Hai vị Lý Nam Đế trong sử Việt

Trên cơ sở phân tích các di tích và sự tích về Lý Nam Đế, có thể nhận thấy có 2 nhân vật lịch sử Lý Nam Đế có nguồn gốc và thời gian tách biệt, cụ thể là:

1. LÝ BÔN LONG, người Long Hưng Thái Bình, làm quan lệnh Long Xuyên, lấy vợ ở Vũ Thư, đánh Long Biên – Bắc Ninh, xưng đế nước Vạn Xuân, chặn giặc ở Hợp Phố, khi dời đi đã giao quyền cho Tả tướng quân Triệu Quang Phục. Tức đây là Triệu Vũ Đế khởi nghĩa kháng Tần chống Sở thời trước Công nguyên.

2. LÝ XÁ LỢI, người châu Dã Năng, đi tu trong chùa từ nhỏ, khởi nghĩa ở vùng Sơn Tây, đánh chiếm vùng Đông Anh – Hà Nội, mở 

nước Lâm Ấp, chặn giặc ở cửa sông Tô Lịch, sau giao quyền lại cho Hữu tướng Phạm Tu. Tức đây là Triệu Quốc Đạt – Khu Liên chống giặc Đông Hán.

Thần tích làng Cổ Trai, tổng Duyên Hà, huyện Duyên Hà, tỉnh Thái Bình

Triều Tiền Lý đánh giặc Lương Lý Nam Hoàng Đế cùng Hậu Lý Linh Lang Đại vương

Quan Thượng thư Bộ Lễ thiên triều vâng soạn 

Ghi chép ngọc phả cổ. Chi Càn.
Nước Nam Việt xưa Sơn Nguyên Thánh Tổ trời Nam nhận cơ đồ, cổ gọi là Việt Thường Thị, Kinh Dương Vương thừa mệnh vua cha đến trị trậm Nam Bang, đất thắng châu Lạc xây dựng kinh đô, hình mạnh Nghĩa Lĩnh trùng tu cung cư miếu điện. Đời đời cha truyền con nối hơn hai ngàn năm đều lấy Hùng Vương làm tôn hiệu.
Lại nói, thời trị 18 triều Hùng truyền đến Duệ Vương. Vương thọ 160 năm, không có người kế hậu, bèn nhường ngôi cho Thục An Dương Vương. Vương có nước được 50 năm, thì có người Chân Nam Định họ Triệu tên Đà cất quân đến đánh, nên nhà Thục mất. Triệu Đà đươc nước, cha truyền con theo đều xưng gọi là bậc chủ anh hùng.
Từ đó đất Việt ta thuộc về nhà Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương, tổng cộng 349 năm. Thời vua Lương lấy Tiêu Tư làm thái thú đất Việt. Tiêu Tư là người nặng hình pháp, chính trị ngược ngạo, hại dân. Nhân dân đất Việt thật là chưa có lúc nào khổ như lúc này.
Lại nói, thời ấy tương truyền rằng có người động Thái Bình quận Long Biên họ Lý tên Tấn. Ông là người xử thế văn thơ, khoan hòa hiếu đễ, kế đời theo nghiệp văn thơ, công đức rộng, tài kiêm văn võ, anh hùng vô địch. Ông lấy bà Đào Thị Lan làm vợ, mộng thấy có rồng vàng đến quấn quanh thân mà có mang. Mang thai được 12 tháng 15 ngày đến năm Kỷ Sửu ngày 12 tháng Giêng giờ Thân bỗng thấy mây lành rạng rỡ, khí lành bay khắp nơi, hương thơm ngào ngạt. Thái bà họ Đào sinh được một người con trai, vẻ rồng mắt phượng, 5 gò chầu về, tay dài quá gối, sau lưng có 28 vì tinh tú. Trên bụng có lời viết rằng: Lý Bí Lý Nam Hoàng Đế.
Đến khi lên 5 tuổi đã hiểu âm luật, nên bèn đặt tên là ông Lý Bí. Đến 7 tuổi người cha bèn cho vào học với Trần Giản tiên sinh. Học được 18 năm thì quán triệt văn chương, trên từ thiên văn, dưới đến địa lý, không việc gì không biết, không vật gì không hiểu. Có thể sánh cùng cung tường Khổng Mạnh, thao lược bốn khóa ba truyện không nhường Tôn Ngô.
Khi ông 16 tuổi thì thân dài 8 thước, sức chống vạn người, cao lớn đường đường, thần oai võ lược. Bỗng nhiên nổi chí tang bồng, tỏ tâm với việc cung tên. Ông Bí bèn triệu tập nghĩa binh. Anh hùng bốn biển đều lên tiếng. Ông Bí có kinh luân hơn người, anh tài đức độ, tự có khí tượng của bậc đế vương.
Khi ấy, những người tài cao, chí lớn ở bốn biển nghe tiếng đều tự đến xin làm con cháu nước nhà. Ông có được hơn ba vạn người. Ông Bí bèn truyền cho 300 danh tướng làm cỗ thái lao, lập đàn cầu đảo trời đất bách thần. Ông bèn khấn rằng:
–    Thần là người Nam sao có thể điềm nhiên khi nay có người nước lạ xưng là tướng Lương, tên là Tiêu Tư, tàn ác nhân đân, giết hại vật. Sinh dân than oán cảnh chính trị bạo ngược, bất nhân. Nay thần cùng với quân binh dẹp giặc. Nguyện xin được đại đức của trời đất âm phù cho vậy.
Khấn xong ông bèn xưng là Tiền Lý Nam Đế, cất quân mạnh hơn ba vạn người. Vua bèn truyền các danh tướng nổi danh cương mạnh đi xem địa thế hình cương Nam Bang, tìm đất tốt để thiết lập hành cung, đồn sở. Một hôm vua dẫn quân đến khu Cổ Trai, trang Vĩnh Duyên, tổng Duyên Hà, huyện Duyên Hà, phủ Tân Hưng, thấy vùng đất có đầu mạch từ trong làng chạy ra, hình đất có thế cục quý, rồng chạy uốn lượn, nước chảy quanh co. Trái phải có rồng hổ chầu về, phong tinh dẫn mạch, nhất nhất quay đầu. Vua bèn truyền binh sĩ và nhân dân thiết lập một nơi hành cung để ở, dựa Quý hướng Đinh. Việc xong vua bèn đem quân mạnh 5 vạn chia thành thủy bộ, cùng tiến đến đất Vạn Xuân, đánh trận lớn. Tổng cộng 12 trận. Quân Lương thua to, bỏ chạy. Vua đuổi theo chém được không kể xiết, đều rơi xuống sông Nhĩ. Nhánh sông nước không chảy được. Còn lại dư đảng đều bắt sống hết, không còn một tên. Vua bèn tự lập là Tiền Lý Nam Đế Hoàng đế.
Từ đó quốc gia vô sự, thiên hạ thanh bình, trong triều không có việc lớn, vạn dân được no đủ, mừng vui. Bốn biển thấy cảnh tượng thái hòa. Khi ấy, vua loan giá đi chơi phong cảnh trời Nam, không nơi nào không đến. Lúc thì đàn reo sáo múa, thi thư đối xướng với đất trời. Nhạc phượng ca loan, âm sắc như chốn Bồng Lai. Cỏ ba lá dẫn lối, bầu ngọc gió trăng, thuyền câu là dấu tiên, soi hình cảnh hội khói sương, xa mây vạn hình là bước chân. Nam là thánh, Bắc là thần, ra vào phong cảnh trời Nam, trở về nửa túi càn khôn.
Một hôm (tức ngày 12 tháng 2 mùa Xuân năm Bính Thìn) vua trở về hành cung nơi cũ (tức là trang Vĩnh Duyên, đất qua phía Bắc sông). Vua ngồi ở hành cung. Bỗng thấy trời đất u ám, giữa ngày mà như đêm. Từ trong thân vua thấy rồng vàng xuất hiện, bay thẳng lên trời. Vua không bệnh mà mất. Nhân dân viết tên húy mỹ tự phụng thờ, muôn năm hương lửa vạn đời không ngừng.

Sự thực về “Triệu Đà” ở Thanh Oai…

Làng Quảng Minh, Mỹ Hưng, Thanh Oai thờ một vị Đại vương họ Triệu và thường được các “tín đồ” của Cổ Lôi ngọc phả dẫn rằng đây là nơi thờ Triệu Đà, made in Vietnam chính cống, bởi trong Cổ Lôi ngọc phả kể về một vị Nguyễn Cẩn (hay Thận), là con của Hùng Dực Công (em của Hùng Duệ Vương), sau làm con nuôi của Triệu Cao và đổi sang họ Triệu, rồi làm vua nước Nam Việt…

Các cụ làng Quảng Minh có vẻ cũng thích thú việc thành hoàng quê mình là vị Hoàng đế khai quốc Triệu Đà nên khá tin vào câu chuyện trên. Nhưng thực ra Cổ Lôi ngọc phả không hề có chữ nào nói về Triệu Đà cả, vì như họ đã ghi đây là ông Nguyễn Cẩn hoặc Nguyễn Thận, chưa từng chép tên Đà. Tức là bản thân vị họ Triệu được nhắc đến trong Cổ Lôi ngọc phả không phải là Triệu Đà.

Nay thử xét kỹ xem thực sự Triệu Công chính vị ở Quảng Minh là ai?

Sắc phong thời Lê niên hiệu Vĩnh Thịnh năm thứ 6 (năm 1711) của làng Quảng Minh ghi phong cho các vị:

  • Linh quảng Thánh thần Triệu chính vị Đại vương,
  • Tả Hoàng hậu,
  • Hữu Phi nhân,
  • cùng Tán trị Thánh thần Đại vương.

Câu đối ở đình Quảng Minh:

文謨武烈動王功著雄朝光史筆

左母右姨啟聖德留梓里豎碑銘

Văn mô võ liệt động vương, công trứ Hùng triều quang sử bút

Tả mẫu hữu di khải thánh, đức lưu tử lý thụ bi minh.

Tạm dịch là:

Mưu văn tài võ động tới vua, công nổi triều Hùng rạng bút sử

Trái mẹ phải dì khởi sinh thánh, đức lưu quê ấp dựng bài bia.

Như vậy, làng Quảng Minh thờ một vị họ Triệu ở ngôi giữa và bên trái thờ mẹ, bên phải thờ dì (em của mẹ) và có thể cùng một vị Tán trị Thánh thần không rõ thông tin.

Bản khai thần tích thần sắc của Quảng Minh cho biết vị Triệu Công này đã cùng Tản Viên Sơn Thánh giúp Hùng Duệ Vương chống quân Thục. Sự việc này xem ra vị Triệu Công ở Quảng Minh tương đồng với vị Nguyễn Cẩn trong Cổ Lôi ngọc phả, là dòng dõi vua Hùng. Tuy nhiên, để xác nhân chân tướng của vị Triệu Công ở vùng Thanh Oai này thì cần tham khảo… bản ngọc phả họ Lê ở Hạ Mạo (nay thuộc TX Phú Thọ, Việt Trì).

Ngọc phả Hạ Mạo phối hợp với thần tích của làng Mạo Phổ bên cạnh cho biết vị vua Triệu, cháu của Hùng Duệ Vương cùng Sơn Thánh chống Tần là Út Ngọ Lôi Mao hay Triệu Quang Phục. Đây không phải là Triệu Đà, người xưng Vũ Đế, bởi Triệu Vũ Đế không phải dòng dõi quý tộc Hùng Vương và khởi nghĩa ban đầu là ở đất Chân Định, không phải ở vùng Phong Châu. Triệu Vũ Đế thực ra là cũng là vị Cao Tổ họ Triệu, nên Cổ Lôi ngọc phả chép thành Triệu Cao. Triệu Quang Phục Nguyễn Cẩn là “con nuôi” của Triệu Cao Tổ là chính xác.

Triệu Quang Phục có cha là Triệu Túc, hay Hậu Hùng Vương (em Hùng Duệ Vương) trong ngọc phả Hạ Mạo. Mẹ của ông là Duyên Hòa Thánh mẫu thờ ở Mạo Phổ, là con gái Đông Chu Quân, tức triều vua Hùng đời cuối. Triệu Quang Phục đã cùng với Triệu Đà (được kể thành Sơn Thánh) khởi nghĩa chống Tần thắng lợi. Triệu Đà xưng là Vũ Đế, còn Triệu Quang Phục sau đó xưng vương, tức là Triệu Việt Vương. Triệu Vũ Đế gả con gái cho Triệu Quang Phục nên từ đó nước Nam Việt theo họ Triệu (chi tiết giống Nguyễn Cẩn theo Triệu Cao làm con nuôi và đổi họ).

Như vậy, vị Triệu công chính vị ở Quảng Minh hay Nguyễn Cẩn trong Cổ Lôi là Triệu Quang Phục, người sau này trở thành Nam Việt Vương. Đây là một vị khác, không phải Vũ Đế Triệu Đà ở Đồng Sâm (Thái Bình), người là Cao Tổ đã xưng Đế cả thiên hạ Trung Hoa sau khi diệt Tần thắng Sở. Vị “tả Hoàng hậu” họ Trần ở Quảng Minh tương ứng với con gái Đông Chu Quân, vợ của Hậu Hùng Vương Triệu Túc.

Câu chuyện về các vị vua Triệu, đế và vương khá lẫn lộn, nên cần suy xét, đối chiếu kỹ càng, tránh để tình trạng như hiện nay, Quảng Minh thay vì thờ Triệu Việt Vương lại cho là Triệu Đà. Còn Đồng Sâm thay vì thờ Triệu Vũ Đế lại treo biển ghi thành ông Nguyễn Cẩn của Cổ Lôi.

Sắc phong làng Quảng Minh năm Vĩnh Thịnh thứ 6 (1711).
Nghi môn đình Quảng Minh.
Ban tiền tế đình Quảng Minh.

Thánh từ ngọc phả đền Bắc (Văn Lãng, Trực Tuấn, Trực Ninh, Nam Định)

Ngọc phả Hoàng đế Triệu Việt Vương (phụ Hùng triều Quý Minh Đại vương)

Thuộc chi Càn, bộ thứ nhất, Thượng đẳng thần

Bản chính của bộ Lễ quốc triều

Xưa nước Việt bang Nam ta kể từ Thánh Tổ Đại bảo Tiền Hoàng đế triều Hùng khởi tạo cơ đồ to lớn, trải xem chỗ tiện lợi của thế sông núi mà xây dựng thành đô ở thắng địa Phong Châu, trùng tu đền miếu nơi đất cường Nghĩa Lĩnh. Đời đời cha truyền con nối đều xưng là Hùng. Ngọc lụa xe sách, núi sông một dải thống nhất. Đó là tổ của Nam Việt vậy.

Trải qua 18 đời truyền tới vua Duệ Vương. Vua là người có hùng tài đại lược, tư chất thánh triết. Nối tổ tông gây dựng 17 đời cơ đồ  thịnh trị. Trong sửa sang văn đức, ngoài phòng bị biên cương, dốc chí hưng bình để yên ổn đất nước. Chăm lo lấy đức dậy dân. Trên đời ai cũng khen là bậc hiền quân vậy.

Thời ấy nước ta có một gia đình ở đạo Sơn Tây, phủ Gia Ninh, huyện Gia Hưng, động Lăng Sương, họ Nguyễn tên Khiết, vợ là Cao Thị Đức. Gia thế vốn hùng mạnh có tiếng, nhưng tuổi đã ngoài 50 mà vẫn chưa từng có con. Vợ chồng lấy làm phiền muộn không vui.

Nhân gặp tiết trời xuân hòa khí, nơi nơi hoa nở đầy vườn. Người người đua nhau thưởng ngoạn. Ông bèn cùng anh ruột là Cao Hành (ông Hành tuổi cũng cao mà chưa có con). Hai ông dẫn gia nhân 10 người mang theo một bình rượu, một cây đàn cùng đi chơi lên núi Tản. Lên đến sườn núi gặp một ông lão mày râu bạc trắng, đầu đội mũ bách tinh, tay cầm gậy trúc, theo sau vài người hầu mang theo một bình rượu cùng một chiếc la bàn, vừa đi vừa ngâm thơ. Hai ông thấy cho là Tiên ông trên Bồng Lai hoặc là thần linh ở núi Tản hiện lên. Hai ông vội vàng đến trước mặt quỳ lạy và thưa rằng:

  • Nhà chúng thần đức bạc, anh em đều đã cao tuổi mà nối dõi tông đường còn muộn. May mà gặp được Tiên ông ở đây, giám xin mở rộng lòng thương, làm phước cho lũ thần thỏa lòng mong mỏi. Thực là ơn Tiên ông vạn lần vậy.

Ông lão nghe xong cười nói rằng:

  • Ta vốn chẳng phải Tiên, cũng chẳng phải Thánh. Vốn là nhân lúc rảnh rỗi dạo gót chốn đời. Nay các ngươi gặp ta cũng là có phúc, không phải thường tình. Ta đã xem thấy ở sườn núi kia có ngôi đất lành bên trái, bên phải có rồng chầu nước tụ, huyệt ở hướng Nhâm Bính, có thể phát rất nhanh. Nếu táng mộ vào đấy chẳng quá vài năm sẽ sinh ba người con quý. Ta sẽ cho các ngươi hưởng phúc này. Vậy kíp về thu thập hài cốt tiên nhân, ngày mai vào giờ Dần mang đến đây, ta sẽ táng cho.

Hai ông mừng lắm, lạy tạ rồi trở về nhà, vội rước hài cốt thân mẫu cùng lễ vật, rạng ngày hôm sau mang lên sườn núi, đã thấy ông lão ngồi ở chỗ đó từ lâu. Hai ông làm lễ bái yết. Ông lão chiếu la bàn, điểm huyệt ngay chỗ đã gặp ông hôm qua. Táng xong, hai ông định gặp để lễ tạ thì không thấy ông lão đâu nữa.

Từ đó hai ông trở lại quê nhà. Chẳng bao lâu ông Hành sinh được một người con trai là Sơn Thánh. Ông Khiết cũng sinh được hai người con trai (vào ngày 10 tháng Giêng năm Giáp Dần), thể diện khác thường, hình dung dĩnh ngộ. Ông Khiết mừng lắm, bèn đặt tên người con trưởng là Sùng Công, người con thứ là Hiển Công.

Đến khi trưởng thành năm 12 tuổi thì hai cha mẹ đều mất cả. Lúc ấy hai ông cùng với ông Tùng đều nhờ vào vị thần nữ Cao Sơn họ Ma làm con nuôi. Đến khi bà họ Ma mất, giao phó địa phần núi non ruộng đất cho ba ông. Ông Tùng phân định từ núi Nộn sang bên trái giao cho ông Sùng, phong làm Tả kiên thần. Từ núi Nhạc về bên phải giao cho ông Hiển, phong làm Hữu kiên thần (Xét ông Tùng với ông Sùng và ông Hiển là anh em chú bác, có dáng như trong 50 người con cùng một bọc theo mẹ lên núi mà lại thác sinh vào thời này. Ông Tùng nhờ vào bà họ Ma làm con nuôi, sau được Thái Bạch Tinh Quân cho gậy thần, Long Đình Đế cho sách ước. Từ đó đã đưa lại phúc đức cho thế gian, đền đáp được ơn sâu của mẹ nuôi. Bà họ Ma cho con là chí hiếu, nên đã lập chúc thư, giao cả núi sông đồng ruộng cho ông Tùng. Đến khi bà họ Ma mất, ông Tùng giao cho hai em. Từ đó uy danh vang dội. Người đương thời tôn ông là Tản Viên Sơn Thánh vậy). Từ đó uy danh cả ba ông lừng lẫy sang cả Bắc quốc.

Lại nói, lúc đó  vua Duệ Vương sinh được hai mươi ngươi con trai, các hoàng tử đều xa chơi nơi Bồng Đảo. Chỉ còn hai công chúa, người lớn là Công chúa Tiên Dung đã kết duyên với Chử Đồng Tử. Công chúa thứ hai là Mỵ Nương, vườn xuân khóa kín, nhụy ngọc chưa mở, túc khế lương duyên còn chưa định đoạt.

Vua bèn dựng lầu bên bờ sông Bạch Hạc, đất Việt Trì đề ba chữ “Lầu kén rể”, ban chiếu truyền cho thần dân thiên hạ, ai là người thông minh tài trí, đức độ anh hùng, Trẫm có thể nhường ngôi báu thì sẽ hứa gả công chúa Mỵ Nương cho.

Ngày ấy dưới sông thuyền bè đua bơi, trước lầu ngựa xe rầm rập. Ngọn bút mưa thành rồng bay rắn lượn. Sao trên trời chừng như rơi xuống mặt sông. Trận võ khép vòng vây mà hổ báo kinh hồn. Chớp giật sấm ran lừng góc biển. Một phen tụ tập cả nước anh hùng bốn bể. Song đều là những tay bậc thường thường, không phải toàn tài, không đáng xứng tên. Thơ đào yêu còn chưa có được tiếng đàn ngân lên thích hợp. Người thời ấy có bài thơ vịnh rằng:

Một trường cả nước đều rung động

Bốn bể anh hùng mở mắt trông

Chưa biết vườn xuân ai mở khóa

Chờ xem ai đó đấng anh hùng.

Ba ngày sau, Sơn Thánh nghe tin ấy, bèn cùng với hai em vào cung ứng tuyển. Vua Duệ Vương thấy Sơn Thánh có nhiều tài lạ chước giỏi, bèn gả công cháu Mỵ Nương cho Sơn Thánh.

Sơn Thánh rước Công chúa về sơn động yên vui. Để hai em (tức là ông Sùng và ông Hiển) ở lại giúp vua. Vua thấy hai em Sơn Thánh tướng mạo đường đường, lại có tài năng, bèn phong cho ông Sùng chức Tả đô đài Đại phu, ông Hiển chức Hữu đô đài Đại phu. Ban cho phụ chính trong triều. Hai ông bái tạ nhận mệnh, nhận chức ở triều. Qua được vài năm, thiên hạ thanh bình, quốc gia vô sự, dân chúng no đủ, bốn bề yên lặng. Hai ông dâng biểu xin đi chu du thiên hạ, trải xem sông núi. Vua đồng ý.

Hai ông bái tạ, xa giá đi dạo dãy núi Hoành Sơn, sông ngòi ngoạn thưởng điều thú vị của ngư ông. Có lúc tản bộ vào sườn núi, hứng gió mát ở nơi khoáng dã. Có lúc đi thăm bến nước, đón trăng trong ở giữa dòng sông. Một hôm hai ông đi đến đạo Sơn Nam, phủ Thiên Trường, huyện Tây Chân, xã Xối Đông. Hai ông thấy thế đất hữu tình, bèn lập hành cung ở đó. Xong việc, lại cử giá đi chu du.

Khi ấy ông Hiển đi qua xã Quần Lãng, kết hôn với con gái họ Trần. Rồi cùng họ nhà vợ và gia thần lập riêng một trại gọi là trại Nam Lãng. Việc xong rồi, ông trở về xã Quần Lãng. Hôm đó phụ lão thấy ông đi qua bèn làm lễ bái tạ.

Lúc đó ông thấy đất Quần Lãng có sông núi diễu quanh, rồng hổ bao bọc, cả một dải đất như hình rồng uốn lượn, phong cảnh khôi kỳ. Ông mới truyền cho gia thần và nhân dân thiết lập một tòa du cung để làm nơi thưởng ngoạn ở đó. Nhân dân vâng mệnh, thiết lập xong (Thời ấy ông đi đến nơi nào thấy có thắng cảnh đều thiết lập hành cung. Về sau khi ông hóa nhân dân phụng thờ, cộng được 372 nơi, có sự tích riêng), ông ở lại đất Sơn Nam qua được thời gian 1 năm.

Lúc đó Thục chúa xa nghe Duệ Vương đã thượng thọ mà không có con nối dõi, bèn dẫn trăm vạn hùng binh, tám ngàn ngựa khỏe, năm trăm thuyền chiến, chia thành 5 đường đồng loạt đến xâm chiếm để cướp lấy nước. Một đạo theo đường Thập Châu, Hoàng Tùng tiến vào. Một đạo theo đường châu Tụ Long, châu Bảo Lạc tiến vào. Một đạo theo đường châu Quỳnh Nhai, Tuyên Quang tiến vào. Một đạo theo đường Ái Châu, Sơn Nam tiến lên. Một đạo quân thủy từ cửa biển Hội Thống ở Hoan Châu mà tiến. Dựng cờ lớn ở Mộc Châu.

Thư ở biên giới cấp báo về triều, một ngày tới 5 lần. Vua Duệ Vương nghe tình hình nguy cấp, bèn triệu con rể là Sơn Thánh cùng các tướng lại bàn kế chống giặc (Ngày ấy ông Hiển đang ở đất Sơn Nam, vâng chiếu triệu về kinh nghị luận mưu kế). Sơn Thánh tâu rằng:

  • Thần xin thay nhọc Thánh thượng, tự chọn tướng tài. Quân Thục chẳng qua một ngày bình được.

Vua nghe xong phong cho Sơn Thánh chức Ngũ đạo Đại tướng quân, lĩnh ấn Nguyên soái, kiêm Trưởng thủy bộ tam quân, cho được tùy tài tổ chức. Khi đó ông Hiển cố sức xin được lĩnh trách nhiệm ở mặt Ái Châu và Sơn Nam. Sơn Thánh đồng ý, phong làm Hữu tướng quân.

Cũng ngày ấy Sơn Thánh cùng các tướng bái tạ nhận lệnh, đều cất quân chia đường mà tiến. Khi ấy ông Hiển tiến binh qua đất Quần Lãng, chọn lấy người khỏe mạnh được 16 người để làm gia thần thủ hạ. Xong rồi ông mang đại quân đánh  một trận được toàn thắng. Trong khi đó còn các nơi khác Sơn Thánh cùng các tướng hiệp lực đại chiến một trận. Quân Thục thua to, tan vỡ. Vua Thục chạy về nước. Dư đảng đều dẹp được.

Ông Hiển lập tức khải hoàn bái tạ bệ kiến. Ngày đó vua luận công lao để phong thưởng, phong cho ông Hiển làm Đại bảo Minh quốc công, thực ấp vạn hộ. Ông cố từ, không nhận, làm biểu tấu lên triều đình, xin đi khắp nơi để xem sông núi là đủ vinh dự nhất vậy.

Vua biết ông Hiển đối với nước có công lớn, nên phong làm Quý Minh Đại vương, sắc phong sinh thần, được đi chu du thiên hạ, chọn lập sinh từ ở các xứ, để làm nơi vạn năm hưởng hương hỏa phụng thờ. Ông làm lễ bái tạ, rồi loan giá đi chơi khắp thiên hạ. Phàm là những cung doanh khi trước dựng ở nơi nào thì ông đều lập sinh từ ở đó.

Một hôm ông đi về xã Quần Lãng. Ông mở cuộc vui chung, triệu tập phụ lão nhân dân đến mời uống rượu. Ông bèn bảo rằng:

  • Ta vẫn có một hành cung ở địa giới đất này. Thảng hoặc sau này ta trăm tuổi, dân chúng hãy sửa sang cung sở, viết thần hiệu của ta là Quý Minh Đại vương để phụng thờ.

Nhân dân đều bái tạ lĩnh mệnh. Ông Hiển ở đất Sơn Nam thường qua chơi nơi cung sở xã Quần Lãng, giáo hóa nhân dân, tăng lợi trừ hại. Lấy nhân nghĩa lễ trí dậy bảo cho dân tục. Từ đó nhân dân no đủ, phong tục thuần hậu, đều là nhờ đức của ông Hiển vậy.

Lại nói, vua Duệ Vương không có con nối dõi bèn mời con rể là Sơn Thánh lại để nhường ngôi báu. Sơn Thánh cố từ không nhận, tâu rằng:

  • Cơ đồ 18 đời Hùng, lòng trời đã định. Nay có Thục chúa, tuy là bộ chủ Ai Lao, nhưng cũng là dòng bên ngoại họ Hùng, nên nhường nước cho Thục chúa là hơn. Thần có phép tiên biến hóa, xin cùng Bệ hạ thoát khỏi chốn trần ai, bay lên làn mây, chẳng cũng vui lòng lắm sao?

Vì vậy Duệ Vương mới mời Thục chúa lại nhường ngôi cho. Đoạn vua cùng với Sơn Thánh đang giữa ban ngày bay lên trời. Lúc đó ông Hiển đang ở đất Sơn Nam, nghe tin Duệ Vương đã hóa, bèn ngửa mặt lên trời mà than rằng:

  • Cơ đồ họ Hùng đã thuộc về tay người khác rồi.

Than xong, ông mang theo gia thần vài người trở về gia quán (tức động Lăng Sương). Đến nơi, ông Hiển lên núi Tản Lĩnh. Vừa tới đỉnh núi bỗng nhiên thấy trời đất mù mịt, mưa gió lớn nổi lên. Ông đã hóa vậy (hôm đó là ngày 12 tháng 9). Khoảnh khắc mây tan mưa tạnh, trời đất quang đãng. Thấy mối đùn lên thành một gò đất cao.

Sự dứt, các gia thần trở về kể sự việc ấy cho mọi người nghe. Ngày ấy xã Quần Lãng được tin, nhân dân tuân theo lời dặn của ông, tức thì sửa sang hành cung thành đền miếu, viết thần hiệu phụng thờ. Từ đó về sau có nhiều anh linh hiển ứng, phần nhiều có công âm phù hộ quốc. Cho nên nối đời đế vương đều bao phong mỹ tự và sắc chỉ, vạn cổ hưởng thờ, cùng với trời đất tồn tại mãi mãi. Đẹp đẽ thay!

Phong là Tản Viên Sơn Đệ tam vị Hữu đô đài Quý Minh Đại vương (Đại vương húy là Hiển, tự là Tuấn).

Cho phép đạo Sơn Nam, phủ Thiên Trường, huyện Tây Chân, xã Quần Lãng phụng thờ (đền chính ở động Lăng Sương).

Ngày sinh thần mùng 10 tháng Giêng (lễ nghi dùng cỗ chay, trà quả, xôi lợn, cỗ trâu, bánh dày, ca hát, đấu vật một ngày).

Ngày thần hóa vào 12 tháng 9 (lễ dùng như ngày sinh thần).

Kiêng kỵ tên húy ba chữ Hiển, Quý Minh nhất thiết cấm, cùng chữ Tuấn đều phải tránh âm.

Lại nói, vua Thục lấy được nước, tức là Thục An Dương Vương, ở ngôi 50 năm. Rồi Triệu Vũ Đế lấy được nước, nước ta thuộc nhà Tây Hán. Trải qua Đông Hán, Ngô, Tống, Tấn, Tề, Lương. Đến nhà Lương sai Dương Tư sang làm Thứ sử. Tư là người dùng hình nặng, phép dữ, chính ngược hại dân.

Thời đó nước Việt ta khắp nơi lầm than, chưa có thời nào cực khổ như vậy. Khi đó ở đạo Sơn Tây, phủ Tam Đới, huyện Chu Diên, có một nhà họ Triệu, tên là Túc, vợ là Lý Thị Đàm. Trước kia tiên tổ vốn làm quan ở triều nhà Triệu. Đến khi nội thuộc qua sáu triều đại bèn về ẩn dật chốn làng quê, lấy nghề lương y, nho học để mưu sinh. Đến đời ông Túc vợ chồng đều hiền lành chất phát, làm phúc cứu người, càng tăng thêm lòng phúc hậu, gắng sức tu nhân. Phàm là những việc cứu nghèo tạo phúc, đều cố hết sức mình mà làm vậy. Người địa phương đều khen ngợi là một nhà kẻ sĩ có lòng tốt. Lúc đó ông tuổi đã 40 mà điềm lộng chương còn chậm, giấc mộng kỳ lân chưa thấy báo ứng.

Một hôm bà họ Lý ngồi tựa lan can thiếp đi như ngủ, mơ màng trong mộng, thấy một ông quan áo mũ chỉnh tề, hai tay ôm một đứa bé trao cho bà nói rằng:

  • Nhà họ Triệu phúc hậu, trời đã chiếu cố, cho nên Hoàng Thiên sai ta mang đứa bé này cho vào nhà ngươi làm con. Mai sau sẽ dựng nước diệt giặc, tiếng tăm khắp thiên hạ. Chỉ hiềm phúc quả chưa tròn nên chưa lâu dài lắm.

Đang trong mộng bà ôm lấy đứa bé mừng rỡ, bỗng nhiên bừng tỉnh, mới biết là chiêm bao. Bèn kể lại chuyện với ông Túc. Ông nói:

  • Nếu quả là như trong giấc mộng của bà thì tất nhiên là điềm lành.

Từ đó vợ chồng uyên ương chung gối, loan phượng sánh vai, vui tiếng chuông ngân trống dục, hứng vị vần thơ cung đàn. Ít lâu sau quả thấy phu nhân có mang, đầy mười một tháng, vào năm Giáp Dần, ngày mùng 6 tháng 3 sinh hạ được một người con trai. Lúc giờ sinh khí lành bay man mác, gió đưa hương ngào ngạt. Thấy được một con trai thuần phong tuấn tú, ứng vào lời nói của thần tướng. Mặt mũi khôi ngô y như đứa bé đã nhận được trong mộng. Ông Túc cả mừng, nghĩ thầm, đứa con sau này ắt hưng phục nghiệp nhà nên mới đặt tên là Quang Phục.

Ngày qua tháng lại được 12 tuổi đã tỏ ra thiên tư minh mẫn, tính bẩm anh thông. Cho đến năm 15 tuổi thì oai phong cường tráng, trí dũng kiêm tài, thao lược tinh thông, văn chương quán triệt. Thật là bậc tuấn kiệt trong đời vậy.

Triệu Quang Phục trước mắt nhìn thấy quan thứ sử nhà Lương là Dương Tư tàn bạo với dân, hình phạt hà khắc. Ông đau lòng vì dân chúng lầm than, bèn lui tới với những người có mưu trí, triệu tập dân ly tán, tìm dõi người hào kiệt trong thiên hạ. Chẳng bao lâu số quân ứng nghĩa đã được vài ngàn người. Song lúc đó những bậc nam nhi thao lược, tướng tá anh tài chưa quy về một mối, chưa biết ai là người quân trưởng, còn phải đợi thời cơ mới phát động được.

Một hôm ông nghe ở đất Thái Bình thuộc xứ Long Biên có người tên là Lý Bôn dấy binh ở châu Cửu Đức, cũng có chí chống quân Lương. Ngay hôm đó ông mang binh mã, mưu lược đi tìm gặp ông Bôn. Ông Bôn thấy ông tướng mạo đường đường, phong tư lẫm liệt, kỹ năng thao lược, văn võ kiêm toàn. Ông Bôn mừng lắm, nghĩ thầm:

  • Chắc là trời khiến người này đến giúp vận nước đây.

Tức thì cho làm chức Điều xuyết binh nhung, dẫn quân tiên phong cùng với ông đại chiến với quân Dương Tư một trận. Quân Tư thua to, bỏ thành chạy về nước Bắc. Sau đó không lâu quân Lâm Ấp lại vào cướp bóc. Ông Bôn bèn lập đàn phong ông Phục làm Tả tướng quân, Phạm Tu làm Hữu tướng quân. Khiến mang quân đánh phá, Lâm Ấp.

Ông Bôn lên ngôi Hoàng đế, ấy là vua Tiền Lý Nam Đế, đóng đô ở thành Long Biên, đặt tên nước là Vạn Xuân, đặt trăm quan, định đô ấp, phong thưởng cho công thần cao thấp khác nhau. Ông Phục được phong làm Quốc tể Long Lĩnh hầu, lĩnh ấn Đại tướng quân, tại triều phụ chính. Vua tôi hợp đức, đất nước thanh bình. Trải qua 6 năm ông Phục có nhiều công với nước. Vua rất yêu kính, thăng thưởng nhiều lần, các quần thần không ai bì kịp.

Lại nói, thời vua Lý Nam Đế ở ngôi trải qua 7 năm. Vua nhà Lương lại sai Trần Bá Tiên đem quân xâm lược phía Nam để phục thù trận thua ngày trước. Khi quân Lương đến, vua đóng quân ở hồ Triệt. Quân Lương không dám tiến. Bỗng một sớm lũ lớn tràn về. Quân của Bá Tiên ùa theo dòng nước mà tiến. Quân của vua tan vỡ. Vua mới ủy quyền cho Đại tướng Triệu Quang Phục giữ nước. Vua ẩn vào động Khất Liêu, rồi mất.

Từ đó ông Phục tìm khắp thiên hạ nơi nào có chỗ hiểm trở thì thiết lập đồn doanh để chống quân Lương. Một hôm ông về đến đạo Sơn Nam Thượng, phủ Khoái Châu, huyện Đông An, bãi Tự Nhiên. Ông bèn lập doanh trại ở đầm Nhất Dạ (Đầm ấy trước kia là nhà của Chử Đồng Tử, tự nhiên thành bãi. Đến khi Chử Công hóa, một đêm thành đầm, nên có tên ấy), cùng với quân Lương chống cự. Sau quân Lương sai tướng Dương Sàn dẫn quân đến tiếp viện rất đông. Qua nhiều trận giao chiến quân ông bị thiệt hại.

Ngày ấy ông lại đi tìm mọi nơi trong thiên hạ, nơi nào dân giàu có, lại có địa hình hiểm trở để xây dựng những doanh trại làm nơi phòng bị. Một hôm ông xa giá đi qua đạo Sơn Nam Hạ, phủ Thiên Trường, huyện Tây Chân, xã Quần Lãng, thấy có sông ngòi quanh co, có thể lập được đồn. Ông bèn dừng quân ở đó, nhân làm lễ cầu khấn ở đền thờ Quý Minh Đại vương, xin được âm phù hộ quốc. Khấn xong đêm ấy ông nằm mộng thấy một người đầu đội mũ bách tinh, mình mặc áo hồng bào, tay cầm thẻ bài vàng, bảo rằng:

  • Hoàng Thiên đã định cho họ Triệu làm vua, hưởng nước ngoài 20 năm. Nay khanh nên trở về đầm Dạ Trạch, lập đàn kỳ đảo. Thiên đình sẽ sai Chử Công mang móng rồng xuống giao cho khanh. Tất sẽ bình được giặc Lương vậy.

Nói xong thì biến mất. Khi tỉnh dậy, sáng ngày ông làm lễ bái tạ. Đoạn rồi truyền quân cùng nhân dân xây dựng một đồn ở bên sông để phòng ngự. Việc xong, ông lại trở về cung sở (tức đầm Nhất Dạ). Nhớ lại sự việc trong mộng bèn trai giới thanh khiết, lập đàn kỳ đảo. Sau thấy một người cưỡi rồng vàng ở trên trời xuống bảo rằng:

  • Nơi đất linh thiêng này chốn ta đã thoát trần trước đây.

Nói rồi trút một cái móng rồng đưa cho, dặn đem để lên chỏm mũ đầu mâu, khi ra trận hướng về phía địch thì sẽ được toàn thắng. Nói xong cưỡi rồng bay lên. Từ đó ông được móng rồng, đánh bại quân Lương, chém được tướng Dương Sàn. Quân Lương chạy về Bắc. Ông bèn thống nhất thiên hạ, tự lập làm vua, hiệu là Triệu Việt Vương, đóng đô ở thành Long Biên.

Lại nói, ông Phục từ khi gặp Quý Minh Đại vương ở trong mộng, khi ở Dạ Trạch lại thường mộng thấy một người áo mũ chỉnh tề, y như người đã gặp trong mộng Quần Lãng, thường cùng vua (tức ông Phục) đối thoại, bảo ông rằng:

  • Ta cùng Ngài tuy âm dương hai ngả, song ngày sau hưởng lộc cùng một địa phương.

Nhân tặng vua một bài thơ rằng:

Âm dương hai cõi đã chẳng nề

May được tương phùng giữa thú quê

Ngày sau cùng hẹn về Quần Lãng

Là nơi thờ hưởng muôn nghìn thu .

Đến khi vua lên ngôi nhớ lại lời thơ này, nghĩ thầm:

  • Có lẽ sau này ta là phúc thần ở Quần Lãng chăng?

Bèn sai sứ giả sắm sửa lễ vật, về tận đất Quần Lãng để bày tế tại đền thờ Quý Minh Đại vương. Tế xong lại ban cho nhân dân vàng ròng 5 hốt, giao cho nhân dân mở rộng ruộng vườn làm của công. Lệnh cho các khoản binh dịch đóng góp, tô thuế đều được miễn cả. Từ đó đất Quần Lãng trở nên trù phú, địa ấp phong nhiêu, đều nhờ công đức của vua vậy.

Lại nói, vua ở ngôi 21 năm. Trong khi đó có người con anh vua Tiền Lý Nam Đế tên là Phật Tử mang quân từ động Dã Năng đến (Phật Tử là con của Thiên Bảo. Vua Nam Đế đánh quân Lương rồi mất. Thiên Bảo mang chúng quân chạy vào động Dã Năng, tự xưng là Lang Vương. Sau đến Phật Tử lên, đến đánh). Lúc đó vua nghĩ Phật Tử là cháu con chú con bác của Nam Đế nên không nỡ tuyệt. Bèn chia nước làm hai để cùng trị. Cắt bãi Quân Thần (Thuộc huyện Từ Liêm, xã Thượng Cát, Hạ Cát. Từ Thượng Cát về phía Tây nhường cho Phật Tử. Từ xã Hạ Cát về phía Đông thuộc vua).

Vua bèn rời đô sang Ngọc Ninh. Phật Tử đóng đô ở Ô Diên, cùng chia phân để trị. Được hơn 1 năm, một hôm Phật Tử cùng con trai là Nhã Lang bàn mưu kế rằng:

  • Ta xem Việt Vương quân thắng nước mạnh, phần nhiều là có thuật lạ. Hắn có con gái là Cảo Nương cùng lứa tuổi với con. Chi bằng ta đưa thư cầu hôn con gái vua, sai con ở rể, xem ý ra sao. Sau ta thừa cơ bất ngờ dẫn quân đến đánh, chắc không phải khó nhọc mà thống nhất thiên hạ vậy.

Bàn rồi sai sứ giả đem thư cầu hôn sự với Vua. Vua bèn thu nạp. Phật Tử chọn ngày lành đem đồ sính lễ và Nhã Lang đến. Vua bèn lưu Nhã Lang tại nước nhà. Vương rất hài lòng, khen Nhã Lang là con rể tốt. Tình vợ chồng của hai con ngày càng mật thiết. Nhã Lang dụ được Cảo Nương lấy trộm được móng rồng, trở về trình với Phật Tử. Phật Tử tức thì đem quân đến đánh. Vua dở móng rồng thấy bị mất, bèn lên ngựa chạy thẳng đến cửa biển Đại Nha, Vua quay lại thấy quân Lý đuổi gấp. Vua thấy tình thế khó thoát bèn nhảy xuống biển mà hóa. Sau ngày hóa rất có anh linh. Nhân dân địa phương (tức cửa Đại Nha, nay thuộc xã Lục Bộ) lập đền thờ phụng, lấy đó làm đền chính.

Từ ngày Vương hóa, nhân dân xã Quần Lãng sinh ra tật dịch, súc sản bất an. Nhân dân lo lắng, xem xét lập đàn kỳ đảo. Đêm hôm ấy mộng thấy Triệu Việt Vương cùng với Quý Minh Đại vương hội du ở nơi đền. Triệu Vương gọi nhân dân, bảo rằng:

  • Nay ta đã hóa. Ta phụng mệnh Thiên đình là Chúa tể nơi đây. Dân chúng hãy viết thần hiệu là Triệu Việt Vương Hoàng Đế để phụng thờ.

Nói đoạn, nhân dân bỗng nghe một tiếng trống đồng lảnh tai, phút chốc tỉnh giấc. Sáng ngày nhân dân tụ họp ở nhà hội quán, nghe nói lại mộng triệu, thấy có lý, lấy làm sợ hãi. Tức thì trùng tu cung điện, viết thần hiệu phụng thờ. Từ đó về sau nhân dân khang thái, súc sản bình an. Hai vị Đại vương có nhiều linh ứng.

Lại nói, Phật Tử được nước, xưng là vua Hậu Lý. Chưa bao lâu sau nội thuộc nhà Tùy. Đến đời Đường sai Cao Biền làm quan đô hộ nước ta. Lúc đó có giặc Nam Chiếu khởi binh ở cửa bể Nam Hải. Biền phải thân chinh đi đánh. Một hôm Biền tiến quân qua xã Quần Lãng, bèn vào làm lễ kỳ đảo ở đền thờ hai vị Đại vương, khấn rằng:

  • Nhờ được âm phù hộ quốc, chờ ngày thanh bình sẽ có gia phong sắc chỉ để biểu lộ sự anh linh.

Khấn xong cất quân tiến thẳng, đánh một trận lớn, bình được giặc Nam Chiếu. Biền hồi binh khải hoàn, nhớ lại khi ở đạo Sơn Nam xã Quần Lãng hai vị Đại vương quả nhiên có công hộ quốc. Bèn tặng phong sắc chỉ, sai quan mang sắc về bày tế. Lại ban cho nhân dân ngân tiền 60 quan, truyền cho nhân dân mở rộng cung điện để phụng thờ.

Từ đấy về sau rất có anh linh, khấn tạnh, cầu mưa đều có linh nghiệm. Cho nên nối đời đế vương gia phong sắc chỉ và mỹ tự, vạn đời tế lễ, muôn năm hương khói. Sự tồn tại cùng với trời đất lâu dài, công đức ngày càng to lớn vậy. Đẹp đẽ thay!

Nhất tôn phong Hoàng đế Triệu Việt Vương,

Nhất phong Tản Viên Sơn Đệ tam vị Hữu kiên thần Đô đài Đại phu Quý Minh Đại vương.

Chuẩn y cho đạo Sơn Nam phủ Thiên Trường huyện Tây Chân xã Quần Lãng phụng thờ.

Những điều lệ thần sinh, hóa, lễ khánh hạ, cũng  những chữ kiêng kỵ vâng kê như sau:

Ngày sinh thần vào mùng 6 tháng 3 (lễ vật dâng: trên cỗ chay, dưới xôi, lợn. Ngày chính tế dùng trâu, đánh cờ, hát xướng một ngày).

Ngày hóa thần là 14 tháng 8 (lễ vật dùng như ngày sinh thần).

Lễ Khánh hạ ngày 10 tháng 4 (Lễ vật dùng: trên tiến cỗ chay, dưới dùng xôi, lợn, rượu. Ngày chính dùng trâu, ca hát năm ngày thì dừng).

Kiêng kỵ chữ húy hai chữ: Túc, Phục đều cấm.

Triều vua Vĩnh Hựu năm thứ 2 tháng Giêng ngày lành chức Quản giám Bách thần Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh, thần, Nguyễn Hiền, tuân y bản cũ của triều trước sao chép.

Hai vị nữ chủ của người Việt cổ

Nếu không kể đến những vị mẫu chủ thời kỳ huyền thoại như mẫu Tây Thiên, mẫu Thần Long Động Đình, mẫu Âu Cơ, mẫu Ma Thị Cao Sơn thì sử Việt còn kể đến những vị nữ thủ lĩnh thiên hạ khác, với công tích, sự nghiệp cũng rất hiển hách, không kém gì các vị đế vương.

Ân Hậu Ma Cô Tiên

Vị nữ thủ lĩnh rất cổ được biết là từ thời nhà Ân. Truyện Giếng Việt trong Lĩnh Nam chích quái kể thời Tần, Thôi Vĩ ở chân núi Trâu Sơn đã đến Ân Vương thành, được Ân Hậu tiếp đãi, rồi được Ma Cô Tiên ban cho phúc lộc ra về. Ma Cô Tiên đã trở thành vị phúc thần, thọ thần phổ biến trong văn hóa truyền thống, thường được thể hiện trong bức vẽ Ma Cô hiến thọ.

Ở chùa Ma Cô Tiên tại thôn Châu Cầu, xã Châu Phong, Quế Võ, Bắc Ninh còn có tấm bia Thánh Tổ Cô Tiên tự bi ký, cho biết Ma Cô Tiên được tôn xưng là Thánh tổ tại đây. Sắc phong của làng Châu Cầu gọi bà là  Thiên tiên Thánh mẫu Đệ nhất Cửu trùng Công chúa.

Ân Hậu Ma Cô Tiên cũng chính là Bạch Kê tinh trong truyền thuyết ở chân núi Ma Lôi (núi Sái, Đông Anh) khi An Dương Vương xây thành Cổ Loa. Mẫu Bạch Kê còn được thờ trên núi Thất Diệu (Yên Phong, Bắc Ninh) gần đó với sự tích là một công chúa con vua Hùng. Cũng ở vùng này còn có sự tích các Cô tiên đã giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa nhưng không thành.

Câu đối ở đền mẫu Bạch Kê:

Hồng Lạc di phong trang thể thế
Tiên Long dư duệ khải hồng cơ.

Nghĩa là:

Hình thể trang nghiêm, di dấu từ Hồng Lạc
Cơ đồ to lớn, dòng dõi vốn Tiên Rồng.

Ma Cô Tiên còn hiển linh dưới thời Hai Bà Trưng, giúp các vị nữ tướng của Trưng Vương. Như ở Bồng Mạc, Liên Mạc, Mê Linh bà đã tặng cho các tướng Ả Nang, Ả Nương chiếc áo tảng hình để chống giặc. Trong các sự tích này bà được gọi là Ma Bà.

Ma Bà ở Phùng Dị, Quế Võ, Bắc Ninh.
Thánh Tổ Cô Tiên tự bi ký ở chùa Châu Cầu, Châu Phong, Quế Võ, Bắc Ninh.

Nhự Nương Trình Thị Hoàng Hậu

Vị nữ chủ công nghiệp hiển hách khác là bà Trình Thị Hoàng Hậu, vợ của vua Triệu Đà. Văn tế ở đền Đồng Sâm (Kiến Xương, Thái Bình) ca ngợi:

Huy nguyệt phủ nhi hùng, kiêm thất quận đế thuỷ Viêm bang
Hoành ngọc thoa nhi nghi, biểu lục cung mẫu nghi thiên hạ.

Dịch nghĩa:

Vung búa nguyệt hào hùng, gồm thâu bảy quận, là Đế mở Viêm bang
Nâng thoa ngọc uy nghi, biểu chính sáu cung, là Mẫu nghi thiên hạ.

Ở Đồng Sâm có lễ tục hát ca trù là lễ Chầu Cử vào ngày giỗ của Triệu Vũ Hoàng Đế. Tư liệu của đền Đồng Sâm còn lưu lại được 8 bài ca trù chầu thánh và có một bài văn tế tổ nghề ca công. Những tư liệu này đã được đưa vào hồ sơ công nhận của UNESCO cho Ca trù là di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp năm 2009.

Lời một bài ca trù ở Đồng Sâm ca ngợi Triệu Vũ Hoàng Đế và Trình Thị Hoàng Hậu:

Cơ khai thất quận, quy mô không thị Hạng Tần
Biểu chính lục cung, nghi phạm viễn đồng Cơ Tự.

Nghĩa là:

Bảy quận mở nền, quy mô không thua Tần Hạng
Sáu cung chính tỏ, khuôn phép sâu như Tự Cơ.

Trình Thị Hoàng Hậu còn được thờ ở làng Nhự Nương (Trực Ninh, Nam Định). Theo thần tích Nhự Nương tại đây bà đã xây dựng căn cứ kháng chiến,  tích trữ quân lương, chiêu dụ anh hùng để chống giặc. Bà cũng đã từng thoát vòng vây của kẻ thù ở khu vực này mà về với Triệu Vương.

Câu đối ở đền Nhự Nương:

Thục thận khuê nghi, thất quận sơn hà tư nội trị
Thanh cao miếu mạo, thiên thu hương hỏa hiển anh linh.

Dịch nghĩa:

Vẻ ngọc thục hiền, non sông bảy quận riêng nội trị
Miếu mạo cao sáng, hương lửa nghìn thu tỏ anh linh.

Tên Nhự Nương còn trùng với tên vị Vua bà Nhữ Nương là Thủy tổ Quan họ ở làng Diềm (xã Hòa Long, huyện Yên Phong, Bắc Ninh). Vua bà có tên phong là: Đương cảnh thành hoàng Thiên tử Nhữ Nương nam nữ Nam Hải Đại Vương. Tên Nam Hải Đại vương, cũng trùng với tên hiệu thờ của Triệu Vũ Đế ở Đồng Sâm, là Nam Hải Tôn ninh Triệu Đại vương. Cụm tên “Thiên tử … nam nữ” tương ứng chỉ rằng đây là cặp vợ chồng làm vua Triệu Vũ Đế và Trình Thị Hoàng Hậu.

Cùng làng Diềm có ngôi đình nổi tiếng có bức cửa võng chạm khắc tinh xảo. Làng Diềm thờ 5 vị thành hoàng là Đô Thống, Giáp Ngọ, Nhữ Nương Nam Hải, thánh Tam Giang (Trương Hống) và Ngũ Vị. Theo ghi chép tại đây thì thánh Tam Giang Trương Hống là vị tướng có công theo Triệu Việt Vương đánh giặc. Thần Nam Hải là một nữ thần đã báo mộng âm phù cho thánh Tam Giang dẹp giặc. Như vậy mối liên hệ về thời gian giữa Vua bà Nhữ Nương Nam Hải với nhà Triệu rất rõ. Có thể nhận định rằng Vua bà Thủy tổ Quan họ Nhữ Nương Nam Hải cũng chính là Trình Thị Hoàng Hậu, người được coi là tổ nghề ca công ở Đồng Sâm.

Cùng với nhận định Triệu Vũ Đế là Hiếu Cao Tổ Lưu Bang thì Trình Thị Hoàng Hậu chính là Lữ Hậu. Trình Thị thiết Trĩ, là tên cúng cơm của bà Lữ Hậu. Lữ Hậu mới là người đã “biểu chính lục cung”, mở đầu các nghi lễ tam cung lục viện từ thời nhà Hiếu (Tây Hán).

Cái tên Nhữ Nương hay Nhự Nương khi đọc phản thiết cho chữ Nữ hay Lữ, là chỉ họ của Lữ Hậu. Nhự Nương Trình Thị do đó tương đương với Lữ Trĩ, không ai khác chính là Hoàng Hậu họ Lữ của nhà Hiếu.

Lữ Hậu còn là bậc “tiền bối” của Ả Lã, tức Trưng Vương vào thời sau này. Truyền thống “nữ trung hào kiệt” của người Việt đã có từ thời trước Công nguyên.

Việc tôn thờ các vị nữ chủ là một truyền thống lâu đời của người Việt và trong sử Việt đã không ít lần xuất hiện những vị nữ chủ hiển hách. Đây hoàn toàn chẳng phải chế độ “mẫu hệ” gì. Đơn giản là thời thế tạo anh hùng, các nữ anh hùng cũng không ngoại lệ. Thiên hạ chuyển mình, xã hội phát triển qua những cuộc “cách mạng”. Vai trò của các nữ chủ nổi lên vào thời thế đó, ngược lại, cho thấy sự tiến triển vượt bậc của xã hội Việt thời cổ.

Tượng Trình Thị Hoàng Hậu ở đền Đồng Sâm, Kiến Xương, Thái Bình.
Một trang chép bài ca trù ở đền Đồng Sâm

Thần tích Ma Cô Tiên ở Châu Sơn

Dịch theo bản khai thần tích thần sắc của làng Phùng Gị, tổng Phù Lương, huyện Quế Dương, tỉnh Bắc Ninh.

Lại nói, tương truyền rằng ở Kinh Bắc có bộ Vũ Ninh, phủ Từ Sơn, huyện Vũ Ninh, xã Bằng Dực. Thời Hùng Vương, Ân Vương đem quân đến xâm chiếm nước Văn Lang, đến đất của trang này thấy cảnh đất núi non la liệt, hình như một con ngựa ngọc, nên đặt tên là Châu Sơn. Ân Vương trú binh tại đó.

Khi ấy Hùng Vương nghe tin, liền cầu đảo Long Quân. Long Quân hóa thành Phù Đổng Đại vương cưỡi ngựa sắt mà phá được quân Ân. Ân Vương chết ở dưới chân núi, làm vua Địa phủ. Trang dân ở châu đó lập miếu phụng thờ, thời thường tế lễ. Lâu ngày miếu suy trở thành hoang phế. Đến thời Tần có người bản trang nước ta là Túc Đặng làm quan nhà Tần đến chức Ngự sử Đại phu, thường qua miếu này, thấy cảnh hoang tàn, chạnh lòng thương cảm, cho tu sửa lại đền miếu để giữ việc tế tự. Lệnh cho dân bản trang tuân theo như trước mà thờ. Nhân đó ông Đặng dâng tế một bài thơ như sau:

Người xưa kể lại chuyện Ân vương

Tuần thú năm nao đến địa phương

Nước biếc núi xanh quanh miếu vắng

Hồn đi dấu để vẫn nghe hương

Một phen thắng bại Ân đức hết

Vạn thế uy linh trấn Việt Thường

Trăm họ rồi đây đều phụng sự

Phù trì vận nước vững vô cương.

Sau này có người Triệu Đà dẫn quân trị nước An Nam, đóng quân ở tại núi, đến nơi miếu mà nghiêm trang thờ tự. Khi đó Ân Vương cảm ơn phục trợ uy linh của ông Túc Đặng bèn sai một đệ nhất mỹ nữ tên là Ma Cô Tiên, giáng sinh vào ngày mùng 6 tháng Giêng năm Mậu Thìn, đến ngày mùng 10 tháng 10 thì thăng hóa, để giúp tương trợ dân nghèo, khai khẩn ruộng vườn, dựng nên một cái chợ. Cái chợ này có tên là Việt, nay là chợ Nghè. Giúp dân an nghiệp, dư giả. Một hôm người bản trang bỗng thấy trên mặt đất mưa to gió lớn nổi lên, sấm nổ chấn động, biết là ngài đã có linh ứng. Người dân cảm công đức đó bèn lập đền phụng thờ, hương khói không ngừng.

Đến triều Lê Đại Hành niên hiệu Thiên Phúc bỗng có quân Tống Quách Kiếm dẫn quân đến xâm lăng. Vua Lê nghe tin, trước khi xuất quân đến đền thiêng ở bản trang cầu đảo, cầu mong được sự ứng hiện. Vua Lê dẫn quân thẳng tới đồn giặc mà đánh. Trước trận bỗng thấy mưa to gió lớn nổi lên. Quân giặc đều kinh sợ, tự phải rút lui. Vua bèn ban cho khải hoàn, ban cho trang thuộc vào các trang giúp Vua, lại  ban thêm cho người bản trang một trăm quan tiền để lo cúng tế Quân phu, bao phong mỹ tự là Thượng đẳng phúc thần. Vạn cổ hưởng thần cùng với quốc gia an nhàn, mãi là lệ thức. Thịnh sao!

Thần tích thôn Mễ Đậu, xã Mỹ Xá, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên

Ngọc phả xưa ghi lại sự tích một vị Đại vương Nam Giao học tổ thời Hán Chiêu Đế

Chi Cấn, Bộ Thượng đẳng. Chính bản lưu của Bộ Lễ triều ta.

(Bản dịch từ cuốn Thần tích tỉnh Hưng Yên, tập 3 của Bảo tàng Hưng Yên và Viện nghiên cứu Hán Nôm).

Xưa Hùng Vương Sơn Nguyên Thánh Tổ, trời Nam lên ngôi báu, kế nối nghiệp lớn hơn hai ngàn năm. Các ngài xây dựng đất nước núi xanh vạn dặm sáng nền móng kinh thành cung điện, nước biếc một dòng mở ra đạo trị nước của các bậc vua hiền, khơi vật cứu người, thống nhất 15 bộ, là Tổ của Bách Việt vậy.

Sơ khai Nam Việt tự Kinh Dương
Nhất thống sơn hà thập bát vương
Thập bát thế truyền thiên cổ tại
Ức niên hương hỏa, ức niên phương.

Tạm dịch:

Nước Việt mở đầu từ Kinh Dương
Thống nhất non sông mười tám vua
Mười tám đời truyền lưu thiên cổ
Ngàn năm hương hỏa, ngàn năm thơm.

Bấy giờ cơ nghiệp họ Hùng suy yếu, ý trời đã định đến hồi cáo chung. Tới thời Đông Hán, các vua đều ngự ở trong triều. Nghe nói ở trong vùng đất Long Biên nước ta có một ông họ Đặng, tên húy là Tứ, người huyện Quảng Tín, quận Thương Ngô. Tổ tiên đời trước nhận phong, đời đời thừa phúc ấm mà lấy một người trong quận tên Tạ Thị Cẩn, truyền đời thi thư lễ nhạc, một nhà trâm anh, quả là môn đăng hộ đối. Ông họ Đặng từ nhỏ đã tinh thông y thuật, lại có lòng làm việc thiện, thường hay phát chẩn cứu tế. Ông năm nay đã gần 50 tuổi, bà họ Tạ cũng đã hơn 40 tuổi mà chưa có điềm lành con cái.

Sau bà họ Tạ mơ thấy xà tinh nhập mà có mang. Ngày 8 tháng Giêng năm Nhâm Ngọ sinh hạ một người con trai, trời sinh thông minh, hình dáng khác người, bèn đặt tên là Tiếp. Ba tuổi đã thông hiểu lễ nghĩa thông thường, lại có lòng kính trên nhường dưới, không học mà biết được âm luật. Bảy tuổi bắt đầu học hành, các sách xem qua một lần là nhớ, không cần phải ghi lại. Năm 13 tuổi biết hết các sách của muôn nhà, lại biết võ nghệ. Các sĩ tử đương thời đều thán phục, khen là thần đồng. Năm 18 tuổi cha mẹ đều qua đời. Ông Tiếp bèn chọn ngày lành làm lễ an táng ở gia đường, hương hỏa thờ phụng theo nghi lễ ba năm. Sau khi chịu tang xong bèn có lòng dạy dỗ muôn dân. Nghe Giao Châu còn chưa được cương thường, đạo nghĩa soi sáng, ông bèn tìm đến để giúp dân hiểu lễ nghĩa. Các vùng đất phương Nam nhờ công lao của ông mà được mở mang. Người dân ở đây suy tôn ông là Châu trưởng.

Bấy giờ Hán Chiêu Đế sai Chu Chương là Thái thú Giao Châu. Chương nghe ông giáo hóa phục nhân, bèn tâu với vua. Vua rất mừng, phong cho ông là Liệt Hầu công. Ông nhận mệnh đi du ngoạn khắp huyện ấp xem dân tình sống ra sao. Một ngày ông đến trại Lũng Triền, trang Thanh Tương, huyện Siêu Loại, phủ Thuận An, đạo Kinh Bắc (xưa gọi là quận Vũ Ninh), thấy dân chúng chưa được học hành nhiều. Lại thấy một cuộc đất non nước hữu tình, rồng hổ ôm ấp mà giếng nước rất thuận tiện. Nghĩ đây là vùng đất thắng cảnh. Ông lập tức truyền cho binh sĩ cùng người dân đắp thành ở vùng đất này (gọi là thành Luy Lâu), dựng trường học dạy chữ viết. Bấy giờ truyền một liễn đối rằng:

Học y Luy Lâu tầm tiên tích
Danh thượng hòa phong đính Phật kinh.

Tạm dịch:

Học theo Luy Lâu tìm dấu tiên
Danh hướng Hòa Phong chữa kinh Phật.

Trải qua được một năm, người dân rất ái mộ. Bấy giờ có người đứng đầu của 7 quận là Hữu Trị, Nhai Châu, Đam Nhĩ, Thương Ngô, Quảng Tín, Phiên Ngu, Mê Linh làm loạn làm hại người dân. Vua nghe vậy hỏi đình thần trù tính mưu lược. Bấy giờ Thái thú châu ta là Sầm Bành tiến cử ông đức lớn phục nhân, ắt có thể dẹp yên được. Vua đồng ý ban cho ông là Thái thú Giao Châu, sai đi bình giặc. Sau đó ông nhận mệnh tuyển được người dân, gia thần, sĩ tử hơn 500 người. Đưa hịch đi khắp các quận huyện tới giúp đến vài nghìn người. Ông cho quân chia đồn đóng tại quận Cửu Châu ra lệnh chỉ cố thủ mà không được ra khiêu chiến. Cho sử giả đưa hịch đến chỉ cho biết những điều tín nghĩa, lại nói rõ họa phúc. Giặc nghe hiểu ra liền cởi giáp quy hàng. Nhờ thế 7 quận được yên ổn. Việc xong, ông liền quay về châu phủ (tức vùng đất Long Biên). Từ đó ông là Thái thú hình phạt nghiêm minh. Nhân dân đều yên ổn làm ăn. Sau ông lại quay về trại Lũng Triền, ban ơn cho người dân ở vùng này. Mọi người cảm tạ và xin được dựng trường học, lập một ban để ngày sau thờ phụng. Ông bèn đồng ý, ban cho 15 hốt vàng để ngày sau tu sửa đền thờ, mua ruộng ao lấy hoa màu để lo việc cúng tế.

Một ngày, ông quay về châu phủ sai gia thần chuẩn bị lễ vật cống cho vua Hán. Bấy giờ ông đã 70 tuổi, đang ngồi trong phủ đường ở kinh thành Thăng Long, chợt thấy một luồng sáng đỏ, mây lành vần vũ bốn phía. Có một áng mây lớn từ trên trời giáng xuống phủ đường. Ông chợt thấy thân thể nhẹ bỗng mà bay ra khỏi phủ đường đến địa phận trang Tam Nha thì không thấy đâu nữa (lúc ấy là ngày mùng 1 tháng 8). Một lát sai khí lành mới tan, trời đất tạnh ráo. Đám côn trùng ùn lên thành một ngôi mộ lớn. Người dân đều rất kinh hãi, bèn làm biểu dâng tấu lên vua Hán. Vua nghe vậy sai sứ ban sắc phong là Thượng đẳng thần. Đọc tế văn, dựng miếu thờ ở đây cùng đất nước chung hưởng sự yên ổn vĩnh hằng.

Kính cẩn thay!

Phong là Sĩ Tiếp Tế thế Hộ quốc Đại vương. Các màu vàng, đỏ khi làm lễ đều cấm. Lại chuẩn cho trại Lũng Triền, trang Thanh Tương dựng đền thờ đề chữ rằng: Nam Giao Học Tổ từ (nghĩa: Đền Nam Giao Học Tổ) để phụng thờ. Đến đời Bình Đế nghe tên tuổi, sự tích ở Hán có công bèn sai sứ ban sắc phong cho vị là Khải mưu Tá tích Quang hoa Mạc thắng Đại vương.

Đến niên hiệu Thái Bình vua Tống sai Hầu Nhân Bảo đem 20 vạn binh chia hai đường thủy bộ cùng tiến, xâm phạm nước Nam. Bấy giờ Lê Đại Hành sai 10 vạn tinh binh cự chiến, tiến đến huyện Siệu Loại cho binh chia đường đến. Vua bèn đóng quân ở trại Lũng Triền, trang Thanh Tương. Đêm hôm ấy vào trong đền thờ cầu khấn thần âm phù giúp vua đánh giặc, bình giặc xong sẽ ban sắc gia phong Thượng đẳng. Vua thấy chữ đề: Nam Giao Học Tổ từ, vua bèn cho gọi các vị phụ lão trong thôn đến hỏi cho rõ. Mọi người tâu rõ sự việc quả là trong trại có thờ phụng thần hiệu như vậy. Ngày hôm sau vua đem binh đánh giặc Tống là Hầu Nhân Bảo thu được đại thắng, bắt được đại tướng, khải hoàn về kinh thành. Các tướng sĩ đều tâu rằng:

  • Giặc Tống sớm bình được đều nhờ công thần ngầm giúp

Bèn gia phong cho trăm thần.

Phong cho một vị Thiện tiếp Tế thế Hộ quốc Khang dân Phù vận Dương vũ Dực thánh Bảo cảnh Hiển ứng Hậu đức Chí nhân Phu cảm Hiển ứng Triệu mưu Tá tích Thiện văn Bác tế Phổ thi Từ ý Hậu ân Hoằng mô Viễn lược Cương nghị Đốc thực Thùy hưu Quả đoán Hùng nghị Phúc diễn Thông minh Duệ trí Hùng lược Dũng quyết Anh uy Linh cảm Diệu thông Hùng kiệt Đại vương.

Lại nói, từ đó về sau đều hiển hiện sự linh ứng, cho nên các đời đế vương đều có gia phong mỹ tự cho Đại vương. Đến đời Trần Thái Tông có giặc Nguyên sang xâm phạm, kinh thành bị bao vậy. Trần Quốc Tuấn vâng mệnh cầu khấn trăm thần ở các đền thờ. Đại vương lại hiển ứng ngầm giúp bình được giặc Mã Nhi. Thái Tôn ban phong cho Đại vương là Linh ứng Anh triết Hiển hựu Trợ thuận.

Đến thời Lê Thái Tổ khởi nghĩa bình giặc Minh, chém được Liễu Thăng, thiên hạ thái bình. Thái Tổ bèn gia phong mỹ tự cho Đại vương là Phổ tế Cương nghị Anh linh. Sắc chỉ ban cho trại Lũng Triền, trang Thanh Miếu tu sửa miếu điện để thờ phụng.

Vâng mệnh khai ngày sinh, ngày hóa, các lễ tịch cùng tên húy tự. Bốn chữ Tứ, Cẩn, Sĩ, Tiếp cấm khi làm lễ. Lại chuẩn cho trại Lũng Triền trang Thanh Tương thờ phụng.

Ngày thần sinh: ngày mùng 8 tháng Giêng. Chính lệ lễ dùng trên có một bàn chay dưới có lợn đen, xôi, rượu, bánh chưng, bánh giầy, có ca hát.

Ngày thần hóa: ngày mùng 1 tháng 8. Chính lệ lễ dùng trên có một bàn chay, dưới có lợn đen, xôi, rượu, bánh chưng, bánh giầy, cấm không được ca hát.

Vào các ngày lệ như tế xuân, tế thu, kỳ phúc ngày 15 tháng 8. Chính lệ lễ dùng tùy theo năm.

Ngày tốt tháng Giêng niên hiệu Hồng Phúc năm đầu (1572) Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng mệnh soạn.

Ngày tốt tháng 8 Hoàng triều Vĩnh Hựu năm thứ 6 (1740) Nội các bộ Lại tuân theo bản chính vâng mệnh viết.

Ngày 15 tháng 2 năm Duy Tân thứ 10 (1916) các vị kỳ lý trong thôn chép lại theo bản chính.

Những câu đối hay ở đền Độc Bộ, Ý Yên, Nam Định thờ Triệu Việt Vương Hoàng Đế

Câu 1

邾山正統皇風遠
鵶海安濤帝德深

Châu Sơn chính thống hoàng phong viễn
Nha Hải an đào đế đức thâm.

Dịch nghĩa:

Núi Châu chính thống dòng vua mãi
Yên sóng biển Nha đức đế sâu.

Câu 2

獨木破梁兵南國同胞皆赤子
頹波障海口浮沙托植囿青春

Độc mộc phá Lương binh, Nam quốc đồng bào giai xích tử
Đồi ba chướng hải khẩu, Phù Sa thác thực hữu thanh xuân.

Dịch nghĩa:

Độc mộc phá quân Lương, nòi giống nước Nam cùng máu đỏ
Sóng dồn che cửa bể, Phù Sa hoa cỏ hóa xuân xanh.

Câu 3

朱鳶鍾秀氣帝烈凜千秋梁寇掃除安殿內
慕澤顯神機王勳留萬古龍爪威儀聖蹟傳

Chu Diên chung tú khí, đế liệt lẫm thiên thu, Lương khấu tảo trừ an điện nội
Mộ Trạch hiển thần cơ, vương huân lưu vạn cổ, long trảo uy nghi thánh tích truyền.

Dịch nghĩa:

Đầm Mộ Trạch rạng tỏ danh thần, tên vua vạn thế sáng soi, nghiêm vuốt rồng truyền lưu tích thánh
Đất Chu Diên đúc nên hào khí, oai đế ngàn thu oanh liệt, trừ quân Lương đất nước yên bình.

Câu 4

夜澤雄飛百戰山河餘宇宙
海門龍遠億年祠廟鎮波濤

Dạ trạch hùng phi, bách chiến sơn hà dư vũ trụ
Hải môn long viễn, ức niên từ miếu trấn ba đào.

Dịch nghĩa:

Dạ Trạch hùng bay, trăm trận núi sông còn vũ trụ 
Rồng xa cửa biển, muôn năm đền miếu chặn sóng đào. 

Câu 5

天子威儀天子庙
帝王凜烈帝王祠

Thiên tử uy nghi Thiên tử miếu
Đế vương lẫm liệt Đế vương từ.

Dịch nghĩa:

Miếu Thiên tử Thiên tử uy nghi 
Đền Đế vương Đế vương lẫm liệt.

Câu 6

弌胞破出双神將
同日飛升二大王

Nhất bào phá xuất song thần tướng
Đồng nhật phi thăng nhị đại vương.

Dịch nghĩa:

Một bầu phá nở hai thần tướng
Cùng buổi bay lên lưỡng đại vương.

Câu 7

独木破梁兵名謄北國
龍編居帝位威振南天

Độc mộc phá Lương binh, danh đằng Bắc quốc
Long Biên cư đế vị, uy chấn Nam thiên.

Câu 8

天上瓊飛三花曾記南塘夢
人間玉牒小月猶傳北直謠

Thiên thượng Quỳnh phi, tam hoa tằng ký Nam Đường mộng
Nhân gian ngọc điệp, tiểu nguyệt do truyền Bắc Trực dao.

Dịch nghĩa:

Quỳnh phi thượng giới, ba đóa còn ghi mộng Nam Đường
Lá ngọc nhân gian, trăng nhỏ bởi truyền chuyện Bắc Trực.

Câu 9

黑虎梦醒符聖瑞
黃龍脱爪顯神机

Hắc hổ mộng tỉnh phù thánh thuỵ
Hoàng long thoát trảo hiển thần cơ.

Dịch nghĩa:

Hổ đen tỉnh mộng phù điềm thánh
Rồng vàng tháo vuốt tỏ cơ thần.

Câu 10

龍矛脱爪僊童去
鴉海翻濤佛子來

Long mâu thoát trảo tiên đồng khứ
Nha hải phiên đào Phật Tử lai.

Dịch nghĩa:

Giáo rồng tháo móng tiên đồng đi
Dậy sóng biển Nha Phật Tử đến.

Câu 11

龍編若果凶神爪
鴉海何能鎮惡濤

Long Biên nhược quả hung thần trảo
Nha Hải hà năng trấn ác đào.

Dịch nghĩa:

Long Biên quả nếu không thần trảo
Nha hải sao còn trấn sóng hung.

Câu 12

前面三江龍水拜
後垂二嶺虎瑰朝

Tiền diện tam giang long thuỷ bái
Hậu thuỳ nhị lĩnh Hổ Khôi triêu.

Dịch nghĩa:

Trước mặt ba sông dòng nước bái
Sau trùm hai núi Hổ Khôi chầu.

Câu 13

帝位卄餘年帝德留傳千古重
聖恩多潤澤聖威長在萬秋興

Đế vị chấp dư niên, đế đức lưu truyền thiên cổ trọng
Thánh ân đa nhuận trạch, thánh uy trường tại vạn thu hưng.

Dịch nghĩa:

Ngôi đế hơn hai mươi năm, đức đế truyền lưu ngàn xưa trọng
Ơn thánh nhiều lần thấm đẫm, oai thánh mãi còn vạn thu vang.

Câu 14

天定其書南國山河南國帝
地留其跡大鴉風水大鴉神

Thiên định kỳ thư, Nam quốc sơn hà Nam quốc đế
Địa lưu kỳ tích, Đại Nha phong thuỷ Đại Nha thần.

Dịch nghĩa:

Trời định sách đó, núi sông nước Nam, vua nước Nam
Đất lưu tích đó, gió nước Đại Nha, thần Đại Nha.

Câu 15

祠廟巍峨鴉海樓臺新宇宙
南天正統龍編城郭舊江山

Từ miếu nguy nga, Nha Hải lâu đài tân vũ trụ
Nam thiên chính thống, Long Biên thành quách cựu giang sơn.

Dịch nghĩa:

Đền miếu nguy nga, lâu đài Nha Hải vũ trụ mới
Trời Nam chính thống, thành quách Long Biên núi sông xưa.

Câu 16

神龍蜜献擊賊大勝梁兵回帝位
獨木長期進攻消耗力量鎮龍城

Thần long mật hiến kích tặc, đại thắng Lương binh hồi đế vị
Độc mộc trường kỳ tiến công, tiêu hao lực lượng trấn Long thành.

Dịch nghĩa:

Rồng thần mật hiến cách đánh giặc, đại thắng quân Lương lên ngôi đế
Độc mộc trường kỳ tiến công, tiêu hao lực lượng trấn thành Long.

Rồng hiện Nhất Dạ Trạch

Thần tích làng Nhuế Dương ở Khoái Châu, Hưng Yên kể về quá trình khởi nghĩa của Triệu Quang Phục: Ngả Việt ta tại Long Biên có người Thái Bình, họ Lý tên là ông Bôn, theo trời thuận người thừa thời thế mà khởi nghĩa. Nhưng đang khi đó chưa có nam nhi nào có tài thao lược. Ông Bôn tích trữ binh lương, thần phong chưa động. Tin thay! có Thiếu Khang dẹp loạn tất có Thần Mĩ dẹp loạn cùng. Rồng lên ở trên đầm không có ý với mây mà mây tự nhiên bay đến.

Đương khi ấy ở xã Hương Canh, huyện Châu Diên, phủ Tam Đới, đạo Sơn Tây có một nhà họ Triệu tên Túc. Tổ tiên nhà đó vốn họ Việt, giúp Triệu Võ Đế (tức Triệu Đà) có công nên được ban cho họ Triệu. Ba bốn đời đều làm quan lớn cho triều Triệu Vũ Đế.  Đến ông Túc cũng là bậc nho y có tiếng trên đời, lấy vợ là Trưng Thị Đàm.

Triệu Quang Phục có tổ tiên đã theo Triệu Vũ Đế (Triệu Đà) có công nên được ban cho họ Triệu. Họ Triệu nhiều đời làm quan lớn, cho đến ông Triệu Túc. Triệu Túc theo như Đại Việt sử ký toàn thư cho biết lại là Thái phó của Lý Bôn, tức là một vị tướng quan trong trong cuộc khởi nghĩa của Lý Nam Đế.

Cũng Thần tích Nhuế Dương kể, khi Triệu Việt Vương mất lại thấy Tạp bộ Đại phu ở xã Đại Lan bản huyện cũng tự đến tận nơi cung sở chính, lập làm đền miếu, vâng chép thần hiệu Triệu Việt để phụng thờ.

Đại Lan nay là xã Xuân Quan, Văn Giang, Hưng Yên, nơi có đền thờ Triệu Vũ Đế ở Long Hưng điện. Tập sử ký Xuân Lan (thần tích Xuân Quan) cho biết: Triệu Việt Vương, tên húy là Quang Phục, sinh ở làng Lan Cứu (nay là xã Xuân Lan), là hậu duệ của Cổ Tiên Thánh Đế (tức Triệu Đà).

Như vậy, Triệu Quang Phục là dòng dõi Triệu Vũ Đế, sinh ở Xuân Quan. Cho dù các thần tích khác như thần tích Nhuế Dương cho biết Triệu Quang Phục quê ở xã Hương Canh, huyện Châu Diên, phủ Tam Đới, đạo Sơn Tây, nhưng rất có thể Xuân Quan là một trong những nơi Triệu Quang Phục đã lớn lên thủa ban đầu.

So sánh với Thần tích Hạ Mạo (TT. Phú Thọ) khi mà Hậu Hùng Vương đã cử người con Út đến giúp Triệu Đà chống Tần thì Hậu Hùng Vương sẽ là Triệu Túc, Lý Bôn là Triệu Đà, còn Út Ngọ Lôi Mao là Triệu Quang Phục.

Theo các thần tích việc Lý Bôn được Triệu Quang Phục như rồng gặp mây, như minh chúa gặp tướng tài (vua Hạ Thiếu Khang được bề tôi là Thần Mi giúp diệt loạn Hậu Nghệ, trung hưng nhà Hạ). Triệu Quang Phục là Tả tướng của Lý Bôn, được phong thực ấp ở đạo Sơn Nam.

Thần tích Nhuế Dương chép: Quang Phục vâng mệnh bái tạ, đi đến nhận việc ở Sơn Nam, ngắm xem đất đai có hình thắng hiểm trở để  lập cung doanh mà ở. Một hôm đi đến nơi đất đầu xã Nhuế Dương, xứ Nhất Dạ Trạch, huyện Đông An Khoái Lộ. Bốn bề đất Nhuế Dương, trước có sông lớn, ba mặt đầm nước, núi không cao mà đất bãi như gìn giữ. Nước có sâu mà nguồn giếng êm chảy. Trái phải xung quanh có rồng hổ ôm chầu, thật đúng là nơi đất hiểm yếu. Ngay hôm đó bèn truyền quân xây dựng cung doanh vài mươi gian. Chính cung dựa Càn hướng Tốn. Quang Phục ở đó.

Đến khi giặc Lương quay trở lại, tấn công nước Vạn Xuân. Lý Nam Đế vào động Khuất Lão, giao quyền quản lý Long Biên lại cho Tả tướng Triệu Quang Phục. Quang Phục tự thấy Long Biên bốn mặt có giặc, bèn rút hết quân về nơi chốn cũ ở Nhuế Dương, trong đầm Nhất Dạ huyện Đông An mà ở, cùng với quân Lương cự chiến, qua một năm mà không phân thắng thua.

Như vậy, Nhuế Dương chính là nơi Triệu Quang Phục đã đóng đồn quân chính trong trận chiến đầm Nhất Dạ. Gần Nhuế Dương, cùng tổng Phù Khê của huyện Khoái Châu xưa có làng Bùi Xá, cũng là nơi thờ Triệu Quang Phục. Thần tích Bùi Xá rất đặc biệt, khi cung cấp nhiều chi tiết mới lạ về cuộc khởi nghĩa đầm Dạ Trạch:

Còn Quang Phục ở huyện Đông An, thấy trong huyện có đầm Nhất Dạ tại đất xã Vĩnh Hưng (tức xã An Vĩnh). Đầm này chu vi không biết bao nhiêu dặm, cỏ lác mọc rậm rạp. Bốn bề bùn lầy sình trũng. Bên trong có một chỗ nhỏ có thể ở. Quang Phục bèn lập đồn lớn ở trong đầm.

Thường khi dẫn quân đánh quân Lương thì thấy có một lão ông, râu tóc dài khỏe, thân thể kỳ dị, cao hơn 9 thước, cầm một cái dùi sắt, theo khói sương trong đầm mà lên, tiếng như chuông lớn, hình như sắt trắng, đánh quân Lương thua to.

Sự việc xong ông lão lại cùng với Quang Phục đi dạo, nói cười vui vẻ như anh em cùng một bọc đến chơi vậy. Phàm khi Quang Phục có việc bị quân Lương tập kích thì đều đến báo trước thời gian. Nếu Quang Phục gạn hỏi họ tên, duyên cớ thì đều không báo sự thực.

Một hôm Quang Phục đi đến cung sở ở xã Bùi Xá. Nhân dân đang làm lễ đón mừng thì bỗng thấy lão ông từ bên ngoài đi đến. Quang Phục bèn mời vào trong ngồi. Lão ông nói rằng:

–   Tôi vốn là thanh khí chốn bèo nước, là dòng dõi một bầu trăm trứng họ Hùng trước đây, cũng là phúc thần của Bùi Xá. Tôi là Đông Hải Đại vương, là người con thứ 10 trong số 50 người con về biển, họ Hùng tên Chiểu, ở giữ biển Đông nên gọi là Đông Hải Đại vương. Sau lại kiểm giữ đầm Nhất Dạ ở Sơn Nam, làm thần ở Bùi Xá trong đầm Dạ Trạch.

Trong đầm Dạ Trạch, Triệu Quang Phục đã được thần đầm là Đông Hải Đại vương, một vị thủy thần dòng dõi Lạc Long Quân xuống biển giúp và báo tin cho.

Quang Phục theo đó mà chọn ngày trai giới, lập đàn dâng lễ cáo tế trời đất, cầu đảo bách thần. Ba ngày đèn hương không dứt. Bỗng thấy trời đất mù mịt, mây gió nổi lên. Có một vị thần tướng cưỡi rồng vàng từ trên trời hạ xuống, đứng trên đàn. Ông Phục đại bái ở trước. Thần tướng mới nói rằng:

– Ta là Quý Minh Đương Lai,  cho khanh một vật để làm nỏ thần báu vật trời ban. Cho dù có giặc mạnh cũng không phải lo lắng vậy.

Thì ra người trao móng rồng cho Triệu Quang Phục không phải là Chử Đồng Tử mà là Quý Minh Đại vương, vị Hữu kiên thần Tản Viên Sơn Thánh. Quý Minh Đại vương còn có tên là Lãng Nhạc, là vị thủy thần trong Tam vị Tản Viên.

Thần tích Bùi Xá có bài thơ nói về chuyện này:

Sơn thuỷ tòng lai tương biệt thú
Như hà sơn thuỷ đắc đồng nguyên
Giả lệnh tại đương thì giả
Cảm vấn chư công đắc minh.

Dịch nghĩa:

Sông núi theo đi mà chia biệt
Tại sao sông núi lại cùng nguồn?
Nếu là thủ lĩnh đương thời đó
Dám hỏi các ngài rõ không?

Bài thơ ám chỉ việc 50 người con theo cha xuống biển là Thủy thần, 50 người con theo mẹ làm Sơn thần thời Lạc Long – Âu Cơ. Cùng nhau chia biệt nhưng đều là con cùng một bầu cha mẹ, cùng một nguồn.

So vào việc Triệu Quang Phục nhận được móng rồng từ các vị thủy thần Đông Hải Đại vương và Quý Minh Đại vương thì có thể ở đây ám chỉ Triệu Quang Phục là dòng theo mẹ lên núi. Một dẫn chứng khác là đền thờ Triệu Quang Phục ở xã An Vĩ (Khoái Châu) còn có tên là đền Vua Rừng.

Triệu Quang Phục là dòng Tiên theo mẹ lên núi cũng tương ứng với thần tích Hạ Mạo cho biết vua Triệu là dòng dõi họ Hùng, có biểu tượng là lông chim phượng hoàng (Lôi mao), tức là dòng Tiên (chim phượng).

Dòng dõi Tiên họ Triệu đã được sự giúp đỡ phò trợ của dòng Rồng xuống biển mà có được báu vật đâu mâu làm lẫy nỏ thần, dẹp tan giặc loạn. Ở Bùi Xá còn thường kể câu chuyên là cây gạo trước đình khi nở hoa thì ở làng đối diện thế nào cũng có nhà cháy. Cây gạo chính là hình tượng của Rồng như trong chuyện bảy cây gạo ở Nhật Chiêu bên hồ Tây. Hoa gạo nở cũng là lúc móng rồng phát huy uy lực, hướng vào đâu là tan giặc ở đó.

Câu đối ở đình Phù Sa (Yên Mô, Ninh Bình):

兜鍪聖武興南李
獨木神兵走北梁

Đâu mâu thánh vũ hưng Nam Lý
Độc mộc thần binh tẩu Bắc Lương.

Dịch nghĩa:

Đâu mâu võ thánh dấy Nam Lý
Độc mộc binh thần đuổi Bắc Lương.

Ở đây chiếc móng rồng làm đâu mâu tương đương với việc dùng thuyền độc mộc để đánh quân Lương. Phải chăng khả năng dùng thuyền nhẹ chính là năng lực của “rồng”, của dòng tộc người xuống biển, đã giúp Triệu Quang Phục chiến thắng giặc Lương trên mặt nước đầm Dạ Trạch?

Sau khi có được móng rồng bảo bối, giặc được dẹp tan, Triệu Quang Phục lên ngôi tự xưng vương là Triệu Việt Vương. Vương lại về thành Long Biên ở. Trong sửa văn đức, ngoài phòng biên cương, dốc lòng hưng bình để yên Trung Quốc. Cảnh tượng thái bình ở đời rạng rỡ. Bèn xa giá đi chu du khắp thiên hạ. Núi Nhân dạo bộ, biết sông hỏi bến. Núi sông tụ Thần Phù, Yên Tử, Cao Đê, mặt trời hồng, mây trắng, trăng gió cuốn Hoa Quật, Long Biên. Trên dưới núi xanh nước biếc. Phàm đến nơi nào thấy sơn thủy hữu tình đều lập hành cung, cho miễn binh dao để ngày sau làm nơi hộ nhi (Thần tích Nhuế Dương).

Đoạn này nói đến quá trình cai quản đất nước của vua Triệu. Thiên hạ thái bình cũng nhờ có móng rồng vậy, tức là có được sự giúp đỡ của dòng Rồng Lạc xuống biển. Vua Triệu đi khắp nơi, xây dựng nhiều hành cung, nay là các di tích để lại ở nước ta. Số di tích thờ Triệu Việt Vương còn lại cho đến ngày nay được thống kê lên tới hơn 100 nơi trải từ Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hưng Yên, Hà Nội, Bắc Ninh tới tận Thanh Hóa, Vĩnh Phúc.

Sau đó chính sử thường kể là chuyện Lý Phật Tử, dòng dõi Lý Nam Đế, cùng con trai là Nhã Lang đem quân đến đánh vua Triệu. Triệu Việt Vương nghĩ đến tình xưa với Lý Nam Đế (Triệu Võ Đế) nên đã chia đất nước làm hai, cùng trị với Lý Phật Tử. Nơi cắt giới được gọi là bãi Quân Thần.

Tuy nhiên, Thần tích Bùi Xá lại kể bãi Quân Thần lại là do Lý Phật Tử chia nước với Nhã Lang: Phật Tử lên ngôi tự lập là Hậu Lý Nam Đế. Nam Đế nghĩ đến chữ nghĩa cha con, quân thần bèn cắt giới từ Thượng Cát, huyện Từ Liêm về phía Tây cho Nhã Lang ở. Từ Thượng Cát về phía Đông Nam Việt ở, gọi là Quân Thần.

Với cách kể như vậy thì Nhã Lang là dòng dõi của Triệu Quang Phục mới đúng. Họ Lý là Quân (Đế), họ Triệu làm Thần (Vương) (Thần tích Bùi Xá). Hậu Lý Nam Đế chiếm được thiên hạ mà xưng đế. Hậu duệ của họ Triệu là Nhã Lang lùi về phía Tây Bắc Việt, chiếm giữ xưng vương. Bãi Quân Thần ở Thượng Cát (Từ Liêm) là ranh giới chia đôi vùng Bắc Việt thành 2 phần. Phần Đông do Hậu Lý Đế nắm giữ. Phần Tây do Nam Triệu Vương nắm giữ. Nam Triệu sau này gọi thành Nam Chiếu, là con cháu Triệu Vũ Đế như Truyện Nam Chiếu trong Lĩnh Nam chích quái, hay Tập sử ký Xuân Lan kể.

Khu vực vùng đầm lầy tả ngạn sông Hồng là nơi khởi đầu cuộc khởi nghĩa của Triệu Việt Vương. Triệu Quang Phục dòng dõi vua Hùng mẹ Tiên lên núi, trước là theo Triệu Vũ Đế Lý Bôn chiếm thành Long Biên, sau rút về đóng quân giữa đầm Dạ Trạch ở Nhuế Dương, rồi gặp các vị thủy thần cưỡi rồng tháo móng, chế thành vũ khí, tạo ra thuyền độc mộc, dẹp được giặc. Triệu Quang Phục xưng Vương, đi khắp nơi xây dựng đất nước. Con cháu họ Lý là Hậu Lý Nam Đế dẫn quân đến đánh. Triệu Việt Vương tử tiết ở cửa biển Đại Nha. Con cháu vua Triệu rút về phía Tây Bắc Việt, cắt giới Quân Thần ở Từ Liêm, xưng là Nam Triệu, sau là Nam Chiếu.

Thần tích về Triệu Việt Vương ở làng Nhuế Dương, tổng Phù Khê, huyện Khoái Châu, Hưng Yên

Ngọc phả chép về vua Việt ta là Triệu Việt Vương

Chi Càn, thứ nhất, bộ quốc tế

Xưa ngả Việt ta trời Nam mở vận, núi sông phân ngang theo sao Dực Chẩn. Nước Bắc ban đầu phong thẳng hướng phân theo sao Đẩu Ngưu. Từ triều Hùng Kinh Dương Vương thừa mệnh phân phong của vua cha là dòng dõi đế vương nước Việt ta, đời đời cha truyền con nối, đều xưng là Hùng. Ngọc lụa xe sách, núi sông thống nhất, chính là tổ của ngả Việt ta vậy. Đến khi nhà Hùng được 18 đời mới giao lại vận nước cho Thục An Dương Vương. Dương Vương trị nước được 50 năm lại có người Chân Định nước Bắc họ Triệu tên Đà dẫn quân đến đánh nên nhà Thục mất. Triệu Đà được nước truyền 5 đời hơn trăm năm.

Từ đó ngả Việt ta thuộc về Hán, Ngô, Đường, Tống, Tấn, Tề, Lương. Đến thời Lương Võ Đế cho Tiêu Tư làm thái thú ngả Việt ta. Tư là người hình pháp khắc nghiệt, sai dịch nặng nề. Triệu dân tang thương, người người đồ thán. May sao trời có lòng, nước Nam có vua Nam ở. Ngả Việt ta tại Long Biên có người Thái Bình, họ Lý tên là ông Bôn, theo trời thuận người thừa thời thế mà khởi nghĩa. Nhưng đang khi đó chưa có nam nhi nào có tài thao lược. Ông Bôn tích trữ binh lương, thần phong chưa động.

Tin thay! có Thiếu Khang dẹp loạn tất có Thần Mi dẹp loạn cùng. Rồng lên ở trên đầm không có ý với mây mà mây tự nhiên bay đến. Đương khi ấy ở xã Hương Canh, huyện Châu Diên, phủ Tam Đới, đạo Sơn Tây có một nhà họ Triệu tên Túc. Tổ tiên nhà đó vốn họ Việt, giúp Triệu Võ Đế (tức Triệu Đà) có công nên được ban cho họ Triệu. Ba bốn đời đều làm quan lớn cho triều Triệu Vũ Đế.  Đến ông Túc cũng là bậc nho y có tiếng trên đời, lấy vợ là Trưng Thị Đàm. Gia thế tuy giàu mạnh nhưng vợ chồng đều là những người trung hậu, nửa điểm hại người đều không có ý, một hào tư lợi cũng không có lòng. Địa phương nơi đó đều nói là nhà tích thiện tất có nhiều điều may mắn.

Một tối trời quang đãng, thái bà nằm ở phòng hoa, mơ màng thiếp đi. Bỗng thấy một ông lão dắt lên trên trời, ôm được một con rồng vàng. Đến lúc trở về nhìn trời lại thấy sao Thái dương rơi vào người Thái bà. Bỗng nhiên tỉnh lại. Đem giấc mộng kể với ông Triệu. Ông nói:

  • Ta xem gia phả các đời của nhà ta có tổ tiên tìm được một nơi đất quý, trước là phát 4 đời công khanh, hơn ba trăm năm lại phát đế vương từ nơi đất đó. Nay nàng nằm mộng như vậy tất con rồng đó là điềm đế vương, lại rơi vào thân, tất sẽ sinh được người con đế vương.

Thế là Thái bà có mang. Từ khi mới mang thai cho đến lúc mãn nguyệt ở nơi Thái bà nằm thường trên mình có vầng ánh sáng đỏ chiếu rọi. Đến năm Giáp Dần ngày 10 tháng 3 thì sinh hạ được một người con trai. Đang lúc sinh khí lành bốc lên, hương thơm ngào ngạt. Sinh được trăm ngày, ông Triệu đặt tên là Quang Phục.

Quang Phục khi 15 tuổi đã có khí tiết lớn, thường than rằng:

  • Là con người trên phải như Hán Tổ, Đường Tông, dưới phải như Tống Dương, Đường Tiết mà lập công nêu danh, chiêu tập nhân dân, tạo nên đức lớn, để lưu danh thơm cho hậu thế. Chứ không thể để lại tiếng xấu trăm năm mà làm uổng phí kiếp sinh ra trong trời đất.

Đến tuổi 20 cha mẹ đều mất, ông bèn làm lễ chôn cất. Trong lúc chịu tang đã âm thầm nuôi chí lạ, trữ lương luyện binh, chiêu nạp chúng bạn, dốc lòng đãi sĩ, hết sức cầu hiền, tập hợp chúng nhân được hơn vạn người. Ông thường nói rằng:

  • Người Bắc Tiêu Tư xâm chiếm nước ta, nếu không đuổi được về Bắc thì chết vì hận vậy.

Sau nghe ông Lý Bôn khởi binh ở Long Biên, anh hùng thiên hạ phần nhiều đến quy phục, ông bèn dẫn chúng quân đến theo. Ông Bôn thấy người này có văn võ dồi dào, có tài an dân ngự chúng, bèn vui mừng nói:

  • Chúng ta đều là ngang sức ngang tài, chỉ tiếc là gặp nhau hơi muộn.

Bèn ngay hôm đó bái làm Tả tướng, cùng với người anh cùng họ là Lý Phật Tư truyền hịch đi các hào kiệt ở các chư phủ huyện, cùng các quan phụ đạo, đồng lòng mở nước, vì nghĩa dẹp hung tàn. Nếu sau này yên định được đất nước sẽ cùng hưởng điều tốt lành. Khi ấy người đến ứng mộ ở các chi quân mã cộng được 20 vạn người. Bèn chia thành các đạo tiến thẳng đến cùng với Tiêu Tư giao chiến một trận, thế mạnh như chẻ tre, oai lớn như đốt củi khô nỏ. Tiêu Tư thua to, chạy về nước Lương.

Ông Bôn lên ngôi, tự xưng là Tiền Lý Nam Đế, đóng đô ở Long Biên, quốc hiệu Vạn Xuân, mở tiệc mừng lớn, rồi phong cho các tướng sĩ các cấp. Bèn phong Lý Phật Tử là chủ bộ Sơn Tây, thực ấp ở Sơn Tây. Triệu Quang Phục là chủ bộ Sơn Nam, thực ấp là Sơn Nam.

Quang Phục vâng mệnh bái tạ, đi đến nhận việc ở Sơn Nam, ngắm xem đất đai có hình thắng hiểm trở để  lập cung doanh mà ở. Một hôm đi đến nơi đất đầu xã Nhuế Dương, xứ Nhất Dạ Trạch, huyện Đông An Khoái Lộ. Bốn bề đất Nhuế Dương, trước có sông lớn, ba mặt đầm nước, núi không cao mà đất bãi như gìn giữ. Nước có sâu mà nguồn giếng êm chảy. Trái phải xung quanh có rồng hổ ôm chầu, thật đúng là nơi đất hiểm yếu. Ngay hôm đó bèn truyền quân xây dựng cung doanh vài mươi gian. Chính cung dựa Càn hướng Tốn. Quang Phục ở đó. Ngày sau gọi phụ lão nhân dân Nhuế Dương đến, khuyến khích nông tang, nam học hành, nữ may dệt, thêm điều tiện lợi, trừ bớt điều hại. Nhân dân Nhuế Dương đều yêu mến, hân hoan.

Được vài năm Đế lại triệu hồi về cùng với họ Lý. Khi đó Quang Phục cùng với Đế Bắc đuổi Tiêu Tư, Nam dẹp Lâm Ấp, đặt nên cảnh thái bình như cuốn sách trâu trắng. Trời tự có số mệnh. Lý Đế ở ngôi được khoảng 10 năm, Lương Võ Đế lại sai Bá Tiên, Dương Sàn dẫn 20 vạn quân sang đánh để rửa mối hận trước đây. Khi ấy Lý Đế đóng quân ở hồ Điển Triệt. Quân Lương không dám tiến gần. Một hôm nước hồ dâng cao chảy vào giữa hồ. Bá Tiên đốc quân theo dòng nước mà tiến. Quân của Đế thua, Đế bèn ủy phó cho Tả tướng Triệu Quang Phục giữ nước, còn mình vào động Khuất Liêu, sau đó ít lâu bị bệnh lam chướng mà mất.

Quang Phục tự thấy Long Biên bốn mặt có giặc, bèn rút hết quân về nơi chốn cũ ở Nhuế Dương, trong đầm Nhất Dạ huyện Đông An mà ở, cùng với quân Lương cự chiến, qua một năm mà không phân thắng thua.

Một hôm Quang Phục lập đàn cầu đảo trời đất bách thần. Được một lúc thì thấy có một ông lão, râu tóc xanh tốt, cưỡi rồng từ trên trời hạ xuống, tháo móng rồng giao cho Quang Phục và dặn:

  • Quốc gia hưng vong là ở số trời. Nay ta cho khanh vật này dùng làm đâu mâu, đặt vào trong lẫy nỏ. Cứ hướng vào đâu là giặc tất phải cúi rạp dẹp ra.

Dặn xong, ông Phục bái hỏi họ tên. Người đó cười nói:

  • Ta chính là Chử Đồng Tử đây.

Rồi lại cưỡi rồng bay lên không mà đi. Quang Phục làm lễ bái tạ, rồi lệnh tạo lẫy nỏ đâu mâu, gọi là thần nỏ vuốt rồng. Một trận đánh đã chém được tướng Lương là Dương Sàn. Quân Lương thua to, chạy về nước Bắc. Quang Phục cho đó là điềm trời bèn lên ngôi, tự lập là Triệu Việt Vương.

Ở cung Nhuế Dương mở tiệc mừng lớn khao hưởng tướng sĩ. Cùng với nhân dân Nhuế Dương ăn uống, lại miễn cho Nhuế Dương binh dong, tô thuế để làm dân thang mộc. Lại cho tiền bạc để mua thêm ruộng vườn để ngày sau giữ hương lửa vậy. Sau Vương sai người cùng quận là Nhã Lang đang là Tạp bộ Đại phu giữ đầm Nhất Dạ, Đông An.

Vương lại về thành Long Biên ở. Trong sửa văn đức, ngoài phòng biên cương, dốc lòng hưng bình để yên Trung Quốc. Cảnh tượng thái bình ở đời rạng rỡ. Bèn xa giá đi chu du khắp thiên hạ. Núi Nhân dạo bộ, biết sông hỏi bến. Núi sông tụ Thần Phù, Yên Tử, Cao Đê, mặt trời hồng, mây trắng, trăng gió cuốn Hoa Quật, Long Biên. Trên dưới núi xanh nước biếc. Phàm đến nơi nào thấy sơn thủy hữu tình đều lập hành cung, cho miễn binh dao để ngày sau làm nơi hộ nhi.

Một ngày nọ lại trở về Nhuế Dương thăm xem cung điện. Khi ấy người ở Nhuế Dương tranh nhau mang trâu rượu đón tiếp, làm lễ mừng lớn. Vương ở lại Nhuế Dương mấy chục ngày rồi lại trở về ở thành Long Biên.

Lại nói, khi ấy tướng cùng tộc với Tiền Lý Nam Đế là Lý Phật Tử thấy Triệu Quang Phục xưng vương, bèn vào động Dã Năng ở 15 năm. Đến khi ấy dẫn quân đến đánh Triệu Việt Vương. Mỗi khi ra trận, Việt Vương lại dùng nỏ thần. Quân Phật Tử đều sợ hãi mà chạy. Trong tướng sĩ của Phật Tử có người hiểu biết nói với Phật Tử rằng:

  • Thần xem Triệu Việt Vương tất nỏ thần có lẫy có thuật lạ. Nếu không lo việc này thì quân ta càng đánh càng thua. Chi bằng hãy treo giáp ngừng quân để dùng mưu mà lấy. Thần nghe nói con gái Triệu Việt Vương là Gạo nương cùng với con của minh công là Nhã Lang xấp xỉ cùng tuổi. Nay có kế này Ngài có thể sai sứ cầu hòa và câu hôn sự. Việt Vương mà đồng ý thì tất sẽ cho Nhã Lang vào Triệu ở rể, rồi tùy ý mà hành động, tất thiên hạ có thể dựng lại về nhà họ Lý vậy.

Phật Tử vui mừng bèn viết thư rồi chọn hậu lễ thỉnh hòa và cầu hôn. Triệu Vương nghĩ Phật Tử là dòng tộc Tiền Nam Đế, không nỡ tận tuyệt, bèn đồng ý. Phật Tử lại đưa sinh lễ xin cho Nhã Lang vào làm con tin. Từ đó Việt Vương chia nước làm hai mà cùng trị. Chỗ phân cắt giới là bãi Quân Thần ở Thượng Cát, huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai, đạo Sơn Tây. Từ Thượng Cát về phía Tây Phật Tử trị. Từ Thượng Cát về Nam Việt Vương trị. Vương sau lại yêu mến Nhã Lang, gọi là rể hiền, tin tưởng cho ra vào mà không nghi ngờ gì.

Một hôm Việt Vương nằm ở gác Đông, bỗng mơ màng như mộng, thấy Chử Công Đồng Tử tiến lại. Việt Vương trong mộng chay ra ngoài sân nghênh đón. Thấy Đồng Tử vén tay áo lên lấy ra một bức thư giao cho Việt Vương. Vương bèn mở ra xem, chỉ thấy trong có 6 chữ là:

  • Việc thời Thục An Dương Vương.

Vương định nghênh bái đón tiếp thì bỗng nhiên tỉnh lại, mới biết là nằm mơ. Vương tưởng trong mơ là thấy lại mộng cũ gặp ông Chử Đồng Tử, cho nên không để ý. Đến khi Vương ở ngôi được khoảng 23 năm. Con trai của Phật Tử là Nhã Lang ngầm dụ Gạo nương rằng:

  • Xưa kia hai cha của chúng ta từng là thù địch, nay lại kết giao Tấn Tần, theo đó mà tránh được nỗi khổ của chiến tranh. Ngày ấy  khi cha nàng cùng với cha ta giao chiến, cha nàng có phép thần gì mà có thể thường đẩy lùi được quân của cha ta vậy

Gạo nương bèn lấy nỏ thần vuốt rồng ra cho xem. Nhã Lang bèn tráo đổi lấy cắp đâu mâu vuốt rồng. Nhân đó nói với Gạo nương rằng:

  • Tuy tình vợ chồng không thể mất nhưng nghĩa cha con cũng không thể xa rời. Ta muốn về thăm thân, chưa biến ngày nào cùng nàng gặp lại.

Nàng nói:

  • Vạn nhất mà hai nước thất hỏa, khi đó chồng Bắc vợ Nam làm sao mà gặp lại?

Nhã Lang nói:

  • Nếu có như vậy nàng hãy giấu lông ngỗng trong người, chạy đến đâu thì rắc lông ngỗng ở đường. Ta nhận được dấu đó sẽ đến gặp lại.

Thế rồi Nhã Lang giấu vuốt rồng trở bề báo với Phật Tử. Phật Tử vui mừng, bèn cất quân đến đánh Việt Vương. Vương vẫn chơi cờ vây mà cười rằng:

  • Phật Tử không sợ nở thần của ta sao Không nghĩ đến nghĩa hôn nhân hay sao?

Phật Tử nói:

  • Phật há lại sợ thần hay sao?

Bèn dẫn quân bức đến. Việt Vương mang nỏ ra mới biết là đã mất vuốt rồng, thế cùng lực tận, không biết làm thế nào. Bèn đặt Gạo nương lên ngựa, sau cưỡi ngựa chạy đến cửa biển Đại Nha ở xã Lục Bộ, huyện Giao Tủy. Còn Phật Tử cứ theo lông ngỗng mà truy sát đến. Trước là cửa biển, sau là quân truy kích. Việt Vương đang lúc quẫn bách thì thấy Chử Công Đồng Tử cưỡi hạc bay đến trước Việt Vương hô to:

  • Vương không nhớ ta đã ứng trong mộng cho 6 chữ sao? Nữ tử sau ngựa chính là giặc đó.

Việt Vương tự biết, than rằng:

  • Hối không kịp rồi.

Bèn rút gươm chém Gạo nương. Vương tự mình nhảy xuống cửa biển Đại Nha mà mất (khi đó là ngày 12 tháng 8). Vương từ khi mất thường có nhiều linh ứng. Nơi mà Vương hóa xã Lục Bộ lập đền ở trên cửa biển để thờ phụng. Còn xã Nhuế Dương, huyện Đông An từ khi Vương mất nhân dân đều mang bệnh tật không yên, thường mơ thấy một người thân mặc áo xanh tay cầm cờ vàng nói rằng:

  • Ta là thiên sứ xuống báo cho dân các ngươi xây dựng cung miếu để thờ Triệu Việt Vương.

Người dân không biết như thế nào. Lại thấy Phật Tử lên ngôi tự lập là Hậu Lý Nam Đế. Con trai Nhã Lang đến nơi dân truyền rằng Việt Vương đã hóa. Dân phải lập miếu phụng thờ. Lại thấy Tạp bộ Đại phu ở xã Đại Lan bản huyện cũng tự đến tận nơi cung sở chính, lập làm đền miếu, vâng chép thần hiệu Triệu Việt để phụng thờ. Từ đó bệnh tật đều yên hết. Cảm tất thông, cầu tất ứng. Nên nhân dân phụng thờ nghiêm cẩn.

Lại nói khi Hậu Lý Nam Đế ở ngôi được 20 nằm thì hàng Tùy mà mất. Trải qua Mai Hắc Đế, Phùng Bố Cái, Khúc Tiên Chủ, Khúc Trung Chủ, Khúc Hậu Chủ, Dương Chính Công, Tiền Ngô Vương, Hậu Ngô Vương, Mười hai sứ quân cùng nhau tranh giành, cát cứ các nơi. Sinh dân do đó thật lầm than. Lại có người ở Hoa Lư động, châu Đại Hoàng họ Đinh tên Bộ Lĩnh khởi binh dẹp trừ 12 sứ quân. Khi dẫn quân đánh Phạm Bạch Hổ ở Đằng Châu Đinh Bộ Lĩnh tự đến xã Nhuế Dương  cầu ở nơi đền miếu Việt Vương. Việt Vương cũng có hiển ứng âm phù. Khi dẹp được 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi, tự lập là Đinh Tiên Hoàng đế, bèn truy phong Việt Vương Hoàng đế, ban cho mĩ tự sắc chỉ về Nhuế Dương, trùng tu miếu điện để thờ phụng. Xuân thu sai quan đến tế. Bốn mùa hương lửa cùng quốc gia hưởng yên. Thịnh sao!

Truy tôn Triệu Việt Vương Khai quốc Dực vận Quảng tế Thần võ Nguyên công Chí  Thánh Triệu Hoàng đế. Cho xã Nhuế Dương phụng thờ.

Lại nói, từ đó về sau trải đời Lý 8 nhánh, Trần 12 vua cùng với Hoàng gia ta khai sáng hồng đồ thường có hộ quốc cứu dân, cầu mưa cầu nắng, đều có nhiều linh ứng, nên có nhiều đế vương gia phong mĩ tự để làm vạn năm hương lửa vô cùng. Tốt thay, đẹp thay!

Vâng khai sinh hóa các lễ cùng với các chữ húy hai chữ Quang Phục, màu áo vàng nhất thiết cấm khi làm lễ không được mặc.

Sinh thần ngày mồng 10 tháng 3 (lễ dùng trên mâm chay, dưới cỗ trâu, xôi, rượu, ca hát ba ngày).

Ngày hóa thần 12 tháng 8 (lễ dùng trên chay bàn bánh chè oản hương hoa. Dưới cỗ trâu xôi rượu, đấu vật ba ngày).

Ngày khánh hạ là mồng 10 tháng Giêng (lễ dùng lợn đen, xôi, rượu, ca hát một ngày).

Xuân thu hai kỳ lệ được ban cho tiền đồng 60 quan, sai quan đến tế, làm lễ tam sinh, ca hát một ngày.

Niên hiệu Hồng Phúc năm thứ nhất tháng đầu xuân ngày tốt, Hàn lâm viện Đông các đại học, thần, Nguyễn Bính phụng soạn.

Hoàng triều Vĩnh Hữu năm thứ nhất tháng giữa thu nguyệt ngày tốt, Quản giám bách thần Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh, thần, Nguyễn Hiền tuân theo chính bản vâng sao.

Bát phẩm thư lại, thần, Hoàng Công Độ vâng chép.