu suy, chuyển dời sang phía Đông, vùng Đông Đô gặp một trận động đất lớn. Quan thủ thư lúc này có thể có vai trò như một thầy cúng của triều đình. Lão Tử nhân cơ hội động đất đã bày đặt chuyện quỷ thần lập đàn cúng tế, khai quật xương cốt trên núi, nói là của các đời Hạ Thương, nhằm răn dạy vua Chu về lẽ trời và đạo lý.

Chua Kim Quy

Thần chúa Kim Quy làm lễ bái Huyền Thiên đại thánh trong lễ hội tại đền Sái (Thụy Lôi, Đông Anh, Hà Nội).

Truyền thuyết Việt chép chuyện Lão Tử thành việc Huyền Thiên đại thánh (cụ già – Lão Tử) đã cử thần Kim Quy giúp An Dương Vương trừ Bạch Kê Tinh ở núi Thất Diệu khi xây thành Cổ Loa. Câu đối ở nghi môn Miếu Bạch Kê ở Yên Phong, Bắc Ninh:
千秋鈥鈿前王澤
百越山河故國恩
Thiên thu hỏa điền tiền vương trạch
Bách Việt sơn hà cố quốc ân
.
Dịch:
Hỏa điền ngàn năm lộc vua trước
Núi sông Bách Việt ơn nước xưa.

Miếu Bạch Kê là nơi thờ tinh gà trắng trong truyền thuyết về An Dương Vương xây thành Cổ Loa. Miếu nằm trên núi Thất Diệu, tương truyền là nơi xưa kia An Dương Vương đã diệt Bạch Kê tinh ở đây.

Mieu Bach Ke

Nghi môn miếu Bạch Kê.

Câu đối trên nói chuyện Bạch Kê là chuyện của cả Bách Việt và Bạch Kê là “tiền vương” của An Dương Vương. “Tiền vương” hay vua đời trước của An Dương Vương, tức là Hùng Vương. Câu đối như thế nói Hùng Vương là vua chủ của Bách Việt.
Theo truyền thuyết thì Bạch Kê tinh là linh khí của các vua đời trước đã hiện lên ngăn cản An Dương Vương xây thành. Cũng trong truyền thuyết kể rằng An Dương Vương “liền sai đào núi Thất Diệu, lấy được nhiều nhạc khí cổ và xương cốt“.
Miếu Bạch Kê nằm ở thị trấn Sọ với sự tích trước đây ma quỷ thường ám hại người qua lại, nên để lại rất nhiều xương cốt và đầu lâu. Do đó nơi này có tên là Sọ. Sự tích này ứng với việc An Dương Vương đã đào được xương cốt của các vua đời trước tại núi Thất Diệu. Nói theo ngôn ngữ khảo cổ là đã khai quật được các mộ cổ ở núi này.

IMG_1631 (2)

Hoàn tiền có chữ Đông Chu tìm thấy ở vùng Cổ Loa.

Hai chữ Hỏa điền viết ở bộ Kim 金, chỉ đồ dùng bằng kim loại. Trong số các “hiện vật khảo cổ” đã tìm được ở Cổ Loa có những đồ tế khí bằng đồng từ thời Thương Chu và cả những đồng hoàn tiền (Điền 鈿 nghĩa là tiền) đúc nổi 2 chữ Đông Chu rõ ràng.
Chính vì năng lực trấn quỷ trừ tinh ở thành Cổ Loa mà Huyền Thiên đại thánh được đặt làm thần Trấn Bắc của kinh thành Thăng Long. Nhà Lý đã rước Huyền Thiên từ núi Sái (Thụy Lôi, Đông Anh) về lập đền thờ ở Thụy Khuê, trấn Bắc kinh thành Thăng Long là vậy.

Vị thần Trấn Tây là Linh Lang đại vương được thờ ở đền Thủ Lệ và đền Voi Phục ở cuối Thụy Khuê bên Hồ Tây. Vị thần này được truyền thuyết kể là hoàng tử nhà Lý có công đánh giặc Vĩnh Trinh. Nhưng thời Lý (dù là Tiền hay Hậu Lý) của nước ta không hề thấy sách sử ghi có hoàng tử nào như vậy và có loại giặc nào là giặc Vĩnh Trinh cả. Đây là một nhân thần hoàn toàn ở một thời điểm khác, sớm hơn nhiều so với nhà Lý sau này.
Cách đánh giặc của Linh Lang đại vương mới thật kỳ lạ. Ông dùng một lá cờ lớn, cưỡi voi bay ra trận là giặc tan. Đánh giặc bằng cờ thì chỉ có là đánh ma quỷ, dùng cờ như pháp bảo của một pháp sư để diệt.
Linh Lang đại vương chính xác là Ninh Lang, hay Chu Công, nghĩa là vị Công tước của phía Tây (Chu = Chiêu; Ninh là tính chất tĩnh, định của hướng Tây). Chu Công là người đã xây thành Đông Đô nên được chọn làm người bảo hộ cho kinh thành Thăng Long, rất hợp lý. Chu Công cũng là một trong tứ thánh của Dịch học, có những đóng góp vào việc hoàn thiện Dịch lý. Ông dẹp giặc (cuộc nổi loạn của hậu duệ nhà Ân) chủ yếu nhờ ân đức, chứ không phải võ lực. Do đó cũng có thể coi ông là một Pháp sư. Chí ít thì ông cũng đã là Thái sư dưới triều Chu Thành Vương.

Thu Le

Nghị môn ngoại đền Thủ Lệ – Tây Trấn từ.

Vị thần Trấn Đông là thần Long Đỗ thờ ở đền Bạch Mã trên phố Hàng Buồm. Vị thần này là ai mà lại được tôn làm thần trấn Đông của kinh thành?
Câu đối ở đền Bạch Mã:
南國上神四鎭升龍傳越史
東城顯聖壹威馬跡正光天
Nam quốc thượng thần, tứ trấn Thăng Long truyền Việt sử
Đông thành hiển thánh, nhất uy mã tích chính quang thiên.
Dịch
Thượng thần nước Nam, Thăng Long tứ trấn truyền sử Việt
Hiển thánh thành Đông, dấu ngựa một uy tại trời xanh.
Long Đỗ cũng là Long Độ vì chữ Đỗ là viết kiêng húy Trần Thủ Độ từ thời Trần. Long Độ đình hầu chính là Sĩ Nhiếp. Sĩ Vương là người đã gìn giữ thành Luy Lâu – Long Biên (Bắc Ninh) trong thời loạn lạc hàng chục năm, nên được lấy làm thần bảo hộ hướng Đông cho thành Thăng Long là hợp lý. Sĩ Vương là một tu sĩ đạo Bà Là Môn, liên quan đến việc hô mây gọi gió của Tứ pháp.
Sĩ Vương “khi ra vào thì đánh chuông khánh, uy nghi đủ hết; kèn sáo thổi vang, xe ngựa đầy đường, người Hồ đi sát bánh xe để đốt hương thường có đến mấy mươi người”. Hình ảnh này cho thấy Sĩ Nhiếp từng là một tu sĩ hay pháp sư, có người Hồ đi theo đốt hương phục vụ. Những truyện thần kỳ khác cũng được kể về Sĩ Nhiếp như truyện ông đã chết đi 3 ngày lại còn sống lại sau khi được Đổng Thừa cho uống thuốc tiên…

Bach Ma

Đền Bạch Mã.

Sang vị thần cuối cùng của Tứ trấn Thăng Long là thần Trấn Nam – Cao Sơn đại vương. Đền thờ chính của vị này là đình Kim Liên ở quận Đống Đa ngày nay. Nhận xét rằng các thần Tứ trấn kinh thành là các pháp sư, thầy cúng hay thầy địa lý, một lần nữa xác nhận rằng Cao Sơn đại vương ở Kim Liên là thầy phong thủy nổi tiếng Cao Biền thời Đường. Tài trấn yểm của Cao Vương thì chắc chẳng phải bàn.
Cao Vương là người đã xây thành Đại La nên được tôn thờ làm thần bảo hộ kinh thành Thăng Long hoàn toàn hợp đạo và hợp lý. Cao Vương là thần Trấn Nam vì thành tích chính của ông là dẹp giặc Nam Chiếu. Vùng phía Nam Hà Nội (Thường Tín), Ninh Bình (Phụng Hóa, Nho Quan), Thanh Hóa (Thọ Xuân), tới tận Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình đều có các đền thờ Cao Biền, thờ đúng tên Cao Biền hoặc dưới tên Cao Sơn Cao Các đại vương.

Khe Hoi

Nghi môn đình Khê Hồi (Thường Tín, Hà Nội), nơi thờ Cao Sơn đại vương.

Các bộ tứ trong thần điện Việt: Tứ bất tử và Tứ linh

TỨ BẤT TỬ
Bộ tứ tiếp theo thường được nhắc đến là Tứ bất tử. Quan niệm rằng tứ bất tử là biểu trưng hóa các giá trị tinh thần trong các lĩnh vực đời sống xã hội của dân gian là không chính xác. Hầu hết các thần linh Việt đều là biểu trưng của các giá trị này như đấu tranh chống giặc ngoại xâm, tình yêu đôi lứa, lao động sản xuất,… Nhưng tại sao lại chỉ có 4 vị được gọi là bất tử?
Bất tử là khái niệm và mục tiêu tu hành của đạo Giáo hay đạo Thần tiên. Các đạo sĩ tu hành nhằm hóa thành tiên, tức là thành những người bất tử, bất diệt. Vì thế các vị thánh bất tử đầu tiên phải là những đạo sĩ hay tu sĩ, có khả năng làm cho mình trở nên “bất tử” dưới các hình thức khác nhau.
Đứng đầu các vị thần bất tử là Tản Viên Sơn Thánh. Khác với việc là vua cha cai quản Nhạc phủ, Tản Viên Sơn Thánh được gọi là bất tử vì ông có phép thần là cây gậy thần do Thái  Bạch Tử Vi thần tướng trao tặng trên núi Ba Vì. Cây gậy thần này có khả năng làm cho người chết sống lại, Tản Viên đã từng dùng nó để cứu sống con rắn thần, là con của Long Vương, nên Tản Viên lại được nhận thêm cuốn sách ước khi đi xuống thăm thủy cung Động Đình.
Gậy thần sách ước của Tản Viên là Hà thư Lạc đồ, là 2 bảo vật mà Đại Vũ đã nhận được từ Phục Hy trong truyền thuyết Trung Hoa. Tản Viên Sơn Thánh không ai khác chính là vua Đại Vũ trị thủy nổi tiếng, nhờ biết vận dụng những kiến thức khoa học về trời đất (Hà Lạc) của thời hồng hoang, chinh phục thắng lợi cơn hồng thủy, khởi dựng nên nước Việt. Nơi Đại Vũ khơi thông dòng Hắc Thủy là cửa Long Môn, tức là khu vực Thác Bờ trên dòng sông Đà (sông Đen) ở Hòa Bình. Công nghiệp của Đại Vũ – Tản Viên gắn với ngọn núi Ba Vì và dòng sông Đà.
Đứng thứ hai trong các thần bất tử không phải là Phù Đổng Thiên Vương mà là Chử Đồng Tử hay còn gọi là Chử Đạo Tổ. Thứ bậc trong tứ bất tử xác định bởi năng lực “bất tử” của các vị thần này và thời gian xuất hiện của họ. Những vị thần có năng lực càng cao thì sẽ xuất hiện càng sớm trong dòng lịch sử dân gian. Chử Đồng Tử là người đi tu tiên, cho dù truyền thuyết kể là đi thụ giáo lão Phật Quang ở Quỳnh Lâm. Phật ở đây chỉ có nghĩa là người tu hành đắc đạo, không có nghĩa là đạo Phật như ta hiểu ngày nay, vì thời Chử Đồng Tử đã làm gì có ông Thích Ca Mầu Ni ra đời mà có Phật giáo.
Phép bất tử của Chử Đạo Tổ (cái tên Đạo Tổ chỉ rõ đây là một Đạo sĩ) nằm ở cây gậy và chiếc nón (trượng lạp). Cùng với sự hỗ trợ của công chúa Tây Sa (thực ra là Tây Vương Mẫu) Chử Đồng Tử đã dùng cây gậy đầu sinh đầu tử này đi cứu chữa cho nhân dân. Chử Đồng Tử và Tiên Dung là cách kể khác của các vị thần bất tử Hậu Nghệ và Hằng Nga trong truyền thuyết Trung Hoa. Hậu Nghệ là người đã làm gián đoạn nhà Hạ thời Hạ Thái Khang (tranh ngôi theo kiểu lấy con gái vua mà không được sự đồng ý), rồi sau đó cùng Hằng Nga bay lên cung trăng. Truyền thuyết Việt kể thành truyện Đầm Nhất Dạ, trong một đêm Chử Đồng Tử và Tiên Dung cùng lâu đài thành quách phút chốc bay về trời.
Vị trí thứ ba của thần bất tử được gọi là Phù Đổng Thiên Vương. Tuy nhiên, đức Thánh Dóng làng Phù Đổng mà gọi là bất tử rõ ràng là không phù hợp, vì Thánh Dóng không hề đi tu ngày nào và không hề có phép bất tử. Ở đây các nhà bác học đã nhầm. Vị thần bất tử thứ ba là Đổng Thiên Vương hay Huyền Thiên đại thánh. Chứng thực điều này là đền Bộ Đầu ở bên sông Hồng (thuộc xã Thống Nhất, Thường Tín, Hà Nội), nơi thờ Đổng Thiên Vương Huyền Thiên đại thánh. Huyền Thiên là vị thánh đã giúp An Dương Vương trừ yêu diệt quỷ ở núi Thất Diệu khi xây thành Cổ Loa. Huyền Thiên Trấn Vũ không phải ai khác chính là vị Lão Tử nổi tiếng, vị đạo tổ của đạo Giáo Trung Hoa. Gốc tích thành nghiệp của Lão Tử là ở Cổ Loa, nơi đền Sái trên núi Thất Diệu thờ Huyền Thiên và làng Thổ Hà nơi thờ Thái Thượng Lão Quân.
Lão Tử được gọi là bất tử thì khá dễ hiểu vì ông là Thái Thượng Lão Quân, chuyên nghề luyện kim đan giúp con người sống trường sinh bất lão. Hiểu nôm na thì Huyền Thiên Lão Tử vốn là một đạo sĩ bác sĩ, đã giúp nhân dân phòng chống đại dịch Xích Tị hay dịch hạch vào thời giao kỳ giữa Tây Chu và Đông Chu. Xét về thời gian và năng lực như vậy thì rõ ràng Lão Tử đứng thấp hơn Đại Vũ Tản Viên và Hậu Nghệ Chử Đạo Tổ vì không có phép cải tử hoàn sinh mà chỉ có thuật trẻ mãi không già.

P1230442Gác chuông đền thánh Nguyễn ở Gia Viễn (Ninh Bình).

Riêng vị trí thứ tư của Tứ bất tử lại có tới 3 người từng được xếp ở đây. Đó là Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không và thánh mẫu Liễu Hạnh. Đặc điểm rõ ràng là cả 3 vị này đều là những đạo sĩ. Nguyễn Minh Không theo bia ở chùa Keo Hành Thiện (Xuân Trường, Nam Định) còn được gọi là “Đại pháp sư”. Khả năng của các vị này khá hạn chế, còn chưa được trường sinh bất lão như Huyền Thiên Lão Tử. Các vị vẫn phải “hóa”, rồi tái sinh chuyển thế. Như Từ Đạo Hạnh hóa sinh thành Lý Thần Tông hay nhất là thánh mẫu Liễu Hạnh có tới 3 lần sinh hóa. Ở vị trí này ảnh hưởng của đạo Phật thấy cũng khá rõ vì Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không đều là các nhà sư, còn Liễu Hạnh công chúa đã quy y Phật sau trận chiến ở Sòng Sơn. Bản thân khái niệm “hóa sinh” hay luân hồi là khái niệm của Phật giáo, không phải gốc của đạo Giáo.

Song SonChính điện Sòng Sơn (Thanh Hóa).

TỨ LINH
Tứ linh là khái niệm ngày nay ít được nhắc tới, nhưng đó từng là khái niệm được ghi nhận đối với thần điện Việt. Lời tiếm bình Việt Điện u linh của tiến sĩ thời Lê là Cao Huy Diệu chép “Hương, Bổng, Đổng, Đằng là bốn vị tối linh của nước ta”. Vậy Hương Bổng Đổng Đằng là những ai?

Ninh SonĐình Ninh Sơn (Chương Mỹ, Hà Nội) nơi thờ Lý Ông Trọng.

Thần Hương: khá rõ là Thụy Hương Lý Ông Trọng. Lý Thân là một đại tướng, phò mã của Tần Thủy Hoàng, trấn giữ giặc Hung Nô hay người Hồ (Hung Nô thiết Hồ), tức là người Chiêm ở vùng Tây Nam nhà Tần. Vì thế Lý Thân còn gọi là đức thánh Chèm (chính xác là Chiêm vì Từ Liêm thiết Chiêm). Lý Thân mất, Tần Thủy Hoàng vô cùng thương tiếc cho đặt làm tượng đồng và để ở Hàm Dương, đe dọa Hung Nô. Hàm Dương thiết Hương, tức là tượng đồng Ông Trọng đặt ở ngay làng Thụy Hương chứ chẳng phải ở tận Thiểm Tây ở phía Bắc.
Đặc biệt là khái niệm Tứ linh được sắp xếp theo đúng Ngũ hành. Thần Hương chiếm phương vị ở phía Tây, dùng màu trắng (vợ của Lý Thân là Bạch Tĩnh Cung công chúa), tượng là Chim (Chiêm).
Thần Bổng: tìm khắp thần điện Việt không thấy vị nào có tên là Bổng cả. Nhưng lại có Phù Đổng thiết PhổngBổng. Thần Bổng chính là Phù Đổng Thiên Vương Thánh Dóng, người đã ăn cơm cà mà lớn nhanh như thổi, phi ngựa sắt làm nên cuộc chiến thần thánh, đánh Trụ diệt Ân, khai quốc Văn Lang ngàn năm bay bổng. Thánh Dóng sau trận chiến đã về nơi núi Sóc mà bay bổng về trời. Xét về phương vị thần Bổng chiếm hướng Nam hay hướng Sóc, dùng lửa (ngựa phun lửa).
Thần Đổng: như đã biết Đổng Thiên Vương chính là Huyền Thiên Trấn Vũ hay Lão Tử, vị tổ của đạo Giáo. Phương vị của Đổng Thiên Vương rõ ràng là hướng Bắc, màu đen (Huyền). Linh vật là Rắn và Rùa. Huyền Thiên trong các tượng thờ thường được thể hiện là vị thần có khả năng khiển quy xà, với hình thanh xà kiếm, chống lên lưng rùa.
Thần Đằng: thần Đằng Châu hay vua Mây họ Phạm ở Hưng yên, được nói tới với khả năng hô mưa gọi gió, hiển linh làm nửa phần sông tạnh, nửa phần mưa. Truy nguyên nguồn gốc thì đây chính là Sĩ Nhiếp hay Phạm Tu, người đã duy trì nền tự trị của Giao Châu trong vòng 40 năm thời loạn cuối thời Đông Hán và Tam Quốc. Sĩ Nhiếp là một tu sĩ Bà La Môn, theo thầy Khâu Đà La trong truyện Man Nương, thờ thần dông tố Indra, được biến tướng trong tín ngưỡng dân gian thành Tứ pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện). Vua Mây cũng là có nghĩa như vậy. Vua của mây cũng là Rồng nên thần Đằng chiếm phương Đông (Đằng), có tượng là rồng.
Như thế Tứ linh là những nhân thần có công lớn, rất được tôn sùng, trở nên linh thiêng ở 4 hướng Đông Tây Nam Bắc. Biểu tượng Tứ linh còn gắn với bộ 4 linh vật là Long Ly Quy Phượng, tuy ở vị trí Tây và Nam ở đây có sự hoán đổi: chim Phượng lại gắn với Lý Ông Trọng ở hướng Tây, còn loài động vật lông mao (Ly ở đây thay bằng Ngựa phun lửa) của hướng Tây lại gắn với thần Bổng của Sóc phương.