Dịch học, tiếng Nôm và trống đồng

Bài trình bày trong hội thảo Kinh Dịch với người Việt do Trung tâm minh triết và Trung tâm Lý học phương Đông tổ chức ngày 2/6/2018.

Đối với phương Đông, Dịch lý là nền tảng của sự phát triển của xã hội và văn hóa xa xưa từ những trang lịch sử đầu tiên, thể hiện thế giới quan của cộng đồng tộc người đã làm nên Dịch học. Vì thế ngôn ngữ, văn vật và địa lý của cộng đồng này sẽ là mối liên hệ trực tiếp cho phép khám phá các ý nghĩa của Dịch học. Hoa ngữ và địa lý nước Tàu hiện nay không làm được điều này bởi chủ nhân thực sự của Dịch học không nói thứ tiếng đó và không ở chỗ đó. Tiếng Việt, trống đồng của người Việt và mảnh đất Việt Nam ngày nay mới là quê hương chân xác của Dịch lý. Bài viết sau so sánh, đối chiếu các yếu tố văn hóa địa lý Việt với các dịch tượng trong Dịch học để tìm lại nền móng căn bản của Dịch lý, đồng thời góp phần khẳng định chủ nhân tác Dịch chính là người Việt trên mảnh đất Việt ngày nay.

Nôm na là cha mách qué

Trong thành ngữ tiếng Việt có câu: “Nôm na là cha mách qué”, xưa nay nhiều người biết, nhiều người dùng, nhưng ý nghĩa thực của câu này là gì chưa thấy có ai giải thích cặn kẽ. Thực ra, câu thành ngữ này “Nôm na là cha mách qué” có nghĩa rất đặc biệt, là chiếc chìa khoá giúp ta đi vào Dịch học. Xin giải nghĩa thành ngữ trên như sau:
– “Nôm” là biến âm của “Nam”, chỉ nước Việt người Việt. Từ Nôm trong câu này chỉ chữ Nôm, từ Nôm hay âm Nôm. Nói chung ý trong câu là chỉ tiếng nói của người Việt Nam.
Ngày nay thường hiểu từ Nam là chỉ riêng người Việt Nam. Thực ra đây là từ chỉ chung cả khối Bách Việt. Thời Nguyên Mông nói chung thì người phía Bắc sông Dương Tử gọi là người Hán, phía Nam Dương Tử gọi là người Nam.
– “Na” tức “na ná”, nghĩa là “gần giống với”.
– “Cha” đồng nghĩa với thầy, cũng có thể hiểu là thầy dạy học, người chỉ dẫn.
– “Mách” là chỉ bảo, chỉ dẫn, nghĩa như trong mách bảo, mách nước v.v.
– “Qué” ở đây biến âm của từ Quái trong Hoa ngữ, hay Quẻ trong tiếng Việt, chỉ 8 quẻ căn bản của Dịch học. Quẻ đơn là Kiền, Đoài, Ly, Chấn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn.
Như vậy nghĩa của câu “Nôm na là cha mách qué” là: Na ná hay gần giống với từ Nôm là thầy chỉ bảo về ý nghĩa các quẻ Dịch. Có thể viện dẫn các ví dụ trong Dịch học để chứng tỏ ý nghĩa này:
– Quẻ Kiền hay Càn, chỉ sức mạnh hay sự to lớn có gốc từ tiếng Việt là “cồng kềnh” hay “kềnh càng”.
– Quẻ Đoài là biến âm của “điều” hay “đào” tức màu đỏ.
– Quẻ Ly là biến âm của “lửa”, tượng trưng cho sức nóng, ánh sáng và mặt trời.
– Quẻ Chấn là biến âm của “sấm”, Hoa ngữ là “lôi”.
– Quẻ Tốn hay Toán, tức “tính toán “ trong tiếng Việt, chữ cổ còn gọi là “tán”.
– Quẻ Khảm còn gọi là Cống, thực ra là “cóng”, tiếng Việt thường dùng từ kép “lạnh cóng”.
– Quẻ Cấn còn gọi là Căn, nghĩa tiếng Việt là “cán”, là cái để nắm lấy mà điều khiển như cán dao, cán cuốc v.v.
– Quẻ Khôn chỉ sự khôn ngoan nơi con người, chỉ khả năng nhận xét của não bộ, tức khả năng nhìn nhận và phán đoán sự việc.
Xem xét kỹ thì không chỉ riêng Bát quái mà Thập can cũng do “Nôm na” mà ra như:
– Giáp là “chắc” trong “chắc chắn”.
– Ất là “óp” như trong “óp ép”.
– Bính là “bấn” trong “bấn loạn”.
– Đinh là “đanh” trong “cứng như đanh”.
– Mậu là “mẹ”.
– Kỷ là “cả”.
– Canh là “nước canh”, cánh, cạnh, cành, chỉ trục ngang.
– Tân là “tâng”, tưng, tung lên, chỉ trục đứng.
– Nhâm là “nhũn”, nhung trong “mềm như nhung”.
– Quý hay Khang là khăng, “khăng khăng” không đổi.
Thực kỳ lạ, tên các thành tố của Dịch học như Thập can, Bát quái… không mang một ý nghĩa gì trong Hoa ngữ. Nó thuần là các tên để gọi mà thôi. Ngược lại khi “Nôm na” thì ý nghĩa Dịch lý lại nằm ngay chính trong tên gọi của nó. Thậm chí những từ khoá trong nguyên lý cơ bản “sinh sinh chi vị dịch” cũng có gốc từ “Nôm na” mà ra: “Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái…”. Cực, nghi, tượng, quái v.v. đều là những “đặc từ” chỉ dùng trong Dịch học, phải có công “tu luyện” mới thấu đáo…
Khi dùng “nôm na pháp” vào đây ta có: “1 cục, hay cuộc, sinh 2 ngôi, 2 ngôi sinh 4 tạng hay dạng, 4 tạng sinh 8 quả”. Rồi cả 3 tòa, 5 hình, 9 chỗ v.v. Thì ra tất cả là những danh từ thông thường dùng trong cuộc sống hàng ngày người “bình dân” ai gặp cũng hiểu ngay, chẳng phải là “đặc ngữ đặc từ” chi cả. Có thể nói, khi “Nôm na” thì Dịch học rất gần gũi đời sống thường nhật của con người, trái hẳn với Dịch học siêu đẳng của Hoa ngữ, nói toàn chuyện trên mây như chỉ dành cho các bậc thánh triết, mà trên cõi đời này hỏi có được mấy vị?
Dựa vào yếu tố ngôn ngữ có thể khẳng định, Kinh Dịch chứa đựng những hiểu biết về sự vận động và biến đổi của mọi vật trong Không và Thời gian là thành tựu trí tuệ của người Nam hay Bách Việt mà chi duy nhất còn lại đại diện cho cả dòng giống là Lạc Việt, tức người Việt Nam ngày nay.

Chữ nguyên hình “điểu thú văn”

Trên mặt tất cả trống đồng loại 1, tức loại xưa nhất, đều được đúc theo khuôn mẫu: trung tâm là mặt trời, rồi đến các vòng đồng tâm khắc hình chim và nai, sau đó là cảnh sinh hoạt, đánh trống đồng, đo bóng mặt trời, cảnh chiến binh trên thuyền v.v. Mặt trời được người Việt cổ coi là nguồn sáng và nguồn sống cho muôn loài. Với quan niệm cha trời mẹ đất, tổ tiên ta đã hiểu rõ những gì thu hoạch được từ đất như củ, quả… không thể có được nếu không có ánh nắng mặt trời. Điều này thật đời thường nhưng cũng rất khoa học. Lúc đó người ta làm gì biết đến diệp lục tố và sự quang hợp như chúng ta ngày nay. Nhưng bằng sự quan sát và so sánh việc được mùa và không được mùa có liên quan chặt chẽ tới sự chiếu sáng của mặt trời người xưa đã hiểu được có sự phối hợp giữa trời và đất để ban của ăn nuôi sống con người, Từ đó hình thành quan niệm lưỡng hợp. Một phía là cái cụ thể có thể nắm bắt là đất, một phía ta biết rõ ràng, có đấy nhưng không thể nắm bắt đó là những gì đến từ trời. Dần dần tổng kết thành các quy luật trời đất có âm, có dương, ý niệm khởi nguồn của Kinh Dịch.
Với quan niệm mặt trời là nguồn sáng, cổ nhân coi mặt trời là khởi nguồn của văn minh, của sự sáng suốt, vì không có ánh sáng mặt trời thì bóng tối che phủ, không thể phân biệt được cao thấp, xấu đẹp, không gian trở thành một khối hỗn mang và trong màn đêm đó không biết bao sự rình rập của quỷ dữ, của ác thú, sinh mệnh con người mong manh biết bao nhiêu, và mọi vật chỉ trở nên sống động thực sự khi mặt trời ló dạng, từ đó con người sùng bái mặt trời. Với người Việt sự sùng bái đã gần như một ý thức về tôn giáo: đạo thờ Trời, thờ ông Thiên và hình ảnh biểu tượng là mặt trời. Với vị trí là tâm điểm trên trống đồng, mặt trời là trung tâm của vũ trụ. Điều này chắc mới dừng ở ý niệm siêu hình, nhưng trong đó ta đã thấy thấp thoáng bóng khoa học rồi.
Trên trái đất không biết bao nhiêu loài thú, tại sao chim và nai lại được coi trọng ngang hàng với con người, được kết hợp với người để tạo thành thế giới 3 thành phần trên mặt trống, coi như hình ảnh thu nhỏ của vũ trụ?
Ta trở lại với Dịch lý. Mọi người đều nhất trí coi Hà và Lạc là một phần của Dịch lý, hoặc là cách diễn đạt Dịch lý thông qua các nút số, một loại diễn đạt khác với Dịch lý vạch quẻ của Bát quái. Vậy Hà là gì và Lạc là gì? Trải qua mấy ngàn năm, các cuộc tranh luận của các bậc trí giả “nhìn xa trông rộng” vẫn còn tiếp tục xảy ra, nào là long mã, nào là thần quy, người thì bảo là thần vật xuất hiện ở Hoàng Hà, rồi Mạnh Hà, rồi Lạc Thủy… Sở dĩ như vậy là tại các vị nhìn một vật ngay trước mắt qua “kính viễn vọng” nên hậu quả là… vẫn còn cãi nhau.
Thật ra khi ta nhìn bằng mắt trần thì sự việc trở nên đơn giản: Hà nghĩa là Trời, Lạc là biến âm của Lục, nghĩa là Đất. Hà Lạc là Trời và Đất, rất rõ ràng. Chính xác phải gọi là Hà thư – Lạc đồ, chứ không thể gọi ngược như trước đây được. Hà thư tức Thiên thư. Lạc đồ cũng là Địa đồ.
Thông điệp trên mặt trống đồng rất rõ ràng. Mặt trời là trung tâm và ở các vòng đồng tâm kế tiếp nhau là Hạc – Nhân – Lộc, tức trên là trời, giữa là người, dưới là đất nối tiếp “chạy” quanh mặt trời. Ta có:
Trời = Hà  → Hạc: chim Hạc hay hồng hạc.
Đất = Lục → Lộc: con nai.
Từ sự việc này gợi ra một ý kiến là: chữ “tượng hình” không phải là loại chữ cổ xưa nhất mà là sự tiếp nối một loại chữ khác có trước, tạm gọi là chữ “nguyên hình”. Ta liên tưởng trong Kinh Dịch phần Thuyết Quái, Khổng Tử viết: “… Ngày xưa họ Bào Hy ngẩng lên xem tượng trời, cúi xuống xem thế đất… quan điểu thú chi văn …” rồi tổng kết lại thành các quy luật Dịch lý. Câu “quan điểu thú chi văn” được hiểu là “nhìn các nét “văn” trên (mình) chim, thú… Nay ta có thể hiểu khác đi là đã có một loại chữ có tên là “điểu thú văn”, tức chữ “nguyên hình”, từ trước khi họ Bào Hy tác Dịch.

Chu nguyen hinh

Lạc đồ đặt nằm ngang và những chữ nguyên hình.

Trong bối cảnh Văn hóa Á Đông ta có thể tìm thêm 4 chữ “nguyên hình” nữa ngoài các chữ “chim hạc” và “con nai” (= Trời và Đất).
Hướng Xích đạo là vùng nhiệt đới được tượng trưng bằng con Hổ. Hổ là biến âm của Hoả, là lửa. Tính của lửa là nóng.
Ngược với lửa là nước, nơi vùng nước này có rất nhiều con Sấu. Sấu là biến âm của Xíu, là nước (âm Quảng Đông). Trong truyền thuyết lịch sử Việt Nam nó là con thuồng luồng, một loài thủy quái hại người. Sau này do biến cố khí hậu loài Sấu ở phía Bắc (cứ tạm gọi như tên hiện nay) bị tiêu diệt nên người xưa thay thế bằng con rùa, tức Quy.
Hướng Đông là biển nên biểu tượng bằng thần vật có công hút nước làm mưa mà người xưa gọi là Rồng hay Long. Trong văn hóa Việt – Hoa, Rồng được coi là chúa tể cai trị thế giới biển cả.
Ai đã từng học Dịch lý đều biết quan điểm hướng Đông là phương động, tượng trưng bởi quẻ Chấn, cũng gọi là quẻ Thìn tức quẻ con rồng. Chính xác phải gọi là hướng động vì Đông là biến âm của động. Theo nguyên lý đối lập của Dịch, phương Tây là tịnh như trong Thuyết Quái của Dịch: cứng mềm cọ sát sinh ra động tịnh. Phương Đông: mềm mà động. Phương Tây: cứng mà tịnh, định.
Việt ngữ có từ kép “định đoạt” để chỉ phương Tây. “Định” là chỉ bên không thay đổi. “Đoạt” là tên khác của quẻ Đoài.
Phương Tây là phương tịnh và ở đó có rất nhiều voi, nên con voi trở thành chữ “nguyên hình” là Tịnh, con tịnh. Như thế ta có thể coi chữ “nguyên hình” là loại chữ tối cổ. Đó cũng là điểm xuất phát của chữ “tượng hình” sau này.
Tổng số ta có được 7 “chữ”:

  • Mặt trời là Trung tâm.
  • Hạc = Trời.
  • Lộc = Đất.
  • Hổ = phương nóng, Xích đạo.
  • Sấu, Quy = phương nước, ngược với phương nóng.
  • Long, Rồng = phương Đông.
  • Tịnh = phương Tây.

Xác định như trên ta có thể khẳng định đất nước Trung Hoa hiện nay không thể là quê hương của Dịch lý được vì không thể tìm được vùng đất nào của Trung Hoa mà phương Đông là biển và phương Tây có voi. Chỉ có miền Trung của Việt Nam mới hội đủ tính chất chỉ định của 6 chữ “nguyên hình” hay “điểu thú văn” như phần trên. Loài Hổ Đông Dương ở Trường Sơn và Nam Lào đã nổi tiếng từ lâu rồi. Về hướng Bắc thì đồng bằng Bắc Bộ vài ngàn năm trước là vùng đầm lầy, chắc chắn lý tưởng cho loài Sấu. Về hướng Đông là biển, đúng là quê hương của Rồng và hướng Tây thì chỉ tên nước Lào “Triệu Voi” cũng đủ minh chứng cho sự khẳng định trên.
Trong lãnh vực tâm linh, tất cả các đền, miếu của Việt Nam đều có hình Hạc hay Hồng Hạc đứng trên mai Rùa tượng trưng cho Trời và Đất. Như thế đã đủ 6 con vật tượng trưng cho 6 cõi của 1 không gian 3 chiều. Người xưa đã dùng những con vật nổi trội ở một vùng đất như một dạng thức chữ, là chữ “nguyên hình”, để chỉ 4 phương. Còn Trung tâm là nơi sinh tụ của cộng đồng người cổ đã tạo nên Dịch lý.
Dịch lý đã là tài sản của cả nhân loại, phát nguyên từ đâu không phải là điều quan trọng đối với thiên hạ. Nhưng đối với người Việt Nam thì khác, nếu không thể làm sáng tỏ về quê hương Dịch lý thì mắc lỗi với tiền nhân. Người xưa đã lao tâm khổ tứ biết bao mới có thể ký thác được những giá trị vĩnh hằng vào trong đấy, làm tài sản cho con cháu vào đời. Quá khứ không phải qua đi là hết. Dòng linh khí từ quá khứ sâu thăm thẳm vẫn liên tục chảy về hiện tại, tạo thành sức mạnh tâm linh vô song cho mỗi người. Dù tiếp nhận trong vô thức, dòng linh khí đó trở thành bản lĩnh sống, thành năng lực bẩm sinh của trí tuệ. Đấy cũng là lý do để ta nỗ lực vượt bực mong tìm được đích xác nguồn gốc dòng giống của mình. Xác định cho được bản quyền dân tộc trên Dịch lý, một siêu phẩm của minh triết và khoa học.

Dịch học và đồ đồng Đông Sơn

Truyền tích bánh dày bánh chưng kể rằng vua Hùng đã già nghĩ ra cách để tìm người kế vị. Vua ra lệnh cho các hoàng tử (các “lang”) ai dâng lên cho vua được món ăn ngon nhất và ý nghĩa nhất sẽ được vua truyền ngôi. Trong khi các anh em đổ đi khắp nơi để tìm của ngon vật lạ thì hoàng tử Lang Liêu vốn cảnh sống rất thanh bạch và không muốn dành ngôi vua nhưng bản tính hiếu thảo nên vẫn băn khoăn không biết lấy gì dâng cho vua cha. Chợt tối ngủ Lang Liêu được một vị thần hiện ra chỉ dẫn: Lấy gạo nếp tinh tuyền đã nấu chín giã ra làm bánh màu trắng hình tròn, đặt tên là bánh dày. Lấy gạo nếp đổ trên lá, giữa cho nhân đậu xanh và thịt heo gói lại thành hình vuông đem luộc chín gọi là bánh chưng. Khi dâng vua, vua cha cho các món ngon vật lạ của các hoàng tử khác đều là tầm thường.
Riêng bánh dày và bánh chưng của Lang Liêu được vua khen ngon và hỏi ý nghĩa thì Lang Liêu tâu: Bánh dày hình tròn, tượng trưng cho trời. Bánh chưng hình vuông, tượng trưng cho đất. Vua khen trời tròn đất vuông là trọn ý nghĩa của đạo trời đất và vua quyết định truyền ngôi cho Lang Liêu.

Trong dong

Trống đồng vuông tròn.

Ta thử giải mã từ “Lang Liêu” trong truyền thuyết trên. Lang là từ Thái ngữ, có nghĩa là thủ lãnh, biến thể sang Hoa và Việt ngữ là Long, nghĩa là con rồng hay Vua. Lang là biến âm của Năm, số 5 trung tâm của Hà thư – Lạc đồ: năm → lăm → lang. Liêu là biế́n âm của Lử̉a chỉ phương nóng, vùng nhiệt đới, hướng Xích đạo, biến âm ra: lửa → ly → la → lê → liêu → lý… Lang Liêu có nghĩa là “vua La” hay vua của người La, Liêu, Lý… “Bánh chưng bánh dày” là biến âm của “bánh trăng bánh giời” hay “bánh trăng bánh trời”.
Bánh dày hình tròn, bánh chưng hình vuông biểu thị cho nguyên lý cơ bản của Dịch học. Trời tròn chỉ sự vô hình vô ảnh… Những gì vẫn có đấy nhưng thị giác con người không thể cảm thụ được. Đường tròn biểu thị sự liên tục không đứt đoạn, khi chuyển sang hệ ký hiệu vạch là vạch liền ────. Đất vuông chỉ vậ̣̣t chất hữ̃u hình, hữu hình nên hữu hạn, biểu thị sự hữ̃u hạn là bờ và mốc, tức 4 cạnh và các góc của hình vuông. Trong hệ ký hiệ̣̣u vạch là vạch đứt chỉ sự gián cách ──   ──. Tròn và vuông cũng chỉ là tên gọi khác của Âm và Dương mà thôi.
Truyền thuyết nói Trời chỉ dạy cho Lang Liêu làm ra bánh Chưng bánh Dày, đồng nghĩa với sự truyền dạy cho hậu thế rằng: vua La là người đã làm ra Dịch học, người La là chủ của thuyết Lưỡng nghi – Tam tài sinh hóa vạn vật.
Lang Liêu là ai và đạo Tròn vuông có liên quan như thế nào với người Việt?
Trên mặt tròn của nhiều trống đồng có 4 hình cóc đắp nổi. Đấy chính là biểu tượng của nguyên lý trời tròn đất vuông. 4 con cóc biểu thị cho 4 góc của hình đất vuông trên mặt trống tròn của trời. 4 con cóc là 4 tiếp điểm của hình vuông và hình tròn. Người chế tạo ra trống đồng nói rất rõ:
Cóc là biến âm của góc hình vuông, cóc → góc (tương tự như: Kà → gà; Cái → gái).
Sự biểu diễn dịch học trên đồ đồng Đông Sơn còn thấy rõ hơn ở mặt thạp đồng Đào Thịnh đã tìm được. Ở nắp thạp đồng tròn 4 con cóc đã được thay bằng 4 cặp nam nữ đang giao hợp, ý chỉ 4 điểm giao của hình vuông và tròn cũng là giao điểm của trời và đất, âm và dương. Trống đồng người Việt xưa gọi là “cối đồng”, Hoa ngữ dịch ra “đồng cửu”, rồi biến âm thành “đồng cổ”. Cửu là cái cối, biến ra “cổ” là cái trống.

Thap dong

Thạp Đào Thịnh.

Tóm lại là có sự liên quan rất rõ ràng giữa Dịch học và trống đồng, hay rộng hơn là đồ đồng Đông Sơn. Sự khẳng định này khiến ta không thể lý giải vì theo chính sử Trung Quốc thì Văn Vương tác Dịch ở tận Thiểm Tây, Bắc Trung Quốc hiện nay và vào thủa ấy người Việt không hề biết Dịch lý là gì, cũng như Văn Vương không hề biết mặt mũi trống đồng, thạp đồng ra sao… Nhưng với những gì đã biết như trên, ta không thể nào kết luận khác hơn là “dân trống đồng”chính là chủ thể đã tác tạo ra Dịch học.
Dịch học còn có cặp quẻ Khiêm nhường – Dự phần, gọi tắt là Khiêm và Dự. Sự sáng suốt nơi con người mách bảo vạn vật và xã hội phát triển theo những quy luật. Các quy luật thì trường tồn và bất biến, con người không thể thay đổi một cách chủ quan, tùy tiện. Công thức về sự chủ động phát triển là: Khiêm nhường – Dự phần.
Muốn “dự phần” hay tham gia cùng trời và đất trong việc biến đổi vũ trụ con người phải biết tôn trọng và vận dụng các quy luật tự nhiên. Một thành tựu đạt được luôn là sự hợp tác con người – tự nhiên. Con người không thể thay đổi quy luật nhưng có thể tác động ở đầu vào để nhận được kết quả ở đầu ra. Như thế gọi là Khiêm và Dự, Dự chính là dự phần vào việc tái tạo vũ trụ.

Khiem DuÝ nghĩa quẻ Dự = Lôi/Địa: Dự nghĩa là tham gia vào là cùng trời cùng đất tạo thành bộ mặt vũ trụ, tài nhân ngang hàng tài thiên, tài địa trong thế tam tài của Dịch học. Một quan điểm triết lý tôn vinh con người rất tiến bộ so với thời đại ấy.
Lời quẻ Dự: Lợi kiến hầu, hành sư.
Quẻ Dự tạo thành bằng quẻ Lôi trên quẻ Địa, sấm nổ trên đất chính là tượng của trống đồng. Lợi kiến hầu nghĩa là dùng vào việc phong tước hầu. Hiện nay có những nhà nghiên cứu lịch sử cho trống đồng là một biểu tượng vua ban khi phong tước cho các công hầu. Nó tựa như một loại ấn tín sắc phong vậy. Đặc biệt trong lễ nghi đạo hiếu của Việt Nam thì các bậc vương hầu dùng trống đồng thay mặt người dân của mình để tế tổ tiên của cộng đồng. Chữ “lợi” ở đây có nghĩa là “được dùng để” (ngờ rằng sau chữ “lợi” còn có chữ “dụng” nhưng bị bỏ mất). Lợi kiến hầu nghĩa là dùng trong việc phong tước hầu. Lợi hành sư nghĩa là dùng để hành quân, quân theo tiếng trống mà tiến hoặc lùi hoặc sang phải, sang trái, công hoặc thủ v.v. Trống đồng trở thành một quân khí dùng trong quân sự.
Lời tượng của quẻ Dự: Lôi xuất địa phấn, dự, tiên vương dĩ tác nhạc sùng đức, ân tiến chi thượng đế, dĩ phối tổ khảo. Dịch nghĩa: Sấm vang trên mặt đất là tượng quẻ Dự, các bậc tiên vương làm ra nhạc đề cao đạo đức, long trọng dâng lên thượng đế cùng với anh linh tiên tổ.
Trống đồng còn gọi là trống sấm, là loại trống duy nhất khi đánh để úp xuống đất, nên lời tượng nói: lôi xuất địa phấn. Tiên vương tức tiên đế nhà Chu là Văn Vương, Vũ Vương, Chu Công… Chữ “tác nhạc” cho thấy rõ ràng trống đồng là một nhạc cụ dùng trong các buổi lễ tế. Nó chính là tổ tiên của văn hóa cồng chiêng ngày nay. Nhiều nhà nghiên cứu vẫn còn đang đặt câu hỏi: trống đồng dùng để làm gì hay công dụng của nó ra sao? Lời quẻ và lời tượng quẻ Dự đã chỉ rõ 3 công dụng:

  1. Trống đồng dùng như một lệnh bài sắc phong tước vị.
  2. Dùng làm hiệu lệnh điều quân.
  3. Dùng trong âm nhạc ở các buổi tế lễ long trọng.

Qua lời quẻ và lời tượng của quẻ Lôi/Địa Dự việc liên hệ giữa Dịch học và trống đồng là điều không thể phủ nhận. Chỉ với những khám phá trên đủ khẳng định: Dân tộc là chủ nhân của trống đồng cũng chính là dân tộc đã sáng tạo Dịch học. Dịch học dứt khoát không phải là sản phẩm của nền văn minh Hán. Dân tộc sống ở lưu vực Hoàng Hà không hề biết trống đồng là gì vào thời những chiếc trống đồng cổ xưa nhất được dùng.

Trống đồng, bức thông điệp ngàn năm

Trống đồng có nhiều hình dạng, nhiều thời, do đó cũng nhiều mảng thông tin khác nhau. Ở đây bàn về thông điệp trên mặt trống đồng Ngọc Lũ. Mặt trống gồm 1 tâm và 3 vòng đồng tâm.

Trong Ngoc Lu

Tâm trống và vòng đồng tâm số 1: nhân sinh quan Việt

Tâm trống là mặt trời đang chiếu sáng. Vòng tròn số 1 là cảnh sống, sinh hoạt của con người.
Tâm trống đồng luôn luôn là mặt trời, mọi kiểu trống mọi thời đại đều như thế. Điều  này cho thấy có sự thống nhất và xuyên suốt nguyên tắc cơ bản trong hệ tư tưởng Việt: Mặt trời là trung tâm vũ trụ cũng chính là hình ảnh đại diện cho “ông trời” siêu hình.
Ông Trời là đấng tối cao mà quyền năng chi phối tất cả nhưng lại thân thiết gần gũi như cha mẹ nên người Việt hay gọi: “Trời đất ơi! Cha mẹ ơi!”.
Mặt trời phát ra ánh sáng cũng là phát ra sự sống. Trong tiếng Việt “sáng” và “sống” gần như là một âm. Phần hồn, tức anh linh nơi con người chính là một phần của cái khối sáng vĩ đại ấy, đến trái đất nhập vào thân xác vật chất thành ra con người sống động có thần. Thần tính ấy được quẻ Kiền gọi là Long hay con Rồng. 6 hào của quẻ Kiền là hình ảnh tượng trưng của 6 giai đoạn bay lên từ đất tới trời cao.
Khi đã đi hết đoạn đường trần thế thì xác trả về cho đất hồn trở về trời. Chính vậy mà mặt trời với người Việt trở thành chốn linh thiêng vì tổ tiên ông bà ngự nơi đấy. Quẻ Lôi/Địa Dự viết: “lôi xuất địa phấn tiên vương dĩ tác nhạc sùng đức ân tiến chi thượng đế dĩ phối tổ khảo” cũng là lẽ này. “Cầu dâng lên trời mà cũng là để ông bà mình hưởng” đã chỉ ra: anh hồn tổ tiên đang ở chung với ông trời hay đấng tối cao…
Cuộc sống miên trường không bao giờ dứt, có chăng chỉ là chuyển đổi dạng thức tồn tại từ dương sang âm mà thôi. Hay nói theo dân gian là chuyển địa chỉ từ dương trần sang âm phủ.
Cuộc sống vẫn tiếp nối chỉ chuyển dạng tồn tại mà thôi, đấy là triết lý về sự sống – chết của người Việt đã được Kinh Dịch thể hiện. Hay nói cách khác: tâm và vòng đồng tâm thứ nhất của mặt trống đồng Ngọc Lũ đã thể hiện “nhân sinh quan” của người Việt. Cuộc sống sinh động nhưng hữu hạn vì có sinh, có biến đổi ắt có tử. Duy nhất chỉ nơi tâm vòng tròn là bất biến nên bất tử. “Sinh” là từ cõi Hằng bước sang cõi “Biến”. Qua một thời gian dạo chơi trần thế để biết mùi “đời” rồi “tử”, tức là trở về nơi đã ra đi. Người đời nói  “sinh ký tử quy” (sống gửi thác về) nghĩa là vậy. Nhưng ta phải luôn nhớ không phải ra đi làm sao thì trở về làm vậy. Vì qua thời gian ở cõi “biến” ta đã thành người khác. Sáng hơn hay tối hơn là tùy những gì ta đã làm nơi dương trần với tư cách con người có ỵ́ thức và chủ động trong hành vi của mình.
Với nhân sinh quan như vậy nên người Việt là dân tộc có hiếu nhất thế giới. Chữ Hiếu được nâng hẳn lên thành một tôn giáo, gọi là đạo “Hiếu” hay đạo thờ ông bà. Cao nhất là thờ ông ‘Thiên”, tổ của cả loài người. Với quốc gia thì thờ quốc tổ, làng thì thờ “thành hoàng”, tộc họ thì có nhà thờ họ và trong mỗi nhà đều có bàn thờ “gia tiên”… Trong nhân sinh quan người Việt thì quá khứ – hiện tại – tương lai, sống và chết, là sự biến đổi tiếp nối tuần hoàn không có chấm dứt. Thế nào rồi cũng có ngày phải về gặp các cụ. Lúc đó ăn làm sao, nói làm sao? Chính vì vậy nên phải lo liệu ngay từ bây giờ. Công đức tạo nên không phải chỉ để cho đời này mà là công đức cho mọi đời. Ngoại trừ những tay “siêu bịp” thì ai được kính trọng ở đời này ắt cũng được kính trọng ở đời sau và ngược lại kẻ bị người đời nguyền rủa thì cũng sẽ bị nguyền rủa đời đời.

Vòng đồng tâm thứ 2: xướng danh dân tộc

Là người Việt không ai mà không biết huyền tích Kinh Dương Vương kết duyên cùng Long Nữ, con gái Động Đình Quân. Kinh Dương Vương nghĩa là vua phương Nam. Long Nữ hay Long Mẫu, con gái Động Đình Quân – vua phương Đông. Sự hợp huyết 2 dòng phương Nam và phương Đông là sự hoàn tất việc đúc kết tạo nên người Việt. Cũng vì lẽ này người Việt rất đỗi tự hào khi nhận mình là “con Rồng cháu Tiên”.
Những thông tin tạo nên tuyền thuyết này đều xuất phát từ Hà thư. Trong đồ hình Hà thư số 6 hay 6 nút trắng nằm ở phía Nam, số 8 nằm ở phía Đông. Phương Nam ngoài số 6 còn có số 1 nên phương Nam còn là phương của Đế Tiên hay bà Vũ Tiên. Vì lẽ này người Việt mới nhận mình là “cháu Tiên”.

Ha thuHà thư.

Theo Hậu thiên Bát quái phương Nam, số 6 còn là phương của nước, tức quẻ Khảm. Nước tiếng Việt cổ là nác – lác – Lạc. Đây chính là từ Lạc trong Lạc Long Quân và Lạc Việt.
Trong Hậu thiên Bái quái phương Đông, số 8 là quẻ Chấn hay Thìn, tức con Rồng. Hoa ngữ là Long.

Hau thien bat quai

Hậu thiên bát quái.

Tới đây đã rõ câu “con cháu Tiên-Rồng” hay dòng giống Lạc – Long là chỉ sự hợp nhất giữa 2 dòng người ở phương Nam số 6 và phương Đông 8 theo Hà thư vào thời Hùng Việt Vương –  Tuấn Lang.
Mặt trống đồng Ngọc Lũ đã thể hiện những thông tin lịch sử này ở vòng tròn thứ 2 bởi nửa vòng tròn khắc hình 6 con chim và 10 con nai và nửa vòng tròn còn lại là 8 con chim và 10 con nai. Ở đây tiền nhân người Việt đã  sử dụng những nút số của Hà thư, đặc biệt số 10 lại không được coi là 10 (số chẵn) mà coi như là 2 số 5, là số lẻ.
Các nút trắng – chẵn của Hà thư được thay thế bằng hình Chim và nút đen – lẻ được thay thế bằng con nai.
Nhìn lại Hà thư với các nút chẵn:

  • 10 con nai và 6 con chim chỉ người họ Hùng phương Nam, con cháu của Kinh Dương Vương.
  • 10 con nai và 8 con chim chỉ người họ Hùng phương Đông, con cháu của Long Nữ hay Long Mẫu.

Ý nghĩa thể hiện ở vòng tròn đồng tâm thứ 2 trên mặt trống đồng chính là sự tự xưng danh tính của chủ nhân trống đồng Ngọc Lũ. Dân tộc ấy chính là dòng giống Tiên – Rồng hay Lạc – Long, Tiên – Long, xác lập bởi các cặp số (6/10) và số (8/10).
Nếu không có số 10 chỉ dùng số 6 và số 8 sẽ bị hiểu là: người nước ngoài ở phía Nam và Đông nước ta. Người Việt xưa đã thêm mẫu số 10 để nói rõ đấy là: người họ Hùng, thuộc chi phương Trung – Nam và chi phương Trung – Đông.

Vòng đồng tâm thứ 3: ước vọng dân tộc trường tồn

Vòng đồng tâm thứ 3 của mặt trống đồng có tổng cộng 18 cặp chim, mỗi cặp có 1 chim lớn đang tung cánh bay và 1 con chim nhỏ đang tung tăng trên mặt đất. Từng cặp như vậy nói lên   sự nối tiếp liên tục, hễ tre già thì măng mọc, cha mẹ già khuất núi thì con cháu lớn lên, cứ như thế mà tiếp nối mãi.
Trong Dịch học chim Hạc hay Hồng hạc là chữ của điểu thú văn chỉ Trời cao, chỉ thời gian và những yếu tố văn hóa phi vật thể. Hà → hạc. Con nai Hoa ngữ là Lộc, biến âm của “lục”, là số 6, cũng là Đất, cũng là chữ điểu thú văn dùng chỉ Đất, chỉ không gian và những yếu tố văn hóa hữu hình hữu thể.
Trong danh sách 18 đời Hùng Vương có vị vua Hùng Việt Vương hiệu Tuấn Lang, Đây cũng chính là Sơn Tinh hay Tản Viên Sơn Thánh quốc chúa đại vương. ‘Tuấn” là tên chữ ký âm của ‘Tản” tiếng Việt. Sơn Tinh cũng là một vị Kinh Dương Vương (canh = 6, giêng = 1), nghĩa là chúa phương Nam vì trong Tiên thiên Bái quái quẻ Cấn là sơn – núi, chỉ phương Nam.
Truyền thuyết nói Kinh Dương Vương kết duyên cùng Long Nữ như đã xác định ở vòng tròn thứ 2 mặt trống đồng Ngọc Lũ, phải chăng là nói về sự thống nhất dòng Tiên và Rồng để tạo ra “dòng giống tiên Rồng” ở triều đại Hùng Việt Vương – Tuấn Lang? Từ “người Việt” bắt đầu có từ đây.
Những cặp chim ở vòng tròn thứ 3 trên mặt trống đồng Ngọc Lũ là loài chim Diệc. Diệc là  phát  âm của người Nam Bộ. Âm Bắc là Việt. Chính là từ Việt trong đế hiệu Hùng Việt Vương – Tuấn Lang.
Số 9 là “cửu”. Cửu cũng có nghĩa là lâu dài. 18 là trùng cửu (9×2), đồng âm với “trường cửu”, nghĩa là mãi mãi bất tận. Điều này xin đừng vội cho là cưỡng ép vô lối vì chính người Hoa cũng hay dùng lối đồng âm gán nghĩa này, như họ kiêng số 4 vì đọc là “tứ”, cận âm với “tử”, là chết. Bạn cũng đừng ngạc nhiên khi họ tặng bạn chiếc quan – tài… vì “quan” ở đây được hiểu là sự thăng quan tiến chức, “tài” hiểu là tấn tài tấn lộc, nghĩa là chúc có thêm tiền.
Như thế những hình tượng trên vòng đồng tâm thứ có nghĩa sau:

  • Chim Diệc đang tung cánh bay là chỉ dân tộc Việt trong vòng thời gian.
  • Mỗi cặp chim 1 trưởng thành 1 còn non chỉ sự nối tiếp kế thừa.
  • 18 cặp là trùng cửu (2 lần 9), cũng là trường cửu.

Vòng đồng tâm thứ 3 trên mặt trống đồng Ngọc Lũ với 18 cặp̣ chim Diệc là bản văn ngắn gọn nhưng rất rõ ràng: “Dân tộc Việt đời sau nối đời trước, cứ như thế tồn tại mãi mãi”.
Tới đây thì  ta hiểu rõ tại sao vua Đông Hán ra lệnh cho mặt ngựa (Mã Diện hay Viện) tịch thu và phá hủy cho bằng hết trống đồng của người Việt. Ý đồ của chúng là biến người Việt thành đám con hoang không cội nguồn, đồng thời chặt đứt ước nguyện trường tồn của dân tộc này… Nhưng trời xanh có mắt…
Việc giải mã được những thông tin chứa trên mặt trống đồng Ngọc Lũ đưa đến hệ quả hết sức quan trọng với người Việt:

  • “Con Rồng cháu Tiên” không còn là truyền thuyết lịch sử mà chính thức trở thành lịch sử, một lịch sử được ghi chép rõ ràng trên sách “đồng” bằng ngôn ngữ Dịch học đã phổ biến lưu truyền 3.000 năm nay.
  • Truyền thuyết lịch sử Việt không phải chỉ có 1 chuyện “con Rồng cháu Tiên”, mà là cả một hệ thống những truyền thuyết tương đối hoàn chỉnh, chứa đựng những thông tin của một thời gian dài mà ngày nay gọi là thời tiền sử. Chỉ cần minh xác được 1 đoạn trong cái chuỗi thông tin liên hoàn ấy cũng đủ để ta “lượng giá” về tính xác thực của cả hệ thống   truyền thuyết lịch sử đang lưu truyền.
  • Lịch sử và văn minh Việt có liên hệ “máu thịt” với Dịch lý từ khi người Hán chưa đặt chân tới mảnh đất này. Những trống đồng cổ nhất có đến 3.000 năm tuổi đã trở thành vật chứng chắc chắn, rõ ràng nhất giúp khẳng định: Dịch lý là thành tựu trí tuệ tuyệt vời của tiền nhân người Việt ngày nay.

Dịch học hình tượng

Con người chúng ta tư duy bằng 2 hệ thống dấu hiệu chính: hệ thống dấu hiệu âm thanh và hệ thống dấu hiệu hình ảnh. Đơn vị của hệ thống dấu hiệu hình ảnh là Tự hay Chữ. Tự nối kết với nhau thành Văn. Còn đơn vị của hệ thống dấu hiệu âm thanh là tiếng, nối kết nhau thành Điều. Ta hay dùng như một từ kép “điều tiếng”.
Gọi là 2 hệ chính vì còn các hệ thống dấu hiệu cá biệt khác như hệ thống chữ nổi của người mù được cảm nhận bằng xúc giác và hệ thống dấu hiệu cử chỉ dành cho người câm.
Trước khi có văn tự con người vẫn có tư duy, khám phá và chuyển giao thành quả, tức vẫn có tiến bộ. Dịch học tuần tự có 3 hệ thống:
– Dịch lý nút số.
– Dịch lý vạch quẻ.
– Dịch lý bằng văn tự.
Dịch học là tư duy của con người xưa. Vậy khi chưa có Dịch nút số con người suy nghĩ dựa trên cơ sở nào?
Trước Dịch học nút số đã có một nền Dịch học khác, đó là Dịch lý “hình tượng”, tức lấy chính các hình ảnh và hiện tượng tự nhiên làm Dịch tượng ̣để tư duy.

Hinh tuongKhi tìm hiểu về Dịch lý ta thường nói: Càn là trời, Khôn là đất, Ly là lửa… Như thế là đã đi ngược tiến trình của Dịch học. Đúng ra ta phải nói: Trời là Càn, Khôn là Đất… vì từ những hình tượng có thực trong cuộc sống người ta mới nén thông tin vào trong các Dịch tượng tạo thành hệ thống dấu hiệu làm công cụ cho tư duy.
Dịch lý thô sơ dựa trên các hình tượng đã hệ thống hóa sau. Dịch học hình tượng lấy Trời và Đất hay bầu trời và quả đất để biểu thị cho không gian. Lấy Mặt trời và Mặt trăng để biểu thị cho ngày và đêm, tức chỉ thời gian. 4 quẻ còn lại biểu diễn cho cái không gian hẹp, tức khuôn khổ trong đó con người ta sinh sống.
Dịch học nói: tại thiên thành tượng, tại địa thành hình. Hình ảnh biển cả và đất liền được dùng để tượng trưng cho mặt địa cầu là cái nền chở đỡ và dưỡng nuôi loài người. Đất và nước luôn đi đôi trở thành từ kép “đất nước”, đồng nghĩa với tổ quốc của mỗi người.
Hiện nay người ta cho là quẻ Đoài là cái hồ, thực ra không phải vậy. Khi nói Đoài là hồ, Cấn là núi là đã giảm tầm cỡ của Dịch lý. Kích cỡ của cái hồ hay quả núi có thấm tháp gì so với sự mênh mông của mặt địa cầu nên không thể nào trở thành một nguyên tố của Dịch học. Chỉ có biển cả hay đại dương, đất liền hay đại lục mới đủ tư cách gánh vác trách nhiệm đại biểu đó.
Tại thiên thành tượng. Hai hiện tượng tự nhiên trên bầu trời có ấn tượng sâu sắc trong đầu thánh nhân khi tác Dịch là: sấm sét và bão gió. Trời thì trong suốt đâu có nhìn thấy gì đâu, nhưng qua các hiện tượng chúng ta biết vật chất vẫn tồn tại ở đó. Thứ vật chất mà Dịch học gọi là nhẹ và trong, nhận định có 2 thể loại vật chất, một là chất đục và nặng, có thể nhân biết dễ dàng, còn một thứ trong suốt nên chỉ có thể nhận biết một cách gián tiếp thông qua các hiện tượng. Ở đây Dịch học chọn sấm sét và gió bão, chỉ cái không gian bao la trên đầu con người.
Bốn hình tượng: biển – đất và sấm – gió đủ để vẽ nên sinh cảnh của con người lúc ấy.
Từ 8 hình tượng của tự nhiên người xưa đã nén thông tin tạo thành 8 quẻ của Dịch học “tự nhiên”, tức Dịch học tiên khởi trước cả Dịch học nút số. Dịch học tự nhiên là tư duy của người Việt cổ hàng chục vạn năm cho tới khi được Dịch học nút số thay thế.
Hình tượng của Dịch lý tự nhiên sau đã tạo thành 8 quẻ (Bát quái):
– Trời tạo thành quẻ Kiền hay Kiện.
– Đất tạo thành quẻ Khôn hay Xuyên.
– Mặt trời hay ban ngày tạo thành quẻ Ly hay La.
– Mặt trăng hay ban đêm tạo thành quẻ Khảm hay Cống.
– Biển cả tạo thành quẻ Đoài hay Đoạt.
– Đất liền hay đại lục tạo thành quẻ Cấn hay Căn.
– Sấm sét tạo thành quẻ Chấn hay Thìn.
– Bão gió tạo thành quẻ Tốn hay Toán.
Dịch học hình tượng là Dịch học thô sơ. Sau này khi khối tri thức lớn thêm, đầu óc càng ngày càng mở mang và khi con người đã “chất biến” thì Dịch học cũng đổi thay. Dịch học nút số thay thế Dịch học tự nhiên. Hình tượng trở thành Dịch tượng với các thông tin chứa ở trong sâu xa và trừu tượng hơn.
Các hình tượng của Dịch lý tự nhiên đã cho chúng ta các thông tin về sinh cảnh lúc ấy:

Nơi sinh sống của cộng đồng người đã phát minh ra Dịch học là vùng ven biển.

Nơi đất liền với biển, từ cảnh quan cho đến sự cung ứng thực phẩm hàng ngày đều đến từ một môi trường kép “biển và đất”, từ đó mới sinh ra lưỡng nghi “Đoài và Cấn”. Quẻ Cấn còn được coi là tượng trưng cho “núi”. Việt ngữ có từ kép “khuất núi” để chỉ sự chết. Ý nghĩa này bắt nguồn từ việc mặt trời lặn ở hướng Tây. Với ý này ta thu được thông tin: người “tác” Dịch sống ở nơi phía Tây là núi và phía Đông là biển.
Thực vậy, chỉ có sống ở nơi ven biển mới có thể nhìn thấy đường “chân trời” nơi mút tầm mắt, từ đó nảy ra ý niệm: trời như cái bát úp trên mặt đất, chân trời là nơi cái miệng chén đặt trên mặt đất. Vũ trụ quan đơn sơ này chính là khởi nguyên của “trời tròn đất vuông” là ý niệm cơ bản trong Dịch học.
Xét như thế ta khẳng định Dịch học không thể ra đời ở vùng Thiểm Tây – Sơn Tây, cái nôi của Hán tộc, vì đấy là vùng đất nằm sâu trong đất liền. Ở nơi mà chỉ có cát với cỏ thì làm sao có thể tưởng tượng ra cặp lưỡng nghi Đoài và Cấn?

Cặp hình tượng “sấm sétgió bão” chỉ ra rằng cộng đồng người đã sản sinh ra Dịch học sống ở nơi mà mưa bão, sấm sét là chu kỳ lặp đi lp lại hàng năm.

2 “thiên tượng” này phải là một nếp hằn sâu đậm trong đầu óc người cổ thì nó mới có thể được cấp cho “tính đại biểu” của phần không gian hẹp trên đầu con người, tức là 1 lưỡng nghi của Dịch học. Sấm và bão ngoài sự hoành tráng vốn có nó còn là sống còn của cư dân nông nghiệp sau này vì sấm luôn kèm với mưa, mà mưa là yếu tố quyết định của canh tác lúa nước. Người Việt đã tổng kết “nước – phân – cần – giống” đủ biết mưa quan trọng như thế nào trong đời sống. Mưa bão sấm sét là một sự liên hoàn luôn đi với nhau nên thành 1 lưỡng nghi của Dịch học: Chấn và Tốn.
Lại thêm một khẳng định: quê hương của Dịch học không thể ở ngoài vùng “Châu Á gió mùa” vì chỉ ở vùng này Chấn và Tốn mới có tính chu kỳ và ảnh hưởng sâu sắc trên cuộc sống con người. Sơn Tây – Thiểm Tây, cái nôi của Hán tộc, rất ít mưa và hầu như không có sấm sét là hiện tượng sinh đôi của mưa bão, thử hỏi làm sao có thể tưởng tượng ra Chấn với Tốn?
Tổng kết thông tin trong bài viết này ta có: Dịch học đã ra đời ở Việt Nam. Cụ thể hơn là ở vùng đồng bằng Thanh Nghệ Tĩnh, nơi mà phía Đông là biển, phía Tây là núi. Nơi mà hằng năm gánh không biết bao nhiêu là bão gió – sấm sét. Nơi mà bên Đông có rồng, bên Tây có tịnh, hướng Bắc (hướng của Dịch lý, tức hướng Xích đạo) có hổ và hướng Nam (xưa) có đầy thuồng luồng như đã chép trong truyền thuyết và trên trời nhiều hạc, mặt đất đầy hươu nai.
Riêng về loài nai thống kê khảo cổ học cho biết ở đất Việt cách nay vài ngàn năm hươu nai là loài thú săn chiếm tới trên 50% trong tổng số thú bắt được. Cá biệt có nơi xương hươu nai chiếm tới trên 75%. Vì điều này chúng ta hiểu được tại sao Dịch học nút số dùng số 6 là lục hay lộc, tức con nai, tượng trưng cho mặt đất nơi mình sinh sống. Ở Thiểm Tây – Sơn Tây có nai hay lộc nhiều như thế hay không?
Tớí đây ta có thể tạm kết về Dịch học hình tượng. Dịch học hình tượng là một hệ thống gồm:

  • 8 hình tượng tự nhiên: Trời – đất, mặt trời – mặt trăng, biển cả – đất liền và sấm sét – gió bão.
  • 6 chữ nguyên hình (điểu thú văn): Hạc – lộc – hổ – sấu – long – tịnh.

Và các hình tượng đặc biệt:

  • Mặt trời: là nguồn sáng, cũng là nguồn sống được coi như biểu tượng của đấng tối cao và được nhân cách hóa thành ông trời.
  • Con người: là trung tâm của vũ trụ nơi xuất phát mọi giá trị.
  • Biểu tượng bộ phận sinh dục nam, người Viêt gọi là “nõn” hay “lõ”, người Chăm gọi là “Linhga”.
  • Biểu tượng bộ phận sinh dục nữ, gọi là “nường” hay “lường”, người Chăm gọi là “Yoni”.

Linhga và Yoni chính là biểu tượng xưa nhất của Âm và Dương, được coi như một biểu tượng tôn giáo trong các nền văn hoá Chăm và Khơme cổ. Người Việt xưa vẫn có tục rước “nõn- nường”. Sử sách Trung Hoa chép: Chu Công đã cấm tục thờ sinh thực khí, tức “nõn-nường” trong ngôn ngữ Việt hiện nay. Linhga và yoni đã được xác định chính là Âm và Dương trong 2 danh từ “âm hộ” và “dương vật”, tức bộ phận sinh dục nữ và nam.
Như vậy qua bài viết này ta thấy Dịch học hình tượng là khởi nguyên của Dịch học, nền Dịch học ra đời từ khi con người còn chưa biết đến chữ, dù là loại chữ “kết thằng” cổ xưa, và nó đã đồng hành cùng con người cả trăm ngàn năm. Cùng với tiếng nói hay “điều – tiếng”, Dịch học tự nhiên đã trở thành cái nền của tư duy, khám phá, ứng dụng và truyền thông. Dịch học hình tượng là căn đế của một nền văn minh vô cùng rực rỡ nhưng đang tạm thời bị vùi lấp và cũng đang dần toả sáng./.

Phường Trường Súng

Trích bài viết của L. Cadière đăng trong Những người bạn của cố đô Huế, BAVH năm 1925.
Bản dịch của Hà Xuân Liêm, NXB Thuận Hóa, 2002.

II. NHỮNG HỒI KÝ VỀ CHÚA NGUYỄN
Chúng tôi sẽ không cho bắt đầu phường Trường Súng từ hướng cực Đông của con đường mang cùng tên với phường này. Như vậy chúng tôi sẽ phải nói đến toàn bộ vùng Phủ Cam. Người ta đã cho con đường Trường Súng một chiều dài quá mức. Con đường này đã được phân ra, và phần bên dưới từ cầu chợ Phủ Cam xuống đã được đặt là đường kè bờ sông mang tên là Forçant. Con đường này sẽ còn rút ngắn lại nữa, và điều này hợp lý. Vậy chúng ta sẽ khởi hành từ nhà ga, vì từ đó đến nơi ra khỏi thành phố, con đường dẫn tới Trường Súng, rất đáng được mang cái tên của di tích lịch sử này.
Con đường Trường Súng này như đã được định ranh giới cho đến xưởng máy vôi Long Thọ, hai bên đường được bao viền bởi nhiều dấu vết kỷ niệm mà các chúa Nguyễn của Huế, qua tiến trình nhiều thế kỷ, đã để lại nơi đây.

*
**

Tôi không hiểu có còn một bản đồ về phường Nhà Ga không, vì trước khi xây dựng con đường sắt làm sao khỏi dẫn đến sự đảo lộn hoàn toàn vùng đất này, có một số di tích lịch sử rất lý thú có thể đã bị phá hủy mà kỷ niệm về chúng đã bị quên lãng hẳn, hoặc chỉ được lưu giữ bởi những người mà người ta không dễ gì đến hỏi han tham cứu. Trong vùng đất mà ngày nay người ta dựng lên xưởng làm nước đá của ông Bogaert, ngày xưa đã có những chuồng nuôi voi của nhà chúa. Chúng ta cũng sẽ thấy những chuồng khác nuôi voi ở thượng lưu, gần Trường Súng. Xưa kia, nhiều đội tượng binh được lập rải rác ở nhiều nơi. Chính trong Hoàng cung cũng có một đội tượng binh, và những đội khác thì có chuồng nhốt ở trung tâm làng Kim Long. Tôi đã nói ở một bài khác, tất cả những điều có liên quan đến các con vật đi diễu hành và đi đánh trận này (BAVH, 1922). Hôm nay tôi không nói lại ở đây nữa.
Những chuồng voi này được thiết lập trên con đường phục vụ giao thông cho chuyến đò ngang gọi là đò Trường Súng. Con đò này tạo sự thông thương giữa bờ phải với bờ bên trái con sông. Nếu người ta tiếp tục đi theo con đường này về hướng Nam, thì có một đoạn giốc đứng dẫn lên đỉnh một vách đứng thống ngự gần nhà Ga, và con đường đã kéo dài ra bởi đoạn mà các bản đồ của Sở Công chánh gọi là đường “song song phía Tây”, ngày xưa đường này thường được dùng trước khi người ta cho mở đại lộ Nam Giao.
Về phía trái, người ta thấy có ngôi chùa Phật giáo là chùa Báo Quốc, mà ông Labonde đã kể cho chúng ta biết về lịch sử của nó (BAVH, 1917), và về phía phải có hai ngôi miếu quan trọng: miếu Lịch Đại, và miếu thờ vua Lê Thánh Tôn. Miếu Lịch Đại, được xây dựng trên đất Dương Xuân, và được dành để thờ “các triều vua chúa” ngày xưa (*). Miếu này được xây dựng vào năm Minh Mạng thứ tư, như bức hoành ở gian giữa miếu đã chỉ rõ điều này: “Minh Mạng năm thứ tư, tháng năm, ngày tốt tạo lập (9 Jiun – 8 Juill. 1823). Toàn bộ được trở mặt về hướng Nam và gồm có ngôi miếu chính năm gian, hai nhà tả hữu vu, ngôi tả vụ bên trái ở hướng Đông, ngôi hữu vu bên phải ở hướng Tây. Ở gian chính giữa của ngôi miếu chính người ta thờ các vị hoàng đế huyền thoại hoặc thuộc lịch sử vào thời đầu của đế quốc Trung Hoa. Gian thứ nhất bên trái, nghĩa là gian về hướng Đông tôn trí những bài vị của các vị vua thuộc cổ tích, hoặc có tính cách bán lịch sử của nước Nam, người ta đã phối thờ vào gian này vị vua lập nên triều đại quốc gia đầu tiên là Đinh Tiên Hoàng. Gian thứ nhất bên phải, hướng Tây, được dành để thờ các vị vua sáng lập ra triều đại nhà Tiền Lê, các vị Hoàng đế chính của triều đại nhà Lý. Gian thứ hai bên trái và bên phảo được kính cẩn dành để thờ một số vị vua đời nhà Trần và nhà Hậu Lê. Cuối cùng, hay dãy tả vu hữu vu tôn trí những bài vị các vị công thần của các vua nói trên, mười lăm vị thờ ở tả vu và mười lăm vị thờ ở hữu vu. Vua Minh Mạng thích định quy tắc thờ tự một cách tỉ mỉ cũng như mọi điều khác, nên vào năm 1830, ngài cho chạm bài vị Sãi Vương, để đưa vào thờ ở Văn Miếu, một cách thuần túy và đơn giản, ngài đã bỏ những tôn thờ vinh dự dành cho vua Lê Anh Tôn. Vào năm 1835, ngài cho thỉnh bài vị Thái Công Vọng vào thờ ở Võ Miếu.
Với toàn thể các ngôi nhà ấy, ở đàng sau còn có một ngôi nhà để sửa soạn đồ lễ cúng hiến, tất cả được một bức tường không cao lắm bao quanh. Trước mặt tiền chính,  người ta cho xây lên một cổng tam quan có 3 cửa vào miếu mà ngày xưa có trình bày nhiều câu văn khắc, cả bên trong lẫn bên ngoài. Trên của chính giữa, ở bên trong người ta đọc được câu văn khắc: “Khi nhìn ở phía trước thì quang cảnh này rất tuyệt diệu” và câu văn khắc ở bên ngoài là: “Các vị hoàng đế và các vị quốc chúa kế vị nhau“. Trên hai cửa ở bên trái, hướng Đông, ở bên phải, hướng Tây thì bên phía trong khắc: “Nguyên tắc về lễ mà các đấng tiên vương đã vạch ra, chói lọi trong sử sách thời quá khứ“, và “Ảnh hưởng đáng trọng của chư vị tiên vương đem lại thái bình an lạc cho Nam quốc“; và ở phía ngoài khắc: “Danh thơm về đạo đức của các tiên vương hiện nay vẫn còn phảng phất nơi đây cũng như trong các thế kỷ quá khứ” và “Quy tắc trị nước cũng lan truyền khắp phương Bắc phương Nam“. Những câu chữ khắc này nay không còn nữa.
Năm Thành Thái thứ 14 (1902), đều được trùng tu toàn bộ. Điều này không muốn nói rằng miếu đang ở tình trạng tốt (ĐNNTC, q.1 tờ 16).

*
**

Miếu thờ Lê Thánh Tôn cũng không còn. Miếu đã bị triệt hạ và người ta chuyển hết vật liệu đi nơi khác, để dùng vào các công việc khác. Người ta không còn thấy gì hơn là cái nền miếu, những mảnh vụn của tường thành và phần bên dưới cổng vào mà phần trên của nó đã được xây theo một kiểu thức đặc biệt. Miếu này không quan trọng bằng miếu Lịch Đại, mà chỉ có một mái nhà ở giữa với phần máu nhô ra trước mặt. Miếu này xây về mặt hướng Đông. Vị hoàng đế mà người ta thờ trong đó thì ngày xưa, tại Huế, cũng đã có một miếu thờ riêng, nhưng miếu này đã bị hư hoại từ lâu, khi vua Gia Long cho xây lại miếu này, vào năm 1809, ở phía Đông và có hơi xích xuống phía miếu Lịch Đại…. (Lược đoạn nói về vua Lê Thánh Tôn).

*
**

Nếu từ miếu Lịch Đại, người ta đi theo con đường “song song hướng Tây”, leo qua nhiều ụ đất nhỏ màu hơi đỏ, thì khi đi hết hai hoặc ba trăm mét người ta đến một ngôi miếu được dành để thờ Hỏa Thần, miếu dựng trên địa vực làng Phú Xuân.
Ngôi miếu này vừa được cải dụng; chính quyền đã nhượng lại cho Đệ Cửu, thuộc thành phố Huế (phường Nhà Ga) là đình phường tại đây và thờ các vị thổ thần vùng ngoại ô.
Chính vào năm Minh Mạng thứ 5 (1824), nhà vua đã xuống dụ xây dựng miếu Hỏa Thần, ngài đã phong cho vị Hỏa Thần một đạo sắc phong. Hằng năm, ngày 23 tháng 6 âm lịch, người ta phải dân tế thần một lễ tam sinh: trâu, heo, dê và xôi. Các quan tỉnh Thừa Thiên được ủy nhiệm cúng tế, và 9 người dân làng Phú Xuân được giao cho việc canh gác, giữ gìn ngôi miếu. Vào năm 1825, việc xây miếu hoàn thành, vua Minh Mạng đã ban hành một chỉ dụ cho tổ chức lễ khánh thành vào ngày 15 tháng 6 âm lịch (30 Juillet) để làm lễ “an vị thần vị” của thần. Một đại biểu của Lục bộ đứng làm chánh tế biểu lễ.
Ngày xưa, miếu Hỏa Thần được xây dựng trong kinh thành, ở phía Bắc kinh Ngự Hà, trên địa vực làng Phú Xuân. Tôi không tìm được tư liệu chỉ rõ năm nào thì đền được chuyển về vị trí mà chúng tôi đang nghiên cứu hiện nay.
Vào năm Đồng Khánh nguyên niên (1886), người ta thiết thêm ở miếu này nhiều thần vị của các Hỏa Bác Thần mà ngôi miếu của Hỏa Bác Thần vừa bị triệt hạ.
Ngôi cổ miếu thờ Hỏa Bác Thần cũng có lịch sử của nó. Chính vào năm 1826, vua Minh Mạng đã cho xây dựng miếu này. Vua đã ban hành một sắc chỉ về vấn đề không kém thú vị để nghiên cứu tín ngưỡng của người nước Nam.
Súng đại bác có một tầm quan trọng cực kỳ trong nghệ thuật chiến tranh; sức mạnh phá địch của súng do một oai linh đáng sợ mà có. Tuy nhiên cho đến bây giờ, người ta chưa hề có một sự thờ cúng thần đại bác. Vậy, Trẫm xuống dụ cho các quan có thẩm quyền chọn một nơi thích đáng và xây lên một ngôi miếu tại đó, và người ta sẽ tôn thờ vị đại bác thần tại miếu này, vài những lúc phải có, thì lễ cúng bái thần được cử hành tại miếu. Ngoài ra, Trẫm sẽ phong cho vị thần này tước hiệu: “Linh Uy viễn Chấn hỏa Bác chi Thần”. Các quan phải tuân theo lời dụ này. Miếu sẽ được xây trên địa vực làng Phú Xuân, hàng năm, vào ngày mùng một tháng 9 âm lịch, các quan phải dâng một lễ tế ở miếu này cũng như ở miếu Hỏa Thần, một quan Quản vệ của súng Đại bác và Hỏa thần sẽ đứng ra chủ tế trong lễ này; 9 người dân làng Phú Xuân được giao nhiệm vụ giữ miếu“.
Vào năm 1836, vua Minh Mạng đã quy định việc thờ cúng tám khẩu đại bác đã được chở vào Sài Gòn vào những năm trước, trong dịp nổi loạn của Lê Văn Khôi, sau đó súng lại được đưa về Huế sau khi khôi phục được thành Gia Định (Sài Gòn) và quân nahf vua chiến thắng. Tám khẩu thần công này đã nhận được sắc phong tước để thờ cúng. Đó là “Thần Vũ Phá địch Thượng tướng quân Bác vị Oai linh chi Thần”. Tước này được khắc trên biển đồng của một khẩu súng, Một ngôi đền được dựng lên để thờ tám khẩu đại bác thần công này; mỗi năm trong đền đó, vị quản vệ Thần công và Đại bác sẽ lo liệu sửa lễ dâng cúng tám vị thần công này. Một chỉ dụ khác đã quy định chỉ rõ việc thờ cúng các khẩu thần công này, trước khi xây dựng ngôi đền, trong chính xưởng để súng; tại đây một ông Quản vệ của Thần công và Đại bác cũng đã phải dâng biện một lễ cúng vào ngày mồng 2 tháng 9 âm lịch mỗi năm. Người ta thấy rằng vua Minh Mạng đã nôn nóng để tỏ sự biết ơn của ngài đối với những khẩu đại thần công đã đem lại chiến thắng cho ngài đối với cuộc nổi loạn đáng sợ đã đe dọa ngôi báu của ngài.
Vào năm 1844, vua Thiệu Trị cho đặt vào miếu Hỏa Bác Thần, một số thần vị của vài ba khẩu súng cũng được nâng cao giá trị thiêng liêng của chúng lên. Một chỉ dụ lạ lùng đã dành để nói về việc này: chỉ dụ ấy đã cho chúng ta biết lịch sử của các khẩu súng đó và đồng thời, nó cũng cho chúng ta biết về những tình cảm của nhà vua.
Ngày xưa, người ta rất thánh phục cây cung và những mũi tên. Ngày nay người ta đã sáng chế ra súng thần công, chúng đã bỏ xa sau lưng chúng tất cả những vũ khí về quân sự và chúng nắm hết mọi giá trị về chiến tranh.
Đấng cao hoàng Gia Long của Trẫm, được trời phú cho tất cả mọi phẩm chất, về quân sự cũng như về nhân sự, đã chỉ hay những đạo quân của ngài với sự thành công trọn vẹn và đã bình định được toàn quốc gia. Trong những trận đánh của ngài, ngài đã sử dụng một khẩu súng có giá rất đắt, khẩu súng có tiếng nổ uy nghiêm của sấm sét, và nó làm cho khắp nơi đều run sợ. Nhờ vào thứ vũ khí đó, ngài đã phục hưng được triều Nguyễn và nhất thống toàn quốc dưới vương quyền của ngàu, và nhờ nỗ lực của ngài, ngài đã mở rộng biên cương của quốc gia. Thứ vũ khí này, mạnh hơn tất cả các thứ vũ khí mà người ta đã từng thấy, nó đã vượt qua cả Kiếm Hán và Cung Đường.
Dưới triều Minh Mạng, phụng du nhà vua, khẩu súng này đã nhận tước phong là “Võ Công Lương khí Bửu thương”.
Hoàng đế Minh Mạng, phụ hoàng của Trẫm, mà đức độ của ngài đã thấm nhuần toàn vương quốc và võ công của ngài đã vang dội vượt qua cả biên giới, vào mùa xuân, ngài đã đi săn để giải lao. Vào ngày hôm đó, trong vùng mà người ta đã bao vây, có một con cọp rất lớn, nhảy từ núi ra, bắt người để ăn thịt, mà không có ai dám đuổi nó. Phụ hoàng của Trẫm, đầy dũng khí uy nghi đáng sợ, đã chụp ngay khẩu súng quý mà ngàu thường dùng, kê súng lên vai và bắn chết ngay con cọp hung dữ, và như vậy, ngài đã giải thoát cho những người dân luôn luôn lo sợ quanh vùng. Khẩu súng ấy được phụ hoàng Trẫm ban cho tên là “Sát Hổ thương” (Về khẩu súng này, xin xem bài: Lăng Gia Long (L. Cadière) trong BAVH, 1923). Sau đó, ngài luôn luôn dùng khẩu súng này trong những cuộc săn bắn mà ngài tổ chức để săn các động vật phá hoại mùa màng.
Khi Trẫm còn nhỏ, Trẫm thường theo hầu phụ hoàng; ngài đã dạy cho Trẫm những quy tắc lễ giáo, Trẫm đã luyện tập võ nghệ. Phụ hoàng Trẫm đã ban cho Trẫm khẩu súng quý mà ngài thường sử dụng nó, ngài dạy Trẫm tập bắn cho trúng đích; nhờ hồng ân đấng cao xanh, Trẫm đã ngắm bắn trúng đích, và khẩu súng được phong tên là “Toản Võ thương”.
“Ngày xưa, vào thời nhà Hán, người ta đã xây dựng một ngôi miếu, trong đó thiết lập sự thờ tự cây kiếm; vào thời đại nhà Đường, người ta đặt vào xưởng quân giới một cây cung lớn và một cây tên dài, mà người ta thường tôn thờ cung tên ấy khi có lễ tế Trời, tế Đất; người ta đặt lễ vật trước những vũ khí ấy, để tỏ lòng cầu nguyện mà người ta muốn cầu cho sức mạnh chiến trận của chúng. Hiện nay, người ta dùng súng đại vác và súng thường để đánh quân địch với sức mạnh hơn nhiều, những thứ vũ khí ấy bẩm sinh một sức mạnh siêu nhiên, vậy nên Trẫm hạ chỉ dụ rằng khẩu “Võ Công Lương Khí Bửu Thương”, sẽ được gọi “Thần Võ Phá Địch Đại Tướng Quân Oai Linh chi Thần”. Khẩu súng tay “Sát Hổ thương”, bên cạnh tên gọi cũ, được phong tước “Thần Võ Oai Linh Đại Tướng quân…” Khẩu súng “Toản Võ Thương”, ngoài tên thường gọi, cũng sẽ được gọi “Thần Võ Hộ Quốc Oai Linh, Đại Tướng quân…“.
Các đạo sắc phong được giao cho súng, các bài vị để dành cho súng để thờ trong miếu “Hỏa Bác Thần”, có mục đích nhắc người ta nhớ lại giá trị của các vũ khí bằng cách thờ tự chúng liên tục, và trong các lễ cúng hiến thường kỳ, nhắc người ta nhớ lại các vũ khí đó mà quân nổi loạn bị dẹp tắt và dân được hưởng hòa bình.
Trong các gian ở hai bên miếu thờ, người ta sẽ đặt hai ban thờ thứ cấp, trên bàn thờ bên trái, sẽ thờ vị thần “Võ Công…” và thần súng “Sát Hổ…”; trên bàn thờ bên phải người ta dành để thờ thần súng “Toản Võ Thương”. Ở mỗi bàn thờ, cũng như ở mỗi bàn thờ tại Hỏa Bác thần miếu, mỗi năm, người ta dâng cúng một con heo luộc, một mâm xôi, và ba mâm quả. Vị Quản Vệ Thần Công và Đại Bác sẽ đứng chủ lễ lễ tế này”.
Ngày nay, sau việc cải dụng miếu Hỏa Bác Thần, việc thờ tụng tất cả các vị thần có tiếng nổ như sấm vang và có sức phá hoại, nhưng lại là những vị thần bảo hộ sức mạnh của quốc gia ấy, được đem thờ, theo như người ta nói với tôi, trong miếu Hội Đồng, xây trên địa vực làng Triều Sơn.
Theo tín ngưỡng dân gian An-nam, tất cả mọi vật đem lại sự phụng sự con người đều được xem là có bẩm sinh đức hạnh đặc thù cần phải bồi đắp, bởi vì đức hạnh này có thể hiển lộ ra, khi con người có vận may hạnh phúc; hoặc nó có thể tạo nên sai lầm, và lúc đó chính là sự thiệt hại cho con người. Hơn nữa, những vật này đều được xem như nằm dưới sự che chở của một vị thần, vị thần này sẽ sử dụng chúng theo ý muốn để đem lại phúc hoặc họa cho con người. Cũng chính một số trong các vật này, khi chúng mang tính cách dị thường, hoặc bởi những công việc lặp đi lặp lại mà chúng đã đem đến cho con người, hoặc bởi những tai họa mà chúng gây ra cho con người, thì đều được xem đó là chính những vị thần và phải tôn thờ như vậy. Ở đây không phải là nơi để nói rộng về các lý thuyết này, cũng không phải là nơi để dẫn ra những ví dụ, vì chúng nhiều vô số. Mặt khác dân gian còn tôn thờ nhiều yếu tố, trong số đó thì “Bà Hỏa” giữ một vai trò quan trọng nhất.
Chúng ta thấy rằng sự thờ cúng chính thức của nhà nước thuận theo những tín ngưỡng thờ cúng của dân gian. Thần Súng, mà vua Minh Mạng đã cho dựng miếu thờ, và theo những quy định đã ghi thành văn bản, chính quyền địa phương phải dâng vật cúng nhiều lần trong năm cho thần súng thờ trong miếu đó, đều phù hợp tương ứng với “Bà Hỏa” mà dân gian tôn thờ. Mặt khác, các khẩu đại bác vốn có một hỏa lực mạnh, và chúng đã đảm trách những công việc không gì sánh nổi cho vương quốc: bởi vậy , chúng được đặt dưới sự bảo hộ của một vị thần, vị thần này đã ban cho chúng sức mạnh mà chúng hiện có, và vị thần này đã đặt sức mạnh này vào việc phụng sự Quốc GIa. Vậy phải đền đáp những ân huệ của vị thần này bằng sự thờ phụng chính thức. Cũng vì vậy mà một vị quan có phẩm trật cao coi về Thần Công và Đại Bác tức là quan Quản Vệ, được giao trách nhiệm lo biện lễ thờ cúng vị thần ấy.
Ngoài những khẩu đại bác và những súng cầm tay được thần hóa mà chúng ta vừa nói đến, thì một số khác cũng đã nhận được những vinh dự như vậy. Mọi người đều biết những khẩu Đại Thần Công, có 9 khẩu tất cả, được đặt trước cửa Ngọ Môn. Đó là những “Vị chỉ huy tối cao của quân đội hay là những vị Đại Tướng Quân, mà tính cách Uy Nghi của các vị Đại Tướng Quân ấy cũng ngang với với vẻ Uy Nghi của các vị Thần, không có gì sánh nổi” (BAVH 1914). Linh mục Kofffler vào năm 1750, cũng đã thấy được những khẩu thần công tương tự đặt ở cổng vào chính dinh của Võ Vương, một vị chúa Nguyễn ở Huế; và ông Dampier, một khách du lịch người Anh đã sống ở Thăng Long (Hà Nội) vào cuối thế kỷ thứ XVII, cũng đã thấy được một khẩu đại thần công như thế và cũng giữ nhiệm vụ của vị thần siêu phàm bảo hộ cho vương quốc, đặt trước cung ohur Trịnh Căn (BAVH, 1915). Những khẩu đại thần công hiện nay ở Hoàng Cung, cũng như những khẩu đại thần công ngày xưa, hẳn đã mang tính cách tôn giáo. Chúng đã mang tính chất này ở nơi chiều kích của chúng, tính chất này tưởng chừng là có một sức mạnh rất lớn. Nhưng, những súng cầm tay đơn giản cũng đã có sức mạnh của một vật siêu phàm, như vua Thiệu Trị đã nói về điều này trong chỉ dụ của ngài. Bởi vậy, người ta phải thờ tự tôn sùng các vị thần công ấy, hay đúng hơn là vị thần đã trao cho chúng sức mạnh của chúng. Tôi nói cái gì nhỉ? Những ống đồng tầm thường mà buổi chiều, khi đêm xuống, buổi sáng, vào lúc bình minh, người ta cho nổ lệnh đóng mở các cửa Kinh Thành; và, vào buổi trưa, cho nổ để chỉ nửa ngày thì đều được những người lính có phận sự giữ để cho nổ lệnh ấy gọi là “Ông Linh”, và họ cũng tổ chức việc cúng bái thờ phụng chúng, thật là thô lỗ và ấu trĩ, hay là cúng bái ông thần đã cho chúng tính năng hiệu lực đó (**).

*
**

Không phải là không có ý định mà người ta đã đặt ở vùng này những ngôi miếu thờ Hỏa Thần và thờ Hỏa Bác thần. Cẩ hai ngôi miếu ấy có quan hệ chặt chẽ với nhau với một toàn bộ những kỷ niệm có liên quan đến pháo binh.
Chúng ta thấy ngay rằng, những xưởng đúc súng đại bác đều đặt ở một hoặc hai cây số trên đỉnh đồi vùng chúng ta đang đứng; và, không xa các xưởng đúc đại bác là các kho thuốc súng. Chúng taooi đã nói đến chuyến đò ngang, gần nhà Ga, làm phương tiện nối vờ phải của con sông với bờ bên trái, có tên là đò Trường Súng, có nghĩa là “trường bắn súng đại bác”. Chính là chuyến đò ngang này đã đưa những toán lính ở Vệ Hỏa Pháo sang sông để đi lên trường bắn. Chính Trường Súng lại nằm cạnh miều Hỏa Bác Thần, ngày nay trở thành đình chung của phường Đệ Cửu. Thực vậy, trước đền này, trên bờ những đám ruộng như tấm thảm xanh của vùng thung lũng nhỏ, có một cái giếng cổ, tất cả dân làng lân cận đều ăn uống nhờ nước giếng này; bởi vậy, giếng phải có từ thời rất xa xưa. Giếng có cái tên gọi là giếng Trường Bia. Giếng này nằm ở cực hạ của miitj miều trũng nhỏ, vùng trũng này dài khoảng một trăm mét, rộng từ hai mươi đến ba mươi mét, trũng này tách ngọn đồi nhỏ trên đó người ta xây miếu Hỏa Bác Thần với một mô đất khác trên đó, chính giữa các vườn tộng, người ta xây lên ngôi chùa Huệ Lâm thuộc Phật giáo theo lời những người dân ở vùng đó thì chính trong vùng trũng này người ta đã thực hiện những lần tập bắn. Hẳn đây là sân tập bắn súng cầm tay, vì, đối với việc tập bắn đại bác, thì phải tập ở một nơi khác như chúng ta sẽ đến xem sân bắn đó, ở phía Tây miếu thờ Đại Bác thần. Thật là thú vị khi đến viếng chùa Huệ Lâm. Sát bên chùa , có một cái giếng cổ, hiện nay đã cạn, với hang cột bằng nề đỡ cái tời (treuil) gang ngang, ngày xưa dùng kéo gàu múc nước. Hơi xa một ít, người ta cũng thấy một cái mộ nhỉ, được trang trí một mô típ mỹ miều của ngành điêu khắc, tháp mộ nhỏ này trà táng xương cốt của nhà sư gọi là “Thiền sư, Hòa thượng Tịnh Công, được vua ân ban thụy hiệu này“.

*
**

Về phía Tây của ngôi miếu Bác Hỏa Thần, những ngọn đồi nhỏ tiếp nhau hạ thấp dần sườn đồi xuống một cách nhẹ nhàng và chìm sơn mạch xuống cánh đồng bằng toàn ruộng. Tại cánh đồng đó có hai mô đất lớn, gọi theo tiếng nước Nam là “Hòn Mô” tức là “những mô đất để làm bia bắn”, nhắc lại dấu tích trường tập bắn súng của Pháo binh. Cả hai mô đất trường bắn đều nằm trên địa vực làng DươnG Xuân Hạ. Mô thứ nhất nằm gần thôn Xuân Giang, mà chúng ta sẽ đến xem tức khắc, vì vấn đề là cung vui chơi của Võ Vương gần đấy; mô này đo được 32 bộ chiều dài, 20 bộ chiều rộng và gần 2m chiều cao. Mô thứ hai, không xa miếu Thành Hoàng, có chiều kích gần bằng mô trên, nhưng nó lại cao hơn nhiều: dài 35 nộ, rộng 15 bộ và cao gần đến 5. Cả hai gò đất ấy, ngày nay đều giảm thấp xuống và đã bị cây cỏ hoang dại xâ, chiếm; nhưng những chiều kích của chúng còn lưu dấu có thể cho ta đoán được tầm quan trọng ngày xưa và công dụng của chúng vậy.
Người ta nói đến việc xây dựng “Một sân bắn cho súng đại bác” vào năm 1747, trong tháng 9 âm lịch, kéo dài từ mồng 4 tháng October đến mồng 3 Nomvembre. Chính dưới triều Võ Vương, vị chúa đã tổ điểm nhiều cho Huế, và chúng ta sẽ gặp tức khắc một kỷ niệm mới. Người ta không nói rõ nơi mà trường bắn này đã được lập, nhưng một cách chắc chắn là nơi mà chúng tôi hiện đứng đây.
Thực vậy, tôi không biết chỗ nào khác, trong các vùng quanh Huế, có mang cái tên Trường Súng này. Người ta đã tập bắn súng đại bác ở Thanh Phước, những bục bắn ở đây được dành cho các khẩu súng của Thủy quân; bục bắn này được sử dụng vào đầu thế kỷ thứ XIX, nhưng Biên niên triều Nguyễn lại nói rõ là việc xây dựng từ 1642. Cũng vậy, bục bắn mà Dutreuil de Rhins đã thấy ở Thuận An, vào năm 1876, dùng để tập bắn súng tay. Hơn nữa, thật là bình thường khi cho rằng Trường Súng nằm cạnh vùng mà tại đó người ta đúc hỏa pháo; thế mà, người ta đã biết điều này, từ hơn một thế kỷ, xưởng đúc đại bác lại nằm khoảng chưa đầy một cây số phía bên trên vùng mà chúng tôi đang đứng. Một lý luận mới lại xuất hiện từ sự hiện hữu cung điện mùa hạ của Vĩ Vương, ở cách trường bắn vài trăm mét về bên trên. Chúng ta đang ở vào năm 1747. Thế mà, từ khi lên ngôi chúa từ năm 1738, Võ Vương đã không ngừng xây dựng cung điện; vào năm 1744, tất cả đều hoàn thành; nói một cách đúng đắn, thì cách một khoảng ngắn nằm phía trên sân bắn, đã có cung Trường Lạc dùng làm nơi nghỉ mát cho Võ Vương. Vị chúa này đã thường tổ chức những cuộc nghỉ ngơi tại đây. Hiển nhiên là Võ Vương đã xây dựng trường bắn đại bác không xa cung điện của ngài, để kiểm soát những bài tập luyện đội quân hỏa pháo của ngài. Vậy, một cách chắc chắn là trường bắn mà chúng tôi đang nói đây thì sự thiết lập nên nó đã được nói đến trong các tập Biên Niên Sử năm 1747.
Trường bắn này không phải là vô dụng. Pierre Poive, thương gia người Pháp đã đến Huế vào thời này, đã cung cấp cho chúng ta chứng cứ. “Ngày 10 [Novembre 1749]. Tôi đã đến viếng một ông quan lớn hay còn gọi là quan Hieou tlaon(***). Ông quan này có nhiệm vụ tập luyện bắn súng đại bác, ông đã gởi cho tôi biết những lời biện giải của ông mà ông không có khả năng nhận cho tôi, và ông đã cầu xin tôi hãy lui tới nhà ông ba hoặc bốn lần trong tháng này [12 hoặc 13 Nomvembre]”.
Tôi tin rằng những bục bắn này cũng đã được dùng để làm bãi tập cho những Vệ Hỏa Pháp và vệ lính bộ, trong tiến trình của thế kỷ thứ XX. Nhưng tôi không thể dựa ý trên một tư liệu nào cả….
(Lược bỏ đoạn cuối).

* Lịch Đại Đế Vương Miếu – Con đường đi đến miếu này khá khó tìm. Người ta đi theo con đường lớn Nam Giao, và ngay sau khi đi ngang qua đường sắt ngã vào Đà Nẵng, thì quay về phía phải, đi dọc theo cổng chắn của nhà ga, và leo lên cái dốc dẫn đến cách núi đá thẳng đứng thống ngự cả vùng nhà ga; một con đường đất nhỉ, đi khá khó khăn, dẫn đến miếu Lê Thánh Tôn và đến miếu Lịch Đại Đế Vương – hoặc là, sau khi đi qua kênh Phủ Cam ở cầu Ga, đi theo đường Trường Súng, vượt qua con đường ga ngập nước, và sau độ một trăm mét đi theo con đường chạy về phía trái, xuyên qua đường đi Quảng Trị, và các lối của xưởng sửa chữa, leo lên cái dốc dần đến đỉnh vách núi đá thẳng đứng thống ngự vùng nhà Ga, và tiếp tục đi đến miếu Lịch Đại. – Người nước Nam thường đọc thành Lịch Đợi hay Lịch Đại.
** Cũng là một điều thú vị để nói rằng, hoặc theo quan điểm lịch sử, hoặc theo quan điểm niềm tin của An-nam, về miếu thờ thần Mưa được xây dựng gần đền thờ Thần Súng. Hai miếu thờ này đã dự phần vào cùng một vòng thờ phụng, cũng như sự thờ phụng các vị Thần khác nhau: thần nước, thần bốn mùa, thần gió; các miếu thờ các vị thần này đều được xây dựng trong vùng Thuận An, ở cửa con sông Hương, và sự thờ phụng các vị thần núi.
*** Ông Hữu Trọng, danh hiệu thường để gọi một trong bốn vị quan lớn của vương quốc, mà danh hiệu hành chánh của ông là “Nội Hữu”.

Thần Xương Cuồng và thánh Không Lộ

Truyện Mộc tinh của Lĩnh Nam chích quái chép:
Đất Phong Châu thời thượng cổ có một cây lớn gọi là cây Chiên đàn cao hơn ngàn nhẫn, cành lá xum xuê, không biết che rợp tới mấy ngàn dặm, có chim hạc đến đậu nên đất chỗ đó gọi là Bạch Hạc. Cây trải qua mấy ngàn năm khô héo mà biến thành yêu tinh, thường thay hình đổi dạng, rất dũng mãnh, có thể giết người hại vật.
Kinh Dương Vương dùng nhạc mà đánh thắng yêu, yêu hơi chịu nhún nhưng vẫn nay đây mai đó, biến hóa khôn lường, thường ăn thịt người. Dân phải lập đền thờ hàng năm thường tới 30 tháng Chạp, theo lệ phải mang người sống tới nộp, dân mới được yên ổn. Dân thường gọi yêu là thần Xương Cuồng. 

Tác giả Đặng Tiến trong bài Cọp, từ Mộc Tinh đến ông Ba Mươi đã đưa ra nhận định rất xác đáng rằng thần Xương Cuồng được nói đến trong Truyện Mộc tinh là thần Hổ. Trong bài viết tác giả đã so sánh dữ kiện lệ cúng thần Xương Cuồng vào 30 tháng Chạp với tên gọi dân gian của Hổ là ông Ba Mươi. Tác giả cũng dẫn bài Thần Hổ của Phạm Đình Hổ kể lại trong Vũ trung tùy bút:
Làng Ngọc Cục ở huyện ta (Đường An, Hải Dương) khi xưa truyền rằng vẫn thờ yêu hổ phải bắt người làm việc hy sinh để cúng (…) Đó cũng như cái tục Nhâm Ngao tế thần Xương Cuồng vậy. Từ năm Canh Thân 1800 trở về sau thói ấy mới bỏ.
Từ nhận định thần Xương Cuồng là thần Hổ, nay xin bổ sung thêm một số dữ kiện. Thứ nhất là trong Huyền học (Kỳ môn độn giáp) có vị hung thần là Bạch Hổ Xương Cuồng 白虎猖狂. Đây là thông tin cho mối liên hệ trực tiếp giữa lốt hổ và thần Xương Cuồng.
Loài hổ được coi là Chúa sơn lâm, không chỉ vì đó là loài thú dũng mãnh nhất trong rừng. Những chuyện kể về hổ dữ thường gắn với những cây cổ thụ to lớn, nơi hổ rình ăn thịt người. Có lẽ vì lý do đó mà người xưa cho rằng hổ là tinh của cây gỗ lớn lâu năm.

keo-hanh-thien-3-1024x683
Bức chạm thần thú ở chùa Keo Hành Thiện (Nam Định).

Cây “Chiên đàn” là loài cây được nhắc đến trong các chuyện cổ. Ngoài Truyện Mộc tinh trong Lĩnh Nam chích quái còn nhắc tới cây Chiên đàn ở Truyện Rùa vàng, là cái cây mà yêu tinh Gà trắng khi hóa thành chim Cú sáu chân ngậm lá thư bay lên đậu để tấu với Ngọc Hoàng. Có thể thấy cây Chiên đàn như thế gắn với các loài yêu tinh, quỷ quái. Vậy Chiên đàn là cây gì?
Phép phiên thiết cho ta một bất ngờ: Chiên đàn thiết Chàn hay Chằn. Thì ra Chiên đàn là tên ghi âm Nôm của từ Chằn. Chằn tinh chỉ loài yêu quái nói chung. Như thế, gọi là cây Chiên đàn tương đương với gọi đó là Mộc tinh mà thôi.
Tiếp theo, tại sao lại gọi Hổ là ông Ba mươi và cúng thần Hổ Xương Cuồng vào ngày 30?
– Trong thập nhị địa chi thì chi thứ 3 là chi Dần (Tý, Sửu, Dần…). Chi Dần hình tượng là con Hổ.
– Còn trong thập can thì số 10 là số Kỷ – Cả hay Kỵ.
Như thế 30 nghĩa là Kỵ Dần, tức là ngày cúng Hổ, rất đúng với tên gọi và phong tục.
Theo thông tin của báo Phú Thọ thì trong cuốn Thiên Nam vân lục liệt truyện (tân biên) của Nguyễn Hãng, hiệu Nại Hiên tiên sinh, quê làng Dòng (Xuân Lũng, Lâm Thao) viết vào thời Lê Thánh Tông (1460 – 1479) có truyện Quỷ Xương Cuồng, phần đầu truyện giống như Truyện Mộc tinh. Phần tiếp theo kể:
Đến thời Đinh Tiên Hoàng, nhà vua mời một đạo sỹ tên là Vân Du dùng thuật lạ mới giết được con quỷ điên này. Thuật lạ bao gồm: Kỵ (cưỡi), can (xào), điếu (câu), hiểm (vỗ tay) thường tổ chức vào dịp cuối năm để dâng hiến các thần, cũng có thể dùng để lừa quỷ điên.
Kỵ là cưỡi ngựa phi chạy, lựa mình nhặt lấy vật rơi dưới đất.
Can là nằm ngửa dùng chân nâng gậy để người khác quất vào đầu gậy mà không đổ.
Điếu là làm cầu phi vân cao 12 thước, bện đay làm chão dài 26 thước, buộc hai đầu chôn dưới đất mắc lên cây mà đi lại, chạy nhảy, treo mình, cúi ngửa trên cây mà không ngã xuống.
Hiểm là vỗ tay nhảy nhót, hoan hô, lăn đi lật lại, tiến lui lên xuống.
Những trò chơi này thường có chuông trống náo loạn, có ngâm vịnh, nhảy múa góp vui. Trong lúc bày cuộc vui náo nhiệt, thờ phụng, quỷ điên vui vẻ hưởng lễ, không để ý đến việc khác, Vân Du lừa lúc nó không đề phòng, đọc câu quyết thần bí rồi dùng kiếm chém chết. Bộ hạ của quỷ điên chạy tan tác cả. Từ đó yêu khí hết, dân chúng yên ổn làm ăn.
Vị pháp sư diệt thần Xương Cuồng ở đây tên là Vân Du (trong Lĩnh Nam chích quái gọi là Văn Du Tường). Trong một bài trước đã từng nhận định, vị pháp sư này chính là Dương Không Lộ. Dương = Tường, Vân Du tương đương nghĩa với Không Lộ.

keo-hanh-thien-1024x683Bức chạm ở chùa Keo Hành Thiện.

Thông tin của Phú Thọ ở trên cho hay đoàn tạp kỹ của pháp sư Không Lộ gồm 4 người, với tên gọi là theo các tiết mục mà họ trình diễn (cưỡi, sào, câu, vỗ tay). Trong Lĩnh Nam chích quái thì những người này tên là Thượng Kỵ, Thượng Can, Thượng Hiểm, Thượng Đát, Thượng Toái, Thượng Câu, diễn các trò nhảy, lăn, phi, vỗ tay, hò hét… Ở bài trước cũng đã xác định vết tích của 6 vị Thượng này là các Thánh Tượng (thiết Thượng) đầu gỗ của trò rối Ôi Lỗi, còn lưu diễn đươc tới nay ở các di tích thờ Không Lộ thiền sư.
Nay với nhận định thần Xương Cuồng là thần Hổ thì có thể thấy việc Không Lộ thiền sư chữa bệnh cho vua Lý hóa hổ chính là thành tích diệt thần Xương Cuồng của vị đại pháp sư này. Nhận đình này thêm một lần nữa xác định người diệt thần Xương Cuồng thời Đinh – Lý chính là Không Lộ thiền sư.

keo-hanh-thien-2-1024x472Các Thánh tượng đầu gỗ của chùa Keo Hành Thiện.

Câu đối ở chùa Keo Hành Thiện (Xuân Hồng, Xuân Trường, Nam Định) nơi thờ Không Lộ thiền sư:
法是天仙心是仸
鄉為聖祖國為師
Pháp thị thiên tiên tâm thị phật
Hương vi thánh tổ quốc vi sư.
Dịch:
Phép là tiên trời, tâm là phật
Quê tôn thánh tổ, nước tôn thầy.
Phép là tiên trời, tức là phép của đạo sĩ. Tâm mới từ bi như phật. Đây cũng chính là giáo lý của phái Không Lộ: tu tiên và lấy đức theo phật, chứ không phải tu phật. Không Lộ thiền sư là vị thánh tổ của đạo phù thủy nước ta, người đã trừ loại yêu quái hung hiểm nhất là Hổ Xương Cuồng.

Đất Thái Bình đã có lịch sử 3000 – 2000 năm

Bài viết trích trong sách Thái Bình với sự nghiệp dựng nước Vạn Xuân của hai tác giả Phạm Minh Đức và Bùi Duy Lan (2008).
Năm 1990 – 1991 trong lúc một số tác giả viết bài cho rằng thế kỷ thứ VI chưa có Thái Bình vì vậy Thái Bình không thể là quê hương, là đất dấy nghĩa của Lý Bí… thì giáo sư Vũ Tự Lập và những cộng sự của ông đã đi điền dã khắp vùng châu thổ sông Hồng, đặc biệt là Thái Bình. Sau những chuyến đi thực tế một hội thảo khoa học đã được tổ chức và cuối cùng Nhà xuất bản Khoa học xã hội đã ra mắt bạn đọc sách “Văn hóa và cư dân vùng đồng bằng sông Hồng“. Sách đưa ra bản đồ lịch sử phát triển châu thổ sông Hồng, theo đó thì “Đất đai thuộc huyện Hưng Hà, Quỳnh Phụ và phầ lớn đất đai thộc huyện Tiên Hưng, Thư Trì, Thụy Anh có lịch sử từ 3000 – 2000 năm. Hầu hết phần đất các huyện Vũ Tiên, Đông Quan, Thụy Anh có lịch sử 2000 -1000 năm. Vùng Nam Kiến Xương, Tiền hải và một phần Thái Ninh cũ có lịch sử từ 1000 năm trở lại đây theo xu hướng muộn dần.
Không chỉ ngày nay các nhà nghiên cứu mới đưa ra tuổi của đất Thái Bình – Long Hưng mà từ xa xưa một số sách của người Hán cũng đã viết về vùng đất này…
(Lược bỏ một đoạn dẫn các thư tịch về đất Thái Bình từ xưa)
Ngoài nguồn tư liệu thư tịch đã nêu Thái Bình còn lưu nhiều truyền thuyết về thời Hùng Vương, thời An Dương Vương. Đặc biệt có truyền thuyết về Triệu Đà, về Đường Thâm (nay là Đồng Sâm) lấy vợ, đền Đồng Sâm và nhiều nơi trong vùng đã lập đền thờ Triệu Đà và Trình Hoàng hậu.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Chương (Cục Bảo tồn bảo tàng, nay là Cục Di sản văn hóa) trong bài “Về tình hình phân bổ các di tích lịch sử thời các vua Hùng” Thái Bình có 244 di tích thờ các vị thần thời Hùng Vương đến thời Triệu Đà. Trong khi đó ở hai tỉnh Vĩnh Phúc , Phú Thọ (nội Văn Lang) chỉ còn được 432 di tích. Cả tỉnh Hà Tây chỉ có 164 di tích. Thái Bình là tỉnh có mật độ thờ các công thần thời Hùng Vương cao nhất cả nước”.
Việc thờ các thần thời Hùng Vương, có người cho rằng dân từ các miền đất nước đến Thái Bình hội cư đã đem theo cả các vị thần từ quê gốc về Thái Bình? Qua dẫn chứng đã nêu và qua khảo sát thực tế chúng tôi thấy những nơi thờ các công thần thời Hùng đều là những miền đất cổ của Thái Bình, những làng có tên Nôm và hầu hết ở các huyện Hưng Hà, Quỳnh Phụ, Vũ Thư, Đông Hưng, Kiến Xương. Một phần đất Kiến Xương cắt về Tiền Hải, một phần đất của Đông Quan xưa cắt về Thái Thụy. Ở những vùng dân cư khai phá thời Trần, Lê không có các công thần thời Hùng vương. Thời Hùng Vương nước ta có 15 bộ, đất Thái Bình thời ấy thuộc bộ Lục Hải.
Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng vào các năm 40-43 diễn ra ở Thái Bình rất sôi động. Nhân dân Thái Bình đã hưởng ứng cuộc khởi nghĩa với tinh thần quyết tử cho tổ quốc quyết sinh.
Câu nói bất tử của nữ tướng Cẩm Hoa ở làng Lộ Xá (nay là thôn An Liêm xã Thăng Long huyện Đông Hưng) còn vang vọng đến ngày nay: “Ta sinh ra vì việc nước, chết vì việc nước, chết cũng như sống vậy” với ý chí ấy nhân dân vùng Hương Đường – Vũ Thư đã “đốt tre tươi mài thành mũi giáo, đập mảnh vại làm gươm” để giết giặc. Cả nhà họ Triệu đã hy sinh vì nước. Tấm gương trung liệt ấy đến kẻ thù phải thán phục. Hơn một trăm năm sau Sĩ Nhiếp khi làm Thái thú Giao Châu đến thăm đền phải ghi tặng “Nhất gia trung liệt hiển Giao Châu” (Một nhà hy sinh oanh liệt nổi tiếng ở Giao Châu). Nhân dân vùng sông nước ven sông cũng vót cọc làm giáo, vác bê chèo làm gươm để đánh giặc. Các tướng súy đã đánh giặc là phải thắng, không thắng giặc thì cùng chết với giặc. Bà Lê Thị Cố ở làng Hoàng Quan, Rồi Công (xã Đông Phương, An Tràng) nói: “Bất Cam sinh mệnh tướng quần đầu” và đánh giặc đến lúc trên người không còn mảnh vải che thân (vì vậy tục lệ của làng là không rước thánh ra khỏi đền thờ trong ngày hội).
Tổng kết cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng trên đất Thái Bình ngày nay có gần 30 tướng súy tham gia. Trong đó nhiều người đã đưa nghĩa sĩ về Phong Châu cùng Bà Trưng tiến về giải phóng Luy Lâu. Mã Viện trở lại xâm lược, họ lại sát cánh cùng Bà Trưng chống giặc. Bà Trưng hy sinh, nhiều người trở lại quê hương, lấy sông nước để thủ hiểm, tiếp tục chống giặc. Những nơi thờ tướng lĩnh của Hai Bà Trưng ngày nay phần lớn ở bên sông Hồng, sông Luộc, sông Trà Lý, ven các sông nội đồng. Không có dân cư từ thời Hùng Vương, không được sống trên mảnh đất đầy sóng gió này làm sao tôi luyện được ý chí quật cường chống giặc ngoại xâm như vậy? Đất đai Thái Bình và truyền thống của người Thái Bình được tôi luyện trong cuộc sống hàng ngày, trong cuộc đấu tranh chống thiên tai, chống giặc ngoại xâm từ thời Hùng Vương là những yếu tố thuận lợi cho cuộc khởi nghĩa của Lý Bí trên đất Thái Bình ở thế kỷ thứ VI. IMG_6632 (2)

Nếu còn hồ nghi, trăn trở với sử liệu thần phả, ta có thể theo dấu vết di tích khảo cổ để giám định niên đại tuổi của đất. Từ thập kỷ 60 của thế kỷ XX ở thôn Ô Cách, xã Quỳnh Xá, huyện Quỳnh Phụ đã sưu tầm được gần 100 mũi tên đồng, lục lạc, giáo đồng. Tháng 5 năm 2000 tại làng Công xã Minh Tân nhân dân đã tìm thấy 2 trống đồng đều có cùng niên đại với trống đồng Đông Sơn, cách ngày nay 2500 năm. Hiện vật đồng Đông Sơn còn tìm thấy ở làng Mẽ, làng Buộm thị trấn Hưng Nhân (Hưng Hà), cửa sông Diêm Hộ (Thái Thụy).
Ngoài các hiện vật đồng, những ngôi mộ cổ đầu Công nguyên cũng là chứng tích lịch sử. Ngay tại làng lưu Đồn xã Thụy Hồng huyện Thái Thụy, một xã vùng ven biển, năm 1974 trong khi đào mưng máng nhân dân đã tình cờ đào được một số ngôi mộ cổ hình thuyền độc mộc có kích thước 2,2×1,4×0,4m. Những ngôi mộ cổ này có cùng niên đại với mộ cổ Thủy Nguyên cách ngày nay ngót 2000 năm.
Ngoài các ngôi mộ cổ của người Việt, dấu vết quý tộc Hán từ trước thềm Công nguyên còn thấy ở vùng Hưng Hà, Quỳnh Phụ, bắc Vũ Thư… Tại các vùng đất trên đã phát hiện gần 100 khu địa táng, xây cuốn vòm, mộ cao tới 3-4 mét. Vùng hạ lưu, ít nhất đã tìm thấy được khu mộ Hán trước thế kỷ III tại Phú Xuân (thành phố Thái Bình), Vân Động (xã Vũ Lạc huyện Kiến Xương). Lui xuống là Động Trung, trong khi làm đất ngoài đồng, nhân dân đã đào được tiểu đồng có đề chữ “Mã Viện chi thiếp” (vợ bé của Mã Viện). Con cháu họ Mã (gia đình Mã Soang) nhận là họ nhà mình xin được trông nom. Ngôi mộ ấy còn mãi đến năm hợp tác xã san ghềnh lấp trũng mới bị mất (1960).
– Mộ cổ ở làng Mẽ (Mỹ Xá) thị trấn Hưng Nhân huyện Hưng Hà: cửa mộ dày 40cm rộng 3m, cao 1,65m. Phần chính của mộ dài 4m, rộng 3m, cao 1m65m kích thước (40x20x5cm) (theo cụ Nguyễn Văn bàn năm nay đã 90 tuổi (2007) thì sau ngày Cách mạng tháng 8-1945 khi ấy cụ làm cán bộ thông tin ở xã đã từng đi xuống hầm mộ), tại đây người ta đã tìm thấy môt con rồng bằng đất nung, được chắp nối từng khúc dài 1,2m, có hai con thú bằng kim loại, có cán gươm tượng người bằng đồng.
– Mộ cổ ở làng Phú Lạc xã Phú Xuân (cách thành phố Thái Bình 2km) dân gian thường gọi là mả Ngô. Mộ đã bị đào bới từ lâu, hiện vật còn thu được 5 bình gốm các loại, 1 bát gốm, 1 dao găm đồng… Những hiện vật cổ ở đây cho phép các nhà khảo cổ kết luận: mộ cổ Phú Xuân có niên đại vào thế kỷ III sau Công nguyên.
Từ những phát hiện trên, năm 1999 Bảo tàng Thái Bình đã xuất bản sách “Di tích khảo cổ học ở Thái Bình“. Tác giả Nguyễn Ngọc Phát và Vũ Đức Thơm viết: “Loại mộ này thường là các gò đống lớn, khối lượng ấp trúc lên tới hàng ngàn m3. Hầu hết các mộ này có kết cấu song táng hoặc đơn táng. Huyệt mộ dài 5-6m, rộng từ 1,5-3m. Móng thân vòm mộ được sử dụng loại gạch lưỡi búa, còn gọi là gạch múi bưởi, dài 40cm, rộng 20-25cm… Gạch lát mộ có loại nặng 70kg, có kích thước 53x53x10cm. Toàn bộ gạch được ấp trúc bằng đất sét hoặc đất thịt pha sét. Trên mộ người sau thường dựng miếu, trồng cây đa, cây si… Những ngôi miếu, những cây đa, cây si này có vài trăm năm tuổi”…

Lục đầu vô thủy bất thu thanh

Câu đối trên cổng đền Kiếp Bạc thờ Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn ở Chí Linh, Hải Dương do Thám hoa Vũ Phạm Hàm đề, đã là chủ đề những tranh luận kéo dài giữa các bậc túc Nho xưa và nay:
萬劫有山皆剑氣
六頭無水不秋聲
Vạn Kiếp hữu sơn giai kiếm khí
Lục Đầu vô thủy bất thu thanh.

CongdenKiepBac1Cổng đền Kiếp Bạc (ảnh internet).

Vấn đề ở cụm từ “thu thanh” trong vế đối sau được hiểu nghĩa như thế nào? Điểm qua quan điểm đã có hiện nay về nghĩa của câu đối này (theo Nguyễn Hồng Lam):
– Nhiều nhà văn nhà nho cho rằng chữ “thu thanh” là bị thợ ngõa “đắp nhầm”. Phải là “thung thanh” hay “trang thanh”, nghĩa là tiếng đóng cọc, thì mới đúng. Thậm chí, có người đã sốt sắng đề nghị đục bỏ chữ “thu” trên cổng đền đi để thay bằng chữ “thung” hay “chang”…
– Gần đây, một số nhà nghiên cứu cho rằng “thu thanh” nghĩa là tiếng của chiến tranh, tiếng của sự đau thương, hay dịch là “tiếng binh đao”.
Cả 2 ý kiến trên nghe có vẻ đều có lý vì tiếng cọc hay tiếng binh đao đều đối chỉnh với cụm từ “kiếm khí” ở vế đối trước và lại có liên quan đến công nghiệp đánh giặc Nguyên Mông hiển hách của Hưng Đạo đại vương.
Tuy nhiên, nếu đọc cả vế đối thì sẽ thấy dịch theo cả 2 phương án trên đều tối nghĩa vô cùng: Lục đầu vô thủy bất thu thanh. Làm sao mà trong nước (thủy) lại có tiếng gì được? Nếu nói là âm thanh thì phải là trong không trung, chứ sao lại trong nước?
Hơn nữa “vô thủy” mà dịch là “không có con nước nào” thì cũng không ổn vì “thủy” không phải là từ đếm được để mà thêm chữ “con” vào đây.
Kết cấu “vô… bất…” có nghĩa so sánh, nhấn mạnh, ví dụ như trong câu “vô tiểu bất thành đại” là không có việc nhỏ thì không thành việc lớn, chứ nếu dịch như cách nghĩ ở trên sẽ thành: không có gì nhỏ mà không thành lớn, rất vô lý.
Nếu hiểu “thu thanh” là tiếng chiến tranh, binh đao, tuy là có điển dẫn, nhưng lại không hợp ngữ cảnh vì chữ “thu” mang sắc thái tiêu cực (buồn, thảm, sầu, bi,…), không phải để trong câu đối mang tính ca ngợi như ở đây.
Còn nếu hiểu là “thung thanh” hay “trang thanh” là tiếng cọc trong nước cũng không hợp với thực tế, vì Hưng Đạo vương đóng cọc ở sông Bạch Đằng, ngoài cửa biển Hải Phòng, chứ không phải ở Lục Đầu. Nước ở Lục Đầu làm gì có cọc nào.
Câu đối nổi tiếng này xem ra để hiểu đúng không phải dễ. Các bậc văn nho ở trên có lẽ đã lạc hướng. Họ quá tập trung vào tra điển tích, điển cố về cụm từ “thu thanh” mà quên mất hiểu nghĩa chung cho cả câu đối trước cổng đền này.
Để hiểu nghĩa câu đối này thực ra khá đơn giản. Nhưng muốn hiểu trước hết phải tìm hiểu địa lý ở địa phương và tục thờ cúng Trần Hưng Đạo tại đây đã. Hãy đọc sự tích của khu vực này:
Tương truyền sau khi đánh thắng giặc Nguyên Mông, đem lại thái bình cho đất nước. Hưng Đạo Vương về nghỉ tại phủ đệ của mình ở Vạn Kiếp. Một hôm, ông cùng gia nhân dùng thuyền nhỏ đi dạo cảnh trên dòng sông Lục Đầu. Khi con thuyền đã quay về gần núi Dược Sơn, Hưng Đạo Vương cho dừng thuyền lại, đứng trên mũi thuyền, Người rút thanh kiếm của mình ra khỏi bao và nói : ”Thanh gươm này đã gắn bó với ta gần cả cuộc đời. Trong suốt cuộc chinh chiến nó đã dính bao máu giặc Thát, nó đã từng được bôi phân gà sáp với vôi tôi và bồ hóng để chém đầu tên giặc Phạm Nhan nhơ bẩn. Nay ta muốn nhờ dòng nước sông Lục Đầu để gột rửa sạch những vết nhơ trên nó”. Nói rồi ông ném thanh gươm xuống dòng sông. Tại khúc sông Trần Hưng Đạo thả kiếm, sau này đã hình thành một bãi bồi chạy dài rất giống hình lưỡi kiếm, dân gian gọi bãi bồi đó là Thanh kiếm thần của Trần Hưng Đạo. Bãi bồi ngày nay vẫn còn trên dòng sông Lục Đầu trước cửa đền Kiếp Bạc…
Như thế, trong câu đối trên cổng đền Kiếp Bạc, ở vế đầu: Vạn Kiếp hữu sơn giai kiếm khí, thì Sơn và Kiếm không phải là núi và gươm chung chung. Đây là chỉ cụ thể bãi bồi chạy dài trên sông hình lưỡi kiếm trong sự tích trên.
Cái còn lại không phải là bản thân thanh kiếm, mà là “kiếm khí“, tức là tinh thần của chiếc kiếm xưa của thánh Trần. Kiếm này không phải là kiếm đánh giặc, mà là kiếm phép (kiếm thần) Trần Hưng Đạo đã dùng để chém tên phù thủy Phạm Nhan.
Vế đối này cũng chơi chữ, ghép giữa tên địa danh Vạn Kiếp và nghĩa “vạn kiếp” – nhiều đời nhiều kiếp. Như thế nếu đọc là “Vạn kiếp hữu sơn giai kiếm khí” thì có thể hiểu là Vạn đời dải núi vẫn còn hơi kiếm.

2018-04-27

Bản đồ vệ tinh khu vực Lục Đầu giang. Thấy rõ dải đất hình thanh kiếm đối diện cổng đền Kiếp Bạc.

Hiểu đúng được vế đối đầu thì mới hiểu được vế đối sau. Câu đối này ca ngợi Trần Hưng Đạo không phải như một vị võ tướng xuất trận diệt giặc, mà là một pháp sư đạo sĩ, một vị thần trừ tà diệt ác được tôn thờ.
Cần biết rằng ở đền Vạn Kiếp đức thánh Trần được coi là Cửu Thiên Vũ Đế, với sứ mệnh diệt trừ yêu ma ở cả 3 cõi thiên đình, trần gian và âm phủ. Hai bên nơi ngài ngự là Nam Tào và Bắc Đẩu, tức là 2 vị thần giữ sổ sinh tử của mọi sinh linh.
Với góc nhìn như vậy thì thấy ngay, cụ từ “thu thanh” ở vế sau hoàn toàn không phải tiếng cọc hay tiếng binh đao, mà là chỉ sự linh thiêng của đức thánh Trần. Tiếng thu ở đây nghĩa tiếng thiêng ngàn thu (thiên thu linh thanh). Tiếng thu là tiếng vang vọng của người đã khuất, hay là sự linh thiêng của người được thờ.
Hiểu được nghĩa này thì cả vế đối sẽ rất rõ nghĩa: Lục Đầu vô thủy bất thu thanh nghĩa là Nước ở 6 con sông này có hết thì mới hết được tiếng vang linh thiêng của thánh Trần. Hoặc hiểu theo kết cấu câu trước đây thì là Không con nước nào không có tiếng thiêng của thánh.
Nghĩa mới phát hiện của vế đối thứ hai cũng tương ứng với vế đầu, chỉ sự trường tồn linh thiêng (vạn kiếp… giai kiếm khí) của thánh Trần.
Một lần nữa xin nhắc là Trần Hưng Đạo không chỉ là vị võ tướng giỏi đã được thế giới công nhận mà ông còn là một thần chủ trong tín ngưỡng dân gian, được thờ ở hầu hết các nơi có ban thờ Tứ phủ. Các nhà nho, nhà sử chỉ vì cách nhìn lệch lạc đối với tín ngưỡng dân gian nên mới không tài nào hiểu đúng câu đối cung tiến lên Đức thánh Trần của Vũ Phạm Hàm trong cả thế kỷ qua.
Dịch lại đôi câu đối ở cổng đền Kiếp Bạc theo nghĩa mới phát hiện:
Vạn kiếp núi còn cùng hơi kiếm
Lục đầu nước hết mới thôi thiêng.

Đạo thờ tổ tiên của người Việt

Bài phát biểu trong buổi giới thiệu dự án Khơi nguồn tinh hoa Việt tại đình Kim Ngân, phố Hàng Bạc, Hà Nội.

Kính thưa các thầy, các cô, các bạn!

Hôm nay tôi rất vinh dự được tham gia và phát biểu về Đạo thờ Tổ tiên của người Việt vào ngày 9/3 Âm lịch, ngay trước ngày Giỗ tổ Hùng Vương trong một không gian văn hóa dân gian như đình Kim Ngân.
Về đạo thờ tổ tiên của người Việt đầu tiên tôi muốn dẫn lời của một học giả người Pháp của Viện Viễn Đông bác cổ từng viết trong cuốn An Tĩnh cổ lục:
Cái gọi là sự tiến bộ chỉ là truyền thống đang đi lên. Nếu không có những truyền thống tốt đẹp, con người sẽ bị lôi cuốn theo bản năng xấu. Nước Đại Việt giàu về quá khứ và các bạn nên hiểu rằng chính người chết cai trị người sống. Những đức tính tốt mà chúng ta có, chúng ta nhờ cha mẹ ông bà mà có. Hãy kính thờ vong linh tổ tiên bằng cách phổ biến lịch sử của tổ tiên”.
Chính người chết cai trị người sống nghĩa là các bậc tiền nhân đã khuất mới là những người chi phối tinh thần của chúng ta ngày nay.
Đình Kim Ngân thờ Tổ của bách nghệ Hiên Viên. Nhưng có lẽ đến 90% mọi người ở đây đều không biết Hiên Viên là ai. Hoàng Đế Hiên Viên là người mà Trung Quốc hiện nay coi là tổ tiên của họ, người bắt đầu lịch sử 5.000 năm của Trung Hoa. Thực ra Hiên Viên là vua của Hữu Hùng thị, tức là vua Hùng của người Việt. Hiên Viên là đọc sai đi của Hiển Vương, tương đương với Đế Minh trong truyền thuyết Họ Hồng Bàng, vị vua tổ đầu tiên của người Việt. Đây mới là người hiện được tôn thờ là quốc tổ tại đền Hùng Phú Thọ.
Thật bất ngờ khi đúng trước ngày giỗ tổ Hùng Vương chúng ta lại đến ngôi đình giữa trung tâm thủ đô này để bái yết tưởng nhớ tới Hiên Viên Hoàng Đế Hữu Hùng. Giỗ tổ Hùng Vương là một truyền thống thiêng liêng lâu đời của nhân dân ta, thể hiện đạo lý Uống nước nhớ nguồn. Quá khứ không phải là điều đã qua và qua rồi là hết. Lịch sử một đất nước, một dân tộc như phần rễ cây chìm trong lòng đất, không nhìn thấy nhưng lại quyết định khả năng vươn cao của cây. Rễ có sâu, có to thì thân và cành lá mới xum xuê vững chãi. Nền văn minh chói ngời của cha ông một thời soi đường cho cả Thiên hạ là sức mạnh tinh thần to lớn thúc đẩy con cháu ngày nay xốc tới.
Có thể nói người Việt là một dân tộc có hiếu nhất thế giới. Trong gia đình chúng ta có ban thờ cha mẹ, thờ gia tiên. Ngoài làng nước chúng ta có đền miếu tôn thờ các vị anh hùng dân tộc, những tiền nhân có công có đức với cộng đồng. Tín ngưỡng thờ cúng của người Việt không hề là mê tín, mà đó là nét văn hóa độc đáo, có giáo lý chặt chẽ, có giá trị nhân văn sâu sắc.
Điển hình, là tín ngưỡng Tứ phủ công đồng với đầy đủ các phủ Thiên Địa Nhạc Thoải. Nhưng đây không phải thờ trời, thờ đất, thờ núi, thờ nước như nhầm tưởng. Thực chất của tín ngưỡng Tứ phủ là đạo thờ tổ tiên. Mỗi phủ có 1 vị vua cha và 1 vị thánh mẫu làm chủ quản. Đứng đầu Thiên phủ là Ngọc hoàng Thượng đế. Đây cũng là vị vua Hùng đầu tiên của người Việt mà truyền thuyết họ Hồng Bàng gọi là Đế Minh như nói trên. Kính thiên điện trên núi Hùng ở Nghĩa Lĩnh là điện thờ ông Trời Đế Minh.
Vị thánh mẫu của Thiên phủ là Mẫu Cửu trùng hay Cửu Thiên Huyền Nữ. Trong truyền thuyết Việt thì đây là Tây Thiên quốc mẫu, vị nữ thần núi Tam Đảo. Hai vị tiền tổ khai sử đã được tôn thờ đời đời là ông Trời bà Trời trong suy nghĩ tâm niệm của người Việt, được thờ ở khắp nơi, trong gia đình, làng xóm cũng như trong các đền miếu quốc gia.
Đứng đầu Thoải phủ Vua cha Bát Hải Động Đình không ai khác là quốc tổ Lạc Long Quân, người đã cùng 50 người con đi khai phá miền ven biển Đông. Còn Nhạc phủ Thần vương, vị thần chủ của Nhạc phủ là Tản Viên Sơn Thánh, vị tối linh thần đứng đầu các thần bất tử trên đất Việt, ngự trị ở miền núi Tản sông Đà với công lao dựng nước từ thủa hồng hoang… Như vậy, tất cả các nhân vật trong Tứ phủ công đồng đều là những con người thực sự có công khai dân mở nước từ 5.000 năm lịch sử.
Người Việt cũng không hề thờ “nhầm” các nhân vật của Trung Hoa trong các đền miếu còn tới nay. Ngọc Hoàng hay Cửu Thiên Huyền Nữ là những vị vua thời Hùng Vương. Khổng Tử thờ ở Văn miếu, Lão Tử hay Huyền Thiên Trấn Vũ thờ ở Đạo quán không hề là người “Tàu” như nhầm tưởng. Đạo Khổng (Nho giáo), đạo Lão đều là những kết tinh của nền văn hóa Việt từ thời cổ đại và thấm nhuần trong tinh thần của người Việt.
Nói về đạo Hiếu của người Việt không thể không nói tới câu chuyện Lang Liêu chế ra bánh chưng bánh giày, lấy lòng thành và trí tuệ của mình mà dâng lên tổ tiên, trời đất. Lang Liêu không phải ai khác mà chính là bà mẹ Âu Cơ trong truyền thuyết, cùng các con đã khởi lập nước Văn Lang, lấy nền tảng đạo đức hiếu kính tổ tiên nhận mệnh trời mà gây dựng dòng giống Việt, dựng nên một triều đại huy hoàng với nền văn hóa trống đồng tỏa sáng trên toàn cõi Đông Nam Á và Hoa Nam (Lĩnh Nam).
Lịch sử Việt cùng những con người đã làm nên lịch sử 5.000 năm đó hiện đang bị bụi mờ của thời gian và nhân gian che lấp. Một thời gian dài văn hóa Việt bị đứt gãy khi nền văn minh duy lý của phương Tây tràn vào Việt Nam, thay đổi toàn bộ bộ mặt văn hóa từ chữ viết, trang phục, kiến trúc, kỹ nghệ… Sự thay đổi này đã làm cho người Việt ngày nay mất đi mối liên kết với quá khứ, với tổ tiên, dẫn đến những lệch lạc về văn hóa, nhân sinh trong xã hội hiện đại. Trong bối cảnh đó, nối lại dòng linh khí của tiền nhân Việt là việc làm vô cùng cần thiết.
Nhóm Đền miếu Việt gồm những người tâm huyết với đạo thờ tổ tiên trong dòng chảy văn hóa Việt hiện đang nỗ lực tìm tòi làm sáng tỏ công đức, sự nghiệp của các bậc tiền nhân được thờ cúng trong thần điện Việt, nối mạch giữa tín ngưỡng và lịch sử, nhằm trả lại giá trị chân xác cho tín ngưỡng căn bản của người Việt và tri ân đối với tổ tiên.

IMG_9016.JPGBức hoành phi Vạn thế vĩnh lại ở đình Kim Ngân.

Câu đối đình Kim Ngân:
日月箕裘長濟美
百藝祖傳永生香
Nhật nguyệt cơ cừu trường tế mỹ
Bách nghề tổ truyện vĩnh sinh hương.

Người đầu tiên xây thành nhà Hồ ở Thanh Hóa

Thành nhà Hồ ở Vĩnh Lộc, Thanh Hóa, nằm giữa 2 dòng sông Mã và sông Bưởi, là di tích đã được công nhận di sản văn hóa thế giới. Thành nhà Hồ thì hiển nhiên do nhà Hồ (Hồ Quý Ly) xây dựng. Nhưng nơi đây đã từng là hành cung hay một trị sở quan trọng của các triều đại từ trước đó. Ai là người thật sự đầu tiên đặt gạch nền móng để xây dựng thành tại khu vực này?

Dinh Phu LuuGian tiền tế đình Phù Lưu (Vĩnh Yên, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa).

Xung quanh khu vực thành nhà Hồ có nhiều nơi thờ vị thần tên là Cao Sơn đại vương. Như ở phía cổng Tây của thành nhà Hồ có đình Phù Lưu và đền Cao Sơn tại xã Vĩnh Yên (Vĩnh Lộc). Còn ở phía Đông thành có phế tích đền Còng tại xã Vĩnh Hưng, cũng là nơi thờ Cao Sơn đại vương.
Cao Sơn là một vị thần được thờ khắp nơi trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Theo thống kê trong sách Thanh Hóa chư thần lục do bộ lễ triều Nguyễn soạn vào năm Thành Thái thứ 15 cho biết ở Thanh Hóa có tới trên 400 làng nơi thờ Cao Sơn làm thành hoàng trải dài ở hầu hết các huyện của tỉnh Thanh. Hiện nay ngay ở thành phố Thanh Hóa còn có một con đường lớn mang tên Cao Sơn.
Vậy Cao Sơn là ai, có công nghiệp như thế nào đối với xứ Thanh mà được tôn thờ rộng rãi như vậy?
Theo sách Thanh Hóa chư thần lục thì: Bản ngọc phả làng Yên Tôn Thượng ghi cụ thể về xuất thân vị thần tên huý là Hiển, ông đỗ tiến sỹ vào thời Tấn (thế kỷ 10), khi đó nước Việt ta bị phong kiến phương Bắc cai trị, tiến sỹ Hiển được điều sang cai quản vùng đất thuộc Thanh – Nghệ này nay. Khi qua núi An Tôn, nhận thấy vùng đất này là thắng địa, ông cho xây dựng ở chân núi một số công trình để thỉnh thoảng về nghỉ ngơi. Viên quan cai trị đã lập công to trong lần đi chinh chiến ở đất Đông Di. Ông mất năm 103 tuổi, tại núi Đại Liễn. Trang Bảo Thánh huyện Đông Thành, Nghệ An, Cao Hiển vốn là viên quan có học vấn cao, lại có lòng thương dân, nên ông được dân tôn vinh. Nhân dân vùng đất An Tôn thờ Ông, coi Ông như một vị thành hoàng bảo hộ cho dân làng. Các triều đại phong kiến Việt Nam đều có sắc phong thần cho Ông thuộc hạng Thượng đẳng tối linh với nhiều mỹ tự ca ngợi.

Bia An TônTấm bia An Tôn… năm Thành Thái thứ nhất đặt ở sân đình Phù Lưu.

Thần tích này cho biết Cao Sơn có tên là Cao Hiển, người Trung Quốc sang nước ta dẹp giặc Đông Di và đã cho xây dựng một số công trình ở vùng núi xứ Thanh.
Chỗ khác, như ở đền Còng (Vĩnh Hưng, Vĩnh Lộc) thì chép thần Cao Sơn ở vào thời Lý: vào khoảng năm Khánh Lịch (1041-1048) ông làm quan tới chức Thừa tướng kiêm trấn thủ các xứ Nghệ An, Thanh Hóa… Bỗng năm đó có giặc Đông Di (Cao Ly Triều Tiên ngày nay) nổi lên xâm chiếm đất đó, quấy nhiễu cướp đoạt dân cư. Nhà vua bèn sai ông ra quân dẹp giặc…
Thật không biết vị thần Cao Sơn này chính xác sống vào thời nào. Chỗ thì bảo là đời Tấn (thế kỷ thứ 10), chỗ lại là thời Lý nhưng dùng niên hiệu Khánh Lịch của nhà Tống. Thậm chí ông này còn đánh giặc Đông Di ở tận Triều Tiên??? Quãng thời gian thế kỷ 10 – 11 thì nước ta đã độc lập rồi, lấy đâu ra vị quan đô hộ nào của phương Bắc cai quản ở đất Thanh Hóa nữa?
Vị tiến sĩ tài ba cai quản đất Thanh Nghệ mang tên Cao Hiển Văn Trường này thực ra là Tiết độ sứ của nhà Đường Cao Biền. Tướng Cao Biền có công đánh dẹp quân Nam Chiếu, truyền tích gọi là giặc Đông Di, ở vùng Thanh Nghệ, chứ chẳng phải ở tận Cao Ly Triều Tiên. Nam Chiếu là quốc gia xuất phát từ Bắc Trung Bộ Việt (không phải từ Vân Nam như sử Tàu vẫn chép) chiếm lĩnh vùng Tây Bắc Việt, làm nhà Đường lao đao, phải cử Cao Biền làm tướng đánh dẹp. Việc Cao Biền tiến xuống phía Nam, đánh vào sào huyệt của Nam Chiếu ở Nghệ An đã từng được bàn trong bài trước về thần Cao Sơn Cao Các. Thanh Hóa là nơi Cao Biền cho xây hành cung, là một vị trí chiến lược trong yếu trong việc trấn giữ quân Nam Chiếu thời kỳ này.
Sự xuất hiện của Cao Biền và hành cung tại Vĩnh Lộc thời Đường được khẳng định bởi những khai quật khảo cổ thành nhà Hồ. Tại di tích này đã phát hiện nhiều viên gạch mang dòng chữ Giang Tây quânGiang Tây chuyên. Giang Tây là từ tương đương với tên gọi Tĩnh Hải mà Cao Biền là vị Tiết độ sứ đầu tiên của Tĩnh Hải quân. Gạch Giang Tây quân là loại gạch của Tĩnh Hải sứ quân Cao Biền.

Giang Tay quanGạch Giang Tây quân tìm thấy ở thành nhà Hồ
(nguồn ảnh https://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/phat-hien-gach-co-nghin-nam-tai-thanh-nha-ho-2662936.html)

Cũng tại di tích thành nhà Hồ còn tìm thấy các viên gạch mang chữ Đại Việt quốc, nhưng lại không hoàn toàn giống như gạch Đại Việt quốc quân thành chuyên dùng trong xây thành Hoa Lư và Thăng Long. Viên gạch ở thành nhà Hồ mang các chữ còn lại đọc được là Đại Việt quốc Nam bình 大越国南平. Gạch Đại Việt là loại gạch dùng xây thành dưới thời nước Đại Việt do Lưu Cung lập nên, chứ không phải thời Lý vì mãi tới năm 1054 vua Lý thứ 3 là Lý Thánh Tông mới đặt tên nước là Đại Việt và dùng gạch với niên hiệu Long Thụy Thái Bình.

Gach Dai Viet quocGạch Đại Việt quốc Nam bìnhtìm thấy ở thành nhà Hồ
(Nguồn ảnh https://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/phat-hien-gach-co-nghin-nam-tai-thanh-nha-ho-2662936.html)

Hai lớp gạch Giang Tây quânĐại Việt quốc ở thành nhà Hồ như vậy tương đồng với các lớp gạch xây thành tại Hoa Lư. Đây là bằng chứng xác thực về một trị sở quan trọng liên tục từ thời Đường tới thời Đinh Lê tại địa bàn Vĩnh Lộc, Thanh Hóa.
Các hiện vật thời Lý Trần cũng được phát hiện và trưng bày tại thành nhà Hồ như lá đề có hình rồng, phượng, gạch lát nền hoa dây, hình đầu thú đất nung,… Có thể thấy rõ đây là một trung tâm chính trị tồn tại liên tục bắt đầu từ khi Tiết độ sứ Cao Biền xây dựng vào thời Đường cho tới khi nhà Hồ chuyển kinh đô của cả nước về An Tôn và xây thành đá. Việc loại bỏ không trưng bày hay không tính tới các lớp di vật của thời Đường, thời Đinh Lê tìm thấy trong di tích làm hạn chế giá trị của di tích này và làm khuất lấp sự thực lịch sử về vai trò của các triều đại trước thời Trần Hồ khi xây dựng khu vực thành ở Vĩnh Lộc.

La de lechLá đề lệch hình rồng trưng bày ở khu thành nhà Hồ.

Sự hiện diện của Tiết độ sứ Cao Biền và hành cung thời Đường ở Vĩnh Lộc còn được ghi nhận trong một sự tích khác. Đình Hồ Nam tại xã Vĩnh Khang (Vĩnh Lộc) cũng như nhiều ngôi đình, nghè ở khu vực xung quanh thành nhà Hồ hiện đang thờ vị thần là Quản Gia Đô Bác. Sách Vĩnh Lộc huyện chí của Lưu Công Đạo chép về vị thần này như sau:
Buổi đầu, ngài giữ chức Quan Lang Thổ Tù ở đất Thiên Vực họ Trịnh, tên La (Ngọc phả ghi là Ra), là người thông minh mẫn tiệp, trung tín, truyền mãi danh thơm. Nhà ở xứ Long Xá, đời thế làm tù trưởng, có 3 anh em, 2 trai, 1 gái, trai trưởng là ngài, thứ là Tú, gái út tên là Thị Ba. Cả ba anh em dung mạo đẹp đẽ, dáng dấp khỏe mạnh, đĩnh đạc.
Vào thời gian vua Đường Ý Tông niên hiệu Hàm Thông bên Bắc Quốc (Trung Quốc), vua xuất trị thiên hạ sai Cao Biền giữ chức Đô Hộ sứ trấn giữ nước Nam. Khi đặt chân tới Nam Bang, Cao Biền mệnh xưng là Cao Vương đi kinh lý quan sát địa hình núi sông. Qua đất nhà Trịnh ở huyện Vĩnh Ninh, Cao Biền ngang qua nhà ông. Biền biết ông là người trung thực, bình định xong được Nam Chiếu, Cao Biền cho ông theo cùng về thành Đông Quan. Ông không quản mệt nhọc, một lòng theo hầu, chuyên tâm vào việc. Cao Biền cho ông là người hiền lành, tài đức, chịu khó nên rất mực yêu thương, bèn giao cho ông năm quyền quản lý kho của phủ và việc nhà. Ông làm việc chăm chỉ nên lại lập được nhiều công lớn. Cao Vương rất mực yêu mến tài của ông, ban cho Thạch Khố sứ quan, kiêm Quản Tri quan trung Nội Ngoại chư khố.
Ông lại cáo từ về quê. Cao Vương quý ông trung thành ban cho ông 500 quan tiền, vì thế mà trở thành người giàu có. Ông lại có tính thương xót kẻ nghèo khó, mọi người trong huyện ai nấy đều được ông ban phát.
Trước kia tổ phụ họ Trịnh có hiềm khích với người làng Vĩnh Thanh, có oán thù về đời thế từ lâu mà chưa phân giải được, người đó tên là Hà Lang… Khi thuyền gần tới phía bờ cát, ba anh em đang ngồi trên thuyền nhìn nhau, Hà Lang từ trong bờ đột nhiên xông ra phục kích, cả ba anh em đều bị hại… Xác trôi quanh quẩn ở đó 5 ngày, người nhà biết được báo tin cho Cao Vương. Cao Vương nhớ đến công lao, bèn cho an táng ở đỉnh núi Nhật Chiêu, sai người đắp thành mộ, lập đền thờ trên đó, lệnh cho nhân dân thờ phụng… Cao Biền phong cho ngài là Đương Giang Quản Gia Thần Vương…

Dinh Ho NamĐình Hồ Nam (Vĩnh Khang, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa).

Cuối triều nhà Trần, khi họ Hồ tiếm ngôi vua đế, dời kinh đô từ về Tây Đô. Một đêm, mộng thấy một người khách lạ, mình mặc áo lụa mỏng, đầu đội bình đính, lưng thắt đai đen, đứng bái trước mặt tự xưng: Thần là Trịnh La, nối đời làm Tù trưởng, xin Cao Vương phong làm Thần vương, giúp dân quanh vùng được hưởng phụng thờ bảo vệ dân trong một vùng. Nay thiên hạ thái bình, nguyện xin đại vương bày rõ uy đức, chớ đem tai ương đến cho dân sinh. Nói xong không thấy đâu nữa.
Vua Hồ tỉnh dậy, mới biết là mình nằm mộng, liền chiêu gọi các phụ lão hỏi rõ đầu đuôi. Vua Hồ biết được quả rất anh linh, có ý giúp lập cơ vận nhà Hồ, bèn ban lệnh cho sửa chữa đền thờ, gia phong cho thần là Đương Giang Quản Gia Đô Bác Đại Vương.
Từ sự tích trên ta có bằng chứng rõ ràng về hiện diện của Cao Vương Biền tại đất Vĩnh Lộc. Hơn thế, khi đó tù trưởng hay thủ lĩnh địa phương tại đây là người họ Trịnh, đã theo Cao Biền làm quản gia. Có thể suy luận, người đã giúp Cao Biền xây hành cung tại Vĩnh Lộc chính là vị Quản Tri quan trung nội ngoại chư khố Trịnh La. Đó cũng là lý do tại sao sau đó khi vua Hồ dời đô về An Tôn đã gặp vị “thành hoàng” họ Trịnh này hiển mộng phù trợ.

2018-04-19Sơ đồ các điểm di tích trong khu vực thành nhà Hồ ở Vĩnh Lộc
(ảnh theo Trung tâm bảo tồn di sản thành nhà Hồ).

Điểm đáng lưu ý khác là như thần tích cho biết họ Trịnh ở đất Vĩnh Lộc đã đời thế làm tù trưởng, từ thời Đường. Sau đó đến thời Lê vùng đất này lại có danh tướng là Trịnh Khả, công thần lập quốc của nhà Lê, cùng tham gia khởi nghĩa với Lê Lợi. Trịnh Khả có cha là Tổng chính (chánh tổng) của vùng Vĩnh Ninh. Tổ tiên trước làm quan triều Trần, có công bình dẹp giặc Nguyên. Như vậy, họ Trịnh trên vùng đất Vĩnh Lộc là thủ lĩnh của khu vực này suốt từ thời Đường tới thời Lê sơ. Sang thời Lê trung hưng lại nổi lên chúa Trịnh, cũng quê ở Vĩnh Lộc, là người nắm quyền điều hành quốc gia trong một thời gian dài.
Như thế rất có thể cội nguồn của các chúa Trịnh, tướng quân Trịnh Khả thời Lê đều bắt đầu từ vị Trịnh La, người xây thành đầu tiên tại đất Vĩnh Lộc dưới thời Cao Vương Biền. Đồng thời, hơn 400 nơi thờ thần Cao Sơn ở Thanh Hóa cũng chính là nơi thờ Cao Biền, vị Tiết độ sứ quân đầu tiên của đất Tĩnh Hải, người xây thành Đại La, Hoa Lư và thành ở Vĩnh Lộc.

Mối quan hệ giữa văn hóa xẻng đá lớn ở Quảng Tây, Trung Quốc với văn hóa tiền sử Bắc Việt Nam

Bài của PGS. TS. Trình Năng Chung, Viện Khảo cổ học. Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc số 2 (81) -2008

Đã từ lâu, dựa vào nhiều nguồn tài liệu khác nhau, các nhà khoa học nhân văn coi khu vực Nam Trung Quốc (Hoa Nam) là một bộ phận khăng khít của Đông Nam Á thời tiền sử. Dưới góc độ cảnh quan tự nhiên, vùng Bắc Việt Nam và Nam Trung Quốc cùng chung một hệ thống sinh thái. Đặc điểm này góp phần không nhỏ tạo nên những đặc trưng văn hoá gần gũi giữa hai vùng trong suốt thời tiền sử và sơ sử.
Bài viết này đề cập đến những chiếc xẻng đá lớn – một loại hình di vật văn hoá khảo cổ mà sự hiện diện của chúng là nguồn tư liệu quý giúp ta hiểu rõ hơn mối quan hệ giữa chủ nhân văn hoá xẻng đá lớn Quảng Tây, Trung Quốc và cư dân văn hoá tiền sử Bắc Việt Nam.

1. Vào giai đoạn hậu kỳ đá mới, ở vùng phía nam tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc hình thành một khu vực phân bố hàng loạt di tích khảo cổ mà đặc trưng văn hoá nổi bật là những chiếc xẻng đá lớn. Các nhà khảo cổ học Trung Quốc định danh cho chúng là những di chỉ xẻng đá lớn hoặc “văn hoá xẻng đá lớn”(1).
Đến nay, đã có hơn một trăm di tích tìm thấy xẻng đá lớn ở Quảng Tây. Ngoài Quảng Tây, giới khảo cổ học Trung Quốc mới chỉ tìm thấy loại di vật ở một số địa điểm thuộc tỉnh Quảng Đông và tỉnh đảo Hải Nam(2). Căn cứ vào mật độ phân bố của di tích cũng như di vật, người ta coi vùng Quế Nam (gần biên giới Việt –Trung) là nơi phát sinh, là địa bàn gốc của nền văn hoá xẻng đá này. Từ đây loại công cụ đặc trưng này được phát tán đi các nơi. Càng xa trung tâm, số lượng xẻng đá phát hiện càng ít.
Hầu hết các di chỉ xẻng đá lớn có đặc điểm phân bố trên sườn đồi gò thấp gần sông, ao hồ. Tầng văn hoá của các di chỉ này khá thuần nhất, dày từ 30cm – 60 cm. Di vật hầu hết là đồ đá. Ngoài loại xẻng đá chiếm tỷ lệ lớn, người ta còn phát hiện một ít công cụ như: rìu, bôn, cuốc, đá xuyên lỗ, bàn mài, v.v… Đồ gốm rất hiếm. Loại xẻng đá chủ yếu được chế tác từ loại đá có kết cấu hạt mịn, độ cứng thấp. Di vật thường có kích thước lớn với chiều dài trung bình từ 20cm – 30 cm, rộng từ 10cm – 20 cm, thân mỏng từ 1 cm – 3cm. Đây là những chế phẩm của cư dân có trình độ gia công chế tác đá cao.
Hiện nay, giữa các nhà nghiên cứu Trung Quốc có những ý kiến khác nhau trong việc phân chia loại hình công cụ xẻng. Có người chia làm 2 loại lớn, có người chia làm 3 loại lớn, có người chia làm 4 loại với nhiều tiểu loại hình khác nhau. Trong bài nghiên cứu về văn hoá xẻng đá lớn ở Quảng Tây trước đây, chúng tôi nhận thấy xu hướng hiện nay phần lớn các học giả tán đồng với ý kiến chia làm 3 loại lớn như sau(3):
– Loại I: Hai vai vuông góc hoặc hơi cong xuôi so với chuôi công cụ. Ở 2 cạnh bên là đường thẳng song song hoặc không song song thu nhỏ dần đến đầu lưỡi, lưỡi cong nhẹ, cân xứng (hình vẽ 1).
– Loại II: Hai vai vuông góc hoặc hơi cong xuôi so với chuôi công cụ. Phần vai chưa có mấu và khấc. Phần dưới vai dần dần cong lõm vào khiến cho góc vai thành một góc nhọn, đến giữa thì dần dần mở rộng ra, rồi thu vào thành rìa lưỡi cong (hình vẽ 2).
– Loại III: Hai vai cong xuôi, hoặc cong lõm. Phần đầu vai có mấu và khấc. Thân thắt eo và nở ra ở phần lưỡi giống như loại II (hình vẽ 3).
Đối với công dụng của loại di vật này cũng có nhiều ý kiến khác nhau. Có tác giả cho rằng hầu hết xẻng đá là công cụ đích thực dùng để canh tác nông nghiệp. Có ý kiến cho rằng đại đa số xẻng đá không phải là công cụ thực dụng mà chỉ là khí vật liên quan đến lễ nghi nông nghiệp. Xẻng đá có kích thước càng lớn là tượng trưng cho vụ mùa bội thu(4). Có tác giả căn cứ vào hiện trạng các di vật xẻng được chôn dưới đất theo hình gần tròn để cho rằng xẻng đá là khí vật dùng trong nghi lễ tế Thần Trời và Thần Đất(5). Gần đây có tác giả cho rằng xẻng đá là vật tổ – biểu tượng sinh thực khí của đàn ông(6).
Ở địa điểm Đại Long Đàm huyện Long An, hoặc Trung Đông huyện Phù Tuy, các nhà khảo cổ Quảng Tây thu được những bằng chứng chắc chắn là những công xưởng chế tác xẻng đá. Điều này chứng tỏ đương thời đã có sự phân công lao động xã hội và những chiếc xẻng đá được dùng làm hàng hoá để trao đổi. Khi bàn về vấn đề tộc thuộc của chủ nhân văn hoá xẻng đá lớn, có tác giả cho rằng người Lạc Việt, mà hậu duệ trực tiếp là người Choang cổ Quảng Tây là chủ nhân sáng tạo ra nền văn hoá này(7).
Về niên đại, căn cứ vào một số niên đại C14 và các tài liệu liên quan, các nhà khảo cổ Trung Quốc cho rằng những di chỉ xẻng đá khu vực nam Trung Quốc chủ yếu thuộc di tồn văn hoá hậu kỳ đá mới có niên đại khoảng 5.000 năm cách nay và tồn tại dai dẳng đến giai đoạn Tây Hán (thế kỷ II sau CN ).

2. Cho đến nay, tài liệu khảo cổ học Việt Nam đã ghi nhận được 37 trường hợp tìm thấy loại di vật xẻng đá tìm thấy ở 7 tỉnh vùng núi phía Bắc và khu vực duyên hải đông bắc Việt Nam:
– Quảng Ninh (huyện Cẩm Phả, huyện Vân Đồn, huyện Đông Triều, thị xã Hòn Gai): 11 chiếc (ảnh 1, 4)
– Lạng Sơn (huyện Lộc Bình): 5 chiếc
– Tuyên Quang (huyện Nà Hang): 5 chiếc (ảnh 5)
– Cao Bằng (huyện Trà Lình, huyện Hoà An) : 6 chiếc (ảnh 6)
– Bắc Kạn (thị xã Bắc Kạn): 2 chiếc
– Bắc Giang (huyện Yên Thế, huyện Lạng Giang): 7 chiếc (ảnh 7, 8)
– Hải Phòng (đảo Cát Bà): 1 chiếc.
Điều đáng chú ý là địa bàn phát hiện những chiếc xẻng đá này nằm trong khu vực phân bố của văn hoá Hạ Long, văn hoá Mai Pha, văn hoá Hà Giang và cũng là địa bàn sinh tồn chủ yếu của các nhóm cư dân Tày – Nùng cổ. Tại khu vực duyên hải đông bắc hầu hết các địa điểm phát hiện xẻng đá đều gần đường bờ biển. Đây là một đặc điểm phân bố cần ghi nhận.
Không có xẻng đá nào được tìm thấy trong quá trình khảo sát hay khai quật khảo cổ học do các nhà chuyên môn tiến hành. Thường thì chúng được phát hiện ở độ sâu trên dưới 1m và không có các di vật khác kèm theo. Trường hợp chiếc xẻng đá ở hang Eo Bùa do những công nhân phát hiện được khi đào phân dơi trong hang cùng với những công cụ ghè đẽo, mài lưỡi kiểu Bắc Sơn muộn. Hầu hết các xẻng đá được tìm thấy trong tình trạng tầng vị không rõ ràng. Đáng chú ý là những chiếc xẻng ở Lộc Bình, Lạng Sơn được phát hiện cùng với một số tiền đồng (chưa rõ niên đại), 5 chiếc xẻng đá ở Nà Hang, Tuyên Quang tìm được trong tình trạng xếp cụm lại dưới độ sâu 60 cm, không có di vật khác kèm theo. Hiện tượng này cũng giống ở địa điểm Đại Long Đàm, Quảng Tây.
Những chiếc xẻng đá lớn ở Việt Nam về kiểu dáng, chất liệu đá, kích thước và kỹ thuật chế tác hoàn toàn giống với những xẻng đá lớn ở Quảng Tây, Trung Quốc.
Đối chiếu 37 chiếc xẻng tìm thấy ở các địa phương nói trên với bảng phân loại xẻng đá vùng Quế Nam cho thấy chúng tương ứng với loại hình II và loại III. Có một số chiếc do gãy ở phần thân cho nên có thể xếp vào loại II hay III. Hiện chưa tìm thấy xẻng loại I.
Một trong những vấn đề thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu là nguồn gốc, xuất xứ của những chiếc xẻng đá này.
Cho đến nay, tại vùng ven biển Đông Bắc đã có gần 20 di tích tiền sử thuộc văn hoá Hạ Long và hoặc tiền Đông Sơn đã được khai quật hoặc đào thám sát, nhưng cũng không tìm thấy di vật xẻng đá nào, dù chỉ là mảnh vỡ. Trong thời gian gần đây, các nhà khảo cổ học đã phát hiện và khai quật 2 di chỉ xưởng thuộc văn hoá Hạ Long tại vùng này. Đó là di tích Bãi Bến ở đảo Cát Bà và di tích Ba Vũng ở đảo Cái Bàu. Ngoài số lượng vô cùng phong phú những mũi khoan và mũi nhọn có kích cỡ nhỏ ra, chúng ta cũng chưa được rõ sản phẩm chủ yếu của những di chỉ xưởng này là gì. Nhưng có một điều chắc chắn là chúng không liên quan gì đến những chiếc xẻng đá mà ta đang đề cập đến.
Tại khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam, tình hình cũng tương tự như vùng ven biển Đông Bắc.
Theo các công trình nghiên cứu cho biết đến nay, trong các công xưởng chế tác đá hậu kỳ đá mới và sơ kỳ kim khí ở Việt Nam chưa tìm thấy những phác vật hoặc chế phẩm có kiểu dáng như vậy. Do vậy các nhà khảo cổ học Việt Nam đều thống nhất ý kiến khi cho rằng, những chiếc xẻng đá tìm thấy ở vùng núi và ven biển phía Bắc Việt Nam là sản phẩm của sự giao lưu trao đổi giữa các nhóm cư dân hậu kỳ đá mới – sơ kỳ kim khí Bắc Việt Nam với cư dân đương thời ở Quảng Tây. Văn hoá xẻng đá lớn Quảng Tây có ảnh hưởng nhất định đến các cư dân cổ vùng lân cận, trong đó có Bắc Việt Nam.
Do vị trí địa lý tự nhiên, có thể có nhiều đợt tiếp xúc nhiều chiều giữa chủ nhân văn hoá xẻng đá Quế Nam với cư dân văn hoá Hạ Long chủ yếu thông qua đường biển, với cư dân văn hoá Mai Pha (Lạng Sơn) qua đường sông Kỳ Cùng, với cư dân văn hoá Hà Giang qua đường sông Bằng, sông Gâm.
Xuất phát từ cách nhìn nhận khu vực Nam Trung Quốc và vùng phía Bắc Việt Nam là một khu vực lịch sử văn hoá có nhiều quan hệ tương đồng, rõ ràng mối quan hệ văn hoá giữa cư dân tiền sử Bắc Việt Nam và các cư dân khác ở vùng Nam Trung Quốc là không thể phủ nhận được. Bên cạnh những yếu tố văn hoá như các loại rìu bôn có vai có nấc, rìu một vai, thì với sự hiện diện của những chiếc xẻng đá ở đây càng khẳng định trong thời tiền sử, có sự giao lưu trao đổi trong nội bộ giữa các nhóm cư dân Lạc Việt Bắc Việt Nam với cư dân Lạc Việt cổ vùng Nam Quảng Tây.

Chú thích

  1. Ban huấn luyện văn vật tỉnh Quảng Tây (1978), Những di tồn văn hoá hậu kỳ đá mới ở vùng phía nam Quảng Tây, Văn vật số 9 (Tiếng Trung).
    Đồng Trụ Thần (1989), Khảo sát xẻng đá lớn Quảng Tây, Tạp san Bảo tàng lịch sử Trung Quốc, số 13-14 (Tiếng Trung).
  1. Khâu Lập Thành, Trịnh Tăng Khôi (1983), Những xẻng đá lớn phát hiện ở Áo Tây, Khảo cổ, số 9.
    Dương Thức Đĩnh (1986), Sơ bộ bàn về văn hoá thời đại đá mới Quảng Đông và những vấn đề liên quan, Nghiên cứu tiền sử, số 1-2, tr. 63-82 (Tiếng Trung).
    Tưởng Đình Du, Bành Thư Lâm (1992), Nghiên cứu xẻng đá lớn Quế Nam, Văn vật Phương Nam, số 1, tr.19-24 (Tiếng Trung).
  1. Trình Năng Chung (1997), Văn hoá xẻng đá lớn ở Quảng Tây, Trung Quốc và mối quan hệ với Bắc Việt Nam, Khảo cổ học, số 2, tr. 85-92.
    Trình Năng Chung (2005), Những xẻng đá lớn miền ven biển Đông Bắc Việt Nam: Tư liệu và nhận thức. Khảo cổ học, số 3 (2005), tr. 66-73.
  1. Triệu Thiện Đức (1991), Phân tích di tồn văn hoá đá mới lưu vực sông Tây Giang, Tập luận văn kỷ niệm 30 năm phát hiện di chỉ Hoàng Nham Động, tr. 160-171 (Tiếng Trung).
    Tưởng Đình Du, Bành Thư Lâm (1992), Nghiên cứu xẻng đá lớn Quế Nam, Văn vật Phương Nam, số 1, tr. 19-24 (Tiếng Trung).
  1. Trịnh Triệu Hùng, Lý Quang Quân 1991, Thử bàn về di chỉ xẻng đá ở Quế Nam, Quảng Tây, Khảo cổ và văn vật, số 3 (Tiếng Trung).
  2. Dung Đạt Hiền (2003), Tìm tòi mới về xẻng đá lớn khu vực Quế Nam, Văn Vật, số 2 (2003), tr. 66-68 (Tiếng Trung).
  3. Trịnh Triệu Hùng, Lý Quang Quân 1991, Thử bàn về di chỉ xẻng đá ở Quế Nam, Quảng Tây, Khảo cổ và văn vật, số 3 (Tiếng Trung).

Xeng da lon

 

Vị thần bất tử Không Lộ Lý quốc sư

Không Lộ thiền sư là một trong các vị thần bất tử của tín ngưỡng dân gian người Việt. Tuy nhiên các ghi chép và di tích còn lại về vị này lại thường lẫn lộn trong thân thế và tiểu sử của thánh, ít nhất có 2 xuất xứ được nói tới. Một là Dương Không Lộ ở Hải Thanh – Thái Bình. Hai là Nguyễn Minh Không ở Đàm Xá – Ninh Bình. Dương Không Lộ sinh vào thời Lý Thái Tổ, còn Nguyễn Minh Không sinh vào thời Lý Thánh Tông. Thêm vào đó, sự tích và công trạng của những vị này theo các ghi chép rất giống nhau và phạm vi di tích tín ngưỡng thờ 2 người này cùng tập trung ở khu vực Thái Bình và Nam Định. Do đó về xuất xứ của Không Lộ Lý triều quốc sư hiện vẫn còn đang rất nhiều tranh cãi. Trong quá khứ thậm chí đã từng có một vụ các cụ đồ địa phương ở Thái Bình tranh kiện nhau xem đức thánh Không Lộ là họ Nguyễn hay họ Dương. Cho đến nay trong giới học thuật những thảo luận về xuất xứ của Không Lộ thiền sư cũng vẫn còn chưa ngã ngũ.

IMG_1675Gác chuông đền thờ thánh Nguyễn ở Đàm Xá (Gia Viễn, Ninh Bình).

Bài viết này nêu một góc nhìn mới cho phép lý giải được sự tích khác nhau của Không Lộ thiền sư thông qua phân tích tín ngưỡng dân gian, mà trước hết là từ quan niệm về thần bất tử. Các vị thánh bất tử trong tín ngưỡng của người Việt đã được xác định là những vị tu tiên đắc đạo, có phép cải tử hoàn sinh, trường sinh bất lão hoặc giáng sinh chuyển thể. Không Lộ thiền sư là vị thần bất tử hàng thứ tư trong quan niệm này.
Đứng đầu Tứ bất tử là Tản Viên Sơn Thánh với cây gậy thần đầu sinh đầu tử và cuốn sách ước diệu kỳ. Tản Viên được gọi là Thần Sư, đi khắp nơi lên rừng xuống biển, cứu giúp nhân dân. Điểm đáng chú ý trong sự tích về Tản Viên là Sơn Thánh đã khuyên vua Hùng nhường ngôi cho Thục Phán và cùng đi ngao du, tức là đi tu tiên. Tản Viên Sơn Thánh còn là vị thần đứng đầu trong các linh thần Việt.
Thần bất tử thứ hai là Chử Đồng Tử cùng công chúa Tiên Dung và Tây Sa. Với cây gậy và chiếc nón thần gia đình nhà Chử là những bậc thánh tiên cứu chữa bệnh cho nhân dân và một đêm đã bay về trời trên đầm Dạ Trạch. Chử Đồng Tử được tôn gọi là Chử Đạo Tổ, tức là một trong những vị tổ Đạo của người Việt.
Thần bất tử thứ ba là Đổng Thiên vương Huyền Thiên đại thánh, người đã có công giúp An Dương Vương trừ yêu diệt quỷ khi xây thành Cổ Loa. Huyền Thiên Đổng Thiên Vương đã được xác định là Thái Thượng Lão Quân hay Lão Tử, vị giáo chủ khai mở Đạo Giáo. Lão Tử vừa là người khởi đầu cho một tín ngưỡng tâm linh, vừa là một thầy thuốc chữa bệnh dịch cho dân ở miền Bắc Việt (thần tích gọi là diệt giặc Xích Tỵ).
Một trong những vị thần bất tử ở hàng thứ tư là Liễu Hạnh công chúa. Thánh mẫu Liễu Hạnh với ba lần tái thế đã trở thành vị giáo chủ của Đạo Mẫu và Tứ phủ. Điểm đặc biệt của sự tích Liễu Hạnh là bà có vẻ như không có công nghiệp gì lớn lao trong việc cứu dân độ thế, nhưng lại được tôn làm giáo chủ của Đạo Mẫu. Công nghiệp chính của Mẫu Liễu là ở việc đã đề xướng Đạo Mẫu, đưa vai trò của các nữ thần lên bậc thần quyền chính thức trong Tứ phủ.
Điểm qua 4 vị thần bất tử Thần Sư, Đạo Tổ, Lão Quân và Thánh Mẫu trên ta nhận thấy họ đều là các vị “giáo chủ”, mở đầu cho những đạo phái trong tín ngưỡng của người Việt. Đây cũng chính là ý nghĩa cơ bản của tín ngưỡng thờ thần bất tử, là thờ những vị tổ khai lập môn phái, mở đường cho đạo.
2 vị Không Lộ thiền sư và Từ Đạo Hạnh cũng được xếp ở hàng thứ tư trong các vị thần bất tử. Vận dụng nhận định mới phát hiện trên về ý nghĩa của thần bất tử có thể thấy Không Lộ và Từ Đạo Hạnh cũng phải là những vị sư tổ, có công gây dựng tông phái và được thờ như các giáo chủ của giáo phái.
Giáo phái của Không Lộ thiền sư có thể được gọi là phái Không Lộ. Đồng thời Không Lộ cũng là danh xưng của Giáo chủ giáo phái này. Với cách hiểu như thế thì sẽ thấy rõ, không phải chỉ có 1 vị Không Lộ thiền sư bởi vì chức Giáo chủ của giáo phái có thể là những người khác nhau đảm nhận qua các thời.

IMG_7074Đền Lại Trì ở Vũ Tây, Kiến Xương, Thái Bình.

Nhận định này giúp giải quyết được khúc mắc về việc có tới 2 ngài Không Lộ như ở phần đầu bài đã nêu. Có thể sắp xếp như sau, Dương Không Lộ quê Thái Bình là vị tổ thứ nhất của giáo phái Không Lộ, xuất hiện vào quãng thời Lý Thái Tổ – Thánh Tông. Kế tục ông là Nguyễn Chí Thành, người quê Ninh Bình, làm giáo chủ Không Lộ phái vào thời Lý Nhân Tông – Thần Tông.
Câu đối ở đền Lại Trì (Vũ Tây, Kiến Xương, Thái Bình) nơi thờ Dương Không Lộ:
蹟顯李朝三出世
名尊真定四靈祠
Tích hiển Lý triều tam xuất thế
Danh tôn Chân Định tứ linh từ.
Dịch:
Dấu tỏ Lý triều ba thế xuất
Tên nêu Chân Định bốn đền linh .
Tam xuất thế” ở đây có thể chỉ Không Lộ, Giác Hải và Từ Đạo Hạnh, nhưng cũng có thể là chỉ 3 lần xuất hiện của Không Lộ thiền sư. Cũng vì chức danh giáo chủ Không Lộ là gồm các đời nối tiếp nhau, tức là khả năng tái xuất thế nhiều lần, nên Không Lộ được xếp vào hàng thần bất tử.
Một đạo phái được xác lập khi nó có đủ 3 yếu tố, gọi là Tam bảo. Trước hết là có giáo chủ là Không Lộ thiền sư như nêu trên. Thứ hai là có giáo lý thể hiện qua những tiêu chí và hành động của giáo phái. Thứ ba là có các tăng lữ hay đạo sĩ theo đạo này.
Giáo lý của phái Không Lộ vừa theo giáo lý nhà Phật lại vừa kết hợp với Đạo Giáo ở nước ta. Điều này thể hiện qua các tài phép “lục trí thần thông” của Không Lộ thiền sư như đi trên không, nổi trên nước… Các chùa nơi Không Lộ từng tu hành đều có tên Thần Quang tự, phần nào cũng nói tới sự thần bí (tính chất của Đạo Giáo) của vị thiền sư này. Lý triều quốc sư Không Lộ như vậy không chỉ là một Phật tử mà còn là một Pháp sư cao tay. Bia chùa Keo Hành Thiện ở Nam Định ghi rõ ông là một Đại pháp sư.

P1280468Hoành phi “Đại Pháp Sư” ở chùa Keo Hành Thiện (Xuân Trường, Nam Định).

Câu đối khác ở đền Lại Trì nêu công nghiệp của Không Lộ thiền sư:
法手濟群生徳是聖神心是佛
仙丹扶九鼎國留事業史留名
Pháp thủ tế quần sinh, đức thị thánh thần tâm thị phật
Tiên đan phù cửu đỉnh, quốc lưu sự nghiệp sử lưu danh.
Dịch:
Tài phép cứu chúng sinh, đức chính thánh thân tâm chính phật
Thuốc tiên giúp thánh thượng, nước lưu sự nghiệp sử lưu tên.
Đặc biệt, đạo Không Lộ có mức độ nhập thế rất cao so với các thiền phái của nhà Phật thể hiện trong việc Không Lộ chữa bệnh cho vua Lý và thực hành nghề đúc đồng. Nhận định Không Lộ là tên giáo chủ hay giáo phái giúp giải quyết khúc mắc về sự kiện Không Lộ thiền sư đã đúc An Nam tứ đại khí vì 4 đồng khí lớn được đúc vào các thời kỳ khác nhau. Đỉnh tháp Báo Thiên chắc chắn đã được làm dưới thời Lý Thánh Tông vì đã phát hiện những viên gạch Lý gia đệ tam đế Long Thụy Thái Bình tứ niên tạo ở chân tháp, là niên hiệu của vị vua Lý thứ ba này. Tượng Phật Di Lặc chùa Quỳnh Lâm, chuông Quy Điền hoặc chuông Phả Lại, vạc Phổ Minh lại là ở những nơi khác vào thời gian khác. Nếu Không Lộ chỉ là 1 người thì không thể có chuyện lại tham gia đúc nên cả 4 đồng khí này.
Vì Không Lộ là tên giáo phái nên ở đây có thể hiểu là những đại đồng khí trên đã do giáo phái Không Lộ đảm nhận việc đúc nên ở các thời kỳ khác nhau. Như thế thì giáo chủ của giáo phái ở các thời gian đó cũng khác nhau, không phải chỉ là 1 người. Câu chuyện Không Lộ thiền sư đi sang Trung Quốc chở đồng đen về đúc chuông có lẽ muốn nói giáo phái này đã học được nghề đúc đồng tới mức thu hút hết tinh hoa của nghề này về nước ta. Không Lộ thiền sư được các làng nghề đúc đồng trên cả nước tôn làm vị tổ nghề.

IMG_6470Một số tháp Phật và gạch hoa thời Lý mới phát lộ ở Nam Định.

Câu đối đền Lại Trì về tứ đại khí nước Nam:
四噐容成南越地
一囊括尽北京銅
Tứ khí dung thành Nam Việt địa
Nhất nang quát tận Bắc Kinh đồng.
Dịch:
Bốn đồ chứa nên đất Nam Việt
Một túi gói hết đồng Bắc Kinh.

IMG_7017Gian thờ Dương Không Lộ ở đền Lại Trì.

Về giáo lý, có thể Không Lộ nghĩa đúng không phải là tài bay trên không của các vị thiền sư như vẫn nghĩ. Không Lộ là con đường của đạo Không. Thiền uyển tập anh còn lưu một bài thơ của Không Lộ thiền sư như một tâm yếu chú, như sau:
Đoán luyện thân tâm thủy đắc thanh
Sâm sâm trực cán đối hư đình
Hữu nhân lai vấn không không pháp
Thân tọa bình biên ảnh tập hình.
Dịch:
Rèn luyện thân tâm tựa nước thanh
Sân thênh cổ thụ tỏa sum cành
Có người xin hỏi nguồn Không pháp
Lưng dựa bình phong, bóng tựa hình.
Bài thơ có nhiều dị bản, nhưng câu “Hữu nhân lai vấn không không pháp” cho thấy rõ “phép” của Không Lộ thiền sư là “Không pháp”. Nó cũng là lời giải thích cho danh xưng Không Lộ của giáo chủ giáo phái này.
Giáo phái Không Lộ từng phổ biến chính ở vùng Nam Định – Thái Bình, với trung tâm là 2 ngôi chùa Keo ở 2 bên sông Hồng. Chữ Keo có thể nghĩa là Cả, là thủ lĩnh hay giáo chủ. Chùa Keo nghĩa là chùa Cả, trung tâm của giáo hội.

P1170499Gian ngoài chùa Keo Thái Bình.

Về tăng lữ của phái Không Lộ, có thể thấy các chùa thờ Không Lộ và Từ Đạo Hạnh thường ban đầu không có sư trụ trì như chùa Keo Hành Thiện, Keo Thái Bình hay chùa Đại Bi. Điều này nay có thể hiểu vì giáo phái của Không Lộ khác với Phật giáo chính dòng.
Điểm đặc biệt là ở các chùa thờ Không Lộ và Từ Đạo Hạnh tới nay còn lưu được nghi lễ hầu thánh bằng múa rối đầu gỗ, là các thánh tượng, đại diện cho giới tăng lữ của giáo phái này. Câu chuyện về các thánh tượng này có liên quan đến truyền tích Pháp sư diệt thần Xương Cuồng trong Lĩnh Nam chích quái. Vị pháp sư và các đệ tử của mình đã diệt được thần Xương Cuồng chính là Không Lộ thiền sư.

P1170531Các thánh tượng đầu gỗ ở chùa Keo Thái Bình.

Với đầy đủ tam bảo: giáo chủ, giáo lý và tăng lữ, rõ ràng phái Không Lộ có thể được coi là một Đạo, phổ biến và có vai trò lớn dưới thời Lý. Vua Lý cũng là đệ tử của giáo phái này (Lý Thần Tông là hóa thân của Từ Đạo Hạnh) và giáo chủ Không Lộ được tôn làm Lý triều quốc sư. Đây mới là tôn giáo chính của nước ta dưới thời nhà Lý.

Nghiên cứu cổ văn hóa sử Việt qua một ví dụ về Huyền Thiên Trấn Vũ

Nghiên cứu cổ sử khác với sử hiện đại ở rất nhiều khía cạnh. Trước hết là giai đoạn cổ sử Việt thường xuyên thiếu các thư tịch thành văn do chưa có văn tự, chưa có sử sách và nhất là trong bối cảnh ở Việt Nam các ghi chép lịch sử đã bị hủy hoạ, bị bóp méo và tráo đổi. Thêm vào đó, các bằng chứng vật chất cũng thường hiếm có thể được lưu lại qua một thời gian dài cho tới nay sau nhiều năm chiến tranh loạn lạc tàn phá. Chính sử Việt của giai đoạn cổ sử được bắt đầu biên soạn từ thời Lê do đó đều là các ước đoán của các sử gia trên cơ sở tư liệu ít ỏi của thư tịch Trung Quốc về đất Việt và phần nhiều là ghi nhặt, chắp nối từ các truyền thuyết dân gian. Điều này dẫn tới một mảng trống rất lớn trong việc xác định lịch sử thời cổ đại và tạo ra nhiều quan điểm rất đối nghịch nhau của các nhóm nghiên cứu khác nhau hiện nay về cùng một vấn đề cổ sử.
Nhóm Hùng Việt sử quán được hình thành cách đây hơn 10 năm, bắt đầu lập fanpage vào năm 2015, tới nay lượng độc giả đã lên hơn 1 vạn người. Nhóm gồm 2 tác giả chính và một số cá nhân hỗ trợ công tác thu thập tư liệu và biên soạn các bài viết một cách độc lập. Nghiên cứu của nhóm đối với cổ văn hóa sử Việt được phân biệt ở 3 lĩnh vực: sử quan, sử pháp và sử liệu. Bài viết sau sử dụng trường hợp về vị Huyền Thiên Trấn Vũ để minh họa cho sự phối hợp 3 lĩnh vực này để đạt được những đột phá mới đối với nghiên cứu cổ sử Việt.
1. Sử quan (góc nhìn lịch sử)
Quan điểm trước hết là nhìn nhận sử Việt là sử chung của cả dòng tộc Bách Việt, hay dân tộc họ Hùng ở thời cổ sử. Phạm vi lãnh thổ của Bách Việt là toàn bộ Đông Nam Á và Nam Trung Quốc, được xác nhận trong tư liệu về nước Văn Lang Bắc giáp Động Đình Hồ, Nam giáp Hồ Tôn, Đông giáp Nam Hải, Tây giáp Xuyên Thục.
Quan điểm này đồng thời phân biệt giữa Hán tộc và Hoa tộc hay Việt tộc, là 2 đại chủng khác nhau người Mongoloid và Mongoloid Nam. Người Hoa Hạ thời sơ sử chính là người Bách Việt của thời Chu Văn Lang. Do đó lịch sử Trung Hoa thời cổ là lịch sử Việt. Còn Hán tộc chung gốc với Mông Cổ, Kim Mãn, Hung Nô, không liên quan gì đến lịch sử Trung Hoa cổ đại, chỉ mới xuất hiện ở Trung Hoa từ sau Công nguyên.
Sử quan quảng đạt và mạnh bạo này cho phép lý giải một loạt những vướng mắc trong cổ sử Việt như chuyện Thánh Dóng ở Vũ Ninh đánh giặc Ân ở tận An Huy. Hay chuyện Huyền Thiên Trấn Vũ người đã giúp Thục An Dương Vương diệt trừ yêu quỷ, xây thành Cổ Loa là vị Lão Tử của nhà Chu Trung Hoa. Nước Văn Lang – Âu Lạc của cổ sử Việt là vương triều Chu trong Hoa sử mà được khởi đầu bằng cuộc chiến đánh Trụ diệt Ân của Chu Vũ Vương và thành Cổ Loa đánh dấu sự dời đô từ Tây sang Đông dưới thời Chu Bình Vương.
Với quan điểm Trung Hoa chính là Bách Việt thì chữ Nho (chữ tượng hình) cũng là chữ viết của người Việt cổ. Các văn tự, thư tịch Trung Hoa viết bằng thứ chữ ấy cũng là sách vở của người Việt viết về quá khứ của mình. Kinh Dịch cũng như Tứ thư Ngũ kinh Trung Hoa đều là di sản văn hiến Việt.
2. Sử pháp (phương pháp nghiên cứu)
Khi nhận định Dịch học là nền tảng của văn hóa Việt thì chính Dịch lý sẽ là chiếc chìa khóa để giải mã các thông điệp từ quá khứ Việt. Các Dịch tượng như các bộ số của Hà đồ Lạc thư, hệ thống Ngũ hành – Ngũ sắc, những định vị các quẻ của Bát quái,… là những hệ tọa độ địa văn hóa để có thể hiểu được các nhân danh, địa danh trong cổ sử Việt và Trung Hoa.
Ví dụ, Huyền Thiên trong Dịch lý nghĩa là phương Bắc (Huyền là màu chỉ hướng Bắc trong Ngũ sắc). Thêm vào đó chữ Sơn là quẻ Cấn, tượng trưng cho hướng Bắc cho nên Huyền Thiên Trấn Vũ trong tín ngưỡng Việt còn có tên Cao Sơn đại vương. Hơn nữa, số 1 của Hà thư là con số chỉ phương Bắc nên vị thần này còn được gọi là Tiêu Sơn Độc Cước (độc = 1).

IMG_6741 (2)Tượng Huyền Thiên Trấn Vũ ở Thạch Bàn, Long Biên.

Đồng thời do sự khác biệt trong ngôn ngữ tạo bởi giữa tiếng nói và văn viết cùng với sự sai lệch do thời gian nên phương pháp về các biến âm trong ngôn ngữ cần được áp dụng linh hoạt. Điển hình là phép phiên thiết, một phương pháp mà người xưa dùng để ghi các âm không có chữ viết tương ứng (trường hợp của các âm Nôm, hoặc âm tiếng nước ngoài). Ví dụ: Phù Đổng thiết Phổng hay Bổng là tên của một trong tứ linh Hương Bổng Đổng Đằng.
Cũng vì sự cận âm giữa Phù Đổng/Bổng với Đổng nên trong bộ Tứ bất tử Việt vị trí thần bất tử thứ ba không phải là Phù Đổng Thiên Vương mà là Đổng Thiên Vương, tức Huyền Thiên đại thánh. Di tích thờ Đổng Thiên Vương thấy rõ nhất là ở làng Bộ Đầu (Thường Tín, Hà Nội) với pho tượng đất nung lớn của Huyền Thiên đại thánh đang giẫm lên giao long như tượng của Huyền Thiên ở Gia Lâm, Cổ Loa hay Quán Thánh.
Trên cơ sở Dịch lý và liên hệ ngôn ngữ cho phép định vị lại các địa danh của cổ sử Trung Hoa. Không gian diễn ra của lịch sử ấy không phải trên đất Trung Quốc ngày nay mà có nguồn gốc từ vùng Bắc Việt. Việc nhận đúng âm đọc của các nhân danh hay danh xưng các nhân vật cho những hiểu biết bất ngờ và chân thực hơn về công tích, hành trạng của các nhân vật này.
Phương pháp khác được vận dụng đặc biệt hiệu quả đối với cổ sử là phương pháp huyền sử như cố GS. Kim Định đã đề xuất. Truyền thuyết dân gian không phải là lịch sử với ngày tháng năm như sử hiện đại mà cần hiểu nó qua các thông điệp, các biểu trưng, các ẩn ý phong phú. Thời gian trong huyền sử không tính bằng năm tháng, bằng niên hiệu triều đại mà bằng các sự kiện quan trọng có ảnh hưởng lớn tới cộng đồng và để lại dấu ấn sâu sắc trong tiến trình lịch sử.
Mỗi một nhân vật trong huyền sử không phải là 1 người mà là danh xưng của cả 1 triều đại nhiều đời cha truyền con nối. Mỗi một sự kiện được huyền sử lưu lại có thể ứng với một thời kỳ lịch sử nên ví dụ An Dương Vương là danh hiệu của một triều đại kéo dài có thể tới cả ngàn năm. An Dương Vương thế Hùng Vương là một sự kiện của vị vua đầu lập triều đại An Dương. An Dương Vương xây thành Cổ Loa lại là sự kiện xảy ra sau đó vài trăm năm của một vị An Dương Vương khác khi dời đô lập ấp. An Dương Vương thất thế cầm sừng văn tê bảy tấc đi ra biển lại là sự kiện của vị vua cuối cùng kết thúc triều đại này.
3. Sử liệu (tư liệu lịch sử)
Trong bối cảnh tư liệu thành văn hiếm hoi, hoặc hầu như không có của giai đoạn cổ sử thì truyền thuyết lịch sử lại là nguồn tư liệu hết sức đa dạng và phong phú cho nghiên cứu cổ sử. Việt Nam may mắn nhờ có nhân sinh quan đa thần và tục tôn thờ tổ tiên nên đã lưu giữ được rất nhiều những câu chuyện về quá khứ và tiền nhân người Việt qua các thần phả, thần tích ở các địa phương, trong mỗi làng xóm Việt.
Cùng với các thần tích là hệ thống các minh văn trên hoành phi, câu đối, văn bia và các tập tục lễ hội, hệ thống phân bố rất có quy luật của các di tích đình đền miếu mạo trên toàn miền Bắc. Nguồn tư liệu lịch sử phong phú này là vô giá cho nghiên cứu cổ sử một khi có được phương pháp huyền sử giải mã chúng phù hợp.
Ví dụ đôi câu đối về Lão Tử ở làng Thổ Hà (Việt Yên, Bắc Giang) nay còn ghi rõ:
東周風雨是何辰別把清虚開道教
南越山河惟此地獨傳幻化作神僊
Đông Chu phong vũ thị hà thì, biệt bả thanh hư khai Đạo Giáo
Nam Việt sơn hà duy thử địa, độc truyền ảo hóa tác Thần Tiên.
Dịch:
Mưa gió Đông Chu đây một thời, riêng giữ thanh hư mở Đạo Giáo
Núi sông Nam Việt chỉ đất đó, một truyền màu nhiệm tạo Thần Tiên.
Câu đối này xác nhận rằng Lão Tử là người đã khai mở Đạo Giáo dưới thời Đông Chu ở tại đất Nam Việt. Nói cách khác đất Nam Việt nơi có thành Cổ Loa chính là nước của thiên tử Chu của Trung Hoa.
Tư liệu vật chất không chỉ ở các di tích tín ngưỡng còn lại mà còn là các vật chứng về khảo cổ trong suốt giai đoạn lịch sử, từ những đồ ngọc, đồ đồng, tiền cổ có minh văn, các bia cổ, gạch ngói cổ… khi được phân tích đối chiếu với truyền thuyết và thư tịch cũng làm cho lịch sử Việt trở nên sáng tỏ từng bước một. Ngay tại phạm vi Cổ Loa đã tìm thấy những đồng tiền mang chữ triện Đông Chu và Tây Chu, là bằng chứng gián tiếp rằng đây là kinh đô xưa của nhà Chu.

Tien ChuHoàn tiền Đông Chu và Tây Chu thấy ở Cổ Loa.

Phạm vi soi chiếu của khảo cổ hẹp hơn lịch sử vì các cổ vật không biết nói. Còn lịch sử đến lượt mình lại hẹp hơn văn hóa vì văn hóa nói tới mối quan tâm của toàn xã hội. Vì thế các tư liệu khảo cổ chỉ có thể nói lên những thông điệp thật sự khi đặt nó trong đúng bối cảnh lịch sử. Và lịch sử chân thực luôn được thể hiện qua văn hóa cộng đồng. Văn hóa dân gian chính là sự kết tinh của lịch sử dân tộc nên bản thân nó là những chứng liệu cho lịch sử.
Áp dụng cách tiếp cận đa ngành hệ thống trên nhóm Hùng Việt sử quán đã có những kết quả đáng ghi nhận mang tính chất đột phá trong lĩnh vực cổ văn hóa sử, được tóm tắt trong 4 tác phẩm:

  • Sử thuyết Hùng Việt: đã xây dựng một sử thuyết cho giai đoạn từ thời sơ sử tới thời Lý lập nước Đại Việt thông qua việc so sánh, đối chiếu các sự kiện và nhân vật giữa chính sử Trung Hoa và truyền thuyết dân gian Việt. 18 triều đại Hùng Vương đã được xác nhận qua từng nhân vật và sự kiện, diễn biến kế tiếp nhau. Giai đoạn ngàn năm Bắc thuộc được nhìn nhận lại để định rõ triều đại nào là triều đại Việt thật sự, thời kỳ nào là thời kỳ người Việt bị xâm lược, đô hộ bởi Hán tộc phương Bắc.
  • Dịch học Hùng Việt: với phương châm “Nôm na là cha mách qué” Dịch học đã được khơi thông bằng các ngôn từ Việt (Nôm), chỉnh lý những mô hình của Dịch từ Hà Lạc, Can Chi, Ngũ hành Bát quái tới 64 quẻ chồng. Sách cũng xác nhận người Việt là chủ nhân đích thực của nền Dịch học phương Đông.
  • Bước ra từ huyền thoại: tập hợp các truyền tích dân gian theo dòng lịch sử cho phép nhận chân các nhân vật và các sự kiện lịch sử Trung Hoa và Việt. Cuốn sách là một “bản đồ” tâm linh cho các vị thần được tôn thờ với công tích và sự nghiệp được làm sáng tỏ từ góc nhìn lịch sử chân thật.
  • Văn minh Hùng Việt: văn hóa là kết tinh của lịch sử nên các văn vật, các biểu tượng và tín ngưỡng của người Việt đã được phân tích giải nghĩa, tìm ra nguồn gốc xác đáng khi có một góc nhìn lịch sử chân thực.

Bốn cuốn sách đề cập tới 4 trụ cột trong nghiên cứu cổ văn hóa sử Việt, là nền tảng cho việc phát triển, bổ sung, chỉnh lý bởi nhiều người, bởi công chúng, để qua đó lịch sử chân xác của Việt tộc có thể được phục dựng một cách rõ ràng. Lịch sử không phải của riêng ai. Các sử gia chép sử, còn nhân dân mới là người làm nên lịch sử.
Bài phát biểu trong buổi gặp mặt đầu xuân năm 2018 do Trung tâm tâm nghiên cứu lý học phương Đông tổ chức ngày 1/4/2018.
Bách Việt trùng cửu