Bạn có biết: Bà chúa kho là vợ vua Hùng Vương thứ 18

Nếu như Triệu Công Minh, một vị tướng của phe nhà Ân Thương trong Bảng phong thần được tôn làm Thần tài ở Trung Quốc, thì ở nước ta vị thần tài ban phát phúc lộc lại là một nữ tướng, vợ vua Hùng đời cuối của dòng Lạc Thị.

Công chúa Thanh Bình ở Thượng Lát.

Bà chúa kho thời Hùng Vương

Ở thôn Thượng Lát, phường Vân Hà, Bắc Ninh có một ngôi đền thờ Bà chúa kho đặc biệt, không phải là Bà chúa kho ở vào thời Lý mà là Bà chúa kho từ thời Hùng Vương. Lịch sử Bà chúa kho ở Thượng Lát được giới thiệu như sau: Nhà Vua xuất quân từ núi Nghĩa Lĩnh gần ngã ba sông Việt Trì đem toàn bản bộ đến Tiên Lát, có địa hình thuận lợi cho việc chuẩn bị đánh giặc. Thế giặc rất mạnh từ phương Bắc tràn sang, lại có tù trưởng Cao Bằng là Lục Đinh làm nội ứng đánh chiếm nước ta. Các bản bộ đóng trại làm các công việc chuẩn bị còn để lại các địa danh như: bộ Trê, bộ Trạ, bộ Ngạnh, bộ Nứa, bộ Trắng, bộ Hồng. Mỗi bộ trong coi một việc, đó là Lục bộ. Hệ thống trung ương thời phong kiến sơ khai đến thời phong kiến tập quyền nhà Lý còn lập lại tổ chức này. Có một công việc mà nhà Vua không trao cho ai đó là kho vàng bạc và binh sách. Vua trao cho con gái trực tiếp làm thủ kho tại Trại Cung. Tên Trại Cung là nơi hạ trại canh giữ kho cung ứng cho Lục bộ và ba quân nên gọi tắt là “Trại Cung”. Thủ kho là công chúa Thanh Bình, con Vua nước Văn Lang. Công chúa đã tỏ ra có tài cung ứng kịp thời cho Lục bộ, ba quân và cho Thạch Tướng quân đánh giặc đem lại hòa bình cho đất nước….

Cuốn Lịch sử đảng bộ Việt Yên nói về dòng dõi Công chúa Thanh Bình: Tổ tiên vua Hùng là Đế Nghi chuyên chăm lo việc cấy lúa, vua Hùng thứ 7 là Lang Liêu lúc nào cũng nghĩ về hạt thóc. Công chúa là chắt chút của các bậc Tiên vương, là thủ kho, là kế thừa dòng máu của các bậc tiên đế, giản dị, thực tế trung thực và công tâm. Công chúa làm thủ kho thường kỳ nước ta bội thu lúa nước. Thời kỳ biết làm bạc nén và vàng sống. Việc quan trọng bậc nhất là cung ứng kịp thời. Công chúa làm thủ kho đã xứng đáng với niềm tin cậy của ba quân.

Bà chúa kho là một vị công chúa thời Hùng Vương 18, cai quản việc cung ứng cho Lục bộ quân đội chống lại tướng giặc là Lục Đinh từ Cao Bằng cùng với Thạch Linh Thần tướng. Câu đối ở đền Bà chúa kho Thượng Lát:
Hùng thị thập bát thế thánh vương ngự trị
Tiên trang thiên vạn lý Bộ Cung sáng thành.

Thời Hùng Duệ Vương (vua Hùng thứ 18) thường được chép là chống lại quân Thục. Như thế giặc Lục Đinh ở đây tương đương với quân Thục. Có liên hệ: Lục Đinh đọc phản thiết là Đục = Thục.

