Phả chép về một vị phu nhân âm phù triều Trưng nữ vương

Dịch từ bản khai thần tích thần sắc làng Nhuế Đông, xã Lang Tài, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh.

Phả chép về một vị phu nhân âm phù triều Trưng nữ vương
Chi Khảm, bộ Thượng đẳng
Chính bản bộ Lễ quốc triều
Xưa Hùng Vương Sơn Nguyên Thánh Tổ mở vận ứng đồ hơn hai ngàn năm Hùng Vương dựng nước núi xanh vạn dặm lập nền đô thành cung điện, nước biếc một dòng mở đạo đế thánh vua sáng, mà cứu vật giúp người, cai quản 15 bộ, gọi là tổ ban đầu của Bách Việt vậy. Về sau họ Hùng có trăm thần sông núi thường hay xuất hiện, biến hóa thần kỳ, âm phù giúp nước giúp dân. Có thơ rằng:
Sơ khai Nam Việt tự Kinh Dương
Nhất thống sơn hà thập bát vương
Thập bát thế truyền thiên cổ tại
Ức niên hương hoả ức niên phương.

Dịch nghĩa:
Ban sơ Nam Việt từ Kinh Dương
Thống nhất núi sông mười tám vương
Mười tám đời truyền ngàn năm đó
Vạn năm hương lửa vạn năm hương.

Lại nói, cơ đồ họ Hùng tương truyền được 18 đời đến khi mạt tạo, ý trời muốn dứt, trải qua các triều đại Tây Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương, Đường, Tùy, tới khi nước Nam có bốn họ Đinh, Lê, Lý, Trần mở mang cơ đồ, giữ quốc thống bền lâu vậy.
Xưa ở đất Việt có Trưng nữ vương. Vương họ Trưng tên Trắc, người huyện Mê Linh, Phong Châu, là con gái của Lạc tướng, lấy chồng là Thi Sách. Khi ấy có giặc Hán Tô Định dẫn quân đến xâm chiếm Trung Nguyên. Họ Triệu tang thương, không người cứu giúp. Khi đó người cháu gái Hùng Vương tên là Trắc, là bậc nữ trung hào kiệt, là thánh thần trên đời, nổi oai hùng cất quân đến đánh. Đang khi ấy không có bậc nam nhi nào có đủ tài thao lược. Vương vì trả thù cho chồng mà cùng với em gái khởi binh. Nữ tướng dẫn quân, thần linh phát động. Thế rồi Trưng nữ bèn cầu đảo Tản Viên Sơn Thánh, lại lập đàn cầu đảo bách thần ở cửa sông Hát Môn (nay thuộc xứ Sơn Tây). Bèn chúc rằng:

  • Trời sinh con người là tông chủ của vạn vật trong đất trời, sinh linh có dòng dõi, cỏ cây có tương quan. Trải các đời đế vương trước đây là những bậc thiên tử thánh minh, triều đình có đạo yêu dân vì nước. Đức hóa chuyên năng. Thiên hạ thanh bình, quốc gia vô sự. Nay có kẻ tộc ngoài là tên Tô Định, như loài dê chó quấy phá, lộng hành điên cuồng, bạo ngược nhân dân. Trời đất thần người đều căm phẫn. Thiếp hiềm chỉ là cháu của Hùng Vương trước đây, là một nữ nhân, nghĩ đến sinh linh, hoàng thiên rơi lệ. Ngày hôm nay đau lòng thương cảm mà trượng nghĩa trừ tàn bạo. Xin trăm vị chư tôn hội đàn chứng giám, giúp thêm sức cho Trưng nữ thiếp dẫn quân dẹp giặc, giữ nước cứu dân. Để thiếp khôi phục được cơ nghiệp trước đây của tổ tông, để các sinh linh được hưởng miếng cơm manh áo, đưa sinh linh khỏi chốn nước lửa, mà không phụ lòng của tiền nhân, thỏa sự linh thiêng đền miếu tiên hoàng, an ủi tổ phụ dưới nơi chín suối.

Chúc xong thấy xuất hiện ngàn hàng vạn đội âm binh. Ngay hôm đó Trưng nữ bèn truyền hịch đến các đạo, châu, huyện nước Nam, ai người có tài văn võ, anh hùng, có thể chống giặc thì ngay lập tức chiêu mộ tráng binh dẫn đến để chọn lựa người có kỳ tài mà phong chức vụ.
Hôm đó các đạo nghe thấy chiếu của Trưng nữ bèn đem các quân trong làng xóm dẫn đến ứng tuyển. Trưng nữ bèn phong những người có tài làm đại tướng. Còn binh sĩ xếp thành các đội. Ngày hôm đó Trưng nữ giao cho tướng lãnh quân đi trước dẹp đường. Còn mình thì dẫn quân đi sau ứng trợ.
Ngày hôm đó Trưng nữ sai các tướng đem quân tuần phòng các đường, dẫn quân xuất binh đường đường mà đi. Ngay hôm ấy Trưng nữ dẫn hai ngàn quân đi đánh với giặc Hán. Một buổi tiến đến đạo Kinh Bắc (xưa gọi là Vũ Ninh), phủ Thuận An (sau đổi là Thuận Thành), huyện Lương Tài (xưa là Thiện Tài). Trời đã về chiều, gặp quân Hán nên đóng quân thủy ở gần sông Thiên Đức. Trưng nữ bèn trú quân ở khu đất đầu trang Nhuế Đông, nơi có miếu thờ. Đến tối Trưng nữ bèn vào cầu đảo trong đền thần mong được âm phù dẹp giặc. Tối hôm đó tới giữa canh ba Trưng nữ bỗng nhiên nằm mộng thấy một bà lão tuổi khoảng 40, có phong tư yểu điệu, nhan sắc phi thường, mặt phượng mày ngài, má hồng môi phấn, vạn điểm như sóng thu, mười phần là sắc xuân, theo con đường trước miếu mà đến, tự xưng rằng:

  • Ta vốn là Hoàng Thái hậu triều Tống, tên là Càn Hải phu nhân. Do khi nhà Tống suy vong, giặc Nguyên xâm chiếm nên mẹ con ta ba vị hồng nương cùng xuống thuyền rồng lánh nạn ở ngoài hải đảo, vượt qua sông núi đên nơi cửa biển Am thì gặp sóng gió mà cùng hóa vậy (ngày hóa là 15 tháng 5). Thiên đình cảm động ban chiếu cho các trang khu, phường trại ở cạnh sông góc biển lập miếu mà thờ cúng để đề cao tích thiêng của phu nhân. Nay thấy nữ tướng dẫn quân dẹp giặc Hán đến trú quân và cầu đảo được âm phù nên ta xuất hiện, xin được theo quân đội dẹp giặc lập công.

Bà lão dứt lời thì biến mất (ngày thần hiện là mùng 9 tháng 2). Trong phút chốc Trưng nữ tỉnh lại, biết là linh thần xuất hiện giúp nước giúp dân. Rạng ngày Trưng nữ gọi nhân dân và phụ lão ở trang khu Nhuế Đông đến hỏi rõ việc này:

  • Ta muốn hỏi có phải hai khu trang ấp các người phụng thờ một vị Tống Hoàng Thái hậu, rất là linh hiển phải không?

Khi ấy nhân dân phụ lão trang khu Nhuế Đông đều sợ hãi mà làm lễ mừng, tâu rằng:

  • Đúng là trang khu chúng thần theo như trước đây khi mới lập trang khu có xin lĩnh lô hương ở cửa biển Am mang về dân lập miếu mà thờ cúng, thật sự rất linh nghiệm.

Trưng nữ nghe vậy bèn ban cho nhân dân phụ lão một nén vàng tím để tu sửa miếu điện, đợi khi yên bình sẽ gia phong Thượng đẳng thần. Hôm ấy Trưng nữ vương bèn dẫn quân về phía Tây, hội quân cùng các tướng. Tướng nam dẫn quân nam. Tướng nữ dẫn quân nữ, cùng với em là Nhị cùng các tướng chia thành các đạo tiến thẳng đến đồn Tô Định đánh một trận đại phá, bắt được Tô Định ở xứ Lãng Bạc mà chém đi. Quân Hán thua to, chém được chính tướng và tì tướng cùng binh sĩ vài ngàn đầu, thu được khí giới. Xây dựng 65 thành ở Lĩnh Ngoại, khôi phục toàn bộ đất đai nước Nam.
Hôm ấy các tướng đón Trưng nữ khải hoàn, lên ngôi xưng là Trưng nữ vương. Bèn mở tiệc mừng lớn, phong thêm cho các tướng sĩ cấp bậc tương ứng. Vương bèn nói với quần thần các tướng rằng:

  • Giặc Hán dẹp yên được cũng là do có thần âm phù trợ giúp.

Bèn sai sứ sắc phong cho bách thần các mỹ tự. Sắc phong thần hiệu nguyên tên phong là Đại Càn Nam Hải linh ứng tôn thần. Tặng phong là Nga hằng Uyển mị Chí đức Đoan trang Hoàng Thái hậu Thượng đẳng thần.
Từ đó về sau có nhiều sự linh ứng nên có nhiều các đời đế vương thường đều có phong thêm mỹ tự, cho phép cửa biển Am là nơi hộ nhi. Thường nước cầu dân khấn, anh linh không phai. Sắc vâng ban cho trang khu Nhuế Đông phụng thờ. Vâng thay!
Đến thời Trần Anh Tông đi chơi ở núi Yên Tử, đến cửa biển thì gặp nạn sóng gió, mà được một vị tôn thần cứu thoát. Đến ngày về Đế bèn phong thêm mỹ tự là Huệ hoà Gia hành Đoan trang Thục diệu Phu nhân Thượng đẳng thần. Lại ngâm một câu thơ:
Hương hoả thiên thu âm tục Tống
Phong ba nhất trận mặc phù trần.

Nghĩa là:
Hương lửa ngàn thu âm nối Tống
Sóng gió một trận thầm giúp Trần.

Lại nói, sắc chỉ ban cho trang khu Nhuế Đông phụng thờ. Vâng thay!
Thời sau khi Lê Thái Tổ khởi nghĩa Lam Sơn dẹp trừ giặc Minh, cùng bè đảng Mộc Thạnh, Liễu Thăng, đến khi có được thiên hạ thì vua Thái Tổ bèn phong thêm mỹ tự là Ý đức Thuần hoà Anh linh Phù tộ Phu nhân Thượng đẳng thần. Sắc chỉ ban cho trang Nhuế Đông khu Đặng Thượng và khu Thiên Lộc cùng tu sửa miếu điện để phụng thờ, cùng với nước nhà hưởng phúc, mãi là thức lệ. Vâng thay!
Ngày tiệc thần hiện vào ngày mồng 9 tháng 2. Lễ chính lệ dùng trên có mâm chay và phẩm quả, dưới tùy xếp cỗ, ca hát ba ngày.
Niên hiệu Hồng Đức năm thứ 5 giữa xuân ngày tốt Đệ tam giáp Tiến sĩ trí sĩ Thượng thư bộ Lễ Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần là Nguyễn [Bính] vâng soạn bản chính. Nội các bộ Lại tuân theo bản chính cũ vâng sao.
Niên hiệu Bảo Đại năm thứ 13 ngày mồng 1 tháng 3 lý trưởng xã Nhuế Đông vâng sao nguyên như bản chính.

Ngọc phả Tiền Lý Nam Đế, Đức Vua bà cùng con gái Đàn Bang

Thần tích thôn Đại Phúc, xã Đạo Đức, huyện Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, có đối chiếu với ngọc phả của làng Kim Thanh, Tiến Thắng, Mê Linh, Hà Nội. 

Ngọc phả ghi chép về ba vị bản thuộc thành hoàng (bản thuộc nghĩa là nước ta, thành hoàng nghĩa là ? ?  thành hoàng), sau đổi là Quốc vương [Thiên tử Tiền Lý Nam Đế], Đức Vua Bà cùng con gái Đàn Bang

Chi Càn, bộ đế vương thứ nhất. Chính bản bộ Lễ quốc triều

Xưa đất Việt định vị Càn Khôn, một phương Ly Khảm phân giới hạn tại Sách trời, là ứng hướng các sao Dực, sao Chẩn. Ban đầu xưng là nước Lạc, tôn núi Tản sông Lô là sơn hà. Từ triều Hùng đổi vận, thánh tổ dựng cơ đồ tương truyền 18 đời hơn 2000 năm thịnh trị, đời đời cha truyền con nối đều xưng là Hùng Vương. Ngọc lụa, xe sách, núi sông một dải, chính là tổ đất Việt ta vậy.

