TỪ CHỈ LÀNG THỔ HÀ –  DI TÍCH VĂN HÓA KIẾN TRÚC QUỐC GIA

1. THÔNG TIN CHUNG

Tên gọi: Từ chỉ Thổ Hà 

Tên khác: Từ chỉ làng Thổ Hà

Địa chỉ cụ thể: Làng Thổ Hà, phường Vân Hà, tỉnh Bắc Ninh

Vị trí địa lý và không gian cảnh quan:

Mô tả vị trí: Nằm ở cuối làng Thổ Hà trên một khu đất có diện tích 170m2 bên bờ Bắc của sông Cầu.

Yếu tố phong thủy: Hướng Tây – Nam. Theo bia thời Tự Đức thứ 9 (1856) Từ chỉ phía trước có án núi Chè, phía sau có gối núi Đồ sơn, có sông Như Nguyệt làm minh đường.

Niên đại khởi dựng và các lần trùng tu:

Thủa ban đầu từ chỉ được xây dựng cạnh chùa Đoan Minh. Từ chỉ hiện nay được khởi công xây dựng vào năm Tự Đức thứ 8 (1855), xây xong vào năm sau đó (1856).

2. GIÁ TRỊ LỊCH SỬ

Nhân vật được thờ: 

Từ chỉ Thổ Hà thờ đức thánh Khổng Tử và và các vị tiên hiền.

Sự kiện lịch sử, văn hóa gắn liền với di tích:

Khổng Tử tên thật là Khổng Khâu, tự là Trọng Ni, là vị tiên thánh Nho gia được thờ ở các văn miếu quốc gia và các địa phương nước ta. Theo Sử ký Tư Mã Thiên, Khổng Tử sinh ở ấp Trâu, hương Xương Bình nước Lỗ vào thời Xuân Thu. Tiên tổ là người nước Tống. Khổng Tử sinh năm Lỗ Tương Công thứ 22.

Khổng Tử từng được vua Lỗ cho một cỗ xe, hai con ngựa, một tiểu đồng đi theo đến nhà Chu hỏi về Lễ. Trong chuyến đi này Khổng Tử còn gặp Lão Tử. Lúc từ biệt lên đường, Lão Tử có nói tiễn chân với Khổng Tử rằng:

– Kẻ thông minh, suy xét sâu xa thì gần với cái chết, vì thích bàn về người khác. Kẻ biện bác rộng, tài năng quảng đại thì nguy hại đến thân, vì nêu cái xấu của người. Kẻ làm con, kẻ làm tôi không biết dựa vào đâu để giữ mình.

Từ sau chuyến đi gặp Lão Tử ở Chu trở về, học trò của Khổng Tử ngày càng đông. Cuộc gặp gỡ này có ảnh hưởng lớn đến tư tưởng và sự nghiệp của Khổng Tử.

Khổng Tử là người đã san định, truyền bá Ngũ kinh (Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch, Kinh Lễ, Kinh Nhạc) và viết kinh Xuân Thu, dạy học trò, truyền cho hậu thế, là nền tảng cho Nho đạo. Khổng Tử được tôn là Người thầy của muôn đời (Vạn thế sư biểu) và được phong là Đại Thành Chí Thánh Văn Tuyên Vương.

Đình Thổ Hà là nơi thờ Lão Tử. Chùa Đoan Minh là nơi Lão Tử dạy học và chữa bệnh. Trước đây Từ chỉ Thổ Hà nằm trong khuôn viên của chùa Đoan Minh. Như thế có thể đoán định, Thổ Hà chính là nơi diễn ra cuộc gặp gỡ lịch sử giữa 2 triết gia cổ đại lớn của phương Đông là Khổng Tử và Lão Tử.

Sơn môn Bổ Đà (dòng tu khởi dựng chùa Bổ Đà và chùa Đoan Minh) khi xây dựng chùa đã tôn thờ cả Khổng Tử và Lão Tử, làm nên hình thức Tam Giáo đồng nguyên (Nho – Lão – Phật) đặc biệt từ vùng đất này. 

Câu đối cổ trong đình Thổ Hà:

Đẳng Thích Già nhân tế quần sinh, Phật pháp thiên cổ / Thần tiên thiên cổ
Dữ Khổng thánh công thùy vạn thế, Xuân Thu nhất kinh / Đạo Đức nhất kinh.

Nghĩa là:

Sánh Thích Ca nhân nghĩa giúp chúng sinh, Phật pháp nghìn đời kiếp / Thần tiên nghìn đời kiếp
Cùng Thánh Khổng công đức trùm vạn thế, Xuân Thu một bộ kinh / Đạo Đức một bộ kinh.

3. KIẾN TRÚC VÀ NGHỆ THUẬT

Bố cục mặt bằng tổng thể và các hạng mục chính:

Bình đồ kiến trúc Từ chỉ  hiện nay kiểu chữ nhị, gồm toà tiền tế 5 gian xây bình đầu bít đốc và toà  hậu cung 3 gian. Nguyên vật liệu đều bằng gỗ lim, nền lát gạch, lợp ngói mũi hài. Kết cấu kiểu con chồng, kẻ rường.

Nghệ thuật trang trí, điêu khắc: 

Các cấu kiện kiến trúc chạm khắc hoa lá, hình gờ nổi, nghệ thuật chạm khắc chủ yếu mang phong cách thời Nguyễn (Thế kỉ XIX). Đề tài, họa tiết hoa lá, phong cách nghệ thuật (thời Lê, Nguyễn).

