
Ngọc phả cổ chép về Thuộc đạo Bán thiên Đại vương.
Bộ Trung.
Xưa nước Việt trời Nam mở vận, thánh tổ dựng nền, xem xét hình thế núi sông, châu Hoan đất tốt xây dựng kinh thành, núi Lĩnh dáng mạnh tu sửa cung điện. Đời đời đều truyền hiệu là Hùng Vương. Truyền tới thời Hùng Huy Vương ở động Yên Phong châu Từ Sơn đạo Kinh Bắc có một gia đình họ Trịnh tên Thiều, lấy vợ cùng quê họ Đinh tên Vượng. Gia thế vốn giàu có. Vợ chồng đều trung hậu. Tuổi đã ngoài bốn mươi mà vẫn chưa sinh nở được con cái. Do đó dốc sức làm điều nhân nghĩa, phân phát gia tài, giúp người cùng khổ đói nghèo, trong nhà thờ Phật, đêm ngày đốt hương tụng kinh giải nạn. Thường cầu chúc rằng:
- Thần ở trên đời có phúc mà được phú quý, nhưng tiếc là không có con cái. Dám xin được đấng từ bi quảng đại soi xét cho tấm lòng này, xin đội vạn ơn đức lớn của thần minh trời đất.
Khấn xong, khi đó đang cuối mùa xuân, trăng trong trời xanh. Bà Đinh nằm thiếp đi, bỗng mộng thấy đi đến một nơi nhà nguy nga, cửa san sát, quần áo khắp chốn. Ở một góc trong gian nhà có bày các đồ sách vở, giấy bút, kiếm ấn, áo mũ, vải vóc, đồ đồng, cùng các đồ vật các nghề khác nhau. Có hơn mười đưa trẻ nam nữ cùng đứng với các đồ vật này. Bên trên có một ông lão đầu bạc ngồi, ung dung uy nghiêm, tuyên gọi bà tiến vào, phán rằng:
- Nhà ngươi có âm đức, ta sẽ cho một đứa trẻ, lập thân nổi danh để làm rạng rỡ cha mẹ về sau. Các đồ trong gian nhà này nhà người muốn lấy thứ nào thì tùy theo ý thích.
Bà Đinh vui vẻ bèn lấy một đứa trẻ tay cầm một kiếm và một ấn, bái tạ đi ra. Khi đó tỉnh giấc mộng thần, từ đó cảm động có mang. Mang thai 13 tháng đến ngày 20 tháng Giêng giờ Dần sinh hạ một người con trai, phong tư đẹp đẽ, khí chất hiên ngang, cao lớn hơn người thường rất nhiều. Được trăm ngày sau cha mẹ vui mừng, nhân tích mộng thiên thần nên đặt tên là Thiên Tích. Tuổi lên tám thì đi học với Hoa Đường Tiên sinh. Học được vài năm thì văn chương thông hiểu, chí khí siêu quần, võ lược tinh thần, tài năng vượt trội. Tiên sinh bình thường nói rằng:
- Hiếm có gia đình nào có phúc như vậy, sinh được một người con trai tốt. Ngày sau văn võ kiêm toàn, tất là người con làm rạng rỡ gia đình.
Lại nói, khi ông lên 20 tuổi thì cha mẹ đều qua đời. Ông làm lễ chôn cất, hương lửa trong nhà phụng thờ ba năm. Thường hay than rằng:
- Than ôi! Bãi bể nương dâu thay đổi. Cha mẹ của ta làm việc nhân đức, sinh ra ta vất vả. Nay lại chưa báo đáp được chút nào. Ngày sau dẫu có nghìn vàng vạn bạc cũng không thể gặp được để báo đáp nữa.
