Thánh từ ngọc phả đền Bắc (Văn Lãng, Trực Tuấn, Trực Ninh, Nam Định)

Ngọc phả Hoàng đế Triệu Việt Vương (phụ Hùng triều Quý Minh Đại vương)

Thuộc chi Càn, bộ thứ nhất, Thượng đẳng thần

Bản chính của bộ Lễ quốc triều

Xưa nước Việt bang Nam ta kể từ Thánh Tổ Đại bảo Tiền Hoàng đế triều Hùng khởi tạo cơ đồ to lớn, trải xem chỗ tiện lợi của thế sông núi mà xây dựng thành đô ở thắng địa Phong Châu, trùng tu đền miếu nơi đất cường Nghĩa Lĩnh. Đời đời cha truyền con nối đều xưng là Hùng. Ngọc lụa xe sách, núi sông một dải thống nhất. Đó là tổ của Nam Việt vậy.

Trải qua 18 đời truyền tới vua Duệ Vương. Vua là người có hùng tài đại lược, tư chất thánh triết. Nối tổ tông gây dựng 17 đời cơ đồ  thịnh trị. Trong sửa sang văn đức, ngoài phòng bị biên cương, dốc chí hưng bình để yên ổn đất nước. Chăm lo lấy đức dậy dân. Trên đời ai cũng khen là bậc hiền quân vậy.

Thời ấy nước ta có một gia đình ở đạo Sơn Tây, phủ Gia Ninh, huyện Gia Hưng, động Lăng Sương, họ Nguyễn tên Khiết, vợ là Cao Thị Đức. Gia thế vốn hùng mạnh có tiếng, nhưng tuổi đã ngoài 50 mà vẫn chưa từng có con. Vợ chồng lấy làm phiền muộn không vui.

Nhân gặp tiết trời xuân hòa khí, nơi nơi hoa nở đầy vườn. Người người đua nhau thưởng ngoạn. Ông bèn cùng anh ruột là Cao Hành (ông Hành tuổi cũng cao mà chưa có con). Hai ông dẫn gia nhân 10 người mang theo một bình rượu, một cây đàn cùng đi chơi lên núi Tản. Lên đến sườn núi gặp một ông lão mày râu bạc trắng, đầu đội mũ bách tinh, tay cầm gậy trúc, theo sau vài người hầu mang theo một bình rượu cùng một chiếc la bàn, vừa đi vừa ngâm thơ. Hai ông thấy cho là Tiên ông trên Bồng Lai hoặc là thần linh ở núi Tản hiện lên. Hai ông vội vàng đến trước mặt quỳ lạy và thưa rằng:

  • Nhà chúng thần đức bạc, anh em đều đã cao tuổi mà nối dõi tông đường còn muộn. May mà gặp được Tiên ông ở đây, giám xin mở rộng lòng thương, làm phước cho lũ thần thỏa lòng mong mỏi. Thực là ơn Tiên ông vạn lần vậy.

Ông lão nghe xong cười nói rằng:

  • Ta vốn chẳng phải Tiên, cũng chẳng phải Thánh. Vốn là nhân lúc rảnh rỗi dạo gót chốn đời. Nay các ngươi gặp ta cũng là có phúc, không phải thường tình. Ta đã xem thấy ở sườn núi kia có ngôi đất lành bên trái, bên phải có rồng chầu nước tụ, huyệt ở hướng Nhâm Bính, có thể phát rất nhanh. Nếu táng mộ vào đấy chẳng quá vài năm sẽ sinh ba người con quý. Ta sẽ cho các ngươi hưởng phúc này. Vậy kíp về thu thập hài cốt tiên nhân, ngày mai vào giờ Dần mang đến đây, ta sẽ táng cho.

Hai ông mừng lắm, lạy tạ rồi trở về nhà, vội rước hài cốt thân mẫu cùng lễ vật, rạng ngày hôm sau mang lên sườn núi, đã thấy ông lão ngồi ở chỗ đó từ lâu. Hai ông làm lễ bái yết. Ông lão chiếu la bàn, điểm huyệt ngay chỗ đã gặp ông hôm qua. Táng xong, hai ông định gặp để lễ tạ thì không thấy ông lão đâu nữa.

Từ đó hai ông trở lại quê nhà. Chẳng bao lâu ông Hành sinh được một người con trai là Sơn Thánh. Ông Khiết cũng sinh được hai người con trai (vào ngày 10 tháng Giêng năm Giáp Dần), thể diện khác thường, hình dung dĩnh ngộ. Ông Khiết mừng lắm, bèn đặt tên người con trưởng là Sùng Công, người con thứ là Hiển Công.

Đến khi trưởng thành năm 12 tuổi thì hai cha mẹ đều mất cả. Lúc ấy hai ông cùng với ông Tùng đều nhờ vào vị thần nữ Cao Sơn họ Ma làm con nuôi. Đến khi bà họ Ma mất, giao phó địa phần núi non ruộng đất cho ba ông. Ông Tùng phân định từ núi Nộn sang bên trái giao cho ông Sùng, phong làm Tả kiên thần. Từ núi Nhạc về bên phải giao cho ông Hiển, phong làm Hữu kiên thần (Xét ông Tùng với ông Sùng và ông Hiển là anh em chú bác, có dáng như trong 50 người con cùng một bọc theo mẹ lên núi mà lại thác sinh vào thời này. Ông Tùng nhờ vào bà họ Ma làm con nuôi, sau được Thái Bạch Tinh Quân cho gậy thần, Long Đình Đế cho sách ước. Từ đó đã đưa lại phúc đức cho thế gian, đền đáp được ơn sâu của mẹ nuôi. Bà họ Ma cho con là chí hiếu, nên đã lập chúc thư, giao cả núi sông đồng ruộng cho ông Tùng. Đến khi bà họ Ma mất, ông Tùng giao cho hai em. Từ đó uy danh vang dội. Người đương thời tôn ông là Tản Viên Sơn Thánh vậy). Từ đó uy danh cả ba ông lừng lẫy sang cả Bắc quốc.

Lại nói, lúc đó  vua Duệ Vương sinh được hai mươi ngươi con trai, các hoàng tử đều xa chơi nơi Bồng Đảo. Chỉ còn hai công chúa, người lớn là Công chúa Tiên Dung đã kết duyên với Chử Đồng Tử. Công chúa thứ hai là Mỵ Nương, vườn xuân khóa kín, nhụy ngọc chưa mở, túc khế lương duyên còn chưa định đoạt.

Vua bèn dựng lầu bên bờ sông Bạch Hạc, đất Việt Trì đề ba chữ “Lầu kén rể”, ban chiếu truyền cho thần dân thiên hạ, ai là người thông minh tài trí, đức độ anh hùng, Trẫm có thể nhường ngôi báu thì sẽ hứa gả công chúa Mỵ Nương cho.

Ngày ấy dưới sông thuyền bè đua bơi, trước lầu ngựa xe rầm rập. Ngọn bút mưa thành rồng bay rắn lượn. Sao trên trời chừng như rơi xuống mặt sông. Trận võ khép vòng vây mà hổ báo kinh hồn. Chớp giật sấm ran lừng góc biển. Một phen tụ tập cả nước anh hùng bốn bể. Song đều là những tay bậc thường thường, không phải toàn tài, không đáng xứng tên. Thơ đào yêu còn chưa có được tiếng đàn ngân lên thích hợp. Người thời ấy có bài thơ vịnh rằng:

Một trường cả nước đều rung động

Bốn bể anh hùng mở mắt trông

Chưa biết vườn xuân ai mở khóa

Chờ xem ai đó đấng anh hùng.

Ba ngày sau, Sơn Thánh nghe tin ấy, bèn cùng với hai em vào cung ứng tuyển. Vua Duệ Vương thấy Sơn Thánh có nhiều tài lạ chước giỏi, bèn gả công cháu Mỵ Nương cho Sơn Thánh.

Sơn Thánh rước Công chúa về sơn động yên vui. Để hai em (tức là ông Sùng và ông Hiển) ở lại giúp vua. Vua thấy hai em Sơn Thánh tướng mạo đường đường, lại có tài năng, bèn phong cho ông Sùng chức Tả đô đài Đại phu, ông Hiển chức Hữu đô đài Đại phu. Ban cho phụ chính trong triều. Hai ông bái tạ nhận mệnh, nhận chức ở triều. Qua được vài năm, thiên hạ thanh bình, quốc gia vô sự, dân chúng no đủ, bốn bề yên lặng. Hai ông dâng biểu xin đi chu du thiên hạ, trải xem sông núi. Vua đồng ý.

Hai ông bái tạ, xa giá đi dạo dãy núi Hoành Sơn, sông ngòi ngoạn thưởng điều thú vị của ngư ông. Có lúc tản bộ vào sườn núi, hứng gió mát ở nơi khoáng dã. Có lúc đi thăm bến nước, đón trăng trong ở giữa dòng sông. Một hôm hai ông đi đến đạo Sơn Nam, phủ Thiên Trường, huyện Tây Chân, xã Xối Đông. Hai ông thấy thế đất hữu tình, bèn lập hành cung ở đó. Xong việc, lại cử giá đi chu du.

Khi ấy ông Hiển đi qua xã Quần Lãng, kết hôn với con gái họ Trần. Rồi cùng họ nhà vợ và gia thần lập riêng một trại gọi là trại Nam Lãng. Việc xong rồi, ông trở về xã Quần Lãng. Hôm đó phụ lão thấy ông đi qua bèn làm lễ bái tạ.

Lúc đó ông thấy đất Quần Lãng có sông núi diễu quanh, rồng hổ bao bọc, cả một dải đất như hình rồng uốn lượn, phong cảnh khôi kỳ. Ông mới truyền cho gia thần và nhân dân thiết lập một tòa du cung để làm nơi thưởng ngoạn ở đó. Nhân dân vâng mệnh, thiết lập xong (Thời ấy ông đi đến nơi nào thấy có thắng cảnh đều thiết lập hành cung. Về sau khi ông hóa nhân dân phụng thờ, cộng được 372 nơi, có sự tích riêng), ông ở lại đất Sơn Nam qua được thời gian 1 năm.

Lúc đó Thục chúa xa nghe Duệ Vương đã thượng thọ mà không có con nối dõi, bèn dẫn trăm vạn hùng binh, tám ngàn ngựa khỏe, năm trăm thuyền chiến, chia thành 5 đường đồng loạt đến xâm chiếm để cướp lấy nước. Một đạo theo đường Thập Châu, Hoàng Tùng tiến vào. Một đạo theo đường châu Tụ Long, châu Bảo Lạc tiến vào. Một đạo theo đường châu Quỳnh Nhai, Tuyên Quang tiến vào. Một đạo theo đường Ái Châu, Sơn Nam tiến lên. Một đạo quân thủy từ cửa biển Hội Thống ở Hoan Châu mà tiến. Dựng cờ lớn ở Mộc Châu.

Thư ở biên giới cấp báo về triều, một ngày tới 5 lần. Vua Duệ Vương nghe tình hình nguy cấp, bèn triệu con rể là Sơn Thánh cùng các tướng lại bàn kế chống giặc (Ngày ấy ông Hiển đang ở đất Sơn Nam, vâng chiếu triệu về kinh nghị luận mưu kế). Sơn Thánh tâu rằng:

  • Thần xin thay nhọc Thánh thượng, tự chọn tướng tài. Quân Thục chẳng qua một ngày bình được.

Vua nghe xong phong cho Sơn Thánh chức Ngũ đạo Đại tướng quân, lĩnh ấn Nguyên soái, kiêm Trưởng thủy bộ tam quân, cho được tùy tài tổ chức. Khi đó ông Hiển cố sức xin được lĩnh trách nhiệm ở mặt Ái Châu và Sơn Nam. Sơn Thánh đồng ý, phong làm Hữu tướng quân.

Cũng ngày ấy Sơn Thánh cùng các tướng bái tạ nhận lệnh, đều cất quân chia đường mà tiến. Khi ấy ông Hiển tiến binh qua đất Quần Lãng, chọn lấy người khỏe mạnh được 16 người để làm gia thần thủ hạ. Xong rồi ông mang đại quân đánh  một trận được toàn thắng. Trong khi đó còn các nơi khác Sơn Thánh cùng các tướng hiệp lực đại chiến một trận. Quân Thục thua to, tan vỡ. Vua Thục chạy về nước. Dư đảng đều dẹp được.

Ông Hiển lập tức khải hoàn bái tạ bệ kiến. Ngày đó vua luận công lao để phong thưởng, phong cho ông Hiển làm Đại bảo Minh quốc công, thực ấp vạn hộ. Ông cố từ, không nhận, làm biểu tấu lên triều đình, xin đi khắp nơi để xem sông núi là đủ vinh dự nhất vậy.

Vua biết ông Hiển đối với nước có công lớn, nên phong làm Quý Minh Đại vương, sắc phong sinh thần, được đi chu du thiên hạ, chọn lập sinh từ ở các xứ, để làm nơi vạn năm hưởng hương hỏa phụng thờ. Ông làm lễ bái tạ, rồi loan giá đi chơi khắp thiên hạ. Phàm là những cung doanh khi trước dựng ở nơi nào thì ông đều lập sinh từ ở đó.

Một hôm ông đi về xã Quần Lãng. Ông mở cuộc vui chung, triệu tập phụ lão nhân dân đến mời uống rượu. Ông bèn bảo rằng:

  • Ta vẫn có một hành cung ở địa giới đất này. Thảng hoặc sau này ta trăm tuổi, dân chúng hãy sửa sang cung sở, viết thần hiệu của ta là Quý Minh Đại vương để phụng thờ.

Nhân dân đều bái tạ lĩnh mệnh. Ông Hiển ở đất Sơn Nam thường qua chơi nơi cung sở xã Quần Lãng, giáo hóa nhân dân, tăng lợi trừ hại. Lấy nhân nghĩa lễ trí dậy bảo cho dân tục. Từ đó nhân dân no đủ, phong tục thuần hậu, đều là nhờ đức của ông Hiển vậy.

Lại nói, vua Duệ Vương không có con nối dõi bèn mời con rể là Sơn Thánh lại để nhường ngôi báu. Sơn Thánh cố từ không nhận, tâu rằng:

  • Cơ đồ 18 đời Hùng, lòng trời đã định. Nay có Thục chúa, tuy là bộ chủ Ai Lao, nhưng cũng là dòng bên ngoại họ Hùng, nên nhường nước cho Thục chúa là hơn. Thần có phép tiên biến hóa, xin cùng Bệ hạ thoát khỏi chốn trần ai, bay lên làn mây, chẳng cũng vui lòng lắm sao?

Vì vậy Duệ Vương mới mời Thục chúa lại nhường ngôi cho. Đoạn vua cùng với Sơn Thánh đang giữa ban ngày bay lên trời. Lúc đó ông Hiển đang ở đất Sơn Nam, nghe tin Duệ Vương đã hóa, bèn ngửa mặt lên trời mà than rằng:

  • Cơ đồ họ Hùng đã thuộc về tay người khác rồi.

Than xong, ông mang theo gia thần vài người trở về gia quán (tức động Lăng Sương). Đến nơi, ông Hiển lên núi Tản Lĩnh. Vừa tới đỉnh núi bỗng nhiên thấy trời đất mù mịt, mưa gió lớn nổi lên. Ông đã hóa vậy (hôm đó là ngày 12 tháng 9). Khoảnh khắc mây tan mưa tạnh, trời đất quang đãng. Thấy mối đùn lên thành một gò đất cao.

Sự dứt, các gia thần trở về kể sự việc ấy cho mọi người nghe. Ngày ấy xã Quần Lãng được tin, nhân dân tuân theo lời dặn của ông, tức thì sửa sang hành cung thành đền miếu, viết thần hiệu phụng thờ. Từ đó về sau có nhiều anh linh hiển ứng, phần nhiều có công âm phù hộ quốc. Cho nên nối đời đế vương đều bao phong mỹ tự và sắc chỉ, vạn cổ hưởng thờ, cùng với trời đất tồn tại mãi mãi. Đẹp đẽ thay!

Phong là Tản Viên Sơn Đệ tam vị Hữu đô đài Quý Minh Đại vương (Đại vương húy là Hiển, tự là Tuấn).

Cho phép đạo Sơn Nam, phủ Thiên Trường, huyện Tây Chân, xã Quần Lãng phụng thờ (đền chính ở động Lăng Sương).

Ngày sinh thần mùng 10 tháng Giêng (lễ nghi dùng cỗ chay, trà quả, xôi lợn, cỗ trâu, bánh dày, ca hát, đấu vật một ngày).

Ngày thần hóa vào 12 tháng 9 (lễ dùng như ngày sinh thần).

Kiêng kỵ tên húy ba chữ Hiển, Quý Minh nhất thiết cấm, cùng chữ Tuấn đều phải tránh âm.

Lại nói, vua Thục lấy được nước, tức là Thục An Dương Vương, ở ngôi 50 năm. Rồi Triệu Vũ Đế lấy được nước, nước ta thuộc nhà Tây Hán. Trải qua Đông Hán, Ngô, Tống, Tấn, Tề, Lương. Đến nhà Lương sai Dương Tư sang làm Thứ sử. Tư là người dùng hình nặng, phép dữ, chính ngược hại dân.

Thời đó nước Việt ta khắp nơi lầm than, chưa có thời nào cực khổ như vậy. Khi đó ở đạo Sơn Tây, phủ Tam Đới, huyện Chu Diên, có một nhà họ Triệu, tên là Túc, vợ là Lý Thị Đàm. Trước kia tiên tổ vốn làm quan ở triều nhà Triệu. Đến khi nội thuộc qua sáu triều đại bèn về ẩn dật chốn làng quê, lấy nghề lương y, nho học để mưu sinh. Đến đời ông Túc vợ chồng đều hiền lành chất phát, làm phúc cứu người, càng tăng thêm lòng phúc hậu, gắng sức tu nhân. Phàm là những việc cứu nghèo tạo phúc, đều cố hết sức mình mà làm vậy. Người địa phương đều khen ngợi là một nhà kẻ sĩ có lòng tốt. Lúc đó ông tuổi đã 40 mà điềm lộng chương còn chậm, giấc mộng kỳ lân chưa thấy báo ứng.

Một hôm bà họ Lý ngồi tựa lan can thiếp đi như ngủ, mơ màng trong mộng, thấy một ông quan áo mũ chỉnh tề, hai tay ôm một đứa bé trao cho bà nói rằng:

  • Nhà họ Triệu phúc hậu, trời đã chiếu cố, cho nên Hoàng Thiên sai ta mang đứa bé này cho vào nhà ngươi làm con. Mai sau sẽ dựng nước diệt giặc, tiếng tăm khắp thiên hạ. Chỉ hiềm phúc quả chưa tròn nên chưa lâu dài lắm.

Đang trong mộng bà ôm lấy đứa bé mừng rỡ, bỗng nhiên bừng tỉnh, mới biết là chiêm bao. Bèn kể lại chuyện với ông Túc. Ông nói:

  • Nếu quả là như trong giấc mộng của bà thì tất nhiên là điềm lành.

Từ đó vợ chồng uyên ương chung gối, loan phượng sánh vai, vui tiếng chuông ngân trống dục, hứng vị vần thơ cung đàn. Ít lâu sau quả thấy phu nhân có mang, đầy mười một tháng, vào năm Giáp Dần, ngày mùng 6 tháng 3 sinh hạ được một người con trai. Lúc giờ sinh khí lành bay man mác, gió đưa hương ngào ngạt. Thấy được một con trai thuần phong tuấn tú, ứng vào lời nói của thần tướng. Mặt mũi khôi ngô y như đứa bé đã nhận được trong mộng. Ông Túc cả mừng, nghĩ thầm, đứa con sau này ắt hưng phục nghiệp nhà nên mới đặt tên là Quang Phục.

Ngày qua tháng lại được 12 tuổi đã tỏ ra thiên tư minh mẫn, tính bẩm anh thông. Cho đến năm 15 tuổi thì oai phong cường tráng, trí dũng kiêm tài, thao lược tinh thông, văn chương quán triệt. Thật là bậc tuấn kiệt trong đời vậy.

Triệu Quang Phục trước mắt nhìn thấy quan thứ sử nhà Lương là Dương Tư tàn bạo với dân, hình phạt hà khắc. Ông đau lòng vì dân chúng lầm than, bèn lui tới với những người có mưu trí, triệu tập dân ly tán, tìm dõi người hào kiệt trong thiên hạ. Chẳng bao lâu số quân ứng nghĩa đã được vài ngàn người. Song lúc đó những bậc nam nhi thao lược, tướng tá anh tài chưa quy về một mối, chưa biết ai là người quân trưởng, còn phải đợi thời cơ mới phát động được.

Một hôm ông nghe ở đất Thái Bình thuộc xứ Long Biên có người tên là Lý Bôn dấy binh ở châu Cửu Đức, cũng có chí chống quân Lương. Ngay hôm đó ông mang binh mã, mưu lược đi tìm gặp ông Bôn. Ông Bôn thấy ông tướng mạo đường đường, phong tư lẫm liệt, kỹ năng thao lược, văn võ kiêm toàn. Ông Bôn mừng lắm, nghĩ thầm:

  • Chắc là trời khiến người này đến giúp vận nước đây.

Tức thì cho làm chức Điều xuyết binh nhung, dẫn quân tiên phong cùng với ông đại chiến với quân Dương Tư một trận. Quân Tư thua to, bỏ thành chạy về nước Bắc. Sau đó không lâu quân Lâm Ấp lại vào cướp bóc. Ông Bôn bèn lập đàn phong ông Phục làm Tả tướng quân, Phạm Tu làm Hữu tướng quân. Khiến mang quân đánh phá, Lâm Ấp.

Ông Bôn lên ngôi Hoàng đế, ấy là vua Tiền Lý Nam Đế, đóng đô ở thành Long Biên, đặt tên nước là Vạn Xuân, đặt trăm quan, định đô ấp, phong thưởng cho công thần cao thấp khác nhau. Ông Phục được phong làm Quốc tể Long Lĩnh hầu, lĩnh ấn Đại tướng quân, tại triều phụ chính. Vua tôi hợp đức, đất nước thanh bình. Trải qua 6 năm ông Phục có nhiều công với nước. Vua rất yêu kính, thăng thưởng nhiều lần, các quần thần không ai bì kịp.

Lại nói, thời vua Lý Nam Đế ở ngôi trải qua 7 năm. Vua nhà Lương lại sai Trần Bá Tiên đem quân xâm lược phía Nam để phục thù trận thua ngày trước. Khi quân Lương đến, vua đóng quân ở hồ Triệt. Quân Lương không dám tiến. Bỗng một sớm lũ lớn tràn về. Quân của Bá Tiên ùa theo dòng nước mà tiến. Quân của vua tan vỡ. Vua mới ủy quyền cho Đại tướng Triệu Quang Phục giữ nước. Vua ẩn vào động Khất Liêu, rồi mất.