Hùng Vương Thánh Tổ ngọc phả kể, thời Hùng Vương thứ sáu “vua Ân muốn xâm lăng đất nước. Vào năm Giáp Tí bỗng thấy biên giới phía Bắc có thư gửi cấp báo. Tướng giặc Ân là Thạch Linh thần tướng khởi binh từ phía Bắc tiến sang, giáo giáp kín trời, tinh kỳ rợp đất”. Ở làng Phù Đổng có cậu bé Gióng mới lên ba, theo lời hiệu triệu của vua Hùng đã hóa thành một thiên tướng, dẫn quân chống giặc. “Thần vương cầm roi sắt chỉ huy tiên phong, lệnh khiến các quan hành quân tiếp ứng, chỉ phút chốc đã đến dưới chân núi Vũ Ninh, miền Yên Việt, đại chiến với Thạch Linh thần tướng bên núi. Quân Ân thua to, tan chạy. Thạch Linh thần tướng bị bắt sống rồi chém đầu”.

Thạch Linh Thần tướng ở Việt Yên là chiến trường giữa Thánh Gióng và giặc Ân, tướng cầm đầu cũng là Thạch Linh Thần tướng. Nói cách khác đời Hùng Vương cuối của thời kỳ Kinh triều Lạc thị (Hùng Duệ Vương) là triều Ân Thương. Còn Thục Vương ở thời này chính là vua Hùng đã cùng Thánh Gióng đánh giặc Ân tại miền Yên Việt.

Nghi môn ngoài của đền Bà chúa kho ở Thượng Lát với dòng chữ Chúa Tiên cung.

Nữ tướng Ân trong hội Phù Đổng

Lễ hội làng Phù Đổng, nay đã là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, được tổ chức hàng năm tái hiện lại cuộc chiến thần thánh giữa Phù Đổng Thiên Vương và giặc Ân vào thời điểm hơn 3.000 năm trước. Trong lễ hội, các làng ở Phù Đổng lựa chọn 28 cô gái vị thành niên đóng làm tướng giặc. Các cô gái trẻ trang điểm xinh xắn, ăn mặc lộng lẫy, đầu đội mũ hoa, tay cầm quạt lông hoặc trống ngồi trên kiệu. Mỗi nữ tướng Ân dẫn đầu một đội quân khoảng 15 người phục dịch. 28 đội quân Ân do các các nữ tướng cầm đầu lên tới hơn 400 người.

Cũng ở lễ hội Phù Đổng, phường hát Ải Lao có bài hát mở màn rằng:
Nhớ đời thứ sáu Hùng Vương
Ân sai hai tám tướng cường nữ nhung
Xâm cương cậy thế khoe hùng
Quân sang đóng chặt một vùng Vũ Ninh.

Lễ hội ở Sóc Sơn, nơi Phù Đổng Thiên Vương bay về trời sau khi thắng giặc, có tục lệ chọn một cô gái đồng trinh đóng làm tướng giặc Ân. Trong ngày chính hội sau lễ rước, nghi lễ “chém tướng” Ân được tiến hành như một hình thức đánh dấu mốc son chiến thắng cuối cùng của Phù Đổng Thiên Vương trước quân Ân.

Bài hát Ải Lao và lễ hội Gióng cho biết rõ ràng rằng cầm đầu quân đội nhà Ân là các nữ tướng. Như vậy, tướng Ân là Thạch Linh thần tướng ở chân núi Vũ Ninh cũng là một nữ tướng. Lịch sử cho biết, thời nhà Ân các nữ tướng cầm đầu quân đội ra trận thường cũng là vợ của vua Ân. Nổi tiếng nhất là bà Phụ Hảo, vợ của vua Ân Vũ Đinh, là nữ tướng đã cầm quân chinh phạt các nước như Khương Phương, Ba Phương, Thổ Phương, Đông Di… Mộ Ân hậu Phụ Hảo được phát hiện ở thôn Tiểu Đồn, huyện An Dương, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc, là một trong những ngôi mộ táng bề thế bậc nhất của thời kỳ Ân Thương. Các hiện vật trong mộ cho biết Phụ Hảo còn có “miếu hiệu” là Mẫu Tân, căn cứ vào dòng chữ khắc trên một chiếc đỉnh vuông và các đồ minh khí bồi táng kèm theo.

