Thần tích thần sắc làng Áng Phao, tổng Thủy Cam, phủ Thanh Oai, tỉnh Hà Đông

Phụng sao tích thánh

Bản phả chép về một vị Đại vương công thần triều Hán Chiêu Đế và hai vị Đại vương âm phù

Xưa nguyên Thánh tổ Hùng Vương mở vận lịch đồ hơn hai ngàn năm. Hùng Vương lập nước núi xanh vạn dăm, dựng nền cung điện đô thành, nước xanh một dải, khởi đầu đạo các đế thánh vua sáng, độ vật giúp người, thống trị 15 bộ, gọi là khởi tổ của Bách Việt.

Hùng đồ 18 đời truyền nối khi vận mạt, ý lớn kết thúc, trải qua các triều đại tới thời nhà Tây Hán, ở đất Long Biên có một người gốc Quảng Tín Thương Ngô. Ông họ Dương, có tổ tiên được phong ơn lộc, lấy người địa phương làm vợ là Tạ Thị, húy Cẩn, cũng là một gia đình có truyền thống thi lễ trâm anh, môn đăng hộ đối. Ông tinh thông y thuật, hay hành thiện giúp người. Cả hai vợ chồng đều làm việc thiện, cứu người. Ông tuổi đã 50 còn Tạ Thị ngoài bốn mươi mà chưa có con trai.

Một tối Tạ Thị nằm mơ thấy một tinh rắn nhập vào. Từ đó thấy trong người có mang. (Ngày 8 tháng Giêng năm Nhâm Ngọ) sinh được một con trai, tư chất lạ thường. Vợ chồng ông rất yêu quý. Nuôi nấng được 3 năm, tính cách hình dạng đã nên. Ông mới đặt tên là Cư Sĩ, để có thể biết lễ nghĩa, biết kính nhường, biết học văn, nghe hiểu âm nhạc. Bảy tuổi đi học, sách vở đọc một lần là nhớ, lại thông kinh sử, biết võ nghệ. Các học trò đương thời đều rất thán phục, cùng gọi là Thánh đồng.

18 tuổi, cha mẹ đều mất. Sĩ Công tìm đất tốt làm lễ an táng. Ba năm chịu tang, hương lửa trong nhà phụng thờ theo nghi lễ. Ông lại có tâm khuyến khích sự học, dạy giỗ người dân. Thấy sự giáo hóa ở Giao Châu chưa được mạnh đủ, Ông dần dần khuyên dụ lễ nghĩa trong dân. Phong tục tốt đẹp của Nam Châu là công của Ông vậy. Nhân dân đều kính mộ, tôn Ông là Châu trưởng.

Khi Hán Chiêu Đế sai Chu Chương làm Thái thú Giao Châu, nghe nói Sĩ Công giáo hóa phục dân đã dâng biểu tấu. Vua bèn phong cho Ông là Liệt hầu. Ông nhận tước phong, theo mệnh Vua đi các huyện ấp, xem xét phong tục nhân dân.

Một ngày Sĩ Công đến trại Áng Phao, huyệnThanh Oai, phủ Phụng Thiên, thấy phong tục nhân dân còn lạc hậu, việc học còn yếu. Ông bèn xem xét vùng đất này, thấy một địa thế có thế cục sông núi cùng chầu, rồng bao xung quanh, cũng là một nơi phong quang thắng cảnh. Ông liền truyền cho quân sĩ cùng nhân dân lập một học đường ở trại Áng Phao để dạy dân văn tự. Được một năm, nhân dân kính mộ, trở thành một làng có lễ nghĩa.

Khi đó các tù trường 7 quận Chu Nhai, Đam Nhĩ, Thương Ngô, Quảng Tín, Phiên Ngung, Lộc Lãnh làm loạn, xáo động nhân dân. Do đó Vua nghe vậy hỏi vấn các đình thần để định kế sách. Vua mới phong Sĩ Công làm Thái thú ở châu. Vua cử Công có đức cao phục người, tất có khả năng yên định, có thể dẹp giặc. Một ngày Ông về học đường ở trại Áng Phao, truyền quân sĩ cùng với người trong trang mổ trâu làm lễ tế cáo trời đất, cầu đảo núi sông trăm thần đến hưởng. Sĩ tử các trang, nhân dân nơi nơi đều tin phục. Tối đó, Ông nằm trong học đường, tới đầu canh 4, thấy mông lung vào mộng,

Thấy hai người nam, quần áo chỉnh tề, hình dáng cao lớn, tay cầm kiếm, theo đường trên mà tới, tự xưng chúng tôi là dòng dõi nhà họ Hùng, tên một người là Tri Huyễn, người thứ hai là Đông Tẩy. Thấy Ông có đức lớn dạy dân chữ viết, lễ nghĩa có oai. Nay Ông vâng mệnh Hoàng đế cử Ông đi dẹp giặc. Ông lại về học đường bái yết trời đất trăm thần, lòng Trời cảm động, đã sai anh em chúng tôi linh thiêng phụng mệnh Thiên đình, chúng tôi hiện đến, tự nguyện kết làm anh em, âm phù trợ giúp. Dẹp được giặc dữ. Ngày sau xin được cùng phối phụng thờ.

Thần nhân dứt lời thì bay lên không mà biến (thần mộng ngày 10 tháng 3). Sau khoảnh khắc Ông tỉnh lại, biết có 2 vị linh thần âm phù trợ giúp. Rạng ngày Ông làm lễ bái tạ. Phụ lão ở trại tâu rằng:

– Từ khi Ông làm ở học đường dạy dân mà được yên ổn, lấy đức phục người. Trang này xin được báo đáp. Nhân nay thỉnh lấy chỗ đang là học đường, sau là nơi thờ cúng.

Ông đồng ý, và nói:

– Trại của các ngươi đã có lòng sâu với ta, sẽ trọng mệnh của ta muôn năm sau ở trại này.

Tối qua ta nằm mộng thấy 2 vị linh thần âm phù trợ giúp, tự xưng tên một người là Tri Huyễn, một người là Đông Tẩy, giúp ta dẹp giặc. Ta cho các ngươi 10 hốt vàng để ngày sau dùng cho việc thờ phụng. Cũng cung thỉnh cả 2 vị linh thần tên như vậy cùng phối thờ.

Ông tuyển lấy ở trại các sĩ tử cùng các đệ tử cường tráng trong trang, được 300 người, lấy làm gia thần theo Ông dẹp giặc.

Rạng ngày thấy sứ thần mang chiếu thư đến triệu Ông đem binh về kinh. Vua mới ủy quyền cho Ông truyền hịch đi các phủ huyện để nhân dân giúp lương gạo. Trong ngày đó Thái thú Sĩ Công xuất 2 vạn binh đến thẳng quận Cửu Chân. Ông truyền cho tướng sĩ phân các nơi giữ yên thế thủ, không được khiêu chiến.

Một này Ông soạn văn rồi sai mang chiếu dụ về việc tín nghĩa và họa phúc. Giặc đều xem văn mà sợ, đều bỏ giáp lại hàng. Từ đó quận được yên. Vua triệu Ông khải hoàn trở về, mở tiệc lớn chiêu đãi, phong cấp cho các tướng sĩ có công. Sĩ Công tâu rằng:

– Bảy quận được dẹp yên là nhờ có thần âm phù trợ giúp.

Vua nghe được việc này là đang chờ được phong hậu. Vua liền phong cho Sĩ Công làm Thái thú ở nhậm sở tại huyện Thanh Oai, phủ Phụng Thiên, đạo Sơn Nam Thượng (sau đổi sang thành Thăng Long).

Một ngày trời mùa đông, Ông đang ngồi ở phủ đường bỗng thấy trời đất hiện một đám mây vàng lớn, như hình một dải lụa đỏ, từ trên trời mà giáng hạ vào trong doanh trại. Bỗng thấy Ông thân theo mây mà bay đi. Cho tới khi trên lầu không nhìn không thấy nữa tức là Ông đã hóa (vào ngày 10 tháng 11). Nhân dân và quân sĩ đều kinh sợ hành lễ, tấu lên triều đình. Hán Đế sai sứ đến sắc phong cùng với dụ chỉ tế văn đến nơi. Sắc phong tên gốc thần hiệu cùng với thần hiệu của 2 vị âm phù, sai sứ sắc phong thần hiệu cho ba vị:

Phong Cư Sĩ Hiển ứng Đại vương. Tặng phong Phúc nhân Tế thế Hộ quốc Khang dân Thượng đẳng phúc thần.

Phong Tri Huyễn Linh quang Đại vương.

Phong Đông Tẩy Linh ứng Đại vương

Tặng phong hai vị Linh thông Bảo khao Hiển hữu Trợ thắng Đại vương.

Từ đó về sau đều có nhiều sự linh ứng, cũng có nhiều đời đế vương gia phong thê mỹ tự

Cho trại Áng Phao cùng các sĩ tử ở trong các khu trang phụng thờ lâu dài. Tốt thay!

Đến hoàng triều Cảnh Hưng năm thứ 44 ngày 16 tháng 7 sắc phong.

Hoàng triều Cảnh Thịnh năm thứ 2, ngày 26 tháng 1 sắc phong.

Hoàng triều Đồng Khánh năm thứ 2, ngày 1 tháng 7 sắc phong.

Hoàng triều Tự Đức năm thứ 33, ngày 24 tháng 1 sắc phong.