4. GIÁ TRỊ HIỆN VẬT

Bài trí thờ tự: 

Phía trước gian tiền tề treo một bức hoành phi lớn đề: Đại Thành Chí Thánh, là tên thánh của Khổng Tử. Bức hoành phi sơn đen, chữ vàng, trang trí đơn giản, có đề lạc khoản là Giáp Thìn niên trọng thu

Gian chính của tiền tế có đôi câu đối sơn đen, thiếp vàng:

Bách thế y quan trường tế mỹ
Thiên niên sơn thủy vĩnh triều tông.

Nghĩa là:

Trăm đời áo mũ còn hướng đẹp
Nghìn năm sông núi mãi chầu tôn.

 Phía sau gian chính của tiền tế có câu đối sơn son thiếp vàng, tạo hình thân cây trúc, đề:

Thánh nhân thế giới thiên niên trọng
Hiền triết sơn hà vạn cổ tôn.

Nghĩa là:

Thánh nhân thế giới ngàn năm trọng
Hiền triết núi sông vạn đời tôn.

Chính giữa hậu cung là nơi đặt tượng đồng thờ Khổng Tử, kích thước bằng người thật, trong tư thế ngồi, được sơn son thiếp vàng lộng lẫy. Việc thờ Khổng Tử bằng tượng là rất hiếm thấy ở một văn chỉ tại địa phương. Điều này cho thấy Từ chỉ Thổ Hà mang tính chất của một ngôi đền thờ Khổng Tử hơn là văn chỉ thông thường.

Phía ngoài hậu cung là bức hoành phi sơn đen, thiếp vàng lớn đề Thái hòa nguyên khí. Nghĩa là: Nguyên khí của Thái hòa. Bên dưới là bức cửa võng thiếp vàng, chạm kênh bong hình rồng phượng lộng lẫy.

Bên trái của hậu cung là ban thờ ghi chữ “Hiền” bằng sành ghép. Phía trên có treo bức hoành phi sơn đen, thiếp vàng lớn đề: Siêu thiên cổ. Nghĩa là: Vượt quá ngàn đời.

Bên phải của hậu cung là ban thờ ghi chữ “Triết” bằng sành ghép. Phía trên có treo bức hoành phi sơn đen, thiếp vàng lớn đề: Quán bách vương. Nghĩa là: Cầm đầu trăm vua.

Đồ thờ tự cổ còn có các hương án, bát hương gốm Thổ Hà cổ tinh xảo.

Di sản Hán Nôm quan trọng: 

Ngoài các câu đối đã dẫn ở trên tại Từ chỉ Thổ Hà còn có một số câu đối khác. Như câu đối ở 2 bên các ban Hiền – Triết ghi:

Cổ nhân ngôn hành thiện đắc thiện
Hiền triết viết tu thân vinh thân.

Nghĩa là:

Người xưa nói làm thiện sẽ gặp thiện
Hiền triết rằng tu thân thì vinh thân.

Ở các cột bên ngoài Từ chỉ có một số câu đối khác ca ngợi Nho đạo:

Đạo mạch trường tồn đồng thiên địa
Văn phong thượng tại giáo nhân gia.

Nghĩa là:

Mạch đạo mãi còn cùng trời đất
Dòng văn trùm đó dạy nhân dân.

Và câu:

Học vấn giáo truyền thùy vạn thế
Văn chương khai sáng hóa quần sinh.

Nghĩa là:

Học vấn dạy truyền trùm vạn thế
Văn chương khai mở giúp chúng sinh.

Hiện tại Từ chỉ Thổ Hà còn lưu giữ 8 bia đá, trong đó có 7 tấm bia thời Lê Trung Hưng (thế kỷ XVII – XVIII) và 1 tấm bia thời Nguyễn:

  1. Văn thuộc giáp tự miếu bi” tạo năm Vĩnh Trị thứ 5 (1680) về việc hưng công xây dựng lại văn chỉ để thờ các bậc tiên hiền. Bia 1 mặt, trán bia chạm rồng chầu mặt trời, diềm hoa lá.
  2. Tiên hiền tự miếu bi” tạo năm Vĩnh Trị thứ 5 (1680) về việc góp tiền mua đá xây miếu thờ tiên hiền và kê học tê, chức vụ các tiên hiền được thờ của xã Thổ Hà.
  3. Văn thuộc giáp tái Thánh hiền tu tự miếu bi” tạo năm Chính Hòa thứ 25 (1704) về  việc trùng tu miếu vũ phụng sự thánh hiền và kê họ tên những tiên hiền của xã. Bia vuông 4 mặt, 3 mặt có chữ.
  4. Tư văn giáp” tạo năm Vĩnh Hựu thứ 3 (1737) khắc tên các vị khoa mục, chức sắc. Bia 4 mặt.
  5. Tôn sùng thánh hiền đại đạo. Thủy tạo từ vũ thạch vi” tạo năm Cảnh Hưng thứ 10 (1749) ghi việc xã Thổ Hà xây từ chỉ.
  6. Tạo từ vũ bi” tạo năm Cảnh Hưng thứ 28 (1767) ghi họ tên, chức tước của những người góp công góp của vào việc xây dựng văn chỉ.
  7. Thủy tạo từ vũ thạch bi. Tôn trọng thánh hiền đại đạo” tạo năm Cảnh Hưng thứ 37 (1776) để tỏ lòng tôn sư trọng đạo và chấn hưng phong giáo trong làng đã hưng công dựng văn chỉ thờ phụng tiên hiền.