Nữ tướng Ân trong hội Phù Đổng năm 2022.

Phúc lộc thần Ma Cô Tiên

Trong kho tàng huyền sử Việt có một câu chuyện vô cùng kỳ dị nói tới Diêm Vương và các hồn ma bóng quỷ. Đó là Truyện Giếng Việt, bắt đầu như sau: “Giếng Việt ở miền Trâu Sơn huyện Vũ Ninh. Đời vua Hùng Vương thứ ba, nhà Ân cử binh sang xâm chiếm nước Nam, đóng quân ở dưới núi Trâu Sơn. Hùng Vương cầu cứu Long Quân, Long Quân truyền đi tìm bậc kỳ tài trong thiên hạ thì sẽ dẹp được giặc. Sóc Thiên vương ứng kỳ mà sinh, cưỡi ngựa sắt đánh giặc. Tướng sĩ nhà Ân đều bỏ chạy. Ân Vương chết ở dưới chân núi, biến thành vua Địa phủ, dân phải lập miếu thờ, lâu năm suy dần đền miếu bỏ hoang.”

Truyện Giếng Việt kể tiếp, đến đời Tần, có quan Ngự sử là Thôi Vĩ đã cho trùng tu lại miếu Ân Vương. Con trai của Thôi Vĩ là Thôi Lượng, sau đó đã đi lạc đường trên núi Trâu Sơn, đến được Ân Vương Thành và gặp mặt Ân Hậu. Ân Hậu tiếp đãi Thôi Vĩ một cách ân cần rồi cho Dương Quan dẫn Thôi Vĩ về. Sau đó Ân Vương đã sai vị Ma Cô Tiên đến trao cho Thôi Lượng thuốc ngải chuyên chữa bệnh u bướu và ban cho một người con gái để kết làm vợ, lại ban cho một viên ngọc Long Tụy, trong cặp ngọc báu thư hùng mà vua Ân mang theo người khi chết ở Trâu Sơn. Ma Cô Tiên được biết là một vị thọ thần và phúc thần trong văn hóa phương Đông, thường hay được thể hiện trong hình dáng một tiên nữ hiến đào trên những chiếc đĩa đựng hoa quả Trung Quốc.

Thần tích làng Phùng Dị, một làng ở vùng núi Châu Sơn cũng kể tương tự chuyện Giếng Việt: Tương truyền rằng ở Kinh Bắc có bộ Vũ Ninh, phủ Từ Sơn, huyện Vũ Ninh, xã Bằng Dực. Thời Hùng Vương, Ân Vương đem quân đến xâm chiếm nước Văn Lang, đến đất của trang này thấy cảnh đất núi non la liệt, hình như một con ngựa ngọc, nên đặt tên là Châu Sơn. Ân Vương trú binh tại đó.

Khi ấy Hùng Vương nghe tin, liền cầu đảo Long Quân. Long Quân hóa thành Phù Đổng Đại vương cưỡi ngựa sắt mà phá được quân Ân. Ân Vương chết ở dưới chân núi, làm vua Địa phủ. Trang dân ở châu đó lập miếu phụng thờ, thời thường tế lễ. Lâu ngày miếu suy trở thành hoang phế. Đến thời Tần có người bản trang nước ta là Túc Đặng làm quan nhà Tần đến chức Ngự sử Đại phu, thường qua miếu này, thấy cảnh hoang tàn, chạnh lòng thương cảm, cho tu sửa lại đền miếu để giữ việc tế tự. Lệnh cho dân bản trang tuân theo như trước mà thờ. 

Sau này có người Triệu Đà dẫn quân trị nước An Nam, đóng quân ở tại núi, đến nơi miếu mà nghiêm trang thờ tự. Khi đó Ân Vương cảm ơn phục trợ uy linh của ông Túc Đặng bèn sai một đệ nhất mỹ nữ tên là Ma Cô Tiên, giáng sinh vào ngày mùng 6 tháng Giêng năm Mậu Thìn, đến ngày mùng 10 tháng 10 thì thăng hóa, để giúp tương trợ dân nghèo, khai khẩn ruộng vườn, dựng nên một cái chợ. Cái chợ này có tên là Việt, nay là chợ Nghè. Giúp dân an nghiệp, dư giả. Một hôm người bản trang bỗng thấy trên mặt đất mưa to gió lớn nổi lên, sấm nổ chấn động, biết là ngài đã có linh ứng. Người dân cảm công đức đó bèn lập đền phụng thờ, hương khói không ngừng.

Núi Trâu Sơn hay Châu Sơn là núi Vũ Ninh, ngày nay nằm ở huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Như trên đã biết, người chết trận dưới chân núi không phải vua Ân mà là Ân Hậu. Cũng vì thế mà trong Truyện Giếng Việt, Thôi Vĩ chỉ gặp được Ân Hậu, không gặp Ân Vương. Ân Hậu “hiển linh” và được thờ phụng tại vùng núi Châu Sơn dưới tên Ma Cô Tiên, như tại một loạt các di tích còn ở đây. Rõ nhất là tại ngôi chùa mang tên Ma Cô Tiên, nằm ở thôn Châu Cầu, xã Châu Phong. Chùa còn lưu được nhiều bia ký từ thời Lê, nhưng đặc biệt các chữ Ma có trên bia đều bị đục bỏ. Rải rác ở các thôn quanh núi Trâu như ở Phùng Dị, Hữu Bằng có những ngôi miếu nhỏ thờ Ma Cô Tiên. 

Từ Ma Cô đọc thiết âm là Mô, là cách phát âm khác của từ Mẫu. Chữ Tiên có thể là đọc sai của chữ Tân. Nói cách khác, Ma Cô Tiên có thể được hiểu là Mẫu Tân, vị Ân Hậu mà tên đã được đúc rõ trên đáy chiếc Dương quang, cổ vật thời Ân Thương. Vua Ân cuối cùng là Ân Trụ Vương mang tên Đế Tân. Có thể Mẫu Tân – Ma Cô Tiên chính là vợ của Đế Tân.

Ma Bà ở miếu Giếng tại Phùng Dị.

Mẫu Bạch Kê ở Cổ Loa

Liên quan đến các âm hồn tác quái, truyền thuyết Việt còn có truyện Thục An Dương Vương xây thành Cổ Loa, thành cứ xây lại đổ. Vua chay giới cầu đảo, thì có Rùa Vàng hiện lên xưng là sứ giả Thanh Giang. Thanh sứ cho biết, đây là bởi vong hồn của Vương tử đời trước báo thù. Vong hồn này ẩn náu trong núi, cùng với yêu quái nguyên là tinh con gà trắng (Bạch Kê Tinh) hóa thành ở quán Ma Lôi bên núi, tụ tập gây hại. An Dương Vương cùng thần Kim Quy đi đánh yêu quái, bắt được Bạch Kê Tinh đem giết đi.

Ở núi Thất Diệu, nay thuộc khu vực xã Yên Phụ, Yên Phong, Bắc Ninh, có ngôi miếu Bạch Kê, trong đó thờ một vị “Mẫu Nghi Thiên Hạ” gọi là Mẫu Bạch Kê. Cùng trên núi đó có đình làng Yên Phụ và ngôi đền Núi cùng thờ đức Vua Bà Ma Vương. Ở đây còn có một cái ao được gọi là Giếng Cô Tiên, gắn với truyền thuyết Bạch Kê và việc xây thành Cổ Loa.

Từ những di tích tín ngưỡng ở núi Yên Phụ có thể thấy Bạch Kê Tinh ở Cổ Loa chính là Ma Cô Tiên, một phi nhân của Ân Vương hay của “Vương tử đời trước” đã báo oán Thục Vương khi xây thành. Làng Ma Lôi có quỷ tinh gà trắng hiện hình vào người con gái chủ quán cũng chính là nói đến vị Ma Cô Tiên.

Truyền thuyết kể, An Dương Vương sau khi diệt được Bạch Kê Tinh liền sai đào núi Thất Diệu, lấy được nhiều nhạc khí cổ và xương cốt, đốt tan thành tro đem đổ xuống dòng sông. Xương người chết xưa kia chất đầy trong núi, tạo nên oan khí vô cùng, nên mới hình tượng thành Ma Cô Tiên – Bạch Kê Tinh gây hại. Những địa danh như ngã ba Sọ, chợ Chờ, đò Lo ở vùng Yên Phong cũng gắn nỗi ám ảnh của người dân xưa kia khi phải đi qua vùng núi này.

Truyện Rùa Vàng kể sau khi An Dương Vương cùng thần Kim Quy giết con Gà trắng trong quán Ma Lôi, “Vua liền sai đào núi Thất Diệu, lấy được nhiều nhạc khí cổ và xương cốt, đốt tan thành tro đem đổ xuống dòng sông. Trời gần tối, Vua và Rùa Vàng leo lên núi Việt Thường thấy quỷ tinh đã biến thành con chim cú, ngậm lá thư bay lên chiên đàn”.

Việc Thục Vương đào được nhiều nhạc khí cổ ở núi Việt Thường, rồi thấy chim Cú mèo ngậm lá thư bay lên chiên đàn không ngờ lại là một hình ảnh rất thật của thời đại nhà Ân Thương cách nay hơn 3.000 năm. Trên nhiều đồ đồng tế khí của nhà Ân thường dùng hình chim Cú trong tạo hình. Một chiếc bình đồng có hình chim Cú như vậy được thấy ở Việt Nam.

Trong Truyện Rùa vàng, Bạch Kê tinh ẩn hình trong người con gái của quán trọ ở chân núi tại làng Ma Lôi gần thành Cổ Loa. Nói cách khác, Bạch Kê là tinh nữ có tên là Ma Lôi. Chữ Ma thực ra là âm đọc khác của Má – Mụ – Mẫu, chỉ một vị thần nữ.

Núi Thất Diệu là nơi Bạch Kê tinh hóa thành con chim cú bay lên cây chiên đàn ngậm lá thư tâu đến trời trong truyền thuyết thành Cổ Loa. Núi Thất Diệu nay ở xã Yên Phụ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Nơi đây có ngôi đền thờ một vị công chúa con vua Hùng. Theo thần tích của đền, “thời Hùng Duệ Vương, công chúa nhiều lần hiển hách âm phù quân tướng nhà Hùng dẹp giặc. Khi quân Thục lấy được nước Lạc Việt xây thành Cổ Loa thì công chúa sai ngàn vạn âm binh phá thành. Sau nhờ thần Kim Quy, vua Thục mới xây xong được thành”.

Đôi câu đối ở nghi môn miếu Bạch Kê, khẳng định Mẫu Bạch Kê là dòng dõi Hồng Lạc:
Hồng Lạc di phong trang thể thế
Tiên Long dư duệ khải hồng cơ.

Trong cấm cung của đền có bức tượng thờ chính bằng gỗ, thể hiện một vị Mẫu, đầu đội mũ mào gà, gọi là Mẫu Bạch Kê. Mẫu Bạch Kê ở đây được kể là dòng dõi Lạc Hồng, miêu duệ Rồng Tiên của vua Hùng. Điều này tương ứng với câu nói của thần Kim Quy: “Cái tinh khí ở núi này là con vua đời trước”. Thục An Dương Vương đã đánh dẹp triều Hùng rồi xây thành Cổ Loa. Bạch Kê là một vị nữ tướng, dòng dõi của nhà Hùng, hiện lên báo oán ở núi Thất Diệu, làm cho thành cứ xây lại đổ.

Ở Yên Phụ (Yên Phong, Bắc Ninh), Mẫu Bạch Kê còn được thờ tại đình và đền dưới tên Vua Bà Ma Vương. Đối chiếu với truyền thuyết về Ma Cô Tiên trong Truyện Giếng Việt ở núi Châu Sơn thì Mẫu Bạch Kê chính là Ân Hậu, vợ của vua Ân trong cuộc chiến với Thánh Gióng. Ân Hậu cũng là tướng cầm đầu quân đội nhà Ân sang đánh nước Văn Lang, được ngọc phả Hùng Vương gọi là Thạch Linh thần tướng.

Tượng mẫu Bạch Kê ở Yên Phong, Bắc Ninh.

Bà Vu nữ trong Hùng Vương ngọc phả

Hùng Vương Thánh Tổ ngọc phả kể khá chi tiết về bà Vu nữ, người được Hùng Vương sủng hạnh, đến mức thay đổi cả lễ với trời:

Diệp Vương noi theo quy chế của tiền vương, cũng có chí chăm việc nuôi dân. Nhưng kế thừa nền thái bình đã lâu, ngòi rãnh dễ tràn, lại chỉ muốn hưởng yến tiệc yên vui, không chịu khó nghĩ suy chính sự. Bấy giờ có bà mo có phép tinh thông sự trời đất quỷ thần. Vua chất vấn thấy quả là bà mo có biết những việc này. Vua gọi là Tiên nhân, cho vào trong cung, thường khi có việc thì hỏi đến. Ngày sau đình thần có lời tâu rằng:

  • Mo sử từ trước tới nay thật mênh mông. Một phụ nữ ngốc nghếch chỉ vì bàn luận vu vơ về sự lý của trời đất mà được vào cung vua thuyết giảng mơ hồ những chuyện hoang đường. Bệ hạ lấy đó làm lạ mà bị mê hoặc. Nay chúng thần xin tấu thỉnh bệ hạ thử nói một cách, làm một cách khác, lập riêng một chiếu đàn xem sao.

Vua thuận theo lời tấu đó, bèn sai dẫn bà mo vào trong cung. Sau đó vua sai lập một đàn tế riêng, dùng các lễ dối, voi trắng không ngà, voi đen ba chân, ngựa đỏ năm chân để cầu đảo với Trời.
Vua bảo đình thần:

  • Trẫm dùng kế ấy để xem bà mo có biết giả trá hay không?

Hoàng Thiên tuy ở cao, nhưng nghe xong không bằng lòng, xem đến các đồ lễ trên đàn thì hoàn toàn không linh ứng. Hoàng Thiên bèn giáng tai ương để cảnh báo vua không có đức.
Vua mới nghiệm biết trời đất báo ứng ngay trước mắt. Trong vòng nửa năm nhật nguyệt tinh thần rơi rụng. Mưa gió không điều hòa. Khí thời không chính. Đức của người làm vua không được thuần. Vua mới cho sứ đưa bà mo đến bảo:

  • Ngươi biết dò xét cơ trời. Nay trong nước có điềm chẳng lành. Ngươi có thể bay lên trời tìm hỏi xem lý do thế nào, về báo cho Trẫm biết.

Bà mo quay về, đến canh ba thấy mờ mịt như nằm mộng, đến thẳng trước cửa khuyết Ngọc Hoàng, quỳ tâu rằng:

  • Tôi vâng mệnh Quốc vương lên tâu thiên đình. Nay trần thế đang có biến. Xin cho biết nguyên do như thế nào?

Ngọc Hoàng phán rằng:

  • Ngươi mau trở về báo cho Vua biết. Lưới trời lồng lộng, thưa mà không thể lọt. Trần hoàn lóc lóc, có cầu có nguyện tất được theo lòng. Vua nay tự kiêu ngoa, truyền làm lễ vật giả dối. Đó là do trời báo phạt, không chỉ giáng bấy nhiêu tai ương mà thôi. Ba năm sau tất sẽ có nạn giặc lớn!

Nghe phán xong, bà mo tỉnh lại, tâu lại mọi chuyện với vua. Vua nghe nói cả kinh, vẫn cho bà mo ở lại trong cung để xem lời nói đó có nghiệm hay không. Vua lại sai triều quan dựng đàn chay cầu lớn ở giữa kinh đô, các lễ vật như voi ngựa, vàng bạc, ngọc quý, trân châu, mã não đều dùng đồ vật thật, đặt ở giữa cung, bày trí các lễ nghi.
Vua thân đến tế, khấn rằng:

  • Ngu si lầm lỗi, đem vật dối dâng lễ Hoàng Thiên. Sự còn trước mắt, xét xem đã thấy. Cúi xin Thượng Đế chuyển hoạ làm lành, thay tai giáng phúc. Cúi ngước, cậy nhờ ơn đức Hồng Quân!

Khấn xong, bỗng thấy mây gió cuồn cuộn, sắc trời mông lung, khói hương trên đàn bay lên, mây lành toả sắc.
Vua bàng hoàng kinh sợ, khấu đầu lạy tạ rồi lên xe giá về cung điện. Vua lại truyền bà mo lên trời tâu lên Ngọc Hoàng chiếu cố để yên quốc gia, để lành cho chúng dân. Do đó bà mo lại lên trời tâu lên rằng:

  • Vua nước Nam hiện đã biết phải lấy đức trị, để thần dân trong thiên hạ được yên ổn, xin được miễn cho điều tai ương.

Thượng Đế phán rằng:

  • Vua nước Nam đã hối lỗi, sẽ được ban phúc lại. Chỉ còn giặc là Thạch Linh Thần tướng từ phương Bắc đến xâm chiếm đất nước, thì nay có lệnh sai Thiết Xung Thần vương xuống giúp cho Vua được điều lành.

Bà mo tỉnh mộng, tâu ngay lên Vua rằng:

  • Vua nay đã biết hối lỗi, đã được Trời xét phúc. Tuy năm sau có giặc, nhưng trời cho nhân tài sinh ra để giúp nước. Vua không phải lo nghĩ nhiều!

Vua tin lời. Thời Diệp Vương, người giàu vật nhiều nên mới có sàm thần tấu lời, không tin bà mo, đùa lễ giả với trời. Thời này nước Nam không có phong tục kính lễ Trời. Vua Ân muốn xâm lăng đất nước. Vào năm Giáp Tí bỗng thấy biên giới phía Bắc có thư gửi cấp báo. Tướng giặc Ân là Thạch Linh thần tướng khởi binh từ phía Bắc tiến sang, giáo giáp kín trời, tinh kỳ rợp đất. Quả đúng như lời bà mo đã nói.

Sự tích về bà Vu nữ thời Hùng Vương đánh giặc Ân còn được nhắc tới trong một số thần tích khác, như thần tích làng Thổ Hoàng (Ân Thi, Hưng Yên), chứng thực về sự kiện người vợ vua Hùng này góp phần vào sự tan rã của triều đại Lạc Vương cuối cùng (nhà Ân Thương), thay thế bằng Thục triều Văn Lang.

Bà chúa kho công chúa Thanh Bình quản khố cho cả Lục bộ của quân đội của Thạch Linh thần tướng. Cái tên “Thạch Linh thần tướng” lại gắn với Ma Cô Tiên có một ý nghĩa đặc biệt. Thạch Linh nghĩa là linh khí của đá (ngọc). Ma Cô Tiên trong văn hóa cổ được biết là vị phúc thần mang lại tài phúc cho nhân gian. Ví như Thôi Vĩ đã được Ma Cô Tiên cho viên ngọc Long Tụy của Hoàng Đế mà trở nên giàu có. Còn ở núi Thất Diệu, sau khi An Dương Vương diệt Bạch Kê tinh đã cho đào núi, lấy được nhạc khí và xương cốt cổ. Ân hậu Ma Cô Tiên chính là vị cổ thần chưởng quản cổ khí, tài lộc từ thời Hùng Vương.

Bia chùa Ma Cô Tiên ở Châu Cầu, Bắc Ninh.

Leave a comment