Con ngựa trong không gian văn hóa tín ngưỡng Việt

Bài đăng trên Tạp chí Năng lượng mới, số Xuân 2026

Mặc dù ngựa không phải là loài động vật bản địa trong tự nhiên ở Việt Nam nhưng trong văn hóa tín ngưỡng người Việt con ngựa có một vai trò đặc biệt, rất hay gặp và đa dạng về hình thức. Hình tượng ngựa có thể là thần Bạch Mã của kinh thành Thăng Long, thần thú Long mã, ngựa chiến của Thánh Gióng đánh giặc Ân, ngựa trong các di tích đình, đền, chùa đến ngựa trên các bức chạm gỗ, đá sinh động, ngựa trong tranh thờ của người Dao. Ngựa còn là biểu tượng của quẻ Khôn trong Kinh Dịch về sự tòng thuận, khôn ngoan đem đến sự bền vững, lâu dài cho đời sống con người.

Con giáp Ngọ – Ngựa

Trong 12 con giáp thì Ngọ là giờ giữa trưa, là thời điểm mặt trời lên cao nhất trong ngày. Ngọ còn có hàm ý là chỉ phương Nam về không gian và là tháng Năm trong Âm lịch. Ngọ gần âm với Ngũ, là con số 5 ở trung tâm của Hà thư và Lạc đồ. Ngọ cận âm với “ngự”, từ dùng cho vị trí của vua. Do đó, trong dân gian Ngọ cũng có nghĩa là thủ lĩnh, là Vua. Ví dụ như ở làng Hạ Mạo (Lâm Thao, Phú Thọ) thờ vị thần tên là Út Ngọ Lôi Mao với sự tích là chàng Út trong số 5 người anh em họ Lê đã lên ngôi Hậu Hùng Vương thời kỳ nước Nam Việt.

Thần Bạch Mã Long Đỗ

Đền Bạch Mã là ngôi đền trấn Đông trong Tứ trấn của thành Thăng Long. Đền thờ thần Chính Khí Long Đỗ và Quảng Lợi Bạch Mã Đại vương. Thần Long Đỗ là thành hoàng của thành Thăng Long, hiển linh dưới thời Cao Biền. Còn thần Bạch Mã là khi Lý Thái Tổ xây thành Thăng Long, thần đã hiện hình một con ngựa trắng đi quanh khu vực xây thành. Nhà vua đã xây theo vết chân ngựa đó, thành xây đến đâu chắc chắn đến đó. Long Đỗ hay Bạch Mã đều là cùng một vị thần, gọi theo sự tích hiển linh ở các thời khác nhau.

Thần Long Đỗ Bạch Mã nguyên gốc là Thủy phủ Phù Tang Cam Lâm Đại đế trong Đạo giáo, hay Động Đình Đế Quân, là vị thần cai quản phương Đông và Thủy phủ. Động Đình Đế Quân là cha của Động Đình Long Nữ, là ông ngoại của Lạc Long Quân trong truyền thuyết Họ Hồng Bàng của người Việt.

Rải rác ở các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Thanh Hóa thần được thờ là thành hoàng các làng dưới tên Quảng Lợi Bạch Mã hay Bạch Mã Lôi Công. Sự tích thần Bạch Mã ở đây được thể hiện dưới dạng một vị Thiên thần, khi xuất hiện thì trời nổi mưa gió, làm sấm sét, giúp nước an dân, dẹp giặc ngoại xâm.

Ở miền Nam từ Đà Nẵng trở vào có thần Bạch Mã Thái Giám, được thờ như một vị thượng đẳng thần cai quản các vùng đất. Nhiều nơi có sắc phong cổ cho vị thần này. Thái Giám nghĩa là người đứng đầu cai quản, giám sát mọi sự, thể hiện cấp bậc rất cao của vị thần này. Xét về sự tương đồng thì thần Bạch Mã Thái Giám cũng là thần Long Đỗ hay Động Đình Đế Quân.

Linh thú Long mã 

Vào thời thượng cổ vua Phục Hy thấy một con Long mã, đầu rồng, mình ngựa, xuất hiện trên sông. Trên lưng Long mã chở một đồ hình gồm có 10 đường nét, 50 chấm, gọi là Hà đồ. Nhà vua quan sát các chấm nầy, kết hợp với các hiện tượng thiên nhiên trong trời đất mà nghĩ ra cách tượng trưng Âm Dương, vẽ ra Bát Quái đồ. Hà nghĩa là Trời. Hà đồ là cuốn Sách trời, tượng trưng cho nền minh triết (Dịch học) sơ khởi của phương Đông. 

Hình tượng Long mã Hà đồ thường được đắp, vẽ trên các bức bình phong ở các đình, đền, nhất là từ vùng miền Trung trở vào phía Nam. Các phủ, điện ở cố đô Huế đặc biệt hay sử dụng hình Long mã Hà đồ đắp bằng cách ghép các mảnh gốm sứ màu. Long mã Hà đồ là biểu tượng cho khởi đầu của không gian tâm linh nên được đặt ở mặt trước của các tấm bình phong trên đường thần đạo của các di tích tín ngưỡng.

Ở một số di tích cổ, như ở đền Thượng Sóc Sơn (Hà Nội), có tượng Long mã được đắp ở trước đền, dạng như linh vật chầu trước di tích. Có nơi Long mã còn được làm bằng gỗ, có bánh xe để rước, thay cho ngựa, nhất là khi đối tượng thờ là những vị Thiên thần. Việc này xuất phát từ quan niệm Long mã là thú cưỡi của các vị thần tiên trên trời.

Về hình tượng ngựa thần còn có cặp Hỏa mã, Ngọc lân là thần thú của 2 vị Nhật Quang Thiên Tử và Nguyệt Quang Thiên Tử trong sự tích về Đế Thích như ở đền Xá (Ân Thi, Hưng Yên). Đây là hình ảnh của Mặt trời và Mặt trăng nhưng thể hiện từ góc nhìn của Ấn Độ giáo.

Ngựa chiến

Nói tới ngựa chiến không ai không nhớ ngay đến con Ngựa sắt phun lửa đã cùng Phù Đổng Thiên Vương diệt giặc Ân. Tương truyền khắp các vùng từ Sóc Sơn đến núi Châu Sơn rải rác có các dấu chân ngựa Gióng in trên các phiến đá lớn hay sụt lún thành ao hồ. Ở chân núi Sóc Sơn có đền Hạ Mã (xã Phù Linh), là nơi Thánh Gióng từng dừng ngựa, để lại yên cương và ngọc duẩn trước khi về trời. Nơi đây còn có cột đá buộc ngựa của Thánh. Phù Linh là làng tiến lễ Ngựa mã trong lễ hội đền Sóc Sơn vào ngày mùng 6 tháng Giêng hàng năm, là ngày Thánh Gióng bay về trời.

Một lễ hội khác cũng có ngựa mã là lễ hội Y Sơn (Hiệp Hòa, Thái Nguyên) thờ đức thánh Hùng Linh Công cũng đánh giặc Ân. Trong lễ hội, 5 giáp ở Y Sơn làm 5 cỗ voi và 10 cỗ ngựa hồng ngựa bạch bằng tre ngâm, dán giấy màu sặc sỡ, tập hợp thành đoàn quân voi, ngựa có quản, tướng (do nam và nữ thiếu niên đóng) ngồi ở trên. Đội tượng binh mã binh này là quân đội chính của đức Hùng Linh Công ra trận diệt giặc.

Hình tượng ngựa do các chiến tướng cưỡi xung trận hay gặp trong các bức tranh đắp nề ở các ngôi đền hay chạm gỗ ở đình làng. Một hình tượng ngựa chiến nữa gặp trong lễ hội dân gian đó là hình quân Mã trong trò đánh cờ người, được chơi diễn khá phổ biến ở nhiều lễ hội miền Bắc. Đánh cờ tướng vốn lấy theo cốt truyện Hán – Sở tranh hùng, được thể hiện trong các lễ hội nhằm ca ngợi, tái hiện lại chiến công của các vị thần thành hoàng là các vị tướng võ, vị vua dựng nước được thờ ở đây.

Ngựa rước

Ngựa là loài vật nhanh nhẹn, mạnh mẽ, bền bỉ, dẻo dai, dùng làm vật cưỡi rất quý thời xưa, chỉ những người có điều kiện và có chức tước mới cưỡi ngựa. Trong không gian thờ cúng, đối với các vị quan tướng thường có cặp Ngựa hồng Ngựa bạch làm bằng gỗ có bánh xe, trang trí đầy đủ yên cương, thêu hình chim phượng, rồng mây, đặt trong nội điện để thờ. Uy nghiêm hơn nữa trong việc thờ các vị thánh vương như Sĩ Nhiếp hay Lão Tử thì còn có tượng quan hầu dắt ngựa đi kèm. Vào ngày lễ hội, cặp ngựa hồng bạch này được kéo ra ngoài sân, bày phía trước các kiệu thờ và nếu hội có đám rước thì ngựa cũng được rước đi đầu. Ngựa trong trường hợp này thể hiện sự tôn vinh chính khí, uy linh của vị thần được thờ.

Đôi khi ngoài ngựa hồng và ngựa bạch còn gặp cả Ngựa đen, như trường hợp ở đình làng Hoài Thượng ở Thuận Thành (Bắc Ninh). Điều này liên quan đến vị thần được thờ là Bắc phương Hắc đế, vị thần phương Bắc, lấy màu đen làm biểu tượng.

Ngựa chầu

Ở nghi môn các đền thờ, miếu, đôi khi cả ở đình làng, thường có đắp nề nổi hay vẽ hình ngựa chầu. Thường gặp nhất là một bên Voi, một bên Ngựa, hoặc là một bên ngựa bạch, một bên ngựa hồng. Có thể có người quản mã kèm theo. Trong nội điện các di tích thờ trước gian hậu cung hai bên cũng có thể đắp hoặc vẽ ngựa chầu tương tự.

Những di tích lớn có thể dùng ngựa đá để chầu bên ngoài, đứng riêng rẽ hay trong lầu gác, hay có tượng quản mã dắt ngựa đi cùng. Đặc biệt hay thấy có ngựa đá đứng hoặc nằm ở các lăng tẩm như lăng, đền thờ các vị vua Trần, gắn với câu thơ bất hủ của Thượng hoàng Trần Nhân Tông: Xã tắc hai phen bon ngựa đá. Ngựa đá, Voi đá, Quan hầu cũng là những tượng được đặt thành hàng đứng chầu trước lăng các vị vua nhà Nguyễn ở Huế. Ngựa chầu thể hiện sự trang nghiêm, uy quyền của người được thờ trong di tích.

Ở miền Nam ngựa chầu ở các đình đền lại mang một sắc thái khác. Hay gặp ở đây là tượng ngựa ô, ngựa bạch, được đặt phía trước di tích, theo hình dạng đang đi, vươn cổ, bước chân, hơn là đứng trang nghiêm như ngựa chầu ở miền Bắc. Hình tượng ngựa Nam bộ mang tính chất công việc làng xã trong các lễ cầu phúc, kỳ yên, cầu mùa, hơn là ý nghĩa tôn vinh sự uy nghi của các vị thần được thờ như ở miền Bắc.

Ngựa của trong Đạo giáo Tam phủ

Trên các bức tranh thờ của người Dao theo lối Đạo giáo thường thể hiện các vị quan cưỡi ngựa. Điển hình là bức Thái úy trong bộ 3 bức tranh Hành sư (Tổng đàn). Tranh này thể hiện một vị thần với khuôn mặt hiền từ, cầm kiếm cưỡi ngựa với các vị quan hầu cũng cưỡi ngựa. Tranh thờ khác là tranh Tam Nguyên Quan vẽ 3 vị Thiên Quan, Địa Quan, Thủy Quan đều ở trạng thái cưỡi ngựa. Còn trong tranh Tứ trực Công tào thì vị công tào của Dương gian là vị cưỡi ngựa. Con ngựa như vậy là biểu hiện cho Dương gian, là một trong Tứ phủ theo quan niệm của người Dao.

Trên những bức tranh độ linh của các tộc người theo Đạo giáo như người Dao, người Cao Lan, người Tày, có vẽ các vị quan cưỡi ngựa trên dọc đường của linh hồn đi lên trời. Hình ảnh ngựa kéo xe còn gặp trên loại gương đồng “thần nhân xa mã đồ tượng” của thời Hán, mà trong đó xe ngựa như một phương tiện cho linh hồn đi trên con đường về với thế giới thần tiên (về Trời – Thiên phủ).

Nếu ở Dương gian có ngựa cưỡi của các vị quan, trên đường lên Trời (Thiên phủ) có xe ngựa, thì ở dưới Địa phủ có quỷ Mã diện (mặt ngựa), cùng với quỷ Ngưu đầu (đầu trâu), làm sai nha cho Diêm vương. Ngưu đầu Mã diện thường gặp ở trong tranh thờ hay trên mũ thầy cúng người Dao. Còn ở miền xuôi, như vùng Sơn Tây (Hà Nội) hay gặp những di tích thờ Tam phủ cổ có đặt tượng Ngưu đầu Mã diện, là hình thức tín ngưỡng khá tương đồng với Đạo giáo của người Dao.

Ngựa trong chùa

Trong chùa thờ Phật đôi khi có đặt tượng Mã đầu Quan Âm, thể hiện Quan Âm Bồ Tát ngồi trên đỉnh núi, gương mặt hiền hậu và ôm một con ngựa trắng, với ý nghĩa cứu độ, khuyến khích sự chuyên cần, bền bỉ, kiên trì trong tu và hành pháp.

Việc dùng hình ảnh ngựa trong các cảnh trang trí hay thấy ở chùa hơn là ở đình đền. Điển hình là cảnh đàn ngựa vui đùa hoặc ngựa đang vờn chơi với hươu nai rất sinh động, được chạm nổi trên lan can đá, tháp đá của chùa Bút Tháp (Thuận Thành, Bắc Ninh). 

Hình ngựa phi hay ngựa rước có lọng che còn thấy trong các bức tranh đồ thế, hay được khắc lên gỗ thành mộc bản để in làm giấy mã, dùng trong các nghi lễ cúng ở chùa.

Ngựa trong Kinh DịchCặp quẻ Càn – Khôn là 2 quẻ chính, bao trùm cả 64 quẻ của Kinh Dịch. Quẻ Càn có tượng là Trời, là nền Minh triết. Quẻ Khôn là Đất, là nền Khoa học. Lời quái của quẻ Càn là “Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh”. Còn lời quái của quẻ Khôn là “Nguyên, Hanh, Lợi, tẫn mã chi Trinh”, chỉ khác nhau ở chữ “tẫn mã”. Tẫn mã là ngựa cái, do quẻ Khôn có tượng là đàn bà. Người xưa dùng 2 con vật làm biểu tượng trong Kinh Dịch. Rồng bay trên trời dùng trong quẻ Càn, Ngựa đi dưới đất dùng trong quẻ Khôn. Ngựa đi là theo người điều khiển, ở đây ý muốn nói đến sự thuận tòng. “Tẫn mã chi Trinh” nghĩa là nền Khoa học phải theo sự định hướng hay được dẫn dắt bởi nền Minh triết thì sự nghiệp khoa học mới bền lâu. Hay nói đơn giản hơn, hành động lý trí của con người (Khôn) phải tuân theo sự chỉ dẫn của tư tưởng đúng đắn (Càn) thì mới được lâu dài.

Leave a comment