Đến nhà họ Hùng truyền 18 đời mới nhường ngôi báu cho Thục An Dương Vương. Dương Vương được nước trong 50 năm thì có người Chân Định họ Triệu tên Đà cất quân đến xâm chiếm. Nhà Thục mất. Triệu Đà được nước, cha truyền con nối 5 đời làm vua. Từ đó đất Việt ta thuộc vào Hán cùng Tấn, Tống, Tề, Lương. [Đến Lương Võ Đế cho] Tiêu Tư làm Thái thú đất Việt ta. Tư là kẻ tham tàn bạo ngược, nặng hình pháp. Sinh dân đất Việt ta rơi vào cảnh lầm than chưa từng có vậy. May thay, lòng người không muốn cảnh loạn, ý trời cũng cho thay đổi nên thanh bình. Sông núi nước Nam vua Nam ở, chính đúng là như vậy.

Trước đó có một nhà họ Lý, vốn là người Bắc Hán di cư đến Việt ta ở đất Long Biên, Thái Bình, được 4 đời tới Lý Công Quang sống ở bến Thái Bình, lấy việc chèo thuyền đưa người qua sông làm nghề nghiệp. Gặp ai cũng chở mà không đòi hỏi lấy tiền. Địa phương nơi đó đều gọi là người có lòng tốt bụng vậy.

Sau này có một thuyền khách buôn phương Bắc đi qua đây, chẳng may gặp gió lớn nổi lên, của cải đều mất cả. Ông xuất tâm cứu giúp, dẫn về nhà nuôi dưỡng. Trong số các khách phương Bắc có một người tên là Lý Sinh, tinh thông địa lý, xem được một thế cục ở núi Ất Lý tại Long Biên, có thể phát 2 đời làm vua Nam Việt, sau khi mất còn là phúc thần vạn đời. Thấy Công Quang cũng mang họ Lý, lại có lòng tốt nên tìm cho một huyệt để chôn táng trên đỉnh núi Ất Lý, dựa Đinh hướng Quý. Chôn xong thì người khách trở về nước phương Bắc.

Sau Công Quang sinh được Công Đạt. Công Đạt có vợ tên là Lã Thị Hương, gia thế vốn giàu mạnh. Vợ chồng đều rất trung hậu, nửa điểm không có ý hại người, chút lợi cũng không động lòng riêng. Một tối Lã Thị nằm mộng thấy tự nhiên bay lên trên trời, muốn xuống mà không được, rồi lại có một con rồng vàng, mà cưỡi để hạ xuống, nhổ một chiếc râu rồng mang về nhà. Bỗng nhiên tỉnh lại. Từ đó cảm mà có mang thai.

Mùa xuân năm sau đó ngày 11 tháng giêng sinh hạ được một người con trai, phong thái chỉnh tề, khí chất khôi ngô, vượt hơn người thường rất nhiều. Đang lúc sinh có khí lành bao phủ, hương thơm ngào ngạt. Sinh được trăm ngày thì người cha đặt tên là Lý Công Bôn. Quả nhiên Hoàng thiên không phụ, đất lành hưng vượng, sông biển đúc thiêng, núi sông nuôi dưỡng. Ông khi sinh đã có tính linh, tròn tuổi đã biết nói, 5 tuổi đã hiểu âm luật. Đến năm 7 tuổi thì chẳng may cha bị bệnh mất. Ông tuy còn nhỏ nhưng lanh lợi, đối với cha mẹ thì hiếu kính, với họ hàng làng xóm thì ôn hòa, ai cũng đều khen ngợi. 

Đến năm 16 tuổi ông làm quan cho nhà Lương. Năm 21 tuổi trở về nuôi dưỡng mẹ. Khi ấy Tiêu Tư có một người mưu sĩ tên là Chu Năng, thạo việc xem thiên văn, thường nói với Tiêu Tư là:

– Nước Nam có một người lạ, nhưng người này không được thọ lâu.

Tiêu Tư cười rằng:

– Lạ mà không thọ thì lạ làm gì.

Một hôm Tiêu Tư ở trong nhà, mơ màng như mộng, thấy có một thiếu niên tự xưng là Ất Lý bản thuộc, tay cầm song kiếm đuổi Tiêu Tư mắng rằng:

– Đất của ngươi là nước phương Bắc. Hãy trả lại nước Nam nơi đây của ta.

Tiêu Tư trong mộng chạy dài cho tới lúc thoát. Bỗng nhiên bàng hoàng tỉnh dậy, biết là nằm mộng. Bèn gọi Chu Năng đến giải giấc mộng đó. Chu Năng nói:

– Thần đã xem sao trên trời và báo với chúa công, nhưng chúa công không chú ý. Nay chúa công đã mộng thấy như vậy, tất là trời cho điềm báo trước. Sự thể như vậy, thần xin được đi vi hành thăm dò tình hình mà định kế.

Tiêu Tư đồng ý như thế. Thế là Chu Năng chọn một người tùy tùng xem hướng mây mà đi. Hai tháng sau đi đến Long Biên, quả nhiên thấy một ngọn núi có tên là Ất Lý. Chu Năng xem xét nơi đó thấy địa linh tất sinh nhân kiệt. Ngẩng mặt lên xem mây trên trời bỗng thấy hoa mắt, hôn mê, trong lòng đau đớn, nôn ra máu, ngã ra mà chết. Đó chính là sơn thần muốn giúp Lý Bôn nên đã đánh chết Chu Năng. Câu chữ để đời là:

Nam quốc sơn hà khai thái vận

Thiên tâm giáng phúc thái bình quân.

Dịch là:

Núi sông nước Nam mở vận lớn

Lòng trời giáng phúc vua thái bình.

Chu Năng bị sơn thần đánh chết, còn người tùy tùng chạy về nói với Tiêu Tư. Tiêu Tư bèn dẫn thủ hạ hai trăm người thẳng đến Long Biên, bắt hết già trẻ, nam nữ. Hôm ấy mẹ con Công Bôn cùng họ hàng hơn 20 người may mắn thoát được, chạy ra bên ngoài. Anh Bắc em Tây, ẩn trốn nơi đất khách. Mẹ con Công Bôn không biết phải chạy về nơi nào, cứ liên tục chạy qua mấy ngày, trong người mệt mỏi bèn vào nghỉ nơi miếu ở bên đường, rồi ngủ thiếp đi. Bỗng nhiên nằm mộng thấy một người thân mặc áo xanh, tay cầm cờ vàng, tự xưng là sử giả nhà trời, quỳ xuống mà đọc rằng:

Quân kim nghi tẩu Sơn Tây đạo

Tam Đới Châu Diên Táo Tuyến hương

Tiền đắc quang huân đồng tán trợ

Hậu ư thử xứ ức niên hương.

Dịch là:

Nay vua nên đến Sơn Tây đạo

Phủ Tam Đái, Táo Tuyến, Chu Diên

Trước được ánh quang cùng trợ giúp

Sau đó là nơi thờ vạn niên.

Công Bôn tỉnh lại, nhớ lại bài thơ thần báo mộng rõ ràng. Sơn Tây, Tam Đái thì đã từng nghe, nhưng Táo Tuyến, Chu Diên thì không biết là nơi nào. Nhưng nghĩ rằng đã có sự hiển báo, tất sẽ có âm phù. Bèn dẫn mẹ là Lã thị tìm đường mà đi. Không đến mấy ngày quả nhiên đến được trang Táo Tuyến, huyện Chu Diên, phủ Tam Đái, đạo Sơn Tây.

Đang khi đó trang Táo Tuyến có ông Triệu Quang Hành trụ trì chùa ở làng đó. Ông Quang Hành tuổi đã gần 60, sống cùng với một người cháu tên là Quang Phục. Đêm hôm ấy [Quang Phục nằm mộng thấy Long thần của chùa đến bảo trụ trì phải quét dọn cửa chùa sạch sẽ vì ngày mai sẽ có mẹ con của quốc vương đến. Quang Phục chợt tỉnh dậy thì trời đã rạng sáng, bèn đem việc trong mộng nói cho người bác nghe. Ông Quang Hành bèn sai đồ đệ quét dọn sạch sẽ. Đến giờ Ngọ quả nhiên có mẹ con Công Bôn đến xin nghỉ nhờ.]

Ông Quang Hành thấy Công Bôn là người có tướng lạ, bèn mời mẹ con ông cùng về ở, bố trí riêng một phòng, cho Quang Phục đến phục vụ. Khi ấy Công Bôn 23 tuổi. Quang Phục 11 tuổi. Thật là đã có vua tất có thần tử. Quân thần hợp nhau như cá nước có duyên. Lúc xem võ bị, lúc đọc binh phù, có hùng tài mưu văn lược võ, có chí lớn như Hán Cao Tổ, Đường Thái Tông. Ngày đêm tính kế, làm việc vì đất nước, chiêu dụ các hào kiệt dẹp loạn cứu dân.

Khi ấy ở bên kia bờ sông đối diện Táo Tuyến có một làng, tên là Đông Lỗ, thấy Công Bôn có lòng như Thôi Đới, nên cứ mỗi tháng hai lần lại đem rượu thịt đến dâng, cùng nói rằng kẻ nước Bắc tàn nhẫn, quý ông có chí dẹp trừ, thần dân đều xin được làm thủ hạ.

Từ đó ông thường đến Đông Lỗ, xem xét địa thế, thấy cùng với trang Táo Tuyến đều không phải đất dụng võ, bèn rút về Long Biên cùng hội quân với anh họ là Lý Phật Tử, gửi hịch đi các nơi phủ huyện kêu gọi hào kiệt đồng tâm dựng nước, vì nghĩa dẹp tàn. Sau này nếu yên định được sẽ cùng hưởng phúc thanh bình. Khi ấy các chi binh mã đến ứng mộ cộng được hơn ba vạn người. Bèn lấy Triệu Quang Phục làm Tả tướng, Lý Phật Tử làm Hữu tướng. Trong vòng ba bốn năm đuổi được Tiêu Tư về Bắc, dẹp sạch bụi trần bốn phương, khôi phục núi sông nước Nam. Công Bôn bèn lên ngôi, tự xưng là Lý Nam Đế, đóng đô ở Long Biên, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân.

Khi đó nội cung của Đế có 1 Hoàng hậu, 6 quý phi, 70 cung tần. Một hôm Đế xa giá đi tuần du ở Nam Hải gặp một người con gái tuổi khoảng ngoài 20, hình dung nhan sắc tựa như Hằng Nga trên trời. Đế tự nghĩ đây là tiên giáng, là phong nữ hay là kiều hoa, sao ở chốn này lại có người như vậy.  Bèn gọi lại trước mặt mà hỏi. Người con gái ấy đáp rằng:

– Thiếp vốn là người Nam Hải, nhà ở chốn này. Khi thiếp lên 3 tuổi, cha mẹ đều mất, nên không biết tên họ như thế nào. Đến năm 10 tuổi trước đây có một ông lão đầu bạc từ biển đến nói rằng thiếp khi ngoài 20 tuổi sẽ gặp được đấng quân vương. Nay thiếp đã tròn 22 tuổi, gặp được thiên nhan, tất là lão ông đầu bạc chính là bậc chân tiên vậy.

Đế nghe vậy vô cùng thích thú bèn cùng về triều, nhân nàng là người Nam Hải nên đặt tên là Nam Hải nương, lập làm Đệ nhất cung phu, tình yêu quý ngày càng thêm sâu sắc.

Khi ấy Đế ở ngôi được 3 năm, chỉ có Hoàng hậu sinh được hai người con gái, không có con trai. Một hôm Đế cùng với Hoàng hậu và các quý phi, cung tần hơn 20 người đi vãng du các danh lam thắng cảnh, cầu đảo mà vẫn chưa được linh nghiệm. Bèn ở trong cung, ngày đêm thắp hương đến các chư Phật trên trời giáng cho điều lành, cùng bách thần sơn thủy sớm ứng cho điềm tốt, sinh được người kế nối.

Đến đúng đêm Trung thu tháng 8 Đế cùng với Hoàng hậu, quý phi, cung tầm ngắm trăng. Đế bỗng nhiên thấy tâm thần mỏi mệt, bèn dựa án mà nằm, mơ màng thiếp đi, thấy mình cùng với cung phi Nam Hải nương cùng đến một nơi có đền đài nguy nga, quan hầu vô số, nghênh đón Đế cùng cung phi Nam Hải vào ngồi trên lầu cao. Trước mặt có một cuốn sách đỏ, bèn mở ra xem, thấy đều là chuyện các đời đế vương, lời lẽ tươi đẹp. Ở cuối chương có bốn câu rằng:

Thất niên chủ tể tác Nam giang

Thiên sổ an bài nữ hữu tam

Hoàng hậu quý phi giai nhất tuế

Cung phi Đông Lỗ dữ Đàn Bang.