Một bia “Long phi Bính Thìn” tạo năm Tự Đức thứ 9 (1856) nói về việc dời từ chỉ từ chùa Đoan Minh về vị trí hiện nay vào năm Ất Mão (1855), xây 3 gian chính điện. 

5. LỄ HỘI VÀ PHONG TỤC VĂN HÓA

Lễ hội chính: Từ chỉ là một trung tâm sinh hoạt văn hóa, giáo dục truyền thống hiếu học của nhân dân địa phương. Hàng năm có tổ chức tế lễ dâng hương tại Từ chỉ vào các ngày 15 tháng Giêng và ngày 20 tháng Tám âm lịch để tưởng nhớ ơn đức Khổng tử và các vị tiên hiền nho sinh.

6. KẾT LUẬN

Văn bản công nhận di tích: Từ chỉ Thổ Hà được xếp hạng di tích nghệ thuật cấp quốc gia loại hình di tích văn hóa kiến trúc theo Quyết định số 295-QĐ/BT của Bộ Văn hóa – Thông tin ngày 12 tháng 2 năm 1995.

Chính điện tiền tế Từ chỉ Thổ Hà.

Đội trống chiêng làm lễ ở Từ chỉ trong ngày lễ hội Thổ Hà.

Chính gian hậu cung.

Bia “Văn thuộc giáp tự miếu bi” tạo năm Vĩnh Trị thứ 5 (1680).

Ban thờ “Hiền” ở Từ chỉ Thổ Hà.

Ban thờ “Triết” ở Từ chỉ Thổ Hà

Câu đối ngoài ở tiền tế.

Bia “Tạo từ vũ bi” tạo năm Cảnh Hưng thứ 28 (1767).

Bia “Văn thuộc giáp tái Thánh hiền tu tự miếu bi” tạo năm Chính Hòa thứ 25 (1704).

Khổng Tử – ông đồ Xứ Nghệ

Ở Nghệ An tín ngưỡng thờ Khổng Tử, rất đặc biệt, khác hẳn những nơi khác, khi mà vị thánh tổ của Nho giáo được thờ là thành hoàng làng ngay trong các ngôi đình làng ở nhiều nơi. Các văn chỉ ở Nghệ An được gọi là các “nhà thánh” là nơi được xây dựng khép kín, dành riêng cho thờ Khổng Tử và Nho đạo. Nhiều ngôi đình và nhà thánh lớn ở Nghệ An đều từng là nơi thờ Khổng Tử như đình Võ Liệt ở Thanh Chương, nhà thánh Hoành Sơn, đình Trung Cần ở Nam Đàn, đình Hậu ở Yên Thành…

Đình Võ Liệt, Thanh Chương.
Nhà thánh Hoành Sơn, Nam Đàn.

Khu vực tập trung nhất tín ngưỡng thờ Khổng Tử là thành hoàng làng là ở Thanh Chương và Nam Đàn. Thực ra trước đây 2 khu vực bên hữu ngạn sông Lam này đều thuộc về huyện Thanh Chương. Điển hình là đình Võ Liệt nay thuộc huyện Thanh Chương. Đình Võ Liệt được xây từ những năm 1850, với quy mô bề thế, công phu. Đình từng là nơi các nhà Nho xứ Nghệ dạy học, trong đó có cả cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc và cụ Phan Bội Châu. Đình Võ Liệt cũng nổi tiếng bởi những tấm bia đề danh các nhà khoa bảng của huyện, vẫn còn lưu ở 2 nhà bia ở 2 bên trước sân đình.

Hậu cung đình Võ Liệt có 5 gian 2 chái, có kết cấu mái chồng diêm 8 mái. Hậu cung đình như một đền thờ, là nơi thờ Khổng Tử và các vị thành hoàng làng. Theo luận án của tiến sĩ Phạm Xuân Thanh cho biết, xưa kia đình có nhiều hiện vật quý: 2 cờ đại, 6 cờ vuông, mâm cổ bồng, bàn linh tọa thờ Khổng Tử. Hàng năm lễ cúng Khổng Tử vào ngày rằm tháng 8, do Hội văn tổng Võ Liệt chủ trì. Lễ cúng Khổng Tử: Buổi sáng rước kiệu trong làng về đình Võ Liệt. Lễ cúng Khổng Tử diễn ra lúc nửa đêm, thui 2 con bò, làm 6 thúng xôi… Tục thờ và tế lễ ở đình Võ Liệt như vậy đã có từ lâu đời với một quan niệm sâu sắc về tính bản địa của thành hoàng làng là Khổng Tử.

Đình Trung Cần ở xã Nam Trung huyện Nam Đàn là một di tích cấp quốc gia khác rất nổi tiếng ở Nghệ An. Đình được khởi dựng từ năm 1781-1782. Trong đình nổi bật là những mảng chạm khắc các tích truyện của Nho giáo như chuyện Nghiêu – Thuấn, Thành Thang – Y Doãn, Trúc lâm thất hiền… Đặc biệt bên phải đình có bức chạm cảnh một vị phu tử già râu dài, áo thũng, đội mũ đang dạy 4 học sinh đọc sách trong nhà.

Chính giữa điện thờ hậu cung của đình Trung Cần còn có bức chạm rồng, khắc 3 chữ Đại Thành miếu. Dòng chữ này khẳng định đây là miếu thờ Khổng Tử vì Khổng Tử từng được phong là Đại Thành Chí Thánh. Dòng chữ Đại Thành miếu ở đình làng Trung Cần là minh chứng trực tiếp cho quan niệm Khổng Tử là người dạy học ở đất Thanh Chương, Nghệ An.

Khổng Tử và Tứ phối dưới chân núi Tam Thai Võ Liệt.
“Đại Thành miếu” ở đình Trung Cần.

Các “nhà thánh” ở Nghệ An khác với các văn chỉ ở miền Bắc. Nếu các văn chỉ ở miền Bắc là chỗ thờ lộ thiên thì các nhà thánh ở Nghệ An được xây dựng có mái che, không chỉ là nơi thờ cúng Khổng Tử mà còn từng được sử dụng như trường học tại làng, xã. Mô hình “văn miếu” đi cùng với “quốc tử giám” này ở Nghệ An gặp ở rất nhiều nơi, từ nhà thánh hàng xã, hàng tổng hay hàng huyện. Một nhà thánh lớn như thế còn tồn tại tới nay là di tích cấp quốc gia nhà thánh Hoành Sơn ở xã Khánh Sơn, Nam Đàn.

Nghệ An liệu có thể là quê hương, nơi Khổng Tử từng mở trường dạy học và mở đầu Nho giáo không? Điều này hoàn toàn có thể bởi Khổng Tử quê ở nước Lỗ, mà nước Lỗ không đâu xa là vùng phía Tây Nam nước Văn Lang thời Hùng Vương. Dấu vết của tên gọi nước Lỗ còn bảo lưu trong tên gọi Lão Qua hay Lào, chỉ khu vực Tây Nam này.

Thủ phủ của nước Lỗ rất có thể là ở vùng Nghĩa Đàn của Nghệ An, nơi đã phát lộ có di chỉ Làng Vạc của nền văn hóa Đông Sơn với hàng chục mộ táng, hàng trăm hiện vật, minh chứng cho sự tồn tại của một trung tâm cư trú lớn vào thời kỳ trước Công nguyên trên đất Nghệ An.

Theo thông báo khảo cổ học Nghệ An, tại vùng đất Nho Lâm cũ (Diễn Châu), các nhà khảo cổ học đã phát hiện ra một di chỉ và khu mộ thuộc văn hóa Đông Sơn, đó là Đồng Mỏm (Diễn Thọ, Diễn Châu). Ở đây, trong nơi cư trú đã tìm được thuổng sắt, dao sắt, đinh sắt … Còn trong các ngôi mộ thì có những thanh kiếm sắt đặt bên mình hay trên đùi người chết.

Nho Lâm – Diễn Thọ cũng là nơi có nhà thờ họ Cao, thờ viễn tổ Cao Lỗ. Cao Lỗ là vị thủ lĩnh nước Lỗ thời Chu Văn Lang, tức là Chu Công Đán. Cũng tại nhà thờ họ Cao ở Nho Lâm thờ vị tổ Cao Đại Tôn là Cao Thiện Trí. Vị tổ họ Cao ở Diễn Châu này lấy vợ là bà Khổng Thị Tám, người nước Lỗ. Đây là dẫn chứng cụ thể khác về nguồn gốc họ Khổng nước Lỗ trên đất Nghệ An.

Nước Lỗ cũng là quê hương của vị Nam Giao học tổ Sĩ Nhiếp. Cha của Sĩ Nhiếp là Sĩ Tứ làm Thái thú quận Nhật Nam. Quận Nhật Nam thời Hán là vùng Tây Nam Việt, tức chính là bao gồm cả vùng Thanh Nghệ. Những hiện vật đồ đồng Đông Sơn muộn thế kỷ II-III khai quật ở Làng Vạc có thể chính là thuộc về thời kỳ cha con Sĩ Nhiếp làm chủ quận Nhật Nam và Giao Châu.

Một cách gián tiếp hơn, trong Trà kinh của Lục Vũ cho biết: Trà làm thức uống, khởi từ Thần Nông thị, truyền bởi Lỗ Chu Công, Tề có Án Anh… Trong khi đó món trà xanh hay chè tươi là đặc sản nổi tiếng của vùng xứ Nghệ, nhất là ở quanh vùng chân núi Thanh Chương. Cây chè là đặc sản vùng cận nhiệt đới, chắc chắn không thể mọc ở tận vùng bán đảo Sơn Đông ôn đới, nơi hiện được các sử gia Tàu cho là địa bàn nước Tề nước Lỗ thời Xuân Thu. Vùng Sơn Đông không có cây chè thì Chu Công, Án Anh, Khổng Tử lấy gì mà thưởng trà?

Cuộc đời của Khổng Tử được đánh dấu bởi sự xuất hiện của loài Kỳ lân. Tương truyền khi bà mẹ sinh Khổng Tử có kỳ lân đến chầu. Đến năm Lỗ Ai Công thứ 14 lại xuất hiện kỳ lân què, nên Khổng Tử đã dừng bút viết kinh Xuân Thu, nên cuốn kinh này còn gọi là Lân kinh. Không lâu sau đó thì Khổng Tử qua đời. Thời điểm này được lấy làm mốc chấm dứt thời Xuân Thu mà chuyển sang thời kỳ Chiến Quốc.
Tương truyền, Kỳ lân là loài vật có hình dáng giống như con nai, mình vằn, đuôi trâu, vú ngựa, có một sừng trên đầu, rất hiền lành, không ăn sinh vật, nên được gọi là Nhân thú. Loài vật theo như mô tả này rất giống con Tê giác. Gần đây ở vùng núi Bắc Trường Sơn phát hiện được loài Sao la và được mệnh danh là Kỳ lân châu Á. Loài Sao la đầu tiên được phát hiện ở khu bảo tồn Vũ Quang, thuộc Hà Tĩnh. Cái tên Sao la cũng chính là tên gọi địa phương của Nghệ An, nghĩa là “xe sợi”. Quê hương của Khổng Tử cũng là nơi có loài Kỳ lân thì rõ là ở vùng Bắc Trung Bộ nước ta. Kỳ lân cho dù là Sao la hay Tê giác thì cũng không thể xuất hiện ở vùng Sơn Đông lạnh giá bên Tàu.

Khổng An Quốc, cháu 12 đời sau của Khổng Tử đã ghi trong bài tựa cuốn Thượng Thư (Kinh Thư) như sau: “… thời Lỗ Cung Vương, thích sửa sang cung thất, Vương cho phá nhà cũ của Khổng Tử để mở rộng thêm. Trong tường nhà tìm được Thư, phần Ngu, Hạ, Thương, Chu cùng Tả Truyện, Luận Ngữ, Hiếu Kinh đều viết bằng chữ Khoa Đẩu cổ văn do ông cha chúng tôi cất giấu. Vương lại lên nhà thờ đức Khổng Tử, nghe được tiếng vàng, đá, tơ, trúc, bèn không cho phá nhà nữa, đem toàn bộ sách trả cho họ Khổng”.
Thì ra Khổng Tử chép Ngũ kinh bằng chữ Khoa đẩu. Chữ Khoa đẩu được biết là chữ của người Việt cổ. Khổng Tử soạn kinh bằng chữ Việt, hỏi Khổng Tử là người Việt hay người Tàu?

Tục thờ Khổng Tử là thành hoàng bảo trợ cho các làng ở Nghệ An không chỉ đơn giản là sự tôn sùng Nho giáo, mà ẩn chứa trong đó một sự thật lịch sử khó tin: Khổng Tử là người Nghệ An, đã tạo ra Nho đạo chính trên mảnh đất này. Truyền thống văn học khoa bảng của xứ Nghệ không phải chỉ bắt đầu từ những tên tuổi như Nguyễn Du hay Hồ Chủ Tịch, mà xa hơn, rất lâu hơn, là từ nước Lỗ, quê hương của vị Vạn thế sư biểu bên dòng sông Lam núi Hồng.

Hiện vật đồ đồng Làng Vạc, Nghĩa Đàn.
Hình trên thân trống đồng Làng Vạc.

Nước Lỗ của Khổng Tử nằm ở đâu?

Nhân thể chuyện xây văn miếu và thờ Khổng Tử ở Việt Nam đang được dư luận bàn tán rôm rả xin góp vui vài ý về sự thật nước Lỗ và quê hương của Khổng Tử.
Khổng Tử người nước Lỗ thì ai cũng biết, nhưng nước Lỗ này nằm ở đâu? Sử ký Tư Mã Thiên chép về quê hương của Khổng Tử  như sau: Khổng Tử sinh ở ấp Trâu, thuộc làng Xương Bình nước Lỗ. Tổ tiên trước kia là người nước Tống…
Thông tin gốc như vậy mà không biết căn cứ vào đâu cho rằng quê của Khổng Tử “nay là” huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc? Khổng Miếu ở Sơn Đông cho dù có là di sản văn hóa thế giới nhưng niên đại của cái miếu đó chắc không quá được thời Đường Tống đổ về, tức là xây cách thời Khổng Tử cỡ trên 1.500 năm.