Thế rồi, may mắn có kỳ tuyển quan. Huy Vương thấy ông là kỳ nhân, hình oai lẫm liệt, tướng mạo đường đường. Ngay hôm đó bái làm Đô úy. Vua tôi tương hợp dù trước chưa từng gặp. Thời Huy Vương trị vì đã lâu, nảy sinh ra tính kiêu căng, làm các tiết lễ qua loa. Trời giáng tai họa vì vua thiếu đức. Vua mới biết đạo trời báo ứng trước mắt, bèn sai quan thiết lập một đàn tràng ở trong kinh thành, lấy voi ngựa, vàng bạc cùng các đồ vật bày lễ nghi mà cúng. Vua thân đến tế chú rằng:
- Kẻ hèn này đã biết việc thiếu lễ với Hoàng thiên. Việc ở ngay trước mắt, rõ ràng không sai. Phục xin Thượng đế chuyển tai họa thành điềm lành. Nếu được may mắn thì kẻ hèn này xin tạ đức của Hồng quân.
Chúc xong bỗng thấy mây gió nổi lên, màu trời âm u, trên đàn hương lửa, khí lành cùng mây tỏa sắc. Vua bàng hoàng sợ hãi, bái tạ, trở xa giá về cung. Ba năm sau bỗng nghe thư từ biên cương báo gấp. Thạch Linh Thần tướng của giặc Ân khởi binh đạo Bắc đến xâm chiếm. Giáo mác đầy trời, cờ xí rợp đất. Vua bèn trai giới đến cầu ở đàn, đốt hương cầu đảo, tụ tập quần thần. Ba ngày sau gió lớn sấm rền. Bỗng thấy một ông lão cao hơn 9 thước, râu tóc bạc trắng ở trên đường trước đàn mà cười nói nhảy múa. Mọi người đều thấy, cho là người kỳ lạ, tâu lên Vua. Vua thân ra đón vào trong đàn mà hỏi rằng:
- Nay giặc phương Bắc đến xâm chiếm. Thắng thu như thế nào, xin được chỉ giáo.
Ông lão ngần ngừ hồi lâu, lấy tay bốc một quẻ rồi nói với Vua rằng:
- Nếu cầu được người thì giặc này trong chốc lát có thể dẹp yên.
Dứt lời thì bay lên không đi mất. Vua mới biết đó là Lạc Long Quân hiện ra chỉ giáo. Thế rồi Vua sai đi khắp thiên hạ tìm người. Đến làng Phù Đổng quận Vũ Ninh có một gia đình giàu có sinh được một người con trai, đã hơn 3 tuổi mà chỉ ăn uống lớn lên mà không biết nói cười. Bà mẹ nghe sứ giả đến thì nói rằng:
- Con ta chỉ biết ăn uống, không biết đánh giặc để đảm nhận tước cao của triều đình, báo đáp ân sâu dưỡng dục.
Đứa trẻ nghe mẹ nói vậy bỗng lên tiếng rằng:
- Mẹ gọi sứ giả lại đây.
Đứa trẻ lại nói với sứ giả rằng:
- Hãy mau trở về nói với Vua xin cho được một con ngựa sắt cao 10 thước, một cây roi sắt dài 10 thước, đem lại đây thì Vua sẽ không phải lo lắng nữa.
Vua bèn sai lấy 50 cân sắt đúc thành ngựa sắt, roi sắt, rồi đem đến. Thần Vương nhảy lên ngựa, hô một tiếng như sấm:
- Ta là Thiên tướng đây.
Ngựa chạy như bay, chốc lát đến núi Vũ Ninh, Yên Việt, đại chiến với Thạch Linh Thần tướng. Giặc Ân tan tác, bắt sống Thạch Linh Thần tướng đem chém. Còn lại những dư đảng chưa trừ hết thì roi sắt đã bị gãy. Thần Vương bèn dùng tay nhổ bụi tre mà đuổi được chúng. Khi tới núi Sóc xã Vệ Linh huyện Kim Hoa thì bỏ áo, cưỡi ngựa bay lên trời mây mà đi. Nay còn dấu chân ngựa ở trên vách núi.
Hùng Huy Vương nhớ tới công lao lớn giúp nước, mà chưa gặp mặt để báo đáp, bèn tôn là Phù Đổng Thiên Vương, lập đền thờ ở quê hương, cấp cho trăm khoảnh ruộng để phụng thờ, năm tháng nhớ ơn, mãi truyền thờ phụng.
