
Tam tự kinh, cuốn sách các sĩ tử Việt xưa học nằm lòng, ghi:
Đường Hữu Ngu, hiệu nhị Đế
Tương ấp tốn, xưng thịnh thế.
Nghĩa là:
Đường, Hữu Ngu là hai Đế
Cùng nhường đất, gọi thịnh thế.
Đường Nghiêu, Ngu Thuấn là hai vị Đế thời cổ đại của Trung Hoa, nối tiếp thời Hoàng Đế Hiên Viên. Nhưng thật bất ngờ khi biết rằng Đế Nghiêu và Đế Thuấn chính là 2 vị vua Hùng thứ 2 và thứ 3 được thờ cùng với vua Hùng thứ 1 như những vị quốc tổ Hùng Vương trên đền Hùng ở núi Hy Cương.
Kinh Thư chép: “(Vua Nghiêu) sai Hi Thúc đến Nam Giao, quan sát mặt trời di chuyển về phương Nam, ghi ngày Hạ chí.” Hi Thúc cũng là Đế Thuấn, người đã tuân mệnh Đế Nghiêu đi khai mở đất Nam Giao, xem thiên tượng mà đề ra lịch pháp. Nam Giao rõ ràng là chỉ vùng phía Nam của đất Việt xưa thời đầu Hùng Vương.
Bài thơ được coi là “tuyên ngôn độc lập” của nhà Nguyễn ở chính điện Thái Hòa trong kinh thành Huế:
Văn hiến thiên niên quốc
Xa thư vạn lý đồ
Hồng Bàng khai tịch hậu
Nam phục nhất Đường Ngu.
Nghĩa là:
Nước ngàn năm văn hiến
Cơ đồ vạn dặm đồng
Từ Hồng Bàng mở nước
Phục Nam một Đường Ngu.
Bài thơ trong câu cuối nói trực tiếp rằng cõi Nam mở nước Hồng Bàng là từ Đường Nghiêu, Ngu Thuấn.
Ca dao Việt và quan họ Bắc Ninh lời cổ có câu hát:
Rủ nhau đi cấy xứ đương
Cấy cho vua Thuấn ở đồng Lịch Sơn.
Câu hát nói đến một điển tích có từ lâu đời là vua Thuấn đi cày ở núi Lịch: Nguyên cha của Thuấn là người hung bạo, không biện biệt được người hay kẻ dở, người đương thời đặt tên là Cổ Tẩu (người mù mắt). Mẹ của Thuấn mất sớm, Cổ Tẩu tục huyền với người đàn bà sau này sinh ra Tượng. Vì có lời gièm pha của người kế mẫu và đứa em ngỗ nghịch cùng cha khác mẹ, Cổ Tẩu không ưa Thuấn và định bụng giết đi. Biết thế, nhưng Thuấn vẫn giữ trọn chữ hiếu đối với cha và người dì ghẻ ác nghiệt, hòa thuận với đứa em độc ác, không một lời than oán. Khi cha bắt đi cày ở đất Lịch Sơn cốt tìm cách trừ đi, vì nơi đây có tiếng là nhiều thú dữ hay ăn thịt người. Nhưng tấm lòng hiếu thảo và hòa mục của Thuấn động đến lòng trời, cả đàn voi ra giúp Thuấn cày đất và muông chim vô số đáp xuống nhặt cỏ hộ. Thấy không hại được Thuấn, Cổ Tẩu và người dì ghẻ sai Thuấn đánh cá ở Hồ Lôi Trạch, nơi có nhiều sóng to gió lớn, nhưng khi Thuấn đến thì sóng lặng gió yên.
Liên quan đến sự tích vua Thuấn đi cày, ở Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ có hội làng Tứ Xã với trò Trám. Tứ Xã là nơi có các di chỉ khảo cổ học nổi tiếng thời Hùng Vương như Gò Mun, Đồng Đậu con, Gót Rẽ… Trò Trám ở Tứ Xã là trò trình nghề tứ dân Sĩ – Nông – Công – Thương, trong đó có vai một người diễn tích “vua Thuấn cày voi” với lời hát ca trù như sau:
Vốn tôi đây dòng dõi thần minh
Kẻ tên hiệu tôi là Ngu Thuấn.
Nghĩ cha mẹ tôi càng oán hận
Hận ở điều ăn ở không cân.
Em dượng tôi ngạo mạn bất nhân
Ân tôi phải dĩ nông vi bản.
Tôi cũng mong hữu gia hữu sản,
Nhác trông lên núi Lịch tốt thay
Ân tôi phải bắt voi cày núi đá.
Sách Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn cho biết xã Yên Lịch ở dưới núi cũng có miếu Đế Thuấn, 6 xã trong 1 tổng cùng phụng thờ. Ruộng này nằm ở phía bên phải xứ Ngòi Vực, rộng chừng 1 trượng, khá dài. Nước sông Lô mùa thu thường tràn vào. Tương truyền, ở bên bến sông này Đế Thuấn làm đồ gốm. Bên cạnh chỗ dân cư, có một cái giếng cổ, người ta cho là Đế Thuấn đào giếng ấy. Ở đó cũng có miếu Đế Thuấn, trước miếu có ruộng hè, rộng chừng vài mẫu, khá sâu. Người ta cho đó xưa là đầm Lôi, nơi Đế Thuấn đánh cá và cày ruộng.
Lịch Sơn, nơi Đế Thuấn cày ruộng, đào giếng, làm gốm, đánh cá không ở đâu xa mà ở ngay huyện Sơn Dương của tỉnh Tuyên Quang. Cũng sách Kiến văn tiểu lục chép tiếp: Núi Sáng là ngọn cao nhất trong dãy núi Lịch. Trên núi Sáng cũng có đền thờ Đế Thuấn. Đằng trước núi lại đột khởi một ngọn núi đất hơi thấp, đỉnh núi như hình ghế chéo, trong núi có chỗ rộng ước dăm sào, có thể gieo được trăm bung mạ. Tương truyền chỗ ấy Đế Thuấn cấy lúa, nhân dân mới gọi là Bách Bung.
Núi Sáng còn có tên là Lãng Sơn, nay thuộc huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc. Địa danh Yên Lịch xưa đến nay vẫn còn, trong tên thôn An Lịch của xã Đông Lợi (Sơn Dương, Tuyên Quang). Trước đây nơi này được gọi là tổng Yên Lịch, nằm dưới chân núi Lịch, là một vùng ruộng lúa chiêm ven sông Lô. Đây là đầm Sấm hay Lôi Trạch được nói đến trong truyền thuyết về Đế Thuấn.
Sách Kiến văn tiểu lục cho biết: Núi Lịch ở xã Yên Lịch huyện Sơn Dương, từ núi Sư Khổng ở huyện Đương Đạo mà chạy xuống, tới nơi đất bằng thì đột ngột nổi lên một ngọn núi có 5-6 đỉnh, giăng ngang ra chia thành một nhánh tới Lập Thạch là Lãng Sơn, một nhánh tới Tam Dương là núi Hoàng Chỉ. Trong núi Lịch ở đỉnh cao nhất có 5-6 chỗ bằng phẳng như đền đài, có động Đế Thuấn rất thiêng. Hoa quả trên núi người ta có thể hái ăn, nhưng không được mang đi. Ai mang đi sẽ bị lạc vào mê lộ, không thể ra được. Phía trên động Đế Thuấn có đền Đế Nghiêu, cúng bằng cỗ chay.
Ở An Lịch tới nay vẫn lưu truyền rằng trên núi Lịch có di tích của Đế Thuấn. Trên núi có một ao nước rộng chỉ 5-6m nhưng rất sâu, xung quanh có những cây quýt tươi tốt. Người dân địa phương kể, quả của cây này có thể hái ăn, nhưng nếu chỉ nhỡ cất một quả trong túi mang về thì sẽ như bị che mắt, đi vòng quanh 7 lần không ra được khu Ao Trời đó.
Đình An Lịch từ xưa thờ Ất Sơn Đại Vương, là vị vua Hùng thứ ba trong Tam vị Hùng Vương Thánh Tổ được thờ ở đền Hùng (gồm Đột Ngột Cao Sơn, Viễn Sơn và Ất Sơn Thánh Vương). Cũng ở vùng chân núi Lịch này còn có nhiều di tích thờ ba vị vua Hùng như đình Quang Tất, đình Thọ Vực và đền Ất Sơn.
Đình Quang Tất ở xã Hào Phú (Sơn Dương, Tuyên Quang) thờ ba vị vua Hùng là Cao Sơn, U Sơn và Ất Sơn. Cụ thủ từ đình Quang Tất cho biết, trước đây ở bên đình có 2 ông ngựa trắng và hồng bằng gỗ, đến ngày hội, dân làng kéo 2 ông ngựa này ra Mả Vua ở ngòi nước dưới chân núi Lịch để làm lễ. Vị vua có đền thờ trên núi Lịch cũng là một trong những vị vua Hùng được thờ ở đình. Tức là Đế Thuấn chính là Ất Sơn Thánh Vương, được thờ là quốc tổ ở đền Hùng.
Đặc biệt hơn nữa, không xa đình Quang Tất còn có ngôi đền cổ không biết từ bao giờ. Ngôi đền mang tên đền Ất Sơn. Đây thực sự là một điều bất ngờ, một bằng chứng đến hiển nhiên về vua Hùng Ất Sơn là Lịch Sơn Đế Thuấn. Đền Ất Sơn cũng giống như ở đình Quang Tất và Thọ Vực thờ 3 vị vua Hùng. Nơi đây còn giữ được lễ hội Cầu đinh cầu lão cổ xưa với nhiều trò tích diễn. Khi được hỏi vì sao đền có tên là Ất Sơn thì cụ thủ từ cho biết nơi đây vốn từng mang tên này, sau cách mạng mới đổi thành châu Tự Do. Tra lại địa bạ cũ thì ra nơi đây vốn là tổng Át Sơn. Những chữ Ất – Át – Út Sơn đều chỉ là một vị thần, vị vua Hùng thứ 3 trong Tam vị Thánh tổ Hùng Vương.
Những di tích thờ Hùng Vương ở chân núi Lịch ở Tuyên Quang cho phép xác định Ất Sơn Thánh Vương chính là Đế Thuấn. Như thế còn vị vua Hùng thứ hai Viễn Sơn hay U Sơn phải là Đế Nghiêu, người đã nhường ngôi cho Đế Thuấn. Nếu Đế Minh là vị vua Hùng thứ 1 Đột Ngột Cao Sơn thì rõ ràng Đế Nghiêu và Đế Thuấn là các vị vua Hùng tiếp theo, được truyền thuyết họ Hồng Bàng gọi tên là Đế Nghi và Lộc Tục. Tên hiệu của các vị này trong Hùng Vương Thánh Tổ ngọc phả là Hùng Hy Vương và Hùng Hi Vương (hoặc Hùng Anh Vương). Chữ Hy – Hi rõ ràng liên quan trực tiếp đến tích Đế Nghiêu “mệnh Hy Thúc trạch Nam Giao” trong Kinh Thư và liên quan tới tên ngọn núi Hùng là Hy Cương.
Tấm hoành phi đặt tại đền Giếng trên núi Hy Cương: “Nam quốc Anh Hoàng“. Anh – Hoàng là tên của hai vị Nga Hoàng và Nữ Anh, con của Đế Nghiêu đã được gả cho Đế Thuấn. Đây là dẫn chứng trực tiếp về quan niệm cho rằng 2 vị công chúa thờ trên đền Hùng là con của Đế Nghiêu và vợ của Đế Thuấn.
Ở các di tích trên vùng đất tổ Hùng Vương, 2 công chúa Ngọc Hoa, Tiên Dung thường được thờ bằng ban Hai Cô, hoặc trở thành 2 vị “thành hoàng”, thờ cùng với 3 vị Cao Sơn, U Sơn và Ất Sơn. Khu vực ven sông Lô của huyện Phù Ninh, Phú Thọ có tục thờ Ất Sơn và Hai Cô là bởi đây là nơi Đế Thuấn đã rước dâu qua sông, từ vùng kinh đô ở Việt Trì về miền quê núi Lịch ở Tuyên Quang. Như vậy 2 công chúa Ngọc Hoa và Tiên Dung ở vùng này chính là hai vị Nga Hoàng và Nữ Anh, con của vua Nghiêu.
Đế Thuấn đi cày ở Lịch Sơn là Ất Sơn Thánh Vương, vị vua Hùng thứ 3 trong Tam vị Thánh tổ Hùng Vương. Lịch cũng nghĩa là “lịch pháp”, liên quan đến lịch khắc trên lưng rùa. Trong sử Việt có chuyện họ Việt Thường cống lịch rùa cho vua Nghiêu như sau: “Đời Đào Đường, phương Nam có Việt Thường thị qua hai lần sứ dịch sang chầu, dâng con rùa thần; có lẽ nó được đến nghìn năm, mình nó hơn ba thước, trên lưng có văn khoa đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở mang trở về sau. Vua Nghiêu sai chép lấy, gọi là quy lịch (lịch rùa)“.
Ngày nay di tích về Đế Nghiêu trên đất tổ Hùng Vương có đền Vua Nghiêu ở Chuế Lưu (Hạ Hòa, Phú Thọ). Miếu Ngu ở Thạch Trị (Thạch Hà, Hà Tĩnh) từng có bài vị thờ của Vua Nghiêu, Vua Thuấn. Đường Nghiêu và Ngu Thuấn được thờ ở vị trí thứ hai ở hai bên trong gian chính của miếu Lịch đại Đế vương tại Huế.
Đôi câu đối cổ từng treo ở đền Hùng trên núi Hy Cương khẳng địch thời kỳ Tam Hoàng Ngũ Đế nối tiếp nhau cũng là các triều đại vua Hùng, là thủy tổ của trăm giống Việt:
Lịch Tam Hoàng chí Tam Vương, thần truyền thánh kế
Đĩnh bách nam sinh Bách Việt, tổ thiện tôn bồi.
Nghĩa là:
Từ Tam Hoàng đến Tam Vương, thần dõi truyền, thánh nhân kế tục
Sinh trăm trai mở Bách Việt, tổ thiện đức, con cháu bồi vun.