Hoàng triều Duy Tân năm thứ 3, ngày 11 tháng 8 sắc phong.

Hoàng triều Khải Định năm thứ 9, ngày 15 tháng 7 sắc phong.

Phụng sao tích thánh y như bản cũ.

Chính hương hội xã Áng Phao Nguyễn Thư Thành

Xã trưởng Nguyễn Thư Thiện

Lịch rùa cống vua Nghiêu

Có nhiều thư tịch cổ ghi lại sự kiện họ Việt Thường cống một con rùa lớn cho vua Nghiêu, trên lưng có khắc chữ, được vua Nghiêu chép làm Quy lịch (lịch rùa). Ví dụ, Thuật dị kí của Nhậm Phưởng (thời Nam Bắc triều) viết:
Thời Đào Đường, nước Việt Thường dâng rùa thần nghìn tuổi, rộng hơn ba thước. Trên lưng có hoa văn, đều là chữ khoa đẩu, ghi lịch rùa từ thủa mới mở mang đến nay.
Sự tích này thường được sách sử hiện nay coi là sự kiện “ngoại giao” đầu tiên của người Việt. Tuy nhiên, với những dữ liệu và thông tin mới, sự kiện này được nhìn nhận thực chất là một việc khác.
Chua An LichChùa An Lịch ở chân núi Lịch.
Xem phần Ngu thư trong Thượng Thư (Kinh Thư) chép Đế Nghiêu đã sai Hy Thúc đến Nam Giao, quan sát mặt trời di chuyển về phương Nam, ghi ngày Hạ chí. Lúc ngày dài nhất, sao Hỏa đầu hôm ở đỉnh đầu sẽ là ngày trọng Hạ (giữa mùa Hạ).
Đế Nghiêu đã sai người đi 4 phương, quan sát trời đất thiên văn để định làm lịch. Người được cử đi phương Nam là Hy Thúc đã đến Nam Giao để đảm nhận việc làm lịch này. Nam Giao rõ ràng là chỉ vùng đất Bắc Việt ngày nay, cũng có tên gọi là Việt Thường Thị. Đối chiếu 2 ghi chép thời Đế Nghiêu ở trên ta thấy Việt Thường Thị ở Nam Giao là ông Hy Thúc, người đã dâng lịch rùa lên cho Đế Nghiêu.
Việt Thường có nghĩa là vùng phía Nam đất Việt vì Thường – Thẳng, đối lập với Cong, là 2 dịch tượng chỉ hướng Bắc Nam. Việt Thường do đó tương ứng với Nam Giao hay Nam Man Giao Chỉ (từ dùng của Ngọc phả Hùng Vương).
Lich Son
Núi Lịch ở Sơn Dương, Tuyên Quang.
Nhà bác học Lê Quý Đôn trong sách Kiến văn tiểu lục đã ghi chép khá rõ về núi Lịch Sơn ở vùng Tuyên Quang, có đền thờ Đế Nghiêu và là nơi Đế Thuấn đi cày bên đầm Lôi Trạch. Tên gọi Lịch Sơn, quê hương của Đế Thuấn đã cho thấy Đế Thuấn chính là Hy Thúc, người đã cống lịch rùa cho Đế Nghiêu. Ngọn núi Lịch ngày nay ở huyện Sơn Dương của Tuyên Quang vẫn còn lưu dấu tích. Ngọn núi này có một đỉnh nhọn dựng đứng, giống như một tấm bia đá được dựng trên lưng một con rùa lớn. Trên đỉnh núi còn di tích Ao Trời, tương truyền là nơi ngự của Đế Thuấn.
Sách Thuật Đế cống nguyệt minh của Phục Thao viết: “Văn lịch rùa là chữ của người Hồ Man”. Đế Thuấn được coi là một dòng người Di dưới thời Đế Nghiêu. Tới nay, ở khu vực Bắc Việt người Mường vẫn còn lưu truyền và sử dụng loại lịch gọi là “Trừ đá rò”, tương truyền có từ thời Hùng Vương. Trừ đá rò có thể chính là loại lịch rùa được Đế Thuấn tạo ra.
Chính sự phát triển của sản xuất nông nghiệp mà Đế Thuấn đại diện với sự tích đi cày Lịch Sơn người Việt đã sáng tạo ra Lịch pháp, gắn với đời sống sản xuất lúa nước.
Bia RuaBia chùa An Lịch.
Bài trước đã xác định, Đế Thuấn được Ngọc phả Hùng Vương ghi là Ất Sơn Thánh vương. Đế Nghiêu là Viễn Sơn hay U Sơn Thánh vương. 2 vị được thờ phổ biển ở vùng chân núi Lịch trong bộ Tam vị Hùng Vương Thánh tổ.
Đế Thuấn vì công khai mở đất Nam Giao, cày ruộng, đánh cá, săn bắt, làm gốm, lại có công sáng chế ra lịch pháp nên đã được Đế Nghiêu gả 2 con gái và truyền ngôi vị cho. Ngọc phả Hùng vương chép là chuyện vua Hùng gả công chúa Ngọc Hoa và Tiên Dung cho Sơn Tinh sau cuộc kén rể ở bến Việt Trì. Do đó, tục thờ Tam Sơn Hùng vương ở vùng đất tổ luôn kèm theo thờ ban Hai Cô công chúa hoặc 2 vị Long thần, Thành hoàng.
Ban do
Bản đồ thời Nguyễn vẽ núi Lịch có một đỉnh dựng đứng như tấm bia.

Ất Sơn Thánh Vương

Đền Hùng ở Phú Thọ, ngôi đền tổ của cả nước, thờ Tam vị Thánh tổ Hùng Vương là Đột Ngột Cao Sơn, Viễn Sơn và Ất Sơn. Đức Đột Ngột Cao Sơn có một số nơi được thờ riêng như ở xã Hiền Lương (Hạ Hòa, Phú Thọ) hoặc xã Đình Chu (Lập Thạch, Vĩnh Phúc). Dựa vào Hùng Vương Thánh tổ Ngọc phả, Đột Ngột Cao Sơn đã xác định là vị vua Hùng đầu tiên, được gọi là Cổ Việt Hùng Thị thập bát thế Thánh vương. Vị vua Hùng đầu tiên mở sử Việt là Đế Minh, thống trị vạn bang chư hầu thiên hạ. Vậy còn 2 vị vua tổ Viễn Sơn và Ất Sơn là ai?

IMG_5550Nhóm Đền miếu Việt và cụ Hoàng Văn Sinh, 97 tuổi ở xã An Đạo, Phù Ninh, Phú Thọ.

Trong quá trình đi tìm bản Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả, chúng tôi có đến xã An Đạo, huyện Phù Ninh, Phú Thọ, là nơi từng sao chép cuốn ngọc phả này. Nói chuyện với một cụ cao tuổi ở xã thì được biết, nơi đây từng có đình trong làng thờ các vị Hùng Vương và ngôi miếu bên sông gọi là miếu Bến. Cụ cũng cho biết, các vua Hùng xưa không gọi theo thứ tự 1, 2, 3 mà dùng các can chi, nên làng này thờ vị Ất Sơn Thánh Vương. Đến ngày hội làng, ngai vị Ất Sơn được rước từ đình ra miếu Bến. Trên bờ trong miếu làm lễ, dưới sông Lô đua thuyền bơi chải, vui như hội.

Như vậy xã An Đạo xưa là một trong những nơi chỉ thờ riêng Ất Sơn trong 3 vị vua Hùng thánh tổ. Tương tự, ở đình Hùng Lô gần đó, cũng là nơi chỉ thờ 2 vị Viễn Sơn và Ất Sơn. Ở khu vực này, tục thờ Ất Sơn gắn với dòng sông Lô uốn khúc tại đây.

IMG_5930Đình cổ Quang Tất.

Phía bên kia bờ sông Lô, tục thờ Ất Sơn thấy có ở xã Nhạo Sơn (Lập Thạch, Vĩnh Phúc). Đi xa hơn nữa, lên đến khu vực giáp sông Lô của huyện Sơn Dương thì việc thờ 3 vị vua Hùng Cao Sơn, U Sơn và Ất Sơn rất phổ biến. Ví dụ ở đình Quang Tất (Hào Phú, Sơn Dương, Tuyên Quang), khác với ở đền Hùng, vị vua thứ 2 ở đây có tên là U Sơn. Cụ thủ từ đình Quang Tất cho biết, trước đây ở bên đình có 2 ông ngựa trắng và hồng bằng gỗ, đến ngày hội, dân làng kéo 2 ông ngựa này ra Mả Vua ở ngòi nước dưới chân núi Lịch để làm lễ. Vị vua trên núi Lịch cũng chính là một trong những vị vua Hùng được thờ ở đình.

Đây là thông tin rất đặc biệt, bởi vì núi Lịch ở Tuyên Quang theo ghi chép của Lê Quý Đôn, là nơi có Đế Thuấn đi cày và trên núi có đền thờ Đế Nghiêu. Như vậy, phải chăng Đế Nghiêu và Đế Thuấn chính là 2 trong số 3 vị vua Hùng quốc tổ được thờ ở chân núi Lịch?

IMG_5967Đền Ất Sơn sau bóng 2 cây đa cổ thụ.