Nước Lỗ vốn là đất phong của Chu Công Đán, vị đại công thần lập  quốc lớn nhất của nhà Chu. Nước Lỗ của Chu Công không hề nằm ở vùng Sơn Đông vì thời Ân Thương khu vực Sơn Đông là đất của dân Di, không phải của người Hoa. Chu Công còn phải vất vả đi đánh dẹp cuộc nổi loạn của hậu duệ nhà Ân là Vũ Canh liên kết với đám Hoài Di, Từ Nhung thời Chu Thành Vương. Như vậy làm gì có chuyện đất phong của Chu Công trước đó lại nằm trên đất của Di Địch được.
Trà kinh của Lục Vũ (học giả thời Đường) chép: Trà làm thức uống, khởi từ Thần Nông thị, truyền bởi Lỗ Chu Công, Tề có Án Anh… Vậy là 3.000 năm trước Chu Công nước Lỗ đã thích uống trà. Nhưng vùng Sơn Đông (hay vùng Hoàng Hà nói chung) làm gì có cây trà mà uống? Trà (chè) là loài cây gốc tự nhiên ở khu vực dãy Hymalaya, như ở Vân Nam và Bắc Việt. Làm gì có trà mọc ở bán đảo Sơn Đông băng giá.
Chuyện khác, Khổng An Quốc, cháu 12 đời sau của Khổng Tử đã ghi trong bài tựa cuốn Thượng Thư (Kinh Thư) như sau: “… thời Lỗ Cung Vương, thích sửa sang cung thất, Vương cho phá nhà cũ của Khổng Tử để mở rộng thêm. Trong tường nhà tìm được Thư, phần Ngu, Hạ, Thương, Chu cùng Tả Truyện, Luận Ngữ, Hiếu Kinh đều viết bằng chữ Khoa Đẩu cổ văn do ông cha chúng tôi cất giấu. Vương lại lên nhà thờ đức Khổng Tử, nghe được tiếng vàng, đá, tơ, trúc, bèn không cho phá nhà nữa, đem toàn bộ sách trả cho họ Khổng”.
Thì ra Khổng Tử chép Ngũ kinh bằng chữ Khoa đẩu. Chữ Khoa đẩu được biết là chữ của người Việt cổ. Khổng Tử soạn kinh bằng chữ Việt, hỏi Khổng Tử là người Việt hay người Tàu?
Chân lạp phong thổ ký do Chu Đạt Quan thời Nguyên đi sứ sang đất Chân Lạp (Cămpuchia) thì ghi nhận: Ngôi tháp bằng đá (Phnom Bakheng) ở ngoài cửa thành hướng Nam nửa dặm, người ta thuật lại rằng ông Lỗ Ban, vị kiến trúc sư Trung Hoa theo huyền thoại đã xây cất trong một đêm. Ngôi mộ của ông Lỗ Ban (Angko Wat) ở ngoài cửa Nam lối một dặm, có hàng trăm căn nhà bằng đá.
Lỗ Ban, vị tổ nghề mộc và xây dựng người nước Lỗ cùng thời với Khổng Tử mà lại đi xây tháp ở Cămpuchia và mộ nằm ở Angko Wat. Hỏi nước Lỗ của Lỗ Ban và Khổng Tử phải nằm ở đâu?
Khổng Tử làm Kinh Xuân thu đến năm Lỗ Ai Công săn được con Lân thì dừng bút. Vì thế Kinh Xuân thu còn gọi là Lân kinh. Thế nhưng, Chu Hy (thế kỷ 12 thời Nam Tống) chú giải về con Lân như sau: Lân, loại thú mình giống con chương, đuôi bò, móng ngựa, thú đứng đầu trong các loài có lông… Chân con lân không đạp lên cỏ tươi, không dẫm lên côn trùng còn sống.
Loài thú đứng đầu các loài có lông mao (động vật có vú), trông giống hươu, đuôi bò, móng ngựa, có một sừng thì phải là con Tê giác. Con Lân là con Tê hay con Tây. Vấn đề là con Tê giác thì không thể nào có ở khu vực Sơn Đông được. Tê giác là loài vật của vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới, gặp ở Lào – Việt Nam – Cămpuchia. Nước Lỗ nơi Lỗ Ai Công săn được con Lân chắc chắn nằm ở khu vực bán đảo Đông Dương, chứ không phải bán đảo Sơn Đông của vùng ôn đới.

NhathohoCao

Nhà thờ họ Cao tại Nho Lâm, Diễn Thọ.

Thông tin từ văn hóa dân gian Việt cũng cho một số chỉ dẫn về vị trí nước Lỗ. Nhà thờ họ Cao ở làng Nho Lâm, xã Diễn Thọ, huyện Diễn Châu, Nghệ An thờ tổ Cao Đại Tôn là ông Cao Thiện Trí, sống vào quãng năm 1360. Gia phả họ Cao nhận mình là xuất xứ từ vùng Bột Hải. Bột Hải nếu như ngày nay là vùng biển giáp với Triều Tiên ở tít phía Bắc Trung Quốc. Thực ra Bột Hải hay Bát Hải nghĩa là biển ở phương số Tám (8), tức là phương Đông trong Hà thư. Bột Hải của họ Cao là vùng biển Đông ngày nay.
Ông Cao Thiện Trí còn được gia phả họ Cao ghi lấy vợ là bà Khổng Thị Tám, người… nước Lỗ chạy loạn sang Nghệ An. Nước Lỗ ở gần Nghệ An và Bột Hải – biển Đông thì phải là khu vực nước Lào ngày nay. Đây mới là vị trí thực sự quê của Khổng Tử, nơi có những con Lân – Tê sinh sống, có những cây trà cổ thụ mọc trong tự nhiên, nơi người dân vốn dùng chữ Khoa đẩu mà chép sách truyền kinh.
Nhà thờ họ Hồ ở Quỳnh Đôi, Diễn Châu, Nghệ An thì có câu đối:
Cổ nguyệt môn cao, hệ xuất thần minh Ngu đế trụ
Bảng sơn địa thắng, thế truyền thi lễ Khổng sư tông.
Dịch:
Cửa cao trăng Hồ, sinh ra dòng dõi anh minh đế Ngu Thuấn
Đất lành núi Bảng, các đời truyền lễ nghĩa thầy Khổng Khâu.
Họ Hồ, dòng họ của những vĩ nhân Hồ Quý Ly, Quang Trung và Hồ Chí Minh, là có nguồn gốc từ Đế Ngu Thuấn, theo lễ nghĩa của Khổng Tử. Người Việt thực sự đã bị lạc hướng và hiểu sai về nguồn gốc và văn hóa của mình. Những đóng góp to lớn của Khổng Tử cho nền văn hóa Trung Hoa chính đã tạo nên nền tảng của văn hóa Việt.
Có thơ:
Muốn cứu đời thánh nhân Khổng Tử
Dốc lao tâm khổ tứ viết kinh
Thư, Thi, Dịch, Lễ, Nhạc thành
“Vạn thế sư biểu” tôn vinh đời đời.

