Bạn có biết: Đế Nghiêu, Đế Thuấn là các vị vua Hùng được thờ trên núi Hy Cương

Vua Thuấn đi cày voi trong trò diễn ở Tứ Xã.

Tam tự kinh, cuốn sách các sĩ tử Việt xưa học nằm lòng, ghi:
Đường Hữu Ngu, hiệu nhị Đế
Tương ấp tốn, xưng thịnh thế.

Nghĩa là:
Đường, Hữu Ngu là hai Đế
Cùng nhường đất, gọi thịnh thế.

Đường Nghiêu, Ngu Thuấn là hai vị Đế thời cổ đại của Trung Hoa, nối tiếp thời Hoàng Đế Hiên Viên. Nhưng thật bất ngờ khi biết rằng Đế Nghiêu và Đế Thuấn chính là 2 vị vua Hùng thứ 2 và thứ 3 được thờ cùng với vua Hùng thứ 1 như những vị quốc tổ Hùng Vương trên đền Hùng ở núi Hy Cương.

Kinh Thư chép: “(Vua Nghiêu) sai Hi Thúc đến Nam Giao, quan sát mặt trời di chuyển về phương Nam, ghi ngày Hạ chí.” Hi Thúc cũng là Đế Thuấn, người đã tuân mệnh Đế Nghiêu đi khai mở đất Nam Giao, xem thiên tượng mà đề ra lịch pháp. Nam Giao rõ ràng là chỉ vùng phía Nam của đất Việt xưa thời đầu Hùng Vương.

Bài thơ được coi là “tuyên ngôn độc lập” của nhà Nguyễn ở chính điện Thái Hòa trong kinh thành Huế:
Văn hiến thiên niên quốc
Xa thư vạn lý đồ
Hồng Bàng khai tịch hậu
Nam phục nhất Đường Ngu.

Nghĩa là:
Nước ngàn năm văn hiến
Cơ đồ vạn dặm đồng
Từ Hồng Bàng mở nước
Phục Nam một Đường Ngu.

Bài thơ trong câu cuối nói trực tiếp rằng cõi Nam mở nước Hồng Bàng là từ Đường Nghiêu, Ngu Thuấn.

Ca dao Việt và quan họ Bắc Ninh lời cổ có câu hát: 
Rủ nhau đi cấy xứ đương
Cấy cho vua Thuấn ở đồng Lịch Sơn.

Câu hát nói đến một điển tích có từ lâu đời là vua Thuấn đi cày ở núi Lịch: Nguyên cha của Thuấn là người hung bạo, không biện biệt được người hay kẻ dở, người đương thời đặt tên là Cổ Tẩu (người mù mắt). Mẹ của Thuấn mất sớm, Cổ Tẩu tục huyền với người đàn bà sau này sinh ra Tượng. Vì có lời gièm pha của người kế mẫu và đứa em ngỗ nghịch cùng cha khác mẹ, Cổ Tẩu không ưa Thuấn và định bụng giết đi. Biết thế, nhưng Thuấn vẫn giữ trọn chữ hiếu đối với cha và người dì ghẻ ác nghiệt, hòa thuận với đứa em độc ác, không một lời than oán. Khi cha bắt đi cày ở đất Lịch Sơn cốt tìm cách trừ đi, vì nơi đây có tiếng là nhiều thú dữ hay ăn thịt người. Nhưng tấm lòng hiếu thảo và hòa mục của Thuấn động đến lòng trời, cả đàn voi ra giúp Thuấn cày đất và muông chim vô số đáp xuống nhặt cỏ hộ. Thấy không hại được Thuấn, Cổ Tẩu và người dì ghẻ sai Thuấn đánh cá ở Hồ Lôi Trạch, nơi có nhiều sóng to gió lớn, nhưng khi Thuấn đến thì sóng lặng gió yên.

Liên quan đến sự tích vua Thuấn đi cày, ở Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ có hội làng Tứ Xã với trò Trám. Tứ Xã là nơi có các di chỉ khảo cổ học nổi tiếng thời Hùng Vương như Gò Mun, Đồng Đậu con, Gót Rẽ… Trò Trám ở Tứ Xã là trò trình nghề tứ dân Sĩ – Nông – Công – Thương, trong đó có vai một người diễn tích “vua Thuấn cày voi” với lời hát ca trù như sau:

Vốn tôi đây dòng dõi thần minh
Kẻ tên hiệu tôi là Ngu Thuấn.
Nghĩ cha mẹ tôi càng oán hận
Hận ở điều ăn ở không cân.
Em dượng tôi ngạo mạn bất nhân
Ân tôi phải dĩ nông vi bản.
Tôi cũng mong hữu gia hữu sản,
Nhác trông lên núi Lịch tốt thay
Ân tôi phải bắt voi cày núi đá.

Sách Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn cho biết xã Yên Lịch ở dưới núi cũng có miếu Đế Thuấn, 6 xã trong 1 tổng cùng phụng thờ. Ruộng này nằm ở phía bên phải xứ Ngòi Vực, rộng chừng 1 trượng, khá dài. Nước sông Lô mùa thu thường tràn vào. Tương truyền, ở bên bến sông này Đế Thuấn làm đồ gốm. Bên cạnh chỗ dân cư, có một cái giếng cổ, người ta cho là Đế Thuấn đào giếng ấy. Ở đó cũng có miếu Đế Thuấn, trước miếu có ruộng hè, rộng chừng vài mẫu, khá sâu. Người ta cho đó xưa là đầm Lôi, nơi Đế Thuấn đánh cá và cày ruộng.

Lịch Sơn, nơi Đế Thuấn cày ruộng, đào giếng, làm gốm, đánh cá không ở đâu xa mà ở ngay huyện Sơn Dương của tỉnh Tuyên Quang. Cũng sách Kiến văn tiểu lục chép tiếp: Núi Sáng là ngọn cao nhất trong dãy núi Lịch. Trên núi Sáng cũng có đền thờ Đế Thuấn. Đằng trước núi lại đột khởi một ngọn núi đất hơi thấp, đỉnh núi như hình ghế chéo, trong núi có chỗ rộng ước dăm sào, có thể gieo được trăm bung mạ. Tương truyền chỗ ấy Đế Thuấn cấy lúa, nhân dân mới gọi là Bách Bung.

Núi Sáng còn có tên là Lãng Sơn, nay thuộc huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc. Địa danh Yên Lịch xưa đến nay vẫn còn, trong tên thôn An Lịch của xã Đông Lợi (Sơn Dương, Tuyên Quang). Trước đây nơi này được gọi là tổng Yên Lịch, nằm dưới chân núi Lịch, là một vùng ruộng lúa chiêm ven sông Lô. Đây là đầm Sấm hay Lôi Trạch được nói đến trong truyền thuyết về Đế Thuấn.

Sách Kiến văn tiểu lục cho biết: Núi Lịch ở xã Yên Lịch huyện Sơn Dương, từ núi Sư Khổng ở huyện Đương Đạo mà chạy xuống, tới nơi đất bằng thì đột ngột nổi lên một ngọn núi có 5-6 đỉnh, giăng ngang ra chia thành một nhánh tới Lập Thạch là Lãng Sơn, một nhánh tới Tam Dương là núi Hoàng Chỉ. Trong núi Lịch ở đỉnh cao nhất có 5-6 chỗ bằng phẳng như đền đài, có động Đế Thuấn rất thiêng. Hoa quả trên núi người ta có thể hái ăn, nhưng không được mang đi. Ai mang đi sẽ bị lạc vào mê lộ, không thể ra được. Phía trên động Đế Thuấn có đền Đế Nghiêu, cúng bằng cỗ chay.

Ở An Lịch tới nay vẫn lưu truyền rằng trên núi Lịch có di tích của Đế Thuấn. Trên núi có một ao nước rộng chỉ 5-6m nhưng rất sâu, xung quanh có những cây quýt tươi tốt. Người dân địa phương kể, quả của cây này có thể hái ăn, nhưng nếu chỉ nhỡ cất một quả trong túi mang về thì sẽ như bị che mắt, đi vòng quanh 7 lần không ra được khu Ao Trời đó.

Đình An Lịch từ xưa thờ Ất Sơn Đại Vương, là vị vua Hùng thứ ba trong Tam vị Hùng Vương Thánh Tổ được thờ ở đền Hùng (gồm Đột Ngột Cao Sơn, Viễn Sơn và Ất Sơn Thánh Vương). Cũng ở vùng chân núi Lịch này còn có nhiều di tích thờ ba vị vua Hùng như đình Quang Tất, đình Thọ Vực và đền Ất Sơn.

Đình Quang Tất ở xã Hào Phú (Sơn Dương, Tuyên Quang) thờ ba vị vua Hùng là Cao Sơn, U Sơn và Ất Sơn. Cụ thủ từ đình Quang Tất cho biết, trước đây ở bên đình có 2 ông ngựa trắng và hồng bằng gỗ, đến ngày hội, dân làng kéo 2 ông ngựa này ra Mả Vua ở ngòi nước dưới chân núi Lịch để làm lễ. Vị vua có đền thờ trên núi Lịch cũng là một trong những vị vua Hùng được thờ ở đình. Tức là Đế Thuấn chính là Ất Sơn Thánh Vương, được thờ là quốc tổ ở đền Hùng.

Đặc biệt hơn nữa, không xa đình Quang Tất còn có ngôi đền cổ không biết từ bao giờ. Ngôi đền mang tên đền Ất Sơn. Đây thực sự là một điều bất ngờ, một bằng chứng đến hiển nhiên về vua Hùng Ất Sơn là Lịch Sơn Đế Thuấn. Đền Ất Sơn cũng giống như ở đình Quang Tất và Thọ Vực thờ 3 vị vua Hùng. Nơi đây còn giữ được lễ hội Cầu đinh cầu lão cổ xưa với nhiều trò tích diễn. Khi được hỏi vì sao đền có tên là Ất Sơn thì cụ thủ từ cho biết nơi đây vốn từng mang tên này, sau cách mạng mới đổi thành châu Tự Do. Tra lại địa bạ cũ thì ra nơi đây vốn là tổng Át Sơn. Những chữ Ất – Át – Út Sơn đều chỉ là một vị thần, vị vua Hùng thứ 3 trong Tam vị Thánh tổ Hùng Vương.

Những di tích thờ Hùng Vương ở chân núi Lịch ở Tuyên Quang cho phép xác định Ất Sơn Thánh Vương chính là Đế Thuấn. Như thế còn vị vua Hùng thứ hai Viễn Sơn hay U Sơn phải là Đế Nghiêu, người đã nhường ngôi cho Đế Thuấn. Nếu Đế Minh là vị vua Hùng thứ 1 Đột Ngột Cao Sơn thì rõ ràng Đế Nghiêu và Đế Thuấn là các vị vua Hùng tiếp theo, được truyền thuyết họ Hồng Bàng gọi tên là Đế Nghi và Lộc Tục. Tên hiệu của các vị này trong Hùng Vương Thánh Tổ ngọc phả là Hùng Hy Vương và Hùng Hi Vương (hoặc Hùng Anh Vương). Chữ Hy – Hi rõ ràng liên quan trực tiếp đến tích Đế Nghiêu “mệnh Hy Thúc trạch Nam Giao” trong Kinh Thư và liên quan tới tên ngọn núi Hùng là Hy Cương.

Tấm hoành phi đặt tại đền Giếng trên núi Hy Cương: “Nam quốc Anh Hoàng“. Anh – Hoàng là tên của hai vị Nga Hoàng và Nữ Anh, con của Đế Nghiêu đã được gả cho Đế Thuấn. Đây là dẫn chứng trực tiếp về quan niệm cho rằng 2 vị công chúa thờ trên đền Hùng là con của Đế Nghiêu và vợ của Đế Thuấn.

Ở các di tích trên vùng đất tổ Hùng Vương, 2 công chúa Ngọc Hoa, Tiên Dung thường được thờ bằng ban Hai Cô, hoặc trở thành 2 vị “thành hoàng”, thờ cùng với 3 vị Cao Sơn, U Sơn và Ất Sơn. Khu vực ven sông Lô của huyện Phù Ninh, Phú Thọ có tục thờ Ất Sơn và Hai Cô là bởi đây là nơi Đế Thuấn đã rước dâu qua sông, từ vùng kinh đô ở Việt Trì về miền quê núi Lịch ở Tuyên Quang. Như vậy 2 công chúa Ngọc Hoa và Tiên Dung ở vùng này chính là hai vị Nga Hoàng và Nữ Anh, con của vua Nghiêu.

Đế Thuấn đi cày ở Lịch Sơn là Ất Sơn Thánh Vương, vị vua Hùng thứ 3 trong Tam vị Thánh tổ Hùng Vương. Lịch cũng nghĩa là “lịch pháp”, liên quan đến lịch khắc trên lưng rùa. Trong sử Việt có chuyện họ Việt Thường cống lịch rùa cho vua Nghiêu như sau: “Đời Đào Đường, phương Nam có Việt Thường thị qua hai lần sứ dịch sang chầu, dâng con rùa thần; có lẽ nó được đến nghìn năm, mình nó hơn ba thước, trên lưng có văn khoa đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở mang trở về sau. Vua Nghiêu sai chép lấy, gọi là quy lịch (lịch rùa)“.

Ngày nay di tích về Đế Nghiêu trên đất tổ Hùng Vương có đền Vua Nghiêu ở Chuế Lưu (Hạ Hòa, Phú Thọ). Miếu Ngu ở Thạch Trị (Thạch Hà, Hà Tĩnh) từng có bài vị thờ của Vua Nghiêu, Vua Thuấn. Đường Nghiêu và Ngu Thuấn được thờ ở vị trí thứ hai ở hai bên trong gian chính của miếu Lịch đại Đế vương tại Huế.

Đôi câu đối cổ từng treo ở đền Hùng trên núi Hy Cương khẳng địch thời kỳ Tam Hoàng Ngũ Đế nối tiếp nhau cũng là các triều đại vua Hùng, là thủy tổ của trăm giống Việt:
Lịch Tam Hoàng chí Tam Vương, thần truyền thánh kế
Đĩnh bách nam sinh Bách Việt, tổ thiện tôn bồi.

Nghĩa là:
Từ Tam Hoàng đến Tam Vương, thần dõi truyền, thánh nhân kế tục
Sinh trăm trai mở Bách Việt, tổ thiện đức, con cháu bồi vun.

Bài thơ ở chính điện Thái Hòa, Huế.
Tranh đắp vua Nghiêu đón vua Thuấn ở Huế
Cánh đồng Lịch Sơn ở Sơn Dương, Tuyên Quang.
Miếu Hùng Lô ở Phú Thọ nơi thờ Viễn Sơn và Ất Sơn Thánh Vương.
Miếu Ngu ở Thạch Trị, Hà Tĩnh nơi từng thờ Vua Nghiêu, Vua Thuấn.
Một số di tích Vua Nghiêu, Vua Thuấn trên vùng đất tổ

Bạn có biết: Vị vua Hùng đầu tiên là Hiên Viên Hoàng Đế

Truyện họ Hồng Bàng chép: Đế Minh cháu ba đời Viêm Đế Thần Nông sinh ra Đế Nghi, nhân đi tuần về phía Nam đến núi Ngũ Lĩnh mừng gặp và lấy được con gái bà Vụ Tiên rồi trở về, sinh ra Lộc Tục. Lộc Tục mặt mày sáng sủa, thông minh phúc hậu, Đế Minh rất lấy làm lạ, muốn cho nối ngôi mình. Lộc Tục cố từ, xin nhường cho anh là Đế Nghi. Đế Minh liền lập Đế Nghi làm người nối ngôi cai trị đất phương Bắc, phong cho Lộc Tục làm Kinh Dương Vương để cai trị đất phương Nam.

Người đầu tiên được nhắc đến trong lịch sử Việt là Đế Minh, cháu ba đời Viêm Đế Thần Nông. Do đó Đế Minh mới là vị vua mở đầu thời đại Hùng Vương trong dòng sử dân tộc.

Bản Nam Việt Hùng Vương ngọc phả soạn thời Lê Đại Hành ở đầu tiên chép: Kỷ Hồng Bàng Thị. Đế Minh, thống trị vạn bang chư hầu thiên hạ. Còn Đại Việt sử ký toàn thư cũng mở đầu như sau: Thời Hoàng Đế dựng muôn nước, lấy địa giới Giao Chỉ về phía Tây Nam, xa ngoài đất Bách Việt. So sánh 2 dòng sử từ ngọc phả Hùng Vương và chính sử (Đại Việt sử ký) thì thấy rõ Đế Minh cũng chính là Hoàng Đế, người đã dựng muôn nước, thống trị vạn bang chư hầu Thiên hạ.

Hoàng Đế là người mở đầu thời kỳ Ngũ Đế trong Hoa sử. Tam tự kinh, bài học vỡ lòng cho các sĩ tử Việt xưa ghi:
Khảo thế hệ, tri chung thủy
Tự Hy Nông, chí Hoàng Đế
Hiệu Tam Hoàng, cư thượng thế.

Nghĩa là:
Xét thế hệ, biết trước sau
Từ Hy Nông, đến Hoàng Đế
Gọi Tam Hoàng trên thượng thế
.

Hoàng Đế có tên là Hiên Viên, là tộc trưởng bộ tộc Hữu Hùng. Còn Thiên Nam ngữ lục, bộ “sử thi” bằng thơ Nôm thế kỷ XVII nước ta chép:
Tự vua Viêm Đế sinh ra
Thánh nhân ngưu thủ họ là Thần Nông,
Trời cho thay họ Hữu Hùng
Con cháu nối nghiệp cha ông thủ thành.

Thiên Nam ngữ lục cho biết rõ rằng người thay thế họ Thần Nông là họ Hữu Hùng. Nghĩa là Đế Minh (cháu 3 đời Viêm Đế Thần Nông) chính là họ Hữu Hùng, hay Hiên Viên Hoàng Đế.

