CHÙA ĐOAN MINH – DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT

1. THÔNG TIN CHUNG

Tên gọi: Chùa Đoan Minh 

Tên khác: Chùa Thổ Hà

Địa chỉ cụ thể: Làng Thổ Hà, phường Vân Hà, tỉnh Bắc Ninh

Vị trí địa lý và không gian cảnh quan:

Mô tả vị trí: Nằm ở trung tâm làng Thổ Hà cổ bên bờ Bắc sông Cầu.

Yếu tố phong thủy: Nằm ở trên một thế đất đẹp hướng Nam ghé Tây, phía trước cách khoảng sân rộng là đình Thổ Hà.

Niên đại khởi dựng và các lần trùng tu:

Tương truyền chùa Thổ Hà được nhân dân làng Thổ Hà xây dựng từ lâu đời với quy mô nhỏ, ban đầu chỉ là am động. Công trình kiến trúc cổ hiện nay được khởi dựng từ trước năm 1580 thời Mạc (thế kỷ XVI). Trải qua thời gian ngôi chùa đã được tu sửa nhiều vào thời Nguyễn (thế kỷ XIX) hiện nay ngôi chùa vẫn bảo lưu được kiến trúc cổ.

2. GIÁ TRỊ LỊCH SỬ

Nhân vật được thờ: 

Thờ Phật với hệ thống tượng Phật giáo Đại thừa Việt Nam. Chùa xây dựng bởi cùng Sơn môn Bổ Đà. Khu nhà tổ còn có gian mẫu, thờ Tam tòa thánh mẫu và công đồng.

Sự kiện lịch sử, văn hóa gắn liền với di tích:

Bia Cung sao sự tích thánh ở đình Thổ Hà chép: Đời vua Thục An Dương Vương có một người từ Bắc quốc đến đạo Kinh Bắc, phủ Bắc Hà, huyện An Việt và ở nhờ chùa Đoan Minh Tự của trang Thổ Hà. Ngày đêm giảng kinh đọc sách, có sức màu nhiệm như thần, trong trang có nhiều con em theo học. Một hôm Người bảo học trò rằng: 

  • Ta sinh ra từ thủa Hồng Mông, cho nên ta thông minh khác thường. Mẹ ta vốn là người từ bi, huyền diệu mà sinh ra, tên là Mỹ Thổ Hoàng. Có một đêm mẹ ta nằm mơ thấy nuốt một vì sao ngưu tinh, thế là mẹ có thai đủ 81 năm. Đến ngày 7 tháng giêng năm Canh Thìn nách tay phải của mẹ rung động rồi sinh ra ta. Khi ta mới ra đời đầu đã bạc, chân có chữ, ta không có bố, khi đẻ mẹ vịn vào cây mận cho nên lấy họ ta là Lý, tên là Lão Đam, tên chữ Lý Bá Dương, lại có tên là Thái Thượng.

Lúc bấy giờ có giặc Xích Tỵ, Lão Tử vâng mệnh vua đi trừ quỷ dữ. Người đọc thần chú rồi dùng gậy trúc lấy hương phù thư lên phóng đi 4 phương, yêu quái đều hết, dân trang làm ăn yên ổn. Nhà vua ban thưởng cho thực ấp ở huyện An Việt. Sau được vua phong làm Thượng đẳng thần, phong cho mẹ ngài là Đoan Từ chi nhân.

Sau này Ngài lại giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa, được nhà vua phong là Đương cảnh Thành hoàng Thái Thượng Bản giác Linh phù và phong cho mẹ ngài là Đoan Ý Trinh thục Nhu hòa Huệ ân Diệu mỹ Thổ Hoàng Thái hậu.

3. KIẾN TRÚC VÀ NGHỆ THUẬT

Bố cục mặt bằng tổng thể và các hạng mục chính:

Mô tả bố cục: Kiến trúc của chùa theo kiểu “Nội công ngoại quốc” có quy mô lớn, gồm: tam quan, sân chùa, toà tiền đường, tòa thượng điện, 2 dãy hành lang, tòa Phật động và nhà tổ. Qua sân sau rộng là khu nhà tổ.

Mô tả từng hạng mục: Nền tiền đường cao, có 3 bậc bó bằng đá tảng xanh. Toà tiền đường 7 gian 2 chái, thượng điện 5 gian, toà giữa Phật động 5 gian 2 chái, 2 dãy hành lang mỗi dãy 10 gian. Khu đất Tổ có 9 gian. Trong chùa kết cấu vì kèo theo kiểu chồng rường đấu kê, độc trụ truyền thống. Các cấu kiện kiến trúc bằng gỗ lim. Tường bao được xây bằng gạch chỉ, ngoài phủ vữa, quét vôi trắng. 

Nghệ thuật trang trí, điêu khắc: 

Kiến trúc: Tòa tiền tế mặt ngoài kiến trúc với mái đao, bậc thềm đá cổ. Bên thềm còn giữ được một số rồng bậc thêm cổ thời Mạc còn nguyên vẹn. Bờ nóc chính giữa đắp nổi bức đại tự chữ Hán: “Đoan Minh tự”. Hiện chùa xây thêm tam quan mới bên ngoài.

Phía trước tòa tiền đường chùa Thổ Hà là đôi rồng đá uốn khúc (rồng yên ngựa) đặt trên bệ cao, có dòng chữ đề mua năm Giáp Thân, được xác định là năm 1580 thời Mạc Mục Tông. Và một đôi nghê đá xanh thời Lê Trung hưng (thế kỷ XVII). Đây là những hiện vật cổ có giá trị lớn về mặt nghệ thuật và khoa học.

Chạm khắc gỗ: Hệ thống đầu bẩy chùa Đoan Minh có chạm khắc thờ Hậu Lê kỹ lưỡng. Bên trong chùa đa phần để trơn và trang trí hoành phi, tranh khắc sơn.

4. GIÁ TRỊ HIỆN VẬT

Bài trí thờ tự: 

Hệ thống tượng cổ: 

Hiện nay chùa Thổ Hà còn bảo lưu được khá nhiều hiện vật hệ thống tượng Phật cổ, khoảng gần 50 pho tượng. Hệ thống tượng chính nằm ở tòa thượng điện và tiền đường. 

Thượng điện có nhiều tượng cổ giá trị được bày theo lớp là tượng Quan Âm Chuẩn Đề, Phật Di Lặc, Phật A Di Đà, tượng Thích Ca sơ sinh. Trong cùng là tượng Phật Thích Ca kích thước lớn, phía trên là bộ Tam Thế Phật. Hai bên thượng điện là tượng Thập điện Diêm vương, Quan Thế Âm Bồ tát, Đại Thế Chí Bồ tát…

Phía trước thượng điện có hoành phi: Quỳnh khuyết châu cung. Nghĩa là: Cửa quỳnh cung ngọc

Bộ cửa võng chạm rồng phượng, hoa lá có hoành phi: Long hoa hội. Nghĩa là: Hội rồng hoa.

Và đôi câu đối:

Phi nẵng phi kim, thiên địa tương chung thuỷ

Bất thường bất trú, phật pháp nhất tính tâm.

Nghĩa là:

Không xưa không nay, cùng trước sau với trời đất 

Không đi không ở, một tính lòng theo phép phật.

Tiền tế bố trí hai tượng Hộ pháp lớn và Bát bộ kim cương, tượng Văn Thù và Phổ Hiền cùng khá nhiều tượng hậu cổ. Hoành phi phía trên tượng Hộ pháp:

Bất nộ nhi uy. Nghĩa là: Không dữ mà có oai

Lập ư vô quá. Nghĩa là: Giữ ở ngưỡng không quá.

Câu đối ở giữa tiền tế:

Tứ cố phong quang, tuệ nhật từ vân tự tại

Nhất thiên cảnh thắng, danh lam cổ tự trường lưu.

Nghĩa là:

Bốn phía phong quang, ngày tuệ mây từ tự tại

Một trời thắng cảnh, danh lam chùa cổ mãi còn.

Hai bên hành lang bố trí 18 vị La Hán, phía cuối là ban Thánh hiền và Thánh tăng. Hoành phi ban Thánh tăng: Tú khí chung linh. Nghĩa là: Khí đẹp đúc thiêng. Hoành phi ban Thánh hiền (Đức chúa ông): Âm dương hợp đức. Nghĩa là; Đức âm dương hòa hợp.

Nằm sau chùa chính là tòa Phật động được thể hiện với rất nhiều tượng nhỏ và hai ban Đế Thích và Phạm Thiên. Phật động thể hiện sự tích Phật Thích Ca từ lúc sơ sinh, đi tu đến lúc đắc đạo. Phía trên Phật động là bức hoành phi lớn sơn nâu thếp vàng đề: Đoan Minh tự, với niên hiệu Khải Định năm Tân Dậu (1921)

Câu đối hai bên Phật động:

Chí đạo cực chí đạo tinh, minh mặc tự tồn chân chủ tể

Thiên hạ khê thiên hạ cốc, thâm vi trực thám đại nguyên đầu.

Nghĩa là:

Đạt đến mức tinh cực của đạo, lặng lẽ tự tại thực chúa tể

Khắp chốn hang ngõ trong thiên hạ, thâm diệu thẳng truy lớn đầu nguồn.

Trong nhà tổ cũng có ban thờ phật, thờ mẫu và ban thờ tổ với nhiều tượng cổ có giá trị nghệ thuật. Ở chính giữa gian nhà tổ, là nơi thờ Phật có bức cửa võng sơn son thếp vàng, chạm khắc rồng chầu, rồng phượng, tùng trúc và hoành phi: Liên trì hải hội. Nghĩa là: Hội biển ao sen. Phía trên là một bức cuốn thư sơn son thếp vàng, chạm hình hoa cúc hóa long.

Câu đối gian giữa:

Phạm vũ ngộ huyền cơ, nhất nhi nhị nhị nhi nhất

Thiền sư vô biệt ngữ, tâm tức phật phật tức tâm.

Nghĩa là:

Mái Phạn ngộ huyền cơ, một mà hai, hai mà một

Thiền sư không nói khác, tâm là phật, phật là tâm.

Gian thờ mẫu gồm Tam tòa Thánh mẫu và các hàng chầu, các quan hoàng… Phía trước gian có câu đối:

Thiên địa sơn hà, dục tú chung anh lưu chính khí

Thần tiên phật thánh, trừ tai giáng phúc lẫm linh thanh.

Nghĩa là:

Trời đất núi sông, nuôi đẹp đúc anh lưu chính khí

Thần tiên phật thánh, trừ tai giáng phúc tỏ linh thiêng.

Đồ thờ tự cổ: 

Ngoài hệ thống tượng phật, mẫu, tổ, còn nhiều bát hương gốm Thổ Hà cổ, các bức chạm trang trí được sơn son thếp vàng hình hoa lá, chim thú (ở khu nhà thờ tổ) hay tứ linh (khu Thánh hiền và Thánh tăng), hoa lá và chữ Phạn hay chữ tượng hình (ở thượng điện).

Di sản Hán Nôm quan trọng: 

Trong chùa Thổ Hà ngoài những câu đối và hoành phi đã giới thiệu ở trên còn nhiều câu đối và hoành phi khác, đều là cổ, được sơn son thếp vàng, chạm khắc tinh xảo, nội dung sâu sắc, phong phú. Ví dụ, câu đối ở tiền tế:

Bái thủ nhiệt Chiên đàn, thành cách dao khung tam giới phủ

Tín tâm trì Phật hiệu, danh tiêu tịnh vực cửu liên trì.

Nghĩa là:

Chắp tay thắp Chiên đàn, lòng thành tới khắp phủ ba giới

Lòng tin giữ tên Phật, danh tỏ chốn tịnh hồ chín sen.

Câu đối ở thượng điện:

Cửu phẩm liên đài, kim tương đoan nghiêm thuỳ tiếp dẫn

Thất trùng bảo thụ, ngọc hào xán lạn phóng quang minh.

Nghĩa là:

Đài sen chín tòa, tướng vàng đoan nghiêm trùm dẫn tiếp

Cây báu bảy tầng, ánh ngọc rực rỡ phóng hào quang.

Câu đối khác ở thượng điện:

Nhiễu phật tòa, lễ phật biên, tâm phật tâm nhân vô nhị niệm

Xuy pháp loa, kích pháp cổ, nhiên pháp cự tăng hữu lục hoà.

Nghĩa là:

Quanh tòa Phật, lễ bên Phật, tâm Phật lòng người không hai ý

Thổi loa pháp, đánh trống pháp, lửa pháp đuốc tăng có sáu hòa.

Câu đối ở nhà thờ tổ:

Tứ đại huyền không, dương khánh âm siêu vô hạn lạc

Quần sinh giác ngộ, dân khang vật phụ hữu dư xuân.

Nghĩa là:

Bốn đại huyền không, dương vui âm độ mừng vô hạn

Chúng sinh giác ngộ, dân khỏe vật mạnh xuân có dư.

Hệ thống bia đá chùa Đoan Minh còn 12 tấm. Đáng chú ý nhất là tấm bia “Thủy tạo đại thạch bi. Các chung tam quan Đoan Minh tự bi” dựng vào năm Vĩnh Trị thứ 4 (1679). Nội dung bia về việc xây dựng gác chuông và tam quan của chùa. Đây là tấm bia bốn mặt, kích thước lớn, chạm khắc hoa sen, nghê thú, được dựng ở trước sân chùa. 

Ở khu Phật động có tấm bia “Tam bảo thị độ bi” tạo năm Thịnh Đức thứ 1 (1653) là bia cổ nhất của chùa nói về việc lập Tam bảo ở bến chợ. Cạnh đó có cây hương 4 mặt tạo năm Vĩnh Thịnh thứ 6 (1710) ghi danh người góp tiền xây dựng và tu sửa chùa.

Ở nhà tổ có một số bia đá sau:

Lập thạch bi ký” tạo năm Tự Đức thứ 9 (1856) về việc gửi giỗ cho song thân của ông Trịnh Đắc Tỉnh và bà Nguyễn Thị Nhuận.

Tự Đức bát niên” tạo năm 1855 về việc gửi Hậu.

Hậu Phật bi ký” tạo năm Tự Đức thứ 8 (1855) về việc lập Hậu.

Hậu Phật bi ký” tạo năm Tự Đức thứ 9 (1856) ) về việc lập Hậu.

Hậu Phật bi kỵ” tạo năm Tự Đức thứ 10 (1857) ) về việc gửi giỗ.

Ngoài ra trong nhà tổ còn mấy tấm bia tiêu đề “Ký công thạch bi” và “Hậu Phật bi ký”…. 

Trong cơ sở thác bản bia từ thời Pháp còn có thác bản các tấm bia sau của chùa Đoan Minh:

Đoan Minh tự tạo Bổ Đà bi ký” tạo năm Đức Long thứ 5 (1633) về việc quyên góp tạo núi Bổ Đà ở chùa Đoan Minh. Bia ghi danh sách những người tham gia đóng góp.

Đoan Minh tự tạo thạch lô bia ký” tạo năm Thịnh Đức thứ 1 (1653) về việc tu sửa chùa Đoan Minh. Năm Mậu Tý (1648) xây tường liễu, gồm 56 bức, trùng tu gác chuông, dựng cầu ở chợ gồm 12 gian. Năm Kỷ Sửu (1649) mua đá lát đường vào chùa Đoan Minh. Đến nay dựng bia ghi tên những người đã đóng góp công đức.

Hiện trong gian nhà mẫu của chùa có 1 chuông đồng cổ cỡ nhỏ, tiêu đề Cung phụng phật thánh, niên đại Cảnh Thịnh thứ 7 (1799).

5. LỄ HỘI VÀ PHONG TỤC VĂN HÓA

Lễ hội chính: 

Lễ hội làng Thổ Hà là lễ hội chung cho đình và chùa Thổ Hà nhằm tôn vinh Thành hoàng làng Lão Tử và thánh mẫu Thổ Hoàng Phu nhân, mẹ của ngài. Đây là một lễ hội đặc sắc, đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia vào năm 2012. Hội lệ chính của chùa được tổ chức trong các ngày 20, 21, 22 tháng Giêng âm lịch, ngoài nghi lễ dâng hương cúng Phật còn có các trò chơi dân gian như đấu vật, chọi gà, đánh cờ tướng, bơi chải bắt vịt, hát quan họ…

6. KẾT LUẬN

Văn bản công nhận di tích: Chùa Thổ Hà được xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia, theo Quyết định số 226-QĐ/BT, ngày 05/02/1994 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa thông tin.

Ngày 11/02/2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Mai Văn Chính đã ký Quyết định số 266/QĐ-TTg xếp hạng Quần thể Di tích kiến trúc nghệ thuật đình, chùa, từ chỉ Thổ Hà, phường Vân Hà, tỉnh Bắc Ninh là Di tích quốc gia đặc biệt.

Chùa Đoan Minh.

Rồng và nghê đá trước cửa chùa

Bia tứ diện niên hiệu Vĩnh Trị thứ 4 (1679) trong sân chùa Đoan Minh.

Thượng điện chùa Đoan Minh.

Tượng Bát bộ Kim cương.

Hoành phi Đoan Minh tự và Phật động.

Bia Tam bảo thị độ bi niên hiệu Thịnh Đức thứ 1 (1653)

Nhà tổ chùa Đoan Minh.

Chính gian thờ Phật ở nhà tổ chùa Đoan Minh.

Gian thờ mẫu chùa Đoan Minh.

Chuông đồng thời Cảnh Thịnh thứ 7 (1799).

Bia Hậu Phật chùa Đoan Minh.

Đình Thổ Hà, di tích quốc gia đặc biệt

1. THÔNG TIN CHUNG

Tên gọi: Đình Thổ Hà 

Tên khác: Đình làng Thổ Hà

Địa chỉ cụ thể: Làng Thổ Hà, phường Vân Hà, tỉnh Bắc Ninh

Vị trí địa lý và không gian cảnh quan:

Mô tả vị trí: Nằm ở trung tâm làng Thổ Hà cổ bên bờ Bắc nhìn ra sông Cầu, phía sau là chùa Đoan Minh phía trước là bến đò.

Yếu tố phong thủy: Theo bản Mục lục của làng thì phong cảnh Thổ Hà bốn phía xinh tươi, phía Đông một dải đất tựa hình rồng quay về chốn tổ, phía Tây một trái núi trông như dáng hổ ngồi chầu, hướng về phương Nam là sông Nguyệt núi Hằng, sách trời đã định, tựa lưng phương Bắc ngon Lát phong, Phúc lĩnh hun đúc khí thiêng.

Niên đại khởi dựng và các lần trùng tu:

Theo tấm bia “Thủy tạo đình miếu bi” thì đình Thổ Hà được xây dựng năm Ất Sửu 1685, thời vua Lê Hy Tông niên hiệu Chính Hòa, hoàn thành năm Nhâm Thân 1692 và đã được trùng tu vào thời Nguyễn thế kỷ XIX. Năm 2009 đình Thổ Hà được đại trùng tu và nâng cao như hiện nay.

2. GIÁ TRỊ LỊCH SỬ

Nhân vật được thờ: 

Đình Thổ Hà thờ đức Thánh ông là Thái Thượng Lão Quân, còn gọi là Lão Đam hay Lão Tử, đức Thánh bà là Thái Hậu Đoan Ý Phu nhân, mẹ của Lão Tử và thờ tổ sư nghề gốm là ông Đào Trí Tiến.

Sự kiện lịch sử, văn hóa gắn liền với di tích:

Bia Cung sao sự tích thánh ở đình Thổ Hà chép: 

Đời vua Thục An Dương Vương có một người từ Bắc quốc đến đạo Kinh Bắc, phủ Bắc Hà, huyện An Việt và ở nhờ chùa Đoan Minh Tự của trang Thổ Hà. Ngày đêm giảng kinh đọc sách, có sức màu nhiệm như thần, trong trang có nhiều con em theo học. Một hôm Người bảo học trò rằng: 

  • Ta sinh ra từ thủa Hồng Mông, trời đất mới mở mang, cho nên ta thông minh khác thường. Năm xưa mẹ ta kể chuyện rằng: mẹ vốn là người từ bi, huyền diệu mà sinh ra, tên là Mỹ Thổ Hoàng. Có một đêm mẹ ta nằm mơ thấy nuốt một vì sao ngưu tinh, thế là mẹ có thai đủ 81 năm. Đến ngày 7 tháng giêng năm Canh Thìn nách tay phải của mẹ rung động rồi sinh ra ta. Khi ta mới ra đời đầu đã bạc, chân có chữ, ta không có bố, khi đẻ mẹ vịn vào cây mận cho nên lấy họ ta là Lý, tên là Lão Đam, tên chữ Lý Bá Dương, lại có tên là Thái Thượng.

Quanh vùng nơi ở của người không ai xảy ra tật bệnh, nên người trong trang thường bảo nhau rằng: đó là khí sinh thánh tổ, chẳng phải người thường, các nơi cũng đến xin làm thần tử. Từ đó danh vang thiên hạ, người đến theo học càng đông. 

