Ngọc phả cổ truyền chép về Đức ông Cả Đài Đại vương, Đức ông Bố Cái Đại vương bộ Thủy triều Hùng họ Việt Thường

Dịch từ thần tích làng Thượng Phúc tổng Hoàng Lưu huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Đông.

Thần tích bộ Tả, Thượng thượng đẳng thần.

Xưa Hùng Vương Sơn nguyên Thánh Tổ Nam Thiên Đại bảo Tiền Hoàng đế khai mở cơ đồ, thủy tổ trời Nam, nước Cổ Việt họ Hùng Việt Thường, 18 đời thánh vương ngự trị trời Nam, sáng lập cơ đồ nước Việt. Nước biếc một dòng mở vận đế thánh vua sáng. Núi xanh vạn dặm lập nền cung điện đô thành. Mở vật giúp người, thống lĩnh 15 bộ, thế mạnh trùm khắp phiên bang. Nối tiếp ngôi báu đất Viêm Hồng, có vua trị nước hơn ba ngàn năm, mãi giữ cho tông miếu vững như bàn đá. Hiển ứng linh thiêng nơi Nghĩa Lĩnh, truyền trăm đời đế vương nước Nam. Đế ngự muôn năm thánh điện núi Hùng, đất tổ trời Nam. Nền vua đất nước mãi vững muôn năm, mãi còn vạn cổ. Hương lửa không dứt.

Lại nói, vua triều Kinh thứ 6 là Huy Vương tại ngôi, đóng đô ở sông Bạch Hạc Việt Trì, tên nước là Văn Lang, kinh thành là Phong Châu, dựng kỷ cương đất nước, lấy phép tắc của các vua đời trước mà khuyếch trương pháp độ, trải hình phép vạn đời. Lấy đức giáo hóa nhân dân, làm điều nhân đức, chuyên tâm chính trị. Dốc lòng che chở dân chúng. Lập pháp luật, biểu trương quy củ. Đương thời đều coi là vị vua hiền vậy.

Lại nói, đang thời khi đó truyền đến hai vị Đài công, Cái công, đúng chính là dòng dõi Hùng Vương làm Bộ chủ Hoan Châu. Khi Lạc Long Quân lấy Âu Cơ ở động Lăng Sương làm chính phi, sinh được một bầu trăm trứng, nở ra điềm lành trăm trai, đều là những anh hùng vượt đời, trí dũng hơn người. Lạc Long Quân liền cho kiến dựng tước hầu, lập phiên dậu bình phong, chia nước thành 15 bộ. Một là Sơn Tây, hai là Sơn Nam, ba là Hải Dương, bốn là Kinh Bắc, năm là Ái Châu, sáu là Hoan Châu, bảy là châu Bố Chính, tám là Ô Châu, chín là Ai Lao, mười là Hưng Hóa, mười một là Tuyên Quang, mười hai là Cao Bằng, mười ba là Lạng Sơn, mười bốn là Quảng Đông, mười lăm là Quảng Tây. Khi đó Long Quân nói với Âu Cơ rằng:

  • Ta thuộc giống rồng, nàng là dòng tiên. Tí Ngọ không cùng, nên vì thế mà chia tách.

Năm mươi người con theo cha làm Thủy thần. Năm mươi người con theo mẹ làm Sơn thần. Nhân đặt là trăm vương. Bộ chủ Hoan Châu là thủy thần thứ 11, tên là Hùng Tuệ. Mẹ vốn là người châu Bảo Lạc, trang Hoằng Hóa, họ Vương tên Loan. Khi đó ông Bộ chủ tuổi đã 50, bà phi tuổi cũng hơn 40, nhưng cành lan nhánh quế trước sân còn thiếu, chưa thấy giấc mộng lành điềm kỳ lân. Ông Bộ chủ họ Hùng vốn là người có đức dày với dân, trọng nghĩa khinh tài, rộng rãi giúp đỡ dân chúng. Phàm là việc cứu người thì không có gì là nhỏ. Lòng tận tâm giúp vật vốn có như ghi khắc. Là người hiền thực sự ở trên đời, vốn là bậc tuấn kiệt đương thời vậy.

Thái bà cũng là người nhân từ, kính thuận, khiêm tốn. Ăn ở vẻ vang mà ôn hòa, tứ đức vẹn toàn. Sáng vẻ nhàn hạ chốn khe Nam. Một lòng tòng thuận như chốn cửa Trần. Nét ấm đẹp theo lối Cam đường. Thực là bậc Hằng Nga trên cung trăng. Đúng là bậc nữ đời Nghiêu Thuấn. Sánh sáng cùng việc ngọc phong, sống động cùng lan quế, thời đó khó tìm.

Một hôm ông Bộ chủ nói với bà phi rằng:

  • Chốn đền thần danh lam, trai giới nơi chùa phật, thành tâm cầu tế trời đất thần kỳ, núi sông trăng sao thì mới mong có được phúc lớn.

Dứt lời bèn chuẩn bị lễ vật. Vợ chồng Bộ chủ cùng lên núi Yên Tử để dâng hương cầu khấn, chúc:

  • Xin sớm cho được điềm lành, thấu đạt hoàn cảnh. Vạn sự mong trời đất thần sông âm phù, giúp được ước muốn.

Chúc xong thì mặt trời đã xuống núi, trời chuyển về chiều. Ông bà bèn nằm lại trong chùa để cầu mộng trước án. Khoảng đến giữa canh hai bà phi mơ màng như mộng. Bỗng thấy trong điện mây năm sắc nổi lên, bầu trời sáng  rực rỡ. Lại thấy con đường trong mây có rồng vàng xuất hiện, thẳng đến quấn lấy thân bà phi ba vòng. Bà phi sợ hãi, hét lên một tiếng, vang đập vào tai mà tỉnh dậy. Bà kể lại điều trong mộng với ông Bộ chủ. Ông Bộ chủ bèn nói rằng:

  • Nhà ta có phúc lớn, trời sẽ soi tỏ. Cứ như điều trong mộng thì trời tất sẽ giáng điềm lành, quả sẽ sinh quý tử.

Noi xong vợ chồng cùng làm lễ bái tạ. Ngay hôm đó, vợ chồng trở loan giá về đến thôn Thượng Dục, xã Hạ Dục, huyện Chương Đức, phủ Ứng Thiên. Có một đoạn sông nhỏ chảy vòng đến thôn Thượng Dục. Ông Bộ chủ bèn cho dừng thuyền tại đó một lúc. Bà phi đi xuống bãi sông mà tắm rửa. Bỗng nhiên có giao long quấn lấy chân, phun nước dãi rồng vào thân bà phi. Mùi hương dãi rồng ngào ngạt. Bà phi sợ hãi bèn chạy lên bờ trở về. Mùi hương dãi rồng trên thân không gột hết được. Bà phi nói lại với ông Bộ chủ. Ông Bộ chủ nói rằng:

  • Ta thuộc mệnh Thủy thần, tất có sinh ra Thủy thần. Hãy đợi sau này sẽ biết được việc hôm nay thế nào.

Nói xong vợ chồng lại cất bước trở về đến Hoan Châu. Tối đó ông Bộ chủ nằm ở trong nhà chính, mơ màng thiếp đi. Bỗng thấy có một người hai tay bưng một chiếc mâm vàng, bên trên có một đôi cá chép, thân hình như đầu rồng đuôi tôm, thật là kỳ lạ. Khi đó người ấy bưng đến trước án ông Bộ chủ, bèn nói:

  • Nhà ông phúc hậu, nên nay ban cho một đôi báu vật của trời.