Huyền sử Trung Hoa cho biết sau trận đánh quyết liệt giữa Hiên Viên với Xi Vưu ở Trác Lộc thì tất cả dân chúng các bộ lạc đều hoan nghênh Hữu Hùng Thị, tôn Hữu Hùng Thị lên ngôi Minh chủ, lấy hiệu là Hoàng Đế. Hoàng Đế sau khi áp phục được các bộ lạc được tôn là Minh chủ hay Minh đế, tức chính là Đế Minh trong truyền thuyết họ Hồng Bàng.

Hiên Viên Hoàng Đế được thờ là tổ của bách nghệ, như ngay tại chính giữa lòng phố cổ Hà Nội ở đình Kim Ngân và đình Trương Thị phố Hàng Bạc. Y miếu Thăng Long ở Hoàng Mai, Hà Nội thờ Hoàng Đế gắn với tác phẩm Hoàng Đế nội kinh tố vấn, là nền tảng của nền y học phương Đông. Miếu Lịch đại đế vương ở kinh thành Huế, nơi vua Minh Mạng cho xây dựng để phụng thờ các bậc đế vương đời trước, thờ Hoàng Đế ở vị trí hữu nhất trong gian chính trung.

Ở vùng đất tổ Phong Châu, như trên núi Nghĩa Lĩnh vị vua Hùng đầu tiên của người Việt được thờ là Đột Ngột Cao Sơn Thánh Vương, cùng với 2 vị vua kế tiếp là Viễn Sơn Thánh Vương và Ất Sơn Thánh Vương. Còn trong các ngọc phả vị vua Hùng đầu tiên này được gọi là Hùng Vương Sơn nguyên Thánh Tổ Tiền Hoàng Đế.

Đôi câu đối ở đến Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh vẫn còn ghi lại danh xưng của Đế Minh – Hoàng Đế, vị tổ của Bách Việt, mở muôn nước từ nơi ngã ba sông Việt Trì:
Thiên thư định phân, chính thống triệu Minh đô, Bách Việt sơn hà tri hữu tổ
Quang
nhạc hiệp linh, cố cung thành tụy miếu, Tam Giang khâm đái thượng triều tôn.

Nghĩa là:
Sách trời định chốn, chính thống dựng Minh đô, núi sông Bách Việt biết có tổ
Núi tỏa linh thiêng, cung cũ lập miếu đền, một dải Tam Giang hướng về nguồn.

Tượng Đột Ngột Cao Sơn ở Hiền Lương (Phú Thọ).
Đình làng Triệu Phú (Hùng Sơn, Phú Thọ) nơi lưu giữ những đồ thờ của đền Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh.

Ngọc phả cổ truyền chép về Đức ông Cả Đài Đại vương, Đức ông Bố Cái Đại vương bộ Thủy triều Hùng họ Việt Thường

Dịch từ thần tích làng Thượng Phúc tổng Hoàng Lưu huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Đông.

Thần tích bộ Tả, Thượng thượng đẳng thần.

Xưa Hùng Vương Sơn nguyên Thánh Tổ Nam Thiên Đại bảo Tiền Hoàng đế khai mở cơ đồ, thủy tổ trời Nam, nước Cổ Việt họ Hùng Việt Thường, 18 đời thánh vương ngự trị trời Nam, sáng lập cơ đồ nước Việt. Nước biếc một dòng mở vận đế thánh vua sáng. Núi xanh vạn dặm lập nền cung điện đô thành. Mở vật giúp người, thống lĩnh 15 bộ, thế mạnh trùm khắp phiên bang. Nối tiếp ngôi báu đất Viêm Hồng, có vua trị nước hơn ba ngàn năm, mãi giữ cho tông miếu vững như bàn đá. Hiển ứng linh thiêng nơi Nghĩa Lĩnh, truyền trăm đời đế vương nước Nam. Đế ngự muôn năm thánh điện núi Hùng, đất tổ trời Nam. Nền vua đất nước mãi vững muôn năm, mãi còn vạn cổ. Hương lửa không dứt.

Lại nói, vua triều Kinh thứ 6 là Huy Vương tại ngôi, đóng đô ở sông Bạch Hạc Việt Trì, tên nước là Văn Lang, kinh thành là Phong Châu, dựng kỷ cương đất nước, lấy phép tắc của các vua đời trước mà khuyếch trương pháp độ, trải hình phép vạn đời. Lấy đức giáo hóa nhân dân, làm điều nhân đức, chuyên tâm chính trị. Dốc lòng che chở dân chúng. Lập pháp luật, biểu trương quy củ. Đương thời đều coi là vị vua hiền vậy.

Lại nói, đang thời khi đó truyền đến hai vị Đài công, Cái công, đúng chính là dòng dõi Hùng Vương làm Bộ chủ Hoan Châu. Khi Lạc Long Quân lấy Âu Cơ ở động Lăng Sương làm chính phi, sinh được một bầu trăm trứng, nở ra điềm lành trăm trai, đều là những anh hùng vượt đời, trí dũng hơn người. Lạc Long Quân liền cho kiến dựng tước hầu, lập phiên dậu bình phong, chia nước thành 15 bộ. Một là Sơn Tây, hai là Sơn Nam, ba là Hải Dương, bốn là Kinh Bắc, năm là Ái Châu, sáu là Hoan Châu, bảy là châu Bố Chính, tám là Ô Châu, chín là Ai Lao, mười là Hưng Hóa, mười một là Tuyên Quang, mười hai là Cao Bằng, mười ba là Lạng Sơn, mười bốn là Quảng Đông, mười lăm là Quảng Tây. Khi đó Long Quân nói với Âu Cơ rằng:

  • Ta thuộc giống rồng, nàng là dòng tiên. Tí Ngọ không cùng, nên vì thế mà chia tách.

Năm mươi người con theo cha làm Thủy thần. Năm mươi người con theo mẹ làm Sơn thần. Nhân đặt là trăm vương. Bộ chủ Hoan Châu là thủy thần thứ 11, tên là Hùng Tuệ. Mẹ vốn là người châu Bảo Lạc, trang Hoằng Hóa, họ Vương tên Loan. Khi đó ông Bộ chủ tuổi đã 50, bà phi tuổi cũng hơn 40, nhưng cành lan nhánh quế trước sân còn thiếu, chưa thấy giấc mộng lành điềm kỳ lân. Ông Bộ chủ họ Hùng vốn là người có đức dày với dân, trọng nghĩa khinh tài, rộng rãi giúp đỡ dân chúng. Phàm là việc cứu người thì không có gì là nhỏ. Lòng tận tâm giúp vật vốn có như ghi khắc. Là người hiền thực sự ở trên đời, vốn là bậc tuấn kiệt đương thời vậy.

Thái bà cũng là người nhân từ, kính thuận, khiêm tốn. Ăn ở vẻ vang mà ôn hòa, tứ đức vẹn toàn. Sáng vẻ nhàn hạ chốn khe Nam. Một lòng tòng thuận như chốn cửa Trần. Nét ấm đẹp theo lối Cam đường. Thực là bậc Hằng Nga trên cung trăng. Đúng là bậc nữ đời Nghiêu Thuấn. Sánh sáng cùng việc ngọc phong, sống động cùng lan quế, thời đó khó tìm.

Một hôm ông Bộ chủ nói với bà phi rằng:

  • Chốn đền thần danh lam, trai giới nơi chùa phật, thành tâm cầu tế trời đất thần kỳ, núi sông trăng sao thì mới mong có được phúc lớn.

Dứt lời bèn chuẩn bị lễ vật. Vợ chồng Bộ chủ cùng lên núi Yên Tử để dâng hương cầu khấn, chúc:

  • Xin sớm cho được điềm lành, thấu đạt hoàn cảnh. Vạn sự mong trời đất thần sông âm phù, giúp được ước muốn.

Chúc xong thì mặt trời đã xuống núi, trời chuyển về chiều. Ông bà bèn nằm lại trong chùa để cầu mộng trước án. Khoảng đến giữa canh hai bà phi mơ màng như mộng. Bỗng thấy trong điện mây năm sắc nổi lên, bầu trời sáng  rực rỡ. Lại thấy con đường trong mây có rồng vàng xuất hiện, thẳng đến quấn lấy thân bà phi ba vòng. Bà phi sợ hãi, hét lên một tiếng, vang đập vào tai mà tỉnh dậy. Bà kể lại điều trong mộng với ông Bộ chủ. Ông Bộ chủ bèn nói rằng:

  • Nhà ta có phúc lớn, trời sẽ soi tỏ. Cứ như điều trong mộng thì trời tất sẽ giáng điềm lành, quả sẽ sinh quý tử.

Noi xong vợ chồng cùng làm lễ bái tạ. Ngay hôm đó, vợ chồng trở loan giá về đến thôn Thượng Dục, xã Hạ Dục, huyện Chương Đức, phủ Ứng Thiên. Có một đoạn sông nhỏ chảy vòng đến thôn Thượng Dục. Ông Bộ chủ bèn cho dừng thuyền tại đó một lúc. Bà phi đi xuống bãi sông mà tắm rửa. Bỗng nhiên có giao long quấn lấy chân, phun nước dãi rồng vào thân bà phi. Mùi hương dãi rồng ngào ngạt. Bà phi sợ hãi bèn chạy lên bờ trở về. Mùi hương dãi rồng trên thân không gột hết được. Bà phi nói lại với ông Bộ chủ. Ông Bộ chủ nói rằng:

  • Ta thuộc mệnh Thủy thần, tất có sinh ra Thủy thần. Hãy đợi sau này sẽ biết được việc hôm nay thế nào.

Nói xong vợ chồng lại cất bước trở về đến Hoan Châu. Tối đó ông Bộ chủ nằm ở trong nhà chính, mơ màng thiếp đi. Bỗng thấy có một người hai tay bưng một chiếc mâm vàng, bên trên có một đôi cá chép, thân hình như đầu rồng đuôi tôm, thật là kỳ lạ. Khi đó người ấy bưng đến trước án ông Bộ chủ, bèn nói:

  • Nhà ông phúc hậu, nên nay ban cho một đôi báu vật của trời.

Ông bỗng tỉnh lại, nhớ đến điềm trong mộng thấy việc con cái tất sẽ thành, việc sẽ đúng như thế. Được vài tháng bà phi thấy động trong lòng, cảm ứng có mang thai. Đến giờ Thìn ngày mùng 6 tháng Giêng năm Giáp Tí sinh được một bầu, nở ra hai người con trai, đều có kỳ hình dị tướng, hàm én mày ngài, trán hổ mặt rồng. Sau lưng có 28 điểm tinh tú, đều như một hàng vảy lân, không phải người trần có được. Vợ chồng ông Bộ chủ liên tưởng biết tất là thủy thần xuất thế, thiên thánh giáng trần. Ngày qua tháng lại, hai ông tuổi đã lên 3. Ông Bộ chủ bèn làm biểu tâu lên Bệ hạ, bèn đặt tên là Đài, người con thứ là Cái.

Thời ấy vua Hùng sinh được một bầu trăm trứng, nở ra trăm trai, kiến tước hầu, lập bình phong, phân chia 50 (15?) bộ. Lại phân 50 thủy thần, 50 sơn bộ. Hễ bộ nào có sinh con trai, tâu lên triều đình thì vua sẽ lệnh ban cho kế vị quân hầu, phân đất đai lộc hưởng. Hùng Huy Vương thấy hai ông dáng vẻ như hổ, biết là người lạ khác tầm thường, siêu quần vượt chúng. Bèn đều phong cho tước hầu.

Khi đó ông Bộ chủ Hoan Châu tâu bày việc khi cầu đảo hai ông đã ở chùa trên núi Yên Tử, thấy có điềm mộng ứng, lại khi trở về đến thôn Thượng Dục thì có giao long quấn lấy, về sau sinh được hai ông. Vua nghe chuyện đó bèn cho đất Thượng Dục làm đất hưởng lộc của hai ông, sau này làm nơi thờ phụng.

Lại nói, hai ông khi lên 7-8 tuổi thì có thiên tính thông minh, không cần dạy dỗ mà tự có hiểu biết, không đi học mà biết chữ nghĩa. Mỗi khi đi ra chơi ở ngoài đường thì đều có một áng mây xám hình như cái ô lớn bay trên giữa trời, che ở chính đỉnh đầu hai ông. Gió sấm nổi lên, mây mưa tùy rơi. Ở nơi mà hai ông đi qua đều thấy một cảnh thanh mát trong lành. Hai ông tính thường rất thích nước, hay đi tắm. Thường đi ra bến sông, lặn xuống đáy nước, đi lại ra ngoài sông lớn, lặn xuống đáy nước cả ngày không lên. Mọi người đều thấy, đều kính sợ, xưng là tài lạ trời bẩm sinh, điều lạ ở chốn nhân gian, xưa này không từng có.

Khi hai ông lên 18 tuổi, văn võ kiêm tài, oai động triều đình, có tấm lòng nhân đức độ lượng, không ai không phục. Đương khi đó thiên hạ có mưa to nước lụt. Một dòng nước lớn chảy xuyên phá lở đường. Nhân dân, mùa màng bị thiệt hại nặng. Mười nơi thì chín nơi tan hoang, thật là đói khát. Vua cho hai ông nhận chức lớn đi tuần giữ các nơi trong thiên hạ, xem xét các vùng đất đai. Một hôm hai ông đi thẳng đến nơi ở sở tại (tức là địa giới thôn Thượng Dục). Nhân dân làm lễ bái mừng, dựng một hành cung ở đất đó (đất đó có hình thế một quý cục, hai bên phong tinh dẫn mạch, bốn mặt đất bằng bỗng nổi dựng một động nhỏ). Khi đó hai ông truyền binh sĩ xây dựng cung để ở và trị thủy. Hai ông ở đó được vài ngày, tới một đêm mưa to nước lũ dâng cao, chảy vào trong chốn cung sở. Hai ông bèn truyền cho nhân dân và binh sĩ chặt cây làm đê để ngăn nước, nhưng đều không chống được, thế nước lụt khó giữ. Hai ông rất tức giận, mắng rằng:

  • Thủy tặc sao lại có ý muốn hại trần gian vậy. Nay chúng ta vâng mệnh vua trần gian, cai quản thần sông, trấn ngự giặc nước gây hại. Chốn này là đất cung sở của chúng ta (tức đất thôn Thượng Dục) mà không sợ chúng ta sao. Ngày ngày lại càng dâng thêm nước lụt xâm nhập, gây hại cho dân. Không nghe rằng Dương đình, Thủy quốc phép chung đều giống nhau. Nếu có chúng ta ở đây, lũ thủy tặc khó thoát.

Mắng xong, hai ông mơ màng như mộng. Bỗng thấy có ba tướng đường đường cùng với quân sĩ hơn vài chục viên từ sông rẽ nước lên bờ đến đánh nhau với hai ông. Hai ông dẫn quân đến đánh. Được hơn mười hiệp hai ông bắn một mũi tên vào giữa bụng quân giặc. Quân giặc thua chạy. Hai ông đuổi theo, chém được hai viên đại tướng cùng với vài trăm binh sĩ. Còn những tên khác đều thua bỏ chạy hết. Bỗng nghe có một tiếng sấm vang lên. Hai ông tỉnh lại, biết là mộng. Đến khi trời sáng thấy nước đều đã rút hết đến tận lòng sông, không cần sửa đê mà đều rút yên vậy.

Hai ông trị thủy việc đã yên bình, làm biểu dâng tấu lên triều đình. Vua bèn ban chiếu gọi hai ông trở về kinh thành. Hai ông vâng chiếu trở về triều, bái tạ Bệ rồng. Vua rất khen ngợi, ngay hôm đó phong thưởng thăng giao ông Đài đất Hoan Châu làm chủ chưởng kế thừa cha. Ông Cái được phong ở Sơn Nam. Cùng ban thưởng 500 lạng vàng.

Hai ông xin trước bệ rồng được trở về thăm cha mẹ. Vua đồng ý. Hai ông hôm đó quay xe trở về đến xứ Hoan Châu, vào bái ông Bộ chủ, làm lễ gia tiên. Ở được vài ngày thì cha mẹ bỗng nhiên mất (tức ngày mùng 5 tháng Năm). Hai ông làm biểu dâng tấu lên triều đình, rồi chôn cất cha mẹ ở đất đó. Sau đó hai ông đi nhận chức ở các nơi. Từ đó thiên hạ thanh bình, nhân dân no đủ. Hai ông đi xe trở về cung Thượng Dục. Ngày hôm đó nhân dân làm lễ bái mừng. Hai ông truyền quân sĩ cùng nhân dân tu sửa hành cung các chốn. Hai ông ở đó được hơn ba tháng.

Lại nói, khi ấy có Ngô Linh Thần tướng cất 50 vạn quân mạnh đến xâm chiếm nước ta. Giáo mác khắp trời, cờ xí rợp đất. Thư từ biên giới gửi về báo gấp, mỗi ngày 5 lần. Vua Huy Vương lo lắng, bèn gọi quần thần đến hội nghị, hỏi kế sách. Triều đình đều dương mắt nhìn nhau, bó tay không có đối sách. Vua bèn cho dựng đàn trai giới, đốt hương cầu đảo. Truyền quần thần đến hội tụ ở đàn trong ba ngày. Sau có mưa sấm gió lớn. Bỗng thấy một ông lão cao hơn 9 thước, râu tóc bạch trắng, đứng ở nơi ngã ba đường mà cười nói, nhảy múa. Mọi người đều thấy làm lạ, tâu vào lên vua. Vua thân ra đón vào trong đàn, hỏi rằng;

  • Nay có giặc phương Bắc đến xâm phạm. Thắng thua như thế nào, xin được chỉ giáo.

Ông lão ngẫm nghĩ hồi lâu, lấy tay bắt một quẻ, rồi nói với vua rằng:

  • Nếu như cầu được người thì giặc này tất sẽ dẹp yên hoàn toàn được.

Vua lại hỏi rằng:

  • Cầu người này ở phương nào?

Ông lão lại nói rằng:

  • Việc này hãy hỏi bà mo.

Dứt lời, ông lão bay lên không đi mất. Vua biết là Lạc Long Quân chỉ giáo. Thế là vua sai sứ giả đi cầu khắp thiên hạ. Đến làng Phù Đổng quận Vũ Ninh có một gia đình phú ông sinh được một người con trai, đã hơn ba tuổi, tên là Thiết Xung Thần Vương, chỉ ăn uống mà lớn lên, không biết cười nói. Bà mẹ nghe sứ giả truyền đến, bèn đùa rằng:

  • Con nhà ta chỉ biết ăn uống, không biết đánh giặc để nhận chức trọng của triều đình, để báo ân sâu nuôi mớm.

Nghe mẹ nói vậy, người con bỗng nhiên nói:

  • Mẹ gọi sứ giả lại đây.

Thần Vương nói với sứ giả rằng:

  • Hãy mau về báo với vua, xin được một con ngựa sắt cao mười thước, một cây gậy sắt dài mười trượng, mang đến cho tôi thì Vua không phải lo lắng nữa.

Lại nói, sứ giả trở về, tâu lại lời nói đó với vua. Vua rất vui mừng, lại lệnh cho các quan lang, phụ đạo, bộ chủ cùng với 10 bộ sơn thần, 10 bộ thủy thần là dòng dõi Hùng Vương, dẫn ba vạn quân mạnh theo giúp Thần Vương. Ngay ngày hôm đó đúc thành ngựa sắt, gậy sắt, đem đến cho Thần Vương.

Lại nói, khi đó vua lệnh cho ông Đài và ông Cái thống lĩnh Thủy đạo tướng quân, trợ chiến cùng với Thần Vương, tiến thẳng đến đồn chính giặc Ân ở chân núi Vũ Ninh miền Yên Việt, đánh lớn với Ngô Linh Thần tướng ở bên núi. Giặc Ân đều thua, bắt sống Ngô Linh Thần tướng mà chém đi. Còn lại các dư đảng chưa diệt hết, Thần Vương trước đó đã rơi gậy sắt nên liền nhổ tre làm gậy dẹp sạch quân giặc.

Thần Vương dẹp yên giặc xong, trở về đến núi Sóc Vệ Linh huyện Kim Anh thì bỏ áo, ngựa, bay thẳng lên trời mây mà đi. Nay còn dấu chân ngựa ở trên vách núi.

Lại nói, hai ông (tức ông Đài, ông Cái ở đó) cưỡi thuyền rồng trở về đến sông Bùi huyện Chương Đức, bỗng thấy có một trận gió lớn nổi lên, trời đất tối tăm. Trên sông sóng nổi lên ầm ầm, vạn nhẫn vang rền. Lại thấy có ba tiếng hô rằng:

  • Mau triệu hai ông trở về Thủy quốc.

Nhân dân nghe thấy tiếng hô đều sợ hãi. Được phút chốc, mưa gió tự dừng. Nhân dân đến nơi cung sở thì không thấy hai ông đâu nữa. Nhân dân (tức thôn Thượng Dục) liền đi thẳng ra ngoài bãi sông, bỗng thấy thuyền rồng còn đậu ở nơi đó. Lại nghe tiếng nói với nhân dân rằng:

  • Hai vị tướng quân đang khi mưa gió mù mịt đã cùng xuống thuyền rồng mà hóa. Dân các người ở đây (tức thôn Thượng Dục) hay mau về cung sở bày cúng tế phụng thờ.

Ngay hôm đó là ngày 12 tháng Mười hai năm Bính Ngọ nhân dân nghe tiếng các quan Thủy đạo báo vậy bèn làm lễ tạ. Trở về sửa sang cung đền bày tế cúng. Đang khi làm lễ, mây trời u ám, mưa gió nổi lên. Giao long, cá lớn, ba ba đều đến chầu vào nơi tế cúng. Nhân dân sợ hãi, bèn làm biểu dâng tâu lên triều đình. Khi đó các quan làm tế xong, trở về cũng đều tâu lại với vua. Vua rất mừng, nói với quần thần:

  • Thiên thần và Thủy quốc đều giúp nước nhà. Trẫm không còn lo lắng gì nữa.

Ngay hôm đó mở yến tiệc lớn khao hưởng quân sĩ, phong thưởng các công thần. Bèn phong mỹ tự cho trăm thần, hưởng lễ huyết thực vạn cổ, hương lửa không ngừng.

Phong là Phù Đổng Thiên Vương. Cho đón sắc chỉ về dân lập đền để thờ. Các đền ở xã Phù Đổng huyện Tiên Du, cùng thôn Đối Mã xã Vệ Linh huyện Kim Hoa đều cho cấp một trăm khoảnh ruộng để phụng thờ.

Lại phong Đức Ông Đài Vàng Đại vương. Lại phong Bố Cái Sô Tha Đại vương. Cho vâng đón sắc chỉ đem về nơi thôn Thượng Dục, sai quan … đến bày cúng tế, tu sửa đền cung, nhân dân được phụng thờ.

Người đời sau có thơ rằng:

Sinh hoá diệc đồng thử nhất tân
Sinh vi danh tướng hoá vi thần
Bùi giang, Thượng Dục giai tồn tích
Miếu mạo vũ đường cựu chí tân.

Dịch là:

Sinh hóa cùng nhau tại bến này
Sinh là danh tướng, hóa thần đây
Sông Bùi, Thượng Dục đều còn tích
Miếu mạo cung đường xưa tới nay.

Lai nói đến thời Trưng nữ vương, tức Trưng Trắc, Trưng Nhị, đều là cháu gái Hùng Vương, thật là bậc thánh thần trên trần thế, bậc hào kiệt trong giới nữ, khởi binh phụ tướng, chiêu dụ anh hùng, dẹp trừ Tô Định. Cùng nhau hội quân ở sông Hát, lập đàn cầu đảo trăm thần âm phù giúp nước dẹp giặc thành công. Khi đang làm lễ bỗng thấy ông Đài và ông Cái dẫn binh mã đến nói rằng:

  • Chúng tôi chính là các thủy thần. Nay thấy hoàng gia khởi nghĩa dẹp trừ giặc dã, tự xin được âm phù dẹp giặc, tất đều có linh ứng.

Sau khi thanh bình Trưng nữ Vương lên ngôi, bèn phong mỹ tự cho cùng hưởng hưng thịnh với đất nước, là Duyên huống Khai tường Xiển trị Cương nghị Hùng lược Anh đoạn Pháp thân Cư sĩ Tối linh Đại vương.

Từ Trần Thánh Tông đến Trang Tông cùng với Thái úy đại thần diệt trừ loạn Mạc, có nhiều linh ứng, âm phù giúp nước, đều có nhiều phong tặng sắc chỉ. Các ngày khai sắc, khánh hạ được khai rõ ràng dưới đây:

Thượng đẳng Thủy thần, bộ Tả.

Các ngày lệ sinh hóa cùng các tiết khánh hạ và các chữ húy, sắc phục màu vàng đều cấm. Nhất thiết cấm các chữ húy Hùng, Loan, Đài, Cái.

Ngày lệ sinh thần là mùng 6 tháng Giêng, hai vị cùng sinh. Lễ dùng lợn đen, chọn gia đình vợ chồng đều song toàn làm lễ, cùng gà, xôi, rượu, cỗ chay, ca hát.

Ngày lệ khánh hạ là ngày 15 tháng Hai chính lệ. Lễ dùng mâm chay, xôi rượu, hương hoa năm vị.

Ngày lệ phong sắc là mùng 6 tháng Sáu. Dùng trâu, xôi, rượu, ca hát.

Ngày lệ khai sắc là mùng 6 tháng Ba. Dùng lợn đen, xôi, rượu, ca hát.

Ngày lệ hóa thần là 12 tháng Mười hai, hai vị cùng hóa. Lễ dùng cỗ trâu, xôi, rượu, bánh chay.

Ngày hóa của thánh phụ là mùng 5 tháng Năm. Lễ dùng lợn, gà, xôi, rượu.

Hoàng triều Vĩnh Hựu năm thứ 2 ngày tốt, Quản giám bách thần Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh Nguyễn Hiền tuân theo bản cũ vâng chép.

Hồng Phúc năm đầu ngày 18 tháng Năm, Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn.

Thần tích về Đông Nhạc Đại vương, người đúc ngựa sắt cho Phù Đổng Thiên Vương

Dịch từ bản khai thần tích thần sắc làng Lương Quán tổng Tuẫn Lễ huyện Đông Anh tỉnh Phúc Yên

Phả chép về một vị Đại vương công thần triều Hùng Tuấn Vương.

Chi Cấn, bộ Thượng đẳng. Chính bản bộ Lễ quốc triều.

Xưa Hùng Vương Sơn nguyên Thánh Tổ mở vận lập cơ đồ hơn hai ngàn năm. Hùng Vương dựng nước núi xanh vạn dặm lập nền móng cung điện đô thành, nước biếc một dải mở đạo minh vương đế thánh. Cứu vật giúp người, thống lĩnh 15 bộ, hiệu là tổ đầu của Bách Việt.

Nước Việt xưa tới thời Hùng Tuấn Vương có một người ở làng Đa Hội phủ Từ Sơn đạo Kinh Bắc (xưa gọi là bộ Bắc Giang). Ông họ Ta, tên Hưởng. Vợ là Đặng Thị, tên Diệu. Vốn lấy nghề thợ rèn đồ sắt làm nghề sinh sống mà thành một gia đình giàu có. Vợ chồng đều có đức dày. Nhưng tuổi đã cao mà chưa có con trai. Thế rồi một đêm bỗng nhiên mộng thấy có một thần nhân đến gọi nói rằng:

  • Nhà người phúc hậu đã được biết, nên cho một thế đất tốt để đem mộ cha chôn vào đó. Sau này tất sinh ra khanh tướng.

Thần nhân nói xong thì dẫn tới một khu đất hỏa nhạc, nói rằng:

  • Hình là ngựa trời, huyệt ở tại cửa.

Trong khoảnh khắc thần nhân biết mất. Ông tỉnh lại, nhớ tới điều trong mộng mà lấy làm lạ. Sáng ngày ông đến nơi đó xem xét, quả thấy như mộng, bèn đem mộ của cha mà chôn vào đó. Từ đó sau trăm ngày thấy bà Đặng Thị có mang thai. Đến ngày 12 tháng Mười năm Giáp Ngọ sinh hạ một người con trai, thiên tư cao lớn, thể mạo kỳ lạ. Ông biết đúng là đất tốt sinh người, nên rất yêu quý, bèn đặt tên là Nhạc. Nuôi dưỡng ông đến năm trưởng thành, thiên tư cao lớn, học lực tinh thông, giỏi về võ lược. Ông Nhạc năm 18 tuổi thì cha mẹ đều mất. Ba năm chịu tang xong thì khi đó giặc Ân đến xâm chiếm, áp bức dân chúng. Tuấn Vương lo lắng, bèn truyền hịch đi các châu, quận, đạo nước Nam, nơi nào có tướng tài văn võ, sức lực hơn người thì đên dẹp phiên thần. Nghe có ông Phù Đổng tuổi mới lên ba, mà có thần lực khác người, nghe chiếu thiên tử nổi lòng trạng nguyên bốn biển. Ông Đổng liền bái mệnh mẹ, ngay hôm đó đến gặp Tuấn Vương, tâu rằng:

  • Thấn vốn là thiên sứ giáng sinh giúp nước. Có vua tất có thần. Xin bệ hạ cho một con ngựa sắt thì giặc Ân chỉ trong tuần nhật là dẹp yên.

Vua nghe vậy rất vui mừng. Ngay hôm đó Vua bèn sai sứ đi đến làng Đa Hội phủ Từ Sơn đạo Kinh Bắc, xem có thợ rèn nào có nghề rèn giỏi đúc được ngựa sắt thì chọn một người về kinh đô để đúc ngựa sắt. Ông Nhạc nghe vậy, lòng cùng muốn giúp nước, chí muốn cứu dân. Ông bèn cùng sứ giả về kinh đô ứng tuyển. Vua thấy ông Nhạc dũng mãnh hơn người, nghề rèn đúc rất tinh xảo. Vua bèn của ông đúc đồ sắt. Đến hạn ông Nhạc đúc được ngựa sắt rất lớn và một cây roi sắt, đem đến. Vua cho ông Nhạc là người tài nhất bèn cử ông dẫn quân theo ngựa cùng với ông Phù Đổng hành chinh dẹp giặc Ân.

Ngay hôm đó ông Phù Đổng cất quân tiến đến khu đất đầu trại Lương Quán huyện Đông Ngạn phủ Từ Sơn, cùng đóng quân ở trại đó, nhà xem thế đất, thấy có một thế sông núi quanh co, rồng cuộn hổ ôm. Núi không cao nhưng có vách đứng. Sông có tình ở nơi dòng giếng. Tiện nghi tưởng cũng là một thắng cảnh tươi đẹp vậy. Thế là ông Phù Đổng bèn giao cho ông Nhạc xây lầu ở tại đó để ứng chiến phía sau với giặc Ân. Khi đó ông Phù Đổng vâng lệnh nhận ngựa, đứng lên hô một tiếng lớn. Tức thì con ngựa trở nên to lớn, người thường không sánh được. Bèn cầm roi vung lên, nhảy lên ngựa,

Chạy về phía Bắc. Ngay hôm đó ông Nhạc truyền cho quân sĩ cùng với người trong trại xây một tòa lầu dựa hướng Đông để có sinh khí mà ở, để ứng chiến phía sau với giặc Ân. Khi đó nhân dân phụ lão trại Lương Quán đều sợ hãi, bèn làm lễ xin được làm thần tử. Ông đồng ý, bèn lấy những người khỏe mạnh trong trai được hơn mười người làm thủ túc trong nhà. Thế là nhân dân phụ lão trại Lương Quán nhân đó xin nay là nơi lầu để ở, sau này là nơi thờ tự. Ông đồng ý. Sáng ngày hôm thấy có sứ giả vâng mang chiếu thư đến, lệnh cho ông đánh giặc Ân. Ông bèn mổ trâu làm lễ cáo tế trời đất, trăm thần sông núi, khao quân sĩ trong trại. Rồi ông cất quân tiến thẳng đến dưới núi Sóc phủ Bắc Hà. Ông cùng Phù Đổng Thiên Vương đóng ở dưới núi Sóc, rồi cùng tiến công một lượt, đánh một trận lớn. Giặc Ân thua to, bỏ chạy. Chém được chính tướng giặc Ân cùng vài vạn tướng sĩ. Từ đó không còn biết giặc Ân ở đâu nữa.

Thế là thiên hạ thanh bình, trong nước vô sự. Giữa ban ngày bỗng nhiên thấy Thiên Vương cưỡi ngựa bay lên không mà đi không thấy nữa, tức đã hóa ở xứ Sóc Sơn. Còn ông Nhạc trở về đến đầu đất huyện Kim Hoa, ngẩng lên trời  thấy có một đám mây vàng hình như dải lụa đỏ từ trên trời rơi thẳng xuống trước mặt. Thấy ông Nhạc thân bay lên tại xứ Gò Đống mà biến mất, tức đã hóa. Khi đó là ngày 11 tháng Giêng. Nhân dân và quân sĩ đều sợ hãi, bèn dâng biểu tâu lên triều đình. Vua bèn sai sứ mang tế văn về nơi đất đó, sắc phong là Thượng đẳng Phúc thần, cho pháp trang Lương Quán lập miếu để thờ.

Tới thời Đinh Tiên Hoàng dẹp 12 sứ quân bị vây tại chùa này, được Ông âm phù mà thoát. Nên cứ mỗi năm ngày 11 tháng Giêng lại xa giá đến làm lễ thành lệ để làm tỏ sự linh thiêng của ông. Từ đó thành lệ thường. Tặng phong là Đương cảnh Thành hoàng Linh phù chi thần. Sắc phong tên thần nguyên là: phong Đông Nhạc Đại vương. Màu quần áo khi làm lễ cấm dùng màu vàng và đỏ. Phong thêm là Linh quang Hộ quốc Hiển ứng An dân Tích chỉ Ngưng hưu.

Lại nói từ đó về sau có nhiều linh ứng, nên có nhiều đời các đế vương phong thêm mỹ tự. Thời Trần Thái Tông giặc Nguyên đến xâm chiếm, kinh thành bị vây hãm. Trần Quốc Tuấn vâng mệnh cầu đảo trăm thần ở các đền. Khi đó một vị Đại vương này cũng có hiển ứng âm phù. Đến khi dẹp được giặc Mã, Thái Tông bèn phong thêm mỹ tự một vị là Linh ứng Anh triết Hiển hữu.

Đến khi Lê Thái Tổ khởi nghĩa dẹp giặc Minh Liễu Thăng, có được thiên hạ, Thái Tổ bèn phong thêm là Phổ tế Cương nghị Anh linh. Sắc chỉ ban cho trang Lương Quán trung tu miếu điện để phụng thờ. Tốt thay, lành thay!

Vâng khai các tiệc sinh hóa cùng với các chữ húy cấm là Đông Nhạc, đồng ý cho trang Lương Quán thờ.

Ngày sinh thần là 12 tháng Mười. Lệ chính lễ dùng trên mâm chay, dưới là lợn đen, xôi, rượu, bánh dày, ca hát.

Ngày hóa thần là 11 tháng Giêng. Lệ chính lễ dùng như trên.

Ngày lệ tiệc xuất quân là tháng Mười một, chọn ngày tốt làm lễ.

Niên hiệu Hồng Phúc năm đầu, ngày tốt tháng đầu xuân, Hàn lâm Lễ viện Đông các Đại học sĩ, thần là Nguyễn Bính, vâng soạn bản chính.