Lúc bấy giờ trong nước có giặc Quỷ mũi đỏ (Xích Tỵ), một vị quan thị hầu vua bị bệnh ngã nhào xuống đất và sau đó bệnh tật lan khắp mọi nơi, trong nước nhiều nơi mắc bệnh, người ốm người chết thiệt hại rất nhiều. Nhà vua vội truyền hịch đi các nơi: nếu ai trừ được giặc Quỷ vua sẽ gia phong tước lộc. Lão Tử liền vâng mệnh đến nơi có giặc Quỷ, người liền niệm chú rằng: “Đạo pháp bản vô đa, nam thần quán Bắc Hà, đô lai tam thất tự, tận diệt thế gian ma”. Đọc chú xong, Người lại thư phù vào gậy trúc và phóng đi bốn phương, các nơi đều yên ổn. Quan địa phương tâu với triều đình, vua liền mời Lão Tử đến ban thưởng, mở tiệc khoản đãi và phong người là Đệ nhất nhân (người tài nhất). Lại cho ngài được hưởng thực ấp ở vùng An Việt huyện. 

Người bái tạ đức vua và trở về Thổ Hà trang. Về tới nơi Người liền cho xây dựng cung doanh trị sở. Khi xây xong Người cho mời các bô lão trong trang và tất cả học trò đến mở tiệc ăn mừng. Lúc sắp sửa ăn bỗng thấy đám mây năm sắc từ từ sa xuống đất, trong mây thấp thoáng có bóng người mặc áo đỏ, Lão Tử liền theo đám mây cưỡi rồng đỏ mà biến mất. 

Sau đó vua xây thành Cổ Loa có những u hồn và tà ma quấy nhiễu, cứ xây xong lại đổ. Vua lo lắm, liền xa giá đến Thổ Hà trang cầu đảo. Chợt có thần nhân hiện lên bảo vua rằng: xin vua cứ hồi kinh, không lo ngại gì. Rồi Người sai Thanh Giang sứ (tức thần Kim Quy) đến giúp, giết Bạch kê tinh trong núi Thất Diệu, lại đào được hài cốt Bạch kê đem đốt đi, từ đó yêu ma tan hết, lại đào thấy nhạc khí thời cổ (như chiêng, trống đồng). Thành xây nửa tháng vừa xong, vua hàng năm cứ đến ngày 22 tháng 2 xa giá đến làm lễ để tỏ lòng tôn kính một vị thần linh tuấn, đó là lẽ thường vậy. 

Lại phong cho là Đương cảnh thành hoàng Thái Thượng Bản giác Linh phù Thượng đẳng phúc thần. Phong mẹ là Đoan ý Trinh thục Nhu hòa Huệ ân Diệu mỹ Thổ Hoàng Thái hậu. Từ đó về sau nghiệm thấy linh ứng nên các triều đại đế vương đều phong mỹ tự.

3. KIẾN TRÚC VÀ NGHỆ THUẬT

Bố cục mặt bằng tổng thể và các hạng mục chính:

Mô tả bố cục: Đình chính chữ công gồm đại đình, ống muống và hậu cung phía sau. Phía trước là nhà tiền đình, hai bên sân đình có tả vu và hữu vu nằm trong nghi môn nội. Phía trục đường nhất chính đạo dẫn thẳng ra phía bờ sông là nghi môn ngoại. Một bên phải đình phía sau có nhà thờ Mẫu, thờ mẹ của Lão Tử.

Mô tả từng hạng mục: Tòa đại đình có 5 gian 2 chái, dài 27m rộng 16m với bốn mái đao cong lợp mũi hài. Nghệ thuật điêu khắc ở ngôi đại đình là tiêu biểu nghệ thuật điêu khắc đình làng thời Hậu Lê.

Tòa tiền tế có 3 gian với bốn mái đao và nghệ thuật điêu khắc thời Nguyễn xen với thời Lê. Trong tòa tiền tế đặt 7 tấm bia đá.

Nghệ thuật trang trí, điêu khắc: 

Chạm khắc gỗ: Nghệ thuật trang trí điêu khắc trong tòa đại đình trên các cấu kiện kiến trúc thể hiện nét đặc sắc qua các chủ đề khá đa dạng và phong phú với hình rồng, phượng, nghê, lân, tiên nữ … Điêu khắc đình Thổ Hà được chạm trên hầu hết các thành phần kiến trúc của đình như: đấu kê, con rường, kê đầu dư, ván nong câu đầu … Hệ thống 22 chiếc đầu bẩy chạy xung quanh đại đình được chạm khắc tinh tế mang phong cách Hậu Lê.

Đặc biệt bộ cửa võng đình Thổ Hà làm vào năm 1692 được sơn son thếp vàng đục chạm rất công phu. Bộ cửa võng đình Thổ Hà đã được công nhận là Bảo vật quốc gia vào tháng 12 năm 2020.

Kiến trúc: Đình Thổ Hà nhìn từ bên ngoài với hai lớp Tiền tế và Đại đình với các mái đao lớp lớp. Xung quanh Đại đình xây tường lửng dưới có ô vuông để hình hoa cúc bằng gốm nung, trên tường tạo bậu gỗ gắn ván gỗ và chấn song. Xung quanh phần hiên đình được bó bằng đá xanh.

4. GIÁ TRỊ HIỆN VẬT

Bài trí thờ tự: Chính giữa đại đình là nơi đặt hương án, phía trên là bộ cửa võng Bảo vật quốc gia. Hai bên hương án bầy bộ bát bửu và chấp kích và đặt cây hương đá (đèn đá) cổ. Hai bên gian chính có bộ ngựa hồng, ngựa bạch và quản mã cổ, kích thước lớn. Đặc biệt là có 2 cỗ kiệu bát cống cổ sơn son thếp vàng cho Thánh và Mẫu, chạm rồng, phượng rất đẹp. Dải ống muống đặt hương án và hai hàng phỗng chầu. Trong hậu cung đình Thổ Hà xây bệ cao, trên đặt ngai và bài vị Lão Tử. 

Đồ thờ tự cổ có hương án, bát hương, bát bửu, chấp kích, quán tẩy, ngai thờ, ngựa thờ, kiệu cổ … Phía ngoài Tiền tế có treo một chiếc mõ gỗ lớn hình cá, hiện vật khá độc đáo.

Di sản Hán Nôm quan trọng: 

Trong đại đình Thổ Hà còn hàng chục câu đối cổ sơn son thếp vàng, nội dung hết sức độc đáo, ca ngợi công đức của Thái Thượng Lão Quân, là bậc Tiên Thánh Thần thời nhà Chu, sánh ngang với Khổng Tử và Phật Thích Ca. Câu đối hai bên cửa võng:

Qui giải hiệu linh, Thất Diệu sơn trung truyền dịch quỉ

Long năng thừa hóa, ngũ vân trang hạ ký đăng tiên.

Nghĩa là:

Rùa biết nghiệm linh thiêng, trên núi Thất Diệu truyền chuyện sai khiến quỉ

Rồng tài mau biến hóa, dưới trang mây năm sắc lưu tích lên tiên.

Câu đối khác ở gian phải của đại đình:

Đông Chu phong vũ thị hà thì, biệt bả thanh hư khai Đạo Giáo

Nam Việt sơn hà duy thử địa, độc truyền ảo hóa tác Thần Tiên.

Nghĩa là:

Mưa gió Đông Chu đây một thời, riêng giữ chốn thanh hư, mở Đạo Giáo

Núi sông Nam Việt chỉ đất đó, một truyền phép màu nhiệm, tạo Thần Tiên.

Câu đối ở gian trái của đại đình:

Huyền tham Thích điển công tỉ Ni Sơn, Đạo Đức nhất kinh truyền chí bảo

Quyết bản Khương công thuật khai Hoàng Thạch, thần tiên chung cổ hiển linh tung.

Nghĩa là:

Huyền diệu vào tích Thích Ca, công đức như núi Ni Sơn, Đạo Đức kinh một bộ truyền báu vật.

Phù quyết gốc từ Khương Công, pháp thuật mở tảng Đá Vàng, Thần Tiên tự cổ xưa sáng dấu linh.

Tại đình Thổ Hà còn lưu giữ được nhiều bản sắc phong cổ, trong đó có các sắc phong niên hiệu Dương Hòa thứ 3 (1637) và thứ 5 (1639) đời vua Lê Thần Tông, niên hiệu Cảnh Hưng thứ nhất (1740), thứ 44 (1783) đời vua Lê Hiển Tông, niên hiệu Quang Trung năm thứ 5 (1792),  niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 4 (1796) đời vua Quang Toản, niên hiệu Tự Đức năm thứ 6 (1853). Các sắc phong này hiện được sao, dịch và treo ở trong đình, cùng bảng Lược sao sắc văn qua các triều vua phong tặng. 

Ngoài Tiền tế của đình có một chiếc khánh đá cỡ lớn, chạm hình 2 con rồng chầu chữ. 7 tấm bia đá còn lưu giữ tại tiền tế và 1 tấm bia trong đại đình, được bảo quản tốt, chữ còn sắc nét, trang trí hoa văn, có niên đại từ thời Lê trung hưng đến thời Nguyễn. Nội dung các bia nói về cung tiến công đức, gửi giỗ, các sắc phong, về việc tranh chấp 2 xã Thổ Hà và Yên Viên và bản sao sự tích thánh. Cụ thể như sau:

  • Thủy tạo đình miếu bi” dựng năm Chính Hòa (1692) nói về quá trình xây dựng đình Thổ Hà.
  • “San lý đoạn bi” năm Vĩnh Thịnh thứ 10 (1714) về phán quyết đối với việc tranh chấp của 2 xã Thổ Hà và Yên Viên ruộng và bãi tha ma.
  • “Nhất cung tiến đại vương mã bi” năm Long Đức thứ 3 (1734) về việc tạo tác một đôi ngựa bạch, hồng và cung tiến vào đình.
  • “Bản xã nguyện bi” năm Cảnh Hưng thứ 37 (1776) về việc dùng tiền lãi đóng tô dung cho dân và dùng cho xướng ca thờ Thánh.
  • “Tự Đức nhị thập tứ niên ngũ nguyệt nhật” năm Tự Đức thứ 24 (1871) khắc 4 bản sắc phong thời Lê của đình.
  • “Ký kỵ thạch bi” năm Tự Đức thứ 11 (1858) vể việc gửi giỗ cho 2 anh em ông Bùi Tá Thông và Bùi Tá Cơ.
  • “Long phi Tân Mùi mạnh hạ tạo bi” năm Tân Mùi (thời Tự Đức 1871) khắc 4 sắc phong thời Cảnh Hưng thứ 44, Cảnh Thịnh, Quang Trung và Tự Đức.
  • “Cung sao thánh tích” năm Thành Thái thứ 9 (1897) khắc sự tích về Thái Thượng Lão Quân.

Trong đại đình còn có bảng văn Mục lục, ca ngợi phong cảnh và quê hương Thổ Hà.

Thần tích các vị thành hoàng  Lý Lão Đam Thượng đẳng thần, Thái Hậu Đoan Ý Phu nhân cùng 3 vị tổ nghề gốm sứ (Khởi nghệ tiên triết Đào Kính Trí, Tiên thánh sư Hứa Vĩnh Phúc, Tiên thánh sư Lưu Phong Tú) hiện còn được lưu giữ tại viện Hán Nôm.

5. LỄ HỘI VÀ PHONG TỤC VĂN HÓA

Lễ hội chính: 

Lễ hội làng Thổ Hà là một trong những lễ hội đặc sắc đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia vào năm 2012. Hội lệ được tổ chức trong ba ngày 20, 21, 22 tháng Giêng âm lịch. Hiện nay, hội Thổ Hà ba năm mới tổ chức rước một lần.

Lễ hội Thổ Hà tôn vinh Thành Hoàng làng Lão Tử. Phần lễ chính của hội là rước hai kiệu chính là Kiệu Ông và Kiệu Bà. Người tham gia đoàn rước là nhân dân ba xóm của làng Thổ Hà. Đoàn rước chính là nét đặc sắc nhất của Lễ hội Thổ Hà. Vào ngày chính hội 21 tháng giêng, từ sáng sớm đoàn rước đã tập trung tại Từ chỉ làng Thổ Hà. Đoàn rước rất phong phú, có rước cờ Thần, cờ Ngũ hành Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ, cờ Tứ linh Long Ly Quy Phương. Đặc biệt có các nhân vật ba ông Tam Đa và hai em đóng Tiên đồng Ngọc nữ, đội quan tướng mặc trang phục tuồng cổ. Đoàn rước có đội múa sinh tiền nam thanh thiếu niên, đội múa tiên nữ thanh thiếu niên, đội múa trống của các xóm. Lễ vật luôn có mâm lễ bò nguyên con và các đồ lễ. Đoàn rước tiến chậm rãi về đình làm lễ tạo nên phần đặc sắc nhất của hội Thổ Hà.

Phần hội xưa có nhiều trò chơi dân gian như đấu vật, chọi gà, đánh đu, đi chữ, đập niêu, đi cầu kiệu… Diễn xướng dân gian hát quan họ trên sông, hát tuồng, hát chèo, hát ca trù cũng là nét đặc sắc khác của hội Thổ Hà. Thổ Hà là một trong những làng quan họ cổ của tỉnh Bắc Ninh.

6. KẾT LUẬN

Văn bản công nhận di tích: Đình Thổ Hà đã được xếp hạng là di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh cấp quốc gia theo Quyết định số 29-VH/QĐ của Bộ Văn hóa ngày 13 tháng 01 năm 1964.

Ngày 11/02/2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Mai Văn Chính đã ký Quyết định số 266/QĐ-TTg xếp hạng Quần thể Di tích kiến trúc nghệ thuật đình, chùa, từ chỉ Thổ Hà, phường Vân Hà, tỉnh Bắc Ninh là Di tích quốc gia đặc biệt.

Di tích đình Thổ Hà

Bức Cửa võng đình Thổ Hà được công nhận là bảo vật Quốc gia

Câu đối và kiệu cổ đình Thổ Hà.

Rước kiệu Thánh Ông trong lễ hội Thổ Hà.

Tiên đồng, Ngọc nữ, Tam đa trong đoàn rước lễ hội Thổ Hà.

Quan tướng trong đoàn rước lễ hội Thổ Hà.

Hát quan họ trên sông bên bến Thổ Hà.

Bạn có biết: Kinh Dương Vương là vua Đại Vũ trị thủy ở sông Đà

Kinh Dương Vương, vị vua mở đầu thời kỳ dựng nước của người Việt chính là Tản Viên Sơn Thánh trong huyền sử Việt và được thờ cúng ở khắp nới tại nước ta. Tản Viên Sơn Thánh chống chọi với cơn hồng thủy hàng ngàn năm trước cũng là vua Đại Vũ, người đã trị thủy thắng lợi thời Đường Nghiêu – Ngu Thuấn trong lịch sử Hoa Hạ.

Tản Viên Sơn Thánh ở đền Thể Giao (Hà Nội)

1. Vua Vũ trị thủy ở Long Môn Thác Bờ trên sông Đà

Truyền thuyết cổ đại kể rằng, thời Đường Nghiêu hồng thủy mênh mông, nước ngập tới lưng trời. Vua Đại Vũ đi xem xét các nơi rồi đến đoạn hiểm trở nhất của sông Hắc Thủy, đục đá phá mỏm núi chắn ngang sông, khơi thông nước lũ. Nơi Đại Vũ phá đá trị thủy gọi là Vũ Môn. Vũ Môn có nước chảy xiết, hằng năm cá chép tập trung đến đây, con nào vượt qua được Vũ Môn thì hóa rồng. Nên nơi đây còn gọi là Long Môn hay Vũ Long Môn.

Đối với người Việt, cá vượt Vũ Môn là hình tượng rất thân thuộc, đã đi vào thơ văn, vào tranh dân gian, vào các mảng chạm khắc trang trí trong các đình làng quê lối xóm. Người Việt có câu ca dao:
Mồng bốn cá đi ăn thề
Mồng tám cá về cá vượt Vũ Môn.
Vũ Môn là nơi nào mà ca dao người Việt lại nói tới rõ ràng cả ngày tháng như một phong tục lâu đời vậy?

Sách Hà Nội địa dư do Dương Bá Cung soạn năm Tự Đức thứ 4 (1852) phần Sông Nhị Hà viết: … Có tên là Lô Giang hay còn gọi là sông Phú Lương. Nước sông cuốn theo phù sa sắc đỏ như son, tới mùa thu nước mới trong trở lại. Dòng sông bắt nguồn từ nội địa bên Vân Nam chảy xuống. Xét: sách Vũ Cống nói: “Dẫn nước sông Hắc Thủy đến núi Tam Nguy chảy nhập vào biển Nam Hải”. Nhà nho đời trước nói: “Có bốn dòng sông vùng Tây Di chảy về phương Nam ra biển, thứ nhất là Tây Nhị Hà”. Quế Đường Lê (Quý Đôn) viết: “Phủ Xa Lý có sông Lạn Thương và sông Cửu Long đều chảy vào Giao Chỉ, trở thành sông Phú Lương, tức là hạ lưu của sông Hắc Thủy vậy. Nước sông chia thành hai dòng chảy: một là sông Thao, một là sông Đà, hợp lưu ở ngã ba Bạch Hạc, gọi là sông Nhị Hà…

Tương tự, sách Hà Nội sơn xuyên phong vực thời Nguyễn cũng chép về sông Nhĩ Hà: Xét thiên Vũ Cống sách Kinh Thư có câu: “Dẫn nước sông Hắc Thủy đến núi Tam Nguy rồi ra biển Nam Hải”. Sái Phó dẫn lời của Phàn Xước đời Đường: “Có bốn dòng sông từ Tây Di chảy về phương đổ ra biển Nam Hải, một trong số đó là Tây Nhĩ Hà”. Ông Trình Tử nói: “Sông Hắc Thủy ở phía Tây đất Thục. Sông Nhĩ Hà và sông Hắc Thủy nối liền nhau, đổ thẳng ra biển Nam Hải”. Tra cứu sách Địa dư chí thì sông Nhĩ Hà bắt nguồn từ nội địa tỉnh Vân Nam. Vân Nam là đất Ba Thục xưa. Tra sách vở, bản đồ thấy phần đất nước ta nằm cách sông Hắc Thủy về phía Tây, như vậy là khớp với tên sông Nhĩ Hà nêu trên.

Các nhà Nho thời Nguyễn khi khảo cứu về sông Nhị Hà thường liên hệ với câu trong thiên Vũ Cống của Kinh Thư: “Dẫn nước sông Hắc Thủy đến núi Tam Nguy rồi ra biển Nam Hải”, và cho rằng Hắc Thủy đây là ngọn nguồn từ Vân Nam của sông Nhĩ Hà hay sông Hồng ngày nay. Vấn đề là thiên Vũ Cống nói về thời vua Đại Vũ của nhà Hạ Trung Hoa từ cách đây trên 4000 năm. Thế mà sao lại có nói đến con sông chảy qua Việt Nam và còn biết cả biển Nam Hải? Hạ Vũ ở chỗ nào mà có sông đổ ra biển Nam Hải (tức biển Đông)?

Không chỉ các nhà Nho nước Nam thời Nguyễn. Sách Đại Việt địa dư toàn biên của Nguyễn Văn Siêu – Bùi Quý (đầu thế kỷ 19) có bài Khảo cứu về nguồn lạch sông Nhị Hà, dẫn các tư liệu của Trung Quốc: Sách Lý Nguyên Dương Hắc thủy khảo chép rằng: Vũ Cống nói rằng: “dẫn nước sông Hắc Thủy đến núi Tam Nguy chảy vào biển”. Núi Tam Nguy chẳng biết ở đâu, cứ Lũng, Thục, Điền (Vân Nam) ba phương đứng chân đỉnh thì nước ở Lũng, Thục vốn không chảy vào biển. Duy 2 sông Lan Thương, Lô Giang ở tỉnh Vân Nam (Điền) đều phát nguyên từ Thổ Phồn chảy về phía Tây Bắc rồi chảy vào Nam Hải…

Hắc Thủy là dòng sông mà Đại Vũ đã khơi dòng trị thủy từ thủa hồng hoang. Vậy mà dòng sông này lại được xác định là thượng lưu của sông Nhĩ Hà (sông Hồng). Như thế rõ ràng Đại Vũ trị thủy chẳng phải ở đâu xa mà chính là ở vùng đất Bắc Việt ngày nay. Chỉ vì các chuyên gia sử địa cả ta và Trung Quốc không chịu nhìn nhận điều này nên mới vô cùng lúng túng khi so sánh cổ thư để khảo về dòng Hắc Thủy đổ ra biển Nam Hải. Đại Vũ mà trị thủy ở vùng trung lưu Hoàng Hà thì lấy đâu ra biển mà đổ (vì sông Hoàng Hà chảy lòng vòng ngược lên phía Bắc đổ ra biển Bột Hải), chưa nói gì còn đổ ra tận biển Đông (Nam Hải).

Nhà bác học Lê Quý Đôn trong sách “Kiến văn tiểu lục” đã ghi: “Dòng chính có một nhánh chảy xuống thành sông Hắc Thủy vào nước ta… đến sông Kim Tử thì nhập lại thành sông Đà. Sông này nước rất trong… Đường thủy khó đi với 83 ghềnh thác có tiếng hiểm trở mà Vạn Bờ là khó khăn hiểm trở nhất.

Còn nhà thơ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, người mà quê hương và bút danh gắn với vùng núi Tản sông Đà có bài thơ “Tự thuật” như sau, minh chứng cho tên Hắc Thủy (sông Đen) của dòng sông Đà:
Văn chương thời nôm na,
Thú chơi có sơn hà,
Ba Vì ở trước mặt,
Hắc Giang bên cạnh nhà.

