1. THÔNG TIN CHUNG
Tên gọi: Chùa Đoan Minh
Tên khác: Chùa Thổ Hà
Địa chỉ cụ thể: Làng Thổ Hà, phường Vân Hà, tỉnh Bắc Ninh
Vị trí địa lý và không gian cảnh quan:
Mô tả vị trí: Nằm ở trung tâm làng Thổ Hà cổ bên bờ Bắc sông Cầu.
Yếu tố phong thủy: Nằm ở trên một thế đất đẹp hướng Nam ghé Tây, phía trước cách khoảng sân rộng là đình Thổ Hà.
Niên đại khởi dựng và các lần trùng tu:
Tương truyền chùa Thổ Hà được nhân dân làng Thổ Hà xây dựng từ lâu đời với quy mô nhỏ, ban đầu chỉ là am động. Công trình kiến trúc cổ hiện nay được khởi dựng từ trước năm 1580 thời Mạc (thế kỷ XVI). Trải qua thời gian ngôi chùa đã được tu sửa nhiều vào thời Nguyễn (thế kỷ XIX) hiện nay ngôi chùa vẫn bảo lưu được kiến trúc cổ.
2. GIÁ TRỊ LỊCH SỬ
Nhân vật được thờ:
Thờ Phật với hệ thống tượng Phật giáo Đại thừa Việt Nam. Chùa xây dựng bởi cùng Sơn môn Bổ Đà. Khu nhà tổ còn có gian mẫu, thờ Tam tòa thánh mẫu và công đồng.
Sự kiện lịch sử, văn hóa gắn liền với di tích:
Bia Cung sao sự tích thánh ở đình Thổ Hà chép: Đời vua Thục An Dương Vương có một người từ Bắc quốc đến đạo Kinh Bắc, phủ Bắc Hà, huyện An Việt và ở nhờ chùa Đoan Minh Tự của trang Thổ Hà. Ngày đêm giảng kinh đọc sách, có sức màu nhiệm như thần, trong trang có nhiều con em theo học. Một hôm Người bảo học trò rằng:
- Ta sinh ra từ thủa Hồng Mông, cho nên ta thông minh khác thường. Mẹ ta vốn là người từ bi, huyền diệu mà sinh ra, tên là Mỹ Thổ Hoàng. Có một đêm mẹ ta nằm mơ thấy nuốt một vì sao ngưu tinh, thế là mẹ có thai đủ 81 năm. Đến ngày 7 tháng giêng năm Canh Thìn nách tay phải của mẹ rung động rồi sinh ra ta. Khi ta mới ra đời đầu đã bạc, chân có chữ, ta không có bố, khi đẻ mẹ vịn vào cây mận cho nên lấy họ ta là Lý, tên là Lão Đam, tên chữ Lý Bá Dương, lại có tên là Thái Thượng.
Lúc bấy giờ có giặc Xích Tỵ, Lão Tử vâng mệnh vua đi trừ quỷ dữ. Người đọc thần chú rồi dùng gậy trúc lấy hương phù thư lên phóng đi 4 phương, yêu quái đều hết, dân trang làm ăn yên ổn. Nhà vua ban thưởng cho thực ấp ở huyện An Việt. Sau được vua phong làm Thượng đẳng thần, phong cho mẹ ngài là Đoan Từ chi nhân.
Sau này Ngài lại giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa, được nhà vua phong là Đương cảnh Thành hoàng Thái Thượng Bản giác Linh phù và phong cho mẹ ngài là Đoan Ý Trinh thục Nhu hòa Huệ ân Diệu mỹ Thổ Hoàng Thái hậu.
3. KIẾN TRÚC VÀ NGHỆ THUẬT
Bố cục mặt bằng tổng thể và các hạng mục chính:
Mô tả bố cục: Kiến trúc của chùa theo kiểu “Nội công ngoại quốc” có quy mô lớn, gồm: tam quan, sân chùa, toà tiền đường, tòa thượng điện, 2 dãy hành lang, tòa Phật động và nhà tổ. Qua sân sau rộng là khu nhà tổ.
Mô tả từng hạng mục: Nền tiền đường cao, có 3 bậc bó bằng đá tảng xanh. Toà tiền đường 7 gian 2 chái, thượng điện 5 gian, toà giữa Phật động 5 gian 2 chái, 2 dãy hành lang mỗi dãy 10 gian. Khu đất Tổ có 9 gian. Trong chùa kết cấu vì kèo theo kiểu chồng rường đấu kê, độc trụ truyền thống. Các cấu kiện kiến trúc bằng gỗ lim. Tường bao được xây bằng gạch chỉ, ngoài phủ vữa, quét vôi trắng.
Nghệ thuật trang trí, điêu khắc:
Kiến trúc: Tòa tiền tế mặt ngoài kiến trúc với mái đao, bậc thềm đá cổ. Bên thềm còn giữ được một số rồng bậc thêm cổ thời Mạc còn nguyên vẹn. Bờ nóc chính giữa đắp nổi bức đại tự chữ Hán: “Đoan Minh tự”. Hiện chùa xây thêm tam quan mới bên ngoài.
Phía trước tòa tiền đường chùa Thổ Hà là đôi rồng đá uốn khúc (rồng yên ngựa) đặt trên bệ cao, có dòng chữ đề mua năm Giáp Thân, được xác định là năm 1580 thời Mạc Mục Tông. Và một đôi nghê đá xanh thời Lê Trung hưng (thế kỷ XVII). Đây là những hiện vật cổ có giá trị lớn về mặt nghệ thuật và khoa học.
Chạm khắc gỗ: Hệ thống đầu bẩy chùa Đoan Minh có chạm khắc thờ Hậu Lê kỹ lưỡng. Bên trong chùa đa phần để trơn và trang trí hoành phi, tranh khắc sơn.
4. GIÁ TRỊ HIỆN VẬT
Bài trí thờ tự:
Hệ thống tượng cổ:
Hiện nay chùa Thổ Hà còn bảo lưu được khá nhiều hiện vật hệ thống tượng Phật cổ, khoảng gần 50 pho tượng. Hệ thống tượng chính nằm ở tòa thượng điện và tiền đường.
Thượng điện có nhiều tượng cổ giá trị được bày theo lớp là tượng Quan Âm Chuẩn Đề, Phật Di Lặc, Phật A Di Đà, tượng Thích Ca sơ sinh. Trong cùng là tượng Phật Thích Ca kích thước lớn, phía trên là bộ Tam Thế Phật. Hai bên thượng điện là tượng Thập điện Diêm vương, Quan Thế Âm Bồ tát, Đại Thế Chí Bồ tát…
Phía trước thượng điện có hoành phi: Quỳnh khuyết châu cung. Nghĩa là: Cửa quỳnh cung ngọc
Bộ cửa võng chạm rồng phượng, hoa lá có hoành phi: Long hoa hội. Nghĩa là: Hội rồng hoa.
Và đôi câu đối:
Phi nẵng phi kim, thiên địa tương chung thuỷ
Bất thường bất trú, phật pháp nhất tính tâm.
Nghĩa là:
Không xưa không nay, cùng trước sau với trời đất
Không đi không ở, một tính lòng theo phép phật.
Tiền tế bố trí hai tượng Hộ pháp lớn và Bát bộ kim cương, tượng Văn Thù và Phổ Hiền cùng khá nhiều tượng hậu cổ. Hoành phi phía trên tượng Hộ pháp:
Bất nộ nhi uy. Nghĩa là: Không dữ mà có oai
Lập ư vô quá. Nghĩa là: Giữ ở ngưỡng không quá.
Câu đối ở giữa tiền tế:
Tứ cố phong quang, tuệ nhật từ vân tự tại
Nhất thiên cảnh thắng, danh lam cổ tự trường lưu.
Nghĩa là:
Bốn phía phong quang, ngày tuệ mây từ tự tại
Một trời thắng cảnh, danh lam chùa cổ mãi còn.
Hai bên hành lang bố trí 18 vị La Hán, phía cuối là ban Thánh hiền và Thánh tăng. Hoành phi ban Thánh tăng: Tú khí chung linh. Nghĩa là: Khí đẹp đúc thiêng. Hoành phi ban Thánh hiền (Đức chúa ông): Âm dương hợp đức. Nghĩa là; Đức âm dương hòa hợp.
Nằm sau chùa chính là tòa Phật động được thể hiện với rất nhiều tượng nhỏ và hai ban Đế Thích và Phạm Thiên. Phật động thể hiện sự tích Phật Thích Ca từ lúc sơ sinh, đi tu đến lúc đắc đạo. Phía trên Phật động là bức hoành phi lớn sơn nâu thếp vàng đề: Đoan Minh tự, với niên hiệu Khải Định năm Tân Dậu (1921)
Câu đối hai bên Phật động:
Chí đạo cực chí đạo tinh, minh mặc tự tồn chân chủ tể
Thiên hạ khê thiên hạ cốc, thâm vi trực thám đại nguyên đầu.
Nghĩa là:
Đạt đến mức tinh cực của đạo, lặng lẽ tự tại thực chúa tể
Khắp chốn hang ngõ trong thiên hạ, thâm diệu thẳng truy lớn đầu nguồn.
Trong nhà tổ cũng có ban thờ phật, thờ mẫu và ban thờ tổ với nhiều tượng cổ có giá trị nghệ thuật. Ở chính giữa gian nhà tổ, là nơi thờ Phật có bức cửa võng sơn son thếp vàng, chạm khắc rồng chầu, rồng phượng, tùng trúc và hoành phi: Liên trì hải hội. Nghĩa là: Hội biển ao sen. Phía trên là một bức cuốn thư sơn son thếp vàng, chạm hình hoa cúc hóa long.
Câu đối gian giữa:
Phạm vũ ngộ huyền cơ, nhất nhi nhị nhị nhi nhất
Thiền sư vô biệt ngữ, tâm tức phật phật tức tâm.
Nghĩa là:
Mái Phạn ngộ huyền cơ, một mà hai, hai mà một
Thiền sư không nói khác, tâm là phật, phật là tâm.
Gian thờ mẫu gồm Tam tòa Thánh mẫu và các hàng chầu, các quan hoàng… Phía trước gian có câu đối:
Thiên địa sơn hà, dục tú chung anh lưu chính khí
Thần tiên phật thánh, trừ tai giáng phúc lẫm linh thanh.
Nghĩa là:
Trời đất núi sông, nuôi đẹp đúc anh lưu chính khí
Thần tiên phật thánh, trừ tai giáng phúc tỏ linh thiêng.
Đồ thờ tự cổ:
Ngoài hệ thống tượng phật, mẫu, tổ, còn nhiều bát hương gốm Thổ Hà cổ, các bức chạm trang trí được sơn son thếp vàng hình hoa lá, chim thú (ở khu nhà thờ tổ) hay tứ linh (khu Thánh hiền và Thánh tăng), hoa lá và chữ Phạn hay chữ tượng hình (ở thượng điện).
Di sản Hán Nôm quan trọng:
Trong chùa Thổ Hà ngoài những câu đối và hoành phi đã giới thiệu ở trên còn nhiều câu đối và hoành phi khác, đều là cổ, được sơn son thếp vàng, chạm khắc tinh xảo, nội dung sâu sắc, phong phú. Ví dụ, câu đối ở tiền tế:
Bái thủ nhiệt Chiên đàn, thành cách dao khung tam giới phủ
Tín tâm trì Phật hiệu, danh tiêu tịnh vực cửu liên trì.
Nghĩa là:
Chắp tay thắp Chiên đàn, lòng thành tới khắp phủ ba giới
Lòng tin giữ tên Phật, danh tỏ chốn tịnh hồ chín sen.
Câu đối ở thượng điện:
Cửu phẩm liên đài, kim tương đoan nghiêm thuỳ tiếp dẫn
Thất trùng bảo thụ, ngọc hào xán lạn phóng quang minh.
Nghĩa là:
Đài sen chín tòa, tướng vàng đoan nghiêm trùm dẫn tiếp
Cây báu bảy tầng, ánh ngọc rực rỡ phóng hào quang.
Câu đối khác ở thượng điện:
Nhiễu phật tòa, lễ phật biên, tâm phật tâm nhân vô nhị niệm
Xuy pháp loa, kích pháp cổ, nhiên pháp cự tăng hữu lục hoà.
Nghĩa là:
Quanh tòa Phật, lễ bên Phật, tâm Phật lòng người không hai ý
Thổi loa pháp, đánh trống pháp, lửa pháp đuốc tăng có sáu hòa.
Câu đối ở nhà thờ tổ:
Tứ đại huyền không, dương khánh âm siêu vô hạn lạc
Quần sinh giác ngộ, dân khang vật phụ hữu dư xuân.
Nghĩa là:
Bốn đại huyền không, dương vui âm độ mừng vô hạn
Chúng sinh giác ngộ, dân khỏe vật mạnh xuân có dư.
Hệ thống bia đá chùa Đoan Minh còn 12 tấm. Đáng chú ý nhất là tấm bia “Thủy tạo đại thạch bi. Các chung tam quan Đoan Minh tự bi” dựng vào năm Vĩnh Trị thứ 4 (1679). Nội dung bia về việc xây dựng gác chuông và tam quan của chùa. Đây là tấm bia bốn mặt, kích thước lớn, chạm khắc hoa sen, nghê thú, được dựng ở trước sân chùa.
Ở khu Phật động có tấm bia “Tam bảo thị độ bi” tạo năm Thịnh Đức thứ 1 (1653) là bia cổ nhất của chùa nói về việc lập Tam bảo ở bến chợ. Cạnh đó có cây hương 4 mặt tạo năm Vĩnh Thịnh thứ 6 (1710) ghi danh người góp tiền xây dựng và tu sửa chùa.
Ở nhà tổ có một số bia đá sau:
“Lập thạch bi ký” tạo năm Tự Đức thứ 9 (1856) về việc gửi giỗ cho song thân của ông Trịnh Đắc Tỉnh và bà Nguyễn Thị Nhuận.
“Tự Đức bát niên” tạo năm 1855 về việc gửi Hậu.
“Hậu Phật bi ký” tạo năm Tự Đức thứ 8 (1855) về việc lập Hậu.
“Hậu Phật bi ký” tạo năm Tự Đức thứ 9 (1856) ) về việc lập Hậu.
“Hậu Phật bi kỵ” tạo năm Tự Đức thứ 10 (1857) ) về việc gửi giỗ.
Ngoài ra trong nhà tổ còn mấy tấm bia tiêu đề “Ký công thạch bi” và “Hậu Phật bi ký”….
Trong cơ sở thác bản bia từ thời Pháp còn có thác bản các tấm bia sau của chùa Đoan Minh:
“Đoan Minh tự tạo Bổ Đà bi ký” tạo năm Đức Long thứ 5 (1633) về việc quyên góp tạo núi Bổ Đà ở chùa Đoan Minh. Bia ghi danh sách những người tham gia đóng góp.
“Đoan Minh tự tạo thạch lô bia ký” tạo năm Thịnh Đức thứ 1 (1653) về việc tu sửa chùa Đoan Minh. Năm Mậu Tý (1648) xây tường liễu, gồm 56 bức, trùng tu gác chuông, dựng cầu ở chợ gồm 12 gian. Năm Kỷ Sửu (1649) mua đá lát đường vào chùa Đoan Minh. Đến nay dựng bia ghi tên những người đã đóng góp công đức.
Hiện trong gian nhà mẫu của chùa có 1 chuông đồng cổ cỡ nhỏ, tiêu đề Cung phụng phật thánh, niên đại Cảnh Thịnh thứ 7 (1799).
5. LỄ HỘI VÀ PHONG TỤC VĂN HÓA
Lễ hội chính:
Lễ hội làng Thổ Hà là lễ hội chung cho đình và chùa Thổ Hà nhằm tôn vinh Thành hoàng làng Lão Tử và thánh mẫu Thổ Hoàng Phu nhân, mẹ của ngài. Đây là một lễ hội đặc sắc, đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia vào năm 2012. Hội lệ chính của chùa được tổ chức trong các ngày 20, 21, 22 tháng Giêng âm lịch, ngoài nghi lễ dâng hương cúng Phật còn có các trò chơi dân gian như đấu vật, chọi gà, đánh cờ tướng, bơi chải bắt vịt, hát quan họ…
6. KẾT LUẬN
Văn bản công nhận di tích: Chùa Thổ Hà được xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia, theo Quyết định số 226-QĐ/BT, ngày 05/02/1994 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa thông tin.
Ngày 11/02/2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Mai Văn Chính đã ký Quyết định số 266/QĐ-TTg xếp hạng Quần thể Di tích kiến trúc nghệ thuật đình, chùa, từ chỉ Thổ Hà, phường Vân Hà, tỉnh Bắc Ninh là Di tích quốc gia đặc biệt.

Chùa Đoan Minh.


Rồng và nghê đá trước cửa chùa

Bia tứ diện niên hiệu Vĩnh Trị thứ 4 (1679) trong sân chùa Đoan Minh.

Thượng điện chùa Đoan Minh.

Tượng Bát bộ Kim cương.

Hoành phi Đoan Minh tự và Phật động.

Bia Tam bảo thị độ bi niên hiệu Thịnh Đức thứ 1 (1653)

Nhà tổ chùa Đoan Minh.

Chính gian thờ Phật ở nhà tổ chùa Đoan Minh.

Gian thờ mẫu chùa Đoan Minh.

Chuông đồng thời Cảnh Thịnh thứ 7 (1799).

Bia Hậu Phật chùa Đoan Minh.