Hoàng triều Vĩnh Hữu năm thứ sáu ngày tốt giữa thu, nội các bộ Lại lại tuân theo bản cũ vâng chép.

Sắc cho xã Lương Quán huyện Đông Anh tỉnh Phúc An theo như trước đây phụng thờ Nhạc Tối linh Tôn thần, nguyên tặng là Linh phù Dực bảo Trung hưng Tôn thần, giúp nước giúp dân có nhiều linh ứng, trải qua các tiết đã có ban cấp sắc phong cho phép phụng thờ. Nay chính là ngày lễ lớn sinh nhật Trẫm bốn mươi tuổi, nên ban cho chiếu báu thâm ơn, lễ tăng thêm phẩm trật, tặng thêm là Khác tĩnh Thượng đẳng thần, đặc biệt cho phép phụng thờ. Nhân ngày quốc khánh mà làm nêu tỏ điển thờ. Vâng thay!

Khải Định năm thứ 9 ngày 25 tháng Bảy

Lý trưởng Trần Văn Đạt vâng sao.

Đình Lương Quán: Thiết mã thành công.

Thần tích Kiều Nhạc Đại vương đánh giặc Ân ở Nội Duệ, Tiên Du, Bắc Ninh

Dịch theo bản khai thần tích thần sắc thôn Phúc Đàm, Đông Đoài xã Duệ Đông tổng Nội Duệ huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh.

Bảo Đại năm thứ 13 mùng 10 tháng Ba thôn Trù Đông, Trù Đoài xã Duệ tổng Nội Duệ huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh vâng sao thần tích thần sắc.

Sắc văn:

Sắc phong Thành hoàng danh tướng Hồng huân Bảo quốc An dân Kiều Nhạc Đại vương Tôn thần Thượng đẳng.

Sắc phong Bản thổ Thành hoàng Thạch Lệnh Hiển linh thông Tôn thần chi thần.

Sắc văn:

Hùng chấn Uy linh Tôn nghiêm Chính thuận Anh dục Sơn xuyên Tú chung Hà hải Nguy đức Tuấn liệt Phổ huệ Thuỳ hưu Anh linh hiển ứng Đốc khánh Khoan hoà Minh đoạn Cao huy Hoằng thâm Phổ hợp Bảo quốc Hồng huân Tôn thần Thượng đẳng, cho phép hai sách Trù trang Duệ Động sở Nội Duệ huyện Tiên Du quận Từ Sơn trấn Vũ Ninh các phụ lão vâng lĩnh điềm thần, nghênh đón về phụng thờ để cùng trợ giúp bảo vệ lê dân. Vâng thay!

Từ triều Hùng 18 đời nối tiếp, tỏ tên thánh vương, nghìn thu danh ghi tín sử, vạn cổ linh thiêng rỡ rỡ, quyết đoán mưu lớn, công nhiều vĩ đại, trừ tai đuổi giặc, thế nước dài lâu, chính sách đem lại điều lành. Người con thứ đời thứ 4 của Thần Nông được phân phong, mở đầu là thánh tổ Nam bang, trị nước trăm năm, đổi thành nước Văn Lang. Một năm mùa xuân ngày nhàn mùng 5 tháng Giêng Lạc Long  đi tuần du đến núi Tản Viên, tìm nơi thắng cảnh trên núi, hoa xuân thơm hương đất. Khi đó gặp Đệ nhất Tiên nữ giáng thế, tên là Âu Cơ, là con gái của Động Đình Đế Lai, có điềm trăm trai, sinh một bầu trăm trứng…

Ta là giống rồng, nàng là giống tiên. Nước lửa khó hợp, nên chia 50 con theo mẹ lên núi, 50 con theo cha về biển, đều hóa là thần, là tổ của trăm vương.

Người con trưởng Hùng Vường tiếp nối ngôi thánh vương, thiên hạ thái bình, nhân dân no đủ, cùng định ra lễ nghi triều đình, cùng lập ra phép tắc quốc gia, để phân rõ quan chức, thiết lập trang sách, để làm gốc cho phong hóa chính đạo. Vua thì lấy đức hóa dân, rủ ảo khoanh tay. Dân thì cày ruộng đào giếng, ra vào làm nghỉ, tạo đức mà vỗ yên, nhân dân chuyên tâm việc nông tang, không cảnh động gươm giáo, kết thừng mà trị nên dân không có lòng dối trá, mà thấy được phong tục thuần phác vậy.

Triều Hùng thứ sáu là Hiền Vương kế ngôi. Thánh vương một ngày nhàn đi tuần du xem cảnh núi Hùng. Dấu tích núi Hùng địa linh nhân kiệt, núi chầu sông cuộn, chọn ngày tốt mà lập đàn ở đất núi Hùng, cảnh thắng núi cao, bày lễ cầu đảo trời đất, bái yết trăm linh thần. Vua thân ở lại nơi tế đàn, thành tâm trong ba ngày. Đến ngày 15 tháng Giêng năm Giáp Dần tự nhiên thấy có một Tiên nữ xuất hiện, xưng là Công chúa thứ ba, được Thượng Đế sắc sai giáng xuống trần thế để bảo vệ đất nước, hộ giúp nhân dân. Tiên nữ đứng ở nơi tế đàn, cười nói nhảy múa. Mọi người đều thấy cho là điều lạ nên vào tâu vua. Hiền Vương thân ra nghênh đón vào trong đàn, hỏi rằng;

  • Tiên nữ tính danh là gì?

Tiên nữ đáp rằng:

  • Thượng Đế sắc sai giáng trần để giữ nước yên dân. Tên là công chúa Tiên Dung.

Vua thấy nét mặt hồng đào, sắc sáng như ánh trăng trên mặt nước, da dẻ trắng sáng như gương, mày loan như trăng mới mọc, mắt sâu như sóng thu, so với hoa hoa hết nói, so với ngọc ngọc sinh hương, có dung nhan chim sa cá lặn, có tướng mạo hoa nhường nguyệt thẹn. Hình dung đều thật tuyệt đẹp. Vua cho đây là tình ý trời ưu ái, biết là lòng trời tác hợp, liền lập làm cung tần Đệ tam, nghênh đón về kinh thành, soạn lễ câu fhoon, bày yến tiệc trong triều. Vua rất yêu quý Tiên nữ. Công chúa chuyên tâm tạo phúc, tích thiện, làm việc nhân, ngày đềm thắp hương để thờ Thượng Đế, một dạng phong lưu đầy đủ rộng rãi có thừa vậy.

Vào năm Quý Hợi ngày 13 tháng Giêng công chúa nằm mộng thấy hào quang đầy phòng, phút chốc có một con rắn hoa trắng bò đến, bỗng biến hóa thành một đóa hoa sen trắng, rồi nở hoa, kết thành hạt. Từ đó công chúa có mang. Mang thai được một năm đến ngày 13 tháng Giêng năm Giáp Tý thì chuyển dạ, ngày 15 đến kỳ mà sinh, khi đó hương thơm ngào ngạt. Khi sinh người con có diện mạo phi thường, hình dung quý phái, thật hoàn mỹ vậy. Mọi người đều vui mừng, nên đặt tên là Trưng. Đến khi trưởng thành trở nên thiên tư dị thường, thông tuệ hơn người. Hàng ngày thường ở một chỗ, xem sách tự học không đợi người chỉ dạy. Lại thành thạo đàn sáo, tinh thông âm luật. Tài kiêm cả văn võ, tám nghề hơn người.

Khi ấy trong nước có loạn, giặc Ân đến xâm chiếm. Vua lấy làm lo lắng, bày lễ bái yết trời đất. Bỗng nhân trời giáng một ông lão râu tóc bạc trắng, nói với Vua rằng:

  • Trời đã sinh thánh vậy. Xin Vua sai sứ đi loan báo thiên hạ, tất có người đi dẹp yên giặc.

Vua biết là thiên thần chỉ giáo, liền sai sứ đi cầu trong thiên hạ. Đến trang Phù Đổng huyện Tiên Du loan báo, đúng là có bậc thánh đã sinh, tuổi mới lên ba, chỉ biết ăn uống, không biết nói năng. Khi ấy thần báo với mẹ gọi sứ giả đến, xin được một ngựa và một thành kiếm thì vua sẽ hết lo lắng. Vua ban cho ngựa và kiếm, phong tước là Phù Đổng Đại vương. Lại cho gọi Quý (Kiều) Nhạc đến cũng phong tước là Đô soái, lĩnh quân sĩ ba vạn người. Cử Phù Đổng dẫn quân đi chinh phạt phía Tây. Cử Kiều Nhạc dẫn quân dẹp phía Đông. Cùng nhau đánh đồn Vũ Ninh của giặc Ân. Đô soái Kiều Nhạc dẫn quân qua Tích Đô mà làm lễ, thành tâm bái yết trời đất, cầu phật cầu tiên, thắp hương đèn trong ba ngày. Đến ngày 12 tháng Tám năm Ất Dậu, nửa đêm bỗng nhiên thấy trời giáng xuống một nhân thần, thân dài 10 thước, ngồi ở chùa Hương Tích. Mọi người thấy liền vào tâu. Đô soái Kiều Nhạc thân nghênh đón vào chùa, mà hỏi rằng:

  • Tôi muốn đánh giặc Ân. Thắng bại ra sao, xin chỉ giáo cho.

Thần nhân lưỡng lự một lúc, gieo quẻ bói rồi tặng cho một bài thơ rằng:

Thiên tướng hư thất thạch tán hoàn
Diệu tích nhưng truyền tại thế gian
Nhất khiếu thâm tàng thiên cổ tỉnh
Bán phong đê cảm cửu đồng than
Hoa kình mộng giác vân trung hưởng
Thạch tượng an bài tuyết hậu an
Hải tự chính phùng thanh thiếp hội
Hào đoan thu thập cẩm giang san.

Thần nhân nói xong thì bay lên không mà đi. Đô soái Kiều Nhạc biết là thiên thần chỉ giáo, bèn dẫn quân, sai sứ chuyển mật sớ cho Phù Đổng vương, định ngày dẫn quân dẹp giặc Ân. Vào các ngày 14, 15 tháng Giêng năm Bính Tuất cùng hội quân, chia ra đánh đồn Vũ Ninh của giặc. Kiều Nhạc chinh Đông, Phù Đổng dẹp Tây, cùng đánh. Giặc Ân thua to, bỏ đồn mà chạy. Bắt giết được vô số. Phù Đổng vương trong chốc lát cưỡi ngựa bay lên không mà đi, không biết ở nơi nào. Kiều Nhạc vương thu thập quân, dẫn quân trở về, bày tiệc đãi quân sĩ, dâng sớ lên Vua. Vua rất vui mừng, lại phong  là Kiều Nhạc Đông Đô suý Sung Lạc tướng hầu, quyền quản các trang sách Vũ Ninh. Lòng dân yên vui.

Đến ngày 13 tháng Ba năm Ất Mùi nửa đêm Kiều Nhạc vương nằm mộng thấy một người, thân mặc áo xanh, tay cầm cờ hồng, tự xưng là Thiên sứ, quỳ trước sân mà nói rằng:

  • Thượng Đế sắc sai gọi Kiều Nhạc vương về chầu Thượng Đế.

Kiều Nhạc tỉnh lại, lấy làm buồn bã. Sáng hôm sau lên triều nói với cha là Hùng Hiền Vương biết về giấc mơ này. Vua liền cho tìm người để giải phép này nhưng không được, Đến ngày 15 Kiều Nhạc vương thấy bụng đau quằn quại, thân thể mệt mỏi, dựa vào lan càn mơ màng thiếp đi rồi hóa mất.

Vua lấy làm đau buồn. Đến ngày 13 tháng Giêng năm Đinh Dậu Hùng Hiền Vương cho tập hợp các quan trong triều là ngày tốt giao cho bộ Lễ viết sắc phong thần. 37 đền phụng thờ. Lại cấp lệ thang mộc cho các trang sách, ủy thác cho quan bộ Lễ ban sắc phong thần, mãi mãi không ngừng vậy.

Ngọc phả làng Bích Đại, tổng Đồng Vệ, Vĩnh Phúc về Bán thiên Đại vương Thiên Tích

Ngọc phả cổ chép về Thuộc đạo Bán thiên Đại vương.
Bộ Trung.

Xưa nước Việt trời Nam mở vận, thánh tổ dựng nền, xem xét hình thế núi sông, châu Hoan đất tốt xây dựng kinh thành, núi Lĩnh dáng mạnh tu sửa cung điện. Đời đời đều truyền hiệu là Hùng Vương. Truyền tới thời Hùng Huy Vương ở động Yên Phong châu Từ Sơn đạo Kinh Bắc có một gia đình họ Trịnh tên Thiều, lấy vợ cùng quê họ Đinh tên Vượng. Gia thế vốn giàu có. Vợ chồng đều trung hậu. Tuổi đã ngoài bốn mươi mà vẫn chưa sinh nở được con cái. Do đó dốc sức làm điều nhân nghĩa, phân phát gia tài, giúp người cùng khổ đói nghèo, trong nhà thờ Phật, đêm ngày đốt hương tụng kinh giải nạn. Thường cầu chúc rằng:

  • Thần ở trên đời có phúc mà được phú quý, nhưng tiếc là không có con cái. Dám xin được đấng từ bi quảng đại soi xét cho tấm lòng này, xin đội vạn ơn đức lớn của thần minh trời đất.

Khấn xong, khi đó đang cuối mùa xuân, trăng trong trời xanh. Bà Đinh nằm thiếp đi, bỗng mộng thấy đi đến một nơi nhà nguy nga, cửa san sát, quần áo khắp chốn. Ở một góc trong gian nhà có bày các đồ sách vở, giấy bút, kiếm ấn, áo mũ, vải vóc, đồ đồng, cùng các đồ vật các nghề khác nhau. Có hơn mười đưa trẻ nam nữ cùng đứng với các đồ vật này. Bên trên có một ông lão đầu bạc ngồi, ung dung uy nghiêm, tuyên gọi bà tiến vào, phán rằng:

  • Nhà ngươi có âm đức, ta sẽ cho một đứa trẻ, lập thân nổi danh để làm rạng rỡ cha mẹ về sau. Các đồ trong gian nhà này nhà người muốn lấy thứ nào thì tùy theo ý thích.

Bà Đinh vui vẻ bèn lấy một đứa trẻ tay cầm một kiếm và một ấn, bái tạ đi ra. Khi đó tỉnh giấc mộng thần, từ đó cảm động có mang. Mang thai 13 tháng đến ngày 20 tháng Giêng giờ Dần sinh hạ một người con trai, phong tư đẹp đẽ, khí chất hiên ngang, cao lớn hơn người thường rất nhiều. Được trăm ngày sau cha mẹ vui mừng, nhân tích mộng thiên thần nên đặt tên là Thiên Tích. Tuổi lên tám thì đi học với Hoa Đường Tiên sinh. Học được vài năm thì văn chương thông hiểu, chí khí siêu quần, võ lược tinh thần, tài năng vượt trội. Tiên sinh bình thường nói rằng:

  • Hiếm có gia đình nào có phúc như vậy, sinh được một người con trai tốt. Ngày sau văn võ kiêm toàn, tất là người con làm rạng rỡ gia đình.

Lại nói, khi ông lên 20 tuổi thì cha mẹ đều qua đời. Ông làm lễ chôn cất, hương lửa trong nhà phụng thờ ba năm. Thường hay than rằng:

  • Than ôi! Bãi bể nương dâu thay đổi. Cha mẹ của ta làm việc nhân đức, sinh ra ta vất vả. Nay lại chưa báo đáp được chút nào. Ngày sau dẫu có nghìn vàng vạn bạc cũng không thể gặp được để báo đáp nữa.

Thế rồi, may mắn có kỳ tuyển quan. Huy Vương thấy ông là kỳ nhân, hình oai lẫm liệt, tướng mạo đường đường. Ngay hôm đó bái làm Đô úy. Vua tôi tương hợp dù trước chưa từng gặp. Thời Huy Vương trị vì đã lâu, nảy sinh ra tính kiêu căng, làm các tiết lễ qua loa. Trời giáng tai họa vì vua thiếu đức. Vua mới biết đạo trời báo ứng trước mắt, bèn sai quan thiết lập một đàn tràng ở trong kinh thành, lấy voi ngựa, vàng bạc cùng các đồ vật bày lễ nghi mà cúng. Vua thân đến tế chú rằng:

  • Kẻ hèn này đã biết việc thiếu lễ với Hoàng thiên. Việc ở ngay trước mắt, rõ ràng không sai. Phục xin Thượng đế chuyển tai họa thành điềm lành. Nếu được may mắn thì kẻ hèn này xin tạ đức của Hồng quân.

Chúc xong bỗng thấy mây gió nổi lên, màu trời âm u, trên đàn hương lửa, khí lành cùng mây tỏa sắc. Vua bàng hoàng sợ hãi, bái tạ, trở xa giá về cung. Ba năm sau bỗng nghe thư từ biên cương báo gấp. Thạch Linh Thần tướng của giặc Ân khởi binh đạo Bắc đến xâm chiếm. Giáo mác đầy trời, cờ xí rợp đất. Vua bèn trai giới đến cầu ở đàn, đốt hương cầu đảo, tụ tập quần thần. Ba ngày sau gió lớn sấm rền. Bỗng thấy một ông lão cao hơn 9 thước, râu tóc bạc trắng ở trên đường trước đàn mà cười nói nhảy múa. Mọi người đều thấy, cho là người kỳ lạ, tâu lên Vua. Vua thân ra đón vào trong đàn mà hỏi rằng:

  • Nay giặc phương Bắc đến xâm chiếm. Thắng thu như thế nào, xin được chỉ giáo.

Ông lão ngần ngừ hồi lâu, lấy tay bốc một quẻ rồi nói với Vua rằng:

  • Nếu cầu được người thì giặc này trong chốc lát có thể dẹp yên.