Đặc biệt hơn nữa, không xa đình Quang Tất còn có ngôi đền cổ không biết từ bao giờ. Ngôi đền mang tên đền Ất Sơn. Thực sự là một điều bất ngờ, một bằng chứng đến hiển nhiên. Khu vực này không có ngọn núi nào khác ngoài núi Lịch cho nên Ất Sơn chính là tên chỉ núi Lịch hoặc chỉ vị thần gắn với sự tích của núi Lịch.

Đền Ất Sơn cũng giống như ở đình Quang Tất thờ 3 vị vua Hùng là Cao Sơn, U Sơn và Ất Sơn. Đây là nơi còn giữ được lễ hội Cầu đinh cầu lão cổ xưa với nhiều trò tích diễn. Khi được hỏi vì sao đền có tên là Ất Sơn thì cụ thủ từ cho biết nơi đây vốn từng mang tên này, sau cách mạng mới đổi thành châu Tự Do. Tra lại địa bạ cũ thì ra nơi đây vốn là tổng Át Sơn. Như thế những chữ Ất – Át – Út Sơn đều chỉ là một vị thần, vị vua Hùng thứ 3 trong Tam vị Thánh tổ Hùng Vương.

IMG_6005Long ngai bài vị đền Ất Sơn.

Đi lên xa hơn một chút là đình Thọ Vực (Hồng Lạc, Sơn Dương, Tuyên Quang) cũng là nơi thờ 3 vị Cao Sơn, U Sơn và Ất Sơn. Lễ hội đình Thọ Vực nay đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia với nhiều trò diễn. Đặc biệt trong đó có trò diễn Vua đi cày, diễn tả lại sự tích vua Hùng xuống đồng tại đây.

Sách Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn cho biết xã Yên Lịch ở dưới núi cũng có miếu Đế Thuấn, 6 xã trong 1 tổng cùng phụng thờ. Ruộng này nằm ở phía bên phải xứ Ngòi Vực, rộng chừng 1 trượng, khá dài. Nước sông Lô mùa thu thường tràn vào. Tương truyền, ở bên bến sông này Đế Thuấn làm đồ gốm… Ở đó cũng có miếu Đế Thuấn, trước miếu có ruộng hè, rộng chừng vài mẫu, khá sâu. Người ta cho đó xưa là đầm Lôi, nơi Đế Thuấn đánh cá và cày ruộng.

IMG_6047Đình Thọ Vực ở xã Hồng Lạc, Sơn Dương, Tuyên Quang.

Trò diễn Vua đi cày ở đình Thọ Vực do đó chính là diễn tả lại sự tích Đế Thuấn đi cày ở Lịch Sơn. Đây là một điển tích có từ lâu đời trong văn hóa Trung Hoa, vì Đế Thuấn là gương đầu tiên trong Nhị thập tứ hiếu. Truyện cổ như sau:

Ngu Thuấn là con ông Cổ Tẩu, tính tình rất có hiếu. Cha Thuấn là người hung bạo, không phân biệt được hay dỡ nên người đời gọi là Cổ Tẩu, tức xem như kẻ mù, mắt không có con ngươi. Mẹ kế tối ngày rầm rĩ, sanh ra đứa con đặt tên là Tượng, một đứa trẻ ngổ nghịch, kiêu căng. Cha thường đài Thuấn đi cày ở đất Lịch Sơn vốn có nhiều thú dữ, nhưng khi tới nơi thì có đàn voi ra cày giúp, có chim muông đến nhặt cỏ giùm. Lòng hiếu của Thuấn đã cảm hóa được những loài vật đó. 

Vua Nghiêu nghe được điều ấy rồi sắp xếp mọi việc để họp bàn với quần thần về người đàn ông này. Khi rõ mọi việc vua Nghiêu đã gã hai con gái cho Thuấn. Sau thời gian theo dõi vua Nghiêu thấy vừa lòng mà nhường thiên hạ, truyền ngôi vua lại cho Thuấn. 

Lịch Sơn nơi Đế Thuấn đi cày chính là núi Lịch ở Sơn Dương, Tuyên Quang. Đế Thuấn được người dân thờ là Ất Sơn Thánh vương. Và như vậy vị vua Hùng thứ hai trong Tam vị Thánh tổ Hùng Vương chắc chắn phải là Đế Nghiêu.

IMG_6248Núi Lịch nhìn từ cánh đồng thôn An Lịch.

Địa danh Yên Lịch xưa đến nay vẫn còn, trong tên thôn An Lịch của xã Đông Lợi (Sơn Dương, Tuyên Quang). Trước đây được gọi là tổng An Lịch. Nơi này nằm dưới chân núi Lịch, là một vùng ruộng lúa khá rộng. Đây chính là đầm Sấm hay Lôi Trạch được nói đến trong truyền thuyết về Đế Thuấn.

Người dân ở An Lịch vẫn lưu truyền rằng trên núi Lịch có di tích của Đế Thuấn. Trên núi có một ao nước rộng chỉ 5-6m nhưng rất sâu. Xung quanh có những cây quýt tươi tốt. Người bản địa cho biết, quả của cây này có thể hái ăn, nhưng nếu chỉ nhỡ cất một quả trong túi mang về thì sẽ như bị che mắt, đi vòng quanh 7 lần không ra được khu ao Trời đó.

IMG_6215 (2)Thác nước chảy từ núi Lịch và đền Đát ở chân núi.

Lời người dân ở đây hoàn toàn khớp với những gì mà Lê Quý Đôn đã chép về núi Lịch: Núi Lịch ở xã Yên Lịch huyện Sơn Dương, từ núi Sư Khổng ở huyện Đương Đạo mà chạy xuống, tới nơi đất bằng thì đột ngột nổi lên một ngọn núi có 5-6 đỉnh, giăng ngang ra chia thành một nhánh tới Lập Thạch là Lãng Sơn, môt nhánh tới Tam Dương là núi Hoàng Chỉ. Trong núi Lịch ở đỉnh cao nhất có 5-6 chỗ bằng phẳng như đền đài, có động Đế Thuấn rất thiêng. Hoa quả trên núi người ta có thể hái ăn, nhưng không được mang đi. Ai mang đi sẽ bị lạc vào mê lộ, không thể ra được. Phía trên động Đế Thuấn có đền Đế Nghiêu, cúng bằng cỗ chay. 

Những di tích thờ Hùng Vương ở chân núi Lịch đã cho phép xác định Ất Sơn Thánh vương chính là Đế Thuấn, còn Viễn Sơn hay U Sơn Thánh vương là Đế Nghiêu. Điều này cũng dẫn đến một xác nhận khác, 2 vị công chúa họ Hùng được thờ cùng với Tam vị Thánh tổ Hùng Vương chính là 2 con gái của Đế Nghiêu đã gả cho Đế Thuấn (hai bà Nga Hoàng và Nữ Anh). Ở các di tích, 2 vị công chúa Ngọc Hoa, Tiên Dung này được thờ bằng ban Hai Cô, hoặc trở thánh 2 vị “thành hoàng”, thờ cùng với 3 vị Cao Sơn, U Sơn và Ất Sơn. Khu vực ven sông Lô của huyện Phù Ninh có tục thờ Ất Sơn và Hai Cô chính là bởi đây là nơi Đế Thuấn rước dâu qua sông, từ vùng kinh đô ở Việt Trì về miền quê núi Lịch.

Thông tin di tích ở Lịch Sơn cũng trùng khớp với chỉ dẫn huyệt mộ trong Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả. Thậm chí Ngọc phả nói rõ lăng mộ ở chân núi Lịch Sơn của Sơn Dương bên đầm (Lôi Trạch):

Ba huyện Sơn Dương, Tam Dương, Tây Lan của phủ Đoan Hùng phụng thờ (vì Hoàng Đế lập lăng điện tôn quý ở đầu núi Tam Đảo, Bạch Long, ở giữa mộ phần Tây Thiên, Phù Nghĩa có 2 huyệt, cùng lăng điện tôn quý trên các đỉnh núi hiểm Sơn Dương, Lịch Sơn, ở trong núi dưới chùa là lăng tôn quý ở bên đầm).

IMG_6261 (2)Nơi từng là nền đình và chùa An Lịch.

Xem tới đây, còn có thể nhận ra, việc gọi các vị thần thời Hùng Vương là Sơn ở khu vực miền đất tổ thực ra Sơn không hề nghĩa là núi. Sơn ở đây tương đương với nghĩa là “quốc tổ”. Ta có:

  1. Đột Ngột Cao Sơn = Thái Tổ Hùng Vương, tức Đế Minh hay Hoàng Đế Hữu Hùng Hiên Viên.
  2. Viễn Sơn = Viễn Tổ Hùng Vương, tức Đế Nghi hay Đế Nghiêu
  3. Ất Sơn = Út Tổ Hùng Vương, tức Lộc Tục hay Đế Thuấn.

Thời đại Hùng Vương dựng nước được bắt đầu bởi ba vị vua tổ, mở nước giúp dân.

Sự trọng yếu của quốc gia, căn bản gốc rễ của thiên hạ là giúp thành cho người dân cày ruộng, đào giếng, làm nghề trồng dâu nuôi tằm, nước giàu quân mạnh, trị vạn dân, biết lấy trọng dưỡng sức dân làm nền tảng.

(Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả)

Ban doBản đồ các địa danh trong bài.