Tây học và Cựu học

Thời buổi ngày nay người ta đua nhau cho con cho cái đi học nước ngoài từ … lớp vỡ lòng đến đại học. Những người đang có công ăn việc làm cũng chăm chăm để đi học, không Âu thì Mỹ. Người không có việc làm lại càng muốn xuất ngoại. Thời bây giờ đi học không ai còn theo cái chí học của Phan Bội Châu mà “Đông du” như xưa. Người ta đi học để mong cái bằng Tây học sẽ đem lại kiến thức cao siêu hơn, công ngon việc lành hơn, ví trí xã hội đứng trên nhiều người hơn…

Cơ hội Tây học ngày nay cũng nhiều. Đi xa thì có Mỹ, Anh, Pháp, Nga, Hà Lan, … Đi gần cũng không thiếu Úc, Thái Lan, Singapore, Nhật Bản,… Học bổng đại học, thạc sĩ, tiến sĩ,… không phải quá khó để nhận được đối với những người có học lực tốt. 2 năm, 3 năm hay 5 năm về là có bằng cấp thạc sĩ tiến sĩ “made in” nước ngoài…

Nhưng đời nay có mấy ai học làm … “kẻ sĩ”? Kẻ sĩ thời nào cũng vậy, là người có kiến thức và vì có hiểu biết đầy đủ nên là những người có trách nhiệm với quê hương, với đồng bào, với bạn bè. Người làm kẻ sĩ lấy nhân lấy lễ làm gốc, đối với bạn bè luôn chân tình và hết lòng, không cho phép với bạn bè “thấy chết mà không cứu”. Kẻ sĩ thời nay biết “trọng nghĩa khinh tài” thật ít. Thạc sĩ tiến sĩ Tây học ngày càng nhan nhản nhưng Tây học chỉ có học cái “khôn” mà không học cái “ngoan”. Quan trường đất Việt ngày nay mới đẻ ra lắm tham nhũng, tệ nạn đến vậy.

Kẻ sĩ nói được là làm được. Ngày nay người nói thì nhiều, người làm thì ít. Người làm như nói lại càng hiếm. “Chém gió” và múa “hoa chiêu” đã thành “nghề” của nhiều “nhân sĩ” Tây học đời nay.

Nước ta từ khi người Pháp tới, Tây học thay dần Cựu học. Nhân lễ nghĩa trí tín của Nho đạo bỏ đi đằng nào hết. Tây học dựa vào lý lẽ, nhằm vào công nghệ, pháp luật. Cựu học lấy văn làm gốc, văn là người, dựa vào tình người. Tây học có môn gọi đúng tiếng Tây là “nhân học” (humanities). Tiếng ta gọi là Khoa học Nhân văn. Chữ văn được thêm vào trong tiếng Việt thật đầy đủ và bao hàm hơn cái tiếng Tây nhiều.

Người Việt cứ cho rằng Cựu học dựa vào Tứ thư Ngũ kinh của Nho giáo bên Tàu, thôi thì đằng nào cũng là học theo người ta, Tàu hay Tây cũng đều vậy cả. Ít ai biết rằng Nho học của ta chẳng “Tàu” chút nào, mà là “Ta” từ gốc 100%. Thi, Thư, Dịch, Lễ, Nhạc được Khổng Tử đúc kết vào thời Đông Chu, chẳng phải ở đâu xa mà chính là vùng Việt Nam và lân cận ngày nay.

Thi là thơ, là văn. Học Thi không phải là học làm thơ, mà là học nói học viết.
Thư là sách, là lịch sử. Không biết sử thì như người mất gốc, lưu lạc ngay trên đất quê hương của mình.
Dịch là quan niệm, là triết học. Dịch là cái gốc làm nên văn hóa Việt Nam.
Lễ là cách đối nhân xử thế. Khổng Tử nói: “Không học Lễ thì không biết đi đứng ở đời”.

Không tự nhiên mà người Việt được đánh giá cao về tố chất, khả năng thích ứng, suy luận, tư duy logic… Bản lĩnh văn hoá, trình độ con người Việt có nguồn gốc cả 4-5 ngàn năm lịch sử. Cái tên nước Văn Lang từ thời Hùng Vương cũng đủ nói lên một dân tộc có “văn” từ bao đời.

Thời Trần, quân Mông Cổ khi đã chiếm cả vùng đất của nhà Tống vẫn bắt Đại Việt hàng năm phải cống nạp “nho sĩ, thầy thuốc, thầy bói, thầy tướng số và nghệ nhân giỏi, mỗi loại 3 người”. Người Mông Cổ hơn ai hết hiểu rõ cội nguồn Nho, Y, Lý, Số của Trung Hoa nằm ở đâu. Việt Nam tới nay vẫn tỏ rõ khả năng “xuất khẩu nhân tài” như Ngô Bảo Châu mới giải Fields toán học gần đây.

Cựu học có ít nhất từ Khổng Tử, tính rẻ cũng là 2 nghìn năm. Tây học vào nước ta mới có 200 năm. Bỏ cái 2 nghìn năm của “ta” để thay bằng cái 200 năm của Tây thì có vô lý quá không? Lẽ ra lấy Cựu mà nghinh Tân thì người ta lấy Tân mà nhìn vào Cựu. Dùng đồ Tây mới toanh thì hỏi làm sao có thể giải quyết được những vấn đề nghìn năm của “ta”?

Cái hậu quả của Tây học át Cựu học tới nay đã có thể thấy rõ ở Việt Nam. Chỉ quan tâm đến công nghệ và kinh tế thị trường nên môi trường sống bị ô nhiễm và xuống cấp nghiêm trọng. Một nước 80% dân số sống bằng nông nghiệp mà tìm được ngọn rau sạch, con cá lành để ăn cũng khó… Rừng núi, cây cối, động vật theo nhau … đội nón ra đi phục vụ thói quen tiêu dùng vô tội vạ … kiểu Tây… Khoáng sản được đào khắp nơi, mặt đất hóa thành hầm thành hố, thành bãi thải,… Thủy điện nhiều như cầu như cống, một đống nước treo trên cao, không đổ xuống đầu thì mới là lạ…

Chế độ pháp trị kiểu Tây mà áp dụng ở ta có lẽ khiến ai cũng phải thất vọng. Luật nhiều như ma trận mà thực thi luật thì ít. Luật chỉ để phục vụ một nhóm người bên trên mà thôi. Con dân thấp cổ bé họng chỉ thấy luật treo lơ lửng trên đầu mình như gông như gánh, lúc nào cũng có thể rơi xuống chẳng bởi lý do gì cả…

Ngày nay Tây học tiến bộ bắt đầu nói đến “phát triển bền vững”, “kinh tế xanh”… Nhưng những chữ “phát triển” và “kinh tế” vẫn nằm ở đầu. “Bền vững”, “xanh” chỉ là cái đuôi đằng sau, để gọi cho mốt mà thôi.

Khác với Tây học chăm chăm đi theo một cực, Cựu học phương Đông từ gốc đã xuất phát bởi quan niệm của Dịch là lưỡng lập, có trời có đất, có âm dương, có nam có nữ, có to có nhỏ, có càn có khôn, có lý có tình. Mọi thứ phải cân bằng thì mới tồn tại. Âm dương đối lập mà hoà hợp. Vừa cân bằng lại vừa dịch chuyển. Vì thế cái học, cái đạo xưa rất “thân thiện” với môi trường. Nền khoa học như vậy chắc chắn là “xanh”, chẳng cần lên gân lên cốt “kinh tế xanh”, “công nghệ sạch” làm gì…

Tây học đặt người lên trên cả trời đất, thì làm gì mà môi trường chẳng bị huỷ hoại, biến đổi khí hậu gây đại hồng thuỷ cận kề… Con người mà ở trên cả trời đất thì … chắc còn có nước kéo nhau lên cung trăng mà ở… Ở đó có chỗ sẵn cho các … chú Cuội… ngồi trông chị Hằng dưới gốc cây đa…

Cựu học xác định “trên trời dưới đất giữa hoà nhân gian”. Con người là trung tâm nhưng là một phần trong tổng thể không tách rời thiên – địa – nhân…

Dịch học nhấn mạnh sự “trung dung”, tức là trúng. Làm không cần đao to búa lớn mà phải biết làm đúng, làm trúng mới nên. Lời quẻ Khôn: “Nguyên, hanh, lợi, tẫn mã chi trinh”… “Nguyên, hanh, lợi” là các nguyên tắc Nhân bản, hợp lý và thiết thực. “Tẫn mã” là “ngựa cái”, ý nói đến sự tòng thuận. Có tòng thuận thì mới có “trinh”. Tức là phải biết tuân theo qui luật thì mới bền vững.

Ông tổ tín ngưỡng Đạo Giáo phương Đông Lão Tử cũng chẳng ở đâu xa, chính ngay bên thành Cổ Loa Việt Nam. Lão Tử cưỡi trâu, trâu cũng như ngựa, là nói đến đạo tòng thuận và đề cao đạo đức: “Người thuận theo đất, đất thuận theo trời, trời thuận theo Đạo, Đạo thuận theo tự nhiên” (Đạo đức kinh). Biết tòng thuận với tự nhiên thì mới bền vững.

Tây học sau nhiều năm lấy pháp trị là chính, nay lại nói đến “cộng đồng”, “sự tham gia”, “đồng quản lý”, … Nói nhiều mà mọi thứ vẫn rối tinh, đâu vẫn hoàn đó. Bởi vì bản chất của Tây học không thể đi được vào quần chúng một cách thật sự.

Còn trong văn hóa Việt tính cộng đồng, coi trọng người dân đã có từ lâu. Từ thủa khai quốc triều đại Việt dựa vào các “tế bào” xã hội là làng xã mà nên. “Phép vua thua lệ làng”, nói theo ngôn ngữ ngày nay tức là “chính sách quốc gia” không bằng “hương ước cộng đồng”. Cộng đồng trong tâm trong hồn người Việt vẫn còn nhưng đã và đang dần bị Tây hoá, biến thành những đơn vị hành chính khô khan. Khôi phục, phát huy năng lực cộng đồng theo kiểu Tây thật khó…

Lật thuyền mới biết dân như nước… câu Nguyễn Trãi nói về Hồ Quí Ly. “Đồng quản lý” cái gốc là ở dân. Dân như nước, nước chảy đá mòn, có gì mà không thể làm được…