Dứt lời thì bay lên không đi mất. Vua mới biết đó là Lạc Long Quân hiện ra chỉ giáo. Thế rồi Vua sai đi khắp thiên hạ tìm người. Đến làng Phù Đổng quận Vũ Ninh có một gia đình giàu có sinh được một người con trai, đã hơn 3 tuổi mà chỉ ăn uống lớn lên mà không biết nói cười. Bà mẹ nghe sứ giả đến thì nói rằng:

  • Con ta chỉ biết ăn uống, không biết đánh giặc để đảm nhận tước cao của triều đình, báo đáp ân sâu dưỡng dục.

Đứa trẻ nghe mẹ nói vậy bỗng lên tiếng rằng:

  • Mẹ gọi sứ giả lại đây.

Đứa trẻ lại nói với sứ giả rằng:

  • Hãy mau trở về nói với Vua xin cho được  một con ngựa sắt cao 10 thước, một cây roi sắt dài 10 thước, đem lại đây thì Vua sẽ không phải lo lắng nữa.

Vua bèn sai lấy 50 cân sắt đúc thành ngựa sắt, roi sắt, rồi đem đến. Thần Vương nhảy lên ngựa, hô một tiếng như sấm:

  • Ta là Thiên tướng đây.

Ngựa chạy như bay, chốc lát đến núi Vũ Ninh, Yên Việt, đại chiến với Thạch Linh Thần tướng. Giặc Ân tan tác, bắt sống Thạch Linh Thần tướng đem chém. Còn lại những dư đảng chưa trừ hết thì roi sắt đã bị gãy. Thần Vương bèn dùng tay nhổ bụi tre mà đuổi được chúng. Khi tới núi Sóc xã Vệ Linh huyện Kim Hoa thì bỏ áo, cưỡi ngựa bay lên trời mây mà đi. Nay còn dấu chân ngựa ở trên vách núi.

Hùng Huy Vương nhớ tới công lao lớn giúp nước, mà chưa gặp mặt để báo đáp, bèn tôn là Phù Đổng Thiên Vương, lập đền thờ ở quê hương, cấp cho trăm khoảnh ruộng để phụng thờ, năm tháng nhớ ơn, mãi truyền thờ phụng. 

Từ khi Thiên Vương hóa thì trong nước không có người nên nhà Ân lại cất quân đến xâm phạm. Vua bèn lệnh phân cho Ông quản hai đạo Tây Bắc, Hưng Đạo. Hai đạo quan quân hai mươi vạn bái ông làm Thuộc đạo Đại tướng quân, chia đường để đánh giặc. Tướng giặc trong quân hô lớn rằng:

  • Thần tướng đã về trời, Các người ai dám giơ càng bọ ngựa mà cản xe? Hay mau mau xuống ngựa, bái lạy xưng thần để tránh sinh dân chịu cảnh lầm than.

Ông nghe vậy, rất tức giận, bèn hô lớn một tiếng rằng:

  • Ta đây chính là tướng quân bên ngoài, Thuộc đạo Tây Bắc. Đứng mũi chịu sào, phát động nửa trời, không phải như củi khô dễ bẻ. Bè đảng các người dẫu có thông minh, hùng lược cũng chớ có xảo ngôn ngoa ngữ mà khinh thường vậy.

Thế rồi ông cưỡi ngựa múa giáo dẫn đầu vào trận, tả xung hữu đột, dụng võ như phi, ra vào như chỗ không người. Đến giờ Dậu cuối ngày hôm đó đã chém được hơn trăm đầu giặc. Quân giặc cùng nhìn nhau thất sắc rằng:

  • Châu Bắc dùng binh như thần trên trời. Giống như Thiên Vương phục sinh, nổi lên động tới nửa trời vậy.

Giặc Ân sợ hãi bỏ chạy, từ đó không dám xâm phạm. Biên thùy yên ổn. Ngày chiến thắng trở về Vua ban thưởng, khuyến khích các tướng sĩ có công trong quân đội. Phong ông là Thuộc đạo Bán thiên Đại tướng Đương đạo Đại vương, hưởng ơn vua lộc nước hương khói đầy đủ lâu bền vậy.

Sau này ông đến tuổi 62 bèn tạ triều đình cho từ quan đi chu du thiên hạ, nhàn nhã ngắm cảnh sông núi thế giới. Một ngày sau ông đi đến hai trang Bích Đại tổng Đồng Vệ huyện Bạch Hạc phủ Tam Đái. Ông thấy địa thế của Đồng Vệ, Bích Đại hữu tình, cũng là một thắng cảnh đẹp đẽ, bèn lập một hành cung ở trang đó. Cứ mỗi tháng hai lần ông đi xe về đây, ở tại đó (tức ở cung Đồng Vệ).

Hôm đó nhân dân mổ trâu làm lễ bái mừng. Ông bèn nói với dân rằng:

  • Dân các ngươi thật là ngu ngốc. Trâu là vật đã phải cày ruộng vất vả có công, sao nỡ ăn thịt chúng.

Từ đó về sau hai trang Đồng Vệ, Bích Đại trong các tiệc lễ không dùng cỗ trâu là do Đại vương khi còn sống cho rằng trâu cày ruộng vất vả, không nỡ ăn thịt. 

Lại nói, một hôm ông đi ra trước cung, nhàn nhã xem sao trời, lạc thấy trăng sáng trong vực (do là trước cung có một cái vực sâu tại đó, tục gọi là Vực Và). Khi đó bỗng thấy trong vực sáng rạng, mặt nước quang trong, có tiếng sấm vang đáy biển nổi lên, hóa thành mây bay trên không trước đường. Giảo long, ba ba trùng trùng như vạn thác trên sóng. Cá côn, cá sấu, cá kình lớp lớp nổi sáng thiên hà. Ông nhìn thấy lạnh lòng lạc phách, muốn quay trở về nhà. Bỗng thấy có một thanh đồng đi đến trước ông, khoanh tay nói:

  • Tiểu thần vâng lệnh của vua tôi xin được mời Tôn quan rời bước ngọc xuống chơi chốn mây nước.

Ông vui vẻ đi theo xuống chơi thủy cung. Đi qua những nơi sáng rạng trời đất, lâu đài cao ngất, trông xa thấy tướng ngao quan cá hàng hàng lớp lớp, quân lính ba ba đứng chầu hai bên. Long Vương ngự ở chính giữa, thấy ông liền ra cửa Đông đón vào cung. Mở yến tiệc lớn. Bày cảnh rồng mây, đèn cao hương thơm, thác ngọc bình vàng, mã não lọ đồng, đều là kỳ trân dị vật, không có trên thế gian.Một ngày được mắt nhìn thỏa thích đồ quý vật báu. Ông bèn nói rằng:

  • Vua ở Thủy phủ, thần tại Dương gian, lại được gặp mặt. Tình nghĩa hôm nay biết lấy gì báo đáp.

Long Vương nói rằng:

  • Thần là Bà Sa Long Vương, vâng theo mệnh Đế quyền quản một vùng. Nghe danh tiếng quý chức đã lâu, nên muốn kết làm bạn bè. Đâu dám mong nhiều.

Yến tiệc xong Long Vương lại tạ ông các đồ vàng quý giá. Ông cố từ chối không nhận. Từ đó ông mời Long Vương ngày sau giờ Dâu đến gặp mặt ở công sở. Long Vương nói: Được.

Ông bèn chào từ biệt trở về cung. Long Vương bèn sai Đô đốc giảo long dẫn về tận cung. Tới ngày mùng 10 tháng Tám, ông sai nhân dân mổ trâu làm tiệc. Tiệc chưa xong bỗng thấy từ đáy vực mưa gió sấm vang nổi lên, nước dâng cao, sóng lớn. Bỗng có một chiếc thuyền lầu  ngọc mười gian, trăn rắn hơn trăm xuất hiện. Nhân dân trông thấy đều sợ phục.

Ông bèn đi ra trước cung đón tiếp, khoản đãi rất trọng thể. Lễ xong Long Vương bèn cáo từ trở về. Từ đó một ngày tốt Long Vương bèn làm một huyệt xuyên từ giữa đường đến nơi cung sở, Ngày mùng 10 tháng Tám hàng năm Long Vương lại đến hội ngộ cùng với ông. Nhân đó có thơ làm chứng. Thơ rằng:

Bất vị tương phùng hữu thử sinh
Lai chi nghĩa giả khứ chi tình
Di ư lĩnh khiếu huyên nhân vọng
Bất dĩ long cung bạn khách hành
Nhất tháp âm dương hoành lưỡng lộ
Trùng thiên vân thủy vọng tam canh
Quan hà nhất việt song mâu ký
Hà sứ tương tư mịch cựu trình.

Lại nói đến ngày mùng 7 tháng Tư năm Giáp Thìn ông lập đàn cầu đảo trời đất, tụng kinh ba ngày. Đến giờ Mùi mùng 7 tháng Tư  bỗng thấy trời đất tối tăm, mưa gió thổi đến. Thấy có một đám mây hồng bay trên đàn. Ông bèn theo mây bay về trời.

Lại nói, sau khi ông hóa 6 tháng Hùng Huy Vương nghe tin, nhớ tới công lao to lớn giúp nước của ông bèn ngay hôm đó mùng 9 tháng Chín bèn sai quan về cúng tế. Ban thêm là Thuộc đạo Bán thiên Phụ quốc Đại vương Thượng đẳng Phúc thần. Lập miếu ở xã Đồng Vệ, Bích Đại phụng thờ, hương hỏa vạn đời mãi lưu. Còn như các châu, trang ở đạo Kinh Bắc cũng phụng thờ ông. 

Bản chính lưu tại bộ Lễ. Niên hiệu Hồng Đức năm thứ tư, ngày tốt tháng giữ thu. Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính vâng soạn.

Dịch từ bản khai thần tích thần sắc năm 1938 của làng Bích Đại, tổng Đồng Vệ, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên.

8 bài thơ thiền “Sơn cư” chùa Bổ Đà

Ở gian nhà tổ chùa Bổ Đà (phường Vân Hà, Bắc Ninh) có một bộ 8 bài thơ tứ tuyệt được viết trên gỗ sơn son thếp vàng, ghi là Hoàng triều Thành Thái Tân Sửu niên tạo (làm vào năm Tân Sửu thời triều vua Thành Thái, tức năm 1901) của chùa Tứ Ân. Các bài thơ này đều bắt đầu bằng hai chữ Sơn cư (Ở núi), nội dung diễn tả cảnh tu hành trên núi, ở nhà lá, trải mưa nắng, không bàn thế sự, lánh bụi trần, chuyên tâm học đạo, soi xét bản thân, đọc chân kinh.

Phần sau xin giới thiệu nguyên văn và dịch thơ 8 bài thơ này. Tên bài và thứ tự là do người dịch đặt ra để tiện cho việc hiểu nội dung.

Bài 1: Chọn chỗ ở

山居卜築隐巖阿
免得隨流逐世波
知足安貧常快樂
木人齊唱太平歌

Sơn cư bốc trúc ẩn nham a
Miễn đắc tuỳ lưu trục thế ba
Tri túc an bần thường khoái lạc
Mộc nhân tề xướng thái bình ca.

Dịch:
Ở núi chọn xây chỗ vách hình
Đuổi tránh sóng đời, miễn tùy mình
Biết đủ yên bần mà vui vẻ
Cây người cùng hát khúc thái bình.

Bài 2: Mưa vào nhà

山居茅屋雨三門
樂道忘情不掩關
鵲噪鴉鳴談船若
清風明月伴僧閑

Sơn cư mao ốc vũ tam môn
Lạc đạo vong tình bất yểm quan
Thước táo nha minh đàm Bát nhã
Thanh phong minh nguyệt bạn tăng nhàn.

Dịch:
Ở núi nhà cỏ mưa ba đường
Vui đạo quên cả che cửa thường
Chim hót quạ kêu bàn Bát nhã
Trăng thanh gió mát bạn nhàn tăng.

Bài 3: Không bàn việc

山居無事可評論
日来斜時便掩門
富貴輪他千萬倍
清閒還我二三分

Sơn cư vô sự khả bình luận
Nhật lai tà thì tiện yểm môn
Phú quý luân tha thiên vạn bội
Thanh nhàn hoàn ngã nhị tam phân.

Dịch:
Ở núi không gì để luận bàn
Chiều đến ngày qua đóng cửa dần
Mặc ai phú quý tăng ngàn vạn
Về ta nhàn rỗi đôi ba phần.

Bài 4: Xa ồn ào

山居自古遠囂塵
絕學無為閑道人
風月滿懷窮快活
高歌一曲和陽春

Sơn cư tự cổ viễn hiêu trần
Tuyệt học vô vy nhàn đạo nhân
Phong nguyệt mãn hoài cùng khoái hoạt
Cao ca nhất khúc hoà dương xuân.

Dịch:
Ở núi từ xưa xa bụi trần
Vô vi tuyệt học người tu nhàn
Trăng gió nhớ đầy, vui hết mức
Một khúc ca vang hòa khí xuân.

Bài 5: Lau gương xưa

山居古鏡久埋塵
今日重磨氣象新
痕垢浄除光始現
分明百見本来人

Sơn cư cổ kính cửu mai trần
Kim nhật trùng ma khí tượng tân
Ngân cấu tịnh trừ quang thuỷ hiện
Phân minh bách kiến bản lai nhân.

Dịch:
Ở núi gương xưa bụi phủ đầy
Hôm nay lau lại, vẻ mới đây
Vết bẩn sạch rồi, lại tỏ ánh
Rõ ràng trăm thấy thực mình này.

Bài 6: Lòng học đạo

山居幽隐白雲深
學道先當要誠心
大則放之周法界
卷之則退不容針

Sơn cư u ẩn bạch vân thâm
Học đạo tiên đương yếu thành tâm
Đại tắc phóng chi chu pháp giới
Quyển chi tắc thoái bất dung châm

Dịch:
Ở núi khuất trong mây trắng sâu
Học đạo thành tâm là cốt đầu
Phép lớn đặt ra khắp pháp giới
Chút ngừng tất giảm, chẳng dung đâu.

Bài 7: Soi cõi lòng

山居返照看心田
退步原来是上前
密密工夫無間断
必當叅透祖師禪

Sơn cư phản chiếu khán tâm điền
Thoái bộ nguyên lai thị thượng tiền
Mật mật công phu vô gián đoạn
Tất đương tham thấu tổ sư thiền

Dịch:
Ở núi xét soi tấm lòng nguyên
Lùi bước là đầu để tiến lên
Người làm chăm chú không ngắt quãng
Tất rồi tới bậc tổ sư thiền.

Bài 8: Vui lẽ trời

山居獨處樂天真
明月清風轉法輪
一大藏經都説盡
不知誰是個中人

Sơn cư độc xứ lạc thiên chân
Minh nguyệt thanh phong chuyển pháp luân
Nhất Đại tạng kinh đô thuyết tận
Bất tri thuỳ thị cá trung nhân.

Dịch:
Ở núi lẽ trời vui một chốn
Trăng sáng gió thanh chở pháp luân
Đại Tạng bộ kinh đã giảng hết
Không biết ai được là thế chăng.

Các câu đối đền Cuông, Nghệ An

Đền Cuông ở xã Xuân Ái, Nghệ An dưới chân núi Mộ Dạ, là nơi An Dương Vương cầm sừng văn tê bảy tấc rẽ nước đi ra biển, kết thúc thời kỳ nhà Thục, hóa thần biển linh thiêng.

Nghi môn ngoài

萬古文明開故國
九重宮殿對高山
Vạn cổ văn minh khai cố quốc
Cửu trùng cung điện đối cao sơn.
Dịch nghĩa:
Vạn cổ văn minh mở nước cũ
Chín tầng cung điện đối non cao.
Tác giả: Đặng Văn Thụy.

崑崙城人道思龍萬古民祠歐歌樂利
暮亱山地傳舞鳯億年帝統紀念欽崇
Côn Lôn thành nhân đạo Tư Long, vạn cổ dân từ, âu ca lạc lợi
Mộ Dạ sơn địa truyền vũ phượng, ức niên đế thống kỷ niệm khâm sùng.
Dịch nghĩa:
Núi Mộ Dạ đất truyền phượng múa, muôn năm kỷ niệm tôn sùng dòng đế
Thành Côn Lôn người ngỡ rồng bay, vạn cổ hát ca vui mừng đền dân.
Tác giả: Cao Xuân Dục.

水去螺城通𧉻海
風臨夜嶺蓋陽𦥄
Thủy khứ Loa thành thông bạng hải
Phong lâm Dạ lĩnh cái dương đài.
Dịch nghĩa:
Nước đến thành Loa qua biển bạng
Gió về núi Dạ phủ đài cao.
Tác giả: Đặng Văn Thụy.

人傑著靈聲仰聖赫英乎庙貌
乾坤逢泰運苛天保護之威儀
Nhân kiệt trứ linh thanh, ngưỡng thánh hách anh hồ miếu mạo
Càn khôn phùng thái vận, hà thiên bảo hộ chi uy nghi.
Dịch nghĩa:
Người giỏi nổi tiếng thiêng, ngưỡng thánh anh tỏ thay miếu mạo
Trời đất gặp vận lớn, mong trời bảo hộ thật uy nghi.

德大巍巍存越地
功成赫赫拓南天
Đức đại nguy nguy tồn Việt địa
Công thành hách hách thác Nam thiên.
Dịch nghĩa:
Đức lớn nguy nga cùng đất Việt
Công thành rạng rỡ mở trời Nam.

Nghi môn trong

天像地形半月築成僊化鶴
民和神福三辰不害罪維魚
Thiên tượng địa hình, bán nguyệt trúc thành tiên hóa hạc
Dân hòa thần phúc, tam thời bất hại tội duy ngư.
Dịch nghĩa:
Tượng trời hình đất, nửa tháng xây nên, tiên hóa hạc
Hòa dân phúc thần, nhiều khi tránh họa lúc hiểm nghèo.
Tác giả: Cao Xuân Dục.

保國護民天地無私之雨露
除邪殺鬼日月悉照之春陽
Bảo quốc hộ dân, thiên địa vô tư chi vũ lộ
Trừ tà sát quỷ, nhật nguyệt tất chiếu chi xuân dương.
Dịch nghĩa:
Giúp dân giữ nước, mưa móc đất trời là vô tư
Diệt quỷ trừ tà, ánh xuân nhật nguyệt chiếu ngời rạng.
Tác giả: Cao Xuân Dục.

堂上金龟微聖瑞
庭前雀彩献神威
Đường thượng kim quy vi thánh thụy
Đình tiền tước thải hiến thần uy.
Dịch nghĩa:
Trên điện rùa vàng ngời điềm thánh
Trước đình sắc công tỏ oai thần.

萬民奴隸人咸慕
千里江山國永存
Vạn dân nô lệ nhân hàm mộ
Thiên lý giang sơn quốc vĩnh tồn.
Dịch nghĩa:
Vạn dân tùy phục, người đều nhớ
Nghìn dặm non sông, nước mãi còn.
Tác giả: Cao Xuân Khôi.

Bình phong cạnh nhà bia

螺城自古銘青史
鶴嶺而今雀夜山
Loa thành tự cổ minh thanh sử
Hạc lĩnh nhi kim tước Dạ sơn.
Dịch nghĩa:
Thành Loa từ cổ đề trong sử sách
Núi Hạc tới nay công trên Dạ sơn.

Tác giả: Đồ Tương.

T

七寸文犀歸海岸
千秋夜嶺獨高𦥄
Thất thốn văn tê quy hải ngạn
Thiên thu Dạ lĩnh độc cao đài.
Dịch nghĩa:
Bảy tấc sừng tê về bờ biển
Nghìn thu núi Dạ dựng đài cao.
Tác giả: Đồ Tương.

Tam quan mặt ngoài

分定天書北有古城南古廟
靈傳地勝山留文雀海文犀
Phân định thiên thư, Bắc hữu cổ thành Nam cổ miếu
Linh truyền địa thắng, sơn lưu văn tước hải văn tê.
Dịch nghĩa:
Sách trời phân định, Bắc có thành cổ, Nam có miếu
Đất lành truyền thiêng, núi lưu chim công, biển lưu tê.
Tác giả: Đặng Văn Thụy.

天無淫雨烈風海瞻顯聖
地有崇山秀嶺亭集群賢
Thiên vô dâm vũ liệt phong, hải chiêm hiển thánh
Địa hữu sùng sơn tú lĩnh, đình tập quần hiền.
Dịch nghĩa:
Trời không mưa to gió lớn, biển ngưỡng thánh tỏ
Đất có núi đẹp non cao, đình tụ quần hiền.
Tác giả: Cao Xuân Dục.

帝王五十年功在生靈名在史
聖神千萬古山為庙殿海為螢
Đế vương ngũ thập niên, công tại sinh linh danh tại sử
Thánh thần thiên vạn cổ, sơn vi miếu điện hải vi huỳnh.
Dịch nghĩa:
Đế vương năm mươi năm, công tại sinh linh, danh tại sử
Thánh thần nghìn vạn cổ, núi làm miếu điện, biển làm đèn.
Tác giả: Cao Xuân Dục.

天之大道曰生行雲施雨
神之爲德其盛保國護民
Thiên chi đại đạo viết sinh, hành vân thí vũ
Thần chi vi đức kỳ thịnh, bảo quốc hộ dân.
Dịch nghĩa:
Đại đạo của trời là sinh, làm mây gieo mưa
Đức ban của thần rất thịnh, giữ nước giúp dân.
Tác giả: Cao Xuân Khôi.

主君錫福弘軟人物安存
上等靈祠擁?????
Chủ quân tích phúc hoằng nhuyễn nhân vật an tồn
Thượng đẳng linh từ ung ? ? ? ? ?

Tam quan mặt trong

五彩竜城天子氣
一行虎步太平容
Ngũ thái long thành thiên tử khí
Nhất hàng hổ bộ thái bình dung.
Dịch nghĩa:
Năm sắc thành rồng khí thiên tử
Một hàng bộ hổ vẻ thái bình.
Tác giả: Đồ Tương.

德及灵禽夜嶺當年儀瑞雀
威????山?處斬妖雞
Đức cập linh cầm, Dạ lĩnh đương niên nghi thụy tước
Uy trấn? quỷ? mị?, Diệu? sơn thử? xứ trảm yêu kê.

Dịch nghĩa:
Đức tới chim thiêng, đỉnh Dạ năm nay còn công lành
Oai trấn quỷ mị, núi Diệu chốn đó chém gà yêu.

泮水靈犀龍海月明登素魄
却書彩鳯雀山星耀見祥光
Phán thuỷ linh tê, long hải nguyệt minh đăng tố phách
Khước thư thái phượng, Tước sơn tinh diệu kiến tường quang.
Dịch nghĩa:
Sừng tê thiêng rẽ nước, biển rồng trăng soi tỏ hồn sáng
Phượng rực rỡ mang thư, núi Cuông sao chiếu thấy ánh lành.

四千年演轄幾桑滄龍堆壁聚
億萬禩驩州好風景鳯嶺松高
Tứ thiên niên Diễn hạt kỷ tang thương, long đôi bích tụ
Ức vạn tự Hoan châu hảo phong cảnh, phượng lĩnh tùng cao.
Dịch nghĩa:
Bốn nghìn năm hạt Diễn bao cuộc bể dâu, gò rồng đá tụ
Muôn vạn thờ châu Hoan đẹp vùng phong cảnh, núi phượng thông cao.
Tác giả: Đặng Văn Thụy.

帝王統紀開全越
今古山河奠我驩
Đế vương thống kỷ khai toàn Việt
Kim cổ sơn hà điện ngã Hoan.
Dịch nghĩa:
Kỷ thống đế vương mở toàn Việt
Sông núi xưa nay vững đất Hoan.

Bái đường

休休焉保國护民聖澤留恩億年乘祀
洋洋乎在上在下神机感應歷代欽崇
Hưu hưu yên, bảo quốc hộ dân, thánh trạch lưu ân ức niên thừa tự
Dương dương hồ tại thượng tại hạ, thần cơ cảm ứng lịch đại khâm sùng.
Dịch nghĩa:
Yên lành thay, giữ nước giúp dân, ơn thánh thấm lưu, muôn năm thờ nối
Tràn trề đó, ở trên ở dưới, cơ thần cảm ứng, các đời kính tôn.
Tác giả: Cao Xuân Dục.

Hậu cung

半幅江山留故國
八方風雨會中都
Bán bức giang sơn lưu cố quốc
Bát phương phong vũ hội trung đô.
Dịch nghĩa:
Nửa bức non sông lưu nước cũ
Tám phương mưa gió hội giữa đô.
Tác giả: Đặng Văn Thụy.

區貉千秋開帝國
暮山萬古仰神祠
Âu Lạc thiên thu khai đế quốc
Mộ sơn vạn cổ ngưỡng thần từ.
Dịch nghĩa:
Âu Lạc nghìn thu mở đế quốc
Núi Mộ vạn năm ngưỡng đền thần.
Tác giả: Đặng Văn Thụy.

神格思洋洋在上
王靈也赫赫厥聲
Thần cách tai dương dương tại thượng
Vương linh dã hách hách quyết thanh.
Dịch nghĩa:
Vẻ thần đó dương dương ở trên
Nét thiêng vua rờ rỡ tiếng vang.

一統輿圖開宇宙
千秋廟????
Nhất thống dư đồ khai vũ trụ
Thiên thu miếu ? ? ? ?

Thần tích làng Lỗ Hạnh, Hiệp Hòa, Bắc Giang

Phả lục về một vị Đại vương công thần triều Hùng Tuấn Vương, một vị Công chúa âm phù

Chi Cấn, bộ Thượng đẳng

Chính bản bộ Lễ quốc triều.

Nước Việt xưa trời Nam mở vận, chia ngang sông núi theo sao Dực sao Chẩn. Nước Bắc ban đầu được phong thẳng hướng vùng sao Đẩu sao Ngưu. Từ triều Hùng Kinh Dương Vương tuân mệnh vua cha phân phong, làm dòng đế vương nước Việt ta. Đất đẹp Hoan Châu xây dựng kinh đô. Hình nơi Nghĩa Lĩnh trùng tu miếu điện. Truyền quốc đến đời sau xưng là  Lạc Long Quân, cưới tiên nữ Động Đình, ở tại đầu núi Nghĩa Lĩnh, mây lành năm sắc rực rỡ. Âu Cơ từ đó có mang, đến khi sinh hạ được một bầu trăm trứng, nở ra trăm trai. Đều là anh hùng hơn đời, đức độ vượt người. Đến khi trưởng thành Vua bèn phong chức hầu, lập bình phong phiên dậu, chia nước thành 15 bộ. Thế rồi Long Quân nói với Âu Cơ rằng:

  • Ta vốn là giống rồng. Nàng là dòng tiên. Tuy khí âm dương, ngũ hành hợp nhau mà có con. Nhưng chủng loại không giống nhau, nước lửa tương khắc, không thể sống cùng nhau được. Vì thế nên chia biệt.

Bèn phân 50 người con theo cha về biển làm Thủy thần, phân trị các đầu sông góc biển. 50 người con theo mẹ về núi làm Sơn thần, phân trị trên bờ trong núi. Nếu có việc thì báo nhau, tất đến tương trợ, không thể cùng mất. Vì thế sau này thời họ Hùng trăm thần sông núi thường có thể xuất thế, đầu thai nhập vào các gia đình làm con để giúp nước cứu dân. Gia đình nào có phúc tất sẽ được gặp.

Lại nói, cơ đồ họ Hùng truyền 17 nhánh đến Tuấn Vương ở ngôi, đóng đô ở Việt Trì bên sông Bạch Hạc, lập nước tên Văn Lang, kinh đô gọi là thành Phong Châu. Vua là người có tài cao chí lớn, tư chất thánh minh, kế thừa cơ đồ thịnh trị do 17 đời tổ tông bồi đắp, trong tu sửa văn đức, ngoài phòng bị biên cương, dốc ý hưng quốc bình dân để yên Trung Quốc.

Trước đó có một người đất Hồng Châu (sau đổi là đạo Hải Dương) họ Nguyễn tên Tung, vợ là Lê Thị Điên. Vợ chồng ông làm nghề đốn củi nhưng đều có đức dày, việc thiện dù bé cũng không bỏ không làm, việc ác dẫu nhỏ cũng không gây ra nửa điểm hại người. Nơi đó ai cũng nói nhà tích thiện tất sẽ gặp được điều may mắn. Ông Nguyễn đã gần 60 tuổi, bà Lê ngoài 40 mà vẫn chưa có con trai. Đêm hôm ấy bà Lê nằm ở trong nhà, đến cuối canh ba bỗng nằm mơ thấy có một ngôi sao lớn từ trên trời rơi thẳng xuống bụng bà. Bà liền lấy mà nuốt đi. Bà giật mình tỉnh dậy, nói lại với ông. Ông nói rằng:

  • Đây tất là điềm lành.

Từ đó thấy bà Lê có mang. (Ngày 12 tháng Giêng năm Nhâm Dần) sinh hạ một bầu, nở ra một người con trai, thiên tư khác lạ, thể mạo kỳ khôi. Ông Nguyễn nói:

  • Phúc thật đã trùng lai, là được lòng trời yêu mến đó.

Ngày qua tháng lại, người con đã trở nên thông minh, đầy trí tuệ, bèn đặt tên là Cao Sơn. Đến khi lên 3 lại ông bà càng thêm chăm chút nuôi dưỡng. Thế rồi ông Cao khi tuổi lên 7 thì đi học, đến năm 16 tuổi thiên tư cao rộng, học lực tinh thông, ưa đọc binh thư, tài hay võ nghệ, có cái dũng địch vạn người. Đến khi ông được 18 tuổi, cha mẹ đều mất. Ông bèn tìm nơi đất tốt, làm lễ an táng. Sau 3 năm để tang mãn kỳ. Khi đó cơ đồ họ Hùng đã đến vận mạt, ý trời báo dứt. Tuấn Vương sinh được 20 hoàng tử đều theo nhau về nơi đế hương, tiên bồng mất tích. Vua không có người nối dõi. Chỉ còn hai vị công chúa. Một vị Công chúa gả cho ông Đồng Tử ở trang Đa Hòa. Còn vị Công chúa thứ hai, cung thiềm còn khóa, lá ngọc vẫn niêm, lương duyên tốt lành vẫn chưa định kỳ.

Hôm đó Vua truyền xây lầu ở cửa thành Việt Trì, ban chiếu truyền thiên hạ thần dân cử các vị hiếu liêm, hiền lương, phương chính, ai có tài trí thông minh, đức độ hơn người thì mau đến ứng tuyển. Vua sẽ gả công chúa và nhường ngôi cho.

Khi đó trên sông tàu bè, trước lầu xe ngựa đến chật. Thế rồi ông Cao Sơn cũng biết tin, một lần nghe chiếu Thiên tử, nổi tâm trạng nguyên bốn biển. Bút văn múa như ảnh động rồng rắn, sao sáng lạnh lòng sông. Trận võ mở mà kinh hồn hổ báo, tiếng vang xa ngoài biển. Thế rồi đạo Hồng Châu chọn ông Cao Sơn đi dự tuyển. Khi nhà vua thấy ông ứng đối lưu loát, có tài văn võ, là người có năng lực tài cao. Vua bèn cho ông Cao Sơn quản quân sự, làm Đô chỉ huy sứ Tả đạo Tướng quân. Thế là ông Cao bèn nhận chức quan đó. Từ đó thấm nhuần thánh đức, ơn vua, thật có duyên hương lửa vậy. Còn lại những người về sau đều không có toàn tài, không thể tuyển chọn.

Về sau có người ở động Lăng Sương, đạo Sơn Tây là Tản Viên Sơn Thánh, họ Nguyễn tên Tùng, cùng với ông Cao Sơn là anh em chung dòng dõi, có phép thông trời thấu đất, có thuật lạ có thể dời non lấp biển. Vua xem là người tài nhất thiên hạ, bèn gọi Công chúa đến mà gả cho, lại định sẽ nhường ngôi cho con rể là Sơn Thánh.

Khi ấy có giặc Thục ở Ai Lao, tên là Phán, vốn cũng là một nhánh của họ Hùng, trị quản ở Ai Lao mà đổi thành họ Thục. Lúc đó nghe tin Tuấn Vương tuổi trời đã cao mà muốn nhường ngôi cho con rể Sơn Thánh bèn thừa thế phát động, cầu viện nước láng giềng, chỉnh đốn chục vạn tinh binh, tám ngàn ngựa khỏe, chia thành 5 đạo cùng tiến đến xâm chiếm. Binh thư báo gấp, ngày đến 5 lần. Tuấn Vương lo lắng bèn gọi Sơn Thánh đến hỏi kế sách. Sơn Thánh tâu rằng:

  • Oai đức của Bệ hạ đã vang khắp hải ngoại, lại có lòng trời ưu ái, giáng nhiều anh tài, như ông Cao Sơn cùng với các tướng lãnh. Lại còn như trăm thần sông núi thường hay ứng hiện, biến hóa thần diệu, đồng lòng giúp nước. Bệ hạ xin chớ lo lắng việc đánh giặc. Thần xin thay Bệ hạ tìm chọn tướng tài. Giặc Thục chẳng qua ngày một là dẹp yên được.

Vua nghe vậy rất vui mừng, bèn gọi ông Cao đến giao cho 5 ngàn quân, trước tiên đi tuần phòng ở đạo Đông Bắc để tăng thêm thanh thế quân đội và đề phòng bất trắc.

Hôm ấy ông Cao Sơn nhận mệnh dẫn quân đi trước, trên đường cờ xí gió thổi vạn dặm, chiêng trống vang động ngàn núi. Một hôm trời tối thì tiến đến đầu trại Đông Lỗ,  trang Lỗ Hạnh, huyện Võ An, phủ Bắc Hà, đạo Kinh Bắc (xưa gọi là bộ Vũ Ninh), bèn đóng hội quân ở nơi đó. Ông thấy địa thế trang trại có một cuộc sông núi uốn khúc, rồng hổ ôm lấy, nghĩ tưởng đến phong quang một vùng thắng cảnh, bèn dựng sẵn một đồn binh để ứng phó quân Thục về sau. Khi ấy Phụ lão, nhân dân trang trại Lỗ Hạnh đều sợ hãi, bèn làm lễ xin được làm thần tử. Cao Sơn đồng ý, bèn chọn người khỏe mạnh trong trang được 12 người là gia thần. Sáng hôm thấy có sứ đem chiếu tấu thư đến, sai gọi ông về kinh đô để cùng với Sơn Thánh dẫn quân dẹp giặc.

Ngày hôm đó ông truyền quân sĩ mổ trâu lợn, cáo tế trăm thần sông núi, trời đất, khao quân sĩ của trang. Đến tối thì ông đi nằm. Đêm đến cuối canh ba ông Cao Sơn mơ màng thiếp đi. Bỗng thấy có một bà lão từ đường miếu đi đến, tuổi khoảng ngoài 50 nhưng nhan sắc vẫn phong tư, vẻ mặt tươi tắn, tự xưng rằng:

  • Ta vốn là dòng dõi họ Hùng, vâng mệnh Thiên đình trấn nơi trang ấp, ở tại miếu sở. Tên gọi là Công chúa Phương Dung. Ta thường ở trong cung tiên, động rồng, thường xuống khu trang Lỗ Hạnh. Nay thấy tướng quân hết lòng dẫn quân dẹp giặc Thục, ta tự nguyện âm phù, cho tướng quân một chiếc áo tiên tàng hình thay dạng, đúng thật là oai dẹp giặc vạn thắng. Ngày sau ta với tướng công sẽ cùng được phối thờ.

Trong chốc lát lời thần vừa dứt thì biến mất. Ông Cao Sơn tỉnh lại, quả thấy chiếc áo tiên còn để đó, bèn nói:

  • Trời đất đã an bài, mọi mặt đã định nên linh thần đến trợ giúp vậy.

Sáng ngày ông bèn gọi phụ lão ở trang khu Lỗ Hạnh đến nói:

  • Trang của các ngươi thờ phụng một vị nữ thần, thật là anh linh, nên ta muốn dặn. Ta từ nay đến khi danh vị hiển tỏ, ta để lại mệnh muôn năm về sau thờ phụng ở trang các người một vị nữ thần và một vị nam thần.  

Xong ông ban thêm 5 nén bạc để dành cho việc thờ cúng. Ngày hôm đó ông dẫn quân trở về hội quân cùng Sơn Thánh, nhanh chóng tiến công. Vua giao cho Sơn Thánh cùng tướng công dẫn quân về đạo Bắc dẹp giặc. Ngày hôm đó Sơn Thánh cùng với ông nhận mệnh xuất chinh. Vua mới úy lạo Sơn Thánh một bài thơ rằng:

Chinh bái hành hành xuất ngọc quan

Tam quân như nhất một hào đoan

Mã đề kham sử phong khinh lực

Hổ trướng hưu hiềm tuyết sấu nhan

Thiên lý trì khu thiên lý mộng

Nhất trùng ly biệt nhất trùng san

Kiếm cung tự cổ anh hùng sự

Đam liễu gian nan bất giác hàn.

Dịch là:

Cửa ngọc xuất chinh phất phới cờ

Ba quân nghiêm giữ chẳng sai tơ

Việc công vó ngựa bay trong gió

Trướng hổ đâu nghi tuyết mòn giờ

Ly biệt một lần chia cách núi

Ruổi rong ngàn dặm tựa như mơ

Kiếm cung từ cổ anh hùng sự

Gánh hết gian nan lạnh nào chờ.

Khi đó Sơn Thánh cùng với ông Cao tiến quân đến đồn giặc Thục ở xứ Sóc Sơn đạo Bắc Kinh, đánh một trận lớn. Giặc Thục thua chạy, chém được tướng chính cùng các tì tướng hơn ngàn đầu, thu giữ khí giới. Giặc Thục không biết phải chạy đi nơi nào. Từ đó thiên hạ thanh bình, đất nước vô sự. Vua bèn ban chiếu gọi, ông vâng mệnh trở về. Vua mở tiệc mừng lớn, phong thêm phẩm cấp cho tướng sĩ. Trong buổi yến tiệc Vua ban cho Sơn Thánh bài thơ úy lạo là:

Quả nhân bất viễn phương nhân

Nghĩa khởi lao phiền quốc tướng quân

Vạn lý tinh kỳ cần nãi lực

Trùng thiên phong vũ đả chinh cân

Quả nhiên thiên kiếm thôi Man khấu

Trực bả liên thành hiến quốc quân

Thiên cổ dĩ tiền thiên cổ hậu

Gia nhi tử dã quốc nhi thần.

Dịch là:

Quả nhân chẳng liệu kẻ phương xa

Cử nghĩa lao phiền tướng nước nhà

Vạn dặm trống cờ dồn hết lực

Trời cao mưa gió gạt khăn qua.

Đúng là thước kiếm xua giặc dữ

Liền ngay thành chiếm lại cho vua

Nghìn năm về trước, nghìn năm lại

Quốc gọi là thần, đáng con nhà.

Lại ban cho ông Cao Sơn về thực ấp ở đạo Kinh Bắc. Ông bái tạ, trở về nơi trị nhậm. Khi đó đương trời mùa thu, ông ngồi ở trong doanh trại. Bỗng thấy trời đất mù mịt, mây mù nổi lên như hình dải lụa đỏ. Thấy ông Cao Sơn bay ra theo mây, tới núi Đào Động đạo Thái Nguyên thì không thấy nữa, tức là ông đã hóa.

Khi đó là ngày 12 tháng Tám. Đang lúc ấy mưa gió nổi lên, ngày tối như đêm. Mây mù hồi lâu mới tan. Ngày trở lại quang tạnh. Lúc đó quân sĩ nhân dân đều rất sợ hãi, bèn dâng biểu tâu lên triều đình. Vua sai trở về sửa miếu để thờ, cử sứ giả mang sắc đến phong tặng. Nguyên tên hiệu phong là Cao Sơn Thông Minh Đại vương, phong tặng là Tế thế Hộ quốc Khang dân Phù vận Dương võ Dực thánh Bảo cảnh Hiển hữu Thượng đẳng thần, phong thêm là Đương cảnh Thành hoàng Hùng tài Vĩ lược Trợ thắng Hách thanh Hiệp linh Phù chính Phu uy Đôn tĩnh Hùng kiệt Trác vĩ Đại vương.

Phong Phương Dung Trinh Thục Công chúa, phong tặng là Ý đức Từ hoà Ôn nhu Tuyệt túy Hiển ứng Công chúa.

Lại nói, từ đó về sau có nhiều linh ứng nên có nhiều đế vương phong thêm mỹ tự. Các màu trang phục vàng và tím cấm dùng khi làm lễ.

Đến thời vua Lê Đại Hành, niên hiệu Thiên Phúc, xem xét trăm thần, thấy hai vị đều có danh tích thời Hùng bèn phong thêm một vị là Đại vương Linh quang Hộ quốc Tá trị Anh uy, một vị phong thêm là Công chúa Hằng Nga Uyển mị.

Thời Trần Thái Tông giặc Nguyên đến xâm chiếm, kinh thành bị vậy hãm. Quốc công họ Trần vâng mệnh cầu đảo trăm thần ở các đền miếu, khi đó vị Đại vương và vị Công chúa cũng có hiển ứng âm phù. Đến khi dẹp yên được giặc Mã Nhi, Thái Tông bèn phong tặng mỹ tự một vị là Đại vương Linh ứng Anh triết, phong thêm một vị là Công chúa Đoan trang Đức hạnh.

Đến khi Lê Thái Tổ khởi nghĩa dẹp tướng Minh là Liễu Thăng, lúc có được thiên hạ, vua Tổ bèn phong thêm mỹ tự một vị là Phổ tế Cương nghị Anh linh, sắc chỉ ban cho trang khu Lỗ Hạnh sửa sang miếu điện để phụng thờ, cùng với đất nước yên lành, mãi là lệ thức. Vâng thay!

Vâng khai các tiết sinh hóa cùng với các chữ húy cấm: sáu chữ Cao, Sơn, Thông, Minh, Phương, Dung, cho phép trang khu Lỗ Hạnh phụng thờ.

Ngày sinh thần là 12 tháng Giêng. Chính lệ lễ dùng trên mâm chay, dưới lợn đen, xôi rượu, bánh dày vuông, ca hát các loại mười ngày thì ngừng.

Ngày hóa thần là 12 tháng Tám. Chính lệ lễ dùng trên đồ chay, quả phẩm, dưới dùng như trên làm lễ.

Năm Hồng Phúc thứ nhất (1572) ngày tốt tháng đầu xuân, Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn bản chính.

Hoàng triều năm Vĩnh Hựu thứ sáu (1740) ngày tốt tháng giữa thu, nội các bộ Lại tuân theo bản cũ vâng chép.

Dịch theo bản chữ Nho lưu tại đình Lỗ Hạnh.

Thần tích làng Thượng Lát, xã Tiên Lát, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang

Chép theo bản khai Thần tích thần sắc số 4419

Đời vua Tiền Lý Nam Đế có bà thánh mẫu tên hiệu là Từ Nhan, người làng Vân Mẫu, huyện Quế Dương, quận Vũ Ninh. Khi bà 18 tuổi sắc đẹp hơn người, nết na thuần thục. Đêm hôm rằm tháng Một năm Canh Thìn nằm chiêm bao tắm ở sông Lục Đầu, thấy thần long quấn vào mình mà có thai. Được 14 tháng đến mùng 6 tháng Giêng năm Nhâm Ngọ lên chùa lễ Phật trở về đến giữa đường là xứ Cửa Cữu, sinh ra 1 cái bọc 5 con, 4 con trai 1 con gái, đem về nuôi dạy. Mặt mũi khôi ngô, xem giáng có đủ tài văn võ. Con trai đặt tên là: Hống, Hát, Lẫy và Lừng. Con gái gọi là Đậu nương. Đến rằm tháng 4 năm Kỷ Hợi  ngày 15 tháng Tư đức thánh mẫu cõi trần lánh bước. Đêm hôm ấy có ông thần gọi bảo rằng: 

  • Đưa mẫu thân đem ra táng ở bên gò lớn chỗ đồng chiêm gần cạnh làng, tức phương Nam có giếng, đấy là ngôi đất tốt!

Anh em nghe lời thần, sau được quả nhiên.

Anh em đức thánh Tam Giang sinh ra ở làng Vân Mẫu, khi còn bé chơi cùng lũ trẻ hay bầy ra nhiều chước lạ lùng. Sau theo học ông Lữ tiên sinh tập đọc binh thư, lầu thông văn võ. Nhân khi hỏi mẹ rằng sao có mẹ mà không thấy cha?

Mẹ thuật chuyện Thần long khi trước, ấy là giống Thủy thần, dòng dõi họ Trương mọi lẽ. Từ đấy các ông xin theo họ Trương. Trong mười mấy năm nhà tuy bần bách nhưng đọc sách hầu mẹ không hề lỗi đạo. Tới khi mẹ chết, an táng xong rồi thương khóc mà than rằng:

  • Cây muốn lặng mà gió chẳng đừng. Con muốn hầu mẹ mà mẹ sớm mất.

Đêm thường ra thăm mả mẹ, trở về đến xứ Bãi Cả thấy quỷ sứ đón đường. Hai ông cùng chúng quỷ vật nhau mấy khắc. Quỷ thua cả, biết hai ông có tài lược hơn người, đều cùng la bái mà thưa rằng:

  • Chúng tôi đây là chúa quỷ cai Xích y quỷ bộ và Bạch y quỷ bộ. Thấy hai ông là vực anh tài, xin có 2 bức tiên bào dâng 2 ông để làm bảo bối. Xin theo hầu để làm đệ tử.

Hai ông nhận lấy tiên bào rồi cám ơn chúng quỷ. Từ đấy hiếu nghĩa thờ mẹ trọn ven 3 năm, chẳng ngày nào sơ suất. Mãn tang rồi tuổi đã 20, gặp khi trong nước có loạn là nhà Lương Đại Đồng bên Tầu sai danh tướng là Trần Bá Tiên và Dương Phiêu đem quân sang đánh nước Nam ta, làm nhiễu muôn dân, đau lòng trăm họ.

Đức Tiền Lý Nam Đế cùng 3 viên đại tướng là: ông Triệu Túc làm chức Thái phó, người Tinh Thiều và Phạm Tu làm văn võ tướng đem binh ra đánh. Nhưng quân Lương thế mạnh chống không nổi, mấy ủy quyền cho ông Triệu Quang Phục là con quan Thái phó làm Tả tướng quân, cầm lấy quân của cha là Triệu Túc đứng lại mà đánh, để người Lý Thiên bảo và Lý Phật Tử đem vua chạy vào động Khuất Liêu, tạm an quân sĩ.

Trần Bá Tiên đang khi cường thịnh, Triệu chống không nổi, phải đem quân về Dạ Trạch (là Khoái Châu tỉnh Hưng Yên ngày nay). Quân Lương đuổi theo vây bọc xung quanh, định làm cho Triệu tận lương vô kế, không phải đánh mà chết.

Quân Triệu tình thế đã nguy, ngày thì phải tắt khói lửa, đêm thì đem quân đánh trộm, cho người đi trao truyền hịch bá cáo muôn dân, ai là người có tài ra giúp nước thưởng công không nhỏ.

Khi ấy các ông anh em đức thánh Tam Giang nghe thấy nhà vua có lệnh chiêu tài, anh em bàn nhau tính kế lập thân, mộ quân để đi giúp nước. Khi đi đến huyện Kim Hoa (tức là Kim Anh) vào làng Tiên Tạo, phủ Đa Phúc. Ông Triệu Quang Phục nghe biết tin sai người đến đón mà phong cho ông Cả làm quan Thượng tướng quân. Ông Hai làm Phó tướng quân. Ông Ba, ông Tư đều làm tùy tướng cả. Hội đồng trù toán binh cơ, trẩy đi đánh giặc.

Khi ấy tháng Tư trời mưa to. Đường xá lầy lội, cây cối rậm rạp. Người và ngựa không đi được. Hai ông dâng thư lên cùng Triệu Quang Phục rằng:

  • Chúng tôi xin tận lực lấy gỗ đục làm thuyền, chia binh lập trận, 4 mặt cùng đánh thì quân giặc phải tan. 

Ông Triệu Quang Phục y lời.

Các ông truyền lệnh mưu cơ, khởi quân tiến chặn, xung đột tung hoành. Quân binh  đại bại chạy về nước Tầu.

Dẹp giặc xong rồi, khải hoàn tấu điệp, khao thưởng quân sĩ. Ông Triệu Quang Phục kéo quân về đóng đô ở thành Long Biên. Bấy giờ mới xưng là Triệu Việt Vương. Phong cho ông Cả thực ấp Kinh Bắc (là Bắc Ninh), ông Hai thực ấp Đông Ngàn (là làng Tam Lư). 

Dân Tiên Tạo, dân Tam Lư đến bái yết mà xưng tụng rằng:

  • Chư ông sống làm tướng mạnh, thác làm thần thiêng. Dân chúng tôi được nhờ ơn công đức, của nhà bình yên, không biết lấy gì đền báo. Vậy xin chốn quân đóng đồn lập lên đền thờ, mai sau ức niên hương hỏa. 

Chư ông y lời, rồi cho dân Tiên Tạo 50 nén vàng, dân Tam Lư 30 nén vàng, đem về nuôi kẻ già, cứu kẻ nghèo, mua ruộng để làm hương hỏa.

Khi nước ta bình rồi thì đức Tiền Lý Nam Đế và ông Lý Thiên Bảo đã thác ở động Khuất Liêu rồi. Còn ông  Lý Phật Tử chạy vào Giã Năng động ở nước Ai Lao xưng làm Đào Lang Vương. Biết tin nước nhà đã bình rồi, kéo quân Xiêm, quân Lào về đánh. Có tin báo rằng: 

  • Ông Lý Phật Tử là con cháu nhà Lý, đem hơn 60 vạn quân Xiêm Lào về đánh nước.

Ông Triệu Việt Vương sai quan Trương tả hữu tướng quân đem quân ra đánh. Lý Phật Tử địch không nổi phải chạy lui về Ô Diên, rồi đưa thư xin cầu hòa để cho ở yên một xứ. Vua Triệu nghĩa rằng:

  • Ông Phật Tử là con cháu nhà Tiền Lý có lẽ nào ta quên được cái ơn đức Tiên quân.

Nhận lời hòa mà nhượng đất cho ở một xứ. Hai ông Trương tướng quân can ngăn rằng:

  • Việc ấy không nên.

Vua Triệu không nghe, chia cõi Quân Thần ở Thượng Cát xã, Hạ Cát xã, thuộc huyện Từ Liêm bên Đông về nhà Triệu, Tây về nhà Lý. Thế là nhất quốc lưỡng vương.

Từ đấy ông Lý Phật Tử lại xưng là Hậu Lý Nam Đế. Sau ông dụng tình bất trắc, mượn kế cầu thân cho con trai là Nhã Lang vào làm rể, lấy con gái ông Triệu Việt Vương là Cảo Nương. Hai ông Trương tướng quân lại hết lòng can gián mà nói rằng:

  • Sự tích Trọng Thủy, Mỵ Châu gần đó chưa lâu. Ngài chắng nhớ  ru? Nếu chẳng nghĩ trước thì về sau hối sao cho kịp?

Vua không nghe cứ lấy những sự ấy là hay, và như thế lại càng yên nước. Hai ông can mà không nổi, bảo nhau nạp chức từ quan vào rừng Phù Long ở, thuộc tỉnh Sơn Tây, huyện Phúc Thọ, Phù Long xã (trước gọi là Phù Long sơn trang), mười mấy năm trời canh nông vi nghiệp.

Ông Triệu Việt Vương đã trúng kế ông Phật Tử cho con vào làm rể, ăn ở hầu hạ, cha tin con, vợ yêu chồng, vui vẻ đêm ngày, một nhà sum họp. Lý Nhã Lang nhân khi nhàn hỏi vợ rằng:

  • Sự đánh giặc quan hệ là tướng giỏi, Trần Bá Tiên và Dương Phiêu là tướng đại tài của nhà Lương, không phải người hèn mà sao đánh đuổi được? Thế tướng nào đánh trận ấy hay là có bảo bối chi!

Cảo Nương đáp rằng:

  • Khi đánh được giặc Lương ấy là có anh em ông Trương tả hữu tướng quân, văn võ toàn tài và có long trảo đâu mâu ấy là bảo bối.

Lại hỏi rằng:

  • Những viên tướng ấy ở đâu mà từ khi tôi về đây không thấy bao giờ, mà long trảo đâu mâu tôi cũng chưa từng trông thấy bao giờ.

Vợ thuật chuyện 2 viên tướng ấy từ khi can vua không nghe, sau 2 viên tướng ấy từ chức đi đâu không biết. Còn long trảo đâu mâu thì đưa cho chồng xem.

Nhã Lang được xem rồi, lưu tâm nhận lấy hình dáng long trảo, đợi khi nhà vắng, lấy miếng xương khác thay vào, lấy long trảo dấu đi, rồi xin về vấn an, tâu vua Triệu rằng:

  • Ơn trời từ khi 2 nước hòa hảo cho chúng tôi cũng được sum vầy cùng nhau nay đã lâu ngày. Chúng tôi tấm lòng thần hôn chạnh nhớ. Xin vương phụ lượng xét cho tôi về vấn an cho phải đạo.

Vua Triệu y lời. Nhã Lang bái biệt, chỉ gót vó câu, chẳng bao lâu về đến Ô Diên thành, vào tâu vua Lý:

  • Các chuyện bên Triệu trước kia sự chinh chiến, binh cơ bách chiến bách thắng là vì có anh em Trương tướng quân văn võ toàn tài, và long trảo đâu mâu thần cho để làm bảo bối, cho nên đánh đâu được đấy. Từ khi Lý Triệu hòa hảo lại 2 nhà thông gia cùng nhau, 2 viên tướng ấy can ngăn mà vua Triệu không nghe. Sau 2 viên ấy nạp chức từ quan, rồi đi đâu không biết, mà long trảo lấy được đây.

Vua Lý nghe nói đầu đuôi, thương nghị văn bõ đè quân sang đánh Triệu ngay.

Quan canh vào báo có giặc kéo đến đánh thành, quân đông như kiến, tình thế nguy cấp. Vua cười mà nói rằng: 

  • Có sợ gì giặc. Đã có bảo bối thần cho, giặc nào địch nổi.

Vội vàng vào lấy đâu mâu đội lên, giục quân ra đánh. Đâu mâu không thấy công hiệu, giặc càng đánh sấn vào thành. Thế chống không lại, vội vàng bế con gái là Cảo Nương lên ngựa lui ra cửa Nam, chạy xuống Đại Nha hải khẩu. Giặc đuổi đến sau lưng, không chạy đi đâu được nữa. Ngửa mặt lên kêu trời: Cùng đường mất rồi! Gieo mình xuống bể tự tận.

Có câu than rằng:

Lòng trung báo đáp tiền quân
Ngờ đâu Phật Tử bội ân thấy này
Họ Trương can gián đêm ngày
Chẳng nghe lời phải, tớ thầy bèn xa.
Tin con mắc kế gian tà
Đâu mâu long trảo lại ra tay người
Giang sơn phó giả mặc trời
Đại Nha hải khẩu thảnh thơi suối vàng.

Ông Lý Phật Tử đã diệt được Triệu rồi, biết anh em Trương tướng quân là bực có tài, muốn mua chuộc lòng người cho yên thiên hạ, sai người đi tìm đón 2 vị Trương tướng quân ra làm quan giúp mình. Phái nhân khi đi tìm thấy ở đâu mời bằng được. Đi đến rừng Phù Lang thấy các ông ở đây, vào thưa rằng:

  • Tôi tuân lệnh vua Lý cho đến mời 2 ông về làm quan giúp nhà Lý.

Hai ông đáp rằng:

  • Chúng tôi trước đã làm tôi nhà Triệu, vì lòng chung đem lời can gián mà vua chẳng nghe. Chúng tôi có tài năng gì mà ra làm quan với nhà Lý nữa.

Phái nhân về tâu vua Lý:

  • Tôi tìm thấy 2 ông ở rừng Phù Lang. Mời thế nào các ông cũng không chịu ra.

Vua lại sai đi lại nói rằng mời 2 ông về cho làm chức Thứ sử. Phái nhân vâng lệnh ra đi vào rừng Phù Lang, cũng thưa như lời vua Lý dặn. 

Hai ông nghe nói nổi giận lôi đình, thét mắng om xòm, bảo rằng:

  • Trung thần bất sự nhị quân, có lẽ nào thờ người điên đảo hại chúa. Lập tức ra mau.

Phái nhân phải cút ngay về tâu vua Lý. Vua Lý tức giận hạ lệnh rằng:

  • Ai bắt được anh em họ Trương đem nộp, sẽ thưởng nghìn vàng, lại phong cho quyền tước nữa.

Các ông nghe thấy tin vua Lý hạ lệnh bắt, anh em bàn nhau rằng:

  • Đã thế ta khởi quân đánh, báo thù cho Triệu.

Ông Cả can rằng:

  • Chẳng qua là ngôi trời đã định cho nên vua Triệu không nghe lời anh em ta can gián mà phải mắc kế gian mưu. Thôi! Nay anh em ta có khởi quân đánh chăng nữa, chỉ là tàn dân hại vật! Chứ vua Triệu không sống lại được nữa. Ta nên thoái thác cho yên trăm họ. Hoặc là lánh đi nơi khác, hoặc là uống thuốc độc mà chết cho toàn lấy chữ Trung là hơn.

Cả nhà nghe nói xin cùng sống thác một ngày có nhau. Bảo nhau cùng xuống thuyền giả làm thuyền buôn xuôi về quê tảo mộ. Khi chèo thuyền vào đến sông Vũ Bình, Ngã ba Xà, thấy chốn ấy giang sơn tú khí, phong thủy hữu tình, chèo thuyền ra giữa sông đánh đắm thuyền mà tự vẫn cả nhà (tức sông Nguyệt Đức thuộc Phương La xã, Yên Phong huyện tỉnh Bắc Giang). Thuyền  ông Hai trôi xuống Ngã ba Nhãn, thấy phong cảnh chung linh, cũng đánh đắm thuyền cùng cả nhà tự vẫn, là ngày mồng mười tháng 4 chết cả (tức là Phượng Nhãn xã, Phượng Nhãn huyện, Bắc Giang tỉnh).

Khi xuống thuyền con 2 cô cháu đem nhau đi ra rừng chơi, không kịp đi theo phải ở lại Phù Long, là bà Mỹ Đạm, cháu là Trương Kiều là con thứ 4 ông Cả mới có 2 tuổi.

Ông Lý Phật Tử sau nghe tin rằng anh em họ Trương đã tự vẫn cả rồi, nghĩ hối lại mà cảm tình là một nhà trung nghĩa như thế mà là không được gặp. Sau lại có người tâu rằng: 

  • Dòng dõi họ Trương còn 1 người tên gọi Trương Kiều, khi trước cha chú đi thì còn bé không kịp đi theo phải ở lại Phù Long.

Ông Lý Phật Tử cả mừng sai người đi đón ông Kiều về cho làm quan Thứ sử. Người đến đón cũng nói như lời vua Lý. Ông Kiều nghe nói cảm động tấm lòng cha chú là một nhà hiếu nghĩa, lại không chịu nhận chức Thứ sử, rồi chạy trốn đi theo cha chú cho tròn hiếu đạo.

Khi đi thơ thẩn đến Vũ Bình giang, ngã ba Xà, tự nhiên động lòng ai oán. Hỏi dò la nhân dân ở đấy kể chuyện rằng:

  • Chốn sông nay những năm trước có anh em quan Trương tả hữu tướng quân vì đánh đắm thuyền tự vẫn cả nhà ở đấy.

Ông Kiều nghe nói căm gan nổi giận, khóc mà than rằng:

Trời cao soi xét lòng trung,
Sắt son vì nước , thủy chung một nhà 
Sống mà thẹn mấy sơn hà
Cũng xin theo xuống mẹ cha sông này.

Than xong gieo mình xuống sông mà chết, là ngày mồng 2 tháng 2. Nay có đền thờ ở làng Mai Thượng huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang, gọi là Đức thánh Hậu. Bà cô thì giả làm nhà chùa về làng Vân Mẫu tảo mộ, ở lại 1 tháng, nhớ đến trung nghĩa cả nhà, lại ra gò Con Cá ở giữa đầm chiêm tự vẫn. Đấy gọi là Cây Sồng, địa phận làng Chu Mẫu, hiện có miếu thờ ở gần Cổng Muối.

Ông Phật Tử vẫn tìm dòng dõi họ Trương là 1 nhà trung nghĩa, sau nghe không còn ai nữa, thương tiếc hối lại bởi vì mình vội nóng quá, hạ lệnh bắt anh em nhà ông cảm khái mà đi tự vẫn cả nhà, ái tình phong ông Cả là: Vũ Lâm Lang Quả nghị Linh ứng Thượng tướng quân. Phong cho ông Hai là: Đại thụ tướng quân. Truyền cho xã Bảo Vệ, xã Phù Long ở huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây phải lập đền thờ, ức niên hương hỏa (trước gọi là Phù Long sơn trang).

Trước khi đánh đắm thuyền tự vẫn có bưng 1 bộ Táo quân để lên bờ sông rồi thuyền mới đánh đắm. Thấy rồng rắn cá nhảy lên ầm ầm. Bệ Táo quân cũng cảm tình mà nhảy xuống. Hiện đền làng Phương La có thờ 1 tòa tượng Táo quân.

Chư công sinh vi tướng trung nghĩa vị thần, tử vị thần khí phách vị tán, vị Việt Nam âm phù bảo hộ. Kim thỉnh kế kỳ sự cấp lệnh tặng phong mà luận.

Đến đời nhà Hậu Ngô ông Văn Xương xưng là Nam Tấn Vương đánh giặc Lý Huy ở núi Côn Luân đưa quân vào đóng ở rừng Phù Long, đêm nằm thấy 2 ông cùng đến trước mặt mà thưa rằng:

  • Chúng tôi xin giúp vua để đánh giặc.

Vua giật mình mà hỏi rằng:

  • Các người la ai, trẫm chưa từng được biết.

2 ông thưa rằng:

  • Chúng tôi ở Phù Long trang, tên tôi là Trương Hống, em tôi là Trương Hát. Trước khi làm quan theo phù đức Triệu Việt Vương. Sau khi nhà Lý dùng mưu gian diệt Triệu rồi nhà Lý có gọi anh em tôi ra làm quan. Chúng tôi nghĩ rằng, trung thất bất sự nhị quân, có lẽ nào thờ người điên đảo hại chúa. Cho nên chúng tôi cả nhà cùng xuống thuyền đánh đắm mà tự vẫn cả cho toàn trung nghĩa. Thượng đế thương chúng tôi là 1 nhà trung nghĩa, phong cho tôi làm Than Hà Long Vương, phong cho em tôi làm Chi Mạn Nguyên đầu Tuần đô Phó sứ. Cai quản cả sông Vũ Bình giang và sông Lạng Bình giang. Đức tiên chúa khi trước phá được nhà Nam Hán bắt được người Hoàng Thao ở sông Bạch Đằng cũng là có anh em chúng tôi hết lòng âm trợ. Tuy đạo âm dương bị cách biệt, nhưng đạo vua tôi coi như là một.

Vua tỉnh ra mấy biết là mình chiêm bao, truyền lấy trầu rượu mà làm lễ khấn rằng:

  • Xin hết lòng âm trợ dẹp được xong rồi sai lập miếu thờ, ức niên hương hỏa.

Hôm sau ông Nam Tấn đem quân đi đánh vây ở núi Côn Luân, ai ai đều trông thấy giặc đóng ở trên đỉnh núi cao chót vót. Đêm hôm ấy thấy 2 ông hội quân ở rừng Phù Long để đi đánh giặc. Ông anh đem quân sang Vũ Bình giang vào Phú Lương giang (tức Thái Nguyên). Ông em đem quân sang Nam Bình giang, kéo đến Côn Luân  trợ chiến.

Đức Nam Tấn Vương biết truyền các quan tả hữu rằng:

  • Trận này đánh giặc quyết tam, có thần linh âm phù ta đó.

Dẹp giặc yên rồi sai sứ đi truyền các làng ở 2 bên bờ sông Vũ Bình giang và Phú Lương giang phải lập đền thờ cả. Phong cho ông anh Đại Đương giang Hộ quốc Thần vương. Truyền tổng Vân Mẫu làm đền thờ bà thánh mẫu, phong đức thánh mẫu là Thượng đẳng Phúc thần.

Đời Lê Đại Hành năm thứ 2 bên Tầu nhà Tống sai người hầu Nhân Bảo đem quân sang đánh nước ta, đã vào đến sông Đại Than rồi. Vua cùng quan võ là Phạm Cự Lưỡng đem 20 vạn quân đi đánh. Khi đến làng Tam Lư huyện Đông Ngàn trời đã tối phải tạm đóng quân ở đấy. Vua truyền sửa lễ cầu thần âm trợ. Thấy đến canh ba trong cung có tiếng ngâm thơ rằng:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Hoàng thiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhất trận phong vận tận tảo trừ.

Vua thấy thần ngâm thơ ứng trợ sáng hôm sau kéo quân lên Đồ Lỗ lập trận. Đến đêm hôm ấy vua nằm lại thấy 2 ông thần đứng ở bờ sông vái mà thưa rằng:

  • Chúng tôi là Tam Giang thần thấy quân Tầu sang phá hại nước Nam ta. Chúng tôi giúp vua đánh giặc cứu lấy nước Nam ta khỏi vòng tai nạn.

Vua tỉnh dậy truyền sửa lễ tam sinh và voi, ngựa vàng mã, quần áo làm lễ rồi hóa đi. Quả nhiên trận ấy ông Lê Đại Hành thắng trận bắt được không biết bao nhiêu quân giặc.

Vua lại truyền 2 bên sông Nguyệt Đức, sông Nam Bình phải lập  miếu thờ. Lại phong cho ông anh là Khước địch Đại vương, phong cho ông em là Uy địch Đại vương.

Đến đời ông Lý Nhân Tôn lại phong cho ông anh là Sảng bang Khước địch Đại vương Thượng đẳng thần. Ông em là Hiển thắng Uy địch Đại vương Thượng đẳng thần.

Lại có câu rằng, một nhà trung nghĩa sao khéo bảo nhau cùng tuẫn tiết cả, thực là chưa có hai.

Gia phong cho ông thứ 3 là Lân Nhĩ Đại vương, ông thứ 4 là Lã Sậu Đại vương, bà em gái là Lương Mỹ Đạm Tam Giang Công chúa. Người cháu tên là Trương Kiều phong là Thác Sơn Bình Đảng Phúc thần.

Đời nhà Lý Nhân Tôn bên Tầu sai quân sang đánh nước ta. Đức Nhân Tôn sai ông Lý Thường Kiệt đem quân đi đánh giặc đến làng Phương La sửa lễ cầu thần trợ chiến, bỗng nghe tiếng ở trên không ngâm thơ rằng:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phậm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Tiếng ngâm như sấm sét, quân nhà Tống nhe thấy tự nhiên hồn xiêu phách lạc, chạy cả về Tầu.

Ông Lý Thường Kiệt làm sớ tấu vua có âm phù mọi nhẽ. Vua lại truyền hai bên bờ sông Vũ Bình và Nam Bình lập miếu thờ.

Đời vua Trần Nhân Tôn niên hiệu Trùng Hưng thứ 1 có bài thơ cho rằng:

Bá Di sinh bất thần Chu, Ninh nhự sơn trung chi khuyết
Chư Cát tử năng tẩu Ngụy, Lãng ngâm thiên thượng chi chương.

Đến năm Trùng Hưng thứ 4 bên Tầu lại sai Nguyên Khương đem quân sang đánh nước ta. Vua sai ông Trần Quốc Tuấn đem quân đi đánh giặc, vào làng Tiên Tạo có đền thờ, sửa lễ khấn rằng:

  • Xin chư linh giúp công đánh giặc.

Quả nhiên sau bình được giặc Ô Mã nhi, ông Quốc Tuấn làm sớ tâu rằng:

  • Thần làng Tiên Tạo âm phù đánh giặc.

Vua Nhân Tôn gia phong ông cả là Tam Giang Khước địch Linh ứng Đại vương Thượng đẳng thần.

Năm ấy lại phong ông Cả là Khước địch Đại vương, gia phong Khương hựu Thượng đẳng phúc thần. Ông Hai là Uy địch Đại vương, gia phong Dũng cảm phúc thần,

Đến năm Hưng Long thứ 21 lại gia phong ông Cả Trợ thuận nhị tự, ông Hai là Hiển thắng nhị tự.

Đời nhà Hậu Lê thứ 1 trong nước có loạn, vua truyền cầu đảo các bách linh âm phù thảo mạc. Trận ấy đại thắng giặc tan rồi vua truyền 2 ông Nhĩ Quận công và ông Trịnh Ngô Dụng cứ ngày kỳ tháng 4 phải đến đền làm lễ và làm 1 bài văn rằng:

Lĩnh Nam danh tướng giang Bắc phúc thần
Trương trung liệt cự tiễu hung chi kiếm
Khước địch chi thi vạn lý sơn hà
Khoát tinh trung thiêu nhật nguyệt.
Tuy linh dị ư hộ quốc công, an dân chi lạc, ức niên hương hỏa, ngật như căng địa thái băng, sùng luân ký trước ư giản bàn, hiển hiện nghi kê ư sách điểm. Khâm tai.

Đời Hậu Lê niên hiệu Cảnh Hưng và Chiêu Thống gia phong ông Cả ông Hai là Thượng đẳng Phúc thần. Ông Bà ông Tư là Trung đẳng Phúc thần.

Đời nhà Nguyễn niên hiệu Tự Đức năm thứ 26 có giặc gọi là Đại Trận, vua sai ông Tôn Thất Thuyết đem quân đi đánh giặc, đóng quân ở làng Phù Cầu, huyện An Phong có đền thờ đức thánh Tam Giang. Ông Tôn truyền sửa lễ cầu âm trợ.

Giặc đóng ở làng Đông Lỗ huyện Hiệp Hòa, quả nhiên đánh trận ấy giặc tan. Ông Tôn khải hoàn tấu điệp xin để gia phong, việc đó sau vô hiệu (ông Tôn ngộ loạn).

Có 1 bài văn tả ở đình làng Phù Cầu rằng:

Xuân giang nhất dạ chúc siêu hoa
Chiến lũy thần từ nhân bất sá
Tháp khởi canh thâm tư mạo trợ
Đinh y lộ trác trọng kim qua
Lâu đài vạn cổ duyên do họa
Hồng nhạn tam binh trận phả ca
Dân thiết tư am hoàn dị sử
Quan sơn mạc yếm khứ lai xa.

Bức biểu ấy còn tại đền Cả xã Phù Cầu.