Dịch là:

Bảy năm làm chủ ở Nam giang

Số trời an định nữ ba nàng

Hoàng hậu, quý phi cùng năm mất

Cung phi Đông Lỗ với Đàn Bang.

Đế lật lại muốn xem kỹ thì bỗng nhiên tỉnh giấc. Nghĩ lại bài thơ trong mộng không khỏi lấy làm lạ. Khi ấy có vị quý phi thứ ba là người động Hoa Lư, phủ Trường An, châu Ái, tên là Hoàng Thị Chung, gả cho Đế từ khi 21 tuổi, đến nay đã được 27 tuổi. Đêm hôm đó nằm mộng thấy một ông lão dắt đến một con rồng và nói rằng:

– Con rồng này là con rồng cái. Nương tới giờ vẫn chưa sinh nở nên ta ban cho con rồng cái này, tất sẽ sinh được.

Quý phi tỉnh lại đem việc trong mộng tâu lên. Đế nghe vậy nói rằng:

– Rồng cũng có rồng cái sao? Quả nhiên rồng cái là điềm sinh con gái. Cứ như mộng này tất sẽ sinh ra con gái.

Từ đó thấy quý phi mang thai, đến kỳ quả nhiên sinh hạ được một người con gái. Đế nhân giấc mộng của quý phi bèn đặt tên là Rồng Nương, như là ý trời vậy, mệnh Mão. Rồng Nương sinh được 5 tháng thì mẹ đẻ Hoàng Thị bị bệnh mà mất. Còn Hoàng hậu cùng với 5 vị quý phi cùng trong một năm đều qua đời. Đế đem người con Rồng Nương giao cho cung phi Nam Hải phu nhân tìm nhũ mẫu để nuôi. Nam Hải nương mười phần yêu thương như con mình sinh ra vậy.

Khi Rồng Nương được hơn 2 tuổi, Lương Võ Đế lại sai Bá Tiên, Dương Sàn cất quân đến đánh. Đế đánh trận gặp bất lợi nên lùi về ở động Khuất Liêu, rồi bị mắc bệnh đau dạ dày, phong khí nhập vào trong tâm can, không thể làm gì được. Mệnh Đế chỉ còn trong ngày đêm, nhìn quanh chỉ thấy cung phi Nam Hải nương ôm con gái Rồng Nương cùng với mấy người Đông Lỗ, huyện Chu Diên, phủ Tam Đái đứng hầu. Đế lấy trong túi riêng 40 lạng vàng, đem chia đều thành hai phần. Một phần cho cung phi Nam Hải, một phần ban cho người ở Đông Lỗ, rồi dặn rằng:

– Trẫm nay bị bệnh rất nặng, vạn phần sẽ mất. Duy chỉ muốn người con gái út Rồng Nương cùng với cung phi Nam Hải giao phó lại nhờ các ngươi. Sau khi Trẫm mất, các ngươi hãy dẫn trở về quê của các ngươi để nuôi dưỡng.

Lại nhân đó nói với Nam Hải nương rằng:

– Ta bất hạnh không có con trai, chỉ được ba người con gái. Hai người đã đều có nơi chốn, chỉ còn lại người con út cho nàng làm mẹ. Sau khi chôn cất ta xong mẹ con nàng hãy về ở Đông Lỗ.

Nói xong thì Đế băng hà vậy (khi đó là mùng 8 tháng 10). Nam Hải nương khóc lóc động trời, nhưng sự thể không thay đổi được. Bèn cùng với Lý Phật Tử, Triệu Quang Phục làm lễ chôn cất. Sự xong Lý Phật Tử vào động Dã Năng, Triệu Quang Phục về đầm Nhất Dạ. Nam Hải nương theo lời di chúc đem con gái út Rồng Nương cùng người Đông Lỗ trở về Đông Lỗ. Người Đông Lỗ đó kể lại rõ ràng việc Đế cho vàng và di chúc lại với phụ lão nhân dân. Vị Nam Hải là cung phi của Đức vua ông Lý Nam Đế. Rồng Nương là con gái út của Đức vua ông. Nhân dân nghe lời không khỏi cảm động, bèn lập một ngôi miếu nhỏ, viết thần hiệu Đức Vua Ông Lý Nam Đế để phụng thờ. Từ đó nhân dân tôn gọi Nam Hải là Đức Vua bà, gọi Rồng Nương là Đức Vua con, hiệu là Ả Toát, mà không gọi tên.

Từ đó cung phi Nam Hải cùng với Rồng Nương sống ở Đông Lỗ, khuyến khích nghề cấy trồng dệt vải, tạo điều tiện lợi, trừ dẹp điều hại, thật là có nhiều công lao với dân vậy. Đến khi Rồng Nương lên 14 tuổi thì xuất gia ở trong chùa Đông Lỗ thờ Phật, cải tên là Đàn Bang.

Khi ấy Triệu Quang Phục trở về ở Dạ Trạch, có được móng rồng để trên mũ đâu mâu, hướng vào đầu thì khắc chế được nơi đó, là điềm trời ứng vậy, bèn tự lập là Triệu Việt Vương. Bèn lệnh các tô thuê và phục dịch của Đông Lỗ làm bổng lộc cho cung phi Nam Hải nương cùng với Ả Toát Rồng Nương Đàn Bang. Đến khi Nam Hải nương 50 tuổi, Rồng Nương 27 tuổi thì đều không bệnh mà mất. Nhân dân Đông Lỗ dâng tấu lên Triệu Việt Vương. Vương dùng lễ hậu sai cùng đón về quê Đế ở Thái Bình, chôn cùng với Đế một nơi. Chôn cất xong nhân dân Đông Lỗ trở về, nhớ đến công đức bèn viết thần hiệu Đức vua bà Lý Nam Đế cung phi Nam Hải phu nhân, Đức vua con Lý Nam Đế con gái út tên Ả Toát Rồng Nương Đàn Bang tôn thần, mà lập các miếu để phụng thờ.

Thời Việt Vương có truy tặng mỹ tự Ngọc bệ hạ. Hậu Lý Nam Đế cũng truy tôn mỹ tự Chí Di [Quốc vương Thiên Tử Ất] Lý Nam Đế v.v. Thời Tùy Văn Đế cho Lưu Phương làm Thái thú đất Việt ta. Lưu Phương đến đất Việt tới đền Đông Lỗ, giáng Đế xuống là Nam Giang Đại vương, nhưng vẫn cho Đông Lỗ phụng thờ.

Nhân dân vâng ghi:

Vâng chép sinh hóa các tiệc cùng với các chữ húy nhất thiết cấm là năm chữ Bôn, Nam, Hải, Rồng, Nương.

Ngày sinh của Đế là 11 tháng Giêng, dùng lợn đen, xôi, rượu, ca hát.

Ngày hóa là mùng 8 tháng 10, dùng cỗ trâu, xôi, rượu.

Ngày sinh của vị Nam Hải không rõ. Ngày hóa là 20 tháng 3, dùng gà, lợn, xôi, rượu.

Ngày sinh của Đức Vua con là mùng 10 tháng 8. Ngày hóa là 20 tháng 2.

Hoàng triều niên hiệu Hồng Phúc năm thứ 9 ngày tốt tháng cuối xuân, Hàn lâm viện Đông các Học sĩ, thần là Nguyễn Bính vâng soạn.

Hoàng triều niên hiệu Vĩnh Hựu năm thứ 2, ngày tốt tháng đầu thu, Quản giám bách thần Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh, thần là Nguyễn Hiền tuân theo bản chính mà vâng chép.

Một trang ngọc phả thôn Đại Phúc.

Bảy quận núi sông nước Nam

Hậu Hán thư ghi: Năm Nguyên Đỉnh thứ 5 (112 TCN) đời Hán Vũ Đế bèn diệt Nam Việt chia đặt thành 9 quận, do Thứ sử Giao Chỉ lĩnh lấy, trong đó 2 quận Châu Nhai, Đạm Nhĩ trên bãi ngoài biển. 9 quận chia ra từ nước Nam Việt cụ thể là nằm ở đâu?

Đến thời Sĩ Nhiếp thì Giao Châu chỉ còn 7 quận: Giao Chỉ, Cửu Chân, Hợp Phố, Thương Ngô, Uất Lâm, Nhật Nam, Nam Hải, gọi là “thất quận sơn hà”, thường được nhắc đến trong các thần tích về nước Nam. Như thế rõ ràng 2 quận Châu Nhai và Đạm Nhĩ không thể nằm ở đảo Hải Nam, mà là vùng đất xa hơn về phía Bắc giáp biển.

Châu Nhai vốn là tên của đảo Đài Loan như được ghi trên tấm bia bài minh Mộ Chí tiến sĩ Thái Đình Lan của Lâm Hào đời nhà Thanh soạn: “Miền Chu Nhai hoang phục xa xôi,  đất Quỳnh Sơn tích học, khởi nghiệp.” Do đó quận Châu Nhai phải là vùng tỉnh Phúc Kiến ngày nay.

Đạm Nhĩ tương tự sẽ là vùng Chiết Giang, nơi nhà thơ Tô Đông Pha từng đi lưu đày và làm bài thơ Cư Đam Nhĩ. 2 quận Châu Nhai và Đạm Nhĩ tương ứng là đất Mân Việt vào đầu thời Tây Hán. Do Mân Việt phục tùng nước Nam Việt nhà Triệu nên khi Hán Vũ Đế chia đất Nam Việt đã tính cả vùng đất Mân thành 9 quận.

Vị trí quận Nam Hải khả dĩ nhất là vùng Quảng Đông, không gây tranh cãi nhiều. Còn Hợp Phố là phía Nam Quảng Tây, nơi ngày nay vẫn còn địa danh huyện Hợp Phố. Uất Lâm hay Quế Lâm là phía Bắc Quảng Tây, nay còn thành phố Quế Lâm giáp với Hồ Nam. Quận Thương Ngô nằm gần với đất Mân Việt nên thuộc vùng Giang Tây ngày nay.

Vấn đề còn lại là 3 quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam thời Tây Hán nằm ở chỗ nào?

Quận Cửu Chân theo Truyện Nhâm Diên trong Hậu Hán thư thì giáp với Dạ Lang, mà Dạ Lang nằm ở Quý Châu. Theo Thái Bình hoàn vũ ký thì quận Cửu Chân Bắc giáp Ba Thục, Đông giáp Uất Lâm, Tây giáp Tường Kha, Nam giáp Nhật Nam. Ba Thục chính là đất Dạ Lang ở Quý Châu (không phải Xuyên Thục là Tứ Xuyên). Tường Kha là tên khác của Tượng quận, thuộc Vân Nam. Suy ra Cửu Chân nằm ở quãng phía Tây của Quảng Tây, giáp với Vân Nam.

Quận Nhật Nam là một quận mới xuất hiện khi Hán Vũ Đế chia Nam Việt thành 9 quận, vì trước đó thời nhà Triệu chỉ thấy nói đến cử người đến quản Giao Chỉ và Cửu Chân. Nhật Nam lúc này không ở vùng miền Trung Việt vì nó được biết là giáp với quận Cửu Chân ở trên.

Đặc biệt bản thần tích ở đất Thái Bình về bà Vương Chiêu Quân thời Hán Nguyên Đế cho một thông tin hết sức lạ: cha của bà là Vương Thức, người trang Bát Đồn (ở Thái Thụy, Thái Bình) làm Thái thú quận Lâm Ấp ở Nam thổ. Có thể thấy Lâm Ấp đây chính là chỉ quận Nhật Nam thời Tây Hán. Vị trí quận này khi đó bao gồm vùng tỉnh Thái Bình.

Bài vị Thái thú Vương Thức ở đền thờ bà Chiêu Quân tại thôn Diêm Tỉnh, Thụy Dũng, Thái Thụy, Thái Bình.

Từ thông tin này có thể đi đến nhận định rằng Nhật Nam là phần phía Đông vịnh Bắc Bộ, có thể cả phần Bắc Trung Bộ Việt. Còn quận Giao Chỉ như thế sẽ là phần Tây Bắc. Sự phân chia này còn thấy sau đó khi Sĩ Nhiếp cai quản vùng phía Đông Nam, Mạnh Hoạch chiếm giữ vùng Tây Bắc. Ranh giới Đông Tây lúc này theo truyền thuyết là bãi Quân Thần ở Thượng Cát – Từ Liêm. Nói cách khác quận Giao Chỉ thời nhà Triệu tới thời Tây Hán đã được tách thành 2 phần Tây Bắc và Đông Nam, là Giao Chỉ và Nhật Nam. Lý do sự chia tách này là bởi vùng phía Tây là địa bàn của hậu quân nhà Triệu Nam Việt chống lại nhà Tây Hán, được biết trong sử Việt với tên gọi Tây Vu Vương, hoặc sau đó là khởi nghĩa của Hai Bà Trưng ở Phong Châu phía Tây.