Long Môn, nơi vua Vũ đã đục thông lòng sông Hắc Thủy, khơi dòng dẫn nước qua núi Tam Nguy về Nam Hải, là đoạn sông Đà chảy qua Thác Bờ nay ở tỉnh Hòa Bình, rồi vòng qua núi Ba Vì mà chảy vào sông Nhị Hà ra biển. Sách Đại Nam nhất thống chí đã chép như sau: “Ở địa phận Đà Bắc, gần châu lị, đằng trước trông ra sông Đà, có núi Long Môn, tên nữa là núi Thác Bờ, đá núi chắn ngang nửa dòng sông, thế nước xoáy mạnh ầm ầm, trông rất dữ dội. Đầu đời Lý, quân đi đánh Ma Sa đóng ở mỏm Long Thuỷ. Hồi đầu đời Lê đi đánh Đèo Cát Hãn, đường qua bờ Long Thuỷ, tức là chỗ này. Ngay giữa ghềnh đá có một chỗ rộng chừng 5-6 trượng, người ta gọi là Ao Vua, tức là bến sông Vạn Bờ xưa, thuộc xã Hào Tráng, châu Đà Bắc.”

Mỏm đá có bài thơ “Chinh Đèo Cát Hãn hoàn quá Long Thủy đê” (Chinh phạt Đèo Cát Hãn về qua bờ Long Thủy) của Lê Thái Tổ đề khắc tháng ba năm Nhâm Tý (1432) nay vẫn còn lưu trong khu di tích đền Thác Bờ. Đây là những minh chứng rõ ràng cho tên gọi Long Môn xưa của Thác Bờ trên sông Đà. Thác Bờ ở Hòa Bình xưa còn gọi là thác Vạn Bờ, được tạo bởi hàng trăm mỏm đá lớn nhỏ nhấp nhô như đàn voi khổng lồ giữa dòng sông Đà gầm thét ồn ào, sinh ra một kỳ khu hiểm lộ.

Sách Đại Nam nhất thống chí đã chép như sau: “Ở địa phận Đà Bắc, gần châu lị, đằng trước trông ra sông Đà, có núi Long Môn, tên nữa là núi Thác Bờ, đá núi chắn ngang nửa dòng sông, thế nước xoáy mạnh ầm ầm, trông rất dữ dội. Đầu đời Lý, quân đi đánh Ma Sa đóng ở mỏm Long thuỷ, hồi đầu đời Lê đi đánh Đèo Cát Hãn, đường qua đê Long thuỷ, tức là chỗ này. Ngay giữa ghềnh đá có một chỗ rộng chừng 5,6 trượng, người ta gọi là “ao vua”, tức là bến sông Vạn Bờ xưa thuộc xã Hào Tráng, châu Đà Bắc”…lại có tên núi nữa là núi Ngải.
Sách Đại Thanh nhất thống chí chép: “núi ở huyện Gia Hưng; trông ra sông cái…tương truyền trên núi có cây ngải tiên, mùa xuân nở hoa, sau khi mưa, hoa rụng xuống nước, con cá nào nuốt phải hoa ấy thì vượt được Long – môn mà hoá thành rồng. Nay núi Long môn châu Đà Bắc, trước mặt trông ra sông Đà, gần đê Long thuỷ, có lẽ là đấy”.

Như vậy, Thác Bờ trên dòng sông Đà còn có tên là Long Môn, là nơi có truyền thuyết “Cá vượt Vũ môn hóa rồng”. Vũ môn không phải là “cửa mưa” mà là cửa của vua Vũ (= Vua = Long). Long Môn hay Vũ Môn chính là nơi vua Đại Vũ nhà Hạ trị thủy, khơi thông dòng Hắc Thủy (tên khác của sông Đà) thời lập quốc người Việt Long Môn là nơi dòng sông Đà đổi dòng, chảy ngược lên phía Bắc để tránh dãy Ba Vì rồi đổ vào sông Thao và sông Lô tại ngã ba Bạch Hạc Việt Trì.

Còn theo các tư liệu như sách Giao Châu ký nói: “Có Long Môn (Cửa Rồng) nước sâu trăm tầm (phép đo đời nhà Chu 5 thước là một tầm), cá lớn vượt lên được đó thì thành rồng”. Sách Sơn Đường dị khảo nói: “Sông Long Môn ở huyện Gia Hưng, nước An Nam, nước sông đến đó, hai bờ cao ngất, đá lớn chấn ngang dòng sông, giữa mở 3 lối, nước tóe xuống như bay, cao mấy trượng, tiếng nước dội xuống, tiếng đá đập nhau kêu ầm ầm như trống thúc sấm vang, ngoài trăm dặm còn nghe tiếng. Thuyền đến đó, phải khiêng lên bờ mới đi được. Bên cạnh có hang và nhiều cá Anh Vũ. Chỗ sông sách kể đây tức là chỗ Thác Pha này đó”.

Núi Tam Nguy nơi sông Hắc Thủy dẫn nhập ra biển thời Đại Vũ cũng không phải ở Vân Nam. Khi xác định Long Môn là thác Vạn Bờ trên dòng sông Đà thì núi Tam Nguy không khó để nhận ra chính là ngọn núi Ba Vì, ngọn núi đã chắn dòng sông Đà ở Sơn Tây trước khi đổ ra ngã ba Bạch Hạc, Việt Trì.

Thời Đại Vũ cách đây trên 4000 năm, khi đó mực nước biển dâng cao hơn bây giờ. Căn cứ theo bậc thềm phù sa cổ để lại thì cửa sông đổ ra biển lúc này nằm vào sát vùng trung du ngày nay. Tam giác đồng bằng sông Hồng lúc đó là vùng bán ngập nước mà đỉnh của tam giác này là ngã ba Việt Trì. Do đó thời Đại Vũ ngã ba sông Bạch Hạc nằm không xa biển là bao nhiêu. Như thế câu chép của thiên Vũ Cống hoàn toàn chính xác với địa hình thủy văn ở vùng Bắc Việt lúc này: Dẫn nước sông Hắc Thủy đến núi Tam Nguy rồi ra biển Nam Hải. Tức là dẫn nước sông Đà đến ngã ba Bạch Hạc – Tam Đảo rồi ra biển Đông.

Bia đá có bài thơ “Chinh Đèo Cát Hãn hoàn quá Long Thủy đê” của Lê Thánh Tông ở Thác Bờ.

3. Vua Vũ là Tản Viên Sơn Thánh

Cuốn sách thờ cổ lưu truyền ở vùng chân núi Ba Vì là “Tản Viên Sơn từ di tích” có đoạn sau: “Thời Đường Nghiêu, hồng thủy bao trùm. Lạc Long Quân sai trăm người con trai cùng nhau trị thủy. Khi đó chỉ có Tản Viên đại vương có oai anh võ dũng, đức cao đạo lớn, có thuật thần tiên, bèn đọc ước chú làm cho đá vỡ tung, hiện thành cây gậy sắt, lấy gậy đó mà chỉ vào nước thì nạn thủy tai liền hết.”

So sánh đoạn sự tích này với truyền thuyết Trung Hoa cổ đại thì bất ngờ nhận ra rằng vua Đại Vũ trị thủy thời Đường Nghiêu chính là Tản Viên Sơn Thánh ở vùng núi Ba Vì. Sông Hắc Thủy, nơi Đại Vũ dùng “thuật thần tiên” bạt đá trừ thủy hoạn, vốn là tên của dòng sông Đà.

Hắc Thủy chính xác là sông Đà vì Đà = Đen = Hắc. Thượng nguồn sông Đà từ Vân Nam. Dòng sông trị thủy của Đại Vũ là sông Đà nên Đại Vũ chẳng phải ai khác chính là Tản Viên Sơn Thánh trong truyền thuyết Việt. Tản Viên quê ở Lăng Xương (Thanh Thủy, Phú Thọ) và thành nghiệp ở núi Ba Vì, đều là những nơi ở 2 bên tả và hữu ngạn dòng sông Đà – Hắc thủy này cả. Dòng sông Đà chảy tới ngã ba Bạch Hạc (Việt Trì) đổ nhập vào với sông Thao và sông Lô thành sông Hồng (Nhị/Nhĩ Hà hay Phú Lương), rồi chảy ra biển.

Sách “Kiến văn tiểu lục” của Lê Quý Đôn còn chép: “Thác Bờ ở địa phận động Dĩ Lý và Hào Trang thuộc Mộc Châu. Một ngọn núi đứng sững giữa dòng sông Đà. Đá lớn lởm chởm. Mỗi năm đến ngày 8 tháng 4 từng đàn cá ngược dòng bơi lên những chỉ có vài con cá chép là lên được. Sách Giao Châu ký viết rằng: Có Long Môn nước sâu đến trăm tầm, cá lớn vượt lên đến đấy sẽ hóa thành rồng. Sách Sơn Đường dị khảo viết: Sông Long Môn ở huyện Mông, phủ Gia Hưng, nước An Nam. Nước sông chảy đến đấy thì hai bên bờ đá lớn chắn ngang, nguy hiểm. Ở giữa mở ra ba đường, nước tung tóe, bay xa đến mấy trượng, ầm ầm như sấm dội trống vang, xa hơn trăm dặm mà vẫn còn nghe được. Đến đây thuyền phải kéo lên bờ mới đi được. Bên cạnh có hang lắm cá Anh Vũ. [Chỗ các sách trên nói tới] chính là đây… Hạ lưu của Vạn Bờ… có núi Ngải, ngó xuống sông Đà. Bờ bên kia là xứ Ngòi Lạt. Tương truyền trên núi có thứ cây ngải tiên, về mùa xuân hoa trôi xuống sông, đàn cá nào hớp được là lên được Long Môn hóa rồng.” 

Vũ Long Môn là Thác Bờ trên sông Đà, nơi Tản Viên Sơn Thánh đã khơi dòng trị thủy. Xứ Ngòi Lạt là quê hương của Sơn Thánh, nằm 2 bên bờ sông Đà ở đoạn giáp núi Ba Vì. Truyền thuyết ở Ba Vì kể Ngòi Lạt là đường nước mà Thủy Tinh đã mở để đánh tập hậu vào mặt Tây núi Tản. Nơi đây Sơn Tinh dùng lạt hóa ra lũy tre, cắm chông đá (Đá Chông) để chặn quân của Thủy Tinh. Cửa Ngòi Lạt chảy từ núi Tản ra sông Đà nay là Xóm Lặt, nơi có đền Hạ thờ Tản Viên Sơn Thánh ở xã Minh Quang, huyện Ba Vì. 

Hình tượng cá vượt Vũ Môn là một lời thề, là tấm gương ngàn năm của Tản Viên Sơn Thánh, vị vua lớn thời lập quốc, đã tìm tòi sáng tạo ra những tri thức về thế giới và nhân sinh (Hà đồ, Ngũ hành), nhờ đó nỗ lực vượt qua thiên tai, xây dựng cuộc sống ấm no cho nhân dân, đưa xã hội người Việt ở thủa hồng hoang phát triển lên một nấc thang mới.

So sánh với chuyện vua Vũ trong thần thoại Trung Hoa: “… Vũ đang đứng trên bờ quan sát sức mạnh của dòng nước thì thấy một ông già mặt trắng trẻo, mình cá, nhảy lên từ dòng sông… Ông già tự xưng là Hà Bá. Vị thần này cho Vũ một phiến đá to màu xanh… Đó chính là Hà đồ”. Rồi tiếp theo còn có chuyện Vũ gặp một con rắn thần ở trong hang, rắn dẫn Vũ tới gặp Phục Hy và Phục Hy trao cho Vũ một thanh Ngọc giản, có thể đo đạc được trời đất.

Chuyện Sơn Tinh được gậy thần sách ước và chuyện Đại Vũ được Hà đồ, Ngọc giản chỉ là một. “Ông già mặt trắng” có thể chính là Thái Bạch Thần Tinh. Thái Bạch = Thái Hạo (Hạo là sáng, bạch), cũng là tên khác của Phục Hy trong truyền thuyết. Phục Hy tương truyền có mình rắn. Phục Hy là người tìm ra Bát quái nên hoàn toàn có thể Phục Hy chính là Thái Bạch Tử Vi thần tướng. Phục Hy là vị thần chấn Đông nên cũng có thể là Long Vương Động Đình.

Theo truyện Dịch thì Phục Hy là người đã chép Hà đồ từ lưng con Long Mã (= con rồng, rắn thần). Còn vua Vũ vẽ Lạc Thư từ lưng con Thần Quy. Có thuyết khác lại cho rằng cả Hà đồ lẫn Lạc thư đều do Đại Vũ nghĩ ra. Dù thế nào thì rõ ràng phép thần của Tản Viên Sơn Thánh chính là Hà Lạc, được tiếp thụ từ tiền nhân và sáng tạo thêm trong quá trình trị thủy.

Nhờ có sự học hỏi, suy ngẫm về thế giới và xã hội, đúc kết nó trong cuốn Sách ước ngàn đời là Hà thư, Kinh Dương Vương – Tản Viên Sơn Thánh đã thành công trong trị thủy, an dân, chống giặc. Đó cũng là ý nghĩa của câu “Long hóa Vũ Môn”, cá vượt Vũ Môn hóa rồng, như bức giả sơn đắp tại đền Và.

Lĩnh Nam chích quái, Truyện núi Tản Viên: “Đại vương Sơn Tinh họ Nguyễn, cùng vui với các loài thủy tộc ở đất Gia Ninh, huyện Phong Châu”. Còn “Việt sử lược” về sự thành lập của nước Văn Lang: “Đến thời Trang Vương nhà Chu ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng ảo thuật áp phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang, hiệu là nước Văn Lang, phong tục thuần hậu chất phác, chính sự dùng lối kết nút. Truyền được 18 đời đều gọi là Hùng Vương”.

Tới đây ta hiểu, “người lạ dùng ảo thuật ở bộ Gia Ninh” đã áp phục các bộ lạc chính là Tản Viên Sơn Thánh, người đã tập hợp nhân dân Việt trong cuộc đấu tranh chống nạn hồng thủy. Phép “ảo thuật” ở đây không gì khác là Hà đồ và Lạc thư, là Dịch học của người họ Hùng. Quốc tổ họ Hùng không phải là một thầy phù thủy, mà là một nhà khoa học vào thuở bình minh của dân tộc.

Giả sơn Long hóa Vũ môn ở đền Và, Sơn Tây.

3. Kinh Dương Vương là vị Nam Thiên Thánh Tổ Tản Viên Sơn Thánh

Truyện họ Hồng Bàng chép: “Kinh Dương Vương để trị đất Nam, lấy hiệu nước là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương có tài đi dưới Thủy phủ, lấy con gái Long Vương ở hồ Động Đình, sinh ra Sùng Lãm hiệu là Lạc Long Quân, cho nối ngôi trị nước. Kinh Dương Vương không biết đi đâu mất.

Kinh Dương Vương được Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả thời Lê Đại Hành xếp là vị vua Hùng đầu tiên (Hùng Dương Vương), mở đầu các đời Hùng Vương. Các ngọc phả thời Hậu Lê cũng thường có bài thơ tán mở đầu rằng: “Sơ khai Nam Việt hữu Kinh Dương”. Còn Tản Viên Sơn Thánh cũng là một trong số những người con đã theo cha xuống biến, tương đương với thời đầu của các đời Hùng Vương, như Lĩnh Nam chích quái chép: Theo sách Thế Pháp tập thì: Xưa Lạc Long Quân và Âu Cơ sinh một bọc trăm trứng, mỗi trứng nở ra một người con trai. Long Quân đem 50 con về dưới bể. 50 con cùng ở với Âu Cơ phân nhau trị thiên hạ, hiệu là Hùng Vương. Mà đại vương núi Tản Viên chính là một trong năm mươi người con đi xuống bể, không phải là hạo khí của núi tụ nên vậy.

Tản Viên Sơn Thánh ở các di tích thờ phụng hiện nay (như ở đền Và, Sơn Tây, Hà Nội) được tôn là Nam Thiên Thánh Tổ. Vị Thánh Tổ khai mở trời Nam cũng chính là Kinh Dương Vương, người đã được vua cha Đế Minh phong cho cai quản phương Nam theo Truyện họ Hồng Bàng. Tản Viên Sơn Thánh đã được người mẹ nuôi là Ma Thị Cao Sơn Thần nữ lập chúc thư giao lại toàn bộ miền rừng núi cho cai quản. Bà mẹ Ma Thị Cao Sơn như vậy tương ứng với tên Cao Sơn (Ất Sơn) của Lộc Tục Đế Thuấn như đã trình bày trong bài trước.

Kinh Dương Vương vâng mệnh vua cha (Đế Minh) đi tuần thú ở Ngũ Lĩnh, làm vua phương Nam. Còn Tản Viên Sơn Thánh cũng có một vùng di tích được gọi là Ngũ hành cung Tản Viên ở miền Sơn Tây. Tản Lĩnh ngọc ký (ngọc phả về Tản Viên Sơn Thánh) chép: [Sơn Thánh] khi đó hoặc dạo chơi trên sông Tiểu Hoành, ngắm cảnh thú vị sông nước mênh mang. Đi qua đất các xã Cổ Đằng, Tam Sơn, Vật Lại, huyện Ma Nghĩa, ngắm nhìn vẻ đẹp núi sông, lập làm hành cung (nay là điện Trung thần cung). Lại đi qua 8 xã Thụy Diễm, Tam Sơn, Lễ Toàn, Nhân Lý, Văn Khê, Xuân Hương, An Phúc, Tùng Cao của huyện Phúc Lộc, lập thêm Nam thần cung ở cửa 12 khe của Bể Cạn. Lại thường đi săn tới xã An Diệu, huyện Mỹ Lương, lập cung điện Mang Sơn, rồi giữ ruộng thờ (72 mẫu nay tại xã An Diệu, và 200 mẫu nay ở xã Đông Triều làm dân tạo lệ) để cung cấp cho hậu thế làm hương lửa phụng thờ. Đến khi về đến núi Tản Viên. Động cũ là nơi đất này, ba ngọn núi vượt lên, vạn nhẫn cao vời, tốt đẹp u sảng, khó có thể tả hết. Lại thêm xóm thôn đông đúc, phong tục chất phác. Sơn Thánh rất yêu mến, bèn thiết lập trên đỉnh núi, thuộc đất Thủ Pháp 22 xóm (nay Thượng thần cung tọa Càn hướng Khôn là chính điện; Trung, Hạ thần cung là nơi cầu đảo; Đông thần cung là nơi yết kiến; Nam thần cung, Bắc thần cung là nơi trú ngự). Từ đó tuân mệnh Thượng Đế thường cùng với Tứ phủ Công đồng ở hải đảo mà đi tuần xem vạn sự trong nhân gian.

Hùng Vương Thánh Tổ ngọc phả thời Nguyễn chép: Ngày sau Vua (Kinh Dương Vương) lại đi tuần thú, rong ruổi xem khắp các nơi sông núi, đến xứ Sơn Tây thấy một nơi địa thế trùng điệp, sông đẹp núi lạ, non nước đúc thiêng. Vua bèn thân ngự giá lên núi, tìm mạch đất, nhận thấy khí mạch từ núi Côn Lôn xuất ra, theo từ động Vân Nam, Ngũ Lĩnh của nước lớn tiếp gặp Ải Môn Thủy Đỗ của sông Ngưỡng Đức, nước phân ra như hình chữ Bát…

Sự kiện Kinh Dương Vương đã đến vùng “Sơn Tây” nhìn thế đất, chọn long mạch và lập ra kinh đô tại Phong Châu, cũng là Tản Viên Sơn Thánh đã lập hành cung ở Ngũ Lĩnh. Dấu vết của cuộc đi tìm đất đóng đô này còn lưu tại di tích đình Cả Cao Bang ở vùng đất tổ tại thị xã Phú Thọ. Tại đình có bức hoành phi khác đề: Nguyên quốc Việt quang cơ, tạm dịch là: Rạng nền móng ban đầu của nước Việt. Ở đình còn sự tích rằng vua Hùng đã dừng chân tại đây, bên bờ sông Thao mà suy ngẫm và quyết định đóng đô tại Phong Châu. Nay ở đình Cả Cao Bang còn có phiến đá in sâu 2 dấu chân vua Hùng chọn đô.

Đình Cả Cao Bang còn có một bức đại tự, trước làm bằng đá đã bị hủy hoại trong chiến tranh, nay được làm lại bằng gỗ đề: Khởi bang thư vương. Tương truyền nơi đây là nơi Vua Hùng đã nhận được “Sách trời” để khởi dựng đất nước. Do vậy đình Cả Cao Bang còn gọi là đình Thư. Sự kiện vua Hùng (tức là Kinh Dương Vương) có được cuốn Thiên thư lại tương đồng với chuyện Tản Viên Sơn Thánh có được cuốn Sách ước của Long Vương Động Đình. Chính cuốn sách ước này đã giúp cho Sơn Thánh giành thắng lợi trong cuộc chiến với Thủy Tinh, tức là trong công cuộc trị thủy khi đó.

Điểm tương đồng khác để xác nhận rằng Kinh Dương Vương cũng là Tản Viên Sơn Thánh là việc Kinh Dương Vương có tài đi dưới Thủy phủ rồi lấy Thần Long, con của Động Đình Đế Quân. Còn Tản Viên Sơn Thánh khi ở bãi Trường Sa bên sông Đà đã cứu được con rắn thần là con của Long Vương Động Đình. Sau đó Long Vương mời Sơn Thánh xuống thăm Thủy cung và tặng cho cuốn sách ước, cho con của mình là Thủy Tinh kết bạn, tiễn Sơn Thánh về bằng bài thơ đầy tấm chân tình tương tư:

Không gặp làm sao có kiếp sinh
Khi đi là nghĩa, về là tình
Quay lên đỉnh Thứu, người còn vọng
Trở lại cung Rồng, khách chẳng đành
Một dải âm dương đôi tách ngả
Chín trời mây nước mộng ba canh
Tạm biệt cửa sông hai mắt dõi
Tương tư chốn ấy bởi xa tình.

Sự trùng khớp về thời gian (thời đầu Hùng Vương), tên gọi (Nam Thiên Thánh Tổ), khu vực cai quản và lập đô thành (Sơn Tây, Ngũ Lĩnh), phép thuật (Thiên thư – Sách ước) và cùng lấy con của Động Đình Đế Quân đã chứng minh rõ ràng rằng Kinh Dương Vương, vị vua Hùng mở đầu thời kỳ Kinh triều, đã được người Việt tôn thờ dưới tên là Tản Viên Sơn Thánh. Cùng với việc vua Đại Vũ trị thủy ở Long Môn Thác Bờ trên dòng sông Đà Hắc thủy thì thật rõ ràng Kinh Dương Vương vị vua đầu của Kinh triều Hùng Vương cũng là vua Đại Vũ, người được coi là mở đầu Hoa Hạ trong lịch sử.

Hoành phi Nam Thiên Thánh Tổ ở đền Và, Sơn Tây.
Dấu chân vua Hùng lập đô ở đình Cả Cao Bang, Tx. Lâm Thao, Phú Thọ.
Tượng cổ Tản Viên Sơn Thánh ở đền Đỗng Hoa, Thạch Thất, Hà Nội.
Núi Tản và dòng sông Đà.

Ngọc phả cổ chép về vị Cao Sơn Hiển Ứng Đại vương là công thần triều Hùng Huy Vương họ Việt Thường

Dịch từ thần tích làng Yến Vỹ, tổng Phù Lưu Thượng, phủ Mỹ Đức, tỉnh Hà Đông.

Bộ Thượng đẳng, thứ Sáu.

Xưa Hùng Vương Sơn nguyên Thánh Tổ Tiền Hoàng đế ngôi báu trời Nam mở tạo cơ đồ là thủy tổ Việt Nam, khai sáng họ Hùng Cổ Việt Thường 18 đời thánh vương ngự trị trời Nam, lập nên cơ đề to lớn của nước Việt. Nước biếc một dòng khởi đầu vận vua sáng thánh đế. Núi xanh vạn dặm dựng nền móng cung điện đô thành. Nuôi vật giúp người, thống quản 15 bộ, thế lớn trấn áp các chư phiên. Kế nối ngôi báu ở đất Viêm Hồng. Làm vua trị nước hơn ba ngàn năm. Mãi giúp tông phái vững như bàn đá. Hiển ứng linh thiêng ở Nghĩa Lĩnh. Truyền trăm đời đế vương ngự trị, muôn năm điện thánh núi Hùng, đất tổ trời Nam. Cơ đồ của đất nước mãi giữ muôn năm, vạn thế bền lâu. Lập miếu điện, cung lăng, con cháu dòng dõi hoàng gia tông phái, công thần lớn nhỏ phân đóng ở các nơi, giữ 15 bộ.

Khi ấy Lạc Long Quân lấy Âu Cơ là chính cung, sinh được một bầu trăm trứng, nở ra điềm trăm trai, đều là anh hùng trùm đời, trí dũng vượt người. Đến khi trưởng thành Vua bèn kiến phong hầu, lập phiên thuộc. Một là Sơn Tây, hai là Sơn Nam, ba là Hải Dương, bốn là Kinh Bắc, năm là Ái Châu, sáu là Hoan Châu, bảy là Ai Lao, tám là Ô Châu, chính là Bố Chính châu, mười là Hưng Hóa, mười một là Tuyên Quang, mười hai là Cao Bằng, mười ba là Lạng Sơn, mười bốn là Quảng Tây, mười lăm là Quảng Đông. Dấu tích đều không thể mất. Người đời sau có thơ khen rằng:

Nam thiên triệu tạo lập Hùng gia
Công đối càn khôn triệt hải hà
Thập bộ sơn thần giai đế tử
Diệc đồng miêu duệ thử vương gia.

Lại nói, triều Kinh thứ sáu truyền đến Huy Vương tại vị, đóng đô ở Việt Trì bên sông Bạch Hạc, lập nước tên là Văn Lang, kinh đô là thành Phong Châu. Huy Vương mới lên ngôi trong nước còn thiếu thốn, nên cái đức của vua lấy việc chuyên lo giáo dưỡng nhân dân làm gốc. Việc giao du tửu sắc, mê cảm tin vào thần tiên sao không phải là đức mất nước của hôn quân. Nên chăm lo bồi đức, giúp người, trợ nghèo, dưỡng lão. Đương thời đều gọi là bậc vua hiền vậy.

Lại nói khi đó nước ta tương truyền ở xã Vĩnh Thế huyện Siêu Lại phủ Thuận An xứ Kinh Bắc có một vị chủ trưởng một phương, họ Hùng tên Ân (cũng là dòng dõi Hùng Vương, kế nối quan lang, lấy vợ người cùng xã họ Nguyễn tên Liễu, đều là thuộc bộ Sơn thần). Qua được năm năm, loan phượng hòa hợp, sớm có điềm ứng thẻ ngọc. Nàng Liễu từ đó có mang. Đến khoảng tháng Ba một hôm đi đến chùa trên núi Phật Tích, bỗng thấy trên trời có ba đám mây, bên trong sáng rực rỡ. Được một lúc lại thấy có hổ vàng hai tay ôm lấy nàng Liễu chạy thẳng lên núi.

Từ  đó ông Ân nhớ nhung người vợ, buồn bã đi lên đỉnh núi, trong lòng tưởng nhớ, mắt nhìn ngang dọc tìm kiếm. Bỗng nhiên thấy có hổ vàng nằm ở trên gò đất dưới gốc cây to, cây cỏ um tùm. Nơi đó có tiếng người cất lên như tiếng vợ của ông, nói rằng:

  • Thiếp vốn là con gái Sơn thần, kết duyên cùng với lang quân làm vợ chồng thật vui mừng. Hình hổ sớm ứng điềm đến lúc phải trở về. Than ôi! Đạo trời như vậy không thể thay đổi. Thiếp xin từ biệt. Nay Thiên đình và Dương gian hai ngả, ơn sâu chưa báo, nhân duyên như vậy tình không nên lời. Nay thiếp đã đến kỳ mang thai, sinh được một người con cốt hổ, cũng là khí chung đúc của thiếp và chàng, xin được đưa về Dương thế cùng với chàng cho chàng được vui lòng, ghi khắc một điều tình thâm với chàng, sao không phải là thứ quý báu của gia đình vậy. Xin chàng hãy biết cho.

Ông Hùng nghe vậy đưa mắt nhìn vào trong thân cây lớn, không thấy có ai, chỉ có một con hổ vàng, lông 5 màu phủ khắp người nằm đó. Ông Hùng cúi đầu đi đến thì hổ biến mất. Ông đến nơi hổ nằm thấy có một bọc bầu lớn. Ông nhớ lại lời vừa nghe được liền hai tay ôm lấy bọc đó cất vào trong tay áo. Lại thấy có một phong thư trên giấy hồng. Ông bèn mở ra xem, thấy có bốn câu rằng:

Phong thư hảo tín giáng nhân gian
Lang quân đắc tự khán sơn thần
Xuất thế dĩ phù an xã? tắc?
Giao hồi nguyện báo dĩ thừa hoan.

Ông xem xong thì biết là người vợ đã ứng hiện, bèn đem bọc bầu trở về. Qua được 3 tháng 25 ngày, hôm đó trời đất tối tăm, sấm chớp rầm rì. Trên sông sóng nước cuộn dâng. Cây lớn trên rừng đều gãy đổ. Ông lấy làm sự lạ mà bọc bầu lớn không thấy nở. Ông bèn dùng gậy đập vào cũng không nứt ra. Ông Hùng ngạc nhiên bèn đặt bọc bầu đó ở nơi ven núi để chờ xem. Qua được khoảng 14 ngày đến giờ Ngọ ngày mùng 6 tháng Ba năm Canh Tuất bọc bầu vỡ nở ra một người con trai, mặt vuông tai to, lưng rộng vai dài, tay dài quá gối, dưới chân có dải lông, sau lưng lại có 28 điểm tinh tú. Vào ngày khi sinh hương thơm bay ngào ngạt. Lại thấy có hổ vàng từ trên núi chạy đến nơi sinh. Lại thấy trăm muôn thú đều đến chầu nơi đó. Bỗng thấy trời đất mờ mịt, mây xanh giăng giăng, mưa gió thổi đến. Được một lúc thì trời đất trong sáng trở lại. Xuất hiện người con trai có tướng mạo đường đường, dáng vẻ lẫm liệt.

Lại nói, ông Hùng lấy làm lạ, quả nhiên trời đã báo phúc. Ngay hôm đó (là mùng 5 tháng Năm) truyền cho gia thần cùng quân lính mổ trâu làm lễ tế trời đất, bách thần. Đang khi khấn tế bỗng thấy có một vị thần tướng cao lớn từ trên trời hạ xuống đàn, đầu đội mũ hoa, thân mặc áo hoàng bào, giáp vàng, tay cầm một đôi kiếm báu, đứng tại trong mây mà nói với ông Hùng rằng;

  • Nay Thiên đình cử ta xuống để báo cho ông biết. Vợ chồng ông tích đức thật là đã nhiều năm. Hoàng thiên soi tỏ. Hôm nay ta đem kiếm báu đến giao cho con của Hùng Vương. Đợi đến ngày sau tất sẽ làm được việc giúp nước cứu dân.

Nói chưa dứt lời thì đem kiếm báu, cung thần trao cho ông. Ông đang muốn hỏi thì thần tướng bỗng nhiên biến mất. Ông chợt tỉnh lại, biết quả là Thiên thần xuống báo. Khi đó trong lòng bàng hoàng, sợ hãi, nói với các gia thần binh sĩ rằng:

  • Nay Thiên đình đã cho Sơn thần xuất thế, đầu thai vào làm con nhà ta, không phải người thường trên nhân gian. Chi bằng tìm riêng lấy một nơi đất tốt để nuôi dưỡng tới lớn. Từng nghe nói rằng nơi thắng cảnh trời Nam (tức động Hương Tích) là nơi mà Quan Âm đã xuất thế tại đó, là chốn quần tiên mở hội đánh cờ vây.

Dứt lời bèn truyền gia thần sắm sửa ba mâm cỗ chay cùng hương hoa các đồ (hôm đó là ngày 16 tháng Hai) đi đến xã Yến Vĩ huyện Hoài An phủ Ứng Thiên làm lễ cúng Phật. Giao phó người con cho vị sư tên là Đạo Quang Hòa thượng. Hòa thượng thấy thể mạo phi thường như sơn thần xuất thế, nên xem như anh em sinh cùng bọc. Khi ấy gia thần cùng nhân dân xây nhà và ở ấp đó để phụng dưỡng. Qua được 5 năm nhà sư cùng với ông Hùng đặt tên cho người con là Hiển Quan.

Đến khi trưởng thành tuổi khoảng 15, khi đi ngoài đường hay lên núi thì trên đỉnh đầu có đám mây che trùm phúc, đều giống như hình chiếc ô mây vậy. Khắp một vùng trong sáng, mây bay mưa rơi, sấm động mây theo. Nhân dân thấy vậy đều sợ phục. Hiển Quan vốn thông minh, thiên tư trí tuệ, văn võ toàn tài, lòng nhân đức to lớn.

Khi ấu do vua có đức không tốt nên Thiên đình giáng tai ương. Thiên hạ hạn hạn lớn, hoa màu khô héo. Nhân dân ốm đau, khắp nơi trong nước đều thiếu thốn. Khi đó Vua bèn ban chiếu mở khoa thi tuyển tìm người hiền lương phương chính, hiếu đễ cùng với văn chương quảng bác, văn võ toàn tài. Hôm đó Hiển Quan đi thi tuyển cùng với Đông Hải Quan ở Thủy bộ, người ở vùng biển, cùng đến ứng tuyển. Lúc đó Vua nằm mộng lên trên chốn Thiên đình. Thượng Đế hạ chiếu cho Hiển Quan thuộc Sơn bộ cùng với Đông Hải Quan chính ở Thủy bộ để giúp cho công đức của Vua, để bảo vệ nhân dân.

 Vua nghe vậy mới tỉnh lại thì biết là mộng báo. Đến sớm ngày có hai vị quan đến trước bệ rồng ứng tuyển. Vua thân hỏi xét, thấy tâu đáp trôi chảy, không gì là không hiểu. Vua trong lòng rất vui mừng, nhớ tới điềm báo trong mộng thấy đúng là những người này. Vua bèn nói rằng:

  • Đúng là Sơn thần đã giáng thế để giúp nước cứu dân. Trẫm sẽ cho dựng một đàn trai giới, lệnh cho ông cầu đảo xin trời cho được mưa xuống để tưới cho hoa màu được tươi tốt, cứu nhân dân khỏi đói khát. Nếu quả được như trong giấc mộng của Trẫm thì khanh đúng là vị Sơn thần đó vậy.

Vua bèn cho lập đàn, sai Hiển Quan cầu đảo. Được một lúc thì mưa từ trên trời tuôn rơi, mây mù mù mịt, gió sấm cùng nổi lên. Vua sợ hãi, biết ông đúng là Sơn thần giáng đến để giúp nước. Bèn bái ông là Tư Mã quan, kiêm cả Thủy bộ. Được vài năm thì bái làm Đại tướng quân thống lĩnh cả Thủy đạo và Sơn bộ. Lại cho Yến Vĩ làm ấp thang mộc, lĩnh quản ba vùng Sơn Nam, Sơn Tây và Hải Dương, trấn giữ các đầu non góc biển, đều giao cho Hiển Quan nắm giữ.

Qua hơn mười năm. Lại nói, khi đó có Thạch Linh Thần tướng khởi binh phương Bắc đến xâm phạm nước Nam. Chiêng trống động trời, cờ xí rợp đất. Vua bèn sai sơn thần Hiển Quan dẫn quân đến chống cự ở đạo Sơn Nam. Lại sai Đông Hải Quan dẫn quân đến cự chiến ở miền duyên hải. Ông bèn lĩnh binh tiến thẳng đến Yến Vĩ huyện Hoài An phủ Ứng Thiên, lập một đồn doanh ở nơi gò đá hình con rùa (trước có 3 ngọn tam thai, bên trái có dòng nước nhỏ uốn quan, phía sau có 5 ngọn núi nhỏ chầu về chính cung, hai bên đều quay về chầu). Ông nói với nhân dân (tức là ấp thang mộc của ông xã Yến Vĩ) đến làm lễ bái mừng (là ngày mùng 6 tháng Giêng). Khi đó ông đang giữ trận chống giặc ở đất này đã được 3 năm. Ông thường sắp sửa cỗ chay, hương hoa ngũ vị, dâng hương làm lễ ở chùa Thiên Trù, cầu khẩn trời đất, núi sông, tinh tú cùng đến giúp nước, hỗ trợ cho được thành công dụng.

Khấn xong bỗng thấy trên trời vang lên ba tiếng sấm, ánh chớp khắp nơi. Ông bèn dẫn quân ra đánh giặc. Tất cả hơn mười hiệp mà không phân thắng bại. Ông bèn lên ngựa, tay cầm một đôi kiếm báu xông vào đồn chính của giặc. Quân Ân chạy tan tác, không dám xâm phạm nữa. Chỉ có đồn doanh của ông ở huyện (tức huyện Hoài An) đều được yên ninh, nhân dân yên lành. Còn các nơi khác đều nổi loạn. Vua vô cùng lo lắng bèn lập đàn cầu đảo trời đất. Quần thần hội chầu ở đàn ba ngày. Mưa gió nổi lên. Bỗng thấy có một lão nhân cao hơn 10 trượng, râu tóc bạc trắng (tức là Lạc Long Quân hiện xuống), giáng đàn giúp nước. Vua thân ra đón vào, mới hỏi kế sách dẹp giặc. Lão nhân bèn nói:

  • Nếu như cầu được người này thì giặc Ân tất sẽ dẹp yên được.

Vua lại hỏi:

  • Cầu ở nơi nào?

Lão ông bốc một quẻ bói, hồi lâu mới nói:

  • Hãy đến làng Phù Đổng quận Vũ Ninh hô rằng: Quốc gia gặp nạn, giặc Ân đến xâm chiếm.

Thiết Xung Thần tự nhiên sẽ mở miệng nói với sứ giả rằng:

  • Xin về báo với vua đúc cho một con ngựa sắt, một chiếc roi sắt. Đem đến đây cho ta. Vua sẽ không phải lo về giặc Ân nữa.

Sứ giả nghe vậy liền vội về triều tâu lại với Vua. Vua rất vui mừng bèn cho đúc ngựa sắt, roi sắt cùng với 10 bộ Sơn thần và 10 bộ Thủy thần. Hôm đó vua bái Hiển Quan là Cao Sơn Đại vương thống lĩnh 16 châu động cùng với Đông Hải Quan ở Thủy bộ theo Thần Vương đi dẹp giặc. Ngày đó vua đem ngựa sắt, roi sắt ban cho Thần Vương. Thần Vương (tức Phù Đổng Thiên Vương) liên nhảy lên ngựa. Ngựa chạy như bay. Sai quan quân đi theo sau. Thần Vương mới hô to một tiếng rằng:

  • Ta là Thiên tướng đây.

Chốc lát đã tới chân núi Vũ Ninh miền Yên Việt, cùng với cá bộ sơn thủy đánh một trận. Bỗng thấy trời đất mù mịt, sông núi tinh tú đều sa xuống, thủy phủ đều nổi lên. Thiết Xung Thần Vương đầu tiên bắt sống được Thạch Linh Thần tướng, chém tại chỗ. Hai bộ sơn thủy truy sát quân Ân, hơn năm ngàn các tướng cùng quân sĩ đều tận trừ. Một trận quét sạch. Quân giặc tự được dẹp yên. Thần Vương cưỡi ngựa sắt về thẳng đến núi Sóc huyện Kim Hoa thì bỏ áo, xuống ngựa, theo mây mà bay đi. Nay hiện vẫn còn dấu tích. Vua bèn phong là Phù Đổng Thiên Vương, có sự tích riêng.

Lại nói, Hiển Quan dẹp giặc thanh bình, dẫn quân mã trở về triều phụng chầu. Vua bèn bái là Chưởng nội các quân sự. Qua 6 năm sau khi đó Hiển Quan dập đầu bái tạ trước vua, thỉnh xin được về cung ấp để nghỉ ngơi, không dám tham gia vào quốc sự nữa. Vua bèn ban cho năm trăm nén vàng bạc, một chiếc áo gấm. Lại cho xã Yến Vĩ làm ấp thang mộc. (Hôm đó là mùng 6 tháng Mười) Hiển Quan lĩnh mệnh đường đường trở về cung ấp. Lại nói, khi ấy Hiển Quan ngồi thuyền rồng về đến cung ấp (tức là cung trước đây ở xã Yến Vĩ) bèn mở tiệc mừng. Qua một tháng sau mới nói với phụ lão nhân dân rằng:

  • Dân với ta tất đã thành nghĩa cũ, không phải tình ngày một ngày hai.

Nói xong, nhân dân tâu rằng:

  • Ơn như núi cao biển rộng.

Nhân dân tâu xong, ông lại cho 5 nén vàng. Nhân dân đều nhận mệnh đó. Hiển Quan bèn ngâm một bài thơ luật rằng:

Nhất đường tụ hội hoán tinh thần
Vạn cổ hương yên tại xã dân
Tuy thị tuý trung hoan ẩm ngữ
Tình lưu Yến Vĩ ức niên xuân.

Ngâm xong bỗng thấy trên trời có 7 tiếng sấm rền, trời đất mờ mịt, ban ngày mà như đêm. Lại thấy từ trong thân ông có hổ vàng nhảy ra, bay thẳng lên trời. Hiển Quan biến mất. Binh sĩ và nhân dân làm biểu dâng tấu lên vua (tức giờ Thân ngày mùng 6 tháng Mười một năm Giáp Thìn thì ông hóa). Vua nghe vậy liền sai sứ thần đem sắc chỉ về dân, sửa sang lại cung sở đền thờ. (Tức ngày mùng 6 tháng Giêng) nhân dân đón sắc chỉ về dân làm lễ khánh hạ để phụng thờ. Đáng phong thêm 4 chữ.

– Truy phong Cao Sơn Hộ quốc Tế thế Đại vương, cho phép xã Yến Vĩ huyện Hoài An phủ Ứng Thiên là đền chính phụng thờ.

– Truy phong Cao Sơn Đại thánh Sơn Hổ Đại vương cùng các nơi 72 đền có tích riêng.

