Đình Thổ Hà, di tích quốc gia đặc biệt

1. THÔNG TIN CHUNG

Tên gọi: Đình Thổ Hà 

Tên khác: Đình làng Thổ Hà

Địa chỉ cụ thể: Làng Thổ Hà, phường Vân Hà, tỉnh Bắc Ninh

Vị trí địa lý và không gian cảnh quan:

Mô tả vị trí: Nằm ở trung tâm làng Thổ Hà cổ bên bờ Bắc nhìn ra sông Cầu, phía sau là chùa Đoan Minh phía trước là bến đò.

Yếu tố phong thủy: Theo bản Mục lục của làng thì phong cảnh Thổ Hà bốn phía xinh tươi, phía Đông một dải đất tựa hình rồng quay về chốn tổ, phía Tây một trái núi trông như dáng hổ ngồi chầu, hướng về phương Nam là sông Nguyệt núi Hằng, sách trời đã định, tựa lưng phương Bắc ngon Lát phong, Phúc lĩnh hun đúc khí thiêng.

Niên đại khởi dựng và các lần trùng tu:

Theo tấm bia “Thủy tạo đình miếu bi” thì đình Thổ Hà được xây dựng năm Ất Sửu 1685, thời vua Lê Hy Tông niên hiệu Chính Hòa, hoàn thành năm Nhâm Thân 1692 và đã được trùng tu vào thời Nguyễn thế kỷ XIX. Năm 2009 đình Thổ Hà được đại trùng tu và nâng cao như hiện nay.

2. GIÁ TRỊ LỊCH SỬ

Nhân vật được thờ: 

Đình Thổ Hà thờ đức Thánh ông là Thái Thượng Lão Quân, còn gọi là Lão Đam hay Lão Tử, đức Thánh bà là Thái Hậu Đoan Ý Phu nhân, mẹ của Lão Tử và thờ tổ sư nghề gốm là ông Đào Trí Tiến.

Sự kiện lịch sử, văn hóa gắn liền với di tích:

Bia Cung sao sự tích thánh ở đình Thổ Hà chép: 

Đời vua Thục An Dương Vương có một người từ Bắc quốc đến đạo Kinh Bắc, phủ Bắc Hà, huyện An Việt và ở nhờ chùa Đoan Minh Tự của trang Thổ Hà. Ngày đêm giảng kinh đọc sách, có sức màu nhiệm như thần, trong trang có nhiều con em theo học. Một hôm Người bảo học trò rằng: 

  • Ta sinh ra từ thủa Hồng Mông, trời đất mới mở mang, cho nên ta thông minh khác thường. Năm xưa mẹ ta kể chuyện rằng: mẹ vốn là người từ bi, huyền diệu mà sinh ra, tên là Mỹ Thổ Hoàng. Có một đêm mẹ ta nằm mơ thấy nuốt một vì sao ngưu tinh, thế là mẹ có thai đủ 81 năm. Đến ngày 7 tháng giêng năm Canh Thìn nách tay phải của mẹ rung động rồi sinh ra ta. Khi ta mới ra đời đầu đã bạc, chân có chữ, ta không có bố, khi đẻ mẹ vịn vào cây mận cho nên lấy họ ta là Lý, tên là Lão Đam, tên chữ Lý Bá Dương, lại có tên là Thái Thượng.

Quanh vùng nơi ở của người không ai xảy ra tật bệnh, nên người trong trang thường bảo nhau rằng: đó là khí sinh thánh tổ, chẳng phải người thường, các nơi cũng đến xin làm thần tử. Từ đó danh vang thiên hạ, người đến theo học càng đông. 

Lúc bấy giờ trong nước có giặc Quỷ mũi đỏ (Xích Tỵ), một vị quan thị hầu vua bị bệnh ngã nhào xuống đất và sau đó bệnh tật lan khắp mọi nơi, trong nước nhiều nơi mắc bệnh, người ốm người chết thiệt hại rất nhiều. Nhà vua vội truyền hịch đi các nơi: nếu ai trừ được giặc Quỷ vua sẽ gia phong tước lộc. Lão Tử liền vâng mệnh đến nơi có giặc Quỷ, người liền niệm chú rằng: “Đạo pháp bản vô đa, nam thần quán Bắc Hà, đô lai tam thất tự, tận diệt thế gian ma”. Đọc chú xong, Người lại thư phù vào gậy trúc và phóng đi bốn phương, các nơi đều yên ổn. Quan địa phương tâu với triều đình, vua liền mời Lão Tử đến ban thưởng, mở tiệc khoản đãi và phong người là Đệ nhất nhân (người tài nhất). Lại cho ngài được hưởng thực ấp ở vùng An Việt huyện. 

Người bái tạ đức vua và trở về Thổ Hà trang. Về tới nơi Người liền cho xây dựng cung doanh trị sở. Khi xây xong Người cho mời các bô lão trong trang và tất cả học trò đến mở tiệc ăn mừng. Lúc sắp sửa ăn bỗng thấy đám mây năm sắc từ từ sa xuống đất, trong mây thấp thoáng có bóng người mặc áo đỏ, Lão Tử liền theo đám mây cưỡi rồng đỏ mà biến mất. 

Sau đó vua xây thành Cổ Loa có những u hồn và tà ma quấy nhiễu, cứ xây xong lại đổ. Vua lo lắm, liền xa giá đến Thổ Hà trang cầu đảo. Chợt có thần nhân hiện lên bảo vua rằng: xin vua cứ hồi kinh, không lo ngại gì. Rồi Người sai Thanh Giang sứ (tức thần Kim Quy) đến giúp, giết Bạch kê tinh trong núi Thất Diệu, lại đào được hài cốt Bạch kê đem đốt đi, từ đó yêu ma tan hết, lại đào thấy nhạc khí thời cổ (như chiêng, trống đồng). Thành xây nửa tháng vừa xong, vua hàng năm cứ đến ngày 22 tháng 2 xa giá đến làm lễ để tỏ lòng tôn kính một vị thần linh tuấn, đó là lẽ thường vậy. 

Lại phong cho là Đương cảnh thành hoàng Thái Thượng Bản giác Linh phù Thượng đẳng phúc thần. Phong mẹ là Đoan ý Trinh thục Nhu hòa Huệ ân Diệu mỹ Thổ Hoàng Thái hậu. Từ đó về sau nghiệm thấy linh ứng nên các triều đại đế vương đều phong mỹ tự.

3. KIẾN TRÚC VÀ NGHỆ THUẬT

Bố cục mặt bằng tổng thể và các hạng mục chính:

Mô tả bố cục: Đình chính chữ công gồm đại đình, ống muống và hậu cung phía sau. Phía trước là nhà tiền đình, hai bên sân đình có tả vu và hữu vu nằm trong nghi môn nội. Phía trục đường nhất chính đạo dẫn thẳng ra phía bờ sông là nghi môn ngoại. Một bên phải đình phía sau có nhà thờ Mẫu, thờ mẹ của Lão Tử.

Mô tả từng hạng mục: Tòa đại đình có 5 gian 2 chái, dài 27m rộng 16m với bốn mái đao cong lợp mũi hài. Nghệ thuật điêu khắc ở ngôi đại đình là tiêu biểu nghệ thuật điêu khắc đình làng thời Hậu Lê.

Tòa tiền tế có 3 gian với bốn mái đao và nghệ thuật điêu khắc thời Nguyễn xen với thời Lê. Trong tòa tiền tế đặt 7 tấm bia đá.

Nghệ thuật trang trí, điêu khắc: 

Chạm khắc gỗ: Nghệ thuật trang trí điêu khắc trong tòa đại đình trên các cấu kiện kiến trúc thể hiện nét đặc sắc qua các chủ đề khá đa dạng và phong phú với hình rồng, phượng, nghê, lân, tiên nữ … Điêu khắc đình Thổ Hà được chạm trên hầu hết các thành phần kiến trúc của đình như: đấu kê, con rường, kê đầu dư, ván nong câu đầu … Hệ thống 22 chiếc đầu bẩy chạy xung quanh đại đình được chạm khắc tinh tế mang phong cách Hậu Lê.

Đặc biệt bộ cửa võng đình Thổ Hà làm vào năm 1692 được sơn son thếp vàng đục chạm rất công phu. Bộ cửa võng đình Thổ Hà đã được công nhận là Bảo vật quốc gia vào tháng 12 năm 2020.

Kiến trúc: Đình Thổ Hà nhìn từ bên ngoài với hai lớp Tiền tế và Đại đình với các mái đao lớp lớp. Xung quanh Đại đình xây tường lửng dưới có ô vuông để hình hoa cúc bằng gốm nung, trên tường tạo bậu gỗ gắn ván gỗ và chấn song. Xung quanh phần hiên đình được bó bằng đá xanh.

4. GIÁ TRỊ HIỆN VẬT

Bài trí thờ tự: Chính giữa đại đình là nơi đặt hương án, phía trên là bộ cửa võng Bảo vật quốc gia. Hai bên hương án bầy bộ bát bửu và chấp kích và đặt cây hương đá (đèn đá) cổ. Hai bên gian chính có bộ ngựa hồng, ngựa bạch và quản mã cổ, kích thước lớn. Đặc biệt là có 2 cỗ kiệu bát cống cổ sơn son thếp vàng cho Thánh và Mẫu, chạm rồng, phượng rất đẹp. Dải ống muống đặt hương án và hai hàng phỗng chầu. Trong hậu cung đình Thổ Hà xây bệ cao, trên đặt ngai và bài vị Lão Tử. 

Đồ thờ tự cổ có hương án, bát hương, bát bửu, chấp kích, quán tẩy, ngai thờ, ngựa thờ, kiệu cổ … Phía ngoài Tiền tế có treo một chiếc mõ gỗ lớn hình cá, hiện vật khá độc đáo.

Di sản Hán Nôm quan trọng: 

Trong đại đình Thổ Hà còn hàng chục câu đối cổ sơn son thếp vàng, nội dung hết sức độc đáo, ca ngợi công đức của Thái Thượng Lão Quân, là bậc Tiên Thánh Thần thời nhà Chu, sánh ngang với Khổng Tử và Phật Thích Ca. Câu đối hai bên cửa võng:

Qui giải hiệu linh, Thất Diệu sơn trung truyền dịch quỉ

Long năng thừa hóa, ngũ vân trang hạ ký đăng tiên.

Nghĩa là:

Rùa biết nghiệm linh thiêng, trên núi Thất Diệu truyền chuyện sai khiến quỉ

Rồng tài mau biến hóa, dưới trang mây năm sắc lưu tích lên tiên.

Câu đối khác ở gian phải của đại đình:

Đông Chu phong vũ thị hà thì, biệt bả thanh hư khai Đạo Giáo

Nam Việt sơn hà duy thử địa, độc truyền ảo hóa tác Thần Tiên.

Nghĩa là:

Mưa gió Đông Chu đây một thời, riêng giữ chốn thanh hư, mở Đạo Giáo

Núi sông Nam Việt chỉ đất đó, một truyền phép màu nhiệm, tạo Thần Tiên.

Câu đối ở gian trái của đại đình:

Huyền tham Thích điển công tỉ Ni Sơn, Đạo Đức nhất kinh truyền chí bảo

Quyết bản Khương công thuật khai Hoàng Thạch, thần tiên chung cổ hiển linh tung.

Nghĩa là:

Huyền diệu vào tích Thích Ca, công đức như núi Ni Sơn, Đạo Đức kinh một bộ truyền báu vật.

Phù quyết gốc từ Khương Công, pháp thuật mở tảng Đá Vàng, Thần Tiên tự cổ xưa sáng dấu linh.

Tại đình Thổ Hà còn lưu giữ được nhiều bản sắc phong cổ, trong đó có các sắc phong niên hiệu Dương Hòa thứ 3 (1637) và thứ 5 (1639) đời vua Lê Thần Tông, niên hiệu Cảnh Hưng thứ nhất (1740), thứ 44 (1783) đời vua Lê Hiển Tông, niên hiệu Quang Trung năm thứ 5 (1792),  niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 4 (1796) đời vua Quang Toản, niên hiệu Tự Đức năm thứ 6 (1853). Các sắc phong này hiện được sao, dịch và treo ở trong đình, cùng bảng Lược sao sắc văn qua các triều vua phong tặng. 

Ngoài Tiền tế của đình có một chiếc khánh đá cỡ lớn, chạm hình 2 con rồng chầu chữ. 7 tấm bia đá còn lưu giữ tại tiền tế và 1 tấm bia trong đại đình, được bảo quản tốt, chữ còn sắc nét, trang trí hoa văn, có niên đại từ thời Lê trung hưng đến thời Nguyễn. Nội dung các bia nói về cung tiến công đức, gửi giỗ, các sắc phong, về việc tranh chấp 2 xã Thổ Hà và Yên Viên và bản sao sự tích thánh. Cụ thể như sau:

  • Thủy tạo đình miếu bi” dựng năm Chính Hòa (1692) nói về quá trình xây dựng đình Thổ Hà.
  • “San lý đoạn bi” năm Vĩnh Thịnh thứ 10 (1714) về phán quyết đối với việc tranh chấp của 2 xã Thổ Hà và Yên Viên ruộng và bãi tha ma.
  • “Nhất cung tiến đại vương mã bi” năm Long Đức thứ 3 (1734) về việc tạo tác một đôi ngựa bạch, hồng và cung tiến vào đình.
  • “Bản xã nguyện bi” năm Cảnh Hưng thứ 37 (1776) về việc dùng tiền lãi đóng tô dung cho dân và dùng cho xướng ca thờ Thánh.
  • “Tự Đức nhị thập tứ niên ngũ nguyệt nhật” năm Tự Đức thứ 24 (1871) khắc 4 bản sắc phong thời Lê của đình.
  • “Ký kỵ thạch bi” năm Tự Đức thứ 11 (1858) vể việc gửi giỗ cho 2 anh em ông Bùi Tá Thông và Bùi Tá Cơ.
  • “Long phi Tân Mùi mạnh hạ tạo bi” năm Tân Mùi (thời Tự Đức 1871) khắc 4 sắc phong thời Cảnh Hưng thứ 44, Cảnh Thịnh, Quang Trung và Tự Đức.
  • “Cung sao thánh tích” năm Thành Thái thứ 9 (1897) khắc sự tích về Thái Thượng Lão Quân.

Trong đại đình còn có bảng văn Mục lục, ca ngợi phong cảnh và quê hương Thổ Hà.

Thần tích các vị thành hoàng  Lý Lão Đam Thượng đẳng thần, Thái Hậu Đoan Ý Phu nhân cùng 3 vị tổ nghề gốm sứ (Khởi nghệ tiên triết Đào Kính Trí, Tiên thánh sư Hứa Vĩnh Phúc, Tiên thánh sư Lưu Phong Tú) hiện còn được lưu giữ tại viện Hán Nôm.

5. LỄ HỘI VÀ PHONG TỤC VĂN HÓA

Lễ hội chính: 

Lễ hội làng Thổ Hà là một trong những lễ hội đặc sắc đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia vào năm 2012. Hội lệ được tổ chức trong ba ngày 20, 21, 22 tháng Giêng âm lịch. Hiện nay, hội Thổ Hà ba năm mới tổ chức rước một lần.

Lễ hội Thổ Hà tôn vinh Thành Hoàng làng Lão Tử. Phần lễ chính của hội là rước hai kiệu chính là Kiệu Ông và Kiệu Bà. Người tham gia đoàn rước là nhân dân ba xóm của làng Thổ Hà. Đoàn rước chính là nét đặc sắc nhất của Lễ hội Thổ Hà. Vào ngày chính hội 21 tháng giêng, từ sáng sớm đoàn rước đã tập trung tại Từ chỉ làng Thổ Hà. Đoàn rước rất phong phú, có rước cờ Thần, cờ Ngũ hành Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ, cờ Tứ linh Long Ly Quy Phương. Đặc biệt có các nhân vật ba ông Tam Đa và hai em đóng Tiên đồng Ngọc nữ, đội quan tướng mặc trang phục tuồng cổ. Đoàn rước có đội múa sinh tiền nam thanh thiếu niên, đội múa tiên nữ thanh thiếu niên, đội múa trống của các xóm. Lễ vật luôn có mâm lễ bò nguyên con và các đồ lễ. Đoàn rước tiến chậm rãi về đình làm lễ tạo nên phần đặc sắc nhất của hội Thổ Hà.

Phần hội xưa có nhiều trò chơi dân gian như đấu vật, chọi gà, đánh đu, đi chữ, đập niêu, đi cầu kiệu… Diễn xướng dân gian hát quan họ trên sông, hát tuồng, hát chèo, hát ca trù cũng là nét đặc sắc khác của hội Thổ Hà. Thổ Hà là một trong những làng quan họ cổ của tỉnh Bắc Ninh.

6. KẾT LUẬN

Văn bản công nhận di tích: Đình Thổ Hà đã được xếp hạng là di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh cấp quốc gia theo Quyết định số 29-VH/QĐ của Bộ Văn hóa ngày 13 tháng 01 năm 1964.

Ngày 11/02/2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Mai Văn Chính đã ký Quyết định số 266/QĐ-TTg xếp hạng Quần thể Di tích kiến trúc nghệ thuật đình, chùa, từ chỉ Thổ Hà, phường Vân Hà, tỉnh Bắc Ninh là Di tích quốc gia đặc biệt.

Di tích đình Thổ Hà

Bức Cửa võng đình Thổ Hà được công nhận là bảo vật Quốc gia

Câu đối và kiệu cổ đình Thổ Hà.

Rước kiệu Thánh Ông trong lễ hội Thổ Hà.

Tiên đồng, Ngọc nữ, Tam đa trong đoàn rước lễ hội Thổ Hà.

Quan tướng trong đoàn rước lễ hội Thổ Hà.

Hát quan họ trên sông bên bến Thổ Hà.

Leave a comment