Việc xác định quận Giao Chỉ và Nhật Nam vào thời Tây Hán là 2 vùng Tây Bắc và Đông Nam nước ta là một nhận định mới, liên quan đến nhiều sự kiện lịch sử trong thời gian tiếp theo. Ví dụ như sự kiện Khu Liên, con một công tào địa phương đã nổi dậy ở Lâm Ấp. Rõ ràng Lâm Ấp lúc này gồm cả miền Bắc Việt, chứ không không chỉ là ở miền Trung.

Tiếp nữa là việc Sĩ Nhiếp có bố là Sĩ Tứ, vốn là Thái thú quận Nhật Nam thời Hán Hoàn Đế. Với việc xác định Nhật Nam là vùng phía Đông Nam miền Bắc nước ta thì việc Sĩ Nhiếp nối tiếp vị trí Thái thú Nhật Nam của cha là rất hợp lý. Nếu quận Nhật Nam lúc này mà ở tận Nam Trung Bộ thì làm sao Sĩ Nhiếp lại trở thành Thái thú ở miền Bắc?

Rồi còn những chuyện như thời Lý Nam Đế giặc Lâm Ấp vào xâm chiếm. Tả tướng Triệu Quang Phục được cử đi dẹp Lâm Ấp… Rõ ràng Lâm Ấp lúc này ở ngay cạnh khu vực miền Bắc nước ta chứ không phải ở tận miền Nam Trung Bộ, muốn đánh ra Bắc còn phải qua Bình Trị Thiên rồi Thanh Nghệ.

Vị trí các quận phía Nam thời Tây Hán.
Chữ trắng là địa danh ngày nay. Chữ vàng là tên các quận thời Tây Hán. Chữ xanh nước biển là tên nước.

Thần tích bà Vương Chiêu Quân ở Diêm Tỉnh, Thụy Dũng, Thái Bình

Lễ bộ Thượng thư Quản giám tri điện triều Lê vâng sao ghi chép phụ cổ truyền

Cung Khảm, thần tích hạng phụ

Hoàng đế bệ hạ phụng ban sắc văn và thần hiệu. Sắc phong cho Đương cảnh Thành hoàng Gia từ Hoàng Thái hậu Tiên huy Thái trưởng Chiêu Quân Công chúa Đại vương.

Sắc văn: Tôn nghiêm chỉ thuận, anh dục sơn xuyên, tú chung hà hải, cao phối thiên, hậu phối địa, hộ quốc tý dân, hách quyết thanh, trạc quyết linh, dực bảo trung hưng, thánh hoá đạt văn, khoan hoà nhân thứ, đặc đạt tiềm mặc, hoằng thâm phổ hợp, trừng trạm cảm ứng, tối linh từ đức, phu liệt thánh nữ, đằng vân giá vũ, hiển ứng huân hao. Tặng truy Hoàng Thái hậu. Cho phép khu Hạ, trang Bát Đồn, quận Hạ Hồng, trấn Nam Định, phụ lão nhận một đạo sắc văn trở về phụng thờ, cùng trợ giúp bảo vệ nhân dân ta. Vâng thay!

Xưa từ khi trời Nam mở vận, chia ngang theo sao Dực Chẩn, ban đầu phong thẳng hướng sao Đẩu Ngưu. Vốn từ cháu ba đời của họ Thần Nông là Đế Minh, sinh ra Đế Nghi, nhân đi tuần phương Nam ở núi Ngũ Lĩnh mà lấy được Tiên Vụ Nữ, mà sinh ra Kinh Dương. Dương có thánh trí thần tài, vượt trội hơn thánh Đế Nghi. Đế Minh muốn truyền ngôi báu cho để trị vạn bang. Kinh Dương cố nhường cho anh. Thế là Đế Minh lập Đế Nghi, còn phong vương ở phương Nam, gọi là họ Hồng Bàng. Kinh Dương vâng mệnh vua cha dẫn tướng phát oai, lấy người con gái của Động Đình Quân, sinh ra Lạc Long Quân, có điềm bách nam, sinh một bầu trăm trứng, phân thành trăm họ, đặt ra trăm tên, phong làm trăm vương, trấn giữ một phương, là thủy tổ của Bách Việt vậy.

Người con trưởng là Quốc Vương nối trị, 18 đời sau đó đều gọi là Hùng Vương. Đến khi Thục Vương tên Phán lên ngự trị được 50 năm thì bị họ Triệu thôn tính. Triệu Vũ Đế là đại tướng của Tần, gặp lúc Tần giao tranh mà tự giữ ở phương Nam. Nhà Hán sai Lục Giả mang ấn thư đến phong cho ở phương Nam, quyền quản Bách Việt. Sau này bởi Lữ Gia không tuân theo mà Ai Vương khó giữ nước. Nhân đó lại thuộc về Bắc vậy. Nhà Hán bèn lập thủ lệnh các quận huyện, hoặc có lúc chính sự tốt, cũng như lúc gây thế sự tham tàn đều có vậy. Đến thời Nguyên Đế mới cùng hợp lại với Trung Quốc.

Vương Thức vốn là người ở một làng có tiếng của khu Đồn Hạ nước Nam. Khi còn nhỏ đi du học, tỏ rõ có nhiều chỗ hơn người. Đến khi trưởng thành thi đỗ khoa Mậu Tài, làm Thái thú Kim Thành. Sau về làm Thái thú Lâm Ấp. Ở đó lấy vợ tên là Phạm Thị Dụ, gặp được mộng rắn, đến ngày 12 tháng 3 thì sinh được một người con gái quý. Hôm ấy hương thơm bay ngào ngạt, trong trướng rạng rỡ, xuất hiện 4 vị tướng lạ, 3 con rồng bay quanh nhà. Ngày hôm đó ở trên trời trong nội thành vang lên ba tiếng động lớn, làm rung chuyển núi sông cây cỏ. Trên điện có vạn thú đến chầu. Dưới chân núi sóng nước nổi dồn dập. Trăm thú, kình nghê, lân ngư, vạn vật theo mưa gió mà tới chầu cống. Người người thấy điềm lạ dị thường đó lấy làm vui mừng. Thái thú Vương Thứ nhân đó mà đặt tên là Vương Tường.

Ngày ngày thường ở yên một nơi trong phòng, tự học xem sách, không chờ người chỉ dạy mà tiêu đàn thành thạo, âm luật tinh thông, binh thư, cung trượng không gì là không biết. Đến năm mới 14 tuổi đã có phong tư đẹp đẽ, sắc nước hương trời, không ai sánh nổi.

Khi ấy vua Hán vào ngày mùng 1 tháng 8 nằm mộng thấy một Lão tiên đến mang cho một nữ tử, nói rằng:

–          Người này đúng là giúp nước cứu dân, trung trinh chỉ một, ở tại đất Nam, trong nhà Thái thú.

Dứt lời thì bay lên không trong khoảnh khắc không có ai thấy nữa. Đế tỉnh lại cho là sự rất lạ, ngẫm lại tưởng đến người con gái đó có một nốt ruồi ở bên má trái. Đến rạng ngày cho hội quần thần đến phán rằng:

–          Đêm qua Trẫm nằm mộng thấy một ông lão đem đến một người con gái, nói rằng người này ở tại nhà Thái thú đất Nam. Người này giúp nước cứu dân, trung trinh chỉ một. Đình thần hãy cử họa sĩ đến đất Nam xem xét tình hình mà vẽ lại người đó. Có tin tốt tâu về sẽ có thưởng.

Khi đó triều đình cử Diên Thọ phụng mệnh. Diên Thọ đi để vẽ tranh, khi đến Thái thú Lâm Ấp thấy Vương Tường đẹp tuyệt như tranh vẽ mà run lòng mất mật. Vì thế Thái hậu tự vẽ để mang về tâu với vua Hán. Vua Hán xem nhận ra nốt ruồi lạ thấy đúng người con gái đó, lập tức viết chiếu thư cử mang đến gọi Vương Thức về cửa ngọc, sai quan mang đồ sính lễ đến. Vương Tường tâu với cha cho mua thêm ao ruộng, đất đai, ban ơn cho các phụ lão nhân dân các nơi. Rồi được thưởng tước vị, đón về kinh thành.

Vua Hán vì thế mà rất vui mừng, đến khi mở mạng che mặt thấy mày loan như trăng mới mọc, mắt nhẹ nhàng như sóng mùa thu, tóc sáng như gương soi, da trắng mịn màng, sắc sáng như mặt hồ nước, vẻ đào có dung mạo chi sa cá lặn, nguyệt thẹn hoa nhường. Đem so với hoa thì hoa hết lời, đem so với ngọc thì ngọc sinh hương, cùng là vẻ toàn mỹ vậy. Vua rất yêu quý, được sủng hạnh trong cung không ai bằng.

Lại nói, khi ấy Diên Thọ đã vâng chỉ làm thợ vẽ, thấy sắc đẹp của Thái hậu nên muốn lấy, có ý gian không vẽ mà bàn chuyện nghĩa lý. Thái hậu không theo. Thái hậu tự vẽ bức chân dung đó. Khi Thái hậu đi rồi, Diên Thọ đem tiến bức vẽ cho vua Hồ. Vua Hồ rất khen ngợi, giữ Diên Thọ ở lại kinh đô nước đó, rồi viết một bức tâm thư gửi cho vua Hán xin cưới Công chúa giống như trong bức tranh. Nếu không lấy được tất sẽ gây chiến tranh để chiếm lấy. Vua Hán bất đắc dĩ than rằng:

–          Tưởng được ước nguyện dài trăm năm mà lại thành cách biệt. Nếu qua được tình cảnh trước mắt này thì sẽ tích lực tăng uy, ngày sau sẽ phá vua Hồ.

Thái hậu bèn vượt biên ải sang triều đình nước Hồ. Nhân dân ai cũng thương xót cho là trời xui khiến vậy. Trên đường đi khi tới núi Cửu Cô, có bầy tiên 9 người đang tắm ở bên bờ biển, thấy thuyền rồng của Thái hậu đến gần liền hỏi:

–          Chúng ta với nàng cùng là nữ, sao nương lại gặp phận duyên như thế?

Thái hậu nói:

–          Em tuân theo mệnh trời giáng làm người trần. Vua Hán lệnh gọi đi cống vua Hồ. Ngưỡng mong các chị hãy cứu giúp kẻ phàm dân này.

Bầy tiên phán rằng:

–          Nay chúng em vâng chiếu chỉ của trời đi du chơi bên bờ biển. Nay đã thấy có lời này tất phải cứu giúp.

Bầy tiên tìm trong tay áo lấy ra 3 viên thuốc, bảo hãy nuốt lấy. Chín tiên nữ lại tặng cho một chiếc áo bàn lửa, nhìn xa như hình kim nhọn chích Hồ. Người người thấy đều sợ hãi. Khi đến kinh thành Hồ, vua Hồ ra đón. Khi đó Thái hậu chưa mặc áo lửa. Vua Hồ rất yêu thích, thấy thế rất sủng ái. Đến khi Thái hậu mặc chiếc áo bàn lửa, vua Hồ bàng hoàng sợ hãi. Vua Hồ nghe lời liền yêu thích tiếng nói đó, sao có thể cùng ở được. Nên 16 năm không dám động vào thân thể. Khi ấy Thái hậu xin được dựng một cây cầu ở sông Hắc thủy. Cầu xây xong Thái hậu xin vua Hồ cầu đảo núi sông thần kỳ. Vua Hồ đều theo mà lập lễ, cầu trời đất, bách linh thần. Bỗng nhiên thấy một áng mây trắng phủ như cung điện nguy ngà, khói sương lấp lánh, rồng mây bốn bức, mờ mịt lâu đài nước Trúc, núi sông một bầu, thấy đó cảnh thú vị Bồng Lai. Trời đất tối tăm, nước sông kêu ầm ầm như sấm chớp nổi lên. Giao long, cá, ba ba trùng trùng liền như sóng vạn phái. Côn kình lớp lớp như sóng cuộn ngàn tầng. Lại có rồng vàng dài hơn một trượng, cuốn thân chờ đợi.

Thái hậu cầu chúc trời đất bách thần mà thấy trăm hoa giấu mặt, hương bay khí lạ, rồi nhảy xuống sông cưỡi rồng mà đi. Đó là ngày 13 tháng 12. Vua Hồ không biết sao đành dẫn quân về.

Lại nói, Thái hậu tên húy là Vương Tường, tên chữ là Chiêu Quân. Nhà Hán phong mỹ tự. Nước ta niên hiệu thời Vĩnh Hữu phong là Hiển linh Trợ thuận Thiên huy Thái trưởng Công chúa, cho 72 đền miếu phụng thờ. Nay còn di chỉ ở trang Bát Đồn, dựa Nhâm hướng Bính.