Lại nói đến bốn triều Đinh Lê Lý trần khai sáng hồng đồ thường có giúp nước cứu dân anh linh hiển ứng nên các đời đế vương phong thêm mỹ tự, cùng với nước nhà hưởng phúc, mãi là thức lệ, sự tích không thể mất đi.

Phụ khai các ngày sinh hóa cùng các tiết lễ lệ khai như sau:

– Triều Lê phong ba chữ mỹ tự, đáng phong thêm, nhất thiết cấm màu vàng, cùng với các chữ húy nhất thiết cấm là Hổ, Hiển. Phong là Cao Sơn Đại Thánh Sơn Hổ Tế thế Đại vương

– Phong là Cao Sơn Hộ quốc Cứu dân Cương đoạn Thông minh Chính trực Đại vương. Cho phép xã Yến Vĩ huyện Hoài An phủ Ứng Thiên là đền chính phụng thờ.

– Ngày mùng 6 tháng Giêng là ngày lện chính phong sắc. Lễ dùng lợn gà, xôi rượu, hương hoa các thứ.

– Ngày 16 tháng Hai là ngày khánh hạ chính. Trước làm lỗ cỗ chay mười mâm. Sau làm lễ cỗ trâu, xôi rượu, ca hát ba ngày đêm.

– Ngày 12 tháng Sáu là lệ chính. Lễ dùng cỗ tam sinh, xôi rượu, bánh dày các thứ.

– Ngày mùng 6 tháng Ba là ngày lệ chính sinh thần. Lễ dùng lợn đen, xôi rượu các thứ.

– Ngày mùng 5 tháng Năm là chính lệ xuất chinh. Lễ dùng cỗ tam sinh.

– Ngày mùng 6 tháng tám là ngày quốc tế. Lễ dùng cỗ tam sinh, xôi rượu, ca hát đến ngày 15 thì ngừng.

– Ngày mùng 6 tháng Mười một là ngày chính hóa nhật. Lễ dùng lợn đen, xôi rượu, bánh dày, cùng với rượu vàng các thứ.

Hồng Phúc năm đầu ngày 29 tháng Tám, Bệ phẩm Thượng thư kiêm Lễ bộ quan Nguyễn Đăng Huy vâng soạn.

Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn.

Hoàng triều Vĩnh Hữu năm thứ 5 ngày tốt tháng Mười Quản giám Bách thần Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh, tiểu chức, tuân đúng theo chính bản của tiền triều chính bản vâng chép.

Bạn có biết: Lộc Tục và Kinh Dương Vương là 2 vị vua Hùng mở nước trời Nam

Truyện họ Hồng Bàng chép: “Đế Minh cháu ba đời họ Viêm Đế Thần Nông sinh ra Đế Nghi, sau nhân đi tuần về phía Nam đến núi Ngũ Lĩnh lấy được con gái bà Vụ Tiên rồi trở về, sinh ra Lộc Tục. Tục dung mạo đoan chính, thông minh phúc hậu, Đế Minh rất lấy làm lạ, muốn cho nối ngôi mình. Lộc Tục cố từ, xin nhường cho anh. Đế Minh liền lập Nghi làm kẻ nối ngôi để trị đất Bắc. Lại phong Lộc Tục là Kinh Dương Vương để trị đất Nam, lấy hiệu nước là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương có tài đi dưới Thủy phủ, lấy con gái Long Vương ở hồ Động Đình, sinh ra Sùng Lãm hiệu là Lạc Long Quân, cho nối ngôi trị nước. Kinh Dương Vương không biết đi đâu mất.

Truyện họ Hồng Bàng chỉ nói rằng Lộc Tục là Kinh Dương Vương, người đã “tuân mệnh vua cha” (Đế Minh) cai quản phương Nam. Tuy nhiên khi xem xét trên thực tế các di tích tín ngưỡng và thần tích về thời kỳ này thì có thể nhận ra có tới 2 vị vua mở nước Nam đều được gọi là Lộc Tục Kinh Dương Vương. Vị xuất hiện sớm hơn có thể gọi là Lộc Tục, còn vị xuất hiện sau gọi là Kinh Dương Vương.

Lộc Tục là con của Đế Minh và dòng Vụ Tiên ở vùng núi Ngũ Lĩnh, tức là Sơn thần trên vùng rừng núi. Như đã dẫn chứng trong bài trước, vị Lộc Tục này là một trong ba vị Hùng Vương Thánh Tổ, là Ất Sơn Thánh Vương của vùng đất tổ Phong Châu. Vị Lộc Tục này cũng là Đế Thuấn xuất xứ từ vùng núi Lịch ở Tuyên Quang, với các di tích thờ tự còn đậm đặc tại đây về việc ông đã mở mang sản xuất nông nghiệp, gieo mạ Bách Bung ở Lãng Sơn, cày ruộng bằng voi ở Lịch Sơn, làm đồ gốm, đánh bắt cá bên đầm Lôi Trạch.

Lộc Tục Đế Thuấn được Đế Nghiêu truyền ngôi theo lối truyền hiền và gả cho 2 công chúa là Nga Hoàng và Nữ Anh mà truyền thuyết vùng Phong Châu gọi là Hai cô Tiên Dung và Ngọc Hoa. Hai cô công chúa luôn được thờ cùng với ba vị Hùng Vương Thánh Tổ ở đền Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh cũng như ở các di tích khác của vùng đất tổ. Sự kiện này truyền thuyết Việt kể là chuyện vua Hùng kén rể mà Sơn Tinh lấy công chúa Ngọc Hoa. Ở nơi “lầu kén rể” xưa nay là chùa Hoa Long bên bến Việt Trì, có miếu thờ tượng hai công chúa Tiên Dung, Ngọc Hoa. Còn ở hai làng Vi và Trẹo (Vi Cương và Triệu Phú) ở thị trấn Hùng Sơn, là 2 làng gốc của đền Hùng trên núi Hy Cương, còn có lễ tục “Rước chúa gái”, tái hiện lại sự kiện công chúa con vua Hùng về nhà chồng là Sơn Tinh (tức Ất Sơn Lộc Tục).

Tấm bia Hùng Vương từ khảo đặt tại đền Thượng núi Hùng Nghĩa Lĩnh do tuần phủ Phú Thọ soạn năm Bảo Đại thứ 15 (1940) là tấm bia cho biết thông tin nhà Nguyễn lấy ngày 10 tháng Ba Âm lịch làm ngày quốc tế, giỗ tổ Hùng Vương. Tấm bia này khi nói về hai công chúa vua Hùng chép: “Chân núi phía Nam có miếu Giếng, thờ hai vị công chúa: Một là công chúa Tiên Dung con Hùng Vương thứ 3 (gả cho Chử Đồng Tử); một là công chúa Ngọc Hoa con Hùng Vương thứ 18 (gả cho Cao Sơn)”. Vị con rể vua Hùng lấy công chúa Ngọc Hoa ở đây không phải là Tản Viên Sơn Thánh mà là một vị khác, được ghi là Cao Sơn. Cao Sơn rõ ràng là tương ứng với vị Ất Sơn Lộc Tục.

Khi Lộc Tục Đế Thuấn mất, hai vị công chúa đã tuẫn tiết theo chồng ở sông Tương, trở thành hình ảnh “nữ trung Nghiêu Thuấn” trong văn học cổ. Di tích của sự kiện này là 2 ngôi đền 2 bên sông Lô, gần núi Lịch thờ 2 vị công chúa con vua Hùng là đền Thượng Núi Dùm và đền Hạ Tam Cờ tại thành phố Tuyên Quang. Bia đền Hiệp Thuận (đền Hạ Tam Cờ) do Thống đốc Hoàng Kế Viêm soạn năm Tự Đức thứ 28 ghi: “Thiên tử ban mệnh lớn, đền thờ Công Chúa Phương Dung nằm bên bờ sông phía Đông thành Tuyên Quang cùng sóng đôi tốt đẹp. Theo sử sách ở phía Bắc có dòng sông Tương đã đi vào lịch sử …“. Cùng với núi Lịch Đế Thuấn đi cày, sông Tương ở phía Bắc thành Tuyên thì lịch sử Lộc Tục ở miền Phong Châu đã trở nên rõ ràng.

Trong khi đó, vị vua có danh xưng là Kinh Dương Vương lại được thờ ở khu vực khác, với những sự tích công lao và sự nghiệp khác. Nói đến Kinh Dương Vương người ta thường nghĩ ngay đến lăng mộ ở Á Lữ (Thuận Thành, Bắc Ninh). Tuy nhiên ít người để ý rằng ở khu vực Thuận Thành Kinh Dương Vương có sắc phong gọi là Việt Nam Lạc Thị Đệ nhất. Sắc phong ở đền Á Lữ ghi: “Sắc chỉ Bắc Ninh tỉnh Siêu Loại huyện Á Lữ xã tòng tiền phụng sự Kinh Dương Vương miếu Khai sơ Sáng thủy Khởi minh Thùy hiến Uông nhuần Việt Nam Lạc Thị Linh ứng Trung đẳng thần…

Kinh Dương Vương được thờ ở vùng Bắc Ninh không phải trong bộ ba Hùng Vương Thánh Tổ mà trong bộ ba Việt Nam Lạc Thị gồm Việt Nam Lạc Thị Đệ nhất là Kinh Dương Vương, Việt Nam Lạc Thị Đệ nhị là Lạc Long Quân, Việt Nam Lạc Thị Đệ tam là Hùng Vương. Cách thờ này nhấn mạnh đến dòng họ Lạc gồm các Lạc Vương như trong thần tích vùng này chép:

Tổ thờ ở Á Lữ. Tổ đi chu du thiên hạ, kiến xem hình thế … Chợt thấy 3 con rồng, mình dài vài trượng, lưng to mấy vòng. Trên đỉnh đầu có ấn vàng. Trong ấn nổi lên 2 chữ LẠC VƯƠNG. Lối lên ở ngã ba sông. Cá, tôm, rùa, ba ba đi theo. Sóng to gió dữ không thể kể xiết. Sau đó một đi chơi vùng Đại Đoan (nay là Đại Bái – Đoan Bái sông), một đi chơi sông Nghi Tuyền (nay là Nghi An sông), một đi chơi sông Bình An (nay là Bình Ngô – Yên Ngô sông)… Dân bèn dựng miếu thờ…
Thủy thần ba vị tên chữ gọi là:
– Việt Nam Lạc Thị Đệ nhất Đại vương
– Việt Nam Lạc Thị Đệ nhị Đại vương
– Việt Nam Lạc Thị Đệ tam Đại vương.

Các di tích ở vùng Thuận Thành – Gia Bình thờ Việt Nam Lạc Thị có thể kể đến như:

  • Đình làng Đại Bái (Bưởi Nồi), Gia Bình nay được ghi là thờ Lạc Long Quân.
  • Đền làng Bình Ngô, Thuận Thành nổi tiếng với cuốn Hùng Vương ngọc phả, tức là thờ chính là Hùng Vương.
  • Đình làng Đoan Bái (Bưởi Đoan), cùng cụm di tích 4 làng Bưởi với làng Đại Bái, nay trở thành một nơi thờ đủ các vị thủy tổ Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Âu Cơ, Hùng Quốc Vương.
  • Đình làng Ngọc Xuyên (Bưởi Xuyên) thờ thần Bách Noãn.
  • Đình làng Đại Mão, Gia Bình, nơi thờ Tam vị Lạc Thị…

Nhiều thần tích thay vì nói đến triều Hùng Vương truyền 18 đời thì ghi là Kinh triều truyền 18 đời, tức là lấy Kinh Dương Vương là vị khởi đầu cho giai đoạn này. Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả soạn thời Lê Đại Hành cũng ghi Kinh Dương Vương là vị vua Hùng ở chi đầu (Hùng Dương Vương – chi Càn).

Điểm khác biệt khác giữa Kinh Dương Vương và Lộc Tục Đế Thuấn là việc Kinh Dương Vương lấy Thần Long Nữ con của Động Đình Đế Quân. Thần Long ở Động Đình hồ rõ ràng là dòng Thủy thần, khác hẳn với dòng Sơn thần như công chúa Ngọc Hoa ở vùng đất tổ. Thần tích Tiên Cát (Việt Trì, Phú Thọ) ghi:

Xưa Kinh Dương Vương vâng lệnh dẫn các tướng dời đến núi Nam Miên trấn giữ, chọn nơi hình thế thắng địa có để lập đô ấp, mới tới đất Hoan Châu (nay là xứ Nghệ An)… Bấy giờ khí xuân ấm áp, vô vàn cảnh sắc. Vua bản tính thích phong thuỷ bèn lên thuyền ngự tuần du ngoài biển, đi xem núi sông, trải xem hình đất nước, lạc ra ngoài biển. Bất giác thấy thuyền rồng đã thẳng đến xứ hồ Động Đình. Vua sai dừng thuyền, đứng lên xem, chợt thấy một người con gái lưng eo xinh đẹp, dung nhan tuyệt sắc, từ dưới đáy nước đi đến. Thật là một cuộc hội ngộ hiếm có xưa nay. Vua bèn sai chèo thuyền đến gần. Vua nói:
– Tiên nữ đẹp quá, từ đâu đến đây?
Thiếu nữ đáp:
– Thiếp tên là Thần Long, chính là con gái Động Đình Quân, ở trong thâm cung cửa ngọc, từ lâu đợi bậc anh hùng. Nay trời cho được gặp gỡ, nguyện được theo phụng hầu khăn túi.
Vua vui mừng đẹp ý, bèn dắt vào trong thuyền rồng. Vua cùng người con gái quay giá trở về thành đô, lập Thần Long làm chính cung.

Cuộc kỳ ngộ giữa Kinh Dương Vương và Thần Long Nữ mở đầu cho thời kỳ Kinh triều Lạc thị từ vùng sông nước Động Đình, khác hẳn chuyện vua Hùng kén rể Ất Sơn Lộc Tục cho công chúa Ngọc Hoa ở miền rừng núi. Ở giai đoạn Lộc Tục mới đang gọi là họ Hồng Bàng hay nước Nam bang. Còn đến Kinh Dương Vương lập quốc đã có tên nước Xích Quỷ. Xích Quỷ đọc thiết âm là Xủy – Thủy, chỉ rõ tính chất thủy thần của dòng Kinh Lạc. Bản thân Kinh cùng âm với kênh, Lạc là lạch hay nác, nước. Kinh triều Lạc thị là giai đoạn Thủy quốc (Xích Quỷ) trong thời đại Hùng Vương.

Câu đối ở đền Á Lữ:
Tương truyền Lĩnh động Tiên sinh Thánh
Tòng thử Viêm phương Quốc hữu Quân.

Tấm bia Hùng Vương từ khảo ở đền Thượng núi Hùng Nghĩa Lĩnh.
Đền thờ hai cô công chua sNgọc Hoa, Tiên Dung tại vị trí lầu kén rể xưa trong khuôn viên chùa Hoa Long (Việt Trì, Phú Thọ).
Dịch bia đền Hiệp Thuận (đền Hạ Tam Cờ) ở Tuyên Quang.
Đền Á Lữ (Thuận Thành, Bắc Ninh). Dòng chữ trên nghi môn Thủy tổ đài môn.
Sắc phong Kinh Dương Vương miếu Vietj Nam Lạc Thị ở đền Á Lữ, Thuận Thành, Bắc Ninh.
Ngai thờ Tam vị Việt Nam Lạc Thị ở đền Bình Ngô, Thuận Thành, Bắc Ninh.
Ngọc phi (vợ của Kinh Dương Vương) ở đền Tiên Cát (Việt Trì, Phú Thọ).

Con ngựa trong không gian văn hóa tín ngưỡng Việt

Bài đăng trên Tạp chí Năng lượng mới, số Xuân 2026

Mặc dù ngựa không phải là loài động vật bản địa trong tự nhiên ở Việt Nam nhưng trong văn hóa tín ngưỡng người Việt con ngựa có một vai trò đặc biệt, rất hay gặp và đa dạng về hình thức. Hình tượng ngựa có thể là thần Bạch Mã của kinh thành Thăng Long, thần thú Long mã, ngựa chiến của Thánh Gióng đánh giặc Ân, ngựa trong các di tích đình, đền, chùa đến ngựa trên các bức chạm gỗ, đá sinh động, ngựa trong tranh thờ của người Dao. Ngựa còn là biểu tượng của quẻ Khôn trong Kinh Dịch về sự tòng thuận, khôn ngoan đem đến sự bền vững, lâu dài cho đời sống con người.

Con giáp Ngọ – Ngựa

Trong 12 con giáp thì Ngọ là giờ giữa trưa, là thời điểm mặt trời lên cao nhất trong ngày. Ngọ còn có hàm ý là chỉ phương Nam về không gian và là tháng Năm trong Âm lịch. Ngọ gần âm với Ngũ, là con số 5 ở trung tâm của Hà thư và Lạc đồ. Ngọ cận âm với “ngự”, từ dùng cho vị trí của vua. Do đó, trong dân gian Ngọ cũng có nghĩa là thủ lĩnh, là Vua. Ví dụ như ở làng Hạ Mạo (Lâm Thao, Phú Thọ) thờ vị thần tên là Út Ngọ Lôi Mao với sự tích là chàng Út trong số 5 người anh em họ Lê đã lên ngôi Hậu Hùng Vương thời kỳ nước Nam Việt.

Thần Bạch Mã Long Đỗ

Đền Bạch Mã là ngôi đền trấn Đông trong Tứ trấn của thành Thăng Long. Đền thờ thần Chính Khí Long Đỗ và Quảng Lợi Bạch Mã Đại vương. Thần Long Đỗ là thành hoàng của thành Thăng Long, hiển linh dưới thời Cao Biền. Còn thần Bạch Mã là khi Lý Thái Tổ xây thành Thăng Long, thần đã hiện hình một con ngựa trắng đi quanh khu vực xây thành. Nhà vua đã xây theo vết chân ngựa đó, thành xây đến đâu chắc chắn đến đó. Long Đỗ hay Bạch Mã đều là cùng một vị thần, gọi theo sự tích hiển linh ở các thời khác nhau.

Thần Long Đỗ Bạch Mã nguyên gốc là Thủy phủ Phù Tang Cam Lâm Đại đế trong Đạo giáo, hay Động Đình Đế Quân, là vị thần cai quản phương Đông và Thủy phủ. Động Đình Đế Quân là cha của Động Đình Long Nữ, là ông ngoại của Lạc Long Quân trong truyền thuyết Họ Hồng Bàng của người Việt.

Rải rác ở các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Thanh Hóa thần được thờ là thành hoàng các làng dưới tên Quảng Lợi Bạch Mã hay Bạch Mã Lôi Công. Sự tích thần Bạch Mã ở đây được thể hiện dưới dạng một vị Thiên thần, khi xuất hiện thì trời nổi mưa gió, làm sấm sét, giúp nước an dân, dẹp giặc ngoại xâm.

Ở miền Nam từ Đà Nẵng trở vào có thần Bạch Mã Thái Giám, được thờ như một vị thượng đẳng thần cai quản các vùng đất. Nhiều nơi có sắc phong cổ cho vị thần này. Thái Giám nghĩa là người đứng đầu cai quản, giám sát mọi sự, thể hiện cấp bậc rất cao của vị thần này. Xét về sự tương đồng thì thần Bạch Mã Thái Giám cũng là thần Long Đỗ hay Động Đình Đế Quân.

Linh thú Long mã 

Vào thời thượng cổ vua Phục Hy thấy một con Long mã, đầu rồng, mình ngựa, xuất hiện trên sông. Trên lưng Long mã chở một đồ hình gồm có 10 đường nét, 50 chấm, gọi là Hà đồ. Nhà vua quan sát các chấm nầy, kết hợp với các hiện tượng thiên nhiên trong trời đất mà nghĩ ra cách tượng trưng Âm Dương, vẽ ra Bát Quái đồ. Hà nghĩa là Trời. Hà đồ là cuốn Sách trời, tượng trưng cho nền minh triết (Dịch học) sơ khởi của phương Đông. 

Hình tượng Long mã Hà đồ thường được đắp, vẽ trên các bức bình phong ở các đình, đền, nhất là từ vùng miền Trung trở vào phía Nam. Các phủ, điện ở cố đô Huế đặc biệt hay sử dụng hình Long mã Hà đồ đắp bằng cách ghép các mảnh gốm sứ màu. Long mã Hà đồ là biểu tượng cho khởi đầu của không gian tâm linh nên được đặt ở mặt trước của các tấm bình phong trên đường thần đạo của các di tích tín ngưỡng.

Ở một số di tích cổ, như ở đền Thượng Sóc Sơn (Hà Nội), có tượng Long mã được đắp ở trước đền, dạng như linh vật chầu trước di tích. Có nơi Long mã còn được làm bằng gỗ, có bánh xe để rước, thay cho ngựa, nhất là khi đối tượng thờ là những vị Thiên thần. Việc này xuất phát từ quan niệm Long mã là thú cưỡi của các vị thần tiên trên trời.

Về hình tượng ngựa thần còn có cặp Hỏa mã, Ngọc lân là thần thú của 2 vị Nhật Quang Thiên Tử và Nguyệt Quang Thiên Tử trong sự tích về Đế Thích như ở đền Xá (Ân Thi, Hưng Yên). Đây là hình ảnh của Mặt trời và Mặt trăng nhưng thể hiện từ góc nhìn của Ấn Độ giáo.

Ngựa chiến

Nói tới ngựa chiến không ai không nhớ ngay đến con Ngựa sắt phun lửa đã cùng Phù Đổng Thiên Vương diệt giặc Ân. Tương truyền khắp các vùng từ Sóc Sơn đến núi Châu Sơn rải rác có các dấu chân ngựa Gióng in trên các phiến đá lớn hay sụt lún thành ao hồ. Ở chân núi Sóc Sơn có đền Hạ Mã (xã Phù Linh), là nơi Thánh Gióng từng dừng ngựa, để lại yên cương và ngọc duẩn trước khi về trời. Nơi đây còn có cột đá buộc ngựa của Thánh. Phù Linh là làng tiến lễ Ngựa mã trong lễ hội đền Sóc Sơn vào ngày mùng 6 tháng Giêng hàng năm, là ngày Thánh Gióng bay về trời.

Một lễ hội khác cũng có ngựa mã là lễ hội Y Sơn (Hiệp Hòa, Thái Nguyên) thờ đức thánh Hùng Linh Công cũng đánh giặc Ân. Trong lễ hội, 5 giáp ở Y Sơn làm 5 cỗ voi và 10 cỗ ngựa hồng ngựa bạch bằng tre ngâm, dán giấy màu sặc sỡ, tập hợp thành đoàn quân voi, ngựa có quản, tướng (do nam và nữ thiếu niên đóng) ngồi ở trên. Đội tượng binh mã binh này là quân đội chính của đức Hùng Linh Công ra trận diệt giặc.

Hình tượng ngựa do các chiến tướng cưỡi xung trận hay gặp trong các bức tranh đắp nề ở các ngôi đền hay chạm gỗ ở đình làng. Một hình tượng ngựa chiến nữa gặp trong lễ hội dân gian đó là hình quân Mã trong trò đánh cờ người, được chơi diễn khá phổ biến ở nhiều lễ hội miền Bắc. Đánh cờ tướng vốn lấy theo cốt truyện Hán – Sở tranh hùng, được thể hiện trong các lễ hội nhằm ca ngợi, tái hiện lại chiến công của các vị thần thành hoàng là các vị tướng võ, vị vua dựng nước được thờ ở đây.

Ngựa rước

Ngựa là loài vật nhanh nhẹn, mạnh mẽ, bền bỉ, dẻo dai, dùng làm vật cưỡi rất quý thời xưa, chỉ những người có điều kiện và có chức tước mới cưỡi ngựa. Trong không gian thờ cúng, đối với các vị quan tướng thường có cặp Ngựa hồng Ngựa bạch làm bằng gỗ có bánh xe, trang trí đầy đủ yên cương, thêu hình chim phượng, rồng mây, đặt trong nội điện để thờ. Uy nghiêm hơn nữa trong việc thờ các vị thánh vương như Sĩ Nhiếp hay Lão Tử thì còn có tượng quan hầu dắt ngựa đi kèm. Vào ngày lễ hội, cặp ngựa hồng bạch này được kéo ra ngoài sân, bày phía trước các kiệu thờ và nếu hội có đám rước thì ngựa cũng được rước đi đầu. Ngựa trong trường hợp này thể hiện sự tôn vinh chính khí, uy linh của vị thần được thờ.

Đôi khi ngoài ngựa hồng và ngựa bạch còn gặp cả Ngựa đen, như trường hợp ở đình làng Hoài Thượng ở Thuận Thành (Bắc Ninh). Điều này liên quan đến vị thần được thờ là Bắc phương Hắc đế, vị thần phương Bắc, lấy màu đen làm biểu tượng.

Ngựa chầu

Ở nghi môn các đền thờ, miếu, đôi khi cả ở đình làng, thường có đắp nề nổi hay vẽ hình ngựa chầu. Thường gặp nhất là một bên Voi, một bên Ngựa, hoặc là một bên ngựa bạch, một bên ngựa hồng. Có thể có người quản mã kèm theo. Trong nội điện các di tích thờ trước gian hậu cung hai bên cũng có thể đắp hoặc vẽ ngựa chầu tương tự.

Những di tích lớn có thể dùng ngựa đá để chầu bên ngoài, đứng riêng rẽ hay trong lầu gác, hay có tượng quản mã dắt ngựa đi cùng. Đặc biệt hay thấy có ngựa đá đứng hoặc nằm ở các lăng tẩm như lăng, đền thờ các vị vua Trần, gắn với câu thơ bất hủ của Thượng hoàng Trần Nhân Tông: Xã tắc hai phen bon ngựa đá. Ngựa đá, Voi đá, Quan hầu cũng là những tượng được đặt thành hàng đứng chầu trước lăng các vị vua nhà Nguyễn ở Huế. Ngựa chầu thể hiện sự trang nghiêm, uy quyền của người được thờ trong di tích.

Ở miền Nam ngựa chầu ở các đình đền lại mang một sắc thái khác. Hay gặp ở đây là tượng ngựa ô, ngựa bạch, được đặt phía trước di tích, theo hình dạng đang đi, vươn cổ, bước chân, hơn là đứng trang nghiêm như ngựa chầu ở miền Bắc. Hình tượng ngựa Nam bộ mang tính chất công việc làng xã trong các lễ cầu phúc, kỳ yên, cầu mùa, hơn là ý nghĩa tôn vinh sự uy nghi của các vị thần được thờ như ở miền Bắc.

Ngựa của trong Đạo giáo Tam phủ

Trên các bức tranh thờ của người Dao theo lối Đạo giáo thường thể hiện các vị quan cưỡi ngựa. Điển hình là bức Thái úy trong bộ 3 bức tranh Hành sư (Tổng đàn). Tranh này thể hiện một vị thần với khuôn mặt hiền từ, cầm kiếm cưỡi ngựa với các vị quan hầu cũng cưỡi ngựa. Tranh thờ khác là tranh Tam Nguyên Quan vẽ 3 vị Thiên Quan, Địa Quan, Thủy Quan đều ở trạng thái cưỡi ngựa. Còn trong tranh Tứ trực Công tào thì vị công tào của Dương gian là vị cưỡi ngựa. Con ngựa như vậy là biểu hiện cho Dương gian, là một trong Tứ phủ theo quan niệm của người Dao.

Trên những bức tranh độ linh của các tộc người theo Đạo giáo như người Dao, người Cao Lan, người Tày, có vẽ các vị quan cưỡi ngựa trên dọc đường của linh hồn đi lên trời. Hình ảnh ngựa kéo xe còn gặp trên loại gương đồng “thần nhân xa mã đồ tượng” của thời Hán, mà trong đó xe ngựa như một phương tiện cho linh hồn đi trên con đường về với thế giới thần tiên (về Trời – Thiên phủ).

Nếu ở Dương gian có ngựa cưỡi của các vị quan, trên đường lên Trời (Thiên phủ) có xe ngựa, thì ở dưới Địa phủ có quỷ Mã diện (mặt ngựa), cùng với quỷ Ngưu đầu (đầu trâu), làm sai nha cho Diêm vương. Ngưu đầu Mã diện thường gặp ở trong tranh thờ hay trên mũ thầy cúng người Dao. Còn ở miền xuôi, như vùng Sơn Tây (Hà Nội) hay gặp những di tích thờ Tam phủ cổ có đặt tượng Ngưu đầu Mã diện, là hình thức tín ngưỡng khá tương đồng với Đạo giáo của người Dao.

Ngựa trong chùa

Trong chùa thờ Phật đôi khi có đặt tượng Mã đầu Quan Âm, thể hiện Quan Âm Bồ Tát ngồi trên đỉnh núi, gương mặt hiền hậu và ôm một con ngựa trắng, với ý nghĩa cứu độ, khuyến khích sự chuyên cần, bền bỉ, kiên trì trong tu và hành pháp.

Việc dùng hình ảnh ngựa trong các cảnh trang trí hay thấy ở chùa hơn là ở đình đền. Điển hình là cảnh đàn ngựa vui đùa hoặc ngựa đang vờn chơi với hươu nai rất sinh động, được chạm nổi trên lan can đá, tháp đá của chùa Bút Tháp (Thuận Thành, Bắc Ninh). 

Hình ngựa phi hay ngựa rước có lọng che còn thấy trong các bức tranh đồ thế, hay được khắc lên gỗ thành mộc bản để in làm giấy mã, dùng trong các nghi lễ cúng ở chùa.

Ngựa trong Kinh DịchCặp quẻ Càn – Khôn là 2 quẻ chính, bao trùm cả 64 quẻ của Kinh Dịch. Quẻ Càn có tượng là Trời, là nền Minh triết. Quẻ Khôn là Đất, là nền Khoa học. Lời quái của quẻ Càn là “Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh”. Còn lời quái của quẻ Khôn là “Nguyên, Hanh, Lợi, tẫn mã chi Trinh”, chỉ khác nhau ở chữ “tẫn mã”. Tẫn mã là ngựa cái, do quẻ Khôn có tượng là đàn bà. Người xưa dùng 2 con vật làm biểu tượng trong Kinh Dịch. Rồng bay trên trời dùng trong quẻ Càn, Ngựa đi dưới đất dùng trong quẻ Khôn. Ngựa đi là theo người điều khiển, ở đây ý muốn nói đến sự thuận tòng. “Tẫn mã chi Trinh” nghĩa là nền Khoa học phải theo sự định hướng hay được dẫn dắt bởi nền Minh triết thì sự nghiệp khoa học mới bền lâu. Hay nói đơn giản hơn, hành động lý trí của con người (Khôn) phải tuân theo sự chỉ dẫn của tư tưởng đúng đắn (Càn) thì mới được lâu dài.

Bạn có biết: Đế Nghiêu, Đế Thuấn là các vị vua Hùng được thờ trên núi Hy Cương

Vua Thuấn đi cày voi trong trò diễn ở Tứ Xã.

Tam tự kinh, cuốn sách các sĩ tử Việt xưa học nằm lòng, ghi:
Đường Hữu Ngu, hiệu nhị Đế
Tương ấp tốn, xưng thịnh thế.

Nghĩa là:
Đường, Hữu Ngu là hai Đế
Cùng nhường đất, gọi thịnh thế.

Đường Nghiêu, Ngu Thuấn là hai vị Đế thời cổ đại của Trung Hoa, nối tiếp thời Hoàng Đế Hiên Viên. Nhưng thật bất ngờ khi biết rằng Đế Nghiêu và Đế Thuấn chính là 2 vị vua Hùng thứ 2 và thứ 3 được thờ cùng với vua Hùng thứ 1 như những vị quốc tổ Hùng Vương trên đền Hùng ở núi Hy Cương.

Kinh Thư chép: “(Vua Nghiêu) sai Hi Thúc đến Nam Giao, quan sát mặt trời di chuyển về phương Nam, ghi ngày Hạ chí.” Hi Thúc cũng là Đế Thuấn, người đã tuân mệnh Đế Nghiêu đi khai mở đất Nam Giao, xem thiên tượng mà đề ra lịch pháp. Nam Giao rõ ràng là chỉ vùng phía Nam của đất Việt xưa thời đầu Hùng Vương.

Bài thơ được coi là “tuyên ngôn độc lập” của nhà Nguyễn ở chính điện Thái Hòa trong kinh thành Huế:
Văn hiến thiên niên quốc
Xa thư vạn lý đồ
Hồng Bàng khai tịch hậu
Nam phục nhất Đường Ngu.

Nghĩa là:
Nước ngàn năm văn hiến
Cơ đồ vạn dặm đồng
Từ Hồng Bàng mở nước
Phục Nam một Đường Ngu.

Bài thơ trong câu cuối nói trực tiếp rằng cõi Nam mở nước Hồng Bàng là từ Đường Nghiêu, Ngu Thuấn.

Ca dao Việt và quan họ Bắc Ninh lời cổ có câu hát: 
Rủ nhau đi cấy xứ đương
Cấy cho vua Thuấn ở đồng Lịch Sơn.

Câu hát nói đến một điển tích có từ lâu đời là vua Thuấn đi cày ở núi Lịch: Nguyên cha của Thuấn là người hung bạo, không biện biệt được người hay kẻ dở, người đương thời đặt tên là Cổ Tẩu (người mù mắt). Mẹ của Thuấn mất sớm, Cổ Tẩu tục huyền với người đàn bà sau này sinh ra Tượng. Vì có lời gièm pha của người kế mẫu và đứa em ngỗ nghịch cùng cha khác mẹ, Cổ Tẩu không ưa Thuấn và định bụng giết đi. Biết thế, nhưng Thuấn vẫn giữ trọn chữ hiếu đối với cha và người dì ghẻ ác nghiệt, hòa thuận với đứa em độc ác, không một lời than oán. Khi cha bắt đi cày ở đất Lịch Sơn cốt tìm cách trừ đi, vì nơi đây có tiếng là nhiều thú dữ hay ăn thịt người. Nhưng tấm lòng hiếu thảo và hòa mục của Thuấn động đến lòng trời, cả đàn voi ra giúp Thuấn cày đất và muông chim vô số đáp xuống nhặt cỏ hộ. Thấy không hại được Thuấn, Cổ Tẩu và người dì ghẻ sai Thuấn đánh cá ở Hồ Lôi Trạch, nơi có nhiều sóng to gió lớn, nhưng khi Thuấn đến thì sóng lặng gió yên.

Liên quan đến sự tích vua Thuấn đi cày, ở Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ có hội làng Tứ Xã với trò Trám. Tứ Xã là nơi có các di chỉ khảo cổ học nổi tiếng thời Hùng Vương như Gò Mun, Đồng Đậu con, Gót Rẽ… Trò Trám ở Tứ Xã là trò trình nghề tứ dân Sĩ – Nông – Công – Thương, trong đó có vai một người diễn tích “vua Thuấn cày voi” với lời hát ca trù như sau:

Vốn tôi đây dòng dõi thần minh
Kẻ tên hiệu tôi là Ngu Thuấn.
Nghĩ cha mẹ tôi càng oán hận
Hận ở điều ăn ở không cân.
Em dượng tôi ngạo mạn bất nhân
Ân tôi phải dĩ nông vi bản.
Tôi cũng mong hữu gia hữu sản,
Nhác trông lên núi Lịch tốt thay
Ân tôi phải bắt voi cày núi đá.

Sách Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn cho biết xã Yên Lịch ở dưới núi cũng có miếu Đế Thuấn, 6 xã trong 1 tổng cùng phụng thờ. Ruộng này nằm ở phía bên phải xứ Ngòi Vực, rộng chừng 1 trượng, khá dài. Nước sông Lô mùa thu thường tràn vào. Tương truyền, ở bên bến sông này Đế Thuấn làm đồ gốm. Bên cạnh chỗ dân cư, có một cái giếng cổ, người ta cho là Đế Thuấn đào giếng ấy. Ở đó cũng có miếu Đế Thuấn, trước miếu có ruộng hè, rộng chừng vài mẫu, khá sâu. Người ta cho đó xưa là đầm Lôi, nơi Đế Thuấn đánh cá và cày ruộng.

Lịch Sơn, nơi Đế Thuấn cày ruộng, đào giếng, làm gốm, đánh cá không ở đâu xa mà ở ngay huyện Sơn Dương của tỉnh Tuyên Quang. Cũng sách Kiến văn tiểu lục chép tiếp: Núi Sáng là ngọn cao nhất trong dãy núi Lịch. Trên núi Sáng cũng có đền thờ Đế Thuấn. Đằng trước núi lại đột khởi một ngọn núi đất hơi thấp, đỉnh núi như hình ghế chéo, trong núi có chỗ rộng ước dăm sào, có thể gieo được trăm bung mạ. Tương truyền chỗ ấy Đế Thuấn cấy lúa, nhân dân mới gọi là Bách Bung.

Núi Sáng còn có tên là Lãng Sơn, nay thuộc huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc. Địa danh Yên Lịch xưa đến nay vẫn còn, trong tên thôn An Lịch của xã Đông Lợi (Sơn Dương, Tuyên Quang). Trước đây nơi này được gọi là tổng Yên Lịch, nằm dưới chân núi Lịch, là một vùng ruộng lúa chiêm ven sông Lô. Đây là đầm Sấm hay Lôi Trạch được nói đến trong truyền thuyết về Đế Thuấn.

Sách Kiến văn tiểu lục cho biết: Núi Lịch ở xã Yên Lịch huyện Sơn Dương, từ núi Sư Khổng ở huyện Đương Đạo mà chạy xuống, tới nơi đất bằng thì đột ngột nổi lên một ngọn núi có 5-6 đỉnh, giăng ngang ra chia thành một nhánh tới Lập Thạch là Lãng Sơn, một nhánh tới Tam Dương là núi Hoàng Chỉ. Trong núi Lịch ở đỉnh cao nhất có 5-6 chỗ bằng phẳng như đền đài, có động Đế Thuấn rất thiêng. Hoa quả trên núi người ta có thể hái ăn, nhưng không được mang đi. Ai mang đi sẽ bị lạc vào mê lộ, không thể ra được. Phía trên động Đế Thuấn có đền Đế Nghiêu, cúng bằng cỗ chay.

Ở An Lịch tới nay vẫn lưu truyền rằng trên núi Lịch có di tích của Đế Thuấn. Trên núi có một ao nước rộng chỉ 5-6m nhưng rất sâu, xung quanh có những cây quýt tươi tốt. Người dân địa phương kể, quả của cây này có thể hái ăn, nhưng nếu chỉ nhỡ cất một quả trong túi mang về thì sẽ như bị che mắt, đi vòng quanh 7 lần không ra được khu Ao Trời đó.

Đình An Lịch từ xưa thờ Ất Sơn Đại Vương, là vị vua Hùng thứ ba trong Tam vị Hùng Vương Thánh Tổ được thờ ở đền Hùng (gồm Đột Ngột Cao Sơn, Viễn Sơn và Ất Sơn Thánh Vương). Cũng ở vùng chân núi Lịch này còn có nhiều di tích thờ ba vị vua Hùng như đình Quang Tất, đình Thọ Vực và đền Ất Sơn.

Đình Quang Tất ở xã Hào Phú (Sơn Dương, Tuyên Quang) thờ ba vị vua Hùng là Cao Sơn, U Sơn và Ất Sơn. Cụ thủ từ đình Quang Tất cho biết, trước đây ở bên đình có 2 ông ngựa trắng và hồng bằng gỗ, đến ngày hội, dân làng kéo 2 ông ngựa này ra Mả Vua ở ngòi nước dưới chân núi Lịch để làm lễ. Vị vua có đền thờ trên núi Lịch cũng là một trong những vị vua Hùng được thờ ở đình. Tức là Đế Thuấn chính là Ất Sơn Thánh Vương, được thờ là quốc tổ ở đền Hùng.

Đặc biệt hơn nữa, không xa đình Quang Tất còn có ngôi đền cổ không biết từ bao giờ. Ngôi đền mang tên đền Ất Sơn. Đây thực sự là một điều bất ngờ, một bằng chứng đến hiển nhiên về vua Hùng Ất Sơn là Lịch Sơn Đế Thuấn. Đền Ất Sơn cũng giống như ở đình Quang Tất và Thọ Vực thờ 3 vị vua Hùng. Nơi đây còn giữ được lễ hội Cầu đinh cầu lão cổ xưa với nhiều trò tích diễn. Khi được hỏi vì sao đền có tên là Ất Sơn thì cụ thủ từ cho biết nơi đây vốn từng mang tên này, sau cách mạng mới đổi thành châu Tự Do. Tra lại địa bạ cũ thì ra nơi đây vốn là tổng Át Sơn. Những chữ Ất – Át – Út Sơn đều chỉ là một vị thần, vị vua Hùng thứ 3 trong Tam vị Thánh tổ Hùng Vương.

Những di tích thờ Hùng Vương ở chân núi Lịch ở Tuyên Quang cho phép xác định Ất Sơn Thánh Vương chính là Đế Thuấn. Như thế còn vị vua Hùng thứ hai Viễn Sơn hay U Sơn phải là Đế Nghiêu, người đã nhường ngôi cho Đế Thuấn. Nếu Đế Minh là vị vua Hùng thứ 1 Đột Ngột Cao Sơn thì rõ ràng Đế Nghiêu và Đế Thuấn là các vị vua Hùng tiếp theo, được truyền thuyết họ Hồng Bàng gọi tên là Đế Nghi và Lộc Tục. Tên hiệu của các vị này trong Hùng Vương Thánh Tổ ngọc phả là Hùng Hy Vương và Hùng Hi Vương (hoặc Hùng Anh Vương). Chữ Hy – Hi rõ ràng liên quan trực tiếp đến tích Đế Nghiêu “mệnh Hy Thúc trạch Nam Giao” trong Kinh Thư và liên quan tới tên ngọn núi Hùng là Hy Cương.

Tấm hoành phi đặt tại đền Giếng trên núi Hy Cương: “Nam quốc Anh Hoàng“. Anh – Hoàng là tên của hai vị Nga Hoàng và Nữ Anh, con của Đế Nghiêu đã được gả cho Đế Thuấn. Đây là dẫn chứng trực tiếp về quan niệm cho rằng 2 vị công chúa thờ trên đền Hùng là con của Đế Nghiêu và vợ của Đế Thuấn.