Từ đó ông Phục tìm khắp thiên hạ nơi nào có chỗ hiểm trở thì thiết lập đồn doanh để chống quân Lương. Một hôm ông về đến đạo Sơn Nam Thượng, phủ Khoái Châu, huyện Đông An, bãi Tự Nhiên. Ông bèn lập doanh trại ở đầm Nhất Dạ (Đầm ấy trước kia là nhà của Chử Đồng Tử, tự nhiên thành bãi. Đến khi Chử Công hóa, một đêm thành đầm, nên có tên ấy), cùng với quân Lương chống cự. Sau quân Lương sai tướng Dương Sàn dẫn quân đến tiếp viện rất đông. Qua nhiều trận giao chiến quân ông bị thiệt hại.

Ngày ấy ông lại đi tìm mọi nơi trong thiên hạ, nơi nào dân giàu có, lại có địa hình hiểm trở để xây dựng những doanh trại làm nơi phòng bị. Một hôm ông xa giá đi qua đạo Sơn Nam Hạ, phủ Thiên Trường, huyện Tây Chân, xã Quần Lãng, thấy có sông ngòi quanh co, có thể lập được đồn. Ông bèn dừng quân ở đó, nhân làm lễ cầu khấn ở đền thờ Quý Minh Đại vương, xin được âm phù hộ quốc. Khấn xong đêm ấy ông nằm mộng thấy một người đầu đội mũ bách tinh, mình mặc áo hồng bào, tay cầm thẻ bài vàng, bảo rằng:

  • Hoàng Thiên đã định cho họ Triệu làm vua, hưởng nước ngoài 20 năm. Nay khanh nên trở về đầm Dạ Trạch, lập đàn kỳ đảo. Thiên đình sẽ sai Chử Công mang móng rồng xuống giao cho khanh. Tất sẽ bình được giặc Lương vậy.

Nói xong thì biến mất. Khi tỉnh dậy, sáng ngày ông làm lễ bái tạ. Đoạn rồi truyền quân cùng nhân dân xây dựng một đồn ở bên sông để phòng ngự. Việc xong, ông lại trở về cung sở (tức đầm Nhất Dạ). Nhớ lại sự việc trong mộng bèn trai giới thanh khiết, lập đàn kỳ đảo. Sau thấy một người cưỡi rồng vàng ở trên trời xuống bảo rằng:

  • Nơi đất linh thiêng này chốn ta đã thoát trần trước đây.

Nói rồi trút một cái móng rồng đưa cho, dặn đem để lên chỏm mũ đầu mâu, khi ra trận hướng về phía địch thì sẽ được toàn thắng. Nói xong cưỡi rồng bay lên. Từ đó ông được móng rồng, đánh bại quân Lương, chém được tướng Dương Sàn. Quân Lương chạy về Bắc. Ông bèn thống nhất thiên hạ, tự lập làm vua, hiệu là Triệu Việt Vương, đóng đô ở thành Long Biên.

Lại nói, ông Phục từ khi gặp Quý Minh Đại vương ở trong mộng, khi ở Dạ Trạch lại thường mộng thấy một người áo mũ chỉnh tề, y như người đã gặp trong mộng Quần Lãng, thường cùng vua (tức ông Phục) đối thoại, bảo ông rằng:

  • Ta cùng Ngài tuy âm dương hai ngả, song ngày sau hưởng lộc cùng một địa phương.

Nhân tặng vua một bài thơ rằng:

Âm dương hai cõi đã chẳng nề

May được tương phùng giữa thú quê

Ngày sau cùng hẹn về Quần Lãng

Là nơi thờ hưởng muôn nghìn thu .

Đến khi vua lên ngôi nhớ lại lời thơ này, nghĩ thầm:

  • Có lẽ sau này ta là phúc thần ở Quần Lãng chăng?

Bèn sai sứ giả sắm sửa lễ vật, về tận đất Quần Lãng để bày tế tại đền thờ Quý Minh Đại vương. Tế xong lại ban cho nhân dân vàng ròng 5 hốt, giao cho nhân dân mở rộng ruộng vườn làm của công. Lệnh cho các khoản binh dịch đóng góp, tô thuế đều được miễn cả. Từ đó đất Quần Lãng trở nên trù phú, địa ấp phong nhiêu, đều nhờ công đức của vua vậy.

Lại nói, vua ở ngôi 21 năm. Trong khi đó có người con anh vua Tiền Lý Nam Đế tên là Phật Tử mang quân từ động Dã Năng đến (Phật Tử là con của Thiên Bảo. Vua Nam Đế đánh quân Lương rồi mất. Thiên Bảo mang chúng quân chạy vào động Dã Năng, tự xưng là Lang Vương. Sau đến Phật Tử lên, đến đánh). Lúc đó vua nghĩ Phật Tử là cháu con chú con bác của Nam Đế nên không nỡ tuyệt. Bèn chia nước làm hai để cùng trị. Cắt bãi Quân Thần (Thuộc huyện Từ Liêm, xã Thượng Cát, Hạ Cát. Từ Thượng Cát về phía Tây nhường cho Phật Tử. Từ xã Hạ Cát về phía Đông thuộc vua).

Vua bèn rời đô sang Ngọc Ninh. Phật Tử đóng đô ở Ô Diên, cùng chia phân để trị. Được hơn 1 năm, một hôm Phật Tử cùng con trai là Nhã Lang bàn mưu kế rằng:

  • Ta xem Việt Vương quân thắng nước mạnh, phần nhiều là có thuật lạ. Hắn có con gái là Cảo Nương cùng lứa tuổi với con. Chi bằng ta đưa thư cầu hôn con gái vua, sai con ở rể, xem ý ra sao. Sau ta thừa cơ bất ngờ dẫn quân đến đánh, chắc không phải khó nhọc mà thống nhất thiên hạ vậy.

Bàn rồi sai sứ giả đem thư cầu hôn sự với Vua. Vua bèn thu nạp. Phật Tử chọn ngày lành đem đồ sính lễ và Nhã Lang đến. Vua bèn lưu Nhã Lang tại nước nhà. Vương rất hài lòng, khen Nhã Lang là con rể tốt. Tình vợ chồng của hai con ngày càng mật thiết. Nhã Lang dụ được Cảo Nương lấy trộm được móng rồng, trở về trình với Phật Tử. Phật Tử tức thì đem quân đến đánh. Vua dở móng rồng thấy bị mất, bèn lên ngựa chạy thẳng đến cửa biển Đại Nha, Vua quay lại thấy quân Lý đuổi gấp. Vua thấy tình thế khó thoát bèn nhảy xuống biển mà hóa. Sau ngày hóa rất có anh linh. Nhân dân địa phương (tức cửa Đại Nha, nay thuộc xã Lục Bộ) lập đền thờ phụng, lấy đó làm đền chính.

Từ ngày Vương hóa, nhân dân xã Quần Lãng sinh ra tật dịch, súc sản bất an. Nhân dân lo lắng, xem xét lập đàn kỳ đảo. Đêm hôm ấy mộng thấy Triệu Việt Vương cùng với Quý Minh Đại vương hội du ở nơi đền. Triệu Vương gọi nhân dân, bảo rằng:

  • Nay ta đã hóa. Ta phụng mệnh Thiên đình là Chúa tể nơi đây. Dân chúng hãy viết thần hiệu là Triệu Việt Vương Hoàng Đế để phụng thờ.

Nói đoạn, nhân dân bỗng nghe một tiếng trống đồng lảnh tai, phút chốc tỉnh giấc. Sáng ngày nhân dân tụ họp ở nhà hội quán, nghe nói lại mộng triệu, thấy có lý, lấy làm sợ hãi. Tức thì trùng tu cung điện, viết thần hiệu phụng thờ. Từ đó về sau nhân dân khang thái, súc sản bình an. Hai vị Đại vương có nhiều linh ứng.

Lại nói, Phật Tử được nước, xưng là vua Hậu Lý. Chưa bao lâu sau nội thuộc nhà Tùy. Đến đời Đường sai Cao Biền làm quan đô hộ nước ta. Lúc đó có giặc Nam Chiếu khởi binh ở cửa bể Nam Hải. Biền phải thân chinh đi đánh. Một hôm Biền tiến quân qua xã Quần Lãng, bèn vào làm lễ kỳ đảo ở đền thờ hai vị Đại vương, khấn rằng:

  • Nhờ được âm phù hộ quốc, chờ ngày thanh bình sẽ có gia phong sắc chỉ để biểu lộ sự anh linh.

Khấn xong cất quân tiến thẳng, đánh một trận lớn, bình được giặc Nam Chiếu. Biền hồi binh khải hoàn, nhớ lại khi ở đạo Sơn Nam xã Quần Lãng hai vị Đại vương quả nhiên có công hộ quốc. Bèn tặng phong sắc chỉ, sai quan mang sắc về bày tế. Lại ban cho nhân dân ngân tiền 60 quan, truyền cho nhân dân mở rộng cung điện để phụng thờ.

Từ đấy về sau rất có anh linh, khấn tạnh, cầu mưa đều có linh nghiệm. Cho nên nối đời đế vương gia phong sắc chỉ và mỹ tự, vạn đời tế lễ, muôn năm hương khói. Sự tồn tại cùng với trời đất lâu dài, công đức ngày càng to lớn vậy. Đẹp đẽ thay!

Nhất tôn phong Hoàng đế Triệu Việt Vương,

Nhất phong Tản Viên Sơn Đệ tam vị Hữu kiên thần Đô đài Đại phu Quý Minh Đại vương.

Chuẩn y cho đạo Sơn Nam phủ Thiên Trường huyện Tây Chân xã Quần Lãng phụng thờ.

Những điều lệ thần sinh, hóa, lễ khánh hạ, cũng  những chữ kiêng kỵ vâng kê như sau:

Ngày sinh thần vào mùng 6 tháng 3 (lễ vật dâng: trên cỗ chay, dưới xôi, lợn. Ngày chính tế dùng trâu, đánh cờ, hát xướng một ngày).

Ngày hóa thần là 14 tháng 8 (lễ vật dùng như ngày sinh thần).

Lễ Khánh hạ ngày 10 tháng 4 (Lễ vật dùng: trên tiến cỗ chay, dưới dùng xôi, lợn, rượu. Ngày chính dùng trâu, ca hát năm ngày thì dừng).

Kiêng kỵ chữ húy hai chữ: Túc, Phục đều cấm.

Triều vua Vĩnh Hựu năm thứ 2 tháng Giêng ngày lành chức Quản giám Bách thần Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh, thần, Nguyễn Hiền, tuân y bản cũ của triều trước sao chép.

Thần tích Ma Cô Tiên ở Châu Sơn

Dịch theo bản khai thần tích thần sắc của làng Phùng Gị, tổng Phù Lương, huyện Quế Dương, tỉnh Bắc Ninh.

Lại nói, tương truyền rằng ở Kinh Bắc có bộ Vũ Ninh, phủ Từ Sơn, huyện Vũ Ninh, xã Bằng Dực. Thời Hùng Vương, Ân Vương đem quân đến xâm chiếm nước Văn Lang, đến đất của trang này thấy cảnh đất núi non la liệt, hình như một con ngựa ngọc, nên đặt tên là Châu Sơn. Ân Vương trú binh tại đó.

Khi ấy Hùng Vương nghe tin, liền cầu đảo Long Quân. Long Quân hóa thành Phù Đổng Đại vương cưỡi ngựa sắt mà phá được quân Ân. Ân Vương chết ở dưới chân núi, làm vua Địa phủ. Trang dân ở châu đó lập miếu phụng thờ, thời thường tế lễ. Lâu ngày miếu suy trở thành hoang phế. Đến thời Tần có người bản trang nước ta là Túc Đặng làm quan nhà Tần đến chức Ngự sử Đại phu, thường qua miếu này, thấy cảnh hoang tàn, chạnh lòng thương cảm, cho tu sửa lại đền miếu để giữ việc tế tự. Lệnh cho dân bản trang tuân theo như trước mà thờ. Nhân đó ông Đặng dâng tế một bài thơ như sau:

Người xưa kể lại chuyện Ân vương

Tuần thú năm nao đến địa phương

Nước biếc núi xanh quanh miếu vắng

Hồn đi dấu để vẫn nghe hương

Một phen thắng bại Ân đức hết

Vạn thế uy linh trấn Việt Thường

Trăm họ rồi đây đều phụng sự

Phù trì vận nước vững vô cương.

Sau này có người Triệu Đà dẫn quân trị nước An Nam, đóng quân ở tại núi, đến nơi miếu mà nghiêm trang thờ tự. Khi đó Ân Vương cảm ơn phục trợ uy linh của ông Túc Đặng bèn sai một đệ nhất mỹ nữ tên là Ma Cô Tiên, giáng sinh vào ngày mùng 6 tháng Giêng năm Mậu Thìn, đến ngày mùng 10 tháng 10 thì thăng hóa, để giúp tương trợ dân nghèo, khai khẩn ruộng vườn, dựng nên một cái chợ. Cái chợ này có tên là Việt, nay là chợ Nghè. Giúp dân an nghiệp, dư giả. Một hôm người bản trang bỗng thấy trên mặt đất mưa to gió lớn nổi lên, sấm nổ chấn động, biết là ngài đã có linh ứng. Người dân cảm công đức đó bèn lập đền phụng thờ, hương khói không ngừng.

Đến triều Lê Đại Hành niên hiệu Thiên Phúc bỗng có quân Tống Quách Kiếm dẫn quân đến xâm lăng. Vua Lê nghe tin, trước khi xuất quân đến đền thiêng ở bản trang cầu đảo, cầu mong được sự ứng hiện. Vua Lê dẫn quân thẳng tới đồn giặc mà đánh. Trước trận bỗng thấy mưa to gió lớn nổi lên. Quân giặc đều kinh sợ, tự phải rút lui. Vua bèn ban cho khải hoàn, ban cho trang thuộc vào các trang giúp Vua, lại  ban thêm cho người bản trang một trăm quan tiền để lo cúng tế Quân phu, bao phong mỹ tự là Thượng đẳng phúc thần. Vạn cổ hưởng thần cùng với quốc gia an nhàn, mãi là lệ thức. Thịnh sao!

Thần tích thôn Mễ Đậu, xã Mỹ Xá, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên

Ngọc phả xưa ghi lại sự tích một vị Đại vương Nam Giao học tổ thời Hán Chiêu Đế

Chi Cấn, Bộ Thượng đẳng. Chính bản lưu của Bộ Lễ triều ta.

(Bản dịch từ cuốn Thần tích tỉnh Hưng Yên, tập 3 của Bảo tàng Hưng Yên và Viện nghiên cứu Hán Nôm).

Xưa Hùng Vương Sơn Nguyên Thánh Tổ, trời Nam lên ngôi báu, kế nối nghiệp lớn hơn hai ngàn năm. Các ngài xây dựng đất nước núi xanh vạn dặm sáng nền móng kinh thành cung điện, nước biếc một dòng mở ra đạo trị nước của các bậc vua hiền, khơi vật cứu người, thống nhất 15 bộ, là Tổ của Bách Việt vậy.

Sơ khai Nam Việt tự Kinh Dương
Nhất thống sơn hà thập bát vương
Thập bát thế truyền thiên cổ tại
Ức niên hương hỏa, ức niên phương.

Tạm dịch:

Nước Việt mở đầu từ Kinh Dương
Thống nhất non sông mười tám vua
Mười tám đời truyền lưu thiên cổ
Ngàn năm hương hỏa, ngàn năm thơm.

Bấy giờ cơ nghiệp họ Hùng suy yếu, ý trời đã định đến hồi cáo chung. Tới thời Đông Hán, các vua đều ngự ở trong triều. Nghe nói ở trong vùng đất Long Biên nước ta có một ông họ Đặng, tên húy là Tứ, người huyện Quảng Tín, quận Thương Ngô. Tổ tiên đời trước nhận phong, đời đời thừa phúc ấm mà lấy một người trong quận tên Tạ Thị Cẩn, truyền đời thi thư lễ nhạc, một nhà trâm anh, quả là môn đăng hộ đối. Ông họ Đặng từ nhỏ đã tinh thông y thuật, lại có lòng làm việc thiện, thường hay phát chẩn cứu tế. Ông năm nay đã gần 50 tuổi, bà họ Tạ cũng đã hơn 40 tuổi mà chưa có điềm lành con cái.

Sau bà họ Tạ mơ thấy xà tinh nhập mà có mang. Ngày 8 tháng Giêng năm Nhâm Ngọ sinh hạ một người con trai, trời sinh thông minh, hình dáng khác người, bèn đặt tên là Tiếp. Ba tuổi đã thông hiểu lễ nghĩa thông thường, lại có lòng kính trên nhường dưới, không học mà biết được âm luật. Bảy tuổi bắt đầu học hành, các sách xem qua một lần là nhớ, không cần phải ghi lại. Năm 13 tuổi biết hết các sách của muôn nhà, lại biết võ nghệ. Các sĩ tử đương thời đều thán phục, khen là thần đồng. Năm 18 tuổi cha mẹ đều qua đời. Ông Tiếp bèn chọn ngày lành làm lễ an táng ở gia đường, hương hỏa thờ phụng theo nghi lễ ba năm. Sau khi chịu tang xong bèn có lòng dạy dỗ muôn dân. Nghe Giao Châu còn chưa được cương thường, đạo nghĩa soi sáng, ông bèn tìm đến để giúp dân hiểu lễ nghĩa. Các vùng đất phương Nam nhờ công lao của ông mà được mở mang. Người dân ở đây suy tôn ông là Châu trưởng.

Bấy giờ Hán Chiêu Đế sai Chu Chương là Thái thú Giao Châu. Chương nghe ông giáo hóa phục nhân, bèn tâu với vua. Vua rất mừng, phong cho ông là Liệt Hầu công. Ông nhận mệnh đi du ngoạn khắp huyện ấp xem dân tình sống ra sao. Một ngày ông đến trại Lũng Triền, trang Thanh Tương, huyện Siêu Loại, phủ Thuận An, đạo Kinh Bắc (xưa gọi là quận Vũ Ninh), thấy dân chúng chưa được học hành nhiều. Lại thấy một cuộc đất non nước hữu tình, rồng hổ ôm ấp mà giếng nước rất thuận tiện. Nghĩ đây là vùng đất thắng cảnh. Ông lập tức truyền cho binh sĩ cùng người dân đắp thành ở vùng đất này (gọi là thành Luy Lâu), dựng trường học dạy chữ viết. Bấy giờ truyền một liễn đối rằng:

Học y Luy Lâu tầm tiên tích
Danh thượng hòa phong đính Phật kinh.

Tạm dịch:

Học theo Luy Lâu tìm dấu tiên
Danh hướng Hòa Phong chữa kinh Phật.

Trải qua được một năm, người dân rất ái mộ. Bấy giờ có người đứng đầu của 7 quận là Hữu Trị, Nhai Châu, Đam Nhĩ, Thương Ngô, Quảng Tín, Phiên Ngu, Mê Linh làm loạn làm hại người dân. Vua nghe vậy hỏi đình thần trù tính mưu lược. Bấy giờ Thái thú châu ta là Sầm Bành tiến cử ông đức lớn phục nhân, ắt có thể dẹp yên được. Vua đồng ý ban cho ông là Thái thú Giao Châu, sai đi bình giặc. Sau đó ông nhận mệnh tuyển được người dân, gia thần, sĩ tử hơn 500 người. Đưa hịch đi khắp các quận huyện tới giúp đến vài nghìn người. Ông cho quân chia đồn đóng tại quận Cửu Châu ra lệnh chỉ cố thủ mà không được ra khiêu chiến. Cho sử giả đưa hịch đến chỉ cho biết những điều tín nghĩa, lại nói rõ họa phúc. Giặc nghe hiểu ra liền cởi giáp quy hàng. Nhờ thế 7 quận được yên ổn. Việc xong, ông liền quay về châu phủ (tức vùng đất Long Biên). Từ đó ông là Thái thú hình phạt nghiêm minh. Nhân dân đều yên ổn làm ăn. Sau ông lại quay về trại Lũng Triền, ban ơn cho người dân ở vùng này. Mọi người cảm tạ và xin được dựng trường học, lập một ban để ngày sau thờ phụng. Ông bèn đồng ý, ban cho 15 hốt vàng để ngày sau tu sửa đền thờ, mua ruộng ao lấy hoa màu để lo việc cúng tế.

Một ngày, ông quay về châu phủ sai gia thần chuẩn bị lễ vật cống cho vua Hán. Bấy giờ ông đã 70 tuổi, đang ngồi trong phủ đường ở kinh thành Thăng Long, chợt thấy một luồng sáng đỏ, mây lành vần vũ bốn phía. Có một áng mây lớn từ trên trời giáng xuống phủ đường. Ông chợt thấy thân thể nhẹ bỗng mà bay ra khỏi phủ đường đến địa phận trang Tam Nha thì không thấy đâu nữa (lúc ấy là ngày mùng 1 tháng 8). Một lát sai khí lành mới tan, trời đất tạnh ráo. Đám côn trùng ùn lên thành một ngôi mộ lớn. Người dân đều rất kinh hãi, bèn làm biểu dâng tấu lên vua Hán. Vua nghe vậy sai sứ ban sắc phong là Thượng đẳng thần. Đọc tế văn, dựng miếu thờ ở đây cùng đất nước chung hưởng sự yên ổn vĩnh hằng.

Kính cẩn thay!

Phong là Sĩ Tiếp Tế thế Hộ quốc Đại vương. Các màu vàng, đỏ khi làm lễ đều cấm. Lại chuẩn cho trại Lũng Triền, trang Thanh Tương dựng đền thờ đề chữ rằng: Nam Giao Học Tổ từ (nghĩa: Đền Nam Giao Học Tổ) để phụng thờ. Đến đời Bình Đế nghe tên tuổi, sự tích ở Hán có công bèn sai sứ ban sắc phong cho vị là Khải mưu Tá tích Quang hoa Mạc thắng Đại vương.

Đến niên hiệu Thái Bình vua Tống sai Hầu Nhân Bảo đem 20 vạn binh chia hai đường thủy bộ cùng tiến, xâm phạm nước Nam. Bấy giờ Lê Đại Hành sai 10 vạn tinh binh cự chiến, tiến đến huyện Siệu Loại cho binh chia đường đến. Vua bèn đóng quân ở trại Lũng Triền, trang Thanh Tương. Đêm hôm ấy vào trong đền thờ cầu khấn thần âm phù giúp vua đánh giặc, bình giặc xong sẽ ban sắc gia phong Thượng đẳng. Vua thấy chữ đề: Nam Giao Học Tổ từ, vua bèn cho gọi các vị phụ lão trong thôn đến hỏi cho rõ. Mọi người tâu rõ sự việc quả là trong trại có thờ phụng thần hiệu như vậy. Ngày hôm sau vua đem binh đánh giặc Tống là Hầu Nhân Bảo thu được đại thắng, bắt được đại tướng, khải hoàn về kinh thành. Các tướng sĩ đều tâu rằng:

  • Giặc Tống sớm bình được đều nhờ công thần ngầm giúp

Bèn gia phong cho trăm thần.