Thánh phụ chức vốn là Thái thú, tên húy là Vương Thức, tức chữ là Tử Bình.

Thánh mẫu theo phẩm trật là Nhị phẩm phu nhân, tên húy là Phạm Thị Dụ, hiệu là Đức Lộc.

Ngày sinh là 12 tháng 3. Ngày hóa là 13 tháng 12.

Lễ dùng bánh trôi, chay bàn, xôi ngon, gà quý, rượu ngọt, tiền vàng, ca hát, vui chơi.

Năm Chiêu Thống thứ nhất triều Lê vâng sao.

Đền thờ bà Vương Chiêu Quân ở Diêm Tỉnh.

Ngọc phả triều Lý (Thần tích Phù Lập, thôn Trung, tổng Thụ Phúc, Tiên Du, Bắc Ninh)

Quản giám tri điện bộ Lễ triều Lê vâng sao ngọc phả cổ truyền

Hoàng đế Bệ hạ khâm phụng sắc văn thần hiệu:

Sắc phong Đại đô Thành hoàng Đại vương Lý Nam Đế Đê Vũ Linh ứng Đại vương tôn Thượng thượng đẳng Phúc thần.

Sắc phong Nhàn uyển Phong tư Trinh thục Quý Minh Công chúa.

Sắc văn:

Hùng chấn uy linh, tôn nghiêm chính thuận,

Anh dục sơn xuyên, tú chung hà hải,

Cao phối thiên, hậu phối địa,

Hách quyết linh, trạc quyết thanh.

Phổ thông linh tế, cao minh bác học,

Hiển đức lượng công, quảng duyên lưu khánh.

Phổ hoá thí nhân, khuông quốc khang dân.

Tặng Thượng thượng đẳng Phúc thần. Cho phép phường Hạ, trang Thụ Triền, huyện Tiên Du, quận Từ Sơn, đạo Bắc Ninh phụ lão phụng lĩnh hai đạo sắc văn mang về phụng thờ. Cơ thần tương trợ, bảo vệ lê dân. Vâng thay!

Xưa có người quê ở Thái Bình. Đất này bằng phẳng, sông nước đẹp đẽ. Rạng rỡ ngàn năm trong tín sử. Vạn đời rờ rỡ linh thiêng, quy mô to lớn rành rẽ, công nhiều nghiệp lớn. Vận nước lâu bền. Kế lớn tốt lành vậy!

Từ cháu ba đời của Lý Cầm sinh ra Lý Quế Hòe, vợ là Võ Thị Hương. Vợ chồng tích thiện hành nhân, ngày đêm hương khói thờ Thượng đế. Một nhà phong lưu, ba sinh hưởng lửa đủ đầy, dư giả vậy. Vào năm Quý Hợi tháng 2 ngày mùng 8 bà họ Võ nằm mộng thấy ánh sáng đầy nhà. Chốc lát có một con rắn hoa trắng cuốn khúc trườn tới, bỗng hóa thành một đóa hoa sen. Bà họ Võ cầm lấy thì tỉnh giấc, bèn kể lại cho ông Lý Quế Hòa. Từ đó uyên ương chung gối mà có mang. Mang thai được một năm, đến ngày mùng 9 tháng 2 năm Giáp Tý điềm lành ứng hiện, hương thơm khí bay đầy nhà, trong trướng rực rỡ. Bà họ Võ sinh được một bầu. Từ sáng sớm mây trời mù mịt, đến giờ Ngọ thì sinh ra, mưa trời ngừng tạnh quang đãng. Bèn đặt tên con là Vũ.

Khi sinh ra diện mạo phi thường, hình dung quý phái. Đến khi lên 5 thiên tư thông minh khác lạ, phẩm chất hơn người. Hàng ngày thường ở yên một nơi tự học xem sách, không đợi người giúp dạy. Lại giỏi đánh đàn, tinh thông âm luật. Đến khi 15 tuổi đi thi đậu Hiếu liêm, được cử làm quan cho nhà Lương là quan lệnh Long Xuyên (đổi tên là Lý Bôn Long), rồi được đề bạt chức Hiệu úy. Gặp lúc nhà Lương có loạn, bèn từ quan về rồi khởi binh đuổi các thủ lệnh, phá giặc Lâm Ấp bên ngoài. Liền xưng Đế, lập nước hiệu Vạn Xuân, đặt niên hiệu Thiên Đức, đóng đô ở Long Biên.

Ba năm sau, nhà Lương dẹp được loạn. Nhà Lương sai Tư mã Trần Bá Tiên đến xâm chiếm. Đế dẫn quân chống cự, thua ở Tô Lịch, sau lại thua ở Gia Ninh. Đế cùng với các tướng trong họ tộc dẫn quân vào Tân Xương, ở Liêu Trung, thu dưỡng quân binh, sửa sang khí giới giáo giáp. Tháng 8 lại dẫn quân ra đóng đồn ở hồ Điền Triệt, làm nhiều chiến thuyền lớn đóng chật mặt hồ. Quân Lương sợ hãi.

Một đêm nước sông chảy mạnh vào trong hồ. Quân Lương theo đó đánh trống reo hò mà vào. Đế cùng với các tướng cùng họ tộc rút lui về giữ trong động Khuất Liêu, giao lại quyền cho tướng Triệu Quang Phục chống cự với quân Lương của Bá Tiên. Đế ngày mùng 5 tháng 5, bỗng thấy một áng mây xanh, ba tiếng hiệu lệnh vang trên trời. Trong thành đất trời chuyển động, núi sông, cây cỏ vạn vật đều khiếp sợ. Mây lành năm sắc rực rỡ. Ba ngàn thế giới, vạn vật trăm thú kình nghê, cá rắn theo mưa gió đến hội chầu. Vương thấy nước nhà có điềm lạ, bèn chiếu lệnh cho quan văn võ áo mũ chỉnh tề, chay tịnh, đều tề tựu ở điện Kính Thiên vâng chờ lệnh, chầu bái Hoàng Đế, Thượng Đế, Tứ phủ vạn linh.

Hôm đó là ngày Giáp Thìn, một đám mây vàng bay từ phía Tây tới, dừng lại ở đầm rồng của điện Kính Thiên. Tự nhiên có 4 tướng hiện ra, cao hơn nửa trượng, đầu đội mũ hoa, thân mang áo hoàng bào gấm vóc, hông đeo đai ngọc, chân đi giày sắt, miệng cười hào quang tỏa lửa, mây bay ngập mắt, tay cầm một lệnh bài: Ngọc Hoàng Thượng đế sắc hạ xuống Nam Miên. Vương về triều sẽ tự nhiên mà bay lên.

Đến ngày 15 tháng 10 Lý Nam Đế bỗng nhiên thân thể mệt mỏi, dưah vào lan can, mơ màng mà hóa đi. Tên thờ là Đê Vũ Đại vương.

Lại nói, Công chúa Quý Minh là người làng Bồng Lai, có cha là Võ Bá Khánh, lấy vợ là Nguyễn Thị Dung. Đến ngày 15 tháng 3 sinh được một người con gái, nhan sắc tươi đẹp, hình tuy là nữ nhưng lại tương tự như nam. Ai cũng nói là có mặt đẹp như hoa đào, sắc xinh như ánh nước, thực là dung nhan chim sa cá lặn, lại có tướng mạo hoa nhường trăng thẹn, mày loan như trăng mới mọc, mắt trong như sóng thu, rang soi trắng trẻo mềm mại như hoa đang nở, ngọc sinh hương. Nên đặt tên là Minh. Hình dáng đều xem toàn mỹ vậy.

Đến năm lên 18 tuổi đi chơi ở Long Biên. Lý Nam Đế lúc đó đi chơi trong thành, gặp Quý Minh ở thành Long Biên, lấy làm thích thú, bèn đón về đô thành, làm sính lễ lớn mang đến ông Võ Bá Khánh. Mở tiệc trong quân cho tướng sĩ vui vẻ. Tự lập làm Đệ tam cung Công chúa. Sau khi về giữ ở động Khuất Liêu, đến tháng 5 Đệ tam cung Công chúa bị bệnh. Đến ngày 12 tháng 8 thì hóa.

Đế rất đau xót, bèn sai đem hài cốt chôn cất ở vùng đất trong động. Đến khi Hậu Lý Nam Đế truy tặng tổ tiên, đề cao công đức, tu lập đền miếu, phong thêm cho bách thần đã hóa của triều trước,  lệnh bộ Lễ viết sắc phong thần, ban cho tiền để dựng miếu, giao cho bộ Lễ mang sắc phong tới 372 đền truy tặng:

– Lý Nam Đế là Đê Vũ Linh ứng Đại vương Thượng thượng đẳng Phúc thần.

 Nhàn uyển Phong tư Trinh thục Quý Minh Công chúa.

Bộ Lễ vâng mang sắc phong qua phường Hạ, trang Thụ Triền thuộc đạo Bắc Ninh. Phụ lão tới hầu vâng lĩnh hai đạo sắc văn mang về phụng thờ. Phụ lão trang Thụ Triền tề tựu đón thỉnh thầy phong thủy có tiếng, tìm xem thiên văn địa lý, gặp thấy được ở ngay trong trang có một nơi có thế cục quý, dựa Càn Tốn, hướng kiêm Mão Dậu, lại còn trước có ấn đường làm án, nước chảy chầu phía trước, núi ngang hình chữ nhất, sau có rồng cuốn ôm gối, hai dòng nước hợp như cổ áo, là đất phát nhiều con trai mạnh khỏe, văn nhân tuấn tú. Bèn giao phường Hạ phụng thờ, muôn năm càng thêm tăng ngưỡng, trải các đời càng thêm kính thờ, ghi cúng ghi thờ để cho sống lâu, mạnh khỏe, phù trì cho phường Hạ được hưng vượng vậy.

Phả chép về một vị Đại vương thời Triệu Vũ Đế (Thần tích làng Ninh Sơn, tổng Chúc Sơn, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Đông)

Phả chép về một vị Đại vương thời Triệu Vũ Đế

Chi Cấn, bộ Trung đẳng.

Đất Việt xưa trời Nam khởi vận, núi sông chia cương vực theo sao Dực Chẩn, xe sách cuốn nối, các vùng đất An Nam đẹp tựa đuôi chim, phân cách thẳng hướng sao Đẩu Ngưu. Nam tới Minh đô Giao Chỉ, xếp vào hàng thư lễ. Sách Ngũ đế đức thời vua Nghiêu chép rằng Việt Thường Thị dâng một con rùa thần ngàn tuổi, lưng có chữ khoa đẩu, ghi lại từ khi khai mở đến nay. Vua Nghiêu sai chép làm lịch rùa. Sách Thượng thư Đại truyện chép thời Chu Thành Vương Việt Thường Thị vào cống chim trĩ trắng, một con trĩ đen, một cặp ngà voi. Quốc thống đến nay bền lâu vậy. Tuy vậy đến nay kể cũng đã xa xôi, Ngoại kỷ, Bản kỷ, Tiền biên, Hậu tục cho tới gần thời bây giờ mà tính đã vài ngàn năm. Quốc thống có lúc chia lúc hợp, chính trị có lúc được lúc mất. Phong tục thuần hậu hay ngang ngạnh khó mà luận được.

Lúc quốc sơ họ là Hồng Bàng, ban đầu nhận mệnh vua là Kinh Dương, là hậu duệ họ Thần Nông. Ban sơ Đế Minh phong vua là Kinh Dương Vương trị phương Nam, gọi là nước Xích Quỷ. Vua lấy tiên nữ Động Đình, sinh ra Lạc Long Quân, kế nối quốc thống Kinh Dương, có điềm sinh trăm trai, thực là thủy tổ của Bách Việt. Như khi khởi đầu của trời đất nếu đã có người nuốt trứng dẫm vết mà sinh ra Thương Chu, tất có thuyết sinh trăm trứng. Trưởng tử của Lạc Long lấy tên là Hùng Vương, đóng đô ở Phong Châu, dựng nước Văn Lang, bèn chia thành 15 bộ để thống trị, định ra tên quan để nhận chức, thường xăm hình lên thân mình để tránh các loài thủy tộc, dịch tiếng nhiều lần để thông hiếu với Trung châu. Truyền rằng bách thần sông núi thường có thể xuất thế, khó biết rõ ở nơi nào. Như thế mà truyền 18 đời, trải 2600 năm, tất phong tục trở nên đôn hậu, cũng có thể nghĩ đến vậy.