Ở các di tích trên vùng đất tổ Hùng Vương, 2 công chúa Ngọc Hoa, Tiên Dung thường được thờ bằng ban Hai Cô, hoặc trở thành 2 vị “thành hoàng”, thờ cùng với 3 vị Cao Sơn, U Sơn và Ất Sơn. Khu vực ven sông Lô của huyện Phù Ninh, Phú Thọ có tục thờ Ất Sơn và Hai Cô là bởi đây là nơi Đế Thuấn đã rước dâu qua sông, từ vùng kinh đô ở Việt Trì về miền quê núi Lịch ở Tuyên Quang. Như vậy 2 công chúa Ngọc Hoa và Tiên Dung ở vùng này chính là hai vị Nga Hoàng và Nữ Anh, con của vua Nghiêu.

Đế Thuấn đi cày ở Lịch Sơn là Ất Sơn Thánh Vương, vị vua Hùng thứ 3 trong Tam vị Thánh tổ Hùng Vương. Lịch cũng nghĩa là “lịch pháp”, liên quan đến lịch khắc trên lưng rùa. Trong sử Việt có chuyện họ Việt Thường cống lịch rùa cho vua Nghiêu như sau: “Đời Đào Đường, phương Nam có Việt Thường thị qua hai lần sứ dịch sang chầu, dâng con rùa thần; có lẽ nó được đến nghìn năm, mình nó hơn ba thước, trên lưng có văn khoa đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở mang trở về sau. Vua Nghiêu sai chép lấy, gọi là quy lịch (lịch rùa)“.

Ngày nay di tích về Đế Nghiêu trên đất tổ Hùng Vương có đền Vua Nghiêu ở Chuế Lưu (Hạ Hòa, Phú Thọ). Miếu Ngu ở Thạch Trị (Thạch Hà, Hà Tĩnh) từng có bài vị thờ của Vua Nghiêu, Vua Thuấn. Đường Nghiêu và Ngu Thuấn được thờ ở vị trí thứ hai ở hai bên trong gian chính của miếu Lịch đại Đế vương tại Huế.

Đôi câu đối cổ từng treo ở đền Hùng trên núi Hy Cương khẳng địch thời kỳ Tam Hoàng Ngũ Đế nối tiếp nhau cũng là các triều đại vua Hùng, là thủy tổ của trăm giống Việt:
Lịch Tam Hoàng chí Tam Vương, thần truyền thánh kế
Đĩnh bách nam sinh Bách Việt, tổ thiện tôn bồi.

Nghĩa là:
Từ Tam Hoàng đến Tam Vương, thần dõi truyền, thánh nhân kế tục
Sinh trăm trai mở Bách Việt, tổ thiện đức, con cháu bồi vun.

Bài thơ ở chính điện Thái Hòa, Huế.
Tranh đắp vua Nghiêu đón vua Thuấn ở Huế
Cánh đồng Lịch Sơn ở Sơn Dương, Tuyên Quang.
Miếu Hùng Lô ở Phú Thọ nơi thờ Viễn Sơn và Ất Sơn Thánh Vương.
Miếu Ngu ở Thạch Trị, Hà Tĩnh nơi từng thờ Vua Nghiêu, Vua Thuấn.
Một số di tích Vua Nghiêu, Vua Thuấn trên vùng đất tổ

Bạn có biết: Vị vua Hùng đầu tiên là Hiên Viên Hoàng Đế

Truyện họ Hồng Bàng chép: Đế Minh cháu ba đời Viêm Đế Thần Nông sinh ra Đế Nghi, nhân đi tuần về phía Nam đến núi Ngũ Lĩnh mừng gặp và lấy được con gái bà Vụ Tiên rồi trở về, sinh ra Lộc Tục. Lộc Tục mặt mày sáng sủa, thông minh phúc hậu, Đế Minh rất lấy làm lạ, muốn cho nối ngôi mình. Lộc Tục cố từ, xin nhường cho anh là Đế Nghi. Đế Minh liền lập Đế Nghi làm người nối ngôi cai trị đất phương Bắc, phong cho Lộc Tục làm Kinh Dương Vương để cai trị đất phương Nam.

Người đầu tiên được nhắc đến trong lịch sử Việt là Đế Minh, cháu ba đời Viêm Đế Thần Nông. Do đó Đế Minh mới là vị vua mở đầu thời đại Hùng Vương trong dòng sử dân tộc.

Bản Nam Việt Hùng Vương ngọc phả soạn thời Lê Đại Hành ở đầu tiên chép: Kỷ Hồng Bàng Thị. Đế Minh, thống trị vạn bang chư hầu thiên hạ. Còn Đại Việt sử ký toàn thư cũng mở đầu như sau: Thời Hoàng Đế dựng muôn nước, lấy địa giới Giao Chỉ về phía Tây Nam, xa ngoài đất Bách Việt. So sánh 2 dòng sử từ ngọc phả Hùng Vương và chính sử (Đại Việt sử ký) thì thấy rõ Đế Minh cũng chính là Hoàng Đế, người đã dựng muôn nước, thống trị vạn bang chư hầu Thiên hạ.

Hoàng Đế là người mở đầu thời kỳ Ngũ Đế trong Hoa sử. Tam tự kinh, bài học vỡ lòng cho các sĩ tử Việt xưa ghi:
Khảo thế hệ, tri chung thủy
Tự Hy Nông, chí Hoàng Đế
Hiệu Tam Hoàng, cư thượng thế.

Nghĩa là:
Xét thế hệ, biết trước sau
Từ Hy Nông, đến Hoàng Đế
Gọi Tam Hoàng trên thượng thế
.

Hoàng Đế có tên là Hiên Viên, là tộc trưởng bộ tộc Hữu Hùng. Còn Thiên Nam ngữ lục, bộ “sử thi” bằng thơ Nôm thế kỷ XVII nước ta chép:
Tự vua Viêm Đế sinh ra
Thánh nhân ngưu thủ họ là Thần Nông,
Trời cho thay họ Hữu Hùng
Con cháu nối nghiệp cha ông thủ thành.

Thiên Nam ngữ lục cho biết rõ rằng người thay thế họ Thần Nông là họ Hữu Hùng. Nghĩa là Đế Minh (cháu 3 đời Viêm Đế Thần Nông) chính là họ Hữu Hùng, hay Hiên Viên Hoàng Đế.

Huyền sử Trung Hoa cho biết sau trận đánh quyết liệt giữa Hiên Viên với Xi Vưu ở Trác Lộc thì tất cả dân chúng các bộ lạc đều hoan nghênh Hữu Hùng Thị, tôn Hữu Hùng Thị lên ngôi Minh chủ, lấy hiệu là Hoàng Đế. Hoàng Đế sau khi áp phục được các bộ lạc được tôn là Minh chủ hay Minh đế, tức chính là Đế Minh trong truyền thuyết họ Hồng Bàng.

Hiên Viên Hoàng Đế được thờ là tổ của bách nghệ, như ngay tại chính giữa lòng phố cổ Hà Nội ở đình Kim Ngân và đình Trương Thị phố Hàng Bạc. Y miếu Thăng Long ở Hoàng Mai, Hà Nội thờ Hoàng Đế gắn với tác phẩm Hoàng Đế nội kinh tố vấn, là nền tảng của nền y học phương Đông. Miếu Lịch đại đế vương ở kinh thành Huế, nơi vua Minh Mạng cho xây dựng để phụng thờ các bậc đế vương đời trước, thờ Hoàng Đế ở vị trí hữu nhất trong gian chính trung.

Ở vùng đất tổ Phong Châu, như trên núi Nghĩa Lĩnh vị vua Hùng đầu tiên của người Việt được thờ là Đột Ngột Cao Sơn Thánh Vương, cùng với 2 vị vua kế tiếp là Viễn Sơn Thánh Vương và Ất Sơn Thánh Vương. Còn trong các ngọc phả vị vua Hùng đầu tiên này được gọi là Hùng Vương Sơn nguyên Thánh Tổ Tiền Hoàng Đế.

Đôi câu đối ở đến Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh vẫn còn ghi lại danh xưng của Đế Minh – Hoàng Đế, vị tổ của Bách Việt, mở muôn nước từ nơi ngã ba sông Việt Trì:
Thiên thư định phân, chính thống triệu Minh đô, Bách Việt sơn hà tri hữu tổ
Quang
nhạc hiệp linh, cố cung thành tụy miếu, Tam Giang khâm đái thượng triều tôn.

Nghĩa là:
Sách trời định chốn, chính thống dựng Minh đô, núi sông Bách Việt biết có tổ
Núi tỏa linh thiêng, cung cũ lập miếu đền, một dải Tam Giang hướng về nguồn.

Tượng Đột Ngột Cao Sơn ở Hiền Lương (Phú Thọ).
Đình làng Triệu Phú (Hùng Sơn, Phú Thọ) nơi lưu giữ những đồ thờ của đền Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh.

Ngọc phả cổ truyền chép về Đức ông Cả Đài Đại vương, Đức ông Bố Cái Đại vương bộ Thủy triều Hùng họ Việt Thường

Dịch từ thần tích làng Thượng Phúc tổng Hoàng Lưu huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Đông.

Thần tích bộ Tả, Thượng thượng đẳng thần.

Xưa Hùng Vương Sơn nguyên Thánh Tổ Nam Thiên Đại bảo Tiền Hoàng đế khai mở cơ đồ, thủy tổ trời Nam, nước Cổ Việt họ Hùng Việt Thường, 18 đời thánh vương ngự trị trời Nam, sáng lập cơ đồ nước Việt. Nước biếc một dòng mở vận đế thánh vua sáng. Núi xanh vạn dặm lập nền cung điện đô thành. Mở vật giúp người, thống lĩnh 15 bộ, thế mạnh trùm khắp phiên bang. Nối tiếp ngôi báu đất Viêm Hồng, có vua trị nước hơn ba ngàn năm, mãi giữ cho tông miếu vững như bàn đá. Hiển ứng linh thiêng nơi Nghĩa Lĩnh, truyền trăm đời đế vương nước Nam. Đế ngự muôn năm thánh điện núi Hùng, đất tổ trời Nam. Nền vua đất nước mãi vững muôn năm, mãi còn vạn cổ. Hương lửa không dứt.

Lại nói, vua triều Kinh thứ 6 là Huy Vương tại ngôi, đóng đô ở sông Bạch Hạc Việt Trì, tên nước là Văn Lang, kinh thành là Phong Châu, dựng kỷ cương đất nước, lấy phép tắc của các vua đời trước mà khuyếch trương pháp độ, trải hình phép vạn đời. Lấy đức giáo hóa nhân dân, làm điều nhân đức, chuyên tâm chính trị. Dốc lòng che chở dân chúng. Lập pháp luật, biểu trương quy củ. Đương thời đều coi là vị vua hiền vậy.

Lại nói, đang thời khi đó truyền đến hai vị Đài công, Cái công, đúng chính là dòng dõi Hùng Vương làm Bộ chủ Hoan Châu. Khi Lạc Long Quân lấy Âu Cơ ở động Lăng Sương làm chính phi, sinh được một bầu trăm trứng, nở ra điềm lành trăm trai, đều là những anh hùng vượt đời, trí dũng hơn người. Lạc Long Quân liền cho kiến dựng tước hầu, lập phiên dậu bình phong, chia nước thành 15 bộ. Một là Sơn Tây, hai là Sơn Nam, ba là Hải Dương, bốn là Kinh Bắc, năm là Ái Châu, sáu là Hoan Châu, bảy là châu Bố Chính, tám là Ô Châu, chín là Ai Lao, mười là Hưng Hóa, mười một là Tuyên Quang, mười hai là Cao Bằng, mười ba là Lạng Sơn, mười bốn là Quảng Đông, mười lăm là Quảng Tây. Khi đó Long Quân nói với Âu Cơ rằng:

  • Ta thuộc giống rồng, nàng là dòng tiên. Tí Ngọ không cùng, nên vì thế mà chia tách.

Năm mươi người con theo cha làm Thủy thần. Năm mươi người con theo mẹ làm Sơn thần. Nhân đặt là trăm vương. Bộ chủ Hoan Châu là thủy thần thứ 11, tên là Hùng Tuệ. Mẹ vốn là người châu Bảo Lạc, trang Hoằng Hóa, họ Vương tên Loan. Khi đó ông Bộ chủ tuổi đã 50, bà phi tuổi cũng hơn 40, nhưng cành lan nhánh quế trước sân còn thiếu, chưa thấy giấc mộng lành điềm kỳ lân. Ông Bộ chủ họ Hùng vốn là người có đức dày với dân, trọng nghĩa khinh tài, rộng rãi giúp đỡ dân chúng. Phàm là việc cứu người thì không có gì là nhỏ. Lòng tận tâm giúp vật vốn có như ghi khắc. Là người hiền thực sự ở trên đời, vốn là bậc tuấn kiệt đương thời vậy.

Thái bà cũng là người nhân từ, kính thuận, khiêm tốn. Ăn ở vẻ vang mà ôn hòa, tứ đức vẹn toàn. Sáng vẻ nhàn hạ chốn khe Nam. Một lòng tòng thuận như chốn cửa Trần. Nét ấm đẹp theo lối Cam đường. Thực là bậc Hằng Nga trên cung trăng. Đúng là bậc nữ đời Nghiêu Thuấn. Sánh sáng cùng việc ngọc phong, sống động cùng lan quế, thời đó khó tìm.

Một hôm ông Bộ chủ nói với bà phi rằng:

  • Chốn đền thần danh lam, trai giới nơi chùa phật, thành tâm cầu tế trời đất thần kỳ, núi sông trăng sao thì mới mong có được phúc lớn.

Dứt lời bèn chuẩn bị lễ vật. Vợ chồng Bộ chủ cùng lên núi Yên Tử để dâng hương cầu khấn, chúc:

  • Xin sớm cho được điềm lành, thấu đạt hoàn cảnh. Vạn sự mong trời đất thần sông âm phù, giúp được ước muốn.

Chúc xong thì mặt trời đã xuống núi, trời chuyển về chiều. Ông bà bèn nằm lại trong chùa để cầu mộng trước án. Khoảng đến giữa canh hai bà phi mơ màng như mộng. Bỗng thấy trong điện mây năm sắc nổi lên, bầu trời sáng  rực rỡ. Lại thấy con đường trong mây có rồng vàng xuất hiện, thẳng đến quấn lấy thân bà phi ba vòng. Bà phi sợ hãi, hét lên một tiếng, vang đập vào tai mà tỉnh dậy. Bà kể lại điều trong mộng với ông Bộ chủ. Ông Bộ chủ bèn nói rằng:

  • Nhà ta có phúc lớn, trời sẽ soi tỏ. Cứ như điều trong mộng thì trời tất sẽ giáng điềm lành, quả sẽ sinh quý tử.

Noi xong vợ chồng cùng làm lễ bái tạ. Ngay hôm đó, vợ chồng trở loan giá về đến thôn Thượng Dục, xã Hạ Dục, huyện Chương Đức, phủ Ứng Thiên. Có một đoạn sông nhỏ chảy vòng đến thôn Thượng Dục. Ông Bộ chủ bèn cho dừng thuyền tại đó một lúc. Bà phi đi xuống bãi sông mà tắm rửa. Bỗng nhiên có giao long quấn lấy chân, phun nước dãi rồng vào thân bà phi. Mùi hương dãi rồng ngào ngạt. Bà phi sợ hãi bèn chạy lên bờ trở về. Mùi hương dãi rồng trên thân không gột hết được. Bà phi nói lại với ông Bộ chủ. Ông Bộ chủ nói rằng:

  • Ta thuộc mệnh Thủy thần, tất có sinh ra Thủy thần. Hãy đợi sau này sẽ biết được việc hôm nay thế nào.

Nói xong vợ chồng lại cất bước trở về đến Hoan Châu. Tối đó ông Bộ chủ nằm ở trong nhà chính, mơ màng thiếp đi. Bỗng thấy có một người hai tay bưng một chiếc mâm vàng, bên trên có một đôi cá chép, thân hình như đầu rồng đuôi tôm, thật là kỳ lạ. Khi đó người ấy bưng đến trước án ông Bộ chủ, bèn nói:

  • Nhà ông phúc hậu, nên nay ban cho một đôi báu vật của trời.

Ông bỗng tỉnh lại, nhớ đến điềm trong mộng thấy việc con cái tất sẽ thành, việc sẽ đúng như thế. Được vài tháng bà phi thấy động trong lòng, cảm ứng có mang thai. Đến giờ Thìn ngày mùng 6 tháng Giêng năm Giáp Tí sinh được một bầu, nở ra hai người con trai, đều có kỳ hình dị tướng, hàm én mày ngài, trán hổ mặt rồng. Sau lưng có 28 điểm tinh tú, đều như một hàng vảy lân, không phải người trần có được. Vợ chồng ông Bộ chủ liên tưởng biết tất là thủy thần xuất thế, thiên thánh giáng trần. Ngày qua tháng lại, hai ông tuổi đã lên 3. Ông Bộ chủ bèn làm biểu tâu lên Bệ hạ, bèn đặt tên là Đài, người con thứ là Cái.

Thời ấy vua Hùng sinh được một bầu trăm trứng, nở ra trăm trai, kiến tước hầu, lập bình phong, phân chia 50 (15?) bộ. Lại phân 50 thủy thần, 50 sơn bộ. Hễ bộ nào có sinh con trai, tâu lên triều đình thì vua sẽ lệnh ban cho kế vị quân hầu, phân đất đai lộc hưởng. Hùng Huy Vương thấy hai ông dáng vẻ như hổ, biết là người lạ khác tầm thường, siêu quần vượt chúng. Bèn đều phong cho tước hầu.

Khi đó ông Bộ chủ Hoan Châu tâu bày việc khi cầu đảo hai ông đã ở chùa trên núi Yên Tử, thấy có điềm mộng ứng, lại khi trở về đến thôn Thượng Dục thì có giao long quấn lấy, về sau sinh được hai ông. Vua nghe chuyện đó bèn cho đất Thượng Dục làm đất hưởng lộc của hai ông, sau này làm nơi thờ phụng.

Lại nói, hai ông khi lên 7-8 tuổi thì có thiên tính thông minh, không cần dạy dỗ mà tự có hiểu biết, không đi học mà biết chữ nghĩa. Mỗi khi đi ra chơi ở ngoài đường thì đều có một áng mây xám hình như cái ô lớn bay trên giữa trời, che ở chính đỉnh đầu hai ông. Gió sấm nổi lên, mây mưa tùy rơi. Ở nơi mà hai ông đi qua đều thấy một cảnh thanh mát trong lành. Hai ông tính thường rất thích nước, hay đi tắm. Thường đi ra bến sông, lặn xuống đáy nước, đi lại ra ngoài sông lớn, lặn xuống đáy nước cả ngày không lên. Mọi người đều thấy, đều kính sợ, xưng là tài lạ trời bẩm sinh, điều lạ ở chốn nhân gian, xưa này không từng có.

Khi hai ông lên 18 tuổi, văn võ kiêm tài, oai động triều đình, có tấm lòng nhân đức độ lượng, không ai không phục. Đương khi đó thiên hạ có mưa to nước lụt. Một dòng nước lớn chảy xuyên phá lở đường. Nhân dân, mùa màng bị thiệt hại nặng. Mười nơi thì chín nơi tan hoang, thật là đói khát. Vua cho hai ông nhận chức lớn đi tuần giữ các nơi trong thiên hạ, xem xét các vùng đất đai. Một hôm hai ông đi thẳng đến nơi ở sở tại (tức là địa giới thôn Thượng Dục). Nhân dân làm lễ bái mừng, dựng một hành cung ở đất đó (đất đó có hình thế một quý cục, hai bên phong tinh dẫn mạch, bốn mặt đất bằng bỗng nổi dựng một động nhỏ). Khi đó hai ông truyền binh sĩ xây dựng cung để ở và trị thủy. Hai ông ở đó được vài ngày, tới một đêm mưa to nước lũ dâng cao, chảy vào trong chốn cung sở. Hai ông bèn truyền cho nhân dân và binh sĩ chặt cây làm đê để ngăn nước, nhưng đều không chống được, thế nước lụt khó giữ. Hai ông rất tức giận, mắng rằng:

  • Thủy tặc sao lại có ý muốn hại trần gian vậy. Nay chúng ta vâng mệnh vua trần gian, cai quản thần sông, trấn ngự giặc nước gây hại. Chốn này là đất cung sở của chúng ta (tức đất thôn Thượng Dục) mà không sợ chúng ta sao. Ngày ngày lại càng dâng thêm nước lụt xâm nhập, gây hại cho dân. Không nghe rằng Dương đình, Thủy quốc phép chung đều giống nhau. Nếu có chúng ta ở đây, lũ thủy tặc khó thoát.

Mắng xong, hai ông mơ màng như mộng. Bỗng thấy có ba tướng đường đường cùng với quân sĩ hơn vài chục viên từ sông rẽ nước lên bờ đến đánh nhau với hai ông. Hai ông dẫn quân đến đánh. Được hơn mười hiệp hai ông bắn một mũi tên vào giữa bụng quân giặc. Quân giặc thua chạy. Hai ông đuổi theo, chém được hai viên đại tướng cùng với vài trăm binh sĩ. Còn những tên khác đều thua bỏ chạy hết. Bỗng nghe có một tiếng sấm vang lên. Hai ông tỉnh lại, biết là mộng. Đến khi trời sáng thấy nước đều đã rút hết đến tận lòng sông, không cần sửa đê mà đều rút yên vậy.