Hùng Vương thế hệ khảo

Bia sach

Cuốn Hùng Vương Thánh tổ Ngọc phả sưu tầm ở đền Vân Luông (Vân Phú, Việt Trì, Phú Thọ) đã cung cấp rất đầy đủ thông tin về thế thứ các triều đại Hùng Vương trong sử Việt. Tuy nhiên, để có thể hiểu đúng Ngọc phả, là một dạng văn bản lịch sử (sử ký) nhưng có cách diễn đạt riêng do đặc thù của thời kỳ sơ và cổ sử, cần có sự linh hoạt trong phân tích các sử liệu này, đối chiếu với các nguồn khác như các di tích thờ cúng, các di vật khảo cổ, các lễ tục văn hóa và với cả những ghi chép lịch sử cổ đại Trung Hoa.
1. Điều chú ý đầu tiên để có thể hiểu đúng Ngọc phả Hùng Vương cũng như các thần tích xưa là vấn đề tên hiệu. Các nhân vật của cổ sử phần lớn đều chỉ có danh xưng, biểu tượng cho vùng đất, phương hướng hay tộc người mà nhân vật đó đã dựng nghiệp. Ví dụ, Lộc Tục nghĩa là danh xưng của Lạc Tộc, chỉ nhân vật này là thủ lĩnh của phần đất Lạc, người Lạc Việt. Hay danh từ Sơn, thực ra là quẻ Cấn (núi) chỉ hướng Nam xưa (Bắc nay) trong Tiên thiên Bát quái. Cao Sơn do đó nghĩa là thủ lĩnh của hướng Nam chứ không phải tên riêng.

Tien thien bat quaiTiên thiên Bát quái và hệ tọa độ trong Dịch học Hùng Việt.

2. Điểm thứ hai là mỗi danh xưng do đó không phải chỉ chỉ 1 người mà người đó nếu là vua sẽ là thủ lĩnh của một bộ tộc, một vùng đất. Danh xưng đó đại diện cho cả một thời do vị vua đó trị vì trên vùng đất và tộc người tương ứng. Vì thế, cùng một danh xưng có thể không phải chỉ có 1 vị vua, 1 nhân vật, mà gồm nhiều đời vua kế tiếp nhau, cùng lấy một danh xưng. Điển hình là 18 danh hiệu Hùng Vương thực ra là tên hiệu của 18 triều đại, mỗi triều đại được Ngọc phả gọi là một “chi”, kéo dài qua một hay vài đời vua kế tiếp nhau. Do đó 18 triều Hùng mới có thể trải dài 2.655 năm như Ngọc phả đã chép.
3. Cũng vì một tên hiệu đại diện cho cả một tộc người hay một triều đại nên các vị công chúa như Ngọc Hoa, Tiên Dung, Âu Cơ thực chất là đại diện cho vương quyền, ngai vị của vua cha truyền lại cho con rể. Đây là hình thức truyền hiền, là hình thức kế vị của thời kỳ ban đầu dựng nước, khi chưa xác lập chế độ phụ hệ cha truyền con nối. Việc Sơn Tinh tranh đoạt công chúa Mỵ Nương với Thủy Tinh có thể hiểu là sự tranh giành vương vị giữa 2 tộc người miền núi và miền biển. Việc Chử Đồng Tử lấy Tiên Dung không được sự đồng ý của vua cha nghĩa là có một sự tiếm ngôi không chính thống.

IMG_1075
Hoành phi Triệu Cơ Vương Tích của đền Hùng, Phú Thọ.

4. Một đặc điểm của thời kỳ sơ sử là tổ chức xã hội hoàn toàn khác với chế độ nhà nước thời cận và trung đại. Xã hội Việt bắt đầu không phải bằng 1 nhà nước mà là bằng một vị thủ lĩnh Đế Minh “thống trị vạn bang chư hầu thiên hạ”. Nói cách khác, đây là một chế độ liên kết giữa các bộ tộc (vạn bang chư hầu), trong đó tôn một vị thủ lĩnh chung lên cầm đầu. Chế độ 1 vua thống trị làm “thiên tử” của cả trăm nước là cơ chế chính của xã hội Việt khi bước vào chế độ phong kiến phân quyền. Thời kỳ này được Ngọc phả Hùng Vương gọi chung là “Trị bình kiến phu“, tức là 1 vua trị bình thiên hạ, phong tước kiến ấp cho các đại phu ở các nước chư hầu.
Chế độ một nhà trăm nước này kết thúc bằng sự kiện Thục An Dương Vương đánh Hùng Vương hay Triệu Đà diệt Thục, lập nên đế nghiệp của một quốc gia thống nhất từ trên xuống dưới, quản lý bằng cơ chế quận huyện, quan lại. Đây cũng là thời điểm kết thúc thời đại Hùng Vương, thời đại dựng nước của người Việt, vì quốc gia và thiên hạ đã thống nhất.
5. Một căn cứ quan trọng khác để sắp xếp phả hệ Hùng Vương là căn cứ vào những ghi chép của cổ sử Trung Hoa, bởi vì lịch sử Trung Hoa chính là lịch sử người Việt cổ thời Hùng Vương. Ngọc phả Hùng Vương ngay ở câu đầu tiên đã xác quyết điều này:
Xưa tại Đại quốc Trung Hoa, đô đóng ở thành Thiên Thọ Bắc, lăng phần mộ tổ trời táng ở núi Côn Lôn, cùng năm hồ, biển lớn, núi Nam hội chầu chính đường.

IMG_5814Thánh tượng Đột Ngột Cao Sơn ở Hiền Lương, Hạ Hòa, Phú Thọ.

Nhận thức được lịch sử Hoa là lịch sử Việt, chỉ là cách ghi chép từ những dòng sử khác nhau, đã cho phép phục dựng, nhận diện đầy đủ thế thứ thời đại Hùng Vương một cách rõ ràng hơn bao giờ hết. Thời đại Hùng Vương có thể được chia làm 4 mốc phát triển lịch sử theo quá trình tiến hóa của chế độ xã hội như sau

  • Hùng Vương thứ 1: Thái tổ Đế Minh – Đột Ngột Cao Sơn, lấy bà Vụ Tiên. Mốc lịch sử thứ 1: 5.000 năm, thời có thủ lĩnh.
  • Hùng Vương thứ 2: Đế Nghi – Viễn Sơn.
  • Hùng Vương thứ 3: Ất Sơn hay Lịch Sơn (Sơn Tinh). Lấy 2 người con gái của Đế Nghi là Ngọc Hoa và Tiên Dung.
  • Hùng Vương thứ 4: Kinh Dương Vương lấy con gái Thần Long Động Đình. Cũng là truyện Tản Viên trị thủy.
  • Hùng Vương thứ 5: Lạc Long Quân lấy con gái hoặc ái thiếp của Đế Lai. Mốc lịch sử thứ 2: 4.000 năm, thời cha truyền con nối.
  • Hùng Vương thứ 6: Hiền Vương hay Lang Liêu. Thánh Dóng giúp vua Hùng đánh giặc Ân.
  • Hùng Vương thứ 7: Hùng Quốc Vương khởi đầu Bách Việt, phân chư hầu. Mốc lịch sử thứ 3: 3.000 năm thời phong kiến.
  • Thời kỳ Trị Bình Kiến Phu: Hùng Vương thứ 8 đến thứ 16. Lang Liêu lấy tiên nữ Ngọc Tiêu của núi Tam Đảo.
  • Hùng Vương thứ 17: Hùng Nghị Vương hoặc An Dương Vương xây thành Cổ Loa.
  • Hùng Vương 18: Hùng Duệ Vương cùng Sơn Tinh đánh Thục. Thục ở đây là nhà Tần. Mốc lịch sử thứ 4: 2.258 năm, thời Trung Hoa nhất thống.

Pha he Hung VuongSơ đồ phả hệ Hùng Vương phục dựng từ Hùng Vương Thánh tổ Ngọc phả.

Câu đối trên núi Hùng:
過故國眄瀘洮依然碧浪紅濤襟帶雙流迴白鶴
豋斯亭拜陵寝猶是神州赤縣山河四面控朱鳶
Quá cố quốc miện Lô Thao, y nhiên bích lãng hồng đào, khâm đái song lưu hồi Bạch Hạc
Đăng tư đình bái lăng tẩm, do thị Thần châu Xích huyện, sơn hà tứ diện khống Chu Diên.

Dịch:
Qua nước cũ ngắm Lô Thao, vẫn hồng đào bích lãng như xưa, hai dải vạt đai quanh Bạch Hạc
Lên đền này vái lăng tẩm, kìa Xích huyện Thần châu còn đó, bốn bề sông núi giữ Chu Diên.

TÌM VỀ NGUỒN GỐC TRĂM HỌ NGƯỜI VIỆT THỜI HÙNG VƯƠNG

Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả tựa rằng:
Vạn phái nguồn gốc sâu xa như biển lớn chảy mãi. Tiên vương ân nghĩa đắp bồi vạn thế, đức trạch cao dày khắp chốn, sự lành còn đó muôn năm, đất nước yên bình, quốc gia thịnh vượng sao!
Nên Ta tuân theo Trời, nối tiếp đức lớn, ngưỡng tổ tông tích đức qua các đời, sáng lòng nhân, yên trời đất núi sông khắp chốn vậy. Ấy là gây dựng nước Nam Việt ta cơ đồ bao la, công nghiệp đế vương to lớn. Trời theo cùng, người quy về, các chư hầu cùng phục, lập thứ tự trăm quan trong triều đình, yên định vạn dân, xưng tên nước, đặt trăm quan, chia trăm họ, phân các quan lập các xứ, dựng nước xây thành, vững mạnh 15 bộ giữ mỗi phương phân định, thiết lập các chức vị, phủ huyện, xã, châu, trang, động, sách.