Sau này vua ỷ mình có sức thần mà không tu sửa việc võ nên mất. Lại truyền tới Thục An Dương Vương thắng được Văn Lang, do không tu đức để yên dân chúng, khinh suất tin vào con rể nên cuối cùng đã bại. An Dương có trí dũng nên Triệu Vũ không địch lại nổi. Tuy nhiên, Thục vì một nữ nhân mà có uy chiếm Văn Lang, lại cũng vì một nữ nhân mà bị họ Triệu thôn tính. Truyền rằng Vua bắt đầu thế nào thì kết thúc cũng như vậy, là lẽ đó vậy. Thục đế vong.

Trải tới thời đầu Tây Hán, ở trang Thụy Hương, huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai, đạo Sơn Tây người trong trang có một nhà họ Lý tên Phụng, lấy vợ là Đào Thị Thanh. Gia cảnh túng quẫn, nhưng tấm lòng vẫn đều có đức dày. Khi ấy vợ chồng cùng đến phủ Ninh Sơn ở trang Ninh Sơn ở lại đó, lấy việc kiếm củi làm nghề sinh nhai hàng ngày, dần dân trở nên giàu có. Tuổi đã gần 50 mà còn chưa có con trai. Một hôm nghe nói ở Ninh Sơn có một ngôi đền rất thiêng, thường có báo ứng, vợ chồng ông bèn sắm sửa lễ nghi vào trong đền làm lễ cầu khấn. Đêm đó Thái bà nằm mộng bỗng thấy có một người cao lớn đường đường, thân khoác áo hồng, đứng trước án mà nói:

– Gia đình khanh có đức dày. Trời đã định cho ta đầu nhập làm con, xuất thế giúp nước. Ngày sau sẽ được nhờ, xin chớ lo lắng.

Nói xong liền biến mất. Bỗng thấy một ánh sao hào quang rơi thẳng xuống miệng, bèn nuốt lấy. Bà sợ hãi tỉnh dậy, kể lại cho ông nghe. Ông nói rằng đó tất là điềm lành. Đến sáng ngày vợ chồng ông làm lễ tạ. Từ đò trở về cố hương ở Từ Liêm ở. Lại thấy bà Đào Thị có mang thai. 

Đến năm Giáp Tý tháng Giêng ngày mùng 9 sinh hạ được một người con trai, thiên tư cao lớn, thể mạo khôi kỳ, cao tới 2 trượng. Ông biết đó là thiên tướng giáng sinh, thần linh xuất thế bèn đặt tên là Trọng. Khi ông lên 7 tuổi học lực tinh thông, đọc hiểu binh thư, tài về võ lược. Mỗi khi ra nơi can trường thì có cái dũng vạn người không đương. Đến khi tuổi 20 cha mẹ đều mất. Sau 3 năm chịu tang ông bèn vào Tần làm quan, làm đến chức Tư lệ Hiệu úy, dẫn quân đánh giặc Hung Nô ở Lâm Thao. Quân Hung Nô thua to bỏ chạy. 

Đến khi Triệu Vũ Đế họ Triệu tên Đà, người Hán đất Chân Định, khi Tần loạn chiếm cứ Lĩnh Biểu, mưu lấy Âu Lạc. Xe mui vàng, cờ cắm trái tự xưng đế một phương, cũng là bậc có khí lược anh hùng. Thế rồi Triệu Đà gọi ông Lý Trọng cho tướng cầm quân phương Nam, dẫn quân đánh Thục. Ông Trọng nhận mệnh. Tức thì ông Trọng đem quân thủy bộ năm nghìn quân tiến đến huyện Ninh Sơn, phủ Quốc Oai, đạo Sơn tây (Ninh Sơn sau đổi thành An Sơn), đóng quân tập trung ở trang Ninh Sơn. Ông đến bái yết đền thần, cho gọi phụ lão trang Ninh Sơn đến nói: 

– Cha mẹ ta vốn ngày trước nghèo nàn, đến ở trang này, lấy nghề hái củi sinh sống. Cho nên ta chính là thần của bản trang giáng sinh xuất thế. Vì vậy ta đến đóng ở đây để xem tình trạng thế nào, không phải là quân lạ xâm phạm, xin đừng sợ.

Khi đó phụ lão nghe vậy rất vui mừng, đều làm lễ bái hạ, xin làm gia thần. Ngay hôm đó ông bèn truyền binh sĩ cùng nhân dân lập nên một đồn để sau này chống quân Thục. Rồi ông tìm người trong trang khỏe mạnh, được 50 người làm gia thần thủ túc. Ngày hôm sau thấy có sứ giả mang thư lệnh đến, gọi ông dẫn quân đánh đạo Bắc của giặc Thục. Ông bèn hôm đó giết mổ làm cỗ trâu, tế cáo trời đất sông núi bách thần, rồi cất quân tiến đến đạo Kinh Bắc, thành Cổ Loa, hội bàn kế tấn công. Ngày hôm đó cùng quân Thục đánh một trận lớn. Quân Thục thua to, chém được chính tướng cùng với các tì tướng và quân sĩ vài ngàn đầu. Giặc thua chạy không biết đi đâu. Từ đó họ Triệu là Đế, thần dân được yên bình. Lập nước quy mô. Ông mới than rằng:

– Sinh mệnh của hàng vạn người đều dựa vào đây, mà ta sở dĩ phá giặc Thục là do trời đã giúp ta vậy.

Ông bèn nói với gia thần trang Ninh Sơn rằng:

– Sau này ta trăm tuổi để cho việc thờ tế có 10 nén vàng, ngày sau hãy mua thêm đất đai cho việc thờ cúng.

Khi ấy đang trời mùa xuân vào ngày đầu thượng tuần tháng Hai thấy có sứ giả của Triệu đem thư tới, trong đó nói rằng khi giặc Thục đã thua chạy, hôm đó đã dâng tấu lên Triệu Vương, vua ban chiếu gọi ông về phụng mệnh. Vua mở tiệc mừng lớn, gia phong tướng sĩ các cấp, bèn cho ông nhận thực ấp ở huyện Ninh Sơn. 

Ông bái tạ, phản hồi về nơi ở tại Ninh Sơn (sau thuộc phủ Ứng Thiên thành Thăng Long). Ngay hôm đó ông truyền cho phụ lão và nhân dân trong trang tu sửa đền miếu, làm cho nghiêm trang. Ông bày tiệc mời phụ lão nhân dân Ninh Sơn đến. Đang lúc yến tiệc bỗng thấy trời đất nổi lên một đám mây vàng lớn, hình như dải lụa đỏ từ trên trời rơi thẳng xuống trước miếu. Lại thấy ông theo mây mà đi, tức hóa vậy. Khi đó là ngày mùng 10 tháng 8 giờ Ngọ. Nhân dân kinh sợ bèn làm lễ dâng biểu tấu lên triều đình. Vua sai quay về làm lễ tế, lại cho trang Ninh Sơn làm nơi hộ nhi để phụng thờ.

Đến khi Cao Biền đánh Nam Chiếu có hiển linh phù trợ. Biền cho tu sửa miếu đền để thờ. Từ đó trở thành thường lệ.

Đến thời Tống niên hiệu Thái Bình sai Hầu Nhân Bảo dẫn 20 vạn quân, thủy bộ cùng tiến, chia đạo xâm chiếm nước Nam. Khi ấy Lê Đại Hành tự dẫn đại quân mười vạn chống cự, tiến đến huyện Thanh Oai, phủ Ứng Thiên thì gặp đạo quân thủy tiến đến. Đế bèn đóng quân ở bên bến sông. Đêm đó cần khấn ở đền thần để thần âm phù dẹp giặc Hầu, sẽ phong thêm là Trung đẳng phúc thần. Rồi vua xuất chiến, quân Nguyên quả nhiên thua, tướng Nhân Bảo cùng quân tùy tùng đều giết ngay. Lại bắt được đại tướng Biện Phụng Huân, dẫn về kinh, khải hoàn. Sau đó khi đãi tướng sĩ nhân đó nói rằng:

–  Giặc Nguyên dẹp sạch cũng có thần trợ giúp vậy.

Bèn phong thêm cho bách thần. Phong Lý Trọng Tế thế Hộ quốc Khang dân Phù vận Dương võ Bảo cảnh Hiển ứng Anh linh Hùng kiệt Đại vương. Màu áo hồng đỏ khi làm lễ đều cấm.

Lại nói, từ đó về sau có nhiều linh ứng, nên có nhiều đế vương phong thêm mỹ tự. Thời Trần Thái Tông giặc Nguyên đến xâm phạm, kinh thành bị vây hãm. Trần Quốc Tuấn vâng mệnh cầu đảo bách thần ở các đền. Qua một đêm Đại vương đã có hiển ứng, âm phù. Đến khi dẹp được giặc Mã Nhi, Thái Tông bèn bao phong mỹ tự là Linh ứng Anh triết Hiển hữu.

Đến khi Lê Thái Tổ khởi nghĩa dẹp giặc Minh Liễu Thăng, rồi có được thiên hạ, Thái Tổ bèn phong thêm là Phổ tế Anh linh. Sắc chỉ ban cho trang Ninh Sơn tu sửa đền miếu để thờ phing. Tốt thay! Lành thay!

Vâng khai sinh hóa các lễ và các húy tự nhất thiết cấm là Phụng, Thanh, Trọng. Đồng ý cho trang Ninh Sơn phụng thờ.

Ngày sinh thần là mùng 9 tháng Giêng. Lễ chính dùng trên là cỗ chay, dưới là cỗ trâu, xôi, rượu, bánh dày, ca hát, đấu vật các trò, ba ngày thì ngừng.

Ngày hóa là mùng 10 tháng 8. Lễ chính dùng trên là cỗ chay, dưới là trâu đen, xôi, rượu, bánh dày.

Niên hiệu Thành Thái năm thứ 10 tháng 3 nhuận ngày 19 xã Ninh Sơn vâng sao chính bản từ chính thể có niên hiệu Hồng Phúc năm thứ nhất của Hàn lâm bộ Lễ Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính đã vâng soạn, niên hiệu Vĩnh Hữu thứ 6 Quản giám Bách linh Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh Nguyễn Hiền chính bản cũ.

Xã Ninh Sơn vâng sao chính bản sự tích.

Lý trưởng Nguyễn Huy.

Ngọc phả ghi chép Tiền Lý Nam Đế và Linh Nhân Hoàng Thái Hậu

Thần tích xã Hữu Lộc, tổng Cự Lâm, huyện Thư Trì, tỉnh Thái Bình, dịch từ bản chép tay năm Tự Đức thứ 13 hiện lưu lại miếu Hữu Lộc, có đối chiếu với bản thần tích số hiệu AE.a5/61 của Viện nghiên cứu Hán Nôm.

Chi Càn, bộ Thượng đẳng. Bản chính bộ Lễ quốc triều.

Xưa đất Việt ta, họ Hùng mở mang cơ nghiệp, các bậc thánh tổ dựng cơ đồ, truyền nối 18 đời, thịnh trị được hơn 2000 năm. Cha truyền con nối đều xưng là Hùng Vương. Ngọc lụa, xe sách, núi sông một mối. Đó là tổ của Bách Việt vậy. Truyền đến Tuyền Vương không có người nối dõi, bèn nhường nước cho Thục An Dương Vương. Dương Vương giữ nước được 50 năm thì đến Triệu Đà lấy nước, từ đó nội thuộc nhà Hán. 

Trải qua các triều đại Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương, đến khi nhà Lương sai Tiêu Tư sang làm Thái thú đất Việt ta. Tư vốn là người tham tàn bạo ngược, thi hành chính sách hà khắc. Đất Việt ta ai ai cũng chịu cảnh lầm than, không chốn cậy nhờ. Nhưng may thay lòng người u uất, ý trời tất sẽ dẹp yên! 

Bấy giờ có người ở Long Hưng, Thái Bình họ Lý tên Bí, tổ tiên vốn là người phương Bắc. Cuối thời Tây Hán phải khổ sở việc chinh chiến, phu dịch mới lánh sang đất Nam sinh sống,  trở thành người Nam, đến đời ông cũng được 7 đời (Xét tích xưa, cha của ông là Lý Công Chước, mẹ là Trương Thị Hằng. Mẹ ông mộng thấy cưỡi rồng bay lên trời ôm được Thái dương Tinh quân mà hạ xuống thì bỗng nhiên tỉnh giấc, biết là gặp giấc mộng Bồng Từ mà thôi. Thế rồi bà có mang, mà đến khi sinh ông vào ngày 12 tháng 7 giữa mùa thu năm Nhâm Thân. Đương lúc sinh ra, hào quang đầy phòng, khí lành bao phủ xung quanh. Khi ấy mọi người đều hô rằng: Hương thơm là từ hài nhi đó). Ông bẩm sinh minh mẫn chẳng học mà cũng biết. Trên tỏ thiên văn, dưới tường địa lý, tất cả đều tinh thông. Năm ông vừa 16 tuổi, cha mẹ đều lần lượt qua đời. 

Năm 19 tuổi, ông ra làm quan nhà Lương làm chức Thái bộc xạ. Đến khi nhà Lương gặp loạn, ông trở về Thái Bình chiêu hiền nạp sĩ, dấy đại quân khởi nghĩa. Ông xem xét thấy nơi nào đất Việt ta có đất đai trù phú, dân cư trọng yếu vững chắc, ông đều lập đồn doanh để làm nơi phòng ngự. Một hôm ông dẫn quân đi qua khu An Để, huyện Thư Trì, phủ Kiến Xương, đạo Sơn Nam. Ông thấy địa thế nước chạy uốn quanh co như rồng uốn khúc, bên cạnh có một dòng sông nhỏ chảy vòng quanh, sơn thủy hữu tình. Vả lại nơi đây nhân dân no đủ, phong tục thuần hậu. Đúng là nơi đất để lập đồn doanh. Ông cao hứng ngâm một bài thơ:

Thành thị lâu đài xinh tựa ngọc

Núi sông, hoa cỏ ngát màu xanh

Thừa khí đúc thành, tuy mạch nhỏ

Nơi đây thực chốn dựng cung thành.

Hôm ấy ông lập tức sai quân lính cùng nhân dân xây dựng một đồn doanh ở phía bờ ngạn sông nhỏ bên cạnh khu dân cư, tọa Quý hướng Đinh, phân kim kiêm hướng Bính Tý, Bính Ngọ. Mọi việc hoàn tất, từ đó ông Đông chinh Tây chiến, thường thường qua lại đóng quân ở nơi này.

Lại nói, bấy giờ ở khu Tây Để có người con gái nhà họ Đỗ tên là Khương Nương (Xét tích xưa, cha của Khương Nương là Đỗ Công Cẩn, mẹ là Bùi Thị Hoan, vốn là người khu Tây Để, gia thế lấy nghề y sinh sống. Ông Đỗ đã ngoài 50 tuổi mà chưa có con. Vợ chồng ông đi lễ cầu đảo đến chùa núi Phật Tích, mộng thấy có một người trao cho một chiếc gương vuông, đến khi trở về thấy cảm động trong người mà có thai. Đến kỳ sinh nở vào ngày mùng 10 tháng 11 mùa Đông năm Đinh Sửu, bà sinh hạ được một người con gái, má phấn môi hồng, mắt phượng mày ngài. Hai vợ chồng vui mừng khôn xiết đặt tên cho con là Khương Nương). 

Năm 16 tuổi tròn, Khương Nương nhan sắc tuyệt trần, cho dù tiên nữ chốn Bồng Doanh hay người đẹp nơi Lãng Uyển cũng chẳng thể vượt qua. Vả lại ngay từ nhỏ nàng đã theo học tinh thông kinh sử. Người đương thời gọi là bậc nữ trung mà còn hơn cả nam giới. Tuy nhiên chốn thiềm cung còn đóng, lá ngọc đương phong, mối lương duyên chưa hẹn cùng ai. 

Bấy giờ Lý công nghe biết nàng tài sắc vẹn toàn bèn nói với Đỗ Công xin được đính ước kết duyên trăm năm cùng với Khương Nương. Đỗ Công mừng lắm liền đồng ý. Thế rồi chọn ngày ngày lành tháng tốt định lễ sánh đôi duyên hòa hợp cùng nhau. Từ đấy ông lập làm Đệ nhất cung phi, cho nàng ở lại khu Tây Để để phụng sự cha mẹ nàng. 

Xong việc, mổ trâu bò khao thưởng quân sĩ. Ông chọn đinh phu trai tráng trong khu Tây Để được 36 người để làm người hầu cận thân tín. Hôm ấy liền đem quân thẳng tiến, trên thuyền thì chiêng trống sấm vang lừng ngàn dặm, trên đường tinh kỳ hai bên như ảnh bóng long xà lay động, tiến thẳng đến thành Tiêu Tư đánh lớn một trận, Tiêu Tư đại bại, bỏ thành tháo chạy. Lý công chiếm giữ được thành ấy nhưng chưa được bao lâu quân Lâm Ấp lại vào cướp bóc. Ông lại sai Đại tướng Phong Tu đại phá quân Lâm Ấp. 

Thiên hạ thái bình, giặc cướp được dẹp yên. Ông lên ngôi Hoàng đế, tự lập là Tiền Lý Nam Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân, đặt quốc đô là thành Long Biên. Năm ấy, cũng sách phong cho Khương Nương làm Hoàng hậu, lấy khu Tây Để làm nơi nghỉ ngơi cho Hoàng hậu. Dân được ban cho miễn tô thuế, binh phu. Từ đấy trang thôn Tây Để đều được nhận phúc lành, tất thảy đều được vinh hiển giàu có vậy.

Lại nói, từ khi Khương Nương vào triều đã được 4 năm. Một hôm Đỗ công bỗng bị bệnh cảm ngoài rồi Đỗ công mất. Vua cho Hoàng hậu và một viên Đại tướng đưa Hoàng hậu về khu Tây Để làm lễ an táng. Từ khi Đỗ công mất, phu nhân của ông vì đau buồn trước cái chết của chồng mà lâm bệnh nặng, thuốc thang chữa trị mà chẳng thuyên giảm, cầu thần cũng chẳng công hiệu. Phu nhân cũng qua đời, Hoàng hậu bèn làm lễ mai táng, viết biểu tấu với vua xin cho phép ở lại quê nhà chịu tang cha mẹ. Vua chấp thuận và ban cho vô số vàng bạc, lụa là gấm vóc. Từ đấy, Hoàng hậu ở khu Tây Để chuộng làm việc nhân nghĩa, phát chẩn cứu bần. Phàm trong nhân dân từ người già yếu cho đến người cô quả Hoàng hậu đều đem của cải trong nhà ra cứu giúp. Tất thảy nhân dân đều ca ngợi ân đức, đội ơn như trời biển, thân yêu như cha mẹ vậy.

Lại nói, bấy giờ Lý Nam đế ở ngôi đã được 7 năm. Nhà Lương lại sai Trần Bá Tiên đem quân xâm chiếm nước Nam để rửa mối nhục. Khi đó vua đóng quân ở hồ Triệt. Quân Lương không dám tiến lại gần, đã hơn năm mà chưa phân thắng bại. Bấy giờ vào tháng 6 mùa hè, nước sông dâng lên đổ vào đầy hồ. Bá Tiên thừa cơ chỉnh đốn thuyền bè theo dòng nước mà thẳng tiến vào hồ Triệt. Quân của vua bị thua. Vua bèn trao quyền lại cho Đại tướng Triệu Quang Phục, còn mình lui vào giữ động Khuất Liễu rồi qua đời (bấy giờ là ngày 15 tháng 7). Khi đó trời đất bỗng nhiên tối tăm. Qua 3 ngày thì trời quang mây tạnh. Tại nơi này đã thấy mối đắp thành gò lớn. 

Lúc này Khương Nương Hoàng hậu đang ở khu Tây Để, khóc lóc ầm trời, không ai ngăn nổi, lập tức truyền cho nhân dân xây dựng một đền ở bên bờ sông nơi cung doanh theo phương hướng cũ, viết thần vị của vua là: Tiền Lý Nam Đế Hoàng đế, để phụng thờ.

Công việc xong xuôi Khương Nương bèn ban cho nhân dân 10 hốt vàng để nhân dân mua nhiều ao ruộng làm vốn công. Lúc đó Khương Nương bảo với nhân dân rằng: 

  • Ta với nhân dân đã thành tình nghĩa lâu rồi, chẳng phải một ngày mà nên há lại quên sao? Ví như ta về sau trăm tuổi thì nhân dân viết tên thần vị của ta để phụng thờ với Tiên đế, cùng được phối hưởng. Nhân dân nên tuân theo lệnh của ta không được thay đổi. 

Lúc đó nhân dân đều lạy tạ nhận lệnh. Việc xong Khương Nương và 6 người hầu gái cùng vào động Khuất Liễu thăm viếng lăng mộ của Tiên đế. Trên đường đi mới vào đến trong động, bỗng nhiên thấy trời đất mờ mịt, sấm chớp ầm vang. Trong một khoảnh khắc mây đen tan biến thì Khương Nương đã không còn thấy đâu nữa rồi. Chỉ thấy bên cạnh lăng mộ của Tiên đế lại nổi lên một gò đất (bấy giờ là ngày 16 tháng 2). 

Lúc đó mấy người thị nữ theo Nương đến đấy nhìn thấy sự tình như vậy tất cả đều kinh hãi. Khi trở về nói với nhân dân thì nhân dân đều nói ngày 16 tháng đó, nhân dân đều nhìn thấy có một vầng sáng lớn giống như dải lụa từ phương Nam bay ngang thẳng đến trước miếu rồi biến mất. Đến lúc này, khi nghe tin Hoàng hậu đã hóa thì nhân dân đều lấy làm kinh sợ. Hôm đó nhân dân làm lễ viết tên thần: Khương Nương Hoàng hậu, để phụng thờ cùng một nơi với Lý Nam Đế. 

Lại nói, từ khi Lý Nam Đế đã băng hà, Quang Phục đem quân về giữ đầm Dạ Trạch, lập đàn cầu đảo trời đất. Sau 3 ngày thấy một ông lão cưỡi rồng vàng từ trên trời bay thẳng xuống, tuốt móng rồng trao cho Quang Phục. Quang Phục đem làm lẫy nỏ, gọi là Nỏ thần móng rồng. Phàm có những khi nhanh hay chậm, mọi lúc đem hướng vào thì đều không có ai chống lại được. Vì thế mà bình định được giặc Lương. Quang Phục tự lập làm Triệu Việt Vương. 

Bấy giờ có con của anh trai Tiền Lý Nam Đế (tức là con của Đào Lang Vương) tên là Lý Phật Tử cùng con trai là Nhã Lang khởi binh ý đồ muốn khôi phục nhà Lý. Nhưng vì Triệu Việt Vương có nỏ thần móng rồng, nên khi giao chiến quân của Lý Phật Tử đều thua cả. Một ngày Phật Tử cùng với các tướng sĩ bàn âm mưu cầu hôn con gái của Triệu Việt Vương là Bạo Nương, xin cho Nhã Lang kết duyên vợ chồng. Việt Vương đồng ý, quần thần đều can ngăn nhưng vua không nghe. Thế là Lý Phật Tử sai con trai Nhã Lang nhập vào hàng quân để làm con tin. Từ đấy, Triệu Việt Vương rất tin yêu Nhã Lang. Trải qua thời gian 1 năm, một ngày Nhã Lang cùng Bạo Nương ngồi uống trà. Nhân đó Lang mới hỏi Cảo Nương rằng: 

  • Xưa kia 2 nước cùng là kẻ thù giao chiến không ngừng. Nay đã nên duyên Tần – Tấn thì việc chiến tranh cũng có thể đã dứt rồi. Nhưng xưa kia Hoàng phụ có thuật lạ gì mà khiến cho phụ thân ta nhiều lần thua bại? 

Bạo Nương chẳng để ý đem nỏ thần móng rồng cho Nhã Lang xem. Nhã Lang trộm nhìn biết được như vậy. Một ngày khác hoán đổi lẫy nỏ, lấy trộm móng rồng cất giấu một nơi. Xong việc Nhã Lang xin vua cho về thăm cha. Vua cho về. Nhã Lang vội vàng phi ngựa chạy về đem tâu với cha mình. Lý Phật Tử biết vậy đem quân tới đánh Triệu Việt Vương. Triệu Việt Vương đã mất nỏ thần, đành bỏ thành mà chạy thẳng đến của biển Đại Áp mà mất. Tàn quân còn lại đều được dẹp yên. 

Phật Tử lên ngôi tự lập làm Hậu Lý Nam Đế. Ông bèn luận công ban thưởng các cấp bậc. Thế rồi tặng phong sắc chỉ, mỹ tự cho bách thần. Bèn tôn phong cho Tiền Lý Nam đế sắc chỉ là Thượng đẳng Tôn thần, lại tôn phong cho Khương Nương làm Linh Nhân Hoàng Thái hậu. Truyền cho các địa phương sở tại, trang khu có đồn doanh được thiết lập của Lý Nam Đế trước đây, nhanh chóng trở về kinh thành nghênh đón sắc phong mang về nhân dân để phụng thờ. Bấy giờ khu Tây Để nghe được chiếu chỉ, các bậc phụ lão tới kinh thành làm lễ rước sắc về, nhân dân sửa sang miếu điện để phụng thờ. Từ đấy về sau, nhân dân, đất nước cầu đảo đều có nhiều linh ứng.