Ông bỗng tỉnh lại, nhớ đến điềm trong mộng thấy việc con cái tất sẽ thành, việc sẽ đúng như thế. Được vài tháng bà phi thấy động trong lòng, cảm ứng có mang thai. Đến giờ Thìn ngày mùng 6 tháng Giêng năm Giáp Tí sinh được một bầu, nở ra hai người con trai, đều có kỳ hình dị tướng, hàm én mày ngài, trán hổ mặt rồng. Sau lưng có 28 điểm tinh tú, đều như một hàng vảy lân, không phải người trần có được. Vợ chồng ông Bộ chủ liên tưởng biết tất là thủy thần xuất thế, thiên thánh giáng trần. Ngày qua tháng lại, hai ông tuổi đã lên 3. Ông Bộ chủ bèn làm biểu tâu lên Bệ hạ, bèn đặt tên là Đài, người con thứ là Cái.

Thời ấy vua Hùng sinh được một bầu trăm trứng, nở ra trăm trai, kiến tước hầu, lập bình phong, phân chia 50 (15?) bộ. Lại phân 50 thủy thần, 50 sơn bộ. Hễ bộ nào có sinh con trai, tâu lên triều đình thì vua sẽ lệnh ban cho kế vị quân hầu, phân đất đai lộc hưởng. Hùng Huy Vương thấy hai ông dáng vẻ như hổ, biết là người lạ khác tầm thường, siêu quần vượt chúng. Bèn đều phong cho tước hầu.

Khi đó ông Bộ chủ Hoan Châu tâu bày việc khi cầu đảo hai ông đã ở chùa trên núi Yên Tử, thấy có điềm mộng ứng, lại khi trở về đến thôn Thượng Dục thì có giao long quấn lấy, về sau sinh được hai ông. Vua nghe chuyện đó bèn cho đất Thượng Dục làm đất hưởng lộc của hai ông, sau này làm nơi thờ phụng.

Lại nói, hai ông khi lên 7-8 tuổi thì có thiên tính thông minh, không cần dạy dỗ mà tự có hiểu biết, không đi học mà biết chữ nghĩa. Mỗi khi đi ra chơi ở ngoài đường thì đều có một áng mây xám hình như cái ô lớn bay trên giữa trời, che ở chính đỉnh đầu hai ông. Gió sấm nổi lên, mây mưa tùy rơi. Ở nơi mà hai ông đi qua đều thấy một cảnh thanh mát trong lành. Hai ông tính thường rất thích nước, hay đi tắm. Thường đi ra bến sông, lặn xuống đáy nước, đi lại ra ngoài sông lớn, lặn xuống đáy nước cả ngày không lên. Mọi người đều thấy, đều kính sợ, xưng là tài lạ trời bẩm sinh, điều lạ ở chốn nhân gian, xưa này không từng có.

Khi hai ông lên 18 tuổi, văn võ kiêm tài, oai động triều đình, có tấm lòng nhân đức độ lượng, không ai không phục. Đương khi đó thiên hạ có mưa to nước lụt. Một dòng nước lớn chảy xuyên phá lở đường. Nhân dân, mùa màng bị thiệt hại nặng. Mười nơi thì chín nơi tan hoang, thật là đói khát. Vua cho hai ông nhận chức lớn đi tuần giữ các nơi trong thiên hạ, xem xét các vùng đất đai. Một hôm hai ông đi thẳng đến nơi ở sở tại (tức là địa giới thôn Thượng Dục). Nhân dân làm lễ bái mừng, dựng một hành cung ở đất đó (đất đó có hình thế một quý cục, hai bên phong tinh dẫn mạch, bốn mặt đất bằng bỗng nổi dựng một động nhỏ). Khi đó hai ông truyền binh sĩ xây dựng cung để ở và trị thủy. Hai ông ở đó được vài ngày, tới một đêm mưa to nước lũ dâng cao, chảy vào trong chốn cung sở. Hai ông bèn truyền cho nhân dân và binh sĩ chặt cây làm đê để ngăn nước, nhưng đều không chống được, thế nước lụt khó giữ. Hai ông rất tức giận, mắng rằng:

  • Thủy tặc sao lại có ý muốn hại trần gian vậy. Nay chúng ta vâng mệnh vua trần gian, cai quản thần sông, trấn ngự giặc nước gây hại. Chốn này là đất cung sở của chúng ta (tức đất thôn Thượng Dục) mà không sợ chúng ta sao. Ngày ngày lại càng dâng thêm nước lụt xâm nhập, gây hại cho dân. Không nghe rằng Dương đình, Thủy quốc phép chung đều giống nhau. Nếu có chúng ta ở đây, lũ thủy tặc khó thoát.

Mắng xong, hai ông mơ màng như mộng. Bỗng thấy có ba tướng đường đường cùng với quân sĩ hơn vài chục viên từ sông rẽ nước lên bờ đến đánh nhau với hai ông. Hai ông dẫn quân đến đánh. Được hơn mười hiệp hai ông bắn một mũi tên vào giữa bụng quân giặc. Quân giặc thua chạy. Hai ông đuổi theo, chém được hai viên đại tướng cùng với vài trăm binh sĩ. Còn những tên khác đều thua bỏ chạy hết. Bỗng nghe có một tiếng sấm vang lên. Hai ông tỉnh lại, biết là mộng. Đến khi trời sáng thấy nước đều đã rút hết đến tận lòng sông, không cần sửa đê mà đều rút yên vậy.

Hai ông trị thủy việc đã yên bình, làm biểu dâng tấu lên triều đình. Vua bèn ban chiếu gọi hai ông trở về kinh thành. Hai ông vâng chiếu trở về triều, bái tạ Bệ rồng. Vua rất khen ngợi, ngay hôm đó phong thưởng thăng giao ông Đài đất Hoan Châu làm chủ chưởng kế thừa cha. Ông Cái được phong ở Sơn Nam. Cùng ban thưởng 500 lạng vàng.

Hai ông xin trước bệ rồng được trở về thăm cha mẹ. Vua đồng ý. Hai ông hôm đó quay xe trở về đến xứ Hoan Châu, vào bái ông Bộ chủ, làm lễ gia tiên. Ở được vài ngày thì cha mẹ bỗng nhiên mất (tức ngày mùng 5 tháng Năm). Hai ông làm biểu dâng tấu lên triều đình, rồi chôn cất cha mẹ ở đất đó. Sau đó hai ông đi nhận chức ở các nơi. Từ đó thiên hạ thanh bình, nhân dân no đủ. Hai ông đi xe trở về cung Thượng Dục. Ngày hôm đó nhân dân làm lễ bái mừng. Hai ông truyền quân sĩ cùng nhân dân tu sửa hành cung các chốn. Hai ông ở đó được hơn ba tháng.

Lại nói, khi ấy có Ngô Linh Thần tướng cất 50 vạn quân mạnh đến xâm chiếm nước ta. Giáo mác khắp trời, cờ xí rợp đất. Thư từ biên giới gửi về báo gấp, mỗi ngày 5 lần. Vua Huy Vương lo lắng, bèn gọi quần thần đến hội nghị, hỏi kế sách. Triều đình đều dương mắt nhìn nhau, bó tay không có đối sách. Vua bèn cho dựng đàn trai giới, đốt hương cầu đảo. Truyền quần thần đến hội tụ ở đàn trong ba ngày. Sau có mưa sấm gió lớn. Bỗng thấy một ông lão cao hơn 9 thước, râu tóc bạch trắng, đứng ở nơi ngã ba đường mà cười nói, nhảy múa. Mọi người đều thấy làm lạ, tâu vào lên vua. Vua thân ra đón vào trong đàn, hỏi rằng;

  • Nay có giặc phương Bắc đến xâm phạm. Thắng thua như thế nào, xin được chỉ giáo.

Ông lão ngẫm nghĩ hồi lâu, lấy tay bắt một quẻ, rồi nói với vua rằng:

  • Nếu như cầu được người thì giặc này tất sẽ dẹp yên hoàn toàn được.

Vua lại hỏi rằng:

  • Cầu người này ở phương nào?

Ông lão lại nói rằng:

  • Việc này hãy hỏi bà mo.

Dứt lời, ông lão bay lên không đi mất. Vua biết là Lạc Long Quân chỉ giáo. Thế là vua sai sứ giả đi cầu khắp thiên hạ. Đến làng Phù Đổng quận Vũ Ninh có một gia đình phú ông sinh được một người con trai, đã hơn ba tuổi, tên là Thiết Xung Thần Vương, chỉ ăn uống mà lớn lên, không biết cười nói. Bà mẹ nghe sứ giả truyền đến, bèn đùa rằng:

  • Con nhà ta chỉ biết ăn uống, không biết đánh giặc để nhận chức trọng của triều đình, để báo ân sâu nuôi mớm.

Nghe mẹ nói vậy, người con bỗng nhiên nói:

  • Mẹ gọi sứ giả lại đây.

Thần Vương nói với sứ giả rằng:

  • Hãy mau về báo với vua, xin được một con ngựa sắt cao mười thước, một cây gậy sắt dài mười trượng, mang đến cho tôi thì Vua không phải lo lắng nữa.

Lại nói, sứ giả trở về, tâu lại lời nói đó với vua. Vua rất vui mừng, lại lệnh cho các quan lang, phụ đạo, bộ chủ cùng với 10 bộ sơn thần, 10 bộ thủy thần là dòng dõi Hùng Vương, dẫn ba vạn quân mạnh theo giúp Thần Vương. Ngay ngày hôm đó đúc thành ngựa sắt, gậy sắt, đem đến cho Thần Vương.

Lại nói, khi đó vua lệnh cho ông Đài và ông Cái thống lĩnh Thủy đạo tướng quân, trợ chiến cùng với Thần Vương, tiến thẳng đến đồn chính giặc Ân ở chân núi Vũ Ninh miền Yên Việt, đánh lớn với Ngô Linh Thần tướng ở bên núi. Giặc Ân đều thua, bắt sống Ngô Linh Thần tướng mà chém đi. Còn lại các dư đảng chưa diệt hết, Thần Vương trước đó đã rơi gậy sắt nên liền nhổ tre làm gậy dẹp sạch quân giặc.

Thần Vương dẹp yên giặc xong, trở về đến núi Sóc Vệ Linh huyện Kim Anh thì bỏ áo, ngựa, bay thẳng lên trời mây mà đi. Nay còn dấu chân ngựa ở trên vách núi.

Lại nói, hai ông (tức ông Đài, ông Cái ở đó) cưỡi thuyền rồng trở về đến sông Bùi huyện Chương Đức, bỗng thấy có một trận gió lớn nổi lên, trời đất tối tăm. Trên sông sóng nổi lên ầm ầm, vạn nhẫn vang rền. Lại thấy có ba tiếng hô rằng:

  • Mau triệu hai ông trở về Thủy quốc.

Nhân dân nghe thấy tiếng hô đều sợ hãi. Được phút chốc, mưa gió tự dừng. Nhân dân đến nơi cung sở thì không thấy hai ông đâu nữa. Nhân dân (tức thôn Thượng Dục) liền đi thẳng ra ngoài bãi sông, bỗng thấy thuyền rồng còn đậu ở nơi đó. Lại nghe tiếng nói với nhân dân rằng:

  • Hai vị tướng quân đang khi mưa gió mù mịt đã cùng xuống thuyền rồng mà hóa. Dân các người ở đây (tức thôn Thượng Dục) hay mau về cung sở bày cúng tế phụng thờ.

Ngay hôm đó là ngày 12 tháng Mười hai năm Bính Ngọ nhân dân nghe tiếng các quan Thủy đạo báo vậy bèn làm lễ tạ. Trở về sửa sang cung đền bày tế cúng. Đang khi làm lễ, mây trời u ám, mưa gió nổi lên. Giao long, cá lớn, ba ba đều đến chầu vào nơi tế cúng. Nhân dân sợ hãi, bèn làm biểu dâng tâu lên triều đình. Khi đó các quan làm tế xong, trở về cũng đều tâu lại với vua. Vua rất mừng, nói với quần thần:

  • Thiên thần và Thủy quốc đều giúp nước nhà. Trẫm không còn lo lắng gì nữa.

Ngay hôm đó mở yến tiệc lớn khao hưởng quân sĩ, phong thưởng các công thần. Bèn phong mỹ tự cho trăm thần, hưởng lễ huyết thực vạn cổ, hương lửa không ngừng.

Phong là Phù Đổng Thiên Vương. Cho đón sắc chỉ về dân lập đền để thờ. Các đền ở xã Phù Đổng huyện Tiên Du, cùng thôn Đối Mã xã Vệ Linh huyện Kim Hoa đều cho cấp một trăm khoảnh ruộng để phụng thờ.

Lại phong Đức Ông Đài Vàng Đại vương. Lại phong Bố Cái Sô Tha Đại vương. Cho vâng đón sắc chỉ đem về nơi thôn Thượng Dục, sai quan … đến bày cúng tế, tu sửa đền cung, nhân dân được phụng thờ.

Người đời sau có thơ rằng:

Sinh hoá diệc đồng thử nhất tân
Sinh vi danh tướng hoá vi thần
Bùi giang, Thượng Dục giai tồn tích
Miếu mạo vũ đường cựu chí tân.

Dịch là:

Sinh hóa cùng nhau tại bến này
Sinh là danh tướng, hóa thần đây
Sông Bùi, Thượng Dục đều còn tích
Miếu mạo cung đường xưa tới nay.

Lai nói đến thời Trưng nữ vương, tức Trưng Trắc, Trưng Nhị, đều là cháu gái Hùng Vương, thật là bậc thánh thần trên trần thế, bậc hào kiệt trong giới nữ, khởi binh phụ tướng, chiêu dụ anh hùng, dẹp trừ Tô Định. Cùng nhau hội quân ở sông Hát, lập đàn cầu đảo trăm thần âm phù giúp nước dẹp giặc thành công. Khi đang làm lễ bỗng thấy ông Đài và ông Cái dẫn binh mã đến nói rằng:

  • Chúng tôi chính là các thủy thần. Nay thấy hoàng gia khởi nghĩa dẹp trừ giặc dã, tự xin được âm phù dẹp giặc, tất đều có linh ứng.

Sau khi thanh bình Trưng nữ Vương lên ngôi, bèn phong mỹ tự cho cùng hưởng hưng thịnh với đất nước, là Duyên huống Khai tường Xiển trị Cương nghị Hùng lược Anh đoạn Pháp thân Cư sĩ Tối linh Đại vương.

Từ Trần Thánh Tông đến Trang Tông cùng với Thái úy đại thần diệt trừ loạn Mạc, có nhiều linh ứng, âm phù giúp nước, đều có nhiều phong tặng sắc chỉ. Các ngày khai sắc, khánh hạ được khai rõ ràng dưới đây:

Thượng đẳng Thủy thần, bộ Tả.

Các ngày lệ sinh hóa cùng các tiết khánh hạ và các chữ húy, sắc phục màu vàng đều cấm. Nhất thiết cấm các chữ húy Hùng, Loan, Đài, Cái.

Ngày lệ sinh thần là mùng 6 tháng Giêng, hai vị cùng sinh. Lễ dùng lợn đen, chọn gia đình vợ chồng đều song toàn làm lễ, cùng gà, xôi, rượu, cỗ chay, ca hát.

Ngày lệ khánh hạ là ngày 15 tháng Hai chính lệ. Lễ dùng mâm chay, xôi rượu, hương hoa năm vị.

Ngày lệ phong sắc là mùng 6 tháng Sáu. Dùng trâu, xôi, rượu, ca hát.

Ngày lệ khai sắc là mùng 6 tháng Ba. Dùng lợn đen, xôi, rượu, ca hát.

Ngày lệ hóa thần là 12 tháng Mười hai, hai vị cùng hóa. Lễ dùng cỗ trâu, xôi, rượu, bánh chay.

Ngày hóa của thánh phụ là mùng 5 tháng Năm. Lễ dùng lợn, gà, xôi, rượu.

Hoàng triều Vĩnh Hựu năm thứ 2 ngày tốt, Quản giám bách thần Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh Nguyễn Hiền tuân theo bản cũ vâng chép.

Hồng Phúc năm đầu ngày 18 tháng Năm, Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn.

Thần tích về Đông Nhạc Đại vương, người đúc ngựa sắt cho Phù Đổng Thiên Vương

Dịch từ bản khai thần tích thần sắc làng Lương Quán tổng Tuẫn Lễ huyện Đông Anh tỉnh Phúc Yên

Phả chép về một vị Đại vương công thần triều Hùng Tuấn Vương.

Chi Cấn, bộ Thượng đẳng. Chính bản bộ Lễ quốc triều.

Xưa Hùng Vương Sơn nguyên Thánh Tổ mở vận lập cơ đồ hơn hai ngàn năm. Hùng Vương dựng nước núi xanh vạn dặm lập nền móng cung điện đô thành, nước biếc một dải mở đạo minh vương đế thánh. Cứu vật giúp người, thống lĩnh 15 bộ, hiệu là tổ đầu của Bách Việt.

Nước Việt xưa tới thời Hùng Tuấn Vương có một người ở làng Đa Hội phủ Từ Sơn đạo Kinh Bắc (xưa gọi là bộ Bắc Giang). Ông họ Ta, tên Hưởng. Vợ là Đặng Thị, tên Diệu. Vốn lấy nghề thợ rèn đồ sắt làm nghề sinh sống mà thành một gia đình giàu có. Vợ chồng đều có đức dày. Nhưng tuổi đã cao mà chưa có con trai. Thế rồi một đêm bỗng nhiên mộng thấy có một thần nhân đến gọi nói rằng:

  • Nhà người phúc hậu đã được biết, nên cho một thế đất tốt để đem mộ cha chôn vào đó. Sau này tất sinh ra khanh tướng.

Thần nhân nói xong thì dẫn tới một khu đất hỏa nhạc, nói rằng:

  • Hình là ngựa trời, huyệt ở tại cửa.

Trong khoảnh khắc thần nhân biết mất. Ông tỉnh lại, nhớ tới điều trong mộng mà lấy làm lạ. Sáng ngày ông đến nơi đó xem xét, quả thấy như mộng, bèn đem mộ của cha mà chôn vào đó. Từ đó sau trăm ngày thấy bà Đặng Thị có mang thai. Đến ngày 12 tháng Mười năm Giáp Ngọ sinh hạ một người con trai, thiên tư cao lớn, thể mạo kỳ lạ. Ông biết đúng là đất tốt sinh người, nên rất yêu quý, bèn đặt tên là Nhạc. Nuôi dưỡng ông đến năm trưởng thành, thiên tư cao lớn, học lực tinh thông, giỏi về võ lược. Ông Nhạc năm 18 tuổi thì cha mẹ đều mất. Ba năm chịu tang xong thì khi đó giặc Ân đến xâm chiếm, áp bức dân chúng. Tuấn Vương lo lắng, bèn truyền hịch đi các châu, quận, đạo nước Nam, nơi nào có tướng tài văn võ, sức lực hơn người thì đên dẹp phiên thần. Nghe có ông Phù Đổng tuổi mới lên ba, mà có thần lực khác người, nghe chiếu thiên tử nổi lòng trạng nguyên bốn biển. Ông Đổng liền bái mệnh mẹ, ngay hôm đó đến gặp Tuấn Vương, tâu rằng:

  • Thấn vốn là thiên sứ giáng sinh giúp nước. Có vua tất có thần. Xin bệ hạ cho một con ngựa sắt thì giặc Ân chỉ trong tuần nhật là dẹp yên.

Vua nghe vậy rất vui mừng. Ngay hôm đó Vua bèn sai sứ đi đến làng Đa Hội phủ Từ Sơn đạo Kinh Bắc, xem có thợ rèn nào có nghề rèn giỏi đúc được ngựa sắt thì chọn một người về kinh đô để đúc ngựa sắt. Ông Nhạc nghe vậy, lòng cùng muốn giúp nước, chí muốn cứu dân. Ông bèn cùng sứ giả về kinh đô ứng tuyển. Vua thấy ông Nhạc dũng mãnh hơn người, nghề rèn đúc rất tinh xảo. Vua bèn của ông đúc đồ sắt. Đến hạn ông Nhạc đúc được ngựa sắt rất lớn và một cây roi sắt, đem đến. Vua cho ông Nhạc là người tài nhất bèn cử ông dẫn quân theo ngựa cùng với ông Phù Đổng hành chinh dẹp giặc Ân.

Ngay hôm đó ông Phù Đổng cất quân tiến đến khu đất đầu trại Lương Quán huyện Đông Ngạn phủ Từ Sơn, cùng đóng quân ở trại đó, nhà xem thế đất, thấy có một thế sông núi quanh co, rồng cuộn hổ ôm. Núi không cao nhưng có vách đứng. Sông có tình ở nơi dòng giếng. Tiện nghi tưởng cũng là một thắng cảnh tươi đẹp vậy. Thế là ông Phù Đổng bèn giao cho ông Nhạc xây lầu ở tại đó để ứng chiến phía sau với giặc Ân. Khi đó ông Phù Đổng vâng lệnh nhận ngựa, đứng lên hô một tiếng lớn. Tức thì con ngựa trở nên to lớn, người thường không sánh được. Bèn cầm roi vung lên, nhảy lên ngựa,

Chạy về phía Bắc. Ngay hôm đó ông Nhạc truyền cho quân sĩ cùng với người trong trại xây một tòa lầu dựa hướng Đông để có sinh khí mà ở, để ứng chiến phía sau với giặc Ân. Khi đó nhân dân phụ lão trại Lương Quán đều sợ hãi, bèn làm lễ xin được làm thần tử. Ông đồng ý, bèn lấy những người khỏe mạnh trong trai được hơn mười người làm thủ túc trong nhà. Thế là nhân dân phụ lão trại Lương Quán nhân đó xin nay là nơi lầu để ở, sau này là nơi thờ tự. Ông đồng ý. Sáng ngày hôm thấy có sứ giả vâng mang chiếu thư đến, lệnh cho ông đánh giặc Ân. Ông bèn mổ trâu làm lễ cáo tế trời đất, trăm thần sông núi, khao quân sĩ trong trại. Rồi ông cất quân tiến thẳng đến dưới núi Sóc phủ Bắc Hà. Ông cùng Phù Đổng Thiên Vương đóng ở dưới núi Sóc, rồi cùng tiến công một lượt, đánh một trận lớn. Giặc Ân thua to, bỏ chạy. Chém được chính tướng giặc Ân cùng vài vạn tướng sĩ. Từ đó không còn biết giặc Ân ở đâu nữa.

Thế là thiên hạ thanh bình, trong nước vô sự. Giữa ban ngày bỗng nhiên thấy Thiên Vương cưỡi ngựa bay lên không mà đi không thấy nữa, tức đã hóa ở xứ Sóc Sơn. Còn ông Nhạc trở về đến đầu đất huyện Kim Hoa, ngẩng lên trời  thấy có một đám mây vàng hình như dải lụa đỏ từ trên trời rơi thẳng xuống trước mặt. Thấy ông Nhạc thân bay lên tại xứ Gò Đống mà biến mất, tức đã hóa. Khi đó là ngày 11 tháng Giêng. Nhân dân và quân sĩ đều sợ hãi, bèn dâng biểu tâu lên triều đình. Vua bèn sai sứ mang tế văn về nơi đất đó, sắc phong là Thượng đẳng Phúc thần, cho pháp trang Lương Quán lập miếu để thờ.

Tới thời Đinh Tiên Hoàng dẹp 12 sứ quân bị vây tại chùa này, được Ông âm phù mà thoát. Nên cứ mỗi năm ngày 11 tháng Giêng lại xa giá đến làm lễ thành lệ để làm tỏ sự linh thiêng của ông. Từ đó thành lệ thường. Tặng phong là Đương cảnh Thành hoàng Linh phù chi thần. Sắc phong tên thần nguyên là: phong Đông Nhạc Đại vương. Màu quần áo khi làm lễ cấm dùng màu vàng và đỏ. Phong thêm là Linh quang Hộ quốc Hiển ứng An dân Tích chỉ Ngưng hưu.

Lại nói từ đó về sau có nhiều linh ứng, nên có nhiều đời các đế vương phong thêm mỹ tự. Thời Trần Thái Tông giặc Nguyên đến xâm chiếm, kinh thành bị vây hãm. Trần Quốc Tuấn vâng mệnh cầu đảo trăm thần ở các đền. Khi đó một vị Đại vương này cũng có hiển ứng âm phù. Đến khi dẹp được giặc Mã, Thái Tông bèn phong thêm mỹ tự một vị là Linh ứng Anh triết Hiển hữu.

Đến khi Lê Thái Tổ khởi nghĩa dẹp giặc Minh Liễu Thăng, có được thiên hạ, Thái Tổ bèn phong thêm là Phổ tế Cương nghị Anh linh. Sắc chỉ ban cho trang Lương Quán trung tu miếu điện để phụng thờ. Tốt thay, lành thay!

Vâng khai các tiệc sinh hóa cùng với các chữ húy cấm là Đông Nhạc, đồng ý cho trang Lương Quán thờ.

Ngày sinh thần là 12 tháng Mười. Lệ chính lễ dùng trên mâm chay, dưới là lợn đen, xôi, rượu, bánh dày, ca hát.

Ngày hóa thần là 11 tháng Giêng. Lệ chính lễ dùng như trên.

Ngày lệ tiệc xuất quân là tháng Mười một, chọn ngày tốt làm lễ.

Niên hiệu Hồng Phúc năm đầu, ngày tốt tháng đầu xuân, Hàn lâm Lễ viện Đông các Đại học sĩ, thần là Nguyễn Bính, vâng soạn bản chính.

Hoàng triều Vĩnh Hữu năm thứ sáu ngày tốt giữa thu, nội các bộ Lại lại tuân theo bản cũ vâng chép.

Sắc cho xã Lương Quán huyện Đông Anh tỉnh Phúc An theo như trước đây phụng thờ Nhạc Tối linh Tôn thần, nguyên tặng là Linh phù Dực bảo Trung hưng Tôn thần, giúp nước giúp dân có nhiều linh ứng, trải qua các tiết đã có ban cấp sắc phong cho phép phụng thờ. Nay chính là ngày lễ lớn sinh nhật Trẫm bốn mươi tuổi, nên ban cho chiếu báu thâm ơn, lễ tăng thêm phẩm trật, tặng thêm là Khác tĩnh Thượng đẳng thần, đặc biệt cho phép phụng thờ. Nhân ngày quốc khánh mà làm nêu tỏ điển thờ. Vâng thay!

Khải Định năm thứ 9 ngày 25 tháng Bảy

Lý trưởng Trần Văn Đạt vâng sao.

Đình Lương Quán: Thiết mã thành công.

Thần tích Kiều Nhạc Đại vương đánh giặc Ân ở Nội Duệ, Tiên Du, Bắc Ninh

Dịch theo bản khai thần tích thần sắc thôn Phúc Đàm, Đông Đoài xã Duệ Đông tổng Nội Duệ huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh.

Bảo Đại năm thứ 13 mùng 10 tháng Ba thôn Trù Đông, Trù Đoài xã Duệ tổng Nội Duệ huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh vâng sao thần tích thần sắc.

Sắc văn:

Sắc phong Thành hoàng danh tướng Hồng huân Bảo quốc An dân Kiều Nhạc Đại vương Tôn thần Thượng đẳng.

Sắc phong Bản thổ Thành hoàng Thạch Lệnh Hiển linh thông Tôn thần chi thần.

Sắc văn:

Hùng chấn Uy linh Tôn nghiêm Chính thuận Anh dục Sơn xuyên Tú chung Hà hải Nguy đức Tuấn liệt Phổ huệ Thuỳ hưu Anh linh hiển ứng Đốc khánh Khoan hoà Minh đoạn Cao huy Hoằng thâm Phổ hợp Bảo quốc Hồng huân Tôn thần Thượng đẳng, cho phép hai sách Trù trang Duệ Động sở Nội Duệ huyện Tiên Du quận Từ Sơn trấn Vũ Ninh các phụ lão vâng lĩnh điềm thần, nghênh đón về phụng thờ để cùng trợ giúp bảo vệ lê dân. Vâng thay!

Từ triều Hùng 18 đời nối tiếp, tỏ tên thánh vương, nghìn thu danh ghi tín sử, vạn cổ linh thiêng rỡ rỡ, quyết đoán mưu lớn, công nhiều vĩ đại, trừ tai đuổi giặc, thế nước dài lâu, chính sách đem lại điều lành. Người con thứ đời thứ 4 của Thần Nông được phân phong, mở đầu là thánh tổ Nam bang, trị nước trăm năm, đổi thành nước Văn Lang. Một năm mùa xuân ngày nhàn mùng 5 tháng Giêng Lạc Long  đi tuần du đến núi Tản Viên, tìm nơi thắng cảnh trên núi, hoa xuân thơm hương đất. Khi đó gặp Đệ nhất Tiên nữ giáng thế, tên là Âu Cơ, là con gái của Động Đình Đế Lai, có điềm trăm trai, sinh một bầu trăm trứng…

Ta là giống rồng, nàng là giống tiên. Nước lửa khó hợp, nên chia 50 con theo mẹ lên núi, 50 con theo cha về biển, đều hóa là thần, là tổ của trăm vương.

Người con trưởng Hùng Vường tiếp nối ngôi thánh vương, thiên hạ thái bình, nhân dân no đủ, cùng định ra lễ nghi triều đình, cùng lập ra phép tắc quốc gia, để phân rõ quan chức, thiết lập trang sách, để làm gốc cho phong hóa chính đạo. Vua thì lấy đức hóa dân, rủ ảo khoanh tay. Dân thì cày ruộng đào giếng, ra vào làm nghỉ, tạo đức mà vỗ yên, nhân dân chuyên tâm việc nông tang, không cảnh động gươm giáo, kết thừng mà trị nên dân không có lòng dối trá, mà thấy được phong tục thuần phác vậy.

Triều Hùng thứ sáu là Hiền Vương kế ngôi. Thánh vương một ngày nhàn đi tuần du xem cảnh núi Hùng. Dấu tích núi Hùng địa linh nhân kiệt, núi chầu sông cuộn, chọn ngày tốt mà lập đàn ở đất núi Hùng, cảnh thắng núi cao, bày lễ cầu đảo trời đất, bái yết trăm linh thần. Vua thân ở lại nơi tế đàn, thành tâm trong ba ngày. Đến ngày 15 tháng Giêng năm Giáp Dần tự nhiên thấy có một Tiên nữ xuất hiện, xưng là Công chúa thứ ba, được Thượng Đế sắc sai giáng xuống trần thế để bảo vệ đất nước, hộ giúp nhân dân. Tiên nữ đứng ở nơi tế đàn, cười nói nhảy múa. Mọi người đều thấy cho là điều lạ nên vào tâu vua. Hiền Vương thân ra nghênh đón vào trong đàn, hỏi rằng;

  • Tiên nữ tính danh là gì?

Tiên nữ đáp rằng:

  • Thượng Đế sắc sai giáng trần để giữ nước yên dân. Tên là công chúa Tiên Dung.

Vua thấy nét mặt hồng đào, sắc sáng như ánh trăng trên mặt nước, da dẻ trắng sáng như gương, mày loan như trăng mới mọc, mắt sâu như sóng thu, so với hoa hoa hết nói, so với ngọc ngọc sinh hương, có dung nhan chim sa cá lặn, có tướng mạo hoa nhường nguyệt thẹn. Hình dung đều thật tuyệt đẹp. Vua cho đây là tình ý trời ưu ái, biết là lòng trời tác hợp, liền lập làm cung tần Đệ tam, nghênh đón về kinh thành, soạn lễ câu fhoon, bày yến tiệc trong triều. Vua rất yêu quý Tiên nữ. Công chúa chuyên tâm tạo phúc, tích thiện, làm việc nhân, ngày đềm thắp hương để thờ Thượng Đế, một dạng phong lưu đầy đủ rộng rãi có thừa vậy.

Vào năm Quý Hợi ngày 13 tháng Giêng công chúa nằm mộng thấy hào quang đầy phòng, phút chốc có một con rắn hoa trắng bò đến, bỗng biến hóa thành một đóa hoa sen trắng, rồi nở hoa, kết thành hạt. Từ đó công chúa có mang. Mang thai được một năm đến ngày 13 tháng Giêng năm Giáp Tý thì chuyển dạ, ngày 15 đến kỳ mà sinh, khi đó hương thơm ngào ngạt. Khi sinh người con có diện mạo phi thường, hình dung quý phái, thật hoàn mỹ vậy. Mọi người đều vui mừng, nên đặt tên là Trưng. Đến khi trưởng thành trở nên thiên tư dị thường, thông tuệ hơn người. Hàng ngày thường ở một chỗ, xem sách tự học không đợi người chỉ dạy. Lại thành thạo đàn sáo, tinh thông âm luật. Tài kiêm cả văn võ, tám nghề hơn người.

Khi ấy trong nước có loạn, giặc Ân đến xâm chiếm. Vua lấy làm lo lắng, bày lễ bái yết trời đất. Bỗng nhân trời giáng một ông lão râu tóc bạc trắng, nói với Vua rằng:

  • Trời đã sinh thánh vậy. Xin Vua sai sứ đi loan báo thiên hạ, tất có người đi dẹp yên giặc.

Vua biết là thiên thần chỉ giáo, liền sai sứ đi cầu trong thiên hạ. Đến trang Phù Đổng huyện Tiên Du loan báo, đúng là có bậc thánh đã sinh, tuổi mới lên ba, chỉ biết ăn uống, không biết nói năng. Khi ấy thần báo với mẹ gọi sứ giả đến, xin được một ngựa và một thành kiếm thì vua sẽ hết lo lắng. Vua ban cho ngựa và kiếm, phong tước là Phù Đổng Đại vương. Lại cho gọi Quý (Kiều) Nhạc đến cũng phong tước là Đô soái, lĩnh quân sĩ ba vạn người. Cử Phù Đổng dẫn quân đi chinh phạt phía Tây. Cử Kiều Nhạc dẫn quân dẹp phía Đông. Cùng nhau đánh đồn Vũ Ninh của giặc Ân. Đô soái Kiều Nhạc dẫn quân qua Tích Đô mà làm lễ, thành tâm bái yết trời đất, cầu phật cầu tiên, thắp hương đèn trong ba ngày. Đến ngày 12 tháng Tám năm Ất Dậu, nửa đêm bỗng nhiên thấy trời giáng xuống một nhân thần, thân dài 10 thước, ngồi ở chùa Hương Tích. Mọi người thấy liền vào tâu. Đô soái Kiều Nhạc thân nghênh đón vào chùa, mà hỏi rằng:

  • Tôi muốn đánh giặc Ân. Thắng bại ra sao, xin chỉ giáo cho.

Thần nhân lưỡng lự một lúc, gieo quẻ bói rồi tặng cho một bài thơ rằng:

Thiên tướng hư thất thạch tán hoàn
Diệu tích nhưng truyền tại thế gian
Nhất khiếu thâm tàng thiên cổ tỉnh
Bán phong đê cảm cửu đồng than
Hoa kình mộng giác vân trung hưởng
Thạch tượng an bài tuyết hậu an
Hải tự chính phùng thanh thiếp hội
Hào đoan thu thập cẩm giang san.

Thần nhân nói xong thì bay lên không mà đi. Đô soái Kiều Nhạc biết là thiên thần chỉ giáo, bèn dẫn quân, sai sứ chuyển mật sớ cho Phù Đổng vương, định ngày dẫn quân dẹp giặc Ân. Vào các ngày 14, 15 tháng Giang năm Bính Tuất cùng hội quân, chia ra đánh đồn Vũ Ninh của giặc. Kiều Nhạc chinh Đông, Phù Đổng dẹp Tây, cùng đánh. Giặc Ân thua to, bỏ đồn mà chạy. Bắt giết được vô số. Phù Đổng vương trong chốc lát cưỡi ngựa bay lên không mà đi, không biết ở nơi nào. Kiều Nhạc vương thu thập quân, dẫn quân trở về, bày tiệc đãi quân sĩ, dâng sớ lên Vua. Vua rất vui mừng, lại phong  là Kiều Nhạc Đông Đô suý Sung Lạc tướng hầu, quyền quản các trang sách Vũ Ninh. Lòng dân yên vui.

Đến ngày 13 tháng Ba năm Ất Mùi nửa đêm Kiều Nhạc vương nằm mộng thấy một người, thân mặc áo xanh, tay cầm cờ hồng, tự xưng là Thiên sứ, quỳ trước sân mà nói rằng:

  • Thượng Đế sắc sai gọi Kiều Nhạc vương về chầu Thượng Đế.

Kiều Nhạc tỉnh lại, lấy làm buồn bã. Sáng hôm sau lên triều nói với cha là Hùng Hiền Vương biết về giấc mơ này. Vua liền cho tìm người để giải phép này nhưng không được, Đến ngày 15 Kiều Nhạc vương thấy bụng đau quằn quại, thân thể mệt mỏi, dựa vào lan càn mơ màng thiếp đi rồi hóa mất.

Vua lấy làm đau buồn. Đến ngày 13 tháng Giêng năm Đinh Dậu Hùng Hiền Vương cho tập hợp các quan trong triều là ngày tốt giao cho bộ Lễ viết sắc phong thần. 37 đền phụng thờ. Lại cấp lệ thang mộc cho các trang sách, ủy thác cho quan bộ Lễ ban sắc phong thần, mãi mãi không ngừng vậy.

Ngọc phả làng Bích Đại, tổng Đồng Vệ, Vĩnh Phúc về Bán thiên Đại vương Thiên Tích

Ngọc phả cổ chép về Thuộc đạo Bán thiên Đại vương.
Bộ Trung.

Xưa nước Việt trời Nam mở vận, thánh tổ dựng nền, xem xét hình thế núi sông, châu Hoan đất tốt xây dựng kinh thành, núi Lĩnh dáng mạnh tu sửa cung điện. Đời đời đều truyền hiệu là Hùng Vương. Truyền tới thời Hùng Huy Vương ở động Yên Phong châu Từ Sơn đạo Kinh Bắc có một gia đình họ Trịnh tên Thiều, lấy vợ cùng quê họ Đinh tên Vượng. Gia thế vốn giàu có. Vợ chồng đều trung hậu. Tuổi đã ngoài bốn mươi mà vẫn chưa sinh nở được con cái. Do đó dốc sức làm điều nhân nghĩa, phân phát gia tài, giúp người cùng khổ đói nghèo, trong nhà thờ Phật, đêm ngày đốt hương tụng kinh giải nạn. Thường cầu chúc rằng:

  • Thần ở trên đời có phúc mà được phú quý, nhưng tiếc là không có con cái. Dám xin được đấng từ bi quảng đại soi xét cho tấm lòng này, xin đội vạn ơn đức lớn của thần minh trời đất.

Khấn xong, khi đó đang cuối mùa xuân, trăng trong trời xanh. Bà Đinh nằm thiếp đi, bỗng mộng thấy đi đến một nơi nhà nguy nga, cửa san sát, quần áo khắp chốn. Ở một góc trong gian nhà có bày các đồ sách vở, giấy bút, kiếm ấn, áo mũ, vải vóc, đồ đồng, cùng các đồ vật các nghề khác nhau. Có hơn mười đưa trẻ nam nữ cùng đứng với các đồ vật này. Bên trên có một ông lão đầu bạc ngồi, ung dung uy nghiêm, tuyên gọi bà tiến vào, phán rằng:

  • Nhà ngươi có âm đức, ta sẽ cho một đứa trẻ, lập thân nổi danh để làm rạng rỡ cha mẹ về sau. Các đồ trong gian nhà này nhà người muốn lấy thứ nào thì tùy theo ý thích.

Bà Đinh vui vẻ bèn lấy một đứa trẻ tay cầm một kiếm và một ấn, bái tạ đi ra. Khi đó tỉnh giấc mộng thần, từ đó cảm động có mang. Mang thai 13 tháng đến ngày 20 tháng Giêng giờ Dần sinh hạ một người con trai, phong tư đẹp đẽ, khí chất hiên ngang, cao lớn hơn người thường rất nhiều. Được trăm ngày sau cha mẹ vui mừng, nhân tích mộng thiên thần nên đặt tên là Thiên Tích. Tuổi lên tám thì đi học với Hoa Đường Tiên sinh. Học được vài năm thì văn chương thông hiểu, chí khí siêu quần, võ lược tinh thần, tài năng vượt trội. Tiên sinh bình thường nói rằng:

  • Hiếm có gia đình nào có phúc như vậy, sinh được một người con trai tốt. Ngày sau văn võ kiêm toàn, tất là người con làm rạng rỡ gia đình.

Lại nói, khi ông lên 20 tuổi thì cha mẹ đều qua đời. Ông làm lễ chôn cất, hương lửa trong nhà phụng thờ ba năm. Thường hay than rằng:

  • Than ôi! Bãi bể nương dâu thay đổi. Cha mẹ của ta làm việc nhân đức, sinh ra ta vất vả. Nay lại chưa báo đáp được chút nào. Ngày sau dẫu có nghìn vàng vạn bạc cũng không thể gặp được để báo đáp nữa.

Thế rồi, may mắn có kỳ tuyển quan. Huy Vương thấy ông là kỳ nhân, hình oai lẫm liệt, tướng mạo đường đường. Ngay hôm đó bái làm Đô úy. Vua tôi tương hợp dù trước chưa từng gặp. Thời Huy Vương trị vì đã lâu, nảy sinh ra tính kiêu căng, làm các tiết lễ qua loa. Trời giáng tai họa vì vua thiếu đức. Vua mới biết đạo trời báo ứng trước mắt, bèn sai quan thiết lập một đàn tràng ở trong kinh thành, lấy voi ngựa, vàng bạc cùng các đồ vật bày lễ nghi mà cúng. Vua thân đến tế chú rằng:

  • Kẻ hèn này đã biết việc thiếu lễ với Hoàng thiên. Việc ở ngay trước mắt, rõ ràng không sai. Phục xin Thượng đế chuyển tai họa thành điềm lành. Nếu được may mắn thì kẻ hèn này xin tạ đức của Hồng quân.

Chúc xong bỗng thấy mây gió nổi lên, màu trời âm u, trên đàn hương lửa, khí lành cùng mây tỏa sắc. Vua bàng hoàng sợ hãi, bái tạ, trở xa giá về cung. Ba năm sau bỗng nghe thư từ biên cương báo gấp. Thạch Linh Thần tướng của giặc Ân khởi binh đạo Bắc đến xâm chiếm. Giáo mác đầy trời, cờ xí rợp đất. Vua bèn trai giới đến cầu ở đàn, đốt hương cầu đảo, tụ tập quần thần. Ba ngày sau gió lớn sấm rền. Bỗng thấy một ông lão cao hơn 9 thước, râu tóc bạc trắng ở trên đường trước đàn mà cười nói nhảy múa. Mọi người đều thấy, cho là người kỳ lạ, tâu lên Vua. Vua thân ra đón vào trong đàn mà hỏi rằng:

  • Nay giặc phương Bắc đến xâm chiếm. Thắng thu như thế nào, xin được chỉ giáo.

Ông lão ngần ngừ hồi lâu, lấy tay bốc một quẻ rồi nói với Vua rằng:

  • Nếu cầu được người thì giặc này trong chốc lát có thể dẹp yên.

Dứt lời thì bay lên không đi mất. Vua mới biết đó là Lạc Long Quân hiện ra chỉ giáo. Thế rồi Vua sai đi khắp thiên hạ tìm người. Đến làng Phù Đổng quận Vũ Ninh có một gia đình giàu có sinh được một người con trai, đã hơn 3 tuổi mà chỉ ăn uống lớn lên mà không biết nói cười. Bà mẹ nghe sứ giả đến thì nói rằng:

  • Con ta chỉ biết ăn uống, không biết đánh giặc để đảm nhận tước cao của triều đình, báo đáp ân sâu dưỡng dục.

Đứa trẻ nghe mẹ nói vậy bỗng lên tiếng rằng:

  • Mẹ gọi sứ giả lại đây.

Đứa trẻ lại nói với sứ giả rằng:

  • Hãy mau trở về nói với Vua xin cho được  một con ngựa sắt cao 10 thước, một cây roi sắt dài 10 thước, đem lại đây thì Vua sẽ không phải lo lắng nữa.

Vua bèn sai lấy 50 cân sắt đúc thành ngựa sắt, roi sắt, rồi đem đến. Thần Vương nhảy lên ngựa, hô một tiếng như sấm:

  • Ta là Thiên tướng đây.

Ngựa chạy như bay, chốc lát đến núi Vũ Ninh, Yên Việt, đại chiến với Thạch Linh Thần tướng. Giặc Ân tan tác, bắt sống Thạch Linh Thần tướng đem chém. Còn lại những dư đảng chưa trừ hết thì roi sắt đã bị gãy. Thần Vương bèn dùng tay nhổ bụi tre mà đuổi được chúng. Khi tới núi Sóc xã Vệ Linh huyện Kim Hoa thì bỏ áo, cưỡi ngựa bay lên trời mây mà đi. Nay còn dấu chân ngựa ở trên vách núi.

Hùng Huy Vương nhớ tới công lao lớn giúp nước, mà chưa gặp mặt để báo đáp, bèn tôn là Phù Đổng Thiên Vương, lập đền thờ ở quê hương, cấp cho trăm khoảnh ruộng để phụng thờ, năm tháng nhớ ơn, mãi truyền thờ phụng. 

Từ khi Thiên Vương hóa thì trong nước không có người nên nhà Ân lại cất quân đến xâm phạm. Vua bèn lệnh phân cho Ông quản hai đạo Tây Bắc, Hưng Đạo. Hai đạo quan quân hai mươi vạn bái ông làm Thuộc đạo Đại tướng quân, chia đường để đánh giặc. Tướng giặc trong quân hô lớn rằng:

  • Thần tướng đã về trời, Các người ai dám giơ càng bọ ngựa mà cản xe? Hay mau mau xuống ngựa, bái lạy xưng thần để tránh sinh dân chịu cảnh lầm than.

Ông nghe vậy, rất tức giận, bèn hô lớn một tiếng rằng:

  • Ta đây chính là tướng quân bên ngoài, Thuộc đạo Tây Bắc. Đứng mũi chịu sào, phát động nửa trời, không phải như củi khô dễ bẻ. Bè đảng các người dẫu có thông minh, hùng lược cũng chớ có xảo ngôn ngoa ngữ mà khinh thường vậy.

Thế rồi ông cưỡi ngựa múa giáo dẫn đầu vào trận, tả xung hữu đột, dụng võ như phi, ra vào như chỗ không người. Đến giờ Dậu cuối ngày hôm đó đã chém được hơn trăm đầu giặc. Quân giặc cùng nhìn nhau thất sắc rằng:

  • Châu Bắc dùng binh như thần trên trời. Giống như Thiên Vương phục sinh, nổi lên động tới nửa trời vậy.

Giặc Ân sợ hãi bỏ chạy, từ đó không dám xâm phạm. Biên thùy yên ổn. Ngày chiến thắng trở về Vua ban thưởng, khuyến khích các tướng sĩ có công trong quân đội. Phong ông là Thuộc đạo Bán thiên Đại tướng Đương đạo Đại vương, hưởng ơn vua lộc nước hương khói đầy đủ lâu bền vậy.

Sau này ông đến tuổi 62 bèn tạ triều đình cho từ quan đi chu du thiên hạ, nhàn nhã ngắm cảnh sông núi thế giới. Một ngày sau ông đi đến hai trang Bích Đại tổng Đồng Vệ huyện Bạch Hạc phủ Tam Đái. Ông thấy địa thế của Đồng Vệ, Bích Đại hữu tình, cũng là một thắng cảnh đẹp đẽ, bèn lập một hành cung ở trang đó. Cứ mỗi tháng hai lần ông đi xe về đây, ở tại đó (tức ở cung Đồng Vệ).

Hôm đó nhân dân mổ trâu làm lễ bái mừng. Ông bèn nói với dân rằng:

  • Dân các ngươi thật là ngu ngốc. Trâu là vật đã phải cày ruộng vất vả có công, sao nỡ ăn thịt chúng.

Từ đó về sau hai trang Đồng Vệ, Bích Đại trong các tiệc lễ không dùng cỗ trâu là do Đại vương khi còn sống cho rằng trâu cày ruộng vất vả, không nỡ ăn thịt. 

Lại nói, một hôm ông đi ra trước cung, nhàn nhã xem sao trời, lạc thấy trăng sáng trong vực (do là trước cung có một cái vực sâu tại đó, tục gọi là Vực Và). Khi đó bỗng thấy trong vực sáng rạng, mặt nước quang trong, có tiếng sấm vang đáy biển nổi lên, hóa thành mây bay trên không trước đường. Giảo long, ba ba trùng trùng như vạn thác trên sóng. Cá côn, cá sấu, cá kình lớp lớp nổi sáng thiên hà. Ông nhìn thấy lạnh lòng lạc phách, muốn quay trở về nhà. Bỗng thấy có một thanh đồng đi đến trước ông, khoanh tay nói:

  • Tiểu thần vâng lệnh của vua tôi xin được mời Tôn quan rời bước ngọc xuống chơi chốn mây nước.

Ông vui vẻ đi theo xuống chơi thủy cung. Đi qua những nơi sáng rạng trời đất, lâu đài cao ngất, trông xa thấy tướng ngao quan cá hàng hàng lớp lớp, quân lính ba ba đứng chầu hai bên. Long Vương ngự ở chính giữa, thấy ông liền ra cửa Đông đón vào cung. Mở yến tiệc lớn. Bày cảnh rồng mây, đèn cao hương thơm, thác ngọc bình vàng, mã não lọ đồng, đều là kỳ trân dị vật, không có trên thế gian.Một ngày được mắt nhìn thỏa thích đồ quý vật báu. Ông bèn nói rằng:

  • Vua ở Thủy phủ, thần tại Dương gian, lại được gặp mặt. Tình nghĩa hôm nay biết lấy gì báo đáp.

Long Vương nói rằng:

  • Thần là Bà Sa Long Vương, vâng theo mệnh Đế quyền quản một vùng. Nghe danh tiếng quý chức đã lâu, nên muốn kết làm bạn bè. Đâu dám mong nhiều.

Yến tiệc xong Long Vương lại tạ ông các đồ vàng quý giá. Ông cố từ chối không nhận. Từ đó ông mời Long Vương ngày sau giờ Dâu đến gặp mặt ở công sở. Long Vương nói: Được.

Ông bèn chào từ biệt trở về cung. Long Vương bèn sai Đô đốc giảo long dẫn về tận cung. Tới ngày mùng 10 tháng Tám, ông sai nhân dân mổ trâu làm tiệc. Tiệc chưa xong bỗng thấy từ đáy vực mưa gió sấm vang nổi lên, nước dâng cao, sóng lớn. Bỗng có một chiếc thuyền lầu  ngọc mười gian, trăn rắn hơn trăm xuất hiện. Nhân dân trông thấy đều sợ phục.

Ông bèn đi ra trước cung đón tiếp, khoản đãi rất trọng thể. Lễ xong Long Vương bèn cáo từ trở về. Từ đó một ngày tốt Long Vương bèn làm một huyệt xuyên từ giữa đường đến nơi cung sở, Ngày mùng 10 tháng Tám hàng năm Long Vương lại đến hội ngộ cùng với ông. Nhân đó có thơ làm chứng. Thơ rằng:

Bất vị tương phùng hữu thử sinh
Lai chi nghĩa giả khứ chi tình
Di ư lĩnh khiếu huyên nhân vọng
Bất dĩ long cung bạn khách hành
Nhất tháp âm dương hoành lưỡng lộ
Trùng thiên vân thủy vọng tam canh
Quan hà nhất việt song mâu ký
Hà sứ tương tư mịch cựu trình.

Lại nói đến ngày mùng 7 tháng Tư năm Giáp Thìn ông lập đàn cầu đảo trời đất, tụng kinh ba ngày. Đến giờ Mùi mùng 7 tháng Tư  bỗng thấy trời đất tối tăm, mưa gió thổi đến. Thấy có một đám mây hồng bay trên đàn. Ông bèn theo mây bay về trời.

Lại nói, sau khi ông hóa 6 tháng Hùng Huy Vương nghe tin, nhớ tới công lao to lớn giúp nước của ông bèn ngay hôm đó mùng 9 tháng Chín bèn sai quan về cúng tế. Ban thêm là Thuộc đạo Bán thiên Phụ quốc Đại vương Thượng đẳng Phúc thần. Lập miếu ở xã Đồng Vệ, Bích Đại phụng thờ, hương hỏa vạn đời mãi lưu. Còn như các châu, trang ở đạo Kinh Bắc cũng phụng thờ ông. 

Bản chính lưu tại bộ Lễ. Niên hiệu Hồng Đức năm thứ tư, ngày tốt tháng giữ thu. Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính vâng soạn.

Dịch từ bản khai thần tích thần sắc năm 1938 của làng Bích Đại, tổng Đồng Vệ, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên.