
Nơi còn lưu được sự tích đầy đủ nhất về Lạc Long Quân là làng Xích Đằng, nay thuộc TP. Hưng Yên. Ngọc phả Lạc Long Quân ở đây do Hàn lâm học sĩ Nguyễn Bính thời Lê Hồng Phúc biên soạn, kể khá giống với Truyện họ Hồng Bàng trong Lĩnh Nam chích quái, rằng: Kinh Dương Vương thường dạo chơi dưới Thủy phủ, sau lấy con gái Động Đình quân Long Vương sinh ra Sùng Lãm (tức Lạc Long Quân) thay mình trị nước. Rồi: … Long Quân đã về Thủy phủ… Long Quân ở lâu tại Thủy quốc.
Thủy quốc là tên gọi khu vực nước ta được thành lập từ Kinh Dương Vương. Lạc Long Quân là vua của Thủy phủ, thông tin rất rõ ràng. Nước Xích Quỷ, đọc phiên thiết là Xủy – Thủy, là tên gọi trực tiếp của Thủy quốc thời Kinh Dương Vương – Lạc Long Quân, mà được các thần tích gọi là thời Kinh triều Lạc Thị.
Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả chép: Long Quân họ Hùng tên Lạc, húy Sùng Giác, hiệu là Hùng Hiền Vương, thống nhất cơ đồ… Hùng Hiền Vương ở ngôi 269 năm, sau về biển, hoá sinh bất diệt, làm Động Đình Đế Quân.
Về trăm người con cùng bọc trứng của Lạc Long Quân đã được chia làm 2 nhánh lên rừng và xuống biển. Khi chia tay Lạc Long Quân nói với Âu Cơ: Ta là giống rồng thuộc loài Thủy tộc, nàng là dòng Tiên trên núi… Nay ta chia ra năm mươi người con quay về Thủy phủ mà chia trị các nơi… Những người con theo cha Lạc Long Quân về Thủy phủ chính là những vị Thủy thần cai quản các nơi đầu sông góc biển.
Ngọc phả về Việt Nam Lạc Thị ở vùng Thuận Thành (Bắc Ninh): Tổ thờ ở Á Lữ. Tổ đi chu du thiên hạ, kiến xem hình thế. Một lần qua làng, thấy trước có 3 chẽ sông quanh co. Sau có 3 ngọn núi nhấp nhô đẹp đẽ. Sơn thủy hữu tình. Nhân đó dựng hành cung ở bờ sông, đặt tên là Nghi Giang cung. Chợt thấy 3 con rồng, mình dài vài trượng, lưng to mấy vòng. Trên đỉnh đầu có ấn vàng. Trong ấn nổi lên 2 chữ LẠC VƯƠNG.
Ngọc phả Lạc Long Quân chép: Lại đặt tướng văn là Lạc hầu, tướng võ là Lạc tướng; con trai vua là Quan lang, con gái vua gọi là Mỵ Nương… Các Lạc hầu, Lạc tướng do đó là tên gọi những người con đã theo cha Lạc Long Quân về biển, cai trị các vùng ở miền đất Lạc. Như vậy trong Lạc Long Quân là hình tượng của vị thủ lĩnh đứng đầu Thủy quốc, khởi đầu cho họ Lạc của các Lạc hầu, Lạc tướng ở vùng sông nước, đồng bằng ven biển.
Dưới thời Lạc Long Quân cuộc chiến tranh duy nhất được kể là cuộc chiến với Đế Lai để chiếm nàng Âu Cơ, do có truyền thuyết nói rằng Âu Cơ là ái thiếp của Đế Lai, chứ không phải con gái: … Đế Lai quay về nơi ở không thấy Âu Cơ, sai quần thần tìm kiếm khắp nơi trong thiên hạ. Long Quân có thần thuật ẩn hiện biến hóa ra muôn trạng, yêu tinh quỷ mị, rồng rắn, tê giác, voi. Những kẻ tìm đến đều sợ hãi không dám tiếp tục tìm nữa. Đế Lai đành phải quay về. Cuộc chiến này đã loại bỏ quyền lực của chính dòng Đế Minh (tức Đế Lai) mà đem đến sự lên ngôi chủ thiên hạ của Lạc Long Quân.
Sự kiện Long Quân đánh đuổi Đế Lai tranh đoạt ngôi vị chủ thiên hạ (trong hình ảnh bà Âu Cơ) còn được lưu truyền ở ngay vùng đất Thăng Long. Truyện Hồ tinh trong Lĩnh Nam chích quái kể rằng khi con cáo chín đuôi làm hại người ở Long Biên, Long Quân bèn ra lệnh cho Lục bộ thủy phủ dâng nước lên phá vỡ hang đá, làm thành một đầm nước lớn. Hồ Tây – đầm Xác Cáo là di tích của thời kỳ Lạc Long Quân mở Thủy quốc Động Đình nơi rốn rồng Long Đỗ của của dòng sông Hồng.
Trong khi đó, cái tên Sùng Lãm với họ Sùng lại gắn với hình tượng của dòng lên núi của các Sơn thần. Như đã từng trình bày, Kinh Dương Vương cũng là Tản Viên Sơn Thánh và là vua Đại Vũ trị thủy bên dòng sông Đà. Cha của Đại Vũ là Sùng bá Cổn, cũng từng đảm nhận việc trị thủy thời Nghiêu Thuấn. Thông tin về nước Sùng, một nước thời Tam Đại Trung Hoa, theo wikipedia: Tương truyền vào thời Hạ, cha của vua Vũ là Cổn được phong là Sùng Bá đã lập nên thành trì nước Sùng, sau khi Cổn bị giết thì đất ấy từ đó liên tục không có vua. Kinh Dương Vương là cha của Lạc Long Quân, nên đây chính là mối liên hệ dẫn đến việc Lạc Long Quân cũng mang họ Sùng từ Sùng bá Cổn.
Về nước Sùng, truyền thuyết chép tiếp: Nước Sùng thời Ân Thương dời đô sang chỗ khác… Quốc quân nước này trong giáp cốt văn được gọi là “Tông hầu”, người trong họ từng giữ chức khuyển quan nên gọi là “khuyển tông”… Dưới thời Đế Tân, Sùng Hầu Hổ mật báo việc Chu Văn Vương mưu đồ tạo phản với vương thất nhà Thương. Văn Vương về sau liền khởi binh diệt luôn nước Sùng, lấy đô thành của nước này dựng nên Phong Kinh.
Theo đó, nước Sùng trong thư tịch cổ là:
– Nơi Đại Vũ trị thủy, tức là kinh đô Trung Hoa thời Hạ Vũ.
– Nơi đóng đô của Sùng Hầu Hổ, Bắc Bá Hầu dưới thời Ân Trụ Vương. Tông hầu nghĩa là nước của “tổ tông” Trung Hoa, tức còn là đất gốc từ thời Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn.
– Là Phong kinh của thời Chu Văn Vương.
Thư tịch cổ cho thông tin hết sức quan trọng. Cha của Đại Vũ là Cổn, là thủ lĩnh vùng đất Sùng. Do vậy, nước Sùng của Sùng Hầu Hổ thời Ân Thương cũng chính là nơi Đại Vũ trị thủy, tức là miền Bắc Việt ngày nay. Hình ảnh Tản Viên Sơn Thánh trong truyền thuyết Việt bao gồm những sự tích của cả thời Đại Vũ trị thủy và Sùng Hầu Hổ thời Ân Thương.
Nước Sùng còn in dấu ấn trong sử Việt với tên Sùng Lãm của cha Lạc Long Quân. Còn ở Bình Đà, nơi thờ Lạc Long Quân thì có ghi chép 4 đời chúa họ Sùng có là Sùng Nghiêm, Sùng Quyền, Sùng Huề và Sùng Lãm. Lạc Long Quân được coi là người khởi đầu triều Hùng nên các chúa họ Sùng sau đó cũng thuộc về các đời Hùng Vương, mà Hùng triều kết thúc bằng sự kiện Thục Vương đánh Hùng Duệ Vương.
Sùng Công còn là một trong Tam vị Tản Viên Sơn Thánh. Vị Tả kiên thần Cao Sơn của Thánh Tản có tên là Nguyễn Sùng. Đây hẳn cũng là một vị chúa họ Sùng đã cùng Sùng Hầu Hổ chống giặc Thục. Ngọc phả về Tản Viên Sơn Thánh ở vùng Sơn Tây kể: … Vua (Hùng Duệ Vương) rất yêu mến bèn phong người em thứ hai của Sơn Thánh ông Sùng Tả Kiên Thần là Tả đô đài Đại phu, người em thứ ba ông Hiển Hữu Kiên Thần làm Hữu đô đài Đại phu. Vua tôi đức hợp, thiên hạ thái bình, vạn dân gặp được thời no đủ. Bốn biển ngưỡng cảnh tượng thái hòa. Duệ Vương vì công lao đó mà ban cho búa sắt, cùng hưởng lành với đất nước…. Phong Sơn Thánh là Nhạc phủ kiêm Thượng đẳng, tăng cấp ông Sùng làm Cao Sơn Đại vương, ông Hiển làm Quý Minh Đại vương.
Thần tích ở vùng Bắc Giang về Cao Sơn Đại vương (thần tích Lỗ Hạnh) kể rằng Cao Sơn sinh ra ở đạo Hồng Châu… Thế rồi đạo Hồng Châu chọn ông Cao Sơn đi dự tuyển. Khi nhà vua thấy ông ứng đối lưu loát, có tài văn võ, là người có năng lực tài cao. Vua bèn cho ông Cao Sơn quản quân sự, làm Đô chỉ huy sứ Tả đạo Tướng quân…. Vua nghe vậy rất vui mừng, bèn gọi ông Cao đến giao cho 5 ngàn quân, trước tiên đi tuần… Khi đó Sơn Thánh cùng với ông Cao tiến quân đến đồn giặc Thục ở xứ Sóc Sơn đạo Bắc Kinh, đánh một trận lớn… Lại ban cho ông Cao Sơn về thực ấp ở đạo Kinh Bắc. Ông bái tạ, trở về nơi trị nhậm. Khi đó đương trời mùa thu, ông ngồi ở trong doanh trại. Bỗng thấy trời đất mù mịt, mây mù nổi lên như hình dải lụa đỏ. Thấy ông Cao Sơn bay ra theo mây, tới núi Đào Động đạo Thái Nguyên thì không thấy nữa, tức là ông đã hóa.
Câu chuyện Cao Sơn đánh Thục trong sử Việt là việc Sùng Hầu Hổ chống lại Chu Văn Vương, mà kết thúc là Văn Vương chiếm được đất Sùng, lập Phong kinh ở đó. Truyền thuyết Việt kể thành Thục Vương được vua Hùng nhường ngôi liền về Phong Châu đóng đô, lập đền miếu thờ các vua Hùng. Nước Sùng – Phong Châu chính là đất gốc tổ của Trung Hoa, mà giáp cốt văn gọi là “Tông hầu”, là nơi khởi phát của dòng họ Hùng từ thời Đế Minh Hữu Hùng Hoàng Đế Hiên Viên thống trị vạn bang chư hầu thiên hạ.
Dòng họ Hùng truyền qua thời Nghiêu Thuấn, qua thời Hạ từ Đại Vũ, rồi Thương Ân, được ngọc phả Hùng Vương chép là 18 đời vua Hùng. Sùng Hầu Hổ là thủ lĩnh vùng đất tổ họ Hùng và được kể dưới tên Cao Sơn Đại vương trong cuộc chiến chống Thục Vương (Chu Văn Vương).
Đất Sùng là đất gốc tổ “Tông hầu” nơi Thái tổ Đế Minh mở nước bên dãy Thái Sơn, Đế Thuấn đi cày ở Lịch Sơn, Đại Vũ trị thủy ở Long Môn núi Tản, Lạc Long Quân dựng Thủy quốc bên đầm Xác Cáo, Sùng Hầu Cao Sơn phò giúp Duệ Vương, cũng là nơi Thục Vương Cơ Xương khởi đầu nước Văn Lang.