Phong cho một vị Thiện tiếp Tế thế Hộ quốc Khang dân Phù vận Dương vũ Dực thánh Bảo cảnh Hiển ứng Hậu đức Chí nhân Phu cảm Hiển ứng Triệu mưu Tá tích Thiện văn Bác tế Phổ thi Từ ý Hậu ân Hoằng mô Viễn lược Cương nghị Đốc thực Thùy hưu Quả đoán Hùng nghị Phúc diễn Thông minh Duệ trí Hùng lược Dũng quyết Anh uy Linh cảm Diệu thông Hùng kiệt Đại vương.

Lại nói, từ đó về sau đều hiển hiện sự linh ứng, cho nên các đời đế vương đều có gia phong mỹ tự cho Đại vương. Đến đời Trần Thái Tông có giặc Nguyên sang xâm phạm, kinh thành bị bao vậy. Trần Quốc Tuấn vâng mệnh cầu khấn trăm thần ở các đền thờ. Đại vương lại hiển ứng ngầm giúp bình được giặc Mã Nhi. Thái Tôn ban phong cho Đại vương là Linh ứng Anh triết Hiển hựu Trợ thuận.

Đến thời Lê Thái Tổ khởi nghĩa bình giặc Minh, chém được Liễu Thăng, thiên hạ thái bình. Thái Tổ bèn gia phong mỹ tự cho Đại vương là Phổ tế Cương nghị Anh linh. Sắc chỉ ban cho trại Lũng Triền, trang Thanh Miếu tu sửa miếu điện để thờ phụng.

Vâng mệnh khai ngày sinh, ngày hóa, các lễ tịch cùng tên húy tự. Bốn chữ Tứ, Cẩn, Sĩ, Tiếp cấm khi làm lễ. Lại chuẩn cho trại Lũng Triền trang Thanh Tương thờ phụng.

Ngày thần sinh: ngày mùng 8 tháng Giêng. Chính lệ lễ dùng trên có một bàn chay dưới có lợn đen, xôi, rượu, bánh chưng, bánh giầy, có ca hát.

Ngày thần hóa: ngày mùng 1 tháng 8. Chính lệ lễ dùng trên có một bàn chay, dưới có lợn đen, xôi, rượu, bánh chưng, bánh giầy, cấm không được ca hát.

Vào các ngày lệ như tế xuân, tế thu, kỳ phúc ngày 15 tháng 8. Chính lệ lễ dùng tùy theo năm.

Ngày tốt tháng Giêng niên hiệu Hồng Phúc năm đầu (1572) Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng mệnh soạn.

Ngày tốt tháng 8 Hoàng triều Vĩnh Hựu năm thứ 6 (1740) Nội các bộ Lại tuân theo bản chính vâng mệnh viết.

Ngày 15 tháng 2 năm Duy Tân thứ 10 (1916) các vị kỳ lý trong thôn chép lại theo bản chính.

Những câu đối hay ở đền Độc Bộ, Ý Yên, Nam Định thờ Triệu Việt Vương Hoàng Đế

Câu 1

邾山正統皇風遠
鵶海安濤帝德深

Châu Sơn chính thống hoàng phong viễn
Nha Hải an đào đế đức thâm.

Dịch nghĩa:

Núi Châu chính thống dòng vua mãi
Yên sóng biển Nha đức đế sâu.

Câu 2

獨木破梁兵南國同胞皆赤子
頹波障海口浮沙托植囿青春

Độc mộc phá Lương binh, Nam quốc đồng bào giai xích tử
Đồi ba chướng hải khẩu, Phù Sa thác thực hữu thanh xuân.

Dịch nghĩa:

Độc mộc phá quân Lương, nòi giống nước Nam cùng máu đỏ
Sóng dồn che cửa bể, Phù Sa hoa cỏ hóa xuân xanh.

Câu 3

朱鳶鍾秀氣帝烈凜千秋梁寇掃除安殿內
慕澤顯神機王勳留萬古龍爪威儀聖蹟傳

Chu Diên chung tú khí, đế liệt lẫm thiên thu, Lương khấu tảo trừ an điện nội
Mộ Trạch hiển thần cơ, vương huân lưu vạn cổ, long trảo uy nghi thánh tích truyền.

Dịch nghĩa:

Đầm Mộ Trạch rạng tỏ danh thần, tên vua vạn thế sáng soi, nghiêm vuốt rồng truyền lưu tích thánh
Đất Chu Diên đúc nên hào khí, oai đế ngàn thu oanh liệt, trừ quân Lương đất nước yên bình.

Câu 4

夜澤雄飛百戰山河餘宇宙
海門龍遠億年祠廟鎮波濤

Dạ trạch hùng phi, bách chiến sơn hà dư vũ trụ
Hải môn long viễn, ức niên từ miếu trấn ba đào.

Dịch nghĩa:

Dạ Trạch hùng bay, trăm trận núi sông còn vũ trụ 
Rồng xa cửa biển, muôn năm đền miếu chặn sóng đào. 

Câu 5

天子威儀天子庙
帝王凜烈帝王祠

Thiên tử uy nghi Thiên tử miếu
Đế vương lẫm liệt Đế vương từ.

Dịch nghĩa:

Miếu Thiên tử Thiên tử uy nghi 
Đền Đế vương Đế vương lẫm liệt.

Câu 6

弌胞破出双神將
同日飛升二大王

Nhất bào phá xuất song thần tướng
Đồng nhật phi thăng nhị đại vương.

Dịch nghĩa:

Một bầu phá nở hai thần tướng
Cùng buổi bay lên lưỡng đại vương.

Câu 7

独木破梁兵名謄北國
龍編居帝位威振南天

Độc mộc phá Lương binh, danh đằng Bắc quốc
Long Biên cư đế vị, uy chấn Nam thiên.

Câu 8

天上瓊飛三花曾記南塘夢
人間玉牒小月猶傳北直謠

Thiên thượng Quỳnh phi, tam hoa tằng ký Nam Đường mộng
Nhân gian ngọc điệp, tiểu nguyệt do truyền Bắc Trực dao.

Dịch nghĩa:

Quỳnh phi thượng giới, ba đóa còn ghi mộng Nam Đường
Lá ngọc nhân gian, trăng nhỏ bởi truyền chuyện Bắc Trực.

Câu 9

黑虎梦醒符聖瑞
黃龍脱爪顯神机

Hắc hổ mộng tỉnh phù thánh thuỵ
Hoàng long thoát trảo hiển thần cơ.

Dịch nghĩa:

Hổ đen tỉnh mộng phù điềm thánh
Rồng vàng tháo vuốt tỏ cơ thần.

Câu 10

龍矛脱爪僊童去
鴉海翻濤佛子來

Long mâu thoát trảo tiên đồng khứ
Nha hải phiên đào Phật Tử lai.

Dịch nghĩa:

Giáo rồng tháo móng tiên đồng đi
Dậy sóng biển Nha Phật Tử đến.

Câu 11

龍編若果凶神爪
鴉海何能鎮惡濤

Long Biên nhược quả hung thần trảo
Nha Hải hà năng trấn ác đào.

Dịch nghĩa:

Long Biên quả nếu không thần trảo
Nha hải sao còn trấn sóng hung.

Câu 12

前面三江龍水拜
後垂二嶺虎瑰朝

Tiền diện tam giang long thuỷ bái
Hậu thuỳ nhị lĩnh Hổ Khôi triêu.

Dịch nghĩa:

Trước mặt ba sông dòng nước bái
Sau trùm hai núi Hổ Khôi chầu.

Câu 13

帝位卄餘年帝德留傳千古重
聖恩多潤澤聖威長在萬秋興

Đế vị chấp dư niên, đế đức lưu truyền thiên cổ trọng
Thánh ân đa nhuận trạch, thánh uy trường tại vạn thu hưng.

Dịch nghĩa:

Ngôi đế hơn hai mươi năm, đức đế truyền lưu ngàn xưa trọng
Ơn thánh nhiều lần thấm đẫm, oai thánh mãi còn vạn thu vang.

Câu 14

天定其書南國山河南國帝
地留其跡大鴉風水大鴉神

Thiên định kỳ thư, Nam quốc sơn hà Nam quốc đế
Địa lưu kỳ tích, Đại Nha phong thuỷ Đại Nha thần.

Dịch nghĩa:

Trời định sách đó, núi sông nước Nam, vua nước Nam
Đất lưu tích đó, gió nước Đại Nha, thần Đại Nha.

Câu 15

祠廟巍峨鴉海樓臺新宇宙
南天正統龍編城郭舊江山

Từ miếu nguy nga, Nha Hải lâu đài tân vũ trụ
Nam thiên chính thống, Long Biên thành quách cựu giang sơn.

Dịch nghĩa:

Đền miếu nguy nga, lâu đài Nha Hải vũ trụ mới
Trời Nam chính thống, thành quách Long Biên núi sông xưa.

Câu 16

神龍蜜献擊賊大勝梁兵回帝位
獨木長期進攻消耗力量鎮龍城

Thần long mật hiến kích tặc, đại thắng Lương binh hồi đế vị
Độc mộc trường kỳ tiến công, tiêu hao lực lượng trấn Long thành.

Dịch nghĩa:

Rồng thần mật hiến cách đánh giặc, đại thắng quân Lương lên ngôi đế
Độc mộc trường kỳ tiến công, tiêu hao lực lượng trấn thành Long.

Thần tích về Triệu Việt Vương ở làng Nhuế Dương, tổng Phù Khê, huyện Khoái Châu, Hưng Yên

Ngọc phả chép về vua Việt ta là Triệu Việt Vương

Chi Càn, thứ nhất, bộ quốc tế

Xưa ngả Việt ta trời Nam mở vận, núi sông phân ngang theo sao Dực Chẩn. Nước Bắc ban đầu phong thẳng hướng phân theo sao Đẩu Ngưu. Từ triều Hùng Kinh Dương Vương thừa mệnh phân phong của vua cha là dòng dõi đế vương nước Việt ta, đời đời cha truyền con nối, đều xưng là Hùng. Ngọc lụa xe sách, núi sông thống nhất, chính là tổ của ngả Việt ta vậy. Đến khi nhà Hùng được 18 đời mới giao lại vận nước cho Thục An Dương Vương. Dương Vương trị nước được 50 năm lại có người Chân Định nước Bắc họ Triệu tên Đà dẫn quân đến đánh nên nhà Thục mất. Triệu Đà được nước truyền 5 đời hơn trăm năm.

Từ đó ngả Việt ta thuộc về Hán, Ngô, Đường, Tống, Tấn, Tề, Lương. Đến thời Lương Võ Đế cho Tiêu Tư làm thái thú ngả Việt ta. Tư là người hình pháp khắc nghiệt, sai dịch nặng nề. Triệu dân tang thương, người người đồ thán. May sao trời có lòng, nước Nam có vua Nam ở. Ngả Việt ta tại Long Biên có người Thái Bình, họ Lý tên là ông Bôn, theo trời thuận người thừa thời thế mà khởi nghĩa. Nhưng đang khi đó chưa có nam nhi nào có tài thao lược. Ông Bôn tích trữ binh lương, thần phong chưa động.

Tin thay! có Thiếu Khang dẹp loạn tất có Thần Mi dẹp loạn cùng. Rồng lên ở trên đầm không có ý với mây mà mây tự nhiên bay đến. Đương khi ấy ở xã Hương Canh, huyện Châu Diên, phủ Tam Đới, đạo Sơn Tây có một nhà họ Triệu tên Túc. Tổ tiên nhà đó vốn họ Việt, giúp Triệu Võ Đế (tức Triệu Đà) có công nên được ban cho họ Triệu. Ba bốn đời đều làm quan lớn cho triều Triệu Vũ Đế.  Đến ông Túc cũng là bậc nho y có tiếng trên đời, lấy vợ là Trưng Thị Đàm. Gia thế tuy giàu mạnh nhưng vợ chồng đều là những người trung hậu, nửa điểm hại người đều không có ý, một hào tư lợi cũng không có lòng. Địa phương nơi đó đều nói là nhà tích thiện tất có nhiều điều may mắn.

Một tối trời quang đãng, thái bà nằm ở phòng hoa, mơ màng thiếp đi. Bỗng thấy một ông lão dắt lên trên trời, ôm được một con rồng vàng. Đến lúc trở về nhìn trời lại thấy sao Thái dương rơi vào người Thái bà. Bỗng nhiên tỉnh lại. Đem giấc mộng kể với ông Triệu. Ông nói:

  • Ta xem gia phả các đời của nhà ta có tổ tiên tìm được một nơi đất quý, trước là phát 4 đời công khanh, hơn ba trăm năm lại phát đế vương từ nơi đất đó. Nay nàng nằm mộng như vậy tất con rồng đó là điềm đế vương, lại rơi vào thân, tất sẽ sinh được người con đế vương.

Thế là Thái bà có mang. Từ khi mới mang thai cho đến lúc mãn nguyệt ở nơi Thái bà nằm thường trên mình có vầng ánh sáng đỏ chiếu rọi. Đến năm Giáp Dần ngày 10 tháng 3 thì sinh hạ được một người con trai. Đang lúc sinh khí lành bốc lên, hương thơm ngào ngạt. Sinh được trăm ngày, ông Triệu đặt tên là Quang Phục.

Quang Phục khi 15 tuổi đã có khí tiết lớn, thường than rằng:

  • Là con người trên phải như Hán Tổ, Đường Tông, dưới phải như Tống Dương, Đường Tiết mà lập công nêu danh, chiêu tập nhân dân, tạo nên đức lớn, để lưu danh thơm cho hậu thế. Chứ không thể để lại tiếng xấu trăm năm mà làm uổng phí kiếp sinh ra trong trời đất.

Đến tuổi 20 cha mẹ đều mất, ông bèn làm lễ chôn cất. Trong lúc chịu tang đã âm thầm nuôi chí lạ, trữ lương luyện binh, chiêu nạp chúng bạn, dốc lòng đãi sĩ, hết sức cầu hiền, tập hợp chúng nhân được hơn vạn người. Ông thường nói rằng:

  • Người Bắc Tiêu Tư xâm chiếm nước ta, nếu không đuổi được về Bắc thì chết vì hận vậy.

Sau nghe ông Lý Bôn khởi binh ở Long Biên, anh hùng thiên hạ phần nhiều đến quy phục, ông bèn dẫn chúng quân đến theo. Ông Bôn thấy người này có văn võ dồi dào, có tài an dân ngự chúng, bèn vui mừng nói:

  • Chúng ta đều là ngang sức ngang tài, chỉ tiếc là gặp nhau hơi muộn.

Bèn ngay hôm đó bái làm Tả tướng, cùng với người anh cùng họ là Lý Phật Tư truyền hịch đi các hào kiệt ở các chư phủ huyện, cùng các quan phụ đạo, đồng lòng mở nước, vì nghĩa dẹp hung tàn. Nếu sau này yên định được đất nước sẽ cùng hưởng điều tốt lành. Khi ấy người đến ứng mộ ở các chi quân mã cộng được 20 vạn người. Bèn chia thành các đạo tiến thẳng đến cùng với Tiêu Tư giao chiến một trận, thế mạnh như chẻ tre, oai lớn như đốt củi khô nỏ. Tiêu Tư thua to, chạy về nước Lương.

Ông Bôn lên ngôi, tự xưng là Tiền Lý Nam Đế, đóng đô ở Long Biên, quốc hiệu Vạn Xuân, mở tiệc mừng lớn, rồi phong cho các tướng sĩ các cấp. Bèn phong Lý Phật Tử là chủ bộ Sơn Tây, thực ấp ở Sơn Tây. Triệu Quang Phục là chủ bộ Sơn Nam, thực ấp là Sơn Nam.

Quang Phục vâng mệnh bái tạ, đi đến nhận việc ở Sơn Nam, ngắm xem đất đai có hình thắng hiểm trở để  lập cung doanh mà ở. Một hôm đi đến nơi đất đầu xã Nhuế Dương, xứ Nhất Dạ Trạch, huyện Đông An Khoái Lộ. Bốn bề đất Nhuế Dương, trước có sông lớn, ba mặt đầm nước, núi không cao mà đất bãi như gìn giữ. Nước có sâu mà nguồn giếng êm chảy. Trái phải xung quanh có rồng hổ ôm chầu, thật đúng là nơi đất hiểm yếu. Ngay hôm đó bèn truyền quân xây dựng cung doanh vài mươi gian. Chính cung dựa Càn hướng Tốn. Quang Phục ở đó. Ngày sau gọi phụ lão nhân dân Nhuế Dương đến, khuyến khích nông tang, nam học hành, nữ may dệt, thêm điều tiện lợi, trừ bớt điều hại. Nhân dân Nhuế Dương đều yêu mến, hân hoan.

Được vài năm Đế lại triệu hồi về cùng với họ Lý. Khi đó Quang Phục cùng với Đế Bắc đuổi Tiêu Tư, Nam dẹp Lâm Ấp, đặt nên cảnh thái bình như cuốn sách trâu trắng. Trời tự có số mệnh. Lý Đế ở ngôi được khoảng 10 năm, Lương Võ Đế lại sai Bá Tiên, Dương Sàn dẫn 20 vạn quân sang đánh để rửa mối hận trước đây. Khi ấy Lý Đế đóng quân ở hồ Điển Triệt. Quân Lương không dám tiến gần. Một hôm nước hồ dâng cao chảy vào giữa hồ. Bá Tiên đốc quân theo dòng nước mà tiến. Quân của Đế thua, Đế bèn ủy phó cho Tả tướng Triệu Quang Phục giữ nước, còn mình vào động Khuất Liêu, sau đó ít lâu bị bệnh lam chướng mà mất.

Quang Phục tự thấy Long Biên bốn mặt có giặc, bèn rút hết quân về nơi chốn cũ ở Nhuế Dương, trong đầm Nhất Dạ huyện Đông An mà ở, cùng với quân Lương cự chiến, qua một năm mà không phân thắng thua.

Một hôm Quang Phục lập đàn cầu đảo trời đất bách thần. Được một lúc thì thấy có một ông lão, râu tóc xanh tốt, cưỡi rồng từ trên trời hạ xuống, tháo móng rồng giao cho Quang Phục và dặn:

  • Quốc gia hưng vong là ở số trời. Nay ta cho khanh vật này dùng làm đâu mâu, đặt vào trong lẫy nỏ. Cứ hướng vào đâu là giặc tất phải cúi rạp dẹp ra.

Dặn xong, ông Phục bái hỏi họ tên. Người đó cười nói:

  • Ta chính là Chử Đồng Tử đây.

Rồi lại cưỡi rồng bay lên không mà đi. Quang Phục làm lễ bái tạ, rồi lệnh tạo lẫy nỏ đâu mâu, gọi là thần nỏ vuốt rồng. Một trận đánh đã chém được tướng Lương là Dương Sàn. Quân Lương thua to, chạy về nước Bắc. Quang Phục cho đó là điềm trời bèn lên ngôi, tự lập là Triệu Việt Vương.

Ở cung Nhuế Dương mở tiệc mừng lớn khao hưởng tướng sĩ. Cùng với nhân dân Nhuế Dương ăn uống, lại miễn cho Nhuế Dương binh dong, tô thuế để làm dân thang mộc. Lại cho tiền bạc để mua thêm ruộng vườn để ngày sau giữ hương lửa vậy. Sau Vương sai người cùng quận là Nhã Lang đang là Tạp bộ Đại phu giữ đầm Nhất Dạ, Đông An.

Vương lại về thành Long Biên ở. Trong sửa văn đức, ngoài phòng biên cương, dốc lòng hưng bình để yên Trung Quốc. Cảnh tượng thái bình ở đời rạng rỡ. Bèn xa giá đi chu du khắp thiên hạ. Núi Nhân dạo bộ, biết sông hỏi bến. Núi sông tụ Thần Phù, Yên Tử, Cao Đê, mặt trời hồng, mây trắng, trăng gió cuốn Hoa Quật, Long Biên. Trên dưới núi xanh nước biếc. Phàm đến nơi nào thấy sơn thủy hữu tình đều lập hành cung, cho miễn binh dao để ngày sau làm nơi hộ nhi.

Một ngày nọ lại trở về Nhuế Dương thăm xem cung điện. Khi ấy người ở Nhuế Dương tranh nhau mang trâu rượu đón tiếp, làm lễ mừng lớn. Vương ở lại Nhuế Dương mấy chục ngày rồi lại trở về ở thành Long Biên.

Lại nói, khi ấy tướng cùng tộc với Tiền Lý Nam Đế là Lý Phật Tử thấy Triệu Quang Phục xưng vương, bèn vào động Dã Năng ở 15 năm. Đến khi ấy dẫn quân đến đánh Triệu Việt Vương. Mỗi khi ra trận, Việt Vương lại dùng nỏ thần. Quân Phật Tử đều sợ hãi mà chạy. Trong tướng sĩ của Phật Tử có người hiểu biết nói với Phật Tử rằng:

  • Thần xem Triệu Việt Vương tất nỏ thần có lẫy có thuật lạ. Nếu không lo việc này thì quân ta càng đánh càng thua. Chi bằng hãy treo giáp ngừng quân để dùng mưu mà lấy. Thần nghe nói con gái Triệu Việt Vương là Gạo nương cùng với con của minh công là Nhã Lang xấp xỉ cùng tuổi. Nay có kế này Ngài có thể sai sứ cầu hòa và câu hôn sự. Việt Vương mà đồng ý thì tất sẽ cho Nhã Lang vào Triệu ở rể, rồi tùy ý mà hành động, tất thiên hạ có thể dựng lại về nhà họ Lý vậy.

Phật Tử vui mừng bèn viết thư rồi chọn hậu lễ thỉnh hòa và cầu hôn. Triệu Vương nghĩ Phật Tử là dòng tộc Tiền Nam Đế, không nỡ tận tuyệt, bèn đồng ý. Phật Tử lại đưa sinh lễ xin cho Nhã Lang vào làm con tin. Từ đó Việt Vương chia nước làm hai mà cùng trị. Chỗ phân cắt giới là bãi Quân Thần ở Thượng Cát, huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai, đạo Sơn Tây. Từ Thượng Cát về phía Tây Phật Tử trị. Từ Thượng Cát về Nam Việt Vương trị. Vương sau lại yêu mến Nhã Lang, gọi là rể hiền, tin tưởng cho ra vào mà không nghi ngờ gì.

Một hôm Việt Vương nằm ở gác Đông, bỗng mơ màng như mộng, thấy Chử Công Đồng Tử tiến lại. Việt Vương trong mộng chay ra ngoài sân nghênh đón. Thấy Đồng Tử vén tay áo lên lấy ra một bức thư giao cho Việt Vương. Vương bèn mở ra xem, chỉ thấy trong có 6 chữ là:

  • Việc thời Thục An Dương Vương.

Vương định nghênh bái đón tiếp thì bỗng nhiên tỉnh lại, mới biết là nằm mơ. Vương tưởng trong mơ là thấy lại mộng cũ gặp ông Chử Đồng Tử, cho nên không để ý. Đến khi Vương ở ngôi được khoảng 23 năm. Con trai của Phật Tử là Nhã Lang ngầm dụ Gạo nương rằng:

  • Xưa kia hai cha của chúng ta từng là thù địch, nay lại kết giao Tấn Tần, theo đó mà tránh được nỗi khổ của chiến tranh. Ngày ấy  khi cha nàng cùng với cha ta giao chiến, cha nàng có phép thần gì mà có thể thường đẩy lùi được quân của cha ta vậy

Gạo nương bèn lấy nỏ thần vuốt rồng ra cho xem. Nhã Lang bèn tráo đổi lấy cắp đâu mâu vuốt rồng. Nhân đó nói với Gạo nương rằng:

  • Tuy tình vợ chồng không thể mất nhưng nghĩa cha con cũng không thể xa rời. Ta muốn về thăm thân, chưa biến ngày nào cùng nàng gặp lại.

Nàng nói:

  • Vạn nhất mà hai nước thất hỏa, khi đó chồng Bắc vợ Nam làm sao mà gặp lại?

Nhã Lang nói:

  • Nếu có như vậy nàng hãy giấu lông ngỗng trong người, chạy đến đâu thì rắc lông ngỗng ở đường. Ta nhận được dấu đó sẽ đến gặp lại.

Thế rồi Nhã Lang giấu vuốt rồng trở bề báo với Phật Tử. Phật Tử vui mừng, bèn cất quân đến đánh Việt Vương. Vương vẫn chơi cờ vây mà cười rằng:

  • Phật Tử không sợ nở thần của ta sao Không nghĩ đến nghĩa hôn nhân hay sao?

Phật Tử nói:

  • Phật há lại sợ thần hay sao?

Bèn dẫn quân bức đến. Việt Vương mang nỏ ra mới biết là đã mất vuốt rồng, thế cùng lực tận, không biết làm thế nào. Bèn đặt Gạo nương lên ngựa, sau cưỡi ngựa chạy đến cửa biển Đại Nha ở xã Lục Bộ, huyện Giao Tủy. Còn Phật Tử cứ theo lông ngỗng mà truy sát đến. Trước là cửa biển, sau là quân truy kích. Việt Vương đang lúc quẫn bách thì thấy Chử Công Đồng Tử cưỡi hạc bay đến trước Việt Vương hô to:

  • Vương không nhớ ta đã ứng trong mộng cho 6 chữ sao? Nữ tử sau ngựa chính là giặc đó.

Việt Vương tự biết, than rằng:

  • Hối không kịp rồi.

Bèn rút gươm chém Gạo nương. Vương tự mình nhảy xuống cửa biển Đại Nha mà mất (khi đó là ngày 12 tháng 8). Vương từ khi mất thường có nhiều linh ứng. Nơi mà Vương hóa xã Lục Bộ lập đền ở trên cửa biển để thờ phụng. Còn xã Nhuế Dương, huyện Đông An từ khi Vương mất nhân dân đều mang bệnh tật không yên, thường mơ thấy một người thân mặc áo xanh tay cầm cờ vàng nói rằng:

  • Ta là thiên sứ xuống báo cho dân các ngươi xây dựng cung miếu để thờ Triệu Việt Vương.

Người dân không biết như thế nào. Lại thấy Phật Tử lên ngôi tự lập là Hậu Lý Nam Đế. Con trai Nhã Lang đến nơi dân truyền rằng Việt Vương đã hóa. Dân phải lập miếu phụng thờ. Lại thấy Tạp bộ Đại phu ở xã Đại Lan bản huyện cũng tự đến tận nơi cung sở chính, lập làm đền miếu, vâng chép thần hiệu Triệu Việt để phụng thờ. Từ đó bệnh tật đều yên hết. Cảm tất thông, cầu tất ứng. Nên nhân dân phụng thờ nghiêm cẩn.

Lại nói khi Hậu Lý Nam Đế ở ngôi được 20 nằm thì hàng Tùy mà mất. Trải qua Mai Hắc Đế, Phùng Bố Cái, Khúc Tiên Chủ, Khúc Trung Chủ, Khúc Hậu Chủ, Dương Chính Công, Tiền Ngô Vương, Hậu Ngô Vương, Mười hai sứ quân cùng nhau tranh giành, cát cứ các nơi. Sinh dân do đó thật lầm than. Lại có người ở Hoa Lư động, châu Đại Hoàng họ Đinh tên Bộ Lĩnh khởi binh dẹp trừ 12 sứ quân. Khi dẫn quân đánh Phạm Bạch Hổ ở Đằng Châu Đinh Bộ Lĩnh tự đến xã Nhuế Dương  cầu ở nơi đền miếu Việt Vương. Việt Vương cũng có hiển ứng âm phù. Khi dẹp được 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi, tự lập là Đinh Tiên Hoàng đế, bèn truy phong Việt Vương Hoàng đế, ban cho mĩ tự sắc chỉ về Nhuế Dương, trùng tu miếu điện để thờ phụng. Xuân thu sai quan đến tế. Bốn mùa hương lửa cùng quốc gia hưởng yên. Thịnh sao!

Truy tôn Triệu Việt Vương Khai quốc Dực vận Quảng tế Thần võ Nguyên công Chí  Thánh Triệu Hoàng đế. Cho xã Nhuế Dương phụng thờ.

Lại nói, từ đó về sau trải đời Lý 8 nhánh, Trần 12 vua cùng với Hoàng gia ta khai sáng hồng đồ thường có hộ quốc cứu dân, cầu mưa cầu nắng, đều có nhiều linh ứng, nên có nhiều đế vương gia phong mĩ tự để làm vạn năm hương lửa vô cùng. Tốt thay, đẹp thay!

Vâng khai sinh hóa các lễ cùng với các chữ húy hai chữ Quang Phục, màu áo vàng nhất thiết cấm khi làm lễ không được mặc.

Sinh thần ngày mồng 10 tháng 3 (lễ dùng trên mâm chay, dưới cỗ trâu, xôi, rượu, ca hát ba ngày).

Ngày hóa thần 12 tháng 8 (lễ dùng trên chay bàn bánh chè oản hương hoa. Dưới cỗ trâu xôi rượu, đấu vật ba ngày).

Ngày khánh hạ là mồng 10 tháng Giêng (lễ dùng lợn đen, xôi, rượu, ca hát một ngày).

Xuân thu hai kỳ lệ được ban cho tiền đồng 60 quan, sai quan đến tế, làm lễ tam sinh, ca hát một ngày.

Niên hiệu Hồng Phúc năm thứ nhất tháng đầu xuân ngày tốt, Hàn lâm viện Đông các đại học, thần, Nguyễn Bính phụng soạn.

Hoàng triều Vĩnh Hữu năm thứ nhất tháng giữa thu nguyệt ngày tốt, Quản giám bách thần Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh, thần, Nguyễn Hiền tuân theo chính bản vâng sao.

Bát phẩm thư lại, thần, Hoàng Công Độ vâng chép.

Thần tích làng Bùi Xá, tổng Phù Khê, phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên

Phả lục công thần thời Tiền Lý Nam Đế họ Triệu tên Phục, sau là Triệu Việt Đại Vương.

Xưa nước Việt ta mở cơ đồ Nam phục, phân giới theo sao Ngưu Đẩu. Triều Hùng mở vận, thánh tổ ứng đồ. Nước biếc một dòng, khởi vận thánh đế minh vương. Núi xanh vạn dặm, dựng nền cung điện thành đô. 18 đời truyền hơn hai ngàn năm thịnh trị. Đời đời cha truyền con nối, đều xưng là Hùng. Ngọc lụa, núi sông vạn dặm thống nhất, chính là tổ của Bách Việt vậy. Truyền đến đời Duệ Vương không có người kế tự, bèn nhường ngôi cho Thục An Dương Vương. Dương Vương có nước trị được 50 năm. Có người Chân Định họ Triệu tên Đà dẫn quân đến xâm chiếm. Nhà Thục mất. Triệu Đà chiếm được nước, cha truyền con nối 5 đời làm vua.

Từ đó nước Việt ta thuộc về Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương. Khi ấy nước Việt ta có ông Lý Bôn, có tài văn võ của bậc đế vương, có chí dẹp loạn khôi phục non sông, thừa vận theo trời thuận người mà khởi dưỡng chí lớn, chọn tìm tướng tài. Tin thay! đã có vua tất sẽ có bề tôi. Rồng lên ở đầm không có ý với mây mà mây tự đến.

Đương khi đó tại huyện Châu Diên phủ Tam Đới đạo Sơn Tây có một người xử thế theo kinh sách, lo liệu việc nhà bằng hiếu đễ. Người đó họ Triệu tên Túc, cùng với bà Lê Thị Minh kết duyên cầm sắt, xướng hợp uyên ương, ba sinh hương lửa, một mối phong quang êm đềm, dư giả vậy. Gia thế vốn giàu có. Vợ chồng cùng là những người trung hậu, giúp nghèo cứu yếu, tích đức làm việc nhân, nửa điểm hại người cũng không làm, một ý tham lợi nhỏ cũng không theo. Phàm là việc giúp người tạo phúc, đều cố hết sức lực để làm. Nhân dân địa phương ai ai cũng nói là gia đình tích thiện tất sẽ có nhiều may mắn.

Khi ấy vợ chồng ông đều đã ngoài 40 tuổi mà chưa thấy có sinh nở nên cùng nhau đến đền thiêng trên núi Tam Đảo để cầu đảo. Đêm đó ông nằm mơ thấy ánh sáng tràn đầy nhà, chốc lát có rồng vàng trườn tới. Ông bắt được một con rồng vàng. Đến khi tỉnh lại mới biết là một giấc mộng Hoàng Lương bên gối. Rạng ngày ông làm lễ bái tạ, trở về nhà.

Từ đó bà Lê Thị thấy trong người có mang. Mang thai được 12 tháng đến mùa hè năm Mậu Thìn ngày 1 tháng 5 giờ Thân thì sinh hạ một người con trai, thân hình đẹp đẽ chỉnh tề, khí chất khôi ngô kỳ lạ. Trong lúc sinh khí lành tụ thành hình, hương thơm bay ngào ngạt, cuốn bám đầy phòng. Sương mù rạng rỡ ở nơi nằm. Người cha rất vui mừng cho đó là trời ban cho, bèn đặt tên là Quang Phục.

Ngày qua tháng lại, đến khi trưởng thành thì tìm thầy đi học. Học được vài năm thì đã hiểu thấu văn chương, trí tuệ hơn người, tinh thông võ bị, tài năng cái thế, cùng với lục giáp, thần phù không gì là không tinh thông. Đang khi còn đi học, thầy dạy thường nói rằng:

–   Gia đình người này đúng là có được điều phúc lớn, sinh được một người con trai tốt như vậy. Ngày sau sẽ là người trải trời rải đất, bày lập thời đại kinh kỷ, là người quý của nước Nam vậy.

Đến năm Ngài 12 tuổi thì sách vở của trăm nhà không gì là không nắm được. Mỗi khi bàn luận cùng với bạn bè cùng trang lứa, bằng hữu đều sợ phục. Ngài thường than rằng:

–   Làm người phải như các bậc thánh hiền thời cổ, sáng lập công danh, không thì cũng là chốn sa trường da ngựa bọc thây, mới đúng là bậc đại trượng phu. Đâu thể chỉ yên phận với việc nghiên bút được.

Từ đó không quan tâm đến sản nghiệp mà nuôi chí lớn. Thường hận là nước Nam phải phụ thuộc vào người ngoài, không tự quản thủ (khi ấy Lương sai Tiêu Tư là thái thú ở Việt ta). Bèn ngày đêm tích trữ binh lương, âm thầm nuôi chí lạ, chỉ còn tìm thánh quân đợi thời mà phát động. Một hôm ngài Quang Phục nghe có ông Lý Bôn ở đất Quảng Đông Long Biên, có chí lớn lao, anh hùng trí dũng, có khí tượng lớn của bậc đế vương, chiêu tập binh mã khôi phục đất đai. Ngài bèn chọn ngày dẫn quân tìm đến bái yết. Ông Lý thấy người này văn võ toàn tài, bèn nói:

– Ta cùng ngươi khó phân tài cao thấp, nhưng có được tướng tài không khi nào là muộn cả.

Ngày hôm đó bèn bái Quang Phục là Đại tướng quân, chọn ngày lập đàn cầu đảo trời đất, bách thần, đãi hưởng quân sĩ, rồi chia quân thành các đạo cùng tiến thẳng đến quân Lương. Đánh một trận lớn. Quân Lương thua to. Tiêu Tư chạy về nước Lương. Ông Lý lên ngôi, tự lập là Tiền Lý Nam Đế. Phong Triệu Quang Phục làm Đại tướng quân. Quân thần hợp đức, thiên hạ thái bình. Vạn dân no đủ vui ca. Bốn biển thấy cảnh tượng thái hòa. Nhà Lý làm Đế, họ Triệu làm bề tôi.

Được quãng 8-9 năm, nhà Lương lại cử Tiêu Tư làm tiên phong, Bá Tiên làm Đại tướng, dẫn quân 20 vạn đến đánh để rửa mối hận trước đây. Nam Đế bèn cùng với Quang Phục cự chiến, mấy trận không phân thắng thua. Nam Đế bèn cho Quang Phục dẫn một đại quân trở về giữ huyện Đông An, phủ Khoái Châu. Còn Nam Đế giữ vùng Dã Năng. Quân Lương lại tiến đánh. Nam Đế lại chạy về động Khuất Liêu, bị phát bệnh lam chướng mà mất.

Còn Quang Phục ở huyện Đông An, thấy trong huyện có đầm Nhất Dạ tại đất xã Vĩnh Hưng (tức xã An Vĩnh). Đầm này chu vi không biết bao nhiêu dặm, cỏ lác mọc rậm rạp. Bốn bề bùn lầy sình trũng. Bên trong có một chỗ nhỏ có thể ở. Quang Phục bèn lập đồn lớn ở trong đầm.

Ngài lại đi khắp nơi trong huyện (tức huyện Đông An) tìm nơi đất nào có hình thế tiện lợi để lập cung mà ở. Một hôm đi đến xã Bùi Xá tổng Đại Quan, thấy hình rồng rắn bao bọc, núi sông quanh co, bèn lập một ở nơi đó để năm tháng có thể nhàn du thưởng ngoạn.

Việc xong lại đóng đồn quân ở đầm Dạ Trạch, thường cùng tướng Lương là Trần Bá Tiên cự chiến vài chục trận. Quân Lương đều thua. Thường khi dẫn quân đánh quân Lương thì thấy có một lão ông, râu tóc dài khỏe, thân thể kỳ dị, cao hơn 9 thước, cầm một cái dùi sắt, theo khói sương trong đầm mà lên, tiếng như chuông lớn, hình như sắt trắng, đánh quân Lương thua to.

Sự việc xong ông lão lại cùng với Quang Phục đi dạo, nói cười vui vẻ như anh em cùng một bọc đến chơi vậy. Phàm khi Quang Phục có việc bị quân Lương tập kích thì đều đến báo trước thời gian. Nếu Quang Phục gạn hỏi họ tên, duyên cớ thì đều không báo sự thực. Một hôm Quang Phục đi đến cung sở ở xã Bùi Xá. Nhân dân đang làm lễ đón mừng thì bỗng thấy lão ông từ bên ngoài đi đến. Quang Phục bèn mời vào trong ngồi. Lão ông nói rằng:

–   Tôi vốn là thanh khí chốn bèo nước, là dòng dõi một bầu trăm trứng họ Hùng trước đây, cũng là phúc thần của Bùi Xá (xem tích Lạc Long Quân lấy tiên nữ Âu Cơ, sinh hạ một bầu trăm trứng, nở ra điềm trăm trai, đều có tư chất hơn người, anh hùng vượt đời. Đến khi trưởng thành Vua bèn phong hầu lập bình phong, chia nước làm 15 bộ. 50 người con theo cha về biển làm thủy thần. 50 người con theo mẹ lên núi làm sơn thần). Tôi là Đông Hải Đại vương, là người con thứ 10 trong số 50 người con về biển, họ Hùng tên Chiểu, ở giữ biển Đông nên gọi là Đông Hải Đại vương. Sau lại kiểm giữ đầm Nhất Dạ ở Sơn Nam, làm thần ở Bùi Xá trong đầm Dạ Trạch. Sau này cùng ngài được cùng hưởng trong dân nên mới đến báo tin. Nay là lúc nghiệp làm vương tất sẽ thành. Ngài nên chọn ngày trai giới cầu đảo với Trời. Tất Hoàng thiên sẽ cho Quý Minh Đại vương là Hữu kiên thần của Tản Viên Sơn Thánh, cưỡi rồng đến để cho ngài móng rồng làm đồ quý thiên ban, tất nghiệp vương có thể thành. Còn quân Lương không thể vây được. Nếu được như vậy thì cùng phụng thờ vị Quý Minh Đương Lai, có việc lành dữ như thế nào thì tôi cùng với Quý Minh tất báo cho, lại càng tăng thêm điều tốt. Từ nay, tôi có việc trên thiên đình, không thể cùng nhau gặp mặt như ngày trước.

Nói xong, ông lão bay lên không mà đi. Ngài Quang mới biết đó là thủy thần cùng mình đi dạo, nay đến giảng dạy cho. Bèn gọi nhân dân Bùi Xá đến hỏi. Dân đều nói trước đây quả có phụng thờ Đông Hải Đại vương. Nguyên là vì dân nghèo không thể sửa chữa được đền miếu nên trải qua thời gian đã bị hỏng nặng. Ông Phục nghe lời bèn khấn rằng:

–   Nếu quả đúng như lời, thần xin sửa chữa đền miếu để cùng phụng thờ.

Bèn chọn ngày trai giới, lập đàn dâng lễ cáo tế trời đất, cầu đảo bách thần. Ba ngày đèn hương không dứt. Bỗng thấy trời đất mù mịt, mây gió nổi lên. Có một vị thần tướng cưỡi rồng vàng từ trên trời hạ xuống, đứng trên đàn. Ông Phục đại bái ở trước. Thần tướng mới nói rằng:

– Ta là Quý Minh Đương Lai (Xét xưa cha của ông Quý họ Nguyễn, mẹ họ Tạ, nằm mộng thấy hai con hổ nhập vào, có thai mà sinh một bọc hai con trai. Người anh tên Sùng công, là Cao Sơn Đại vương. Người em tên Hiển công, là Quý Minh Đại vương. Tản Viên Sơn cùng là ba người anh em, là con chú con bác. Sau gọi là Tả hữu lưỡng kiên thần), cho khanh một vật để làm nỏ thần báu vật trời ban. Cho dù có giặc mạnh cũng không phải lo lắng vậy.

Bèn tháo móng rồng mà trao cho ông Phục. Ông làm lễ bái tạ. Quý Minh cưỡi rồng biến mất. Ông Quang Phục rất mừng, bèn lệnh cho chế tạo nỏ thần vuốt rồng, tự lập là Triệu Việt Đại vương, hướng nỏ vào đâu thì quân Lương đều tự khắc dạt ra, không dám đến gần.

Do cảm đức lớn của đức Đông Hải, Quý Minh và từ lời không thể đổi của đức Đông Hải nên Ngài cho trùng tu miếu điện ở xã Bùi Xá, viết thần hiệu hai vị Đông Hải, Quý Minh để phụng thờ (thời cổ người còn thuần phác, theo sự việc thật mà đến, nên có chữ Đương Lai, có lẽ là theo nghĩa thứ hai là đến), để sau này khi ngài trăm tuổi làm nơi hương lửa hưởng thần. Cho phép Bùi Xá dùng tô thuế, phục dịch, mua thêm ruộng công để làm dân thang mộc, cùng phụng thờ hai vị Đông Hải, Quý Minh. Bốn mùa tám tiết hương lửa theo như nghi thức. Người đời sau có thơ rằng:

Sơn thuỷ tòng lai tương biệt thú

Như hà sơn thuỷ đắc đồng nguyên

Giả lệnh tại đương thì giả

Cảm vấn chư công đắc minh.

Dịch nghĩa:

Sông núi theo đi mà chia biệt

Tại sao sông núi lại cùng nguồn?

Nếu là thủ lĩnh đương thời đó

Dám hỏi các ngài rõ không?

Vua từ đó lấy làm đắc chí, mới đi chu du thiên hạ, xem sông hỏi bến, tản bộ núi rừng. Lúc thì thổi sáo đánh đàn, thơ sách đối với trời đất, phượng hát loan ca, thanh sắc Bồng Lai, chủ trương ba lá vượt bồng, năm hồ trăng gió, dấu tiên tại đình thuyền câu, hai gương cảnh tượng xe mây nếp cũ. Nước xanh, núi đẹp đều tụ lại với đất trời. Thánh ở Tây, thần ở Bắc, ra vào chốn phong cảnh trời Nam. Theo dấu tiên ông mà đi khắp quê nhà nước cũ. Núi sông Thần Phù, Yên Tử, Cao Đê, mặt trời hồng, đám mây trắng, gió trăng cuốn Hoa Quật, Long Biên. Trên dưới non xanh nước biếc. Ở ngôi được khoảng 10 năm, thiên hạ thái bình, xem thấy lũ cướp đều lánh xa, bọn giặc đều yên. Không người nào không thỏa lòng sinh. Không vật nào không yên mà không dưỡng. Công thành, trị định. Việc cơ yếu thành hòa hợp, hưng khởi mà trị. Cũng đều do có nỏ rồng trời ban xếp đặt vậy.

Vua từ khi có được báu vật của trời đâm ra thêm kiêu ngạo, lại đam mê yến tiệc, không lo việc quốc chính. Thiên tai báo nguy cũng là điềm báo trước. Thiên mệnh đến mức trọng thì không thể dùng trí lực mà tranh giành được. Người em của Tiền Lý Nam Đế là Lý Phật Tử với con trai tên Nhã Lang có tấm lòng đế vương, kiêm tài văn võ, tích trữ quân lương để khôi phục họ Lý, trí mưu đều lớn, dũng lược hơn người, dẫn quân đến đánh Triệu Việt Vương, mấy trận đều bị thua.

Nhã Lang trong lòng biết vua Triệu có báu vật trời ban, tuy có trí dũng cũng không thể vây được, bèn nói với cha rằng:

–  Thần xem nước Triệu tất có cơ thần, thuật lạ. Nay nếu hết sức mà công đánh tất sẽ hao tướng mất quân, cũng không thể thành công được. Chi bằng hãy dùng mưu mà lấy. Thần sẽ cầu hôn với con gai vua Triệu là Quả Nương, rồi thần vào ở rể làm con tin, tất sẽ biết được thực hư vậy.

Phật Tử đồng ý, bèn mang lễ cống đến giảng hòa với vua Triệu, nói:

–  Xưa Vương cũng là danh thần của Nam Đế ta. Nay Vương có con gái Quả Nương cùng với Nhã Lang đồng tuổi. Dám xin cầu để kết nghĩa Tấn Tần, mà tăng thêm tình thân vậy.

Triệu Vương đồng ý. Khi ấy có các đình thần ra sức can gián, nhưng cuối cùng Vương không nghe, nói:

–  Ta có nghĩa với Tiền Lý Đế, lại có thần nỏ vuốt rồng, ai làm gì được?

Một hôm Vương nằm ở Bùi Xá miếu sở phụng thờ hai vị Đông Hải, Quý Minh, bỗng mơ thấy hai vị đến ban cho Vương một bài thơ. Vương trong mộng mở ra xem, thấy trong có 4 câu thơ:

Nhị thập niên gian tắc du vương

Thiên hạ dĩ định khả tri tường

Nam bang hồi Lý gia Phật tử

Long trảo hoàn quy tại Nhã Lang.

Dịch nghĩa:

Hai mươi năm đó đã xưng Vương

Thiên hạ định rồi, biết rõ ràng

Nước Nam về tay Lý Phật Tử

Móng rồng quay trả ở Nhã Lang.

Khi ấy Vua ở ngôi đã được 20 năm. Một hôm Nhã Lang tráo đổi, lấy trộm vuốt rồng, rồi quay về báo với Phật Tử. Phật Tử bèn dẫn quân đến đánh. Triệu Vương thua chạy. Phật Tử lên ngôi tự lập là Hậu Lý Nam Đế. Nam Đế nghĩ đến chữ nghĩa cha con, quân thần bèn cắt giới từ Thượng Cát, huyện Từ Liêm về phía Tây cho Nhã Lang ở. Từ Thượng Cát về phía Đông Nam Việt ở, gọi là Quân Thần.

Sau khi Vương mất ở nơi yên nghỉ cuối cùng thì nhân dân xã Bùi Xá cảm ơn đức bèn viết thần hiệu mà lập miếu thờ phụng, giữ được hương lửa vạn đại vô cùng. Từ đó về sau trải Đinh, Lê, Lý, Trần bốn họ khai sáng cơ đồ, thường có việc hộ quốc bảo dân nên có nhiều đế vương gia phong mỹ tự để muôn năm cùng an hưởng với nước nhà. Tốt thay!

Xã Bùi Xá phụng thờ.

Tiệc lớn cùng với các chữ húy Đông, Hải, Quý, Minh, Quang, Phục cùng màu đỏ và tía là húy kỵ.

Chính lệ sự thần ngày 1 tháng 5.

Ngày 2 tháng 2 là tiệc lớn mở sắc.

Năm Hồng Phúc thứ nhất ngày tốt tháng giữa xuân, niên hiệu vua Lê Anh Tôn.

Hoàng triều Vĩnh Hựu năm thứ nhất ngày tốt đầu xuân niên hiệu vua Lê Ý Tông.

Chánh hội Hoàng Văn Tiệp, Thư ký Lê Văn Chấn, Lý Trưởng Lê Văn Trong ký.

Giáp Thọ Tháp, giáp Bối Hà xã Dịch Vọng trung phụng sao thần tích

Ngọc phả triều Triệu Việt Vương

Do bộ Lễ triều Lê Thượng thư Quản giám tri điện vâng sao sự tích cổ truyền,

Hoàng đế Bệ hạ khâm phụng sắc chỉ cho thần hiệu.

Xưa Đại vương là người ở trang Thái Bình, Chu Diên. Đất này bằng phẳng, nước trong đẹp, có một nhà họ Triệu tên là Xương, lấy vợ là Lý Thị Thích. Vợ chồng chuyên tâm làm phúc, ngày ngày thắp hương khấn cầu Thượng Đế, ba kiếp hương đèn, một đời phong lưu, để rồi có dư phúc đức. 

Vào đêm 18 tháng 2 năm Nhâm Tuất, bà Lý nằm mộng thấy hào quang đầy nhà, chợt có một con rắn hoa màu trắng cuộn bò tới, lờ mờ hóa thành bông sen trắng. Bà Lý cầm lấy. Thế rồi có mang. Mang thai độ một năm, ngày 10 tháng 1 năm Quý Hợi thì thai nhi vận chuyển. Đến ngày 11 thì hương thơm khắp nhà, ánh sáng chiếu soi trong màn trướng. Giờ Ngọ ngày 11 thì sinh hạ được một nam nhi, tướng mạo phi thường, hình dung đẹp lạ. Mọi người đều vui mừng, biết là trời đất cảm cách lòng trung thành mới đặt tên cho ngài là Triệu Chí Thành. 

Ngài ngày ngày thường ở riêng một chỗ, tự xem sách, không cần người chỉ dạy, giỏi đàn sáo, tinh thông âm luật. Đến khi trưởng thành ngài tài đủ văn võ, phẩm chất hơn người, anh hùng vượt đời xưa, tính tình lương thiện, khoan hòa trung chính, giỏi bày mưu lược, nuôi dưỡng hùng tài.

Bấy giờ, Triệu Vương đánh quân Lương Trần Bá Tiên mà chưa phân thắng bại. Triệu Chí Thành Đại vương huy động được ba ngàn quân đến theo Triệu Việt Vương dẹp giặc. Việt Vương phong cho làm Đô thống Nguyên soái, cấp cho 8 nghìn quân, đóng quân ở sông Tô Lịch, cự chiến với Trần Bá Tiên ở Gia Ninh. Bị thất bại, bèn cùng với Triệu Việt Vương vào động Tân Xương, đóng đồn quân ở Điển Triệt.

Vào ngày mồng 10 tháng 8 lại dẫn quân đánh ở Thí Mô. Quân Lương thua. Đuổi theo chém vô số. Quân Lương kinh sợ. Đến ngày 21 tháng 11 cùng với Bá Tiên đánh ở động Khuất Liêu. Triệu Việt Vương và Đại vương thua trận, nên rút về giữ Dạ Trạch để chống cự với quân Lương. 

Triệu Việt Vương lo sợ quân Lương đang rất mạnh. Ngày 5 tháng 5 Triệu Việt Vương lệnh cho Đại vương sắm lễ lập đàn, bái yết với trời đất, thần linh, cầu Phật cầu tiên, truyền hịch đi các châu huyện, nơi nào có tăng ni đạo sĩ thì đến đó đều cấp phát áo mũ, lệnh giảng chân kinh, thuyết pháp tu hành, mở rộng đạo nguyên, tiến cúng hương hoa, ngày đêm thơm phức.

Đại vương Chí Thành kính cẩn dâng sớ lên Thượng giới. Quả là chốn Cửu tiêu tuy xa, hương khói vẫn thấu tới mây từ, một tấm lòng thành mà cảm cách thông tới trời đất. Do trọng việc quỷ thần mà có thể một lần được thấy thưởng công. Cầu gì tất ứng, ước nguyện là được như ý. Bỗng thấy một ông lão râu tóc bạc trắng, cao hơn 7 thước, ngồi ở ngã ba đường, cười nói nhảy múa. Người dân thấy vậy đều lấy làm lạ, nên vào tâu lên Việt Vương.

Vương cung kín đón vào trong đàn, lệnh cho Nguyên soái bày tiệc mừng. Việt Vương thân hỏi rằng:

– Nay có đại tướng Lương là Trần Bá Tiên, Dương Sằn đến xâm chiếm, thắng thua thế nào, xin Lão ông chỉ giáo cho.

Lão ônng nói:

–   Ta là thần ở miền Tây Vực, sống lâu trong biển Giác, chu du trên thuyền Bát Nhã, không nhiễm lòng trần, tẩy rửa con đường Niết Bàn. Nay do thành tâm mà cảm cách, kinh kệ truyền thanh âm, khiến ta cảm ứng mà đến giúp vậy.

Việt Vương mừng thầm, người chuyên tâm thanh tịnh, ý trời tất sẽ thông. Lát sau, Lão ông bốc thẻ gieo quẻ, nói với Việt Vương rằng:

– Nay Hoàng đế thành tâm cầu đảo, trời ắt ứng cho. Ngày sau Chử Đồng Tử sẽ cho chiếc móng rồng. Chử Đồng Tử là con rể quý của vua Hùng. Còn nay lão có một vật quý của trời, dùng chế làm ấn tín, nên mài dũa để làm quốc bảo.

Nói xong Lão ông cưỡi mây mà đi. Vương mới biết đó là Phật, bèn bái vọng theo. Ngay hôm đó sai quan kính cẩn làm lễ chay bái tạ.

Đến ngày 18 tháng 6 Việt Vương cho lập Vọng Tiên đàn ở đầm Dạ Trạch, sai trăm quan văn võ đứng chầu nghiêm trang. Triệu Vương bái yết, cầu khấn:

– Xin Trời cho thần tiên giáng hạ để trước may được gặp mặt, sau là thỏa ước ba sinh vậy.

Đọc chúc xong liền bái tạ. Tụng niệm suốt ba ngày vẫn không thấy dấu tiên. Việt Vương bồi hồi, không biết làm thế nào. Vào giờ Ngọ ngày 21 chợt thấy mây trời ảm đạm, nước sông ù ù như nổi sấm vang. Giao long, cá, ba ba nổi hàng đàn trên muôn sóng. Côn, ngạc, kình nghê xếp cuồn cuộn trên sóng ngàn tầng. Điện vũ nguy nga, yên hà lấp lánh. Rồng mây bốn bề mờ ảo, ẩn hiện Phật quốc lâu đài. Non nước một bầu, như thấy Bồng Lai tiên cảnh. Phong quang tươi thắm, trăm hoa đua hương. Nhấp nhô những đỉnh non nhỏ, tựa rồng trắng giáng khí. Bỗng thấy một áng mây vàng rực rỡ từ phía Tây bay lại tụ ở trên đàn. Việt Vương bái yết. Lại thấy rồng thành năm sắc, Chử Đồng Tử cưỡi trên lưng rồng vàng, tháo móng rồng trao cho Việt Vương, mà nói:

– Dùng nó làm lẫy nỏ, thì không còn lo giặc nữa.

Rồi tự nhiên bay lên mà đi. Việt Vương mới biết là Chử Đồng Tử ban cho móng rồng, đúng như lời báo của Lão ông, sự việc quả không sai, bèn vọng bái.

Triệu Việt Vương từ khi có được ứng điềm móng rồng tới ngày 12 tháng 7 sai Đại vương Chí Thành chế nỏ, lấy móng rồng làm lẫy. Đến ngày mồng 3 tháng 9 đánh một trận ở sông Bình Giang. Quân Lương thua. Lại đánh trận ở bãi Quân Thần (nay là Thượng Hạ Cát). Quân Lương thua to.

Khi ấy nhà Lương có loạn Hầu Cảnh. Vua Lương triệu Trần Bá Tiên về nước, để lại Dương Sằn chống cự cùng với Triệu Vương. Việt Vương sai Đại vương Triệu Chí Thành tấn công Dương Sằn ở núi Phù Long mà phá được, chém và bắt được rất đông quân giặc. Chém được Dương Sằn ngay trên xe.

Đại vương quay trở về, đi qua trang ấp nào, phụ lão đều thắp hương bái yết, nghênh giá. Đại vương ban tặng 300 quan tiền để mua ruộng làm ruộng thờ. Lệnh lập hành cung để sau này có chỗ hưởng thần. Cả thảy có hơn 15 cung.

Vào ngày mồng 10 tháng 10 Đại vương đến khu đất giữa trang Dịch Vọng, thấy phụ lão nhân dân đều thắp hương bái mừng đón như vậy. Trên đường Chí Thành đi qua, giữa trang thấy có một thế đất núi bằng nước đẹp, liền ở lại mấy ngày. Ban cho phụ lão 500 quan tiền để dựng hành cung. Phụ lão tranh nhau mổ trâu khao hưởng quân sĩ. Đại vương đều từ chối.

Ngày 12 tháng 10 Ngài dẫn quân về thành Long Biên để tấu sớ. Triệu Việt Vương mở tiệc lớn mừng. Triều thần trăm quan đều đến chầu. Việt Vương lên ngôi Thiên tử, đóng đô Long Biên. Triệu Vương lên ngôi, thực thi đức hóa, khuyến khích cấy trồng, làm cho nhân dân không lo thiếu thốn, nước nhà có của cải tích lũy.  Khắp nơi thái bình, dân không dối trá. Tục luật được làm đơn giản, thuần phác. Xét cốt lõi việc chế trị đương thời rạng hơn đời trước. Đương thế gọi là vị vua hiền vậy.

Việt Vương phong Chí Thành ở thành Ô Diên (nay là Hạ Mỗ). Trong ngày 6 tháng 8, Đại vương  đêm mộng thấy một người mặc áo xanh, tay cầm cờ vàng, tự xưng là Thiên tướng, quỳ ở trước sân, nói rằng:

– Ngọc Hoàng Thượng Đế sắc chỉ triệu hồi ngài về chầu Thượng Đế.

Nói xong thì biến mất. Đại vương tỉnh dậy, gọi Phạm phu nhân, cùng các con tụ họp để lo chuẩn bị. Ngày hôm đó bỗng bị đau đầu, 3 ngày thân thể không yên. Triệu Việt Vương tự thân đến thăm, cầm tay Đại vương nói rằng:

– Trẫm nhờ ơn Ngài mà dẹp được giặc, yên ổn được nước. Nay Ngài bị bệnh đến như vậy, e khó qua khỏi.  Ngài có ý nguyện gì cho về sau này, Trẫm cũng sẽ  theo đó mà báo đáp được nhiều nhất có thể vậy.

Đại vương nói:

– Thần không có ý nguyện gì ngoài việc xin Bệ hạ đưa thần đến nơi đất đầu rồng bàn đá. Lá cờ dùng khi thần từng đánh giặc cũng đem đến. Thần tung cờ lên trên trời. Nếu cờ bay rơi ở đâu thì xin Bệ hạ cho địa phương nơi đó miễn tô thuế, các phục dịch, để cho việc thờ phụng thần được hưởng muôn năm không ngừng vậy.

Đế đều đồng ý. Tới ngày 12 Đại vương tung cờ lên trên trời rồi hóa. Đế than tiếc mãi không thôi, thật là thương xót. Bèn sai bề tôi một mặt xem cờ dừng ở địa phương nào thì dân địa phương đó lập tức đến kinh thành đón nghênh thần sắc về lập miếu phụng thờ. Mặt khác, lập miếu ở ngay chính nơi đầu rồng bàn đá, bao phong là Đại vương. 

Sứ thần theo cờ bay đến khu giữa Dịch Vọng, miếu Thọ Tháp thì cờ dừng ở tại đất đó. Nhân dân phụ lão lên kinh thành phụng nghênh thần hiệu. Triệu Vương cho miễn tô thuế và tạp dịch, ban cho tiền để lập miếu. Phụ lão vâng lĩnh tiền 38 quan, đón thần vị Đại vương. Mặt khác, bèn đón thỉnh thầy phong thủy nổi danh để tìm một khu có đủ thiên văn địa lý, lại đúng ở trong nơi hành cung trước đây. Khi hỏi kỹ phụ lão trả lời rằng:

– Đây đúng là chỗ hành cung cũ của Đại vương.

Phong thủy bèn lập hướng Càn Tốn kiêm dựa Nhâm Bính, hướng trước Cấn Khôn. Trước mặt có Sao vàng làm án. Sau có Mình rồng bao lót. Hai dòng nước hợp lại. Đất phát nhiều nam cường tráng, văn nhân tuấn tú. Khu vực xung quanh đó phụng thờ hàng năm hương hỏa, đời đời truyền thừa.

Đại vương khi sinh thời võ công hiển hách, tiếng tăm lẫu lừng, giúp bang lập quốc. Sau khi hóa các trang ấp địa phương có điển thờ phụng tôn nghiêm. Bảo hộ dân sinh. Lễ ấy, thờ ấy là mãi, là yên. Đẹp thay! Tốt thay! Mãi mãi không dừng!

Chánh hội Nguyễn Xuân Quyết,

Lý trưởng Đào Văn Hanh.

Ngọc phả chép về Triệu Việt Vương Hoàng Đế ở Độc Bộ – Kiên Lao

Dịch từ bản khai thần tích làng Độc Bộ, tổng Thanh Khê, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định và làng Kiên Lao, tổng Kiên Lao, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.

Ngọc phả chép về Triệu Việt Vương Hoàng Đế (Chi Càn, Bộ thứ nhất, Thượng đẳng thần)

Phụ cùng với Hiếu túc Anh nghị Đại vương và Vĩ tích Hồng hy Đại vương (Chi Cấn, Bộ thứ hai, Trung đẳng thần)

Chính bản của bộ Lễ quốc triều

Xưa đất Việt ta trời Nam mở đất phân ngang núi sông theo sao Dực, sao Chẩn. Nước Bắc được phong thẳng hướng sao Đẩu, sao Ngưu làm chốn chia phân. Từ triều Hùng mở vận hơn hai ngàn năm, Dương Vương nắm quyền đến cuối được 50 năm, Triệu Đà có nước, năm đời làm vua. Từ đó đất Việt ta nội thuộc Tây Hán. Trải qua Đông Hán, Ngô, Tống, Tấn, Tề, Lương tổng cộng hơn ba trăm năm.

Đến thời Lương sai Tiêu Tư làm thái thú đất Việt ta. Tư là người tham lam, bạo ngược, xâm chiếm Trung Nguyên, sưu dịch nặng, cướp  bóc nhiều. Dân chúng chịu cảnh khổ cực ưu phiền kéo dài. May mà lòng người ghét loạn, ý trời cho bình an. Khi ấy có người đất Long Hưng, Thái Bình, họ Lý tên Bôn, khởi nghĩa lớn ở châu Thái Bình. Nhưng đang khi đó chưa có được người nào là nam nhi có tài thao lược để kết làm bạn cùng hưng vong. Cho nên gió thần khởi nghĩa còn chưa phát động. Tin thay! Đã có quân tất sẽ có thần. Rồng gầm bên suối không có ý tới mây, mà mây lại vì thế mà kéo đến.

Chính ở đất Việt ta tại huyện Châu Diên, phủ Tam Đới, đạo Sơn Tây có một người ở địa phương họ Triệu tên Túc, vợ là Lý Thị Đàm. Ông Triệu nhà vốn thường làm việc thiện đức, phát chẩn cứu người nghèo, ba đời hương khói đều là bậc phong lưu lâu dài, có dư giả vậy. Một hôm phu nhân nằm nghỉ ở hiên nhà phía Tây, mơ màng nằm mộng. Bỗng thấy thân cưỡi rồng vàng bay thẳng lên trời. Hoàng thiên ban cho một Tiên đồng. Đến khi trở về tới nửa đường thì gặp một người đầu đội mũ sao, tay cầm quả đào, cưỡi con lân đỏ theo phương Nam mà đến, chỉ phu nhân nói rằng:

  • Gia đình nhà ngươi có được phúc tốt sao, lấy được một tiên đồng về. Ngày sau sẽ giữ nước yên dân, lưu tiếng ngàn năm. Đáng tiếc là phúc này chưa vẹn. Người con này không thành được lâu dài.

Phu nhân nghe lời, bỗng nhiên tỉnh giấc, kể với ông Triệu. Ông rất mừng nói:

  • Phúc của nhà ta chính là điều này.

Từ đó lo chia tài sản tạo phúc, chu cấp cho khách khứa, giúp xây dựng hưng công. Qua khoảng một năm phu nhân quả nhiên có mang. Đến kỳ mãn nguyệt vào năm Giáp Dân mùa xuân ngày mồng 6 tháng Giêng sinh được một người con trai, diện mạo khác thường, quả đúng như hình tiên đồng đã thấy. Ông Triệu rất mừng, cho rằng người con này tất sẽ khôi phục làm rạng rỡ nghiệp nhà, bèn đặt tên là Quang Phục.

Năm thứ hai phu nhân lại sinh được một người con gái, mày chia lá liễu, má rạng hoa đào, đúng là bậc nữ sắc khuynh thành. Ông Triệu bèn đặt tên là Đào nương. Đến khi trưởng thành thường theo anh trai Quang Phục cùng đi học ở chỗ Dương Đường tiên sinh. Học được mấy năm thì Quang Phục đã đọc hết kinh sử, biết rộng chuyện xưa nay. Đào nương thì cầm kỳ thi họa, không gì là không biết, cũng là bậc kỳ lạ trong giới nữ.

Lại nói, khi đó ở xã Kiên Lao, huyện Giao Thủy, phủ Thiên Trường, đạo Sơn Nam, có một nhà họ Nguyễn tên Bình, cũng là bậc hiểu biết thơ sách, lấy hiếu thảo đối xử trong nhà, nhưng không may gặp cảnh gian truân. Bố mẹ (tức là bố mẹ của ông Nguyễn Bình) mất sớm. Ông bèn gói ghém gia tài, một mình một cảnh đi khắp núi sông. Khi đi đến xã Châu Diên, ông (Nguyễn Bình) thấy nhân dân còn sơ dã, phong tục thuần hậu. Ông bèn dừng ở lại ở nơi quán trọ trong xã, xin ăn ở nhờ mọi người, học đọc sách vở. Được quãng một tháng tầm nhìn cao xa thì có thừa mà bút giấy thì lại thiếu.

Một hôm, ông Triệu (tức ông Triệu Túc) đi dạo chơi, thấy Nguyễn Bình có văn chương ứng đối, hiểu biết sâu rộng. Ông bèn đến hỏi tên tuổi, quê quán. Ông Nguyễn kể lại tình cảnh cô độc, nghèo nàn nơi quán trọ. Ông Triệu liền cho về nhà để nuôi dưỡng, cho cùng với Quang Phục lên lớp cùng học. Từ đó Nguyễn Bình có chỗ để không lo cảnh đói rét, ra sức học tập. Vài tháng sau đã tiến bộ mọi mặt. Ông Triệu thấy vậy thì rất yêu mến, bèn cho lấy Đào nương làm vợ. Thế là ngày lành tháng tốt đã định lễ, duyên lứa đẹp đẽ. Ông Nguyễn dẫn Đào nương cùng trở về quê gốc ở xã Kiên Lao. Sự việc tiếp theo thế nào xin xem đoạn dưới phân giải.

Lại nói, khi Quang Phục khoảng 15 tuổi, đặc biệt đã có chí lớn. Ông (ông Phục) thường nói với các bạn bè rằng:

  • Làm người có mắt mũi râu tóc, được trời cho sinh ra trên đời, phải như các bậc thánh hiền thời xưa trước mà lập nên công nghiệp lớn, không thì lúc ở sa trường phải da ngựa bọc thây sao cho đúng khí tiết của bậc đại trượng phu. Sao có thể yên vui mãi với việc nghiên bút được?

Thế là kết thành một đảng hơn vài trăm người, nuôi hoài chí lớn. Năm đó cả cha mẹ của ông (ông Phục) đều mất. Ông làm lễ chôn cất. Sau ba năm chịu tang xong thì Quang Phục đã vào tuổi 18. Nghe tiếng ông Lý Bôn có đại lược hùng tài, võ ngang văn dọc, thật là có khí tượng lớn của bậc đế vương. Ông bèn đem theo binh thư tìm đến.

Ông Lý thấy người này văn võ kiêm toàn, thông minh hơn người, rất vui mừng nói:

  • Ông Trời đã vì ta mà sinh ra người hiền giúp sức, gặp được đâu đã muộn.

Ngay hôm đó bèn lập đàn bái Quang Phục làm Tả tướng, Phạm Tu làm Hữu tướng, lĩnh binh tiến đánh Tiêu Tư. Tư bỏ thành mà chạy. Ít lâu sau có Lâm Ấp vào cướp bóc, lại dẹp yên được.

