Bạn có biết: Lộc Tục và Kinh Dương Vương là 2 vị vua Hùng mở nước trời Nam

Truyện họ Hồng Bàng chép: “Đế Minh cháu ba đời họ Viêm Đế Thần Nông sinh ra Đế Nghi, sau nhân đi tuần về phía Nam đến núi Ngũ Lĩnh lấy được con gái bà Vụ Tiên rồi trở về, sinh ra Lộc Tục. Tục dung mạo đoan chính, thông minh phúc hậu, Đế Minh rất lấy làm lạ, muốn cho nối ngôi mình. Lộc Tục cố từ, xin nhường cho anh. Đế Minh liền lập Nghi làm kẻ nối ngôi để trị đất Bắc. Lại phong Lộc Tục là Kinh Dương Vương để trị đất Nam, lấy hiệu nước là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương có tài đi dưới Thủy phủ, lấy con gái Long Vương ở hồ Động Đình, sinh ra Sùng Lãm hiệu là Lạc Long Quân, cho nối ngôi trị nước. Kinh Dương Vương không biết đi đâu mất.

Truyện họ Hồng Bàng chỉ nói rằng Lộc Tục là Kinh Dương Vương, người đã “tuân mệnh vua cha” (Đế Minh) cai quản phương Nam. Tuy nhiên khi xem xét trên thực tế các di tích tín ngưỡng và thần tích về thời kỳ này thì có thể nhận ra có tới 2 vị vua mở nước Nam đều được gọi là Lộc Tục Kinh Dương Vương. Vị xuất hiện sớm hơn có thể gọi là Lộc Tục, còn vị xuất hiện sau gọi là Kinh Dương Vương.

Lộc Tục là con của Đế Minh và dòng Vụ Tiên ở vùng núi Ngũ Lĩnh, tức là Sơn thần trên vùng rừng núi. Như đã dẫn chứng trong bài trước, vị Lộc Tục này là một trong ba vị Hùng Vương Thánh Tổ, là Ất Sơn Thánh Vương của vùng đất tổ Phong Châu. Vị Lộc Tục này cũng là Đế Thuấn xuất xứ từ vùng núi Lịch ở Tuyên Quang, với các di tích thờ tự còn đậm đặc tại đây về việc ông đã mở mang sản xuất nông nghiệp, gieo mạ Bách Bung ở Lãng Sơn, cày ruộng bằng voi ở Lịch Sơn, làm đồ gốm, đánh bắt cá bên đầm Lôi Trạch.

Lộc Tục Đế Thuấn được Đế Nghiêu truyền ngôi theo lối truyền hiền và gả cho 2 công chúa là Nga Hoàng và Nữ Anh mà truyền thuyết vùng Phong Châu gọi là Hai cô Tiên Dung và Ngọc Hoa. Hai cô công chúa luôn được thờ cùng với ba vị Hùng Vương Thánh Tổ ở đền Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh cũng như ở các di tích khác của vùng đất tổ. Sự kiện này truyền thuyết Việt kể là chuyện vua Hùng kén rể mà Sơn Tinh lấy công chúa Ngọc Hoa. Ở nơi “lầu kén rể” xưa nay là chùa Hoa Long bên bến Việt Trì, có miếu thờ tượng hai công chúa Tiên Dung, Ngọc Hoa. Còn ở hai làng Vi và Trẹo (Vi Cương và Triệu Phú) ở thị trấn Hùng Sơn, là 2 làng gốc của đền Hùng trên núi Hy Cương, còn có lễ tục “Rước chúa gái”, tái hiện lại sự kiện công chúa con vua Hùng về nhà chồng là Sơn Tinh (tức Ất Sơn Lộc Tục).

Tấm bia Hùng Vương từ khảo đặt tại đền Thượng núi Hùng Nghĩa Lĩnh do tuần phủ Phú Thọ soạn năm Bảo Đại thứ 15 (1940) là tấm bia cho biết thông tin nhà Nguyễn lấy ngày 10 tháng Ba Âm lịch làm ngày quốc tế, giỗ tổ Hùng Vương. Tấm bia này khi nói về hai công chúa vua Hùng chép: “Chân núi phía Nam có miếu Giếng, thờ hai vị công chúa: Một là công chúa Tiên Dung con Hùng Vương thứ 3 (gả cho Chử Đồng Tử); một là công chúa Ngọc Hoa con Hùng Vương thứ 18 (gả cho Cao Sơn)”. Vị con rể vua Hùng lấy công chúa Ngọc Hoa ở đây không phải là Tản Viên Sơn Thánh mà là một vị khác, được ghi là Cao Sơn. Cao Sơn rõ ràng là tương ứng với vị Ất Sơn Lộc Tục.

Khi Lộc Tục Đế Thuấn mất, hai vị công chúa đã tuẫn tiết theo chồng ở sông Tương, trở thành hình ảnh “nữ trung Nghiêu Thuấn” trong văn học cổ. Di tích của sự kiện này là 2 ngôi đền 2 bên sông Lô, gần núi Lịch thờ 2 vị công chúa con vua Hùng là đền Thượng Núi Dùm và đền Hạ Tam Cờ tại thành phố Tuyên Quang. Bia đền Hiệp Thuận (đền Hạ Tam Cờ) do Thống đốc Hoàng Kế Viêm soạn năm Tự Đức thứ 28 ghi: “Thiên tử ban mệnh lớn, đền thờ Công Chúa Phương Dung nằm bên bờ sông phía Đông thành Tuyên Quang cùng sóng đôi tốt đẹp. Theo sử sách ở phía Bắc có dòng sông Tương đã đi vào lịch sử …“. Cùng với núi Lịch Đế Thuấn đi cày, sông Tương ở phía Bắc thành Tuyên thì lịch sử Lộc Tục ở miền Phong Châu đã trở nên rõ ràng.

Trong khi đó, vị vua có danh xưng là Kinh Dương Vương lại được thờ ở khu vực khác, với những sự tích công lao và sự nghiệp khác. Nói đến Kinh Dương Vương người ta thường nghĩ ngay đến lăng mộ ở Á Lữ (Thuận Thành, Bắc Ninh). Tuy nhiên ít người để ý rằng ở khu vực Thuận Thành Kinh Dương Vương có sắc phong gọi là Việt Nam Lạc Thị Đệ nhất. Sắc phong ở đền Á Lữ ghi: “Sắc chỉ Bắc Ninh tỉnh Siêu Loại huyện Á Lữ xã tòng tiền phụng sự Kinh Dương Vương miếu Khai sơ Sáng thủy Khởi minh Thùy hiến Uông nhuần Việt Nam Lạc Thị Linh ứng Trung đẳng thần…

Kinh Dương Vương được thờ ở vùng Bắc Ninh không phải trong bộ ba Hùng Vương Thánh Tổ mà trong bộ ba Việt Nam Lạc Thị gồm Việt Nam Lạc Thị Đệ nhất là Kinh Dương Vương, Việt Nam Lạc Thị Đệ nhị là Lạc Long Quân, Việt Nam Lạc Thị Đệ tam là Hùng Vương. Cách thờ này nhấn mạnh đến dòng họ Lạc gồm các Lạc Vương như trong thần tích vùng này chép:

Tổ thờ ở Á Lữ. Tổ đi chu du thiên hạ, kiến xem hình thế … Chợt thấy 3 con rồng, mình dài vài trượng, lưng to mấy vòng. Trên đỉnh đầu có ấn vàng. Trong ấn nổi lên 2 chữ LẠC VƯƠNG. Lối lên ở ngã ba sông. Cá, tôm, rùa, ba ba đi theo. Sóng to gió dữ không thể kể xiết. Sau đó một đi chơi vùng Đại Đoan (nay là Đại Bái – Đoan Bái sông), một đi chơi sông Nghi Tuyền (nay là Nghi An sông), một đi chơi sông Bình An (nay là Bình Ngô – Yên Ngô sông)… Dân bèn dựng miếu thờ…
Thủy thần ba vị tên chữ gọi là:
– Việt Nam Lạc Thị Đệ nhất Đại vương
– Việt Nam Lạc Thị Đệ nhị Đại vương
– Việt Nam Lạc Thị Đệ tam Đại vương.

Các di tích ở vùng Thuận Thành – Gia Bình thờ Việt Nam Lạc Thị có thể kể đến như:

  • Đình làng Đại Bái (Bưởi Nồi), Gia Bình nay được ghi là thờ Lạc Long Quân.
  • Đền làng Bình Ngô, Thuận Thành nổi tiếng với cuốn Hùng Vương ngọc phả, tức là thờ chính là Hùng Vương.
  • Đình làng Đoan Bái (Bưởi Đoan), cùng cụm di tích 4 làng Bưởi với làng Đại Bái, nay trở thành một nơi thờ đủ các vị thủy tổ Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Âu Cơ, Hùng Quốc Vương.
  • Đình làng Ngọc Xuyên (Bưởi Xuyên) thờ thần Bách Noãn.
  • Đình làng Đại Mão, Gia Bình, nơi thờ Tam vị Lạc Thị…

Nhiều thần tích thay vì nói đến triều Hùng Vương truyền 18 đời thì ghi là Kinh triều truyền 18 đời, tức là lấy Kinh Dương Vương là vị khởi đầu cho giai đoạn này. Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả soạn thời Lê Đại Hành cũng ghi Kinh Dương Vương là vị vua Hùng ở chi đầu (Hùng Dương Vương – chi Càn).

Điểm khác biệt khác giữa Kinh Dương Vương và Lộc Tục Đế Thuấn là việc Kinh Dương Vương lấy Thần Long Nữ con của Động Đình Đế Quân. Thần Long ở Động Đình hồ rõ ràng là dòng Thủy thần, khác hẳn với dòng Sơn thần như công chúa Ngọc Hoa ở vùng đất tổ. Thần tích Tiên Cát (Việt Trì, Phú Thọ) ghi:

Xưa Kinh Dương Vương vâng lệnh dẫn các tướng dời đến núi Nam Miên trấn giữ, chọn nơi hình thế thắng địa có để lập đô ấp, mới tới đất Hoan Châu (nay là xứ Nghệ An)… Bấy giờ khí xuân ấm áp, vô vàn cảnh sắc. Vua bản tính thích phong thuỷ bèn lên thuyền ngự tuần du ngoài biển, đi xem núi sông, trải xem hình đất nước, lạc ra ngoài biển. Bất giác thấy thuyền rồng đã thẳng đến xứ hồ Động Đình. Vua sai dừng thuyền, đứng lên xem, chợt thấy một người con gái lưng eo xinh đẹp, dung nhan tuyệt sắc, từ dưới đáy nước đi đến. Thật là một cuộc hội ngộ hiếm có xưa nay. Vua bèn sai chèo thuyền đến gần. Vua nói:
– Tiên nữ đẹp quá, từ đâu đến đây?
Thiếu nữ đáp:
– Thiếp tên là Thần Long, chính là con gái Động Đình Quân, ở trong thâm cung cửa ngọc, từ lâu đợi bậc anh hùng. Nay trời cho được gặp gỡ, nguyện được theo phụng hầu khăn túi.
Vua vui mừng đẹp ý, bèn dắt vào trong thuyền rồng. Vua cùng người con gái quay giá trở về thành đô, lập Thần Long làm chính cung.

Cuộc kỳ ngộ giữa Kinh Dương Vương và Thần Long Nữ mở đầu cho thời kỳ Kinh triều Lạc thị từ vùng sông nước Động Đình, khác hẳn chuyện vua Hùng kén rể Ất Sơn Lộc Tục cho công chúa Ngọc Hoa ở miền rừng núi. Ở giai đoạn Lộc Tục mới đang gọi là họ Hồng Bàng hay nước Nam bang. Còn đến Kinh Dương Vương lập quốc đã có tên nước Xích Quỷ. Xích Quỷ đọc thiết âm là Xủy – Thủy, chỉ rõ tính chất thủy thần của dòng Kinh Lạc. Bản thân Kinh cùng âm với kênh, Lạc là lạch hay nác, nước. Kinh triều Lạc thị là giai đoạn Thủy quốc (Xích Quỷ) trong thời đại Hùng Vương.

Câu đối ở đền Á Lữ:
Tương truyền Lĩnh động Tiên sinh Thánh
Tòng thử Viêm phương Quốc hữu Quân.

Tấm bia Hùng Vương từ khảo ở đền Thượng núi Hùng Nghĩa Lĩnh.
Đền thờ hai cô công chua sNgọc Hoa, Tiên Dung tại vị trí lầu kén rể xưa trong khuôn viên chùa Hoa Long (Việt Trì, Phú Thọ).
Dịch bia đền Hiệp Thuận (đền Hạ Tam Cờ) ở Tuyên Quang.
Đền Á Lữ (Thuận Thành, Bắc Ninh). Dòng chữ trên nghi môn Thủy tổ đài môn.
Sắc phong Kinh Dương Vương miếu Vietj Nam Lạc Thị ở đền Á Lữ, Thuận Thành, Bắc Ninh.
Ngai thờ Tam vị Việt Nam Lạc Thị ở đền Bình Ngô, Thuận Thành, Bắc Ninh.
Ngọc phi (vợ của Kinh Dương Vương) ở đền Tiên Cát (Việt Trì, Phú Thọ).

Con ngựa trong không gian văn hóa tín ngưỡng Việt

Bài đăng trên Tạp chí Năng lượng mới, số Xuân 2026

Mặc dù ngựa không phải là loài động vật bản địa trong tự nhiên ở Việt Nam nhưng trong văn hóa tín ngưỡng người Việt con ngựa có một vai trò đặc biệt, rất hay gặp và đa dạng về hình thức. Hình tượng ngựa có thể là thần Bạch Mã của kinh thành Thăng Long, thần thú Long mã, ngựa chiến của Thánh Gióng đánh giặc Ân, ngựa trong các di tích đình, đền, chùa đến ngựa trên các bức chạm gỗ, đá sinh động, ngựa trong tranh thờ của người Dao. Ngựa còn là biểu tượng của quẻ Khôn trong Kinh Dịch về sự tòng thuận, khôn ngoan đem đến sự bền vững, lâu dài cho đời sống con người.

Con giáp Ngọ – Ngựa

Trong 12 con giáp thì Ngọ là giờ giữa trưa, là thời điểm mặt trời lên cao nhất trong ngày. Ngọ còn có hàm ý là chỉ phương Nam về không gian và là tháng Năm trong Âm lịch. Ngọ gần âm với Ngũ, là con số 5 ở trung tâm của Hà thư và Lạc đồ. Ngọ cận âm với “ngự”, từ dùng cho vị trí của vua. Do đó, trong dân gian Ngọ cũng có nghĩa là thủ lĩnh, là Vua. Ví dụ như ở làng Hạ Mạo (Lâm Thao, Phú Thọ) thờ vị thần tên là Út Ngọ Lôi Mao với sự tích là chàng Út trong số 5 người anh em họ Lê đã lên ngôi Hậu Hùng Vương thời kỳ nước Nam Việt.

Thần Bạch Mã Long Đỗ

Đền Bạch Mã là ngôi đền trấn Đông trong Tứ trấn của thành Thăng Long. Đền thờ thần Chính Khí Long Đỗ và Quảng Lợi Bạch Mã Đại vương. Thần Long Đỗ là thành hoàng của thành Thăng Long, hiển linh dưới thời Cao Biền. Còn thần Bạch Mã là khi Lý Thái Tổ xây thành Thăng Long, thần đã hiện hình một con ngựa trắng đi quanh khu vực xây thành. Nhà vua đã xây theo vết chân ngựa đó, thành xây đến đâu chắc chắn đến đó. Long Đỗ hay Bạch Mã đều là cùng một vị thần, gọi theo sự tích hiển linh ở các thời khác nhau.