Hai ông trị thủy việc đã yên bình, làm biểu dâng tấu lên triều đình. Vua bèn ban chiếu gọi hai ông trở về kinh thành. Hai ông vâng chiếu trở về triều, bái tạ Bệ rồng. Vua rất khen ngợi, ngay hôm đó phong thưởng thăng giao ông Đài đất Hoan Châu làm chủ chưởng kế thừa cha. Ông Cái được phong ở Sơn Nam. Cùng ban thưởng 500 lạng vàng.

Hai ông xin trước bệ rồng được trở về thăm cha mẹ. Vua đồng ý. Hai ông hôm đó quay xe trở về đến xứ Hoan Châu, vào bái ông Bộ chủ, làm lễ gia tiên. Ở được vài ngày thì cha mẹ bỗng nhiên mất (tức ngày mùng 5 tháng Năm). Hai ông làm biểu dâng tấu lên triều đình, rồi chôn cất cha mẹ ở đất đó. Sau đó hai ông đi nhận chức ở các nơi. Từ đó thiên hạ thanh bình, nhân dân no đủ. Hai ông đi xe trở về cung Thượng Dục. Ngày hôm đó nhân dân làm lễ bái mừng. Hai ông truyền quân sĩ cùng nhân dân tu sửa hành cung các chốn. Hai ông ở đó được hơn ba tháng.

Lại nói, khi ấy có Ngô Linh Thần tướng cất 50 vạn quân mạnh đến xâm chiếm nước ta. Giáo mác khắp trời, cờ xí rợp đất. Thư từ biên giới gửi về báo gấp, mỗi ngày 5 lần. Vua Huy Vương lo lắng, bèn gọi quần thần đến hội nghị, hỏi kế sách. Triều đình đều dương mắt nhìn nhau, bó tay không có đối sách. Vua bèn cho dựng đàn trai giới, đốt hương cầu đảo. Truyền quần thần đến hội tụ ở đàn trong ba ngày. Sau có mưa sấm gió lớn. Bỗng thấy một ông lão cao hơn 9 thước, râu tóc bạch trắng, đứng ở nơi ngã ba đường mà cười nói, nhảy múa. Mọi người đều thấy làm lạ, tâu vào lên vua. Vua thân ra đón vào trong đàn, hỏi rằng;

  • Nay có giặc phương Bắc đến xâm phạm. Thắng thua như thế nào, xin được chỉ giáo.

Ông lão ngẫm nghĩ hồi lâu, lấy tay bắt một quẻ, rồi nói với vua rằng:

  • Nếu như cầu được người thì giặc này tất sẽ dẹp yên hoàn toàn được.

Vua lại hỏi rằng:

  • Cầu người này ở phương nào?

Ông lão lại nói rằng:

  • Việc này hãy hỏi bà mo.

Dứt lời, ông lão bay lên không đi mất. Vua biết là Lạc Long Quân chỉ giáo. Thế là vua sai sứ giả đi cầu khắp thiên hạ. Đến làng Phù Đổng quận Vũ Ninh có một gia đình phú ông sinh được một người con trai, đã hơn ba tuổi, tên là Thiết Xung Thần Vương, chỉ ăn uống mà lớn lên, không biết cười nói. Bà mẹ nghe sứ giả truyền đến, bèn đùa rằng:

  • Con nhà ta chỉ biết ăn uống, không biết đánh giặc để nhận chức trọng của triều đình, để báo ân sâu nuôi mớm.

Nghe mẹ nói vậy, người con bỗng nhiên nói:

  • Mẹ gọi sứ giả lại đây.

Thần Vương nói với sứ giả rằng:

  • Hãy mau về báo với vua, xin được một con ngựa sắt cao mười thước, một cây gậy sắt dài mười trượng, mang đến cho tôi thì Vua không phải lo lắng nữa.

Lại nói, sứ giả trở về, tâu lại lời nói đó với vua. Vua rất vui mừng, lại lệnh cho các quan lang, phụ đạo, bộ chủ cùng với 10 bộ sơn thần, 10 bộ thủy thần là dòng dõi Hùng Vương, dẫn ba vạn quân mạnh theo giúp Thần Vương. Ngay ngày hôm đó đúc thành ngựa sắt, gậy sắt, đem đến cho Thần Vương.

Lại nói, khi đó vua lệnh cho ông Đài và ông Cái thống lĩnh Thủy đạo tướng quân, trợ chiến cùng với Thần Vương, tiến thẳng đến đồn chính giặc Ân ở chân núi Vũ Ninh miền Yên Việt, đánh lớn với Ngô Linh Thần tướng ở bên núi. Giặc Ân đều thua, bắt sống Ngô Linh Thần tướng mà chém đi. Còn lại các dư đảng chưa diệt hết, Thần Vương trước đó đã rơi gậy sắt nên liền nhổ tre làm gậy dẹp sạch quân giặc.

Thần Vương dẹp yên giặc xong, trở về đến núi Sóc Vệ Linh huyện Kim Anh thì bỏ áo, ngựa, bay thẳng lên trời mây mà đi. Nay còn dấu chân ngựa ở trên vách núi.

Lại nói, hai ông (tức ông Đài, ông Cái ở đó) cưỡi thuyền rồng trở về đến sông Bùi huyện Chương Đức, bỗng thấy có một trận gió lớn nổi lên, trời đất tối tăm. Trên sông sóng nổi lên ầm ầm, vạn nhẫn vang rền. Lại thấy có ba tiếng hô rằng:

  • Mau triệu hai ông trở về Thủy quốc.

Nhân dân nghe thấy tiếng hô đều sợ hãi. Được phút chốc, mưa gió tự dừng. Nhân dân đến nơi cung sở thì không thấy hai ông đâu nữa. Nhân dân (tức thôn Thượng Dục) liền đi thẳng ra ngoài bãi sông, bỗng thấy thuyền rồng còn đậu ở nơi đó. Lại nghe tiếng nói với nhân dân rằng:

  • Hai vị tướng quân đang khi mưa gió mù mịt đã cùng xuống thuyền rồng mà hóa. Dân các người ở đây (tức thôn Thượng Dục) hay mau về cung sở bày cúng tế phụng thờ.

Ngay hôm đó là ngày 12 tháng Mười hai năm Bính Ngọ nhân dân nghe tiếng các quan Thủy đạo báo vậy bèn làm lễ tạ. Trở về sửa sang cung đền bày tế cúng. Đang khi làm lễ, mây trời u ám, mưa gió nổi lên. Giao long, cá lớn, ba ba đều đến chầu vào nơi tế cúng. Nhân dân sợ hãi, bèn làm biểu dâng tâu lên triều đình. Khi đó các quan làm tế xong, trở về cũng đều tâu lại với vua. Vua rất mừng, nói với quần thần:

  • Thiên thần và Thủy quốc đều giúp nước nhà. Trẫm không còn lo lắng gì nữa.

Ngay hôm đó mở yến tiệc lớn khao hưởng quân sĩ, phong thưởng các công thần. Bèn phong mỹ tự cho trăm thần, hưởng lễ huyết thực vạn cổ, hương lửa không ngừng.

Phong là Phù Đổng Thiên Vương. Cho đón sắc chỉ về dân lập đền để thờ. Các đền ở xã Phù Đổng huyện Tiên Du, cùng thôn Đối Mã xã Vệ Linh huyện Kim Hoa đều cho cấp một trăm khoảnh ruộng để phụng thờ.

Lại phong Đức Ông Đài Vàng Đại vương. Lại phong Bố Cái Sô Tha Đại vương. Cho vâng đón sắc chỉ đem về nơi thôn Thượng Dục, sai quan … đến bày cúng tế, tu sửa đền cung, nhân dân được phụng thờ.

Người đời sau có thơ rằng:

Sinh hoá diệc đồng thử nhất tân
Sinh vi danh tướng hoá vi thần
Bùi giang, Thượng Dục giai tồn tích
Miếu mạo vũ đường cựu chí tân.

Dịch là:

Sinh hóa cùng nhau tại bến này
Sinh là danh tướng, hóa thần đây
Sông Bùi, Thượng Dục đều còn tích
Miếu mạo cung đường xưa tới nay.

Lai nói đến thời Trưng nữ vương, tức Trưng Trắc, Trưng Nhị, đều là cháu gái Hùng Vương, thật là bậc thánh thần trên trần thế, bậc hào kiệt trong giới nữ, khởi binh phụ tướng, chiêu dụ anh hùng, dẹp trừ Tô Định. Cùng nhau hội quân ở sông Hát, lập đàn cầu đảo trăm thần âm phù giúp nước dẹp giặc thành công. Khi đang làm lễ bỗng thấy ông Đài và ông Cái dẫn binh mã đến nói rằng:

  • Chúng tôi chính là các thủy thần. Nay thấy hoàng gia khởi nghĩa dẹp trừ giặc dã, tự xin được âm phù dẹp giặc, tất đều có linh ứng.

Sau khi thanh bình Trưng nữ Vương lên ngôi, bèn phong mỹ tự cho cùng hưởng hưng thịnh với đất nước, là Duyên huống Khai tường Xiển trị Cương nghị Hùng lược Anh đoạn Pháp thân Cư sĩ Tối linh Đại vương.

Từ Trần Thánh Tông đến Trang Tông cùng với Thái úy đại thần diệt trừ loạn Mạc, có nhiều linh ứng, âm phù giúp nước, đều có nhiều phong tặng sắc chỉ. Các ngày khai sắc, khánh hạ được khai rõ ràng dưới đây:

Thượng đẳng Thủy thần, bộ Tả.

Các ngày lệ sinh hóa cùng các tiết khánh hạ và các chữ húy, sắc phục màu vàng đều cấm. Nhất thiết cấm các chữ húy Hùng, Loan, Đài, Cái.

Ngày lệ sinh thần là mùng 6 tháng Giêng, hai vị cùng sinh. Lễ dùng lợn đen, chọn gia đình vợ chồng đều song toàn làm lễ, cùng gà, xôi, rượu, cỗ chay, ca hát.

Ngày lệ khánh hạ là ngày 15 tháng Hai chính lệ. Lễ dùng mâm chay, xôi rượu, hương hoa năm vị.

Ngày lệ phong sắc là mùng 6 tháng Sáu. Dùng trâu, xôi, rượu, ca hát.

Ngày lệ khai sắc là mùng 6 tháng Ba. Dùng lợn đen, xôi, rượu, ca hát.

Ngày lệ hóa thần là 12 tháng Mười hai, hai vị cùng hóa. Lễ dùng cỗ trâu, xôi, rượu, bánh chay.

Ngày hóa của thánh phụ là mùng 5 tháng Năm. Lễ dùng lợn, gà, xôi, rượu.

Hoàng triều Vĩnh Hựu năm thứ 2 ngày tốt, Quản giám bách thần Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh Nguyễn Hiền tuân theo bản cũ vâng chép.

Hồng Phúc năm đầu ngày 18 tháng Năm, Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn.

Thần tích về Đông Nhạc Đại vương, người đúc ngựa sắt cho Phù Đổng Thiên Vương

Dịch từ bản khai thần tích thần sắc làng Lương Quán tổng Tuẫn Lễ huyện Đông Anh tỉnh Phúc Yên

Phả chép về một vị Đại vương công thần triều Hùng Tuấn Vương.

Chi Cấn, bộ Thượng đẳng. Chính bản bộ Lễ quốc triều.

Xưa Hùng Vương Sơn nguyên Thánh Tổ mở vận lập cơ đồ hơn hai ngàn năm. Hùng Vương dựng nước núi xanh vạn dặm lập nền móng cung điện đô thành, nước biếc một dải mở đạo minh vương đế thánh. Cứu vật giúp người, thống lĩnh 15 bộ, hiệu là tổ đầu của Bách Việt.

Nước Việt xưa tới thời Hùng Tuấn Vương có một người ở làng Đa Hội phủ Từ Sơn đạo Kinh Bắc (xưa gọi là bộ Bắc Giang). Ông họ Ta, tên Hưởng. Vợ là Đặng Thị, tên Diệu. Vốn lấy nghề thợ rèn đồ sắt làm nghề sinh sống mà thành một gia đình giàu có. Vợ chồng đều có đức dày. Nhưng tuổi đã cao mà chưa có con trai. Thế rồi một đêm bỗng nhiên mộng thấy có một thần nhân đến gọi nói rằng:

  • Nhà người phúc hậu đã được biết, nên cho một thế đất tốt để đem mộ cha chôn vào đó. Sau này tất sinh ra khanh tướng.

Thần nhân nói xong thì dẫn tới một khu đất hỏa nhạc, nói rằng:

  • Hình là ngựa trời, huyệt ở tại cửa.

Trong khoảnh khắc thần nhân biết mất. Ông tỉnh lại, nhớ tới điều trong mộng mà lấy làm lạ. Sáng ngày ông đến nơi đó xem xét, quả thấy như mộng, bèn đem mộ của cha mà chôn vào đó. Từ đó sau trăm ngày thấy bà Đặng Thị có mang thai. Đến ngày 12 tháng Mười năm Giáp Ngọ sinh hạ một người con trai, thiên tư cao lớn, thể mạo kỳ lạ. Ông biết đúng là đất tốt sinh người, nên rất yêu quý, bèn đặt tên là Nhạc. Nuôi dưỡng ông đến năm trưởng thành, thiên tư cao lớn, học lực tinh thông, giỏi về võ lược. Ông Nhạc năm 18 tuổi thì cha mẹ đều mất. Ba năm chịu tang xong thì khi đó giặc Ân đến xâm chiếm, áp bức dân chúng. Tuấn Vương lo lắng, bèn truyền hịch đi các châu, quận, đạo nước Nam, nơi nào có tướng tài văn võ, sức lực hơn người thì đên dẹp phiên thần. Nghe có ông Phù Đổng tuổi mới lên ba, mà có thần lực khác người, nghe chiếu thiên tử nổi lòng trạng nguyên bốn biển. Ông Đổng liền bái mệnh mẹ, ngay hôm đó đến gặp Tuấn Vương, tâu rằng:

  • Thấn vốn là thiên sứ giáng sinh giúp nước. Có vua tất có thần. Xin bệ hạ cho một con ngựa sắt thì giặc Ân chỉ trong tuần nhật là dẹp yên.

Vua nghe vậy rất vui mừng. Ngay hôm đó Vua bèn sai sứ đi đến làng Đa Hội phủ Từ Sơn đạo Kinh Bắc, xem có thợ rèn nào có nghề rèn giỏi đúc được ngựa sắt thì chọn một người về kinh đô để đúc ngựa sắt. Ông Nhạc nghe vậy, lòng cùng muốn giúp nước, chí muốn cứu dân. Ông bèn cùng sứ giả về kinh đô ứng tuyển. Vua thấy ông Nhạc dũng mãnh hơn người, nghề rèn đúc rất tinh xảo. Vua bèn của ông đúc đồ sắt. Đến hạn ông Nhạc đúc được ngựa sắt rất lớn và một cây roi sắt, đem đến. Vua cho ông Nhạc là người tài nhất bèn cử ông dẫn quân theo ngựa cùng với ông Phù Đổng hành chinh dẹp giặc Ân.

Ngay hôm đó ông Phù Đổng cất quân tiến đến khu đất đầu trại Lương Quán huyện Đông Ngạn phủ Từ Sơn, cùng đóng quân ở trại đó, nhà xem thế đất, thấy có một thế sông núi quanh co, rồng cuộn hổ ôm. Núi không cao nhưng có vách đứng. Sông có tình ở nơi dòng giếng. Tiện nghi tưởng cũng là một thắng cảnh tươi đẹp vậy. Thế là ông Phù Đổng bèn giao cho ông Nhạc xây lầu ở tại đó để ứng chiến phía sau với giặc Ân. Khi đó ông Phù Đổng vâng lệnh nhận ngựa, đứng lên hô một tiếng lớn. Tức thì con ngựa trở nên to lớn, người thường không sánh được. Bèn cầm roi vung lên, nhảy lên ngựa,

Chạy về phía Bắc. Ngay hôm đó ông Nhạc truyền cho quân sĩ cùng với người trong trại xây một tòa lầu dựa hướng Đông để có sinh khí mà ở, để ứng chiến phía sau với giặc Ân. Khi đó nhân dân phụ lão trại Lương Quán đều sợ hãi, bèn làm lễ xin được làm thần tử. Ông đồng ý, bèn lấy những người khỏe mạnh trong trai được hơn mười người làm thủ túc trong nhà. Thế là nhân dân phụ lão trại Lương Quán nhân đó xin nay là nơi lầu để ở, sau này là nơi thờ tự. Ông đồng ý. Sáng ngày hôm thấy có sứ giả vâng mang chiếu thư đến, lệnh cho ông đánh giặc Ân. Ông bèn mổ trâu làm lễ cáo tế trời đất, trăm thần sông núi, khao quân sĩ trong trại. Rồi ông cất quân tiến thẳng đến dưới núi Sóc phủ Bắc Hà. Ông cùng Phù Đổng Thiên Vương đóng ở dưới núi Sóc, rồi cùng tiến công một lượt, đánh một trận lớn. Giặc Ân thua to, bỏ chạy. Chém được chính tướng giặc Ân cùng vài vạn tướng sĩ. Từ đó không còn biết giặc Ân ở đâu nữa.

Thế là thiên hạ thanh bình, trong nước vô sự. Giữa ban ngày bỗng nhiên thấy Thiên Vương cưỡi ngựa bay lên không mà đi không thấy nữa, tức đã hóa ở xứ Sóc Sơn. Còn ông Nhạc trở về đến đầu đất huyện Kim Hoa, ngẩng lên trời  thấy có một đám mây vàng hình như dải lụa đỏ từ trên trời rơi thẳng xuống trước mặt. Thấy ông Nhạc thân bay lên tại xứ Gò Đống mà biến mất, tức đã hóa. Khi đó là ngày 11 tháng Giêng. Nhân dân và quân sĩ đều sợ hãi, bèn dâng biểu tâu lên triều đình. Vua bèn sai sứ mang tế văn về nơi đất đó, sắc phong là Thượng đẳng Phúc thần, cho pháp trang Lương Quán lập miếu để thờ.

Tới thời Đinh Tiên Hoàng dẹp 12 sứ quân bị vây tại chùa này, được Ông âm phù mà thoát. Nên cứ mỗi năm ngày 11 tháng Giêng lại xa giá đến làm lễ thành lệ để làm tỏ sự linh thiêng của ông. Từ đó thành lệ thường. Tặng phong là Đương cảnh Thành hoàng Linh phù chi thần. Sắc phong tên thần nguyên là: phong Đông Nhạc Đại vương. Màu quần áo khi làm lễ cấm dùng màu vàng và đỏ. Phong thêm là Linh quang Hộ quốc Hiển ứng An dân Tích chỉ Ngưng hưu.

Lại nói từ đó về sau có nhiều linh ứng, nên có nhiều đời các đế vương phong thêm mỹ tự. Thời Trần Thái Tông giặc Nguyên đến xâm chiếm, kinh thành bị vây hãm. Trần Quốc Tuấn vâng mệnh cầu đảo trăm thần ở các đền. Khi đó một vị Đại vương này cũng có hiển ứng âm phù. Đến khi dẹp được giặc Mã, Thái Tông bèn phong thêm mỹ tự một vị là Linh ứng Anh triết Hiển hữu.

Đến khi Lê Thái Tổ khởi nghĩa dẹp giặc Minh Liễu Thăng, có được thiên hạ, Thái Tổ bèn phong thêm là Phổ tế Cương nghị Anh linh. Sắc chỉ ban cho trang Lương Quán trung tu miếu điện để phụng thờ. Tốt thay, lành thay!

Vâng khai các tiệc sinh hóa cùng với các chữ húy cấm là Đông Nhạc, đồng ý cho trang Lương Quán thờ.

Ngày sinh thần là 12 tháng Mười. Lệ chính lễ dùng trên mâm chay, dưới là lợn đen, xôi, rượu, bánh dày, ca hát.

Ngày hóa thần là 11 tháng Giêng. Lệ chính lễ dùng như trên.

Ngày lệ tiệc xuất quân là tháng Mười một, chọn ngày tốt làm lễ.

Niên hiệu Hồng Phúc năm đầu, ngày tốt tháng đầu xuân, Hàn lâm Lễ viện Đông các Đại học sĩ, thần là Nguyễn Bính, vâng soạn bản chính.

Hoàng triều Vĩnh Hữu năm thứ sáu ngày tốt giữa thu, nội các bộ Lại lại tuân theo bản cũ vâng chép.

Sắc cho xã Lương Quán huyện Đông Anh tỉnh Phúc An theo như trước đây phụng thờ Nhạc Tối linh Tôn thần, nguyên tặng là Linh phù Dực bảo Trung hưng Tôn thần, giúp nước giúp dân có nhiều linh ứng, trải qua các tiết đã có ban cấp sắc phong cho phép phụng thờ. Nay chính là ngày lễ lớn sinh nhật Trẫm bốn mươi tuổi, nên ban cho chiếu báu thâm ơn, lễ tăng thêm phẩm trật, tặng thêm là Khác tĩnh Thượng đẳng thần, đặc biệt cho phép phụng thờ. Nhân ngày quốc khánh mà làm nêu tỏ điển thờ. Vâng thay!

Khải Định năm thứ 9 ngày 25 tháng Bảy

Lý trưởng Trần Văn Đạt vâng sao.

Đình Lương Quán: Thiết mã thành công.