Ông Lý lên ngôi Hoàng đế, là Tiền Lý Nam Đế, đóng đô ở thành Long Biên, xếp đặt trăm quan, yên định đô ấp, dựng nước hiệu là Vạn Xuân (ý muốn truyền nước cho tới vạn năm vậy). Thế rồi gia phong cho các công thần, tướng tá thêm các cấp, bèn bái Quang Phục là Tiết chế sứ đạo Sơn Nam. Ông Phục vâng mệnh đến quản lý ở Sơn Nam, lấy nhân nghĩa, lễ nhường nhịn mà giáo huấn cho nhân dân. Qua vài năm ở trong đạo được đầy đủ, ngày nào cũng cẩn thận trung chính. Tiếng vang đến triều, Nam Đế thường có thưởng thêm cho.

Lại nói, ông Nguyễn Bình dẫn Đào nương trở về sống ở quê tại xã Kiên Lao. Ông chuyên tâm lấy việc dạy học làm nghề. Được mấy năm, vợ chồng hòa hợp, cầm sắt sánh duyên. Một ngày, Đào nương nằm mơ thấy hai con gấu thoáng thoáng mờ mờ nhảy múa ở trước sân. Từ đó thấy chuyển dạ mà có mang. Vào năm Giáp Thân mùa xuân ngày mồng 10 tháng 2 sinh được một bọc, nở ra được hai người con trai, đều có dáng vẻ tuấn tú, khí phách hiên ngang, khác xa người thường lắm lắm. Ông Nguyễn rất mừng khi thấy phúc lại thêm phúc, bèn đặt tên người con trưởng là ông Phúc, người con thứ là ông Lộc.

Ngày qua tháng lại đã trải qua 7 năm. Thương thay, người xưa nói không sai, bất hạnh không bao giờ đến một mình. Ông Nguyễn bỗng nhiên bị bệnh mà mất. Đào nương đau thương đến mức quên ăn quên ngủ, phát thành bệnh nặng, thuốc uống không đỡ, cầu thần không nghiệm. Nương rồi cũng mất ở mộ chính. Từ đó anh em ông Phúc tuổi nhỏ đã mồ côi, nghèo túng, thiếu thốn đồ dùng hàng ngày, thường khóc than rằng:

  • Xưa nói con của lương y thì chết vì bệnh tật, mà ngay chúng ta rút cục lại khốn khổ vì bệnh nghèo túng vậy.

Một hôm anh em nghe là có bác ruột (tức ông Quang Phục) đến nhận trị Sơn Nam. Anh em dắt nhau cùng tới nơi phủ đường quỳ bái, xưng họ tên. Quang Phục biết chuyện rất đau lòng, cho hai người ở cùng với mình, dạy cho học văn. Đến năm hai ông (ông Phúc, ông Lộc) lên 10 tuổi, văn chương hiểu rộng, trí có thể cầm đầu đám đông, tinh thông võ bị, tài năng hơn người. Ông Phục rất yêu mến.

Khi Nam Đế ở ngôi được khoảng 7 năm, nhà Lương lại sai Trần Bá Tiên làm thứ sử đất Việt, Dương Sàn làm Tư mã, cất quân sang xâm lấn phương Nam. Đế cho gọi Quang Phục về triều định kế đánh dẹp. Ông Phục vâng mệnh cùng với hai người cháu (ông Phúc, ông Lộc) quay về triều. Hôm ấy, Đế bái Quang Phục là Đại tướng quân, cùng với Đế đóng đồn quân ở hồ Triệt. Quân Lương không dám tới gần. Một sớm nước hồ đột ngột dâng cao, chảy vào giữa hồ. Bá Tiên dẫn quân theo dòng nước tiến vào. Quân Đế thua to, Đế để quyền lại cho Đại tướng Triệu Quang Phục giữ nước. Còn Đế tự mình vào động Khuất Liêu mà mất.

Từ đó Quang Phục dẫn hai vạn quân, lấy đầm Nhất Dạ (Dạ Trạch thuộc huyện Đông An, phủ Khoái Châu, là nơi trước đây triều Hùng ông Chử Đồng Tử cùng với công chúa Phương Dung bay lên trời), bèn xưng là Dạ Trạch Vương. Trải qua 4 năm, ông (ông Phục) vì quân Lương không rút nên bèn lập đàn tràng cầu đảo trời đất. Sau thấy có thần nhân cưỡi rồng vàng từ trên trời hạ xuống, tháo móng rồng giao cho, lệnh để ở trên mũ đâu mâu, hướng vào đâu thì giặc đều tan vỡ hết. Khi ấy Bá Tiên trở về nước, giao lại cho tướng Dương Sàn chống cự, cùng với Quang Phục giao chiến một trận. Ông Phục đánh bại hết quân Lương, chém được tướng Dương Sàn. Quân Lương thua to, phải chạy về Bắc.

Ông Phục vào ở trong thành Long Biên, tự xưng là Triệu Việt Vương. Bèn ban cho hai người cháu (ông Phúc, ông Lộc) quan tước. Phong cho ông Phúc là Tả đô đài, ông Lộc là Hữu đô đài. Khi ấy hai ông tự xin được về quê  bái yết gia tiên. Vương đồng ý. Hai ông bái tạ trước Vương, rồi cùng đi xe trở về quê quán xã Kiên Lao. Nhân dân sợ hãi, đều làm lễ bái hạ. Hôm ấy hai ông truyền mổ trâu làm lễ tế gia đường tổ tiên, mở tiệc mừng lớn. Việc xong hai ông ban cho nhân dân mười nén vàng, truyền nhân dân lập một nơi hành cung cạnh dân để làm nơi hai ông đi về có nơi trú ngụ. Nhân dân vâng mệnh xây dựng (cung này ở tại khu vực đất cao trong dân, hình đất có chính cục dựa Quý hướng Đinh, phân châm Bính Tý, Bính Ngọ, bên phải có một dòng suối nhỏ chảy bao xung quanh bên ngoài).

Việc xong hai ông lại quay xe về triều nhận chức. Vua tôi cùng hợp đức, chính sự được cải thiện nâng cao. Không lâu sau, có người con của anh Nam Đế tên Lý Phật Tử (Phật Tử là con của Thiên Bảo. Khi Tiền Lý Nam Đế lánh nạn quân Lương mà mất, anh là Thiên Bảo dẫn đầu chúng đảng vào động Dã Năng ở, xưng là Đào Lang Vương. Đến khi Đào Lang mất, Phật Tử nhận thủ lĩnh quân chúng) từ động Dã Năng dẫn quân đến đánh. Tất cả 5 lần liên tiếp quân Phật Tử đều thua. Vương nghĩ Phật Tử là con cháu của Tiền Lý Nam Đế nên không nỡ tuyệt đường, mới chia nước thành 2 cùng trị, lấy cát giới là bãi Quân Thần. Phật Tử ở nước phía Tây, dời đô về thành Ô Diên. Việt Vương ở nước phía Đông, đóng đô ở thành Vũ Ninh.

Khi ấy Vương có một người con gái tên là Cảo Nương, tuổi độ 16, nhan sắc tuyệt trần. Vương rất yêu quý. Lúc đó Phật Tử lập kế cầu hôn giảng hòa. Vương đồng ý. Ông Phúc, ông Lộc nhiều lần can gián, nhưng Vương không nghe. Thế là Phật Tử sai con trai là Nhã Lang vào trong quân ở rể. Vương rất tin tưởng, gọi Nhã Lang là rể hiền. Từ đó Nhã Lang cùng với Cảo Nương tình cảm tốt đẹp. Một hôm Nhã Lương ngầm dụ Cảo Nương lấy mũ đâu mâu móng rồng mà đen giấu đổi móng rồng đi. Ngày hôm sau Nhã Lang lấy cớ về thăm nhà, báo lại cho cha (Lý Phật Tử), cất quân đến đánh Vương. Vương lấy mũ đâu mâu móng rồng ra cùng giao chiến, không có tác dụng. Vương mới biết là móng rồng đã mất. Bèn lên ngựa chạy dài về đến cửa biển Đại Nha. Khi ấy quân Lý tiến đến rất gấp. Vương biết khó thoát được mới than rằng:

  • Ta đã cùng rồi.

Vương nhảy xuống cửa biển mà hóa (lúc đó là ngày 14 tháng 8).

Ông Phúc, ông Lộc bèn quay về xã Kiên Lao, mổ trâu dê  làm lễ tế Triệu Việt Vương, truyền nhân dân viết thần hiệu là: Triệu Việt Vương Hoàng đế, để phụng thờ. Khi ấy hai ông nói với nhân dân rằng:

  • Chúng ta cùng với nhân dân đã thành nghĩa cũ, không phải ngày một mà quên được. Bởi chúng ta có nơi hành cung để phụng thờ vua ta, ví như chúng ta sau này trăm tuổi, nhân dân hãy tuân theo mệnh chúng ta, chớ có thay đổi.

Khi ấy nhân dân bái tạ nhận mệnh. Hai ông lại truyền binh sĩ cùng nhân dân thiết lập một cung hội đồng ở trong dân, ở trên đó. Lại răn nhân dân rằng:

  • Cứ mỗi năm ngày 10 tháng 2 là ngày sinh nhật hai anh em ta, phải nghi lễ vâng đón tên thần của chúng ta, cùng hai người chúng ta về cung hội đồng, ca hát vui vẻ. Đấy là tất cả việc cho hai anh em ta.

Nhân dân vâng mệnh xây dựng. Việc xong, hai ông ở lại nơi đó, dạy dân cày cấy. Dân được lợi nhiều.

Lại nói từ đó Phật Tử chiếm được nước, chính là Hậu Lý Nam Đế. Khi ấy Nam Đế biết rõ hai ông Phúc Lộc là những anh hùng trùm thế, muốn mời ra giúp việc triều chính. Bèn sai sứ thần về xã Kiên Lao dụ các ông phụ giúp vương thất. Gạ gẫm mấy lần, hai ông không theo. Một hôm hai ông tự nói rằng:

  • Trung thần không thờ hai vua, sao có thể cam chịu nhục mà phụ người được. Kinh Thi rằng: Minh triết (Sáng suốt). Kinh Dịch rằng: Kiến cơ (Xem chính). Không đi tất sẽ như người Kỷ giữ ở chợ vậy.

Dứt lời, hai anh em dẫn vài gia thần đến thẳng Ái Châu, tới xã Nam Trịnh, huyện Yên Định, phủ Thiệu Thiên. Hai ông thấy địa thế có sông núi hữu tình. Nhân xã đó có một ngôi chùa, là một danh lam rất cổ, trải qua năm tháng đã xuống cấp. Hai ông mới nói với người trong làng cho ở tại chùa đó. Người làng đồng ý. Từ đó hai ông đổi tên, một là ông Túc, một là ông Tục.

Hai ông ở lại trong chùa, thành tâm hương khói tiến cúng. Qua vài năm, quyên góp mười phương trùng tu lại chùa. Công đức xong, hai ông lại chu du bốn biển, ngắm thưởng danh sơn, thắng cảnh. Một hôm đi tới núi Tam Điệp, hai ông bỗng nhiên bị cảm phong hàn, cùng một lúc đều mất (lúc đó là ngày 12 tháng 11). Trong một chốc, mối đùn thành gò lớn (tới nay gọi là xứ Gò Đôi). Từ ấy nhân dân qua lại buôn bán có cúng tiến nhiều vàng bạc, cầu đảo có nhiều linh ứng.

Lại nói từ sau khi hai ông đã hóa ở xã Kiên Lao nhân dân đều mắc tật dịch, súc vật ốm chết. Nhân dân làm lễ cầu đảo ở nơi miếu Triệu Việt Vương để xua đuổi tai ương. Tối đó nhân dân đều nằm trong miếu, mơ thấy Triệu Việt Vương ngồi nghiêm trên điện. Trăm quan văn võ ngồi đầy các bên. Lại thấy hai ông đường đường cùng các quân hầu, cờ xí voi ngựa đều như lúc còn sống, tiến thẳng đến trước miếu, bái yết rồi ngồi vào. Nhân dân vô cùng sợ hãi, làm lễ kính bái. Thấy hai ông nói rằng:

  • Chúng ta cùng vâng mệnh trời nắm quyền ở dân, vì dân ta mà là phúc thần. Thế mà nay chúng ta còn chưa có miếu thờ riêng. Vậy có phải là rất vô lễ hay không? Không nhận mệnh của chúng ta thì đừng có lời cầu xin gì nữa.

Lời nói còn chưa hết, nhân dân bỗng nghe một tiếng trống đồng vang lên đập vào trong tai, đột nhiên tỉnh lại, mới biết sự việc này. Tất cả đều sợ hãi. Mới nhớ lại những lời ngày trước hai ông đã dặn, lập tức lập miếu ở bên cạnh đền Triệu Việt Vương, viết thần hiệu của hai vị. Một là Túc công Đại vương, một là Tích công Đại vương, cùng phụng thờ. Từ đó tật dịch đều yên ổn. Người vật đều mạnh khỏe.

Trải tới thời Đường Cao Biền làm An Nam đô hộ. Khi đó có giặc Nam Chiếu khởi binh ở ven biển, quấy nhiễu đất Sơn Nam. Cao Biền dẫn quân đến đánh. Một hôm, thuyền quân theo sông Tiểu Hoàng xuôi tới xã Kiên Lao, huyện Giao Thủy. Lúc ấy mặt trời đã khuất sau núi. Ông (Cao Biền) thấy trên bờ có hai người, thân cưỡi ngựa ô, tay cầm thương vàng, tiến thẳng đến miếu bên bờ sông thì mất bóng. Theo sau thấy sóng đào hung dũng, gió bụi dương oai. Ông lấy làm lạ bèn dừng thuyền lên bờ, gọi nhân dân đến hỏi tên thần. Nhân dân kể lại sự tích. Nghe xong ông liền truyền binh sĩ cùng nhân dân làm lễ tế. Ông thân khấn rằng:

  • Nếu như có linh thiêng xin nhận lễ hưởng của tôi và âm phù cho xã tắc, dẹp giặc yên loạn. Đến sau này khi thanh bình sẽ tặng phong sắc chỉ để tỏ rõ linh thiêng.

Khấn xong, ông nằm ở trong miếu. Đến cuối canh ba nằm mơ thấy hai người đến nhanh bái chào, xưng tên họ, tự xin theo quân diệt giặc. Ông tỉnh lại biết là thần mộng, cho ghi vào sách vàng để xem nghiệm về sau. Sáng ngày lại làm lễ tế ở đền Triệu Việt Vương. Sự việc xong cất quân thẳng tiến, đầu thuyền chiêng trống vang như tiếng sấm sét vạn dăm, trên đường cờ xí hai bên bờ như hình rồng rắn. Quân của Vương như thế có thuận trời, thế mạnh như chẻ tre, oai chấn động như bẻ củi khô gỗ mục.

Đến khi dẹp được Nam Chiếu, ông Biền cho quân khải hoàn, gia phong tướng sĩ. Nhân nhớ lại sự việc ở Kiên Lao, tặng phong sắc chỉ cho Triệu Việt Vương Hoàng đế Thượng đẳng thần, tặng phong Túc công vi Hiếu túc Anh nghị Đại vương, Tích công vi Vĩ tích Hồng hy Đại vương. Cho xã Kiên Lao nghênh đón sắc về dân, tu sửa miếu điện để phụng thờ.

Từ đó về sau cầu mưa cầu gió đều có nhiều linh ứng. Trải bốn họ Đinh, Lê, Lý Trần sáng lập cơ đồ, ba vị Đại vương đều có nhiều công âm phù xã tắc, nên các đời đế vương có gia phong sắc chỉ, hương khói không ngừng.

Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn

Quản giám bách thần lễ điện Hùng lĩnh Thiếu khanh, thần, Nguyễn Hiền y chính bản vâng chép.

Hoàng triều năm Vĩnh Hữu thứ hai ngày tốt giữa thu.

Thần tích xã Thượng Gia, tổng Đồng Sâm, huyện Trực Định, tỉnh Thái Bình

Xã Đường Sâm huyện Chân Định phủ Kiến Xương theo trước đây phụng thờ Triệu Vũ Hoàng Đế và Hoàng hậu Trình Thị, trải qua các triều đại đều đã được phong tặng. Đến Hoàng triều hiện nay (thời những năm Gia Long, Minh Mệnh) sắc phong cho phụng thờ theo như cũ, vâng khai sự tích các tuần tiết. Sự thần ở trong quốc sử, từ tế xuân độ hè, nhập tịch đầu thu, cúng thành giữa thu, cùng ruộng đó là ruộng dành riêng cho phụng sự thần, chỉ biết vốn là như vậy. Còn tại sao như vậy thì mờ mịt không biết gì thêm. Là những người lo việc thờ phụng, phàm là người có suy nghĩ, đều cảm thấy không thoải mái trong lòng. Nên nếu thấy có dã sử thế gia, thiế biên, thế ký, đều  tìm tòi, tham khảo, kê cứu tỉ mỉ để xác định được sự tích. Hồi tháng giữa thu năm Canh Thân, nghe nói ở xã Bằng Đắng huyện Bạch Hạc, Sơn Tây có người là hậu duệ của Lễ bộ Thượng thư thời niên hiệu Vĩnh Hựu, gia đình có cất giữ Ghi chép ngọc phả cổ của chi Càn, bậc Thượng đẳng quốc tế. Bèn soạn lễ đến để xin sao chép vậy. Ngọc phả này được vâng soạn bởi lời của Hàn lâm Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính, vâng chép bởi chữ của Bát phẩm Thư lại Nguyễn Hiền. Trong số những lời kể đó có thể thời gian tương đối lệch trước sau, sự việc có thể sai khác, hãy cứ chép để đó mà không sợ rườm rà. Còn những lời hợp lý, sự việc tương đồng thì nên trích lấy tham khảo trong các bộ quốc sử để so sánh cho đầy đủ.

Phả lục cổ này chép rằng:

Xưa Bắc quốc, quận Linh Sơn có người quê Chân Định, họ Triệu, tên Đức công, vợ là Đào Thị Hoan, do trời tác hợp hơn 20 năm, cầm sắt tuy hài hòa mà giấc mộng điềm gấu sinh trai chưa đến. Từ đó ra sức tạo phúc. Một đêm đẹp trời Đức công và Thái bà ngắm trăng ở trước sân, đến giữa canh Hai, dựa lan can mà mông lung thiếp đi. Bỗng thấy có một người đến đứng trước mặt, tay cầm chiếc râu rồng nói:

  • Ta là Thiên sứ, vâng thừa mệnh của Thượng đế sai ta xuống đây cho vợ chồng các ngươi chiếc râu rồng này, ngày sau sẽ sinh ra một người con trai là thánh đồng xuất thế, dựng nước cứu dân.

Nói xong bèn bay lên không mà đi. Thái bà vì thế mà có mang thai, đến năm Ất Tỵ (Chu Noãn Vương năm thứ 59, Đông Chu Quân năm đầu), ngày mồng 1 tháng 4 Thái bà ở trong nhà nhìn ra thấy mây lành năm sắc như từ trên trời hạ thẳng xuống. Ngày hôm đó sinh Đế, râu rồng mắt phượng, tay dài quá gối. Khi lên 5 tuổi (Đông Chu Quân năm thứ 5) đã hiểu âm luật. Cha mẹ rất vui mừng cho đó là được phúc trời ban, nhân đấy đặt tên là Đà (nói đến khả năng hiểu biết khác người vậy). Bèn tìm thầy cho đi học với Dương Đường tiên sinh. Được 5-6 năm trên từ thiên văn dưới đến địa lý, không gì là không thông hiểu. Mọi người gặp ngài đều cho rằng đúng là một đấng nam nhi tốt, tất sẽ là người con làm rạng rỡ nghiệp nhà vậy. Chẳng được bao lâu, Đức công và Thái bà đều bị bệnh đau đầu mà cùng qua đời (tương truyền là ngày mồng 5 tháng 5). Đế làm lễ an táng ở bãi núi Linh Sơn. Hàng ngày ngài thương khóc thảm thiết không nguôi, thường than rằng:

  •  Phận làm con khi cha mẹ còn sống không phụng dưỡng, khi cha mẹ mất đi không chôn cất, thì sau này dẫu có nghìn chuông vạn xe đem đến cũng không thể báo đáp được.

Mỗi khi ngồi nhàn nói chuyện bàn luận cùng bạn bè, không ai là không sợ phục. Ngài nói rằng:

  • Bậc trượng phu có khí khái đích thực, sao lại chỉ vùi đầu vào nghiên bút mãi được? Chi bằng học thêm thuật cung tên, nghiền ngẫm binh thư.

Đến khi trưởng thành ngài làm quan cho nhà Tần. Khi ấy là thời nhà Thục, An Dương Vương năm thứ 44 (Tần Thủy Hoàng năm thứ 33), Tần sai hiệu úy Sử Lộc dẫn quân sĩ đi thuyền nhẹ đào kênh chở lương thực, thâm nhập Lĩnh Nam, chiếm lấy đất Lục Lương, đặt thành Quế Lâm, Nam Hải, Tượng quận. Lấy Nhâm Hiêu làm quan úy Nam Hải, Đế làm quan lệnh Long Xuyên (tức huyện Nam Hải), dẫn những người đi đày đến đóng ở Ngũ Lĩnh (năm đó Đế 33 tuổi). Đế đi du hành đến trang Đường Sâm, phụ lão nhân dân mổ trâu chúc mừng. Đế thấy nơi đây có địa thế phong quang thắng cảnh. Hôm đó lệnh dựng hành cung ở bên sông để làm nơi dạo chơi ngắm cảnh.

Một hôm Đế đi chơi trên đường gặp một người con gái có nhan sắc đẹp khác thường, trong lòng rất ưa thích, nên cho gọi người trong trang đến hỏi. Người đó đáp rằng đó là con gái nhà họ Trình, tên Lan Nương, chưa lấy chồng (Trước đây ở trang Đường Sâm có người họ Trình, tên là ông Liên. Vợ người bản trang là Đinh Thị Ngoạn, tuổi ngoài 40, nằm mơ tìm được một chiếc gương ngọc, tự nhiên có mang. Đến ngày mãn thai mùa thu ngày 15 tháng 7 sinh hạ một người con gái, mặt ngư gương ngọc, sắc tựa hoa mai. Đến năm 18 tuổi tứ đức công dung ngôn hạnh đều vẹn toàn, bèn đặt tên là Lan Nương). Đế bèn sai người mang đồ sính lễ đến nhà họ Trình. Nhà họ Trình rất vui mừng, gả con gái cho Đế.

Thế là Đế chọn ngày đón dâu, đón về cung sở. Từ đó Đế lưu lại sống ở cung ấp, giáo hóa nhân dân thành phong tục lễ nghĩa. Khi phu nhân mang thai (mùa đông ngày 10 tháng 10) sinh hạ được một người con trai, đặt tên là Trọng Thủy. Đến khi tròn 1 tuổi Đế mời phụ lão, hào mục đến cùng ăn uống, nhân đó nói rằng:

  • Người dân trong trang với vợ chồng ta thật là tình quê ngoại, đâu chỉ là nghĩa một ngày. Ta có 30 nén vàng giao cho phụ lão nhân dân để mua thêm ruộng ao, lưu để ngày sau xây dựng đền miếu, làm chỗ phụng sự vợ chồng ta thành dấu tích không mất vậy.