Từ khi Thiên Vương hóa thì trong nước không có người nên nhà Ân lại cất quân đến xâm phạm. Vua bèn lệnh phân cho Ông quản hai đạo Tây Bắc, Hưng Đạo. Hai đạo quan quân hai mươi vạn bái ông làm Thuộc đạo Đại tướng quân, chia đường để đánh giặc. Tướng giặc trong quân hô lớn rằng:
- Thần tướng đã về trời, Các người ai dám giơ càng bọ ngựa mà cản xe? Hay mau mau xuống ngựa, bái lạy xưng thần để tránh sinh dân chịu cảnh lầm than.
Ông nghe vậy, rất tức giận, bèn hô lớn một tiếng rằng:
- Ta đây chính là tướng quân bên ngoài, Thuộc đạo Tây Bắc. Đứng mũi chịu sào, phát động nửa trời, không phải như củi khô dễ bẻ. Bè đảng các người dẫu có thông minh, hùng lược cũng chớ có xảo ngôn ngoa ngữ mà khinh thường vậy.
Thế rồi ông cưỡi ngựa múa giáo dẫn đầu vào trận, tả xung hữu đột, dụng võ như phi, ra vào như chỗ không người. Đến giờ Dậu cuối ngày hôm đó đã chém được hơn trăm đầu giặc. Quân giặc cùng nhìn nhau thất sắc rằng:
- Châu Bắc dùng binh như thần trên trời. Giống như Thiên Vương phục sinh, nổi lên động tới nửa trời vậy.
Giặc Ân sợ hãi bỏ chạy, từ đó không dám xâm phạm. Biên thùy yên ổn. Ngày chiến thắng trở về Vua ban thưởng, khuyến khích các tướng sĩ có công trong quân đội. Phong ông là Thuộc đạo Bán thiên Đại tướng Đương đạo Đại vương, hưởng ơn vua lộc nước hương khói đầy đủ lâu bền vậy.
Sau này ông đến tuổi 62 bèn tạ triều đình cho từ quan đi chu du thiên hạ, nhàn nhã ngắm cảnh sông núi thế giới. Một ngày sau ông đi đến hai trang Bích Đại tổng Đồng Vệ huyện Bạch Hạc phủ Tam Đái. Ông thấy địa thế của Đồng Vệ, Bích Đại hữu tình, cũng là một thắng cảnh đẹp đẽ, bèn lập một hành cung ở trang đó. Cứ mỗi tháng hai lần ông đi xe về đây, ở tại đó (tức ở cung Đồng Vệ).
Hôm đó nhân dân mổ trâu làm lễ bái mừng. Ông bèn nói với dân rằng:
- Dân các ngươi thật là ngu ngốc. Trâu là vật đã phải cày ruộng vất vả có công, sao nỡ ăn thịt chúng.
Từ đó về sau hai trang Đồng Vệ, Bích Đại trong các tiệc lễ không dùng cỗ trâu là do Đại vương khi còn sống cho rằng trâu cày ruộng vất vả, không nỡ ăn thịt.
Lại nói, một hôm ông đi ra trước cung, nhàn nhã xem sao trời, lạc thấy trăng sáng trong vực (do là trước cung có một cái vực sâu tại đó, tục gọi là Vực Và). Khi đó bỗng thấy trong vực sáng rạng, mặt nước quang trong, có tiếng sấm vang đáy biển nổi lên, hóa thành mây bay trên không trước đường. Giảo long, ba ba trùng trùng như vạn thác trên sóng. Cá côn, cá sấu, cá kình lớp lớp nổi sáng thiên hà. Ông nhìn thấy lạnh lòng lạc phách, muốn quay trở về nhà. Bỗng thấy có một thanh đồng đi đến trước ông, khoanh tay nói:
- Tiểu thần vâng lệnh của vua tôi xin được mời Tôn quan rời bước ngọc xuống chơi chốn mây nước.
Ông vui vẻ đi theo xuống chơi thủy cung. Đi qua những nơi sáng rạng trời đất, lâu đài cao ngất, trông xa thấy tướng ngao quan cá hàng hàng lớp lớp, quân lính ba ba đứng chầu hai bên. Long Vương ngự ở chính giữa, thấy ông liền ra cửa Đông đón vào cung. Mở yến tiệc lớn. Bày cảnh rồng mây, đèn cao hương thơm, thác ngọc bình vàng, mã não lọ đồng, đều là kỳ trân dị vật, không có trên thế gian.Một ngày được mắt nhìn thỏa thích đồ quý vật báu. Ông bèn nói rằng:
- Vua ở Thủy phủ, thần tại Dương gian, lại được gặp mặt. Tình nghĩa hôm nay biết lấy gì báo đáp.
Long Vương nói rằng:
- Thần là Bà Sa Long Vương, vâng theo mệnh Đế quyền quản một vùng. Nghe danh tiếng quý chức đã lâu, nên muốn kết làm bạn bè. Đâu dám mong nhiều.
Yến tiệc xong Long Vương lại tạ ông các đồ vàng quý giá. Ông cố từ chối không nhận. Từ đó ông mời Long Vương ngày sau giờ Dâu đến gặp mặt ở công sở. Long Vương nói: Được.
Ông bèn chào từ biệt trở về cung. Long Vương bèn sai Đô đốc giảo long dẫn về tận cung. Tới ngày mùng 10 tháng Tám, ông sai nhân dân mổ trâu làm tiệc. Tiệc chưa xong bỗng thấy từ đáy vực mưa gió sấm vang nổi lên, nước dâng cao, sóng lớn. Bỗng có một chiếc thuyền lầu ngọc mười gian, trăn rắn hơn trăm xuất hiện. Nhân dân trông thấy đều sợ phục.
Ông bèn đi ra trước cung đón tiếp, khoản đãi rất trọng thể. Lễ xong Long Vương bèn cáo từ trở về. Từ đó một ngày tốt Long Vương bèn làm một huyệt xuyên từ giữa đường đến nơi cung sở, Ngày mùng 10 tháng Tám hàng năm Long Vương lại đến hội ngộ cùng với ông. Nhân đó có thơ làm chứng. Thơ rằng:
Bất vị tương phùng hữu thử sinh
Lai chi nghĩa giả khứ chi tình
Di ư lĩnh khiếu huyên nhân vọng
Bất dĩ long cung bạn khách hành
Nhất tháp âm dương hoành lưỡng lộ
Trùng thiên vân thủy vọng tam canh
Quan hà nhất việt song mâu ký
Hà sứ tương tư mịch cựu trình.
Lại nói đến ngày mùng 7 tháng Tư năm Giáp Thìn ông lập đàn cầu đảo trời đất, tụng kinh ba ngày. Đến giờ Mùi mùng 7 tháng Tư bỗng thấy trời đất tối tăm, mưa gió thổi đến. Thấy có một đám mây hồng bay trên đàn. Ông bèn theo mây bay về trời.
Lại nói, sau khi ông hóa 6 tháng Hùng Huy Vương nghe tin, nhớ tới công lao to lớn giúp nước của ông bèn ngay hôm đó mùng 9 tháng Chín bèn sai quan về cúng tế. Ban thêm là Thuộc đạo Bán thiên Phụ quốc Đại vương Thượng đẳng Phúc thần. Lập miếu ở xã Đồng Vệ, Bích Đại phụng thờ, hương hỏa vạn đời mãi lưu. Còn như các châu, trang ở đạo Kinh Bắc cũng phụng thờ ông.
Bản chính lưu tại bộ Lễ. Niên hiệu Hồng Đức năm thứ tư, ngày tốt tháng giữ thu. Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính vâng soạn.
Dịch từ bản khai thần tích thần sắc năm 1938 của làng Bích Đại, tổng Đồng Vệ, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên.