Bạn có biết: Thục Phán là vị vua Hùng đặt ra trăm họ người Việt

Tượng Hùng Linh Công đánh giặc Ân ở Hiệp Hòa, Bắc Giang.

Người Việt nào cũng biết câu chuyện về mẹ Âu Cơ cùng 50 người con trai về Phong Châu lập nước Văn Lang nhưng nếu đọc kỹ hơn đoạn truyện này trong Lĩnh Nam chích quái lại thấy còn có nhiều điều mà người xưa đã truyền lại về thời lập quốc của nước ta: Âu Cơ cùng 50 con sống ở Phong Châu (Nay là huyện Bạch Hạc) cùng nhau suy tôn người con cả lên làm vua, hiệu là Hùng Vương, lấy tên nước là Văn Lang, Đông giáp Nam Hải, Tây tới Ba Thục, Bắc tới hồ Động Đình, Nam tới nước Hồ Tôn Tinh (nay là Chiêm Thành). Chia nước ra làm 15 bộChia cho các em cùng nhau chia trị các nơi đó. Lại đặt các thứ tự tướng văn, tướng võ, tướng Văn gọi Lạc Hầu, tướng võ gọi là Lạc Tướng. Con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mỵ Nương, các quan gọi là Bồ Chính, người hầu trai gái gọi là Sảo – Nhỏ (còn gọi nô tỳ). Bề tôi của vua gọi là Côi, đời đời cha truyền cho con, gọi là Phụ đạo, đều xưng là Hùng Vương, không hề thay đổi.

Người lập nên nước Văn Lang là người con trưởng của Âu Cơ, xưng là Hùng Vương. Thiên hạ của Hùng Vương rộng mênh mông, được chia thành 15 bộ và giao cho các em cùng nhau chia trị các nơi, đời đời cha truyền con nối (phụ đạo). Như vậy vị Hùng Quốc Vương con trưởng là người đã mở đầu chế độ “phong kiến”, phong đất và kiến lập các chư hầu. Mỗi một người anh em được phong một vùng đất, được quyền phụ đạo cha truyền con nối qua các đời. Chính việc phong đất và phụ đạo này đã hình thành các dòng họ Việt, bởi dòng họ nghĩa là có quan hệ phụ đạo thế tập quyền quản lý vùng đất phong. Trăm họ người Việt hình thành dưới thời Hùng Quốc Vương qua sự phân phong thế tập các nước chư hầu, các vùng đất trong thiên hạ họ Hùng.

Hệ thống chính quyền “nhà nước” phong kiến cũng đã hình thành dưới thời Hùng Quốc Vương mà được Truyện họ Hồng Bàng nêu rõ: người đứng đầu xưng là Hùng Vương, tướng văn gọi là Lạc Hầu, tướng võ gọi là Lạc tướng, các quan gọi là Bồ Chính, người hầu là Nô tỳ, bề tôi xưng là “Côi” (Tôi?).

Sự kiện phân phong chư hầu, đặt ra trăm họ này còn được kể ở nhiều câu chuyện khác. Như trong Truyện Bánh chưng sau khi Hùng Vương truyền ngôi cho Lang Liêu thì Hai mươi mốt anh em kia đều chia nhau giữ các phiên trấn, lập làm bộ đảng, trấn thủ những nơi núi non hiểm trở. Đáng chú ý là sự kiện này được kể xảy ra vào thời đánh giặc Ân: Vua Hùng sau khi phá xong giặc Ân rồi, trong nước thái bình, nên lo việc truyền ngôi cho con, mới hội họp hai mươi hai vị quan lang công tử lại mà bảo rằng: “Đứa nào làm vừa lòng ta, cuối năm đem trân cam mỹ vị đến dâng cúng Tiên Vương cho tròn đạo hiếu thì ta sẽ truyền ngôi cho”. “Vua Hùng” đánh giặc Ân trong Truyện Bánh chưng như vậy là chỉ Âu Cơ Văn Lang. Còn vị Lang Liêu kế ngôi chính thống là Thừa Văn Lang, tức Hùng Quốc Vương, người con trưởng của Âu Cơ.

Trong bài trước đã xác định Âu Cơ là Thục Vương, người đánh thắng Sùng Hầu nhà Ân Thương ở trên đất Lạc, rồi dời đô về Phong Châu, lập nước Văn Lang. Như thế, người nối ngôi Văn Lang của Âu Cơ là Thục Phán, tức Thục Vương tử. Âu Cơ Văn Lang là Văn Vương Cơ Xương thì người diệt Ân lên ngôi thiên tử là Vũ Vương Cơ Phát. Có thể thấy tên gọi Phán và Phát cận âm.

Vũ Vương Cơ Phát – Thục Phán sau khi nhận ngôi của “vua Hùng” Văn Lang (Văn Vương Cơ Xương) đã lên núi Hùng dựng cột đá, thề trung thành với Quốc tổ họ Hùng. Sự kiện này thực ra mang ý nghĩa là là Thục Phán xưng mình là Thiên tử của cả Thiên hạ, bởi ông Trời Trung Hoa là vị quốc tổ họ Hùng Hiên Viên Hoàng Đế, vốn mang họ Cơ. Cơ Phát lập cột đá thề là muốn khẳng định mình là chính dòng Hoàng Đế, tức là Thiên tử. Các truyền thuyền cũng chép Thục chủ là con cháu của Hoàng Đế họ Hùng.

Dấu tích của sự kiện lập Thiên hạ, đặt ra trăm quan, phân chia trăm họ thời kỳ này không chỉ có cột đá thề trên núi Hùng Nghĩa Lĩnh, mà còn là những chiếc nha chương (những thẻ lệnh bằng ngọc) có niên đại thời Ân Thương được phát hiện tại Phùng Nguyên và Xóm Rền ở Phú Thọ. Những chiếc nha chương quyền uy này nay đã được công nhận là bảo vật quốc gia, khẳng định tính chất lịch sử của sự hình thành chế độ nhà nước phong kiến vào cuối thời Ân, sang thời Chu Văn Lang.

Việc hình thành các dòng họ qua phong tước thế tập còn lưu truyền ở vùng Đan Nê (Thanh Hóa), nơi có đền Đồng Cổ thờ thần trống đồng. Tại đây còn lưu được một vế đối đặc biệt về việc 3 dòng họ Trịnh, Lưu, Hà đã kiến lập đất đai dưới thời Hùng Quốc Vương:
Vật lưu Bách Việt tổ
Kiến ấp Trịnh, Lưu, Hà. 
Trống đồng là vật phẩm được dùng khi phong tước kiến địa nên nó gắn liền với việc hình thành các dòng họ.

Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả kể rằng, trăm người con trai khi đã trưởng thành, nhưng trong triều không có ai có thể phân biệt được trưởng thứ và tên gọi. Hiền Vương lập đàn cầu trời thì có một vị Tiên ông xuất hiện, cầm gậy trúc, rửa chân trên bàn đá ở cạnh chùa Hoa Long bên bến sông Việt Trì. Vua cho mời Tiên ông vào hỏi chuyện và nhờ giúp cho việc đặt tên trăm người con trai. “Tiên ông lấy bút viết ra, đặt trăm tên cho các thần tướng, đặt lên chiếc âu vàng, phân định thứ bậc anh em. Trăm hoàng tử đến hội ở chính điện, mà nhận chữ đề tên, trong tên có cùng một tiếng. Một người là con trưởng, theo như lời định được lập làm Thái tử nối ngôi vua. Còn 99 người khác lần lượt đến trước âu vàng nhận danh hiệu được ban”.

Việc phân định trưởng thứ cũng tương tự như truyện Lang Liêu, tức là chọn ra người nối ngôi. Còn những người anh em khác thì được phân phong làm bách vương ở các nước chư hầu. Việc đặt tên cho trăm người con trai chính là việc đặt ra trăm họ người Việt bởi mỗi cái tên phong đó được cha truyền con nối, là họ của các quý tộc dòng dõi Hùng Vương. Chiếc Âu vàng ghi tên bách vương trăm họ đã trở thành biểu tượng của đất nước như trong câu thơ của vua Trần Nhân Tông: Non sông ngàn thủa vững âu vàng.

Nha chương thời Ân – bảo vật quốc gia ở Phú Thọ.
Khu vực đền Đồng Cổ ở Đan Nê, Thanh Hóa.
Một chiếc âu có đúc chữ đề tên các vị vua thời kỳ Văn Lang.