Vào năm Thục An Dương Vương thứ 48 (Tần Thủy Hoàng năm thứ 37, năm này Thủy Hoàng mất), Nhâm Hiêu cùng với Đế nhân đó mưu đồ xâm chiếm Thục, bèn dẫn quân đến đánh. Đế đóng quân ở núi Tiên Du, Bắc Giang, cùng với An Dương Vương đánh lớn. An Dương Vương lấy nỏ thiêng đem bắn. Đế thua chạy. Khi ấy Nhâm Hiêu dẫn thủy quân đến tại sông Tiểu giang, nay là bến Đông Hồ, phạm vào thổ thần mà mắc bệnh, quay về nói với Đế rằng:

  • Nhà Tần vong rồi, hãy dùng mưu đánh Phán (tên của An Dương Vương) có thể dựng nước được.

Đế biết An Dương có nỏ thần không thể chống được, bèn lùi về giữ núi Vũ Ninh, cử sứ sang giảng hòa. Bèn chia sông Bình giang về phía Bắc do Đế cai quản, về phía Nam An Dương Vương cai quản. Đế sai Trọng Thủy vào làm thị vệ, cầu hôn với con gái Vương là Mị Châu. Vương đồng ý. Trọng Thủy cùng với công chúa ở lại Thục. Qua được 3 năm, Trọng Thủy mới dụ Mị Nương lấy nỏ thần cho xem, giấu hủy tráo lẫy nỏ đó. Rồi Trọng Thủy lấy cớ về Bắc để thăm thân, nói với Mị Châu rằng:

  • Ân tình vợ chồng không thể nào quên. Nếu như hai nước trở nên bất hòa, Nam Bắc cách trở, ta đến đâu để gặp được nhau đây?

Mị Châu nói:

  • Thiếp có một chiếc đệm gối lông ngỗng, thường mang theo mình. Đi đến đâu thì sẽ nhổ lông để ở nơi ngả đường mà đánh dấu.

Trọng Thủy về báo việc lên Đế. Đến năm Quý Tỵ [An Dương Vương] năm thứ 50 (Tần Nhị Thế năm thứ 2) Nhâm Hiêu bệnh sắp mất, nói với Đế rằng:

  • Nghe nói bọn Trần Thắng tác loạn, lòng người không biết dựa vào ai. Nơi đất này hẻo lánh, ta sợ nhiều đạo tặc xâm phạm. Do đó muốn chặn đường mà tự giữ (nơi Tần mở đường vào Việt vậy), đợi xem các chư hầu biến động ra sao.

Nhâm Hiêu bệnh nguy kịch, nói:

  • Phiên Ngung là nơi dựa núi cách sông, Đông Tây mỗi chiều dài ngàn dặm, lại có người Tần trợ giúp, nên cũng đủ để dựng nước hưng vương, làm chủ một phương. Trưởng lại trong quận không có ai đủ chí mưu, nên mời riêng ông đến để bàn.

Nhân đó cho Đế thay mình. Nhâm Hiêu chết, Đế lập tức truyền hịch đến các cửa ải Hoành Bồ, Dương Sơn, Hoàng Khê rằng:

  • Giặc loạn đã đến. Phải nhanh chóng chặn đường, tập hợp quân lính để tự giữ.

Hịch truyền đến, các châu huyện đều hưởng ứng. Thế rồi Đế giết hết các trưởng sử do Tần cắt đặt, lấy các thân thuộc bạn bè của mình cho thay thế để quản. Sau ít lâu Đế phát binh đánh Thục Vương. Vương không biết nỏ thần đã mất, vẫn đánh cờ, cười nói rằng:

  • Bọn chúng không sợ nỏ thần của ta sao?

Quân của Đế tiến sát đến. Thục Vương giương nỏ bắn thì nỏ đã gẫy, nên thua chạy, đặt Mị Châu ở trên ngựa cùng với Vương chạy về phía Nam. Trọng Thủy nhận dấu lông ngỗng mà truy đuổi theo. Thục Vương chạy đến bờ biển, đường cùng không thuyền chở tiếp, bèn hô:

  • Rùa vàng mau đến cứu ta.

Rùa vàng nhảy vọt trên mặt nước hô rằng:

  • Kẻ ngồi sau ngựa là giặc đó. Sao không giết đi?

Vương rút kiếm định chém Mị Nương. Mị Châu khấn rằng:

  • Con một lòng trung tín, vì bị người lừa dối, xin hóa thành châu ngọc mong rửa sạch mối thù này.

Vương cuối cùng cũng chém Mị Châu, máu chảy trên mặt nước. Trai sò nuốt vào bụng hóa thành châu ngọc. Thục Vương cầm sừng văn tê bảy tấc mà đi vào biển (tê giác rẽ nước tương truyền nay chính là vùng núi Dạ xã Cao Xá, Diễn Châu).

Trọng Thủy đuổi tới nơi thấy Mị Châu đã chết, thương khóc ôm lấy xác mang về an táng ở Loa thành, xác hóa thành đá ngọc. Trọng Thủy thương nhớ Mị Châu, trở về về nơi nàng thường trang điểm tắm gội, đau buồn không chịu nổi, cuối cùng nhảy xuống giếng mà chết. Người đời sau có được ngọc minh châu ở biển Đông lấy nước giếng này rửa thì sắc màu sẽ càng sáng bóng. Năm đó nhà Thục mất, nhà Triệu khởi hưng vậy.

Kỷ nhà Triệu năm đầu Giáp Ngọ (Đế 50 tuổi, Tần Nhị Thế năm thứ 3) Đế thắng được nhà Thục, chiếm được đất Lâm Ấp, Tượng quận, tự lập là Nam Việt Vương, đóng đô ở Phiên Ngung (nay chính là Quảng Đông). Khi đó Hoàng hậu vẫn còn đang ở nơi hành cung trước đây, bỗng có một trận cuồng phong từ phía Đông thổi tới, quấn quanh lấy thân. Rồi trong chốc lát Hoàng hậu tự hóa (tương truyền là ngày 20 tháng 12). Hôm đó các phụ lão và nhân dân sở tại dâng biểu tấu lên Đế. Đế nghe tấu rất đau lòng, liền lệnh sứ thần đến nơi hành cung làm lễ an táng. Sứ thần đến chưa kịp làm lễ thì thấy mối đùn lên thành mộ phần. Bèn dựng thành miếu ở trên lăng để phụng thờ (tại thôn Thượng Hòa). Gia phong Hoàng hậu Phương dung Trình Thị Đại vương, chuẩn cho các thôn Đường Sâm, Thượng Gia, Thượng Hòa cùng phụng thờ.

Quý Mão năm thứ 10 Đế lệnh cho 2 quan sứ làm chủ hai quận Giao Chỉ, Cửu Chân. Ất Tỵ năm thứ 12 nhà Hán đã định được thiên hạ, nghe tiếng Đế đã là vua Việt nên sai Lục Giả đến bái Đế là Nam Việt Vương, giao cho tỷ phù tín vật để thông sứ, hòa hợp cùng với Bách Việt để không gây nạn cướp phá. Lục Giả đến Việt, Đế cùng với Lục Giả bàn luận so sánh Hán Việt. Sự thể xong, Đế bèn giữ Lục Giả ở lại vài tháng, tặng cho Lục Giả tơ lụa, trang phục đáng giá ngàn vàng. Đến khi Lục Giả trở về lại tặng ngàn vàng.

Đinh Tỵ năm thứ 24, Hán Cao Hậu xưng chế, cấm buôn bán đồ sắt với Nam Việt. Đế cho rằng đây là kế của Trường Sa Vương muốn dựa vào uy đức của nhà Hán mưu tính nước Việt phải bỏ xưng vương. Mùa xuân năm Mậu Ngọ, Đế lên ngôi Hoàng đế, phát binh đánh Trường Sa, đánh bại được mấy quận rồi trở về.

Canh Thân năm thứ 27 Hán cử Long Lự hầu Chu Táo đến đánh nước Việt ta để báo thù sự việc Trường Sa. Đế nhân đó lấy binh uy và tài vật chiêu phủ Mân Việt, Âu Lạc (tức Cửu Chân, Giao Chỉ) đều về theo phụ thuộc. Đất đai khi đó Đông Tây hơn vạn dặm. Đế đi xe mui vàng, cắm cờ tả đạo, xưng chế, sánh ngang với Hán.

Nhâm Tuất năm thứ 29 (Hán Văn Đế năm đầu), Hán Văn Đế vì mồ mả người thân của Đế ở tại Chân Định mà cắt đặt người phụ trách trông coi, ngày tháng phụng thờ, lại cho gọi con em của Đế đến cho chức quan quyền quý, ban tặng rất hậu. Văn Đế cho Lục Giả làm Thái trung đại phu, đến đưa thư cho Đế (có trong sử Hán và sử Việt).

Đế bèn vâng chiếu làm phiên vương, giữ lệ nạp cống hàng năm. Theo đó phàm là khi Đế giao sứ với Hán thì xưng vương triều, gọi như chư hầu của phương Bắc. Còn trong nước vẫn theo tên hiệu cũ. Cho nên Nam Bắc giao hảo, quân dân hai bên được nghỉ ngơi. Qua hơn 30 năm người Bắc không dám xem thường.

Canh Tý năm thứ 67 (Cảnh Đế năm thứ 9) tháng 12 , mặt trời như màu tía, ngũ tinh chuyển động ngược chiếm vào cung Thái vi, trùm suốt trong thiên đình.

Giáp Thìn năm thứ 71 ngày mồng 6 tháng 8 Đế không bệnh mà mất (thọ 120 tuổi), chôn cất ở cửa Tây trong nội thành. Sau đó ít lâu có lệnh truyền các hành cung nơi ở cũ lập miếu. Miếu cũ ở trang Đường Sâm là đền chính. Có một đôi búa nguyệt tại đây là tích việc dựng nước này. Đến triều nhà Trần tặng phong Đế là Khai thiên Thể đạo Thánh võ Thần triết Hoàng đế. Hoàng hậu Trình Thị cũng được phối thờ.

Đến hoàng triều Gia Long năm thứ 3 ngày 13 tháng 12, bộ Lễ vâng soát lễ đế vương các triều đại, xét rằng:

Triệu Vũ Hoàng đế họ Triệu tên Đà, người Chân Định nước phương Bắc, cuối thời Tần làm chức quan lệnh Long Xuyên, Nhâm Hiêu chết, thay Hiêu làm quan úy Nam Hải, diệt An Dương Vương mà có được nước, xưng là Nam Việt Vương, lại xưng Triệu Vũ Đế, chống lại nhà Hán, là người khởi đầu đế vương nước Việt ta. Sử  chép mở nước vạn dặm, truyền quốc trăm năm, đáng là vị vua danh tiếng, ở ngôi 71 năm, truyền vị 4 đời. Hoàng hậu Trình Thị, người Đường Sâm, con trai Trọng Thủy, nhân lấy tên làng thủa tắm gội mà đặt tên cho huyện. Nay dân huyện Chân Định còn thờ phụng nhiều.

Tế mùa xuân vào tháng 2 là ngày quốc tế các triều đại, quan phủ huyện đều đến làm lễ tế lớn. Thôn dân cúng lễ, phục dịch rất tốn kém, không đủ sức lực và của cải để làm. Đến triều Lê Cảnh Hưng năm thứ 24 dân xã trình lên xin được cho về tự lo việc tế lễ. Vua đồng ý cho phép miễn việc mổ trâu làm lễ. Chỉ có lệ cúng đầu trâu và tiền lệ phí là còn trong sổ giao việc.

Hội tế độ tháng 4, là ngày sinh Thánh đế.

Lễ cúng thành tháng 8, là ngày giỗ Thánh đế.

Tế thành ngày 20 tháng 12 là ngày giỗ Thánh hậu.

Phó lý Nguyễn Hữu Tính đã vâng nhận thực.

Lý trưởng Nguyễn Đức Thao vâng nhận thực.

Thần tích làng Đào Động tổng Vọng Lỗ huyện Phụ Dực tỉnh Thái Bình

Ngọc phả chép về một vị thủy thần xuất thế triều Hùng

Chi Chấn, Thượng đẳng

Bản chính Lễ bộ quốc triều

Xưa Việt ta trời Nam mở vận, thánh tổ dựng cơ đồ 18 nhánh truyền nối nhau hơn hai ngàn năm thịnh trị, cha truyền con nối đều xưng hiệu là Hùng Vương. Ngọc lụa xe sách, núi sông thống nhất, chính là tổ của Bách Việt vậy. Khi cơ đồ họ Hùng trị vì 18 nhánh truyền đến Duệ Vương. Vương có đại lược hùng tài, tư chất thánh triết, được tổ gây dựng, cha ông bồi đắp 17 đời thịnh trị, trong tu dưỡng văn đức, ngoài phòng bị biên phương, dốc lòng hưng bình để yên Trung Quốc.

Đương khi đó ở tại trang An Cố, huyện Thụy Anh, phủ Thái Ninh, đạo Sơn Nam có một gia đình họ Phạm tên Túc, vợ là Trần Thị Ngoạn. Vợ chồng đều cùng có lòng từ ái, tạo phúc cho người. Gia đình vốn giàu có, nhưng chỉ có đường con cái là chưa thành sinh dục. Một ngày trời trong bà Trần đi ra đường ngoài dạo chơi, gặp một người con gái, mới hỏi rằng:

  • Cháu sống ở đâu đây?

Người con gái nói:

  • Cháu là người ở nước phương Bắc, gia đình vốn nghèo nàn. Cha mẹ mất sớm, không có anh em nào. Cháu nay đi tha phương tìm nơi sinh sống, xem có chốn nào dư giả, cháu xin được vào làm con cái.

Bà Trần bèn dẫn về nhà làm con nuôi, mới đặt tên là Quý Nương. Ở được mấy năm một hôm bỗng nhiên ông Phạm bị bệnh mà mất. Bà Trần cùng kế theo mà mất. Nàng Quý tìm đất tốt làm lễ chôn cất, phụng thờ trong nhà 3 năm. Tang sự xong, một hôm nàng Quý đi ra nơi cửa biển tắm rửa. Đang khi tắm gội bỗng thấy một con giao long thân dài hơn 8 thước, tiến đến quấn quanh người nàng Quý 3 vòng. Một lúc nàng Quý khi tỉnh lại, vô cùng sợ hãi. Từ đó thấy tâm thần cảm động mà có mang. Nhân dân đều nói không chồng mà chửa. Nàng Quý bèn trốn tới ở trang Hoa Diêm.

Mang thai được 13 tháng tới năm Đinh Tị sinh hạ một bọc. Nàng Quý lấy làm kỳ lạ mới đem ra ngoài cửa biển mà ném đi. Bọc đó trôi về đến ngoài sông trang Đào Động. Nơi đó có một người họ Nguyễn, tên Minh, gia cảnh nghèo nàn, lấy việc đánh giá làm nghề nghiệp. Lúc đó ông đang đánh cá bỗng thấy có một bọc trôi vào trong lưới cá của ông. Ông lấy làm lạ, vớt lấy đem ném đi thì bọc lại trôi vào. Do vậy ông mới khấn rằng:

  • Nếu bọc này quả thật linh thiêng như vậy, thần xin được lấy dao bổ ra.

Vừa bổ ra thì thấy ba con rắn đều rất hùng dũng, nhảy nhót chia nhau chạy về các hướng. Con rắn thứ nhất ở cửa sông trang Đào Động. Con rắn thứ hai chạy về cửa sông trang Thanh Do. Con rắn thứ ba chạy về nằm ở trang Hoa Diêm. Từ đó mỗi con ở một nơi.

Lại nói việc 2 con rắn có tích riêng. Còn con rắn thứ nhất sống ở cửa sông trang Đào Động. Khi ấy phụ lão nhân dân trang Đào Động thấy vậy đều sợ hãi, biết đúng là thủy thần xuất thế. Phụ lão quay về làm lễ ở cửa sông bái tạ, khấn rằng:

  • Nếu đúng là thủy thần xuất thế linh thiêng như vậy, chúng thần đều xin được làm thần tử, xin ngài về bản trang, dân chúng thần sẽ lập đền phụng thờ.

Từ đó trang Đào Động cầu gió được gió, cầu mưa được mưa, dân được lợi nhiều.

Lại nói, qua được 3 năm, một hôm thấy trời đất mờ mịt, mưa gió lớn nổi lên, tối tăm cả một vùng. Sấm chớp vang liền mấy chục tiếng trên cửa sông. Buổi sáng phụ lão nhân dân ra xem thì thấy ở dưới sông có tiếng ngâm thơ rằng:

Xuất vi danh tướng hoá vi thần

Vạn cổ danh phương nhật nhật tân

Hà nhật binh qua nhi mãn địa

Thử thì ngô đẳng thuỷ thành nhân.

Đến khi cơ đồ họ Hùng đương lúc vận suy, Duệ Vương sinh 20 hoàng tử, 6 công chúa, đều lần lượt theo nhau về chầu cố hương. Duy chỉ còn 2 người con gái, người thứ nhất là công chúa Tiên Dung, được gả cho ông Chử Đồng Tử. Còn người thứ hai tên là công chúa Ngọc Hoa, cung thiềm còn đóng, nhụy ngọc chính kỳ, duyên lành chưa sớm định ước. Vương bèn dựng lầu ở cổng thành Việt Trì, ban chiếu truyền rằng thần dân thiên hạ, ai có tài trí thông minh, anh hùng đức đô, có thể nhận ngôi vị của trẫm thì sẽ truyền ngôi và gả công chúa cho.

Ngày đó trên sông thuyền bè nối nhau, trước lầu toàn xe ngựa. Tất cả đều nghe chiếu thiên tử mà nổi lòng trạng nguyên bốn biển. Bút văn múa như động ảnh rồng rắn làm sao đẩu bay lạc, lạnh cả khúc sông. Trận võ mở mà hổ báo kinh hồn, sấm chớp lan cửa biển. Một vùng quốc gia bốn biển anh hùng. Nhưng tất cả đều không đạt, xuôi chảy tầm thường, không có người có thể gọi là toàn tài. Duy chỉ có Sơn Thánh có nhiều kỳ tài thông trời thấu đất, có phép màu ngăn sông dời núi. Vua cho là người đứng đầu thiên hạ, bèn gọi công chúa đến gả cho Sơn Thánh, muốn nhường lại ngôi vị.

Khi ấy có Thục chủ là bộ chủ Ai Lao, cũng là tông phái họ Hùng, nghe Duệ Vương tuổi trời đã cao mà 20 hoàng tử đồ đã tiên du, không có người nối dõi, bèn thừa cơ phát động, cầu viện nước láng giềng trăm vạn quân tỳ hưu, tám ngàn kỵ mã chia làm 5 đạo. Một đạo theo núi Hoàng Nghiêm, Quỳnh Nhai, đất 16 châu mà ra. Một đạo theo đất các châu Tuyên Quang, Tụ Long, Bảo Lạc mà ra. Một đạo theo châu Minh Linh, Bố Chính ra. Một đạo theo Ái Châu, đạo Sơn Nam ra. Một thủy đạo theo cửa biển Hội Thống, Hoan Châu. Thủy bộ cùng tiến, quân thanh vang dội. Duệ Vương vô cùng lo lắng, bèn lập đàn tràng cầu đảo trời đất bách thần. Tối dó Vua nằm mơ thấy trước mặt có sứ giả thiên đình áo xanh nói rằng:

  • Giặc này tuy là giặc lớn, nhưng Hoàng thiên thương xót nên đã giáng cử nhiều tướng tài. Nay có ba vị thủy thần giáng sinh ở huyện Thụy Anh, phủ Thái Ninh, đạo Sơn Nam. Một vị sống ở trang Hoa Diêm. Một vị sống ở trang Thanh Do. Một vị sống ở trang Đào Động. Đều đang ở hình rắn. Xin bệ hạ sai sứ giả đến các nơi này, tất sẽ biến thành người, với Sơn Thánh cùng nhau dẹp giặc. Tất trong vài ngày có thể định được.

Bỗng nhiên Vua tỉnh lại, bèn lập tức sai sứ trở về các nơi, triệu gọi ba vị thủy thần. Sứ giả vâng mệnh cầm cờ tiết trở về các nơi. Khi sứ giả đến trang Đào Động bỗng thấy trời đất mù mịt, sấm gió to nổi lên, cửa sông ầm ầm như sấm sét nổi lên. Tự nhiên rắn biến thành người, tự xưng là Vĩnh Công, đích thực thân cá mặt rồng, thân dài 8 thước, sức địch vạn người, về đứng trước sân. Rồi trở về trang Hoa Diêm bái yết thân mẫu. Anh em cùng nhau đường đường vào gặp Vua. Vua thấy ba người có hình lạ tướng kỳ, đúng là thủy thần xuất thế, khác hẳn người thường.

Ngay hôm đó Vua bái Vĩnh Công làm Trấn Tây, đóng ở đất Ái Châu, Sơn Nam, Hoan Châu, cùng với các tướng dẫn quân đánh giặc Thục. Lại triệu Sơn Thánh đến hỏi kế sách. Sơn Thánh tâu rằng:

  • Hai nghìn năm đến nay 17 bậc quân vương thánh hiền tạo nhân nghĩa sâu dày đã thấm sâu vào tận xương tủy. Nay đất nước đang lúc quân mạnh, oai đức của bệ hạ vang xa hải ngoại. Còn người Thục không biết tự giữ gìn lại dám quật cường, cơ sự thua bại đã thấy rõ vậy. Thần cùng với ba vị thủy thần xin được thay thánh giá xuất quân. Quân Thục không quá nửa tháng sẽ dẹp được.

Vua nghe vậy rất vui mừng, bèn đích thân lấy búa việt giao Sơn Thánh quản theo các đầu núi. Lại giao cho  ba vị thủy thần quản theo tới hải đảo. Ba vị thủy thần nhận hai mươi vạn hùng binh, một ngàn viên tướng giỏi. Hôm đó, Sơn Thánh cùng với ba vị thủy thần bái tạ trước sân vua, đường đường bày binh bố trận. Sơn Thánh là tiền quân. Vĩnh Công là trung quân. Còn hai vị là hậu quân, tiến thẳng đến các vùng hải đảo, cùng với vạn đội rồng rắn, ngàn hàng hổ báo. 5 đạo quân Thục đều thua to, xe không còn một chiếc, ngựa không còn một con, chạy về nước.

Các ngài dâng biểu báo tin thắng trận về cho vua rằng giặc Thục đã dẹp xong. Vua nghe tin bèn trong hôm đó hạ chiếu triệu các tướng về triều nhận việc. Vua bèn truyền trăm quan mổ trâu làm lễ bái tạ trời đất bách thần, khao thưởng gia thần thủ túc, thưởng cỗ ba quân. Từ đó vua tôi hợp đức, trong phủ vô sự, bốn biển thấy cảnh tượng thái bình, vạn dân no đủ vui vẻ. Vua bèn gia phong các bậc chức tước và thực ấp. Phong Vĩnh Công là Nhạc phủ Thượng đẳng thần.

Vĩnh Công bái tạ, không nhận. Lại dâng biểu xin cho trang Đào Động được dùng tô thuế binh dịch để làm ấp hộ nhi. Vua đồng ý. Ông bái tạ vua, xe ngựa trở về trang Đào Động, khao thưởng nhân dân, gia thần thân tín. Ông bèn lấy 10 người ở trang Đào Động làm gia thần thân tín. Rồi lại về bái yết thân mẫu, ở đó vài tháng. Chẳng may thân mẫu bị bệnh mà qua đời. Ông bèn tìm đất tốt làm lễ an táng, phụng thờ trong nhà 3 năm. Đến khi hết tang, Ông đi xem địa thế. Một hôm đi đến bên sông ở trang Đào Động, thấy có một khu đất có sơn thủy hữu tình. Bèn cho lập đồn dinh mà ở đó. Lại mở yến tiệc, gọi phụ lão nhân dân đến uống rượu, nói:

  • Ta cùng với nhân dân đã thành nghĩa cũ, không phải mới có ngày một ngày hai mà mất đi được. Ta có 10 nén vàng gửi cho nhân dân để mua thêm đất đai ao hồ dùng làm cơ sở để về sau khi ta trăm tuổi có nơi hưởng thần phụng thờ.

Từ đó nhân dân đều an vui, khuyến khích cấy trồng, tăng lợi bớt hại. Dân đều giàu có, được mùa, thật có công lớn với dân vậy.

Ở được vài năm tới năm Bính Dần trời thu ngày 25 tháng 8 Vĩnh Công một buổi cùng với nhân dân ngồi ở trong cung sở. Tự nhiên mưa gió nối nhau, ban ngày như đêm. Trong khoảnh khắc trời đất sáng lại. Nhân dân thấy nơi ông ngồi không có ai. Ông đã hóa vậy. Nhân dân lấy đó làm kỳ lạ, bèn làm biểu tâu lên vua. Vua nghe vậy nhớ ông là Trấn Tây An Tam Kỳ.

Vua bèn gia phong mỹ tự là Trấn Tây An Tam Kỳ Linh ứng Đại vương, Thượng đẳng quốc tế. Sắc chỉ ban về cùng với 400 quan tiền đồng, cho phép xã Đào Động đón thần hiệu về sửa sang miếu điện để phụng thờ, lưu truyền hương khói cùng với nước nhà hưởng lành vậy.

Truy phong Trấn Tây An Tam Kỳ Linh ứng Đại vương.

Lại nói từ đó về sau trải tới Tiền Lý, Hậu Lý, Đinh, Lê, Lý, Trần, thường có giúp nước giữ dân, có nhiều đời đế vương gia phong mỹ tự, để vạn năm cúng hưởng, vạn thế không ngừng.

Phụng khai các lệ sinh hóa cùng với các chữ húy Vĩnh, nhất thiết cấm.

Phụng ngày sinh là mồng 10 tháng Giêng, lễ dùng trên cỗ chay, dưới dùng lợn đen làm lễ.

Phụng ngày hóa 25 tháng 8, lễ dùng trâu, xôi, rượu.

Hoàng triều niên hiệu Vĩnh Hữu, năm thứ hai, tháng giữa đông, ngày tốt.

Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính vâng soạn.

Bát phẩm thư lại, thần là Nguyễn Hiền vâng sao.

Phả lục chép về năm vị đại vương thủy thần triều Hùng Tuấn Vương

Chi Cấn, bộ Thượng đẳng

Chính bản bộ Lễ quốc triều.

Xưa nước Việt trời Nam mở vận, phân chia núi sông theo sao Dực sao Chẩn. Nước Bắc phân phong ban đầu thẳng theo sao Đẩu sao Ngưu. Từ Kinh Dương Vương triều Hùng tuân theo mệnh vua cha phân phong làm dòng dõi đế vương nước Việt ta, đất đẹp châu Hoan xây dựng kinh đô, núi mạnh Nghĩa Lĩnh sửa tăng đến miếu, truyền nước đời kế tiếp xưng là Lạc Long Quân, lấy tiên nữ Động Đình, ở đầu núi Nghĩa Lĩnh. Mây lành năm sắc rạng rõ. Âu Cơ từ đó mang thai, đến khi sinh hạ được một bầu trăm trứng, nở ra trăm con trai tốt lành, đều là những anh hùng hơn đời, đức độ vượt người. Đến khi trưởng thành Vua bèn phong hầu lập bình phong, chia Trung Quốc thành 15 bộ. Thế rồi Long Quân nói với Âu Cơ rằng:

  • Ta là giống rồng, nàng là dòng tiên. Tuy khí âm dương ngũ hành hợp lại mà có con, nhưng chủng loại không giống nhau, không thể chung sống.

Nhân đó chia biệt, bèn phân 50 người con theo cha về biển làm thủy thần, phân trị các đầu sông góc biển. 50 người con theo mẹ lên núi làm sơn thần, phân trị các khu bãi trên núi vùng trung du. Sau này có việc báo cho nhau, tất đến tương trợ, như thế không thể suy được. Thế là họ Hùng có bách thần sông núi, thường có thể xuất thế, đầu thai nhập làm con của các gia đình người dân, để giúp nước trợ dân vậy. Gia đình nào có phúc tất sẽ gặp được.

Lại nói, khi đó cơ đồ họ Hùng truyền 17 đời đến Tuấn Vương, ngự đô ở Việt Trì bên sông Bạch Hạc, dựng nước  tên là Văn Lang. Quốc đô tên là thành Phong Châu. Vua là người có hùng tài đại lược, tư chất thánh triết, kế thừa cơ đồ 17 đời tổ dựng tôn đắp, trong sửa văn đức, ngoài phòng biên cương, cố sức để hưng bình mà yên Trung Quốc.

Trước đó có thánh quân Động Đình Bát Hải, chính cung hoàng hậu nằm mộng thấy rồng cuốn phượng quần quanh thân, hào quang đầy nhà. Hoàng hậu sợ hãi tỉnh lại mới biết là nằm mộng. Bèn đem sự việc kể với Thánh quân. Thánh quân nói đó tất là có điềm làm. Từ đó Hoàng hậu thấy trong người có mang. Tới ngày mồng 10 tháng 8 năm Mậu Tý thì sinh hạ được một bầu mười chàng hoàng tử, đều có thiên tự khác lạ, diện mạo phi thường. Thánh quân biết là thần tiên xuất thế nên rất yêu mến.

Tuấn Vương nghe chuyện bèn ban chiếu lệnh cho các châu huyện, nơi nào có 10 vị hoàng tử, lại có tài văn võ, học vấn sâu rộng cùng với những tài nghệ riêng biệt thì đến nhận quan tước. Khi ấy đạo Sơn Nam Thượng có 10 vị hoàng tử ứng tuyển, đến trước bệ rồng ứng đối lưu loát, thể hiện tài văn võ không thể nào sai. Trong 2 năm sau Vua cho vị thứ nhất là Long cung Thái tử. Còn lại 9 người đều là Hoàng tử. Từ đó thầm nhuần ơn thánh, đậm sâu ơn vua, có duyên lớn hương khói vậy.

Khi ấy họ Hùng đương lúc mạt, ý trời muốn dứt. Tuấn Vương sinh được 20 hoàng tử, 6 công chúa đều theo nhau tiên du tuyệt tích, không có người nối dõi. Chỉ còn công chúa thứ hai là Mị Nương được gả cho Tản Viên Sơn Thánh, định kế nối ngôi vị.

Khi đó các nước láng giềng vạn nhà Ai Lao, Chiêm Thành nghe đồn Tuấn Vương tuổi thọ đã cao mà 20 hoàng tử đều tiên bồng tuyệt tích, không người nối dõi, định nhường ngôi cho con rể Sơn Thánh, bèn thừa cơ động binh, cầu viên các nước tập hợp trăm vạn tinh binh, ba ngàn ngựa khỏe, chia làm 5 đạo, theo cửa biển Hội Thống thủy bộ cùng tiến. Quân thanh chấn động. Thư từ biên cương gửi gấp, một ngày tới 5 lần.

Vua rất lo lắng, bèn triệu gọi Sơn Thánh đến hỏi kế sách. Sơn Thánh tâu rằng:

  • Hơn 2000 năm 17 bậc quân chủ thánh hiền tạo ra ơn sâu đức dày đã tới tận xương tủy. Hiện nay nước giàu quân mạnh. Oai đức của bệ hạ vang ngoài hải ngoại, lại có lòng trời yêu mến, giáng sinh nhiều anh tài. Ví như mười vị hoàng tử long cung có khí độ hơn người, kinh luân trùm cổ, kiêm tài văn võ, có tài ứng đối, thật là bách thần sông núi có nhiều xuất thế. Còn nước giặc không biết bảo thủ, dám đến quật cường, thì cơ sự bại thua đã cầm chắc vậy. Một ngày Bệ hạ thảo phạt hỏi tội, lấy uy đức mà phục thì tất dân ta đều vì Bệ hạ mà chống giặc. Mối lo này chỉ là trong phút chốc. Sự thể thế này thì thần nguyện xin cử 10 vị hoàng tử đến trấn giữ ở các nơi hiểm yếu đầu các con sông. Còn thần tự xin được thay Bệ hạ tìm chọn tướng tài. Giặc nước không quá vài tuần là dẹp được.

Vua rất vui mừng, lập tức gọi 10 vị hoàng tử long cung đến dẫn quân tuần phòng, chia làm 2 đạo để giữ vững các đường quan trọng ở các đầu sông. 10 vị hoàng tử long cung bái nhận 5000 quân thủy bộ chia thành 2 đạo trước tiên lên đường. Cờ xí gió thổi vạn dặm. Đầu thuyền chiêng trống động ngàn núi.

Một hôm buổi chiều tối dẫn quân tiến đến vùng đất đầu bến sông ở trang Hoa Đào, quận Phụ Phụng, đạo Sơn Nam. Bèn cùng nhau đóng quân ở nơi đó. Xem xét địa thế, thấy có một nơi sông núi uốn lượn, rồng hổ chầu ôm. Núi không cao mà có các bãi. Nước có bến đẹp lại thuận tiên. Tưởng cũng là một nơi phong quang thắng cảnh. Thái tử bèn truyền quân sĩ cùng nhân dân xây dựng 5 đồn để chống giặc ngoài.

Khi ấy phụ lão nhân dân trang Hoa Đào đều sợ hãi, bèn đến làm lễ xin được làm thần tử. Thái tư đồng ý.

Ngày hôm đó Thái tử bèn truyền quân sĩ mổ trâu, lợn để tế cáo trời đất bách thần sông núi, khao hưởng quân sĩ. Lúc ấy đang trời mùa đông thượng tuần tháng 11, bỗng thấy thư của Sơn Thánh gửi đến, trong nói là thiên hạ đã yên bình. Các vị bèn làm biểu tâu về triều. Vua ban chiếu triệu hồi. Thái tử cùng với 9 vị hoàng tử vâng mệnh quay về. Vua mở tiệc lớn mừng chiến thắng, gia phong các cấp bậc cho các tướng sĩ. Cho 5 vị được hưởng thực ấp ở quận Phụ Phụng. Còn 5 vị được quản trị các cửa biển. 5 vị hoàng tử bái tạ, trở về quận Phụ Phung nhận chỗ quản trị thực ấp. Thời gian sau đến nơi đồn ở trang Hoa Đào.

Một hôm bày tiệc mời phụ lão nhân dân, gia thần đến ăn uống. Khi ấy phụ lão nhân dân Hoa Đào đều tâu rằng:

  • Từ khi đại nhân dựng đồn sở thì dân đều được yên ổn, lấy uy đực mà phục người. Xin nơi nay là đồn, sau sẽ làm nơi thờ phụng.

Ngài đồng ý, lại nói với phụ lão nhân dân rằng:

  • Trang của các ngươi đã có lòng với ta tất sẽ giữ di mệnh của ta, muôn năm hương khói, vạn cổ thờ phụng hưởng  5 vị hoàng tử ở nơi trang này.

Đại vương lại ban cho 10 nén vàng để sau này mua thêm đất đai dùng cho việc thờ cúng. Việc xong , bỗng không gian nơi đó thấy trời đất mờ mịt, mưa to gió lớn nổi lên, mây mù bốn phía. Có một chiếc thuyền rồng từ cửa biển tiến đến. 5 vị hoàng tử lên thuyền mà trở về thủy tế. Bỗng thấy mây phủ mù mịt. Ban ngày mà như đêm. Một lúc thì quang tạnh. Lai thấy trăm đến chầu. Không thấy 5 vị hoàng tử nữa, tức đã hóa thần vậy. Khi đó là ngày 15 tháng 2. Lúc đó mọi người đều rất sợ hãi, bèn làm biểu tâu lên Vua. Vua nghe việc đó bèn sai quay về làm lễ tế, lại sai sứ giả mang sắc phong bách thần đến.

Gia phong vị thứ nhất là Long cung Chàng Cả Trấn Bắc Anh linh Thịnh đức Đại vương.

Gia phong vị thứ ba là Bình Giang Hùng trưởng Hiển ứng Phổ quang Huệ đạt Đại vương.

Gia phong vị thứ tư là Thủy quan Linh ứng Hộ vật An dân Đại vương.

Gia phong vị thứ bẩy là Thủy quan Đào tiên Triệu mưu Tả tịch Thịnh đức Phong công Đại vương.

Gia phong vị thứ tám là Kim chi Cống Đôi Anh linh Đại vương.

Trang Hoa đào đón mỹ tự về dân lập miếu thờ phụng. Kính vâng!

Ngày sinh thần chính lệ là mồng 10 tháng 8, dùng trên cỗ chay, dưới thịt lợn đen, hát cơ, vui chơi các trò.

Ngày hóa thần chính lệ là 15 tháng 2, từ ngày 12 đến 15 dùng lễ trên cỗ chay phẩm quả, dưới dùng trâu lợn, bánh trôi bánh dày, cấm ca hát.

Niên hiệu Hồng Phúc năm thứ nhất, tháng đầu xuân ngày tốt, Thái tử Thiếu bảo Đại học sĩ Hàn lâm Lễ viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn bản chính.

Hoàng triều năm Vĩnh Hữu thứ 6, giữa thu, Nội các bộ Lại lại vâng theo bản chính cũ mà chép.

Phả lục chép về 5 vị Đại vương thiên thần âm phù triều Trưng nữ vương

Chi Cấn, bộ Thượng đẳng thần

Bản chính Lễ bộ quốc triều.

Xưa nước Việt trời Nam mở vận, phân ngang sông núi theo sao Dực sao Chẩn. Nước Bắc ban đầu phong phân thẳng theo hướng sao Đẩu sao Ngưu. Từ Kinh Dương Vương triều Hùng vâng mệnh vua cha phân phong làm dòng dõi đế vương nước Việt ta. Đất đẹp châu Hoan xây dựng kinh đô. Đầu núi Nghĩa Lĩnh mây lành năm sắc rực rỡ. Âu Cơ từ đó có mang, đến lúc sinh hạ được một bầu trăm trứng, rở ra được điềm trăm trai, đều là những anh hùng hơn đời, đức độ vượt người. Đến khi trưởng thành Vua bèn kiến phong hầu tước, lập bình phong, chia phong trong nước  làm 15 bộ. Lạc Long Quân nói với Âu Cơ rằng:

  • Ta là giống rồng, nàng là giống tiên. Tuy khí ngũ hành hợp lại mà có con, nhưng chủng loại không giống nhau, nước lửa tương khắc, không thể chung sống.

Bèn chia biệt mới phân 50 người con theo cha xuống biển làm thủy thần, phân trị các đầu sông góc biển. 50 người con theo mẹ lên núi làm sơn thần, phân trị các bãi khu trên núi. Khi có sự thì báo cho nhau, tất đến tương trợ, để không thể cùng suy yếu. Từ đó về sau nhà họ Hùng có bách thần sông núi thường có thể xuất thế, biến hóa thần kỳ, âm phù giúp nước giúp dân vậy.

Xưa thời Đông Hán, Tô Định dẫn quân đến lãnh thổ, xâm chiếm Trung Nguyên. Họ Triệu tang thương, không người cứu giúp. Cho đến người cháu gái Hùng Vương tên Trắc, là bậc nữ trung hào kiệt, thánh thần nơi thượng thế, nổi hùng oai cất quân đến đánh. Thế mà đương khi ấy chưa có được người nam nhi có tài thao lược. Nữ tướng xuất quân, phát động thần linh. Trưng nữ bèn cáo tế Tản Viên Sơn Thánh và hội đồng trăm thần ở cửa sông Hát (tức xứ Sơn Tây), lập đàn cáo tế, chúc rằng:

  • Con người là dòng dõi của vạn vật trong trời đất, vốn là chủ của các sinh linh, gây dựng nên cây cỏ. Trải đời đời các thiên tử đế vương đời trước đều là thánh minh. Triều đình có đạo yêu dân lo nước, đức hóa thâm sâu, thiên hạ thanh bình, quốc gia vô sự. Nay có kẻ ngoại tộc tên Tô Định, loài dê chó thường cuồng xướng lộng hành, phá hoại chính sự, tàn hại nhân dân. Trời đất, người thần đều căm phẫn. Thiếp hiềm là một cháu gái của Hùng Vương, nhắc đến sinh linh Hoàng thiên rơi lệ. Ngày nay trong lòng đau xót, trượng nghĩa mà dẹp bạo tàn. Xin được trăm vị tôn linh thần về hội đàn chứng giám cho lời thề, giúp sức cho Trưng nữ thiếp dẫn quân dẹp giặc, giữ nước cứu dân. Để thiếp được phục tổ yên tông các chốn cũ, để yên sinh linh nơi ăn chỗ ở, đưa sinh linh khỏi nước lửa lầm than. Sau là để không phụ ý Hoàng thiên, yên nơi thiêng miếu thờ Tiên hoàng, an ủi tổ phụ nơi chín suối.

Chúc xong hô xuất âm binh ngàn hàng vạn đội. Lại truyền hịch đi các đạo châu huyện nước Nam, nếu có nhân tài văn võ đều đến giúp để giữ yên đất nước. Trong vài ngày đều cầm quân đến làm phiên thần, tiến đến đồn của Trưng nữ tự nguyện xin làm thần tử, hết sức lập công. Trưng nữ vui mừng, lập tức xuất quân.

Khi tiến đến đất trang Hoa Đào, quận Phụng, phủ Thái Bình, trấn Sơn Nam Hạ, bỗng thấy một nơi có thể dùng binh rất tốt. Bèn truyền quân cho lập một đồn để sau này ứng phó với quân Tô Định. Đêm đó Trưng nữ nằm ở nơi đồn quân, đến cuối canh ba thấy mơ màng như mộng. Bỗng thấy có 5 ông lão quần áo chỉnh tề, hình dung cổ quái từ trên trời hạ xuống trên đường  mà tiến đến, tự xưng là năm vị thành hoàng linh thần, dõng dạc nói:

  • Chúng ta vốn là dòng dõi họ Hùng, vâng thừa mệnh Thiên đình. Đã có quân vương tất có thần giáng ứng âm phù theo quân đội lập công. Ngày sau hiển linh cùng được phối thờ.

Lời thần dứt thì bay lên không mà biến mất. Lúc thần hiện là mồng 2 tháng 2. Trong một lúc Trưng nữ tỉnh lại, biết là thần linh ứng mộng đến trợ giúp. Sáng hôm sau bèn làm lễ bái tạ. Trưng nữ tiến quân thẳng đến đồn Tô Định, bao vây các hướng, đánh một trận lớn, bắt được chính tướng cùng các tì tướng cùng quân sĩ vài ngàn đầu. Thu được vô số khí giới, xe ngựa. Quân Tô Định thua chạy không biết nơi nào. Trưng nữ mới xây dựng 65 thành ở Lĩnh Ngoại, khôi phục lại hết đất Nam bang.

Từ đó thiên hạ thanh bình, quốc gia vô sự. Bèn lên ngôi xưng vương. Mới sai sứ giả ban chiếu phong cho các cấp tướng sĩ. Xong việc Vương mở tiệc lớn, sắc ban thêm các cấp bậc cho các tướng sĩ. Nhân đó nói:

  • Giặc Tô Định dẹp sạch cũng là nhờ có thần âm phù trợ giúp.

Bèn gia phong bách thần.

Gia phong 5 vị bản cảnh thành hoàng Trung quốc Hùng chấn Uy linh Ngưng hưu Thượng đẳng thần.

Đến khi vua Lê Đại Hành niên hiệu Thiên Phúc xem xét bách thần, thấy có nhiều linh hiển bèn gia phong 5 vị thành hoàng là Đôn ngưng Chính trực Hiển hữu Đại vương Thượng đẳng thần.

Gia phong Uy minh Hiển hữu Đao lợi Thiên linh Đống Phan Hiển ứng Đại vương.

Gia phong Uy trực Hiển hữu Cương nghị Hùng kiệt Hãn vệ xã Ba lãng thần Đại vương.

Gia phong Cương đoạn Chính trực Lôi điện Đống thần Hùng canh Linh thông Hiển vị Đại vương.

Gia phong Minh trực Linh quang Trấn võ Đông Bắc Phu ngưng Chương tấu Hậu đồng Lực lượng Đại vương.

Gia phong Hùng nghị Trấn Bắc Thông minh Chính trực Trí huệ Anh mẫn Trợ thuận An dân Đại la Thiên tử Đại vương.

Lại nói từ đó về sau có nhiều linh ứng, nên có nhiều đời đế vương gia phong mỹ tự.

Thời Trần Thái Tông, giặc Nguyên đến xâm phạm, kinh thành bị vây hãm. Trần Quốc Tuấn vâng mệnh cầu đảo bách thần ở các nơi đền miếu. 5 vị lại cũng có hiển ứng âm phù. Đến khi dẹp được giặc Mã Nhi, Thái Tông bèn phong thêm mỹ tự 5 vị Linh ứng Anh triết Hiển hữu Trợ thuận Đại vương.

Đến khi Lê Thái Tổ khởi nghĩa dẹp giặc Minh Liễu Thăng, có được thiên hạ, bèn bao phong 5 vị là Phổ tế Cương nghị Anh linh,

Sắc chỉ ban cho các khu Hoa Đào trùng tu đền miếu để phụng thờ. Thật là tốt đẹp thay!

Vâng khai ngày mộng thần cùng với các chữ húy (Lợi, Hãn, Đống, Trấn, La) nhất thiết tối kỵ cấm. Cho phép trang Hoa Đào thờ.

Chính lệ ngày thần hiện mồng 2 tháng 2, trên dùng cỗ chay phẩm quả, dưới dùng xôi trâu lơn, rượu, bánh trôi bánh chay, ca hát các trò, đánh cờ các trò trong 5 lễ chính thì dừng.

Tiệc hội đồng các khu cùng nhau chính lệ ngày mồng 10 tháng 8, lễ trên dùng mâm chay, dưới dùng trâu đen, xôi, rượu, ca hát ba ngày theo lệ thì ngừng.

Niên hiệu Hồng Phúc năm thứ 1 đầu xuân ngày tốt, Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính phụng soạn bản chính.

Hoàng triều Vĩnh Hữu năm thứ 6 giữa thu ngày tốt, Nội các Sử bộ tuân theo bản chính cũ vâng chép.