Thần Long Đỗ Bạch Mã nguyên gốc là Thủy phủ Phù Tang Cam Lâm Đại đế trong Đạo giáo, hay Động Đình Đế Quân, là vị thần cai quản phương Đông và Thủy phủ. Động Đình Đế Quân là cha của Động Đình Long Nữ, là ông ngoại của Lạc Long Quân trong truyền thuyết Họ Hồng Bàng của người Việt.

Rải rác ở các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Thanh Hóa thần được thờ là thành hoàng các làng dưới tên Quảng Lợi Bạch Mã hay Bạch Mã Lôi Công. Sự tích thần Bạch Mã ở đây được thể hiện dưới dạng một vị Thiên thần, khi xuất hiện thì trời nổi mưa gió, làm sấm sét, giúp nước an dân, dẹp giặc ngoại xâm.

Ở miền Nam từ Đà Nẵng trở vào có thần Bạch Mã Thái Giám, được thờ như một vị thượng đẳng thần cai quản các vùng đất. Nhiều nơi có sắc phong cổ cho vị thần này. Thái Giám nghĩa là người đứng đầu cai quản, giám sát mọi sự, thể hiện cấp bậc rất cao của vị thần này. Xét về sự tương đồng thì thần Bạch Mã Thái Giám cũng là thần Long Đỗ hay Động Đình Đế Quân.

Linh thú Long mã 

Vào thời thượng cổ vua Phục Hy thấy một con Long mã, đầu rồng, mình ngựa, xuất hiện trên sông. Trên lưng Long mã chở một đồ hình gồm có 10 đường nét, 50 chấm, gọi là Hà đồ. Nhà vua quan sát các chấm nầy, kết hợp với các hiện tượng thiên nhiên trong trời đất mà nghĩ ra cách tượng trưng Âm Dương, vẽ ra Bát Quái đồ. Hà nghĩa là Trời. Hà đồ là cuốn Sách trời, tượng trưng cho nền minh triết (Dịch học) sơ khởi của phương Đông. 

Hình tượng Long mã Hà đồ thường được đắp, vẽ trên các bức bình phong ở các đình, đền, nhất là từ vùng miền Trung trở vào phía Nam. Các phủ, điện ở cố đô Huế đặc biệt hay sử dụng hình Long mã Hà đồ đắp bằng cách ghép các mảnh gốm sứ màu. Long mã Hà đồ là biểu tượng cho khởi đầu của không gian tâm linh nên được đặt ở mặt trước của các tấm bình phong trên đường thần đạo của các di tích tín ngưỡng.

Ở một số di tích cổ, như ở đền Thượng Sóc Sơn (Hà Nội), có tượng Long mã được đắp ở trước đền, dạng như linh vật chầu trước di tích. Có nơi Long mã còn được làm bằng gỗ, có bánh xe để rước, thay cho ngựa, nhất là khi đối tượng thờ là những vị Thiên thần. Việc này xuất phát từ quan niệm Long mã là thú cưỡi của các vị thần tiên trên trời.

Về hình tượng ngựa thần còn có cặp Hỏa mã, Ngọc lân là thần thú của 2 vị Nhật Quang Thiên Tử và Nguyệt Quang Thiên Tử trong sự tích về Đế Thích như ở đền Xá (Ân Thi, Hưng Yên). Đây là hình ảnh của Mặt trời và Mặt trăng nhưng thể hiện từ góc nhìn của Ấn Độ giáo.

Ngựa chiến

Nói tới ngựa chiến không ai không nhớ ngay đến con Ngựa sắt phun lửa đã cùng Phù Đổng Thiên Vương diệt giặc Ân. Tương truyền khắp các vùng từ Sóc Sơn đến núi Châu Sơn rải rác có các dấu chân ngựa Gióng in trên các phiến đá lớn hay sụt lún thành ao hồ. Ở chân núi Sóc Sơn có đền Hạ Mã (xã Phù Linh), là nơi Thánh Gióng từng dừng ngựa, để lại yên cương và ngọc duẩn trước khi về trời. Nơi đây còn có cột đá buộc ngựa của Thánh. Phù Linh là làng tiến lễ Ngựa mã trong lễ hội đền Sóc Sơn vào ngày mùng 6 tháng Giêng hàng năm, là ngày Thánh Gióng bay về trời.

Một lễ hội khác cũng có ngựa mã là lễ hội Y Sơn (Hiệp Hòa, Thái Nguyên) thờ đức thánh Hùng Linh Công cũng đánh giặc Ân. Trong lễ hội, 5 giáp ở Y Sơn làm 5 cỗ voi và 10 cỗ ngựa hồng ngựa bạch bằng tre ngâm, dán giấy màu sặc sỡ, tập hợp thành đoàn quân voi, ngựa có quản, tướng (do nam và nữ thiếu niên đóng) ngồi ở trên. Đội tượng binh mã binh này là quân đội chính của đức Hùng Linh Công ra trận diệt giặc.

Hình tượng ngựa do các chiến tướng cưỡi xung trận hay gặp trong các bức tranh đắp nề ở các ngôi đền hay chạm gỗ ở đình làng. Một hình tượng ngựa chiến nữa gặp trong lễ hội dân gian đó là hình quân Mã trong trò đánh cờ người, được chơi diễn khá phổ biến ở nhiều lễ hội miền Bắc. Đánh cờ tướng vốn lấy theo cốt truyện Hán – Sở tranh hùng, được thể hiện trong các lễ hội nhằm ca ngợi, tái hiện lại chiến công của các vị thần thành hoàng là các vị tướng võ, vị vua dựng nước được thờ ở đây.

Ngựa rước

Ngựa là loài vật nhanh nhẹn, mạnh mẽ, bền bỉ, dẻo dai, dùng làm vật cưỡi rất quý thời xưa, chỉ những người có điều kiện và có chức tước mới cưỡi ngựa. Trong không gian thờ cúng, đối với các vị quan tướng thường có cặp Ngựa hồng Ngựa bạch làm bằng gỗ có bánh xe, trang trí đầy đủ yên cương, thêu hình chim phượng, rồng mây, đặt trong nội điện để thờ. Uy nghiêm hơn nữa trong việc thờ các vị thánh vương như Sĩ Nhiếp hay Lão Tử thì còn có tượng quan hầu dắt ngựa đi kèm. Vào ngày lễ hội, cặp ngựa hồng bạch này được kéo ra ngoài sân, bày phía trước các kiệu thờ và nếu hội có đám rước thì ngựa cũng được rước đi đầu. Ngựa trong trường hợp này thể hiện sự tôn vinh chính khí, uy linh của vị thần được thờ.

Đôi khi ngoài ngựa hồng và ngựa bạch còn gặp cả Ngựa đen, như trường hợp ở đình làng Hoài Thượng ở Thuận Thành (Bắc Ninh). Điều này liên quan đến vị thần được thờ là Bắc phương Hắc đế, vị thần phương Bắc, lấy màu đen làm biểu tượng.

Ngựa chầu

Ở nghi môn các đền thờ, miếu, đôi khi cả ở đình làng, thường có đắp nề nổi hay vẽ hình ngựa chầu. Thường gặp nhất là một bên Voi, một bên Ngựa, hoặc là một bên ngựa bạch, một bên ngựa hồng. Có thể có người quản mã kèm theo. Trong nội điện các di tích thờ trước gian hậu cung hai bên cũng có thể đắp hoặc vẽ ngựa chầu tương tự.

Những di tích lớn có thể dùng ngựa đá để chầu bên ngoài, đứng riêng rẽ hay trong lầu gác, hay có tượng quản mã dắt ngựa đi cùng. Đặc biệt hay thấy có ngựa đá đứng hoặc nằm ở các lăng tẩm như lăng, đền thờ các vị vua Trần, gắn với câu thơ bất hủ của Thượng hoàng Trần Nhân Tông: Xã tắc hai phen bon ngựa đá. Ngựa đá, Voi đá, Quan hầu cũng là những tượng được đặt thành hàng đứng chầu trước lăng các vị vua nhà Nguyễn ở Huế. Ngựa chầu thể hiện sự trang nghiêm, uy quyền của người được thờ trong di tích.

Ở miền Nam ngựa chầu ở các đình đền lại mang một sắc thái khác. Hay gặp ở đây là tượng ngựa ô, ngựa bạch, được đặt phía trước di tích, theo hình dạng đang đi, vươn cổ, bước chân, hơn là đứng trang nghiêm như ngựa chầu ở miền Bắc. Hình tượng ngựa Nam bộ mang tính chất công việc làng xã trong các lễ cầu phúc, kỳ yên, cầu mùa, hơn là ý nghĩa tôn vinh sự uy nghi của các vị thần được thờ như ở miền Bắc.

Ngựa của trong Đạo giáo Tam phủ

Trên các bức tranh thờ của người Dao theo lối Đạo giáo thường thể hiện các vị quan cưỡi ngựa. Điển hình là bức Thái úy trong bộ 3 bức tranh Hành sư (Tổng đàn). Tranh này thể hiện một vị thần với khuôn mặt hiền từ, cầm kiếm cưỡi ngựa với các vị quan hầu cũng cưỡi ngựa. Tranh thờ khác là tranh Tam Nguyên Quan vẽ 3 vị Thiên Quan, Địa Quan, Thủy Quan đều ở trạng thái cưỡi ngựa. Còn trong tranh Tứ trực Công tào thì vị công tào của Dương gian là vị cưỡi ngựa. Con ngựa như vậy là biểu hiện cho Dương gian, là một trong Tứ phủ theo quan niệm của người Dao.

Trên những bức tranh độ linh của các tộc người theo Đạo giáo như người Dao, người Cao Lan, người Tày, có vẽ các vị quan cưỡi ngựa trên dọc đường của linh hồn đi lên trời. Hình ảnh ngựa kéo xe còn gặp trên loại gương đồng “thần nhân xa mã đồ tượng” của thời Hán, mà trong đó xe ngựa như một phương tiện cho linh hồn đi trên con đường về với thế giới thần tiên (về Trời – Thiên phủ).

Nếu ở Dương gian có ngựa cưỡi của các vị quan, trên đường lên Trời (Thiên phủ) có xe ngựa, thì ở dưới Địa phủ có quỷ Mã diện (mặt ngựa), cùng với quỷ Ngưu đầu (đầu trâu), làm sai nha cho Diêm vương. Ngưu đầu Mã diện thường gặp ở trong tranh thờ hay trên mũ thầy cúng người Dao. Còn ở miền xuôi, như vùng Sơn Tây (Hà Nội) hay gặp những di tích thờ Tam phủ cổ có đặt tượng Ngưu đầu Mã diện, là hình thức tín ngưỡng khá tương đồng với Đạo giáo của người Dao.

Ngựa trong chùa

Trong chùa thờ Phật đôi khi có đặt tượng Mã đầu Quan Âm, thể hiện Quan Âm Bồ Tát ngồi trên đỉnh núi, gương mặt hiền hậu và ôm một con ngựa trắng, với ý nghĩa cứu độ, khuyến khích sự chuyên cần, bền bỉ, kiên trì trong tu và hành pháp.

Việc dùng hình ảnh ngựa trong các cảnh trang trí hay thấy ở chùa hơn là ở đình đền. Điển hình là cảnh đàn ngựa vui đùa hoặc ngựa đang vờn chơi với hươu nai rất sinh động, được chạm nổi trên lan can đá, tháp đá của chùa Bút Tháp (Thuận Thành, Bắc Ninh). 

Hình ngựa phi hay ngựa rước có lọng che còn thấy trong các bức tranh đồ thế, hay được khắc lên gỗ thành mộc bản để in làm giấy mã, dùng trong các nghi lễ cúng ở chùa.

Ngựa trong Kinh DịchCặp quẻ Càn – Khôn là 2 quẻ chính, bao trùm cả 64 quẻ của Kinh Dịch. Quẻ Càn có tượng là Trời, là nền Minh triết. Quẻ Khôn là Đất, là nền Khoa học. Lời quái của quẻ Càn là “Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh”. Còn lời quái của quẻ Khôn là “Nguyên, Hanh, Lợi, tẫn mã chi Trinh”, chỉ khác nhau ở chữ “tẫn mã”. Tẫn mã là ngựa cái, do quẻ Khôn có tượng là đàn bà. Người xưa dùng 2 con vật làm biểu tượng trong Kinh Dịch. Rồng bay trên trời dùng trong quẻ Càn, Ngựa đi dưới đất dùng trong quẻ Khôn. Ngựa đi là theo người điều khiển, ở đây ý muốn nói đến sự thuận tòng. “Tẫn mã chi Trinh” nghĩa là nền Khoa học phải theo sự định hướng hay được dẫn dắt bởi nền Minh triết thì sự nghiệp khoa học mới bền lâu. Hay nói đơn giản hơn, hành động lý trí của con người (Khôn) phải tuân theo sự chỉ dẫn của tư tưởng đúng đắn (Càn) thì mới được lâu dài.

Bạn có biết: Đế Nghiêu, Đế Thuấn là các vị vua Hùng được thờ trên núi Hy Cương

Vua Thuấn đi cày voi trong trò diễn ở Tứ Xã.

Tam tự kinh, cuốn sách các sĩ tử Việt xưa học nằm lòng, ghi:
Đường Hữu Ngu, hiệu nhị Đế
Tương ấp tốn, xưng thịnh thế.

Nghĩa là:
Đường, Hữu Ngu là hai Đế
Cùng nhường đất, gọi thịnh thế.

Đường Nghiêu, Ngu Thuấn là hai vị Đế thời cổ đại của Trung Hoa, nối tiếp thời Hoàng Đế Hiên Viên. Nhưng thật bất ngờ khi biết rằng Đế Nghiêu và Đế Thuấn chính là 2 vị vua Hùng thứ 2 và thứ 3 được thờ cùng với vua Hùng thứ 1 như những vị quốc tổ Hùng Vương trên đền Hùng ở núi Hy Cương.

Kinh Thư chép: “(Vua Nghiêu) sai Hi Thúc đến Nam Giao, quan sát mặt trời di chuyển về phương Nam, ghi ngày Hạ chí.” Hi Thúc cũng là Đế Thuấn, người đã tuân mệnh Đế Nghiêu đi khai mở đất Nam Giao, xem thiên tượng mà đề ra lịch pháp. Nam Giao rõ ràng là chỉ vùng phía Nam của đất Việt xưa thời đầu Hùng Vương.

Bài thơ được coi là “tuyên ngôn độc lập” của nhà Nguyễn ở chính điện Thái Hòa trong kinh thành Huế:
Văn hiến thiên niên quốc
Xa thư vạn lý đồ
Hồng Bàng khai tịch hậu
Nam phục nhất Đường Ngu.

Nghĩa là:
Nước ngàn năm văn hiến
Cơ đồ vạn dặm đồng
Từ Hồng Bàng mở nước
Phục Nam một Đường Ngu.

Bài thơ trong câu cuối nói trực tiếp rằng cõi Nam mở nước Hồng Bàng là từ Đường Nghiêu, Ngu Thuấn.

Ca dao Việt và quan họ Bắc Ninh lời cổ có câu hát: 
Rủ nhau đi cấy xứ đương
Cấy cho vua Thuấn ở đồng Lịch Sơn.

Câu hát nói đến một điển tích có từ lâu đời là vua Thuấn đi cày ở núi Lịch: Nguyên cha của Thuấn là người hung bạo, không biện biệt được người hay kẻ dở, người đương thời đặt tên là Cổ Tẩu (người mù mắt). Mẹ của Thuấn mất sớm, Cổ Tẩu tục huyền với người đàn bà sau này sinh ra Tượng. Vì có lời gièm pha của người kế mẫu và đứa em ngỗ nghịch cùng cha khác mẹ, Cổ Tẩu không ưa Thuấn và định bụng giết đi. Biết thế, nhưng Thuấn vẫn giữ trọn chữ hiếu đối với cha và người dì ghẻ ác nghiệt, hòa thuận với đứa em độc ác, không một lời than oán. Khi cha bắt đi cày ở đất Lịch Sơn cốt tìm cách trừ đi, vì nơi đây có tiếng là nhiều thú dữ hay ăn thịt người. Nhưng tấm lòng hiếu thảo và hòa mục của Thuấn động đến lòng trời, cả đàn voi ra giúp Thuấn cày đất và muông chim vô số đáp xuống nhặt cỏ hộ. Thấy không hại được Thuấn, Cổ Tẩu và người dì ghẻ sai Thuấn đánh cá ở Hồ Lôi Trạch, nơi có nhiều sóng to gió lớn, nhưng khi Thuấn đến thì sóng lặng gió yên.

Liên quan đến sự tích vua Thuấn đi cày, ở Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ có hội làng Tứ Xã với trò Trám. Tứ Xã là nơi có các di chỉ khảo cổ học nổi tiếng thời Hùng Vương như Gò Mun, Đồng Đậu con, Gót Rẽ… Trò Trám ở Tứ Xã là trò trình nghề tứ dân Sĩ – Nông – Công – Thương, trong đó có vai một người diễn tích “vua Thuấn cày voi” với lời hát ca trù như sau:

Vốn tôi đây dòng dõi thần minh
Kẻ tên hiệu tôi là Ngu Thuấn.
Nghĩ cha mẹ tôi càng oán hận
Hận ở điều ăn ở không cân.
Em dượng tôi ngạo mạn bất nhân
Ân tôi phải dĩ nông vi bản.
Tôi cũng mong hữu gia hữu sản,
Nhác trông lên núi Lịch tốt thay
Ân tôi phải bắt voi cày núi đá.

Sách Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn cho biết xã Yên Lịch ở dưới núi cũng có miếu Đế Thuấn, 6 xã trong 1 tổng cùng phụng thờ. Ruộng này nằm ở phía bên phải xứ Ngòi Vực, rộng chừng 1 trượng, khá dài. Nước sông Lô mùa thu thường tràn vào. Tương truyền, ở bên bến sông này Đế Thuấn làm đồ gốm. Bên cạnh chỗ dân cư, có một cái giếng cổ, người ta cho là Đế Thuấn đào giếng ấy. Ở đó cũng có miếu Đế Thuấn, trước miếu có ruộng hè, rộng chừng vài mẫu, khá sâu. Người ta cho đó xưa là đầm Lôi, nơi Đế Thuấn đánh cá và cày ruộng.

Lịch Sơn, nơi Đế Thuấn cày ruộng, đào giếng, làm gốm, đánh cá không ở đâu xa mà ở ngay huyện Sơn Dương của tỉnh Tuyên Quang. Cũng sách Kiến văn tiểu lục chép tiếp: Núi Sáng là ngọn cao nhất trong dãy núi Lịch. Trên núi Sáng cũng có đền thờ Đế Thuấn. Đằng trước núi lại đột khởi một ngọn núi đất hơi thấp, đỉnh núi như hình ghế chéo, trong núi có chỗ rộng ước dăm sào, có thể gieo được trăm bung mạ. Tương truyền chỗ ấy Đế Thuấn cấy lúa, nhân dân mới gọi là Bách Bung.

Núi Sáng còn có tên là Lãng Sơn, nay thuộc huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc. Địa danh Yên Lịch xưa đến nay vẫn còn, trong tên thôn An Lịch của xã Đông Lợi (Sơn Dương, Tuyên Quang). Trước đây nơi này được gọi là tổng Yên Lịch, nằm dưới chân núi Lịch, là một vùng ruộng lúa chiêm ven sông Lô. Đây là đầm Sấm hay Lôi Trạch được nói đến trong truyền thuyết về Đế Thuấn.

Sách Kiến văn tiểu lục cho biết: Núi Lịch ở xã Yên Lịch huyện Sơn Dương, từ núi Sư Khổng ở huyện Đương Đạo mà chạy xuống, tới nơi đất bằng thì đột ngột nổi lên một ngọn núi có 5-6 đỉnh, giăng ngang ra chia thành một nhánh tới Lập Thạch là Lãng Sơn, một nhánh tới Tam Dương là núi Hoàng Chỉ. Trong núi Lịch ở đỉnh cao nhất có 5-6 chỗ bằng phẳng như đền đài, có động Đế Thuấn rất thiêng. Hoa quả trên núi người ta có thể hái ăn, nhưng không được mang đi. Ai mang đi sẽ bị lạc vào mê lộ, không thể ra được. Phía trên động Đế Thuấn có đền Đế Nghiêu, cúng bằng cỗ chay.

Ở An Lịch tới nay vẫn lưu truyền rằng trên núi Lịch có di tích của Đế Thuấn. Trên núi có một ao nước rộng chỉ 5-6m nhưng rất sâu, xung quanh có những cây quýt tươi tốt. Người dân địa phương kể, quả của cây này có thể hái ăn, nhưng nếu chỉ nhỡ cất một quả trong túi mang về thì sẽ như bị che mắt, đi vòng quanh 7 lần không ra được khu Ao Trời đó.

Đình An Lịch từ xưa thờ Ất Sơn Đại Vương, là vị vua Hùng thứ ba trong Tam vị Hùng Vương Thánh Tổ được thờ ở đền Hùng (gồm Đột Ngột Cao Sơn, Viễn Sơn và Ất Sơn Thánh Vương). Cũng ở vùng chân núi Lịch này còn có nhiều di tích thờ ba vị vua Hùng như đình Quang Tất, đình Thọ Vực và đền Ất Sơn.

Đình Quang Tất ở xã Hào Phú (Sơn Dương, Tuyên Quang) thờ ba vị vua Hùng là Cao Sơn, U Sơn và Ất Sơn. Cụ thủ từ đình Quang Tất cho biết, trước đây ở bên đình có 2 ông ngựa trắng và hồng bằng gỗ, đến ngày hội, dân làng kéo 2 ông ngựa này ra Mả Vua ở ngòi nước dưới chân núi Lịch để làm lễ. Vị vua có đền thờ trên núi Lịch cũng là một trong những vị vua Hùng được thờ ở đình. Tức là Đế Thuấn chính là Ất Sơn Thánh Vương, được thờ là quốc tổ ở đền Hùng.

Đặc biệt hơn nữa, không xa đình Quang Tất còn có ngôi đền cổ không biết từ bao giờ. Ngôi đền mang tên đền Ất Sơn. Đây thực sự là một điều bất ngờ, một bằng chứng đến hiển nhiên về vua Hùng Ất Sơn là Lịch Sơn Đế Thuấn. Đền Ất Sơn cũng giống như ở đình Quang Tất và Thọ Vực thờ 3 vị vua Hùng. Nơi đây còn giữ được lễ hội Cầu đinh cầu lão cổ xưa với nhiều trò tích diễn. Khi được hỏi vì sao đền có tên là Ất Sơn thì cụ thủ từ cho biết nơi đây vốn từng mang tên này, sau cách mạng mới đổi thành châu Tự Do. Tra lại địa bạ cũ thì ra nơi đây vốn là tổng Át Sơn. Những chữ Ất – Át – Út Sơn đều chỉ là một vị thần, vị vua Hùng thứ 3 trong Tam vị Thánh tổ Hùng Vương.

Những di tích thờ Hùng Vương ở chân núi Lịch ở Tuyên Quang cho phép xác định Ất Sơn Thánh Vương chính là Đế Thuấn. Như thế còn vị vua Hùng thứ hai Viễn Sơn hay U Sơn phải là Đế Nghiêu, người đã nhường ngôi cho Đế Thuấn. Nếu Đế Minh là vị vua Hùng thứ 1 Đột Ngột Cao Sơn thì rõ ràng Đế Nghiêu và Đế Thuấn là các vị vua Hùng tiếp theo, được truyền thuyết họ Hồng Bàng gọi tên là Đế Nghi và Lộc Tục. Tên hiệu của các vị này trong Hùng Vương Thánh Tổ ngọc phả là Hùng Hy Vương và Hùng Hi Vương (hoặc Hùng Anh Vương). Chữ Hy – Hi rõ ràng liên quan trực tiếp đến tích Đế Nghiêu “mệnh Hy Thúc trạch Nam Giao” trong Kinh Thư và liên quan tới tên ngọn núi Hùng là Hy Cương.

Tấm hoành phi đặt tại đền Giếng trên núi Hy Cương: “Nam quốc Anh Hoàng“. Anh – Hoàng là tên của hai vị Nga Hoàng và Nữ Anh, con của Đế Nghiêu đã được gả cho Đế Thuấn. Đây là dẫn chứng trực tiếp về quan niệm cho rằng 2 vị công chúa thờ trên đền Hùng là con của Đế Nghiêu và vợ của Đế Thuấn.

Ở các di tích trên vùng đất tổ Hùng Vương, 2 công chúa Ngọc Hoa, Tiên Dung thường được thờ bằng ban Hai Cô, hoặc trở thành 2 vị “thành hoàng”, thờ cùng với 3 vị Cao Sơn, U Sơn và Ất Sơn. Khu vực ven sông Lô của huyện Phù Ninh, Phú Thọ có tục thờ Ất Sơn và Hai Cô là bởi đây là nơi Đế Thuấn đã rước dâu qua sông, từ vùng kinh đô ở Việt Trì về miền quê núi Lịch ở Tuyên Quang. Như vậy 2 công chúa Ngọc Hoa và Tiên Dung ở vùng này chính là hai vị Nga Hoàng và Nữ Anh, con của vua Nghiêu.

Đế Thuấn đi cày ở Lịch Sơn là Ất Sơn Thánh Vương, vị vua Hùng thứ 3 trong Tam vị Thánh tổ Hùng Vương. Lịch cũng nghĩa là “lịch pháp”, liên quan đến lịch khắc trên lưng rùa. Trong sử Việt có chuyện họ Việt Thường cống lịch rùa cho vua Nghiêu như sau: “Đời Đào Đường, phương Nam có Việt Thường thị qua hai lần sứ dịch sang chầu, dâng con rùa thần; có lẽ nó được đến nghìn năm, mình nó hơn ba thước, trên lưng có văn khoa đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở mang trở về sau. Vua Nghiêu sai chép lấy, gọi là quy lịch (lịch rùa)“.

Ngày nay di tích về Đế Nghiêu trên đất tổ Hùng Vương có đền Vua Nghiêu ở Chuế Lưu (Hạ Hòa, Phú Thọ). Miếu Ngu ở Thạch Trị (Thạch Hà, Hà Tĩnh) từng có bài vị thờ của Vua Nghiêu, Vua Thuấn. Đường Nghiêu và Ngu Thuấn được thờ ở vị trí thứ hai ở hai bên trong gian chính của miếu Lịch đại Đế vương tại Huế.

Đôi câu đối cổ từng treo ở đền Hùng trên núi Hy Cương khẳng địch thời kỳ Tam Hoàng Ngũ Đế nối tiếp nhau cũng là các triều đại vua Hùng, là thủy tổ của trăm giống Việt:
Lịch Tam Hoàng chí Tam Vương, thần truyền thánh kế
Đĩnh bách nam sinh Bách Việt, tổ thiện tôn bồi.

Nghĩa là:
Từ Tam Hoàng đến Tam Vương, thần dõi truyền, thánh nhân kế tục
Sinh trăm trai mở Bách Việt, tổ thiện đức, con cháu bồi vun.

Bài thơ ở chính điện Thái Hòa, Huế.
Tranh đắp vua Nghiêu đón vua Thuấn ở Huế
Cánh đồng Lịch Sơn ở Sơn Dương, Tuyên Quang.
Miếu Hùng Lô ở Phú Thọ nơi thờ Viễn Sơn và Ất Sơn Thánh Vương.
Miếu Ngu ở Thạch Trị, Hà Tĩnh nơi từng thờ Vua Nghiêu, Vua Thuấn.
Một số di tích Vua Nghiêu, Vua Thuấn trên vùng đất tổ

Bạn có biết: Vị vua Hùng đầu tiên là Hiên Viên Hoàng Đế

Truyện họ Hồng Bàng chép: Đế Minh cháu ba đời Viêm Đế Thần Nông sinh ra Đế Nghi, nhân đi tuần về phía Nam đến núi Ngũ Lĩnh mừng gặp và lấy được con gái bà Vụ Tiên rồi trở về, sinh ra Lộc Tục. Lộc Tục mặt mày sáng sủa, thông minh phúc hậu, Đế Minh rất lấy làm lạ, muốn cho nối ngôi mình. Lộc Tục cố từ, xin nhường cho anh là Đế Nghi. Đế Minh liền lập Đế Nghi làm người nối ngôi cai trị đất phương Bắc, phong cho Lộc Tục làm Kinh Dương Vương để cai trị đất phương Nam.

Người đầu tiên được nhắc đến trong lịch sử Việt là Đế Minh, cháu ba đời Viêm Đế Thần Nông. Do đó Đế Minh mới là vị vua mở đầu thời đại Hùng Vương trong dòng sử dân tộc.

Bản Nam Việt Hùng Vương ngọc phả soạn thời Lê Đại Hành ở đầu tiên chép: Kỷ Hồng Bàng Thị. Đế Minh, thống trị vạn bang chư hầu thiên hạ. Còn Đại Việt sử ký toàn thư cũng mở đầu như sau: Thời Hoàng Đế dựng muôn nước, lấy địa giới Giao Chỉ về phía Tây Nam, xa ngoài đất Bách Việt. So sánh 2 dòng sử từ ngọc phả Hùng Vương và chính sử (Đại Việt sử ký) thì thấy rõ Đế Minh cũng chính là Hoàng Đế, người đã dựng muôn nước, thống trị vạn bang chư hầu Thiên hạ.

Hoàng Đế là người mở đầu thời kỳ Ngũ Đế trong Hoa sử. Tam tự kinh, bài học vỡ lòng cho các sĩ tử Việt xưa ghi:
Khảo thế hệ, tri chung thủy
Tự Hy Nông, chí Hoàng Đế
Hiệu Tam Hoàng, cư thượng thế.

Nghĩa là:
Xét thế hệ, biết trước sau
Từ Hy Nông, đến Hoàng Đế
Gọi Tam Hoàng trên thượng thế
.

Hoàng Đế có tên là Hiên Viên, là tộc trưởng bộ tộc Hữu Hùng. Còn Thiên Nam ngữ lục, bộ “sử thi” bằng thơ Nôm thế kỷ XVII nước ta chép:
Tự vua Viêm Đế sinh ra
Thánh nhân ngưu thủ họ là Thần Nông,
Trời cho thay họ Hữu Hùng
Con cháu nối nghiệp cha ông thủ thành.

Thiên Nam ngữ lục cho biết rõ rằng người thay thế họ Thần Nông là họ Hữu Hùng. Nghĩa là Đế Minh (cháu 3 đời Viêm Đế Thần Nông) chính là họ Hữu Hùng, hay Hiên Viên Hoàng Đế.

Huyền sử Trung Hoa cho biết sau trận đánh quyết liệt giữa Hiên Viên với Xi Vưu ở Trác Lộc thì tất cả dân chúng các bộ lạc đều hoan nghênh Hữu Hùng Thị, tôn Hữu Hùng Thị lên ngôi Minh chủ, lấy hiệu là Hoàng Đế. Hoàng Đế sau khi áp phục được các bộ lạc được tôn là Minh chủ hay Minh đế, tức chính là Đế Minh trong truyền thuyết họ Hồng Bàng.

Hiên Viên Hoàng Đế được thờ là tổ của bách nghệ, như ngay tại chính giữa lòng phố cổ Hà Nội ở đình Kim Ngân và đình Trương Thị phố Hàng Bạc. Y miếu Thăng Long ở Hoàng Mai, Hà Nội thờ Hoàng Đế gắn với tác phẩm Hoàng Đế nội kinh tố vấn, là nền tảng của nền y học phương Đông. Miếu Lịch đại đế vương ở kinh thành Huế, nơi vua Minh Mạng cho xây dựng để phụng thờ các bậc đế vương đời trước, thờ Hoàng Đế ở vị trí hữu nhất trong gian chính trung.

Ở vùng đất tổ Phong Châu, như trên núi Nghĩa Lĩnh vị vua Hùng đầu tiên của người Việt được thờ là Đột Ngột Cao Sơn Thánh Vương, cùng với 2 vị vua kế tiếp là Viễn Sơn Thánh Vương và Ất Sơn Thánh Vương. Còn trong các ngọc phả vị vua Hùng đầu tiên này được gọi là Hùng Vương Sơn nguyên Thánh Tổ Tiền Hoàng Đế.

Đôi câu đối ở đến Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh vẫn còn ghi lại danh xưng của Đế Minh – Hoàng Đế, vị tổ của Bách Việt, mở muôn nước từ nơi ngã ba sông Việt Trì:
Thiên thư định phân, chính thống triệu Minh đô, Bách Việt sơn hà tri hữu tổ
Quang
nhạc hiệp linh, cố cung thành tụy miếu, Tam Giang khâm đái thượng triều tôn.

Nghĩa là:
Sách trời định chốn, chính thống dựng Minh đô, núi sông Bách Việt biết có tổ
Núi tỏa linh thiêng, cung cũ lập miếu đền, một dải Tam Giang hướng về nguồn.

Tượng Đột Ngột Cao Sơn ở Hiền Lương (Phú Thọ).
Đình làng Triệu Phú (Hùng Sơn, Phú Thọ) nơi lưu giữ những đồ thờ của đền Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh.

Ngọc phả cổ truyền chép về Đức ông Cả Đài Đại vương, Đức ông Bố Cái Đại vương bộ Thủy triều Hùng họ Việt Thường

Dịch từ thần tích làng Thượng Phúc tổng Hoàng Lưu huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Đông.

Thần tích bộ Tả, Thượng thượng đẳng thần.

Xưa Hùng Vương Sơn nguyên Thánh Tổ Nam Thiên Đại bảo Tiền Hoàng đế khai mở cơ đồ, thủy tổ trời Nam, nước Cổ Việt họ Hùng Việt Thường, 18 đời thánh vương ngự trị trời Nam, sáng lập cơ đồ nước Việt. Nước biếc một dòng mở vận đế thánh vua sáng. Núi xanh vạn dặm lập nền cung điện đô thành. Mở vật giúp người, thống lĩnh 15 bộ, thế mạnh trùm khắp phiên bang. Nối tiếp ngôi báu đất Viêm Hồng, có vua trị nước hơn ba ngàn năm, mãi giữ cho tông miếu vững như bàn đá. Hiển ứng linh thiêng nơi Nghĩa Lĩnh, truyền trăm đời đế vương nước Nam. Đế ngự muôn năm thánh điện núi Hùng, đất tổ trời Nam. Nền vua đất nước mãi vững muôn năm, mãi còn vạn cổ. Hương lửa không dứt.

Lại nói, vua triều Kinh thứ 6 là Huy Vương tại ngôi, đóng đô ở sông Bạch Hạc Việt Trì, tên nước là Văn Lang, kinh thành là Phong Châu, dựng kỷ cương đất nước, lấy phép tắc của các vua đời trước mà khuyếch trương pháp độ, trải hình phép vạn đời. Lấy đức giáo hóa nhân dân, làm điều nhân đức, chuyên tâm chính trị. Dốc lòng che chở dân chúng. Lập pháp luật, biểu trương quy củ. Đương thời đều coi là vị vua hiền vậy.

Lại nói, đang thời khi đó truyền đến hai vị Đài công, Cái công, đúng chính là dòng dõi Hùng Vương làm Bộ chủ Hoan Châu. Khi Lạc Long Quân lấy Âu Cơ ở động Lăng Sương làm chính phi, sinh được một bầu trăm trứng, nở ra điềm lành trăm trai, đều là những anh hùng vượt đời, trí dũng hơn người. Lạc Long Quân liền cho kiến dựng tước hầu, lập phiên dậu bình phong, chia nước thành 15 bộ. Một là Sơn Tây, hai là Sơn Nam, ba là Hải Dương, bốn là Kinh Bắc, năm là Ái Châu, sáu là Hoan Châu, bảy là châu Bố Chính, tám là Ô Châu, chín là Ai Lao, mười là Hưng Hóa, mười một là Tuyên Quang, mười hai là Cao Bằng, mười ba là Lạng Sơn, mười bốn là Quảng Đông, mười lăm là Quảng Tây. Khi đó Long Quân nói với Âu Cơ rằng:

  • Ta thuộc giống rồng, nàng là dòng tiên. Tí Ngọ không cùng, nên vì thế mà chia tách.

Năm mươi người con theo cha làm Thủy thần. Năm mươi người con theo mẹ làm Sơn thần. Nhân đặt là trăm vương. Bộ chủ Hoan Châu là thủy thần thứ 11, tên là Hùng Tuệ. Mẹ vốn là người châu Bảo Lạc, trang Hoằng Hóa, họ Vương tên Loan. Khi đó ông Bộ chủ tuổi đã 50, bà phi tuổi cũng hơn 40, nhưng cành lan nhánh quế trước sân còn thiếu, chưa thấy giấc mộng lành điềm kỳ lân. Ông Bộ chủ họ Hùng vốn là người có đức dày với dân, trọng nghĩa khinh tài, rộng rãi giúp đỡ dân chúng. Phàm là việc cứu người thì không có gì là nhỏ. Lòng tận tâm giúp vật vốn có như ghi khắc. Là người hiền thực sự ở trên đời, vốn là bậc tuấn kiệt đương thời vậy.

Thái bà cũng là người nhân từ, kính thuận, khiêm tốn. Ăn ở vẻ vang mà ôn hòa, tứ đức vẹn toàn. Sáng vẻ nhàn hạ chốn khe Nam. Một lòng tòng thuận như chốn cửa Trần. Nét ấm đẹp theo lối Cam đường. Thực là bậc Hằng Nga trên cung trăng. Đúng là bậc nữ đời Nghiêu Thuấn. Sánh sáng cùng việc ngọc phong, sống động cùng lan quế, thời đó khó tìm.

Một hôm ông Bộ chủ nói với bà phi rằng:

  • Chốn đền thần danh lam, trai giới nơi chùa phật, thành tâm cầu tế trời đất thần kỳ, núi sông trăng sao thì mới mong có được phúc lớn.

Dứt lời bèn chuẩn bị lễ vật. Vợ chồng Bộ chủ cùng lên núi Yên Tử để dâng hương cầu khấn, chúc:

  • Xin sớm cho được điềm lành, thấu đạt hoàn cảnh. Vạn sự mong trời đất thần sông âm phù, giúp được ước muốn.

Chúc xong thì mặt trời đã xuống núi, trời chuyển về chiều. Ông bà bèn nằm lại trong chùa để cầu mộng trước án. Khoảng đến giữa canh hai bà phi mơ màng như mộng. Bỗng thấy trong điện mây năm sắc nổi lên, bầu trời sáng  rực rỡ. Lại thấy con đường trong mây có rồng vàng xuất hiện, thẳng đến quấn lấy thân bà phi ba vòng. Bà phi sợ hãi, hét lên một tiếng, vang đập vào tai mà tỉnh dậy. Bà kể lại điều trong mộng với ông Bộ chủ. Ông Bộ chủ bèn nói rằng:

  • Nhà ta có phúc lớn, trời sẽ soi tỏ. Cứ như điều trong mộng thì trời tất sẽ giáng điềm lành, quả sẽ sinh quý tử.

Noi xong vợ chồng cùng làm lễ bái tạ. Ngay hôm đó, vợ chồng trở loan giá về đến thôn Thượng Dục, xã Hạ Dục, huyện Chương Đức, phủ Ứng Thiên. Có một đoạn sông nhỏ chảy vòng đến thôn Thượng Dục. Ông Bộ chủ bèn cho dừng thuyền tại đó một lúc. Bà phi đi xuống bãi sông mà tắm rửa. Bỗng nhiên có giao long quấn lấy chân, phun nước dãi rồng vào thân bà phi. Mùi hương dãi rồng ngào ngạt. Bà phi sợ hãi bèn chạy lên bờ trở về. Mùi hương dãi rồng trên thân không gột hết được. Bà phi nói lại với ông Bộ chủ. Ông Bộ chủ nói rằng:

  • Ta thuộc mệnh Thủy thần, tất có sinh ra Thủy thần. Hãy đợi sau này sẽ biết được việc hôm nay thế nào.

Nói xong vợ chồng lại cất bước trở về đến Hoan Châu. Tối đó ông Bộ chủ nằm ở trong nhà chính, mơ màng thiếp đi. Bỗng thấy có một người hai tay bưng một chiếc mâm vàng, bên trên có một đôi cá chép, thân hình như đầu rồng đuôi tôm, thật là kỳ lạ. Khi đó người ấy bưng đến trước án ông Bộ chủ, bèn nói:

  • Nhà ông phúc hậu, nên nay ban cho một đôi báu vật của trời.

Ông bỗng tỉnh lại, nhớ đến điềm trong mộng thấy việc con cái tất sẽ thành, việc sẽ đúng như thế. Được vài tháng bà phi thấy động trong lòng, cảm ứng có mang thai. Đến giờ Thìn ngày mùng 6 tháng Giêng năm Giáp Tí sinh được một bầu, nở ra hai người con trai, đều có kỳ hình dị tướng, hàm én mày ngài, trán hổ mặt rồng. Sau lưng có 28 điểm tinh tú, đều như một hàng vảy lân, không phải người trần có được. Vợ chồng ông Bộ chủ liên tưởng biết tất là thủy thần xuất thế, thiên thánh giáng trần. Ngày qua tháng lại, hai ông tuổi đã lên 3. Ông Bộ chủ bèn làm biểu tâu lên Bệ hạ, bèn đặt tên là Đài, người con thứ là Cái.

Thời ấy vua Hùng sinh được một bầu trăm trứng, nở ra trăm trai, kiến tước hầu, lập bình phong, phân chia 50 (15?) bộ. Lại phân 50 thủy thần, 50 sơn bộ. Hễ bộ nào có sinh con trai, tâu lên triều đình thì vua sẽ lệnh ban cho kế vị quân hầu, phân đất đai lộc hưởng. Hùng Huy Vương thấy hai ông dáng vẻ như hổ, biết là người lạ khác tầm thường, siêu quần vượt chúng. Bèn đều phong cho tước hầu.

Khi đó ông Bộ chủ Hoan Châu tâu bày việc khi cầu đảo hai ông đã ở chùa trên núi Yên Tử, thấy có điềm mộng ứng, lại khi trở về đến thôn Thượng Dục thì có giao long quấn lấy, về sau sinh được hai ông. Vua nghe chuyện đó bèn cho đất Thượng Dục làm đất hưởng lộc của hai ông, sau này làm nơi thờ phụng.

Lại nói, hai ông khi lên 7-8 tuổi thì có thiên tính thông minh, không cần dạy dỗ mà tự có hiểu biết, không đi học mà biết chữ nghĩa. Mỗi khi đi ra chơi ở ngoài đường thì đều có một áng mây xám hình như cái ô lớn bay trên giữa trời, che ở chính đỉnh đầu hai ông. Gió sấm nổi lên, mây mưa tùy rơi. Ở nơi mà hai ông đi qua đều thấy một cảnh thanh mát trong lành. Hai ông tính thường rất thích nước, hay đi tắm. Thường đi ra bến sông, lặn xuống đáy nước, đi lại ra ngoài sông lớn, lặn xuống đáy nước cả ngày không lên. Mọi người đều thấy, đều kính sợ, xưng là tài lạ trời bẩm sinh, điều lạ ở chốn nhân gian, xưa này không từng có.

Khi hai ông lên 18 tuổi, văn võ kiêm tài, oai động triều đình, có tấm lòng nhân đức độ lượng, không ai không phục. Đương khi đó thiên hạ có mưa to nước lụt. Một dòng nước lớn chảy xuyên phá lở đường. Nhân dân, mùa màng bị thiệt hại nặng. Mười nơi thì chín nơi tan hoang, thật là đói khát. Vua cho hai ông nhận chức lớn đi tuần giữ các nơi trong thiên hạ, xem xét các vùng đất đai. Một hôm hai ông đi thẳng đến nơi ở sở tại (tức là địa giới thôn Thượng Dục). Nhân dân làm lễ bái mừng, dựng một hành cung ở đất đó (đất đó có hình thế một quý cục, hai bên phong tinh dẫn mạch, bốn mặt đất bằng bỗng nổi dựng một động nhỏ). Khi đó hai ông truyền binh sĩ xây dựng cung để ở và trị thủy. Hai ông ở đó được vài ngày, tới một đêm mưa to nước lũ dâng cao, chảy vào trong chốn cung sở. Hai ông bèn truyền cho nhân dân và binh sĩ chặt cây làm đê để ngăn nước, nhưng đều không chống được, thế nước lụt khó giữ. Hai ông rất tức giận, mắng rằng:

  • Thủy tặc sao lại có ý muốn hại trần gian vậy. Nay chúng ta vâng mệnh vua trần gian, cai quản thần sông, trấn ngự giặc nước gây hại. Chốn này là đất cung sở của chúng ta (tức đất thôn Thượng Dục) mà không sợ chúng ta sao. Ngày ngày lại càng dâng thêm nước lụt xâm nhập, gây hại cho dân. Không nghe rằng Dương đình, Thủy quốc phép chung đều giống nhau. Nếu có chúng ta ở đây, lũ thủy tặc khó thoát.

Mắng xong, hai ông mơ màng như mộng. Bỗng thấy có ba tướng đường đường cùng với quân sĩ hơn vài chục viên từ sông rẽ nước lên bờ đến đánh nhau với hai ông. Hai ông dẫn quân đến đánh. Được hơn mười hiệp hai ông bắn một mũi tên vào giữa bụng quân giặc. Quân giặc thua chạy. Hai ông đuổi theo, chém được hai viên đại tướng cùng với vài trăm binh sĩ. Còn những tên khác đều thua bỏ chạy hết. Bỗng nghe có một tiếng sấm vang lên. Hai ông tỉnh lại, biết là mộng. Đến khi trời sáng thấy nước đều đã rút hết đến tận lòng sông, không cần sửa đê mà đều rút yên vậy.

Hai ông trị thủy việc đã yên bình, làm biểu dâng tấu lên triều đình. Vua bèn ban chiếu gọi hai ông trở về kinh thành. Hai ông vâng chiếu trở về triều, bái tạ Bệ rồng. Vua rất khen ngợi, ngay hôm đó phong thưởng thăng giao ông Đài đất Hoan Châu làm chủ chưởng kế thừa cha. Ông Cái được phong ở Sơn Nam. Cùng ban thưởng 500 lạng vàng.

Hai ông xin trước bệ rồng được trở về thăm cha mẹ. Vua đồng ý. Hai ông hôm đó quay xe trở về đến xứ Hoan Châu, vào bái ông Bộ chủ, làm lễ gia tiên. Ở được vài ngày thì cha mẹ bỗng nhiên mất (tức ngày mùng 5 tháng Năm). Hai ông làm biểu dâng tấu lên triều đình, rồi chôn cất cha mẹ ở đất đó. Sau đó hai ông đi nhận chức ở các nơi. Từ đó thiên hạ thanh bình, nhân dân no đủ. Hai ông đi xe trở về cung Thượng Dục. Ngày hôm đó nhân dân làm lễ bái mừng. Hai ông truyền quân sĩ cùng nhân dân tu sửa hành cung các chốn. Hai ông ở đó được hơn ba tháng.

Lại nói, khi ấy có Ngô Linh Thần tướng cất 50 vạn quân mạnh đến xâm chiếm nước ta. Giáo mác khắp trời, cờ xí rợp đất. Thư từ biên giới gửi về báo gấp, mỗi ngày 5 lần. Vua Huy Vương lo lắng, bèn gọi quần thần đến hội nghị, hỏi kế sách. Triều đình đều dương mắt nhìn nhau, bó tay không có đối sách. Vua bèn cho dựng đàn trai giới, đốt hương cầu đảo. Truyền quần thần đến hội tụ ở đàn trong ba ngày. Sau có mưa sấm gió lớn. Bỗng thấy một ông lão cao hơn 9 thước, râu tóc bạch trắng, đứng ở nơi ngã ba đường mà cười nói, nhảy múa. Mọi người đều thấy làm lạ, tâu vào lên vua. Vua thân ra đón vào trong đàn, hỏi rằng;

  • Nay có giặc phương Bắc đến xâm phạm. Thắng thua như thế nào, xin được chỉ giáo.

Ông lão ngẫm nghĩ hồi lâu, lấy tay bắt một quẻ, rồi nói với vua rằng:

  • Nếu như cầu được người thì giặc này tất sẽ dẹp yên hoàn toàn được.

Vua lại hỏi rằng:

  • Cầu người này ở phương nào?

Ông lão lại nói rằng:

  • Việc này hãy hỏi bà mo.

Dứt lời, ông lão bay lên không đi mất. Vua biết là Lạc Long Quân chỉ giáo. Thế là vua sai sứ giả đi cầu khắp thiên hạ. Đến làng Phù Đổng quận Vũ Ninh có một gia đình phú ông sinh được một người con trai, đã hơn ba tuổi, tên là Thiết Xung Thần Vương, chỉ ăn uống mà lớn lên, không biết cười nói. Bà mẹ nghe sứ giả truyền đến, bèn đùa rằng:

  • Con nhà ta chỉ biết ăn uống, không biết đánh giặc để nhận chức trọng của triều đình, để báo ân sâu nuôi mớm.

Nghe mẹ nói vậy, người con bỗng nhiên nói:

  • Mẹ gọi sứ giả lại đây.

Thần Vương nói với sứ giả rằng:

  • Hãy mau về báo với vua, xin được một con ngựa sắt cao mười thước, một cây gậy sắt dài mười trượng, mang đến cho tôi thì Vua không phải lo lắng nữa.

Lại nói, sứ giả trở về, tâu lại lời nói đó với vua. Vua rất vui mừng, lại lệnh cho các quan lang, phụ đạo, bộ chủ cùng với 10 bộ sơn thần, 10 bộ thủy thần là dòng dõi Hùng Vương, dẫn ba vạn quân mạnh theo giúp Thần Vương. Ngay ngày hôm đó đúc thành ngựa sắt, gậy sắt, đem đến cho Thần Vương.

Lại nói, khi đó vua lệnh cho ông Đài và ông Cái thống lĩnh Thủy đạo tướng quân, trợ chiến cùng với Thần Vương, tiến thẳng đến đồn chính giặc Ân ở chân núi Vũ Ninh miền Yên Việt, đánh lớn với Ngô Linh Thần tướng ở bên núi. Giặc Ân đều thua, bắt sống Ngô Linh Thần tướng mà chém đi. Còn lại các dư đảng chưa diệt hết, Thần Vương trước đó đã rơi gậy sắt nên liền nhổ tre làm gậy dẹp sạch quân giặc.

Thần Vương dẹp yên giặc xong, trở về đến núi Sóc Vệ Linh huyện Kim Anh thì bỏ áo, ngựa, bay thẳng lên trời mây mà đi. Nay còn dấu chân ngựa ở trên vách núi.

Lại nói, hai ông (tức ông Đài, ông Cái ở đó) cưỡi thuyền rồng trở về đến sông Bùi huyện Chương Đức, bỗng thấy có một trận gió lớn nổi lên, trời đất tối tăm. Trên sông sóng nổi lên ầm ầm, vạn nhẫn vang rền. Lại thấy có ba tiếng hô rằng:

  • Mau triệu hai ông trở về Thủy quốc.

Nhân dân nghe thấy tiếng hô đều sợ hãi. Được phút chốc, mưa gió tự dừng. Nhân dân đến nơi cung sở thì không thấy hai ông đâu nữa. Nhân dân (tức thôn Thượng Dục) liền đi thẳng ra ngoài bãi sông, bỗng thấy thuyền rồng còn đậu ở nơi đó. Lại nghe tiếng nói với nhân dân rằng:

  • Hai vị tướng quân đang khi mưa gió mù mịt đã cùng xuống thuyền rồng mà hóa. Dân các người ở đây (tức thôn Thượng Dục) hay mau về cung sở bày cúng tế phụng thờ.

Ngay hôm đó là ngày 12 tháng Mười hai năm Bính Ngọ nhân dân nghe tiếng các quan Thủy đạo báo vậy bèn làm lễ tạ. Trở về sửa sang cung đền bày tế cúng. Đang khi làm lễ, mây trời u ám, mưa gió nổi lên. Giao long, cá lớn, ba ba đều đến chầu vào nơi tế cúng. Nhân dân sợ hãi, bèn làm biểu dâng tâu lên triều đình. Khi đó các quan làm tế xong, trở về cũng đều tâu lại với vua. Vua rất mừng, nói với quần thần:

  • Thiên thần và Thủy quốc đều giúp nước nhà. Trẫm không còn lo lắng gì nữa.

Ngay hôm đó mở yến tiệc lớn khao hưởng quân sĩ, phong thưởng các công thần. Bèn phong mỹ tự cho trăm thần, hưởng lễ huyết thực vạn cổ, hương lửa không ngừng.

Phong là Phù Đổng Thiên Vương. Cho đón sắc chỉ về dân lập đền để thờ. Các đền ở xã Phù Đổng huyện Tiên Du, cùng thôn Đối Mã xã Vệ Linh huyện Kim Hoa đều cho cấp một trăm khoảnh ruộng để phụng thờ.

Lại phong Đức Ông Đài Vàng Đại vương. Lại phong Bố Cái Sô Tha Đại vương. Cho vâng đón sắc chỉ đem về nơi thôn Thượng Dục, sai quan … đến bày cúng tế, tu sửa đền cung, nhân dân được phụng thờ.

Người đời sau có thơ rằng:

Sinh hoá diệc đồng thử nhất tân
Sinh vi danh tướng hoá vi thần
Bùi giang, Thượng Dục giai tồn tích
Miếu mạo vũ đường cựu chí tân.

Dịch là:

Sinh hóa cùng nhau tại bến này
Sinh là danh tướng, hóa thần đây
Sông Bùi, Thượng Dục đều còn tích
Miếu mạo cung đường xưa tới nay.

Lai nói đến thời Trưng nữ vương, tức Trưng Trắc, Trưng Nhị, đều là cháu gái Hùng Vương, thật là bậc thánh thần trên trần thế, bậc hào kiệt trong giới nữ, khởi binh phụ tướng, chiêu dụ anh hùng, dẹp trừ Tô Định. Cùng nhau hội quân ở sông Hát, lập đàn cầu đảo trăm thần âm phù giúp nước dẹp giặc thành công. Khi đang làm lễ bỗng thấy ông Đài và ông Cái dẫn binh mã đến nói rằng:

  • Chúng tôi chính là các thủy thần. Nay thấy hoàng gia khởi nghĩa dẹp trừ giặc dã, tự xin được âm phù dẹp giặc, tất đều có linh ứng.

Sau khi thanh bình Trưng nữ Vương lên ngôi, bèn phong mỹ tự cho cùng hưởng hưng thịnh với đất nước, là Duyên huống Khai tường Xiển trị Cương nghị Hùng lược Anh đoạn Pháp thân Cư sĩ Tối linh Đại vương.

Từ Trần Thánh Tông đến Trang Tông cùng với Thái úy đại thần diệt trừ loạn Mạc, có nhiều linh ứng, âm phù giúp nước, đều có nhiều phong tặng sắc chỉ. Các ngày khai sắc, khánh hạ được khai rõ ràng dưới đây:

Thượng đẳng Thủy thần, bộ Tả.

Các ngày lệ sinh hóa cùng các tiết khánh hạ và các chữ húy, sắc phục màu vàng đều cấm. Nhất thiết cấm các chữ húy Hùng, Loan, Đài, Cái.

Ngày lệ sinh thần là mùng 6 tháng Giêng, hai vị cùng sinh. Lễ dùng lợn đen, chọn gia đình vợ chồng đều song toàn làm lễ, cùng gà, xôi, rượu, cỗ chay, ca hát.

Ngày lệ khánh hạ là ngày 15 tháng Hai chính lệ. Lễ dùng mâm chay, xôi rượu, hương hoa năm vị.

Ngày lệ phong sắc là mùng 6 tháng Sáu. Dùng trâu, xôi, rượu, ca hát.

Ngày lệ khai sắc là mùng 6 tháng Ba. Dùng lợn đen, xôi, rượu, ca hát.

Ngày lệ hóa thần là 12 tháng Mười hai, hai vị cùng hóa. Lễ dùng cỗ trâu, xôi, rượu, bánh chay.

Ngày hóa của thánh phụ là mùng 5 tháng Năm. Lễ dùng lợn, gà, xôi, rượu.

Hoàng triều Vĩnh Hựu năm thứ 2 ngày tốt, Quản giám bách thần Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh Nguyễn Hiền tuân theo bản cũ vâng chép.

Hồng Phúc năm đầu ngày 18 tháng Năm, Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn.

Thần tích về Đông Nhạc Đại vương, người đúc ngựa sắt cho Phù Đổng Thiên Vương

Dịch từ bản khai thần tích thần sắc làng Lương Quán tổng Tuẫn Lễ huyện Đông Anh tỉnh Phúc Yên

Phả chép về một vị Đại vương công thần triều Hùng Tuấn Vương.

Chi Cấn, bộ Thượng đẳng. Chính bản bộ Lễ quốc triều.

Xưa Hùng Vương Sơn nguyên Thánh Tổ mở vận lập cơ đồ hơn hai ngàn năm. Hùng Vương dựng nước núi xanh vạn dặm lập nền móng cung điện đô thành, nước biếc một dải mở đạo minh vương đế thánh. Cứu vật giúp người, thống lĩnh 15 bộ, hiệu là tổ đầu của Bách Việt.

Nước Việt xưa tới thời Hùng Tuấn Vương có một người ở làng Đa Hội phủ Từ Sơn đạo Kinh Bắc (xưa gọi là bộ Bắc Giang). Ông họ Ta, tên Hưởng. Vợ là Đặng Thị, tên Diệu. Vốn lấy nghề thợ rèn đồ sắt làm nghề sinh sống mà thành một gia đình giàu có. Vợ chồng đều có đức dày. Nhưng tuổi đã cao mà chưa có con trai. Thế rồi một đêm bỗng nhiên mộng thấy có một thần nhân đến gọi nói rằng:

  • Nhà người phúc hậu đã được biết, nên cho một thế đất tốt để đem mộ cha chôn vào đó. Sau này tất sinh ra khanh tướng.

Thần nhân nói xong thì dẫn tới một khu đất hỏa nhạc, nói rằng:

  • Hình là ngựa trời, huyệt ở tại cửa.

Trong khoảnh khắc thần nhân biết mất. Ông tỉnh lại, nhớ tới điều trong mộng mà lấy làm lạ. Sáng ngày ông đến nơi đó xem xét, quả thấy như mộng, bèn đem mộ của cha mà chôn vào đó. Từ đó sau trăm ngày thấy bà Đặng Thị có mang thai. Đến ngày 12 tháng Mười năm Giáp Ngọ sinh hạ một người con trai, thiên tư cao lớn, thể mạo kỳ lạ. Ông biết đúng là đất tốt sinh người, nên rất yêu quý, bèn đặt tên là Nhạc. Nuôi dưỡng ông đến năm trưởng thành, thiên tư cao lớn, học lực tinh thông, giỏi về võ lược. Ông Nhạc năm 18 tuổi thì cha mẹ đều mất. Ba năm chịu tang xong thì khi đó giặc Ân đến xâm chiếm, áp bức dân chúng. Tuấn Vương lo lắng, bèn truyền hịch đi các châu, quận, đạo nước Nam, nơi nào có tướng tài văn võ, sức lực hơn người thì đên dẹp phiên thần. Nghe có ông Phù Đổng tuổi mới lên ba, mà có thần lực khác người, nghe chiếu thiên tử nổi lòng trạng nguyên bốn biển. Ông Đổng liền bái mệnh mẹ, ngay hôm đó đến gặp Tuấn Vương, tâu rằng:

  • Thấn vốn là thiên sứ giáng sinh giúp nước. Có vua tất có thần. Xin bệ hạ cho một con ngựa sắt thì giặc Ân chỉ trong tuần nhật là dẹp yên.

Vua nghe vậy rất vui mừng. Ngay hôm đó Vua bèn sai sứ đi đến làng Đa Hội phủ Từ Sơn đạo Kinh Bắc, xem có thợ rèn nào có nghề rèn giỏi đúc được ngựa sắt thì chọn một người về kinh đô để đúc ngựa sắt. Ông Nhạc nghe vậy, lòng cùng muốn giúp nước, chí muốn cứu dân. Ông bèn cùng sứ giả về kinh đô ứng tuyển. Vua thấy ông Nhạc dũng mãnh hơn người, nghề rèn đúc rất tinh xảo. Vua bèn của ông đúc đồ sắt. Đến hạn ông Nhạc đúc được ngựa sắt rất lớn và một cây roi sắt, đem đến. Vua cho ông Nhạc là người tài nhất bèn cử ông dẫn quân theo ngựa cùng với ông Phù Đổng hành chinh dẹp giặc Ân.

Ngay hôm đó ông Phù Đổng cất quân tiến đến khu đất đầu trại Lương Quán huyện Đông Ngạn phủ Từ Sơn, cùng đóng quân ở trại đó, nhà xem thế đất, thấy có một thế sông núi quanh co, rồng cuộn hổ ôm. Núi không cao nhưng có vách đứng. Sông có tình ở nơi dòng giếng. Tiện nghi tưởng cũng là một thắng cảnh tươi đẹp vậy. Thế là ông Phù Đổng bèn giao cho ông Nhạc xây lầu ở tại đó để ứng chiến phía sau với giặc Ân. Khi đó ông Phù Đổng vâng lệnh nhận ngựa, đứng lên hô một tiếng lớn. Tức thì con ngựa trở nên to lớn, người thường không sánh được. Bèn cầm roi vung lên, nhảy lên ngựa,

Chạy về phía Bắc. Ngay hôm đó ông Nhạc truyền cho quân sĩ cùng với người trong trại xây một tòa lầu dựa hướng Đông để có sinh khí mà ở, để ứng chiến phía sau với giặc Ân. Khi đó nhân dân phụ lão trại Lương Quán đều sợ hãi, bèn làm lễ xin được làm thần tử. Ông đồng ý, bèn lấy những người khỏe mạnh trong trai được hơn mười người làm thủ túc trong nhà. Thế là nhân dân phụ lão trại Lương Quán nhân đó xin nay là nơi lầu để ở, sau này là nơi thờ tự. Ông đồng ý. Sáng ngày hôm thấy có sứ giả vâng mang chiếu thư đến, lệnh cho ông đánh giặc Ân. Ông bèn mổ trâu làm lễ cáo tế trời đất, trăm thần sông núi, khao quân sĩ trong trại. Rồi ông cất quân tiến thẳng đến dưới núi Sóc phủ Bắc Hà. Ông cùng Phù Đổng Thiên Vương đóng ở dưới núi Sóc, rồi cùng tiến công một lượt, đánh một trận lớn. Giặc Ân thua to, bỏ chạy. Chém được chính tướng giặc Ân cùng vài vạn tướng sĩ. Từ đó không còn biết giặc Ân ở đâu nữa.

Thế là thiên hạ thanh bình, trong nước vô sự. Giữa ban ngày bỗng nhiên thấy Thiên Vương cưỡi ngựa bay lên không mà đi không thấy nữa, tức đã hóa ở xứ Sóc Sơn. Còn ông Nhạc trở về đến đầu đất huyện Kim Hoa, ngẩng lên trời  thấy có một đám mây vàng hình như dải lụa đỏ từ trên trời rơi thẳng xuống trước mặt. Thấy ông Nhạc thân bay lên tại xứ Gò Đống mà biến mất, tức đã hóa. Khi đó là ngày 11 tháng Giêng. Nhân dân và quân sĩ đều sợ hãi, bèn dâng biểu tâu lên triều đình. Vua bèn sai sứ mang tế văn về nơi đất đó, sắc phong là Thượng đẳng Phúc thần, cho pháp trang Lương Quán lập miếu để thờ.

Tới thời Đinh Tiên Hoàng dẹp 12 sứ quân bị vây tại chùa này, được Ông âm phù mà thoát. Nên cứ mỗi năm ngày 11 tháng Giêng lại xa giá đến làm lễ thành lệ để làm tỏ sự linh thiêng của ông. Từ đó thành lệ thường. Tặng phong là Đương cảnh Thành hoàng Linh phù chi thần. Sắc phong tên thần nguyên là: phong Đông Nhạc Đại vương. Màu quần áo khi làm lễ cấm dùng màu vàng và đỏ. Phong thêm là Linh quang Hộ quốc Hiển ứng An dân Tích chỉ Ngưng hưu.

Lại nói từ đó về sau có nhiều linh ứng, nên có nhiều đời các đế vương phong thêm mỹ tự. Thời Trần Thái Tông giặc Nguyên đến xâm chiếm, kinh thành bị vây hãm. Trần Quốc Tuấn vâng mệnh cầu đảo trăm thần ở các đền. Khi đó một vị Đại vương này cũng có hiển ứng âm phù. Đến khi dẹp được giặc Mã, Thái Tông bèn phong thêm mỹ tự một vị là Linh ứng Anh triết Hiển hữu.

Đến khi Lê Thái Tổ khởi nghĩa dẹp giặc Minh Liễu Thăng, có được thiên hạ, Thái Tổ bèn phong thêm là Phổ tế Cương nghị Anh linh. Sắc chỉ ban cho trang Lương Quán trung tu miếu điện để phụng thờ. Tốt thay, lành thay!

Vâng khai các tiệc sinh hóa cùng với các chữ húy cấm là Đông Nhạc, đồng ý cho trang Lương Quán thờ.

Ngày sinh thần là 12 tháng Mười. Lệ chính lễ dùng trên mâm chay, dưới là lợn đen, xôi, rượu, bánh dày, ca hát.

Ngày hóa thần là 11 tháng Giêng. Lệ chính lễ dùng như trên.

Ngày lệ tiệc xuất quân là tháng Mười một, chọn ngày tốt làm lễ.

Niên hiệu Hồng Phúc năm đầu, ngày tốt tháng đầu xuân, Hàn lâm Lễ viện Đông các Đại học sĩ, thần là Nguyễn Bính, vâng soạn bản chính.

Hoàng triều Vĩnh Hữu năm thứ sáu ngày tốt giữa thu, nội các bộ Lại lại tuân theo bản cũ vâng chép.

Sắc cho xã Lương Quán huyện Đông Anh tỉnh Phúc An theo như trước đây phụng thờ Nhạc Tối linh Tôn thần, nguyên tặng là Linh phù Dực bảo Trung hưng Tôn thần, giúp nước giúp dân có nhiều linh ứng, trải qua các tiết đã có ban cấp sắc phong cho phép phụng thờ. Nay chính là ngày lễ lớn sinh nhật Trẫm bốn mươi tuổi, nên ban cho chiếu báu thâm ơn, lễ tăng thêm phẩm trật, tặng thêm là Khác tĩnh Thượng đẳng thần, đặc biệt cho phép phụng thờ. Nhân ngày quốc khánh mà làm nêu tỏ điển thờ. Vâng thay!

Khải Định năm thứ 9 ngày 25 tháng Bảy

Lý trưởng Trần Văn Đạt vâng sao.

Đình Lương Quán: Thiết mã thành công.

Thần tích Kiều Nhạc Đại vương đánh giặc Ân ở Nội Duệ, Tiên Du, Bắc Ninh

Dịch theo bản khai thần tích thần sắc thôn Phúc Đàm, Đông Đoài xã Duệ Đông tổng Nội Duệ huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh.

Bảo Đại năm thứ 13 mùng 10 tháng Ba thôn Trù Đông, Trù Đoài xã Duệ tổng Nội Duệ huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh vâng sao thần tích thần sắc.

Sắc văn:

Sắc phong Thành hoàng danh tướng Hồng huân Bảo quốc An dân Kiều Nhạc Đại vương Tôn thần Thượng đẳng.

Sắc phong Bản thổ Thành hoàng Thạch Lệnh Hiển linh thông Tôn thần chi thần.

Sắc văn:

Hùng chấn Uy linh Tôn nghiêm Chính thuận Anh dục Sơn xuyên Tú chung Hà hải Nguy đức Tuấn liệt Phổ huệ Thuỳ hưu Anh linh hiển ứng Đốc khánh Khoan hoà Minh đoạn Cao huy Hoằng thâm Phổ hợp Bảo quốc Hồng huân Tôn thần Thượng đẳng, cho phép hai sách Trù trang Duệ Động sở Nội Duệ huyện Tiên Du quận Từ Sơn trấn Vũ Ninh các phụ lão vâng lĩnh điềm thần, nghênh đón về phụng thờ để cùng trợ giúp bảo vệ lê dân. Vâng thay!

Từ triều Hùng 18 đời nối tiếp, tỏ tên thánh vương, nghìn thu danh ghi tín sử, vạn cổ linh thiêng rỡ rỡ, quyết đoán mưu lớn, công nhiều vĩ đại, trừ tai đuổi giặc, thế nước dài lâu, chính sách đem lại điều lành. Người con thứ đời thứ 4 của Thần Nông được phân phong, mở đầu là thánh tổ Nam bang, trị nước trăm năm, đổi thành nước Văn Lang. Một năm mùa xuân ngày nhàn mùng 5 tháng Giêng Lạc Long  đi tuần du đến núi Tản Viên, tìm nơi thắng cảnh trên núi, hoa xuân thơm hương đất. Khi đó gặp Đệ nhất Tiên nữ giáng thế, tên là Âu Cơ, là con gái của Động Đình Đế Lai, có điềm trăm trai, sinh một bầu trăm trứng…

Ta là giống rồng, nàng là giống tiên. Nước lửa khó hợp, nên chia 50 con theo mẹ lên núi, 50 con theo cha về biển, đều hóa là thần, là tổ của trăm vương.

Người con trưởng Hùng Vường tiếp nối ngôi thánh vương, thiên hạ thái bình, nhân dân no đủ, cùng định ra lễ nghi triều đình, cùng lập ra phép tắc quốc gia, để phân rõ quan chức, thiết lập trang sách, để làm gốc cho phong hóa chính đạo. Vua thì lấy đức hóa dân, rủ ảo khoanh tay. Dân thì cày ruộng đào giếng, ra vào làm nghỉ, tạo đức mà vỗ yên, nhân dân chuyên tâm việc nông tang, không cảnh động gươm giáo, kết thừng mà trị nên dân không có lòng dối trá, mà thấy được phong tục thuần phác vậy.

Triều Hùng thứ sáu là Hiền Vương kế ngôi. Thánh vương một ngày nhàn đi tuần du xem cảnh núi Hùng. Dấu tích núi Hùng địa linh nhân kiệt, núi chầu sông cuộn, chọn ngày tốt mà lập đàn ở đất núi Hùng, cảnh thắng núi cao, bày lễ cầu đảo trời đất, bái yết trăm linh thần. Vua thân ở lại nơi tế đàn, thành tâm trong ba ngày. Đến ngày 15 tháng Giêng năm Giáp Dần tự nhiên thấy có một Tiên nữ xuất hiện, xưng là Công chúa thứ ba, được Thượng Đế sắc sai giáng xuống trần thế để bảo vệ đất nước, hộ giúp nhân dân. Tiên nữ đứng ở nơi tế đàn, cười nói nhảy múa. Mọi người đều thấy cho là điều lạ nên vào tâu vua. Hiền Vương thân ra nghênh đón vào trong đàn, hỏi rằng;

  • Tiên nữ tính danh là gì?

Tiên nữ đáp rằng:

  • Thượng Đế sắc sai giáng trần để giữ nước yên dân. Tên là công chúa Tiên Dung.

Vua thấy nét mặt hồng đào, sắc sáng như ánh trăng trên mặt nước, da dẻ trắng sáng như gương, mày loan như trăng mới mọc, mắt sâu như sóng thu, so với hoa hoa hết nói, so với ngọc ngọc sinh hương, có dung nhan chim sa cá lặn, có tướng mạo hoa nhường nguyệt thẹn. Hình dung đều thật tuyệt đẹp. Vua cho đây là tình ý trời ưu ái, biết là lòng trời tác hợp, liền lập làm cung tần Đệ tam, nghênh đón về kinh thành, soạn lễ câu fhoon, bày yến tiệc trong triều. Vua rất yêu quý Tiên nữ. Công chúa chuyên tâm tạo phúc, tích thiện, làm việc nhân, ngày đềm thắp hương để thờ Thượng Đế, một dạng phong lưu đầy đủ rộng rãi có thừa vậy.

Vào năm Quý Hợi ngày 13 tháng Giêng công chúa nằm mộng thấy hào quang đầy phòng, phút chốc có một con rắn hoa trắng bò đến, bỗng biến hóa thành một đóa hoa sen trắng, rồi nở hoa, kết thành hạt. Từ đó công chúa có mang. Mang thai được một năm đến ngày 13 tháng Giêng năm Giáp Tý thì chuyển dạ, ngày 15 đến kỳ mà sinh, khi đó hương thơm ngào ngạt. Khi sinh người con có diện mạo phi thường, hình dung quý phái, thật hoàn mỹ vậy. Mọi người đều vui mừng, nên đặt tên là Trưng. Đến khi trưởng thành trở nên thiên tư dị thường, thông tuệ hơn người. Hàng ngày thường ở một chỗ, xem sách tự học không đợi người chỉ dạy. Lại thành thạo đàn sáo, tinh thông âm luật. Tài kiêm cả văn võ, tám nghề hơn người.

Khi ấy trong nước có loạn, giặc Ân đến xâm chiếm. Vua lấy làm lo lắng, bày lễ bái yết trời đất. Bỗng nhân trời giáng một ông lão râu tóc bạc trắng, nói với Vua rằng:

  • Trời đã sinh thánh vậy. Xin Vua sai sứ đi loan báo thiên hạ, tất có người đi dẹp yên giặc.

Vua biết là thiên thần chỉ giáo, liền sai sứ đi cầu trong thiên hạ. Đến trang Phù Đổng huyện Tiên Du loan báo, đúng là có bậc thánh đã sinh, tuổi mới lên ba, chỉ biết ăn uống, không biết nói năng. Khi ấy thần báo với mẹ gọi sứ giả đến, xin được một ngựa và một thành kiếm thì vua sẽ hết lo lắng. Vua ban cho ngựa và kiếm, phong tước là Phù Đổng Đại vương. Lại cho gọi Quý (Kiều) Nhạc đến cũng phong tước là Đô soái, lĩnh quân sĩ ba vạn người. Cử Phù Đổng dẫn quân đi chinh phạt phía Tây. Cử Kiều Nhạc dẫn quân dẹp phía Đông. Cùng nhau đánh đồn Vũ Ninh của giặc Ân. Đô soái Kiều Nhạc dẫn quân qua Tích Đô mà làm lễ, thành tâm bái yết trời đất, cầu phật cầu tiên, thắp hương đèn trong ba ngày. Đến ngày 12 tháng Tám năm Ất Dậu, nửa đêm bỗng nhiên thấy trời giáng xuống một nhân thần, thân dài 10 thước, ngồi ở chùa Hương Tích. Mọi người thấy liền vào tâu. Đô soái Kiều Nhạc thân nghênh đón vào chùa, mà hỏi rằng:

  • Tôi muốn đánh giặc Ân. Thắng bại ra sao, xin chỉ giáo cho.

Thần nhân lưỡng lự một lúc, gieo quẻ bói rồi tặng cho một bài thơ rằng:

Thiên tướng hư thất thạch tán hoàn
Diệu tích nhưng truyền tại thế gian
Nhất khiếu thâm tàng thiên cổ tỉnh
Bán phong đê cảm cửu đồng than
Hoa kình mộng giác vân trung hưởng
Thạch tượng an bài tuyết hậu an
Hải tự chính phùng thanh thiếp hội
Hào đoan thu thập cẩm giang san.

Thần nhân nói xong thì bay lên không mà đi. Đô soái Kiều Nhạc biết là thiên thần chỉ giáo, bèn dẫn quân, sai sứ chuyển mật sớ cho Phù Đổng vương, định ngày dẫn quân dẹp giặc Ân. Vào các ngày 14, 15 tháng Giang năm Bính Tuất cùng hội quân, chia ra đánh đồn Vũ Ninh của giặc. Kiều Nhạc chinh Đông, Phù Đổng dẹp Tây, cùng đánh. Giặc Ân thua to, bỏ đồn mà chạy. Bắt giết được vô số. Phù Đổng vương trong chốc lát cưỡi ngựa bay lên không mà đi, không biết ở nơi nào. Kiều Nhạc vương thu thập quân, dẫn quân trở về, bày tiệc đãi quân sĩ, dâng sớ lên Vua. Vua rất vui mừng, lại phong  là Kiều Nhạc Đông Đô suý Sung Lạc tướng hầu, quyền quản các trang sách Vũ Ninh. Lòng dân yên vui.

Đến ngày 13 tháng Ba năm Ất Mùi nửa đêm Kiều Nhạc vương nằm mộng thấy một người, thân mặc áo xanh, tay cầm cờ hồng, tự xưng là Thiên sứ, quỳ trước sân mà nói rằng:

  • Thượng Đế sắc sai gọi Kiều Nhạc vương về chầu Thượng Đế.

Kiều Nhạc tỉnh lại, lấy làm buồn bã. Sáng hôm sau lên triều nói với cha là Hùng Hiền Vương biết về giấc mơ này. Vua liền cho tìm người để giải phép này nhưng không được, Đến ngày 15 Kiều Nhạc vương thấy bụng đau quằn quại, thân thể mệt mỏi, dựa vào lan càn mơ màng thiếp đi rồi hóa mất.

Vua lấy làm đau buồn. Đến ngày 13 tháng Giêng năm Đinh Dậu Hùng Hiền Vương cho tập hợp các quan trong triều là ngày tốt giao cho bộ Lễ viết sắc phong thần. 37 đền phụng thờ. Lại cấp lệ thang mộc cho các trang sách, ủy thác cho quan bộ Lễ ban sắc phong thần, mãi mãi không ngừng vậy.

Ngọc phả làng Bích Đại, tổng Đồng Vệ, Vĩnh Phúc về Bán thiên Đại vương Thiên Tích

Ngọc phả cổ chép về Thuộc đạo Bán thiên Đại vương.
Bộ Trung.

Xưa nước Việt trời Nam mở vận, thánh tổ dựng nền, xem xét hình thế núi sông, châu Hoan đất tốt xây dựng kinh thành, núi Lĩnh dáng mạnh tu sửa cung điện. Đời đời đều truyền hiệu là Hùng Vương. Truyền tới thời Hùng Huy Vương ở động Yên Phong châu Từ Sơn đạo Kinh Bắc có một gia đình họ Trịnh tên Thiều, lấy vợ cùng quê họ Đinh tên Vượng. Gia thế vốn giàu có. Vợ chồng đều trung hậu. Tuổi đã ngoài bốn mươi mà vẫn chưa sinh nở được con cái. Do đó dốc sức làm điều nhân nghĩa, phân phát gia tài, giúp người cùng khổ đói nghèo, trong nhà thờ Phật, đêm ngày đốt hương tụng kinh giải nạn. Thường cầu chúc rằng:

  • Thần ở trên đời có phúc mà được phú quý, nhưng tiếc là không có con cái. Dám xin được đấng từ bi quảng đại soi xét cho tấm lòng này, xin đội vạn ơn đức lớn của thần minh trời đất.

Khấn xong, khi đó đang cuối mùa xuân, trăng trong trời xanh. Bà Đinh nằm thiếp đi, bỗng mộng thấy đi đến một nơi nhà nguy nga, cửa san sát, quần áo khắp chốn. Ở một góc trong gian nhà có bày các đồ sách vở, giấy bút, kiếm ấn, áo mũ, vải vóc, đồ đồng, cùng các đồ vật các nghề khác nhau. Có hơn mười đưa trẻ nam nữ cùng đứng với các đồ vật này. Bên trên có một ông lão đầu bạc ngồi, ung dung uy nghiêm, tuyên gọi bà tiến vào, phán rằng:

  • Nhà ngươi có âm đức, ta sẽ cho một đứa trẻ, lập thân nổi danh để làm rạng rỡ cha mẹ về sau. Các đồ trong gian nhà này nhà người muốn lấy thứ nào thì tùy theo ý thích.

Bà Đinh vui vẻ bèn lấy một đứa trẻ tay cầm một kiếm và một ấn, bái tạ đi ra. Khi đó tỉnh giấc mộng thần, từ đó cảm động có mang. Mang thai 13 tháng đến ngày 20 tháng Giêng giờ Dần sinh hạ một người con trai, phong tư đẹp đẽ, khí chất hiên ngang, cao lớn hơn người thường rất nhiều. Được trăm ngày sau cha mẹ vui mừng, nhân tích mộng thiên thần nên đặt tên là Thiên Tích. Tuổi lên tám thì đi học với Hoa Đường Tiên sinh. Học được vài năm thì văn chương thông hiểu, chí khí siêu quần, võ lược tinh thần, tài năng vượt trội. Tiên sinh bình thường nói rằng:

  • Hiếm có gia đình nào có phúc như vậy, sinh được một người con trai tốt. Ngày sau văn võ kiêm toàn, tất là người con làm rạng rỡ gia đình.

Lại nói, khi ông lên 20 tuổi thì cha mẹ đều qua đời. Ông làm lễ chôn cất, hương lửa trong nhà phụng thờ ba năm. Thường hay than rằng:

  • Than ôi! Bãi bể nương dâu thay đổi. Cha mẹ của ta làm việc nhân đức, sinh ra ta vất vả. Nay lại chưa báo đáp được chút nào. Ngày sau dẫu có nghìn vàng vạn bạc cũng không thể gặp được để báo đáp nữa.

Thế rồi, may mắn có kỳ tuyển quan. Huy Vương thấy ông là kỳ nhân, hình oai lẫm liệt, tướng mạo đường đường. Ngay hôm đó bái làm Đô úy. Vua tôi tương hợp dù trước chưa từng gặp. Thời Huy Vương trị vì đã lâu, nảy sinh ra tính kiêu căng, làm các tiết lễ qua loa. Trời giáng tai họa vì vua thiếu đức. Vua mới biết đạo trời báo ứng trước mắt, bèn sai quan thiết lập một đàn tràng ở trong kinh thành, lấy voi ngựa, vàng bạc cùng các đồ vật bày lễ nghi mà cúng. Vua thân đến tế chú rằng:

  • Kẻ hèn này đã biết việc thiếu lễ với Hoàng thiên. Việc ở ngay trước mắt, rõ ràng không sai. Phục xin Thượng đế chuyển tai họa thành điềm lành. Nếu được may mắn thì kẻ hèn này xin tạ đức của Hồng quân.

Chúc xong bỗng thấy mây gió nổi lên, màu trời âm u, trên đàn hương lửa, khí lành cùng mây tỏa sắc. Vua bàng hoàng sợ hãi, bái tạ, trở xa giá về cung. Ba năm sau bỗng nghe thư từ biên cương báo gấp. Thạch Linh Thần tướng của giặc Ân khởi binh đạo Bắc đến xâm chiếm. Giáo mác đầy trời, cờ xí rợp đất. Vua bèn trai giới đến cầu ở đàn, đốt hương cầu đảo, tụ tập quần thần. Ba ngày sau gió lớn sấm rền. Bỗng thấy một ông lão cao hơn 9 thước, râu tóc bạc trắng ở trên đường trước đàn mà cười nói nhảy múa. Mọi người đều thấy, cho là người kỳ lạ, tâu lên Vua. Vua thân ra đón vào trong đàn mà hỏi rằng:

  • Nay giặc phương Bắc đến xâm chiếm. Thắng thu như thế nào, xin được chỉ giáo.

Ông lão ngần ngừ hồi lâu, lấy tay bốc một quẻ rồi nói với Vua rằng:

  • Nếu cầu được người thì giặc này trong chốc lát có thể dẹp yên.

Dứt lời thì bay lên không đi mất. Vua mới biết đó là Lạc Long Quân hiện ra chỉ giáo. Thế rồi Vua sai đi khắp thiên hạ tìm người. Đến làng Phù Đổng quận Vũ Ninh có một gia đình giàu có sinh được một người con trai, đã hơn 3 tuổi mà chỉ ăn uống lớn lên mà không biết nói cười. Bà mẹ nghe sứ giả đến thì nói rằng:

  • Con ta chỉ biết ăn uống, không biết đánh giặc để đảm nhận tước cao của triều đình, báo đáp ân sâu dưỡng dục.

Đứa trẻ nghe mẹ nói vậy bỗng lên tiếng rằng:

  • Mẹ gọi sứ giả lại đây.

Đứa trẻ lại nói với sứ giả rằng:

  • Hãy mau trở về nói với Vua xin cho được  một con ngựa sắt cao 10 thước, một cây roi sắt dài 10 thước, đem lại đây thì Vua sẽ không phải lo lắng nữa.

Vua bèn sai lấy 50 cân sắt đúc thành ngựa sắt, roi sắt, rồi đem đến. Thần Vương nhảy lên ngựa, hô một tiếng như sấm:

  • Ta là Thiên tướng đây.

Ngựa chạy như bay, chốc lát đến núi Vũ Ninh, Yên Việt, đại chiến với Thạch Linh Thần tướng. Giặc Ân tan tác, bắt sống Thạch Linh Thần tướng đem chém. Còn lại những dư đảng chưa trừ hết thì roi sắt đã bị gãy. Thần Vương bèn dùng tay nhổ bụi tre mà đuổi được chúng. Khi tới núi Sóc xã Vệ Linh huyện Kim Hoa thì bỏ áo, cưỡi ngựa bay lên trời mây mà đi. Nay còn dấu chân ngựa ở trên vách núi.

Hùng Huy Vương nhớ tới công lao lớn giúp nước, mà chưa gặp mặt để báo đáp, bèn tôn là Phù Đổng Thiên Vương, lập đền thờ ở quê hương, cấp cho trăm khoảnh ruộng để phụng thờ, năm tháng nhớ ơn, mãi truyền thờ phụng. 

Từ khi Thiên Vương hóa thì trong nước không có người nên nhà Ân lại cất quân đến xâm phạm. Vua bèn lệnh phân cho Ông quản hai đạo Tây Bắc, Hưng Đạo. Hai đạo quan quân hai mươi vạn bái ông làm Thuộc đạo Đại tướng quân, chia đường để đánh giặc. Tướng giặc trong quân hô lớn rằng:

  • Thần tướng đã về trời, Các người ai dám giơ càng bọ ngựa mà cản xe? Hay mau mau xuống ngựa, bái lạy xưng thần để tránh sinh dân chịu cảnh lầm than.

Ông nghe vậy, rất tức giận, bèn hô lớn một tiếng rằng:

  • Ta đây chính là tướng quân bên ngoài, Thuộc đạo Tây Bắc. Đứng mũi chịu sào, phát động nửa trời, không phải như củi khô dễ bẻ. Bè đảng các người dẫu có thông minh, hùng lược cũng chớ có xảo ngôn ngoa ngữ mà khinh thường vậy.

Thế rồi ông cưỡi ngựa múa giáo dẫn đầu vào trận, tả xung hữu đột, dụng võ như phi, ra vào như chỗ không người. Đến giờ Dậu cuối ngày hôm đó đã chém được hơn trăm đầu giặc. Quân giặc cùng nhìn nhau thất sắc rằng:

  • Châu Bắc dùng binh như thần trên trời. Giống như Thiên Vương phục sinh, nổi lên động tới nửa trời vậy.

Giặc Ân sợ hãi bỏ chạy, từ đó không dám xâm phạm. Biên thùy yên ổn. Ngày chiến thắng trở về Vua ban thưởng, khuyến khích các tướng sĩ có công trong quân đội. Phong ông là Thuộc đạo Bán thiên Đại tướng Đương đạo Đại vương, hưởng ơn vua lộc nước hương khói đầy đủ lâu bền vậy.

Sau này ông đến tuổi 62 bèn tạ triều đình cho từ quan đi chu du thiên hạ, nhàn nhã ngắm cảnh sông núi thế giới. Một ngày sau ông đi đến hai trang Bích Đại tổng Đồng Vệ huyện Bạch Hạc phủ Tam Đái. Ông thấy địa thế của Đồng Vệ, Bích Đại hữu tình, cũng là một thắng cảnh đẹp đẽ, bèn lập một hành cung ở trang đó. Cứ mỗi tháng hai lần ông đi xe về đây, ở tại đó (tức ở cung Đồng Vệ).

Hôm đó nhân dân mổ trâu làm lễ bái mừng. Ông bèn nói với dân rằng:

  • Dân các ngươi thật là ngu ngốc. Trâu là vật đã phải cày ruộng vất vả có công, sao nỡ ăn thịt chúng.

Từ đó về sau hai trang Đồng Vệ, Bích Đại trong các tiệc lễ không dùng cỗ trâu là do Đại vương khi còn sống cho rằng trâu cày ruộng vất vả, không nỡ ăn thịt. 

Lại nói, một hôm ông đi ra trước cung, nhàn nhã xem sao trời, lạc thấy trăng sáng trong vực (do là trước cung có một cái vực sâu tại đó, tục gọi là Vực Và). Khi đó bỗng thấy trong vực sáng rạng, mặt nước quang trong, có tiếng sấm vang đáy biển nổi lên, hóa thành mây bay trên không trước đường. Giảo long, ba ba trùng trùng như vạn thác trên sóng. Cá côn, cá sấu, cá kình lớp lớp nổi sáng thiên hà. Ông nhìn thấy lạnh lòng lạc phách, muốn quay trở về nhà. Bỗng thấy có một thanh đồng đi đến trước ông, khoanh tay nói:

  • Tiểu thần vâng lệnh của vua tôi xin được mời Tôn quan rời bước ngọc xuống chơi chốn mây nước.

Ông vui vẻ đi theo xuống chơi thủy cung. Đi qua những nơi sáng rạng trời đất, lâu đài cao ngất, trông xa thấy tướng ngao quan cá hàng hàng lớp lớp, quân lính ba ba đứng chầu hai bên. Long Vương ngự ở chính giữa, thấy ông liền ra cửa Đông đón vào cung. Mở yến tiệc lớn. Bày cảnh rồng mây, đèn cao hương thơm, thác ngọc bình vàng, mã não lọ đồng, đều là kỳ trân dị vật, không có trên thế gian.Một ngày được mắt nhìn thỏa thích đồ quý vật báu. Ông bèn nói rằng:

  • Vua ở Thủy phủ, thần tại Dương gian, lại được gặp mặt. Tình nghĩa hôm nay biết lấy gì báo đáp.

Long Vương nói rằng:

  • Thần là Bà Sa Long Vương, vâng theo mệnh Đế quyền quản một vùng. Nghe danh tiếng quý chức đã lâu, nên muốn kết làm bạn bè. Đâu dám mong nhiều.

Yến tiệc xong Long Vương lại tạ ông các đồ vàng quý giá. Ông cố từ chối không nhận. Từ đó ông mời Long Vương ngày sau giờ Dâu đến gặp mặt ở công sở. Long Vương nói: Được.

Ông bèn chào từ biệt trở về cung. Long Vương bèn sai Đô đốc giảo long dẫn về tận cung. Tới ngày mùng 10 tháng Tám, ông sai nhân dân mổ trâu làm tiệc. Tiệc chưa xong bỗng thấy từ đáy vực mưa gió sấm vang nổi lên, nước dâng cao, sóng lớn. Bỗng có một chiếc thuyền lầu  ngọc mười gian, trăn rắn hơn trăm xuất hiện. Nhân dân trông thấy đều sợ phục.

Ông bèn đi ra trước cung đón tiếp, khoản đãi rất trọng thể. Lễ xong Long Vương bèn cáo từ trở về. Từ đó một ngày tốt Long Vương bèn làm một huyệt xuyên từ giữa đường đến nơi cung sở, Ngày mùng 10 tháng Tám hàng năm Long Vương lại đến hội ngộ cùng với ông. Nhân đó có thơ làm chứng. Thơ rằng:

Bất vị tương phùng hữu thử sinh
Lai chi nghĩa giả khứ chi tình
Di ư lĩnh khiếu huyên nhân vọng
Bất dĩ long cung bạn khách hành
Nhất tháp âm dương hoành lưỡng lộ
Trùng thiên vân thủy vọng tam canh
Quan hà nhất việt song mâu ký
Hà sứ tương tư mịch cựu trình.

Lại nói đến ngày mùng 7 tháng Tư năm Giáp Thìn ông lập đàn cầu đảo trời đất, tụng kinh ba ngày. Đến giờ Mùi mùng 7 tháng Tư  bỗng thấy trời đất tối tăm, mưa gió thổi đến. Thấy có một đám mây hồng bay trên đàn. Ông bèn theo mây bay về trời.

Lại nói, sau khi ông hóa 6 tháng Hùng Huy Vương nghe tin, nhớ tới công lao to lớn giúp nước của ông bèn ngay hôm đó mùng 9 tháng Chín bèn sai quan về cúng tế. Ban thêm là Thuộc đạo Bán thiên Phụ quốc Đại vương Thượng đẳng Phúc thần. Lập miếu ở xã Đồng Vệ, Bích Đại phụng thờ, hương hỏa vạn đời mãi lưu. Còn như các châu, trang ở đạo Kinh Bắc cũng phụng thờ ông. 

Bản chính lưu tại bộ Lễ. Niên hiệu Hồng Đức năm thứ tư, ngày tốt tháng giữ thu. Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính vâng soạn.

Dịch từ bản khai thần tích thần sắc năm 1938 của làng Bích Đại, tổng Đồng Vệ, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên.

8 bài thơ thiền “Sơn cư” chùa Bổ Đà

Ở gian nhà tổ chùa Bổ Đà (phường Vân Hà, Bắc Ninh) có một bộ 8 bài thơ tứ tuyệt được viết trên gỗ sơn son thếp vàng, ghi là Hoàng triều Thành Thái Tân Sửu niên tạo (làm vào năm Tân Sửu thời triều vua Thành Thái, tức năm 1901) của chùa Tứ Ân. Các bài thơ này đều bắt đầu bằng hai chữ Sơn cư (Ở núi), nội dung diễn tả cảnh tu hành trên núi, ở nhà lá, trải mưa nắng, không bàn thế sự, lánh bụi trần, chuyên tâm học đạo, soi xét bản thân, đọc chân kinh.

Phần sau xin giới thiệu nguyên văn và dịch thơ 8 bài thơ này. Tên bài và thứ tự là do người dịch đặt ra để tiện cho việc hiểu nội dung.

Bài 1: Chọn chỗ ở

山居卜築隐巖阿
免得隨流逐世波
知足安貧常快樂
木人齊唱太平歌

Sơn cư bốc trúc ẩn nham a
Miễn đắc tuỳ lưu trục thế ba
Tri túc an bần thường khoái lạc
Mộc nhân tề xướng thái bình ca.

Dịch:
Ở núi chọn xây chỗ vách hình
Đuổi tránh sóng đời, miễn tùy mình
Biết đủ yên bần mà vui vẻ
Cây người cùng hát khúc thái bình.

Bài 2: Mưa vào nhà

山居茅屋雨三門
樂道忘情不掩關
鵲噪鴉鳴談船若
清風明月伴僧閑

Sơn cư mao ốc vũ tam môn
Lạc đạo vong tình bất yểm quan
Thước táo nha minh đàm Bát nhã
Thanh phong minh nguyệt bạn tăng nhàn.

Dịch:
Ở núi nhà cỏ mưa ba đường
Vui đạo quên cả che cửa thường
Chim hót quạ kêu bàn Bát nhã
Trăng thanh gió mát bạn nhàn tăng.

Bài 3: Không bàn việc

山居無事可評論
日来斜時便掩門
富貴輪他千萬倍
清閒還我二三分

Sơn cư vô sự khả bình luận
Nhật lai tà thì tiện yểm môn
Phú quý luân tha thiên vạn bội
Thanh nhàn hoàn ngã nhị tam phân.

Dịch:
Ở núi không gì để luận bàn
Chiều đến ngày qua đóng cửa dần
Mặc ai phú quý tăng ngàn vạn
Về ta nhàn rỗi đôi ba phần.

Bài 4: Xa ồn ào

山居自古遠囂塵
絕學無為閑道人
風月滿懷窮快活
高歌一曲和陽春

Sơn cư tự cổ viễn hiêu trần
Tuyệt học vô vy nhàn đạo nhân
Phong nguyệt mãn hoài cùng khoái hoạt
Cao ca nhất khúc hoà dương xuân.

Dịch:
Ở núi từ xưa xa bụi trần
Vô vi tuyệt học người tu nhàn
Trăng gió nhớ đầy, vui hết mức
Một khúc ca vang hòa khí xuân.

Bài 5: Lau gương xưa

山居古鏡久埋塵
今日重磨氣象新
痕垢浄除光始現
分明百見本来人

Sơn cư cổ kính cửu mai trần
Kim nhật trùng ma khí tượng tân
Ngân cấu tịnh trừ quang thuỷ hiện
Phân minh bách kiến bản lai nhân.

Dịch:
Ở núi gương xưa bụi phủ đầy
Hôm nay lau lại, vẻ mới đây
Vết bẩn sạch rồi, lại tỏ ánh
Rõ ràng trăm thấy thực mình này.

Bài 6: Lòng học đạo

山居幽隐白雲深
學道先當要誠心
大則放之周法界
卷之則退不容針

Sơn cư u ẩn bạch vân thâm
Học đạo tiên đương yếu thành tâm
Đại tắc phóng chi chu pháp giới
Quyển chi tắc thoái bất dung châm

Dịch:
Ở núi khuất trong mây trắng sâu
Học đạo thành tâm là cốt đầu
Phép lớn đặt ra khắp pháp giới
Chút ngừng tất giảm, chẳng dung đâu.

Bài 7: Soi cõi lòng

山居返照看心田
退步原来是上前
密密工夫無間断
必當叅透祖師禪

Sơn cư phản chiếu khán tâm điền
Thoái bộ nguyên lai thị thượng tiền
Mật mật công phu vô gián đoạn
Tất đương tham thấu tổ sư thiền

Dịch:
Ở núi xét soi tấm lòng nguyên
Lùi bước là đầu để tiến lên
Người làm chăm chú không ngắt quãng
Tất rồi tới bậc tổ sư thiền.

Bài 8: Vui lẽ trời

山居獨處樂天真
明月清風轉法輪
一大藏經都説盡
不知誰是個中人

Sơn cư độc xứ lạc thiên chân
Minh nguyệt thanh phong chuyển pháp luân
Nhất Đại tạng kinh đô thuyết tận
Bất tri thuỳ thị cá trung nhân.

Dịch:
Ở núi lẽ trời vui một chốn
Trăng sáng gió thanh chở pháp luân
Đại Tạng bộ kinh đã giảng hết
Không biết ai được là thế chăng.

Các câu đối đền Cuông, Nghệ An

Đền Cuông ở xã Xuân Ái, Nghệ An dưới chân núi Mộ Dạ, là nơi An Dương Vương cầm sừng văn tê bảy tấc rẽ nước đi ra biển, kết thúc thời kỳ nhà Thục, hóa thần biển linh thiêng.

Nghi môn ngoài

萬古文明開故國
九重宮殿對高山
Vạn cổ văn minh khai cố quốc
Cửu trùng cung điện đối cao sơn.
Dịch nghĩa:
Vạn cổ văn minh mở nước cũ
Chín tầng cung điện đối non cao.
Tác giả: Đặng Văn Thụy.

崑崙城人道思龍萬古民祠歐歌樂利
暮亱山地傳舞鳯億年帝統紀念欽崇
Côn Lôn thành nhân đạo Tư Long, vạn cổ dân từ, âu ca lạc lợi
Mộ Dạ sơn địa truyền vũ phượng, ức niên đế thống kỷ niệm khâm sùng.
Dịch nghĩa:
Núi Mộ Dạ đất truyền phượng múa, muôn năm kỷ niệm tôn sùng dòng đế
Thành Côn Lôn người ngỡ rồng bay, vạn cổ hát ca vui mừng đền dân.
Tác giả: Cao Xuân Dục.

水去螺城通𧉻海
風臨夜嶺蓋陽𦥄
Thủy khứ Loa thành thông bạng hải
Phong lâm Dạ lĩnh cái dương đài.
Dịch nghĩa:
Nước đến thành Loa qua biển bạng
Gió về núi Dạ phủ đài cao.
Tác giả: Đặng Văn Thụy.

人傑著靈聲仰聖赫英乎庙貌
乾坤逢泰運苛天保護之威儀
Nhân kiệt trứ linh thanh, ngưỡng thánh hách anh hồ miếu mạo
Càn khôn phùng thái vận, hà thiên bảo hộ chi uy nghi.
Dịch nghĩa:
Người giỏi nổi tiếng thiêng, ngưỡng thánh anh tỏ thay miếu mạo
Trời đất gặp vận lớn, mong trời bảo hộ thật uy nghi.

德大巍巍存越地
功成赫赫拓南天
Đức đại nguy nguy tồn Việt địa
Công thành hách hách thác Nam thiên.
Dịch nghĩa:
Đức lớn nguy nga cùng đất Việt
Công thành rạng rỡ mở trời Nam.

Nghi môn trong

天像地形半月築成僊化鶴
民和神福三辰不害罪維魚
Thiên tượng địa hình, bán nguyệt trúc thành tiên hóa hạc
Dân hòa thần phúc, tam thời bất hại tội duy ngư.
Dịch nghĩa:
Tượng trời hình đất, nửa tháng xây nên, tiên hóa hạc
Hòa dân phúc thần, nhiều khi tránh họa lúc hiểm nghèo.
Tác giả: Cao Xuân Dục.

保國護民天地無私之雨露
除邪殺鬼日月悉照之春陽
Bảo quốc hộ dân, thiên địa vô tư chi vũ lộ
Trừ tà sát quỷ, nhật nguyệt tất chiếu chi xuân dương.
Dịch nghĩa:
Giúp dân giữ nước, mưa móc đất trời là vô tư
Diệt quỷ trừ tà, ánh xuân nhật nguyệt chiếu ngời rạng.
Tác giả: Cao Xuân Dục.

堂上金龟微聖瑞
庭前雀彩献神威
Đường thượng kim quy vi thánh thụy
Đình tiền tước thải hiến thần uy.
Dịch nghĩa:
Trên điện rùa vàng ngời điềm thánh
Trước đình sắc công tỏ oai thần.

萬民奴隸人咸慕
千里江山國永存
Vạn dân nô lệ nhân hàm mộ
Thiên lý giang sơn quốc vĩnh tồn.
Dịch nghĩa:
Vạn dân tùy phục, người đều nhớ
Nghìn dặm non sông, nước mãi còn.
Tác giả: Cao Xuân Khôi.

Bình phong cạnh nhà bia

螺城自古銘青史
鶴嶺而今雀夜山
Loa thành tự cổ minh thanh sử
Hạc lĩnh nhi kim tước Dạ sơn.
Dịch nghĩa:
Thành Loa từ cổ đề trong sử sách
Núi Hạc tới nay công trên Dạ sơn.

Tác giả: Đồ Tương.

T

七寸文犀歸海岸
千秋夜嶺獨高𦥄
Thất thốn văn tê quy hải ngạn
Thiên thu Dạ lĩnh độc cao đài.
Dịch nghĩa:
Bảy tấc sừng tê về bờ biển
Nghìn thu núi Dạ dựng đài cao.
Tác giả: Đồ Tương.

Tam quan mặt ngoài

分定天書北有古城南古廟
靈傳地勝山留文雀海文犀
Phân định thiên thư, Bắc hữu cổ thành Nam cổ miếu
Linh truyền địa thắng, sơn lưu văn tước hải văn tê.
Dịch nghĩa:
Sách trời phân định, Bắc có thành cổ, Nam có miếu
Đất lành truyền thiêng, núi lưu chim công, biển lưu tê.
Tác giả: Đặng Văn Thụy.

天無淫雨烈風海瞻顯聖
地有崇山秀嶺亭集群賢
Thiên vô dâm vũ liệt phong, hải chiêm hiển thánh
Địa hữu sùng sơn tú lĩnh, đình tập quần hiền.
Dịch nghĩa:
Trời không mưa to gió lớn, biển ngưỡng thánh tỏ
Đất có núi đẹp non cao, đình tụ quần hiền.
Tác giả: Cao Xuân Dục.

帝王五十年功在生靈名在史
聖神千萬古山為庙殿海為螢
Đế vương ngũ thập niên, công tại sinh linh danh tại sử
Thánh thần thiên vạn cổ, sơn vi miếu điện hải vi huỳnh.
Dịch nghĩa:
Đế vương năm mươi năm, công tại sinh linh, danh tại sử
Thánh thần nghìn vạn cổ, núi làm miếu điện, biển làm đèn.
Tác giả: Cao Xuân Dục.

天之大道曰生行雲施雨
神之爲德其盛保國護民
Thiên chi đại đạo viết sinh, hành vân thí vũ
Thần chi vi đức kỳ thịnh, bảo quốc hộ dân.
Dịch nghĩa:
Đại đạo của trời là sinh, làm mây gieo mưa
Đức ban của thần rất thịnh, giữ nước giúp dân.
Tác giả: Cao Xuân Khôi.

主君錫福弘軟人物安存
上等靈祠擁?????
Chủ quân tích phúc hoằng nhuyễn nhân vật an tồn
Thượng đẳng linh từ ung ? ? ? ? ?

Tam quan mặt trong

五彩竜城天子氣
一行虎步太平容
Ngũ thái long thành thiên tử khí
Nhất hàng hổ bộ thái bình dung.
Dịch nghĩa:
Năm sắc thành rồng khí thiên tử
Một hàng bộ hổ vẻ thái bình.
Tác giả: Đồ Tương.

德及灵禽夜嶺當年儀瑞雀
威????山?處斬妖雞
Đức cập linh cầm, Dạ lĩnh đương niên nghi thụy tước
Uy trấn? quỷ? mị?, Diệu? sơn thử? xứ trảm yêu kê.

Dịch nghĩa:
Đức tới chim thiêng, đỉnh Dạ năm nay còn công lành
Oai trấn quỷ mị, núi Diệu chốn đó chém gà yêu.

泮水靈犀龍海月明登素魄
却書彩鳯雀山星耀見祥光
Phán thuỷ linh tê, long hải nguyệt minh đăng tố phách
Khước thư thái phượng, Tước sơn tinh diệu kiến tường quang.
Dịch nghĩa:
Sừng tê thiêng rẽ nước, biển rồng trăng soi tỏ hồn sáng
Phượng rực rỡ mang thư, núi Cuông sao chiếu thấy ánh lành.

四千年演轄幾桑滄龍堆壁聚
億萬禩驩州好風景鳯嶺松高
Tứ thiên niên Diễn hạt kỷ tang thương, long đôi bích tụ
Ức vạn tự Hoan châu hảo phong cảnh, phượng lĩnh tùng cao.
Dịch nghĩa:
Bốn nghìn năm hạt Diễn bao cuộc bể dâu, gò rồng đá tụ
Muôn vạn thờ châu Hoan đẹp vùng phong cảnh, núi phượng thông cao.
Tác giả: Đặng Văn Thụy.

帝王統紀開全越
今古山河奠我驩
Đế vương thống kỷ khai toàn Việt
Kim cổ sơn hà điện ngã Hoan.
Dịch nghĩa:
Kỷ thống đế vương mở toàn Việt
Sông núi xưa nay vững đất Hoan.

Bái đường

休休焉保國护民聖澤留恩億年乘祀
洋洋乎在上在下神机感應歷代欽崇
Hưu hưu yên, bảo quốc hộ dân, thánh trạch lưu ân ức niên thừa tự
Dương dương hồ tại thượng tại hạ, thần cơ cảm ứng lịch đại khâm sùng.
Dịch nghĩa:
Yên lành thay, giữ nước giúp dân, ơn thánh thấm lưu, muôn năm thờ nối
Tràn trề đó, ở trên ở dưới, cơ thần cảm ứng, các đời kính tôn.
Tác giả: Cao Xuân Dục.

Hậu cung

半幅江山留故國
八方風雨會中都
Bán bức giang sơn lưu cố quốc
Bát phương phong vũ hội trung đô.
Dịch nghĩa:
Nửa bức non sông lưu nước cũ
Tám phương mưa gió hội giữa đô.
Tác giả: Đặng Văn Thụy.

區貉千秋開帝國
暮山萬古仰神祠
Âu Lạc thiên thu khai đế quốc
Mộ sơn vạn cổ ngưỡng thần từ.
Dịch nghĩa:
Âu Lạc nghìn thu mở đế quốc
Núi Mộ vạn năm ngưỡng đền thần.
Tác giả: Đặng Văn Thụy.

神格思洋洋在上
王靈也赫赫厥聲
Thần cách tai dương dương tại thượng
Vương linh dã hách hách quyết thanh.
Dịch nghĩa:
Vẻ thần đó dương dương ở trên
Nét thiêng vua rờ rỡ tiếng vang.

一統輿圖開宇宙
千秋廟????
Nhất thống dư đồ khai vũ trụ
Thiên thu miếu ? ? ? ?