Van LuongHùng Vương miếu ở Vân Luông, Việt Trì, Phú Thọ.

Như đã thưa chuyện cùng quý vị độc giả trong số báo trước, từ cuốn Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả, cùng với sư thầy Tâm Hiệp chúng ta bước đầu đã vén được một màn sương mờ của lịch sử nguồn cội. Tôi nhớ lại buổi lễ dâng sách lên các vua Hùng tại đền Vân Luông, Phú Thọ, khi đoàn chúng tôi vừa mới bước vào chính điện của ngôi đền thì bát hương vòng trên ban chính bỗng cháy sáng bừng lên như hóa. Thật là một sự cảm ứng nhiệm màu với tâm thành của những người con trước tiên tổ ngàn đời.

1. Tiếp tục đặt câu hỏi với sư thầy Tâm Hiệp, tôi bày tỏ băn khoăn, liệu thời Hùng Vương người Việt đã có họ chưa? Dòng họ mà tôi đang mang từ cha tôi, ông tôi, liệu bắt đầu có từ bao giờ?
Thầy Tâm Hiệp chia sẻ, chúng ta là sự tiếp nối của nguồn cội ngàn đời. Dòng huyết quản chảy trong mỗi người con Việt hôm nay vẫn là dòng máu của những người con cùng chung một bọc đồng bào, của cùng một họ tộc. Đó là họ Hùng. Ngày nay không có mấy ai mang họ Hùng nhưng thực ra tất cả người Việt đều là người họ Hùng. Họ Hùng là họ của cả đại tộc Việt, chứ không phải chỉ của một dòng họ. Vị vua Họ Hùng đầu tiên là Hữu Hùng Hoàng Đế, tức là Đế Minh, người đã khởi đầu sử Việt. Đây cũng là vị vua mà đền Hùng thờ với bài vị là Đột Ngột Cao Sơn, như đã trao đổi.
Còn việc lấy tên họ xưng theo dòng cha là hình thức của chế độ phụ đạo, cha truyền con nối. Chế độ này khởi đầu dưới thời cha Lạc Long Quân, vị “cha tổ” của người Việt cách đây 4.000 năm lịch sử. Tuy nhiên, phải tới thời kỳ vua Hùng sau đó, việc đặt ra trăm họ mới được chính thức bắt đầu.
Thầy Tâm Hiệp cho biết, rất nhiều vấn đề về quá khứ dân tộc, đã có ngay trong cuốn sách trời Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả. Nếu đọc Ngọc phả với sự cẩn trọng suy nghĩ cho từng câu chữ, chúng ta sẽ có được những câu trả lời đầy đủ. Phần Nam Việt Hùng Thị sử ký trong sách có ghi về vị con trưởng của Lạc Long Quân và Âu Cơ như sau:
Thái tử là Hùng Quốc Vương đứng đầu trăm anh em tôn thừa nghiệp lớn… Bấy giờ vua truy ơn các bậc thánh trước, bèn thực hiện việc chia đất phân cõi, lập các bộ Sơn tinh Thuỷ tinh, định làm trăm vương, đổi làm trăm họ, đặt ra chức vụ trăm quan, phong tên cho trăm thần, phân chia đầu núi góc biển, hùng cứ mỗi phương…
Dựng hầu lập bình phong, chia nước thành 15 bộ. Đất đai 15 bộ này được xác định cương giới, định người trưởng quân gọi là Bô (bố), cha gọi là Trá (cha), con trai gọi là Côn (con). Nam nữ đều xem theo dòng cha mà xưng. Hậu thế đổi thành quan lang, phiên thần, thổ tù, phụ đạo. Cháu chắt của các công thần khai quốc được cha truyền con nối, vạn đời nối giữ Nam Bang.
Hùng Quốc Vương khi lên ngôi lập nước Văn Lang đã phân chia đất đai cho những người em và các công thần, định làm trăm vương”. Các vị trưởng quân này lại được “đổi làm trăm họ”. Quyền cai quản các khu đất phong được “cha truyền con nối”. Con cháu nam nữ “theo dòng cha mà xưng”. Như vậy, chế độ phụ đạo cùng với trăm họ bách tính của người Việt được khởi đầu dưới thời kỳ này. Các họ ban đầu thường lấy theo tên của vị thủ lĩnh vùng đất phong hoặc lấy theo tên của vùng đất phong đó.

Hung VuongHùng Vương và những người con trai. Tranh sứ bảo tàng đền Hùng.

2. Đó là những thông tin về dòng họ người Việt theo những ghi chép trong Ngọc phả Hùng Vương. Tôi miên man nghĩ, liệu ở thời nay còn có thể lần tìm được các dấu chỉ gì để minh chứng cho lời phả về sự xuất hiện các dòng họ trong buổi đầu dựng nước hay không?
Như hiểu được những băn khoăn trong tôi, thầy Tâm Hiệp thong thả chia sẻ. Từ năm 2014, thầy có duyên lành đặt chân đến vùng đất Đan Nê ở huyện Yên Định, Thanh Hóa. Nơi đây có một ngôi đền rất cổ, thờ thần Trống Đồng. Vùng đất quanh sông Mã và sông Chu này cũng là nơi người ta tìm thấy nhiều dấu tích khảo cổ từ thời kỳ văn hóa Đông Sơn trước Công nguyên. Dưới thời vua Quang Trung ở đây đã tìm được một chiếc trống đồng cỡ lớn. Trống sau đó đã được hiến cho đền và sự việc còn được ghi lại trên bia trong đền.
Bước chân vào tìm hiểu ngôi đền, thầy Hiệp đã ấn tượng bởi câu chuyện về lời thề trung hiếu đặc biệt của các bậc vua quan xưa trước thần Trống Đồng: “Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, thần minh chu diệt”. Đi sâu hơn nữa, theo thần tích của đền, vị thần Trống Đồng là người đã giúp vua Hùng Quốc Vương đánh giặc Hồ Tôn. Cũng ở đây còn lưu được một vế đối đặc biệt về việc 3 dòng họ Trịnh, Lưu, Hà đã kiến lập đất đai dưới thời Hùng Vương:
Vật lưu Bách Việt tổ
Kiến ấp Trịnh Lưu Hà.
Người được coi là “Bách Việt tổ” theo Ngọc phả Hùng Vương chính là vua Hùng Quốc Vương. Di vật của thời kỳ này là những chiếc Trống đồng to lớn, tinh xảo, minh chứng rõ ràng nhất cho một thời kỳ huy hoàng của dân tộc Việt trên khắp nẻo Đông Nam Á. Dấu vết về sự xuất hiện các dòng họ Việt và di vật văn hóa ở đền Đồng Cổ hoàn toàn khớp với những gì đã ghi trong Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả ở Phú Thọ.

Dong CoChính điện đền Đồng Cổ ở Đan Nê, Thanh Hóa.

3. Những ghi chép lưu truyền ngàn đời trong Ngọc phả Hùng Vương cùng với những di tích còn lại ở nhiều nơi trên đất Việt là những bằng chứng xác thực về sự xuất hiện các dòng họ người Việt từ rất sớm, vào thời kỳ mở đầu nước Văn Lang của các vua Hùng, cách nay quãng 3.000 năm. Đây là thời kỳ mà xã hội Việt bước vào chế độ phong kiến phân quyền, khi mà mỗi công thần hay hoàng thân quốc thích được phân đất kiến lập một khu “thực ấp”, hay còn được gọi là một nước chư hầu. Con cháu của các vị công thần lập quốc này được thừa hưởng chức vị và quyền lực từ cha ông, hình thành các dòng họ phụ đạo lưu truyền.
Di sản của mỗi dòng họ do đó không chỉ ở tên gọi của họ, mà còn là quyền lực trong xã hội và tư liệu sản xuất cơ bản xưa là đất đai. Những dòng họ lớn là những dòng họ của những đại công thần thời dựng nước. Việc tìm về cội nguồn các dòng họ cũng là nhìn nhận lại cho đúng công lao của các bậc tiền nhân với dân tộc, với quốc gia.

Thay cho lời tạm kết về các dòng họ thời Hùng Vương xin chép lại đôi dòng câu đối ở đình Bảo Đà, một nơi thờ các vua Hùng ở Việt Trì, Phú Thọ, nguyện sẽ tiếp nối bước tiền nhân, để con cháu được mở mang, núi sông muôn đời bền vững:
Sổ thiên niên vương tá thủy chung, phụ tử quân thần khai chửng điểm
Thập ngũ bộ thiên phân thảo dã, sơn hà nhật nguyệt cộng trường tồn.
Dịch:
Mấy ngàn năm phụ đế trước sau, cha con vua tôi mở nơi cứu giúp
Mười lăm bộ trời chia đồng nội, núi sông ngày tháng cùng nhau mãi còn.

Minh Thi

Bài đăng trên báo Lao động cuối tuần số 29 (17-19.7.2020)

https://laodong.vn/van-hoa-giai-tri/tim-ve-nguon-goc-tram-ho-nguoi-viet-thoi-hung-vuong-820140.ldo?fbclid=IwAR2dK4jzvngZjoBeudAoWSNfSi1BwsvpUgfVcCECBJHlFgBYFGksEfcLku4

 

Lịch Sơn: đền thờ Đế Nghiêu và nơi Đế Thuấn cày ruộng đánh cá

P1210736
Dòng suối trên núi Lịch

Sách Kiến văn tiểu lục của nhà bác học Lê Quý Đôn, quyển 6 phần Phong vực ghi như sau về núi Lịch:
Núi Lịch ở xã Yên Lịch huyện (Yên) Sơn Dương, từ núi Sư Khổng ở huyện Đương Đạo mà chạy xuống, tới nơi đất bằng thì đột ngột nổi lên một ngọn núi có 5-6 đỉnh, giăng ngang ra chia thành một nhánh tới Lập Thạch là Lãng Sơn, môt nhánh tới Tam Dương là núi Hoàng Chỉ. Trong núi Lịch ở đỉnh cao nhất có 5-6 chỗ bằng phẳng như đền đài, có động Đế Thuấn rất thiêng. Hoa quả trên núi người ta có thể hái ăn, nhưng không được mang đi. Ai mang đi sẽ bị lạc vào mê lộ, không thể ra được.
Phía trên động Đế Thuấn có đền Đế Nghiêu, cúng bằng cỗ chay. Trước đây tổng này có ruộng thờ để cấp cho người giữ đền. Xã Yên Lịch ở dưới núi cũng có miếu Đế Thuấn, 6 xã trong 1 tổng cùng phụng thờ. Ruộng này nằm ở phía bên phải xứ Ngòi Vực, rộng chừng 1 trượng, khá dài. Nước sông Lô mùa thu thường tràn vào. Tương truyền, ở bên bến sông này Đế Thuấn làm đồ gốm.
Dân trong xã ở bên một cái giếng cổ, người ta nói là do Đế Thuấn đào, rộng chưa đến 1 trượng. Nước rất trong nhưng người ta không dám uống. Ai nhỡ tắm ở đó sẽ bị câm. Ở đó cũng có miếu Đế Thuấn, trước miếu có ruộng hè, rộng chừng vài mẫu, khá sâu. Người ta cho đó xưa là đầm Lôi, nơi Đế Thuấn đánh cá và cày ruộng.

Trên núi Lãng Sơn cũng có đền Đế Thuấn. Trước núi nổi lên một hòn núi đất, hơi thấp. Phía trên đỉnh núi có hình như ghế chéo, bên trong khá cao, có thể gieo được trăm bung mạ (một bung là 40 búi, trăm bung là 4000 búi). Tục truyền là nơi Thuấn gieo mạ nên gọi là núi Bách Bung.
(Dịch theo nguyên văn)

Như vậy trên dãy núi Lịch không chỉ có đền thờ Đế Thuấn mà còn có cả đền thờ Đế Nghiêu. Đây cũng là đầm Lôi Trạch, nơi Đế Thuấn từng cày ruộng và đánh cá. Núi Bách Bung là nơi Đế Thuấn gieo mạ cho lúa.

P1210802Đầm Lôi Trạch

Triệu Vũ Đế, vạn cổ vĩ nhân

Cuối thời Chu mạt, cường Tần xua quân tấn công vùng Lĩnh Nam, chiếm đất Văn Lang. Tần Thủy Hoàng lên ngôi xưng đế, phân chia thiên hạ trăm nước của nhà Chu thành các quận huyện trực thuộc. Vùng đất Văn Lang được chia thành các quận Quế Lâm, Long Xuyên (Tam Xuyên) và Tượng. Một đại tướng Tần là Lý Thân, phò mã của Tần Thủy Hoàng, được cử trấn giữ vùng Tây Nam nhà Tần lúc này.
Truyện Giếng Việt cho biết Thôi Vĩ, con của vị ngự sử đại phu nhà Tần đã chữa bệnh cho Nhâm Ngao, rồi sau đó đi lạc ở núi Châu Sơn. Như thế ngay sau thời Tần là cuộc khởi nghĩa của Nhâm Ngao, Triệu Đà ở vùng núi Vũ Ninh. Hoàn toàn không hề nói tới An Dương Vương nào vào cuối thời Tần lúc này nữa.
Ngọc phả Hùng Vương cho biết, Nhâm Ngao và Triệu Đà dẫn quân đánh An Dương Vương ở vùng Tiên Du, sau đó Triệu Đà lui về núi Vũ Ninh đóng quân. Nũi Vũ Ninh là tên khác của Châu Sơn trong Truyện Giếng Việt.
So sánh 2 truyện thì thấy rõ, người được gọi là An Dương Vương ở đây thực ra là Tần đế. Triệu Đà mới là người đã diệt Tần, mở nước Nam Việt, đúng như Sử ký Tư Mã Thiên chép:
Khi nhà Tần đã bị tiêu diệt, Đà lập tức đánh chiếm lấy cả Quế Lâm, Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vũ Vương.”
Triệu Đà chứ không phải ai khác mới là người đã giành lại 3 quận mà Tần lập ra trên đất Việt. Người tuấn kiệt lãnh đạo nhân dân Việt giành thắng lợi trước quân Tần, lập quốc năm 206 TCN là Vũ Đế Triệu Đà. Còn An Dương Vương lúc này là tên gọi khác của vua Tần, vốn xuất phát đến từ vùng đất Thục Tứ Xuyên mà chiếm nước Văn Lang của Hùng Vương.

Tuong Huu Bang 2Tượng Triệu Vũ Đế ở Hữu Bằng, Ngọc Xá, Quế Võ, Bắc Ninh.

Khu vực núi Vũ Ninh từng có tới 8 làng đã lập Triệu Vũ Đế làm thành hoàng. Một vị đế vương oanh liệt, khai cơ mở nền cho một quốc gia thống nhất, một triều đại kéo dài hàng trăm năm, nhưng nay lại bị lãng quên. Nhìn bức tượng Triệu Vũ Đế duy nhất còn lại của vùng Vũ Ninh không khỏi rơi nước mắt. Người Việt ngày nay sao lại bạc bẽo đến vậy với tiền nhân?
Con “ngựa đá” Phi Liêm rồng phượng kết giao, biểu tượng của thiên hạ một nhà, nay vẫn đang phải ngậm ngùi trên đỉnh núi Vũ Ninh. “Cháu con còn nhớ tới mồ ông“?

IMG_2714

Thời đại Hùng Vương kết thúc khi nào?

Bản Hùng đồ thập bát thế thánh vương ngọc phả cổ truyện do Nguyễn Cố soạn thời Lê Hồng Đức (1470) là bản Ngọc phả Hùng Vương được lưu ở thôn Cổ Tích, xã Hy Cương và hiện được dùng làm bản Ngọc phả chính của di tích Đền Hùng ở Phú thọ. Bản ngọc phả này so ra thì tương ứng với phần Nam Việt Hùng Thị sử ký do Nguyễn Đình Chấn soạn năm Hùng Vương 32 (thời Minh Mạng), nhưng ở phần kết thúc còn có thêm một đoạn. Trong Nam Việt Hùng Thị Sử ký của Nguyễn Đình Chấn thời đại Hùng Vương kết thúc bằng sự kiện Thục An Dương Vươn lập cột đá thề ở Nghĩa Lĩnh và cho thờ cúng các thế hệ Hùng Vương. Còn trong cuốn Ngọc phả của Nguyễn Cố có thêm phần sau (dịch theo Ngô Đức Thọ):
Thục An vương kế nối trị nước được 50 năm thì xẩy ra việc nhà Tần lập các đạo quân gồm những dân phạm tội phải chạy trốn lưu vong, những người đi ở rể bị bán làm binh, sai Hiệu uý Đồ Thư làm tướng chỉ huy, sai Sử Lộc đào cừ chở lương thực, tiến sâu vào đất Lĩnh Nam, chiếm đất Lục Lương, đặt các quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng Quận; lấy Nhâm Ngao làm Thái thú Nam Hải, Triệu Đà làm quan lệnh huyện Long Xuyên. Nay ở đình Phân Thuỷ huyện Hưng Yên có miếu thờ. Biền đề ở miếu: Khai vật tế nhân. Câu đối ở miếu như sau:
Tưởng Việt Thành thâu túc, thuỳ sử nhất hoằng bích thuỷ, tiện vãn vận khởi hồng đồ
Niệm Nghĩa Lĩnh khai cương, cánh nhĩ sổ thanh sơn, lưu cao trạch nhi thành đô hội.
Rồi đó Nhâm Ngao, Triệu Đà thừa cơ gây hấn, đem quân sang xâm lược. Triệu Đà đóng quân ở núi Tiên Du Bắc Giang giao chiến với An Vương. An Vương lấy nỏ thần ra bắn. Triệu Đà thua trận bỏ chạy. Đà biết Thục có nỏ thần, không thể đối địch đựơc, bèn cho con là Trọng Thuỷ vào làm lính hầu (túc vệ) trong cung An Vương. Rồi Trọng Thuỷ cầu hôn vương nữ Mỵ Châu. Trọng Thuỷ dụ Mỵ Châu lấy trộm nỏ thần cho xem rồi tháo đổi cái lẫy khác. Sau đó Thuỷ về báo cho cha biết.
Triệu Đà bèn phát binh đánh An Vương. An Vương không ngờ cái lẫy thiêng đã bị mất, khi ấy đang đánh cờ vây, cười nói: “Đà không sợ nỏ thần sao?”.
Quân Triệu Đà vây áp đến nơi, An Vương lấy nỏ ra bắn, nỏ gẫy, bèn lui chạy. Thế là cơ đồ họ Hùng mất.
Từ Triệu Vũ Đế (huý Đà) kế trị đến các triều Đinh Lê Lý Trần cho tới nay triều Lê ta đều chuẩn y việc phụng thờ ở cung miếu, chuẩn cho làng Trung Nghĩa thuộc bản xã theo đúng lệ cũ được hưởng tạo lệ, miễn trừ tô thuế binh dân cùng là các khoản sưu sai tạp dịch, giao cho dân bản xã phụng thờ cầu chúc cho mệnh mạch quốc gia trường tồn, lưu thơm muôn thủa.
Ô hô! Thịnh thay!

IMG_5952
Đền Cổ Loa.

Như vậy, theo quan niệm của thời Nguyễn (bản Nam Việt Hùng Thị sử ký) thì thời đại Hùng Vương kết thúc vào khi An Dương Vương lên thế Hùng Vương. Nhưng theo quan niệm của thời Lê (bản Hùng đồ thập bát thế thánh vương ngọc phả cổ truyện), thời đại Hùng Vương lại kết thúc vào thời Triệu Đà.
Ngọc phả ghi: An Vương lấy nỏ ra bắn, nỏ gẫy, bèn lui chạy. Thế là cơ đồ họ Hùng mất. Tức là cơ đồ họ Hùng kết thúc vào sau khi An Dương Vương mất ngôi. An Dương Vương được coi ở đây cũng là một triều Hùng.
Thậm chí câu đối ở đình Phân Thủy tại Hưng Yên nơi thờ Triệu Đà (có lẽ nay là đình Xuân Quan ở Văn Giang) còn ca ngợi thời Hùng Vương:
想越城輸粟誰使一泓碧水便挽運以啟洪圖
念義嶺開疆竟尔數里青山流膏澤而成都會
Tưởng Việt Thành thâu túc, thuỳ sử nhất hoằng bích thuỷ, tiện vãn vận khởi hồng đồ
Niệm Nghĩa Lĩnh khai cương, cánh nhĩ sổ thanh sơn, lưu cao trạch nhi thành đô hội.
Dịch:
Nhớ thủa Việt Thành chở lúa, ai khiến một dòng nước biếc, thuận vận sau để tạo hồng đồ
Nghĩ khi Nghĩa Lĩnh mở nền, người qua bao dặm núi xanh, thấm ơn dày mà nên đô hội.

IMG_2269Nghi môn Long Hưng điện ở Xuân Quan, Văn Giang, Hưng Yên.

Lịch sử Việt phát triển trải qua các nấc thang. Đầu tiên là thời lập quốc của Đế Minh – Kinh Dương Vương, đi khai mở Nam Giao, dựng điện thành ở Nghĩa Lĩnh. Rồi qua thời kỳ phụ đạo cha truyền con nối của Lạc Long Quân. Nổi lên một xã hội phát triển rực rỡ của Hùng Quốc Vương nước Văn Lang với hàng trăm chư hầu phiên thuộc. Thời đại Hùng Vương được coi là kết thúc khi các nước chư hầu được thống nhất, hình thành chế độ quản lý bởi nhà nước trung ương (thời kỳ phong kiến tập quyền). Thời kỳ này như trên được lấy vào thời An Dương Vương hoặc Triệu Đà.
Thực chất, sự kiện năm 256 TCN nhà Tần diệt thiên tử Chu, xưng đế thống nhất thiên hạ, được sử Việt kể là chuyện An Dương Vương nhận ngôi từ Hùng Vương. An Dương Vương lập cột đá thề là chuyện Tần Thủy Hoàng lên núi Thái Sơn phong thiện (tế trời đất) lập bia ghi công đức của nhà Tần. Do đó mốc An Dương Vương kết thúc Hùng Vương cũng là lúc chế độ quận huyện, nhà nước tập quyền ra đời trên toàn lãnh thổ Trung Hoa.

IMG_2270
Tượng Triệu Vũ Đế ở Xuân Quan.

Còn sự kiện Triệu Đà diệt An Dương Vương là chuyện Lưu Bang từ vùng Bắc Việt khởi nghĩa kháng Tần thắng lợi năm 206 TCN. Cũng vì thế mà Triệu Vũ Đế được coi là tiếp nối quốc thống từ Hùng Vương và có những câu đối ca ngợi về Nghĩa Lĩnh, Việt Thành cùng công đức Hùng Vương như trên ở đình Phân Thủy. Hiếu Cao Tổ Lưu Bang là người đã dẹp loạn thời hậu Tần, thống nhất cục diện phân tranh Hán – Sở, đặt nền móng lâu dài cho chế độ phong kiến tập quyền, Trung Hoa nhất thống, nối tiếp bước phát triển của dòng họ Hùng từ Tam Hoàng Ngũ Đế…

HÙNG VƯƠNG NĂM 32

Cuối bản Nam Việt Hùng Thị sử ký hiện lưu ở đền Vân Luông (Vân Phú, Việt Trì, Phú có đề:
Năm 32 đời Hùng Vương, ngày trong tháng đầu xuân.
Hàn lâm học sĩ Quốc tử giám Nguyễn Đình Chấn
Vậy năm 32 đời Hùng Vương là năm nào?

Trang 103
Xét thông tin từ bản Ngọc phả Hùng Vương đã phát hiện ở thôn Cá Đô (An Đạo, Phù Ninh, Phú Thọ) thì cuốn Nam Việt Hùng Thị sử ký có tác giả là quan Hàn lâm Học sĩ Quốc tử giám Nguyễn Đình Chấn. Ban giám khảo bản Ngọc phả này là ông Lễ bộ Tả Thị lang – thần Phạm Quỹ, Hình bộ Tả thị lang- thần Nguyễn Hanh, Binh bộ Tả thị lang – thần Trương Quốc Hoa, Binh bộ Hữu thị lang- thần Phạm Quĩ, Hình bộ Tả thị lang – thần Vũ Hồn, Quang lộc tự khanh Biện lý Lễ bộ sự vụ Lê Thiện, Hồng Lô tự kiêm Biện lý hộ, Bộ sự vụ – thần Mai Đức Thường, Lễ bộ lang Trung biên, Lý bộ vụ – thần Nguyễn Đức Tân.
Trong đó có Mai Đức Thường là một trong những sứ thần Việt Nam đi sang nhà Thanh dưới thời Minh Mạng. Vì thế, cuốn Sử ký trên được biên soạn quãng thời kì Minh Mạng. Vậy phải hiểu “năm 32 đời Hùng Vương” là như thế nào?
Có thể thấy thời kỳ này các vua Nguyễn cho mình là dòng dõi Hùng Vương, do đó “đời Hùng Vương” ở đây chỉ triều đại nhà Nguyễn. Cách xưng này tương tự cách xưng “Long Phi” hay gặp trong các hoành phi câu đối và văn bản thời Nguyễn, là cụm từ chỉ chung một đời vua đương triều (thường dịch là “Vua ta”),  chứ không theo niên hiệu thông thường.
Nhà Nguyễn bắt đầu từ khi vua Gia Long lên ngôi năm 1806. Như thế năm 32 đời Hùng Vương – nhà Nguyễn sẽ là năm 1837. Đây đúng là năm dưới thời vua Minh Mạng.
Dòng lạc khoản “Năm 32 đời Hùng vương” của Nam Việt Hùng Thị sử ký là một dẫn chứng cho biết rằng nhà Nguyễn đã lấy danh hiệu Hùng Vương chỉ chính cho cả triều đại của mình. Vua Minh Mạng cũng là người đã cho lập nhiều di tích thờ cúng Hùng Vương như Miếu Lịch Đại Đế Vương ở Huế, đúc Cửu đỉnh… Bản thân ở đền Vân Luông tại Việt Trì, nơi lưu giữ bản Hùng Vương Thánh tổ Ngọc phả cũng còn bức hoành phi “Nam Thiên Chính Thống” của thời Minh Mạng.

A35 Nam Thien chinh thong

Thiên Cang Bắc Đẩu Tinh quân ở Đồng Kỵ

IMG_4821
Nghi môn đình Đồng Kỵ.
Làng Đồng Kỵ ở Từ Sơn, Bắc Ninh từng nổi tiếng với hội thi pháo vào mồng 4 tháng Giêng hàng năm. Hội thi này có nguồn gốc cũng từ vị thần Thiên Cang là thành hoàng làng này như sau:
Thời Hùng Vương có ông Cang Công, con trai ông Kinh Bắc quận vương, có công dẹp giặc Xích Quỷ, được vua phong là Thiên Cang. Trên đường dẹp giặc, Thiên Cang đã về Đồng Kỵ tuyển quân chọn tướng. Vào ngày mồng 4 tháng Giêng, ông ra lệnh xuất quân đánh giặc. Thiên Cang chia quân làm 4 tốp và giao cho 4 tướng chỉ huy. Trong buổi xuất quân, mọi người tổ chức đốt pháo hò reo, tạo không khí náo nhiệt hào hùng để động viên quân sĩ. Khi dẹp xong giặc, Thiên Cang trở về Đồng Kỵ mở hội ăn mừng.

Để nhớ ơn Thiên Cang, làng Đồng Kỵ thờ đức Thiên Cang làm thành hoàng làng tại đình và hàng năm mở hội thi đốt pháo, tái hiện ngày Thiên Cang ra lệnh xuất quân đánh giặc.

Theo thần tích thì thần Thiên Cang đã có công dẹp quỷ Xích và sau đó là đánh giặc Ân.

IMG_4905
Đình Đồng Kỵ.
Câu đối ở đền Đồng Kỵ:
前伐鬼後破殷恒恒維烈
古生祠今清廟濯濯厥靈
Tiền diệt quỷ, hậu phạt Ân, hằng hằng duy liệt
Cổ sinh từ, kim thanh miếu, trạc trạc quyết linh.
Dịch:
Trước diệt quỷ, sau phá Ân, mãi mãi còn rạng
Xưa đền sinh, nay miếu thanh, ngời ngời khí thiêng.
Câu đối khác ý tương tự ở đình Đồng Kỵ:
氣奪殷師赫赫殸名垂北地
力撑雄運巍巍功德配南天
Khí đoạt Ân sư, hách hách thanh danh thùy Bắc địa
Lực sanh Hùng vận, nguy nguy công đức phối Nam thiên.
Dịch:
Khí giành Ân binh, hiển hách tiếng danh trùm đất Bắc
Sức nâng Hùng vận, nguy nga công đức khắp trời Nam.
IMG_4852
Cửa võng đình Đồng Kỵ.
Tuy nhiên, cũng có chỗ 2 công tích dẹp quỷ và phá giặc Ân này được gộp vào một, như trong câu đối ở đình:
神武掃清殷鬼賊
宗城永奠貉鴻基
Thần võ tảo thanh Ân quỷ tặc
Tông thành vĩnh điện Lạc Hồng cơ.
Dịch:
Võ thần quét sạch giặc Ân quỷ
Thành tổ lập dài nền Lạc Hồng.
Từ đó có thể nhận định, trong trận chiến với Hùng Vương, giặc Ân đã từng tạo ra dịch bệnh, hoặc cùng lúc đó đã xảy ra dịch bệnh. Đây là nạn dịch hạch hoặc đậu mùa, làm cho thân thể người mắc bệnh bị nổi đỏ. Vì thế các thần tích mới gọi là quỷ Xích.
Vị thánh Thiên Cang ở Đồng Kỵ như vậy vừa giúp chữa bệnh dịch cho dân, vừa đánh giặc Ân xâm lược. Trong sắc phong vị này được tôn làm Thiên Cang Đế:
Cao minh Bảo quốc Hộ dân Sóc giang Linh ứng Hiển hữu Thuần nhạ Thông triết Phù vận Tế thế Hộ quốc An dân Thiên Cang Đế Hiển linh Thông duệ Minh triết Trì đạt Anh mẫn Tế dân Đại vương.
IMG_4885
Bản chụp sắc phong Thiên Cang Đế ở Đồng Kỵ.
Điều đáng chú ý là tên “Thiên Cang” 天罡 vốn là từ để chỉ sao Bắc Đẩu. Thiên Cang Đế do đó tương ứng với Bắc Đẩu Tinh quân.
Mặt khác, theo Nam Việt Hùng Thị sử ký (Ngọc phả Hùng Vương) thì Phù Đổng Thiên Vương được phong: Sau lại phong là Xung Thiên Thần Vương (ngày xưa thần Bắc Đẩu Tinh Quân giáng sinh làm Xung Thiên Thần Vương).
Như vậy, Thánh Dóng là Bắc Đẩu Tinh quân giáng sinh. Từ đây suy ra, Thiên Cang Đế ở Đồng Kỵ cũng chính là Phù Đổng Thiên Vương.
Trong truyện Phong Thần diễn nghĩa, Khương Thái Công khi lập bảng Phong Thần cũng có phong cho các vị thần Bắc Đẩu Tinh quân, mà vị thần đứng đầu tên cũng là Thiên Cang.
Một câu đối khác ở đình Đồng Kỵ:
天造英威弌陣成功光鐵馬
地鍾神秀千秋靈蹟在同江
Thiên tạo anh uy, nhất trận thành công quang thiết mã
Địa chung thần tú, thiên thu linh tích tại Đồng giang.
Dịch:
Trời tạo oai tài, một trận thành công bừng ngựa sắt
Đất hun nét thánh, ngàn thu dấu diệu ở sông Đồng.
Câu đối lại kể vị thần tướng nhà Trời ở Đồng Kỵ đã đánh trận bằng “ngựa sắt”. Rõ ràng vị thần Thiên Cang này cũng chính là Thánh Dóng.
Các câu đối nói tới địa danh “Đồng giang”, “Đồng thủy”, cho thấy “Đồng” là tên riêng, chứ không phải Đồng Kỵ là cùng nhau làm giỗ. Rất có thể chữ “Đồng” ở đây là âm sai của Đổng trong Phù Đổng Thiên Vương.
Phù Đổng là tên phiên thiết. Phù ký âm cho âm “Ph”, đổi với các âm “B” và “D”. Do đó Phù Đổng đọc thiết có thể thành Bổng hoặc Dổng, từ đo cho tên Nôm là Dóng.
IMG_4940
Đền Đồng Kỵ.
Câu đối khác ở đình Đồng Kỵ
持地廠神皋西望峰州天日近
斯民陶聖武南来桐水雨膏流
Trì địa xưởng thần cao, Tây vọng Phong Châu thiên nhật cận
Tư dân đào thánh võ, Nam lai Đồng thủy vũ cao lưu.
Dịch:
Đất đó chỗ ở thần, Phong Châu gần mặt trời Tây hướng
Dân đây đúc võ thánh, sông Đồng nước đẫm chảy bên Nam.
Hội pháo làng Đồng Kỵ trước đây làm những quả pháo lớn bằng tre, nứa, rơm, cót, giấy và được trang trí cầu kỳ bằng các hình tượng Tứ linh Long Ly Quy Phượng. Khi rước pháo trong lễ hội có 4 ông quan đám mặc quần áo đỏ, chít khăn đỏ, tượng trưng cho 4 tướng tiên phong. Có thể thấy việc chia quân làm 4 đội là theo mô hình Tứ tượng mà được biểu trưng bằng Tứ linh – 4 linh vật. Mô hình Tứ tượng còn được thể hiện bằng tên gọi khác là Nhật nguyệt tinh thần, tạo thành hình Thái cực đồ.
Trong hội Đồng Kỵ còn có trò “ôm cột Thái Bạch” khi 4 ông quan đám đua nhau ôm được cây cột chính. Tên “Thái Bạch” cũng là biểu tượng của Dịch học, có thể là hình tượng cho vua giặc (vua Ân).  4 ông đám đua nhau ôm cột Thái Bạch là 4 tướng tiên phong của Thánh Dóng đua nhau bắt tướng/vua giặc Ân.
IMG_4879
Pháo lễ ở đình Đồng Kỵ với Tứ linh.
Với nhận định Thiên Cang Đế Đồng Kỵ là Phù Đổng Thiên Vương thì có thể tóm tắt diễn biến thời này như sau. Khi giặc Ân sang xâm chiếm nước của Hùng Vương, chúng còn gieo rắc dịch bệnh, làm người mắc bệnh nổi đỏ nên gọi là quỷ Xích. Khương Thái Công Lã Vọng (tức Thánh Dóng – Thiên Cang Đế) vừa cầm quân chống giặc Ân, vừa tìm cách chữa trị đẩy lùi bệnh dịch. Sau khi thắng được dịch bệnh, Khương Thái Công chuyển từ thế thủ sang thế công, xuất quân tấn công nhà Ân. Đội quân phạt Ân được chia làm 4 đạo tiên phong theo Tứ tượng Long Ly Quy Phượng. Dùng pháo làm hiệu lệnh.
Từ sự kiện lịch sử Khương Thái Công phát binh diệt Ân, làng Đồng Kỵ đã lưu thành phong tục, như câu đối ở đình làng:
聖澤流兮故里化成仁厚俗
神君至止斯民喧唱太平歌
Thánh trạch lưu hề, cố lý hóa thành nhân hậu tục
Thần quân chí chỉ, tư dân huyên xướng thái bình ca.
Dịch:
Ơn thánh truyền chừ, hóa nên làng cũ tục Nhân Hậu
Đức thần tới đó, vang hát dân đây khúc thái bình.
Nhân Hậu là tên làng Đồng Kỵ trước đây. Ở Bắc Ninh cũng từng có cả tổng Nhân Hậu.
IMG_4843
Cửa đình với hoành phi: Thánh trạch lưu hề.
Câu đối khác ở đình Đồng Kỵ:
基圖千古壯前島山後常領俱降
俎豆億年香左祠宇右春臺並壽
Cơ đồ thiên cổ tráng, tiền Đảo sơn, hậu Thường lĩnh câu giáng
Trở đậu ức niên hương, tả từ vũ, hữu xuân đài tịnh thọ.
Dịch:
Cơ đồ ngàn đời vững bền, trước Tam Đảo, sau núi Thường cùng giáng
Mâm bàn muôn năm hương lửa, trái mái đền, phải đài xuân lâu dài.