Khi nước Nam trải qua các triều đại có Đinh, Lê, Lý, Trần 4 nhà khai sáng nghiệp lớn, đều thường giúp nước cứu dân. Đến cuối nhà Trần, họ Hồ tranh ngôi, giặc Minh làm loạn. Bấy giờ có người ở động Lam Sơn, huyện Lương Giang, phủ Thiệu Thiên, Ái Châu, họ Lê tên Lợi khởi nghĩa Lam Sơn với ba ngàn quân mạnh đã tiễu trừ được họ Hồ và dẹp yên giặc Minh. Liền lên ngôi Hoàng đế ở Lam Sơn, đó là Lê Thái Tổ, lấy niên hiệu là Thuận Thiên.

Truyền ngôi đến Chiêu Tông thì quyền thần họ Mạc chiếm ngôi. Bấy giờ có Đại thần là Nguyễn Thái úy dẫn quân đánh dẹp. Một ngày quan Thái úy dẫn quân qua nơi miếu khu Tây Để làm lễ cầu đảo, cầu âm phù đánh giặc giúp nước dẹp giặc, nếu sau này đất nước được thanh bình sẽ cùng nhau được hưởng phúc lành. Làm lễ xong đem quân tiễu trừ giặc Mạc. Đến khi thiên hạ thái bình Thái úy cùng Chiêu Tông trở về chính cung, lên ngôi Hoàng đế. Thế rồi ban thưởng công lao ba quân, gia phong tướng sĩ các cấp theo thứ bậc, cho đến việc truy phong bách thần giúp nước. Quan Thái úy dâng biểu tâu ngày trước đã cầu đảo ở nơi miếu khu Tây Để. Vua nghe biết bèn gia phong sắc chỉ, lệnh cho quan Thái úy rước sắc về khu Tây Để làm lễ tế tự. Thái úy phụng mệnh nghênh sắc về khu Tây Để, cho mổ trâu, làm lễ tế tự. Việc xong, truyền cho nhân dân sửa sang cung đền để giữ hương khói ngàn năm, cùng hưởng phúc lành với đất nước kéo dài mãi mãi là lệ thức vậy. Tốt thay!

Tôn phong Tiền Lý Nam đế Hoàng đế Thượng đẳng Tôn thần.

Phong cho Linh Nhân Hoàng Thái hậu triều Lý.

Ban cho khu Tây Để, trang An Để, huyện Thư Trì, phủ Kiến Xương, đạo Sơn Nam phụng thờ.

Theo các tiết Khánh hạ, ngày hóa, ngày sinh và tên húy tên tự: hai chữ Bí, Khương cùng tên Thánh phụ, Thánh mẫu xem trong tích trên, tất thảy đều phải tránh âm. Đền chính ở động Khuất Liễu.

– Ngày 12 tháng 7, ngày sinh của Hoàng đế. Lễ dùng trâu bò, ca hát.

– Ngày 15 tháng 7, ngày hóa của Hoàng đế. Lễ dùng lợn đen, xôi, rượu.

– Ngày mùng 10 tháng 11, ngày sinh của Hoàng hậu. Lễ dùng tế trên mâm chay oản, quả, mâm dưới dùng lợn đen, xôi, rượu.

– Ngày 16 tháng 2, ngày hóa của Hoàng hậu. Lễ dùng y như lệ trước trong ngày sinh của thần.

– Ngày Khánh hạ mùng 2 tháng Giêng, ngày mùng 2 tháng 12. Làm lễ tùy theo.

Phàm trong thiên hạ các trang, khu phụng thờ Lý Nam Đế tổng cộng có 87 nơi, mà khu Tây Để là thứ 28 trong đó.

Ngày tốt tháng đầu thu năm Hồng Phúc nguyên niên (1572), Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính phụng mệnh soạn.

Ngày tốt tháng giữa mùa hè năm Hoàng triều Vĩnh Hựu thứ 4 (1738), Quản giám bách thần Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh, thần, Nguyễn Hiền lại tuân theo bản chính triều cũ phụng mệnh sao chép.

Hoàng triều Tự Đức năm thứ 13 (1860) ngày tốt tháng cuối mùa ?, dân gốc của xã lại tuân theo đúng như bản chính mà vâng chép.

Triệu Việt Vương

Tôi viết bài thơ Triệu Việt Vương

Chống Tần Chân Định kiến cơ xương

Núi Châu mây hiển che quân chủ

Sông Nhị rồng lên hiệu bốn phương

Dạ Trạch hùng uy tan giặc dữ

Phiên Ngung hoàng ốc tiết mao dương

Tiên đồng thoát trảo về nơi biển

Nam Việt vạn xuân mãi ngát hương.

Hai vị Lý Nam Đế trong sử Việt

Trên cơ sở phân tích các di tích và sự tích về Lý Nam Đế, có thể nhận thấy có 2 nhân vật lịch sử Lý Nam Đế có nguồn gốc và thời gian tách biệt, cụ thể là:

1. LÝ BÔN LONG, người Long Hưng Thái Bình, làm quan lệnh Long Xuyên, lấy vợ ở Vũ Thư, đánh Long Biên – Bắc Ninh, xưng đế nước Vạn Xuân, chặn giặc ở Hợp Phố, khi dời đi đã giao quyền cho Tả tướng quân Triệu Quang Phục. Tức đây là Triệu Vũ Đế khởi nghĩa kháng Tần chống Sở thời trước Công nguyên.

2. LÝ XÁ LỢI, người châu Dã Năng, đi tu trong chùa từ nhỏ, khởi nghĩa ở vùng Sơn Tây, đánh chiếm vùng Đông Anh – Hà Nội, mở 

nước Lâm Ấp, chặn giặc ở cửa sông Tô Lịch, sau giao quyền lại cho Hữu tướng Phạm Tu. Tức đây là Triệu Quốc Đạt – Khu Liên chống giặc Đông Hán.

Thần tích làng Cổ Trai, tổng Duyên Hà, huyện Duyên Hà, tỉnh Thái Bình

Triều Tiền Lý đánh giặc Lương Lý Nam Hoàng Đế cùng Hậu Lý Linh Lang Đại vương

Quan Thượng thư Bộ Lễ thiên triều vâng soạn 

Ghi chép ngọc phả cổ. Chi Càn.
Nước Nam Việt xưa Sơn Nguyên Thánh Tổ trời Nam nhận cơ đồ, cổ gọi là Việt Thường Thị, Kinh Dương Vương thừa mệnh vua cha đến trị trậm Nam Bang, đất thắng châu Lạc xây dựng kinh đô, hình mạnh Nghĩa Lĩnh trùng tu cung cư miếu điện. Đời đời cha truyền con nối hơn hai ngàn năm đều lấy Hùng Vương làm tôn hiệu.
Lại nói, thời trị 18 triều Hùng truyền đến Duệ Vương. Vương thọ 160 năm, không có người kế hậu, bèn nhường ngôi cho Thục An Dương Vương. Vương có nước được 50 năm, thì có người Chân Nam Định họ Triệu tên Đà cất quân đến đánh, nên nhà Thục mất. Triệu Đà đươc nước, cha truyền con theo đều xưng gọi là bậc chủ anh hùng.
Từ đó đất Việt ta thuộc về nhà Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương, tổng cộng 349 năm. Thời vua Lương lấy Tiêu Tư làm thái thú đất Việt. Tiêu Tư là người nặng hình pháp, chính trị ngược ngạo, hại dân. Nhân dân đất Việt thật là chưa có lúc nào khổ như lúc này.
Lại nói, thời ấy tương truyền rằng có người động Thái Bình quận Long Biên họ Lý tên Tấn. Ông là người xử thế văn thơ, khoan hòa hiếu đễ, kế đời theo nghiệp văn thơ, công đức rộng, tài kiêm văn võ, anh hùng vô địch. Ông lấy bà Đào Thị Lan làm vợ, mộng thấy có rồng vàng đến quấn quanh thân mà có mang. Mang thai được 12 tháng 15 ngày đến năm Kỷ Sửu ngày 12 tháng Giêng giờ Thân bỗng thấy mây lành rạng rỡ, khí lành bay khắp nơi, hương thơm ngào ngạt. Thái bà họ Đào sinh được một người con trai, vẻ rồng mắt phượng, 5 gò chầu về, tay dài quá gối, sau lưng có 28 vì tinh tú. Trên bụng có lời viết rằng: Lý Bí Lý Nam Hoàng Đế.
Đến khi lên 5 tuổi đã hiểu âm luật, nên bèn đặt tên là ông Lý Bí. Đến 7 tuổi người cha bèn cho vào học với Trần Giản tiên sinh. Học được 18 năm thì quán triệt văn chương, trên từ thiên văn, dưới đến địa lý, không việc gì không biết, không vật gì không hiểu. Có thể sánh cùng cung tường Khổng Mạnh, thao lược bốn khóa ba truyện không nhường Tôn Ngô.
Khi ông 16 tuổi thì thân dài 8 thước, sức chống vạn người, cao lớn đường đường, thần oai võ lược. Bỗng nhiên nổi chí tang bồng, tỏ tâm với việc cung tên. Ông Bí bèn triệu tập nghĩa binh. Anh hùng bốn biển đều lên tiếng. Ông Bí có kinh luân hơn người, anh tài đức độ, tự có khí tượng của bậc đế vương.
Khi ấy, những người tài cao, chí lớn ở bốn biển nghe tiếng đều tự đến xin làm con cháu nước nhà. Ông có được hơn ba vạn người. Ông Bí bèn truyền cho 300 danh tướng làm cỗ thái lao, lập đàn cầu đảo trời đất bách thần. Ông bèn khấn rằng:
–    Thần là người Nam sao có thể điềm nhiên khi nay có người nước lạ xưng là tướng Lương, tên là Tiêu Tư, tàn ác nhân đân, giết hại vật. Sinh dân than oán cảnh chính trị bạo ngược, bất nhân. Nay thần cùng với quân binh dẹp giặc. Nguyện xin được đại đức của trời đất âm phù cho vậy.
Khấn xong ông bèn xưng là Tiền Lý Nam Đế, cất quân mạnh hơn ba vạn người. Vua bèn truyền các danh tướng nổi danh cương mạnh đi xem địa thế hình cương Nam Bang, tìm đất tốt để thiết lập hành cung, đồn sở. Một hôm vua dẫn quân đến khu Cổ Trai, trang Vĩnh Duyên, tổng Duyên Hà, huyện Duyên Hà, phủ Tân Hưng, thấy vùng đất có đầu mạch từ trong làng chạy ra, hình đất có thế cục quý, rồng chạy uốn lượn, nước chảy quanh co. Trái phải có rồng hổ chầu về, phong tinh dẫn mạch, nhất nhất quay đầu. Vua bèn truyền binh sĩ và nhân dân thiết lập một nơi hành cung để ở, dựa Quý hướng Đinh. Việc xong vua bèn đem quân mạnh 5 vạn chia thành thủy bộ, cùng tiến đến đất Vạn Xuân, đánh trận lớn. Tổng cộng 12 trận. Quân Lương thua to, bỏ chạy. Vua đuổi theo chém được không kể xiết, đều rơi xuống sông Nhĩ. Nhánh sông nước không chảy được. Còn lại dư đảng đều bắt sống hết, không còn một tên. Vua bèn tự lập là Tiền Lý Nam Đế Hoàng đế.
Từ đó quốc gia vô sự, thiên hạ thanh bình, trong triều không có việc lớn, vạn dân được no đủ, mừng vui. Bốn biển thấy cảnh tượng thái hòa. Khi ấy, vua loan giá đi chơi phong cảnh trời Nam, không nơi nào không đến. Lúc thì đàn reo sáo múa, thi thư đối xướng với đất trời. Nhạc phượng ca loan, âm sắc như chốn Bồng Lai. Cỏ ba lá dẫn lối, bầu ngọc gió trăng, thuyền câu là dấu tiên, soi hình cảnh hội khói sương, xa mây vạn hình là bước chân. Nam là thánh, Bắc là thần, ra vào phong cảnh trời Nam, trở về nửa túi càn khôn.
Một hôm (tức ngày 12 tháng 2 mùa Xuân năm Bính Thìn) vua trở về hành cung nơi cũ (tức là trang Vĩnh Duyên, đất qua phía Bắc sông). Vua ngồi ở hành cung. Bỗng thấy trời đất u ám, giữa ngày mà như đêm. Từ trong thân vua thấy rồng vàng xuất hiện, bay thẳng lên trời. Vua không bệnh mà mất. Nhân dân viết tên húy mỹ tự phụng thờ, muôn năm hương lửa vạn đời không ngừng.